Bình Giảng Quy Luật Điểm đạo 1 dành cho đệ tử (RI)

📘 Sách: Bình Giảng 14 Quy Luật Điểm đạo Dành Cho Đệ tử – RI – Tác giả: Michael D. Robbins

Click số trang giữa dấu ngoặc [ ] đển đến phần văn bản trong sách, click để xem bản tóm lược

Rule I: First Two Sentences—Quy Luật I: Hai Câu Đầu Tiên

Quy Luật I: Hai Câu Đầu Tiên—Quy Luật I: Hai Câu Đầu Tiên

Rule I

Quy Luật I

Within the fire of mind, focused within the head’s clear light, let the group stand. The burning ground has done its work. The clear cold light shines forth and cold it is and yet the heat—evoked by the group love—permits the warmth of energetic moving out. Behind the group there stands the Door. Before them opens out the Way. Together let the band of brothers onward move—out of the fire, into the cold, and toward a newer tension.

Trong lửa của trí tuệ, tập trung trong ánh sáng rõ ràng của đầu, hãy để nhóm đứng vững. Vùng đất cháy đã hoàn tất công việc của nó. Ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo chiếu rạng, và nó lạnh, nhưng sức nóng—được gợi lên bởi tình thương của nhóm—cho phép hơi ấm của sự vươn ra đầy năng lực. Phía sau nhóm có Cánh Cửa đứng đó. Trước mặt họ Con Đường mở ra. Hãy để đoàn huynh đệ cùng nhau tiến bước—ra khỏi lửa, đi vào cái lạnh, và hướng về một điểm tập trung nhất tâm mới hơn.

It will be profitable if we take this Rule I sentence by sentence and try to wrest from each its group significance.

Sẽ hữu ích nếu chúng ta xét Quy Luật I này từng câu một và cố gắng rút ra từ mỗi câu thâm nghĩa nhóm của nó.

Within the fire of mind, focussed within the head’s clear light, let the group stand (1); The burning ground has done its work (2).

Trong lửa của trí tuệ, tập trung trong ánh sáng rõ ràng của đầu, hãy để nhóm đứng vững (1); Vùng đất cháy đã hoàn tất công việc của nó (2).

A. Within the fire of mind, focussed within the head’s clear light, let the group stand.

A. Trong lửa của trí tuệ, tập trung trong ánh sáng rõ ràng của đầu, hãy để nhóm đứng vững.

1. In the lower three worlds, fire is the element associated with mind—earth with the physical plane, including the etheric, but air has a minor association with the etheric (and two “air” signs, Gemini and Aquarius are particularly associated with the etheric body). Water, of course, represents the astral plane. Air, in a higher sense, represents the buddhic or intuitional plane.

1. Trong ba cõi thấp, lửa là nguyên tố liên hệ với trí tuệ—đất liên hệ với cõi hồng trần, bao gồm cả cõi dĩ thái, nhưng khí có một liên hệ phụ với cõi dĩ thái, và hai dấu hiệu hành khí, Song Tử và Bảo Bình, đặc biệt liên hệ với thể dĩ thái. Dĩ nhiên, nước tượng trưng cho cõi cảm dục. Khí, theo một ý nghĩa cao hơn, tượng trưng cho cõi Bồ đề hay cõi trực giác.

2. “Fire”, however, is a more general term, and, as previously suggested, is related to modes of motion.

2. Tuy nhiên, “lửa” là một thuật ngữ tổng quát hơn, và như đã gợi ý trước đây, liên hệ với các phương thức chuyển động.

3. Thus, in a more general sense, there are the fires of the dense physical plane, the fires of the etheric vehicle, the fires of the astral nature and, of course, the fires of mind. The symbolism of fire continues ‘upwards’ and covers, in fact, all planes within the cosmic physical plane, ending in what is called in the Teaching, the “Sea of Fire”—the plane of Adi, or the “Logoic Plane”.

3. Như vậy, theo một ý nghĩa tổng quát hơn, có các lửa của cõi hồng trần đậm đặc, các lửa của vận cụ dĩ thái, các lửa của bản chất cảm dục và, dĩ nhiên, các lửa của trí tuệ. Biểu tượng lửa tiếp tục đi “lên trên” và thật ra bao trùm mọi cõi trong cõi hồng trần vũ trụ, kết thúc nơi điều được gọi trong Giáo Huấn là “Biển Lửa”—cõi Adi, hay “Cõi Thượng đế”.

4. The fire of mind is a particular frequency-state of subtle matter ‘mental’ matter.

4. Lửa của trí tuệ là một trạng thái tần số đặc thù của vật chất vi tế, tức vật chất trí tuệ.

5. To be “within” the fire of mind means that consciousness is focussed in such a way as to consistently behold that frequency-state or vibratory state we call mental matter.

5. Ở “trong” lửa của trí tuệ có nghĩa là tâm thức được tập trung theo cách có thể liên tục chiêm ngưỡng trạng thái tần số hay trạng thái rung động mà chúng ta gọi là vật chất trí tuệ.

6. The sustained point of tension holds consciousness on that particular level of vibration and does not allow it to descend. What we call the “mental field” is, thus, ‘tuned’ in, and other lower states—awareness of the physical body, of etheric flows and of astral impressions is minimized or ‘tuned out’.

6. Điểm tập trung nhất tâm được duy trì giữ tâm thức trên cấp độ rung động đặc thù ấy và không cho phép nó hạ xuống. Như vậy, điều chúng ta gọi là “trường trí tuệ” được “dò đúng tần số”, còn những trạng thái thấp hơn—sự nhận biết về thể xác, về các luồng dĩ thái và về các ấn tượng cảm dục—được giảm thiểu hay “loại khỏi tần số”.

7. We achieve what the Tibetan calls a certain “altitude” (not “attitude”) of consciousness, and sustain that altitude in the face of all force-impacts from lower altitudes. Heightened frequency or heightened vibration are synonymous with heightened altitude. The musical term “pitch” is relevant here. A given altitude of consciousness is a given “pitch” of consciousness. A sustained point of tension is like the sustained sounding of a given note in music—for every note has its own characteristic pitch.

7. Chúng ta đạt được điều mà Chân sư Tây Tạng gọi là một “độ cao” nào đó của tâm thức, và duy trì độ cao ấy trước mọi tác động mãnh lực đến từ các độ cao thấp hơn. Tần số được nâng cao hay rung động được nâng cao đồng nghĩa với độ cao được nâng cao. Thuật ngữ âm nhạc “cao độ” có liên quan ở đây. Một độ cao nhất định của tâm thức là một “cao độ” nhất định của tâm thức. Một điểm tập trung nhất tâm được duy trì giống như việc duy trì sự ngân vang của một âm điệu nhất định trong âm nhạc—vì mỗi âm điệu đều có cao độ đặc trưng riêng.

8. The point of focussing “within the plane of mind” is the fourth subplane of the sevenfold mental plane.

8. Điểm tập trung “trong cõi trí” là cõi phụ thứ tư của cõi trí thất phân.

9. Technically, this fourth subplane is still within the realm of the lower or concrete mind.

9. Về mặt kỹ thuật, cõi phụ thứ tư này vẫn nằm trong phạm vi của hạ trí hay trí cụ thể.

10. But upon this fourth plane will be found the fourfold “mental unit”, which is the seat of personality. One cannot really be a personality (an integrated personality) unless one has the ability to focus upon the fourth subplane of the mental plane.

10. Nhưng trên cõi thứ tư này sẽ tìm thấy “đơn vị hạ trí” tứ phân, vốn là chỗ ngự của phàm ngã. Người ta không thể thật sự một phàm ngã, tức một Phàm ngã tích hợp, trừ khi có khả năng tập trung trên cõi phụ thứ tư của cõi trí.

11. This fourth subplane is a transitional frequency level. It represents the apex, or ‘top’, of personality functioning and is the subplane immediately adjacent to the lowest subplane of soul—the third—and, hence, is most easily influenced by soul.

11. Cõi phụ thứ tư này là một cấp độ tần số chuyển tiếp. Nó tượng trưng cho đỉnh cao, hay “phần trên cùng”, của hoạt động phàm ngã và là cõi phụ nằm ngay sát cõi phụ thấp nhất của linh hồn—cõi phụ thứ ba—và do đó dễ chịu ảnh hưởng của linh hồn nhất.

12. From the fourth subplane it is possible to receive impression from the higher mind—the higher three subplanes of the mental plane.

12. Từ cõi phụ thứ tư, có thể tiếp nhận ấn tượng từ thượng trí—ba cõi phụ cao của cõi trí.

13. The lower mind as a whole can be associated with the planets Mars, Saturn, Mercury and even Uranus (ruling, among many other things, orthodox science). Mercury is particularly related to the fourth subplane, through the number four, which is the number of the ray principally transmitted by Mercury—the fourth Ray of “Harmony through Conflict”. The influence of Mercury is, of course, not confined to expression within the concrete mind. The higher three subplanes are particularly sensitive to Venusian influence. The relation of different planets and zodiacal signs to various planes and subplanes is an interesting but specialized study, and important when attempting to achieve synthetic understanding.

13. Toàn bộ hạ trí có thể được liên hệ với các hành tinh Sao Hỏa, Sao Thổ, Sao Thủy và thậm chí Sao Thiên Vương, vốn cai quản, cùng nhiều điều khác, khoa học chính thống. Sao Thủy đặc biệt liên hệ với cõi phụ thứ tư, qua con số bốn, là con số của cung được Sao Thủy truyền dẫn chủ yếu—cung bốn của “Hòa Hợp qua Xung Đột”. Dĩ nhiên, ảnh hưởng của Sao Thủy không bị giới hạn trong sự biểu hiện nơi trí cụ thể. Ba cõi phụ cao đặc biệt nhạy cảm với ảnh hưởng của Sao Kim. Mối liên hệ của các hành tinh và các dấu hiệu hoàng đạo khác nhau với các cõi và cõi phụ khác nhau là một lĩnh vực nghiên cứu thú vị nhưng chuyên biệt, và quan trọng khi cố gắng đạt được sự thấu hiểu tổng hợp.

14. When one “stands” within the fire of mind, one is taking a ‘position’ at the apex of personality functioning. The major impressions of a consciousness focussed in this manner are from the mental plane (or from higher planes, as the impressions from those planes are transmitted via the mental plane). The lower impressions, from the lower planes and subplanes (though they can be noticed at will) are occultly ‘tuned out’. One becomes for a time, a meditating mind, rather than a physically-based human being. One is on one’s way to becoming, or realizing oneself as a soul.

14. Khi người ta “đứng vững” trong lửa của trí tuệ, người ấy đang giữ một “vị trí” ở đỉnh cao của hoạt động phàm ngã. Các ấn tượng chính của một tâm thức được tập trung theo cách này đến từ cõi trí (hoặc từ các cõi cao hơn, vì các ấn tượng từ những cõi ấy được truyền qua cõi trí). Những ấn tượng thấp hơn, từ các cõi và cõi phụ thấp hơn, dù chúng có thể được nhận thấy theo ý muốn, về mặt huyền bí đều được “loại khỏi tần số”. Trong một thời gian, người ta trở thành một thể trí đang tham thiền hơn là một con người đặt nền trên hồng trần. Người ta đang trên đường trở thành, hay nhận ra mình là, linh hồn.

15. The mind becomes the great connector, a mediator, a receiver. The energies from the “Son of Mind” (the human soul illuminated by the Solar Angel, and focussed upon subplanes two and three—counting from above), from the abstract mind (subplane one), from the intuition, impulsed from the buddhic plane (the plane of harmony), and even from the atmic plane (the plane of spiritual will)—all these, can impress the waiting mind, simulating the creation of thoughtforms which will carry, or be resonant to these higher energies.

15. Thể trí trở thành đấng nối kết lớn lao, một trung gian, một bộ tiếp nhận. Các năng lượng từ “Con của Trí Tuệ”, tức linh hồn con người được Thái dương Thiên Thần soi sáng và tập trung trên các cõi phụ thứ hai và thứ ba—tính từ trên xuống; từ trí trừu tượng, tức cõi phụ thứ nhất; từ trực giác, được thúc đẩy từ cõi Bồ đề, tức cõi của hài hòa; và thậm chí từ cõi atma, tức cõi của Ý Chí tinh thần—tất cả những điều này, đều có thể gây ấn tượng lên thể trí đang chờ đợi, mô phỏng việc sáng tạo các hình tư tưởng sẽ chuyên chở, hoặc cộng hưởng với, những năng lượng cao hơn này.

16. The thoughts created upon the mental plane are not however these higher energies—merely the carriers of such energies, capable of embodying such energies and conveying them, to a degree, and only to a degree. The full knowledge of the soul cannot be expressed through concrete thought. The fulness of intuition and of spiritual will, also, cannot be expressed through concrete thought, which is ever a limitation upon these higher energies, however much it serves as an instrument for them.

16. Tuy nhiên, các tư tưởng được tạo ra trên cõi trí không phải là những năng lượng cao hơn này—chúng chỉ là các vật chuyên chở của những năng lượng ấy, có khả năng hiện thân những năng lượng ấy và truyền đạt chúng đến một mức độ nào đó, và chỉ đến một mức độ nào đó. Toàn tri thức của linh hồn không thể được biểu lộ qua tư tưởng cụ thể. Sự viên mãn của trực giác và của Ý Chí tinh thần cũng không thể được biểu lộ qua tư tưởng cụ thể, vốn luôn là một sự giới hạn đối với những năng lượng cao hơn này, dù nó phụng sự như một khí cụ cho chúng đến đâu.

17. If would be good for every group member to assess how easily he or she focusses “within the fire of mind”. The focus of the average human being is very variable—now at this point of tension, now at that. A sustained mental focus is relatively rare.

17. Sẽ tốt cho mỗi thành viên nhóm nếu đánh giá xem mình tập trung “trong lửa của trí tuệ” dễ dàng đến mức nào. Sự tập trung của con người trung bình rất biến thiên—lúc ở điểm tập trung nhất tâm này, lúc ở điểm khác. Một tập trung trí tuệ được duy trì là điều tương đối hiếm.

18. Such a sustained mental focus can be achieved through the cultivation of the “Attitude of the Observer”. This “Attitude”, of course, takes one, very shortly, beyond the mind. One discovers that one is the observer of the mind and all lower states. One even becomes, eventually, the observer of the higher vibratory states. Eventually the observer is discovered to be the Spirit, itself. Was it St. Francis who said, “What we are looking for is the one who is doing the looking”?

18. Một tập trung trí tuệ được duy trì như thế có thể đạt được nhờ vun trồng “Thái Độ của Người Quan Sát”. Dĩ nhiên, “Thái Độ” này chẳng bao lâu sẽ đưa người ta vượt khỏi thể trí. Người ta khám phá rằng mình là người quan sát thể trí và mọi trạng thái thấp hơn. Cuối cùng, người ta thậm chí trở thành người quan sát các trạng thái rung động cao hơn. Sau cùng, người quan sát được khám phá chính là Tinh thần. Có phải Thánh Francis đã nói: “Điều chúng ta đang tìm kiếm chính là người đang thực hiện việc tìm kiếm” chăng?

19. In the beginning of this Rule, we take our “stand” (sustain our focus) upon the higher part of the lower mental plane. When we thus “stand”—we can think clearly, see clearly, receive higher impressions and formulate thought in response to higher impressions. We are aligned with the light of the soul/Triad.

19. Ở đầu Quy Luật này, chúng ta giữ “chỗ đứng” của mình, tức duy trì sự tập trung của mình, trên phần cao của cõi hạ trí. Khi chúng ta “đứng vững” như thế—chúng ta có thể suy nghĩ rõ ràng, thấy rõ ràng, tiếp nhận các ấn tượng cao hơn và hình thành tư tưởng để đáp ứng với các ấn tượng cao hơn. Chúng ta được chỉnh hợp với ánh sáng của linh hồn/Tam nguyên tinh thần.

The “head’s clear light”“Ánh sáng rõ ràng của đầu”.

“Ánh sáng rõ ràng của đầu”“Ánh sáng rõ ràng của đầu”.

20. But something more is asked of us—to focus within the “head’s clear light”. We are achieving, at first, at least a dual awareness. We are ‘positioned’ (in consciousness and as consciousness) upon the plane of mind, but we are also aware of the head—and particularly, the etheric head.

20. Nhưng còn có điều gì đó hơn nữa được yêu cầu nơi chúng ta—tập trung trong “ánh sáng rõ ràng của đầu”. Ít nhất lúc đầu, chúng ta đang đạt được một nhận biết kép. Chúng ta được “đặt vị trí” (trong tâm thức và như tâm thức) trên cõi trí, nhưng chúng ta cũng nhận biết về đầu—và đặc biệt là cái đầu dĩ thái.

21. The ethers within the center of the head are brought to a focussed state. These ethers are sufficiently clarified so that the forces of the mental plane can properly impress the brain.

21. Các chất dĩ thái trong trung tâm của đầu được đưa vào một trạng thái tập trung. Những chất dĩ thái này đủ trong sáng để các mãnh lực của cõi trí có thể gây ấn tượng đúng đắn lên bộ não.

22. This brings to our attention the whole question of the “light in the head” discussed in A Treatise on White Magic.

22. Điều này đưa chúng ta chú ý đến toàn bộ vấn đề “ánh sáng trong đầu” được bàn đến trong Luận về Chánh Thuật.

“In this stage, the soul light penetrates into the region of the pineal gland; there it produces an irradiation of the ethers of the head, of the vital airs; this produces a stimulation of the atoms of the brain so that their light [Page 107] is fused and blended with the other two, the etheric light and the soul light, and there is then produced that inner radiant sun of which the aspirant becomes conscious in his physical brain experience. Frequently students speak of a diffused light or glow, this is the light of the physical plane atoms of which the brain is composed; later they may speak of seeing what appears to be like a sun in the head. This is the contacting of the etheric light, plus the physical atomic light. Later they become aware of an intensely bright electric light; this is the soul light, plus the etheric and the atomic. When that is seen, they frequently become aware of a dark centre within the radiant sun. This is the entrance to the Path disclosed by the “shining of the light upon the door.” (TWM 106-107)

“Ở giai đoạn này, ánh sáng linh hồn thâm nhập vào vùng tuyến tùng; tại đó nó tạo ra một sự chiếu rạng các chất dĩ thái của đầu, các luồng sinh khí; điều này tạo ra sự kích thích các nguyên tử của bộ não, đến mức ánh sáng của chúng [Trang 107] được dung hợp và hòa trộn với hai ánh sáng kia, ánh sáng dĩ thái và ánh sáng linh hồn, và khi ấy phát sinh mặt trời rạng ngời bên trong mà người chí nguyện trở nên có ý thức trong kinh nghiệm bộ não hồng trần của mình. Các đạo sinh thường nói về một ánh sáng hay vầng sáng tỏa lan; đây là ánh sáng của các nguyên tử cõi hồng trần cấu thành bộ não; về sau họ có thể nói rằng họ thấy một điều gì dường như là một mặt trời trong đầu. Đây là sự tiếp xúc với ánh sáng dĩ thái, cộng với ánh sáng nguyên tử hồng trần. Về sau họ trở nên nhận biết một ánh sáng điện vô cùng rực rỡ; đây là ánh sáng linh hồn, cộng với ánh sáng dĩ thái và ánh sáng nguyên tử. Khi điều ấy được thấy, họ thường trở nên nhận biết một trung tâm tối trong mặt trời rạng ngời. Đây là lối vào Con Đường, được hiển lộ nhờ “ánh sáng chiếu lên cánh cửa.” (Luận về Chánh Thuật, 106-107)

This is a very pregnant paragraph, and gives us certain physiological hints about the true nature of the “door” of initiation and the Path, and a concrete understanding of the ancient phrase, “in that light we shall see Light”.

Đây là một đoạn văn rất hàm súc, và đem lại cho chúng ta một số gợi ý sinh lý học về bản chất thật của “cánh cửa” điểm đạo và Con Đường, cũng như một sự thấu hiểu cụ thể về cụm từ cổ xưa: “trong ánh sáng ấy, chúng ta sẽ thấy Ánh Sáng”.

23. There are about 20 references to the “light in the head” in A Treatise on White Magic, and probably more elsewhere. Using the CD ROM, I would suggest that some group member volunteer to collect these references into a little compilation and share it with the entire group. When doing this, use a bolded headline for each entry, for easy reference.

23. Có khoảng 20 chỗ tham chiếu đến “ánh sáng trong đầu” trong Luận về Chánh Thuật, và có lẽ còn nhiều hơn ở nơi khác. Khi dùng đĩa dữ liệu, tôi đề nghị một thành viên nhóm tình nguyện thu thập các chỗ tham chiếu này thành một bản tuyển tập nhỏ và chia sẻ với toàn nhóm. Khi làm việc này, hãy dùng một tiêu đề in đậm cho mỗi mục để dễ tham khảo.

24. We have to remember that the light in the head can exist undetected by the disciple’s awareness. Also, that this light is essentially in the realm of phenomena, and its seeing should not be taken as an emphatic indication of spiritual advancement. Much depends upon the hereditary quality of the brain substance, and, presumably, the ray make-up (with second ray types being most sensitive to light phenomena). Still, this light merits investigation.

24. Chúng ta phải nhớ rằng ánh sáng trong đầu có thể tồn tại mà nhận biết của đệ tử không phát hiện ra. Cũng cần nhớ rằng ánh sáng này về căn bản thuộc phạm vi hiện tượng, và việc thấy nó không nên được xem như một dấu hiệu nhấn mạnh về sự tiến bộ tinh thần. Nhiều điều tùy thuộc vào phẩm tính di truyền của chất liệu bộ não, và có lẽ cả cấu tạo cung, trong đó người cung hai nhạy cảm nhất với các hiện tượng ánh sáng. Tuy vậy, ánh sáng này đáng được khảo sát.

25. The whole process of initiation requires that the brain be involved. Thus, the first five initiations are taken during physical incarnation.

25. Toàn bộ tiến trình điểm đạo đòi hỏi bộ não phải tham dự. Do đó, năm lần điểm đạo đầu tiên được thực hiện trong khi lâm phàm hồng trần.

26. Astrologically, Mercury rules the mind and Saturn the brain. Venus is also associated with the mind and the Moon with the brain.

26. Theo chiêm tinh học, Sao Thủy cai quản thể trí và Sao Thổ cai quản bộ não. Sao Kim cũng liên hệ với thể trí và Mặt Trăng với bộ não.

27. Our alignment becomes soul/mind/brain. The astral body has been subdued and quieted and is causing no disturbance. It has become, in the words of the Tibetan, like a “limpid reflector”—reflecting, hopefully and especially, the energy of love from the plane of intuition—the buddhic plane.

27. Sự chỉnh hợp của chúng ta trở thành linh hồn/thể trí/bộ não. Thể cảm dục đã được chế phục và làm yên lặng, không gây xáo trộn nào. Theo lời Chân sư Tây Tạng, nó đã trở nên giống như một “tấm phản chiếu trong suốt”—hy vọng là phản chiếu, và đặc biệt phản chiếu, năng lượng tình thương từ cõi trực giác—cõi Bồ đề.

28. Thus, at the outset of this Rule we are mentally alert and poised, and etherically taut or tense. This etheric tension does not mean that we are ill at ease. It is the tension of a string stretched to a certain length so that plucking it, or drawing a bow over it, results in the sounding of a certain pitch or note.

28. Như vậy, ngay từ đầu Quy Luật này, chúng ta tỉnh táo và cân bằng về trí tuệ, đồng thời căng chắc hay căng thẳng về dĩ thái. Sự căng thẳng dĩ thái này không có nghĩa là chúng ta bất an. Đó là độ căng của một sợi dây được kéo đến một chiều dài nhất định, để khi gảy nó, hay kéo vĩ trên nó, sẽ phát ra một cao độ hay âm điệu nhất định.

29. Is it possible for us to sustain a dual awareness of a) thought and the thought process, and b) of the etheric brain as a sensitive receiver of thought impression. It takes some practice, and visualization will come to our aid.

29. Liệu chúng ta có thể duy trì một nhận biết kép về a) tư tưởng và tiến trình tư tưởng, và b) bộ não dĩ thái như một bộ tiếp nhận nhạy cảm đối với ấn tượng tư tưởng hay không? Điều này cần một ít thực hành, và sự hình dung sẽ trợ giúp chúng ta.

30. Visualization begins as an imaginative approximation of that which exists but is not seen; it ends in the actual seeing of that which exists.

30. Sự hình dung bắt đầu như một sự xấp xỉ bằng tưởng tượng về điều đang tồn tại nhưng chưa được thấy; nó kết thúc trong việc thật sự thấy điều đang tồn tại.

31. Visualization is a bridge from faith to sight.

31. Sự hình dung là một cây cầu từ đức tin đến sự thấy.

32. The meditative process in which we are engaged is not purely mental. In order for meditation to become transformative, the brain (first the etheric brain and then the dense physical brain) must be involved. This is why initiation, as we know it, requires a physical body; initiation is a process of redeeming lower levels of vibration by submitting them, scientifically, to higher frequencies.

32. Tiến trình tham thiền mà chúng ta đang tham dự không thuần túy thuộc trí tuệ. Để tham thiền trở nên có sức chuyển đổi, bộ não, trước hết là bộ não dĩ thái rồi đến bộ não hồng trần đậm đặc, phải tham dự. Đây là lý do tại sao điểm đạo, như chúng ta biết, đòi hỏi một thể xác; điểm đạo là một tiến trình cứu chuộc các cấp độ rung động thấp hơn bằng cách đặt chúng, một cách khoa học, dưới những tần số cao hơn.

33. The level especially to be redeemed is the dense physical level—the material residue of an earlier solar system—so we are told in the Teaching. However, all the lower eighteen subplanes (the lower three worlds) are, from a greater perspective, the dense physical subplane of the Solar Logos (the “One in Whom we live and move and have our being”), and all the eighteen subplanes must be redeemed.

33. Cấp độ đặc biệt cần được cứu chuộc là cấp độ hồng trần đậm đặc—phần cặn vật chất của một hệ mặt trời trước kia—như chúng ta được dạy trong Giáo Huấn. Tuy nhiên, tất cả mười tám cõi phụ thấp, tức ba cõi thấp, từ một viễn cảnh lớn hơn, là cõi phụ hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế, “Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu”, và tất cả mười tám cõi phụ đều phải được cứu chuộc.

34. Note that this Rules assumes that the individual can already stand “within the fire of mind” and “focussed within the head’s clear light”. It is the “group” now which must take its stand.

34. Hãy lưu ý rằng Quy Luật này giả định rằng cá nhân đã có thể đứng “trong lửa của trí tuệ” và “tập trung trong ánh sáng rõ ràng của đầu”. Giờ đây chính “nhóm” phải giữ chỗ đứng của mình.

35. Whatever the individual achieves has its higher analogy in that which the group must achieve.

35. Bất cứ điều gì cá nhân đạt được đều có sự tương đồng cao hơn trong điều mà nhóm phải đạt được.

36. Clearly, we can see that these are not rules for beginners—yet, in a way, we are all beginners, and must learn to understand these Rules at our own level of consciousness, gradually working our way up to correct interpretation and enactment.

36. Rõ ràng, chúng ta có thể thấy rằng đây không phải là các quy luật dành cho người sơ cơ—tuy nhiên, theo một cách nào đó, tất cả chúng ta đều là người sơ cơ, và phải học cách thấu hiểu các Quy Luật này ở cấp độ tâm thức của chính mình, dần dần tiến lên đến sự diễn giải và thực thi đúng đắn.

37. The word “let” (“let the group stand”) is important. “Let” is something of a command, a word which demands action, but it also suggests that the action is aligned with and permitted under law—that it is divinely sanctioned. Used in this way, “Let” is a ‘word of will’, clearing the way for new possibilities. “Let there be Light”. The one who says “Let” is presumed to have the power and authority to see his intention enacted. When we encounter this word in holy scripture, it is usually God or a god Who speaks. We are not saying, supplicatingly[1], “May this be” and waiting hopefully for something to happen. We are, authoritatively standing in full expectation that accomplishment will follow, when we say, “Let this be”.

37. Từ “hãy để” trong câu “hãy để nhóm đứng vững” là quan trọng. “Hãy để” phần nào là một mệnh lệnh, một từ đòi hỏi hành động, nhưng nó cũng gợi ý rằng hành động ấy được chỉnh hợp vớiđược cho phép dưới định luật—rằng nó được thiêng liêng chuẩn thuận. Được dùng theo cách này, “hãy để” là một “linh từ của ý chí”, mở đường cho những khả năng mới. “Hãy có Ánh Sáng”. Người nói “hãy để” được giả định là có quyền năng và thẩm quyền để thấy ý định của mình được thực hiện. Khi chúng ta gặp từ này trong thánh kinh, thường chính Thượng đế hay một vị thần nói ra. Chúng ta không nói, với thái độ van xin, “Mong sao điều này xảy ra” và hy vọng chờ đợi một điều gì đó xảy đến. Khi chúng ta nói “Hãy để điều này xảy ra”, chúng ta đứng một cách đầy thẩm quyền trong niềm kỳ vọng trọn vẹn rằng sự hoàn thành sẽ theo sau.

38. This brings us to the realization that these 14 Advanced Rules are very much related to the recognition and expression of the will.

38. Điều này đưa chúng ta đến sự nhận ra rằng 14 Quy Luật Cao Cấp này liên hệ rất nhiều đến việc nhận biết và biểu lộ ý chí.

39. Since we human beings hardly know what love is, one could ask, why worry ourselves over the nature of will?

39. Vì con người chúng ta hầu như chưa biết tình thương là gì, người ta có thể hỏi: tại sao phải bận tâm về bản chất của ý chí?

40. Well, such seems to be the program on our planet, if the “time-space schedule” of our Planetary Logos is to be fulfilled. Before we have quite finished the development of love, we are already called to begin understanding and applying will. Thus, the modern disciple has a double task, and serious readers of The Rays and the Initiations, will always have to keep these two in balance—the cultivation of love and will—which are, in a way, great opposites in our cosmos; hence the challenge.

40. Dường như đó là chương trình trên hành tinh của chúng ta, nếu “lịch trình thời gian-không gian” của Hành Tinh Thượng đế của chúng ta phải được hoàn thành. Trước khi chúng ta hoàn tất hẳn sự phát triển tình thương, chúng ta đã được kêu gọi bắt đầu thấu hiểu và áp dụng ý chí. Như vậy, đệ tử hiện đại có một nhiệm vụ kép, và những độc giả nghiêm túc của Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo, sẽ luôn phải giữ hai điều này trong thế cân bằng—sự vun trồng tình thương và ý chí—vốn, theo một cách nào đó, là những đối cực lớn trong vũ trụ của chúng ta; vì thế có thách thức.

41. What does it mean for a group to “stand”?

41. Một nhóm “đứng vững” có nghĩa là gì?

a. The members of a group are fairly integrated persons who are sure of why they are together and what they are doing.

a. Các thành viên của một nhóm là những người khá tích hợp, chắc chắn về lý do tại sao họ ở cùng nhau và họ đang làm gì.

b. The personality of the group is integrating; it has a well-coordinated etheric physical mechanism, a harmonized astral/sentient nature, and a clear and illumined mind. It is also capable of efficient personality effort.

b. Phàm ngã của nhóm đang tích hợp; nó có một bộ máy dĩ thái-hồng trần được phối hợp tốt, một bản chất cảm dục/cảm thụ đã hài hòa, và một thể trí sáng rõ được soi sáng. Nó cũng có khả năng nỗ lực phàm ngã một cách hữu hiệu.

c. The keynote of the group, which embodies its purpose, is sounding strongly (first aspect), clearly (third aspect) and beautifully (second aspect)

c. Chủ âm của nhóm, vốn hiện thân cho mục đích của nó, đang ngân vang mạnh mẽ theo phương diện thứ nhất, rõ ràng theo phương diện thứ ba, và đẹp đẽ theo phương diện thứ hai

d. This purposeful keynote is subduing and quieting (yet harmonizing with) the lesser notes which arise from the personality nature of the participants and from the complex interactions of those personality natures. “Let but one color blend them and their unity appear” (Rule IX for Applicants)

d. Chủ âm đầy mục đích này đang chế phục và làm yên lặng, nhưng vẫn hài hòa với, những âm điệu nhỏ hơn phát sinh từ bản chất phàm ngã của những người tham dự và từ các tương tác phức tạp của những bản chất phàm ngã ấy. “Hãy để chỉ một màu hòa trộn họ và sự hợp nhất của họ hiển lộ” (Quy Luật IX dành cho Người Dự Bị)

e. No matter what else may be going on in the group, or what challenges it may be facing, the note of purpose sounds continuously, and is an orienting sound to which all members attune.

e. Bất kể điều gì khác có thể đang diễn ra trong nhóm, hay nhóm có thể đang đối diện những thách thức nào, âm điệu của mục đích vẫn ngân vang liên tục, và là một âm thanh định hướng mà mọi thành viên đều hòa điệu theo.

f. The energy of will holds the group, and yet it is sufficiently modified by both love and intelligence, to create balance.

f. Năng lượng của ý chí giữ vững nhóm, tuy nhiên nó được điều chỉnh đầy đủ bởi cả tình thương lẫn trí tuệ để tạo nên sự cân bằng.

g. Thus, the group is responsive to and in harmony with the Ashram to which it is related.

g. Như vậy, nhóm đáp ứng với và hòa hợp với ashram mà nó liên hệ.

42. It is clear that such groups cannot be many owing to the modest stage of development of present-day aspirants and disciples. We are still in the very preliminary stages. Such groups have a better chance of appearing in a century or two, or more, than now. Yet a beginning can be made.

42. Rõ ràng, những nhóm như thế không thể có nhiều, do giai đoạn phát triển còn khiêm tốn của các người chí nguyện và đệ tử ngày nay. Chúng ta vẫn còn ở các giai đoạn rất sơ khởi. Những nhóm như thế có nhiều cơ hội xuất hiện hơn trong một hoặc hai thế kỷ nữa, hoặc lâu hơn, so với hiện nay. Tuy nhiên, một khởi đầu có thể được thực hiện.

43. Essentially, such groups are impersonal, which means, practically, that they “put first things first”. Because the keynote of purpose is sounding properly, such groups will not shatter on the rocks of personalism. The group members realize that there are more important things than the comfort (defined in three ways) of the personalities of the participants. We might say of the group members that their sense of values has been adjusted, and that they have humility—which has been defined by the Tibetan as “an adjusted sense of right proportion”.

43. Về căn bản, những nhóm như thế là vô ngã, điều này, trong thực tế, có nghĩa là họ “đặt những điều trước hết lên trước hết”. Vì chủ âm của mục đích đang ngân vang đúng đắn, những nhóm như thế sẽ không vỡ tan trên đá ngầm của chủ nghĩa cá nhân. Các thành viên nhóm nhận ra rằng có những điều quan trọng hơn sự thoải mái, được định nghĩa theo ba cách, của phàm ngã những người tham dự. Chúng ta có thể nói về các thành viên nhóm rằng ý thức giá trị của họ đã được điều chỉnh, và rằng họ có đức khiêm nhường—điều mà Chân sư Tây Tạng đã định nghĩa là “một ý thức đúng đắn đã được điều chỉnh về tỉ lệ thích đáng”.

“I would like also to point out with all the clarity and power at my disposal, the very deep necessity for humility and its constantly recurring expression. I refer not to an inferiority complex but to that adjusted sense of right proportion which equips its possessor with a balanced point of view as to himself, his responsibilities and his life work. This, when present, will enable him to view himself dispassionately and his presented opportunities with equal dispassion.” (DINA I, 95)

“Tôi cũng muốn chỉ ra, với tất cả sự rõ ràng và quyền năng trong khả năng của Tôi, nhu cầu rất sâu xa về đức khiêm nhường và sự biểu lộ không ngừng tái diễn của nó. Tôi không nói đến mặc cảm tự ti, mà nói đến ý thức đúng đắn đã được điều chỉnh về tỉ lệ thích đáng, điều trang bị cho người sở hữu nó một quan điểm cân bằng về chính y, các trách nhiệm của y và công việc đời y. Khi hiện diện, điều này sẽ cho phép y nhìn chính mình một cách vô tư và nhìn những cơ hội được đưa đến cho y với cùng sự vô tư ấy.” (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới I, 95)

44. “Within the fire of mind, focussed within the head’s clear light, let the group stand”, this first sentence calls for a certain etheric condition within the group as whole. Increasingly, in the coming Seventh Ray Age, the etheric body of individuals and groups will become the subject of careful study. The degree to which we can faithfully “bring through” onto the physical plane energies and forces from higher planes will depend very much upon the condition of the ethers. In the magical process, good thoughts, well-motivated, are forever crashing upon the rocks of the dense physical plane. The degree of etheric regulation and control will make right manifestation a far more frequent occurrence.

44. “Trong lửa của trí tuệ, tập trung trong ánh sáng rõ ràng của đầu, hãy để nhóm đứng vững”, câu đầu tiên này kêu gọi một tình trạng dĩ thái nào đó trong toàn thể nhóm. Trong Kỷ Nguyên Cung Bảy sắp đến, thể dĩ thái của các cá nhân và các nhóm sẽ ngày càng trở thành đối tượng nghiên cứu cẩn trọng. Mức độ mà chúng ta có thể trung thành “đưa xuyên qua” xuống cõi hồng trần các năng lượng và mãnh lực từ những cõi cao hơn sẽ tùy thuộc rất nhiều vào tình trạng của các chất dĩ thái. Trong tiến trình huyền thuật, những tư tưởng tốt đẹp, được thúc đẩy bởi động cơ đúng đắn, vẫn luôn va đập vào đá ngầm của cõi hồng trần đậm đặc. Mức độ điều hòa và kiểm soát dĩ thái sẽ làm cho sự biểu hiện đúng đắn xảy ra thường xuyên hơn nhiều.

45. It may be of value, when meditating according to this first sentence, to visualize a glowing “light in the head” in the center of the brain cavity. This visualization would be seen as focussed in the etheric brain. According to the principles of sympathetic magic, “like evokes like”, and the right condition of the ethers of the brain (the “vital airs of the head”) may be activated by such a visualization. As with all things, it should not be overdone, and should simply be seen as a method of producing right alignment.

45. Khi tham thiền theo câu thứ nhất này, có thể hữu ích khi hình dung một “ánh sáng trong đầu” rực sáng ở trung tâm khoang não. Sự hình dung này nên được thấy như tập trung trong bộ não dĩ thái. Theo các nguyên lý của huyền thuật đồng cảm, “đồng thanh tương ứng”, và tình trạng đúng đắn của các chất dĩ thái trong bộ não, tức “các luồng sinh khí của đầu”, có thể được kích hoạt nhờ sự hình dung như thế. Cũng như mọi việc, không nên làm quá mức, và chỉ nên xem đó như một phương pháp tạo ra sự chỉnh hợp đúng đắn.

46. It must be clear from even this initial study of these more advanced rules, that we are embarked on an experiment in “group dynamics”. The importance of the group begins to supersede the importance of the individual. This happens gradually but surely. When we finally care more about the welfare of the group than about our own individual welfare, we are beginning to fulfill the injunction of Rule I for Applicants— “and if his brother’s need is for him of greater moment than his own”. This means not only one’s individual brother, but one’s group of brothers.

46. Ngay từ nghiên cứu ban đầu này về các quy luật cao cấp hơn, cần thấy rõ rằng chúng ta đang bước vào một cuộc thử nghiệm về “động lực học nhóm”. Tầm quan trọng của nhóm bắt đầu thay thế tầm quan trọng của cá nhân. Điều này diễn ra dần dần nhưng chắc chắn. Khi cuối cùng chúng ta quan tâm đến phúc lợi của nhóm hơn phúc lợi cá nhân của chính mình, chúng ta đang bắt đầu thực hiện huấn thị của Quy luật I dành cho những người dự tuyển—“và nếu nhu cầu của huynh đệ y đối với y quan trọng hơn nhu cầu của chính y”. Điều này không chỉ hàm ý một huynh đệ cá nhân, mà còn là nhóm huynh đệ của mình.

47. When groups which are trying to fulfill Rule I for Disciples and Initiates meet in person, they should ensure that they begin their meeting standing “within the fire of mind, focussed within the head’s clear light”, and should realign in the same manner at the close the meeting. Perhaps an occasion during the midway point of the meeting should also be used to ensure this kind of “standing”.

47. Khi các nhóm đang cố gắng thực hiện Quy luật I dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ gặp nhau trực tiếp, họ nên bảo đảm rằng họ bắt đầu buổi họp bằng cách đứng “trong lửa của trí tuệ, tập trung trong ánh sáng trong trẻo của đầu”, và nên tái chỉnh hợp theo cùng cách ấy khi kết thúc buổi họp. Có lẽ một thời điểm ở giữa buổi họp cũng nên được dùng để bảo đảm loại “đứng vững” này.

48. As there will be local study/application groups arising from this 28 Rules Initiative, these practices could profitably adopted.

48. Vì sẽ có các nhóm học tập và áp dụng tại địa phương phát sinh từ Sáng Kiến 28 Quy Luật này, những thực hành này có thể được áp dụng một cách hữu ích.

49. Because we are new to all this and are training ourselves in a way far different from the patterns built up over millions of years of relatively unconscious living, we have to submit and re-submit ourselves to alignments which emphasize the new and desirable pattern—no matter how tedious it may seem to do so.

49. Vì chúng ta còn mới đối với tất cả điều này và đang tự rèn luyện theo một cách rất khác với các mô hình đã được xây dựng qua hàng triệu năm sống tương đối vô thức, chúng ta phải đặt mình, và lại đặt mình, vào những sự chỉnh hợp nhấn mạnh mô hình mới và đáng mong muốn—dù việc ấy có vẻ nhàm chán đến đâu.

B. The burning ground has done its work.

B. Vùng đất cháy đã hoàn tất công việc của nó.

1. A whole book could be written about the “burning ground”.

1. Có thể viết cả một cuốn sách về “vùng đất cháy”.

2. The planets Uranus, Vulcan, Mars and Pluto are all involved in this occult process, and the other planets are necessarily implicated in various ways, including ‘cold’ Saturn, which holds us there.

2. Các hành tinh Sao Thiên Vương, Vulcan, Sao Hỏa và Sao Diêm Vương đều liên quan đến tiến trình huyền bí này, và các hành tinh khác tất yếu cũng dính líu theo nhiều cách khác nhau, kể cả Thổ Tinh “lạnh”, là hành tinh giữ chúng ta ở đó.

3. There are many definitions of “fire”. A good one from The Rays and the Initiations is: “Fire is the sumtotal of that which destroys form, produces complete purity in that which is not itself, generates the warmth which lies behind all growth, and is vitality itself” (R&I, 82)

3. Có nhiều định nghĩa về “lửa”. Một định nghĩa hay từ Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo là: “Lửa là tổng số của những gì phá hủy hình tướng, tạo ra sự tinh khiết hoàn toàn trong những gì không phải là chính nó, sinh ra hơi ấm nằm sau mọi sự tăng trưởng, và chính là sinh lực” (Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo, 82)

4. On the “burning ground” one vehicle of the energy system after another is submitted to purification and essentialization.

4. Trên “vùng đất cháy”, hết vận cụ này đến vận cụ khác của hệ thống năng lượng được đưa vào sự thanh lọcsự tinh yếu hóa.

5. In a way, the entire course of evolution is a burning ground, but it is a slow burn, which is equivalent to a gradual refinement of the vehicles so that they approximate, ever more closely, their archetypal pattern.

5. Theo một cách nào đó, toàn bộ tiến trình tiến hoá là một vùng đất cháy, nhưng đó là một sự cháy chậm, tương đương với sự tinh luyện dần dần các vận cụ để chúng ngày càng xấp xỉ mô hình nguyên mẫu của mình.

6. The technical “burning ground” is a more intensive process occurring immediately before every initiation (lesser initiations, interim initiations, and major initiations). The burning ground in which the eighteen fires are specifically purified pertains mostly to the first three initiations.

6. “Vùng đất cháy” theo nghĩa kỹ thuật là một tiến trình mãnh liệt hơn xảy ra ngay trước mỗi cuộc điểm đạo, gồm các cuộc điểm đạo nhỏ, các cuộc điểm đạo trung gian, và các cuộc điểm đạo lớn. Vùng đất cháy, trong đó mười tám ngọn lửa được thanh lọc một cách đặc thù, chủ yếu liên quan đến ba cuộc điểm đạo đầu tiên.

7. Friction ignites fire. What causes this friction?

7. Ma sát làm lửa bốc cháy. Điều gì gây ra ma sát này?

8. When one just “goes along” and purposelessly, “goes with the flow”, there is no friction and ignition.

8. Khi một người chỉ “thuận theo” và vô mục đích “trôi theo dòng”, thì không có ma sát và không có sự bốc cháy.

9. However, when a more perfect pattern is held or sustained (Saturn and Vulcan) in the midst of less perfect patterns, then friction and flame arise. “Perfection calls imperfection to the surface. Good drives evil from the form of man in time and space” (Law IX of Healing, from Esoteric Healing)

9. Tuy nhiên, khi một mô hình hoàn hảo hơn được giữ vững hoặc duy trì giữa những mô hình kém hoàn hảo hơn, thì ma sát và ngọn lửa phát sinh. “Sự hoàn thiện gọi sự bất toàn trồi lên bề mặt. Cái Thiện đẩy cái ác ra khỏi hình tướng của con người trong thời gian và không gian” (Định luật IX về Trị liệu, từ Trị Liệu Huyền Môn)

10. The will is the holding power in the human being.

10. Ý chí là quyền năng giữ vững trong con người.

11. God’s “Fixed Design” is sustained and held by God’s Will.

11. “Thiết Kế Cố Định” của Thượng đế được duy trì và giữ vững bằng Ý Chí của Thượng đế.

12. Whenever we use the will to hold the pattern towards which we aspire, then that which is contrary to that pattern immediately comes into friction with it, and the “heat rises”—if to the “kindling point” a burning ground is created.

12. Mỗi khi chúng ta dùng ý chí để giữ vững mô hình mà mình khát vọng hướng tới, thì điều trái nghịch với mô hình ấy lập tức đi vào ma sát với nó, và “sức nóng dâng lên”—nếu đến “điểm bắt lửa” thì một vùng đất cháy được tạo nên.

13. We all know that when facing any imminent expansion of consciousness or elevation of vibratory frequency, disciples “try hard”. They seek to conform to their conception of what their new life should be like. They seek no longer to follow their old ways, to give in to their old patterns. The fire of their aspiration increases.

13. Tất cả chúng ta đều biết rằng khi đối diện với bất kỳ sự mở rộng tâm thức hay nâng cao tần số rung động sắp xảy ra nào, các đệ tử “nỗ lực hết sức”. Họ tìm cách làm cho mình phù hợp với quan niệm của họ về đời sống mới phải như thế nào. Họ tìm cách không còn đi theo những lối cũ, không còn nhượng bộ các mô hình cũ. Ngọn lửa khát vọng của họ gia tăng.

14. But their conditioning—the already created patterns of energy and force represented by the Moon and lower Saturn—does not immediately conform to their new intentions. These former patterns seek to persist as they have been. It is as if they do not want to change.

14. Nhưng sự tác động đã định hình họ—những mô hình năng lượng và mãnh lực đã được tạo sẵn, được biểu thị bởi Mặt Trăng và Thổ Tinh thấp—không lập tức phù hợp với những ý định mới của họ. Các mô hình trước kia ấy tìm cách tiếp tục tồn tại như chúng đã từng tồn tại. Dường như chúng không muốn thay đổi.

15. The friction arising from these contrary tendencies becomes an intensified inharmony, producing an elevation of vibration in both the patterns which need to be changed and the vibratory pattern of the more ideal state which will is sustaining. The intensifying clash between the two is experienced as a stressful fire and heat—a burning ground.

15. Ma sát phát sinh từ các khuynh hướng trái nghịch này trở thành một sự bất hòa mãnh liệt hơn, tạo ra một sự nâng cao rung động cả trong những mô hình cần được thay đổi lẫn trong mô hình rung động của trạng thái lý tưởng hơn mà ý chí đang duy trì. Sự va chạm ngày càng mãnh liệt giữa hai bên được trải nghiệm như một ngọn lửa và sức nóng căng thẳng—một vùng đất cháy.

16. This heightened or elevated vibration may, at first, seem to make the old patterns stronger, and they may reassert themselves in the face of what we might call ‘the challenging good’. But at length the old will disintegrate due to the intensified unbalanced vibration and the ‘pressure of the good’, and will re-configure in accordance with the new pattern being held by the purposeful will. One simply has to live through this discomfort until the change comes.

16. Lúc đầu, rung động được nâng cao này có thể dường như làm cho các mô hình cũ mạnh hơn, và chúng có thể tự tái khẳng định trước điều mà chúng ta có thể gọi là “cái thiện thách thức”. Nhưng cuối cùng cái cũ sẽ tan rã do rung động mất cân bằng đã được tăng cường và do “áp lực của cái thiện”, rồi sẽ tái cấu hình phù hợp với mô hình mới đang được ý chí có mục đích giữ vững. Người ta chỉ cần sống qua sự khó chịu này cho đến khi sự thay đổi xảy ra.

17. The will which holds the new pattern does not change. It persists. The part of the consciousness doing the ‘holding’ must be detached no matter what the discomfort experienced by the patterns which are obliged to change.

17. Ý chí giữ vững mô hình mới không thay đổi. Nó bền bỉ. Phần tâm thức đang thực hiện việc “giữ vững” phải tách rời, bất kể sự khó chịu mà các mô hình buộc phải thay đổi đang trải nghiệm là gì.

18. It will seem as if the consciousness is in two ‘places’ at once—focussed in relation to the holding power of higher will, and yet involved with the suffering of the lower form/patterns which are being forced to change in the heat caused by ever-greater friction.

18. Dường như tâm thức ở trong hai “nơi” cùng một lúc—tập trung liên hệ với quyền năng giữ vững của ý chí cao siêu, nhưng đồng thời vẫn dính líu với nỗi đau khổ của các hình tướng và mô hình thấp đang bị buộc phải thay đổi trong sức nóng do ma sát ngày càng lớn gây ra.

19. Upon the burning ground, the fires of transmutation are raging. “Transmutation has been defined as ‘the passage across from one state of being to another, through the agency of fire’. (TCF, 476)

19. Trên vùng đất cháy, các ngọn lửa chuyển hoá đang bùng cháy dữ dội. “Chuyển hoá đã được định nghĩa là ‘sự chuyển vượt từ một trạng thái tồn tại này sang một trạng thái tồn tại khác, qua tác nhân là lửa’.” (Luận về Lửa Vũ Trụ, 476)

20. In this painful and divided process, it is important that the disciple place the greater emphasis upon the ‘willful Observer’ who is supervising the whole transmutational change. To do so is, in effect, detachment. The disciple, thus, becomes less and less identified with the suffering of the highly stressed older patterns, and more and more identified with the serene Observer who is simply ‘holding to the imminent good’.

20. Trong tiến trình đau đớn và phân đôi này, điều quan trọng là đệ tử đặt trọng tâm lớn hơn vào “Nhà Quan Sát có ý chí”, Đấng đang giám sát toàn bộ sự thay đổi chuyển hoá. Làm như vậy, trên thực tế, là sự tách rời. Do đó, đệ tử ngày càng ít đồng hoá với nỗi đau khổ của những mô hình cũ đang chịu áp lực cao độ, và ngày càng đồng hoá với Nhà Quan Sát tĩnh lặng, Đấng chỉ đơn giản “giữ vững cái thiện sắp xảy đến”.

21. The discomfort of the burning ground will be reduced as “divine indifference” is achieved—that certain “don’t care attitude” (in the words of the Tibetan) which is the attitude of the soul-infused mind to the reactive struggles occurring within the sphere of personality.

21. Sự khó chịu của vùng đất cháy sẽ giảm bớt khi đạt được “Điềm nhiên thiêng liêng”—thái độ “không bận tâm” nhất định, theo lời Chân sư Tây Tạng, vốn là thái độ của thể trí được linh hồn thấm nhuần đối với những cuộc giằng co phản ứng xảy ra trong phạm vi phàm ngã.

22. Really, the burning ground is a process of harmonization. The old must change in such a way as to harmonize with and conform to the new. In this process lies much pain for the old.

22. Thật ra, vùng đất cháy là một tiến trình hài hòa hóa. Cái cũ phải thay đổi sao cho hài hòa với và phù hợp với cái mới. Trong tiến trình này có nhiều đau đớn cho cái cũ.

23. It might be said that ‘essences harmonize’. Archetypes are relationships of essences. When complex things are reduced to essence (or when essence shines through them), they harmonized with other essentialized complexities.

23. Có thể nói rằng “các tinh yếu hài hòa với nhau”. Các nguyên mẫu là những mối quan hệ của các tinh yếu. Khi những điều phức tạp được quy giản về tinh yếu, hoặc khi tinh yếu chiếu xuyên qua chúng, chúng hài hòa với những phức thể đã được tinh yếu hóa khác.

24. Vision is very important on the burning ground. For success, we hold the vision of the pattern which must eventuate, even as the pattern which exists is disintegrating. Serenely, we ‘see’, through and beyond the raging inferno.

24. Tầm nhìn rất quan trọng trên vùng đất cháy. Để thành công, chúng ta giữ vững tầm nhìn về mô hình phải thành tựu, ngay cả khi mô hình đang hiện hữu tan rã. Trong tĩnh lặng, chúng ta “thấy”, xuyên qua và vượt khỏi biển lửa đang cuồng nộ.

25. All the rays are involved on the burning ground.

25. Tất cả các cung đều liên quan trên vùng đất cháy.

a. The first ray holds and sustains the new pattern, thus “forcing the issue”, and putting the former patterns under pressure.

a. Cung một giữ vững và duy trì mô hình mới, nhờ đó “buộc vấn đề phải được giải quyết”, và đặt các mô hình trước kia dưới áp lực.

b. The light and vision of the second ray reveal the dark places of the personality, and cause the pain of cognitive dissonance within the personal consciousness. The struggling one suffers because he sees the whole picture and how much yet remains to be done. Moreover, the second ray induces great sensitivity to impacts within the battle, and hence greater pain. This ray induces agony.

b. Ánh sáng và tầm nhìn của cung hai mặc khải những nơi tối tăm của phàm ngã, và gây ra nỗi đau của sự bất hòa nhận thức trong tâm thức cá nhân. Người đang tranh đấu đau khổ vì y thấy toàn cảnh và thấy còn bao nhiêu điều phải làm. Hơn nữa, cung hai tạo ra sự nhạy cảm lớn lao đối với các tác động trong trận chiến, và do đó tạo ra nỗi đau lớn hơn. Cung này tạo ra đau đớn cực độ.

c. The third ray creates the strategies and techniques to outmaneuver the enemy—the patterns of the past. But one must be watchful of the third ray because, through its energy (so resonant with the veils and binding matrices which must be burnt) one may delude oneself, and unconsciously hold the ‘fabric of illusion’ together, mending it.

c. Cung ba tạo ra các chiến lược và kỹ thuật để vượt mưu kẻ thù—các mô hình của quá khứ. Nhưng người ta phải cảnh giác với cung ba, bởi vì qua năng lượng của nó, vốn cộng hưởng mạnh với các bức màn và những ma trận trói buộc cần phải bị đốt cháy, người ta có thể tự lừa dối mình, và vô thức giữ cho “tấm vải của ảo tưởng” gắn kết, bằng cách vá lại nó.

d. The fourth ray is archetypally connected with all burning ground processes. This is the Ray of Harmony through Conflict—exactly what every burning ground is intended to produce. At first there is friction, conflict, discord, battle, distress, and incessant pain. Later, through intelligent adjustment and accommodation, intelligent harmonization ensues. Burning grounds, for all their pain and agony, are meant to end in greater beauty—and in revelation induced by the liberated intuition (related to the fourth ray).

d. Cung bốn liên hệ theo nguyên mẫu với mọi tiến trình vùng đất cháy. Đây là Cung Hài Hòa qua Xung Đột—chính xác là điều mà mỗi vùng đất cháy được dự định tạo ra. Lúc đầu có ma sát, xung đột, bất hòa, chiến đấu, khổ não và đau đớn không ngừng. Về sau, nhờ sự điều chỉnh và thích nghi thông minh, sự hài hòa hóa thông minh xảy đến. Dù đầy đau đớn và thống khổ, các vùng đất cháy được dự định kết thúc trong vẻ đẹp lớn hơn—và trong sự mặc khải do trực giác được giải phóng tạo ra, trực giác này liên hệ với cung bốn.

e. On the burning ground, one needs a “cool head” amidst all the heat and frenzy. The fifth ray confers the power to see objectively. This is also the ray of detachment, and is particularly connected with the “Attitude of the Observer”—shall we say, the scientific observer? There is the smoke and din of battle, and all is confusion. If the purposeful objectives of the burning ground are to be achieved, one has always to have them clearly in mind—this clarity being the province of the fifth ray.

e. Trên vùng đất cháy, người ta cần một “cái đầu lạnh” giữa mọi sức nóng và cuồng loạn. Cung năm ban quyền năng thấy một cách khách quan. Đây cũng là cung của sự tách rời, và đặc biệt liên hệ với “Thái độ của Nhà Quan Sát”—có thể nói là nhà quan sát khoa học chăng? Có khói và tiếng ồn ào của trận chiến, và tất cả đều hỗn loạn. Nếu các mục tiêu có chủ đích của vùng đất cháy phải được thành tựu, người ta luôn phải giữ chúng rõ ràng trong trí—sự rõ ràng này là phạm vi của cung năm.

f. The sixth ray has for one of its points of distribution, Mars. Mars is related to fire and to all frictional and heated processes. The sixth ray and Mars provide that ardent idealism which continues to fuel the generated flame until the work is done. Upon the burning ground, it will not do for the flame to rage for only a short time. The opposing pattern must be consumed and re-configured in the flame. When aspirations and ideals (under the sixth ray) burn bright, sufficient dynamic exists to sustain the flame until the work suffices. Upon the burning ground one wants, desires, aspires to a higher state. The intensity of this desiring sustains the fire until there is nothing left to be burnt. “Let the fire rage, the flames devour, Let all the dross be burnt” (From the Mantram of Fire).

f. Cung sáu có Sao Hỏa là một trong những điểm phân phối của nó. Sao Hỏa liên hệ với lửa và với mọi tiến trình ma sát và nóng bỏng. Cung sáu và Sao Hỏa cung cấp chủ nghĩa lý tưởng nồng nhiệt tiếp tục nuôi dưỡng ngọn lửa đã được tạo ra cho đến khi công việc hoàn tất. Trên vùng đất cháy, ngọn lửa không thể chỉ bùng cháy trong một thời gian ngắn. Mô hình đối nghịch phải bị tiêu hủy và được tái cấu hình trong ngọn lửa. Khi những khát vọng và lý tưởng dưới cung sáu cháy sáng, có đủ động lực để duy trì ngọn lửa cho đến khi công việc đủ hoàn tất. Trên vùng đất cháy, người ta muốn, khao khát, khát vọng hướng đến một trạng thái cao hơn. Cường độ của sự khao khát này duy trì ngọn lửa cho đến khi không còn gì để bị đốt cháy. “Hãy để lửa bùng lên, để các ngọn lửa nuốt trọn, hãy để mọi cặn bã bị đốt sạch” (từ Mantram Lửa).

g. The seventh ray rules the re-ordering and re-patterning which is the purpose behind every burning ground. In relation to the seventh ray, “The Highest and the Lowest Meet”—the higher pattern and the lower pattern come together, enter into conflict, and create the necessary reorganization. Relatively “perfected relationship” is what remains from a successful burning ground experience. In perfection of relationship, one recognizes the influence of the seventh ray.

g. Cung bảy cai quản sự tái sắp xếp và tái mô hình hóa, vốn là mục đích đứng sau mọi vùng đất cháy. Liên quan đến cung bảy, “Cao Nhất và Thấp Nhất Gặp Nhau”—mô hình cao và mô hình thấp hội tụ, đi vào xung đột, và tạo ra sự tái tổ chức cần thiết. “Mối quan hệ đã được hoàn thiện” tương đối là điều còn lại từ một kinh nghiệm vùng đất cháy thành công. Trong sự hoàn thiện của mối quan hệ, người ta nhận ra ảnh hưởng của cung bảy.

26. When passing through burning ground processes, one can see how important it is to have these seven ray dynamics in mind, so one can proceed consciously and skilfully. At the different phases of what is often a very long process, different ray attributes may be needed.

26. Khi trải qua các tiến trình vùng đất cháy, người ta có thể thấy tầm quan trọng của việc giữ trong trí bảy động lực cung này, để có thể tiến bước một cách có ý thức và khéo léo. Ở những giai đoạn khác nhau của một tiến trình thường rất dài, các thuộc tính cung khác nhau có thể cần thiết.

27. We learn in sentence two, that “the burning ground has done its work”. Rule I, therefore, begins after the burning ground process.

27. Trong câu thứ hai, chúng ta học rằng “vùng đất cháy đã hoàn tất công việc của nó”. Vì vậy, Quy luật I bắt đầu sau tiến trình vùng đất cháy.

28. This is interesting. It shows us how much is already assumed by these Rules. Really, we are not ready to apply the more advanced Rules until we have successfully trodden the burning ground, and emerged in a state of achieved purification—through achieved purification is relative to the level for which it is intended to give access. The Master is purity itself compared to the average disciple. But how ‘pure’ is the Master compared to an initiate of the ninth degree?

28. Điều này thật thú vị. Nó cho chúng ta thấy các Quy luật này đã giả định nhiều đến mức nào. Thật ra, chúng ta chưa sẵn sàng áp dụng các Quy luật cao cấp hơn cho đến khi chúng ta đã bước qua vùng đất cháy một cách thành công, và xuất hiện trong một trạng thái thanh lọc đã đạt được—dù sự thanh lọc đã đạt được chỉ tương đối đối với cấp độ mà nó nhằm mở lối vào. So với đệ tử trung bình, Chân sư là chính sự tinh khiết. Nhưng Chân sư “tinh khiết” đến đâu khi so với một điểm đạo đồ cấp chín?

29. Probably, two burning grounds lie behind the ones who can seek to keep and live Rule I for Disciples and Initiates. The first burning ground is an individual one, and is suggested by the processes necessarily involved in Rule I for Applicants. The whole question of “warming” and “heating” has been dealt with successfully, and all that inhibits the flow of soul love is burnt out of the applicant. (Again this burning away of inhibiting factors takes place in three stages, just as soul-infusion is a three-phased process—at least three phases.)

29. Có lẽ hai vùng đất cháy nằm phía sau những người có thể tìm cách giữ và sống Quy luật I dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ. Vùng đất cháy thứ nhất là một vùng đất cháy cá nhân, và được gợi ý bởi các tiến trình tất yếu liên quan trong Quy luật I dành cho những người dự tuyển. Toàn bộ vấn đề “làm ấm” và “làm nóng” đã được xử lý thành công, và tất cả những gì ức chế dòng chảy của tình thương linh hồn đều bị đốt sạch khỏi người dự tuyển. Một lần nữa, việc đốt cháy các yếu tố ức chế này diễn ra trong ba giai đoạn, cũng như sự thấm nhuần linh hồn là một tiến trình gồm ba giai đoạn—ít nhất là ba giai đoạn.

30. The one who is fit for the group life presented by the greater 14 Rules has certainly consummated in himself, Rule I for Applicants, and “love for all beings, irrespective of who they may be is [Page at least] beginning to be a realized fact” in his heart. There is no way to express such love unless one has “passed through the fires”.

30. Người thích hợp với đời sống nhóm được trình bày bởi 14 Quy luật lớn hơn chắc chắn đã hoàn tất trong chính mình Quy luật I dành cho những người dự tuyển, và “tình thương đối với mọi sinh linh, bất kể họ là ai, [Trang ít nhất] đang bắt đầu trở thành một sự kiện được nhận thức” trong trái tim y. Không có cách nào biểu lộ tình thương như thế trừ khi người ta đã “đi qua các ngọn lửa”.

31. Further, it is assumed that another burning ground lies in the background—but this time, the background of the group.

31. Hơn nữa, người ta giả định rằng một vùng đất cháy khác nằm ở hậu cảnh—nhưng lần này là hậu cảnh của nhóm.

32. That the individual has passed through the necessary burning ground is simply assumed. But the more important burning ground has been the one through which the group, itself, has passed.

32. Việc cá nhân đã đi qua vùng đất cháy cần thiết chỉ đơn giản được giả định. Nhưng vùng đất cháy quan trọng hơn là vùng đất cháy mà chính nhóm đã đi qua.

33. Therefore, we can see that these 14 more advanced Rules do not begin at the beginning of group life. Much has already transpired. The wild enthusiasm (in contrast to sober beginnings) so present in many groups as they first gather; the conflicts, so often of a personality nature, which inevitably arise as people begin working together; the “group fatalities”, in which process the group is subject to wrenching cleavages and departures—usually in self-satisfaction and pride—of valuable group members who find themselves too critical of the group and the group leaders to continue their membership; the reconsolidation of the group (“sadder but wiser”) with the personnel who have been through the fires, remained, and are still willing to work with each other—all these stages have transpired in the life of the group which is really ready to begin following Rule I for Disciples and Initiates.

33. Vì vậy, chúng ta có thể thấy rằng 14 Quy luật cao cấp hơn này không bắt đầu ở khởi đầu của đời sống nhóm. Nhiều điều đã xảy ra rồi. Sự nhiệt tình hoang dại, trái với những khởi đầu điềm đạm, vốn hiện diện trong nhiều nhóm khi họ mới tụ họp; những xung đột, thường mang tính phàm ngã, tất yếu nảy sinh khi con người bắt đầu làm việc chung; những “tử vong của nhóm”, trong đó nhóm chịu những chia rẽ và ra đi đau đớn—thường trong sự tự mãn và kiêu hãnh—của những thành viên nhóm có giá trị, những người thấy mình quá phê phán nhóm và các nhà lãnh đạo nhóm nên không thể tiếp tục là thành viên; sự tái củng cố của nhóm, “buồn hơn nhưng khôn ngoan hơn”, với những nhân sự đã đi qua các ngọn lửa, đã ở lại, và vẫn sẵn lòng làm việc với nhau—tất cả các giai đoạn này đã diễn ra trong đời sống của nhóm thật sự sẵn sàng bắt đầu đi theo Quy luật I dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ.

34. Of course, our present group has not passed through all these stages, and yet we begin studying and applying Rule I. How can this be? Are we not out of order?

34. Dĩ nhiên, nhóm hiện tại của chúng ta chưa đi qua tất cả các giai đoạn này, vậy mà chúng ta bắt đầu nghiên cứu và áp dụng Quy luật I. Làm sao có thể như vậy? Chẳng phải chúng ta đang sai trình tự sao?

35. To this I would reply that for many years, many of us have been in just such groups as described above. We have been through the fires in those groups (which is not so say that we will not experience certain fires in this group), but perhaps we do not need to be quite as immature as we have been in the past. Maybe we have learned something through enthusiasm, conflict, fatality and regathering. Maybe now, under rising Saturn, we are actually, in principle, ready to begin with phase five, before which, “The burning ground has done its work”.

35. Đối với điều này, tôi xin trả lời rằng trong nhiều năm, nhiều người trong chúng ta đã từng ở trong đúng những nhóm như đã mô tả ở trên. Chúng ta đã đi qua các ngọn lửa trong những nhóm ấy, điều này không có nghĩa là chúng ta sẽ không trải nghiệm một số ngọn lửa trong nhóm này, nhưng có lẽ chúng ta không cần phải non nớt như chúng ta đã từng trong quá khứ. Có lẽ chúng ta đã học được điều gì đó qua nhiệt tình, xung đột, tử vong và tái tụ họp. Có lẽ lúc này, dưới Thổ Tinh đang mọc lên, về nguyên tắc chúng ta thật sự sẵn sàng bắt đầu với giai đoạn năm, trước đó “vùng đất cháy đã hoàn tất công việc của nó”.

36. I do not want to be too much of a rosy optimist. It is tough to hold the kind of energies which may descend if this group becomes truly invocative. “Let the cry of invocation issue forth from the deep center of the group’s clear cold light” (Rule III for Disciples and Initiates) But I do believe in the power of Saturn to help us all behave, “as if”, we had learned something in the past and can do better, now in the present.

36. Tôi không muốn là một người lạc quan tô hồng quá mức. Thật khó giữ loại năng lượng có thể giáng xuống nếu nhóm này trở nên thật sự có tính khẩn cầu. “Hãy để tiếng kêu khẩn cầu phát ra từ trung tâm sâu thẳm của ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo của nhóm” (Quy luật III dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ) Nhưng tôi thật sự tin vào quyền năng của Thổ Tinh giúp tất cả chúng ta hành xử “như thể” chúng ta đã học được điều gì đó trong quá khứ và có thể làm tốt hơn, ngay bây giờ trong hiện tại.

37. We do not want to think that the Rules are so high that we cannot have any chance to fulfill them. Nor is it wise to think of them as so ordinary that any group can casually fulfill them. There is a “Noble Middle Path” for us to pursue in our approach to these venerable Rules, and I trust that we all see the wisdom of pursuing it.

37. Chúng ta không muốn nghĩ rằng các Quy luật cao đến mức chúng ta không có cơ hội nào để thực hiện chúng. Cũng không khôn ngoan khi nghĩ chúng quá bình thường đến mức bất kỳ nhóm nào cũng có thể tùy tiện thực hiện chúng. Có một “Trung Đạo Cao Quý” để chúng ta theo đuổi trong cách tiếp cận các Quy luật đáng tôn kính này, và tôi tin rằng tất cả chúng ta đều thấy sự minh triết của việc theo đuổi nó.

38. When the group burning ground (whether of the past, or yet to be encountered by us) has done its work, how shall we recognize the results?

38. Khi vùng đất cháy của nhóm, dù thuộc quá khứ hay còn chờ chúng ta gặp, đã hoàn tất công việc của nó, chúng ta sẽ nhận ra các kết quả như thế nào?

a. We will be far freer of the ‘drag’ of personality life—of both the individual personality and the personality of the group. (Please bear in mind that the personality of our group has not really yet formed!)

a. Chúng ta sẽ tự do hơn rất nhiều khỏi “sức kéo” của đời sống phàm ngã—cả phàm ngã cá nhân lẫn phàm ngã của nhóm. Xin nhớ rằng phàm ngã của nhóm chúng ta thật ra vẫn chưa hình thành!

b. The compelling patterns of the past will not so easily snare us; we shall respond more readily to the impelling patterns of the future-to-be-fulfilled.

b. Các mô hình cưỡng bách của quá khứ sẽ không dễ dàng giăng bẫy chúng ta; chúng ta sẽ đáp ứng dễ dàng hơn với các mô hình thúc đẩy của tương lai cần được hoàn thành.

c. The ‘temperature’ of the group will be different. It will not be a ‘hot’ group. There will be “warmth” of course—that is a necessity. But there will not be heated and pitched battles (between personalities); the fires of personality friction will be much reduced, and if and when they do arise, we shall all know how to handle them with Love and Wisdom.

c. “Nhiệt độ” của nhóm sẽ khác. Nó sẽ không phải là một nhóm “nóng”. Dĩ nhiên sẽ có “hơi ấm”—đó là điều cần thiết. Nhưng sẽ không có những trận chiến nóng bỏng và căng thẳng giữa các phàm ngã; những ngọn lửa ma sát phàm ngã sẽ giảm đi nhiều, và nếu, khi chúng phát sinh, tất cả chúng ta sẽ biết cách xử lý chúng bằng Bác Ái và Minh Triết.

d. Group simplification will supervene. We will not be caught in complex emotional-mental states (kama-manasic), but the clarifying light of the soul, and the revelatory light of the Spiritual Triad, will flood the group mind. We shall stand in the “clear cold light” (to be discussed in the next Commentary I Part II).

d. Sự đơn giản hóa nhóm sẽ xuất hiện. Chúng ta sẽ không bị mắc kẹt trong những trạng thái cảm xúc-trí tuệ phức tạp, tức trí-cảm, mà ánh sáng làm sáng tỏ của linh hồn, và ánh sáng mặc khải của Tam Nguyên Tinh Thần, sẽ tràn ngập thể trí nhóm. Chúng ta sẽ đứng trong “ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo”, điều sẽ được bàn trong Bình Giảng I Phần II tiếp theo.

e. Above all, our essential pattern will be in process of revelation. “Be Who You Are”—this is sound advice for every individual, for the Word of God is found speaking with specificity through the soul/spirit of each human being.

e. Trên hết, mô hình tinh yếu của chúng ta sẽ ở trong tiến trình mặc khải. “Hãy Là Chính Mình”—đây là lời khuyên đúng đắn cho mỗi cá nhân, vì Linh từ của Thượng đế được thấy đang phát biểu một cách đặc thù qua linh hồn/tinh thần của mỗi con người.

f. “Be Who You Are” is also sound advice for a serving group which seeks to fulfill, to some measure, ashramic intention. So far, we don’t know “Who” this group really is. Not that we want to become the ‘group individualist’—for this would preclude proper ashramic relation. Group individuality, however, is another matter. (Think of the indivisibility in the word individuality. But we do want to be authentic as a group, just as every individual seeks to be authentic—to be the Spirit-in-expression. When the burning ground has done its work this group authenticity can more readily be achieved.

f. “Hãy Là Chính Mình” cũng là lời khuyên đúng đắn cho một nhóm phụng sự đang tìm cách thực hiện, ở một mức độ nào đó, ý định ashram. Cho đến nay, chúng ta chưa biết nhóm này thật sự “Là Ai”. Không phải chúng ta muốn trở thành “người cá nhân chủ nghĩa của nhóm”—vì điều này sẽ ngăn cản mối liên hệ ashram đúng đắn. Tuy nhiên, cá thể tính nhóm lại là một vấn đề khác. Hãy nghĩ đến tính bất khả phân trong từ cá thể tính. Nhưng chúng ta thật sự muốn chân thực như một nhóm, cũng như mỗi cá nhân tìm cách chân thực—trở thành Tinh thần trong biểu hiện. Khi vùng đất cháy đã hoàn tất công việc của nó, tính chân thực của nhóm này có thể được đạt tới dễ dàng hơn.

g. These, then, are a few of the results which can be expected when “the burning ground has done its work”.

g. Vậy, đây là một vài kết quả có thể được mong đợi khi “vùng đất cháy đã hoàn tất công việc của nó”.

h. Our individual job is to make sure that, for us as personalities, “the burning ground has done its work”. The group as a whole will handle whatever group burning ground we are Self-compelled to tread.

h. Công việc cá nhân của chúng ta là bảo đảm rằng, đối với chúng ta với tư cách là các phàm ngã, “vùng đất cháy đã hoàn tất công việc của nó”. Toàn nhóm sẽ xử lý bất kỳ vùng đất cháy của nhóm nào mà Chân ngã thúc buộc chúng ta bước qua.

39. A good piece of advice is to give what must be burnt to the fire. People are fond of this little ritual, and Master Morya suggests that we take our “three worst faults and consign them to the flame”. Personally, I do not yet know anyone who has actually done this with entire success, though many have attempted to do so. It’s the kind of thing we do when we are treading the burning ground. The attempt to keep these faults from reoccurring once they have been thrown into the fire, is an act of will which keeps the fire raging until these faults are consumed.

39. Một lời khuyên tốt là hãy trao cho lửa những gì phải bị đốt cháy. Người ta thích nghi thức nhỏ này, và Chân sư Morya gợi ý rằng chúng ta lấy “ba lỗi lầm tệ nhất của mình và phó chúng cho ngọn lửa”. Riêng tôi, tôi chưa biết ai thật sự làm điều này với thành công trọn vẹn, dù nhiều người đã cố gắng làm như vậy. Đó là loại việc chúng ta làm khi đang bước trên vùng đất cháy. Nỗ lực giữ cho các lỗi lầm này không tái diễn sau khi chúng đã được ném vào lửa là một hành động của ý chí, giữ cho ngọn lửa tiếp tục bùng cháy cho đến khi các lỗi lầm ấy bị thiêu rụi.

40. How stubborn is evil within our natures! I don’t want to sound too Biblical here, but this is just a fact. Master Hilarion has something to say about this, in His little book, Light on the Path.

40. Cái ác trong bản chất chúng ta thật ngoan cố biết bao! Tôi không muốn nghe quá giống Kinh Thánh ở đây, nhưng đây chỉ là một sự kiện. Chân sư Hilarion có điều nói về việc này trong quyển sách nhỏ của Ngài, Ánh sáng trên Đường Đạo.

“Seek in the heart the source of evil and expunge it. It lives fruitfully in the heart of the devoted disciple as well as in the heart of the man of desire. Only the strong can kill it out. The weak must wait for its growth, its fruition, its death. And it is a plant that lives and increases throughout the ages. It flowers when the man has accumulated unto himself innumerable existences. He who will enter upon the path of power must tear this thing out of his heart. And then the heart will bleed, and the whole life of the man seem to be utterly dissolved. This ordeal must be endured: it may come at the first step of the perilous ladder which leads to the path of life: it may not come until the last. But, O disciple, remember that it has to be endured, and fasten the energies of your soul upon the task. Live neither in the present nor the future, but in the eternal. This giant week cannot flower there: this blot upon existence is wiped out by the very atmosphere of eternal thought.”

“Hãy tìm trong tim nguồn gốc của cái ác và nhổ bỏ nó. Nó sống sung mãn trong tim của đệ tử tận tụy cũng như trong tim của con người dục vọng. Chỉ người mạnh mới có thể giết chết nó. Người yếu phải chờ nó tăng trưởng, kết quả, rồi chết đi. Và nó là một loài cây sống và gia tăng qua các thời đại. Nó nở hoa khi con người đã tích lũy cho mình vô số kiếp sống. Ai muốn bước vào con đường quyền năng phải xé bật điều này khỏi tim mình. Và khi đó trái tim sẽ chảy máu, và toàn bộ đời sống của con người dường như hoàn toàn tan rã. Thử thách này phải được chịu đựng: nó có thể đến ở bậc đầu tiên của chiếc thang hiểm nguy dẫn đến con đường sự sống; nó cũng có thể không đến cho đến bậc cuối cùng. Nhưng, hỡi đệ tử, hãy nhớ rằng nó phải được chịu đựng, và hãy tập trung các năng lượng của linh hồn con vào nhiệm vụ ấy. Đừng sống trong hiện tại hay tương lai, mà hãy sống trong cái vĩnh cửu. Cỏ dại khổng lồ này không thể nở hoa ở đó: vết nhơ này trên hiện tồn bị xóa sạch bởi chính bầu khí quyển của tư tưởng vĩnh cửu.”

41. The references above are not to fire but they might as well be. On the burning ground we face the residual evil in our natures—the accumulated, obstructive past which we call the “Dweller on the Threshold”. Sooner or later that Dweller (in one aspect of itself or another, or as a whole) must be faced. To face the Dweller is to create a burning ground.

41. Các tham chiếu trên không nói đến lửa, nhưng cũng có thể hiểu như vậy. Trên vùng đất cháy, chúng ta đối diện với tà ác tồn dư trong bản chất mình—quá khứ tích lũy, gây cản trở, mà chúng ta gọi là “Kẻ Chận Ngõ”. Sớm hay muộn, Kẻ Chận Ngõ ấy phải được đối diện, trong một phương diện nào đó của nó, hoặc trong toàn thể nó. Đối diện với Kẻ Chận Ngõ là tạo ra một vùng đất cháy.

42. Through Self-application, let us as individuals be able to say “the burning ground has done its work”.

42. Qua sự tự áp dụng, với tư cách cá nhân, chúng ta hãy có thể nói rằng “vùng đất cháy đã hoàn tất công việc của nó”.

43. And before long (how long will depend upon the union of group will, group love and group intelligence guided by group purpose), let us be able to say, as a group, “the burning ground has done its work”.

43. Và chẳng bao lâu nữa, thời gian bao lâu sẽ tùy thuộc vào sự hợp nhất của ý chí nhóm, tình thương nhóm và trí tuệ nhóm được hướng dẫn bởi mục đích nhóm, chúng ta hãy có thể nói, với tư cách một nhóm, “vùng đất cháy đã hoàn tất công việc của nó”.

The Themes Included Under the Sentence 1Các Chủ Đề Bao Gồm Dưới Câu 1

Các Chủ Đề Bao Gồm Dưới Câu 1Các Chủ Đề Bao Gồm Dưới Câu 1

C. The position of the personality as it stands at the penetrating point of the Antahkarana (cf. RI, p. 27)

C. Vị trí của phàm ngã khi nó đứng tại điểm xuyên nhập của antahkarana (xem RI, tr. 27)

“It will be profitable if we take this Rule I sentence by sentence and try to wrest from each its group significance.

“Sẽ hữu ích nếu chúng ta xét Quy luật I này từng câu một và cố gắng rút ra từ mỗi câu thâm nghĩa nhóm của nó.

1. Within the fire of the mind, focussed within the head’s clear light, let the group stand.

1. Trong lửa của trí tuệ, được tập trung trong ánh sáng trong trẻo của đầu, nhóm hãy đứng vững.

In this sentence, you have the idea of intellectual perception and of focussed unity. Intellectual perception is not mental understanding, but is in reality the clear cold reason, the buddhic principle in action and the focussed attitude of the Spiritual Triad in relation to the personality. I would call your attention to the following analogies:

Trong câu này, các bạn có ý tưởng về nhận thức trí tuệ và sự hợp nhất tập trung. Nhận thức trí tuệ không phải là sự thấu hiểu của thể trí, mà thực ra là lý trí sáng rõ, lạnh lùng, nguyên khí Bồ đề đang hoạt động và thái độ tập trung của Tam Nguyên Tinh Thần trong tương quan với phàm ngã. Tôi muốn các bạn lưu ý đến các tương đồng sau đây:

Head

Monad

Atma

Purpose

Heart

Soul

Buddhi

Pure reason

Base of spine

Personality

Manas

Spiritual activity

[Table 1]

In these words you have, therefore, the position of the personality indicated as it stands at the penetrating point of the antahkarana as it contacts the manas or lower mind and is thus the agent of the purpose of the Monad, working through the Spiritual Triad which is—as you know—related to the personality by the antahkarana.”

Do đó, trong những lời này, các bạn có vị trí của phàm ngã được chỉ ra khi nó đứng tại điểm xuyên nhập của antahkarana, khi nó tiếp xúc với manas hay hạ trí, và như vậy là tác nhân của mục đích của Chân thần, hoạt động qua Tam Nguyên Tinh Thần, vốn—như các bạn biết—liên hệ với phàm ngã bằng antahkarana.”

Points to Consider in Relation to the Above Paragraphs

Những Điểm Cần Xem Xét Liên Quan Đến Các Đoạn Trên

1. The word “intellect” is used variously. As used here, it is something deeper than mind, more penetrative. The first two syllables give the hint— ‘in’ ‘tel’—it is knowledge as if from within.

1. Từ “trí năng” được dùng theo nhiều cách. Như được dùng ở đây, nó là điều gì sâu hơn thể trí, xuyên thấu hơn. Hai âm tiết đầu gợi ý—‘vào trong’ ‘biết’—đó là tri thức như thể từ bên trong.

2. We want to become accustomed to how the Tibetan uses these words. For instance, the “clear cold reason” is not the same as clear, cold reasoning. Reasoning is a relatively slow mental process, even when the reasoner has mastered his art. The “clear cold reason” is something akin to what the Master Morya calls “straight knowledge”. It is immediate and infallible. It is associated with true sight rather than with the attempt to see. Normal reason is only an approximation of sight, and under the best circumstances, may lead to sight, while not being sight itself.

2. Chúng ta muốn quen với cách Chân sư Tây Tạng dùng những từ này. Chẳng hạn, “lý trí sáng rõ, lạnh lùng” không giống với sự suy luận sáng rõ, lạnh lùng. Suy luận là một tiến trình trí tuệ tương đối chậm, ngay cả khi người suy luận đã tinh thông nghệ thuật của mình. “Lý trí sáng rõ, lạnh lùng” là điều gì gần với cái mà Chân sư Morya gọi là “tri thức trực tiếp”. Nó tức thời và không sai lầm. Nó gắn liền với cái thấy chân thực hơn là với nỗ lực để thấy. Lý trí thông thường chỉ là một sự tiệm cận của cái thấy, và trong những hoàn cảnh tốt nhất, có thể dẫn đến cái thấy, nhưng tự nó không phải là cái thấy.

3. How do we think the Spiritual Triad would view the personality? Another way of saying this is “How could our consciousness, when elevated to the Triadal level of vibration, view the personality?” Certainly, it would be an impersonal or supra-personal perspective (“Supra”, in this case, means “above”). The personality would seem the merest instrument of the Planetary Life, and the center of identification (which is the feeling of ‘who we are’) would be invested in something far more embracing, expansive and inclusive. Personal concerns would drop away, appearing quite distant and almost foreign. We would have entered the larger life, and would be seeing from that perspective.

3. Chúng ta nghĩ Tam Nguyên Tinh Thần sẽ nhìn phàm ngã như thế nào? Một cách nói khác là: “Tâm thức của chúng ta, khi được nâng lên cấp độ rung động của Tam nguyên, có thể nhìn phàm ngã như thế nào?” Chắc chắn đó sẽ là một viễn cảnh phi cá nhân hay siêu cá nhân, trong trường hợp này, “siêu” có nghĩa là “ở trên”. Phàm ngã sẽ dường như chỉ là công cụ nhỏ bé nhất của Sự Sống Hành Tinh, và trung tâm đồng hóa, tức cảm thức về ‘chúng ta là ai’, sẽ được đặt vào điều gì bao quát, rộng mở và bao gồm hơn rất nhiều. Những mối bận tâm cá nhân sẽ rơi rụng, hiện ra khá xa xôi và hầu như xa lạ. Chúng ta sẽ bước vào sự sống rộng lớn hơn, và sẽ thấy từ viễn cảnh ấy.

4. In the list of chakras given above, note that the base of the spine is correlated with the personality, and with Manas (Mind). This is a somewhat unusual assignment. Normally, the throat center would be correlated with the personality, for the personality is the representative of the Third Aspect of Divinity and the throat center transmits the third ray.

4. Trong danh sách các luân xa được nêu ở trên, hãy lưu ý rằng đáy cột sống tương ứng với phàm ngã, và với Manas, tức Thể trí. Đây là một sự quy gán khá khác thường. Thông thường, trung tâm cổ họng sẽ tương ứng với phàm ngã, vì phàm ngã là đại diện của Phương diện Thứ Ba của Thiên Tính, và trung tâm cổ họng truyền dẫn cung ba.

5. However, whereas the spirit is the highest, the personality is the lowest. The highest and the lowest divine aspects are therefore analogically reflected in the highest and the lowest chakras—the head center (highest) and the base of the spine (lowest). Further, there is no question but that the base of the spine represents the foundation of the matter aspect.

5. Tuy nhiên, trong khi tinh thần là cao nhất, thì phàm ngã là thấp nhất. Do đó, các phương diện thiêng liêng cao nhất và thấp nhất được phản chiếu một cách tương đồng trong các luân xa cao nhất và thấp nhất—trung tâm đầu, cao nhất, và đáy cột sống, thấp nhất. Hơn nữa, không còn nghi ngờ gì rằng đáy cột sống tượng trưng cho nền tảng của phương diện vật chất.

6. The term “penetrating point of the antahkarana” is interesting. The antahkarana, for those who may be unfamiliar with the term, means “inner organ” and has been called the “Bridge of Light” or the “Rainbow Bridge”; it is built of lighted mental substance and provides a medium of transmission (Mercury-like) for ascending and descending energies.

6. Thuật ngữ “điểm xuyên nhập của antahkarana” rất đáng chú ý. Đối với những ai có thể chưa quen với thuật ngữ này, antahkarana có nghĩa là “cơ quan bên trong” và đã được gọi là “Cầu Ánh Sáng” hay “Cây cầu vồng”; nó được xây bằng chất liệu trí tuệ được soi sáng và cung cấp một phương tiện truyền dẫn, giống Sao Thủy, cho các năng lượng đi lên và đi xuống.

Even though the antahkarana is built, as it were, ‘from below’, it can be used by aspects of the human energy system which lie ‘above’ the personality and even ‘above’ the soul. The term ‘above’ simply means ‘at a higher vibratory frequency’. So the Triadal energy, impulsed by the monadic will, is seeking to penetrate the lower worlds and the personality (the lowest of the three periodical vehicles consisting of Monad, Soul and Personality) is the point which is penetrated. Thus, we carefully build from below, penetrating in our own way, the Spiritual Triad (we do this by using Words of Power), so we can be penetrated from above by Spirit/Triad impulses—i.e., impulses coming from the higher aspects of our energy system.

Dù antahkarana được xây dựng, có thể nói, ‘từ bên dưới’, nó vẫn có thể được sử dụng bởi các phương diện của hệ thống năng lượng con người nằm ‘ở trên’ phàm ngã và thậm chí ‘ở trên’ linh hồn. Thuật ngữ ‘ở trên’ đơn giản có nghĩa là ‘ở một tần số rung động cao hơn’. Vì vậy, năng lượng Tam nguyên, được thúc đẩy bởi ý chí chân thần, đang tìm cách xuyên nhập các cõi thấp và phàm ngã, còn phàm ngã, hiện thể chu kỳ thấp nhất trong ba hiện thể gồm Chân thần, Linh hồn và Phàm ngã, là điểm được xuyên nhập. Như vậy, chúng ta cẩn trọng xây dựng từ bên dưới, theo cách của mình xuyên nhập Tam Nguyên Tinh Thần, chúng ta làm điều này bằng cách dùng Quyền năng từ, để chúng ta có thể được xuyên nhập từ bên trên bởi các xung lực Tinh thần/Tam nguyên—tức là các xung lực đến từ những phương diện cao hơn của hệ thống năng lượng chúng ta.

7. The Monad and the personality are meant to have a direct line of connection. This is reflected in the individual horoscope by the relation between the Sun and the point opposite the Sun—the Sun representing, in this case, the personality, and the point opposite the Sun representing the Monad.

7. Chân thần và phàm ngã được định sẵn để có một đường liên hệ trực tiếp. Điều này được phản chiếu trong lá số chiêm tinh cá nhân qua mối liên hệ giữa Mặt Trời và điểm đối vị với Mặt Trời—trong trường hợp này, Mặt Trời tượng trưng cho phàm ngã, còn điểm đối vị với Mặt Trời tượng trưng cho Chân thần.

8. In any case, the will of the Monad mediated by the Spiritual Triad/Soul is supposed to work out in the personality. “Not my will Father, but Thine be done”

8. Dù thế nào, ý chí của Chân thần, được Tam Nguyên Tinh Thần/Linh hồn làm trung gian, phải được biểu hiện trong phàm ngã. “Không phải ý chí của con, thưa Cha, mà là ý chí của Ngài được thành tựu”

D. Motive (heart and soul) becomes spiritually obsolete because purpose has reached a point of fulfilment and the activity set in motion is such that purpose cannot be arrested or stopped (cf. RI, p. 28)

D. Động cơ, tức tim và linh hồn, trở nên lỗi thời về mặt tinh thần vì mục đích đã đạt đến một điểm hoàn thành và hoạt động được khởi động có tính chất khiến mục đích không thể bị ngăn chặn hay dừng lại (xem RI, tr. 28)

A group of disciples must be distinguished by pure reason, which will steadily supersede motive, merging eventually into the will aspect of the monad (cf. RI, p. 28)

Một nhóm đệ tử phải được phân biệt bởi lý trí thuần túy, điều này sẽ đều đặn thay thế động cơ, cuối cùng hòa nhập vào phương diện ý chí của Chân thần (xem RI, tr. 28)

“The heart as an aspect of pure reason requires careful consideration. It is usually considered the organ of pure love [Page 28] but—from the angle of the esoteric sciences—love and reason are synonymous terms, and I would have you reflect upon why this should be. Love is essentially a word for the underlying motive of creation. Motive, however, presupposes purpose leading to action, and hence in the group-life task of the incarnating Monad there comes a time when motive (heart and soul) becomes spiritually obsolete because purpose has reached a point of fulfilment and the activity set in motion is such that purpose cannot be arrested or stopped. The disciple cannot then be deterred, and no hindrance or difficulty is hard enough to prevent his moving forward. Then we have eventual destruction of what Theosophists call the causal body and the establishing of a direct relation between the Monad and its tangible expression upon the physical plane. The head center and the center at the base of the spine will be in direct unimpeded relation; monadic will and personality will likewise will be in a similar unimpeded relation, via the antahkarana. I would have you remember that the will aspect is the final dominating principle.”

“Tim, với tư cách một phương diện của lý trí thuần túy, đòi hỏi sự xem xét cẩn trọng. Thông thường nó được xem là cơ quan của tình thương thuần khiết [Trang 28] nhưng—từ góc độ của các khoa học nội môn—tình thương và lý trí là những thuật ngữ đồng nghĩa, và Tôi muốn các bạn suy ngẫm vì sao điều này phải như vậy. Về bản chất, tình thương là một từ chỉ động cơ nền tảng của sáng tạo. Tuy nhiên, động cơ giả định mục đích dẫn đến hành động, và vì thế, trong nhiệm vụ đời sống nhóm của Chân thần đang nhập thể, sẽ đến một lúc động cơ, tức tim và linh hồn, trở nên lỗi thời về mặt tinh thần vì mục đích đã đạt đến một điểm hoàn thành và hoạt động được khởi động có tính chất khiến mục đích không thể bị ngăn chặn hay dừng lại. Khi ấy đệ tử không thể bị làm nản lòng, và không trở ngại hay khó khăn nào đủ mạnh để ngăn y tiến tới. Khi ấy, rốt cuộc, có sự hủy diệt điều mà các nhà Thông Thiên Học gọi là thể nguyên nhân, và sự thiết lập một quan hệ trực tiếp giữa Chân thần và biểu hiện hữu hình của nó trên cõi hồng trần. Trung tâm đầu và trung tâm ở đáy cột sống sẽ ở trong quan hệ trực tiếp, không bị cản trở; ý chí chân thần và phàm ngã cũng sẽ ở trong một quan hệ không bị cản trở tương tự, qua antahkarana. Tôi muốn các bạn nhớ rằng phương diện ý chí là nguyên khí chi phối sau cùng.”

“In the group application of these ideas the same basic and profound development must take place, and a group of disciples must be distinguished by pure reason, which will steadily supersede motive, merging eventually into the will aspect of the Monad—its major aspect. It is, technically speaking, Shamballa in direct relation with humanity.”

“Trong sự áp dụng các ý tưởng này cho nhóm, cùng một sự phát triển căn bản và sâu xa phải diễn ra, và một nhóm đệ tử phải được phân biệt bởi lý trí thuần túy, điều này sẽ đều đặn thay thế động cơ, cuối cùng hòa nhập vào phương diện ý chí của Chân thần—phương diện chính yếu của nó. Nói một cách kỹ thuật, đó là Shamballa trong quan hệ trực tiếp với nhân loại.”

Points to Consider in Relation to the Above Paragraphs

Những Điểm Cần Xem Xét Liên Quan Đến Các Đoạn Trên

1. The heart still remains the organ of pure love but there are other qualities which must be included.

1. Tim vẫn là cơ quan của tình thương thuần khiết, nhưng còn có những phẩm tính khác cần được bao gồm.

2. This is so because we live in a dualistic solar system, and the quality of our Solar Logos is Love-Wisdom.

2. Điều này đúng bởi vì chúng ta sống trong một hệ mặt trời nhị nguyên, và phẩm tính của Thái dương Thượng đế chúng ta là Bác Ái – Minh Triết.

3. The twelve (or eleven) qualities related to the heart center are as follows:

3. Mười hai, hoặc mười một, phẩm tính liên hệ với trung tâm tim như sau:

a. Group love, embracing individuals.

a. Tình thương nhóm, bao gồm các cá nhân.

b. Humility, signifying your personality attitude.

b. Khiêm nhường, biểu thị thái độ phàm ngã của các bạn.

c. Service, indicating your soul’s preoccupation.

c. Phụng sự, chỉ sự chuyên chú của linh hồn các bạn.

d. Patience, signifying the embryonic immortality and persistence which is a soul characteristic.

d. Kiên nhẫn, biểu thị tính bất tử phôi thai và sự bền bỉ vốn là một đặc tính của linh hồn.

e. Life, or expressed activity which is the manifestation of love because it is essential dualism.

e. Sự sống, hay hoạt động được biểu lộ, vốn là sự biểu hiện của tình thương vì đó là nhị nguyên tính thiết yếu.

f. Tolerance, which is the first expression of buddhic understanding.

f. Khoan dung, vốn là biểu hiện đầu tiên của sự thấu hiểu Bồ đề.

g. Identification with others, which is embryonic [Page 661] fusion, carried eventually to synthesis when the head centre is developed.

g. Đồng hóa với người khác, vốn là [Trang 661] sự dung hợp ở trạng thái phôi thai, cuối cùng được đưa đến tổng hợp khi trung tâm đầu phát triển.

h. Compassion, which is essentially the right use of the pairs of opposites.

h. Lòng bi mẫn, về bản chất là việc sử dụng đúng các cặp đối lập.

i. Sympathy, which is the consequence of knowledge and of the unfoldment of the knowledge petals. Such energy then is in touch with the heart centre.

i. Sự cảm thông, vốn là hệ quả của tri thức và của sự khai mở các cánh hoa tri thức. Khi ấy, năng lượng như vậy tiếp xúc với trung tâm tim.

j. Wisdom, which is the fruit of love and indicates the awakening of the love petals of the egoic lotus.

j. Minh triết, vốn là quả của tình thương và chỉ sự thức tỉnh của các cánh hoa bác ái trong Hoa Sen Chân Ngã.

k. Sacrifice, which is the giving of the heart’s blood or life for others.” (DINA II 660)

k. Hy sinh, vốn là sự hiến dâng máu của tim hay sự sống cho người khác.” (DINA II 660)

Using the usual methods of counting, the Tibetan lists only eleven qualities of the heart. Perhaps He is hinting that the twelfth quality is synthesis—the eleven qualities considered as a unit.

Theo các phương pháp đếm thông thường, Chân sư Tây Tạng chỉ liệt kê mười một phẩm tính của tim. Có lẽ Ngài đang gợi ý rằng phẩm tính thứ mười hai là tổng hợp—mười một phẩm tính được xem như một đơn vị.

4. When we think of the heart center as the organ of “pure reason”, we should include in our consideration the “heart within the head” center. This is a major twelve petalled lotus (with white and gold petals) found in the central position of the “thousand-petalled lotus”—the crown chakra.

4. Khi nghĩ về trung tâm tim như cơ quan của “lý trí thuần túy”, chúng ta nên bao gồm trong sự xem xét của mình trung tâm “tim trong đầu”. Đây là một hoa sen chính yếu mười hai cánh, với các cánh màu trắng và vàng, nằm ở vị trí trung tâm của “hoa sen ngàn cánh”—luân xa đỉnh đầu.

“The very top of the head. A centre consisting of twelve major petals of white and gold, and nine hundred and sixty secondary petals arranged around the central twelve. This makes a total of ten hundred and sixty-eight petals in the two head centres (making the one centre) or three hundred and fifty-six triplicities. All these figures have an occult significance.” (TCF 168)

“Đỉnh cao nhất của đầu. Một trung tâm gồm mười hai cánh chính màu trắng và vàng, cùng chín trăm sáu mươi cánh phụ được sắp xếp quanh mười hai cánh trung tâm. Điều này tạo thành tổng cộng một nghìn sáu mươi tám cánh trong hai trung tâm đầu, tạo thành một trung tâm duy nhất, hay ba trăm năm mươi sáu bộ ba. Tất cả các con số này đều có ý nghĩa huyền bí.” (TCF 168)

5. Pure reason and “inclusive reason” can, for practical purposes, be considered synonymous terms.

5. Lý trí thuần túy và “lý trí bao gồm”, vì các mục đích thực tiễn, có thể được xem là những thuật ngữ đồng nghĩa.

6. An important definition of pure reason is as follows:

6. Một định nghĩa quan trọng về lý trí thuần túy như sau:

“The “clear cold light” is the light of pure reason, of infallible intuitive perception and its unremitting[2], intensive and revealing light constitutes a major test in its effects.” (R&I, 39)

“‘Ánh sáng sáng rõ, lạnh lùng’ là ánh sáng của lý trí thuần túy, của nhận thức trực giác không sai lầm, và ánh sáng không ngừng, mãnh liệt và khai thị của nó tạo thành một thử thách lớn trong các hiệu quả của nó.” (R&I, 39)

7. The infallibility of pure reason is emphasized in the following:

7. Tính không sai lầm của lý trí thuần túy được nhấn mạnh trong đoạn sau:

“When the initiate has passed through the three doors, symbolically speaking, he then faces all life, all events, all pre-determinations, all wisdom, all activity and all that the future may hold of service and progress from the angle of the pure reason (infallible and immutable),…(R&I., 143)

“Khi điểm đạo đồ đã đi qua ba cánh cửa, nói theo biểu tượng, y đối diện với toàn bộ sự sống, mọi biến cố, mọi định định trước, toàn bộ minh triết, mọi hoạt động và tất cả những gì tương lai có thể chứa đựng về phụng sự và tiến bộ, từ góc độ của lý trí thuần túy, không sai lầm và bất biến,…(R&I., 143)

8. An important definition of “inclusive reason” is as follows:

8. Một định nghĩa quan trọng về “lý trí bao gồm” như sau:

“Inclusive Reason, which is the theme for the initiatory meditation of the second ray disciple, produces that inherent divine capacity which enables the detail of the sensed Whole to be grasped in meticulous entirety. This wide, yet detailed, scope or universal recognition is extremely difficult for me to explain or for you to understand. The second ray has been [Page 394] called the Ray of Detailed Knowledge and where this term has been employed, the beginner has necessarily laid the emphasis upon the word “detail”. It might rather be called the Ray of Detailed Unity or the Ray of the Divine Pattern, or of beauty in relationship. It involves on the part of the disciple a very high point of synthetic comprehension.” (EP II, 393-394)

“Lý trí Bao gồm, vốn là chủ đề cho bài tham thiền điểm đạo của đệ tử cung hai, tạo ra năng lực thiêng liêng nội tại khiến chi tiết của Toàn Thể được cảm nhận có thể được nắm bắt trong toàn bộ sự tỉ mỉ của nó. Tầm bao quát rộng lớn nhưng vẫn chi tiết này, hay sự nhận biết vũ trụ này, cực kỳ khó để Tôi giải thích hoặc để các bạn thấu hiểu. Cung hai đã được [Trang 394] gọi là Cung của Tri Thức Chi Tiết, và nơi thuật ngữ này được sử dụng, người sơ cơ tất yếu đặt trọng tâm vào từ “chi tiết”. Đúng hơn, nó có thể được gọi là Cung của Sự Hợp Nhất Chi Tiết, hay Cung của Mô Hình Thiêng Liêng, hoặc của vẻ đẹp trong quan hệ. Về phía đệ tử, nó bao hàm một điểm rất cao của sự lĩnh hội tổng hợp.” (EP II, 393-394)

“The reason here referred to is that pure intuitional infallible comprehension which grasps cause and effect simultaneously, and sees why and whence and to what end all things are moving.” (EP II, 395)

“Lý trí được nói đến ở đây là sự lĩnh hội trực giác thuần túy, không sai lầm, nắm bắt nguyên nhân và kết quả đồng thời, và thấy vì sao, từ đâu và nhằm mục đích gì mà mọi sự đang chuyển động.” (EP II, 395)

9. Pure reason or inclusive reason, is clearly a faculty which lies beyond the faculty of mind (as usually considered). Mind is still “putting things together” and is, through the reasoning process seeking the light which the faculty of pure/inclusive reason already sees, with infallible correctness.

9. Lý trí thuần túy hay lý trí bao gồm rõ ràng là một quan năng nằm vượt ngoài quan năng của thể trí, như thường được hiểu. Thể trí vẫn đang “ghép các sự vật lại với nhau” và, qua tiến trình suy luận, đang tìm kiếm ánh sáng mà quan năng lý trí thuần túy/bao gồm đã thấy, với sự chính xác không sai lầm.

10. Reasoning is slow and subject to error. It lacks ‘sight’ and is proceeding somewhat blindly, groping its way through the labyrinths of the mind—and even the abstract mind has labyrinths. Pure/inclusive reason is liberated from linearity, whereas reasoning is necessarily subject to linearity.

10. Suy luận chậm và dễ sai lầm. Nó thiếu ‘cái thấy’ và tiến bước hơi mù quáng, dò dẫm qua các mê cung của thể trí—và ngay cả trí trừu tượng cũng có những mê cung. Lý trí thuần túy/bao gồm được giải phóng khỏi tính tuyến tính, trong khi suy luận tất yếu chịu sự chi phối của tính tuyến tính.

11. Saturn in relation to Mercury are the gods of reasoning. Uranus, Neptune and the higher functions of Mercury are associated with pure/inclusive reason and with simultaneity.

11. Thổ Tinh trong quan hệ với Sao Thủy là các vị thần của sự suy luận. Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương và các chức năng cao hơn của Sao Thủy liên hệ với lý trí thuần túy/bao gồm và với tính đồng thời.

12. We all know, perhaps, what it is like to grasp an idea “all at once”—at least we have had hints of the process of being impressed simultaneously with a coherent pattern of relationships which then has to be deciphered, decoded and translated by the linear mind—laid out line by line.

12. Có lẽ tất cả chúng ta đều biết cảm giác nắm bắt một ý tưởng “ngay trong một lần”—ít nhất chúng ta đã có những gợi ý về tiến trình được ấn tượng đồng thời bởi một mô hình quan hệ mạch lạc, rồi sau đó nó phải được giải mã, tháo mã và chuyển dịch bởi thể trí tuyến tính—được trải ra từng dòng một.

13. If pure/inclusive reason is reached before the mind has been trained to think reasonable and linearly, there will be no convincing way to translate that which pure/inclusive reason has apprehended. So the training of the mind is a necessary precursor to the utilization of pure/inclusive reason.

13. Nếu đạt đến lý trí thuần túy/bao gồm trước khi thể trí được rèn luyện để suy nghĩ hợp lý và tuyến tính, sẽ không có cách thuyết phục nào để chuyển dịch điều mà lý trí thuần túy/bao gồm đã lĩnh hội. Vì vậy, việc rèn luyện thể trí là điều kiện tiên quyết cần thiết cho việc sử dụng lý trí thuần túy/bao gồm.

14. Pure/inclusive reason is related to the factor of synthesis, and is the reward of much reasonable thinking well done.

14. Lý trí thuần túy/bao gồm liên hệ với yếu tố tổng hợp, và là phần thưởng của nhiều suy nghĩ hợp lý được thực hiện tốt đẹp.

15. Another more familiar term for pure/inclusive reason is the intuition.

15. Một thuật ngữ quen thuộc hơn khác cho lý trí thuần túy/bao gồm là trực giác.

16. The Tibetan says that “love and reason are synonymous terms” and asks us to reflect upon why this should be.

16. Chân sư Tây Tạng nói rằng “tình thương và lý trí là những thuật ngữ đồng nghĩa” và yêu cầu chúng ta suy ngẫm vì sao điều này phải như vậy.

17. From one perspective, love is the principle of right relationship—the relationship intended by the “Fixed Design”.

17. Từ một viễn cảnh, tình thương là nguyên khí của quan hệ đúng—mối quan hệ được “Thiết Kế Cố Định” dự định.

18. It is as if it is impossible to see things as they really are, i.e., in right relationship, unless consciousness is pervaded by that magnetic, attractive principle of coherency we call love (which is not sentiment based upon “liking”).

18. Dường như không thể thấy các sự vật đúng như chúng thực sự là, tức trong quan hệ đúng, trừ phi tâm thức được thấm nhuần bởi nguyên khí từ tính, hấp dẫn của sự cố kết mà chúng ta gọi là tình thương, vốn không phải là cảm tính dựa trên “ưa thích”.

19. “Love has eyes” we are told—which means many things (from personal to impersonal), but occultly, the “eyes of love” reveal archetypal patterns. These archetypal patterns are the very reason behind things.

19. Chúng ta được bảo rằng “tình thương có mắt”—điều này có nhiều ý nghĩa, từ cá nhân đến phi cá nhân, nhưng về mặt huyền bí, “đôi mắt của tình thương” mặc khải các mô hình nguyên mẫu. Những mô hình nguyên mẫu này chính là lý do đằng sau các sự vật.

20. The word reason is related to “rea” (thing), and suggests the “thing-in-itself”. Not an interpretation of the ‘rea-l thing’, but “straight knowledge” of the real thing, infallible intuitive perception.

20. Từ lý trí có liên hệ với “vật”, và gợi đến “vật-tự-nó”. Không phải là một sự diễn giải về ‘sự vật thực’, mà là “tri thức trực tiếp” về sự vật thực, nhận thức trực giác không sai lầm.

21. The World of Archetypes, according to Plato, was the “World of Forms”. These “Forms” were not what we call forms in the lower worlds. The forms of the lower worlds are but imperfect reflections of Platonic Forms—the true archetypes—each archetype being a “thing-in-itself”—a Reality in the Mind of God.

21. Theo Plato, Thế Giới Nguyên Mẫu là “Thế Giới của các Hình Tướng”. Những “Hình Tướng” này không phải là những gì chúng ta gọi là hình tướng trong các cõi thấp. Các hình tướng của các cõi thấp chỉ là những phản chiếu bất toàn của các Hình Tướng theo Plato—những nguyên mẫu chân thực—mỗi nguyên mẫu là một “vật-tự-nó”—một Thực Tại trong Trí của Thượng đế.

22. The point is that true love (first spiritual love and then divine love) opens the perception of consciousness to this archetypal World of Forms. Another way of saying this is that true love evokes pure/inclusive reason-intuition. It is probably true that pure/inclusive reason-intuition evokes true love. Some qualities or capacities are related to each other in a process of mutual evocation. Love and Wisdom are two other mutually evocative qualities.

22. Điểm chính là tình thương chân thực, trước hết là tình thương tinh thần rồi sau đó là tình thương thiêng liêng, mở nhận thức của tâm thức đến Thế Giới Hình Tướng nguyên mẫu này. Một cách nói khác là tình thương chân thực gợi lên lý trí-trực giác thuần túy/bao gồm. Có lẽ đúng rằng lý trí-trực giác thuần túy/bao gồm gợi lên tình thương chân thực. Một số phẩm tính hay năng lực liên hệ với nhau trong một tiến trình gợi lên lẫn nhau. Tình Thương và Minh Triết là hai phẩm tính khác cũng gợi lên lẫn nhau.

23. We are told by the Tibetan that “love reveals”. Certainly love reveals the psyches of our brothers and sisters, but love also reveals the truth of things, and enable us so see with reason pure and inclusive.

23. Chân sư Tây Tạng nói với chúng ta rằng “tình thương mặc khải”. Chắc chắn tình thương mặc khải tâm lý của các huynh đệ và tỉ muội chúng ta, nhưng tình thương cũng mặc khải chân lý của các sự vật, và khiến chúng ta có thể thấy bằng lý trí thuần túy và bao gồm.

24. Love reveals the why and wherefore of all things—their real reason for being (raison d’être).

24. Tình thương mặc khải lý do và căn nguyên của mọi sự—lý do hiện hữu thực sự của chúng.

25. If we do not have love, we are seeing from the ‘outside’ only. When we have love, we see with pure/inclusive reason and as from ‘within’. This may begin with the ability to understand our brother’s heart (the microcosm) but it leads before long to macrocosmic perceptions.

25. Nếu không có tình thương, chúng ta chỉ thấy từ ‘bên ngoài’. Khi có tình thương, chúng ta thấy bằng lý trí thuần túy/bao gồm và như thể từ ‘bên trong’. Điều này có thể bắt đầu bằng khả năng thấu hiểu trái tim của huynh đệ mình, tức tiểu thiên địa, nhưng chẳng bao lâu sẽ dẫn đến các nhận thức đại thiên địa.

26. Thus it is that the human being who is “in love with the world” really sees the world—as it is. Such a perceiver sees the world’s reality and not only its actuality.

26. Vì thế, con người “yêu thế giới” thực sự thấy thế giới—như nó là. Một người nhận thức như vậy thấy thực tại của thế giới, chứ không chỉ hiện trạng của nó.

27. Reflexively, it is impossible to see things are they really are without falling (rising) in love with what one sees; conversely, it is impossible to truly love, without seeing things as they really are.

27. Ngược lại, không thể thấy các sự vật như chúng thực sự là mà không rơi vào, hay vươn lên trong, tình thương đối với điều mình thấy; trái lại, không thể yêu thương thực sự mà không thấy các sự vật như chúng thực sự là.

28. We can see that, following this line of thought, how the “Doctrine of the Eye” and the “Doctrine of the Heart” can be united.

28. Chúng ta có thể thấy rằng, theo dòng tư tưởng này, nhãn pháp và tâm pháp có thể được hợp nhất như thế nào.

29. We are told that “love is essentially a word for the underlying motive of creation”. From this perspective, for all things in cosmos, Love is the “Prime Mover”.

29. Chúng ta được bảo rằng “tình thương về bản chất là một từ chỉ động cơ nền tảng của sáng tạo”. Từ viễn cảnh này, đối với mọi sự trong vũ trụ, Tình Thương là “Động Lực Đầu Tiên”.

30. From the first differentiation of Father-Mother (at the initial stages of the Universal Creative Process), Father and Mother seek to interact, first to create (out of themselves) multiplicity, and later, on the Universal Path of Return, to re-create progressive Unity. The magnetic engagement of Father and Mother throughout the Cosmic Process is Love.

30. Từ sự biến phân đầu tiên của Cha-Mẹ, ở các giai đoạn khởi đầu của Tiến Trình Sáng Tạo Vũ Trụ, Cha và Mẹ tìm cách tương tác, trước hết để tạo ra, từ chính Các Ngài, tính đa dạng, và về sau, trên Con Đường Trở Về Vũ Trụ, để tái tạo Sự Hợp Nhất tiến triển. Sự tương giao từ tính của Cha và Mẹ xuyên suốt Tiến Trình Vũ Trụ chính là Tình Thương.

31. Nothing would ever ‘happen’ without this Love—this ceaseless magnetic interplay between the Two Great Poles.

31. Không điều gì từng ‘xảy ra’ nếu không có Tình Thương này—sự tương tác từ tính không ngừng giữa Hai Cực Lớn.

32. All lesser motives are part of one or other of the Two Great Streams—the involutionary stream leading to diversification, or the evolutionary stream leading to re-unification.

32. Mọi động cơ thấp hơn đều thuộc về một trong hai Dòng Lớn—dòng giáng hạ tiến hoá dẫn đến sự đa dạng hóa, hoặc dòng thăng thượng tiến hoá dẫn đến sự tái hợp nhất.

33. The First Love demonstrates inherent fecundity; the Second (and returning) Love, demonstrates the essential identity of all that has been created through fecundity.

33. Tình Thương Thứ Nhất biểu lộ năng lực sinh sản nội tại; Tình Thương Thứ Hai, tức tình thương đang trở về, biểu lộ bản sắc thiết yếu của tất cả những gì đã được tạo ra qua năng lực sinh sản.

34. Thus two great Purposes guide the Universal Process: the first is involutionary and based upon separation; the second Purpose is evolutionary and based upon unification.

34. Như vậy, hai Mục Đích lớn hướng dẫn Tiến Trình Vũ Trụ: Mục Đích thứ nhất là giáng hạ tiến hoá và dựa trên sự phân ly; Mục Đích thứ hai là thăng thượng tiến hoá và dựa trên sự hợp nhất.

35. From a pragmatic and individual perspective, we can judge all our motives according to these two Streams or two Purposes.

35. Từ một viễn cảnh thực tiễn và cá nhân, chúng ta có thể xét đoán mọi động cơ của mình theo hai Dòng này hay hai Mục Đích này.

36. We are told that “motive (heart and soul) becomes spiritually obsolete because purpose has reached a point of fulfilment and the activity set in motion is such that purpose cannot be arrested or stopped”.

36. Chúng ta được bảo rằng “động cơ, tức tim và linh hồn, trở nên lỗi thời về mặt tinh thần vì mục đích đã đạt đến một điểm hoàn thành và hoạt động được khởi động có tính chất khiến mục đích không thể bị ngăn chặn hay dừng lại”.

37. Divine Purpose ever seeks the fulfilment of the Fixed Design (the “Design at the Beginning”, the Plan of Universal Ideation). The fulfilment of this Purpose brings about the Good for and within all entities in cosmos. Heart and soul feel/see the way to harmony and the well-being for each entity within the whole, but heart and soul are one step short of the perfection of the Fixed Design. Heart and soul can still make mistakes based upon incomplete vision; Purpose bestows Ultimate Vision and moves directly towards the fulfilment of that Vision regardless of the temporary sensitivities of heart and soul.

37. Thiên Ý luôn tìm cách hoàn thành Thiết Kế Cố Định (“Thiết Kế từ Khởi Nguyên”, Thiên Cơ của Ý Niệm Vũ Trụ). Sự hoàn thành Thiên Ý này đem lại Điều Thiện cho và trong mọi thực thể trong vũ trụ. Tâm và linh hồn cảm nhận/thấy con đường đi đến hài hòa và phúc lợi cho mỗi thực thể trong toàn thể, nhưng tâm và linh hồn vẫn còn thiếu một bước so với sự hoàn hảo của Thiết Kế Cố Định. Tâm và linh hồn vẫn có thể phạm sai lầm do tầm nhìn chưa trọn vẹn; Thiên Ý ban cho Tầm Nhìn Tối Hậu và tiến trực tiếp đến sự hoàn thành Tầm Nhìn ấy, bất kể những nhạy cảm tạm thời của tâm và linh hồn.

38. The term “motive” as here used, is ever based upon “partial vision”. It is a movement first towards harmony, and then unification, based upon the love of the heart. (Remembering that, in occultism, “heart” and “soul” are often synonymous terms)—but final sight in the blinding light is still missing.

38. Thuật ngữ “động cơ” như được dùng ở đây luôn dựa trên “tầm nhìn từng phần”. Đó là một chuyển động trước hết hướng đến hài hòa, rồi đến hợp nhất, dựa trên tình thương của tâm. Cần nhớ rằng, trong huyền bí học, “tâm” và “linh hồn” thường là những thuật ngữ đồng nghĩa—nhưng cái thấy sau cùng trong ánh sáng chói lòa vẫn còn thiếu.

39. Unless there is completed realization, even so beautiful a quality as love will over-value the part. When completed realization is achieved, the highest quality of impersonal love will be expressed and no part will be loved in such as way as to compromise the Purpose of the Whole.

39. Nếu không có sự chứng ngộ trọn vẹn, thì ngay cả một phẩm tính đẹp đẽ như tình thương cũng sẽ đánh giá phần riêng quá cao. Khi đạt được sự chứng ngộ trọn vẹn, phẩm tính cao nhất của tình thương vô ngã sẽ được biểu lộ và không phần nào sẽ được yêu thương theo cách làm tổn hại đến Thiên Ý của Toàn Thể.

40. For practical purposes, Love will often stop short of realizing Purpose, due to an attachment to (what we might call) some ‘condition-in-process’. Purpose, however, drives through, and will not value any ‘condition-in-process’ over the final Fixed Design which must be achieved “at the End-Time”.

40. Xét theo mục đích thực tiễn, Tình thương thường sẽ dừng lại trước khi chứng ngộ Thiên Ý, do còn gắn bó với điều mà chúng ta có thể gọi là một “tình trạng đang diễn tiến”. Tuy nhiên, Thiên Ý xuyên thẳng qua, và sẽ không coi trọng bất kỳ “tình trạng đang diễn tiến” nào hơn Thiết Kế Cố Định sau cùng vốn phải được thành tựu “vào Thời Điểm Cuối Cùng”.

41. Purpose (and especially the will that carries it out), is, therefore, ruthless when compared to Love.

41. Vì vậy, Thiên Ý, và đặc biệt là ý chí thực thi nó, là không khoan nhượng khi so với Tình thương.

42. For those at our stage of evolution, however, Love has much to reveal. Even though Love (compared to Purpose) has incomplete vision or incomplete realization, Love reveals far more than we presently see—and this Love we must cultivate. If prematurely, we aim for Purpose, without having assimilated (to a considerable extent) Love, then Purpose will produce in us egoistic distortions which will lead to further fragmentation and isolation. The one who leaps prematurely (and unlovingly) towards Purpose, fails to accomplish as much as the one dedicated to Love (even though he never thought of ultimate Purpose)

42. Tuy nhiên, đối với những ai ở giai đoạn tiến hóa của chúng ta, Tình thương còn nhiều điều để mặc khải. Dù Tình thương, so với Thiên Ý, có tầm nhìn chưa trọn vẹn hoặc sự chứng ngộ chưa trọn vẹn, Tình thương mặc khải nhiều hơn rất nhiều so với những gì hiện nay chúng ta thấy—và Tình thương này chúng ta phải vun bồi. Nếu quá sớm, chúng ta hướng đến Thiên Ý mà chưa đồng hóa, ở một mức đáng kể, Tình thương, thì Thiên Ý sẽ tạo ra trong chúng ta những biến dạng vị ngã, dẫn đến sự phân mảnh và cô lập thêm nữa. Người vội vã nhảy về phía Thiên Ý quá sớm, và thiếu tình thương, không thành tựu được nhiều như người tận hiến cho Tình thương, dù y chưa từng nghĩ đến Thiên Ý tối hậu.

43. It is clear from the paragraphs under discussion, that Purpose is required for the liberation which the destruction of the causal body represents. Looking at all this from the microcosmic perspective, “all that we love” is found within the causal body—all our hard-won qualities and abilities, all the beauty we have been able to harvest through millions of years of struggle.

43. Rõ ràng từ các đoạn đang được bàn đến, Thiên Ý là điều cần thiết cho sự giải thoát mà việc phá hủy thể nguyên nhân biểu trưng. Nhìn tất cả điều này từ viễn cảnh tiểu thiên địa, “tất cả những gì chúng ta yêu thương” đều được tìm thấy trong thể nguyên nhân—mọi phẩm tính và khả năng mà chúng ta đã khó nhọc giành được, mọi vẻ đẹp mà chúng ta đã có thể thu hoạch qua hàng triệu năm đấu tranh.

44. Will the love of all that is loveable within the causal body deter us from its relinquishment when the hour of liberation strikes—or should strike? Will we love that which is before our eyes more than the distant and far greater possibilities?

44. Liệu tình thương đối với tất cả những gì đáng yêu trong thể nguyên nhân có ngăn cản chúng ta từ bỏ nó khi giờ giải thoát điểm—hoặc đáng lẽ phải điểm? Liệu chúng ta có yêu điều đang ở trước mắt mình hơn những khả thể xa xôi và vĩ đại hơn nhiều không?

45. If Purpose is strong enough, the Fixed Design (the Good beyond the present good) will impress our consciousness, and we will be willing to sacrifice this for That

45. Nếu Thiên Ý đủ mạnh, Thiết Kế Cố Định (Điều Thiện vượt lên trên điều thiện hiện tại) sẽ ghi ấn lên tâm thức chúng ta, và chúng ta sẽ sẵn lòng hi sinh điều này cho Điều Kia

46. One principle worth extracting is that while “love reveals” (the ‘within-ness’ of things), “love blinds” as well—so valuing the beauty of what is presently, magnetically ‘held’, that the disciples fails in the relinquishment of the ‘present good’, for the “imminent better’. (The Best is yet to be—at the conclusion of the Cosmic Process).

46. Một nguyên lý đáng rút ra là trong khi “tình thương mặc khải” tính “bên trong” của sự vật, thì “tình thương cũng làm mù”—nó đánh giá cao vẻ đẹp của điều hiện đang được “nắm giữ” bằng từ tính đến nỗi đệ tử thất bại trong việc từ bỏ “điều thiện hiện tại” để hướng đến “điều tốt đẹp hơn đang đến gần”. Điều Tốt Nhất vẫn còn ở phía trước—vào lúc kết thúc Tiến Trình Vũ Trụ.

47. In the paragraph above, there are both microcosmic and macrocosmic considerations to ponder. It is good for the student of occultism to develop flexibility of mind when considering the two. It is a truism, but “As Above, So Below”. The microcosm, properly considered, will reveal the macrocosm, and the macrocosm, somewhat fathomed, will offer very concrete revelations concerning the microcosm.

47. Trong đoạn trên, có cả những suy xét thuộc tiểu thiên địa và đại thiên địa để chiêm nghiệm. Đối với đạo sinh huyền bí học, phát triển sự linh hoạt của thể trí khi xem xét hai điều này là điều tốt. Đó là một chân lý hiển nhiên, nhưng “trên sao, dưới vậy”. Tiểu thiên địa, khi được xem xét đúng đắn, sẽ mặc khải đại thiên địa, và đại thiên địa, khi được phần nào thấu hiểu, sẽ đem lại những mặc khải rất cụ thể liên quan đến tiểu thiên địa.

48. In the consummation discussed by the Tibetan, “the head centre and the centre at the base of the spine will be in direct unimpeded relation; monadic will and personality will likewise will be in a similar unimpeded relation, via the antahkarana.”

48. Trong sự viên thành mà Chân sư Tây Tạng bàn đến, “trung tâm đầu và trung tâm ở đáy cột sống sẽ ở trong tương quan trực tiếp không bị cản trở; ý chí chân thần và phàm ngã cũng sẽ ở trong một tương quan không bị cản trở tương tự, qua antahkarana.”

49. Have we speculated upon the condition which would result when these “unimpeded relation(s)” are completed? A few thoughts may be in place.

49. Chúng ta đã từng suy tưởng về tình trạng sẽ phát sinh khi những “tương quan không bị cản trở” này được hoàn tất chưa? Có thể nêu ra vài tư tưởng thích hợp.

a. Shamballa is consummated in the man.

a. Shamballa được viên thành trong con người.

b. The personality retains individual skill (lovingly motivated), but has planetary consciousness. The personality becomes, not the isolated individual, but the ‘indivisible in-divid-ual’—one incapable of being divided from identity with the One Self (planetarily considered).

b. Phàm ngã giữ lại kỹ năng cá nhân, được thúc đẩy bởi tình thương, nhưng có tâm thức hành tinh. Phàm ngã không trở thành cá nhân cô lập, mà là “cá-thể-bất-phân”—một thực thể không thể bị chia tách khỏi sự đồng nhất với Bản Ngã Duy Nhất, xét theo phương diện hành tinh.

c. Heaven has come to Earth.

c. Thiên đường đã đến với Trái Đất.

d. The “Highest and the Lowest” have met.

d. “Cao Nhất và Thấp Nhất” đã gặp nhau.

e. The human being intelligently “walks the Earth” as a unit of loving-will.

e. Con người một cách thông tuệ “bước đi trên Trái Đất” như một đơn vị của ý-chí-thương-yêu.

f. The initiate becomes what might be called ‘the unmediated man’—he needs no mediator between himself and Spirit. The middle principle ceases to exist, in its own right, and is absorbed by the spiritualized personality.

f. Điểm đạo đồ trở thành điều có thể gọi là “con người không qua trung gian”—y không cần một trung gian nào giữa chính mình và Tinh thần. Nguyên khí trung gian chấm dứt tồn tại theo quyền riêng của nó và được phàm ngã đã tinh thần hóa hấp thu.

g. The personality is now a per-sona, no longer for the soul (which, in effect it has absorbed because it loves) but for the Spirit,

g. Phàm ngã giờ đây là một mặt-nạ, không còn cho linh hồn nữa, mà trong thực tế nó đã hấp thu vì nó yêu thương, mà cho Tinh thần,

h. Man is manifested Spirit.

h. Con người là Tinh thần biểu hiện.

i. In a planetary sense he is omnipresent and omniscient, and is making application for omnipotence

i. Theo nghĩa hành tinh, y hiện diện khắp nơi và toàn tri, và đang nộp đơn xin toàn năng

50. The second paragraph above tells us that

50. Đoạn thứ hai ở trên cho chúng ta biết rằng

“In the group application of these ideas the same basic and profound development must take place, and a group of disciples must be distinguished by pure reason, which will steadily supersede motive, merging eventually into the will aspect of the Monad—its major aspect.”

“Trong sự áp dụng theo nhóm các ý tưởng này, cùng một sự phát triển căn bản và sâu xa phải diễn ra, và một nhóm đệ tử phải được phân biệt bởi lý trí thuần khiết, vốn sẽ đều đặn thay thế động cơ, cuối cùng hòa nhập vào phương diện ý chí của chân thần—phương diện chủ yếu của nó.”

We are now invited to consider the group application of the direct alignment between Monad and Personality, between crown and base.

Giờ đây chúng ta được mời gọi xem xét sự áp dụng theo nhóm của sự chỉnh hợp trực tiếp giữa Chân thần và Phàm ngã, giữa đỉnh đầu và đáy cột sống.

51. It is important to realize that if these consummations have occurred, the group in which they have occurred is necessarily within the Ashram, or is an Ashram itself.

51. Điều quan trọng là nhận ra rằng nếu những sự viên thành này đã xảy ra, thì nhóm trong đó chúng xảy ra tất yếu ở trong Ashram, hoặc chính là một Ashram.

52. These more advanced Rules can be studied by members of the Hierarchy, just as They study the last two books of the Yoga Sutras of Patanjali.

52. Các Quy luật cao cấp hơn này có thể được các thành viên của Thánh Đoàn nghiên cứu, cũng như Các Ngài nghiên cứu hai quyển cuối của Yoga Sutras của Patanjali.

53. I do believe that the particular mode of internet study and exchange which we have arranged for ourselves, will tend to promote Triadal realizations—if all is successful. Our communication is somewhat disembodied. We are communicating as psyches, as minds, as souls, and if the process continues to develop, our communications will become more synthetic and will carry the Triadal note. The very conditions under which we labor induce impersonality. We must, however, find a way to intuit the quality of energy behind the many words, otherwise we will simply be trapped on the plane of mind.

53. Tôi thật sự tin rằng phương thức học hỏi và trao đổi qua internet mà chúng ta đã sắp xếp cho mình sẽ có khuynh hướng thúc đẩy những chứng ngộ thuộc Tam nguyên—nếu mọi sự thành công. Sự giao tiếp của chúng ta phần nào không còn gắn với thân xác. Chúng ta đang giao tiếp như các psyche, như những thể trí, như những linh hồn, và nếu tiến trình tiếp tục phát triển, sự giao tiếp của chúng ta sẽ trở nên tổng hợp hơn và sẽ mang âm điệu Tam nguyên. Chính những điều kiện trong đó chúng ta lao tác khơi dậy tính vô ngã. Tuy nhiên, chúng ta phải tìm cách trực nhận phẩm tính của năng lượng đằng sau nhiều lời nói, nếu không chúng ta sẽ chỉ bị mắc kẹt trên cõi trí.

54. In the shorter of the two paragraphs, the Tibetan is suggesting a sequence which we should ponder. I will enlarge it just a bit:

54. Trong đoạn ngắn hơn trong hai đoạn, Chân sư Tây Tạng đang gợi ý một trình tự mà chúng ta nên suy ngẫm. Tôi sẽ mở rộng nó đôi chút:

a. Mind (through meditation and study) leads into the realm of heart and soul.

a. Thể trí, qua tham thiền và học hỏi, dẫn vào lĩnh vực của tâm và linh hồn.

b. Heart and soul represent love—the motive behind Creation. We begin to understand “from within”

b. Tâm và linh hồn biểu trưng cho tình thương—động cơ phía sau Sáng Tạo. Chúng ta bắt đầu thấu hiểu “từ bên trong”

c. The motive of expressing heart and soul through love is superseded by Pure/Inclusive Reason, which is a Wise and Loving-Understanding, revealing the archetypal nature of both microcosm and (eventually) macrocosm.

c. Động cơ biểu lộ tâm và linh hồn qua tình thương được thay thế bởi Lý Trí Thuần Khiết/Bao Gồm, vốn là một Sự Thấu Hiểu Minh Triết và Đầy Tình Thương, mặc khải bản chất nguyên mẫu của cả tiểu thiên địa và, cuối cùng, đại thiên địa.

d. Pure/Inclusive Reason merges into the undeflectable energy of the Spiritual Will.

d. Lý Trí Thuần Khiết/Bao Gồm hòa nhập vào năng lượng không thể bị lệch hướng của Ý Chí Tinh Thần.

e. The Spiritual Will, if followed, leads us to the realization of Monadic Purpose.

e. Ý Chí Tinh Thần, nếu được noi theo, dẫn chúng ta đến sự chứng ngộ Thiên Ý Chân Thần.

f. Monadic Purpose, if lived, leads to identification with the life of the Planetary Logos.

f. Thiên Ý Chân Thần, nếu được sống trọn, dẫn đến sự đồng hóa với sự sống của Hành Tinh Thượng đế.

E. Is the group will vital enough to condition the group relations and unite its members into a band of brothers? (cf. RI, p. 28)

E. Ý chí nhóm có đủ sức sống để tác động lên các tương quan nhóm và hợp nhất các thành viên thành một đoàn huynh đệ không? (xem RI, tr. 28)

The spiritual will of the individual personalities negates the personality relation and leads to spiritual recognition, spiritual interplay and spiritual relation (cf. RI, p. 28)

Ý chí tinh thần của các phàm ngã cá nhân phủ định tương quan phàm ngã và dẫn đến sự nhận biết tinh thần, sự tương tác tinh thần và tương quan tinh thần (xem RI, tr. 28)

The head’s clear light (cf. RI, p. 28)

Ánh sáng trong trẻo của đầu (xem RI, tr. 28)

What, therefore, is the group will in any ashram or Master’s group? Is it present in any form vital enough to condition the group relations and to unite its members into a band of brothers—moving forward into the light? Is the spiritual will of the individual personalities of such strength that it negates the personality relation and leads to spiritual recognition, spiritual interplay and spiritual relation? It is only in consideration of these fundamental effects of standing as a group in ‘the head’s clear light’ that it is permissible for disciples to bring into the picture personal sensitivities and thought, and this only because of a group temporary limitation. [Page 29]

Vậy, ý chí nhóm trong bất kỳ ashram hay nhóm của Chân sư nào là gì? Nó có hiện diện dưới hình thức nào đủ sống động để tác động lên các tương quan nhóm và hợp nhất các thành viên thành một đoàn huynh đệ—tiến tới trong ánh sáng không? Ý chí tinh thần của các phàm ngã cá nhân có đủ mạnh để phủ định tương quan phàm ngã và dẫn đến sự nhận biết tinh thần, sự tương tác tinh thần và tương quan tinh thần không? Chỉ khi xét đến những hiệu quả căn bản này của việc đứng như một nhóm trong “ánh sáng trong trẻo của đầu” thì các đệ tử mới được phép đưa vào bức tranh những nhạy cảm và tư tưởng cá nhân, và điều này chỉ vì một giới hạn tạm thời của nhóm. [Trang 29]

Points to Consider in Relation to the Above Paragraph

Những Điểm Cần Xem Xét Liên Quan Đến Đoạn Trên

1. The questions asked in this paragraph are of great moment for us, and for any group which seeks (regardless of its limitations) to attempt to fulfil these more advanced Rules.

1. Những câu hỏi được nêu trong đoạn này có tầm quan trọng lớn đối với chúng ta, và đối với bất kỳ nhóm nào tìm cách, bất kể những giới hạn của mình, cố gắng hoàn thành các Quy luật cao cấp hơn này.

2. Will breaks down barriers to the Divine Circulatory Flow. The Divine Circulatory Flow, when unobstructed, produces unity and eventually synthesis.

2. Ý chí phá vỡ các rào chắn đối với Dòng Lưu Chuyển Thiêng Liêng. Dòng Lưu Chuyển Thiêng Liêng, khi không bị cản trở, tạo ra sự hợp nhất và cuối cùng là sự tổng hợp.

3. Whereas “synthesis differentiates”, is also shatters ring-pass-nots. The more synthesis, the more flow, the more flow, the more synthesis.

3. Trong khi “tổng hợp biến phân”, nó cũng phá tan các vòng-giới-hạn. Càng nhiều tổng hợp thì càng nhiều dòng chảy; càng nhiều dòng chảy thì càng nhiều tổng hợp.

4. Brotherhood is a great “fact” in nature.

4. Tình huynh đệ là một “sự kiện” lớn trong tự nhiên.

5. If a group is to be distinguished by true brotherhood (thus becoming a “band of brothers”), it must be animated by both love and will. The love creates the “band”, or the bonding force. The will unifies their group note (for all are serving the same purpose) and enables them to “onward move” (for the energy of will is called “Progress Onward”, and “Driving Forward through Space”).

5. Nếu một nhóm muốn được phân biệt bởi tình huynh đệ chân thật, và do đó trở thành một “đoàn huynh đệ”, nhóm ấy phải được làm sinh động bởi cả tình thương lẫn ý chí. Tình thương tạo ra “đoàn”, hay mãnh lực liên kết. Ý chí hợp nhất âm điệu nhóm của họ, vì tất cả đều phụng sự cùng một mục đích, và khiến họ có thể “tiến tới”, vì năng lượng của ý chí được gọi là “Tiến Tới” và “Thúc Đẩy Tiến Lên Qua Không Gian”.

6. In such as group as the 28 Rules Group, we cannot leap immediately into will. Group intelligence and group love, must precede group synthesis in will.

6. Trong một nhóm như Nhóm 28 Quy luật, chúng ta không thể lập tức nhảy vào ý chí. Trí tuệ nhóm và tình thương nhóm phải đi trước sự tổng hợp nhóm trong ý chí.

7. First we must get to ‘know’ each other, as souls. This will require both intelligent perception and loving understanding.

7. Trước hết, chúng ta phải “biết” nhau như những linh hồn. Điều này sẽ đòi hỏi cả nhận thức thông tuệ lẫn sự thấu hiểu đầy tình thương.

8. Conditions within our group personality must be purified. The more we adhere to group purpose, the easier this will be.

8. Các tình trạng trong phàm ngã nhóm của chúng ta phải được thanh lọc. Chúng ta càng bám sát mục đích nhóm, điều này sẽ càng dễ dàng hơn.

9. Gradually, our own importance as group members will begin to fade from consciousness, and the presence of the group, and the beingness of the group will emerge as of greater importance than our own personal preferences and possibilities for our personal development.

9. Dần dần, tầm quan trọng của chính chúng ta với tư cách các thành viên nhóm sẽ bắt đầu phai mờ khỏi tâm thức, và sự hiện diện của nhóm, cùng tính bản thể của nhóm, sẽ nổi lên như điều quan trọng hơn các sở thích cá nhân và những khả thể phát triển cá nhân của chính chúng ta.

10. All these are preliminary stages before group spiritual-will can truly emerge. Some of the necessary eliminations are given in the introduction to Rule XI.

10. Tất cả những điều này là các giai đoạn sơ bộ trước khi ý chí tinh thần nhóm có thể thật sự xuất hiện. Một số sự loại bỏ cần thiết được nêu trong phần dẫn nhập của Quy luật XI.

11. For now we are studying about the will, and hopefully, through our labours, gradually participating in thought processes and activities which will lead us along the line of integration towards fusion, and from fusion towards synthesis. But it is too early for even group integration to be real—though it will come IF and AS we adhere to purpose.

11. Hiện giờ chúng ta đang học về ý chí, và hy vọng rằng, qua các lao tác của mình, dần dần tham dự vào những tiến trình tư tưởng và hoạt động sẽ dẫn chúng ta theo con đường tích hợp hướng đến dung hợp, và từ dung hợp hướng đến tổng hợp. Nhưng ngay cả sự tích hợp nhóm cũng còn quá sớm để trở thành thực tại—dù nó sẽ đến NẾU và KHI chúng ta bám sát mục đích.

12. Notice in this paragraph the rather strong note of impersonality which is sounded. The spiritual will of the individual personalities is called for, in order to negate personality relation, and lead instead to “spiritual recognition, spiritual interplay and spiritual relation”.

12. Hãy lưu ý trong đoạn này âm điệu khá mạnh của tính vô ngã được xướng lên. Ý chí tinh thần của các phàm ngã cá nhân được kêu gọi, nhằm phủ định tương quan phàm ngã và thay vào đó dẫn đến “sự nhận biết tinh thần, sự tương tác tinh thần và tương quan tinh thần”.

13. In relation to these words it should be said that “personal” relates to the lower three vehicle and their unification as personality; “spiritual” relates to the realm of soul; and “divine” relates to the realm of Spirit.

13. Liên quan đến những lời này, cần nói rằng “cá nhân” liên hệ đến ba vận cụ thấp và sự hợp nhất của chúng thành phàm ngã; “tinh thần” liên hệ đến lĩnh vực linh hồn; và “thiêng liêng” liên hệ đến lĩnh vực Tinh thần.

14. The implication is that strictly personal interplay negates spiritual interplay, and must subside if spiritual interplay is to emerge.

14. Hàm ý là sự tương tác thuần túy cá nhân phủ định sự tương tác tinh thần, và phải lắng xuống nếu sự tương tác tinh thần muốn xuất hiện.

15. We might return to the ideas of “heating” and “warming” which we studied in the first Rule for Applicants. Speaking generally it could be said that personal interplay heats and spiritual interplay warms, whereas divine interplay electrifies.

15. Chúng ta có thể trở lại với các ý tưởng về “đốt nóng” và “làm ấm” mà chúng ta đã học trong Quy luật thứ nhất dành cho Người Dự Bị. Nói chung, có thể nói rằng sự tương tác cá nhân đốt nóng và sự tương tác tinh thần làm ấm, trong khi sự tương tác thiêng liêng điện hóa.

16. So many of us are loath to give up our instinctive focus upon personality. It is so familiar. In this problematical relinquishment we see a lower reflection of the challenge facing the applicant to the fourth initiation, as he is compelled to relinquish his focus upon the treasures of the causal body.

16. Rất nhiều người trong chúng ta miễn cưỡng từ bỏ sự tập trung theo bản năng vào phàm ngã. Nó quá quen thuộc. Trong sự từ bỏ đầy khó khăn này, chúng ta thấy một phản chiếu thấp hơn của thách thức mà người dự bị cho lần điểm đạo thứ tư phải đối diện, khi y buộc phải từ bỏ sự tập trung vào các kho tàng của thể nguyên nhân.

17. There has been so much unbalanced emphasis during the Piscean/Sixth Ray Age upon “heaven” as opposed to “earth”, that it is understandable why the modern student of spirituality should seek to give the personality its due. This is a needed balance, however it must be recognized that relinquishment is still an inevitable part of the evolutionary process on this planet, and that we can only reclaim the full value of the personality if we have been willing to venture into the realm of impersonality and there succeed. Graduates of Earth School are called “Adjudicators between the Pairs of Opposites”.

17. Trong Kỷ Nguyên Song Ngư/Cung Sáu đã có quá nhiều nhấn mạnh mất cân bằng vào “trời” đối lập với “đất”, nên có thể hiểu vì sao đạo sinh tinh thần hiện đại lại tìm cách trao cho phàm ngã phần xứng đáng của nó. Đây là một sự quân bình cần thiết; tuy nhiên, phải nhận ra rằng sự từ bỏ vẫn là một phần không thể tránh khỏi của tiến trình tiến hóa trên hành tinh này, và rằng chúng ta chỉ có thể thu hồi trọn vẹn giá trị của phàm ngã nếu chúng ta đã sẵn lòng mạo hiểm đi vào lĩnh vực vô ngã và thành công ở đó. Những người tốt nghiệp Trường Trái Đất được gọi là “Các Vị Phân Xử giữa những Cặp Đối Lập”.

18. The last sentence is a hard one:

18. Câu cuối cùng là một câu khó:

“It is only in consideration of these fundamental effects of standing as a group in ‘the head’s clear light’ that it is permissible for disciples to bring into the picture personal sensitivities and thought, this only because of a group temporary limitation.”

“Chỉ khi xét đến những hiệu quả căn bản này của việc đứng như một nhóm trong ‘ánh sáng trong trẻo của đầu’ thì các đệ tử mới được phép đưa vào bức tranh những nhạy cảm và tư tưởng cá nhân, và điều này chỉ vì một giới hạn tạm thời của nhóm.”

This shows us how tough are the demands for group living and expression in the New Age. There is no question about it—the personal is here seen as the limiting. It is as if the Tibetan is demanding a certain ‘altitude’ of consciousness before it is permissible (or safe for group integrity) to bring the personal under the group gaze. The suggestion is that the Ashram is a strictly impersonal group, and that Masters’ groups (making application to the Ashram) are subject to limitation and for that reason still bring personal considerations into the group process.

Điều này cho chúng ta thấy những đòi hỏi đối với đời sống và sự biểu lộ nhóm trong Kỷ Nguyên Mới nghiêm khắc đến mức nào. Không còn nghi ngờ gì nữa—ở đây, cái cá nhân được xem như điều giới hạn. Dường như Chân sư Tây Tạng đang đòi hỏi một “độ cao” nhất định của tâm thức trước khi được phép, hoặc an toàn cho sự toàn vẹn của nhóm, đưa cái cá nhân vào dưới cái nhìn của nhóm. Gợi ý ở đây là Ashram là một nhóm hoàn toàn vô ngã, và các nhóm của Chân sư, đang nộp đơn vào Ashram, còn chịu giới hạn và vì lý do đó vẫn đưa những cân nhắc cá nhân vào tiến trình nhóm.

19. All this may seek rather cold and not very “human”, and to an extent, this is correct. Statements like the ones written above are written from the perspective of the “clear cold light”. I suppose that until we, individually, and we, as a group, are steadily working within the coldness of that light, we will not see things entirely as the Tibetan sees them.

19. Tất cả điều này có thể có vẻ khá lạnh lùng và không mấy “nhân bản”, và ở một mức độ nào đó, điều này đúng. Những phát biểu như các phát biểu được viết ở trên được viết từ viễn cảnh của “ánh sáng lạnh trong trẻo”. Tôi cho rằng cho đến khi chúng ta, với tư cách cá nhân, và chúng ta, với tư cách một nhóm, đều đặn làm việc trong sự lạnh lẽo của ánh sáng ấy, chúng ta sẽ chưa thấy sự vật hoàn toàn như Chân sư Tây Tạng thấy.

20. Progress along the Path of Occultism proceeds from one relinquishment to the next, and the next. For many, the call to an impersonal life will seem a great leap, and not an altogether pleasant one. Justifications will be brought forward about the value of personal life (and at certain stages of evolution, who could dispute the correctness of these justifications?). Yet, the Tibetan is challenging us to enter a new phase of relatedness which is not based upon the heat of the lower eighteen fires at all. This phase is unfamiliar to all of us. Real familiarity comes within the precincts of the Ashram, so it is natural for us to be hesitant. Even if we consciously give full assent to what is asked of us, there will be parts within us that are hesitant. How to treat these parts is the subject of spiritual psychology, but the Tibetan gives us one big hint— “Divine Indifference”.

20. Sự tiến bộ trên Con Đường Huyền Bí Học diễn tiến từ sự từ bỏ này sang sự từ bỏ kế tiếp, rồi kế tiếp nữa. Đối với nhiều người, tiếng gọi bước vào một đời sống vô ngã sẽ có vẻ là một bước nhảy lớn, và không hoàn toàn dễ chịu. Người ta sẽ đưa ra những biện minh về giá trị của đời sống cá nhân, và ở một vài giai đoạn tiến hóa, ai có thể tranh cãi tính đúng đắn của những biện minh này? Tuy nhiên, Chân sư Tây Tạng đang thách thức chúng ta bước vào một giai đoạn mới của sự liên hệ, không hề dựa trên sức nóng của mười tám ngọn lửa thấp. Giai đoạn này xa lạ với tất cả chúng ta. Sự quen thuộc thật sự đến trong phạm vi của Ashram, nên việc chúng ta do dự là điều tự nhiên. Ngay cả khi chúng ta hữu thức hoàn toàn tán đồng điều được yêu cầu nơi mình, vẫn sẽ có những phần trong chúng ta do dự. Cách đối xử với những phần này là chủ đề của Tâm Lý Học Tinh Thần, nhưng Chân sư Tây Tạng cho chúng ta một gợi ý lớn—“Điềm nhiên thiêng liêng”.

21. So, already we are dealing with the “cold”. Do we like it? Or not? Or maybe, the word “like” should have nothing to do with it, being such a “kama-manasic” word.

21. Chúng ta đã đang đề cập đến “sự lạnh lẽo”. Chúng ta có thích nó không? Hay không? Có lẽ từ “thích” không nên liên quan gì đến điều này, vì đó là một từ quá “trí-cảm”.

F. When the group antahkarana is complete, the aspect of pure reason and of the heart does control (cf. RI, p. 29)

F. Khi antahkarana nhóm hoàn tất, phương diện lý trí thuần khiết và của tâm sẽ kiểm soát (xem RI, tr. 29)

“What is it, therefore, which prevents a disciple—as an individual—from having direct approach and direct contact with the Master without being dependent upon an intermediary? Let me illustrate: In the group I have under training (Discipleship in the New Age, Vols. I and II) two or three have direct approach and others have it but know it not; still others are well intentioned and hard driving disciples, but never for a second do they forget themselves; one has had a problem of glamour but now is preoccupied with the problem of spiritual ambition—a spiritual ambition which is working through a very small personality; some could make rapid progress but are too prone to inertia—perhaps I could say that they do not care enough. Each of them (and every other disciple) can place himself. All of them desire to move forward and possess a strong inner spiritual life—hence my finding the time to work with them. But the group antahkarana is still incomplete and the aspect of pure reason and of the heart does not control. The evocative power of the Spiritual Triad is not, therefore, adequate to hold the personality steady and the invocative power of the personality is non-existent—speaking from the angle of the group personalities which make up the personality aspect of the ashram. This is a factor with which they oft feel I have not to deal. It can only become a potent factor if certain personality relations are adjusted and inertia is overcome. Then and only then can “the group stand.”

“Vậy điều gì ngăn cản một đệ tử—với tư cách cá nhân—có sự tiếp cận trực tiếp và tiếp xúc trực tiếp với Chân sư mà không lệ thuộc vào một trung gian? Tôi xin minh họa: Trong nhóm mà Tôi đang huấn luyện (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Quyển I và II), hai hoặc ba người có sự tiếp cận trực tiếp và những người khác cũng có nhưng không biết; những người khác nữa là các đệ tử có thiện chí và nỗ lực mạnh mẽ, nhưng không một giây nào họ quên chính mình; một người từng có vấn đề về ảo cảm nhưng nay bận tâm với vấn đề tham vọng tinh thần—một tham vọng tinh thần đang hoạt động qua một phàm ngã rất nhỏ bé; một số người có thể tiến bộ nhanh chóng nhưng quá dễ nghiêng về Quán tính—có lẽ Tôi có thể nói rằng họ chưa đủ quan tâm. Mỗi người trong số họ, và mọi đệ tử khác, đều có thể tự định vị mình. Tất cả họ đều mong muốn tiến tới và sở hữu một đời sống tinh thần bên trong mạnh mẽ—vì thế Tôi mới dành thời gian làm việc với họ. Nhưng antahkarana nhóm vẫn chưa hoàn chỉnh và phương diện lý trí thuần khiết cùng phương diện của tâm chưa kiểm soát. Do đó, quyền năng gợi lên của Tam Nguyên Tinh Thần chưa đủ để giữ phàm ngã ổn định, và quyền năng khẩn cầu của phàm ngã thì không tồn tại—nói từ góc độ các phàm ngã nhóm hợp thành phương diện phàm ngã của ashram. Đây là một yếu tố mà họ thường cảm thấy Tôi không cần đề cập đến. Nó chỉ có thể trở thành một yếu tố mạnh mẽ nếu một số tương quan phàm ngã được điều chỉnh và Quán tính được vượt qua. Khi đó và chỉ khi đó “nhóm mới có thể đứng vững.”

1. The Masters are in the business of teaching us how to become Masters—eventually.

1. Các Chân sư đang làm công việc dạy chúng ta cách trở thành Chân sư—rốt cuộc là như vậy.

2. They are, therefore, constantly throwing us “back on ourselves”. The Buddha’s last words were all about “Self-reliance”.

2. Do đó, Các Ngài liên tục ném chúng ta “trở lại với chính mình”. Những lời cuối của Đức Phật đều nói về “Tự lực”.

3. Master DK wants His students to have “direct access” to the Ashram and to Him. This would promote their effectiveness and advance the manifestation of the Plan.

3. Chân sư DK muốn các đạo sinh của Ngài có “sự tiếp cận trực tiếp” với Ashram và với Ngài. Điều này sẽ thúc đẩy hiệu quả của họ và đẩy nhanh sự biểu hiện của Thiên Cơ.

4. So He goes into the reasons which prevent such access. (This paragraph is referring to the groups which DK had under training, and to the members of which He wrote letters of instructions—gathered together in the two Discipleship in the New Age volumes.)

4. Vì vậy, Ngài đi vào những lý do ngăn cản sự tiếp cận ấy. Đoạn này đang nói đến các nhóm mà Chân sư DK đã huấn luyện, và đến các thành viên mà Ngài đã viết các thư huấn thị—được tập hợp trong hai Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới quyển.

5. In the beginning, there were some fifty disciples involved in the Tibetan’s groups—the ones He had under immediate supervision.

5. Ban đầu, có khoảng năm mươi đệ tử tham gia vào các nhóm của Chân sư Tây Tạng—những người được Ngài trực tiếp giám sát.

6. By the time He wrote this material, the groups had been reorganized into one large group of twenty-four members (the number twenty-four is the number of Shamballa).

6. Vào thời điểm Ngài viết tài liệu này, các nhóm đã được tổ chức lại thành một nhóm lớn gồm hai mươi bốn thành viên, con số hai mươi bốn là con số của Shamballa.

7. Of those twenty-four, two or three had direct access to the Tibetan.

7. Trong số hai mươi bốn người ấy, hai hoặc ba người có sự tiếp cận trực tiếp với Chân sư Tây Tạng.

8. Interestingly, other had such access, but knew it not. It is as if some of those who had “direct approach” without an intermediary, did not consciously register the connection. Perhaps certain energies from the Master and the Ashram flowed into their consciousness when they thought in that direction, but they did not discriminate such energies as emanating from the Master and His Ashram. It is, after all, essentially a matter of discrimination. All the many varied energies and forces which impinge upon the consciousness and vehicles of consciousness, have many and varied sources. A disciple may have access to and receive a variety of energies and forces (which are effective in his life) but he may not know their point of emanation. Why might this be so? Well, perhaps the careful mental-sentient work involved in comparing and contrasting had not been done. Perhaps there was simply insufficient observation and analysis.

8. Điều thú vị là những người khác cũng có sự tiếp cận ấy, nhưng lại không biết. Dường như một số người có “sự tiếp cận trực tiếp” mà không qua trung gian đã không ghi nhận một cách hữu thức mối liên kết ấy. Có lẽ một số năng lượng từ Chân sư và Ashram đã tuôn vào tâm thức của họ khi họ nghĩ theo hướng đó, nhưng họ không phân biện những năng lượng ấy là xuất phát từ Chân sư và Ashram của Ngài. Rốt cuộc, về bản chất đó là vấn đề phân biện. Tất cả nhiều năng lượng và mãnh lực đa dạng tác động lên tâm thức và các vận cụ của tâm thức đều có nhiều nguồn gốc khác nhau. Một đệ tử có thể tiếp cận và tiếp nhận nhiều loại năng lượng và mãnh lực, vốn hữu hiệu trong đời sống của y, nhưng y có thể không biết điểm xuất lộ của chúng. Tại sao điều này có thể như vậy? Có lẽ công việc trí tuệ-cảm nhận cẩn trọng liên quan đến việc so sánh và đối chiếu đã chưa được thực hiện. Có lẽ đơn giản là sự quan sát và phân tích còn chưa đủ.

9. As well, perhaps the possibility for direct, unimpeded relationship had already been built, but these few did not utilize it or push it far enough—perhaps they lacked “follow through”. Perhaps they simply did not take advantage of that which was already in place.

9. Cũng có lẽ khả năng cho một tương quan trực tiếp, không bị cản trở đã được xây dựng rồi, nhưng vài người này đã không sử dụng nó hoặc không đẩy nó đi đủ xa—có lẽ họ thiếu sự “theo đến cùng”. Có lẽ họ đơn giản đã không tận dụng điều vốn đã có sẵn.

10. Some of the disciples are referred to as “well-intentioned” and “hard-driving” (apparently a virtue in a disciple—a Martian virtue), but remained essentially self-centered and unable to forget themselves. These disciples were, it might be said, still “heating” themselves, and had not yet transferred sufficient energy to the heart center to result in a prevailing selfless love.

10. Một số đệ tử được nói đến như là “có thiện chí” và “nỗ lực mạnh mẽ”, rõ ràng là một đức tính nơi đệ tử—một đức tính thuộc Sao Hỏa, nhưng về căn bản họ vẫn tập trung vào bản thân và không thể quên mình. Có thể nói rằng các đệ tử này vẫn còn đang “đốt nóng” chính mình, và chưa chuyển đủ năng lượng đến trung tâm tim để tạo ra một tình thương vô ngã chiếm ưu thế.

11. DK isolates one disciple as glamored and working through a “small” personality. And spiritual ambition was the problem. What is spiritual ambition? We might call it the intense desire for spiritual place and status. It is based upon a narrow point of view which fails to see the whole and the contribution made by all members of that whole. Spiritual ambition is also based upon inaccurate self-assessment, because it usually involves the attempt to elevate oneself beyond one’s own level of competency. The problem is a lack of humility called in the Teaching “an adjusted sense of right proportion”. Such ambition is frequently based upon a spiritual inferiority complex. Instead of depression (another possible reaction), there is the attempt to negate the feeling of worthlessness by an intensified self-promotion.

11. Chân sư DK tách riêng một đệ tử là người bị ảo cảm và hoạt động qua một phàm ngã “nhỏ bé”. Và tham vọng tinh thần là vấn đề. Tham vọng tinh thần là gì? Chúng ta có thể gọi đó là khát vọng mãnh liệt đối với địa vị và vị thế tinh thần. Nó dựa trên một quan điểm hẹp hòi, không thấy được toàn thể và sự đóng góp của tất cả các thành viên trong toàn thể ấy. Tham vọng tinh thần cũng dựa trên sự tự đánh giá không chính xác, vì nó thường bao hàm nỗ lực nâng mình lên vượt quá cấp độ năng lực của chính mình. Vấn đề là thiếu khiêm tốn, điều trong Giáo Huấn được gọi là “ý thức đúng đắn và đã điều chỉnh về tỉ lệ”. Tham vọng như thế thường dựa trên một phức cảm tự ti tinh thần. Thay vì trầm cảm, một phản ứng khác có thể xảy ra, lại có nỗ lực phủ định cảm giác vô giá trị bằng sự tự đề cao mãnh liệt hơn.

The spiritually ambitious disciple fails to realize that in all hierarchically related matters one can never force ones way into the next level of spiritual advancement. One can force oneself to develop the qualities necessitated by that next level of advancement; one can “knock” at the door separating a lower level of vibration from a higher; but, that done, one must wait before the door until (one’s quality being recognized by those on the further side of the door) one is invited in.

Người đệ tử đầy tham vọng tinh thần không nhận ra rằng, trong mọi vấn đề liên hệ theo trật tự Thánh đoàn, người ta không bao giờ có thể cưỡng ép con đường của mình để bước vào cấp độ kế tiếp của sự tiến bộ tinh thần. Người ta có thể ép buộc chính mình phát triển những phẩm tính mà cấp độ tiến bộ kế tiếp ấy đòi hỏi; người ta có thể “gõ” vào cánh cửa ngăn cách một cấp độ rung động thấp hơn với một cấp độ cao hơn; nhưng, sau khi đã làm như vậy, người ta phải chờ trước cửa cho đến khi phẩm tính của mình được những vị ở phía bên kia cánh cửa nhận ra, và rồi người ta được mời vào.

12. Then, there are those who were too “prone to inertia” and who, in the last analysis, did not “care enough”. One wonders how any disciple having the direct privilege of supervised teaching and commentary from Master DK could ever be lazy and uncaring. But we must hesitate in our judgement, for the pressures to which those individuals were subjected were extreme, and they lived at a decisive point in the history of humanity—for civilization, as we know it, could have ended at that point, and a thousand years of darkness could have supervened.

12. Kế đó, có những người quá “dễ nghiêng về tính trì trệ” và, xét đến cùng, đã không “đủ quan tâm”. Người ta tự hỏi làm sao bất kỳ đệ tử nào, khi có đặc ân trực tiếp được Chân sư DK giám sát, giảng dạy và bình giảng, lại có thể lười biếng và thờ ơ. Nhưng chúng ta phải dè dặt trong phán xét, vì những áp lực mà các cá nhân ấy phải chịu là cực kỳ lớn, và họ sống vào một thời điểm quyết định trong lịch sử nhân loại—vì nền văn minh, như chúng ta biết, đã có thể chấm dứt vào thời điểm ấy, và một nghìn năm đen tối đã có thể tiếp theo.

Inertia is the tendency to give in to the “tamasic” nature of the physical elemental. It is a lunar and lower Vulcanian quality, and is related to that head of the Hydra which is called the “Love of Comfort”. And inertia is possible not only in the physical nature, but in the astral and mental natures as well. Slowness to respond to proffered opportunity is a form of ingratitude based upon excessive attention to the comfort of the lunar vehicles. Basically, the values have not been adjusted, and material values weigh too heavily. Essentially, it is a failure of ‘spiritual sight’. The inert, unresponsive, uncaring one, simply does not see what is at stake, and what is being missed through opportunity untaken. Perhaps time and pain are the only cures. When one has had a surfeit of unsatisfying material experience, one will be alert and ready to respond to the proffering of opportunities to rise out of that spiritually dissatisfying state.

Tính trì trệ là khuynh hướng đầu hàng bản chất “tamas” của tinh linh thể xác. Đó là một phẩm tính thuộc mặt trăng và thuộc Vulcan thấp, liên hệ với chiếc đầu của Hydra được gọi là “Tình yêu sự tiện nghi”. Và tính trì trệ có thể có không chỉ trong bản chất hồng trần, mà cả trong bản chất cảm dục và trí tuệ nữa. Chậm đáp ứng trước cơ hội được trao là một hình thức vô ơn, dựa trên sự chú ý quá mức đến tiện nghi của các vận cụ mặt trăng. Về căn bản, các giá trị chưa được điều chỉnh, và các giá trị vật chất có sức nặng quá lớn. Về thực chất, đó là một thất bại của “linh thị tinh thần”. Người trì trệ, không đáp ứng, thờ ơ, đơn giản là không thấy điều gì đang lâm nguy, và điều gì đang bị bỏ lỡ vì cơ hội không được nắm lấy. Có lẽ thời gian và đau khổ là những phương thuốc duy nhất. Khi người ta đã no chán những kinh nghiệm vật chất không đem lại thỏa mãn, người ta sẽ tỉnh thức và sẵn sàng đáp ứng với những cơ hội được trao để vươn lên khỏi trạng thái không thỏa mãn về mặt tinh thần ấy.

13. The Tibetan invites all disciples to place themselves according to one or another of these categories, and perhaps we should evaluate our own discipleship and our relation to the Master and the Ashram to see where we stand. “The Road is trodden in the full light of day, thrown upon the Path by those who know and lead, and at each turn, a man must face himself” (Rules of the Road I)

13. Chân sư Tây Tạng mời gọi mọi đệ tử tự đặt mình vào một trong những loại này, và có lẽ chúng ta nên đánh giá địa vị đệ tử của chính mình cùng mối liên hệ của chúng ta với Chân sư và ashram để xem mình đang đứng ở đâu. “Con Đường được bước đi trong ánh sáng ban ngày trọn vẹn, được những vị biết và dẫn dắt chiếu rọi trên Con Đường, và tại mỗi khúc quanh, con người phải đối diện với chính mình” (Các Quy Luật của Đường Đạo một)

14. Such self-evaluation is a constant requirement of the Path—undertaken not to satisfy (or deflate) egoism and personal ambition, but to see clearly where we stand, to whom we must look for help, and whom we may help.

14. Sự tự đánh giá như vậy là một đòi hỏi thường xuyên của Con Đường—được thực hiện không phải để thỏa mãn hoặc làm suy giảm chủ nghĩa vị ngã và tham vọng cá nhân, mà để thấy rõ chúng ta đang đứng ở đâu, chúng ta phải hướng về ai để được trợ giúp, và chúng ta có thể giúp đỡ ai.

15. All we really need to know is the occult constitution of man and our next step forward. But implicit in knowing that next step is knowing where we stand.

15. Tất cả những gì chúng ta thật sự cần biết là cấu tạo huyền bí của con người và bước kế tiếp tiến tới của chúng ta. Nhưng hàm chứa trong việc biết bước kế tiếp ấy là biết chúng ta đang đứng ở đâu.

16. In various ways, the Tibetan constantly gives us hints to help us evaluate properly. The mis-evaluation of where we actually stand is, perhaps, the most prevalent mistake made by students of esotericism, and is a fruitful source of glamor and trouble within groups. Would it not be better to see clearly, and to really know, rather than pretend and, consequently, be obliged to invest an inordinate amount of energy in sustaining the pretence, hiding it from others and especially from oneself?!

16. Bằng nhiều cách khác nhau, Chân sư Tây Tạng liên tục cho chúng ta những gợi ý để giúp chúng ta đánh giá đúng đắn. Việc đánh giá sai nơi chúng ta thực sự đang đứng có lẽ là sai lầm phổ biến nhất mà các môn sinh huyền bí học mắc phải, và là nguồn phong phú của ảo cảm và rắc rối trong các nhóm. Chẳng phải tốt hơn sao nếu thấy rõ và thật sự biết, thay vì giả vờ rồi, do đó, buộc phải đầu tư một lượng năng lượng quá mức để duy trì sự giả vờ ấy, che giấu nó với người khác và đặc biệt là với chính mình?!

17. Then, the Tibetan tells us what is missing:

17. Kế đó, Chân sư Tây Tạng cho chúng ta biết điều gì còn thiếu:

“But the group antahkarana is still incomplete and the aspect of pure reason and of the heart does not control. The evocative power of the Spiritual Triad is not, therefore, adequate to hold the personality steady and the invocative power of the personality is non-existent—speaking from the angle of the group personalities which make up the personality aspect of the ashram.”

“Nhưng antahkarana của nhóm vẫn chưa hoàn tất, và phương diện lý trí thuần khiết cùng phương diện của trái tim chưa kiểm soát. Vì vậy, quyền năng gợi lên của Tam Nguyên Tinh Thần chưa đủ để giữ phàm ngã vững ổn, và quyền năng khẩn cầu của phàm ngã thì không hiện hữu—nói theo góc độ các phàm ngã của nhóm, vốn hợp thành phương diện phàm ngã của ashram.”

By reading about what has not yet been accomplished, we see what lies immediately ahead of us. Can we become personalities held and evoked by the Spiritual Triad? We would be spiritually steadier in our personality life. These are our objectives. And the moment many of us do not really know what the antahkarana is, and many of us who think we know, have no practical experience with the antahkarana as a functional reality. So much remains to be done. We soberly assess where we stand, so that, according to the Law of Economy, we may take the next necessary steps. If we wrongly think we are already ‘there’, we will not step, and we will not progress.

Khi đọc về những gì chưa được hoàn thành, chúng ta thấy điều gì đang ở ngay trước mặt mình. Chúng ta có thể trở thành những phàm ngã được Tam Nguyên Tinh Thần giữ vững và gợi lên chăng? Chúng ta sẽ vững vàng hơn về mặt tinh thần trong đời sống phàm ngã của mình. Đây là những mục tiêu của chúng ta. Và vào lúc này, nhiều người trong chúng ta thật sự không biết antahkarana là gì, và nhiều người trong chúng ta nghĩ rằng mình biết, lại không có kinh nghiệm thực tiễn với antahkarana như một thực tại vận hành. Còn quá nhiều việc phải làm. Chúng ta nghiêm túc thẩm định mình đang đứng ở đâu, để theo Định luật Tiết Kiệm, chúng ta có thể thực hiện những bước kế tiếp cần thiết. Nếu chúng ta lầm tưởng rằng mình đã “ở đó” rồi, chúng ta sẽ không bước tiếp, và sẽ không tiến bộ.

18. The Tibetan refers to the personal sensitivity of the disciples in His group. They often took His comments about the condition of their personalities, personally, (frequently blaming them on Alice Bailey!) and thereby delayed their own progress. Some very promising disciples simply quit the Tibetan’s groups, because they did not like to have their weaknesses exposed—especially before the other group members (for all written papers and letters were shared).

18. Chân sư Tây Tạng nhắc đến sự nhạy cảm cá nhân của các đệ tử trong nhóm của Ngài. Họ thường xem những nhận xét của Ngài về tình trạng phàm ngã của họ là chuyện cá nhân, và do đó làm chậm tiến bộ của chính họ. Một số đệ tử rất hứa hẹn đã đơn giản rời bỏ các nhóm của Chân sư Tây Tạng, vì họ không thích để những yếu điểm của mình bị phơi bày—đặc biệt là trước các thành viên khác trong nhóm, vì mọi bài viết và thư từ đều được chia sẻ.

19. The Tibetan ends the paragraph by telling us how invocation can become a potent factor in our lives.

19. Chân sư Tây Tạng kết thúc đoạn văn bằng cách cho chúng ta biết làm thế nào sự khẩn cầu có thể trở thành một yếu tố mạnh mẽ trong đời sống của chúng ta.

“It can only become a potent factor if certain personality relations are adjusted and inertia is overcome. Then and only then can ‘the group stand.’”

“Nó chỉ có thể trở thành một yếu tố mạnh mẽ nếu một số quan hệ phàm ngã được điều chỉnh và tính trì trệ được vượt qua. Khi ấy, và chỉ khi ấy, ‘nhóm mới có thể đứng vững.’”

The very first sentence of Rule I for Disciples and Initiates refers to how the group must “stand”—i.e., “within the fire of mind, focussed within the head’s clear light”. Here He tells us one of the major requirements for enabling the group to stand. Inertia must be overcome and personality relations within the group must be adjusted. Surely such personality relations (if not adjusted) cause many instabilities and side-tracking of group energy. Personality and the principle of cleavage are closely related. A group full of cleavages (separations) is not standing. Such a group cannot love and cannot bear the descent of will, which will only aggravate the cleavages, and even bring about group destruction.

Câu đầu tiên của Quy Luật một dành cho các Đệ tử và Điểm đạo đồ nói đến cách nhóm phải “đứng vững”—nghĩa là, “trong lửa của trí tuệ, tập trung trong ánh sáng trong trẻo của đầu”. Ở đây, Ngài cho chúng ta biết một trong những yêu cầu chính để giúp nhóm có thể đứng vững. Tính trì trệ phải được vượt qua và các quan hệ phàm ngã trong nhóm phải được điều chỉnh. Chắc chắn những quan hệ phàm ngã như vậy, nếu không được điều chỉnh, sẽ gây ra nhiều bất ổn và làm năng lượng nhóm đi lệch hướng. Phàm ngã và nguyên khí chia rẽ có liên hệ mật thiết. Một nhóm đầy những rạn nứt, tức những chia tách, thì không đứng vững. Một nhóm như vậy không thể yêu thương và không thể chịu đựng sự giáng xuống của ý chí, vì điều ấy sẽ chỉ làm trầm trọng thêm các rạn nứt, và thậm chí đưa đến sự hủy diệt nhóm.

20. Apparently it is no easy thing to become such a group as the Tibetan envisions, and which the Rules describe. It may well take a few hundred years before a group which can completely fulfil the requirements is ‘grown’ (I hesitate to say, “created”). Still, a beginning must be made.

20. Rõ ràng, để trở thành một nhóm như Chân sư Tây Tạng hình dung, và như các Quy Luật mô tả, không phải là điều dễ dàng. Rất có thể phải mất vài trăm năm trước khi một nhóm có thể hoàn toàn đáp ứng các yêu cầu được “nuôi lớn” lên; tôi ngần ngại khi nói là “được tạo ra”. Tuy nhiên, một khởi đầu phải được thực hiện.

21. As we still have about another 115 years before truly entering the Age of Aquarius, we are in the rehearsal period.

21. Vì chúng ta vẫn còn khoảng một trăm mười lăm năm nữa trước khi thật sự bước vào Kỷ Nguyên Bảo Bình, chúng ta đang ở trong giai đoạn diễn tập.

The Themes Included Under the Sentence 2Các Chủ Đề Bao Gồm Dưới Câu 2

Các Chủ Đề Bao Gồm Dưới Câu 2Các Chủ Đề Bao Gồm Dưới Câu 2

G. The nature of the burning ground (cf. RI, p. 29-30)

G. Bản chất của vùng đất cháy (xem RI, tr. 29-30)

The blazing light of the Monad (cf. RI, p. 30)

Ánh sáng rực cháy của chân thần (xem RI, tr. 30)

The will aspect as it destroys as by fire all elements of self-will (cf. RI, p. 30)

Phương diện ý chí khi nó hủy diệt, như bằng lửa, mọi yếu tố của ý chí cá nhân (xem RI, tr. 30)

When the antahkarana of a group is rightly constructed, then the individualized group-will will disappear in the full consciousness of the monadic purpose or clear directed will (cf. RI, p. 30)

Khi antahkarana của một nhóm được kiến tạo đúng đắn, ý chí nhóm đã biệt ngã hóa sẽ biến mất trong tâm thức trọn vẹn về mục đích chân thần hay ý chí được định hướng rõ ràng (xem RI, tr. 30)

“Here there is quite apt to be misunderstanding. To most people the burning ground stands for one of two things:

“Ở đây rất dễ có sự hiểu lầm. Đối với đa số người, vùng đất cháy tượng trưng cho một trong hai điều:

a. Either the fire of the mind, burning up those things in the lower nature of which it becomes increasingly aware.

a. Hoặc là lửa của trí tuệ, thiêu rụi những điều trong bản chất thấp mà nó ngày càng nhận biết rõ hơn.

b. Or the burning ground of sorrow, agony, horror and pain which is the characteristic quality of life in the three worlds, particularly at this time.

b. Hoặc là vùng đất cháy của sầu khổ, thống khổ, kinh hoàng và đau đớn, vốn là phẩm tính đặc trưng của đời sống trong ba cõi thấp, đặc biệt vào thời điểm này.

But the burning ground referred to here is something [Page 30] very different. When the blazing light of the sun is correctly focussed on or through a glass it can cause ignition. When the blazing light of the Monad is focussed directly upon the personality, via the antahkarana and not specifically through the soul, it produces a blazing fire which burns up all hindrances in a steady, sequential process. Wording it otherwise, when the will aspect streams from the Monad and focusses through the personal will (as the mind can grasp and realise it) it destroys as by fire all elements of self-will. As the energy of Shamballa streams out and makes a direct contact with humanity (omitting the transmission via the Hierarchy, which has hitherto been customary), you have what has been seen in the world today, a destructive conflagration or a world burning ground. When the antahkarana of a group is rightly constructed, then the individualised group-will will disappear in the full consciousness of the monadic purpose or clear directed will. These are points which the disciple preparing for initiation has to consider as he prepares for the higher initiations, and these are the points which any group or ashram in preparation for initiation has also to consider.”

Nhưng vùng đất cháy được nói đến ở đây là một điều [Page 30] rất khác. Khi ánh sáng rực cháy của mặt trời được tập trung đúng cách lên hoặc qua một tấm kính, nó có thể gây bốc cháy. Khi ánh sáng rực cháy của chân thần được tập trung trực tiếp lên phàm ngã, qua antahkarana chứ không đặc biệt qua linh hồn, nó tạo ra một ngọn lửa rực cháy thiêu rụi mọi chướng ngại trong một tiến trình đều đặn và tuần tự. Nói cách khác, khi phương diện ý chí tuôn chảy từ chân thần và tập trung qua ý chí cá nhân, theo mức thể trí có thể nắm bắt và nhận ra, nó hủy diệt như bằng lửa mọi yếu tố của ý chí cá nhân. Khi năng lượng của Shamballa tuôn ra và tiếp xúc trực tiếp với nhân loại, bỏ qua sự truyền dẫn qua Thánh đoàn vốn cho đến nay vẫn là thông lệ, các bạn có điều đã thấy trong thế giới ngày nay: một đám cháy hủy diệt hay một vùng đất cháy của thế giới. Khi antahkarana của một nhóm được kiến tạo đúng đắn, ý chí nhóm đã biệt ngã hóa sẽ biến mất trong tâm thức trọn vẹn về mục đích chân thần hay ý chí được định hướng rõ ràng. Đây là những điểm mà người đệ tử đang chuẩn bị cho điểm đạo phải suy xét khi y chuẩn bị cho các cuộc điểm đạo cao hơn, và cũng là những điểm mà bất kỳ nhóm hay ashram nào đang chuẩn bị cho điểm đạo cũng phải suy xét.”

1. How does the fire of mind burn up those things in the lower nature of which it becomes aware? The focussed, illumined mind has an ability to “see through” those habitual, repetitive patterns which must be negated and removed. The power of such patterns lies in the fact that they are not understood. When understood by the mind, their process can be stopped because the steps in the process are seen and can be negated.

1. Lửa của trí tuệ thiêu rụi những điều trong bản chất thấp mà nó nhận biết bằng cách nào? Thể trí được tập trung và soi sáng có khả năng “nhìn thấu” những mô hình quen thuộc, lặp đi lặp lại, vốn phải bị phủ định và loại bỏ. Quyền năng của những mô hình ấy nằm ở chỗ chúng không được thấu hiểu. Khi thể trí thấu hiểu chúng, tiến trình của chúng có thể bị dừng lại vì các bước trong tiến trình được thấy rõ và có thể bị phủ định.

2. The mind is fire, and the mental plane is particularly associated with fire. The recognition which results when mind thinks about that which is undesirable is a kind of fire which prevents its habitual enactment, or at least makes that enactment more difficult.

2. Thể trí lửa, và cõi trí đặc biệt liên hệ với lửa. Sự nhận ra phát sinh khi thể trí suy nghĩ về điều không đáng mong muốn là một loại lửa ngăn cản việc tái diễn theo thói quen của nó, hoặc ít nhất làm cho sự tái diễn ấy trở nên khó khăn hơn.

3. Something that is “seen through” is more easily dismissed. This dismissal is a removal akin to the destruction wrought by fire.

3. Điều gì đã được “nhìn thấu” thì dễ bị gạt bỏ hơn. Sự gạt bỏ này là một sự loại trừ tương tự như sự hủy diệt do lửa tạo ra.

4. During the World Wars (and in fact during any wars) these has been extensive use of fire—either normal flame, or that induced by bombs and other incendiary devices. Conditions in war-ravaged countries have been the most literal manifestation of the “burning ground”. One is reminded of the utterly destructive policies of retreating armies—the “scorched earth” policy.

4. Trong các cuộc Thế Chiến, và thực ra trong bất kỳ cuộc chiến nào, lửa đã được sử dụng rộng rãi—hoặc là ngọn lửa bình thường, hoặc là lửa do bom và các thiết bị gây cháy khác tạo ra. Những điều kiện tại các quốc gia bị chiến tranh tàn phá là biểu hiện theo nghĩa đen nhất của “vùng đất cháy”. Người ta nhớ đến các chính sách hoàn toàn hủy diệt của những đạo quân rút lui—chính sách “đất cháy”.

5. The burning ground the Tibetan is seeking to explain is described in these words:

5. Vùng đất cháy mà Chân sư Tây Tạng đang tìm cách giải thích được mô tả bằng những lời sau:

“When the blazing light of the Monad is focussed directly upon the personality, via the antahkarana and not specifically through the soul, it produces a blazing fire which burns up all hindrances in a steady, sequential process.”

“Khi ánh sáng rực cháy của chân thần được tập trung trực tiếp lên phàm ngã, qua antahkarana chứ không đặc biệt qua linh hồn, nó tạo ra một ngọn lửa rực cháy thiêu rụi mọi chướng ngại trong một tiến trình đều đặn và tuần tự.”

It becomes clear that there cannot be any such burning ground unless the antahkarana is constructed.

Điều trở nên rõ ràng là không thể có bất kỳ vùng đất cháy nào như vậy trừ phi antahkarana đã được kiến tạo.

6. So often we think about the antahkarana as an organ of invocation or of access. But it is equally an organ of transmission from the higher aspects of the human energy system.

6. Chúng ta thường nghĩ về antahkarana như một cơ quan của sự khẩn cầu hoặc của sự tiếp cận. Nhưng nó cũng đồng thời là một cơ quan truyền dẫn từ các phương diện cao hơn của hệ thống năng lượng con người.

7. We might ask, what is the focussing agency? What is analogous to the “burning glass” or magnifying glass? The radiation of the Monad is pervasive and, as far as the personality is concerned, universal in its extension and awareness. Just as the attention of the Solar Angel is not usually focussed upon its personality, and only later becomes increasingly (though cyclically) focussed, so the Monad upon its own plane is a center of awareness with “other things to do” than attend to its lower expressions—the causal body and the personality.

7. Chúng ta có thể hỏi: tác nhân tập trung là gì? Điều gì tương tự với “kính đốt” hay kính lúp? Bức xạ của chân thần thì lan tỏa khắp nơi và, xét theo phàm ngã, có tính phổ quát trong phạm vi mở rộng và nhận biết của nó. Cũng như sự chú ý của Thái dương Thiên Thần thường không tập trung vào phàm ngã của mình, và chỉ về sau mới ngày càng tập trung hơn, dù theo chu kỳ, chân thần trên cõi riêng của nó là một trung tâm nhận biết có “những việc khác phải làm” hơn là chăm chú vào các biểu hiện thấp của nó—thể nguyên nhân và phàm ngã.

8. But when the Monad is invoked, its energy is evoked, and its gaze is turned upon the personality (once the antahkarana has been constructed). It is then the antahkarana that becomes the focussing or channeling agency. The image (though inaccurate and only meant to be suggestive) is that of taking the diffused spherical radiation and influence of the Monad, and channeling it intensively through a line of energy—the antahkarana.

8. Nhưng khi chân thần được khẩn cầu, năng lượng của nó được gợi lên, và cái nhìn của nó được hướng xuống phàm ngã, một khi antahkarana đã được kiến tạo. Khi ấy, chính antahkarana trở thành tác nhân tập trung hay dẫn kênh. Hình ảnh, dù không chính xác và chỉ nhằm gợi ý, là việc lấy bức xạ và ảnh hưởng hình cầu phân tán của chân thần, rồi dẫn nó một cách mãnh liệt qua một đường năng lượng—antahkarana.

9. For practical purposes, the energy of the Monad must be invoked. Only when the soul-infusing personality has reached a stage of ‘invocatory readiness’ can the energy of the Monad be accessed—but first the energy of the Monad’s threefold expression, the Spiritual Triad, is accessed. So access to the Monad is a very late stage in the utilization of the antahkarana. We are not there yet.

9. Về mặt thực hành, năng lượng của chân thần phải được khẩn cầu. Chỉ khi phàm ngã được linh hồn thấm nhuần đã đạt đến một giai đoạn “sẵn sàng khẩn cầu” thì năng lượng của chân thần mới có thể được tiếp cận—nhưng trước hết năng lượng của biểu hiện tam phân của chân thần, tức Tam Nguyên Tinh Thần, được tiếp cận. Vì vậy, việc tiếp cận chân thần là một giai đoạn rất muộn trong việc sử dụng antahkarana. Chúng ta chưa ở đó.

10. What is the experience of the personality, should the blazing light of the Monad be focussed directly upon it? Perhaps the word driven would describe the effect. This is not the drivenness evidenced through the intense activation of the solar plexus and of the desire nature in general. It is the sense of being driven by a Will far greater than one’s own. There arises the sense of that which must at all costs be done, regardless of the consequences upon the personality.

10. Kinh nghiệm của phàm ngã sẽ là gì, nếu ánh sáng rực cháy của chân thần được tập trung trực tiếp lên nó? Có lẽ từ bị thúc đẩy sẽ mô tả được hiệu quả ấy. Đây không phải là sự bị thúc đẩy biểu lộ qua sự hoạt hóa mãnh liệt của tùng thái dương và của bản chất ham muốn nói chung. Đó là cảm giác bị thúc đẩy bởi một Ý Chí lớn lao hơn rất nhiều so với ý chí của chính mình. Nảy sinh cảm giác về điều phải được thực hiện bằng mọi giá, bất kể những hậu quả đối với phàm ngã.

11. Of course, much discrimination is needed to differentiate between the monadically-driven personality, the soul-impelled personality, and the ambitiously driving personality. In all cases the energy of “Driving Forward through Space” (straight-line motion) may be in evidence. But those who are driven by the Monad possess a relatively vast consciousness, with concerns that lie far beyond the personal and even the trans-personal. Trans-personal concerns belong to the realm of soul. Planetary concerns (more in evidence after the third degree which we, with Dane Rudhyar, might call the planetarization of consciousness) pertain to increasing monadic awareness.

11. Dĩ nhiên, cần rất nhiều phân biện để phân biệt giữa phàm ngã được chân thần thúc đẩy, phàm ngã được linh hồn thôi thúc, và phàm ngã thúc đẩy do tham vọng. Trong mọi trường hợp, năng lượng “Tiến Tới Qua Không Gian”, tức chuyển động theo đường thẳng, có thể hiển lộ. Nhưng những ai được chân thần thúc đẩy sở hữu một tâm thức tương đối rộng lớn, với những mối quan tâm vượt xa khỏi phạm vi cá nhân và thậm chí cả siêu cá nhân. Những mối quan tâm siêu cá nhân thuộc về lĩnh vực của linh hồn. Những mối quan tâm hành tinh, biểu lộ rõ hơn sau lần điểm đạo thứ ba mà cùng với Dane Rudhyar, chúng ta có thể gọi là sự hành tinh hóa của tâm thức, thuộc về sự nhận biết chân thần ngày càng tăng.

12. Note that processes connected with the Monad are orderly, and sequential. The seventh Ray of Order, Organization and Ceremonial Magic, is a lower reflection or expression of the first Ray of Will and Power (the ray generically associated with the Monad).

12. Hãy lưu ý rằng các tiến trình liên hệ với chân thần thì có trật tự, và tuần tự. Cung bảy của Trật Tự, Tổ Chức và Huyền Thuật Nghi Lễ là phản ảnh hay biểu hiện thấp hơn của cung một của Ý Chí và Quyền Năng, cung thường được liên hệ với chân thần.

13. Interestingly, different types of Monads (among the three major types) determine the sequence of activation of points within the chakric triangles of the etheric body, and also of petals within the egoic lotus.

13. Điều thú vị là các loại chân thần khác nhau, trong ba loại chính, quyết định trình tự hoạt hóa các điểm trong những tam giác luân xa của thể dĩ thái, cũng như các cánh hoa trong Hoa Sen Chân Ngã.

14. Thinking further of the effect of monadic fire upon and within the personality, we might expect significant relinquishments and sacrifices, and the stimulation of the power of abstraction (the withdrawal from form). What is being burnt is the ties which connect the monadically-driven soul-infused personality to various kinds of form—gross and subtle.

14. Khi suy nghĩ thêm về tác động của lửa chân thần lên và trong phàm ngã, chúng ta có thể mong đợi những sự buông bỏ và hy sinh đáng kể, cùng sự kích thích quyền năng trừu xuất, tức sự rút lui khỏi hình tướng. Điều bị thiêu đốt là những mối ràng buộc nối kết phàm ngã được linh hồn thấm nhuần và được chân thần thúc đẩy với các loại hình tướng khác nhau—thô và tế.

15. The Tibetan gives another angle on the fiery process through the following:

15. Chân sư Tây Tạng đưa ra một góc nhìn khác về tiến trình bốc lửa qua đoạn sau:

“Wording it otherwise, when the will aspect streams from the Monad and focusses through the personal will (as the mind can grasp and realise it) it destroys as by fire all elements of self-will.”

“Nói cách khác, khi phương diện ý chí tuôn chảy từ chân thần và tập trung qua ý chí cá nhân, theo mức thể trí có thể nắm bắt và nhận ra, nó hủy diệt như bằng lửa mọi yếu tố của ý chí cá nhân.”

What is “self-will”? It might be called personality determination. It is the reinforcement of personality desire. Self-will is a necessary phase of development and produces the strong personality. The consciousness normally associated with self-will is quite narrow (i.e., personal) and the larger more important objectives are not seen.

“Ý chí cá nhân” là gì? Có thể gọi đó là sự quyết tâm của phàm ngã. Đó là sự củng cố ham muốn của phàm ngã. Ý chí cá nhân là một giai đoạn phát triển cần thiết và tạo ra phàm ngã mạnh mẽ. Tâm thức thường liên hệ với ý chí cá nhân khá hẹp, tức mang tính cá nhân, và những mục tiêu lớn hơn, quan trọng hơn không được thấy.

16. As a technical differentiation, it is possible to have a personal will which is at the service of soul-will and monadic-will, and hence is not, strictly speaking, selfish “self-will”.

16. Như một sự phân biệt kỹ thuật, có thể có một ý chí cá nhân phục vụ cho ý chí linh hồn và ý chí chân thần, và vì thế, nói một cách nghiêm ngặt, không phải là “ý chí cá nhân” ích kỷ.

17. What is desirable is that personal will be absorbed or abstracted into soul-will, and that the will of the soul-infused personality be absorbed or abstracted into first triadal-will and then monadic will.

17. Điều đáng mong muốn là ý chí cá nhân được hấp thu hay trừu xuất vào ý chí linh hồn, và ý chí của phàm ngã được linh hồn thấm nhuần được hấp thu hay trừu xuất trước hết vào ý chí tam nguyên, rồi sau đó vào ý chí chân thần.

18. How, in other terms, is self-will destroyed? Perhaps though devaluation of its objectives. If, through the enlargement of consciousness conferred by soul/Triadal awareness, the objectives which self-will had sought to attain are revealed as relatively worthless (in the larger scheme of things), the energy previously given to that attainment will be withdrawn (a first ray technique) and transferred to the attainment of higher objectives suggested by the expanding consciousness—objectives, therefore, in line with a higher will.

18. Nói theo cách khác, ý chí cá nhân bị hủy diệt như thế nào? Có lẽ qua sự hạ giá trị các mục tiêu của nó. Nếu, nhờ sự mở rộng tâm thức do nhận biết linh hồn và Tam nguyên ban cho, các mục tiêu mà ý chí cá nhân từng tìm cách đạt đến được mặc khải là tương đối vô giá trị trong Thiên Cơ rộng lớn hơn, thì năng lượng trước kia dành cho sự đạt đến ấy sẽ được rút lại, một kỹ thuật cung một, và chuyển sang việc đạt đến những mục tiêu cao hơn do tâm thức đang mở rộng gợi ra—những mục tiêu, do đó, phù hợp với một ý chí cao hơn.

19. The point is that changes in the nature of the will which is employed are directly related to changes in consciousness.

19. Điểm cốt yếu là những thay đổi trong bản chất của ý chí được sử dụng có liên hệ trực tiếp với những thay đổi trong tâm thức.

20. Monadic impact comes with revelation; it is not just a blind energy. The consciousness expands vastly and begins to embrace the planet, the solar system and, eventually, that which lies beyond. Higher will impulsions are revealed to consciousness as the objectives of self-will are shown to be small and limiting. Will impulsions which are not one’s own (personally) sweep through the personality, which acquiesces and lays its quota of will energy at the disposal of these higher impulsions.

20. Tác động chân thần đến cùng với sự mặc khải; nó không chỉ là một năng lượng mù quáng. Tâm thức mở rộng vô cùng và bắt đầu bao gồm hành tinh, hệ mặt trời và cuối cùng là điều nằm xa hơn nữa. Những thôi thúc ý chí cao hơn được mặc khải cho tâm thức, khi các mục tiêu của ý chí cá nhân được cho thấy là nhỏ bé và giới hạn. Những thôi thúc ý chí không phải của chính mình theo nghĩa cá nhân quét qua phàm ngã; phàm ngã thuận theo và đặt phần năng lượng ý chí của mình dưới quyền sử dụng của những thôi thúc cao hơn ấy.

21. The simple language connected with such changes might be expressed as follows: “I don’t want to do those trivial things any more. I want to do something more meaningful, more significant, something which is better for the greater whole or the “Greater Good”.

21. Ngôn ngữ giản dị liên hệ với những thay đổi như vậy có thể được diễn tả như sau: “Tôi không còn muốn làm những việc tầm thường ấy nữa. Tôi muốn làm điều gì đó có ý nghĩa hơn, có thâm nghĩa hơn, điều gì đó tốt đẹp hơn cho toàn thể lớn hơn hay cho “Thiện Ích Lớn Lao”.”

22. When focussed action on behalf of the “Greater Good” is emerging within the personality, it is a sign that a higher form us will is taking control.

22. Khi hành động tập trung vì “Thiện Ích Lớn Lao” đang xuất hiện trong phàm ngã, đó là dấu hiệu cho thấy một hình thức ý chí cao hơn đang nắm quyền kiểm soát.

23. Another reason why the will of the Monad destroys self-will is that it is so much more intense, magnetic and arresting. We are all Spirits imbedded in matter. Deeply within ourselves we want to return to the state of Spirit and be free. When we come into the presence of a greater more commanding energy, the Spirit within us gravitates towards that greater energy and forsakes that which limiting (which does not mean we forsake that which is limited).

23. Một lý do khác khiến ý chí của chân thần hủy diệt ý chí cá nhân là vì nó mãnh liệt, từ tính và cuốn hút hơn rất nhiều. Tất cả chúng ta đều là những Tinh thần được cắm sâu trong vật chất. Sâu thẳm trong chính mình, chúng ta muốn trở về trạng thái Tinh thần và được tự do. Khi chúng ta bước vào hiện diện của một năng lượng lớn lao hơn và có uy lực hơn, Tinh thần trong chúng ta bị hút về năng lượng lớn hơn ấy và từ bỏ điều giới hạn, điều này không có nghĩa là chúng ta từ bỏ điều bị giới hạn.

24. What does it mean that the blazing light of the Monad is not focussed through the soul but directly upon the personality, and that the Will of Shamballa is not focussed through Hierarchy but directly upon humanity? Perhaps we might say that soul and Hierarchy have greater connection to form than Monad and Shamballa. Soul and Hierarchy represent a balanced way in which the needs of form and the needs of Spirit are both considered. Soul and Hierarchy force the issue, but with warmth and far more gently than Monad and Shamballa. When the soul and Hierarchy are no longer acting as intermediary buffering agencies between the will and the form, the opportunity for very rapid development of the form presents itself—but there is equally a possibility of destruction of form through the premature application of intense energies.

24. Điều đó có nghĩa gì khi ánh sáng rực cháy của chân thần không được tập trung qua linh hồn mà trực tiếp lên phàm ngã, và Ý Chí của Shamballa không được tập trung qua Thánh đoàn mà trực tiếp lên nhân loại? Có lẽ chúng ta có thể nói rằng linh hồn và Thánh đoàn có mối liên hệ lớn hơn với hình tướng so với chân thần và Shamballa. Linh hồn và Thánh đoàn biểu hiện một cách quân bình trong đó nhu cầu của hình tướng và nhu cầu của Tinh thần đều được xét đến. Linh hồn và Thánh đoàn thúc ép vấn đề, nhưng với sự ấm áp và dịu dàng hơn rất nhiều so với chân thần và Shamballa. Khi linh hồn và Thánh đoàn không còn hoạt động như những tác nhân trung gian đệm giảm giữa ý chí và hình tướng, cơ hội phát triển rất nhanh của hình tướng xuất hiện—nhưng cũng đồng thời có khả năng hình tướng bị hủy diệt do việc áp dụng sớm những năng lượng mãnh liệt.

25. We need to realize that Spirit unleashed is a destroyer of form. We are told that the Lives within Shamballa proceed with utmost caution in releasing the Shamballa Force upon Humanity for just this reason. (This means that They had better not think of us too often!) The individual disciple “making application” to his Monad is perhaps not so wise. Some types seek to “take the Kingdom of Heaven by storm” and become “occultly violent”. Their possibilities for advancement may, thereby, be greatly enhanced, but they may “destroy themselves” (really their “not-selves”) as well.

25. Chúng ta cần nhận ra rằng Tinh thần khi được phóng thích là kẻ hủy diệt hình tướng. Chúng ta được cho biết rằng các Sự Sống trong Shamballa tiến hành hết sức thận trọng khi phóng thích Mãnh Lực Shamballa lên Nhân loại chính vì lý do này. Điều này có nghĩa là Các Ngài tốt hơn hết không nên nghĩ đến chúng ta quá thường xuyên! Người đệ tử cá nhân “đệ đơn” lên chân thần của mình có lẽ không khôn ngoan đến thế. Một số loại người tìm cách “chiếm Thiên Giới bằng bão táp” và trở nên “mãnh liệt theo nghĩa huyền bí”. Nhờ đó, các khả năng tiến bộ của họ có thể được tăng cường rất nhiều, nhưng họ cũng có thể “hủy diệt chính mình”, thật ra là hủy diệt “phi-ngã” của họ.

26. Really, although the soul and Hierarchy are “by-passed” in these two types of transmission, there is no way to by-pass the energy of love. This is important to realize. The quality of love must have been absorbed by the personality from the soul if the will impact from the Triad/Monad is to be safely absorbed and effectively expressed. So, direct will impacts do not negate the necessity of the presence of love.

26. Thật ra, mặc dù linh hồn và Thánh đoàn bị “đi vòng qua” trong hai loại truyền dẫn này, không có cách nào đi vòng qua năng lượng của bác ái. Điều này rất quan trọng cần nhận ra. Phẩm tính bác ái phải được phàm ngã hấp thu từ linh hồn nếu tác động ý chí từ Tam nguyên và chân thần được hấp thu an toàn và biểu hiện hữu hiệu. Vì vậy, những tác động ý chí trực tiếp không phủ nhận sự cần thiết của sự hiện diện của bác ái.

27. Direct will impact is a great hastener. We seem to be at that point in planetary development when this hastening is needed. There are great risks in the hastening (risks to the form), but great potentials as well.

27. Tác động ý chí trực tiếp là một tác nhân thúc nhanh lớn lao. Dường như chúng ta đang ở điểm trong sự phát triển hành tinh khi sự thúc nhanh này là cần thiết. Có những rủi ro lớn trong sự thúc nhanh, những rủi ro đối với hình tướng, nhưng cũng có những tiềm năng lớn lao.

28. As we study these 28 Rules, we are exposing ourselves to the driving, hastening process. Our major safeguard is Loving-Understanding. Then, we can be lovingly-wise in our application of the intensified will we receive via the antahkarana.

28. Khi nghiên cứu hai mươi tám Quy Luật này, chúng ta đang tự đặt mình trước tiến trình thúc đẩy và thúc nhanh. Sự bảo vệ chính của chúng ta là Minh Triết-Bác Ái. Khi ấy, chúng ta có thể minh triết trong bác ái khi áp dụng ý chí được tăng cường mà chúng ta tiếp nhận qua antahkarana.

29. Every student can make application of these principles to himself or herself.

29. Mỗi môn sinh đều có thể áp dụng những nguyên lý này cho chính mình.

30. From yet another perspective, the Tibetan says the following:

30. Từ một viễn cảnh khác nữa, Chân sư Tây Tạng nói như sau:

“When the antahkarana of a group is rightly constructed, then the individualised group-will will disappear in the full consciousness of the monadic purpose or clear directed will.”

“Khi antahkarana của một nhóm được kiến tạo đúng đắn, ý chí nhóm đã biệt ngã hóa sẽ biến mất trong tâm thức trọn vẹn về mục đích chân thần hay ý chí được định hướng rõ ràng.”

Note, that now we are discussing the group antahkarana. It is the responsibility of every group participant to build his own antahkarana; with this task, we are engaged, and many have been so engaged for years. Only when this has been relatively completed by the majority of group participants, can the group antahkarana be said to exist.

Hãy lưu ý rằng giờ đây chúng ta đang bàn về antahkarana của nhóm. Mỗi người tham dự nhóm có trách nhiệm kiến tạo antahkarana của chính mình; với nhiệm vụ này, chúng ta đang tham dự, và nhiều người đã tham dự như vậy trong nhiều năm. Chỉ khi đa số người tham dự nhóm đã hoàn tất tương đối điều này, mới có thể nói rằng antahkarana nhóm hiện hữu.

31. What will be the evidences that the group antahkarana rightly constructed? Simply—

31. Những bằng chứng nào cho thấy antahkarana nhóm được kiến tạo đúng đắn? Đơn giản là—

a. The group mind will evidence the capacity for abstract thinking. The group will think in broad terms, free from the usual illusions; free from the influence of the group personality.

a. Thể trí nhóm sẽ biểu lộ khả năng tư duy trừu tượng. Nhóm sẽ suy nghĩ bằng những thuật ngữ rộng lớn, thoát khỏi các ảo tưởng thông thường; thoát khỏi ảnh hưởng của phàm ngã nhóm.

b. Group love will be a real and noticeable factor, and will sweep across the world, inclusively embracing many individuals and groups.

b. Tình thương nhóm sẽ là một yếu tố thực sự và đáng chú ý, và sẽ quét qua thế giới, bao gồm và ôm trọn nhiều cá nhân và nhóm.

c. The group will be undeflectable in its ashramically-aligned will. The note of group purpose will be sounding strongly and beautifully, and all group members will be vibrating in harmony or unison with that note.

c. Nhóm sẽ không thể bị làm lệch hướng trong ý chí đã chỉnh hợp với ashram. Âm điệu của mục đích nhóm sẽ vang lên mạnh mẽ và đẹp đẽ, và mọi thành viên nhóm sẽ rung động hài hòa hay đồng nhất với âm điệu ấy.

32. The Tibetan closes the paragraph under discussion by telling us how important is the information He has just imparted—how necessary for both individual and groups as they prepare for initiation. Note here that even Ashrams are preparing for initiation.

32. Chân sư Tây Tạng kết thúc đoạn đang bàn bằng cách cho chúng ta biết thông tin Ngài vừa truyền đạt quan trọng đến mức nào—cần thiết ra sao cho cả cá nhân lẫn các nhóm khi họ chuẩn bị cho điểm đạo. Hãy lưu ý ở đây rằng ngay cả các Ashram cũng đang chuẩn bị cho điểm đạo.

33. The way to prepare for the higher initiations is to work with the will. All the way up the Ladder of Initiation, the formula for advancement is “Thy Will be Done”.

33. Cách chuẩn bị cho các cuộc điểm đạo cao hơn là làm việc với ý chí. Suốt trên Thang Điểm Đạo, công thức cho sự tiến bộ là “Ý Chí của Ngài được thực hiện”.

34. The secret revealed to the advancing initiate is that Thy will is really My will. There is no “My soul and Thine”, and, fundamentally, there is no “My will and Thy will”. There is only One Will, and the various strata of the will of any self-conscious entity are all subsumed under that One Will.

34. Bí nhiệm được mặc khải cho điểm đạo đồ đang tiến tới là Ý Chí của Ngài thật ra là ý chí của Tôi. Không có “linh hồn của tôi và linh hồn của Ngài”, và, về căn bản, không có “ý chí của tôi và Ý Chí của Ngài”. Chỉ có Một Ý Chí, và những tầng lớp khác nhau của ý chí nơi bất kỳ thực thể có ngã thức nào đều được bao hàm trong Một Ý Chí ấy.

35. In the early days, each new aspect of will encountered my seem an alien will. This perception changes when that apparently alien will is done, performed. The alien will is then discovered to be intimate to one’s inmost Self.

35. Trong những ngày đầu, mỗi phương diện mới của ý chí mà ta gặp có thể dường như là một ý chí xa lạ. Nhận thức này thay đổi khi ý chí có vẻ xa lạ ấy được thực hiện, thi hành. Khi ấy, người ta phát hiện rằng ý chí xa lạ ấy lại mật thiết với Bản Ngã sâu kín nhất của mình.

H. The trained use of the higher will (cf. RI, p. 30)

H. Việc sử dụng có huấn luyện ý chí cao siêu hơn (xem RI, tr. 30)

Shamballic will (cf. RI, p. 30)

Ý chí Shamballa (xem RI, tr. 30)

The Way into Shamballa (cf. RI, p. 30)

Con Đường vào Shamballa (xem RI, tr. 30)

“The secret of the higher initiations lies in the trained use of the higher will. It does not lie in purification or in self-discipline or in any of the expedients which have acted in the past as interceptors of the truth. This whole problem of the Shamballic will is in process of revelation, and will eventually alter the entire approach of the disciple in the New Age to initiation. The theme of “the Way into Shamballa” requires reflective study and esoteric understanding. In this concept of the new and future section (if I may so call it) of the Way or Path with which the modern disciple is faced lies the secret of the coming revelation and of the spiritual dispensation which will emerge as humanity constructs the new world civilisation and begins to formulate the new culture. The burning, purifying, destructive effects of the monadic will upon its distorted reflection, the individual will, deeply deserves consideration.

“Bí mật của các cuộc điểm đạo cao nằm trong việc sử dụng có huấn luyện ý chí cao siêu hơn. Nó không nằm trong sự thanh luyện, trong kỷ luật bản thân, hay trong bất kỳ phương tiện nào từng hoạt động trong quá khứ như những vật chặn bắt chân lý. Toàn bộ vấn đề về ý chí Shamballa này đang trong tiến trình mặc khải, và cuối cùng sẽ làm thay đổi toàn bộ cách tiếp cận của đệ tử trong Kỷ Nguyên Mới đối với điểm đạo. Chủ đề “Con Đường vào Shamballa” đòi hỏi sự nghiên cứu suy tư và thấu hiểu huyền bí. Trong khái niệm này về phần mới và tương lai, nếu Tôi có thể gọi như thế, của Con Đường hay Đạo Lộ mà đệ tử hiện đại đang đối diện, có bí mật của mặc khải sắp đến và của thiên ân tinh thần sẽ xuất hiện khi nhân loại xây dựng nền văn minh thế giới mới và bắt đầu định hình nền văn hóa mới. Những hiệu quả thiêu đốt, thanh luyện, phá hủy của ý chí chân thần đối với phản chiếu méo mó của nó là ý chí cá nhân, rất đáng được suy xét sâu xa.

Points to Consider in Relation to the Above Paragraph

Những Điểm Cần Suy Xét Liên Quan Đến Đoạn Trên

1. We are told that the “secret of the higher initiations lies in the trained use of the higher will”. What is this “trained use”? Training is a repetitive process for inducing willful control.

1. Chúng ta được bảo rằng “bí mật của các cuộc điểm đạo cao nằm trong việc sử dụng có huấn luyện ý chí cao siêu hơn”. “Việc sử dụng có huấn luyện” này là gì? Huấn luyện là một tiến trình lặp đi lặp lại nhằm tạo ra sự kiểm soát có ý chí.

2. Under the regime of higher initiations, initiate finds himself identifying with ever greater wholes. The trained will is used to disidentify with and even sever from lesser wholes in which the initiate had been immersed.

2. Dưới chế độ của các cuộc điểm đạo cao, điểm đạo đồ thấy mình đồng hoá với những tổng thể ngày càng lớn hơn. Ý chí đã được huấn luyện được dùng để thôi đồng hoá với, và thậm chí tách khỏi, những tổng thể nhỏ hơn mà điểm đạo đồ đã từng đắm chìm trong đó.

3. By using the higher will, the energy of the next greater whole can begin to flow through the initiate’s energy system, and he thus becomes an agent of that next greater whole into which he is being absorbed. Disengagement from the lower must precede absorption into the higher. The trained use of the higher will ensures this disengagement and absorption/identification.

3. Bằng cách sử dụng ý chí cao siêu hơn, năng lượng của tổng thể lớn hơn kế tiếp có thể bắt đầu tuôn chảy qua hệ thống năng lượng của điểm đạo đồ, và do đó y trở thành tác nhân của tổng thể lớn hơn kế tiếp ấy, tổng thể mà y đang được hấp thụ vào. Sự thoát ly khỏi cái thấp phải đi trước sự hấp thụ vào cái cao. Việc sử dụng có huấn luyện ý chí cao siêu hơn bảo đảm sự thoát ly và sự hấp thụ/đồng hoá này.

4. The secret of the higher initiations does not lie in purification or in self-discipline or in any of the expedients which have acted in the past as interceptors of the truth.

4. Bí mật của các cuộc điểm đạo cao không nằm trong sự thanh luyện, trong kỷ luật bản thân, hay trong bất kỳ phương tiện nào từng hoạt động trong quá khứ như những vật chặn bắt chân lý.

By now we should recognized that the ordinary purifications and disciplines necessitated upon the Path of Probation do not apply to the training for the higher initiations—they are simply assumed to be in effect as an unconscious part of the candidate’s approach to living. The Tibetan is here suggesting that too much attention has been given to these lower disciplines and purifications (necessary as they are). There has been a preoccupation with them (prolonged beyond usefulness) and the greater truths have been intercepted or deflected.

Đến nay, chúng ta nên nhận ra rằng những sự thanh luyện và kỷ luật thông thường cần thiết trên Con Đường Dự Bị không áp dụng cho việc huấn luyện hướng đến các cuộc điểm đạo cao; chúng chỉ đơn giản được giả định là đang có hiệu lực như một phần vô thức trong cách ứng xử với đời sống của ứng viên. Ở đây, Chân sư Tây Tạng gợi ý rằng đã có quá nhiều chú ý dành cho những kỷ luật và thanh luyện thấp này, dù chúng cần thiết. Người ta đã quá bận tâm với chúng, kéo dài quá mức hữu ích, và các chân lý lớn lao hơn đã bị chặn bắt hoặc làm lệch hướng.

5. It is, however, only safe to concentrate upon the higher disciplines (the training for the use of the higher will) once the foundational disciplines and purifications are in place and effective. We all can assess where we stand.

5. Tuy nhiên, chỉ an toàn khi tập trung vào những kỷ luật cao hơn, tức việc huấn luyện để sử dụng ý chí cao siêu hơn, một khi các kỷ luật và thanh luyện nền tảng đã được thiết lập và có hiệu quả. Tất cả chúng ta đều có thể tự đánh giá mình đang đứng ở đâu.

6. The Tibetan emphasizes the importance of the theme, “The Way into Shamballa”. At one point, he assigned one of His students the task of writing on this theme, but the student ignored the advice and missed a great opportunity. It is theme we all could well ponder.

6. Chân sư Tây Tạng nhấn mạnh tầm quan trọng của chủ đề “Con Đường vào Shamballa”. Có lần, Ngài giao cho một trong các môn sinh của Ngài nhiệm vụ viết về chủ đề này, nhưng người môn sinh ấy đã phớt lờ lời khuyên và bỏ lỡ một cơ hội lớn. Đây là chủ đề mà tất cả chúng ta rất nên suy ngẫm.

7. It is not that individually or as a group we stand before the Ramparts of the Shamballa. We do not. Masters of the fifth degree are learning so to stand, and even They are not full members of Shamballa. We can, however, make the Spiritual Will and the Divine Will themes of our meditative thought, and we can seek to find those great willful impulsions (emanating from higher Centers of Will), and align our lives with them. Of course, to do so, we must recognize them, and thus, as task of discrimination is presented to us all.

7. Không phải là cá nhân hay như một nhóm, chúng ta đang đứng trước Thành Lũy của Shamballa. Chúng ta không đứng ở đó. Các Chân sư bậc năm đang học cách đứng như thế, và ngay cả Các Ngài cũng chưa phải là thành viên trọn vẹn của Shamballa. Tuy nhiên, chúng ta có thể lấy Ý Chí Tinh Thần và Ý Chí thiêng liêng làm chủ đề cho tư tưởng tham thiền của mình, và có thể tìm kiếm những xung lực ý chí lớn lao ấy, vốn xuất lộ từ các Trung Tâm Ý Chí cao hơn, rồi chỉnh hợp đời sống của mình với chúng. Dĩ nhiên, để làm như vậy, chúng ta phải nhận ra chúng, và do đó một nhiệm vụ phân biện được đặt ra cho tất cả chúng ta.

8. The “Way into Shamballa” is, for practical purpose, the ‘Way into our own Monad’. This “Way” requires that we carefully build and use the antahkarana, and, in general, learn to think and act in wider terms.

8. “Con Đường vào Shamballa”, xét về mặt thực tiễn, là “Con Đường vào chính chân thần của chúng ta”. “Con Đường” này đòi hỏi chúng ta phải cẩn thận xây dựng và sử dụng antahkarana, và nói chung, học cách suy nghĩ và hành động trong những phạm vi rộng lớn hơn.

9. The one who has learned daily to hold the welfare of the entire planet in his consciousness for at least a few significant moments is already on his way.

9. Người nào hằng ngày đã học cách giữ phúc lợi của toàn thể hành tinh trong tâm thức mình ít nhất vài khoảnh khắc có ý nghĩa, thì người ấy đã ở trên đường rồi.

10. It is essential to remember that will without love will never allow one to tread the Way to Shamballa. None of us is full members of the Hierarchy, and love opens the door to Hierarchy. Only the members of Hierarchy are candidates for entry into Shamballa. The implications are clear.

10. Điều cốt yếu là phải nhớ rằng ý chí mà không có tình thương sẽ không bao giờ cho phép người ta bước trên Con Đường đến Shamballa. Không ai trong chúng ta là thành viên trọn vẹn của Thánh đoàn, và tình thương mở cánh cửa vào Thánh đoàn. Chỉ các thành viên của Thánh đoàn mới là ứng viên để bước vào Shamballa. Những hàm ý ở đây rất rõ ràng.

11. Further, God’s Will is Love. This is true of both the Planetary Logos and the Solar Logos—both of Whom has a second ray soul.

11. Hơn nữa, Ý Chí của Thượng đế chính là Tình thương. Điều này đúng với cả Hành Tinh Thượng đế lẫn Thái dương Thượng đế, cả hai Đấng đều có linh hồn cung hai.

12. Shamballa is, upon this planet, the “Good”. If through love we can bring out the good in others and in ourselves, we are treading that Way.

12. Shamballa, trên hành tinh này, là “Thiện”. Nếu qua tình thương, chúng ta có thể làm hiển lộ điều thiện nơi người khác và nơi chính mình, thì chúng ta đang bước trên Con Đường ấy.

13. The Tibetan tells us how important will be the theme of Shamballa for the future culture and civilization. We are thereby enjoined to think beyond Hierarchy, even though, for practical purposes, our task is to fit ourselves to become members of the Hierarchy. In this case, our “reach” certainly exceeds our “grasp”—but such are the requirements for discipleship training in the New Age.

13. Chân sư Tây Tạng cho chúng ta biết chủ đề Shamballa sẽ quan trọng biết bao đối với văn hóa và văn minh tương lai. Nhờ đó, chúng ta được thúc giục suy nghĩ vượt ngoài Thánh đoàn, mặc dù về mặt thực tiễn, nhiệm vụ của chúng ta là làm cho mình thích hợp để trở thành thành viên của Thánh đoàn. Trong trường hợp này, “tầm vươn” của chúng ta chắc chắn vượt quá “tầm nắm bắt” của chúng ta, nhưng đó chính là những yêu cầu của việc huấn luyện địa vị đệ tử trong Kỷ Nguyên Mới.

Master Morya has suggested wearing away irritation (Imperil) through “cosmic perception”. Thus are the distortions of the myopic personality ended. The soul has been called the reflection of the Monad and the personality is its shadow (and that shadow is distorted). Yet, in a way, Spirit and matter have some points in common, and within the personality is to be found an analogy to the Spirit. Both are “Number One”—the Monad in a vast sense, and the personality in a limited egoistic sense.

Chân sư Morya đã gợi ý việc bào mòn sự cáu kỉnh, tức chất độc kích ứng, bằng “tri giác vũ trụ”. Nhờ vậy, những méo mó của phàm ngã thiển cận chấm dứt. Linh hồn đã được gọi là phản chiếu của chân thần, và phàm ngã là bóng của nó, và cái bóng ấy thì méo mó. Tuy vậy, theo một cách nào đó, Tinh thần và vật chất có vài điểm chung, và trong phàm ngã có thể tìm thấy một tương đồng với Tinh thần. Cả hai đều là “Số Một”: chân thần theo nghĩa bao la, và phàm ngã theo nghĩa ích kỷ hạn hẹp.

Well might we ask if the monadic energy is at all effective in our personality lives, or even sensed? A corollary to this question is “How large is our consciousness?” “How broadly do we think and envision?” It is clear that by use of the second aspect of divinity (i.e., through the expansion of consciousness) we are making initial application to the understanding and utilization of the will and purpose of the Monad—the first aspect. If the candidate to the higher initiations can leave the part behind for the sake of the whole, he is on the way. If we (with unconscious selfishness) seek to leave the part behind for the sake of but a different part (the part which he, personally, is), he is not treading the Way into Shamballa, and true monadic awareness is still, for him, remote. It is possible for people to renounce aspects of life for the purpose of feeding their own pride! deepest desires one begins to find will.

Chúng ta rất nên tự hỏi liệu năng lượng chân thần có chút hiệu quả nào trong đời sống phàm ngã của mình hay không, hoặc thậm chí có được cảm nhận không. Một hệ luận của câu hỏi này là: “Tâm thức của chúng ta lớn đến đâu?” “Chúng ta suy nghĩ và hình dung rộng đến mức nào?” Rõ ràng là bằng cách sử dụng phương diện thứ hai của thiên tính, tức qua sự mở rộng tâm thức, chúng ta đang khởi sự áp dụng vào việc thấu hiểu và sử dụng ý chí cùng mục đích của chân thần, tức phương diện thứ nhất. Nếu ứng viên cho các cuộc điểm đạo cao có thể bỏ phần lại phía sau vì toàn thể, thì y đang ở trên đường. Nếu chúng ta, với lòng ích kỷ vô thức, tìm cách bỏ phần lại phía sau chỉ vì một phần khác, phần mà cá nhân y , thì y không bước trên Con Đường vào Shamballa, và nhận biết chân thần đích thực vẫn còn xa vời đối với y. Người ta có thể từ bỏ các phương diện của đời sống nhằm nuôi dưỡng chính lòng kiêu hãnh của mình! Trong những ước muốn sâu kín nhất, người ta bắt đầu tìm thấy ý chí.

I. The assimilation of the individual will and the egoic will into the purpose of the Monad which is the purpose — undeviating and unalterable — of the One in Whom we live and move and have our being (cf. RI, p. 31)

I. Sự đồng hóa ý chí cá nhân và ý chí chân ngã vào mục đích của chân thần, vốn là mục đích — không lệch hướng và không thể đổi thay — của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện tồn (xem RI, tr. 31)

“For long, aspirants have noted and have been taught the effect of the will upon the astral, or emotional body. It [Page 31] is one of the primary and most elementary of the initial tensions, and is taught upon the Probationary Path. It leads to the purifying and the re-organising of the entire psychic and emotional life, as the result of its destructive action. “If you will only think,” “if you will only use a little will,” and “if you will only remember that you have a mind,” we say to the children of the race and to beginners upon the Path of conscious Return. Little by little, then, the focus and the orientation shift out of the astral life and from the emotional level of consciousness into the mental, and consequently into the reflection of the world of purpose, found in the three worlds. When that stage has been somewhat developed, then there follows, upon the Path of Discipleship and of preparation for initiation, an effort to grasp and understand the higher aspects of this mental process, and the will aspect of the egoic life begins to influence the disciple. The “petals of sacrifice” unfold and the sacred sacrificial aspect of life is revealed in its beauty, purity, simplicity and in its revolutionising quality. Upon the Path of Initiation, the monadic will (of which the egoic will is the reflection and the individual self-will is the distortion) is gradually transmitted, via the antahkarana, direct to the man upon the physical plane. This produces the higher correspondence of those qualities so glibly spoken of by the well-trained but dense esotericist—transmutation and transformation. The result is the assimilation of the individual will and the egoic will into the purpose of the Monad which is the purpose—undeviating and unalterable—of the One in Whom we live and move and have our being. This is the field of the true burning, for our “God is a consuming Fire.” This is the burning bush or the burning tree of life of Biblical symbolism. This highest of all the fires, this deeply spiritual and hitherto seldom recognised burning-ground, has its effects summed up for us in the next phrase or sentence of Rule I

“Từ lâu, những người chí nguyện đã ghi nhận và đã được dạy về tác động của ý chí đối với thể cảm dục, hay thể cảm xúc. Nó [Trang 31] là một trong những sức căng sơ khởi căn bản nhất và đơn giản nhất, và được giảng dạy trên Con Đường Dự Bị. Nó đưa đến sự thanh luyện và tái tổ chức toàn bộ đời sống thông linh và cảm xúc, như kết quả của tác động phá hủy của nó. “Giá như các bạn chịu suy nghĩ”, “giá như các bạn chịu dùng một chút ý chí”, và “giá như các bạn nhớ rằng các bạn có một thể trí”, chúng ta nói với những người con của nhân loại và với những người sơ cơ trên Con Đường Trở Về có ý thức. Khi ấy, từng chút một, tiêu điểm và định hướng chuyển ra khỏi đời sống cảm dục và khỏi cấp độ cảm xúc của tâm thức để đi vào trí tuệ, và do đó đi vào phản chiếu của thế giới mục đích được tìm thấy trong ba cõi thấp. Khi giai đoạn ấy đã phát triển phần nào, thì trên Con Đường Đệ Tử và trong sự chuẩn bị cho điểm đạo, tiếp theo là nỗ lực nắm bắt và thấu hiểu các phương diện cao hơn của tiến trình trí tuệ này, và phương diện ý chí của đời sống chân ngã bắt đầu ảnh hưởng đến đệ tử. Các “cánh hoa hi sinh” khai mở, và phương diện hi sinh thiêng liêng của đời sống được mặc khải trong vẻ đẹp, sự tinh khiết, sự đơn giản và phẩm tính cách mạng hóa của nó. Trên Con Đường Điểm Đạo, ý chí chân thần, mà ý chí chân ngã là phản chiếu và ý chí cá nhân là sự méo mó, dần dần được truyền, qua antahkarana, trực tiếp đến con người trên cõi hồng trần. Điều này tạo ra tương ứng cao hơn của những phẩm tính mà nhà bí truyền học đã được huấn luyện nhưng còn đậm đặc thường nói quá dễ dàng: chuyển hoá và chuyển đổi. Kết quả là sự đồng hóa ý chí cá nhân và ý chí chân ngã vào mục đích của chân thần, vốn là mục đích—không lệch hướng và không thể đổi thay—của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện tồn. Đây là lĩnh vực của sự thiêu đốt đích thực, vì “Thượng đế của chúng ta là Lửa thiêu đốt”. Đây là bụi gai cháy hay cây sự sống bừng cháy trong biểu tượng Kinh Thánh. Cao nhất trong mọi loại lửa này, vùng đất cháy tinh thần sâu xa này, cho đến nay hiếm khi được nhận ra, có các hiệu quả được tóm lược cho chúng ta trong cụm từ hay câu kế tiếp của Quy Luật I

1. The Tibetan speaks upon the effect of will upon the astral body “purifying and the re-organising of the entire psychic and emotional life, as the result of its destructive action.” What happens? Simply, outgoing streams of desire towards that which is not willed are either stopped and/or redirected to that which is willed.

1. Chân sư Tây Tạng nói về tác động của ý chí đối với thể cảm dục, “thanh luyện và tái tổ chức toàn bộ đời sống thông linh và cảm xúc, như kết quả của tác động phá hủy của nó.” Điều gì xảy ra? Nói đơn giản, những dòng dục vọng tuôn ra hướng đến điều không được muốn bằng ý chí hoặc bị chặn lại, hoặc được chuyển hướng đến điều được muốn bằng ý chí.

2. When will is applied to mind, certain patterns of thought are emphasized and stabilized, and other unwilled patterns of thought are ‘cancelled’, not allowed.

2. Khi ý chí được áp dụng vào thể trí, một số mô hình tư tưởng được nhấn mạnh và ổn định, còn những mô hình tư tưởng không được ý chí chấp nhận khác bị “hủy bỏ”, không được cho phép.

3. So we see that through sending energy in certain ‘directions’ and preventing from traveling other ‘directions’, will can reorganize restructure the psychic, emotional also mental life. Very simply, organizes fields ways are different to previous conditioning of those fields.>

3. Do đó, chúng ta thấy rằng bằng cách gửi năng lượng theo một số “hướng” nhất định và ngăn không cho nó đi theo những “hướng” khác, ý chí có thể tái tổ chức, tái cấu trúc đời sống thông linh, cảm xúc và cả trí tuệ. Rất đơn giản, nó tổ chức các trường theo những cách khác với sự tác động trước đó lên các trường ấy.

4. It is interesting that the mental life is the “reflection of purpose in the three worlds”. There is a definite link between mind, will and purpose. The mind becomes an instrument of control within the lower worlds. Mind (as a carrier of will) can even be used to control its own activities.

4. Điều thú vị là đời sống trí tuệ là “phản chiếu của mục đích trong ba cõi thấp”. Có một liên kết xác định giữa thể trí, ý chí và mục đích. Thể trí trở thành một khí cụ kiểm soát trong các cõi thấp. Thể trí, như một vật mang ý chí, thậm chí có thể được dùng để kiểm soát chính các hoạt động của nó.

5. In the first of the paragraphs immediately above, the Tibetan is taking us through a sequence of development of the will.

5. Trong đoạn đầu tiên ngay phía trên, Chân sư Tây Tạng đang dẫn chúng ta qua một chuỗi phát triển của ý chí.

6. It should be noted that the “higher aspects of mental life” are related to will aspect Ego. This is beginning wisdom. higher mind generalizes from many concrete instances, and learns which patterns thought behavior progressive wise, not.

6. Cần lưu ý rằng “các phương diện cao hơn của đời sống trí tuệ” liên hệ với phương diện ý chí của Chân ngã. Đây là sự khởi đầu của minh triết. Thượng trí khái quát từ nhiều trường hợp cụ thể, và học biết những mô hình tư tưởng và hành vi nào là tiến bộ, minh triết, và những mô hình nào thì không.

7. The will of the Ego always impels towards sacrifice—a process which renders lunar life sacred. Sacrifice, as we have been taught, means to “make sacred”.

7. Ý chí của Chân ngã luôn thúc đẩy hướng đến hi sinh, một tiến trình khiến đời sống nguyệt tinh trở nên thiêng liêng. Hi sinh, như chúng ta đã được dạy, có nghĩa là “làm cho thiêng liêng”.

8. It is interesting that the sacred, sacrificial aspect of life considered not only beautiful, pure and simple, but revolutionary. Why is sacrifice revolutionary? Well, it certainly represents the incarnated Spirit in the act of “swimming upstream”. It represents a great reversal of energy, through a reorientation and transformation of desire. Many revolutions are simply overthrows with no real change in quality. The revolutionary quality of sacrifice, however, might be called ‘the giving which is freeing’. Sacrifice cuts athwart desire, Desire and sacrifice can be considered opposites. Spiritual will and sacrifice are virtually the same.

8. Điều thú vị là phương diện thiêng liêng, hi sinh của đời sống không chỉ được xem là đẹp, tinh khiết và đơn giản, mà còn cách mạng. Tại sao hi sinh lại có tính cách mạng? Chắc chắn nó biểu hiện Tinh thần đang lâm phàm trong hành động “bơi ngược dòng”. Nó biểu hiện một sự đảo chiều lớn lao của năng lượng, thông qua sự định hướng lại và chuyển đổi dục vọng. Nhiều cuộc cách mạng chỉ đơn giản là những cuộc lật đổ mà không có thay đổi thực sự về phẩm tính. Tuy nhiên, phẩm tính cách mạng của hi sinh có thể được gọi là “sự cho đi vốn giải phóng”. Hi sinh cắt ngang dục vọng. Dục vọng và hi sinh có thể được xem là đối cực. Ý chí tinh thần và hi sinh hầu như là một.

9. For those for whom the thought is new, the “sacrifice petals” of the Egoic Lotus are the third tier of petals (or energy vortices) in that energy structure upon the higher mental plane called by esotericists the causal body or Egoic Lotus.

9. Đối với những ai mới gặp tư tưởng này, “các cánh hoa hi sinh” của Hoa Sen Chân Ngã là tầng cánh hoa thứ ba, hay các xoáy năng lượng, trong cấu trúc năng lượng trên Cõi thượng trí mà các nhà bí truyền học gọi là thể nguyên nhân hay Hoa Sen Chân Ngã.

10. We learn that egoic will is a “reflection” of the monadic and personality its “distortion”. reflection still faithfully preserves form reflected object, though intensity object greatly reduced because appears in medium characterized by lower energy than which exists. “distortion” neither nor original object. It clear illusion, glamor maya are forces >distort (which really means, “to twist out of shape”)

10. Chúng ta học biết rằng ý chí chân ngã là một “phản chiếu” của ý chí chân thần, còn ý chí phàm ngã là “sự méo mó” của nó. Một phản chiếu vẫn trung thành giữ lại hình dạng của vật được phản chiếu, dù cường độ của vật ấy bị giảm rất nhiều vì nó xuất hiện trong một môi trường được đặc trưng bởi năng lượng thấp hơn môi trường nơi vật ấy tồn tại. “Sự méo mó” thì không phải như vậy, cũng không trung thành với nguyên vật. Rõ ràng ảo tưởng, ảo cảm và ảo lực là những mãnh lực làm méo mó, điều thực ra có nghĩa là “làm vặn lệch khỏi hình dạng”

11. It is interesting to realize that monadic will lies behind transmutation and transformation. Transmutation improves the quality of matter itself. Transformation creates in a lower medium those forms which are harmonious with forms in a higher medium. The transformed form, thus, resonates to the higher form which it seeks to approximate.

11. Thật thú vị khi nhận ra rằng ý chí chân thần nằm phía sau sự chuyển hoá và chuyển đổi. Chuyển hoá cải thiện phẩm tính của chính vật chất. Chuyển đổi tạo ra trong một môi trường thấp những hình tướng hài hòa với các hình tướng trong một môi trường cao hơn. Như vậy, hình tướng được chuyển đổi cộng hưởng với hình tướng cao hơn mà nó tìm cách tiệm cận.

12. In order for transmutation and transformation to occur, a condition of >excitation must be produced. The Monad is essential fire, and its transmission along the antahkarana carries this fire into the realm of matter and form, and creates those progressive activations, stimulations and rearrangements which are called by the terms “transmutation” and “transformation”.

12. Để chuyển hoá và chuyển đổi xảy ra, phải tạo ra một trạng thái kích hoạt. Chân thần là Lửa cốt yếu, và sự truyền dẫn của nó dọc theo antahkarana mang Lửa này vào lãnh vực vật chất và hình tướng, tạo ra những sự hoạt hóa, kích thích và tái sắp xếp tiến bộ được gọi bằng các thuật ngữ “chuyển hoá” và “chuyển đổi”.

13. Matter and form are not the same. Matter is built into form. Form is of a higher order than matter. Transmutation is related to the reconditioning of matter. Transformation is related to the beneficial alteration of form. It is possible to have transmuted matter within a vehicle of expression which is not transformed. Transfiguration lies beyond them both.

13. Vật chất và hình tướng không giống nhau. Vật chất được xây dựng thành hình tướng. Hình tướng thuộc một trật tự cao hơn vật chất. Chuyển hoá liên hệ với việc tác động lại lên vật chất. Chuyển đổi liên hệ với sự biến cải hữu ích của hình tướng. Có thể có vật chất đã được chuyển hoá bên trong một vận cụ biểu hiện chưa được chuyển đổi. Biến hình nằm vượt trên cả hai.

14. It is worth pondering on this definition of the purpose of the Monad: it is “the purpose—undeviating and unalterable—of the One in Whom we live and move and have our being.” Thus, we see that the Monad is not “individual” in any isolated sense. There may be sixty billion human Monads, but if the personality extension of each Monad achieves a recognition of monadic purpose, each extension will be recognizing but one purpose—that of the “One in Whom we live and move and have our being”.

14. Rất đáng suy ngẫm về định nghĩa này của mục đích chân thần: đó là “mục đích—không lệch hướng và không thể đổi thay—của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện tồn.” Như vậy, chúng ta thấy rằng chân thần không “cá nhân” theo bất kỳ nghĩa cô lập nào. Có thể có sáu mươi tỷ chân thần nhân loại, nhưng nếu phần mở rộng phàm ngã của mỗi chân thần đạt đến sự nhận biết mục đích chân thần, thì mỗi phần mở rộng sẽ chỉ nhận biết một mục đích, mục đích của “Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện tồn”.

15. In occultism, the greater always includes the lesser. The two lesser forms of will—personal and egoic—are assimilated into the Purpose of the Monad. Notice the word “assimilated” because it suggests that the potency and skill of these lower forms of will is not lost, but simply, become a well-coordinated part of a higher will.

15. Trong huyền bí học, cái lớn hơn luôn bao gồm cái nhỏ hơn. Hai hình thức thấp hơn của ý chí, cá nhân và chân ngã, được đồng hóa vào Mục đích của chân thần. Hãy chú ý từ “đồng hóa”, vì nó gợi ý rằng quyền năng và kỹ năng của những hình thức ý chí thấp này không bị mất đi, mà chỉ trở thành một phần được phối hợp tốt của một ý chí cao hơn.

16. Notice the words “undeviating” and “unalterable”—effectively straight and changeless. We can see how much the principle of certainty is characteristic of the will. By the time one can wield Spiritual Will, one has passed through the buddhic stage of “straight knowledge” and “infallible intuitive perception”. Deviations are caused by confusion of consciousness. Once the buddhic plane (the plane immediately ‘below’ that of the Spiritual Will—the atmic) is assimilated, certainty is established and there is no longer any reason to vary one’s chosen direction.

16. Hãy chú ý các từ “không lệch hướng” và “không thể đổi thay”, thực chất là thẳngbất biến. Chúng ta có thể thấy nguyên khí xác tín đặc trưng cho ý chí đến mức nào. Đến khi một người có thể vận dụng Ý Chí Tinh Thần, người ấy đã đi qua giai đoạn Bồ đề của “tri thức trực tiếp” và “tri giác trực giác không sai lầm”. Những lệch hướng do sự rối loạn của tâm thức gây ra. Một khi cõi Bồ đề, cõi ngay “bên dưới” cõi của Ý Chí Tinh Thần là cõi atma, đã được đồng hóa, sự xác tín được thiết lập và không còn lý do nào để thay đổi phương hướng đã chọn.

17. The “One in Whom we live and move and have our being” has been called the “field of true burning”. “Our God is a consuming fire”, and “God is Love” also. We burn within the field of Divine Love. These fires definitely exist, although we may remain profoundly unaware of them. We are protected from premature exposure to the Fire of Love, because it would certainly destroy the unprepared personality. This may seem a strange thought—that Love could destroy, that Beauty could destroy—but so it is. A field of harmony, beauty and love, higher by far than a lesser field, will destroy that lesser field if the lesser field is unprepared for direct exposure. For love, beauty and harmony are inherently magnetic, and their magnetism will exert a powerful attractive force upon the constituents of the lesser field, pulling them out of coherence, and fatally disorganizing them. This thought could be pondered with profit.

17. “Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện tồn” đã được gọi là “lĩnh vực của sự thiêu đốt đích thực”. “Thượng đế của chúng ta là Lửa thiêu đốt”, và “Thượng đế là Tình thương” nữa. Chúng ta bừng cháy trong lĩnh vực của Tình thương thiêng liêng. Những ngọn lửa này chắc chắn hiện hữu, dù chúng ta có thể vẫn hoàn toàn không nhận biết chúng. Chúng ta được bảo vệ khỏi sự tiếp xúc quá sớm với Lửa của Tình thương, vì nó chắc chắn sẽ hủy diệt phàm ngã chưa được chuẩn bị. Điều này có thể có vẻ là một tư tưởng lạ lùng: rằng Tình thương có thể hủy diệt, rằng Cái Đẹp có thể hủy diệt; nhưng sự thật là như vậy. Một trường hài hòa, đẹp đẽ và yêu thương, cao hơn rất xa một trường thấp hơn, sẽ hủy diệt trường thấp ấy nếu trường thấp chưa được chuẩn bị cho sự tiếp xúc trực tiếp. Vì tình thương, vẻ đẹp và sự hài hòa vốn có tính từ tính, và từ điện của chúng sẽ tác động một mãnh lực hấp dẫn mạnh mẽ lên các thành phần của trường thấp hơn, kéo chúng ra khỏi sự cố kết và làm chúng rối loạn đến mức chí tử. Tư tưởng này rất đáng suy ngẫm.

18. As for the “burning bush” and the “burning tree of life”—we are that, once the monadic will is brought into unimpeded contact with the personality and its will.

18. Về “bụi gai cháy” và “cây sự sống bừng cháy”, chúng ta chính là điều đó, một khi ý chí chân thần được đưa vào sự tiếp xúc không bị cản trở với phàm ngã và ý chí của nó.

19. In the entire process of preparation for initiation, we must be subjected to processes of intensification. But intensification without transmutation, transformation and eventual transfiguration simply leads to overstimulation and disintegration. The soul quality of Love-Wisdom or Loving-Understanding (the energy of Right Relationship) directs the intensifying energy rightly, preserving the coherency of the field or pattern to be intensified. The second ray preserves the pattern. Intensification without the mediation of this protective ray is simply destructive.

19. Trong toàn bộ tiến trình chuẩn bị cho điểm đạo, chúng ta phải chịu các tiến trình tăng cường. Nhưng sự tăng cường mà không có chuyển hoá, chuyển đổi và cuối cùng là Biến hình thì chỉ dẫn đến kích thích quá mức và tan rã. Phẩm tính linh hồn của Bác Ái – Minh Triết hay Thấu Hiểu Yêu Thương, tức năng lượng của Mối Quan Hệ Đúng Đắn, hướng dẫn năng lượng tăng cường một cách đúng đắn, bảo tồn sự cố kết của trường hay mô hình cần được tăng cường. Cung hai bảo tồn mô hình. Sự tăng cường không qua trung gian của cung bảo vệ này thì chỉ mang tính phá hủy.

20. The moral of the story: will needs love for right expression in the world of form.

20. Bài học rút ra là: ý chí cần tình thương để biểu hiện đúng đắn trong thế giới hình tướng.

Rule I: Third Sentence (clear, cold light

Quy Luật I: Câu Thứ Ba (ánh sáng trong trẻo, lạnh lẽo

A. The clear cold light shines forth, and cold it is, and yet the heat — produced by the group love — permits the warmth of energetic moving out. [Page 32]

A. Ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo chiếu tỏa, và nó lạnh lẽo, nhưng nhiệt — do tình thương của nhóm tạo ra — cho phép hơi ấm của sự xuất phát năng động. [Trang 32]

1. One of the major themes of our planetary evolution is the emergence of greater light within substance. We could call this the heightening of the vibration of substance. Yet, in a way, substance, itself, is a vibratory phenomenon.

1. Một trong những chủ đề chính của cuộc tiến hoá hành tinh chúng ta là sự xuất hiện của ánh sáng lớn hơn trong chất liệu. Chúng ta có thể gọi điều này là sự nâng cao rung động của chất liệu. Tuy vậy, theo một cách nào đó, chính chất liệu là một hiện tượng rung động.

2. Vibration, light, sound and color are, fundamentally, synonymous. What they all have in common is vibration. Vibration is the foundation of the succeeding three. Vibration is registered as light, sound or color depending upon the organ of perception impacted by the vibration.

2. Rung động, ánh sáng, âm thanh và màu sắc, về căn bản, là đồng nghĩa. Điều chung của tất cả chúng là rung động. Rung động là nền tảng của ba điều theo sau. Rung động được ghi nhận như ánh sáng, âm thanh hay màu sắc tùy theo cơ quan tri giác chịu tác động của rung động.

3. Vibration registered by the eye (or its higher counterparts) is translated within consciousness as light and color. Registered by the ear (or its higher counterparts), vibration is translated as sound.

3. Rung động được mắt, hay các Đối phần cao hơn của nó, ghi nhận thì được chuyển dịch trong tâm thức thành ánh sáng và màu sắc. Khi được tai, hay các Đối phần cao hơn của nó, ghi nhận, rung động được chuyển dịch thành âm thanh.

4. Focusing upon light, we find that light and darkness are relative terms. That which seems dark to one who has emerged into greater light, may seem like bright light to the one in still deeper darkness.

4. Khi tập trung vào ánh sáng, chúng ta thấy rằng ánh sáng và bóng tối là những thuật ngữ tương đối. Điều có vẻ tối tăm đối với người đã bước ra vào ánh sáng lớn hơn, có thể lại giống như ánh sáng rực rỡ đối với người còn ở trong bóng tối sâu hơn.

5. For practical purposes, we can consider light as the ‘eye’s’ perception of a given frequency of vibration. Let us remember that there are many ‘eyes’, just as there are a number of different kinds of ‘sight’ on the various planes (vibratory dimensions).

5. Về mặt thực tiễn, chúng ta có thể xem ánh sáng là sự tri giác của “mắt” đối với một tần số rung động nhất định. Chúng ta hãy nhớ rằng có nhiều “con mắt”, cũng như có một số loại “thị giác” khác nhau trên các cõi khác nhau, tức các chiều rung động khác nhau.

6. When the frequency of vibration is heightened, there emerges in the consciousness of the perceiver the sense of increasing light. When the frequency is lowered, there emerges the sense of darkening.

6. Khi tần số rung động được nâng cao, trong tâm thức của người tri giác xuất hiện cảm thức về ánh sáng gia tăng. Khi tần số hạ thấp, xuất hiện cảm thức về sự tối dần.

7. It is a truism to say that “light reveals”.

7. Nói rằng “ánh sáng mặc khải” là một chân lý hiển nhiên.

8. A beam of light in a dark room brings to sight the objects in the room which were hidden in darkness. They were present all the time, but they were not registered by consciousness because there was insufficient light to reveal them. Some objects are revealed through an external light source. Some objects reveal themselves through internal luminosity.

8. Một tia sáng trong căn phòng tối đưa vào tầm nhìn những vật trong phòng vốn bị che giấu trong bóng tối. Chúng đã hiện diện suốt thời gian đó, nhưng tâm thức không ghi nhận chúng vì không có đủ ánh sáng để mặc khải chúng. Một số vật được mặc khải nhờ một nguồn sáng bên ngoài. Một số vật tự mặc khải nhờ độ sáng bên trong của chính chúng.

9. Upon any dimension—astral, mental, higher mental, and above—an increase of light will bring to sight ‘objects’ (or, shall we call them, ‘perceivables’, for they are not necessarily ‘concrete’ objects) hitherto concealed.

9. Trên bất kỳ chiều nào, cảm dục, trí tuệ, thượng trí và cao hơn nữa, sự gia tăng ánh sáng sẽ đưa vào tầm nhìn những “đối tượng”, hay chúng ta có thể gọi là những “điều có thể tri giác”, vì chúng không nhất thiết là những đối tượng “cụ thể”, vốn trước đây bị che giấu.

10. Compared to what can be registered by consciousness, the human being registers very little. The other extreme is the Universal Logos, Who registers all within cosmos.

10. So với những gì tâm thức có thể ghi nhận, con người ghi nhận rất ít. Ở cực kia là Thượng đế Vũ Trụ, Đấng ghi nhận tất cả trong vũ trụ.

11. We, and all entities, are on our way to becoming (or, re-becoming) omnipresent, omniscient and omnipotent. These three states represent the finale of universal evolution.

11. Chúng ta, và mọi thực thể, đang trên đường trở thành, hay trở thành lại, toàn tại, toàn tri và toàn năng. Ba trạng thái này biểu hiện hồi kết của cuộc tiến hoá vũ trụ.

12. Increase of light is related to the growth towards omniscience—knowing all, all knowledge.

12. Sự gia tăng ánh sáng liên hệ với sự tăng trưởng hướng đến toàn tri—biết tất cả, mọi tri thức.

13. On the Path of Occultism, the increase of light is considered a positive good.

13. Trên Con Đường Huyền Bí Học, sự gia tăng ánh sáng được xem là một điều thiện tích cực.

14. All, eventually, must be brought to light, if we are to understand it (omniscience), be present within it (omnipresence), and have control over it and through it (omnipotence).

14. Cuối cùng, tất cả đều phải được đưa ra ánh sáng, nếu chúng ta muốn thấu hiểu nó, tức toàn tri; hiện diện trong nó, tức toàn tại; và có quyền kiểm soát nó cũng như thông qua nó, tức toàn năng.

15. We read in the sentence under consideration of the “clear, cold light”. How to understand this expression? Is it the light, itself, that is clear, or, rather, are we dealing here with the clarifying light—the light that brings all to clarity.

15. Trong câu đang xét, chúng ta đọc thấy “ánh sáng trong trẻo, lạnh lẽo”. Phải hiểu cách diễn đạt này như thế nào? Có phải chính ánh sáng ấy là trong trẻo, hay đúng hơn, ở đây chúng ta đang đề cập đến ánh sáng làm cho trong sáng—ánh sáng đưa tất cả đến sự sáng tỏ.

16. One way to understand the clarifying function of light, is that the light generated by or radiated from the soul and Triad, bring clear vision to and into the worlds below themselves. The light of the soul, shining upon the vehicles of personality, for instance, clarify the nature of those vehicles and both their internal and interactive dynamics (how they interact with each other).

16. Một cách để hiểu chức năng làm sáng tỏ của ánh sáng là ánh sáng do linh hồn và Tam nguyên tinh thần tạo ra hoặc phát xạ đem lại tầm nhìn rõ ràng cho các cõi giới bên dưới Các Ngài và vào trong các cõi giới ấy. Chẳng hạn, ánh sáng của linh hồn chiếu rọi lên các hiện thể của phàm ngã, làm sáng tỏ bản chất của các hiện thể ấy, cũng như các động lực nội tại và tương tác của chúng, tức cách chúng tương tác với nhau.

17. The light generated by or radiated from the Spiritual Triad, clarifies the nature of the causal body/Egoic Lotus (and, in general) what we would call the “Transpersonal Self”.

17. Ánh sáng do Tam Nguyên Tinh Thần tạo ra hoặc phát xạ làm sáng tỏ bản chất của thể nguyên nhân/Hoa Sen Chân Ngã, và nói chung, điều chúng ta gọi là “Bản Ngã Siêu Cá Nhân”.

18. The greatest clarification can be expected when the ‘higher light’ shines upon the lower field.

18. Có thể mong đợi sự sáng tỏ lớn nhất khi “ánh sáng cao hơn” chiếu rọi xuống trường thấp hơn.

19. However, the light generated within and radiating from any vehicle can not only illuminate and clarify the nature and dynamics of the vehicle/field ‘below’ it, but to a certain extent, can illuminate and clarify the very field in which the illuminating vehicle exists. For instance, mental light can clarify the astral and etheric vehicles, yes, but it can also clarify the mental field itself. It is, for instance, possible to think about thinking, as well as think about acting and feeling.

19. Tuy nhiên, ánh sáng được tạo ra bên trong và phát xạ từ bất kỳ hiện thể nào không chỉ có thể soi sáng và làm sáng tỏ bản chất cùng các động lực của hiện thể/trường “bên dưới” nó, mà ở một mức độ nào đó, còn có thể soi sáng và làm sáng tỏ chính trường trong đó hiện thể soi sáng ấy tồn tại. Chẳng hạn, ánh sáng trí tuệ có thể làm sáng tỏ các hiện thể cảm dục và dĩ thái, đúng vậy, nhưng nó cũng có thể làm sáng tỏ chính trường trí tuệ. Chẳng hạn, có thể suy nghĩ về sự suy nghĩ, cũng như suy nghĩ về hành động và cảm xúc.

20. The light of the mind can also be turned upon fields ‘higher’ than itself, but then it becomes ‘speculative light’ rather than definitely ‘clarifying light’. Through this mental light turned ‘upward’ one may understand how things are ‘above’, but one may also be incorrect. As the fields upon which ‘speculative light’ is turned become increasingly remote from the light source, the likelihood of error increases. For instance, while with my soul-illumined mind I may understand rather well the mental field, if I attempt to shed light upon the nature of the Monad, I will be far less accurate.

20. Ánh sáng của thể trí cũng có thể được hướng vào những trường “cao hơn” chính nó, nhưng khi ấy nó trở thành “ánh sáng suy đoán” hơn là “ánh sáng làm sáng tỏ” một cách xác định. Thông qua ánh sáng trí tuệ được hướng “lên trên” này, người ta có thể hiểu sự vật “ở trên” như thế nào, nhưng người ta cũng có thể sai lầm. Khi các trường mà “ánh sáng suy đoán” được hướng đến ngày càng xa nguồn sáng, khả năng sai lầm tăng lên. Chẳng hạn, với thể trí được linh hồn soi sáng, tôi có thể hiểu khá rõ trường trí tuệ; nhưng nếu tôi cố gắng rọi ánh sáng lên bản chất của chân thần, tôi sẽ kém chính xác hơn nhiều.

21. The light of the mind, in and of itself, is limited, and will not be completely clarifying with respect to the three lower worlds unless it is permeated by the light of the soul and Triad.

21. Ánh sáng của thể trí, tự nó và trong chính nó, là hữu hạn, và sẽ không hoàn toàn làm sáng tỏ đối với ba cõi thấp, trừ khi nó được thấm nhuần bởi ánh sáng của linh hồn và Tam nguyên tinh thần.

22. The light referenced in the sentence under consideration is, essentially, the light of the soul-infused mind—a blend of the lights of the fourth, third and second subplanes of the mental plane—as these lights are somewhat augmented by the light of the Spiritual Triad which begins as the first subplane of the mental plane).

22. Ánh sáng được nhắc đến trong câu đang xét về bản chất là ánh sáng của thể trí được linh hồn thấm nhuần—một sự pha trộn các ánh sáng của cõi phụ thứ tư, thứ ba và thứ hai của cõi trí, khi các ánh sáng này phần nào được gia tăng bởi ánh sáng của Tam Nguyên Tinh Thần, vốn khởi đầu như cõi phụ thứ nhất của cõi trí.

23. On the fourth subplane of the mind, one can discriminate between phenomena related to the personality and those related to the soul and, as an integrated personality, think in harmony with the soul upon the higher mental plane.

23. Trên cõi phụ thứ tư của thể trí, người ta có thể phân biện giữa các hiện tượng liên hệ đến phàm ngã và các hiện tượng liên hệ đến linh hồn, và với tư cách một Phàm ngã tích hợp, suy nghĩ hòa hợp với linh hồn trên Cõi thượng trí.

24. On the third subplane one can discern and understand the presence of soul (the subjective unifying factor) within the phenomena of the three lower worlds. “Spiritual Reading” becomes possible. The lower three worlds are seen as symbol.

24. Trên cõi phụ thứ ba người ta có thể phân biện tinh thần và thấu hiểu sự hiện diện của linh hồn, tức yếu tố hợp nhất chủ quan, bên trong các hiện tượng của ba cõi thấp. “Đọc hiểu tinh thần” trở nên khả hữu. Ba cõi thấp được nhìn thấy như biểu tượng.

25. On the second subplane (where only initiates of the first three degrees can think), one can think in concert with ‘other’ souls, within the soul field, and true group mind comes into expression.

25. Trên cõi phụ thứ hai, nơi chỉ các điểm đạo đồ của ba cấp độ đầu tiên mới có thể suy nghĩ, người ta có thể suy nghĩ hòa điệu với những linh hồn “khác”, bên trong trường linh hồn, và trí tuệ nhóm đích thực đi vào biểu hiện.

26. On the first subplane, telepathic rapport with the “Mind of God” begins.

26. Trên cõi phụ thứ nhất, sự hòa điệu viễn cảm với “Trí của Thượng đế” bắt đầu.

27. After “the burning ground has done its work” many obscurations and obstructions are removed. Obscurations and obstructions (for those less familiar with English) cover and hide the light.

27. Sau khi “vùng đất cháy đã hoàn tất công việc của nó”, nhiều sự che mờ và chướng ngại được loại bỏ. Các sự che mờ và chướng ngại, đối với những ai ít quen thuộc với tiếng Anh, che phủ và giấu kín ánh sáng.

28. The “heated” personality is not a force-condition in which clarity of consciousness is easily achieved. You have all heard the expression (used when people are engaged in non-productive arguments)— “Let us have less heat and more light”.

28. Phàm ngã “nóng bừng” không phải là một tình trạng mãnh lực trong đó sự sáng tỏ của tâm thức dễ dàng đạt được. Các bạn đều đã nghe cách nói này, thường dùng khi người ta vướng vào những cuộc tranh luận không đem lại kết quả—“Chúng ta hãy bớt nhiệt và thêm ánh sáng”.

29. Before the experience of the burning ground, vision is obscured and obstructed. Upon the burning ground, there is a gradual falling away of impediments to sight, and thus a gradual clarification, but things are still too ‘hot’ and difficult to see really clearly. After the burning ground, when the dust of battle settles, and the smoke from the fire dissipates, there comes a great improvement of the power to see.

29. Trước kinh nghiệm của vùng đất cháy, tầm nhìn bị che mờ và cản trở. Trên vùng đất cháy, các trở ngại đối với sự thấy dần dần rơi rụng, và do đó có một sự sáng tỏ dần dần, nhưng mọi sự vẫn còn quá “nóng” và khó có thể thấy thật rõ. Sau vùng đất cháy, khi bụi chiến trận lắng xuống và khói lửa tiêu tan, quyền năng thấy có một sự cải thiện lớn lao.

30. The burning ground here referenced is the one that releases the disciple (and the discipleship group) from personality control. Before the burning ground, one thought, felt, acted like a personality and ‘saw’ the way a personality would see. After the burning ground, the personality no longer looms so large, and the soul/Triad has established its perspective more strongly in human consciousness. One thinks, feels, acts and ‘sees’, increasingly, as a soul-infused personality.

30. Vùng đất cháy được nhắc đến ở đây là vùng đất giải thoát đệ tử, và nhóm đệ tử, khỏi sự kiểm soát của phàm ngã. Trước vùng đất cháy, người ta suy nghĩ, cảm nhận, hành động như một phàm ngã và “thấy” theo cách một phàm ngã sẽ thấy. Sau vùng đất cháy, phàm ngã không còn hiện lên quá lớn lao nữa, và linh hồn/Tam nguyên tinh thần đã thiết lập viễn cảnh của mình mạnh mẽ hơn trong tâm thức con người. Người ta ngày càng suy nghĩ, cảm nhận, hành động và “thấy” như một phàm ngã được linh hồn thấm nhuần.

31. We begin to understand that the “clear cold light” cannot shine forth when one is preoccupied by the task of being a person. One must sacrifice self-centeredness and become sufficiently decentralized, and then, that light can shine forth.

31. Chúng ta bắt đầu thấu hiểu rằng “ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo” không thể chiếu tỏa khi người ta bận tâm với nhiệm vụ làm một con người cá nhân. Người ta phải hi sinh sự tập trung vào bản thân và trở nên đủ phi tập trung vào bản thân; khi ấy, ánh sáng đó có thể chiếu tỏa.

32. The clearness of that light is directly proportional to the coldness of the subdued and chastened[3] personality. The personality has “been through the fires” and can, thus, see.

32. Độ trong sáng của ánh sáng ấy tỉ lệ trực tiếp với độ lạnh lẽo của phàm ngã đã được chế ngự và rèn sửa. Phàm ngã đã “đi qua các ngọn lửa” và vì vậy có thể thấy.

33. As the Tibetan suggests to us, one way to consider the “clear, cold light”, is to assign the word “clear” to soul light, and “cold” to the condition of the subdued forces within the personality—they are now ‘cold’ to that which formerly ‘heated’ them. We have all heard the expression of the person who fails to be excited by that which he is experiencing. He says, “That leaves me cold”. Well, this is what must be achieved—coldness to the preoccupying excitations of the lunar vehicles.

33. Như Chân sư Tây Tạng gợi ý cho chúng ta, một cách để xem xét “ánh sáng trong trẻo, lạnh lẽo” là gán từ “trong trẻo” cho ánh sáng linh hồn, và “lạnh lẽo” cho tình trạng của các mãnh lực đã được chế ngự trong phàm ngã—giờ đây chúng “lạnh” đối với điều trước kia đã làm chúng “nóng”. Chúng ta đều đã nghe cách nói của một người không bị kích động bởi điều y đang trải nghiệm. Y nói: “Điều đó khiến tôi lạnh nhạt”. Đây là điều phải đạt được—sự lạnh lẽo đối với những kích thích lôi cuốn của các hiện thể nguyệt tính.

34. When the clear, cold light shines forth, the world is no longer seen or experienced the way it was when the disciple was more under personality control. At the third initiation (and this Rule is about happenings which occur in the ‘vicinity’ of the third initiation) personality control is relinquished. Personality is not yet vanquished (conquered), but at least it no longer directs and runs the individual. Mars and the Moon (the planets which indicate the animal nature) are now brought under regulation.

34. Khi ánh sáng trong trẻo, lạnh lẽo chiếu tỏa, thế giới không còn được nhìn thấy hay trải nghiệm như khi đệ tử còn chịu sự kiểm soát của phàm ngã nhiều hơn. Ở lần điểm đạo thứ ba, và Quy luật này nói về những sự kiện xảy ra trong “vùng lân cận” của lần điểm đạo thứ ba, sự kiểm soát của phàm ngã được từ bỏ. Phàm ngã chưa bị đánh bại hoàn toàn, tức bị chinh phục, nhưng ít nhất nó không còn điều khiển và chi phối cá nhân nữa. Sao Hỏa và Mặt Trăng, các hành tinh biểu thị bản chất thú tính, nay được đặt dưới sự điều tiết.

35. The very evident ‘lunar’ light in which the human being has lived for ages, gives way to increasingly warm and glowing solar light, and then to a light which is colder and more impersonal than solar light—namely, Triadal light (especially light from the abstract mind and, partially, from the intuition—these being the lower two levels of the triad).

35. Ánh sáng “nguyệt tính” rất rõ rệt mà con người đã sống trong đó qua nhiều thời đại nhường chỗ cho ánh sáng thái dương ngày càng ấm áp và rực rỡ, rồi cho một ánh sáng lạnh hơn và phi cá nhân hơn ánh sáng thái dương—tức là ánh sáng thuộc Tam nguyên tinh thần (đặc biệt là ánh sáng từ Trí trừu tượng và một phần từ trực giác—đây là hai cấp độ thấp hơn của Tam nguyên tinh thần).

36. Personality, in itself, is related closely to the concept of “heat”. Within the chakra system, the personality can be symbolized by the solar plexus—a chakra which is full of desire. If you check the Table of Creative Hierarchies on pages 34 and 35 of Esoteric Astrology, you will see that the Hierarchy of Lunar Lords (the Sixth Creative Hierarchy, which constitute the vehicles of the human personality) is ruled by Mars (the planet of “heat”—and a planet which {in its lower aspects} is controlled and subdued on the burning ground before the third initiation). Because this Sixth Creative Hierarchy contains the Lunar Lords, it is also, obviously, related to the Moon. Mars and the Moon are, for practical, disciplic purposes, conquered at this point on the Path. Heat (Mars) and instinctual responsiveness (the Moon), give way to clear and increasingly impersonal vision.

36. Tự thân phàm ngã liên hệ mật thiết với khái niệm “nhiệt”. Trong hệ thống luân xa, phàm ngã có thể được tượng trưng bởi tùng thái dương—một luân xa đầy dục vọng. Nếu các bạn xem Bảng Các Huyền Giai Sáng Tạo ở các trang 34 và 35 của Chiêm Tinh Học Nội Môn, các bạn sẽ thấy rằng Huyền Giai các Nguyệt tinh quân, tức Huyền Giai Sáng Tạo thứ Sáu, cấu thành các hiện thể của phàm ngã con người, do Sao Hỏa cai quản, là hành tinh của “nhiệt”, và là một hành tinh mà, trong các phương diện thấp của nó, bị kiểm soát và chế ngự trên vùng đất cháy trước lần điểm đạo thứ ba. Vì Huyền Giai Sáng Tạo thứ Sáu này chứa các Nguyệt tinh quân, nên hiển nhiên nó cũng liên hệ với Mặt Trăng. Sao Hỏa và Mặt Trăng, xét theo mục đích thực tiễn của địa vị đệ tử, được chinh phục ở điểm này trên Đường Đạo. Nhiệt, tức Sao Hỏa, và sự đáp ứng bản năng, tức Mặt Trăng, nhường chỗ cho tầm nhìn trong sáng và ngày càng phi cá nhân.

37. The clear, cold light is impersonal. The usual desires and attractions of the personality are no longer interfering with perception. Personality (unless is has become a fully functional sub-ray of the soul) is usually biased by its desires. It does not see the whole because it wants the part. The burning ground burns away such consciousness-obscuring desires.

37. Ánh sáng trong trẻo, lạnh lẽo là phi cá nhân. Những dục vọng và sự thu hút thông thường của phàm ngã không còn can thiệp vào nhận thức. Phàm ngã, trừ khi nó đã trở thành một cung phụ hoạt động đầy đủ của linh hồn, thường bị thiên lệch bởi các dục vọng của nó. Nó không thấy toàn thể, vì nó muốn phần riêng. Vùng đất cháy thiêu rụi những dục vọng che mờ tâm thức như thế.

38. When the Old Commentary repeats, “and cold it is”, an emphasis is being brought to the consciousness of the reader—the light is cold, and one had better get used to the idea. Human beings have been driven by personality ‘heat’ for a long time. When the heated condition turns cold, they may feel a sense of loss. Life no longer seems quite so ‘exciting’, and indeed, the excitation of the lunar lords has been reduced. The old attractions fade and normal life in the three worlds no longer seems so interesting.

38. Khi Cổ Luận lặp lại: “và nó lạnh”, một sự nhấn mạnh được đưa vào tâm thức của độc giả—ánh sáng là lạnh, và tốt hơn hết người ta nên làm quen với ý tưởng ấy. Con người đã bị “nhiệt” của phàm ngã thúc đẩy trong một thời gian dài. Khi tình trạng nóng bừng trở nên lạnh, họ có thể cảm thấy một sự mất mát. Đời sống không còn có vẻ “kích thích” như trước, và quả thật, sự kích thích của các nguyệt tinh quân đã giảm xuống. Những hấp lực cũ phai nhạt, và đời sống bình thường trong ba cõi giới không còn có vẻ thú vị như thế nữa.

39. So then, does all the joy and interest go out of life? Is one ‘cold’ to all one sees—cold and indifferent? Under the influence of the clear, cold light, does one live on—uninspired?

39. Vậy thì, có phải mọi sự hoan hỉ và hứng thú đều rời khỏi đời sống không? Người ta có “lạnh” đối với mọi điều mình thấy—lạnh lẽo và điềm nhiên không? Dưới ảnh hưởng của ánh sáng trong trẻo, lạnh lẽo, người ta có tiếp tục sống mà không còn cảm hứng không?

40. The Old Commentary is immediate in creating the balance. Yes, there is coldness, but there is also “heat”. We meet “heat” again, in a form different to the “heat” encountered in Rule I for Applicants.

40. Cổ Luận lập tức tạo nên sự quân bình. Đúng, có sự lạnh lẽo, nhưng cũng có “nhiệt”. Chúng ta lại gặp “nhiệt”, trong một hình thức khác với “nhiệt” đã gặp trong Quy luật I dành cho Ứng viên.

41. This “heat” is “evoked by group love”. “Heat” is “spiritual energy”; no longer the heat of the solar plexus, but impulsed from the heart—the combined heart centers of all group members—the “group heart”. Another meaning for “heart” is, of course, “soul”.

41. “Nhiệt” này được “gợi lên bởi bác ái nhóm”. “Nhiệt” là “năng lượng tinh thần”; không còn là nhiệt của tùng thái dương, mà được xung động từ tim—các trung tâm tim phối hợp của tất cả thành viên trong nhóm—“trái tim nhóm”. Một ý nghĩa khác của “tim”, dĩ nhiên, là “linh hồn”.

42. Thus, at first sight, we seem to have a paradox. Our consciousness is in a condition of clarity, our personality elementals are cold to their former attractions, and yet, there is a kind of “heat” present. Group love has generated this new heat. The result is, that even though we are, as it were, ‘clear and cold’, we are animated as well. (Animation is the influence of the soul—anima.)

42. Như vậy, thoạt nhìn, chúng ta dường như có một nghịch lý. Tâm thức của chúng ta ở trong một tình trạng sáng tỏ, các hành khí phàm ngã của chúng ta lạnh đối với những hấp lực trước kia của chúng,tuy vậy, có một loại “nhiệt” hiện diện. Bác ái nhóm đã tạo ra nhiệt mới này. Kết quả là, cho dù chúng ta, có thể nói, “trong trẻo và lạnh lẽo”, chúng ta cũng được làm cho linh động. Sự linh động là ảnh hưởng của linh hồn—sinh khí linh hồn.

43. So the clear, cold group is in a condition of spiritual animation, and is pervaded by a stimulating group love—not a stimulation which “heats” (over-stimulates) the lunar elementals of the group personality, but a heat evoked by love and demanding the expression of love.

43. Do đó, nhóm trong trẻo, lạnh lẽo ở trong một tình trạng linh động tinh thần, và được thấm nhuần bởi một bác ái nhóm có tính kích thích—không phải một sự kích thích làm “nóng”, tức kích thích quá mức, các hành khí nguyệt tính của phàm ngã nhóm, mà là một nhiệt được gợi lên bởi tình thương và đòi hỏi sự biểu hiện của tình thương.

44. Unless the serving group is animated by love, the group soul is still very far from infusing the group personality.

44. Nếu nhóm phụng sự không được linh động bởi tình thương, linh hồn nhóm vẫn còn rất xa mới thấm nhuần được phàm ngã nhóm.

45. It is important to realize that the clarity and coldness achieved as a result of the work of the burning ground, leads to a greater state of spiritual stimulation and manifest group love. The opposites are being united, and a paradox is being resolved.

45. Điều quan trọng là nhận ra rằng sự sáng tỏ và lạnh lẽo đạt được nhờ công việc của vùng đất cháy dẫn đến một trạng thái kích thích tinh thần lớn hơn và bác ái nhóm biểu hiện rõ hơn. Các đối cực đang được hợp nhất, và một nghịch lý đang được giải quyết.

46. The group is in a stage of high spiritual stimulation demanding action.

46. Nhóm đang ở trong một giai đoạn kích thích tinh thần cao độ, đòi hỏi hành động.

47. The group must move out, with “warmth” and in an “energetic” manner towards the field of service. In this kind of group work, the field of service is symbolized by the signs Pisces (the sign of those less fortunate than the server, and, as well, the sign of the impulse to serve and save). Inspired by love, spiritually stimulated, and with full energy, the group moves out to “toil in Pisces”. (See Rule XII for Disciples and Initiates)

47. Nhóm phải tiến ra ngoài, với “sự ấm áp” và theo một cách “đầy năng lượng” hướng về trường phụng sự. Trong loại công việc nhóm này, trường phụng sự được tượng trưng bởi dấu hiệu Song Ngư, dấu hiệu của những người kém may mắn hơn người phụng sự, đồng thời cũng là dấu hiệu của xung lực phụng sự và cứu giúp. Được tình thương truyền cảm hứng, được kích thích tinh thần, và với đầy đủ năng lượng, nhóm tiến ra ngoài để “lao nhọc trong Song Ngư”. (Xem Quy luật XII dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ)

48. Again, we are meeting the word “warmth”, just as in Rule I for Applicants. This golden, solar warmth is so important in our work.

48. Một lần nữa, chúng ta gặp từ “ấm áp”, giống như trong Quy luật I dành cho Ứng viên. Sự ấm áp vàng kim, thái dương này rất quan trọng trong công việc của chúng ta.

49. If I may be permitted a personal note here, when I went to work at Arcane School Headquarters some twenty-two years ago, I was befriended by an older man who was in charge of the Lucis Publishing Company. I was being trained for his job. Somehow, we began discussing impersonality and coldness—in those days, I did not like that word, “impersonality”. I said, “What about warmth?” Well, he looked at me squarely (and I will always remember him for this), and said, “What could be warmer than the loving impersonality of the Christ?” I was transfixed[4]. The point was driven home and I never forgot it. One month later he was dead.

49. Nếu tôi được phép thêm một ghi chú cá nhân ở đây, khi tôi đến làm việc tại Trụ sở Trường Arcane khoảng hai mươi hai năm trước, tôi được một người đàn ông lớn tuổi, phụ trách Công ty Xuất bản Lucis, kết thân. Tôi đang được đào tạo để đảm nhận công việc của ông. Bằng cách nào đó, chúng tôi bắt đầu thảo luận về tính phi cá nhân và sự lạnh lẽo—vào những ngày ấy, tôi không thích từ “tính phi cá nhân”. Tôi nói: “Còn sự ấm áp thì sao?” Ông nhìn thẳng vào tôi, và tôi sẽ luôn nhớ ông vì điều này, rồi nói: “Điều gì có thể ấm áp hơn tính phi cá nhân đầy yêu thương của Đức Christ?” Tôi sững sờ. Điểm ấy đã khắc sâu vào tôi và tôi không bao giờ quên. Một tháng sau, ông qua đời.

50. So we are given a formula for our work. Our consciousness is clear and cold—we see things as they are. We are to be, in a way, “cold-minded”, and yet—warm-hearted. The group heart must be fully alive and “motivating’ us to move outward in loving service.

50. Vì vậy, chúng ta được trao một công thức cho công việc của mình. Tâm thức của chúng ta trong trẻo và lạnh lẽo—chúng ta thấy sự vật như chúng là. Theo một nghĩa nào đó, chúng ta phải “lạnh trong trí”, và tuy vậy—ấm trong tim. Trái tim nhóm phải hoàn toàn sống động và “thúc đẩy” chúng ta tiến ra ngoài trong sự phụng sự đầy tình thương.

51. It sounds like the best of both worlds—but, of course, it is not easily achieved, because the impediments of personality have to be burned away before this group condition is really possible. And while the burning is going on, the group may experience much upset, or even ‘group fatalities’. Perhaps you have been through them.

51. Điều đó nghe như điều tốt đẹp nhất của cả hai thế giới—nhưng dĩ nhiên, không dễ đạt được, vì các trở ngại của phàm ngã phải bị thiêu rụi trước khi tình trạng nhóm này thật sự khả hữu. Và trong khi sự thiêu đốt đang diễn ra, nhóm có thể trải qua nhiều xáo trộn, hoặc thậm chí những “tổn thất sinh mạng nhóm”. Có lẽ các bạn đã từng trải qua những điều ấy.

52. Such a group as this, gives love abundantly, but not sentimentally. No personality motive lies behind the service offered. On its own level, Hierarchy serves in this way. When we fulfil this sentence, we emulate Them.

52. Một nhóm như thế ban phát tình thương dồi dào, nhưng không ủy mị. Không có động cơ phàm ngã nào nằm sau sự phụng sự được hiến dâng. Trên cấp độ riêng của mình, Thánh đoàn phụng sự theo cách này. Khi chúng ta hoàn thành câu này, chúng ta noi theo Các Ngài.

53. The days of elitism[5] in esoteric groups are gone. Pythagoras’ esoteric school in Crotona, some 2500 years ago, suffered a disastrous end because they were separated from (and, hence, misunderstood by) the community that surrounded them.

53. Những ngày của chủ nghĩa tinh hoa trong các nhóm huyền bí đã qua. Trường huyền bí của Py-ta-go tại Crotona, khoảng hai nghìn năm trăm năm trước, đã chịu một kết cục tai hại vì họ tách khỏi cộng đồng bao quanh họ, và do đó bị cộng đồng ấy hiểu lầm.

54. The Tibetan monks (in the grand scheme of things) may have been driven forth for a similar reason—with very good result for the elevation of global consciousness.

54. Các tu sĩ Tây Tạng, trong đại cục của sự việc, có thể đã bị đẩy ra ngoài vì một lý do tương tự—với kết quả rất tốt đẹp cho sự nâng cao tâm thức toàn cầu.

55. Now, we serve, and do not hoard the knowledge and wisdom for ourselves. We translate what we know so the average person of goodwill can understand it and benefit from it. We bridge, just as Hierarchy is bridging towards us.

55. Giờ đây, chúng ta phụng sự, và không tích trữ tri thức cùng minh triết cho riêng mình. Chúng ta chuyển dịch điều mình biết để người bình thường có thiện chí có thể thấu hiểu và hưởng lợi từ đó. Chúng ta bắc cầu, cũng như Thánh đoàn đang bắc cầu hướng về chúng ta.

56. This does not mean we do not aspire. Of course, we do, just as Hierarchy aspires towards Shamballa even as it approaches Humanity.

56. Điều này không có nghĩa là chúng ta không khát vọng. Dĩ nhiên, chúng ta có khát vọng, cũng như Thánh đoàn khát vọng hướng về Shamballa ngay cả khi Thánh đoàn tiến gần Nhân loại.

57. Hierarchically-aligned groups in the New Age will learn this dual mode of activity—not easy to master at first.

57. Các nhóm được chỉnh hợp với Thánh đoàn trong Kỷ Nguyên Mới sẽ học phương thức hoạt động kép này—ban đầu không dễ làm chủ.

58. It is our hope and anticipation that just as the group mind will surely grow over the next seven years, the group heart will keep pace—with the consequence that we will be useful to Hierarchy. Without the group heart, we will not be.

58. Chúng ta hy vọng và kỳ vọng rằng, cũng như thể trí nhóm chắc chắn sẽ tăng trưởng trong bảy năm tới, trái tim nhóm cũng sẽ theo kịp—với hệ quả là chúng ta sẽ hữu ích cho Thánh đoàn. Không có trái tim nhóm, chúng ta sẽ không hữu ích.

The Themes Included Under the Sentence 3Các Chủ Đề Bao Gồm Dưới Câu 3

Các Chủ Đề Bao Gồm Dưới Câu 3Các Chủ Đề Bao Gồm Dưới Câu 3

B. Group love is based upon the egoic aspect of the will to which we give the name ‘sacrificial love’ (cf. RI, p. 32)

B. Tình thương nhóm đặt nền trên phương diện chân ngã của ý chí mà chúng ta gọi là “bác ái hi sinh” (xem RI, tr. 32)

The Master’s influence, as He seeks to aid His disciple, always produces transitory turmoil (cf. RI, p. 32)

Ảnh hưởng của Chân sư, khi Ngài tìm cách trợ giúp đệ tử của Ngài, luôn tạo ra sự xáo trộn nhất thời (xem RI, tr. 32)

Aspects of the higher will in some higher disciple are beating upon the personality will and evoking the sacrificial will of the Ego (cf. RI, p. 32)

Các phương diện của ý chí cao trong một đệ tử cao cấp hơn đang tác động lên ý chí phàm ngã và khơi gợi ý chí hi sinh của Chân ngã (xem RI, tr. 32)

In these words you have the key to group initiation. The light of the higher initiations can stream in when it is evoked by the group love. That light is clear and cold, but produces the needed “heat,” which is a symbolic word used in many of the world Scriptures to express living, spiritual energy. I said “spiritual energy” and not soul force, and herein lies a distinction which you will some day have to grasp.

Trong những lời này, các bạn có chìa khóa của điểm đạo nhóm. Ánh sáng của các cuộc điểm đạo cao hơn có thể tuôn vào khi tình thương nhóm khơi gợi nó. Ánh sáng ấy trong trẻo và lạnh, nhưng tạo ra “nhiệt” cần thiết; đây là một từ biểu tượng được dùng trong nhiều Thánh Kinh của thế giới để diễn tả năng lượng tinh thần sống động. Tôi nói “năng lượng tinh thần” chứ không phải mãnh lực linh hồn, và chính trong đó có một phân biệt mà một ngày nào đó các bạn sẽ phải nắm bắt.

1. We should study sentence number three in relation to group initiation. The Tibetan tells us, it is the “key”. Each progressive initiation becomes clearer and ‘colder’.

1. Chúng ta nên nghiên cứu câu số ba trong liên hệ với điểm đạo nhóm. Chân sư Tây Tạng cho chúng ta biết đó là “chìa khóa”. Mỗi cuộc điểm đạo tiến triển trở nên rõ ràng hơn và “lạnh” hơn.

2. Coldness exists below (eventually) in the lunar vehicles, but there is a kind of coldness of the heights’ (a broad perspective and great impersonality) which makes it easier to see.

2. Sự lạnh lẽo rốt cuộc hiện hữu bên dưới, trong các vận cụ thái âm, nhưng cũng có một loại “lạnh lẽo của các đỉnh cao” — một viễn cảnh rộng lớn và tính phi cá nhân sâu xa — khiến cho việc thấy trở nên dễ dàng hơn.

3. The term “higher initiations” is again, relative. In this context, it means initiations including the third and beyond. Normally, the third initiation is not considered a “higher” initiation, but compared to the “initiations of the threshold”—the first and the second—it is.

3. Thuật ngữ “các cuộc điểm đạo cao hơn” một lần nữa có tính tương đối. Trong bối cảnh này, nó chỉ các cuộc điểm đạo bao gồm lần thứ ba trở đi. Thông thường, lần điểm đạo thứ ba không được xem là một cuộc điểm đạo “cao hơn”, nhưng so với “các cuộc điểm đạo ở ngưỡng cửa” — lần thứ nhất và lần thứ hai — thì nó đúng là như vậy.

4. Note here the relation existing between light and love. Without love—no light. The Spiritual Hierarchy of our planet, is the Hierarchy of Love.

4. Ở đây hãy lưu ý mối liên hệ hiện hữu giữa ánh sángtình thương. Không có tình thương — không có ánh sáng. Huyền Giai Tinh Thần của hành tinh chúng ta là Thánh đoàn của Bác Ái.

5. When thinking of the clearness and coldness of the higher light, it might not seem capable of stimulating energetic response in the soul-infusing personality ‘below’. But such is not the case. When one descends from experiences in the clear, cold light, the form nature is greatly (though rightly) stimulated. A state of agitation is not a state of super-abundant potential; clarity and coldness, conversely, are potent.

5. Khi nghĩ về sự trong trẻo và lạnh lẽo của ánh sáng cao hơn, có thể dường như nó không có khả năng kích thích đáp ứng năng động nơi phàm ngã được linh hồn thấm nhuần ở “bên dưới”. Nhưng sự thật không phải vậy. Khi một người đi xuống từ những kinh nghiệm trong ánh sáng trong trẻo, lạnh lẽo, bản chất hình tướng được kích thích mạnh mẽ, dù đúng đắn. Trạng thái kích động không phải là trạng thái tiềm năng dư dật; trái lại, sự sáng rõ và lạnh lẽo thì đầy quyền năng.

6. Three words deserve our consideration: “soul”, “spiritual”, and “divine”.

6. Ba từ đáng để chúng ta suy xét: “linh hồn”, “tinh thần” và “thiêng liêng”.

7. “Soul force”, in this context, pertains to force emanated by the Egoic Lotus, and transformationally effective within the personality.

7. “Mãnh lực linh hồn”, trong bối cảnh này, thuộc về mãnh lực phát xuất từ Hoa Sen Chân Ngã và có tác dụng chuyển hóa bên trong phàm ngã.

8. Often, and elsewhere in His writings, when the Tibetan uses the word, “spiritual”, He refers to the dimension of soul.

8. Thường thì, và ở những nơi khác trong các tác phẩm của Ngài, khi Chân sư Tây Tạng dùng từ “tinh thần”, Ngài nói đến chiều kích của linh hồn.

9. Within the context of the paragraph above, He is referring to the energy of the Spiritual Triad.

9. Trong bối cảnh của đoạn văn trên, Ngài đang nói đến năng lượng của Tam Nguyên Tinh Thần.

10. Note the phrase, “living spiritual energy”. It tells us that, in dealing with the Triad, we have entered the realm of will or of the life aspect. When we enter the Triad, we begin to live.

10. Hãy lưu ý cụm từ “năng lượng tinh thần sống động”. Nó cho chúng ta biết rằng, khi đề cập đến Tam nguyên tinh thần, chúng ta đã đi vào lĩnh vực của ý chí hay của phương diện sự sống. Khi đi vào Tam nguyên tinh thần, chúng ta bắt đầu sống.

11. When the word “divine” is used, it connotes that which relates to the Monad.

11. Khi từ “thiêng liêng” được dùng, nó hàm ý điều liên quan đến Chân thần.

This group love is based upon the egoic aspect of the will to which we give the name “sacrificial love.” This does not connote happy relationships between individual members of the group. It might, presumably, lead to unhappy outer, superficial interplay, but basically it leads to an unalterably staunch loyalty, underlying the surface of the outer life. The Master’s influence, as He seeks to aid His disciple, always produces transitory turmoil—transitory from the angle of the soul, but frequently appalling from the angle of the personality. Similarly, the projection of the life and influence of any senior disciple into the periphery or aura of the aspirant or lesser disciple is—in its degree—likewise disturbing and upsetting; this is a point which should be carefully borne in mind, both as regards the disciple’s own reactions and training, and as regards any effect which he may call forth in the life of a probationary disciple or lesser disciple in his own sphere of influence. These intrusive influences and their consequent effects which are produced upon an individual or a group by a Master or a senior disciple are usually interpreted in personality terms, and are very little understood. They are nevertheless aspects of the higher will in some higher disciple and are beating upon the personality will and evoking the sacrificial will of the Ego, and hence lead to a period of temporary discomfort. This the aspirant and the inexperienced disciple resent and blame the evoking sources for their discomfort, instead of learning the needed lesson of receiving and handling force.

Tình thương nhóm này đặt nền trên phương diện chân ngã của ý chí mà chúng ta gọi là “bác ái hi sinh”. Điều này không hàm ý những mối quan hệ vui vẻ giữa các thành viên cá nhân của nhóm. Có lẽ nó có thể dẫn đến sự tương tác bên ngoài, hời hợt và không vui, nhưng về căn bản nó dẫn đến một lòng trung thành kiên định không thể lay chuyển, nằm bên dưới bề mặt của đời sống bên ngoài. Ảnh hưởng của Chân sư, khi Ngài tìm cách trợ giúp đệ tử của Ngài, luôn tạo ra sự xáo trộn nhất thời — nhất thời theo góc nhìn của linh hồn, nhưng thường kinh khủng theo góc nhìn của phàm ngã. Tương tự, sự phóng chiếu sự sống và ảnh hưởng của bất kỳ đệ tử cao cấp nào vào chu vi hay hào quang của người chí nguyện hoặc đệ tử nhỏ hơn, trong mức độ của nó, cũng gây xáo trộn và đảo lộn; đây là một điểm cần được ghi nhớ cẩn thận, cả đối với các phản ứng và sự huấn luyện của chính đệ tử, lẫn đối với bất kỳ tác động nào mà y có thể khơi dậy trong đời sống của một đệ tử dự bị hay đệ tử nhỏ hơn trong phạm vi ảnh hưởng của chính y. Những ảnh hưởng xâm nhập này và các hiệu quả kéo theo mà một Chân sư hay một đệ tử cao cấp tạo ra nơi một cá nhân hoặc một nhóm thường được diễn giải theo những thuật ngữ phàm ngã, và rất ít được thấu hiểu. Tuy vậy, chúng là những phương diện của ý chí cao nơi một đệ tử cao hơn nào đó và đang tác động lên ý chí phàm ngã, khơi gợi ý chí hi sinh của Chân ngã, vì thế dẫn đến một giai đoạn khó chịu tạm thời. Người chí nguyện và đệ tử thiếu kinh nghiệm phẫn nộ trước điều này và đổ lỗi cho các nguồn khơi gợi về sự khó chịu của họ, thay vì học bài học cần thiết về việc tiếp nhận và xử lý mãnh lực.

1. The egoic aspect of the will comes from the so-called “sacrifice petals” of the Egoic Lotus—the third tier of petals (or energy vortices)

1. Phương diện chân ngã của ý chí đến từ cái gọi là “các cánh hoa hi sinh” của Hoa Sen Chân Ngã — tầng cánh hoa thứ ba, hay các xoáy năng lượng.

2. When the will aspect of the Ego (not the little personal ego) expresses itself, we are moved to sacrifice for the sake of love. For the sake of love we give up what the personality would normally desire for itself. We do this with no sense of deprivation or with a grim sense of duty, but because we are “moved” to do so by the warmth of the heart.

2. Khi phương diện ý chí của Chân ngã, chứ không phải cái tôi cá nhân nhỏ bé, tự biểu lộ, chúng ta được thúc đẩy hi sinh vì tình thương. Vì tình thương, chúng ta từ bỏ điều mà phàm ngã thường mong muốn cho chính nó. Chúng ta làm điều này không với cảm giác bị tước đoạt hay với ý thức bổn phận nặng nề, mà vì hơi ấm của trái tim “thúc đẩy” chúng ta làm như vậy.

3. “Sacrifice” is said to mean, to “take over”—more so than to “give up”. Another meaning of sacrifice is “giving”. We give of our fulness, and thus take over (or assume) new levels of responsibility. We “master” (take over) the lower personal energies because the higher energies of love simply supplant them.

3. Người ta nói “hi sinh” có nghĩa là “đảm nhận” — hơn là “từ bỏ”. Một nghĩa khác của hi sinh là “trao tặng”. Chúng ta trao tặng từ sự viên mãn của mình, và nhờ đó đảm nhận những cấp độ trách nhiệm mới. Chúng ta “làm chủ”, tức đảm nhận, các năng lượng cá nhân thấp hơn, bởi vì các năng lượng cao hơn của tình thương đơn giản thay thế chúng.

4. Sacrifice also means to “make sacred”. Nothing makes the energies of the personality sacred like the flow of selfless love.

4. Hi sinh cũng có nghĩa là “làm cho thiêng liêng”. Không điều gì làm cho các năng lượng của phàm ngã trở nên thiêng liêng bằng dòng chảy của tình thương vô ngã.

5. In the flow of group love, the personalities of the members are sometimes sacrificed to group good. This is simply the law and is not engineered by group members who seek to discipline the personalities of their group brothers and sisters.

5. Trong dòng chảy của tình thương nhóm, các phàm ngã của những thành viên đôi khi được hi sinh cho thiện ích nhóm. Đây đơn giản là định luật và không phải do các thành viên nhóm sắp đặt khi họ tìm cách kỷ luật phàm ngã của các huynh đệ và tỷ muội trong nhóm mình.

6. One cannot judge by the criterion of outer harmony. Personality patterns will be disrupted as love flows through. “Perfection calls imperfection to the surface”. (The Laws of Healing, IX)

6. Người ta không thể phán đoán theo tiêu chuẩn hòa hợp bên ngoài. Các mô hình phàm ngã sẽ bị phá vỡ khi tình thương tuôn chảy qua. “Sự hoàn thiện gọi sự bất toàn trồi lên bề mặt”. (Các Định Luật Trị Liệu, chín)

7. Conversely, superficial outer harmony may conceal a lack of love. On the Path of Occultism, one must see with the “esoteric sense”. Things are seldom what they seem.

7. Ngược lại, sự hòa hợp bên ngoài hời hợt có thể che giấu sự thiếu vắng tình thương. Trên Con Đường Huyền Bí Học, người ta phải thấy bằng “giác quan huyền bí”. Sự vật hiếm khi là điều chúng dường như.

8. We all have our comfort zones, reinforced by years of habitual activity. Perhaps it is not so easy to see our comforts (on all three levels of the personality) disrupted. But the energy of a Master or of a senior disciple will do this. Growth requires an initial disturbance. The inevitably disturbing sign Scorpio, follows the sign of achieved balance and harmony, Libra (though many Librans would say they suffer a great deal on the way to that balance).

8. Tất cả chúng ta đều có những vùng an ổn của mình, được củng cố bởi nhiều năm hoạt động theo thói quen. Có lẽ không dễ thấy những sự thoải mái của chúng ta, trên cả ba cấp độ của phàm ngã, bị phá vỡ. Nhưng năng lượng của một Chân sư hay của một đệ tử cao cấp sẽ làm điều này. Sự tăng trưởng đòi hỏi một xáo trộn ban đầu. Dấu hiệu Hổ Cáp, vốn chắc chắn gây xáo trộn, theo sau dấu hiệu của sự quân bình và hòa hợp đã đạt được, Thiên Bình, dù nhiều người Thiên Bình sẽ nói rằng họ chịu rất nhiều đau khổ trên đường đi đến sự quân bình ấy.

9. The Tibetan hints at different time-scales—one for the personality and another for the soul. What seems transitory in the eyes of the soul, may seem interminable from the personality perspective. When passing through one of these disturbing periods, therefore, the cultivation of the soul perspective is a wise course of action.

9. Chân sư Tây Tạng gợi ý về những thang thời gian khác nhau — một cho phàm ngã và một cho linh hồn. Điều dường như nhất thời trong mắt linh hồn có thể dường như kéo dài vô tận theo viễn cảnh của phàm ngã. Vì vậy, khi đi qua một trong những giai đoạn xáo trộn này, việc vun bồi viễn cảnh của linh hồn là một đường lối hành động khôn ngoan.

10. In the Rules of the Road we are told, “Some move ahead, he follows after; some move behind, he sets the pace.” The principle of hierarchy is omnipresent in cosmos, and everywhere the greater and the lesser (in realm of manifestation rather than in the realm of spirit) will be met. This means that we must be ready to be disturbed—even if we do not intend the disturbance, and even if the one who disturbs us does so unintentionally. Similarly, we may become the “disturber”. This disruption is not a planned act, but an effect of energies upon forces. It happens automatically.

10. Trong Các Quy Luật của Đường Đạo, chúng ta được cho biết: “Một số đi phía trước, y theo sau; một số đi phía sau, y đặt nhịp bước.” Nguyên lý thánh đoàn hiện diện khắp nơi trong vũ trụ, và ở mọi nơi người ta sẽ gặp cái lớn hơn và cái nhỏ hơn, trong lĩnh vực biểu hiện hơn là trong lĩnh vực tinh thần. Điều này có nghĩa là chúng ta phải sẵn sàng bị xáo trộn — ngay cả khi chúng ta không có ý định tạo ra xáo trộn, và ngay cả khi người làm chúng ta xáo trộn làm như vậy một cách vô tình. Tương tự, chúng ta có thể trở thành “người gây xáo trộn”. Sự phá vỡ này không phải là một hành động được hoạch định, mà là một tác động của năng lượng lên các mãnh lực. Nó xảy ra tự động.

11. If we seek to advance, we will always swing into the orbit of one who has achieved what we are seeking to achieve. Others will be moving towards the place whereon we stand. The soul lives in “calmness forever unperturbed” (the quality of the second ray). We must learn this occult serenity during periods of upheaval. We can do this if our sense of values is adjusted. “There is a peace which passeth understanding. It abides in the hearts of those who live in the eternal”. Clearly, if we are learning to “live in the eternal”, every passing personality disturbance will not be seen as crucially important. Detachment will enter, and the disturbance will appear to be happening not to “me” but to something else—the “not-self”

11. Nếu chúng ta tìm cách tiến lên, chúng ta sẽ luôn đi vào quỹ đạo của một người đã đạt được điều chúng ta đang tìm cách đạt được. Những người khác sẽ đang tiến về nơi chúng ta đang đứng. Linh hồn sống trong “sự bình lặng mãi mãi không xao động”, tức phẩm tính của cung hai. Chúng ta phải học sự tĩnh lặng huyền bí này trong những thời kỳ biến động. Chúng ta có thể làm điều này nếu ý thức về giá trị của chúng ta được điều chỉnh. “Có một sự bình an vượt quá mọi thấu hiểu. Nó ngự trong trái tim của những ai sống trong cái vĩnh cửu.” Rõ ràng, nếu chúng ta đang học cách “sống trong cái vĩnh cửu”, thì mọi xáo trộn thoáng qua của phàm ngã sẽ không được xem là có tầm quan trọng quyết định. Sự tách rời sẽ đi vào, và sự xáo trộn sẽ dường như xảy ra không phải với “tôi” mà với một điều gì khác — “phi-ngã”

12. The Tibetan suggests, however, that the “intrusive influences”, although mostly unintentional, are usually taken personally. This means they are taken emotionally, or as a reaction of the “kama-manas” (desire mind—not the most objective and detached aspect of mind). Even in the personnel of the Tibetan’s own groups, selected by Him for individual training, there was what can only be called “reactivity”. It is the first and long practiced response. For those in training for discipleship and initiation, something more serene must take its place.

12. Tuy nhiên, Chân sư Tây Tạng gợi ý rằng các “ảnh hưởng xâm nhập”, dù phần lớn là vô ý, thường được tiếp nhận theo lối cá nhân. Điều này có nghĩa là chúng được tiếp nhận theo cảm xúc, hay như một phản ứng của “trí dục”, tức thể trí dục vọng — không phải phương diện khách quan và tách rời nhất của thể trí. Ngay cả trong nhân sự của các nhóm riêng của Chân sư Tây Tạng, được Ngài tuyển chọn để huấn luyện cá nhân, vẫn có điều chỉ có thể gọi là “tính phản ứng”. Đó là đáp ứng đầu tiên và đã được thực hành lâu dài. Đối với những người đang được huấn luyện cho địa vị đệ tử và điểm đạo, một điều tĩnh lặng hơn phải thay thế nó.

13. Note the Tibetan’s explanation for the difficulty—the higher will of the advanced disciple of Master beats upon (Vulcan—the “hammer” and ruler of Spiritual Will) the personality will of the lesser disciple and, if all goes well, evokes the sacrificial will of the Ego, which will flood the personality will loving-understanding and the will to relinquish those personality patterns which stand in the way of the higher will.

13. Hãy lưu ý lời giải thích của Chân sư Tây Tạng về khó khăn này — ý chí cao của đệ tử tiến bộ của Chân sư tác động lên, Vulcan — “chiếc búa” và chủ tinh của Ý Chí Tinh Thần — ý chí phàm ngã của đệ tử nhỏ hơn; và nếu mọi việc diễn tiến tốt đẹp, nó khơi gợi ý chí hi sinh của Chân ngã, ý chí này sẽ tràn ngập ý chí phàm ngã bằng sự thấu hiểu đầy bác ái và bằng ý chí từ bỏ những mô hình phàm ngã cản đường ý chí cao hơn.

14. Of course, one’s own higher will can “beat upon” one’s personality will (another disciple is not needed in all cases), and the results will be just as uncomfortable.

14. Dĩ nhiên, ý chí cao hơn của chính mình có thể “tác động lên” ý chí phàm ngã của mình; không phải trong mọi trường hợp đều cần một đệ tử khác, và các kết quả cũng sẽ khó chịu như vậy.

15. The Tibetan’s advice—learn the needed lessons of receiving and handling force.

15. Lời khuyên của Chân sư Tây Tạng là: hãy học các bài học cần thiết về việc tiếp nhận và xử lý mãnh lực.

16. We can see how helpful it would be if our center of identification were elsewhere than in the personality vehicles.

16. Chúng ta có thể thấy sẽ hữu ích biết bao nếu trung tâm đồng hóa của chúng ta ở nơi khác, chứ không nằm trong các vận cụ phàm ngã.

C. The capacity to identify the group with the will or purpose of the Monad (cf. RI, p. 32-33)

C. Khả năng đồng hóa nhóm với ý chí hay mục đích của Chân thần (xem RI, tr. 32-33)

The basic attitude of the would-be initiate: it should be one of purpose, governed by pure reason and working out in spiritual activity (cf. RI, p. 33)

Thái độ căn bản của người có thể trở thành điểm đạo đồ: đó phải là thái độ của mục đích, được lý trí thuần khiết chi phối và thể hiện trong hoạt động tinh thần (xem RI, tr. 33)

The attitude of the initiate-in-training should be one of right spiritual motive – the motive being the intelligent fulfillment of the will aspect of divinity (cf. RI, p. 33)

Thái độ của người đang được huấn luyện điểm đạo phải là thái độ của động cơ tinh thần đúng đắn — động cơ ấy là sự thực hiện thông minh phương diện ý chí của thiên tính (xem RI, tr. 33)

The merging of the personality self-will into that of the sacrificial will of the soul; and this, when accomplished, will lead to the revelation of the divine Will (cf. RI, p. 33)

Sự hòa nhập ý chí tự ngã của phàm ngã vào ý chí hi sinh của linh hồn; và khi điều này hoàn tất, nó sẽ dẫn đến sự mặc khải của Ý Chí thiêng liêng (xem RI, tr. 33)

The release of the faculty of spiritual perception and of intuitive understanding, involves the negation of the activity of the lower or concrete mind, of the lower personal self, and the subordination of the knowledge aspect of the soul to the clear pure light of the divine understanding (cf. RI, p. 33)

Sự giải phóng năng lực tri giác tinh thần và thấu hiểu trực giác bao hàm việc phủ định hoạt động của hạ trí hay trí cụ thể, của phàm ngã thấp, và đặt phương diện tri thức của linh hồn dưới ánh sáng trong trẻo, thuần khiết của sự thấu hiểu thiêng liêng (xem RI, tr. 33)

Where, however, real love exists, it will produce the lessening of the personality will, the evocation of the sacrificial egoic will, and a constantly growing capacity to identify [Page 33] the group with the will or purpose of the Monad. The progress of the group is, therefore, from one burning ground to another—each burning ground being colder and clearer than the preceding one but producing sequentially the burning fire, the clear cold lighted fire, and the consuming divine fire.

Tuy nhiên, nơi nào tình thương chân thật hiện hữu, nó sẽ tạo ra sự giảm thiểu ý chí phàm ngã, sự khơi gợi ý chí chân ngã hi sinh, và một khả năng không ngừng tăng trưởng để đồng hóa [Trang 33] nhóm với ý chí hay mục đích của Chân thần. Vì vậy, sự tiến bộ của nhóm là từ vùng đất cháy này sang vùng đất cháy khác — mỗi vùng đất cháy lạnh hơn và rõ hơn vùng trước đó, nhưng lần lượt tạo ra lửa cháy, lửa được soi sáng trong trẻo và lạnh, và lửa thiêng liêng thiêu đốt.

1. Love is the great solvent.

1. Tình thương là dung môi vĩ đại.

2. Resistant personality states give may much more easily when they are ‘softened up’ by love.

2. Những trạng thái phàm ngã chống đối có thể dễ nhượng bộ hơn nhiều khi chúng được tình thương làm mềm dịu.

3. The sacrificial egoic will asks that the group welfare be served even at personal cost. The person identified strictly as a person will find this difficult. The person who has learned to extend the boundaries of his identification and see himself more as a group-pervasive soul, will find the task easier and more natural.

3. Ý chí chân ngã hi sinh đòi hỏi rằng phúc lợi nhóm phải được phụng sự, ngay cả với cái giá cá nhân. Người chỉ đồng hóa nghiêm ngặt như một cá nhân sẽ thấy điều này khó khăn. Người đã học cách mở rộng các ranh giới đồng hóa của mình và thấy mình nhiều hơn như một linh hồn thấm khắp nhóm sẽ thấy nhiệm vụ ấy dễ dàng và tự nhiên hơn.

4. The circles keep expanding. Personal identification is the smallest circle and relates to the lowest type of will. Egoic identification widens the circle and leads to group identification; one finds one’s center ‘extended throughout the group’. The will or purpose of the Monad embraces a still wider sphere of identification, until consciousness becomes, in fact, planetary.

4. Các vòng tròn tiếp tục mở rộng. Sự đồng hóa cá nhân là vòng tròn nhỏ nhất và liên hệ với loại ý chí thấp nhất. Sự đồng hóa chân ngã mở rộng vòng tròn và dẫn đến sự đồng hóa nhóm; người ta thấy trung tâm của mình “được mở rộng khắp nhóm”. Ý chí hay mục đích của Chân thần bao hàm một phạm vi đồng hóa còn rộng lớn hơn nữa, cho đến khi tâm thức thật sự trở nên hành tinh.

5. Then, in beautiful language, a paradox is offered for our consideration, but by now we can solve it. We are asked to go (as a group) from one burning ground to another, anticipating that the each successive burning ground (each necessarily ‘hotter’ and more intense than the preceding one) will, somehow, also be colder and clearer as well.

5. Rồi, bằng ngôn ngữ đẹp đẽ, một nghịch lý được đưa ra để chúng ta suy xét, nhưng đến lúc này chúng ta có thể giải quyết nó. Chúng ta được yêu cầu, với tư cách một nhóm, đi từ vùng đất cháy này sang vùng đất cháy khác, trong khi dự liệu rằng mỗi vùng đất cháy kế tiếp, vốn nhất thiết “nóng” hơn và mãnh liệt hơn vùng trước đó, bằng cách nào đó cũng sẽ lạnh hơn và rõ hơn.

6. We begin to realize that it is the lower aspects of ourselves which are progressively submitted to the flame, while the higher aspects observe, detached, within the clear, cold light.

6. Chúng ta bắt đầu nhận ra rằng chính các phương diện thấp hơn của bản thân chúng ta đang dần dần được đặt vào ngọn lửa, trong khi các phương diện cao hơn quan sát một cách tách rời, bên trong ánh sáng trong trẻo, lạnh lẽo.

7. The sequence of the “burning fire, the clear cold lighted fire, and the consuming divine fire” is important. It is simply the sequence from personality, to soul to Triad/Spirit/Monad. In the “burning fire” we are liberated from personality claims; in the “clear cold lighted fire” we see and understand. In the “consuming divine fire”, we become what we are. That which is less than essence is consumed and no longer obstructs a return to being.

7. Trình tự của “lửa cháy, lửa được soi sáng trong trẻo và lạnh, và lửa thiêng liêng thiêu đốt” là quan trọng. Đó đơn giản là trình tự từ phàm ngã, đến linh hồn, rồi đến Tam Nguyên Tinh Thần/Tinh Thần/Chân Thần. Trong “lửa cháy”, chúng ta được giải thoát khỏi những đòi hỏi của phàm ngã; trong “lửa được soi sáng trong trẻo và lạnh”, chúng ta thấythấu hiểu. Trong “lửa thiêng liêng thiêu đốt”, chúng ta trở thành điều chúng ta là. Điều gì kém hơn tinh túy thì bị thiêu đốt và không còn cản trở sự trở về với bản thể.

Thus in parables the truth goes out, and gradually the initiate grasps the uses of heat, warmth, light and energy; he arrives at an understanding of self-will, sacrificial will and Shamballic purpose, and only Love (self-love, group love, and finally, divine love) can reveal the significance of these symbolic words and the occult paradoxes which confront the true aspirant as he attempts to tread the Way.

Như vậy, qua các dụ ngôn, chân lý được truyền ra, và dần dần điểm đạo đồ nắm bắt các công dụng của nhiệt, hơi ấm, ánh sáng và năng lượng; y đi đến sự thấu hiểu về ý chí tự ngã, ý chí hi sinh và mục đích Shamballa, và chỉ có Tình thương, tức tình thương bản thân, tình thương nhóm, và cuối cùng là tình thương thiêng liêng, mới có thể mặc khải thâm nghĩa của những từ biểu tượng này và những nghịch lý huyền bí đối diện với người chí nguyện chân chính khi y cố gắng bước trên Đường Đạo.

1. This is one of those marvelous little summaries of the foregoing ideas.

1. Đây là một trong những bản tóm lược nhỏ tuyệt diệu về các ý tưởng vừa nêu.

2. A whole sequence of training, perhaps covering a number of lives, is encapsulated into one sentence.

2. Cả một trình tự huấn luyện, có lẽ bao trùm nhiều kiếp sống, được cô đọng trong một câu.

3. Such sequences are memorable, and we should remember them. Only by divesting ourselves of what we have been ‘carrying’, can we become sufficiently unburdened to experience and identify with Shamballic purpose. As we do so however, the burden of our service increases. The burden we ‘lay down’ is one of personality ‘baggage’.

3. Những trình tự như vậy rất đáng ghi nhớ, và chúng ta nên ghi nhớ chúng. Chỉ bằng cách trút bỏ những gì chúng ta đã “mang theo”, chúng ta mới có thể nhẹ gánh đủ để kinh nghiệm và đồng hóa với mục đích Shamballa. Tuy nhiên, khi chúng ta làm như vậy, gánh nặng phụng sự của chúng ta tăng lên. Gánh nặng mà chúng ta “đặt xuống” là một thứ “hành trang” phàm ngã.

4. Again the revealing power of Love is brought to our attention. If we study these Rules with our minds alone, we shall not fathom them. Paradoxes bewilder the mind because they are not conventionally logical. Love, however, has a strange resolving power, and reveals the truth that apparent opposites are really part of the same unity. If we take the Tibetan at His word, we simply have to ‘love and, thus, see’.

4. Một lần nữa, quyền năng mặc khải của Bác Ái được đưa đến sự chú ý của chúng ta. Nếu chúng ta nghiên cứu các Quy luật này chỉ bằng thể trí, chúng ta sẽ không thấu triệt chúng. Các nghịch lý làm thể trí bối rối vì chúng không hợp luận lý theo lối thông thường. Tuy nhiên, Bác Ái có một quyền năng hóa giải kỳ lạ, và mặc khải chân lý rằng những đối cực bề ngoài thật ra là một phần của cùng một nhất thể. Nếu chúng ta tin lời Chân sư Tây Tạng, chúng ta chỉ cần “yêu thương và nhờ đó thấy”.

5. Some may have thought in this 28 Rules Initiative, that they are getting into a mentally demanding study. This is true only to a certain extent. The demands upon the power to love are far greater and more important. Let us remember this.

5. Một số người có thể đã nghĩ rằng trong Sáng Kiến 28 Quy Luật này, họ đang bước vào một nghiên cứu đòi hỏi nhiều về trí tuệ. Điều này chỉ đúng ở một mức độ nào đó. Những đòi hỏi đặt lên quyền năng yêu thương lớn hơn và quan trọng hơn rất nhiều. Chúng ta hãy ghi nhớ điều này.

As we continue our studies of the rules to be followed by those receiving initiate-training, I would remind you of certain things, some of them already touched upon but requiring re-emphasis. Any usefulness which these Rules may have for you will be dependent upon your grasping a few basic ideas and then proceeding to make them factual as far as in you lies.

Khi chúng ta tiếp tục nghiên cứu các quy luật mà những người đang nhận sự huấn luyện điểm đạo phải tuân theo, Tôi xin nhắc các bạn về một số điều, vài điều trong số đó đã được đề cập nhưng cần được nhấn mạnh lại. Bất kỳ sự hữu ích nào mà các Quy luật này có thể có đối với các bạn sẽ tùy thuộc vào việc các bạn nắm bắt một vài ý tưởng căn bản, rồi tiến hành làm cho chúng trở thành sự kiện trong mức các bạn có thể.

1. We are definitely in the midst of a course on initiate training, which does not mean that all of us or any of us are going to be initiate and initiated in this present life cycle, or that the group will become initiated. It may be so; it may not.

1. Chúng ta chắc chắn đang ở giữa một khóa học về huấn luyện điểm đạo, điều này không có nghĩa là tất cả chúng ta hay bất kỳ ai trong chúng ta sẽ trở thành điểm đạo đồ và được điểm đạo trong chu kỳ đời sống hiện tại này, hay rằng nhóm sẽ được điểm đạo. Điều đó có thể xảy ra; cũng có thể không.

2. It is important for us to understand time from a more spiritual—more from the perspective of the soul, which counts one life cycle as very little. That we are in training for events which may climax in a hundred or two hundred or more years, should make no difference for us. We must begin somewhere, and we have a reliable esoteric teaching with which to work. Patience comes with an enlarged perspective. It allows one to “breathe deeply” and to wait. The urgent personality (ruled generically by Mars) is in a hurry. The soul (generically ruled by Venus) can wait patiently, and in beauty, until the hour of fulfillment.

2. Điều quan trọng là chúng ta phải thấu hiểu thời gian theo cách tinh thần hơn — nhiều hơn từ viễn cảnh của linh hồn, vốn xem một chu kỳ đời sống là rất ít. Việc chúng ta đang được huấn luyện cho những sự kiện có thể đạt cao điểm trong một trăm, hai trăm năm hay hơn nữa, không nên tạo ra khác biệt nào đối với chúng ta. Chúng ta phải bắt đầu từ đâu đó, và chúng ta có một giáo huấn huyền bí đáng tin cậy để làm việc. Kiên nhẫn đến cùng với một viễn cảnh được mở rộng. Nó cho phép người ta “thở sâu” và chờ đợi. Phàm ngã khẩn trương, nói chung do Sao Hỏa cai quản, thì vội vã. Linh hồn, nói chung do Sao Kim cai quản, có thể kiên nhẫn chờ đợi, và chờ trong vẻ đẹp, cho đến giờ phút hoàn tất.

3. The call goes forth to make the Tibetan’s suggestions factual. Master Morya said, “We are tired of castles in the air”. Some of us, having built more than our share, begin to know what he means. What an initiate is, he does. “By their fruits ye shall know them”. One of the major purposes of this group experiment is the ‘factualization’ of this apparently abstruse teaching. We begin and work with ourselves as we are—and do our best, “as far as in [Page us] lies”.

3. Tiếng gọi vang lên để biến các gợi ý của Chân sư Tây Tạng thành sự kiện. Chân sư Morya nói: “Chúng ta đã mệt mỏi với những lâu đài trên không”. Một số chúng ta, sau khi đã xây nhiều hơn phần của mình, bắt đầu biết Ngài muốn nói gì. Điều mà một điểm đạo đồ , y làm. “Nhờ quả của họ, các ngươi sẽ biết họ.” Một trong những mục đích chính của thí nghiệm nhóm này là “biến thành sự kiện” giáo huấn có vẻ trừu áo này. Chúng ta bắt đầu và làm việc với chính mình như chúng ta đang là — và làm hết sức mình, “trong mức [Trang chúng ta] có thể”.

First, I would call your attention to what should be the basic attitude of the would-be initiate: It should be one of purpose, governed by pure reason and working out in spiritual activity. That is a sentence easily written, but what specifically does it convey to you? Let me enlarge upon it somewhat. The attitude of the initiate-in-training should be one of right spiritual motive—the motive being the intelligent fulfillment of the will aspect of divinity, or of the Monad. This involves the merging of his personality self-will into that of the sacrificial will of the soul; and this, when accomplished, will lead to the revelation of the divine Will. Of this Will, no one who is not an initiate has any conception. It means, secondly, the release of the faculty of spiritual perception and of intuitive understanding, which involves the negation of the activity of the lower or concrete mind, of the lower personal self, and the subordination of the knowledge aspect of the soul to the clear pure light of the divine understanding. When these two factors are beginning to be [Page 34] active, you will have the emergence of true spiritual activity upon the physical plane, motivated from the high source of the Monad, and implemented by the pure reason of the intuition.

Trước hết, Tôi xin hướng sự chú ý của các bạn đến điều phải là thái độ căn bản của người có thể trở thành điểm đạo đồ: đó phải là thái độ của mục đích, được lý trí thuần khiết chi phối và thể hiện trong hoạt động tinh thần. Đó là một câu dễ viết, nhưng cụ thể nó truyền đạt điều gì cho các bạn? Hãy để Tôi khai triển đôi chút. Thái độ của người đang được huấn luyện điểm đạo phải là thái độ của động cơ tinh thần đúng đắn — động cơ ấy là sự thực hiện thông minh phương diện ý chí của thiên tính, hay của Chân thần. Điều này bao hàm sự hòa nhập ý chí tự ngã của phàm ngã của y vào ý chí hi sinh của linh hồn; và khi điều này hoàn tất, nó sẽ dẫn đến sự mặc khải của Ý Chí thiêng liêng. Về Ý Chí này, không ai chưa phải là điểm đạo đồ có bất kỳ quan niệm nào. Thứ hai, nó có nghĩa là sự giải phóng năng lực tri giác tinh thần và thấu hiểu trực giác, điều này bao hàm việc phủ định hoạt động của hạ trí hay trí cụ thể, của phàm ngã thấp, và đặt phương diện tri thức của linh hồn dưới ánh sáng trong trẻo, thuần khiết của sự thấu hiểu thiêng liêng. Khi hai yếu tố này bắt đầu [Trang 34] hoạt động, các bạn sẽ thấy sự xuất hiện của hoạt động tinh thần chân thật trên cõi hồng trần, được thúc đẩy từ nguồn cao của Chân thần, và do lý trí thuần khiết của trực giác triển khai.

1. He encourages us—the “would be initiate”. That is who we are. If we know the requirements, we can more easily intend to fulfill them.

1. Ngài khích lệ chúng ta — “người có thể trở thành điểm đạo đồ”. Đó là chúng ta. Nếu chúng ta biết các yêu cầu, chúng ta có thể dễ dàng hơn hướng ý định đến việc thực hiện chúng.

2. The Spiritual Triad is the personality of the Monad. Purpose is related to the atmic plane, pure reason to the buddhic and spiritual activity to the higher manas. The three aspects of the Triad are thus represented.

2. Tam Nguyên Tinh Thần là phàm ngã của Chân thần. Mục đích liên hệ với cõi atma, lý trí thuần khiết với cõi Bồ đề, và hoạt động tinh thần với manas cao. Như vậy, ba phương diện của Tam nguyên tinh thần được biểu thị.

3. The Tibetan calls our attention to the value of “right spiritual motive”. Perhaps every day in our lives should see a ‘motive check’—even if instantly.

3. Chân sư Tây Tạng hướng sự chú ý của chúng ta đến giá trị của “động cơ tinh thần đúng đắn”. Có lẽ mỗi ngày trong đời sống chúng ta nên có một lần “kiểm tra động cơ” — dù chỉ trong khoảnh khắc.

4. If we are to intelligently fulfill the will aspect of divinity or of the Monad, the phrase, “Not my will Father, but Thine be done” warrants pondering. We are so familiar with it, correct? But think of the selflessness and decentralization required if it is to be fulfilled.

4. Nếu chúng ta phải thực hiện một cách thông minh phương diện ý chí của thiên tính hay của Chân thần, thì câu “Không phải ý con, thưa Cha, mà là Ý Cha được thực hiện” đáng được suy ngẫm. Chúng ta quá quen thuộc với câu ấy, đúng không? Nhưng hãy nghĩ đến tính vô ngã và sự phi tập trung vào bản thân cần thiết nếu điều ấy phải được thực hiện.

5. The sequence is again given—personality will, the sacrificial will of the soul, and the divine Will. How often the Tibetan tells us that we really know nothing of the will—in this case, the divine Will. Why should we be ignorant on this matter? It may be said that our habitual level of identification is too low. We think we are what we are not, and identify with an extension of the Spirit rather than pure being. Of course, this is so, because we are not ‘there’ yet; but our progress can be accelerated under the special testing circumstances now being both presented to and evoked within Humanity.

5. Trình tự lại được nêu ra—ý chí phàm ngã, ý chí hi sinh của linh hồn, và Ý Chí thiêng liêng. Chân sư Tây Tạng thường nói với chúng ta biết bao lần rằng thật ra chúng ta chẳng biết gì về ý chí—trong trường hợp này là Ý Chí thiêng liêng. Vì sao chúng ta lại vô minh về vấn đề này? Có thể nói rằng cấp độ đồng hoá quen thuộc của chúng ta còn quá thấp. Chúng ta nghĩ mình điều mà chúng ta không phải là, và đồng hoá với một sự mở rộng của Tinh thần hơn là với bản thể thuần khiết. Dĩ nhiên, sự việc là như thế, vì chúng ta chưa “ở đó”; nhưng tiến bộ của chúng ta có thể được gia tốc dưới những hoàn cảnh thử thách đặc biệt hiện đang vừa được đưa đến cho Nhân loại vừa được khơi gợi bên trong Nhân loại.

6. So training for initiation involves the trained use of the will. What else does it involve?

6. Việc huấn luyện cho điểm đạo bao hàm việc sử dụng ý chí đã được rèn luyện. Nó còn bao hàm điều gì nữa?

“the release of the faculty of spiritual perception and of intuitive understanding, which involves the negation of the activity of the lower or concrete mind, of the lower personal self, and the subordination of the knowledge aspect of the soul to the clear pure light of the divine understanding.”

“sự giải phóng năng lực nhận thức tinh thần và thấu hiểu trực giác, điều này bao hàm sự phủ định hoạt động của hạ trí hay trí cụ thể, của phàm ngã thấp, và sự đặt phương diện tri thức của linh hồn dưới ánh sáng trong sạch, thuần khiết của sự thấu hiểu thiêng liêng.”

This is an important statement but must be approached carefully. There are too many of us ready to negate the mind before it has been developed and used. The so-called ‘mental’ types and ‘sensitive-feeling types’ look at each other with distrust. Of course a balance is needed. The true initiate is both the occultist and the mystic (thus responding to both Uranus and Neptune, respectively).

Đây là một phát biểu quan trọng nhưng phải được tiếp cận một cách cẩn trọng. Có quá nhiều người trong chúng ta sẵn sàng phủ định thể trí trước khi nó được phát triểnsử dụng. Những người được gọi là thuộc loại “trí tuệ” và những người thuộc loại “nhạy cảm-cảm xúc” nhìn nhau với sự ngờ vực. Dĩ nhiên cần có sự quân bình. Điểm đạo đồ chân chính là cả nhà huyền bí học lẫn nhà thần bí, do đó đáp ứng lần lượt với cả Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương.

7. The message here is that knowledge is to be used, but is not allowed to get in the way. It is definitely secondary to love, wisdom and understanding.

7. Thông điệp ở đây là tri thức phải được sử dụng, nhưng không được phép cản trở. Nó chắc chắn là thứ yếu so với tình thương, minh triết và sự thấu hiểu.

8. We may here be reminded of the Yoga Sutras of Patanjali, which calls for the “stilling of the modifications of the mind” so that the chitta (mental substance) can faithfully reflect the higher perceptions.

8. Ở đây chúng ta có thể được nhắc đến Kinh Yoga của Patanjali, vốn kêu gọi “làm lắng yên những biến thái của thể trí” để chitta, tức chất liệu trí tuệ, có thể phản chiếu trung thực những nhận thức cao hơn.

9. Mind is the “slayer of the real”, yes, but it is also the “revealer of the real”. It all depends on the level of mind to which we are referring.

9. Thể trí là “kẻ sát hại cái chân thực”, đúng vậy, nhưng nó cũng là “kẻ mặc khải cái chân thực”. Tất cả tùy thuộc vào cấp độ của thể trí mà chúng ta đang nói đến.

10. The trouble with lower mind is that it is complex, and, at times, fragmenting (rather than effectively discriminating). This is well and good when it comes to handling the tremendous detail to be found within the three lower worlds, but leads to illusion when we want to experience unity and “straight knowledge”, “infallible intuitive perception”, “spiritual perception”—all descriptions of the kind of ‘knowledge’ to be encountered through the use of the buddhic faculty (cultivated under Mercury and Neptune).

10. Vấn đề với hạ trí là nó phức tạp, và đôi khi gây phân mảnh hơn là phân biện một cách hữu hiệu. Điều này rất tốt khi xử lý vô số chi tiết trong ba cõi thấp, nhưng lại dẫn đến ảo tưởng khi chúng ta muốn kinh nghiệm sự hợp nhất và “tri thức trực tiếp”, “nhận thức trực giác không sai lầm”, “nhận thức tinh thần”—tất cả đều là những mô tả về loại “tri thức” gặp được qua việc sử dụng năng lực Bồ đề, được vun bồi dưới Sao Thủy và Sao Hải Vương.

11. Those that begin to pass experience ‘through’ the heart and the heart in the head begin to grasp the nature of spiritual perception. For the average disciple, this is best done after lower mind has done its required work. Eventually, the cogitations of the lower mind will be superceded, the ‘three’ (the normal three aspects of mind—concrete mind, soul mind and abstract mind) will fuse and give place to, or unite with, the ‘two’ (a new duality), and buddhi-manas (intuitive abstract mind) will be established.

11. Những ai bắt đầu để kinh nghiệm đi “qua” trái tim và trái tim trong đầu thì bắt đầu nắm bắt bản chất của nhận thức tinh thần. Đối với đệ tử trung bình, điều này được thực hiện tốt nhất sau khi hạ trí đã làm xong công việc cần thiết của nó. Cuối cùng, những suy tư của hạ trí sẽ được thay thế, “ba” tức ba phương diện thông thường của thể trí—trí cụ thể, thể trí linh hồn và trí trừu tượng—sẽ dung hợp và nhường chỗ cho, hoặc hợp nhất với, “hai”, một nhị nguyên mới, và buddhi-manas, tức trí trừu tượng trực giác, sẽ được thiết lập.

12. The disciple who can express buddhi-manas is entering initiate consciousness. This is a definite possibility on a wide scale as we move towards the sixth subrace of the fifth root race. In occultism, buddhi is the sixth principle and manas is the fifth. Numbers tell the story. When certain numbers emerge cyclically, it is time to cultivate the qualities and faculties associated with those numbers. Planetary unfoldment is orderly and carefully timed. The Masters can follow these cycles and we have to learn to do so.

12. Đệ tử nào có thể biểu lộ buddhi-manas thì đang bước vào tâm thức điểm đạo đồ. Đây là một khả năng rõ rệt trên quy mô rộng khi chúng ta tiến về giống dân phụ thứ sáu của giống dân gốc thứ năm. Trong huyền bí học, Bồ đề là nguyên khí thứ sáu và manas là nguyên khí thứ năm. Các con số kể lại câu chuyện. Khi một số con số nhất định xuất hiện theo chu kỳ, đó là lúc vun bồi những phẩm tính và năng lực gắn liền với các con số ấy. Sự khai mở hành tinh có trật tự và được định thời cẩn trọng. Các Chân sư có thể theo dõi những chu kỳ này và chúng ta phải học làm như vậy.

13. Who is effective, spiritually, upon the physical plane? Not necessarily the well-meaning activist. The one who has synthesized divine Will and spiritual intuitive perception—the true initiate—this is the one who brings true spiritual activity to the physical plane. It is interesting that such high faculties have to be developed before one can work with greatest impact upon the lowest level.

13. Ai là người hữu hiệu về mặt tinh thần trên cõi hồng trần? Không nhất thiết là nhà hoạt động có thiện chí. Người đã tổng hợp Ý Chí thiêng liêng và nhận thức trực giác tinh thần—điểm đạo đồ chân chính—chính người ấy đem hoạt động tinh thần chân thật xuống cõi hồng trần. Điều thú vị là những năng lực cao như thế phải được phát triển trước khi một người có thể làm việc với tác động lớn nhất trên cấp độ thấp nhất.

D. These Rules are in reality great Formulas of Approach, but they indicate approach to a specific section of the Path and not approach to the Initiator (cf. RI, p. 34)

D. Những Quy luật này thực ra là các Công Thức Tiếp Cận vĩ đại, nhưng chúng chỉ ra sự tiếp cận một phần chuyên biệt của Con Đường chứ không phải sự tiếp cận Đấng Điểm đạo (xem RI, tr. 34)

After the third initiation, the initiate is not concerned with consciousness at all, but with the fusion of his individual will with the divine will (cf. RI, p. 34)

Sau lần điểm đạo thứ ba, điểm đạo đồ hoàn toàn không bận tâm đến tâm thức, mà đến sự dung hợp ý chí cá nhân của y với Ý Chí thiêng liêng (xem RI, tr. 34)

The initiate after the third initiation is not then occupied with the increasing his sensitivity to contact, or with his conscious response to environing conditions, but is becoming increasingly aware of the dynamics of the Science of Service of the Plan (cf. RI, p. 34)

Điểm đạo đồ sau lần điểm đạo thứ ba bấy giờ không bận rộn với việc gia tăng sự nhạy cảm của mình đối với tiếp xúc, hay với đáp ứng có ý thức của mình trước các điều kiện chung quanh, mà đang ngày càng ý thức về động lực học của Khoa Học Phụng Sự Thiên Cơ (xem RI, tr. 34)

It will be apparent to you, therefore, that these higher spiritual faculties can only be brought into play when the bridging antahkarana is beginning to play its part. Hence the teaching which I am giving on the construction of the rainbow bridge.

Do đó, các bạn sẽ thấy rõ rằng những năng lực tinh thần cao siêu này chỉ có thể được đưa vào vận dụng khi antahkarana bắt cầu bắt đầu đóng vai trò của nó. Vì thế có giáo huấn mà Tôi đang truyền dạy về việc xây dựng Cây cầu vồng.

1. The work on the antahkarana may seem intangible and difficult to grasp—not an especially ‘practical’ type of meditation.

1. Công việc về antahkarana có thể có vẻ vô hình và khó nắm bắt—không phải là một loại tham thiền đặc biệt “thực tiễn”.

2. But this is not so, if the higher and more distant objectives are to be achieved.

2. Nhưng không phải vậy, nếu các mục tiêu cao hơn và xa hơn phải được thành tựu.

3. The faculties we possess as spiritual-soul on Triadal levels are simply not available to the personal energy system unless the antahkarana is built.

3. Những năng lực mà chúng ta sở hữu với tư cách linh hồn tinh thần trên các cấp độ Tam Nguyên tinh thần đơn giản là không sẵn có cho hệ thống năng lượng phàm ngã nếu antahkarana chưa được xây dựng.

4. Thus, in this building, a groundwork is being laid for the possibility, one day, of functioning as an initiate.

4. Như vậy, trong việc xây dựng này, một nền tảng đang được đặt ra cho khả năng một ngày kia hoạt động như một điểm đạo đồ.

5. The Ageless Wisdom helps put the human being back together. Osiris has been cut into fourteen pieces by His enemy Typhon, and Isis must find the way to reconstitute Him. Isis is the Ageless Wisdom. We can think of HPB’s book “Isis Unveiled” as the Wisdom revealed.

5. Minh Triết Ngàn Đời giúp ráp nối con người lại. Osiris đã bị kẻ thù của Ngài là Typhon chặt thành mười bốn mảnh, và Isis phải tìm cách tái lập Ngài. Isis là Minh Triết Ngàn Đời. Chúng ta có thể nghĩ về quyển sách “Isis Được Vén Màn” của Bà HPB như là Minh triết được mặc khải.

6. Cleavage and fragmentation are everywhere to be found, and the Ageless Wisdom leads us to reunification.

6. Sự chia tách và phân mảnh có mặt khắp nơi, và Minh Triết Ngàn Đời dẫn chúng ta đến sự tái hợp nhất.

7. Under the second ray and Jupiter (a planetary god of wisdom and perspective) we are involved with the force which “brings all together”.

7. Dưới cung hai và Sao Mộc, một vị thần hành tinh của minh triết và tầm nhìn, chúng ta liên hệ với mãnh lực “đem tất cả lại với nhau”.

These Rules are in reality great Formulas of Approach, but they indicate approach to a specific section of the Path and not approach to the Initiator. I would have you reflect upon this distinction. The “Way of the Higher Evolution” lies open to the aspirant to the Greater Mysteries, but he is oft bewildered in the beginning and frequently questions in his mind the difference between the progress or evolution of the personality towards soul consciousness and the nature of the progress which lies ahead and which is essentially different to the unfoldment of pure consciousness. Had you grasped the fact that after the third initiation, the initiate is not concerned with consciousness at all, but with the fusion of his individual will with the divine will. He is not then occupied with increasing his sensitivity to contact, or with his conscious response to environing conditions, but is becoming increasingly aware of the dynamics of the Science of the Service of the Plan. This distinctive realisation can only come when his fused and blended personality and soul expression of will has disappeared in the blazing light of the divine Purpose—a purpose which cannot be frustrated even if at times delayed, as it has been during the past fifty-five years. (Written in February, 1943.)

Những Quy luật này thực ra là các Công Thức Tiếp Cận vĩ đại, nhưng chúng chỉ ra sự tiếp cận một phần chuyên biệt của Con Đường chứ không phải sự tiếp cận Đấng Điểm đạo. Tôi muốn các bạn suy ngẫm về sự phân biệt này. “Con đường Tiến Hóa Cao Siêu” mở ra cho người chí nguyện hướng đến các Bí Nhiệm Lớn, nhưng lúc đầu y thường bối rối và thường tự hỏi trong thể trí mình về sự khác biệt giữa tiến bộ hay tiến hoá của phàm ngã hướng đến tâm thức linh hồn và bản chất của tiến bộ còn ở phía trước, vốn khác biệt về căn bản với sự khai mở của tâm thức thuần khiết. Các bạn đã nắm được sự kiện rằng sau lần điểm đạo thứ ba, điểm đạo đồ hoàn toàn không bận tâm đến tâm thức, mà đến sự dung hợp ý chí cá nhân của y với Ý Chí thiêng liêng. Bấy giờ y không bận rộn với việc gia tăng sự nhạy cảm của mình đối với tiếp xúc, hay với đáp ứng có ý thức của mình trước các điều kiện chung quanh, mà đang ngày càng ý thức về động lực học của Khoa Học Phụng Sự Thiên Cơ. Sự nhận thức đặc thù này chỉ có thể đến khi biểu lộ ý chí của phàm ngã và linh hồn đã dung hợp và hòa trộn của y biến mất trong ánh sáng rực cháy của Thiên Ý—một Thiên Ý không thể bị phá hỏng, dù đôi khi bị trì hoãn, như đã từng xảy ra trong năm mươi lăm năm qua. Viết vào tháng Hai năm 1943.

1. Our attention is not to be focussed on how to approach the Initiator. This can become a selfish preoccupation and actually lead away from the possibility of initiation. But if the requirements of a section of the Path are held in mind, the work to be done in preparation for initiation, will be done.

1. Sự chú ý của chúng ta không nên tập trung vào cách tiếp cận Đấng Điểm đạo. Điều này có thể trở thành một mối bận tâm ích kỷ và thực sự dẫn xa khỏi khả năng điểm đạo. Nhưng nếu những yêu cầu của một phần Con Đường được giữ trong thể trí, thì công việc cần làm để chuẩn bị cho điểm đạo sẽ được thực hiện.

2. “Formulas of approach”—the phrase bears pondering. There is a right way to approach; it has been tried and tested over millennia. We might as well learn from the experience of those who have gone before. It has been said in Ancient Greece, that “the beginning is half of all”. The approach is the beginning. If we approach correctly, we stand a better chance of performing well as we stand before the door.

2. “Các Công Thức Tiếp Cận”—cụm từ này đáng được suy ngẫm. Có một cách đúng để tiếp cận; nó đã được thử nghiệm và kiểm chứng qua hàng thiên niên kỷ. Chúng ta nên học từ kinh nghiệm của những người đã đi trước. Người ta đã nói ở Hy Lạp cổ đại rằng “khởi đầu là một nửa của tất cả”. Sự tiếp cận là khởi đầu. Nếu chúng ta tiếp cận đúng, chúng ta có cơ hội tốt hơn để thực hiện tốt khi đứng trước cửa.

3. Occultism is a science, and tries to remove, to a degree, the element of the unpredictable. Unpredictabilities there will always be, by why complicate our way when certain Rules, if followed, have been proven to lead to success?

3. Huyền bí học là một khoa học, và cố gắng loại bỏ, ở một mức độ nào đó, yếu tố bất khả dự đoán. Những điều bất khả dự đoán sẽ luôn luôn có, nhưng tại sao lại làm phức tạp con đường của mình khi những Quy luật nhất định, nếu được noi theo, đã được chứng minh là dẫn đến thành công?

4. The Teaching of the Tibetan stands out for its vast scope, greatly extending the detail of what was offered in The Secret Doctrine, in the preparation of which He also participated.

4. Giáo huấn của Chân sư Tây Tạng nổi bật bởi phạm vi rộng lớn, mở rộng rất nhiều chi tiết của những gì đã được trình bày trong Giáo Lý Bí Nhiệm, mà trong quá trình chuẩn bị tác phẩm ấy Ngài cũng đã tham gia.

5. The concept of the “Way of the Higher Evolution” is one of the newer teachings offered to Humanity. A little about this “Way” was given in Initiation Human and Solar; more in A Treatise on Cosmic Fire; and much later, the teaching was expanded in The Rays and the Initiations. (When the first material was given, the extension offered in Rays was not anticipated; but the Tibetan was later authorized to give more. Humanity had progressed.)

5. Khái niệm về “Con đường Tiến Hóa Cao Siêu” là một trong những giáo huấn mới hơn được trao cho Nhân loại. Một ít về “Con Đường” này đã được đưa ra trong Điểm Đạo Nhân Loại và Thái Dương; nhiều hơn trong Luận về Lửa Vũ Trụ; và muộn hơn nhiều, giáo huấn ấy được mở rộng trong Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo. Khi tài liệu đầu tiên được đưa ra, sự mở rộng được trình bày trong Các Cung chưa được dự liệu; nhưng về sau Chân sư Tây Tạng được phép trao thêm. Nhân loại đã tiến bộ.

6. Not that the information given upon the Way of the Higher Evolution is attainable by us. It will be many lives for most of us before this “Way” becomes relevant in any practical sense. But even now we are in preparation for those eventualities.

6. Không phải thông tin được đưa ra về Con đường Tiến Hóa Cao Siêu là điều chúng ta có thể đạt đến. Đối với hầu hết chúng ta, sẽ còn nhiều kiếp sống trước khi “Con Đường” này trở nên liên quan theo bất kỳ nghĩa thực tiễn nào. Nhưng ngay cả bây giờ chúng ta cũng đang chuẩn bị cho những khả năng sau cùng ấy.

7. Thus, before we have effected the complete unification of soul and personality, we are presented with the ‘curriculum of the Spirit’, the furthest extension of which is the Way of the Higher Evolution. No wonder, at times, we stand bewildered.

7. Vì vậy, trước khi chúng ta thực hiện sự hợp nhất hoàn toàn giữa linh hồn và phàm ngã, chúng ta đã được đưa đến “chương trình học của Tinh thần”, mà sự mở rộng xa nhất của nó là Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. Không lạ gì đôi khi chúng ta đứng bối rối.

8. We are, thus, learning to think about two types of progress—the first, progress in the development of consciousness, but also a type of progress in which consciousness, as we know it, is not the objective.

8. Như vậy, chúng ta đang học cách suy nghĩ về hai loại tiến bộ—thứ nhất là tiến bộ trong sự phát triển tâm thức, nhưng cũng có một loại tiến bộ trong đó tâm thức, như chúng ta biết, không phải là mục tiêu.

9. Of course consciousness is soul, and soul is a universal principle which exists throughout cosmos and, even, on its very highest levels. Far beyond even the ninth degree of initiation, there exists the consciousness of the Planetary Logos, or the consciousness of the Solar Logos.

9. Dĩ nhiên tâm thức linh hồn, và linh hồn là một nguyên khí phổ quát hiện hữu khắp vũ trụ và thậm chí trên những cấp độ cao nhất của nó. Xa hơn cả cấp độ thứ chín của điểm đạo, vẫn hiện hữu tâm thức của Hành Tinh Thượng đế, hay tâm thức của Thái dương Thượng đế.

10. But the Tibetan is trying to make a point here about the system of identification (characteristic of the higher initiations a human being make take). The modus operandi of this system if fundamentally different from a system which emphasizes a constantly heightening sensitivity to impact (though one can imagine that sensitivity also increases with increasing identification with the will and life aspect).

10. Nhưng Chân sư Tây Tạng đang cố nêu một điểm ở đây về hệ thống đồng hoá, đặc trưng cho những cuộc điểm đạo cao hơn mà một con người có thể trải qua. Phương thức vận hành của hệ thống này về căn bản khác với một hệ thống nhấn mạnh sự nhạy cảm ngày càng tăng đối với tác động, mặc dù người ta có thể hình dung rằng sự nhạy cảm cũng gia tăng cùng với sự đồng hoá ngày càng tăng với ý chíphương diện sự sống.

11. As the initiate begins to merge more and more with the Divine Will, he is not occupied with cultivating increasing sensitivity to contact. His attention is focussed otherwise, but the increasing sensitivity must accompany the ever-increasing sense of Oneness which identification brings.

11. Khi điểm đạo đồ bắt đầu hòa nhập ngày càng nhiều với Ý Chí thiêng liêng, y không bận rộn với việc vun bồi sự nhạy cảm ngày càng tăng đối với tiếp xúc. Sự chú ý của y tập trung theo hướng khác, nhưng sự nhạy cảm gia tăng phải đi kèm với ý thức ngày càng lớn về Nhất thể mà sự đồng hoá mang lại.

12. So the Tibetan is alerting us to a “distinctive realization” which lies ahead of us all, and of which we can grasp only glimpses at best. He tells us what we must do to achieve it—transcend our “fused and blended personality and soul expression of will”. Since all of us are currently working on the very thing which must be transcended, we realize that identification with Life (on any consistent basis) must be for us, at this time, largely speculative.

12. Chân sư Tây Tạng đang báo cho chúng ta biết về một “nhận thức đặc thù” nằm phía trước tất cả chúng ta, và về điều ấy chúng ta nhiều nhất chỉ có thể nắm bắt vài thoáng nhìn. Ngài cho chúng ta biết điều phải làm để đạt được nó—vượt lên trên “biểu lộ ý chí của phàm ngã và linh hồn đã dung hợp và hòa trộn” của chúng ta. Vì tất cả chúng ta hiện đang làm việc trên chính điều phải được vượt qua, chúng ta nhận ra rằng việc đồng hoá với Sự Sống trên bất kỳ nền tảng nhất quán nào, đối với chúng ta vào lúc này, phần lớn vẫn là suy đoán.

13. That the “blazing light of Divine Purpose” may mean something increasingly real to us, is one of the objectives of our work together, but we must be realistic. Such a realization pertains far more to the fourth degree and beyond, rather than to any level of penetration we can realistically achieve. Still, at this time in the unfoldment of Humanity, the first aspect of divinity is being increasingly emphasized, so something of its nature must begin to penetrate our energy systems.

13. Một trong những mục tiêu của công việc chung của chúng ta là để “ánh sáng rực cháy của Thiên Ý” có thể ngày càng trở nên thực hơn đối với chúng ta, nhưng chúng ta phải thực tế. Một nhận thức như thế thuộc về cấp độ thứ tư và hơn thế nữa nhiều hơn là bất kỳ mức độ thâm nhập nào chúng ta có thể thực sự đạt được. Tuy vậy, vào thời điểm này trong sự khai mở của Nhân loại, phương diện thứ nhất của thiên tính đang ngày càng được nhấn mạnh, nên một điều gì đó trong bản chất của nó phải bắt đầu thâm nhập vào các hệ thống năng lượng của chúng ta.

14. Notice that this Divine Purpose had been frustrated since 1888—according to the numbers given by the Tibetan in the last sentence. Every once in a while he will give such hints which point to certain conditions in humanity or inner energy/force conflicts between the Forces of Light and the Forces of Materialism. In this regard, one thinks of the simultaneous rise of materialism and militarism which was an evidence of the offensive undertaken by the Black Lodge, and which culminated in World War II.

14. Hãy lưu ý rằng Thiên Ý này đã bị cản trở kể từ năm 1888—theo các con số do Chân sư Tây Tạng đưa ra trong câu cuối. Thỉnh thoảng Ngài sẽ đưa ra những gợi ý như vậy, chỉ đến một số điều kiện trong nhân loại hoặc những xung đột năng lượng và mãnh lực bên trong giữa các Mãnh Lực Ánh Sáng và các Mãnh Lực Duy Vật. Về phương diện này, người ta nghĩ đến sự trỗi dậy đồng thời của chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa quân phiệt, vốn là bằng chứng của cuộc tấn công do Hắc đoàn tiến hành, và đạt đến cực điểm trong Thế Chiến thứ hai.

Much of what I have said above will seem meaningless to you because the finished contact between soul and personality has not been brought about and the will aspect in manifestation is not yet understood in its three phases: Personality, Egoic and Monadic. But, as I have earlier told you, I write for those disciples and initiates who are now coming into incarnation and who will be in the full flower of their [Page 35] consciousness and service at the latter end of this century. But the effort you make to understand will have its effect, even if the brain registers it not.

Phần lớn những gì Tôi đã nói ở trên sẽ có vẻ vô nghĩa đối với các bạn vì sự tiếp xúc hoàn tất giữa linh hồn và phàm ngã chưa được tạo lập, và phương diện ý chí trong biểu hiện vẫn chưa được thấu hiểu trong ba giai đoạn của nó: Phàm ngã, Chân ngã và Chân thần. Nhưng, như Tôi đã nói với các bạn trước đây, Tôi viết cho những đệ tử và điểm đạo đồ hiện đang đi vào lâm phàm và sẽ ở trong thời kỳ nở rộ trọn vẹn của [Trang 35] tâm thức và sự phụng sự của họ vào cuối thế kỷ này. Nhưng nỗ lực mà các bạn thực hiện để thấu hiểu sẽ có hiệu quả của nó, dù bộ não không ghi nhận điều đó.

1. This paragraph illustrates one of the Tibetan’s principle methods—offering us that which lies beyond our grasp, yet encouraging us to make the effort to understand. Often, He assures us that we will not truly understand, but that the effort to do so will enhance our capacity to think abstractly, which is a desirable development. It is the capacity for abstract thinking which will be distinctive of the coming sixth subrace of the fifth rootrace.

1. Đoạn này minh họa một trong những phương pháp chính của Chân sư Tây Tạng—trao cho chúng ta điều nằm ngoài tầm nắm bắt, nhưng vẫn khuyến khích chúng ta nỗ lực thấu hiểu. Thường khi, Ngài quả quyết với chúng ta rằng chúng ta sẽ không thật sự thấu hiểu, nhưng nỗ lực để làm như vậy sẽ nâng cao năng lực suy nghĩ trừu tượng của chúng ta, vốn là một sự phát triển đáng mong muốn. Chính năng lực tư duy trừu tượng sẽ là đặc điểm của giống dân phụ thứ sáu sắp đến của giống dân gốc thứ năm.

2. Notice that the time period of which the Tibetan speaks is now with us. Many of us should be in the “full flower of [Page our] consciousness and service”, or moving into such as the twenty first century unfolds. The times, therefore, are critical and the spiritual possibilities considerable.

2. Hãy lưu ý rằng giai đoạn thời gian mà Chân sư Tây Tạng nói đến hiện đang ở cùng chúng ta. Nhiều người trong chúng ta hẳn đang ở trong “thời kỳ nở rộ trọn vẹn của [Trang tâm thức và sự phụng sự của chúng ta]”, hoặc đang tiến vào trạng thái ấy khi thế kỷ hai mươi mốt mở ra. Vì vậy, thời cuộc là trọng yếu và các khả năng tinh thần rất đáng kể.

E. These Rules are the only Formulas or embodied techniques at present extant which have in them the quality which will enable the aspirant to understand and eventually express the significance of the words of Christ, “Life more abundantly’ (cf. RI, p. 35)

E. Những Quy luật này là các Công Thức hay những kỹ thuật được thể hiện duy nhất hiện còn tồn tại, mang trong chúng phẩm tính sẽ giúp người chí nguyện thấu hiểu và cuối cùng biểu lộ thâm nghĩa của những lời Đức Christ: “Sự Sống dồi dào hơn” (xem RI, tr. 35)

When, therefore, your life is fundamentally invocative, then there will come the evocation of the will. It is only truly invocative when personality and soul are fused and functioning as a consciously blended and focussed unit. (cf. RI, p. 35)

Do đó, khi đời sống của các bạn về căn bản là khẩn cầu, bấy giờ sẽ có sự gợi lên của ý chí. Nó chỉ thật sự khẩn cầu khi phàm ngã và linh hồn đã dung hợp và hoạt động như một đơn vị được hòa trộn và tập trung một cách có ý thức. (xem RI, tr. 35)

Only the group is capable of invoking Shamballa (cf. RI, p. 35)

Chỉ nhóm mới có khả năng khẩn cầu Shamballa (xem RI, tr. 35)

In the last analysis, these Rules or Formulas of Approach are primarily concerned with the Shamballa or life aspect. They are the only Formulas or embodied techniques at present extant which have in them the quality which will enable the aspirant to understand and eventually express the significance of the words of Christ, “Life more abundantly.” These words relate to contact with Shamballa; the result will be the expression of the will aspect. The whole process of invocation and evocation is tied up with the idea. The lesser aspect is ever the invoking factor, and this constitutes an unalterable law lying behind the entire evolutionary process. It is necessarily a reciprocal process, but in time and space it might be broadly said that the lesser ever invokes the higher, and higher factors are then evoked and respond according to the measure of understanding and the dynamic tension displayed by the invoking element. This many fail to realise. You do not work at the evocative process. That word simply connotes the response of that which has been reached. The task of the lesser aspect or group is invocative, and the success of the invocative rite is called evocation.

Trong phân tích sau cùng, những Quy luật hay Công Thức Tiếp Cận này chủ yếu liên quan đến Shamballa hay phương diện sự sống. Chúng là các Công Thức hay những kỹ thuật được thể hiện duy nhất hiện còn tồn tại, mang trong chúng phẩm tính sẽ giúp người chí nguyện thấu hiểu và cuối cùng biểu lộ thâm nghĩa của những lời Đức Christ: “Sự Sống dồi dào hơn.” Những lời này liên hệ đến sự tiếp xúc với Shamballa; kết quả sẽ là sự biểu lộ của phương diện ý chí. Toàn bộ tiến trình khẩn cầu và gợi lên gắn liền với ý tưởng này. Phương diện thấp hơn luôn là yếu tố khẩn cầu, và điều này cấu thành một định luật bất biến nằm đằng sau toàn bộ tiến trình tiến hoá. Tất yếu đó là một tiến trình hỗ tương, nhưng trong thời gian và không gian có thể nói một cách rộng rãi rằng cái thấp hơn luôn khẩn cầu cái cao hơn, và các yếu tố cao hơn bấy giờ được gợi lên và đáp ứng tùy theo mức độ thấu hiểu và sự căng thẳng năng động do yếu tố khẩn cầu biểu lộ. Nhiều người không nhận ra điều này. Các bạn không làm việc ở tiến trình gợi lên. Từ ấy chỉ đơn giản hàm ý sự đáp ứng của điều đã được chạm đến. Nhiệm vụ của phương diện hay nhóm thấp hơn là khẩn cầu, và sự thành công của nghi thức khẩn cầu được gọi là sự gợi lên.

1. Of the seven presentations of truth for which the Tibetan had made Himself responsible (see R&I, 251-255), He deemed the “Teaching on Shamballa” the most important. Throughout our studies on the Rules, it is the Shamballically related life that is constantly being emphasized, for the Rules, themselves, emphasize Shamballa.

1. Trong bảy cách trình bày chân lý mà Chân sư Tây Tạng đã tự nhận trách nhiệm (xem R&I, 251-255), Ngài xem “Giáo huấn về Shamballa” là quan trọng nhất. Trong suốt các nghiên cứu của chúng ta về những Quy luật, chính sự sống liên hệ với Shamballa theo tính Shamballa luôn được nhấn mạnh, vì chính các Quy luật cũng nhấn mạnh Shamballa.

2. Therefore, although these particular teachings were given out some sixty years ago, they represent something fundamentally new in the presentation of the Ageless Wisdom to humanity.

2. Vì vậy, mặc dù những giáo huấn đặc thù này đã được đưa ra khoảng sáu mươi năm trước, chúng biểu thị một điều gì đó về căn bản mới trong sự trình bày Minh Triết Ngàn Đời cho nhân loại.

3. The Christ has promised humanity “Life more Abundantly”. We have all imagined expectantly what this may mean. Here we are told that these Rules, apparently abstract and remote from the considerations of mundane life, are the very techniques which will lead us towards the understanding and expression of “Life more Abundantly”. That “Life” is Shamballic in nature.

3. Đức Christ đã hứa với nhân loại “Sự Sống dồi dào hơn”. Tất cả chúng ta đều đã tưởng tượng với sự mong đợi điều này có thể hàm ý gì. Ở đây chúng ta được cho biết rằng những Quy luật này, có vẻ trừu tượng và xa rời các mối quan tâm của đời sống thế tục, chính là những kỹ thuật sẽ dẫn chúng ta đến sự thấu hiểu và biểu lộ “Sự Sống dồi dào hơn”. “Sự Sống” ấy có bản chất Shamballa.

4. We are learning that “Abundant Life” is not just about some sort of abundant satisfaction, but it intimately related to the full expression of the will aspect. Since the will is an instrument of sacrificial love, it is also related to the acquisition of all things. “To those who give all, all is given.”

4. Chúng ta đang học rằng “Sự Sống Dồi Dào” không chỉ là một dạng thỏa mãn phong phú nào đó, mà liên hệ mật thiết đến sự biểu lộ trọn vẹn của phương diện ý chí. Vì ý chí là một khí cụ của tình thương hi sinh, nên nó cũng liên hệ đến việc đạt được mọi sự. “Với những ai cho tất cả, tất cả sẽ được ban cho.”

5. There follows one of the most clarifying explanations of the invocation/evocation process. There can exist some confusion is this regard and misuse of the concepts. This paragraph sets things straight.

5. Tiếp theo là một trong những giải thích làm sáng tỏ nhất về tiến trình khẩn cầu và gợi lên. Có thể tồn tại một số nhầm lẫn về phương diện này và sự lạm dụng các khái niệm. Đoạn này sắp đặt mọi việc cho đúng.

6. Notice the important fact that the extent of the evocative response depends upon the “dynamic tension displayed by the invoking element”. This puts the responsibility upon us—for we are, for practical purposes, the “invoking element”—at least “in time and space”.

6. Hãy lưu ý sự kiện quan trọng rằng mức độ của đáp ứng được gợi lên tùy thuộc vào “sự căng thẳng năng động do yếu tố khẩn cầu biểu lộ”. Điều này đặt trách nhiệm lên chúng ta—vì xét theo mục đích thực tiễn, chúng ta là “yếu tố khẩn cầu”—ít nhất là “trong thời gian và không gian”.

7. It is also true, however, that the higher forces are constantly invoking humanity and looking for the correct evocative response. Perhaps it can be said that we begin our invocative approach to the higher forces as part of our evocative response to Their invocation of us.

7. Tuy nhiên, cũng đúng rằng các mãnh lực cao hơn đang không ngừng khẩn cầu nhân loại và tìm kiếm đáp ứng được gợi lên đúng đắn. Có lẽ có thể nói rằng chúng ta bắt đầu cách tiếp cận khẩn cầu của mình đối với các mãnh lực cao hơn như một phần của đáp ứng được gợi lên của chúng ta trước sự khẩn cầu của Các Ngài đối với chúng ta.

8. One can see how a “virtuous circle” can be instituted.

8. Người ta có thể thấy một “vòng tròn thiện lành” có thể được thiết lập như thế nào.

When, therefore, your life is fundamentally invocative, then there will come the evocation of the will. It is only truly invocative when personality and soul are fused and functioning as a consciously blended and focussed unit.

Do đó, khi đời sống của các bạn về căn bản là khẩn cầu, bấy giờ sẽ có sự gợi lên của ý chí. Nó chỉ thật sự khẩn cầu khi phàm ngã và linh hồn đã dung hợp và hoạt động như một đơn vị được hòa trộn và tập trung một cách có ý thức.

1. An important point is made here. Invocation is not only an act; it is a way of life.

1. Một điểm quan trọng được nêu ra ở đây. Khẩn cầu không chỉ là một hành động; nó là một lối sống.

2. We have studied the idea of “application” to the mysteries of initiation, and will continue to do so. That application is also not simply a formal act; it is a sustained energy pattern held at a required point of tension.

2. Chúng ta đã nghiên cứu ý tưởng về “sự áp dụng” vào các bí nhiệm của điểm đạo, và sẽ tiếp tục làm như vậy. Sự áp dụng ấy cũng không chỉ đơn giản là một hành động hình thức; nó là một mô hình năng lượng được duy trì liên tục tại một điểm tập trung nhất tâm cần thiết.

3. The characteristic condition of our energy system is, itself, an application and invocation.

3. Chính tình trạng đặc trưng của hệ thống năng lượng của chúng ta tự nó là một sự áp dụng và khẩn cầu.

4. The point is further made that only the soul-infused personality is truly invocative. When a personality merely desires something for itself and prays for that something, it is a kind of invocation, but a lower kind. The life of the personality has not yet become fundamentally invocative. The quality of soul is the magnetic, invocative factor. When soul life is flowing through the personality, the higher energies are necessarily summoned.

4. Điểm này còn được nêu thêm rằng chỉ phàm ngã được linh hồn thấm nhuần mới thật sự có tính khẩn cầu. Khi một phàm ngã chỉ đơn thuần mong muốn một điều gì cho chính nó và cầu nguyện cho điều ấy, đó là một loại khẩn cầu, nhưng là loại thấp hơn. Đời sống của phàm ngã chưa trở thành khẩn cầu về căn bản. Phẩm tính của linh hồn là yếu tố từ tính, khẩn cầu. Khi đời sống linh hồn tuôn chảy qua phàm ngã, các năng lượng cao hơn tất yếu được triệu thỉnh.

5. All this is another way of saying that if we want to know what the will really is, we must first be pervaded by the quality of soul—which is essentially (regardless of the ray of the soul) the quality of love-wisdom and loving-understanding. Although love and will can appear so different, the approach to the latter is through the former.

5. Tất cả điều này là một cách nói khác rằng nếu chúng ta muốn biết ý chí thật sự là gì, trước hết chúng ta phải được thấm nhuần bởi phẩm tính của linh hồn—vốn về bản chất, bất kể cung linh hồn là gì, là phẩm tính của Bác Ái – Minh Triết và sự thấu hiểu đầy tình thương. Dù tình thương và ý chí có thể có vẻ rất khác nhau, sự tiếp cận cái sau là qua cái trước.

The next point which I seek to make is that these Formulas of Approach or Rules deal with the unfoldment of group consciousness, because it is only in group formation that, as yet, the Shamballa force of the will can be tapped. They are useless to the individual under the new initiatory dispensation. Only the group, under the proposed new mode of working and of group initiation, is capable of invoking Shamballa. That is why Hitler, the exponent of the reversed reaction to Shamballa (and consequently the evil reaction) had to gather around him a group of like-minded people or [Page 36] personalities. On the upper arc of the evocative cycle (Hitler being the expression of the invocative arc of the Shamballa force) it requires a group to bring about evocation.

Điểm kế tiếp mà tôi muốn nêu là các Công Thức Tiếp Cận hay các Quy Luật này đề cập đến sự khai mở của tâm thức tập thể, vì cho đến nay, chỉ trong sự hình thành tập thể, mãnh lực Shamballa của ý chí mới có thể được tiếp xúc. Chúng vô dụng đối với cá nhân dưới thiên chế điểm đạo mới. Chỉ tập thể, theo phương thức làm việc mới được đề xuất và theo điểm đạo tập thể, mới có khả năng khẩn cầu Shamballa. Đó là lý do Hitler, người biểu hiện phản ứng đảo ngược đối với Shamballa, và do đó là phản ứng tà ác, đã phải quy tụ quanh mình một nhóm những người hay [Trang 36] các phàm ngã có cùng khuynh hướng. Trên cung trên của chu kỳ gợi lên, Hitler là biểu hiện của cung khẩn cầu của mãnh lực Shamballa, cần có một tập thể để tạo ra sự gợi lên.

1. The necessity of group-approach to Shamballa is fundamentally important.

1. Sự cần thiết của lối tiếp cận tập thể đối với Shamballa có tầm quan trọng căn bản.

2. The days of individualistic approach to the mysteries is now superceded by a “new initiatory dispensation”. Humanity has matured somewhat, and Hierarchy has changed its presentation of initiatory methods.

2. Thời kỳ tiếp cận các bí nhiệm theo lối cá nhân chủ nghĩa nay được thay thế bởi một “thiên chế điểm đạo mới”. Nhân loại đã trưởng thành phần nào, và Thánh đoàn đã thay đổi cách trình bày các phương pháp điểm đạo.

3. This does not mean that one has to form a group on the outer plane in order to approach Shamballa. The inner group affiliations are more important. When an inwardly affiliated group is also outwardly coherent, a potent condition for group progress exists.

3. Điều này không có nghĩa là người ta phải lập một nhóm trên cõi bên ngoài để tiếp cận Shamballa. Các liên kết tập thể bên trong quan trọng hơn. Khi một nhóm có liên kết nội tâm đồng thời cũng gắn kết bên ngoài, một điều kiện mạnh mẽ cho tiến bộ tập thể sẽ hiện hữu.

4. As the antahkarana is built, the sense of inner group affiliation grows.

4. Khi antahkarana được kiến tạo, ý thức về sự liên kết tập thể bên trong sẽ tăng trưởng.

5. Even when the disciple is isolated from an outer group and meditating apparently “on his own”, according to his inner alignments, his approach may yet be a group approach.

5. Ngay cả khi đệ tử bị tách khỏi một nhóm bên ngoài và dường như tham thiền “một mình”, thì theo các chỉnh hợp bên trong của y, sự tiếp cận của y vẫn có thể là một tiếp cận tập thể.

6. The members of the Hierarchy, are, as a group, engaged in a most concerted approach to Shamballa. Yet, in terms of their major geographical focus, they are, for the most part, much separated from each other. Yet Their factual awareness of inner energic affiliation is so great, that in fact, Their approach is always a group approach.

6. Các thành viên của Thánh đoàn, với tư cách một tập thể, đang tham dự vào một sự tiếp cận hết sức phối hợp đối với Shamballa. Tuy nhiên, xét theo trọng tâm địa lý chính của Các Ngài, phần lớn Các Ngài ở rất xa nhau. Nhưng nhận thức thực sự của Các Ngài về sự liên kết năng lượng bên trong lớn lao đến mức, trên thực tế, sự tiếp cận của Các Ngài luôn luôn là một sự tiếp cận tập thể.

7. Shamballa deals with great wholes and “planetary arrangements”. Only the group can possibly contain the energy which would be contacted if even the periphery of Shamballa were occultly ‘touched’.

7. Shamballa đề cập đến những toàn thể lớn và “những sắp đặt hành tinh”. Chỉ tập thể mới có thể chứa đựng năng lượng được tiếp xúc nếu ngay cả vùng ngoại vi của Shamballa được “chạm đến” một cách huyền bí.

8. Whether Hitler was overtly conscious of the need to approach the Shamballa Force in group formation is debatable, but instinctively he seemed to know.

8. Việc Hitler có ý thức rõ ràng về nhu cầu tiếp cận Mãnh lực Shamballa trong sự hình thành tập thể hay không là điều còn có thể tranh luận, nhưng theo bản năng y dường như biết điều đó.

9. This question of group approach is one of “co-measurement”. The Shamballa Force is so great that any energy center in Humanity hoping to receive and contain it, needs the combined force of more than one individual. It is a question of numbers and relative force magnitudes. Nor is it recommended that a few people gather in meditation and make a concerted effort to contact the Shamballa Force. When approach in meditation is made, imagining and ‘feeling’ the presence of the entire world group is useful and safeguarding.

9. Vấn đề tiếp cận tập thể này là một vấn đề “đồng lượng”. Mãnh lực Shamballa lớn lao đến mức bất cứ trung tâm năng lượng nào trong Nhân loại hy vọng tiếp nhận và chứa đựng nó đều cần đến mãnh lực kết hợp của hơn một cá nhân. Đây là vấn đề số lượng và độ lớn tương đối của mãnh lực. Cũng không nên khuyến nghị một vài người tụ họp tham thiền và cùng nỗ lực tiếp xúc với Mãnh lực Shamballa. Khi thực hiện sự tiếp cận trong tham thiền, việc hình dung và “cảm nhận” sự hiện diện của toàn thể tập thể thế giới là hữu ích và có tính bảo vệ.

10. Of course, the monadic aspect of each individual, can be approached by that individual in meditation. But Shamballa, itself, as an energy center is far greater in its point of tension than the Monad (which is but a tiny aspect of the Shamballa Force).

10. Dĩ nhiên, phương diện chân thần của mỗi cá nhân có thể được chính cá nhân ấy tiếp cận trong tham thiền. Nhưng bản thân Shamballa, với tư cách một trung tâm năng lượng, có điểm tập trung nhất tâm lớn hơn rất nhiều so với Chân thần, vốn chỉ là một phương diện rất nhỏ của Mãnh lực Shamballa.

11. So great is this Shamballa Force, that it is said that the Hierarchy itself finds it safe to make full and direct contact only once a year, with its entire ‘personnel’, at the time of the Wesak Full Moon.

11. Mãnh lực Shamballa này lớn lao đến mức người ta nói rằng chính Thánh đoàn chỉ thấy an toàn khi tiếp xúc đầy đủ và trực tiếp mỗi năm một lần, với toàn bộ “nhân sự” của mình, vào thời điểm Trăng Tròn Wesak.

12. Notice the idea of reversal. The materialistic group reverses the approaches sanctioned by the Forces of Light. Right procedure is so important for spiritual success. The forces of obstruction reverse right procedure and, thus, achieve their objectives. They deliberately choose a pattern exactly contrary to correct spiritual procedure.

12. Hãy lưu ý ý tưởng về sự đảo ngược. Tập thể duy vật đảo ngược các phương cách tiếp cận được Các Mãnh Lực Ánh Sáng chuẩn thuận. Thủ tục đúng có tầm quan trọng lớn lao đối với thành công tinh thần. Các mãnh lực cản trở đảo ngược thủ tục đúng và, do đó, đạt được các mục tiêu của chúng. Chúng cố ý chọn một mô hình hoàn toàn trái ngược với thủ tục tinh thần đúng đắn.

13. Notice also that those gathered around Hitler were not called “souls”, but rather “people” and “personalities”. The soul aspect (the love-wisdom aspect) was greatly deficient in their expression, while the first and third aspects were emphasized. Evil on our planet has much to do with the alignment of will and intelligence without the mediating influence of love.

13. Cũng hãy lưu ý rằng những người quy tụ quanh Hitler không được gọi là “các linh hồn”, mà đúng hơn là “những người” và “các phàm ngã”. Phương diện linh hồn, tức phương diện Bác Ái – Minh Triết, đã thiếu hụt rất nhiều trong sự biểu hiện của họ, trong khi các phương diện thứ nhất và thứ ba được nhấn mạnh. Tà ác trên hành tinh chúng ta liên hệ nhiều đến sự chỉnh hợp của ý chí và trí tuệ mà không có ảnh hưởng trung gian của bác ái.

14. In this paragraph the importance of our group affiliations is being emphasized. We begin by fulfilling the Leonian injunction to “Know Thyself”—as an individual. This allows us to know the group with which we may properly and wisely affiliate. After we have passed through these adjustments, approach to higher centers of energy and points of tension can be made.

14. Trong đoạn này, tầm quan trọng của các liên kết tập thể của chúng ta đang được nhấn mạnh. Chúng ta bắt đầu bằng cách hoàn thành huấn lệnh Sư Tử: “Hãy Biết Chính Mình” — với tư cách một cá nhân. Điều này cho phép chúng ta biết tập thể mà chúng ta có thể liên kết một cách đúng đắn và minh triết. Sau khi đã trải qua những điều chỉnh này, chúng ta có thể tiếp cận các trung tâm năng lượng cao hơn và các điểm tập trung nhất tâm.

F. These Rules are concerned — above everything else — with group initiation (cf. RI, p. 36)

F. Các Quy Luật này liên quan — trên hết mọi điều — đến điểm đạo tập thể (xem Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo, tr. 36)

We now come to my third point in relation to the Rules or Formulas and their objective. They are concerned—above everything else—with group initiation. They have other applications, but for the present here lies their usefulness. What, you may ask, is group initiation? Does it involve the taking of initiation by every member in the group? Can one person have so extensive an influence that he can hold up or delay or even prevent (in time and space) the group initiation? The group need not necessarily contain members who have all taken the same initiation. By this I mean that the necessary initiation of all the members simultaneously into the same group development is not required. Basically, what I am endeavouring to say anent these Rules has relation to the third initiation—the initiation of the integrated personality. They necessarily, however, have a correspondence to the second initiation, and are consequently of more general interest, for it is that initiation which faces so many aspirants today—the demonstration of the control of the formidable emotional nature.

Bây giờ chúng ta đến điểm thứ ba của tôi liên quan đến các Quy Luật hay Công Thức và mục tiêu của chúng. Chúng liên quan — trên hết mọi điều — đến điểm đạo tập thể. Chúng có những ứng dụng khác, nhưng hiện nay, chính ở đây có giá trị hữu dụng của chúng. Các bạn có thể hỏi: điểm đạo tập thể là gì? Nó có bao hàm việc mọi thành viên trong nhóm đều nhận điểm đạo không? Một người có thể có ảnh hưởng rộng lớn đến mức y có thể kìm hãm, trì hoãn, hay thậm chí ngăn cản, trong thời gian và không gian, cuộc điểm đạo tập thể không? Tập thể không nhất thiết phải gồm các thành viên đã cùng nhận một cuộc điểm đạo như nhau. Qua điều này, tôi muốn nói rằng không đòi hỏi tất cả các thành viên phải đồng thời được điểm đạo vào cùng một sự phát triển tập thể. Về căn bản, điều tôi đang cố gắng nói về các Quy Luật này có liên hệ đến lần điểm đạo thứ ba — cuộc điểm đạo của Phàm ngã tích hợp. Tuy nhiên, chúng tất yếu có một tương ứng với lần điểm đạo thứ hai, và do đó có mối quan tâm phổ quát hơn, vì chính cuộc điểm đạo ấy đang đối diện với rất nhiều người chí nguyện ngày nay — sự chứng minh khả năng kiểm soát bản chất cảm xúc ghê gớm.

1. The theme of “group initiation” is of great interest to the modern disciple. People always become more alert and attentive when the subject of initiation comes up because initiation, ultimately, means freedom and the full expression of the Spirit—which is a deep and fundamental desire in the hearts of all human beings.

1. Chủ đề “điểm đạo tập thể” rất đáng quan tâm đối với đệ tử hiện đại. Người ta luôn trở nên tỉnh thức và chú ý hơn khi đề tài điểm đạo được nêu lên, vì rốt cuộc, điểm đạo có nghĩa là tự do và sự biểu hiện trọn vẹn của Tinh thần — một khát vọng sâu xa và căn bản trong tâm của mọi con người.

2. There is, however, not so much clarity about what group initiation means, for it is (exoterically) a new experiment.

2. Tuy nhiên, không có nhiều sự rõ ràng về ý nghĩa của điểm đạo tập thể, vì xét về mặt ngoại môn, đó là một thử nghiệm mới.

3. At this point we have to be clear and careful in our understanding.

3. Ở điểm này, chúng ta phải rõ ràng và cẩn trọng trong sự thấu hiểu của mình.

4. The theme of initiation has surrounding it much glamor because it almost automatically evokes personality effort, individualism and egotism.

4. Chủ đề điểm đạo có nhiều ảo cảm bao quanh, vì nó gần như tự động khơi dậy nỗ lực của phàm ngã, chủ nghĩa cá nhân và tính vị ngã.

5. The ambitious disciple thinks, “if I do this, I shall be initiated”, and the group and service demands and requirements are overlooked or insufficiently emphasized. Obviously, initiation is not approached through selfish ambition. The Tibetan, at one point, reminds His students that they found their way into such a spiritual group as His largely through the wish for their own advancement.

5. Đệ tử đầy tham vọng nghĩ rằng: “nếu tôi làm điều này, tôi sẽ được điểm đạo”, và những đòi hỏi cùng yêu cầu của tập thể và của sự phụng sự bị bỏ qua hoặc không được nhấn mạnh đầy đủ. Hiển nhiên, không thể tiếp cận điểm đạo bằng tham vọng ích kỷ. Ở một chỗ, Chân sư Tây Tạng nhắc các đạo sinh của Ngài rằng họ đã tìm đường vào một tập thể tinh thần như tập thể của Ngài phần lớn do ước muốn thăng tiến riêng của họ.

6. These selfish attitudes (so instinctive in the personality) have to be reversed, and the newly instituted dispensation of group initiation will assist with this reversal. Group initiation is the sanctioned initiatory approach for the Aquarian Age—the Group Age.

6. Những thái độ ích kỷ này, vốn rất bản năng trong phàm ngã, phải được đảo ngược, và thiên chế điểm đạo tập thể mới được thiết lập sẽ hỗ trợ cho sự đảo ngược này. Điểm đạo tập thể là lối tiếp cận điểm đạo được chuẩn thuận cho Kỷ Nguyên Bảo Bình — Kỷ Nguyên Tập Thể.

7. DK here gives us important information about the group which seeks to take group initiation. Questions concerning the relation to of the individual to the group immediately arise. Do all applicants in the group have to be at the same level of development? You can well imagine what would happen in groups if the Tibetan has said, “Yes”. But in fact, a range of levels of development in the members of the group is expected. These differences, however, must be handled harmoniously, lovingly, appreciatively, and with no personality competition. (Elsewhere, DK enlarges on this problem.)

7. Ở đây Chân sư DK cho chúng ta thông tin quan trọng về tập thể tìm cách nhận điểm đạo tập thể. Những câu hỏi liên quan đến mối quan hệ của cá nhân với tập thể lập tức nảy sinh. Tất cả những người xin điểm đạo trong nhóm có phải ở cùng một cấp độ phát triển không? Các bạn có thể dễ dàng hình dung điều gì sẽ xảy ra trong các nhóm nếu Chân sư Tây Tạng nói: “Có”. Nhưng trên thực tế, người ta dự liệu rằng các thành viên của nhóm sẽ có một phạm vi các cấp độ phát triển khác nhau. Tuy nhiên, những khác biệt này phải được xử lý một cách hài hòa, đầy tình thương, biết trân trọng, và không có sự cạnh tranh của phàm ngã. Ở nơi khác, Chân sư DK bàn rộng thêm về vấn đề này.

8. Some groups might contain individuals who all stand at the same developmental level, but DK is assuring us that it is not a necessity (and in my estimation, not a probability).

8. Một số nhóm có thể gồm những cá nhân đều đứng ở cùng một cấp độ phát triển, nhưng Chân sư DK đang bảo đảm với chúng ta rằng đó không phải là điều tất yếu, và theo nhận định của tôi, cũng không phải là một khả năng có nhiều xác suất.

9. The personality issues (competitions, jealousies, envies, animosities, belittlements etc.) among group members simply must be eliminated, and this in itself will constitute an intensive burning ground. (Rule XI will bring us directly into such a consideration). Only then, can real group work begin.

9. Các vấn đề của phàm ngã, như cạnh tranh, ganh ghét, đố kỵ, thù hằn, xem thường, v.v., giữa các thành viên trong nhóm đơn giản là phải được loại bỏ, và chính điều này tự nó sẽ tạo thành một vùng đất cháy mãnh liệt. Quy Luật XI sẽ đưa chúng ta trực tiếp vào sự xem xét như vậy. Chỉ khi đó, công việc tập thể chân chính mới có thể bắt đầu.

10. The group itself has a “Dweller on the Threshold”—the group “shadow”. The question of individual spiritual “status”, will almost inevitably cause this “Dweller” to emerge. The personality, instinctively, seeks to be “Number One”; soul-infused group process requires the emergence of the “we” rather than the little “I”. One day, when the group is a Shamballically related group, the “I” will again emerge, but it will be the ‘I-that-is-We’.

10. Chính tập thể có một “Kẻ Chận Ngõ” — “bóng tối” của tập thể. Vấn đề “địa vị” tinh thần của cá nhân gần như chắc chắn sẽ khiến “Kẻ Chận Ngõ” này xuất hiện. Phàm ngã, theo bản năng, tìm cách trở thành “Số Một”; tiến trình tập thể được linh hồn thấm nhuần đòi hỏi sự xuất hiện của “chúng ta” thay vì cái “tôi” nhỏ bé. Một ngày kia, khi tập thể là một nhóm liên hệ theo Shamballa, cái “Tôi” sẽ lại xuất hiện, nhưng đó sẽ là “Tôi-là-Chúng-Ta”.

11. The paragraph closes with information about that section of the Path to which the Rules largely pertain—the third initiation—the initiation of the integrated personality. No so many stand ready for this initiation. In the Tibetan’s groups there were perhaps two or so who had “made the grade” and another few who were making application. The majority of the Tibetan’s students were applicants to the second initiation (an initiation that would not necessarily be taken in that particular incarnation, preparation for initiation is a long-term process). Why should we be any different?

11. Đoạn này khép lại bằng thông tin về phần của Con Đường mà các Quy Luật chủ yếu liên quan — lần điểm đạo thứ ba, cuộc điểm đạo của Phàm ngã tích hợp. Không có nhiều người sẵn sàng cho cuộc điểm đạo này. Trong các nhóm của Chân sư Tây Tạng, có lẽ chỉ khoảng hai người đã “đạt tiêu chuẩn” và thêm vài người nữa đang xin được xét. Đa số các đạo sinh của Chân sư Tây Tạng là những người xin lần điểm đạo thứ hai, một cuộc điểm đạo không nhất thiết sẽ được nhận trong lần lâm phàm đặc biệt ấy; việc chuẩn bị cho điểm đạo là một tiến trình dài hạn. Tại sao chúng ta lại khác đi?

12. Thus, as we interpret these Rules, we will realize that their foremost application is to the third degree, but we shall also try to find applications to the second degree—that which is, for so many, immediately relevant.

12. Vì vậy, khi diễn giải các Quy Luật này, chúng ta sẽ nhận ra rằng ứng dụng hàng đầu của chúng là cho cấp độ thứ ba, nhưng chúng ta cũng sẽ cố gắng tìm các ứng dụng cho cấp độ thứ hai — điều đối với rất nhiều người là có liên quan tức thời.

13. Note the phrase, “the demonstration of the control of the formidable emotional nature”. We have learned that the only unified vehicle within the personality is the astral vehicle. The physical nature is divided into dense physical and etheric-physical, and the level of mind is similarly divided into lower, concrete mind and higher mind. The second initiation, especially for those essentially upon the soft-line rays (2-4-6, where most students of the Tibetan are to be found), is one of the most difficult to take. (If my memory serves me, first ray disciples are also challenged by this initiation, with third and fifth ray types finding is somewhat easier.)

13. Hãy lưu ý cụm từ “sự chứng minh khả năng kiểm soát bản chất cảm xúc ghê gớm”. Chúng ta đã học rằng hiện thể duy nhất đã hợp nhất trong phàm ngã là hiện thể cảm dục. Bản chất hồng trần được chia thành hồng trần đậm đặc và hồng trần-dĩ thái, và cấp độ của trí cũng được chia tương tự thành hạ trí, trí cụ thể và thượng trí. Lần điểm đạo thứ hai, đặc biệt đối với những người chủ yếu thuộc các cung đường mềm, tức 2-4-6, nơi phần lớn các đạo sinh của Chân sư Tây Tạng được tìm thấy, là một trong những cuộc điểm đạo khó nhận nhất. Nếu trí nhớ của tôi không lầm, các đệ tử cung một cũng bị cuộc điểm đạo này thử thách, còn những người thuộc cung ba và cung năm thấy nó phần nào dễ hơn.

14. Mars is the great “rebel” and Mars is the generic ruler of the astral nature (with Moon and Neptune also included). This is the nature which is most difficult to subdue, and most resistant to mental guidance.

14. Sao Hỏa là “kẻ nổi loạn” lớn, và Sao Hỏa là chủ tinh tổng quát của bản chất cảm dục, cùng với Mặt Trăng và Sao Hải Vương cũng được bao gồm. Đây là bản chất khó chế phục nhất và chống lại sự hướng dẫn của trí tuệ mạnh mẽ nhất.

15. The Rules, basically, can have many applications. The foremost applications are to the subjects of group initiation and the third degree. However, higher initiations are certainly referenced (even the fifth), and, on a lower turn of the spiral, guidance can be gathered for understanding the processes of the second. The Rules for Applicants have reference to the first initiation, but clearly can be applied to the second and, in some instances, to third as well.

15. Về căn bản, các Quy Luật có thể có nhiều ứng dụng. Các ứng dụng hàng đầu là vào các chủ đề điểm đạo tập thể và cấp độ thứ ba. Tuy nhiên, các cuộc điểm đạo cao hơn chắc chắn cũng được nhắc đến, ngay cả lần điểm đạo thứ năm, và ở một vòng thấp hơn của đường xoắn ốc, có thể rút ra sự hướng dẫn để thấu hiểu các tiến trình của lần điểm đạo thứ hai. Các Quy Luật dành cho Người Xin Điểm Đạo có liên hệ đến lần điểm đạo thứ nhất, nhưng rõ ràng cũng có thể được áp dụng cho lần thứ hai và, trong một số trường hợp, cả lần thứ ba nữa.

16. Note the use of the word “aspirants”. The terms “aspirant”, “disciple” and even “initiate” have a flexible range of application. Technically, any candidate to the second initiation is a disciple, and, perhaps, an “accepted disciple”. Yet at the same time, any applicant is an “aspirant”, aspiring to the next higher level of unfoldment. As well, an applicant to the second degree is also an initiate (albeit, a probationary initiate—a term applied to both initiates of the first and second degrees.) It is always interesting to see when DK uses these three words. Even Masters of the Wisdom are, in a sense, aspirants to the stage of unfoldment which lies immediately before Them.

16. Hãy lưu ý cách dùng từ “người chí nguyện”. Các thuật ngữ “người chí nguyện”, “đệ tử” và ngay cả “điểm đạo đồ” có phạm vi ứng dụng linh hoạt. Về mặt kỹ thuật, bất cứ ứng viên nào cho lần điểm đạo thứ hai đều là một đệ tử, và có lẽ là một “đệ tử được chấp nhận”. Tuy nhiên, đồng thời, bất cứ người xin nào cũng là một “người chí nguyện”, khát vọng vươn tới cấp độ khai mở kế tiếp cao hơn. Cũng vậy, một người xin cấp độ thứ hai cũng là một điểm đạo đồ, dù là một điểm đạo đồ dự bị — một thuật ngữ áp dụng cho các điểm đạo đồ của cả cấp độ thứ nhất và thứ hai. Luôn luôn thú vị khi thấy khi nào Chân sư DK dùng ba từ này. Ngay cả các Chân sư Minh Triết, theo một nghĩa nào đó, cũng là những người chí nguyện hướng tới giai đoạn khai mở nằm ngay trước Các Ngài.

17. In general, and most commonly, the term “aspirant” applies to those who have not taken the first degree. The term “disciple” refers to a range of levels (from those who are preparing to take the first degree, all the way to those who are preparing for the third degree. The term “probationary initiate” refers to initiates of the first two degrees, and the term “initiate” refers to those who have taken the third degree.

17. Nói chung, và thông thường nhất, thuật ngữ “người chí nguyện” áp dụng cho những người chưa nhận cấp độ thứ nhất. Thuật ngữ “đệ tử” chỉ một phạm vi các cấp độ, từ những người đang chuẩn bị nhận cấp độ thứ nhất cho đến những người đang chuẩn bị cho cấp độ thứ ba. Thuật ngữ “điểm đạo đồ dự bị” chỉ các điểm đạo đồ của hai cấp độ đầu, và thuật ngữ “điểm đạo đồ” chỉ những người đã nhận cấp độ thứ ba.

I would ask you to think much about this point which I have just made. Group initiation means that the bulk of the members are correctly oriented; that they are proposing to accept the discipline which will prepare them for the next great expansion of consciousness, and that none of them can possibly be deviated from their purpose (note that word with its first ray or Shamballic implications), no matter what is happening in their environment or their personal life. You need to reflect on this if you desire to make the needed progress.

Tôi xin các bạn suy nghĩ nhiều về điểm mà tôi vừa nêu. Điểm đạo tập thể có nghĩa là phần lớn các thành viên được định hướng đúng đắn; rằng họ đề nghị chấp nhận kỷ luật sẽ chuẩn bị cho họ bước vào sự mở rộng tâm thức lớn lao kế tiếp, và rằng không ai trong họ có thể bị làm lệch khỏi mục đích của mình, hãy lưu ý từ này với các hàm ý cung một hay Shamballa của nó, bất kể điều gì đang xảy ra trong môi trường hay trong đời sống cá nhân của họ. Các bạn cần suy ngẫm về điều này nếu muốn đạt được tiến bộ cần thiết.

In these short instructions, which aim only at a “tentative indication” (note that phrase), it is not necessary to enter into explicit details. In any case, if the Formulas or Rules are not intuitively clear to your minds, anything I could say would only hinder and frustrate my purpose.

Trong những huấn thị ngắn này, vốn chỉ nhằm đưa ra một “chỉ dẫn thử nghiệm”, hãy lưu ý cụm từ ấy, không cần đi vào các chi tiết rõ ràng. Dù sao đi nữa, nếu các Công Thức hay Quy Luật không sáng tỏ một cách trực giác đối với thể trí của các bạn, thì bất cứ điều gì tôi có thể nói cũng chỉ cản trở và làm hỏng mục đích của tôi.

1. In this paragraph, DK gives us the more global requirements: correct orientation, acceptance of discipline and the impossibility of being deviated. Each of us can question our readiness by examining our lives with respect to these three criteria.

1. Trong đoạn này, Chân sư DK đưa ra cho chúng ta những yêu cầu bao quát hơn: định hướng đúng đắn, chấp nhận kỷ luật và không thể bị làm lệch hướng. Mỗi chúng ta có thể tự hỏi về sự sẵn sàng của mình bằng cách xem xét đời sống của mình theo ba tiêu chí này.

2. We find both the second and first rays in the requirements. Through the second ray we are facing the light and have right orientation. Through the first ray, we submit ourselves to discipline and persist “no matter what”.

2. Chúng ta thấy cả cung hai và cung một trong các yêu cầu này. Qua cung hai, chúng ta đối diện với ánh sáng và có định hướng đúng. Qua cung một, chúng ta tự đặt mình dưới kỷ luật và kiên trì “bất kể điều gì”.

3. On the Path of Occultism there is a lot of “no matter what”! Note the word “matter”. We persist despite the changing conditions of matter and of what might be called, our ‘matters’).

3. Trên Con Đường Huyền Bí Học có rất nhiều “bất kể điều gì”! Hãy lưu ý từ “vật chất”. Chúng ta kiên trì bất chấp những điều kiện thay đổi của vật chất và của những điều có thể gọi là “các vấn đề” của chúng ta.

4. First ray motion is characterized by “progress onward” and “driving forward through space”. There is much of the straight line in it.

4. Chuyển động cung một được đặc trưng bởi “tiến tới phía trước” và “thúc đẩy tiến về phía trước xuyên qua không gian”. Trong đó có rất nhiều tính chất của đường thẳng.

5. Our group contains some who have been persisting for years, and some newer students, younger in their experience with the esoteric teaching, who are relatively new to this approach. Those who have persisted can help those who have yet to demonstrate persistence. But all will face the meaning of the phrase— “no matter what”. When one has passed through “no matter what”, one has proved detachment to oneself (and incidentally to the higher disciples on the inner planes who may be ‘watching’ and ‘guiding’.)

5. Nhóm của chúng ta gồm một số người đã kiên trì trong nhiều năm, và một số đạo sinh mới hơn, còn trẻ hơn trong kinh nghiệm với giáo huấn huyền bí, tương đối mới đối với lối tiếp cận này. Những người đã kiên trì có thể giúp những người còn chưa chứng minh được sự kiên trì. Nhưng tất cả sẽ đối diện với ý nghĩa của cụm từ — “bất kể điều gì”. Khi một người đã vượt qua “bất kể điều gì”, y đã chứng minh sự tách rời với chính mình, và tình cờ cũng với các đệ tử cao hơn trên các cõi bên trong, những vị có thể đang “quan sát” và “hướng dẫn”.

6. Notice that the Tibetan considers his explication of the Rules, “short instructions” and “tentative indication(s)”. However profound these Rules may seem to us, He is not going into detail. Thus, He is depending upon our intuition to grasp with understanding. We can fill in the detail for ourselves.

6. Hãy lưu ý rằng Chân sư Tây Tạng xem sự giải thích của Ngài về các Quy Luật là “những huấn thị ngắn” và “những chỉ dẫn thử nghiệm”. Dù các Quy Luật này có vẻ sâu sắc đến đâu đối với chúng ta, Ngài cũng không đi vào chi tiết. Vì vậy, Ngài trông cậy vào trực giác của chúng ta để nắm bắt bằng sự thấu hiểu. Chúng ta có thể tự mình điền vào các chi tiết.

7. He states an important principle: “if the Formulas or Rules are not intuitively clear to your minds, anything I could say would only hinder and frustrate my purpose”. The mere accumulation of knowledge does not lead to understanding. These Rules cannot be grasped by the concrete mind alone. All that the Tibetan is telling us, and all that is being explored in these commentaries, depend for understanding on the unfoldment of the intuition. Something in us already knows the nature and truth of these Rules, and that something must be evoked.

7. Ngài nêu một nguyên lý quan trọng: “nếu các Công Thức hay Quy Luật không sáng tỏ một cách trực giác đối với thể trí của các bạn, thì bất cứ điều gì tôi có thể nói cũng chỉ cản trở và làm hỏng mục đích của tôi”. Sự tích lũy tri thức đơn thuần không dẫn đến sự thấu hiểu. Các Quy Luật này không thể được nắm bắt chỉ bằng trí cụ thể. Tất cả những gì Chân sư Tây Tạng đang nói với chúng ta, và tất cả những gì đang được khảo sát trong các bài bình giảng này, đều tùy thuộc vào sự khai mở của trực giác để được thấu hiểu. Có một điều gì đó trong chúng ta đã biết bản chất và chân lý của các Quy Luật này, và điều đó phải được gợi lên.

G. Physical application of the Rule (cf. RI, p. 37)

G. Ứng dụng hồng trần của Quy Luật (xem Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo, tr. 37)

Emotional application of the Rule (cf. RI, p. 37)

Ứng dụng cảm xúc của Quy Luật (xem Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo, tr. 37)

Finally, these Formulas or Rules are susceptible of [Page 37] three forms of application or interpretation and I would have you remember this, because you can thereby discover where your individual focus of attention is and if you are consequently functioning as an integrated personality. Remember always that only an integrated personality can achieve the needed soul focus. This is a fundamental requirement. These three forms of application are physical, emotional and mental in nature. But those words in their simplest connotation have true reference to the task of achieving one or other of the higher initiations. The only way their significance can truly appear is by grasping the following meanings:

Cuối cùng, các Công Thức hay Quy Luật này có thể được áp dụng hay diễn giải theo [Trang 37] ba hình thức, và tôi muốn các bạn nhớ điều này, vì nhờ đó các bạn có thể khám phá trọng tâm chú ý cá nhân của mình ở đâu và do đó liệu các bạn có đang hoạt động như một Phàm ngã tích hợp hay không. Hãy luôn nhớ rằng chỉ một Phàm ngã tích hợp mới có thể đạt được sự tập trung cần thiết vào linh hồn. Đây là một yêu cầu căn bản. Ba hình thức ứng dụng này có bản chất hồng trần, cảm xúc và trí tuệ. Nhưng những từ ấy, trong hàm nghĩa đơn giản nhất của chúng, thật sự liên quan đến nhiệm vụ đạt được cuộc điểm đạo cao hơn này hay khác. Cách duy nhất để thâm nghĩa của chúng có thể thật sự xuất hiện là nắm bắt các ý nghĩa sau đây:

1. The instruction in the Tibetan’s earlier books help us achieve the stage of integrated personality. Esoteric Psychology II, and A Treatise on White Magic, are particularly good for this purpose.

1. Huấn thị trong các sách trước của Chân sư Tây Tạng giúp chúng ta đạt đến giai đoạn Phàm ngã tích hợp. Tâm Lý Học Nội Môn II, Luận về Chánh Thuật, đặc biệt hữu ích cho mục đích này.

2. If being an integrated personality is a “fundamental requirement”, we should ascertain if this condition exists within our energy system.

2. Nếu việc là một Phàm ngã tích hợp là một “yêu cầu căn bản”, chúng ta nên xác định xem tình trạng này có tồn tại trong hệ thống năng lượng của mình hay không.

3. An integrated personality is not at war within itself. It may, however, be at war with soul impulse, but that is another matter.

3. Một Phàm ngã tích hợp không ở trong tình trạng chiến tranh bên trong chính nó. Tuy nhiên, nó có thể ở trong tình trạng chiến tranh với xung lực linh hồn, nhưng đó là vấn đề khác.

4. Within an integrated personality, mind, emotions and body, function harmoniously and under right direction to achieve that which is desired and purposed.

4. Trong một Phàm ngã tích hợp, thể trí, các cảm xúc và thể xác hoạt động hài hòa và dưới sự chỉ đạo đúng đắn để đạt được điều được mong muốn và chủ định.

5. If the body is subject to inertia, if the emotions are full of turmoil and if the mind is chaotic or unclear, the condition of personality integration does not exist.

5. Nếu thể xác chịu sự chi phối của Quán tính, nếu các cảm xúc đầy xáo động và nếu thể trí hỗn loạn hay không rõ ràng, thì tình trạng tích hợp phàm ngã không tồn tại.

6. In the Tibetan’s work the question of “levels” is always arising. The three levels of application (physical, emotional and mental) are said to refer to the higher initiations. When studying the Rules for Applicants and the Rules for Disciples and Initiates in pairs, we shall always see analogy and the raising of level at work. The more advanced Rule is always a higher correspondence of the more basic Rule. In tracing the correspondences we shall learn much.

6. Trong công trình của Chân sư Tây Tạng, vấn đề “các cấp độ” luôn luôn nảy sinh. Ba cấp độ ứng dụng, hồng trần, cảm xúc và trí tuệ, được nói là liên quan đến các cuộc điểm đạo cao hơn. Khi nghiên cứu Các Quy Luật dành cho Người Xin Điểm Đạo và Các Quy Luật dành cho Đệ Tử và Điểm Đạo Đồ theo từng cặp, chúng ta sẽ luôn thấy định luật tương đồng và sự nâng cao cấp độ đang hoạt động. Quy Luật cao cấp hơn luôn là tương ứng cao hơn của Quy Luật căn bản hơn. Khi lần theo các tương ứng, chúng ta sẽ học được nhiều điều.

1. The physical application refers to the usage by the group of the given knowledge and intuitively perceived information in such a way that the needs of the larger group, of which the group itself is a part, are constructively served. The consummation of this ideal is to be found in the activity of the Hierarchy itself which, from progressive point to progressive point, finds itself in the position of intuitive interpreter and force transmitter between the centre of Shamballa and Humanity. The individual initiate, on the way to one or other of the higher initiations, has in his lesser degree to achieve the same dual function and thereby fit himself for the wider cooperation.

1. Ứng dụng hồng trần liên quan đến việc tập thể sử dụng tri thức đã được ban và thông tin được trực giác nhận biết sao cho các nhu cầu của tập thể lớn hơn, mà chính tập thể này là một phần trong đó, được phụng sự một cách xây dựng. Sự hoàn thành lý tưởng này được tìm thấy trong hoạt động của chính Thánh đoàn, vốn từ điểm tiến bộ này đến điểm tiến bộ khác, tự thấy mình ở vị trí của người diễn giải trực giác và người truyền dẫn mãnh lực giữa trung tâm Shamballa và Nhân loại. Điểm đạo đồ cá nhân, trên đường đến cuộc điểm đạo cao hơn này hay khác, ở mức độ nhỏ hơn của mình phải đạt được cùng chức năng kép ấy và nhờ đó làm cho mình thích hợp với sự hợp tác rộng lớn hơn.

1. The physical application refers to the Law of Service, the third soul law, related to the third aspect of divinity. (The second soul law, the Law of Magnetic Impulse, relates to the second aspect, and the first law, the Law of Sacrifice, to the first aspect.)

1. Ứng dụng hồng trần liên quan đến Định luật Phụng sự, định luật linh hồn thứ ba, liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính. Định luật linh hồn thứ hai, Định luật Xung Động Từ Tính, liên hệ với phương diện thứ hai, và định luật thứ nhất, Định luật Hy Sinh, liên hệ với phương diện thứ nhất.

2. The physical application is active and relatively external. The knowledge is used to meet the needs of the larger group. We serve by thinking in ever-larger wholes and acting in terms of the welfare of these wholes.

2. Ứng dụng hồng trần có tính hoạt động và tương đối bên ngoài. Tri thức được dùng để đáp ứng các nhu cầu của tập thể lớn hơn. Chúng ta phụng sự bằng cách suy nghĩ trong những toàn thể ngày càng lớn hơn và hành động theo phúc lợi của các toàn thể ấy.

3. The physical application is certainly not to ourselves alone. It is an inclusive approach, and relates to appreciating the reality of groups within groups within still larger groups.

3. Sự áp dụng trên cõi hồng trần chắc chắn không chỉ dành riêng cho chúng ta. Đó là một bao gồm, và liên quan đến việc biết trân trọng thực tại của các nhóm trong các nhóm, lại nằm trong những nhóm lớn hơn nữa.

4. We are asked to function in a dual mode (as Hierarchy does). Hierarchy mediates between Shamballa and Humanity. This type of advanced mediation is not open to us, but we can learn to mediate between Hierarchy and the New Group of World Servers. Note that our scope would be much smaller. Hierarchy’s service would relate the extremes; ours would not.

4. Chúng ta được yêu cầu hoạt động theo một phương thức kép, như Thánh đoàn vẫn làm. Thánh đoàn làm trung gian giữa Shamballa và Nhân loại. Loại trung gian cao cấp này chưa mở ra cho chúng ta, nhưng chúng ta có thể học cách làm trung gian giữa Thánh đoàn và Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Cần lưu ý rằng phạm vi của chúng ta sẽ nhỏ hơn nhiều. Sự phụng sự của Thánh đoàn sẽ liên kết các cực điểm; còn chúng ta thì không.

5. Simply, the physical application of these Rules fits the disciple and the discipleship group for “wider cooperation”.

5. Nói một cách đơn giản, sự áp dụng trên cõi hồng trần của các Quy luật này chuẩn bị cho đệ tử và nhóm đệ tử bước vào “sự hợp tác rộng lớn hơn”.

2. The emotional application has definite reference to the world of meaning, interpreted in a group sense. At present, well-meaning aspirants are satisfied if they are able to interpret their personality conditions, events and happenings in terms of their real meaning. But that still remains an individual reaction. The aspirant who is seeking to comprehend these Rules is more interested in seeing the situations which he contacts in terms of a world whole, and in searching for their meaning in terms of their group significance. This serves to decentralise him and to convey into his consciousness some aspect of that larger whole, and this in its turn contributes to the expansion of the consciousness of humanity as a whole. [Page 38]

2. Sự áp dụng về mặt cảm xúc có liên hệ rõ rệt với Thế giới của ý nghĩa, được diễn giải theo ý nghĩa nhóm. Hiện nay, những người chí nguyện thiện chí cảm thấy hài lòng nếu họ có thể diễn giải các tình trạng, sự kiện và biến cố của phàm ngã theo ý nghĩa đích thực của chúng. Nhưng điều đó vẫn chỉ là một phản ứng cá nhân. Người chí nguyện đang tìm cách thấu hiểu các Quy luật này quan tâm nhiều hơn đến việc nhìn các tình huống mà y tiếp xúc theo phương diện của một toàn thể thế giới, và tìm kiếm ý nghĩa của chúng theo thâm nghĩa nhóm của chúng. Điều này giúp y phi tập trung vào bản thân và đưa vào tâm thức của y một phương diện nào đó của toàn thể rộng lớn hơn ấy; và đến lượt điều này góp phần mở rộng tâm thức của toàn thể nhân loại. [Trang 38]

1. The emotional application is, as we would expect, more interior than the physical application.

1. Như chúng ta có thể dự kiến, sự áp dụng về mặt cảm xúc mang tính nội tại hơn sự áp dụng trên cõi hồng trần.

2. We are to enter the “world of meaning”, but not just in terms of our personality and personality events. It is assumed that, increasingly, we will develop the faculty of “spiritual reading”, and will be able to discern the higher meaning of the events and states of our personal life.

2. Chúng ta phải bước vào “Thế giới của ý nghĩa”, nhưng không chỉ theo phương diện phàm ngã của chúng ta và các biến cố của phàm ngã. Có thể giả định rằng, ngày càng nhiều hơn, chúng ta sẽ phát triển năng lực “đọc hiểu tinh thần”, và sẽ có thể phân biện ý nghĩa cao hơn của các biến cố và trạng thái trong đời sống cá nhân của mình.

3. The student of the more advanced Rules, however, is thinking in broader terms. Consciousness is becoming increasingly decentralized and “planetarized”,

3. Tuy nhiên, đạo sinh của các Quy luật cao cấp hơn đang tư duy theo những phương diện rộng lớn hơn. Tâm thức đang ngày càng phi tập trung vào bản thân và “được hành tinh hóa”,

4. When we think of ourselves, we no longer think of ‘ourselves’ in the usual sense. We are the group. We are humanity—not just in theory, but in the factually-felt sense.

4. Khi nghĩ về chính mình, chúng ta không còn nghĩ về ‘chính mình’ theo nghĩa thông thường nữa. Chúng ta nhóm. Chúng ta nhân loại—không chỉ trên lý thuyết, mà trong ý nghĩa được cảm nhận một cách thực tế.

5. Initiations are a series of expansions of consciousness. The expanded consciousness thinks increasingly in terms of the whole.

5. Các cuộc điểm đạo là một chuỗi những mở rộng của tâm thức. Tâm thức được mở rộng ngày càng tư duy theo phương diện của toàn thể.

6. We should test ourselves and see, during the day, how much of our thought is directed to the condition of the greater group in which we function and the greater whole in which we “live and move and have our being”.

6. Chúng ta nên tự kiểm nghiệm và xem trong ngày, bao nhiêu tư tưởng của mình hướng về tình trạng của nhóm lớn hơn trong đó chúng ta hoạt động, và về toàn thể lớn hơn trong đó chúng ta “sống, vận động và hiện tồn”.

“15. Speak not of self. Pity not thy fate. The thoughts of self and of thy lower destiny prevent the inner [Page 475] voice of thine own soul from striking upon thine ear. Speak of the soul; enlarge upon the plan; forget thyself in building for the world. Thus is the law of form offset. Thus can the rule of love enter upon that world.” (TWM 474-475)

“15. Đừng nói về bản thân. Đừng thương hại số phận của mình. Những tư tưởng về bản thân và về định mệnh thấp của ngươi ngăn cản tiếng nói bên trong [Trang 475] của chính linh hồn ngươi vang đến tai ngươi. Hãy nói về linh hồn; hãy mở rộng về Thiên Cơ; hãy quên mình trong việc xây dựng cho thế giới. Nhờ vậy Định luật của hình tướng được hóa giải. Nhờ vậy quy luật của bác ái có thể bước vào thế giới ấy.” (TWM 474-475)

7. It appears that decentralization is important not only for ourselves, but for humanity as a whole—helping to expand its consciousness. Self-concern and obsessive self-consciousness are limitations, as we well realize. Self-forgetfulness is one important key to effectiveness in service. “And may I fulfill my part in the Divine Plan, through self-forgetfulness, harmlessness and right speech”.

7. Dường như sự phi tập trung vào bản thân không chỉ quan trọng đối với chính chúng ta, mà còn đối với toàn thể nhân loại—giúp mở rộng tâm thức của nhân loại. Sự bận tâm về bản thân và ngã thức ám ảnh là những giới hạn, như chúng ta đều nhận rõ. Quên mình là một chìa khóa quan trọng để đạt hiệu quả trong phụng sự. “Và xin cho con hoàn thành phần việc của mình trong Thiên Cơ, nhờ quên mình, tính vô tổn hại và lời nói đúng đắn”.

8. What do we really care about? What do we value most? Care about the greater whole is a definite, progressive step from identification with the third divine aspect to identification with the second. As Master Morya suggests—if we work for the “Common Weal” (the Greater Good), we are with Them (i.e., with the Masters).

8. Chúng ta thật sự quan tâm đến điều gì? Chúng ta trân quý điều gì nhất? Sự quan tâm đến toàn thể lớn hơn là một bước tiến rõ rệt và liên tục từ sự đồng hóa với phương diện thiêng liêng thứ ba sang sự đồng hóa với phương diện thứ hai. Như Chân sư Morya gợi ý—nếu chúng ta làm việc cho “Phúc Lợi Chung” (Điều Thiện Lớn Hơn), chúng ta ở cùng Các Ngài, tức là cùng với các Chân sư.

H. Mental application of the Rule (cf. RI, p. 38)

H. Sự áp dụng trí tuệ của Quy luật (xem RI, tr. 38)

3. The mental application has to be grasped and considered in terms of the “great light.” It must be remembered that the mind is the organ of illumination. Therefore it might be asked: Do the united mental processes of the group as a whole tend to throw light on human problems and situations? How much does the light of the individual group member aid in this process? How much light do you, as an individual, register and therefore contribute to the greater light? Is the group light a dim flicker or a blazing sun?

3. Sự áp dụng trí tuệ phải được nắm bắt và xem xét theo phương diện của “ánh sáng lớn”. Cần nhớ rằng thể trí là cơ quan của sự soi sáng. Vì vậy có thể đặt câu hỏi: Các tiến trình trí tuệ hợp nhất của toàn thể nhóm có khuynh hướng rọi ánh sáng lên các vấn đề và tình huống của nhân loại không? Ánh sáng của từng thành viên trong nhóm hỗ trợ tiến trình này đến mức nào? Với tư cách cá nhân, các bạn ghi nhận được bao nhiêu ánh sáng và do đó đóng góp bao nhiêu vào ánh sáng lớn hơn? Ánh sáng của nhóm là một tia lập lòe mờ nhạt hay là một mặt trời rực cháy?

1. These Rules lead us, eventually, to “See the Greatest Light” (the Word of Power for the Second Ray).

1. Các Quy luật này cuối cùng dẫn chúng ta đến chỗ “Thấy Ánh Sáng Lớn Nhất”, Quyền năng từ của cung hai.

2. We are slowly entering the great Light of Wisdom which is found within Shamballa (at the heart of the One Fundamental School of Occultism in Shamballa).

2. Chúng ta đang chậm rãi bước vào Ánh Sáng lớn của Minh triết vốn được tìm thấy trong Shamballa, nơi trung tâm của Trường Huyền bí học Căn bản Duy nhất tại Shamballa.

3. Meaning will give way to significance. When during the group process we encounter certain experiences and realizations, we shall inquire about their significance for the whole.

3. Ý nghĩa sẽ nhường chỗ cho thâm nghĩa. Khi trong tiến trình nhóm, chúng ta gặp một số kinh nghiệm và nhận thức nhất định, chúng ta sẽ tìm hiểu thâm nghĩa của chúng đối với toàn thể.

4. There is no need to ask questions about this paragraph. The Tibetan is asking the questions, and they are good ones. Let us pause for a moment and address these questions to ourselves. We take stock and see where there is room for improvement.

4. Không cần đặt câu hỏi về đoạn này. Chân sư Tây Tạng đang đặt các câu hỏi, và đó là những câu hỏi hay. Chúng ta hãy dừng lại một chút và hướng các câu hỏi này về chính mình. Chúng ta kiểm điểm lại và xem nơi nào còn có thể cải thiện.

5. We begin as a group which meditates and studies. We become informed and contact a greater light. But one day, soon perhaps, we will share the light we contact, and increase the illumination in the mental body of humanity. The Master takes an interest in a group when it begins selflessly to serve.

5. Chúng ta bắt đầu như một nhóm tham thiền và học hỏi. Chúng ta được thấm nhuần hiểu biết và tiếp xúc với một ánh sáng lớn hơn. Nhưng một ngày nào đó, có lẽ không xa, chúng ta sẽ chia sẻ ánh sáng mà mình tiếp xúc, và gia tăng sự soi sáng trong thể trí của nhân loại. Chân sư quan tâm đến một nhóm khi nhóm ấy bắt đầu phụng sự một cách vô ngã.

Such are some of the implications lying behind the use of these familiar words, and the careful consideration of their meaning might bring about a definite expansion of consciousness. This expansion normally follows certain clear and definite stages:

Đó là một số hàm ý nằm sau việc sử dụng những từ ngữ quen thuộc này, và sự xem xét cẩn trọng ý nghĩa của chúng có thể đem lại một sự mở rộng tâm thức rõ rệt. Sự mở rộng này thường diễn ra theo một số giai đoạn rõ ràng và xác định:

1. A recognition of the goal. This goal is often expressed under the word “the door.” A door permits entrance into some place larger than the area covered by the standing room of the would-be initiate. This statement refers to the “door of incarnation” through which the incarnating soul enters into life—limited and restricted from the angle of the soul. The door of initiation admits “into a larger room” or sphere of extended expression.

1. Sự nhận biết mục tiêu. Mục tiêu này thường được diễn đạt bằng từ “cánh cửa”. Một cánh cửa cho phép đi vào một nơi rộng lớn hơn khu vực mà người muốn trở thành điểm đạo đồ đang đứng. Phát biểu này nói đến “cánh cửa nhập thể” qua đó linh hồn nhập thể bước vào đời sống—bị giới hạn và thu hẹp theo góc nhìn của linh hồn. Cánh cửa điểm đạo cho phép bước “vào một căn phòng rộng lớn hơn” hay một khối cầu biểu đạt mở rộng.

2. The approach, under regulated and imposed and well-tried rules, of the entering one towards a visioned goal. This involves conformity to that which has been tried, known and demonstrated by all previous initiates.

2. Sự tiếp cận, dưới những quy luật đã được quy định, áp đặt và thử nghiệm kỹ lưỡng, của người bước vào hướng tới một mục tiêu đã được thấy trong tầm nhìn. Điều này bao hàm sự tuân hợp với những gì đã được mọi điểm đạo đồ trước đó thử nghiệm, biết đến và chứng minh.

3. The arresting of the steps of the initiate before the door in order that he may “prove himself to be initiate” prior to entry.

3. Việc dừng bước của điểm đạo đồ trước cánh cửa để y có thể “chứng tỏ mình là điểm đạo đồ” trước khi bước vào.

4. The passing of certain tests in order to demonstrate fitness.

4. Việc vượt qua một số thử thách nhằm chứng minh sự thích hợp.

5. Then comes the stage of entrance—under due and set rules and yet with full freedom of action. You will see, therefore, why ever the need for understanding is emphasised.

5. Rồi đến giai đoạn bước vào—dưới những quy luật đúng đắn và đã định sẵn, nhưng đồng thời với đầy đủ tự do hành động. Vì vậy, các bạn sẽ thấy vì sao nhu cầu thấu hiểu luôn luôn được nhấn mạnh.

1. The Tibetan tells us how our consciousness might expand—through pondering on and careful consideration of these familiar words and ideas. If these words and ideas are taken at face value, there will be no expansion. When the mystery within the familiar is detected, then progress begins. Otherwise, our minds are numbed by the customary.

1. Chân sư Tây Tạng cho chúng ta biết tâm thức của mình có thể mở rộng như thế nào—qua việc suy ngẫm và xem xét cẩn trọng những từ ngữ và ý tưởng quen thuộc này. Nếu những từ ngữ và ý tưởng này được tiếp nhận theo nghĩa bề mặt, sẽ không có sự mở rộng nào. Khi phát hiện ra huyền nhiệm bên trong điều quen thuộc, bấy giờ tiến bộ bắt đầu. Nếu không, thể trí của chúng ta sẽ bị tê liệt bởi thói quen.

2. Five phases in the expansion process are now discussed: recognition, approach, arresting of the steps, testing and entrance.

2. Năm giai đoạn trong tiến trình mở rộng giờ đây được bàn đến: nhận biết, tiếp cận, dừng bước, thử thách và bước vào.

3. A “door” is a ‘threshold of opportunity’. The Spirit within demands ever larger scope for expression—its birthright. We seek to pass through all portals until none remains—except for the portal which leads from finitude to infinitude (the last and final, though ever recurring, universal portal).

3. Một “cánh cửa” là một ‘ngưỡng của cơ hội’. Tinh thần bên trong luôn đòi hỏi một phạm vi biểu đạt rộng lớn hơn—quyền bẩm sinh của nó. Chúng ta tìm cách đi qua mọi cổng, cho đến khi không còn cổng nào nữa—ngoại trừ cổng dẫn từ hữu hạn đến vô hạn, cổng vũ trụ cuối cùng và chung cuộc, dù luôn luôn tái diễn.

4. Incidentally, an important statement is here made concerning the “door” which is “left behind”. “Behind the group there stands the door”. There is certainly one door we have all left behind, and that is the Door of Individualization. This door admitted us into the fourth kingdom—Humanity. Another door must also be left behind. It is the door into the fifth kingdom—the Kingdom of Souls. In this Rule, we could say that this door is passed at the first initiation, for that is the initial door into the fifth kingdom. More probably, however, there is a technical reference here to the door passed at the third initiation. Only after the third initiation can one begin to think, realistically though tentatively, about the Way of the Higher Evolution—the Seven Paths

4. Nhân tiện, ở đây có một phát biểu quan trọng liên quan đến “cánh cửa” bị “bỏ lại phía sau”. “Phía sau nhóm có cánh cửa đứng đó”. Chắc chắn có một cánh cửa mà tất cả chúng ta đã bỏ lại phía sau, đó là Cánh cửa Biệt ngã hóa. Cánh cửa này đã cho chúng ta bước vào giới thứ tư—Nhân loại. Một cánh cửa khác cũng phải được bỏ lại phía sau. Đó là cánh cửa vào giới thứ năm—Giới Linh Hồn. Trong Quy luật này, chúng ta có thể nói rằng cánh cửa này được vượt qua ở lần điểm đạo thứ nhất, vì đó là cánh cửa khởi đầu vào giới thứ năm. Tuy nhiên, nhiều khả năng hơn là ở đây có một tham chiếu kỹ thuật đến cánh cửa được vượt qua ở lần điểm đạo thứ ba. Chỉ sau lần điểm đạo thứ ba, người ta mới có thể bắt đầu suy nghĩ, một cách thực tế dù còn dè dặt, về Con đường Tiến Hóa Cao Siêu—Bảy Con Đường

5. Presently, we in this group, are in phase two:

5. Hiện nay, chúng ta trong nhóm này đang ở giai đoạn hai:

“The approach, under regulated and imposed and well-tried rules, of the entering one towards a visioned goal. This involves conformity to that which has been tried, known and demonstrated by all previous initiates.”

“Sự tiếp cận, dưới những quy luật đã được quy định, áp đặt và thử nghiệm kỹ lưỡng, của người bước vào hướng tới một mục tiêu đã được thấy trong tầm nhìn. Điều này bao hàm sự tuân hợp với những gì đã được mọi điểm đạo đồ trước đó thử nghiệm, biết đến và chứng minh.”

We, in this group, are approaching, regulating our lives, seeking to conform—and we have rising Saturn to help us do this. We work with trust—trust in the Tibetan’s statements, and trust that other disciples and initiates have gone before us and successfully proved the merit of these Rules.

Chúng ta, trong nhóm này, đang tiếp cận, điều chỉnh đời sống của mình, tìm cách tuân hợp—và chúng ta có Thổ Tinh mọc để giúp mình làm điều này. Chúng ta làm việc với niềm tin—tin vào các phát biểu của Chân sư Tây Tạng, và tin rằng các đệ tử cùng các điểm đạo đồ khác đã đi trước chúng ta và đã chứng minh thành công giá trị của các Quy luật này.

6. It is amazing how much trust must enter into such a process. We are not in a position to ascertain the veracity of all that DK has said—but, He impresses us as eminently trustworthy, and so we proceed on that basis.

6. Thật đáng kinh ngạc khi thấy trong một tiến trình như vậy cần đến biết bao niềm tin. Chúng ta không ở vị thế có thể xác minh tính xác thực của tất cả những gì Chân sư DK đã nói—nhưng Ngài tạo nơi chúng ta ấn tượng là đáng tin cậy ở mức cao nhất, và vì vậy chúng ta tiến bước trên nền tảng ấy.

7. Then, in stage three, we arrest our steps and prove ourselves. It is the only safe way. We remember that the Way must be protected from us! Too much is at stake. If we should enter unproven and unready, we would not only destroy ourselves (and be set back for, perhaps, many lives) but bring harm to the progress of others.

7. Rồi ở giai đoạn ba, chúng ta dừng bước và tự chứng minh mình. Đó là cách duy nhất an toàn. Chúng ta nhớ rằng Con Đường phải được bảo vệ khỏi chính chúng ta! Có quá nhiều điều hệ trọng. Nếu chúng ta bước vào khi chưa được chứng minh và chưa sẵn sàng, chúng ta không chỉ tự hủy hoại mình, và có lẽ bị trì hoãn trong nhiều đời, mà còn gây tổn hại cho sự tiến bộ của người khác.

8. With our own strength, knowledge and love (and without the reinforcement of the power conferred by the Initiator) we prove that we have reached the standard required and that we can “hold” that standard— “no matter what”. This stage will require patience and continuity. Here we are undergoing the “test of time”.

8. Bằng sức mạnh, tri thức và tình thương của chính mình, và không có sự tăng cường của quyền năng do Đấng Điểm đạo ban truyền, chúng ta chứng minh rằng mình đã đạt đến tiêu chuẩn cần thiết và có thể “giữ vững” tiêu chuẩn ấy—“bất kể điều gì xảy ra”. Giai đoạn này sẽ đòi hỏi sự kiên nhẫn và tính liên tục. Ở đây chúng ta đang trải qua “thử thách của thời gian”.

9. Then comes a more active stage. We have sustained our point of tension with continuity, and apparently, are of the standard that could be called “initiate”. Now our abilities are actively engaged, and we demonstrate our readiness in activity. In the ancient temples, the tests applied were sometimes life-threatening, and only the candidate who could use his initiate capacities would survive them to become the true initiate. In the modern era, we demonstrate our readiness in active service to the world—sustaining the necessary point of tension all the while.

9. Rồi đến một giai đoạn năng động hơn. Chúng ta đã duy trì điểm tập trung nhất tâm của mình một cách liên tục, và dường như đã đạt tiêu chuẩn có thể gọi là “điểm đạo đồ”. Lúc này các năng lực của chúng ta được vận dụng tích cực, và chúng ta chứng minh sự sẵn sàng của mình trong hoạt động. Trong các đền thờ cổ xưa, những thử thách được áp dụng đôi khi đe dọa đến tính mạng, và chỉ ứng viên nào có thể sử dụng các năng lực điểm đạo của mình mới sống sót qua chúng để trở thành điểm đạo đồ đích thực. Trong thời đại hiện nay, chúng ta chứng minh sự sẵn sàng của mình trong việc phụng sự tích cực thế giới—đồng thời luôn duy trì điểm tập trung nhất tâm cần thiết.

10. Then, at last, the stage of entrance—stage five. Due and set rules govern this entry and yet freedom is conferred. The paradoxes are always with us in this process of occult development. Saturn is the regulator, and yet the Hierophant (Sanat Kumara) is, in this process, the representative of Uranus (the conveyer of freedom). In the study of Saturn and Uranus in relation to the process of initiation, much of value would emerge. Note that in the Central Group Chart of the 28 Rules Initiative process, Saturn and Uranus are both powerful (Saturn rising and Uranus conjunct the Sun)

10. Rồi cuối cùng là giai đoạn bước vào—giai đoạn năm. Những quy luật đúng đắn và đã định sẵn chi phối sự bước vào này, nhưng tự do vẫn được ban truyền. Các nghịch lý luôn hiện diện với chúng ta trong tiến trình phát triển huyền bí này. Thổ Tinh là vị điều chỉnh, nhưng Đấng Chủ Lễ Điểm Đạo, Đức Sanat Kumara, trong tiến trình này lại là đại diện của Thiên Vương Tinh, đấng truyền đạt tự do. Khi nghiên cứu Thổ Tinh và Thiên Vương Tinh trong tương quan với tiến trình điểm đạo, nhiều điều giá trị sẽ hiển lộ. Hãy lưu ý rằng trong Lá số Nhóm Trung Tâm của tiến trình Sáng Kiến 28 Quy luật, Thổ Tinh và Thiên Vương Tinh đều mạnh mẽ, với Thổ Tinh mọc và Thiên Vương Tinh đồng vị với Mặt Trời

11. These five states merit pondering. They are meaningful to us individually, and will have, as the years progress, meaning to us as a group.

11. Năm trạng thái này đáng được suy ngẫm. Chúng có ý nghĩa đối với từng cá nhân chúng ta, và khi năm tháng trôi qua, sẽ có ý nghĩa đối với chúng ta với tư cách một nhóm.

I. One major test prior to each initiation: ‘the burning ground’ (cf. RI, p. 39)

I. Một thử thách lớn trước mỗi lần điểm đạo: ‘vùng đất cháy’ (xem RI, tr. 39)

One major test prior to each initiation: ‘the clear cold light’ (cf. RI, p. 39)

Một thử thách lớn trước mỗi lần điểm đạo: ‘ánh sáng trong trẻo lạnh lùng’ (xem RI, tr. 39)

The clear cold light reveals two things: the omnipresence of God, the omniscience of the divine Whole (cf. RI, p. 39-40)

Ánh sáng trong trẻo lạnh lùng mặc khải hai điều: sự toàn tại của Thượng đế, sự toàn tri của Toàn Thể thiêng liêng (xem RI, tr. 39-40)

Before proceeding to study the final phrases of Rule [Page 39] One, I would call your attention to the fact that the initiate has faced two major tests, symbolically described as “the burning ground” and the “clear cold light.” Only after he has successfully passed these can he—or the group, when considering group initiation—move forward and outward into the wider reaches of the divine consciousness. These tests are applied when the soul grips the personality and the fire of divine love destroys the loves and desires of the integrated personality. Two factors tend to bring this about: the slow moving forward of the innate conscience into greater control, and the steady development of the “fiery aspiration” to which Patanjali* makes reference. These two factors, when brought into living activity, bring the disciple into the centre of the burning ground which separates the Angel of the Presence from the Dweller on the Threshold. The burning ground is found upon the threshold of every new advance, until the third initiation has been taken.

Trước khi tiếp tục nghiên cứu các cụm từ cuối cùng của Quy luật [Trang 39] Một, Tôi muốn các bạn lưu ý đến sự kiện rằng điểm đạo đồ đã đối diện với hai thử thách lớn, được mô tả bằng biểu tượng là “vùng đất cháy” và “ánh sáng trong trẻo lạnh lùng”. Chỉ sau khi y đã vượt qua thành công những thử thách này, y—hoặc nhóm, khi xét đến điểm đạo nhóm—mới có thể tiến tới và bước ra ngoài vào những phạm vi rộng lớn hơn của tâm thức thiêng liêng. Các thử thách này được áp dụng khi linh hồn nắm chặt phàm ngã và lửa của bác ái thiêng liêng hủy diệt những tình yêu và dục vọng của phàm ngã tích hợp. Hai yếu tố có khuynh hướng đem lại điều này: sự tiến tới chậm rãi của lương tâm bẩm sinh vào quyền kiểm soát lớn hơn, và sự phát triển đều đặn của “khát vọng rực lửa” mà Patanjali* có nhắc đến. Khi hai yếu tố này được đưa vào hoạt động sống động, chúng đưa đệ tử vào trung tâm của vùng đất cháy, nơi phân cách Thiên Thần của Hiện Diện với Kẻ Chận Ngõ. Vùng đất cháy được tìm thấy trên ngưỡng của mỗi bước tiến mới, cho đến khi lần điểm đạo thứ ba đã được tiếp nhận.

1. The by now familiar ideas of the “burning ground” and the “clear cold light” are framed as two major tests. The first leads to detachment and freedom from personality centered forces; the second leads to expanded consciousness (plus a further assessment of the personality condition, accompanied by a revelation of the higher states to be entered).

1. Những ý tưởng nay đã quen thuộc về “vùng đất cháy” và “ánh sáng trong trẻo lạnh lùng” được trình bày như hai thử thách lớn. Thử thách thứ nhất dẫn đến sự tách rời và tự do khỏi các mãnh lực tập trung vào phàm ngã; thử thách thứ hai dẫn đến tâm thức được mở rộng, cộng thêm một sự thẩm định sâu hơn về tình trạng phàm ngã, đi kèm với sự mặc khải về các trạng thái cao hơn sẽ được bước vào.

2. These tests are the prerequisites for progress into the “wider reaches of divine consciousness”.

2. Các thử thách này là những điều kiện tiên quyết cho sự tiến bộ vào “những phạm vi rộng lớn hơn của tâm thức thiêng liêng”.

3. The tests can be seen as purification by fire and by light. Even if we pass the first, and are freed from the attachment to and lure of a certain segment of lunar life, can we stand the blinding revelation conferred by the second? The old adage says “ignorance is bliss”—not true, of course, but understandable in this context. The Tibetan has spoken of the difficulty of standing the “strain of knowing”. Probably, this strain is related to the “exquisite agony” experience by the members of the Hierarchy Who, observing human progress, intimately know humanity and know how much is at stake.

3. Các thử thách có thể được xem như sự thanh luyện bằng lửa và bằng ánh sáng. Ngay cả nếu chúng ta vượt qua thử thách thứ nhất và được giải thoát khỏi sự quyến luyến cùng sức lôi cuốn của một phân đoạn nào đó trong đời sống nguyệt tính, liệu chúng ta có chịu nổi sự mặc khải chói lòa do thử thách thứ hai ban truyền không? Câu ngạn ngữ xưa nói rằng “vô minh là chí phúc”—dĩ nhiên không đúng, nhưng có thể hiểu được trong bối cảnh này. Chân sư Tây Tạng đã nói về sự khó khăn trong việc chịu đựng “sức căng của việc biết”. Có lẽ sức căng này liên quan đến “nỗi thống khổ tinh tế” mà các thành viên của Thánh đoàn trải nghiệm; các Ngài, khi quan sát sự tiến bộ của nhân loại, biết nhân loại một cách mật thiết và biết rõ có bao nhiêu điều hệ trọng.

4. As the Vulcanian grip of the soul upon the personality strengthens, these two test are applied. Divine love begins its destructive work. Can higher Love destroy lower loves? It does so all the time, and even within our normal personality life, we recognize the principle at work. New love replaces old—though such “love” is often merely desire.

4. Khi sự nắm giữ kiểu Vulcan của linh hồn đối với phàm ngã trở nên mạnh hơn, hai thử thách này được áp dụng. Bác ái thiêng liêng bắt đầu công việc hủy diệt của nó. Liệu Tình thương cao hơn có thể hủy diệt những tình yêu thấp hơn không? Nó luôn luôn làm như vậy, và ngay cả trong đời sống phàm ngã bình thường của mình, chúng ta cũng nhận ra nguyên lý ấy đang vận hành. Tình yêu mới thay thế cái cũ—dù “tình yêu” như thế thường chỉ là dục vọng.

5. Then, some very important teaching follows. “Initiate conscience” and “fiery aspiration”. We should focus on the implications of these two factors. They contribute to the triumph of the greater love over the lesser. They also lead us to the center of the burning ground.

5. Rồi tiếp theo là một giáo huấn rất quan trọng. “Lương tâm điểm đạo” và “khát vọng rực lửa”. Chúng ta nên tập trung vào các hàm ý của hai yếu tố này. Chúng góp phần vào chiến thắng của tình thương lớn hơn đối với tình thương nhỏ hơn. Chúng cũng dẫn chúng ta đến trung tâm của vùng đất cháy.

6. Have you seen in your own lives how conscience and fiery aspiration have brought you to the burning ground? Conscience is ruled by regulatory Saturn, which demands that we square our personal lives with spiritual Plan and Purpose. Fiery aspiration is Martian, and redirects the fires of the emotional body into spiritual usefulness. Note that these two planets are considered, in ordinary astrology, the “malefics”— “evil” planets. Obviously, to consider them so is a prejudice of the unenlightened human mind which overvalues form life. Saturn and Mars are great “benefics”, and right here is an example of how they help the candidate to initiation.

6. Các bạn có từng thấy trong đời sống của mình rằng lương tâmkhát vọng rực lửa đã đưa các bạn đến vùng đất cháy như thế nào chưa? Lương tâm do Thổ Tinh điều chỉnh cai quản, đòi hỏi chúng ta phải làm cho đời sống cá nhân của mình phù hợp với Thiên Cơ và Thiên Ý tinh thần. Khát vọng rực lửa mang tính Hỏa Tinh, và chuyển hướng các ngọn lửa của thể cảm dục vào sự hữu dụng tinh thần. Hãy lưu ý rằng hai hành tinh này, trong chiêm tinh học thông thường, được xem là “hung tinh”—những hành tinh “tà ác”. Hiển nhiên, xem chúng như vậy là một định kiến của thể trí con người chưa được giác ngộ, vốn đánh giá quá cao đời sống hình tướng. Thổ Tinh và Hỏa Tinh là những “cát tinh” vĩ đại, và ngay tại đây là một ví dụ về cách chúng trợ giúp ứng viên điểm đạo.

7. “Conscience” may seem to some an old-fashioned word, associated with the Christianity of the past 2000 years. Really, it is a most occult factor. By insisting upon the enactment of a certain pattern in the face of a lower pattern, it creates the friction which ignites in flame. The one who follows conscience will put himself in the fire.

7. “Lương tâm” đối với một số người có thể dường như là một từ lỗi thời, gắn liền với Kitô giáo trong 2000 năm qua. Thật ra, đó là một yếu tố huyền bí nhất. Bằng cách khăng khăng đòi hỏi sự thực hiện một mô hình nhất định trước một mô hình thấp hơn, nó tạo ra ma sát khiến ngọn lửa bùng lên. Người đi theo lương tâm sẽ tự đặt mình vào lửa.

8. Fire, we know, tends to separate those things which adhere to each other—especially those which wrongly adhere.

8. Chúng ta biết rằng lửa có khuynh hướng tách rời những sự vật dính chặt vào nhau—đặc biệt là những gì dính chặt một cách sai lầm.

9. Is it not interesting that upon the burning ground one of the major separations to occur (on the way to essentialization) is the separation of the Angel of the Presence (the Solar Angel) from the Dweller on the Threshold? It is a separation in consciousness. It is not easy to ‘see’ either the Angel or the Dweller, and only at the third degree does one catch even the “first glimpse” of the Dweller as a whole. Before that we see what we might call the ‘fragmentary evil’ within our natures. This separation (for the sake of perception) is essential if we (the disciple “between the two”) are to learn how to identify with the Angel and reclaim the Dweller, for ultimately, the Angel and the Dweller must be reunited—but, on the Angel’s own terms. Upon the burning ground, then, there occurs a moment of great objectivity with respect to the Angel and the Dweller.

9. Chẳng phải thú vị sao khi trên vùng đất cháy, một trong những sự phân tách lớn xảy ra, trên đường đi đến sự tinh yếu hóa, là sự phân tách Thiên Thần của Hiện Diện, tức Thái dương Thiên Thần, khỏi Kẻ Chận Ngõ? Đó là một sự phân tách trong tâm thức. Không dễ để ‘thấy’ Thiên Thần hay Kẻ Chận Ngõ, và chỉ ở cấp độ thứ ba người ta mới thoáng bắt được “cái nhìn đầu tiên” về Kẻ Chận Ngõ như một toàn thể. Trước đó, chúng ta thấy điều có thể gọi là ‘cái ác rời rạc’ trong bản chất của mình. Sự phân tách này, vì mục đích tri nhận, là thiết yếu nếu chúng ta, tức đệ tử “ở giữa hai bên”, muốn học cách đồng hóa với Thiên Thần và thu hồi Kẻ Chận Ngõ; vì cuối cùng, Thiên Thần và Kẻ Chận Ngõ phải được tái hợp—nhưng, theo chính các điều kiện của Thiên Thần. Như vậy, trên vùng đất cháy, xảy ra một khoảnh khắc có tính khách quan rất lớn đối với Thiên Thần và Kẻ Chận Ngõ.

10. We are told that the burning ground is found at the threshold of every new advance until the third initiation is taken. This applies to the burning away of lunar patterns, for at the third degree, the Moon is vanquished as is Mars.

10. Chúng ta được cho biết rằng vùng đất cháy được tìm thấy tại ngưỡng của mỗi bước tiến mới cho đến khi lần điểm đạo thứ ba được tiếp nhận. Điều này áp dụng cho việc đốt cháy các mô hình nguyệt tính, vì ở cấp độ thứ ba, Mặt Trăng bị khuất phục cũng như Hỏa Tinh.

11. Other kinds of burning grounds lie beyond the third degree, but that which is burned, and thus reduced to essence, is no longer the lunar conditioning. Other and higher impediments have to be submitted to the flame. The most significant of these, as far as we are concerned at our particular stage of evolution, is the causal body, the ‘shroud of the soul’.

11. Những loại vùng đất cháy khác nằm bên kia cấp độ thứ ba, nhưng điều bị đốt cháy và nhờ đó được rút về tinh yếu không còn là sự tác động của nguyệt tính nữa. Những chướng ngại khác và cao hơn phải được đưa vào ngọn lửa. Điều quan trọng nhất trong số này, xét theo giai đoạn tiến hoá riêng của chúng ta, là thể nguyên nhân, ‘tấm liệm của linh hồn’.

The “clear cold light” is the light of pure reason, of infallible intuitive perception and its unremitting, intensive and revealing light constitutes a major test in its effects. The initiate discovers the depths of evil, and at the same time is enticed forward by the heights of a growing sense of divinity. The clear cold light reveals two things:

“Ánh sáng trong trẻo lạnh lùng” là ánh sáng của lý trí thuần khiết, của tri nhận trực giác không sai lầm; và ánh sáng không ngừng, mãnh liệt, đầy mặc khải của nó tạo thành một thử thách lớn qua các tác động của nó. Điểm đạo đồ khám phá các chiều sâu của tà ác, đồng thời được lôi cuốn tiến lên bởi những đỉnh cao của ý thức ngày càng tăng về thiên tính. Ánh sáng trong trẻo lạnh lùng mặc khải hai điều:

1. What thoughts come to our minds when we read the words, “unremitting, intensive and revealing light”. One may think of the “hash glare of truth”. “Upon that Road the hidden stands revealed. Each sees and knows the villainy of each”. (Rules of the Road, II)

1. Những tư tưởng nào đến với thể trí chúng ta khi đọc các từ “ánh sáng không ngừng, mãnh liệt và đầy mặc khải”? Người ta có thể nghĩ đến “ánh chói gắt của chân lý”. “Trên Con Đường ấy, điều ẩn giấu lộ ra. Mỗi người thấy và biết sự đồi bại của mỗi người”. (Các Quy Luật của Đường Đạo, II)

2. The revelation is of the extremes—in oneself and in the world. One can imagine that it would be hard to ‘contain the contrast’. This split is an extreme form of “cognitive dissonance”, and surely the fourth ray is required to reconcile the poles revealed. One realizes degradation and divinity simultaneously—and within the same energy system.

2. Sự mặc khải là mặc khải về các cực điểm—trong chính mình và trong thế giới. Người ta có thể hình dung rằng thật khó để ‘chứa đựng sự tương phản’. Sự chia tách này là một dạng cực đoan của “bất hòa nhận thức”, và chắc chắn cần đến cung bốn để hòa giải các cực được mặc khải. Người ta đồng thời nhận ra sự suy đồi và thiên tính— trong cùng một hệ năng lượng.

A. The omnipresence of God throughout nature, and therefore throughout the entire personality life of the initiate or of the initiate group. The scales fall from the eyes, bringing about—paradoxically—the “dark night of the soul” and the sense of being alone and bereft of all help. This led (in the case of the Christ, for instance) to that appalling moment in the Garden of Gethsemane, and which was consummated on the Cross, when the will of personality-soul clashed with the divine will of the Monad. The revelation to the initiate of the ages of severance from the Central Reality, and of all its attendant implications, descends upon the one who is attempting to stand “in isolated Unity,” as Patanjali (to quote him a second time) calls the experience.** [Page 40]

A. Sự toàn tại của Thượng đế khắp thiên nhiên, và do đó khắp toàn bộ đời sống phàm ngã của điểm đạo đồ hoặc của nhóm điểm đạo đồ. Những lớp vảy rơi khỏi đôi mắt, đem lại—một cách nghịch lý—“đêm tối của linh hồn” và cảm giác đơn độc, bị tước mất mọi trợ giúp. Điều này đã dẫn đến, chẳng hạn trong trường hợp của Đức Christ, khoảnh khắc kinh hoàng ấy trong Vườn Gethsemane, và được hoàn tất trên Thập Giá, khi ý chí của phàm ngã-linh hồn va chạm với ý chí thiêng liêng của chân thần. Sự mặc khải cho điểm đạo đồ về những thời đại bị chia lìa khỏi Thực Tại Trung Tâm, cùng mọi hàm ý đi kèm của nó, giáng xuống người đang cố gắng đứng “trong Hợp Nhất Cô Lập”, như Patanjali, xin trích dẫn ông lần thứ hai, gọi kinh nghiệm ấy.** [Trang 40]

1. The Tibetan here describes an amazing and paradoxical revelation. God is sensed in His omnipresence. It should be an ecstatic revelation (and, at times, must be). Yet, the revelation reveals a tremendous contrast as well. The “whole is seen as one” and yet the tiny individual in all his isolation and impotence is also revealed. The greatness dwarfs the individual, who must find a way to reclaim his strength in the face of the awesomeness of divine light.

1. Ở đây Chân sư Tây Tạng mô tả một sự mặc khải kỳ diệu và nghịch lý. Thượng đế được cảm nhận trong sự toàn tại của Ngài. Đó hẳn phải là một sự mặc khải xuất thần, và đôi lúc chắc chắn là như vậy. Tuy nhiên, sự mặc khải ấy cũng làm lộ ra một tương phản ghê gớm. “Toàn thể được thấy như một”, nhưng đồng thời cá nhân nhỏ bé trong tất cả sự cô lập và bất lực của mình cũng được mặc khải. Sự vĩ đại làm cá nhân trở nên nhỏ bé; y phải tìm ra cách thu hồi sức mạnh của mình trước sự uy nghi đáng kinh ngạc của ánh sáng thiêng liêng.

2. What follows is a very interesting mixture of the “gold and silver threads” of the story of Christ-Jesus. The test in the Garden was largely the test of the Christ as He faced the sixth initiation. His united soul-personality (really, Triad-personality) we are told, had conceived of a certain way of saving Humanity, yet Shamballa and the divine will demanded a different approach.

2. Điều tiếp theo là một sự pha trộn rất thú vị giữa “các sợi chỉ vàng và bạc” trong câu chuyện về Đức Christ-Jesus. Thử thách trong Vườn phần lớn là thử thách của Đức Christ khi Ngài đối diện với lần điểm đạo thứ sáu. Phàm ngã-linh hồn hợp nhất của Ngài, thật ra là Tam nguyên tinh thần-phàm ngã, chúng ta được cho biết, đã hình dung một phương cách nhất định để cứu rỗi Nhân loại, nhưng Shamballa và Ý Chí thiêng liêng đòi hỏi một cách tiếp cận khác.

3. What was consummated upon the Cross was not just the death and liberation of the Master Jesus (the fourth initiation) but a great penetration into Shamballic ‘darkness’ by the overshadowing Christ at the sixth. These are surely mysteries to us, and we can be eternally grateful to the Tibetan for lifting even a little of the obscurity which surrounds the actual truth.

3. Điều được hoàn tất trên Thập Giá không chỉ là cái chết và sự giải thoát của Chân sư Jesus (lần điểm đạo thứ tư), mà còn là một sự thâm nhập vĩ đại vào “bóng tối” Shamballa bởi Đức Christ phủ bóng ở lần điểm đạo thứ sáu. Chắc chắn đây là những bí nhiệm đối với chúng ta, và chúng ta có thể đời đời biết ơn Chân sư Tây Tạng vì Ngài đã vén lên dù chỉ một phần nhỏ màn tối bao quanh chân lý thực sự.

4. The light reveals that appalling “severance from the Central Reality”—a severance which has persisted for ages. It must be an awesome moment. One is identified with Humanity and with the Planetary Life, and one realizes what suffering the ignorance of one’s true nature and origin has inflicted upon all the “Sons of Men” throughout the ages. The glorious fact is revealed, as well as the great ‘distance’ of human consciousness from the realization of that fact.

4. Ánh sáng mặc khải “sự chia lìa khỏi Thực Tại Trung Tâm” khủng khiếp ấy—một sự chia lìa đã kéo dài qua nhiều thời đại. Đó hẳn là một khoảnh khắc đầy uy lực. Người ta đồng hoá với Nhân loại và với Sự Sống Hành Tinh, và nhận ra sự vô minh về bản chất và nguồn gốc đích thực của mình đã gây đau khổ biết bao cho mọi “người con của nhân loại” qua các thời đại. Sự kiện huy hoàng được mặc khải, đồng thời cũng thấy rõ “khoảng cách” lớn lao giữa tâm thức con người và sự nhận thức sự kiện ấy.

5. In the paragraph above, the Western and Eastern approaches are united. The experience(s) upon the Cross are related directly to Isolated Unity (the Eastern approach). The revelation in the clear cold light through “infallible intuitive perception and its unremitting, intensive and revealing light” isolates the whole, and simultaneously shows the individual his relation to that whole.

5. Trong đoạn trên, hai lối tiếp cận Tây phương và Đông phương được hợp nhất. Những kinh nghiệm trên Thập Giá liên hệ trực tiếp với Hợp Nhất Cô Lập (lối tiếp cận Đông phương). Sự mặc khải trong ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo, qua “tri giác trực giác không thể sai lầm cùng ánh sáng không ngừng, mãnh liệt và mặc khải của nó”, cô lập toàn thể, đồng thời cho cá nhân thấy mối liên hệ của mình với toàn thể ấy.

“Isolated Unity is that stage of consciousness which sees the whole as one and regards itself, not theoretically but as a realised fact, as identified with that whole. It is a whole which is “isolated” in the consciousness of the man, and not the man himself who regards himself as isolated. The word “isolated” [Page 392] refers to that complete organised organism of which the man can feel and know himself to be a part. The word “unity” expresses his relationship to the whole. It will be apparent therefore that this whole is something progressively realised.” (EP II, 391-392)

“Hợp Nhất Cô Lập là giai đoạn tâm thức thấy toàn thể như một, và xem chính mình, không phải về mặt lý thuyết mà như một sự kiện đã được nhận thức, là đồng hoá với toàn thể ấy. Đó là một toàn thể được ‘cô lập’ trong tâm thức của con người, chứ không phải chính con người xem mình là cô lập. Từ ‘cô lập’ [Page 392] chỉ về cơ cấu tổ chức trọn vẹn mà con người có thể cảm nhận và biết mình là một phần trong đó. Từ ‘hợp nhất’ diễn tả mối liên hệ của y với toàn thể. Vì vậy, hiển nhiên toàn thể này là điều được nhận thức dần dần.” (Tâm Lý Học Nội Môn II, 391-392)

6. The true Dark Night of the Soul, is the stage which precedes the full attainment of the stage of Isolated Unity described immediately above. The perceived isolation of the individual during the Dark Night, is relieved through the attainment of Isolated Unity. “The dew drop slips into the shining sea”. (The Light of Asia—Sir Edwin Arnold)

6. Đêm tối thực sự của linh hồn là giai đoạn đi trước sự đạt tới trọn vẹn trạng thái Hợp Nhất Cô Lập vừa được mô tả ở trên. Sự cô lập mà cá nhân cảm nhận trong Đêm tối được giải tỏa qua việc đạt tới Hợp Nhất Cô Lập. “Giọt sương trượt vào biển sáng.” (Ánh Sáng Á Châu—Sir Edwin Arnold)

J. The sense of being bereft, deserted and alone descends upon the disciple as he realises that the control of form and soul must also disappear. Here lies the agony of isolation and the overpowering sense of loneliness. (cf. RI, p. 40-41)

J. Cảm thức bị tước mất, bị bỏ rơi và cô độc giáng xuống đệ tử khi y nhận ra rằng sự kiểm soát của hình tướng và linh hồn cũng phải biến mất. Chính nơi đây có nỗi thống khổ của sự cô lập và cảm thức cô đơn áp đảo. (xem Điểm Đạo trong Nhân Loại, tr. 40-41)

Pure identification with divine purpose; this is made possible because the self-will of the personality and the enlightened will of the soul have both equally been relinquished. (cf. RI, p. 41)

Sự đồng hoá thuần khiết với Thiên Ý; điều này trở nên khả hữu vì ý chí riêng của phàm ngã và ý chí đã giác ngộ của linh hồn đều đã được từ bỏ như nhau. (xem Điểm Đạo trong Nhân Loại, tr. 41)

The omnipresence of divinity within all forms pours in upon the consciousness of the initiate, and the mystery of time, space and electricity stands revealed. The major effect of this revelation (prior to the third initiation) is to bring to the disciple a realisation of the “great heresy of separateness,” as it focusses in him, the separated fully conscious individual—aware of his past, conscious now of his ray and its conditioning power, focussed in his own aspiration, and yet part of the great whole of nature. From that moment onward he knows that divinity is all there is, and this he learns through the revelation of the inherent separativeness of the form life, through the processes of “the dark night of the soul” and its culminating lesson of the significance of isolation and the freeing process which brings about the merging into unity through the emission of the sound, the cry, the invocation, such as the cry of the Christ upon the Cross symbolised. His exact words have not been transmitted to us. They vary for each ray, but all bring about the recognition of divine merging, in which all separating veils are “rent from the top to the bottom” (as The New Testament expresses it).

Sự hiện diện khắp nơi của thiên tính trong mọi hình tướng tràn vào tâm thức của điểm đạo đồ, và bí nhiệm của thời gian, không gian và điện lực được mặc khải. Tác động chủ yếu của sự mặc khải này (trước lần điểm đạo thứ ba) là đem đến cho đệ tử sự nhận thức về “Đại Tà thuyết của sự chia rẽ”, khi nó tập trung nơi y, cá nhân tách biệt và hoàn toàn có ý thức—ý thức về quá khứ của mình, hiện biết rõ cung của mình và quyền năng tác động của nó, tập trung trong khát vọng riêng của mình, nhưng vẫn là một phần của đại toàn thể thiên nhiên. Từ khoảnh khắc ấy trở đi, y biết rằng thiên tính là tất cả những gì hiện hữu, và y học điều này qua sự mặc khải về tính chia rẽ cố hữu của sự sống hình tướng, qua các tiến trình của “đêm tối của linh hồn” và bài học tột đỉnh của nó về thâm nghĩa của sự cô lập và tiến trình giải thoát đem lại sự hòa nhập vào hợp nhất qua việc phát ra âm thanh, tiếng kêu, lời khẩn cầu, như tiếng kêu của Đức Christ trên Thập Giá đã biểu tượng. Những lời chính xác của Ngài đã không được truyền lại cho chúng ta. Chúng khác nhau đối với mỗi cung, nhưng tất cả đều đem lại sự nhận biết về sự hòa nhập thiêng liêng, trong đó mọi bức màn chia rẽ đều “bị xé từ trên xuống dưới” (như Tân Ước diễn tả).

1. These are tremendous revelations. Omnipresence is the first of the ‘omnis’ to dawn.

1. Đây là những mặc khải lớn lao. Sự hiện diện khắp nơi là điều đầu tiên trong các thuộc tính “toàn” ló rạng.

2. It is clear that at this revelation, the mysteries of the third aspect of divinity are revealed.

2. Rõ ràng rằng trong sự mặc khải này, các bí nhiệm của phương diện thứ ba của thiên tính được mặc khải.

3. The Third Ray Lord is called the “Divine Separator”. The negative reflection of this “Discriminating Essential Life” is to create separativeness within the worlds of form.

3. Đấng Chúa Tể Cung ba được gọi là “Đấng Phân Ly Thiêng Liêng”. Phản chiếu tiêu cực của “Sự Sống Bản Yếu Phân Biện” này là tạo ra tính chia rẽ trong các thế giới hình tướng.

4. Although a far fuller realization of Isolated Unity dawns at the fourth degree, the initiate (immediately before and after the third degree) is already exposed to its implications. The one great “sin”, the “Great Heresy of Separateness”, is revealed to the candidate for the third degree—separateness as it manifests in his own life.

4. Dù một sự nhận thức đầy đủ hơn rất nhiều về Hợp Nhất Cô Lập ló rạng ở cấp độ thứ tư, điểm đạo đồ (ngay trước và sau cấp độ thứ ba) đã bắt đầu tiếp xúc với những hàm ý của nó. “Tội lỗi” lớn duy nhất, “Đại Tà thuyết của Sự Chia Rẽ”, được mặc khải cho ứng viên của cấp độ thứ ba—sự chia rẽ khi nó biểu lộ trong đời sống riêng của y.

5. He is merging with the unity of life, and to do so, must see and remove the impediments of separativeness within his own nature.

5. Y đang hòa nhập với sự hợp nhất của sự sống, và để làm được như vậy, y phải thấy và loại bỏ các chướng ngại của sự chia rẽ trong bản chất riêng của mình.

6. It is revealed to the initiate that “divinity is all there is”. “The Macrocosmic Whole is all there is” (Rule V). “Let the group know there are no other selves” (Rule IX).

6. Điểm đạo đồ được mặc khải rằng “thiên tính là tất cả những gì hiện hữu”. “Toàn Thể Đại thiên địa là tất cả những gì hiện hữu” (Quy luật V). “Hãy để nhóm biết rằng không có những bản ngã nào khác” (Quy luật IX).

7. The initiate, however, learn this the “hard way”—through recognizing his own separativeness, the separativeness inherent in the life of the form, through the painful processes of the “dark night of the soul” and, eventually, through the moment of the most profound isolation experienced on the Cross.

7. Tuy nhiên, điểm đạo đồ học điều này theo “cách khó khăn”—qua việc nhận ra tính chia rẽ của chính mình, tính chia rẽ cố hữu trong sự sống của hình tướng, qua những tiến trình đau đớn của “đêm tối của linh hồn”, và cuối cùng, qua khoảnh khắc cô lập sâu xa nhất được trải nghiệm trên Thập Giá.

8. The Tibetan gives us a profound occult hint about the cry from the Cross. The cry is really a Word of Power, which liberates the apparently isolated and bereft initiate (hanging pendant between heaven and earth) into the greater unity.

8. Chân sư Tây Tạng trao cho chúng ta một gợi ý huyền bí sâu xa về tiếng kêu từ Thập Giá. Tiếng kêu ấy thực ra là một Quyền năng từ, giải thoát điểm đạo đồ tưởng chừng bị cô lập và bị tước mất (treo lơ lửng giữa trời và đất) vào sự hợp nhất lớn lao hơn.

9. In Rule XI the group is seeking to the Word which will “move the fire within the Jewel in the Lotus into the Triad”. This eleventh Rule is related to the fourth initiation. In that Rule the Tibetan tells us, again, that the word is more the effect of the united group life, than a specific word which is discovered and then “empowered”.

9. Trong Quy luật XI, nhóm đang tìm kiếm Linh từ sẽ “chuyển lửa trong Viên Ngọc nơi Hoa Sen vào Tam nguyên tinh thần”. Quy luật thứ mười một này liên hệ với lần điểm đạo thứ tư. Trong Quy luật ấy, Chân sư Tây Tạng lại cho chúng ta biết rằng linh từ là hiệu quả của sự sống nhóm hợp nhất hơn là một từ ngữ đặc thù được khám phá rồi “được tiếp quyền”.

10. Here, however, there is the hint that there exist ray formulas which liberate the initiate from appalling isolation into Isolated Unity. Certainly the words for such formulas would not be given in a text such as this. Like the formulas for magic, these words will probably have be inwardly ascertained.

10. Tuy nhiên, ở đây có gợi ý rằng tồn tại những công thức theo cung giải thoát điểm đạo đồ khỏi sự cô lập khủng khiếp để đi vào Hợp Nhất Cô Lập. Chắc chắn những lời của các công thức như vậy sẽ không được nêu ra trong một văn bản như thế này. Giống như các công thức huyền thuật, những lời này có lẽ phải được xác định từ bên trong.

11. These Words of Power promote not only identification with the larger life, but destruction of veils (which are “rent from the top to the bottom”). The veils are the very fabric of our life in the three lower worlds. Thus, it is clear to see why the formulas have to be withheld.

11. Những Quyền năng từ này không chỉ thúc đẩy sự đồng hoá với sự sống lớn hơn, mà còn phá hủy các bức màn (vốn “bị xé từ trên xuống dưới”). Các bức màn chính là kết cấu của đời sống chúng ta trong ba cõi thấp. Vì vậy, có thể thấy rõ vì sao các công thức ấy phải được giữ kín.

12. Presumably there are seven formulas, just as there are seven soul rays, seven soul ray methods for destroying the causal body (cf. Letters on Occult Meditation, beginning p. 15), and seven “Last Words” uttered from the Cross.

12. Có lẽ có bảy công thức, cũng như có bảy cung linh hồn, bảy phương pháp theo cung linh hồn để phá hủy thể nguyên nhân (xem Thư về Tham Thiền Huyền Bí, bắt đầu tr. 15), và bảy “Lời Cuối” được thốt ra từ Thập Giá.

13. This paragraph is tremendously rich and deserves prolonged pondering.

13. Đoạn này vô cùng phong phú và đáng được suy ngẫm lâu dài.

B. The omniscience of the divine Whole is also brought home to the initiate through the medium of the clear cold light, and the phases of “isolated experience,” as it is sometimes occultly called, is forever ended. I would have you realise what this can mean in so far as possible to your present consciousness. Up till the present, the initiate-disciple has been functioning as a duality and as a fusion of soul-energy and personality-force. Now these forms of life stand exposed to him for what they essentially are, and he knows that—as directing agencies and as transitory gods—they no longer have any hold over him. He is being gradually translated into another divine aspect, taking with him all that he has received during the ages of close relation and identification with the third aspect, form, and the second aspect, consciousness. A sense of being bereft, deserted and alone descends upon him as he realises that the control of form and soul must also disappear. Here lies the agony [Page 41] of isolation and the overpowering sense of loneliness. But the truths revealed by the clear cold light of the divine reason leave him no choice. He must relinquish all that holds him away from the Central Reality; he must gain life and “life more abundantly.” This constitutes the supreme test in the life cycle of the incarnating Monad; and “when the very heart of this experience enters into the heart of the initiate, then he moves outward through that heart into full life expression.” Such is the way that the Old Commentary expresses this. I know no other way in which to bring the idea before you. The experience undergone is not related to form, nor is it connected with consciousness or with even the higher psychic sensitivity. It consists of pure identification with divine purpose. This is made possible because the self-will of the personality and the enlightened will of the soul have both equally been relinquished.

B. Sự toàn tri của Toàn Thể thiêng liêng cũng được đem thấm sâu vào điểm đạo đồ nhờ trung gian của ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo, và các giai đoạn của “kinh nghiệm cô lập”, như đôi khi được gọi một cách huyền bí, chấm dứt vĩnh viễn. Tôi muốn các bạn nhận ra điều này có thể hàm ý gì, trong chừng mực có thể đối với tâm thức hiện tại của các bạn. Cho đến nay, điểm đạo đồ-đệ tử đã hoạt động như một nhị nguyên và như một sự dung hợp giữa năng lượng linh hồn và mãnh lực phàm ngã. Bây giờ các hình thức sự sống này phơi bày trước y đúng như bản chất cốt yếu của chúng, và y biết rằng—với tư cách là những tác nhân điều khiển và là những vị thần tạm thời—chúng không còn quyền chi phối y nữa. Y đang dần được chuyển dịch vào một phương diện thiêng liêng khác, mang theo tất cả những gì y đã tiếp nhận qua các thời đại có quan hệ mật thiết và đồng hoá với phương diện thứ ba, hình tướng, và phương diện thứ hai, tâm thức. Cảm thức bị tước mất, bị bỏ rơi và cô độc giáng xuống y khi y nhận ra rằng sự kiểm soát của hình tướng và linh hồn cũng phải biến mất. Chính nơi đây có nỗi thống khổ [Page 41] của sự cô lập và cảm thức cô đơn áp đảo. Nhưng những chân lý do ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo của lý trí thiêng liêng mặc khải không để y còn lựa chọn nào khác. Y phải từ bỏ tất cả những gì giữ y xa khỏi Thực Tại Trung Tâm; y phải đạt được sự sống và “sự sống dồi dào hơn”. Điều này cấu thành thử thách tối thượng trong chu kỳ sự sống của Chân thần đang nhập thể; và “khi chính trái tim của kinh nghiệm này đi vào trái tim của điểm đạo đồ, bấy giờ y tiến ra ngoài qua trái tim ấy để bước vào sự biểu lộ sự sống viên mãn”. Cổ Luận diễn tả điều này như vậy. Tôi không biết cách nào khác để trình bày ý tưởng này trước các bạn. Kinh nghiệm đã trải qua không liên hệ đến hình tướng, cũng không gắn với tâm thức hay ngay cả với sự nhạy cảm thông linh cao hơn. Nó bao gồm sự đồng hoá thuần khiết với Thiên Ý. Điều này trở nên khả hữu vì ý chí riêng của phàm ngã và ý chí đã giác ngộ của linh hồn đều đã được từ bỏ như nhau.

1. Another paragraph of extraordinary profundity—worthy of a book in itself.

1. Một đoạn khác có chiều sâu phi thường—tự nó xứng đáng là một cuốn sách.

2. First, omnipresence was revealed; now, omniscience.

2. Trước hết, sự hiện diện khắp nơi được mặc khải; bây giờ là sự toàn tri.

3. The phase of “isolated experience” is forever ended. When we are members of the animal kingdom, we do not experience isolation. There must be self-consciousness for isolation to be experienced. Entry into the fourth kingdom, the Human, at individualization, introduces us to millions of years of ‘isolation in consciousness’. Factually, isolation never exists at all as there is no factual separation.

3. Giai đoạn của “kinh nghiệm cô lập” chấm dứt vĩnh viễn. Khi chúng ta là thành viên của giới động vật, chúng ta không trải nghiệm sự cô lập. Phải có ngã thức thì sự cô lập mới có thể được trải nghiệm. Việc bước vào giới thứ tư, giới Nhân loại, ở cuộc biệt ngã hóa, đưa chúng ta vào hàng triệu năm “cô lập trong tâm thức”. Trên thực tế, sự cô lập không bao giờ tồn tại, vì không có sự chia rẽ thật sự nào cả.

4. The initiate is in the process of ending dualistic living. He has been both personality and soul, and the union of the two, but something new is emerging within him.

4. Điểm đạo đồ đang trong tiến trình chấm dứt lối sống nhị nguyên. Y đã là cả phàm ngã lẫn linh hồn, và là sự hợp nhất của cả hai, nhưng một điều mới đang xuất hiện trong y.

5. The Tibetan calls soul and personality “transitory gods”—an interesting term. A “god” is a great source of power and, like a king or queen, has control over its subjects. In the Secret Doctrine all gods are transitory—even Brahma, Vishnu and Shiva. Only the One Absolute Deity is permanent and eternal throughout duration.

5. Chân sư Tây Tạng gọi linh hồn và phàm ngã là “những vị thần tạm thời”—một thuật ngữ thú vị. Một “vị thần” là nguồn quyền năng lớn lao và, giống như một vị vua hay nữ hoàng, kiểm soát các thần dân của mình. Trong Giáo Lý Bí Nhiệm, tất cả các vị thần đều tạm thời—ngay cả Brahma, Vishnu và Shiva. Chỉ Thượng đế Tuyệt Đối Duy Nhất là thường tồn và vĩnh cửu suốt mọi thời kỳ.

6. For the initiate at this stage of development, a new energy center is poised to become the next “god”—that “god” will be the Monad.

6. Đối với điểm đạo đồ ở giai đoạn phát triển này, một trung tâm năng lượng mới đang sẵn sàng trở thành “vị thần” kế tiếp—“vị thần” ấy sẽ là Chân thần.

7. The time for “graduation” has come. Form and consciousness are to be left behind—but, of course, they are universal factors in cosmos and can never, really, be left behind. It is simply that form and consciousness are to be his subjects rather than he, theirs. There comes a time in the life of the advancing initiate when time and space become his “divine playthings” (R&I, 107). He is reaching that point.

7. Thời điểm “tốt nghiệp” đã đến. Hình tướng và tâm thức sẽ được bỏ lại phía sau—nhưng dĩ nhiên, chúng là những yếu tố phổ quát trong vũ trụ và thật ra không bao giờ có thể bị bỏ lại. Chỉ đơn giản là hình tướng và tâm thức sẽ trở thành đối tượng thuộc quyền của y, thay vì y thuộc quyền chúng. Trong đời sống của điểm đạo đồ đang tiến lên, sẽ đến lúc thời gian và không gian trở thành “những món đồ chơi thiêng liêng” của y (Điểm Đạo trong Nhân Loại, 107). Y đang đạt đến điểm ấy.

8. Note the word “translated”. The first initiation is concerned with transmutation; the second with transformation; the third with transfiguration; and the fourth with translation. His language is changing; all that has been accumulated in the worlds of form and soul is being converted/translated into what might be called ‘Triadal terms’. And, unlike the experience of so many who would render the Alice Bailey Books from English into their own language, “nothing is lost in translation”!

8. Hãy lưu ý từ “được chuyển dịch”. Lần điểm đạo thứ nhất liên quan đến sự chuyển hoá; lần thứ hai liên quan đến sự chuyển đổi; lần thứ ba liên quan đến Biến hình; và lần thứ tư liên quan đến sự chuyển dịch. Ngôn ngữ của y đang thay đổi; tất cả những gì đã được tích lũy trong các thế giới của hình tướng và linh hồn đang được chuyển đổi/chuyển dịch sang điều có thể gọi là “thuật ngữ của Tam nguyên tinh thần”. Và khác với kinh nghiệm của rất nhiều người muốn chuyển các sách của Alice Bailey từ tiếng Anh sang ngôn ngữ của mình, “không có gì mất đi trong sự chuyển dịch”!

9. It is always agonizing when we have to leave behind that which is familiar, that which has worked for us, and which we trust. At this point the familiar patterns of millions of years of evolution are about to be left behind. Whether one individualized some eighteen million years ago, or more recently returned to the physical plane (already individualized), in Atlantis some, perhaps, ten million years ago, many many years are involved.

9. Luôn luôn đau đớn khi chúng ta phải bỏ lại phía sau điều quen thuộc, điều đã từng hữu dụng cho chúng ta và được chúng ta tin cậy. Ở điểm này, những mô hình quen thuộc của hàng triệu năm tiến hoá sắp bị bỏ lại phía sau. Dù một người đã biệt ngã hóa khoảng mười tám triệu năm trước, hay gần đây hơn đã trở lại cõi hồng trần (vốn đã biệt ngã hóa), trong Atlantis có lẽ khoảng mười triệu năm trước, thì cũng liên quan đến rất rất nhiều năm.

10. For the average person, death means leaving behind everything known and loved. This spiritually expansive experience is certainly a second death.

10. Đối với người trung bình, cái chết có nghĩa là bỏ lại phía sau mọi điều đã biết và đã yêu thương. Kinh nghiệm mở rộng tinh thần này chắc chắn là một cái chết thứ hai.

11. Why then, does he go ahead? The Tibetan tells us, that though bereft and feeling isolated, he has “no choice”.

11. Vậy tại sao y vẫn tiến tới? Chân sư Tây Tạng cho chúng ta biết rằng, dù bị tước mất và cảm thấy cô lập, y “không còn lựa chọn nào khác”.

the truths revealed by the clear cold light of the divine reason leave him no choice. He must relinquish all that holds him away from the Central Reality; he must gain life and ‘life more abundantly’.”

“những chân lý do ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo của lý trí thiêng liêng mặc khải không để y còn lựa chọn nào khác. Y phải từ bỏ tất cả những gì giữ y xa khỏi Thực Tại Trung Tâm; y phải đạt được sự sống và ‘sự sống dồi dào hơn’.”

Such is the compelling, irresistible magnetic power of truth revealed. Really, it is the Spirit within the initiate which forces him to go on. In the realm of Spirit, “like attracts like” and Spirit demand a merging with the greater demonstrations of Spirit which loom ahead. Spirit is relentless in its pursuit of Itself!

Đó là quyền năng từ tính thúc bách, không thể cưỡng lại của chân lý được mặc khải. Thực ra, chính Tinh thần bên trong điểm đạo đồ buộc y phải tiếp tục. Trong cõi của Tinh thần, “đồng thanh tương ứng”, và Tinh thần đòi hỏi sự hòa nhập với những biểu hiện lớn lao hơn của Tinh thần đang hiện ra phía trước. Tinh thần không khoan nhượng trong cuộc truy tìm chính Nó!

12. The Tibetan tells us,

12. Chân sư Tây Tạng cho chúng ta biết,

“This constitutes the supreme test in the life cycle of the incarnating Monad; and ‘when the very heart of this experience enters into the heart of the initiate, then he moves outward through that heart into full life expression’.”

“Điều này cấu thành thử thách tối thượng trong chu kỳ sự sống của Chân thần đang nhập thể; và ‘khi chính trái tim của kinh nghiệm này đi vào trái tim của điểm đạo đồ, bấy giờ y tiến ra ngoài qua trái tim ấy để bước vào sự biểu lộ sự sống viên mãn’.”

Although this Rule is focussed upon the third initiation, this particular discussion is about the fourth. At the fourth initiation, the center stimulated is the heart center. As well, the life principle is anchored in the heart. Knowing these two facts, we are in a position better to interpret the words of the Old Commentary. The only way into the fulness of “Life” expression is through the heart.

Dù Quy luật này tập trung vào lần điểm đạo thứ ba, phần bàn luận đặc biệt này lại nói về lần thứ tư. Ở lần điểm đạo thứ tư, trung tâm được kích thích là trung tâm tim. Đồng thời, nguyên khí sự sống được neo giữ trong tim. Biết hai sự kiện này, chúng ta ở vị thế tốt hơn để diễn giải lời của Cổ Luận. Con đường duy nhất đi vào sự viên mãn của biểu lộ “Sự Sống” là qua trái tim.

13. The Tibetan tries to explain this experience through what it is not, ending in the statement that “it consists of pure identification with divine purpose”. The great experiences upon the Path of Return come through renunciation and relinquishment. Sacrifice bestows all. These facts are so contrary to conventional wisdom within the worlds of form that considerable training is required to make us “fools for God”.

13. Chân sư Tây Tạng cố gắng giải thích kinh nghiệm này bằng cách nêu ra điều nó không phải là, và kết thúc bằng tuyên bố rằng “nó bao gồm sự đồng hoá thuần khiết với Thiên Ý”. Những kinh nghiệm lớn lao trên Con Đường Trở Về đến qua sự từ bỏ và buông bỏ. Hi sinh ban tặng tất cả. Những sự kiện này trái ngược với minh triết thông thường trong các thế giới hình tướng đến mức cần có sự huấn luyện đáng kể để khiến chúng ta trở thành “những kẻ ngốc vì Thượng đế”.

14. “Self-will”, “enlightened will”, “divine will”—this is the developmental sequence. These are mere words. What will it take for us to experience something of the reality of divine will?

14. “Ý chí riêng”, “ý chí đã giác ngộ”, “Ý Chí thiêng liêng”—đây là trình tự phát triển. Đó chỉ là những lời nói. Điều gì sẽ cần xảy ra để chúng ta trải nghiệm được phần nào thực tại của Ý Chí thiêng liêng?

Rule I: Fourth SentenceQuy Luật I: Câu thứ tư

Quy Luật I: Câu thứ tư—Quy Luật I: Câu thứ tư

A. Behind the group there stands the Door. Before them opens out the Way.

A. Phía sau nhóm là Cánh Cửa. Trước mặt họ, Con Đường mở ra.

1. In our self-conscious progress as human beings, many “doors” stand ‘behind’ us.

1. Trong tiến trình có ngã thức của chúng ta với tư cách con người, nhiều “cánh cửa” đã ở ‘phía sau’ chúng ta.

2. Even in our progress (as monads) through the mineral, vegetable and animal kingdoms, every graduated ‘step’ is to be considered a “door”—entered, in these cases, unconsciously (at least from the perspective of that sentient, ‘downwardly’ projected ‘ray’ (or emanation) of the monad which is “in-mineralized” in the mineral kingdom, “in-vegetalized” in the vegetable kingdom or “in-zoonated” in the animal kingdom. (Our identity in the lower worlds is the an emanation or ‘raying forth’ of the monad, while the monadic ray, per se, is different and is the coloring of the emanation

2. Ngay cả trong tiến trình của chúng ta (như các chân thần) qua giới kim thạch, giới thực vật và giới động vật, mỗi ‘bước’ đã hoàn tất đều phải được xem như một “cánh cửa”—trong những trường hợp này, được bước vào một cách vô thức (ít nhất từ viễn cảnh của ‘cung’ hữu cảm được phóng chiếu ‘xuống dưới’ (hay xuất lộ) của chân thần, vốn được “khoáng-vật-hóa” trong giới kim thạch, “thực-vật-hóa” trong giới thực vật, hay “động-vật-hóa” trong giới động vật. (Bản sắc của chúng ta trong các cõi thấp là một xuất lộ hay sự ‘phóng chiếu như tia’ của chân thần, trong khi cung chân thần, chính nó, thì khác và là sắc thái của xuất lộ

3. Even in the process of human evolution which succeeds upon experience in the lower three kingdoms, the passage through many preliminary “doors” is also largely unconscious.

3. Ngay cả trong tiến trình tiến hoá của con người, tiếp nối sau kinh nghiệm trong ba giới thấp, việc đi qua nhiều “cánh cửa” sơ khởi cũng phần lớn là vô thức.

4. During the later phases, when the human being becomes more intelligent, there is a more focussed understanding of the moments of progress and passage.

4. Trong các giai đoạn về sau, khi con người trở nên thông minh hơn, có một sự thấu hiểu tập trung hơn về những khoảnh khắc tiến bộ và vượt qua.

5. A “door or initiation” acts as an inhibition to passage from one area of divine expression to another.

5. Một “cánh cửa hay cuộc điểm đạo” đóng vai trò như một sự ngăn chặn việc chuyển từ một lĩnh vực biểu lộ thiêng liêng này sang lĩnh vực khác.

6. A door may be closed, ajar, or open. The closed door prevents passage; the door ajar (partly opened) invites passage or promises full passage at a later time, and the open door allows passage.

6. Một cánh cửa có thể đóng kín, hé mở, hoặc mở rộng. Cánh cửa đóng kín ngăn cản việc đi qua; cánh cửa hé mở (mở một phần) mời gọi sự đi qua hoặc hứa hẹn sự đi qua trọn vẹn vào một thời điểm sau, còn cánh cửa mở rộng cho phép đi qua.

7. Some doors may be smashed through, but never the doors of initiation. No force is strong enough to do that, even though the “Kingdom of Heaven suffereth violence and the violent take it by force”. What this means is that one may, as it were, force open the door of initiation through rapid and wilful fulfilment of the initiatory requirements. However apparently ahead of schedule may be the opening of the door, the requirements must have been fulfilled. Divine Law will not allow the opening unless the spiritual work which must take place before the door has been completed. Those who “storm the gates of heaven” (often first ray souls or monads), through dint of will, often fulfil this work more rapidly than others.

7. Một số cánh cửa có thể bị phá tung, nhưng không bao giờ là các cánh cửa điểm đạo. Không mãnh lực nào đủ mạnh để làm điều đó, dù “Thiên Quốc chịu sự công kích và những kẻ mạnh bạo chiếm lấy bằng sức mạnh”. Điều này có nghĩa là, nói như vậy, người ta có thể cưỡng mở cánh cửa điểm đạo bằng cách nhanh chóng và cương quyết hoàn thành các yêu cầu điểm đạo. Dù việc mở cửa có vẻ đi trước thời hạn đến đâu, các yêu cầu phải đã được hoàn thành. Định luật thiêng liêng sẽ không cho phép mở cửa trừ khi công việc tinh thần cần diễn ra trước cánh cửa đã được hoàn tất. Những người “xông vào cổng trời” (thường là các linh hồn hoặc chân thần cung một), nhờ sức mạnh của ý chí, thường hoàn thành công việc này nhanh hơn người khác.

8. Not only will a door of initiation inhibit passage, but in most cases, a door inhibits sight. That which transpires beyond the door is sealed from the eyes of the one who stands before the door— “hermetically sealed”. Hermes was the guardian of the Mysteries, and, as the esoteric ruler of Aries, “leads into the mysteries” (EA 549) “Mercury heals the blind and restores sight, mental and physical.” (SD II. 571.) In the initiation process there is strict control over what is seen and what is not.

8. Một cánh cửa điểm đạo không chỉ ngăn cản việc đi qua; trong đa số trường hợp, một cánh cửa còn ngăn cản tầm nhìn. Điều diễn ra bên kia cánh cửa bị niêm kín khỏi mắt của người đứng trước cánh cửa—“niêm kín theo lối Hermes”. Hermes là vị hộ trì các Bí nhiệm, và với tư cách là chủ tinh nội môn của Bạch Dương, “dẫn vào các bí nhiệm” (Chiêm Tinh Học Nội Môn 549) “Sao Thủy chữa lành người mù và phục hồi thị giác, trí tuệ và hồng trần.” (Giáo Lý Bí Nhiệm II. 571.) Trong tiến trình điểm đạo, có sự kiểm soát nghiêm ngặt đối với điều được thấy và điều không được thấy.

9. In our cosmos, the higher dimensions of activity and consciousness are sealed to the lower dimensions (unless the necessary requirements allowing access to the higher dimensions have been fulfilled upon and within the lower dimensions). In most cases, however, the lower dimensions are not sealed to the higher, for the greater ever includes the lesser. It is true, however, that some beings of the higher dimensions can descend only so low (thus is the exalted vibratory condition of their vehicles), yet should they will to know, they may register all that transpires upon those lower planes upon which they may not permanently ‘locate’ themselves. In most cases they do not so will, thus observing the cosmic Law of Economy, which inhibits an unwarranted expenditure of force.

9. Trong vũ trụ của chúng ta, các chiều kích hoạt động và tâm thức cao hơn bị niêm kín đối với các chiều kích thấp hơn (trừ khi các yêu cầu cần thiết cho phép tiếp cận các chiều kích cao hơn đã được hoàn thành trên và trong các chiều kích thấp hơn). Tuy nhiên, trong đa số trường hợp, các chiều kích thấp hơn không bị niêm kín đối với các chiều kích cao hơn, vì cái lớn hơn luôn bao gồm cái nhỏ hơn. Tuy nhiên, đúng là một số hữu thể thuộc các chiều kích cao hơn chỉ có thể giáng xuống đến một mức nhất định (do tình trạng rung động cao cả của các hiện thể của họ), nhưng nếu họ muốn biết, họ có thể ghi nhận tất cả những gì diễn ra trên các cõi thấp ấy, nơi họ không thể ‘định vị’ mình một cách thường xuyên. Trong đa số trường hợp, họ không muốn như vậy, qua đó tuân giữ Định luật Tiết Kiệm vũ trụ, vốn ngăn cản sự tiêu hao mãnh lực không chính đáng.

10. Thus, in cosmos there are many ‘doors’ (‘points of dimensional transition’) and the process whereby access from one dimension to another is prevented might be called ‘dimensional sealing’.

10. Vì vậy, trong vũ trụ có nhiều ‘cánh cửa’ (‘các điểm chuyển tiếp chiều kích’), và tiến trình nhờ đó việc tiếp cận từ một chiều kích sang chiều kích khác bị ngăn lại có thể được gọi là ‘sự niêm kín chiều kích’.

11. All of evolution can be seen as a series of successive passages through doors or portals, each admitting to a dimension of greater intensity (and hence, of more rapid vibratory frequency) than the one preceding.

11. Toàn bộ tiến hoá có thể được nhìn như một chuỗi những lần đi qua liên tiếp các cánh cửa hay cổng, mỗi cánh cửa cho phép bước vào một chiều kích có cường độ lớn hơn (và do đó có tần số rung động nhanh hơn) so với chiều kích trước đó.

12. All of us have just passed through, are on our way to, or are standing before one “door” or another. It is our responsibility to determine our place in this threefold sequence. Initiation is to be taken seriously—not so seriously that one, egoistically, has one’s individual progress always in mind, but seriously enough to realize that through initiation our power to serve is greatly enhanced, so we had better get on with the task.

12. Tất cả chúng ta vừa mới đi qua, đang trên đường đến, hoặc đang đứng trước một “cánh cửa” nào đó. Trách nhiệm của chúng ta là xác định vị trí của mình trong trình tự tam phân này. Điểm đạo cần được xem xét nghiêm túc—không nghiêm túc đến mức người ta, một cách vị kỷ, luôn nghĩ đến tiến bộ cá nhân của mình, nhưng đủ nghiêm túc để nhận ra rằng qua điểm đạo, quyền năng phụng sự của chúng ta được tăng cường rất nhiều; vì vậy tốt hơn là chúng ta hãy bắt tay vào nhiệm vụ.

13. To understand the nature of the doors through which we have passed, one needs to assess the virtuous qualities which are firmly established within our nature, and, hence, built into our causal body. Not all doors are doors of the major initiations. There are numerous doors along the way, in relation to which the sequence, “Crisis, Tension, Emergence” is applicable. Before every door there occurs a crisis, as one divests himself or herself of those vibratory tendencies which are not harmonious with conditions on the further side of the door. Then, a point of tension is realized and sustained. To sustain the requisite point of tension is to prove oneself initiate before one is, technically speaking, initiated. Initiation, itself, is the passage through the door, and signifies emergence. Initiation is always a beginning and an end.

13. Để thấu hiểu bản chất của những cánh cửa mà chúng ta đã đi qua, người ta cần đánh giá các phẩm tính đức hạnh đã được thiết lập vững chắc trong bản chất chúng ta, và do đó, được xây dựng vào thể nguyên nhân của chúng ta. Không phải mọi cánh cửa đều là cánh cửa của các cuộc điểm đạo chính yếu. Có nhiều cánh cửa dọc theo con đường, liên quan đến chúng, trình tự “Khủng hoảng, Căng thẳng, Hiển lộ” có thể áp dụng. Trước mỗi cánh cửa đều xảy ra một khủng hoảng, khi người ta trút bỏ những khuynh hướng rung động không hài hòa với các điều kiện ở phía bên kia cánh cửa. Rồi một điểm tập trung nhất tâm được nhận ra và duy trì. Duy trì điểm tập trung nhất tâm cần thiết là chứng tỏ mình là điểm đạo đồ trước khi, nói theo nghĩa chuyên môn, người ta được điểm đạo. Chính cuộc điểm đạo là sự đi qua cánh cửa, và biểu thị sự hiển lộ. Điểm đạo luôn luôn là một khởi đầu và một kết thúc.

14. All of the higher qualities are “hard won”. Although we have long forgotten the battles which led to their establishment, the presence of virtues signifies triumphs in former battles. The lunar nature resists the building in of virtue, and it is only through “battle” with this lunar nature (whether bloody or subtle and sophisticated) that virtue can take the place of lower tendency. The struggles of St. Paul were just such battles. “Oh wretched man that I am, who will save me from the body of this death?”

14. Tất cả các phẩm tính cao siêu đều “giành được bằng gian khó”. Dù chúng ta từ lâu đã quên những trận chiến dẫn đến việc thiết lập chúng, sự hiện diện của các đức hạnh biểu thị những chiến thắng trong các trận chiến trước kia. Bản chất thái âm chống lại việc xây dựng đức hạnh, và chỉ qua “trận chiến” với bản chất thái âm này, dù đẫm máu hay tinh vi và vi tế, đức hạnh mới có thể thay thế khuynh hướng thấp kém. Những cuộc đấu tranh của Thánh Phaolô chính là những trận chiến như thế. “Ôi, tôi là con người khốn khổ, ai sẽ cứu tôi khỏi thân thể của sự chết này?”

15. We are told that “Behind the group there stands the door”. Three major doors to be considered are 1) the Door to Individualization; 2) the Door of the First Initiation; and 3) the Door to the Third Initiation.

15. Chúng ta được cho biết rằng “Phía sau nhóm có cánh cửa đứng đó”. Ba cánh cửa chính yếu cần được xem xét là 1) Cánh cửa dẫn vào sự biệt ngã hóa; 2) Cánh cửa của lần điểm đạo thứ nhất; và 3) Cánh cửa dẫn vào lần điểm đạo thứ ba.

16. The Door to Individualization admits “animal man” (a representative of the third kingdom) into the human or fourth kingdom of nature. This passage is a great initiation for the monadic units included in what we now call the “Fourth Creative Hierarchy” (for a diagram of the relationship of this Hierarchy to eleven others, cf. Esoteric Astrology 34-35)

16. Cánh cửa dẫn vào sự biệt ngã hóa tiếp nhận “người thú”, một đại diện của giới thứ ba, vào giới nhân loại hay giới thứ tư của thiên nhiên. Sự đi qua này là một cuộc điểm đạo lớn đối với các đơn vị chân thần nằm trong cái mà hiện nay chúng ta gọi là “Huyền Giai Sáng Tạo Thứ Tư”, về sơ đồ liên hệ của Huyền Giai này với mười một Huyền Giai khác, xem Chiêm Tinh Học Nội Môn, trang 34-35.

17. The Door of the First Initiation is passed a number of millions of years later (depending upon the occult ‘speed’ of the developing human unit), and admits into what is called the fifth kingdom of nature or the “Kingdom of Souls”. The majority on our planet passed through the Door to Individualization some twenty-one million years ago and have not yet passed through the Door of the First Initiation. Full membership in this fifth kingdom is not achieved until a man becomes a Master of the Wisdom at the fifth initiation. Note that the initiatory degree of the Master carries the same number as the Kingdom of Souls—the number five, a luminous Sirian and Venusian number..

17. Cánh cửa của lần điểm đạo thứ nhất được vượt qua nhiều triệu năm sau đó, tùy thuộc vào ‘tốc độ’ huyền bí của đơn vị nhân loại đang phát triển, và tiếp nhận vào cái được gọi là giới thứ năm của thiên nhiên hay “Giới Linh Hồn”. Đa số trên hành tinh chúng ta đã đi qua Cánh cửa dẫn vào sự biệt ngã hóa khoảng hai mươi mốt triệu năm trước và vẫn chưa đi qua Cánh cửa của lần điểm đạo thứ nhất. Tư cách thành viên trọn vẹn trong giới thứ năm này chưa đạt được cho đến khi con người trở thành một Chân sư Minh triết ở lần điểm đạo thứ năm. Hãy lưu ý rằng cấp bậc điểm đạo của Chân sư mang cùng con số với Giới Linh Hồn—con số năm, một con số rực sáng của Sirius và Sao Kim..

18. The Door of the Third Initiation, signifies that one is emerging out of ‘childhood’ in the fifth kingdom of nature and is becoming an adult—though not yet full-grown. This emergence is like reaching the age of twenty-one, also called one’s “majority”—three of five. The third initiation is the first solar initiation, and signifies that one may now be an active and conscious worker within a particular ashram.

18. Cánh cửa của lần điểm đạo thứ ba biểu thị rằng người ta đang ra khỏi ‘thời thơ ấu’ trong giới thứ năm của thiên nhiên và đang trở thành người trưởng thành—dù chưa hoàn toàn trưởng thành. Sự hiển lộ này giống như đạt đến tuổi hai mươi mốt, cũng được gọi là “tuổi thành niên”—ba trong năm. Lần điểm đạo thứ ba là lần điểm đạo thái dương đầu tiên, và biểu thị rằng giờ đây người ta có thể là một người hoạt động tích cựccó ý thức trong một ashram đặc thù.

19. It is reasonable to conclude that the “door” referred to in this fourth sentence of Rule I for Disciples and Initiates, is the door of the third initiation. The Rule itself can be reasonably interpreted as referring to the third initiation.

19. Có lý khi kết luận rằng “cánh cửa” được nói đến trong câu thứ tư này của Quy luật I dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ là cánh cửa của lần điểm đạo thứ ba. Bản thân Quy luật này có thể được giải thích một cách hợp lý là quy chiếu đến lần điểm đạo thứ ba.

20. As elsewhere stated, these advanced Rules for Disciples and Initiates focus primarily upon the third initiation and beyond, but have application on a lower turn of the spiral to initiates of the first two degrees. If one has not taken the first initiation, the “Birth of the Christ in the Heart”, the more advanced Rules will be, for the most part, beyond comprehension and application.

20. Như đã nêu ở nơi khác, các Quy luật cao cấp này dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ chủ yếu tập trung vào lần điểm đạo thứ ba và xa hơn nữa, nhưng có thể áp dụng trên vòng xoắn thấp hơn cho các điểm đạo đồ thuộc hai cấp đầu. Nếu người ta chưa trải qua lần điểm đạo thứ nhất, “Sự Giáng Sinh của Đức Christ trong Tâm”, thì phần lớn các Quy luật cao cấp hơn sẽ vượt ngoài khả năng thấu hiểu và áp dụng.

21. The “door” is referred to in a number of the fourteen advanced Rules. Is it always the same “door”? For instance, is the door in Rule I, Rule III and Rule IX the same door? For the most part, I would say, “Yes”, the door to the third initiation.

21. “Cánh cửa” được nhắc đến trong một số trong mười bốn Quy luật cao cấp. Nó có luôn là cùng một “cánh cửa” không? Chẳng hạn, cánh cửa trong Quy luật I, Quy luật III và Quy luật IX có phải là cùng một cánh cửa không? Phần lớn, tôi sẽ nói: “Có”, đó là cánh cửa dẫn vào lần điểm đạo thứ ba.

22. Confirmation of this thought comes because the sentence immediately following is, “Before them opens out the Way”. It is only after the third initiation is passed that any glimpse of the Way of Higher Evolution is sensed. Before that, it is simply theory accompanied, at best, by enlightened inference and vague anticipation.

22. Sự xác nhận cho tư tưởng này đến từ câu ngay sau đó: “Trước họ, Con Đường mở ra”. Chỉ sau khi lần điểm đạo thứ ba được vượt qua thì mới cảm nhận được bất kỳ thoáng nhìn nào về Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. Trước đó, nó chỉ là lý thuyết, tốt nhất là đi kèm với suy luận đã được soi sáng và sự mong chờ mơ hồ.

23. But the third initiation is an initiation in which sight is emphasized (thought, to a degree, enhanced sight accompanies every initiation). At the third degree the ajna center receives stimulation from the Rod of Power, and this center, as we well remember, is associated particularly with vision.

23. Nhưng lần điểm đạo thứ ba là một cuộc điểm đạo trong đó thị giác được nhấn mạnh, dù ở một mức độ nào đó, thị giác được tăng cường đi kèm với mọi cuộc điểm đạo. Ở cấp thứ ba, trung tâm ajna nhận sự kích thích từ Thần Trượng Quyền năng, và trung tâm này, như chúng ta nhớ rõ, đặc biệt liên hệ với tầm nhìn.

24. So the two thoughts in sentence four—concerning the door left behind and the process which unfolds once that door is left behind—are sequential. Once the candidate passes through the door of the third degree, the monad is beginning more actively to influence his energy system. The Way of Higher Evolution which then begins to ‘appear’ (and for the treading of which a long and necessary preparation can then be commenced) concerns “monadic destiny”—the return of the spirit to its source.

24. Vì vậy, hai tư tưởng trong câu thứ tư—liên quan đến cánh cửa đã bỏ lại phía sau và tiến trình khai mở một khi cánh cửa ấy đã được bỏ lại—có tính tuần tự. Một khi ứng viên đi qua cánh cửa của cấp thứ ba, chân thần bắt đầu ảnh hưởng tích cực hơn đến hệ thống năng lượng của y. Con đường Tiến Hóa Cao Siêu khi ấy bắt đầu ‘hiện ra’, và việc bước đi trên đó, sau một sự chuẩn bị lâu dài và cần thiết, khi ấy có thể khởi sự; con đường này liên quan đến “định mệnh chân thần”—sự trở về của tinh thần với nguồn cội của nó.

25. What will be the condition of the group if “behind the group there stands the Door”? On the lower turn of the spiral, if the door were that of the first degree, then all (or most) group members would be qualified by the following characteristics.

25. Tình trạng của nhóm sẽ ra sao nếu “phía sau nhóm có Cánh cửa đứng đó”? Trên vòng xoắn thấp hơn, nếu cánh cửa là cánh cửa của cấp thứ nhất, thì tất cả, hoặc phần lớn, các thành viên nhóm sẽ có đủ tư cách theo các đặc điểm sau đây.

“Members of the New Group of World Servers should watch with care for all those who show signs of having passed through the ‘birth’ experience and should help them toward a greater maturity. They should assume that all those who truly love their fellowmen, who are interested in the esoteric teaching, and who seek to discipline themselves in order to attain greater beauty of life, are initiate and have undergone the first initiation. When they discover those who are seeking mental polarisation and who evidence a desire and aspiration to think and to know, coupled with the distinguishing marks of those who have taken the first initiation, they can, in all probability, safely assume that such people have taken the second initiation or are on the verge of so doing. Their duty will then be clear. It is by this close observation on the part of the world servers that the ranks of the New Group are filled. Today, the opportunity and the stimulation are so great that all servers must keep alert, developing in themselves the ability to register the quality for which search must be made, and giving the help and guidance which will weld into one cooperative band those disciples and initiates who should prepare the way for the Christ”. (R&I 667)

“Các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian nên cẩn thận quan sát tất cả những ai cho thấy dấu hiệu đã trải qua kinh nghiệm ‘sinh ra’, và nên giúp họ tiến đến sự trưởng thành lớn hơn. Họ nên giả định rằng tất cả những ai thật sự yêu thương đồng loại, quan tâm đến giáo huấn huyền bí, và tìm cách tự rèn luyện để đạt đến vẻ đẹp lớn hơn của đời sống, đều là điểm đạo đồ và đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất. Khi họ phát hiện những người đang tìm kiếm sự phân cực trí tuệ và biểu lộ lòng mong muốn cùng khát vọng suy nghĩ và hiểu biết, kết hợp với những dấu hiệu phân biệt của những người đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất, thì rất có thể họ có thể an toàn giả định rằng những người ấy đã trải qua lần điểm đạo thứ hai hoặc đang ở ngưỡng làm như vậy. Khi đó, bổn phận của họ sẽ rõ ràng. Chính nhờ sự quan sát sát sao này của những Người Phụng Sự Thế Gian mà hàng ngũ của Đoàn Người Mới được bổ sung. Ngày nay, cơ hội và sự kích thích lớn đến mức mọi người phụng sự phải luôn tỉnh thức, phát triển nơi chính mình khả năng ghi nhận phẩm tính cần được tìm kiếm, và trao sự trợ giúp cùng hướng dẫn để hàn gắn thành một đoàn thể hợp tác duy nhất những đệ tử và điểm đạo đồ phải chuẩn bị con đường cho Đức Christ”. (Các Cung và Điểm Đạo 667)

Were the door the door of the second degree, the distinguishing characteristics of the group personnel are also listed immediately above. Just because some or even many within a group have achieved the first or second degree does not necessarily mean that the group as a whole is a first or second degree group.

Nếu cánh cửa là cánh cửa của cấp thứ hai, các đặc điểm phân biệt của nhân sự nhóm cũng đã được liệt kê ngay bên trên. Chỉ vì một vài người, hoặc thậm chí nhiều người trong một nhóm, đã đạt cấp thứ nhất hay thứ hai, điều đó không nhất thiết có nghĩa là toàn thể nhóm là một nhóm cấp thứ nhất hay cấp thứ hai.

26. The development of a first or second degree group would indicate another and further step.

26. Sự phát triển của một nhóm cấp thứ nhất hay cấp thứ hai sẽ chỉ ra một bước khác và xa hơn.

27. Individual achievement is one thing, group achievement another, though of course related to the achievements of the personnel contained within the group.

27. Thành tựu cá nhân là một chuyện, thành tựu nhóm là chuyện khác, dù dĩ nhiên có liên hệ với các thành tựu của những nhân sự nằm trong nhóm.

28. It is possible to have a number of initiates of various degrees within a group, and yet the group many, in itself, stand at a relatively low level, not yet having achieved the integration of the group personality and infusion by the group soul. Group dynamics parallel those of the progressing individual.

28. Có thể có một số điểm đạo đồ thuộc nhiều cấp khác nhau trong một nhóm, nhưng chính nhóm ấy, tự thân, có thể vẫn đứng ở một cấp độ tương đối thấp, chưa đạt được sự tích hợp của phàm ngã nhóm và sự thấm nhuần bởi linh hồn nhóm. Động lực học của nhóm song hành với động lực học của cá nhân đang tiến bộ.

29. Since the more advanced Rules pertain to the group it may be assumed that the accomplishments here discussed are group accomplishments, and so indicate a quite advanced point of progress. To find even first degree groups is relatively rare, and second degree groups are rarer still. Again, I am not speaking of the accomplishments of individual members within such a group, but of the group as a whole.

29. Vì các Quy luật cao cấp hơn liên quan đến nhóm, có thể giả định rằng các thành tựu đang được bàn đến ở đây là các thành tựu nhóm, và do đó chỉ ra một điểm tiến bộ khá cao. Ngay cả việc tìm thấy các nhóm cấp thứ nhất cũng tương đối hiếm, và các nhóm cấp thứ hai còn hiếm hơn nữa. Một lần nữa, tôi không nói về các thành tựu của những thành viên cá nhân trong một nhóm như vậy, mà nói về toàn thể nhóm.

30. If the group referred to in sentence four has, as a group, passed the third degree, one can see how advanced this Rule really is and that its major period of usefulness lies ahead.

30. Nếu nhóm được nói đến trong câu thứ tư, với tư cách một nhóm, đã vượt qua cấp thứ ba, người ta có thể thấy Quy luật này thật sự cao cấp đến mức nào và thời kỳ hữu dụng chính yếu của nó còn nằm ở phía trước.

31. For a group to fulfil the requirements of this Rules does not necessary mean that all members of the group will have passed the third degree, though if the group is to have a third degree impact upon the world, the majority will have done so. Some may be closer to the second degree, but the overall ‘tone’ and ‘note’ and world-impact of the group will be that of the third degree.

31. Đối với một nhóm, việc đáp ứng các đòi hỏi của Quy luật này không nhất thiết có nghĩa là tất cả các thành viên của nhóm đều đã vượt qua cấp thứ ba, dù nếu nhóm muốn có một tác động cấp thứ ba lên thế giới thì đa số sẽ đã làm như vậy. Một số người có thể gần với cấp thứ hai hơn, nhưng ‘sắc thái’ và ‘âm điệu’ tổng thể cùng tác động thế giới của nhóm sẽ là của cấp thứ ba.

32. Thus, such a group will be composed of illumined minds in which the spiritual intuition is awakening. The group as a whole will have achieved the capacity to think together within the light of the soul, the group antahkarana will be completed in its first phase (connecting the group mental unit with the group mental permanent atom), and the process of fusing manas with buddhi (intuition) will have begun.

32. Do đó, một nhóm như vậy sẽ gồm những thể trí được soi sáng, trong đó trực giác tinh thần đang thức tỉnh. Toàn thể nhóm sẽ đạt được khả năng cùng suy nghĩ trong ánh sáng của linh hồn; antahkarana của nhóm sẽ hoàn tất trong giai đoạn thứ nhất, nối đơn vị hạ trí của nhóm với nguyên tử trường tồn thể trí của nhóm, và tiến trình dung hợp manas với Bồ đề, tức trực giác, sẽ bắt đầu.

33. Such a group would definitely be standing, as a group, upon the periphery of some ashram, and in fact, would be included within this periphery.

33. Một nhóm như vậy chắc chắn sẽ đứng, với tư cách một nhóm, trên chu vi của một ashram nào đó, và thật ra sẽ được bao gồm trong chu vi này.

34. For such a group, note of the ashram would be ringing clearly, the will of the ashram would be known, accepted and enacted, and the will of the Master would be coming increasingly clear.

34. Đối với một nhóm như vậy, âm điệu của ashram sẽ vang lên rõ ràng, ý chí của ashram sẽ được biết đến, được chấp nhận và được thực thi, và ý chí của Chân sư sẽ ngày càng trở nên rõ ràng.

35. For such a group, the perception of unity would be a fact of consciousness, and the Divine Plan would be known with directness—at least those aspects of the Plan accessible to those whose consciousness is polarized within the sphere of receptivity of the third degree.

35. Đối với một nhóm như vậy, tri giác về nhất tính sẽ là một sự kiện của tâm thức, và Thiên Cơ sẽ được biết một cách trực tiếp—ít nhất là những phương diện của Thiên Cơ có thể tiếp cận đối với những ai có tâm thức được phân cực trong phạm vi tiếp nhận của cấp thứ ba.

36. Just as an individual who stands at the third degree not only expresses the Divine Plan but can reveal the factual nature of unity, so, such a group, would be a revealer of factual unity. The consciousness of such a group would be “planetarized” (in the words of the astrologer, Dane Rudhyar, who wrote The Planetarization of Consciousness).

36. Cũng như một cá nhân đứng ở cấp thứ ba không chỉ biểu lộ Thiên Cơ mà còn có thể mặc khải bản chất thực hữu của nhất tính, thì một nhóm như vậy cũng sẽ là một kẻ mặc khải nhất tính thực hữu. Tâm thức của một nhóm như vậy sẽ được “hành tinh hóa”, theo lời nhà chiêm tinh Dane Rudhyar, người đã viết Sự Hành Tinh Hóa Tâm Thức.

37. One can imagine how ‘rich’ such a group would be, and the degree of synthesized thought which would characterize it. Such a group would be polarized upon the level of abstract mind—thus the necessity for the completion of the first phase of the antahkarana in the great majority of its personnel.

37. Người ta có thể hình dung một nhóm như vậy sẽ ‘phong phú’ đến mức nào, và mức độ tư tưởng tổng hợp sẽ đặc trưng cho nó ra sao. Một nhóm như vậy sẽ được phân cực trên cấp độ trí trừu tượng—do đó cần phải hoàn tất giai đoạn thứ nhất của antahkarana nơi đại đa số nhân sự của nó.

38. Certainly somewhere in the continuity of group development is to be found a third degree group. The phenomenon would be quite rare and not readily visible in groups known generally to the world. However, since there are visible second degree groups (selfless and idealistic), and visible fourth degree groups (such as the group of arhats whom the Buddha gathered around Himself), there must as well be detectable third degree groups. Maybe, some such may be quite specialized and working closely in touch with some ashram or another. Perhaps the inner group surrounding an arhat (such as the inner group around the Dalai Lama) would be a third degree group. Probably the group that surrounded the Hindu sage, Ramakrishna (himself certainly at least a fourth degree initiate) would also have been of the third degree, for all of them were seeking to become true renunciants or arhats—fourth degree initiates. We are told that certain arhats of the fourth degree, associated with the third and fifth rays and directing “manasic” ashrams, train certain advanced scientific specialists who may be working in small, inconspicuous third degree groups. Right now, third degree groups are more likely to be quite limited in the number of their personnel and relatively remote, than external and before the eyes of many.

38. Chắc chắn, ở đâu đó trong tính liên tục của sự phát triển nhóm, phải tìm thấy một nhóm cấp thứ ba. Hiện tượng ấy sẽ khá hiếm và không dễ thấy trong các nhóm thường được thế giới biết đến. Tuy nhiên, vì có những nhóm cấp thứ hai hữu hình, vô ngã và có lý tưởng, và những nhóm cấp thứ tư hữu hình, chẳng hạn như nhóm các A-la-hán mà Đức Phật đã quy tụ quanh chính Ngài, nên cũng phải có những nhóm cấp thứ ba có thể nhận ra. Có lẽ một số nhóm như vậy khá chuyên biệt và hoạt động trong tiếp xúc gần gũi với một ashram nào đó. Có lẽ nhóm nội vi quanh một A-la-hán, chẳng hạn như nhóm nội vi quanh Đức Đạt Lai Lạt Ma, sẽ là một nhóm cấp thứ ba. Có lẽ nhóm bao quanh hiền giả Ấn giáo Ramakrishna, chính ông chắc chắn ít nhất là một điểm đạo đồ cấp thứ tư, cũng thuộc cấp thứ ba, vì tất cả họ đều tìm cách trở thành những người từ bỏ chân chính hay A-la-hán—các điểm đạo đồ cấp thứ tư. Chúng ta được cho biết rằng một số A-la-hán cấp thứ tư, liên hệ với cung ba và cung năm và điều khiển các ashram manas, huấn luyện một số chuyên gia khoa học cao cấp có thể đang hoạt động trong những nhóm cấp thứ ba nhỏ bé, không nổi bật. Hiện nay, các nhóm cấp thứ ba nhiều khả năng còn rất giới hạn về số lượng nhân sự và tương đối ẩn khuất, hơn là ngoại hiện và ở trước mắt nhiều người.

39. Whenever a “door” stands truly “behind”, the members of the group may take their stand upon the accomplishments of the vibratory level to which they have been admitted. When once a door is passed, it is rare indeed for the individuals or the group who have passed through that door to revert permanently to the vibratory level left behind. To do so would be a ‘devolution’. This type of degeneration may gradually happen to those who deliberately choose the left-hand path; qualities associated with the animal kingdom may even begin to reappear.

39. Bất cứ khi nào một “cánh cửa” thật sự đứng “phía sau”, các thành viên của nhóm có thể lấy lập trường của mình trên các thành tựu thuộc cấp độ rung động mà họ đã được tiếp nhận vào. Một khi một cánh cửa đã được vượt qua, quả thật hiếm khi các cá nhân hay nhóm đã đi qua cánh cửa ấy lại vĩnh viễn thoái lui về cấp độ rung động đã bỏ lại phía sau. Làm như vậy sẽ là một sự ‘thoái hóa’. Loại suy đồi này có thể dần dần xảy ra với những ai cố ý chọn tả đạo; các phẩm tính liên hệ với giới động vật thậm chí có thể bắt đầu tái xuất hiện.

40. That the door is left behind indicates a condition of relative freedom. The group which has passed the third degree is a group disciple in relation to the Lodge of Sirius—though not yet even a Sirian Initiate of the first degree. A group of Masters could be considered a group initiate of the first degree in relation to the Lodge of Sirius. We know that the Law of Freedom emanates from Sirius and that freedom is a Uranian condition—i.e., promoted by the energy of the planet Uranus. The mountain of usual karma has been transcended by fulfilling Saturn at the third degree, and the restrictions of Saturn begin to give way to the dynamic, spontaneous and free approach characterized by the planet, Uranus.

40. Việc cánh cửa bị bỏ lại phía sau chỉ ra một tình trạng tự do tương đối. Nhóm đã vượt qua cấp thứ ba là một đệ tử nhóm trong tương quan với Huyền Đoàn Sirius—dù chưa phải là một Điểm đạo đồ Sirius cấp thứ nhất. Một nhóm các Chân sư có thể được xem là một điểm đạo đồ nhóm cấp thứ nhất trong tương quan với Huyền Đoàn Sirius. Chúng ta biết rằng Định luật Tự Do phát xuất từ Sirius và tự do là một tình trạng thuộc Thiên Vương Tinh, tức là được thúc đẩy bởi năng lượng của hành tinh Thiên Vương Tinh. Ngọn núi nghiệp quả thông thường đã được vượt qua bằng cách hoàn thành Thổ Tinh ở cấp thứ ba, và những hạn chế của Thổ Tinh bắt đầu nhường chỗ cho lối tiếp cận năng động, tự phát và tự do, được đặc trưng bởi hành tinh Thiên Vương Tinh.

41. From another perspective, Saturn, Neptune and Uranus rule the third, fourth and fifth degrees respectively, so the task of the group after the third degree is to blend Saturn (abstract mind) with Neptune (buddhi), in an approach to atma (Uranus). There are ways that both Saturn and Uranus and be considered connected to both the abstract mind and atma (spiritual will).

41. Từ một viễn cảnh khác, Thổ Tinh, Hải Vương Tinh và Thiên Vương Tinh lần lượt cai quản các cấp thứ ba, thứ tư và thứ năm, vì vậy nhiệm vụ của nhóm sau cấp thứ ba là hòa trộn Thổ Tinh, tức trí trừu tượng, với Hải Vương Tinh, tức Bồ đề, trong một lối tiếp cận đến atma, tức Thiên Vương Tinh. Có những cách mà cả Thổ Tinh lẫn Thiên Vương Tinh đều có thể được xem là liên hệ với cả hai: trí trừu tượng và atma, tức ý chí tinh thần.

42. The group which has left the door behind, is now focussed upon the task of communicating with and eventually polarizing upon the middle and highest levels of the spiritual triad.

42. Nhóm đã bỏ cánh cửa lại phía sau giờ đây tập trung vào nhiệm vụ giao tiếp với, và cuối cùng phân cực trên, các cấp giữa và cao nhất của Tam Nguyên Tinh Thần.

43. They are not yet ready to tread the “Way”, and will not be ready until they take the sixth degree—probably thousands of years later.

43. Họ chưa sẵn sàng bước trên “Con Đường”, và sẽ chưa sẵn sàng cho đến khi họ trải qua cấp thứ sáu—có lẽ hàng nghìn năm sau.

44. But they are newly engaged with the curriculum of the monad, and are liberating themselves from the “desert” (in this case the desert of the higher mental plane)—an oasis for many, but increasingly a desert for those who search for the life and heart of the buddhic plane.

44. Nhưng họ vừa mới bước vào chương trình học của chân thần, và đang tự giải thoát khỏi “sa mạc”, trong trường hợp này là sa mạc của Cõi thượng trí—một ốc đảo đối với nhiều người, nhưng ngày càng là sa mạc đối với những ai tìm kiếm sự sống và trái tim của cõi Bồ đề.

45. With regard to the Way of the Higher Evolution (trodden by those who have taken the sixth degree), it is the monad who sees the way ahead. Thus, it is only at the third degree, when the monad is becoming a factual presence (and not just a theoretical anticipation) that this Way can be glimpsed. Some small fragment of what the monad sees is capable of being registered by the consciousness of the third degree initiate.

45. Về Con đường Tiến Hóa Cao Siêu, con đường được bước đi bởi những ai đã trải qua cấp thứ sáu, chính chân thần là cái thấy con đường phía trước. Do đó, chỉ ở cấp thứ ba, khi chân thần đang trở thành một hiện diện thực hữu, chứ không chỉ là một mong đợi lý thuyết, thì Con Đường này mới có thể được thoáng thấy. Một mảnh nhỏ nào đó của điều chân thần thấy có thể được ghi nhận bởi tâm thức của điểm đạo đồ cấp thứ ba.

46. At this point, the group has what might be called an ‘appreciation of monadic destiny’, but many developments within the spiritual triad and in relation to the monad are necessary before the actual treading of that Greater Path can begin.

46. Tại điểm này, nhóm có điều có thể gọi là một ‘sự cảm nhận về định mệnh chân thần’, nhưng cần nhiều phát triển trong Tam Nguyên Tinh Thần và trong tương quan với chân thần trước khi việc thật sự bước trên Con Đường Vĩ Đại ấy có thể bắt đầu.

47. As we may know, there are seven main Paths upon the Way of the Higher Evolution, and now (following, probably, the refocalization of many ashrams upon the buddhic plane around 1925 at the time of the last Great Centennial Conclave) two paths in addition are offered.

47. Như chúng ta có thể biết, có bảy Con Đường chính trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu, và hiện nay, có lẽ sau sự tái tập trung của nhiều ashram trên cõi Bồ đề vào khoảng năm 1925, vào thời điểm của Đại Mật Nghị Bách Niên gần nhất, hai con đường bổ sung được đưa ra.

48. This is not the place to begin a study of the seven or nine higher Paths, through a few generalities may be offered.

48. Đây không phải là chỗ để bắt đầu nghiên cứu bảy hay chín Con Đường cao siêu, dù có thể đưa ra vài nét khái quát.

49. Essentially, these are Paths which lead away from our solar system altogether. Only one Path, the Path of Earth Service, keeps the monad confined to the sphere of our planetary scheme.

49. Về căn bản, đây là những Con Đường dẫn hoàn toàn ra khỏi hệ mặt trời của chúng ta. Chỉ một Con Đường, Con Đường Phụng Sự Trái Đất, giữ chân thần trong phạm vi hệ hành tinh của chúng ta.

50. There is some question concerning whether Path V, the Ray Path, leads our of our system or to our Sun (as at least one theorist has suggested). I would suggest that this fifth Path may lead to involvement with the Seven Suns of which ours is one, and thus to what has been called the “Seven Solar Systems”.

50. Có một số nghi vấn về việc liệu Con Đường V, Con Đường Cung, dẫn ra khỏi hệ của chúng ta hay dẫn đến Mặt Trời của chúng ta, như ít nhất một nhà lý thuyết đã gợi ý. Tôi gợi ý rằng Con Đường thứ năm này có thể dẫn đến sự tham dự với Bảy Mặt Trời, trong đó Mặt Trời của chúng ta là một, và do đó đến cái đã được gọi là “Bảy Hệ Mặt Trời”.

51. The Paths in order are:

51. Các Con Đường theo thứ tự là:

a. The Path of Earth Service

a. Con Đường Phụng Sự Trái Đất

b. The Path of Magnetic Work

b. Con Đường Công Tác Từ Tính

c. The Path of the Planetary Logoi

c. Con Đường của các Hành Tinh Thượng đế

d. The Path to Sirius

d. Con Đường đến Sirius

e. The Ray Path

e. Con Đường Cung

f. The Path of the Solar Logoi

f. Con Đường của các Thái dương Thượng đế

g. The Path of Absolute Sonship

g. Con Đường của Tư Cách Con Tuyệt Đối

h. Unknown

h. Chưa biết

i. Unknown

i. Chưa biết

52. Eventually all Paths lead to the Central Spiritual Sun (interpreted in this case to mean the “Hub of the Wheel” or the star cluster known as the Pleiades—not just the seven or nine familiar Pleiads, but the entire cluster consisting of a number of hundreds of stars {all informed by Solar Logoi}—perhaps four or five hundred).

52. Cuối cùng, mọi Con Đường đều dẫn đến Mặt trời Tinh thần Trung Ương, trong trường hợp này được hiểu là “Tâm Trục của Bánh Xe” hay cụm sao được biết đến là Pleiades—không chỉ bảy hay chín sao Pleiades quen thuộc, mà là toàn bộ cụm gồm nhiều trăm ngôi sao, tất cả đều được Các Thượng đế Thái Dương thấm nhuần, có lẽ bốn hay năm trăm ngôi.

53. On one level of interpretation, the central star of the Pleiades, Alcyone, can be considered the “Central Spiritual Sun”. From a vaster perspective, the entire cluster and the vast Being that informs it, can be understood as the “Central Spiritual Sun”. The term “Central Spiritual Sun” is generic and has even galactic applications.

53. Ở một cấp độ giải thích, ngôi sao trung tâm của Pleiades, Alcyone, có thể được xem là “Mặt trời Tinh thần Trung Ương”. Từ một viễn cảnh rộng lớn hơn, toàn bộ cụm sao và Thực Thể vĩ đại thấm nhuần nó có thể được hiểu là “Mặt trời Tinh thần Trung Ương”. Thuật ngữ “Mặt trời Tinh thần Trung Ương” có tính tổng quát và thậm chí có các ứng dụng thiên hà.

54. It is interesting with respect to these cosmic Paths to realize that there are normally seven Pleiades to consider, and that these are called the “Seven Sisters”. If, however, Atlas and Pleione (father and mother, respectively) are added, the number becomes nine. These seven or nine stars may well have a correlation with the seven or nine Paths to be trodden. It would be surprising if they did not.

54. Điều thú vị đối với các Con Đường vũ trụ này là nhận ra rằng thông thường có bảy sao Pleiades cần xem xét, và chúng được gọi là “Bảy Chị Em”. Tuy nhiên, nếu thêm Atlas và Pleione, lần lượt là cha và mẹ, thì con số trở thành chín. Bảy hay chín ngôi sao này rất có thể có một tương quan với bảy hay chín Con Đường phải được bước đi. Sẽ đáng ngạc nhiên nếu chúng không có tương quan như vậy.

55. The specifics of these Paths are not so important to us, however intensely interesting they may be. Such specifics are not even of immediate import to an initiate or a group-initiate of the third degree (behind whom and behind which stands the “door”).

55. Tuy nhiên, các chi tiết cụ thể của những Con Đường này không quá quan trọng đối với chúng ta, dù chúng có thể vô cùng lý thú. Những chi tiết ấy thậm chí không có tầm quan trọng trước mắt đối với một điểm đạo đồ hay một điểm đạo đồ nhóm cấp thứ ba, phía sau y và phía sau nhóm ấy có “cánh cửa” đứng đó.

56. What is important is to realize that a vast destiny lies before the adventuring monad, and that the third degree initiate (both individual and group) is beginning training to fulfil this destiny.

56. Điều thật sự quan trọng là nhận ra rằng một định mệnh bao la nằm trước chân thần đang phiêu lưu, và rằng điểm đạo đồ cấp thứ ba, cả cá nhân lẫn nhóm, đang bắt đầu được huấn luyện để hoàn thành định mệnh này.

57. “Where there is no vision the people perish”. Thus it is important, at every point along the Endless Way, to be possessed by a sense of ‘divine incentive’, presenting vistas of new dimensional levels to be attained.

57. “Ở đâu không có tầm nhìn, dân chúng diệt vong”. Vì vậy, tại mọi điểm dọc theo Con Đường Vô Tận, điều quan trọng là được chiếm lĩnh bởi một ý thức về ‘động lực thiêng liêng’, mở ra những viễn cảnh của các cấp độ chiều kích mới cần đạt đến.

58. Just as the soul and spiritual triad serve as inspiring incentives to those who stand at our level of evolution, so the monad and a vision of the wider cosmic vistas to which it will eventually have access, can inspire the initiate and initiate group for whom the door of the third degree is left behind.

58. Cũng như linh hồn và Tam Nguyên Tinh Thần đóng vai trò những động lực gây cảm hứng cho những ai đang đứng ở cấp độ tiến hoá của chúng ta, thì chân thần và tầm nhìn về những chân trời vũ trụ rộng lớn hơn mà cuối cùng nó sẽ tiếp cận, có thể gây cảm hứng cho điểm đạo đồ và nhóm điểm đạo đồ đã bỏ lại sau lưng cánh cửa của lần điểm đạo thứ ba.

59. Progress is ever onward from one point of tension to another still higher.

59. Tiến bộ luôn luôn tiến tới từ một điểm tập trung nhất tâm đến một điểm khác còn cao hơn.

60. Many teachings, in their enumeration of attainable divine possibilities, stop short of revealing a fuller truth by limiting their focus to the states of “Nirvana”, “Satori” or “Enlightenment”. For those who are, strictly speaking, human beings, such states may seem to be ultimates. But the humanity of today will become lives of a higher order (super-human lives) in days to come, and always vistas of new and greater possibilities must be presented to provide a continuity of inspiration. Nirvana is but the “beginning of the Endless Way”. It is not a vision of Nirvana which will inspire the Master of the Wisdom or the adventuring Chohan.

60. Nhiều giáo huấn, khi liệt kê những khả năng thiêng liêng có thể đạt được, đã dừng lại trước khi mặc khải một chân lý đầy đủ hơn, vì giới hạn trọng tâm vào các trạng thái “Niết Bàn”, “đốn ngộ” hoặc “giác ngộ”. Đối với những ai, nói một cách nghiêm ngặt, còn là con người, các trạng thái ấy có thể dường như là những cứu cánh tối hậu. Nhưng nhân loại ngày nay sẽ trở thành những sự sống thuộc một trật tự cao hơn, tức những sự sống siêu nhân, trong những ngày sắp tới; và luôn luôn cần trình bày những chân trời của các khả năng mới mẻ và lớn lao hơn, để đem lại một dòng cảm hứng liên tục. Niết Bàn chỉ là “khởi đầu của Con Đường Vô Tận”. Không phải linh ảnh về Niết Bàn sẽ gây cảm hứng cho Chân sư Minh Triết hay vị Chưởng Quản dấn thân.

61. Perhaps in our darker moments, when the point of tension is not all that it might be, we can hearten ourselves and others by anticipation of the unknown dimensions toward which our destined Path will lead. An inspiring vision of the future can lighten the present.

61. Có lẽ trong những khoảnh khắc u tối hơn của chúng ta, khi điểm tập trung nhất tâm chưa đạt được như nó có thể đạt, chúng ta có thể khích lệ bản thân và người khác bằng sự tiên cảm về những chiều kích chưa biết mà Con Đường định mệnh của chúng ta sẽ dẫn tới. Một tầm nhìn gây cảm hứng về tương lai có thể làm nhẹ bớt hiện tại.

62. Every monad is a Ray of the Absolute, emanated from the Central Universal Source, and tending to ‘re-become’ the universe, the Entirety reflective of that Central Source. The monad is, in fact and in essence, the Central Universal Source—a stupendous and apparently paradoxical though. Treading the Way of the Higher Evolution can be expected to bring added confirmation of this intuition which is but dimly apprehended by those who stand where we now stand.

62. Mỗi chân thần là một Cung của Tuyệt Đối, xuất lộ từ Nguồn Vũ Trụ Trung Tâm, và có khuynh hướng “trở thành lại” vũ trụ, tức Toàn Thể phản chiếu Nguồn Trung Tâm ấy. Thật ra và trong tinh túy, chân thần là chính Nguồn Vũ Trụ Trung Tâm—một tư tưởng kỳ vĩ và dường như nghịch lý. Có thể kỳ vọng rằng việc bước đi trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu sẽ đem lại thêm sự xác nhận cho trực giác này, vốn chỉ được những người đang đứng nơi chúng ta hiện đứng lĩnh hội một cách mờ nhạt.

63. Thus progress leads us as monads (and at long length) to the one and only Point of Original Universal Emanation. The great mystery is that (for all our apparent multidimensional ‘travels’) we never left that Point and even now are ‘there’.

63. Như vậy, tiến bộ dẫn chúng ta, với tư cách các chân thần và qua một thời gian rất dài, đến Điểm Duy Nhất của Xuất Lộ Vũ Trụ Nguyên Thủy. Bí nhiệm lớn lao là, dù có mọi “cuộc du hành” đa chiều dường như của chúng ta, chúng ta chưa bao giờ rời khỏi Điểm ấy và ngay cả bây giờ cũng đang “ở đó”.

The Themes Included Under the Sentence 4Các Chủ Đề Bao Gồm Dưới Câu 4

Các Chủ Đề Bao Gồm Dưới Câu 4Các Chủ Đề Bao Gồm Dưới Câu 4

B. The “door” symbology (cf. RI, p. 42)

B. Biểu tượng học về “cánh cửa” (xem Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo, tr. 42)

Note how this passage reverses the usual presentation. Hitherto, in the occult books, the Door of Initiation has been presented as ever moving forward ahead of the initiate. He passes through door after door into a wider experience and expansion of consciousness. But in the initiate consciousness, after the first two initiations, this is not the realisation. It is simply the adhering to an old form of symbolism with the implied limitations of the truth. I would here remind you that the third initiation is regarded by the Hierarchy as the first major initiation, and that the first and second initiations are initiations of the Threshold. For the bulk of humanity, these first two initiations will for a very long time constitute major initiatory experiences, but in the life and realisation of the initiate-soul, they are not. After the two initiations of the threshold have been undergone the attitude of the initiate changes and he sees possibilities and factors and revelations which have hitherto [Page 42] been totally unrealised and unknown, even to his consciousness at his highest moments.

Hãy lưu ý đoạn này đảo ngược cách trình bày thông thường như thế nào. Cho đến nay, trong các sách huyền bí, Cánh Cửa Điểm Đạo vẫn được trình bày như luôn luôn tiến về phía trước, ở trước điểm đạo đồ. Y đi qua hết cánh cửa này đến cánh cửa khác để bước vào một kinh nghiệm rộng lớn hơn và một sự mở rộng tâm thức. Nhưng trong tâm thức điểm đạo đồ, sau hai cuộc điểm đạo đầu tiên, đây không phải là nhận thức thực sự. Nó chỉ là sự bám vào một hình thức biểu tượng cũ, với những giới hạn hàm ẩn của chân lý. Ở đây Tôi muốn nhắc các bạn rằng lần điểm đạo thứ ba được Thánh Đoàn xem là cuộc điểm đạo chính yếu đầu tiên, và rằng lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai là các cuộc điểm đạo của Ngưỡng. Đối với đại bộ phận nhân loại, hai cuộc điểm đạo đầu tiên này sẽ còn trong một thời gian rất dài cấu thành những kinh nghiệm điểm đạo chính yếu; nhưng trong đời sống và sự nhận thức của linh hồn-điểm đạo đồ, chúng không phải như vậy. Sau khi trải qua hai cuộc điểm đạo của ngưỡng, thái độ của điểm đạo đồ thay đổi, và y thấy những khả năng, những yếu tố và những mặc khải mà cho đến nay [Trang 42] hoàn toàn chưa được nhận thức và chưa được biết đến, ngay cả đối với tâm thức của y trong những khoảnh khắc cao nhất.

1. It is important to realize that in The Rays and the Initiations, we are dealing with a presentation of the truth which is quite new, and which reverses many of the images presented in the standard Theosophical works.

1. Điều quan trọng là nhận ra rằng trong Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo, chúng ta đang đề cập đến một cách trình bày chân lý hoàn toàn mới, đảo ngược nhiều hình ảnh đã được trình bày trong các tác phẩm Thông Thiên Học tiêu chuẩn.

2. This book is written from the perspective of the initiate consciousness. Most manuals on initiation are written for those who aspire towards initiation—often pointing to the attainment of the first two initiations, which are considered by the Masters only initiations of the threshold. This book is written from a perspective which assumes the achievement of that towards which the usual disciple aspires.

2. Quyển sách này được viết từ viễn cảnh của tâm thức điểm đạo đồ. Hầu hết các cẩm nang về điểm đạo được viết cho những ai khát vọng hướng tới điểm đạo—thường chỉ ra việc đạt đến hai cuộc điểm đạo đầu tiên, vốn chỉ được các Chân sư xem là các cuộc điểm đạo của ngưỡng. Quyển sách này được viết từ một viễn cảnh giả định rằng điều mà người đệ tử thông thường khát vọng hướng tới đã đạt được rồi.

3. Early Theosophical presentations were aimed mostly at those upon the Probationary Path. In the Alice Bailey works, the Tibetan also gives much attention to the needs of the probationer and the average disciple, but He extends the possibilities, giving also that which initiates (and even initiates of high degree) can find spiritual nourishing. It is said, for instance, that A Treatise on Cosmic Fire can truly be understood only by the initiate consciousness—this means, the consciousness of the third degree. Note that initiation is always a question of consciousness (though the matter aspect as well will reflect changes in accordance with the level of initiation).

3. Các trình bày Thông Thiên Học thời kỳ đầu chủ yếu nhắm đến những người đang ở trên Con Đường Dự Bị. Trong các tác phẩm của Alice Bailey, Chân sư Tây Tạng cũng dành nhiều chú ý đến nhu cầu của người dự bị và đệ tử trung bình, nhưng Ngài mở rộng các khả năng, đồng thời trao ra điều mà các điểm đạo đồ, và ngay cả các điểm đạo đồ cấp cao, có thể tìm thấy sự nuôi dưỡng tinh thần. Chẳng hạn, người ta nói rằng Luận về Lửa Vũ Trụ chỉ có thể được thấu hiểu thật sự bởi tâm thức điểm đạo đồ—điều này có nghĩa là tâm thức của cấp độ thứ ba. Hãy lưu ý rằng điểm đạo luôn luôn là một vấn đề của tâm thức, dù phương diện vật chất cũng sẽ phản ánh những thay đổi phù hợp với cấp độ điểm đạo.

4. It is important for the student of spirituality to use for training the level of symbolism appropriate to his or her level of unfoldment. Symbols can be interpreted on many different levels, but some of the standard symbols (in this case, the “door”) will one day have to be replaced by more suitable symbols. For instance, a familiar symbol for an advanced initiation is the “eye of the needle”.

4. Điều quan trọng đối với đạo sinh tinh thần là sử dụng, cho việc huấn luyện, cấp độ biểu tượng phù hợp với cấp độ khai mở của mình. Các biểu tượng có thể được diễn giải ở nhiều cấp độ khác nhau, nhưng một ngày nào đó, một số biểu tượng tiêu chuẩn, trong trường hợp này là “cánh cửa”, sẽ phải được thay thế bằng những biểu tượng thích hợp hơn. Chẳng hạn, một biểu tượng quen thuộc cho một cuộc điểm đạo cao cấp là “lỗ kim”.

5. It may be that the symbolism of the “door” is suitable for those who are, to some degree, still trapped in the consciousness of the lower ego and, therefore, have not perceived subject and object as one.

5. Có thể biểu tượng về “cánh cửa” thích hợp cho những ai, ở mức độ nào đó, vẫn còn mắc kẹt trong tâm thức của phàm ngã và do đó chưa nhận ra chủ thể và đối tượng là một.

6. When we learn that the first two initiations are considered “initiations of the Threshold”, we have to ask, “the Threshold of what?” In this case we would answer, “of the Hierarchy, itself”. Initiates of the third degree are potentially, and very often actually, conscious members of a particular ashram. They have entered hierarchical life, have defeated the Moon and Mars (which together symbolize the lower eighteen subplanes which embody the personality, and the lower personal ego). They are no longer on the threshold of solar life but, since the third initiation is the first solar initiation, have entered it. They are almost fully infused by the solar principle (represented by the Solar Angel), and have symbolically transferred their consciousness from the domain of the Moon to that of the Sun. That which the Solar Angel has sought to see accomplished over millions of years of supervision has well nigh been accomplished (for further soul infusion will occur between the third and fourth degrees). The third degree initiate is no longer “profane” (standing outside the gates of the temple). Such an initiate has departed from the “outer court” (the vibratory dimensions of personality) and has entered the “Holy Place”, though he or she is not yet polarized within the “Holy of Holies”. Note the following from p. 633 of Esoteric Astrology.:

6. Khi chúng ta biết rằng hai cuộc điểm đạo đầu tiên được xem là “các cuộc điểm đạo của Ngưỡng”, chúng ta phải hỏi: “Ngưỡng của điều gì?” Trong trường hợp này, chúng ta sẽ trả lời: “của chính Thánh Đoàn”. Các điểm đạo đồ cấp độ thứ ba, trên phương diện tiềm năng và rất thường khi trên thực tế, là những thành viên có ý thức của một ashram nhất định. Họ đã bước vào đời sống Thánh Đoàn, đã chiến thắng Mặt Trăng và Sao Hỏa, vốn cùng nhau tượng trưng cho mười tám cõi phụ thấp hiện thân cho phàm ngã và chân ngã cá nhân thấp. Họ không còn ở trên ngưỡng của đời sống thái dương nữa; nhưng vì lần điểm đạo thứ ba là cuộc điểm đạo thái dương đầu tiên, họ đã bước vào đó. Họ hầu như được nguyên khí thái dương, được tượng trưng bởi Thái dương Thiên Thần, thấm nhuần trọn vẹn, và về mặt biểu tượng đã chuyển dịch tâm thức của mình từ lãnh vực của Mặt Trăng sang lãnh vực của Mặt Trời. Điều mà Thái dương Thiên Thần đã tìm cách thấy được hoàn thành qua hàng triệu năm giám sát thì gần như đã hoàn thành, vì sự thấm nhuần thêm của linh hồn sẽ diễn ra giữa cấp độ thứ ba và thứ tư. Điểm đạo đồ cấp độ thứ ba không còn là “kẻ phàm tục”, tức người đứng bên ngoài các cổng của đền thờ. Một điểm đạo đồ như vậy đã rời khỏi “tiền đình bên ngoài”, tức các chiều kích rung động của phàm ngã, và đã bước vào “Nơi Thánh”, dù y vẫn chưa phân cực trong “Nơi Chí Thánh”. Hãy lưu ý đoạn sau từ trang 633 của Chiêm Tinh Học Nội Môn.:

“I. Ray I. The Holy of Holies. Shamballa.

“1. Cung 1. Nơi Chí Thánh. Shamballa.

The Dwelling Place of the Most High.

Nơi Cư Ngụ của Đấng Tối Cao.

Spirit. Life. Energy.

Tinh thần. Sự sống. Năng lượng.

Will. Identification.

Ý chí. Đồng nhất hoá.

II. Ray II. The Holy Place. Hierarchy.

2. Cung 2. Nơi Thánh. Thánh Đoàn.

The Secret Place where Light dwelleth.

Nơi Bí Mật mà Ánh Sáng ngự.

Soul. Consciousness. Light.

Linh hồn. Tâm thức. Ánh sáng.

Love. Initiation.

Bác ái. Điểm đạo.

III. Ray III. The Outer Court. Humanity.

3. Cung 3. Tiền Đình Bên Ngoài. Nhân loại.

Christ in us, the hope of glory.

Đức Christ trong chúng ta, niềm hy vọng của vinh quang.

Form. Appearance. Body.

Hình tướng. Sắc tướng. Thể.

Intelligence. Individuality.”

Trí tuệ. Cá tính.”

7. We have to realize that the bulk of humanity will not be interested in this more advanced teaching. They have much to do to achieve the standards of the first two initiations. Even the majority of disciples today find themselves somewhere between the first and second initiations—a span covering quite a few lives. Yet, we must learn to think ahead and envision future possibilities.

7. Chúng ta phải nhận ra rằng đại bộ phận nhân loại sẽ không quan tâm đến giáo huấn cao cấp hơn này. Họ còn nhiều việc phải làm để đạt tới các tiêu chuẩn của hai cuộc điểm đạo đầu tiên. Ngay cả đa số đệ tử ngày nay cũng thấy mình ở đâu đó giữa lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai—một khoảng trải dài qua khá nhiều kiếp sống. Tuy vậy, chúng ta phải học cách nghĩ về phía trước và hình dung các khả năng tương lai.

8. The Tibetan tells us that the first two initiations will provide sufficient incentive for the advanced individuals for a “very long time”. (Obviously, the great majority of human beings is not yet ready for initiated life, though humanity itself is on the verge of the first initiation—a paradox to be solved.) How long will that “time” be? Certainly for the duration of the Aquarian Age in which initiatory possibilities will be concentrated on the first two degrees. The cleansing of the Augean Stables (the Herculean Labor in Aquarius) can be seen as equivalent to the Baptism or Purification—the second degree, so a relatively large number of second degree initiates will appear during the next two thousand or so years. When considering the “bulk of humanity”, however, that very long time may last for thousands upon thousands of years, for even two fifths of those who began their human evolution on the Moon Chain ages ago, will not tread the spiritual Path until the fifth round! This indicates the great duration of the program of spiritual development.

8. Chân sư Tây Tạng nói với chúng ta rằng hai cuộc điểm đạo đầu tiên sẽ cung cấp động lực đầy đủ cho những cá nhân tiến bộ trong một “thời gian rất dài”. Hiển nhiên, đại đa số con người vẫn chưa sẵn sàng cho đời sống điểm đạo, dù chính nhân loại đang ở ngưỡng của lần điểm đạo thứ nhất—một nghịch lý cần được giải quyết. “Thời gian” ấy sẽ dài bao lâu? Chắc chắn là suốt Kỷ nguyên Bảo Bình, trong đó các khả năng điểm đạo sẽ tập trung vào hai cấp độ đầu tiên. Việc thanh tẩy Chuồng Ngựa Augeas, kỳ công của Hercules trong Bảo Bình, có thể được xem là tương đương với Phép Rửa hay sự Thanh Lọc—cấp độ thứ hai; do đó, một số lượng tương đối lớn các điểm đạo đồ cấp độ thứ hai sẽ xuất hiện trong khoảng hai nghìn năm tới hoặc hơn. Tuy nhiên, khi xét đến “đại bộ phận nhân loại”, thời gian rất dài ấy có thể kéo dài hàng nghìn rồi lại hàng nghìn năm, vì ngay cả hai phần năm những người đã bắt đầu cuộc tiến hoá nhân loại của họ trên Dãy Mặt Trăng từ nhiều thời đại trước cũng sẽ không bước lên Con Đường tinh thần cho đến cuộc tuần hoàn thứ năm! Điều này cho thấy sự kéo dài lớn lao của chương trình phát triển tinh thần.

9. Actually, two thousand years, though the span may seem a “very long time” to the consciousness of the personality, is but a brief moment in the aeonial progress of the soul. Though many will be initiated during the Age of Aquarius, this “many” represents only a relatively small proportion of the human race—yet their spiritual weight can be sufficient to swing humanity into an entirely new program of rapid development.

9. Thật ra, hai nghìn năm, dù khoảng thời gian ấy có thể có vẻ là một “thời gian rất dài” đối với tâm thức của phàm ngã, chỉ là một khoảnh khắc ngắn ngủi trong tiến trình kéo dài qua các thời đại của linh hồn. Dù nhiều người sẽ được điểm đạo trong Kỷ nguyên Bảo Bình, “nhiều” này chỉ đại diện cho một tỷ lệ tương đối nhỏ của nhân loại—tuy vậy, trọng lượng tinh thần của họ có thể đủ để xoay chuyển nhân loại vào một chương trình phát triển nhanh chóng hoàn toàn mới.

10. Aquarius is sign also associated the third degree and so the program of initiation to occur during the coming Age will not be confined to the first two initiations, though, naturally, the major emphasis will be there.

10. Bảo Bình cũng là một dấu hiệu gắn liền với cấp độ thứ ba, vì vậy chương trình điểm đạo sẽ diễn ra trong Kỷ nguyên sắp tới sẽ không bị giới hạn vào hai cuộc điểm đạo đầu tiên, dù tự nhiên trọng tâm chính sẽ ở đó.

11. During the succeeding, Age of Capricorn, the third initiation may be relevant to a growing number of probationary initiates—naturally, to those who have achieved the second degree during the Age of Aquarius. Capricorn, we may realize, is a sign associated with all five of the first initiations, but particularly with the third initiation.

11. Trong Kỷ nguyên Ma Kết kế tiếp, lần điểm đạo thứ ba có thể trở nên liên quan đến một số lượng ngày càng tăng các điểm đạo đồ dự bị—tự nhiên là những người đã đạt cấp độ thứ hai trong Kỷ nguyên Bảo Bình. Chúng ta có thể nhận ra rằng Ma Kết là một dấu hiệu gắn liền với cả năm cuộc điểm đạo đầu tiên, nhưng đặc biệt với lần điểm đạo thứ ba.

12. Notice the Tibetan’s use of the term, “initiate soul”. This may be considered a rather technical term, and refers to a state of consciousness developing within candidate for the third degree, and actually achieved by the initiate of that degree. At that degree one realizes oneself quite fully as the soul manifesting within the lower three worlds and not as simply as an aspiring personality or disciple. An initiate-soul is possessed of “intuitive instinct” or “spiritual perception”, and is beginning to access the buddhic plane, just as the second degree initiate is distinguished by “an illumined mind and spiritual intelligence” and is accessing the higher three subplanes of the mental plane with some facility, and the first degree initiate is characterized by “spiritual instinct” and is beginning to utilize the mind to regulate the physical-etheric and emotional natures. Let us remember that the sacrifice petals of the egoic lotus, which begin to unfold when the initiation process is begun, are all related to the mental plane, and their unfoldment indicates a growing radiation of soul light within the mental apparatus of the candidate. The astral and etheric-physical vehicles will, naturally, also receive the infusion of soul influence. True initiation ever is related to the growth of mental polarization (which does not mean that one is “smart” or that mind and emotion are divided from each other).

12. Hãy lưu ý cách Chân sư Tây Tạng dùng thuật ngữ “linh hồn điểm đạo đồ”. Có thể xem đây là một thuật ngữ khá chuyên môn, và nó chỉ một trạng thái tâm thức đang phát triển trong ứng viên cho cấp độ thứ ba, và thật sự được thành tựu bởi điểm đạo đồ của cấp độ ấy. Ở cấp độ đó, người ta nhận ra mình khá đầy đủ là linh hồn đang biểu lộ trong ba cõi thấp, chứ không chỉ là một phàm ngã hay một đệ tử đang khát vọng. Một linh hồn-điểm đạo đồ sở hữu “bản năng trực giác” hay “tri giác tinh thần”, và đang bắt đầu tiếp cận cõi Bồ đề; cũng như điểm đạo đồ cấp độ thứ hai được phân biệt bởi “một thể trí được soi sáng và trí tuệ tinh thần”, đang tiếp cận ba cõi phụ cao của cõi trí với một mức độ dễ dàng nào đó; còn điểm đạo đồ cấp độ thứ nhất được đặc trưng bởi “bản năng tinh thần” và đang bắt đầu sử dụng thể trí để điều chỉnh các bản chất hồng trần-dĩ thái và cảm xúc. Chúng ta hãy nhớ rằng các cánh hoa hi sinh của Hoa Sen Chân Ngã, vốn bắt đầu khai mở khi tiến trình điểm đạo khởi sự, tất cả đều liên hệ với cõi trí, và sự khai mở của chúng cho thấy sự bức xạ ngày càng tăng của ánh sáng linh hồn trong bộ máy trí tuệ của ứng viên. Các vận cụ cảm dục và dĩ thái-hồng trần, tự nhiên, cũng sẽ nhận sự thấm nhuần của ảnh hưởng linh hồn. Điểm đạo chân thực bao giờ cũng liên hệ với sự tăng trưởng của sự phân cực trí tuệ, điều này không có nghĩa là người ta “thông minh” hay rằng trí tuệ và cảm xúc bị tách rời nhau.

13. The Tibetan speaks of a change in attitude and realization of the one who has passed through the second initiation. He seems to suggest an availability of new perceptions which were entirely unsuspected while the initiations of the threshold were still his objective. This refinement in perception occurs because the consciousness of the initiate is entering the “arupa” or formless realms, and is being prepared for impression from the worlds of the spiritual triad and spirit. Concentration upon form has climaxed at the second degree. The Moon, or “mother of the form” has, at that degree, symbolically entered Scorpio and has, again symbolically, “died”—at least the desire for form life has waned significantly. Thus, ‘space in consciousness’ is cleared for entirely new patterns of apprehension, and the truths of the formless worlds begin to reveal themselves.

13. Chân sư Tây Tạng nói về một sự thay đổi trong thái độ và sự nhận thức của người đã đi qua lần điểm đạo thứ hai. Ngài dường như gợi ý rằng những tri giác mới trở nên sẵn có, những tri giác hoàn toàn chưa từng được ngờ tới khi các cuộc điểm đạo của ngưỡng vẫn còn là mục tiêu của y. Sự tinh luyện trong tri giác này xảy ra vì tâm thức của điểm đạo đồ đang bước vào các cảnh giới “vô sắc” hay vô hình tướng, và đang được chuẩn bị để nhận ấn tượng từ các thế giới của Tam Nguyên Tinh Thần và tinh thần. Sự tập trung vào hình tướng đã đạt tới cực điểm ở cấp độ thứ hai. Mặt Trăng, hay “mẹ của hình tướng”, ở cấp độ đó, về mặt biểu tượng đã bước vào Hổ Cáp và, cũng về mặt biểu tượng, đã “chết”—ít nhất thì dục vọng đối với đời sống hình tướng đã suy giảm đáng kể. Như vậy, “không gian trong tâm thức” được dọn sạch cho những mô hình lĩnh hội hoàn toàn mới, và các chân lý của những thế giới vô hình tướng bắt đầu tự mặc khải.

The door of initiation looms large in the consciousness of the neophyte; the higher Way is the determining factor in the life of the initiate of the third degree. It is the Transfiguration; and a new glory pours through the transfigured initiate who has been released from every type of grip by either the personality or the soul. For the first time, the goal of the higher Way and the attainment of Nirvana (as the Oriental calls it) appears before him, and he knows that no forms and no spiritual complexes and no pull by either soul or form, or by both united, can have any effect upon his attaining his final destination.

Cánh cửa điểm đạo hiện ra lớn lao trong tâm thức của người sơ cơ; Con Đường cao hơn là yếu tố quyết định trong đời sống của điểm đạo đồ cấp độ thứ ba. Đó là Sự Biến hình; và một vinh quang mới tuôn qua điểm đạo đồ đã được biến hình, người đã được giải phóng khỏi mọi kiểu kìm giữ của phàm ngã hoặc linh hồn. Lần đầu tiên, mục tiêu của Con Đường cao hơn và sự thành tựu Niết Bàn, như người phương Đông gọi, hiện ra trước y; và y biết rằng không hình tướng nào, không phức hợp tinh thần nào, không sức kéo nào của linh hồn hay hình tướng, hoặc của cả hai hợp lại, có thể gây bất kỳ ảnh hưởng nào đối với việc y đạt tới đích đến cuối cùng.

1. In this paragraph the Tibetan describes what seems to be a very exalted state of consciousness, yet is simply that which characterizes the initiate of the third degree. This will, perhaps, cause some adjustment of ideas in the minds of those who think that the attainment of this degree is of no special difficulty.

1. Trong đoạn này, Chân sư Tây Tạng mô tả điều dường như là một trạng thái tâm thức rất cao cả, nhưng thật ra chỉ đơn giản là điều đặc trưng cho điểm đạo đồ cấp độ thứ ba. Điều này có lẽ sẽ khiến một số người, những ai nghĩ rằng việc đạt cấp độ này không có khó khăn gì đặc biệt, phải điều chỉnh lại ý tưởng trong thể trí của họ.

2. What “looms large” in our consciousness? We might pause to ask. With what are our thoughts preoccupied? Do we think of the “doors” which we will encounter as we progress? Or do we think of the “needles eye” and the possibilities upon the Endless Way?

2. Điều gì “hiện ra lớn lao” trong tâm thức của chúng ta? Chúng ta có thể dừng lại để tự hỏi. Tư tưởng của chúng ta bận tâm với điều gì? Chúng ta nghĩ đến những “cánh cửa” mà mình sẽ gặp khi tiến bộ? Hay chúng ta nghĩ đến “lỗ kim” và những khả năng trên Con Đường Vô Tận?

3. Necessarily, the majority must think in terms of “doors” and the requirements for their passage.

3. Tất nhiên, đa số phải suy nghĩ theo các “cánh cửa” và những yêu cầu để đi qua chúng.

4. Notice that the Tibetan speaks of the Higher Way as a “determining factor” in the life of the initiate of the third degree. The word, “determination” suggests will, which is rapidly increasing in potency after the third degree is passed. Great will combined with love will be required of the one who seeks to pass the “needles eye”.

4. Hãy lưu ý rằng Chân sư Tây Tạng nói về Con Đường Cao Siêu như một “yếu tố quyết định” trong đời sống của điểm đạo đồ cấp độ thứ ba. Từ “sự quyết định” gợi đến ý chí, vốn đang gia tăng nhanh chóng về quyền năng sau khi cấp độ thứ ba được vượt qua. Người tìm cách đi qua “lỗ kim” sẽ cần có ý chí lớn lao kết hợp với bác ái.

5. The particular Higher Path which one is destined to tread—for such treading is a matter of “monadic destiny”—is an impelling (and, perhaps, even a compelling) factor in the life of the initiate of the third degree. That the Path is destined does not, however, mean that it will be trodden. Mistakes can be made.

5. Con Đường Cao Siêu đặc thù mà người ta được định mệnh an bài để bước đi—vì việc bước đi ấy là vấn đề của “định mệnh chân thần”—là một yếu tố thúc đẩy, và có lẽ thậm chí là một yếu tố cưỡng bách, trong đời sống của điểm đạo đồ cấp độ thứ ba. Tuy nhiên, việc Con Đường được định mệnh an bài không có nghĩa là nó sẽ được bước đi. Sai lầm vẫn có thể xảy ra.

Though the treading of these Paths are yet, for him (the initiate of the third degree), experiences in the relatively distant future, the substance (i.e., vibratory influence) of these Paths begin to exert their effect because the monad, itself, is becoming increasingly influential. I suspect that the particular destined Path to be freely chosen, is determined by the ray and origin of the monad. At least this ray is related to the Path which it is right and correct for the initiate of the sixth degree to follow. Note the paradox that there is one correct Path (the right Path) and yet the choice of Path is a completely free choice. As we one day achieve Mastership, it will be for us to resolve this apparent contradiction.

Dù đối với y, tức điểm đạo đồ cấp độ thứ ba, việc bước đi trên các Con Đường này vẫn còn là những kinh nghiệm trong tương lai tương đối xa, chất liệu, tức ảnh hưởng rung động, của các Con Đường này bắt đầu tạo tác động, vì chính chân thần đang ngày càng có ảnh hưởng. Tôi ngờ rằng Con Đường định mệnh đặc thù cần được tự do chọn lựa được xác định bởi cung và nguồn gốc của chân thần. Ít nhất, cung này liên hệ với Con Đường mà điểm đạo đồ cấp độ thứ sáu đúngchính xác phải đi theo. Hãy lưu ý nghịch lý rằng có một Con Đường chính xác duy nhất, tức Con Đường đúng, nhưng việc chọn Con Đường lại là một lựa chọn hoàn toàn tự do. Khi một ngày nào đó chúng ta đạt địa vị Chân sư, việc giải quyết mâu thuẫn dường như này sẽ thuộc về chúng ta.

6. The Tibetan speaks of the Transfiguration, and the “new glory” that pours through the transfigured initiate. Glory might be defined as a great ‘harmonic vibratory enhancement’. Everything in the initiate’s higher nature is enhanced, its frequency increased. The increase of frequency, however, is not a cacophonous overstimulation (as has been earlier experienced in relation to the lunar vehicles), but an harmonious unification of mutually enhancing energies resulting in a great outpouring of radiation.

6. Chân sư Tây Tạng nói về Sự Biến hình và “vinh quang mới” tuôn qua điểm đạo đồ đã được biến hình. Vinh quang có thể được định nghĩa là một “sự tăng cường rung động hài hòa” lớn lao. Mọi điều trong bản chất cao của điểm đạo đồ đều được tăng cường, tần số của nó được nâng lên. Tuy nhiên, sự gia tăng tần số không phải là một sự kích thích quá mức hỗn loạn, như đã từng được kinh nghiệm trước đó liên quan đến các vận cụ thái âm, mà là một sự hợp nhất hài hòa của những năng lượng hỗ tương tăng cường lẫn nhau, dẫn đến một sự tuôn đổ bức xạ lớn lao.

7. This glory is also, quite simply, a great intensification within the human energy system of light from the Solar Angel and spiritual triad, and even the monad itself adds its quota to the stimulation. It is the light aspect of the monad which is first encountered in the process of taking the solar initiations, with the intensification of the love and will aspects reserved for succeeding initiations—the fourth and fifth.

7. Vinh quang này cũng, nói một cách rất đơn giản, là một sự tăng cường lớn lao trong hệ thống năng lượng con người của ánh sáng từ Thái dương Thiên Thần và Tam Nguyên Tinh Thần; và ngay cả chính chân thần cũng đóng góp phần của nó vào sự kích thích ấy. Chính phương diện ánh sáng của chân thần được gặp trước tiên trong tiến trình trải qua các cuộc điểm đạo thái dương, trong khi sự tăng cường của các phương diện bác ái và ý chí được dành cho những cuộc điểm đạo kế tiếp—thứ tư và thứ năm.

8. I find it almost surprising that the initiate is said to be released from “every type of grip by either the personality or the soul”. Certainly the grip of the personality upon the consciousness has been defeated, for both Mars and the Moon have been symbolically subdued, and the personality no longer acts as a lunar and obstructive force once this first of solar initiations has been achieved.

8. Tôi thấy gần như đáng ngạc nhiên khi nói rằng điểm đạo đồ được giải phóng khỏi “mọi kiểu kìm giữ của phàm ngã hoặc linh hồn”. Chắc chắn sự kìm giữ của phàm ngã đối với tâm thức đã bị đánh bại, vì cả Sao Hỏa lẫn Mặt Trăng đều đã được khuất phục về mặt biểu tượng, và phàm ngã không còn tác động như một mãnh lực thái âm và cản trở khi cuộc điểm đạo đầu tiên trong các cuộc điểm đạo thái dương này đã được thành tựu.

But freedom from the grip of the soul as well? Perhaps, here, we are dealing with an ideal—a desirable state of freedom which the third degree initiate experiences once he has made certain important internal determinations which liberate him to successfully pursue the fourth degree, at which point all the eighteen lower subplanes must be relinquished. Before that point, the grip of the soul upon the third degree initiate may still be a factor to be reckoned with, and he may still fail the test, thus becoming the “rich young man who went sadly away” for the very reason that he was serving soul behest rather than the far more impersonal Divine Plan accessed upon the planes of the spiritual triad.

Nhưng cũng tự do khỏi sự kìm giữ của linh hồn sao? Có lẽ ở đây chúng ta đang đề cập đến một lý tưởng—một trạng thái tự do đáng mong muốn mà điểm đạo đồ cấp độ thứ ba kinh nghiệm sau khi y đã thực hiện một số quyết định nội tâm quan trọng, giải phóng y để theo đuổi thành công cấp độ thứ tư, khi ấy toàn bộ mười tám cõi phụ thấp phải được từ bỏ. Trước điểm đó, sự kìm giữ của linh hồn đối với điểm đạo đồ cấp độ thứ ba vẫn có thể là một yếu tố cần được tính đến, và y có thể vẫn thất bại trong thử thách, do đó trở thành “chàng thanh niên giàu có đã buồn rầu bỏ đi”, chính vì y đang phụng sự mệnh lệnh của linh hồn thay vì Thiên Cơ vô ngã hơn rất nhiều, được tiếp cận trên các cõi của Tam Nguyên Tinh Thần.

9. Perhaps, as well, at the actual climaxing moment of the third degree the initiate is free of all grip of the soul, and clearly sees the way ahead, but must, during the interval between the third and fourth, prove that this sensed freedom and vision is a reality, and hence the struggle—for it is a great struggle for the third degree initiate to renounce all.

9. Có lẽ cũng vậy, vào đúng khoảnh khắc cực điểm thực sự của cấp độ thứ ba, điểm đạo đồ tự do khỏi mọi sự kìm giữ của linh hồn và thấy rõ con đường phía trước; nhưng trong khoảng thời gian giữa cấp độ thứ ba và thứ tư, y phải chứng minh rằng sự tự do và tầm nhìn đã cảm nhận này là một thực tại, và vì thế có cuộc tranh đấu—bởi đối với điểm đạo đồ cấp độ thứ ba, từ bỏ tất cả là một cuộc tranh đấu lớn lao.

10. Then follows this important sentence:

10. Kế đó là câu quan trọng này:

“For the first time, the goal of the higher Way and the attainment of Nirvana (as the Oriental calls it) appears before him, and he knows that no forms and no spiritual complexes and no pull by either soul or form, or by both united, can have any effect upon his attaining his final destination”.

“Lần đầu tiên, mục tiêu của Con Đường cao hơn và sự thành tựu Niết Bàn, như người phương Đông gọi, hiện ra trước y; và y biết rằng không hình tướng nào, không phức hợp tinh thần nào, không sức kéo nào của linh hồn hay hình tướng, hoặc của cả hai hợp lại, có thể gây bất kỳ ảnh hưởng nào đối với việc y đạt tới đích đến cuối cùng”.

It is said that “Nirvana is but the beginning of the endless Way”. Of course, in a finite universe, the Way cannot be, strictly speaking, “endless”, but for all practical purposes, and in terms of human “time”, it is so. The appreciation of the real meaning of Nirvana begins, therefore, after the taking of the third degree.

Người ta nói rằng “Niết Bàn chỉ là khởi đầu của Con Đường Vô Tận”. Dĩ nhiên, trong một vũ trụ hữu hạn, nói nghiêm ngặt, Con Đường không thể là “vô tận”; nhưng xét theo mọi mục đích thực tiễn và theo “thời gian” của con người, nó là như vậy. Do đó, sự cảm nhận ý nghĩa thực sự của Niết Bàn bắt đầu sau khi trải qua cấp độ thứ ba.

Because the number three, in rayological terms, is resonant with the number five, the initiate, after the third degree, is put en rapport with the energy of the fifth degree and the atmic plane—the plane which has been called the “Nirvanic” plane. We must remember that in former days, the Great Decision was taken by the Master of the fifth degree and not by the Chohan of the sixth. In those earlier days (and under the former initiatory dispensation), the Master would see and choose the Higher Path to follow. Under our present initiatory dispensation the requirements have been raised and the choice deferred until the sixth degree.

Vì số ba, theo cung học, cộng hưởng với số năm, nên sau cấp độ thứ ba, điểm đạo đồ được đặt trong sự giao cảm với năng lượng của cấp độ thứ năm và cõi atma—cõi đã được gọi là cõi “Niết Bàn”. Chúng ta phải nhớ rằng trong những ngày trước kia, Đại Quyết Định được Chân sư cấp độ thứ năm thực hiện, chứ không phải bởi vị Chưởng Quản cấp độ thứ sáu. Trong những ngày xưa ấy, và dưới cơ chế điểm đạo trước kia, Chân sư sẽ thấy và chọn Con Đường Cao Siêu để đi theo. Dưới cơ chế điểm đạo hiện nay của chúng ta, các yêu cầu đã được nâng cao và sự lựa chọn được hoãn lại cho đến cấp độ thứ sáu.

11. It is important to realize that the transfigured initiate knows that no forms or spiritual complexes can hold him back from his eventual destination. Both (either separately or together) will, necessarily, be overcome. Nevertheless, once he descends from the inner initiatory event and the vision of his future which it confers, he will have a fight on his hands. The fourth degree has its own very exacting burning ground which, it might be said, ‘reduces extension to a point and consciousness to essential life’. That he will succeed, he knows. How he will succeed is a matter for grave experiment.

11. Điều quan trọng là nhận ra rằng điểm đạo đồ đã được biến hình biết rằng không hình tướng hay phức hợp tinh thần nào có thể giữ y lại khỏi đích đến cuối cùng. Cả hai, dù riêng rẽ hay cùng nhau, tất yếu sẽ bị vượt qua. Tuy nhiên, một khi y đi xuống khỏi sự kiện điểm đạo bên trong và tầm nhìn về tương lai mà sự kiện ấy ban cho, y sẽ có một cuộc chiến trong tay. Cấp độ thứ tư có vùng đất cháy rất khắc nghiệt riêng của nó, có thể nói là “thu giảm sự mở rộng thành một điểm và tâm thức thành sự sống tinh yếu”. Y biết rằng mình sẽ thành công. Bằng cách nào y sẽ thành công là vấn đề của một cuộc thực nghiệm hệ trọng.

12. How might we define a “spiritual complexes”? Perhaps, as special and individual orientations towards the spiritual path, or as preferred methods of spiritual attainment. These, though useful along the way, can be part of the panoply of an elevated individualism, and are related to “personal wisdom” (long accumulated) which inheres in the causal body.

12. Chúng ta có thể định nghĩa “các phức hợp tinh thần” như thế nào? Có lẽ là những định hướng đặc thù và cá nhân đối với con đường tinh thần, hoặc là những phương pháp thành tựu tinh thần được ưa thích. Những điều này, dù hữu ích trên đường đi, có thể là một phần của toàn bộ trang bị của một chủ nghĩa cá nhân nâng cao, và liên hệ với “minh triết cá nhân”, được tích lũy từ lâu, vốn nằm trong thể nguyên nhân.

13. Only the energies of the spiritual triad and, ultimately, of the spirit itself are safe guides in the attainment of the higher initiatory achievements. Soul (considered in a limited sense) and form can ever threaten to pull the initiate off the Path which leads to still higher objectives. Personality and soul perspectives are still, respectively, personal or supra-personal rather than transcendent. The transcendent point of view, in this case, pertains to the revelations of the spiritual triad and spirit, from which perspectives the mind, heart and will of God-the-Logos stand increasingly revealed. The distortions and refractions of personalism and reflections and lesser refractions of ‘supra-personalism’ are left behind.

13. Chỉ các năng lượng của Tam Nguyên Tinh Thần và, sau cùng, của chính tinh thần mới là những người dẫn đường an toàn trong việc đạt tới các thành tựu điểm đạo cao hơn. Linh hồn, xét theo nghĩa giới hạn, và hình tướng luôn có thể đe dọa kéo điểm đạo đồ rời khỏi Con Đường dẫn đến những mục tiêu còn cao hơn. Các viễn cảnh của phàm ngã và linh hồn vẫn lần lượt mang tính cá nhân hoặc siêu cá nhân, hơn là siêu việt. Trong trường hợp này, quan điểm siêu việt thuộc về những mặc khải của Tam Nguyên Tinh Thần và tinh thần; từ các viễn cảnh ấy, trí tuệ, trái tim và Ý Chí của Thượng đế-Ngôi Lời ngày càng hiển lộ. Những méo mó và khúc xạ của chủ nghĩa cá nhân, cùng các phản chiếu và khúc xạ thấp hơn của “chủ nghĩa siêu cá nhân”, đều bị bỏ lại phía sau.

14. As we are all still involved in the task of building ‘supra-personalism’ (that which must be relinquished by the transfigured initiate as he faces the fourth degree), I think we can see how much remains to be done.

14. Vì tất cả chúng ta vẫn còn đang tham dự vào công việc xây dựng “chủ nghĩa siêu cá nhân”, điều mà điểm đạo đồ đã Biến hình phải từ bỏ khi đối diện với lần điểm đạo thứ tư, chúng ta có thể thấy còn rất nhiều việc phải làm.

I would like for a moment to refer here to the door symbology as the initiate begins to grasp the inner meaning of those simple words. For long the teaching, given in the clear cold light, anent the door and the emphasis put upon the presentation of the door lying ahead of the aspirant has been made familiar, but that has been working with the lower aspects of the symbolism, even if aspirants did not realise it; they have been taught the fact of the light in the head, which is the personality correspondence to the clear cold light to which I refer. At the very centre of that light, as many aspirants know theoretically or factually by inconstant experience, is a centre or point of dark indigo blue—midnight blue. Note the significance of this in view of what I have been saying anent the “dark night,” the midnight hour, the zero hour in the life of the soul. That centre is in reality an opening, a door leading somewhere, a way of escape, a place through which the soul imprisoned in the body can emerge and pass into higher states of consciousness, untrammelled by form limitations; it has also been called “the funnel or the channel for the sound”; it has been named the “trumpet through which the escaping A.U.M. can pass.” The ability to use this door or channel is brought about by the practice of alignment; hence the emphasis laid upon this exercise in the attempt to train aspirants and disciples.

Tôi muốn trong giây lát đề cập ở đây đến biểu tượng cánh cửa, khi điểm đạo đồ bắt đầu nắm bắt ý nghĩa bên trong của những lời giản dị ấy. Từ lâu, giáo huấn được ban trong ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo về cánh cửa, cùng sự nhấn mạnh đặt vào việc trình bày cánh cửa nằm phía trước người chí nguyện, đã trở nên quen thuộc; nhưng điều đó đã vận dụng các phương diện thấp hơn của biểu tượng, dù những người chí nguyện đã không nhận ra điều ấy. Họ đã được dạy về sự kiện ánh sáng trong đầu, vốn là tương ứng nơi phàm ngã của ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo mà tôi đang đề cập. Ngay tại trung tâm của ánh sáng ấy, như nhiều người chí nguyện biết về mặt lý thuyết hoặc thực sự qua kinh nghiệm không đều đặn, có một trung tâm hay điểm màu xanh chàm sẫm—xanh nửa đêm. Hãy lưu ý thâm nghĩa của điều này xét theo những gì tôi đã nói về “đêm tối”, giờ nửa đêm, giờ số không trong đời sống của linh hồn. Trung tâm ấy thực ra là một lối mở, một cánh cửa dẫn đến một nơi nào đó, một con đường thoát ra, một nơi qua đó linh hồn bị giam giữ trong thể xác có thể xuất hiện và đi vào những trạng thái tâm thức cao hơn, không bị ràng buộc bởi các giới hạn của hình tướng; nó cũng được gọi là “cái phễu hay kênh dẫn cho âm thanh”; nó được gọi là “chiếc kèn qua đó A.U.M. đang thoát ra có thể đi qua”. Khả năng sử dụng cánh cửa hay kênh dẫn này được tạo ra nhờ thực hành chỉnh hợp; vì thế có sự nhấn mạnh đặt vào bài thực hành này trong nỗ lực huấn luyện những người chí nguyện và các đệ tử.

1. The preceding paragraph is both explicitly and implicitly very occult. A strong hint is here given about the cultivation of the technical spiritual practices which lead, factually, to release onto the higher planes.

1. Đoạn trước vừa minh nhiên vừa hàm ẩn rất huyền bí. Ở đây có một gợi ý mạnh mẽ về việc vun bồi các thực hành tinh thần có tính kỹ thuật, vốn thực sự dẫn đến sự giải thoát lên các cõi cao hơn.

2. The Tibetan is here deepening the usual presentation of the truth, and giving the occult physicaletheric correspondence to a teaching which has been thought to refer principally to the inner worlds. Of course, the inner worlds are still very much involved in the “door symbolism”, but occult facts are given which concretize the idea of the “door” and bring it far closer to the etheric-physical plane.

2. Chân sư Tây Tạng ở đây đang đào sâu cách trình bày thông thường về chân lý, và đưa ra tương ứng hồng trầndĩ thái huyền bí cho một giáo huấn vốn được cho là chủ yếu liên hệ đến các thế giới bên trong. Dĩ nhiên, các thế giới bên trong vẫn còn liên hệ rất nhiều đến “biểu tượng cánh cửa”, nhưng các sự kiện huyền bí được đưa ra nhằm cụ thể hóa ý tưởng về “cánh cửa” và đưa nó đến gần hơn nhiều với cõi dĩ thái-hồng trần.

3. The new teachings on occultism (teachings which will put practical occultism within the grasp of those who have been properly prepared) will focus on many apparently simple etheric-physical facts which place the attainment of various occult “siddhis” or powers within reach of the disciplined practitioner. These are the secrets most carefully guarded because they render occultism operational.

3. Các giáo huấn mới về huyền bí học, những giáo huấn sẽ đặt huyền bí học thực hành trong tầm với của những ai đã được chuẩn bị đúng đắn, sẽ tập trung vào nhiều sự kiện dĩ thái-hồng trần có vẻ đơn giản, đặt việc đạt được nhiều “thần thông” hay quyền năng huyền bí khác nhau trong tầm tay của người thực hành có kỷ luật. Đây là những bí mật được canh giữ cẩn mật nhất, vì chúng khiến huyền bí học trở nên có thể vận hành.

4. The Tibetan is telling us that the “door” to the inner worlds and, thence, to the higher planes is to be found in the center of the etheric head.

4. Chân sư Tây Tạng đang nói với chúng ta rằng “cánh cửa” vào các thế giới bên trong và, từ đó, lên các cõi cao hơn, được tìm thấy ở trung tâm của đầu dĩ thái.

5. The light in the head is, essentially, an etheric phenomenon, and the “door” of midnight blue is part of that phenomenon—an instrument to be used.

5. Ánh sáng trong đầu về bản chất là một hiện tượng dĩ thái, và “cánh cửa” màu xanh nửa đêm là một phần của hiện tượng ấy—một khí cụ để được sử dụng.

6. Apprehension of this door is at first inconstant, but any occult meditator can ascertain its reality. It may appear now and then; awareness of its presence may be promoted by visualization; but, at length, after much practice, its presence becomes a constant registration and its utilization for access to the inner and higher worlds becomes possible at will.

6. Ban đầu, sự nhận biết cánh cửa này không đều đặn, nhưng bất kỳ người hành thiền huyền bí nào cũng có thể xác định thực tại của nó. Nó có thể thỉnh thoảng xuất hiện; sự nhận thức về hiện diện của nó có thể được thúc đẩy bằng sự hình dung; nhưng cuối cùng, sau nhiều thực hành, hiện diện của nó trở thành một ghi nhận thường hằng, và việc sử dụng nó để tiếp cận các thế giới bên trong và cao hơn trở nên khả thi theo ý muốn.

7. This indigo door is a factor in the initiation process. The “dark night of the soul” may be relieved by the finding of this door through correct meditation, because the “dark night” is a condition of feeling cut off or bereft of higher contact, and this indigo door admits of contact with those states for which the imprisoned human soul longs. The “dark night” is, however, based upon the inconstant experience of the higher dimensions and the painful contrast of one’s habitual focus with the revelations of those higher dimensions.

7. Cánh cửa màu chàm này là một yếu tố trong tiến trình điểm đạo. “Đêm tối của linh hồn” có thể được xoa dịu nhờ tìm thấy cánh cửa này qua tham thiền đúng đắn, bởi “đêm tối” là một tình trạng cảm thấy bị cắt đứt hoặc mất đi sự tiếp xúc cao hơn, và cánh cửa màu chàm này cho phép tiếp xúc với những trạng thái mà linh hồn nhân loại bị giam giữ hằng khao khát. Tuy nhiên, “đêm tối” dựa trên kinh nghiệm không đều đặn về các chiều kích cao hơn, và trên sự tương phản đau đớn giữa trọng tâm quen thuộc của bản thân với những mặc khải của các chiều kích cao hơn ấy.

8. The fact that the door is “indigo blue” or “midnight blue” connects it to the second ray and, hence, to the expansion of consciousness, for the second ray is the ray of consciousness. In this paragraph, we are being given a piece of technical information which will factually assist with the expansion of consciousness.

8. Sự kiện cánh cửa có màu “xanh chàm” hay “xanh nửa đêm” nối kết nó với cung hai, và do đó với sự mở rộng tâm thức, vì cung hai là cung của tâm thức. Trong đoạn này, chúng ta được trao cho một mẩu thông tin kỹ thuật sẽ thực sự hỗ trợ việc mở rộng tâm thức.

9. In some teachings, this door of indigo has been called the “cave”. The thought of the “cave” suggests the “cave of initiation”. Thus, we are learning that the true cave of initiation is not a physical place or chamber in which an initiation ceremony is being enacted, but a location and energy-condition within the subtle anatomy of the human being. Even the awareness that such a door exists will bring it into focus and will promote its eventual utilization.

9. Trong một số giáo huấn, cánh cửa màu chàm này được gọi là “hang động”. Tư tưởng về “hang động” gợi đến “hang động điểm đạo”. Như vậy, chúng ta đang học rằng hang động điểm đạo đích thực không phải là một nơi chốn hay căn phòng hồng trần trong đó một nghi lễ điểm đạo đang được cử hành, mà là một vị trí và tình trạng năng lượng bên trong cấu trúc tinh vi của con người. Ngay cả sự nhận thức rằng có một cánh cửa như thế cũng sẽ đưa nó vào trọng tâm và thúc đẩy việc sử dụng nó về sau.

10. Right alignment, steadily practiced and maintained, will reveal the door. Hence, the importance of alignment. Well should we heed the Tibetan’s admonition that we seldom present conditions in meditation through which our Solar Angel can work. Often the Tibetan speaks of how weak is the alignment of certain disciples; He may well be speaking to us, and we should see to it that correction is made. Certainly, the incentive is sufficient.

10. Sự chỉnh hợp đúng đắn, được thực hành và duy trì đều đặn, sẽ mặc khải cánh cửa. Do đó, chỉnh hợp có tầm quan trọng lớn. Chúng ta nên chú tâm đến lời khuyên của Chân sư Tây Tạng rằng hiếm khi chúng ta tạo ra trong tham thiền những điều kiện qua đó Thái dương Thiên Thần của chúng ta có thể làm việc. Chân sư Tây Tạng thường nói về sự chỉnh hợp yếu ớt của một số đệ tử; rất có thể Ngài đang nói với chúng ta, và chúng ta cần bảo đảm rằng sự điều chỉnh được thực hiện. Chắc chắn, động lực như thế là đủ.

11. The Tibetan speaks of the significance of the “midnight hour”. The “midnight hour” is the hour of initiation—the hour of the symbolic “midnight sun”. The midnight hour occurs when one can find and use the door of midnight blue. Clearly, much practice is needed, and the disciple is “initiate” before he is “initiated”.

11. Chân sư Tây Tạng nói về thâm nghĩa của “giờ nửa đêm”. “Giờ nửa đêm” là giờ điểm đạo—giờ của “mặt trời nửa đêm” biểu tượng. Giờ nửa đêm xảy ra khi người ta có thể tìm thấy và sử dụng cánh cửa màu xanh nửa đêm. Rõ ràng, cần nhiều thực hành, và đệ tử là “điểm đạo đồ” trước khi y “được điểm đạo”.

12. It may be remembered that the Tibetan gives a Full Moon meditation in which a disk of golden light is to be visualized, this disk having an indigo center. Within this indigo center the beckoning Master is to be found. We have been taught that, through proper meditation, it is possible to find the “Master within the Heart”. May it not also be possible that we can find the ‘Master within the Head”?

12. Có thể nhớ rằng Chân sư Tây Tạng đưa ra một bài tham thiền Trăng Tròn, trong đó cần hình dung một đĩa ánh sáng vàng, đĩa ấy có trung tâm màu chàm. Bên trong trung tâm màu chàm này có thể tìm thấy Chân sư đang vẫy gọi. Chúng ta đã được dạy rằng, qua tham thiền đúng đắn, có thể tìm thấy “Chân sư trong Tâm”. Phải chăng cũng có thể rằng chúng ta có thể tìm thấy “Chân sư trong Đầu”?

13. We know from normal physical plane life that caves are there to be explored. What occult treasures would be discovered by those who seek to penetrate the indigo disk and explore the ‘cave’ to which it leads. Secrets anent the development of many of the higher siddhis (conscious clairvoyance and clairaudience, for instance) are suggested in the esoteric hints given above by the Tibetan.

13. Từ đời sống bình thường trên cõi hồng trần, chúng ta biết rằng hang động có đó để được khám phá. Những kho tàng huyền bí nào sẽ được những người tìm cách xuyên vào đĩa màu chàm và khám phá “hang động” mà nó dẫn đến phát hiện? Các bí mật liên quan đến sự phát triển của nhiều thần thông cao hơn, chẳng hạn thông nhãn và thông nhĩ hữu thức, được gợi ra trong những gợi ý huyền bí mà Chân sư Tây Tạng đã đưa ra ở trên.

14. As for the “zero of midnight hour”, the word “zero” is interesting. First of all, it suggests the shape of the indigo disk. The “zero” and the “o” are both associated with a combination of the first and second rays. The rounded “o” can be considered a symbol of the inclusive second ray. Interestingly, Rudolph Steiner assigns the vowel, “o” to Jupiter, a principal conveyer of the second ray and a planet which rules all round or spherical things. The “o” is also a symbol of completion and abstraction. The indigo door is the concrete way into the state of abstraction. Samadhi, in which the energies are gathered into the highest head center, and there retained in a state of abstraction, may well be a state entered through this indigo door. The idea of the “eye of the needle” also has its correspondences to the indigo door, and their association would repay contemplation.

14. Về “số không của giờ nửa đêm”, từ “số không” rất thú vị. Trước hết, nó gợi đến hình dạng của đĩa màu chàm. “Số không” và chữ “o” đều liên hệ với sự kết hợp của cung một và cung hai. Chữ “o” tròn có thể được xem là biểu tượng của cung hai bao gồm. Thú vị thay, ông Ru-đôn-phơ Xtai-nơ gán nguyên âm “o” cho Sao Mộc, một tác nhân truyền dẫn chính của cung hai và là hành tinh cai quản mọi vật tròn hay hình cầu. Chữ “o” cũng là biểu tượng của sự hoàn tất và trừu xuất. Cánh cửa màu chàm là con đường cụ thể đi vào trạng thái trừu xuất. Đại định, trong đó các năng lượng được quy tụ vào trung tâm đầu cao nhất và được giữ lại ở đó trong một trạng thái trừu xuất, rất có thể là một trạng thái được bước vào qua cánh cửa màu chàm này. Ý tưởng về “lỗ kim” cũng có những tương ứng với cánh cửa màu chàm, và sự liên hệ giữa chúng đáng được chiêm ngưỡng.

15. We are told that that centre is really an opening or way of escape leading to dimensions of life free from form. The antahkarana is also called a “way of escape”. We must, therefore, conclude that the building of the antahkarana is related to the indigo door and to the cave. Probably, access to the base of the antahkarana is achieve through the door and the cave. This invites experiment for the more experienced meditators.

15. Chúng ta được cho biết rằng trung tâm ấy thực sự là một lối mở hay con đường thoát ra dẫn đến các chiều kích của sự sống tự do khỏi hình tướng. Antahkarana cũng được gọi là một “con đường thoát ra”. Do đó, chúng ta phải kết luận rằng việc xây dựng antahkarana có liên hệ với cánh cửa màu chàm và với hang động. Có lẽ việc tiếp cận chân đế của antahkarana đạt được qua cánh cửa và hang động. Điều này mời gọi sự thử nghiệm nơi những người hành thiền nhiều kinh nghiệm hơn.

16. There is no question that physical plane life is a prison for most. It is to be made into a glorious garden, but this is difficult to do unless one visits the “Gardener” Who dwells upon the higher planes. Perhaps the door to the Gardener’s home is the indigo door.

16. Không nghi ngờ gì rằng đời sống cõi hồng trần là một nhà tù đối với đa số. Nó cần được biến thành một khu vườn huy hoàng, nhưng điều này khó thực hiện nếu người ta không viếng thăm “Đấng Làm Vườn” cư ngụ trên các cõi cao hơn. Có lẽ cánh cửa dẫn đến nhà của Đấng Làm Vườn chính là cánh cửa màu chàm.

17. Because the soul, no matter what its conditioning ray, is a center essentially responsive to and conditioned by the second ray (the color of which is indigo or midnight blue), constant cultivation of contact and interplay with the soul (Solar Angel) will, at length, reveal the door.

17. Bởi vì linh hồn, bất kể cung nào đang tác động lên nó, về bản chất là một trung tâm đáp ứng với và chịu ảnh hưởng của cung hai, màu của cung này là xanh chàm hay xanh nửa đêm, nên việc không ngừng vun bồi sự tiếp xúc và tương tác với linh hồn, tức Thái dương Thiên Thần, cuối cùng sẽ mặc khải cánh cửa.

18. Another association is importance. In A Treatise on Cosmic Fire and in A Treatise on White Magic we are given a number of requirements for the opening of the third eye—the “Eye of Shiva”, the “synthesis eye”. May it not be that the full opening of the third eye and the full opening of the indigo door are largely equivalent matters. At a certain period in the life of every disciple, he realizes that he has been standing outside the inner temple door, and he seeks to enter. Purification and occult meditation are the ways in.

18. Một liên hệ khác cũng quan trọng. Trong Luận về Lửa Vũ Trụ và trong Luận về Chánh Thuật chúng ta được trao một số yêu cầu cho việc mở con mắt thứ ba—“Con Mắt của Shiva”, “con mắt tổng hợp”. Phải chăng việc mở trọn vẹn con mắt thứ ba và việc mở trọn vẹn cánh cửa màu chàm phần lớn là những điều tương đương? Vào một giai đoạn nhất định trong đời sống của mỗi đệ tử, y nhận ra rằng y đã đứng bên ngoài cánh cửa đền thờ nội tâm, và y tìm cách bước vào. Sự thanh lọc và tham thiền huyền bí là những con đường đi vào.

19. The other names for this indigo center are also most interesting and occult:

19. Những tên gọi khác của trung tâm màu chàm này cũng hết sức thú vị và huyền bí:

“‘the funnel or the channel for the sound’; it has been named the ‘trumpet through which the escaping A.U.M. can pass’.”

“‘cái phễu hay kênh dẫn cho âm thanh’; nó được gọi là ‘chiếc kèn qua đó A.U.M. đang thoát ra có thể đi qua’.”

The idea of the funnel is found in both these descriptions, for the shape of the “trumpet” contains the funnel. A funnel is, geometrically, a cone—a point expanding to an opening. A truncated cone would have a small opening also expanding to a much larger opening. The indigo door and cave are like the small opening, admitting to ever expanding possibilities of contact on the higher planes or dimensions.

Ý tưởng về cái phễu được tìm thấy trong cả hai mô tả này, vì hình dạng của “chiếc kèn” chứa cái phễu. Về hình học, cái phễu là một hình nón—một điểm mở rộng thành một lối mở. Một hình nón cụt cũng có một lối mở nhỏ mở rộng thành một lối mở lớn hơn nhiều. Cánh cửa và hang động màu chàm giống như lối mở nhỏ, cho phép đi vào những khả năng tiếp xúc ngày càng mở rộng trên các cõi hay chiều kích cao hơn.

The “sound” can be considered either the Word of the Soul (the O.M.) or the still higher “Sound” (the “O”). The door or cave not only admits that which is low to that which is high, but vice-versa as well. Heaven must come to earth, and the higher sounds (the O.M. and the O) must descend into the world of the A.U.M.

“Âm thanh” có thể được xem là Linh từ của Linh hồn, tức O.M., hoặc “Âm thanh” còn cao hơn, tức “O”. Cánh cửa hay hang động không chỉ cho phép cái thấp đi vào cái cao, mà cũng cho phép điều ngược lại. Trời phải đến với đất, và các âm thanh cao hơn, tức O.M. và O, phải giáng xuống thế giới của A.U.M.

When considering the trumpet or funnel, it is also possible to think of the door or cave as the larger opening, and the soul as the trumpeter, blowing the notes of the O.M. or O into the lower worlds. Both models work.

Khi xét đến chiếc kèn hay cái phễu, cũng có thể nghĩ về cánh cửa hay hang động như lối mở lớn hơn, và linh hồn như người thổi kèn, thổi các âm điệu của O.M. hay O vào các thế giới thấp hơn. Cả hai mô hình đều có hiệu lực.

20. In later Rules we will study the relation between the O, the O.M. and the A.U.M. For now it is sufficient to realize that the A.U.M. has at least two meanings. In one way it is an all-inclusive Word, containing spirit, soul and personality (the A, the U and the M, respectively). In another way, is the symbol of that state of consciousness which is limited by the perceptions of the world of personality. Thus it is that the A.U.M. (the limited consciousness) must “escape” via the funnel or trumpet to be expanded in the higher worlds, where it will realize that it is not just personality consciousness, but soul consciousness and spirit awareness as well.

20. Trong các Quy luật sau, chúng ta sẽ nghiên cứu mối liên hệ giữa O, O.M. và A.U.M. Hiện giờ, chỉ cần nhận ra rằng A.U.M. có ít nhất hai ý nghĩa. Theo một cách, nó là một Linh từ bao gồm tất cả, chứa đựng tinh thần, linh hồn và phàm ngã, lần lượt là A, U và M. Theo một cách khác, nó là biểu tượng của trạng thái tâm thức bị giới hạn bởi các nhận thức của thế giới phàm ngã. Vì vậy, A.U.M., tức tâm thức giới hạn, phải “thoát ra” qua cái phễu hay chiếc kèn để được mở rộng trong các thế giới cao hơn, nơi nó sẽ nhận ra rằng nó không chỉ là tâm thức phàm ngã, mà còn là tâm thức linh hồn và sự nhận thức tinh thần nữa.

21. Thus, the A.U.M. is both a sound and a condition of consciousness. Usually we think that the lower ego or lower consciousness must escape its limited condition and rise into a fuller state of consciousness. From another perspective (that of sound), the lower word or sound, must rise, merge and blend with the higher Words and Sounds (first the O.M. and then the O). Interestingly, the higher and simpler sounds contain the lower and more complex sounds. The greater, in this case, is the simpler. The O contains the O.M. and the A.U.M. We can also infer that the “A” contains the “O”, and all inferior sounds as well—such as the O.M. and the A.U.M.

21. Như vậy, A.U.M. vừa là một âm thanh vừa là một tình trạng tâm thức. Thông thường, chúng ta nghĩ rằng phàm ngã hay tâm thức thấp phải thoát khỏi tình trạng giới hạn của nó và vươn lên một trạng thái tâm thức đầy đủ hơn. Từ một viễn cảnh khác, tức viễn cảnh của âm thanh, linh từ hay âm thanh thấp phải vươn lên, hợp nhất và hòa trộn với các Linh từ và Âm thanh cao hơn, trước hết là O.M. rồi đến O. Thú vị thay, các âm thanh cao hơn và đơn giản hơn chứa đựng các âm thanh thấp hơn và phức tạp hơn. Cái lớn hơn, trong trường hợp này, là cái đơn giản hơn. O chứa đựng O.M. và A.U.M. Chúng ta cũng có thể suy ra rằng “A” chứa đựng “O”, và mọi âm thanh thấp hơn nữa—như O.M. và A.U.M.

22. From a technical standpoint, the A.U.M and the O.M. are considered “words”. The “O” is considered the Sound. Also, the “A” must be considered a Sound even more advanced that the “O”.

22. Theo quan điểm kỹ thuật, A.U.M. và O.M. được xem là “các linh từ”. “O” được xem là Âm thanh. Ngoài ra, “A” phải được xem là một Âm thanh còn tiến xa hơn cả “O”.

23. The mysteries of sound are very great and will be revealed with the mysteries of initiation. Yet the apparatus to produce these sounds is always in our possession. We have lungs, vocal cords, a mouth and a tongue, plus the ability to produce sound on the mental plane without the use of these particular organs. The “Mysteries of Initiation”, in fact, inhere within our very body of manifestation. Thus far, we use our organs of speech, song and thought largely unconsciously, but this largely unconscious approach is ripe for change. The in-coming of the fourth ray in 2025 will bring with it methods by which words and song can be used to access the higher planes. The building of the antahkarana will thus be facilitated.

23. Các bí nhiệm của âm thanh rất lớn lao và sẽ được mặc khải cùng với các bí nhiệm của điểm đạo. Tuy nhiên, bộ máy để tạo ra những âm thanh này luôn ở trong quyền sở hữu của chúng ta. Chúng ta có phổi, dây thanh, miệng và lưỡi, cộng thêm khả năng tạo ra âm thanh trên cõi trí mà không cần sử dụng những cơ quan đặc thù này. Thật ra, “Các Bí Nhiệm Điểm Đạo” nằm ngay trong chính thể biểu hiện của chúng ta. Cho đến nay, chúng ta sử dụng các cơ quan ngôn ngữ, ca xướng và tư tưởng của mình phần lớn một cách vô thức, nhưng cách tiếp cận phần lớn vô thức này đã chín muồi để thay đổi. Sự đi vào của cung bốn vào năm 2025 sẽ mang theo các phương pháp qua đó ngôn từ và ca xướng có thể được dùng để tiếp cận các cõi cao hơn. Nhờ vậy, việc xây dựng antahkarana sẽ được tạo thuận lợi.

24. Let us remember that both Mercury and Venus are involved in the building of the antahkarana, and Mercury, the principal planet of the fourth ray, is also the planet of speech. When combined with Venus, song results. Venus, as well, confers sensitivity to color, which can be used with speech and song (or chanting) to strengthen the building and use of the antahkarana.

24. Chúng ta hãy nhớ rằng cả Sao Thủy và Sao Kim đều liên quan đến việc xây dựng antahkarana, và Sao Thủy, hành tinh chính của cung bốn, cũng là hành tinh của ngôn từ. Khi kết hợp với Sao Kim, kết quả là ca xướng. Sao Kim cũng ban cho sự nhạy cảm với màu sắc, điều có thể được sử dụng cùng với lời nói và ca xướng, hay tụng xướng, để củng cố việc xây dựng và sử dụng antahkarana.

25. In all these matters we are speaking of attunement (which is another way of speaking of alignment). Note the “tune” in “attunement”. The art of attunement will be greatly enhanced in the coming cycle of the fourth ray.

25. Trong tất cả những vấn đề này, chúng ta đang nói về sự hòa điệu, vốn là một cách khác để nói về chỉnh hợp. Hãy lưu ý yếu tố “điệu” trong “hòa điệu”. Nghệ thuật hòa điệu sẽ được tăng cường rất nhiều trong chu kỳ sắp đến của cung bốn.

C. The light in the head, which is the personality correspondence to clear cold light in the head; at the very centre of that light is a centre or point of dark indigo blue (cf. RI, p. 42)

C. Ánh sáng trong đầu, vốn là tương ứng nơi phàm ngã của ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo trong đầu; ngay tại trung tâm của ánh sáng ấy có một trung tâm hay điểm màu xanh chàm sẫm (xem RI, tr. 42)

Once alignment has been achieved, it will be realised [Page 43] (remembering the symbolism of the head, the light and the central opening) that many occasions arise in meditation when “behind the group there stands the door; before them opens out the Way.” This is the lower correspondence of the higher initiate-experience with which our rule is dealing.

Một khi đã đạt được sự chỉnh hợp, người ta sẽ nhận ra [Page 43], khi nhớ đến biểu tượng của đầu, ánh sáng và lối mở trung tâm, rằng trong tham thiền có nhiều dịp khi “phía sau nhóm có cánh cửa đứng đó; trước mặt họ, Con Đường mở ra.” Đây là tương ứng thấp của kinh nghiệm điểm đạo cao hơn mà quy luật của chúng ta đang bàn đến.

1. Still more occult hints are given.

1. Lại có thêm những gợi ý huyền bí được đưa ra.

2. The first alignment suggested is that with the soul (or Solar Angel). During this type of alignment, it is possible to pass through the door and enter the cave. Then, indeed, the door of admittance stands “behind”, and the consciousness of the meditator is preoccupied with new dimensions of awareness.

2. Sự chỉnh hợp đầu tiên được gợi ý là chỉnh hợp với linh hồn, hay Thái dương Thiên Thần. Trong loại chỉnh hợp này, có thể đi qua cánh cửa và bước vào hang động. Khi ấy, thật vậy, cánh cửa nhập vào đứng “phía sau”, và tâm thức của người hành thiền bận tâm với các chiều kích nhận thức mới.

3. But what might be this higher “door”? Can we think of it as the “jewel in the lotus”, itself, which, once penetrated, admits the consciousness of the initiate into the world of the spiritual triad and into greater responsiveness to the monad?

3. Nhưng “cánh cửa” cao hơn này có thể là gì? Liệu chúng ta có thể nghĩ về nó như chính “viên ngọc trong hoa sen”, một khi được xuyên thấu, sẽ cho phép tâm thức của điểm đạo đồ đi vào thế giới của Tam Nguyên Tinh Thần và vào sự đáp ứng lớn hơn đối với chân thần?

4. Another and intermediary “door” might be the mental unit, found upon the fourth subplane of the mental plane. This door would still be located within the eighteen lower subplanes, but at their summit. Passage through this door would admit into causal consciousness. Some Vedantins call the causal body the “body of bliss”, but “bliss” is a relative term.

4. Một “cánh cửa” khác và trung gian có thể là đơn vị hạ trí, được tìm thấy trên cõi phụ thứ tư của cõi trí. Cánh cửa này vẫn nằm trong mười tám cõi phụ thấp, nhưng ở đỉnh cao của chúng. Việc đi qua cánh cửa này sẽ cho phép bước vào tâm thức nguyên nhân. Một số trường phái triết học Ấn Độ gọi thể nguyên nhân là “thể chí phúc”, nhưng “chí phúc” là một thuật ngữ tương đối.

5. The Tibetan tells us that we are often “glib”, which means superficial in our speech and, hence, in our thought. It is not so easy a matter to achieve true causal consciousness. While it is very possible to align with the causal body and be impressed by its influence, to actually see within the causal periphery, and experience its content at first hand, requires a form of higher psychism (which involves passing through a higher ‘door’—in this case the door on the fourth subplane of the mental plane).

5. Chân sư Tây Tạng nói với chúng ta rằng chúng ta thường “nói trơn tru”, nghĩa là hời hợt trong lời nói và, do đó, trong tư tưởng. Đạt được tâm thức nguyên nhân đích thực không phải là việc dễ dàng. Dù rất có thể chỉnh hợp với thể nguyên nhân và chịu ấn tượng bởi ảnh hưởng của nó, nhưng để thực sự thấy bên trong chu vi nhân thể, và trực tiếp kinh nghiệm nội dung của nó, đòi hỏi một dạng năng lực thông linh cao hơn, bao hàm việc đi qua một “cánh cửa” cao hơn—trong trường hợp này là cánh cửa trên cõi phụ thứ tư của cõi trí.

6. It might be said that passage through any door is facilitated, not by concentration upon the door itself, but by trying to bring into focus that which lies beyond the door. By tuning out all things which lie on the closer side of the door, that which lies on the farther side of the door begins to come into view.

6. Có thể nói rằng việc đi qua bất kỳ cánh cửa nào được tạo thuận lợi không phải bằng cách tập trung vào chính cánh cửa, mà bằng cách cố gắng đưa vào trọng tâm điều nằm phía bên kia cánh cửa. Bằng cách gạt khỏi sự chú tâm mọi điều nằm ở phía gần hơn của cánh cửa, điều nằm ở phía xa hơn của cánh cửa bắt đầu hiện ra trong tầm nhìn.

7. Thus, passage requires both a tuning-out and a tuning-in. Consequently, it is achieved through an exclusionary consciousness followed by an inclusionary consciousness. The power to concentrate is ever the key. Concentration may be considered the very first of the stages of meditation, but it is necessitated in every phase. Alignment, also, is both the beginning and the end.

7. Do đó, việc đi qua đòi hỏi vừa sự gạt bỏ khỏi chú tâm vừa sự hòa điệu vào. Vì thế, nó đạt được nhờ một tâm thức loại trừ, theo sau là một tâm thức bao gồm. Quyền năng tập trung luôn là chìa khóa. Tập trung có thể được xem là chính giai đoạn đầu tiên của tham thiền, nhưng nó cần thiết trong mọi giai đoạn. Chỉnh hợp cũng vừa là khởi đầu vừa là kết thúc.

D. The cold light reveals ‘a terrible though beautiful experiment’ which requires to build a bridge (the Antahkarana) between the door which lies behind and the door which lies ahead (cf. RI, p. 43)

D. Ánh sáng lạnh lẽo mặc khải “một cuộc thí nghiệm đáng sợ nhưng đẹp đẽ”, đòi hỏi xây dựng một cây cầu, tức antahkarana, giữa cánh cửa nằm phía sau và cánh cửa nằm phía trước (xem RI, tr. 43)

Again, this time in relation to the soul, comes the repetition of the discovery of the Door, its use and its appearance, finally, behind the initiate. This time the door must be found upon the mental plane, and not as earlier upon the etheric level; this is brought about by the aid of the soul and of the lower mind and through the revealing power of the clear cold light of the reason. When discovered, the “revelation of a terrible though beautiful experiment” faces the initiate. He finds that this time alignment is not his need, but the definite undertaking of a creative work—the building of a bridge between the door which lies behind and the door which lies ahead. This involves the construction of what is technically the antahkarana, the rainbow bridge. This is built by the disciple-in-training upon the basis of his past experience; it is anchored in the past and firmly grounded in the highest, rightly oriented aspect of the personality. As the disciple then creatively works, he finds that there is a reciprocal action on the part of the Presence, the Monad—the unity which stands behind the Door. He discovers that one span of the bridge (if I might so call it) is being built or pushed forward from the other side of the gulf separating him from experience in the life of the Spiritual Triad. This Spiritual Triad is essentially, to the initiate, what the threefold personality is to the man in physical incarnation.

Một lần nữa, lần này trong liên hệ với linh hồn, lại có sự lặp lại việc khám phá Cánh Cửa, việc sử dụng nó và cuối cùng là sự xuất hiện của nó phía sau điểm đạo đồ. Lần này, cánh cửa phải được tìm thấy trên cõi trí, chứ không như trước kia trên cấp độ dĩ thái; điều này được thực hiện nhờ sự trợ giúp của linh hồn và của Hạ trí, và qua quyền năng mặc khải của ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo của lý trí. Khi được khám phá, “sự mặc khải về một cuộc thí nghiệm đáng sợ nhưng đẹp đẽ” đối diện với điểm đạo đồ. Y nhận thấy rằng lần này nhu cầu của y không phải là chỉnh hợp, mà là việc dứt khoát đảm nhận một công trình sáng tạo—xây dựng một cây cầu giữa cánh cửa nằm phía sau và cánh cửa nằm phía trước. Điều này bao hàm việc kiến tạo điều được gọi một cách kỹ thuật là antahkarana, Cây cầu vồng. Cây cầu này được đệ tử đang được huấn luyện xây dựng trên nền tảng kinh nghiệm quá khứ của y; nó được neo giữ trong quá khứ và được đặt nền vững chắc trong phương diện cao nhất, được định hướng đúng đắn của phàm ngã. Khi đệ tử làm việc một cách sáng tạo, y nhận thấy có một tác động hỗ tương từ phía Đấng Hiện Diện, Chân thần—sự hợp nhất đứng phía sau Cánh Cửa. Y khám phá rằng một nhịp của cây cầu, nếu tôi có thể gọi như vậy, đang được xây dựng hay đẩy tới từ phía bên kia của vực ngăn cách y với kinh nghiệm trong đời sống của Tam Nguyên Tinh Thần. Đối với điểm đạo đồ, Tam Nguyên Tinh Thần này về bản chất là điều mà phàm ngã tam phân là đối với con người đang lâm phàm nơi cõi hồng trần.

1. This paragraph deals with the discovery of one of the further “doors”. We might say that this door admits into the three subplanes of the higher mental plane, the part of the mental plane upon which the causal body is found and upon which the Solar Angel focuses its lowest aspects.

1. Đoạn này bàn đến việc khám phá một trong những “cánh cửa” xa hơn. Chúng ta có thể nói rằng cánh cửa này cho phép đi vào ba cõi phụ của Cõi thượng trí, phần của cõi trí nơi thể nguyên nhân được tìm thấy và nơi Thái dương Thiên Thần tập trung các phương diện thấp nhất của mình.

2. The method of its discovery is interesting and important:

2. Phương pháp khám phá nó rất thú vị và quan trọng:

“this is brought about by the aid of the soul and of the lower mind and through the revealing power of the clear cold light of the reason”.

“điều này được thực hiện nhờ sự trợ giúp của linh hồn và của Hạ trí, và qua quyền năng mặc khải của ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo của lý trí”.

The mind, at this stage of evolution, is capable of intensity and “intention” (the first phase in the building of the antahkarana). The soul (Solar Angel) is accessible and is progressively illuminating the mind. The power to reason abstractly is growing, and man knows (at least by enlightened inference) something of the higher worlds. As well, flashes of intuition may be sparking across the ‘gap’ between the spiritual triad and the highest aspects of progressively soul-illumined personal consciousness.

Ở giai đoạn tiến hoá này, thể trí có khả năng đạt tới cường độ và “ý định”, tức giai đoạn đầu tiên trong việc xây dựng antahkarana. Linh hồn, tức Thái dương Thiên Thần, có thể được tiếp cận và đang dần dần soi sáng thể trí. Quyền năng lý luận trừu tượng đang gia tăng, và con người biết, ít nhất qua suy luận được soi sáng, phần nào về các thế giới cao hơn. Đồng thời, những tia chớp trực giác có thể đang lóe qua “khoảng cách” giữa Tam Nguyên Tinh Thần và các phương diện cao nhất của tâm thức cá nhân ngày càng được linh hồn soi sáng.

3. Passage through the first of these higher doors admits into the arupa levels of the mental plane, and man knows himself as a soul on its own plane (and not merely as a human soul in incarnation).

3. Việc đi qua cánh cửa đầu tiên trong số các cánh cửa cao hơn này cho phép bước vào các cấp độ vô sắc của cõi trí, và con người biết mình là linh hồn trên cõi riêng của nó, chứ không chỉ là linh hồn nhân loại đang nhập thể.

4. Passage through a still higher door (should we call it the “needle’s eye”?), which is accessible (to a growing extent) after the third initiation is taken, may give some familiarity with the buddhic plane, but the consciousness cannot establish itself permanently upon this plane until the causal body is destroyed and the development of the antahkarana is well progressed.

4. Việc đi qua một cánh cửa còn cao hơn nữa, liệu chúng ta có nên gọi đó là “lỗ kim” chăng, vốn ngày càng có thể tiếp cận sau khi trải qua lần điểm đạo thứ ba, có thể đem lại phần nào sự quen thuộc với cõi Bồ đề; nhưng tâm thức không thể an lập thường trực trên cõi này cho đến khi thể nguyên nhân tan rã và sự phát triển của antahkarana đã tiến triển tốt.

5. Once the world of the causal body is somewhat entered (i.e., the world of accumulated virtue), the possibility of a further achievement is revealed. The door which the Tibetan references is very probably connected with the fourfold mental unit on the fourth subplane of the mental plane. Passage through it admits to the soul but also, once the antahkarana is built to triadal realms. The thought that the “jewel in the lotus” may also be a kind of door should also be pondered.

5. Một khi thế giới của thể nguyên nhân đã phần nào được bước vào, tức thế giới của đức hạnh tích lũy, khả năng đạt tới một thành tựu xa hơn được mặc khải. Cánh cửa mà Chân sư Tây Tạng nhắc đến rất có thể liên hệ với đơn vị hạ trí tứ phân trên cõi phụ thứ tư của cõi trí. Việc đi qua nó cho phép tiếp cận linh hồn nhưng cũng, một khi antahkarana được xây dựng, tiếp cận các cõi của Tam nguyên. Ý tưởng rằng “viên ngọc trong hoa sen” cũng có thể là một loại cánh cửa cũng nên được suy ngẫm.

6. The Tibetan speaks of the discovery of second door (connected to the mental unit), and presumably of passage through it. Two worlds are revealed through this passage: first, the world of the soul (seen directly) but then, and increasingly, the vision of the spiritual triad which the antahkarana accesses. Immediately below, the Tibetan speaks of the consequences of discovering the second door:

6. Chân sư Tây Tạng nói về việc khám phá cánh cửa thứ hai, liên hệ với đơn vị hạ trí, và có lẽ về việc đi qua nó. Hai thế giới được mặc khải qua lối đi này: trước hết, thế giới của linh hồn, được thấy trực tiếp; rồi sau đó, và ngày càng nhiều hơn, là tầm nhìn về Tam Nguyên Tinh Thần mà antahkarana cho phép tiếp cận. Ngay dưới đây, Chân sư Tây Tạng nói về các hệ quả của việc khám phá cánh cửa thứ hai:

“When discovered, the ‘revelation of a terrible though beautiful experiment’ faces the initiate”.

“Khi được khám phá, ‘sự mặc khải về một cuộc thí nghiệm đáng sợ nhưng đẹp đẽ’ đối diện với điểm đạo đồ”.

Not only are the beauties of the soul field revealed, but inconstant flashes of intuition reveal the livingness of a world beyond the world of accumulated virtue (or of “tested accumulations”, as Master Morya has put it). The attempt merely to align will not, in and of itself, produce the ability to pass into that world. Right alignment has led into the world of the soul, but sustained alignment plus an ongoing creative effort are needed for passage into the world of the spiritual triad. The “ongoing creative effort” is, of course, the building of the antahkarana.

Không chỉ những vẻ đẹp của lĩnh vực linh hồn được mặc khải, mà những lóe sáng bất thường của trực giác còn mặc khải tính sống động của một thế giới vượt ngoài thế giới của đức hạnh tích lũy, hay của “những tích lũy đã được thử thách”, như Chân sư Morya đã diễn đạt. Nỗ lực chỉ nhằm chỉnh hợp, tự nó và bởi chính nó, sẽ không tạo ra khả năng bước vào thế giới ấy. Sự chỉnh hợp đúng đắn đã dẫn vào thế giới của linh hồn, nhưng sự chỉnh hợp bền vững cộng với một nỗ lực sáng tạo liên tục là điều cần thiết để đi vào thế giới của Tam Nguyên Tinh Thần. “Nỗ lực sáng tạo liên tục” ấy, dĩ nhiên, chính là việc xây dựng antahkarana.

6. It is one thing to be told in books that one should build the antahkarana, and quite another to realize within oneself (through rare glimpses of lofty spiritual possibilities) the necessity for doing so.

6. Được sách vở bảo rằng người ta nên xây dựng antahkarana là một chuyện, còn tự mình nhận ra, qua những thoáng thấy hiếm hoi về các khả năng tinh thần cao cả, sự cần thiết phải làm điều ấy lại là chuyện khác.

7. What is the nature of this “terrible through beautiful experiment”? Everyone must answer this for himself or herself, but a few ideas can be offered.

7. Bản chất của “cuộc thử nghiệm đáng sợ nhưng đẹp đẽ” này là gì? Mỗi người phải tự trả lời điều ấy cho chính mình, nhưng có thể nêu ra vài ý tưởng.

8. It is an “experiment” because there is no sure and certain prescription for success. The way across the gap has been created countless times by those who have gone before, but each individual must weave the antahkarana out of his own substance, and find within himself the way of doing so. Yes, formulas and Words of Power can be given, but the way of rendering these effective must be individually wrought out. The adventuring disciple does not know what he or she will encounter. The process calls for stepping into the unknown—in an way, into an abyss, a “no man’s land” which lies between personal consciousness and impersonal consciousness, and, yet, this mid-way consciousness is not exactly the consciousness of the soul which is “bypasses” (to use the Tibetan’s interesting world).

8. Đó là một “cuộc thử nghiệm” vì không có một đơn thuốc chắc chắn và bảo đảm nào cho thành công. Con đường băng qua khoảng cách ấy đã được tạo lập vô số lần bởi những người đi trước, nhưng mỗi cá nhân phải dệt nên antahkarana từ chính chất liệu của mình, và tìm thấy trong chính mình cách thực hiện điều đó. Đúng vậy, các công thức và các Quyền năng từ có thể được trao truyền, nhưng cách làm cho chúng trở nên hữu hiệu phải được từng cá nhân tự rèn đúc. Người đệ tử dấn thân không biết mình sẽ gặp điều gì. Tiến trình này đòi hỏi phải bước vào điều chưa biết, theo một nghĩa nào đó, vào một vực thẳm, một “vùng không thuộc về ai” nằm giữa tâm thức cá nhân và tâm thức phi cá nhân; tuy vậy, tâm thức ở giữa này không hẳn là tâm thức của linh hồn, vốn bị “đi vòng qua”, nếu dùng từ thú vị của Chân sư Tây Tạng.

9. The terror exists because if the experiment is successful, the disciple will “lose his all”, renouncing all that is familiar in favor of the unproven advantages of an unknown world (or dimension). Eventually, one’s spiritual ‘home’, the causal body, will be destroyed, and then what?

9. Nỗi kinh sợ hiện hữu vì nếu cuộc thử nghiệm thành công, người đệ tử sẽ “mất tất cả của mình”, từ bỏ mọi điều quen thuộc để đổi lấy những lợi ích chưa được chứng nghiệm của một thế giới, hay một chiều kích, chưa biết. Cuối cùng, “ngôi nhà” tinh thần của con người, tức thể nguyên nhân, sẽ bị phá hủy; rồi sau đó là gì?

The individual who is established in personal consciousness, or in soul-infused personal consciousness is, at least, on familiar ground. But he is being asked, in the process of building and using the antahkarana, to symbolically “step off the cliff”, and proceed to the “other side” on an apparently insubstantial ‘cable of light’. Surely a developing esoteric sense, which establishes unquestionably the reality of very subtle realities, is necessary if the courage to venture forth is to be summoned. Fortunately, with correct occult meditation, study and service, this esoteric sense does develop, and that which hitherto had seemed unreal and insubstantial takes on a reality far more vivid than the worlds of form left behind.

Cá nhân đã an lập trong tâm thức cá nhân, hoặc trong tâm thức cá nhân được linh hồn thấm nhuần, ít nhất vẫn đang đứng trên nền đất quen thuộc. Nhưng trong tiến trình xây dựng và sử dụng antahkarana, y được yêu cầu, theo biểu tượng, phải “bước khỏi vách đá” và tiến sang “bờ bên kia” trên một “sợi cáp ánh sáng” dường như không có thực chất. Chắc chắn, một giác quan huyền bí đang phát triển, xác lập không thể nghi ngờ thực tại của những thực tại rất vi tế, là điều cần thiết nếu muốn khơi dậy lòng can đảm để mạo hiểm tiến tới. May thay, với tham thiền huyền bí đúng đắn, học hỏi và phụng sự, giác quan huyền bí này thật sự phát triển, và điều trước kia có vẻ không thật và không có thực chất nay mang lấy một thực tại sống động hơn rất nhiều so với các thế giới hình tướng đã bỏ lại phía sau.

10. Why is the experiment “beautiful”? Reality is always beautiful (i.e., archetypal) when compared to glamor and illusion. However beautiful the causal body and its virtuous contents may seem to the average disciple (and this body is relatively beautiful—even “gorgeous” according to the Tibetan), its beauty is as nothing compared to that of the world of the spiritual triad. We must remember that stepping through the door which leaves the causal body behind, will lead to the buddhic plane which, is the plane of beauty and harmony.

10. Tại sao cuộc thử nghiệm ấy lại “đẹp đẽ”? Thực tại luôn luôn đẹp đẽ, tức có tính nguyên mẫu, khi so với ảo cảm và ảo tưởng. Dù thể nguyên nhân cùng những nội dung đức hạnh của nó có thể hiện ra đẹp đẽ đến đâu đối với người đệ tử trung bình, và thể này quả thật tương đối đẹp, thậm chí “lộng lẫy” theo lời Chân sư Tây Tạng, vẻ đẹp của nó chẳng là gì khi so với vẻ đẹp của thế giới Tam Nguyên Tinh Thần. Chúng ta phải nhớ rằng bước qua cánh cửa bỏ lại thể nguyên nhân phía sau sẽ dẫn đến cõi Bồ đề, cõi của vẻ đẹp và hài hòa.

The now initiate is stepping into the world of God’s Design, harmoniously portrayed upon the buddhic plane. It is not until one can apprehend somewhat the buddhic plane that the beauty of right relations can be seen and understood. These are not just right relations between human beings, but between all beings on this planet, and eventually beyond. We remember that the second ray (so powerful upon the buddhic plane and so related to the sixth principle, buddhi) is the ray of “Beauty in Relationship”. Thus, simply, the antahkarana gives sustained access to the buddhic plane, the first real world of Beauty (of which all lower forms of beauty are but a somewhat distorted reflection).

Điểm đạo đồ lúc này đang bước vào thế giới của Thiết Kế của Thượng đế, được phác họa một cách hài hòa trên cõi Bồ đề. Chỉ khi nào người ta phần nào lĩnh hội được cõi Bồ đề thì vẻ đẹp của các mối tương quan đúng đắn mới có thể được thấy và thấu hiểu. Đây không chỉ là những mối tương quan đúng đắn giữa các hữu thể nhân loại, mà giữa mọi hữu thể trên hành tinh này, và cuối cùng còn vượt xa hơn nữa. Chúng ta nhớ rằng cung hai, vốn rất mạnh trên cõi Bồ đề và liên hệ mật thiết với nguyên khí thứ sáu, Bồ đề, là cung của “Vẻ Đẹp trong Tương Quan”. Như vậy, nói giản dị, antahkarana đem lại lối vào bền vững đến cõi Bồ đề, thế giới thực sự đầu tiên của Vẻ Đẹp, mà mọi hình thức vẻ đẹp thấp hơn chỉ là một phản chiếu phần nào bị méo mó.

11. Note that the antahkarana is not built in the abstract, but is anchored in the man’s past, utilizing this past as a foundation. Nothing really is being left behind; all is to be used, supporting the ascending energies of the soul infused personality and offered up to the descending higher energies which will be contacted as the building process is successful.

11. Hãy lưu ý rằng antahkarana không được xây dựng trong trừu tượng, mà được neo vào quá khứ của con người, sử dụng quá khứ ấy như một nền tảng. Thật ra không có gì bị bỏ lại phía sau; tất cả đều phải được sử dụng, nâng đỡ những năng lượng đang thăng lên của phàm ngã được linh hồn thấm nhuần, và được dâng lên cho những năng lượng cao hơn đang giáng xuống, vốn sẽ được tiếp xúc khi tiến trình xây dựng thành công.

12. As well, the bridge is “firmly grounded in the highest, rightly oriented aspect of the personality”. We come to realize that the personality cannot be dismissed as only the opponent of the soul/Solar Angel, but is one day to become the cooperative subrayof the soul. In Esoteric Psychology, Vol. II, the Tibetan speaks of the higher aspects of the personality ray. It is this which emerges as the process of soul-infusion progresses, and it is these higher aspects of the personality (oriented upward) which provide the grounding for the antahkarana. The higher aspects of the personality ray are focussed in and around the mental unit on the fourth subplane of the mental plane. In order for this grounding to occur, the human being must be mentally polarized. He must know how to think and how to sustain that thought in a condition which is illumined by the soul and impressionable to a higher will. There is no building of the antahkarana for those who are not somewhat mentally illumined; hence, real success with this process begins to occur near the time of the second initiation when an illumined mind and spiritual intelligence are in evidence.

12. Đồng thời, cây cầu ấy được “đặt nền vững chắc trong phương diện cao nhất, được định hướng đúng đắn của phàm ngã”. Chúng ta dần nhận ra rằng phàm ngã không thể bị gạt bỏ như chỉ là đối thủ của linh hồn hay Thái dương Thiên Thần, mà một ngày kia sẽ trở thành cung phụhợp tác của linh hồn. Trong Tâm Lý Học Nội Môn, Quyển II, Chân sư Tây Tạng nói về các phương diện cao hơn của cung phàm ngã. Chính điều này hiển lộ khi tiến trình linh hồn thấm nhuần tiến triển, và chính các phương diện cao hơn ấy của phàm ngã, được hướng thượng, cung cấp nền tảng cho antahkarana. Các phương diện cao hơn của cung phàm ngã được tập trung trong và quanh đơn vị hạ trí trên cõi phụ thứ tư của cõi trí. Để sự đặt nền này xảy ra, con người phải phân cực trí tuệ. Y phải biết cách tư duy và biết cách duy trì tư tưởng ấy trong một trạng thái được linh hồn soi sáng và có thể tiếp nhận ấn tượng từ một ý chí cao hơn. Không có việc xây dựng antahkarana đối với những ai chưa được soi sáng trí tuệ phần nào; vì thế, thành công thực sự trong tiến trình này bắt đầu xảy ra gần thời điểm lần điểm đạo thứ hai, khi một thể trí được soi sáng và trí tuệ tinh thần đã hiện rõ.

13. A strong hint about the nature of the door under discussion is then given, for it is the monad, or the Presence which stands as a unity behind the door. We see therefore, that the door discussed is not just the door into the causal realm, but a door which at least admits into the highest level of the mental plane (the first mental subplane) which is the lowest plane of the spiritual triad. Once one begins to deal with the spiritual triad, one is, in a way, dealing with the monad, for the spiritual triad is the expression or ‘personality’ of the monad.

13. Khi ấy, một gợi ý mạnh mẽ về bản chất của cánh cửa đang được bàn đến được đưa ra, vì chính chân thần, hay Đấng Hiện Diện, đứng như một nhất thể phía sau cánh cửa. Do đó, chúng ta thấy rằng cánh cửa được bàn đến không chỉ là cánh cửa đi vào cõi nguyên nhân, mà là một cánh cửa ít nhất cho phép đi vào cấp độ cao nhất của cõi trí, tức cõi phụ trí tuệ thứ nhất, vốn là cõi thấp nhất của Tam Nguyên Tinh Thần. Một khi bắt đầu đề cập đến Tam Nguyên Tinh Thần, người ta, theo một nghĩa nào đó, đang đề cập đến chân thần, vì Tam Nguyên Tinh Thần là biểu hiện hay “phàm ngã” của chân thần.

14. Then, something very interesting is discussed—the idea of reciprocity in the building of the antahkarana.

14. Kế đó, một điều rất thú vị được bàn đến: ý tưởng về tính hỗ tương trong việc xây dựng antahkarana.

“He discovers that one span of the bridge (if I might so call it) is being built or pushed forward from the other side of the gulf separating him from experience in the life of the Spiritual Triad”.

“Y phát hiện rằng một nhịp của cây cầu, nếu Tôi có thể gọi như vậy, đang được xây dựng hoặc được đẩy tới từ phía bên kia của vực ngăn cách y với kinh nghiệm trong sự sống của Tam Nguyên Tinh Thần”.

We see that the spiritual triad is very much alive and has a life of its own. It is not as if a human being has to go ‘there’ to help make the Triad live. The monad/triad is responding evocatively to the invocation which the building of the antahkarana by the man represents. This is where faith enters. The tiny human unit does not have to attempt to enter the higher worlds “all by himself”. The higher aspects of himself (monad/triad) are also at work to ensure that the process is successful. Thus, there is a sense of ‘entering into’ and yet being ‘entered into’.

Chúng ta thấy rằng Tam Nguyên Tinh Thần rất sống động và có sự sống riêng của nó. Không phải như thể một con người phải đi “đến đó” để giúp làm cho Tam nguyên sống. Chân thần hay Tam nguyên đang đáp ứng theo cách gợi lên đối với sự khẩn cầu mà việc con người xây dựng antahkarana biểu thị. Đây là nơi đức tin bước vào. Đơn vị nhân loại nhỏ bé không phải cố gắng bước vào các thế giới cao hơn “hoàn toàn một mình”. Các phương diện cao hơn của chính mình, tức chân thần hay Tam nguyên, cũng đang hoạt động để bảo đảm tiến trình thành công. Như vậy, có một cảm thức “đi vào” và đồng thời cũng “được đi vào”.

15. At first, (is seems reasonable to infer) it is the activity aspect of the monad working through triadal manas which pushes forward to meet the disciple’s rising invocation. Next the wisdom aspect of the monad through triadal buddhi makes its impact. Finally, the will aspect of the monad through triadal atma intrudes into the consciousness of the questing disciple, but only at and beyond the fourth degree.

15. Thoạt đầu, có vẻ hợp lý khi suy ra rằng chính phương diện hoạt động của chân thần, tác động qua manas tam nguyên, đẩy tới để gặp sự khẩn cầu đang vươn lên của người đệ tử. Kế đến, phương diện minh triết của chân thần, qua Bồ đề tam nguyên, tạo nên tác động của nó. Cuối cùng, phương diện ý chí của chân thần, qua atma tam nguyên, xâm nhập vào tâm thức của người đệ tử đang tìm cầu, nhưng chỉ ở lần điểm đạo thứ tư và sau đó.

16. When is the antahkarana process completed? In a way, never, until the universe itself is once again “all in all”, but for practical human purposes, we might say that this process is completed at the fifth initiation (an atmic initiation) at which time “Mercury and the Sun are one”. We remember that Mercury is the foremost ruler of the antahkarana. At the fifth degree the human consciousness is fully monadically infused. (The Master, let us remember, is still a “man” whereas a Chohan is not.) This, on a higher turn of the spiral, is an analogy to the soul-infused personality at the time of the third degree. The fourth and sixth degrees correspond, and always indicate a relinquishment of form. At the fourth degree the man becomes the spiritual triad on its own plane. At the sixth degree the man becomes the monad on its own plane.

16. Khi nào tiến trình antahkarana được hoàn tất? Theo một nghĩa nào đó, không bao giờ, cho đến khi chính vũ trụ một lần nữa trở thành “tất cả trong tất cả”; nhưng đối với các mục đích thực tiễn của nhân loại, chúng ta có thể nói rằng tiến trình này được hoàn tất ở lần điểm đạo thứ năm, một cuộc điểm đạo atma, khi “Sao Thủy và Mặt Trời là một”. Chúng ta nhớ rằng Sao Thủy là chủ tinh hàng đầu của antahkarana. Ở cấp độ thứ năm, tâm thức nhân loại được chân thần thấm nhuần trọn vẹn. Chân sư, chúng ta hãy nhớ, vẫn còn là một “con người”, trong khi một Chohan thì không. Điều này, trên một vòng xoắn cao hơn, là một tương đồng với phàm ngã được linh hồn thấm nhuần vào thời điểm cấp độ thứ ba. Các cấp độ thứ tư và thứ sáu tương ứng với nhau, và luôn luôn chỉ ra một sự từ bỏ hình tướng. Ở cấp độ thứ tư, con người trở thành Tam Nguyên Tinh Thần trên cõi riêng của nó. Ở cấp độ thứ sáu, con người trở thành chân thần trên cõi riêng của nó.

17. Would it make a difference to us if we realized that the building of the antahkarana is, essentially, a cooperative enterprise, being undertaken by two aspects of ourselves simultaneously?

17. Liệu điều đó có tạo nên khác biệt cho chúng ta không, nếu chúng ta nhận ra rằng việc xây dựng antahkarana, về bản chất, là một công trình hợp tác, được thực hiện đồng thời bởi hai phương diện của chính chúng ta?

18. The sense that one does not have to “do it all”, relaxes the ‘cramp’ of ego consciousness, and allows higher states of identification and higher perceptions of identity to supervene more easily.

18. Cảm thức rằng người ta không phải “làm tất cả” sẽ làm dịu sự co thắt của tâm thức chân ngã, và cho phép các trạng thái đồng nhất cao hơn cùng những nhận thức cao hơn về bản sắc dễ dàng xuất hiện hơn.

E. IDENTIFICATION as the complete unity which is finally achieved (cf. RI, p. 44)

E. SỰ ĐỒNG NHẤT như nhất thể trọn vẹn cuối cùng đạt được, xem Quy Luật Điểm Đạo, trang 44

I wonder if I have succeeded in giving you at least a general idea of the possibilities lying ahead of the disciple, and incited you to definite conscious response to those possibilities. I cannot do other than speak in terms of consciousness, even though the life of the Triad—leading in its turn to identification with the Monad, as the personality life leads eventually to soul control and expression—has naught to do with consciousness or sensitivity as those terms are [Page 44] commonly understood. Yet remember how, in all my teachings upon occult unfoldment, I have used the word IDENTIFICATION. This is the only word I have found which can in any way convey the complete unity which is finally achieved by those who develop a sense of unity, and who refuse to accept isolation; separateness then fades out entirely. The isolated unity achieved is unity with the Whole, with Being in its totality (and this cannot as yet convey much to you).

Tôi tự hỏi liệu Tôi đã thành công trong việc trao cho các bạn ít nhất một ý niệm tổng quát về những khả năng đang nằm phía trước người đệ tử, và khơi dậy nơi các bạn một đáp ứng hữu thức rõ ràng đối với những khả năng ấy hay chưa. Tôi không thể làm gì khác hơn là nói bằng những thuật ngữ của tâm thức, mặc dù sự sống của Tam nguyên, đến lượt nó dẫn đến sự đồng nhất với Chân thần, cũng như đời sống phàm ngã cuối cùng dẫn đến sự kiểm soát và biểu hiện của linh hồn, không liên quan gì đến tâm thức hay sự nhạy cảm như các thuật ngữ ấy thường được [Trang 44] hiểu. Tuy vậy, hãy nhớ rằng trong mọi giáo huấn của Tôi về sự khai mở huyền bí, Tôi đã dùng từ ĐỒNG NHẤT. Đây là từ duy nhất Tôi tìm thấy có thể, theo bất cứ cách nào, truyền đạt nhất thể trọn vẹn cuối cùng đạt được bởi những ai phát triển ý thức về nhất thể và từ chối chấp nhận sự cô lập; khi ấy tính chia rẽ hoàn toàn phai mất. Hợp Nhất Cô Lập đạt được là sự hợp nhất với Toàn Thể, với Bản Thể trong tính toàn vẹn của nó, và điều này hiện nay vẫn chưa thể truyền đạt nhiều cho các bạn.

1. The Tibetan ever seeks to widen the range of our thought and make real for us possibilities we almost certainly would not have conceived on our own. This vision of possibilities gives us new incentive and the courage to act upon it. There are so many ways of becoming distracted and preoccupied with circumstantial factors, but the vision lies ever on ahead, and helps to free us from attachments which delay. In the last analysis, all that has been given in the Ageless Wisdom Teaching is to speed us upon our way, at the same time rendering our service more genuine and effective.

1. Chân sư Tây Tạng luôn tìm cách mở rộng phạm vi tư tưởng của chúng ta và làm cho những khả năng mà gần như chắc chắn chúng ta sẽ không tự mình hình dung ra trở nên thực đối với chúng ta. Tầm nhìn về các khả năng này trao cho chúng ta động lực mới và lòng can đảm để hành động theo đó. Có rất nhiều cách khiến con người bị phân tâm và bận tâm bởi các yếu tố hoàn cảnh, nhưng tầm nhìn luôn nằm phía trước và giúp giải thoát chúng ta khỏi những ràng buộc gây trì hoãn. Xét đến cùng, tất cả những gì được trao trong Giáo Huấn Minh Triết Ngàn Đời đều nhằm thúc đẩy chúng ta trên con đường của mình, đồng thời làm cho sự phụng sự của chúng ta chân thực và hữu hiệu hơn.

2. We are often reminded that life within the spiritual triad and monad has nothing to do with consciousness—as that term is commonly understood. The qualifier is important, for consciousness in one form or another is a constant in cosmos—in fact, one of the members of the Primeval Universal Trinity.

2. Chúng ta thường được nhắc rằng sự sống trong Tam Nguyên Tinh Thần và chân thần không liên quan gì đến tâm thức, như thuật ngữ ấy được thường hiểu. Từ hạn định này rất quan trọng, vì tâm thức, dưới hình thức này hay hình thức khác, là một hằng số trong vũ trụ; thật ra, nó là một trong các thành viên của Tam Vị Vũ Trụ Nguyên Sơ.

3. Consciousness is based upon subject, object and the relation between, being most identified with the latter. Consciousness is the faculty by which we, the subject, ‘touch’ or become sensitive or impressionable to, the object. In all of cosmos, consciousness, generically, is the medium or method of contact.

3. Tâm thức đặt nền trên chủ thể, khách thể và mối quan hệ giữa hai bên, và được đồng hóa mạnh nhất với mối quan hệ sau cùng này. Tâm thức là năng lực nhờ đó chúng ta, với tư cách chủ thể, “chạm đến” hoặc trở nên nhạy cảm hay có thể tiếp nhận ấn tượng từ khách thể. Trong toàn vũ trụ, tâm thức, nói chung, là môi trường hay phương pháp tiếp xúc.

4. Yet a new form of consciousness (which we might not recognize as consciousness) develops after subject and object have been unified by means of contemplation. Then the stage is set for the emergence of what the Tibetan calls “life” instead of “consciousness”.

4. Tuy nhiên, một hình thức tâm thức mới, mà chúng ta có thể không nhận ra là tâm thức, phát triển sau khi chủ thể và khách thể đã được hợp nhất bằng chiêm ngưỡng. Khi ấy, sân khấu được dọn sẵn cho sự xuất hiện của điều mà Chân sư Tây Tạng gọi là “sự sống” thay vì “tâm thức”.

5. It is after this unification that the stage of identification emerges. The ordinary sense of differences and cleavages disappears, and every apparently separate thing becomes ‘resolvable’ into its Source. Can we look upon apparent difference and resolve it at will?

5. Chính sau sự hợp nhất này mà giai đoạn đồng nhất xuất hiện. Cảm thức thông thường về những khác biệt và phân ly biến mất, và mọi sự dường như riêng biệt đều trở nên có thể “quy giải” về Nguồn của nó. Chúng ta có thể nhìn vào khác biệt bề ngoài và quy giải nó theo ý chí không?

6. Identification is not a faculty or state associated with the consciousness within the causal body. In causal consciousness, there is a great sense of connectedness and harmony, but the sense of identicality is not yet developed. The realization ofidenticality is a triadal perception consummated, finally, within the monad, presumably at the sixth degree.

6. Đồng nhất không phải là một năng lực hay trạng thái gắn liền với tâm thức bên trong thể nguyên nhân. Trong tâm thức nguyên nhân, có một cảm thức lớn lao về sự liên kết và hài hòa, nhưng cảm thức về tính đồng nhất vẫn chưa được phát triển. Sự nhận thức vềtính đồng nhất là một tri giác tam nguyên được viên thành, sau cùng, bên trong chân thần, có lẽ ở cấp độ thứ sáu.

7. The Tibetan tells us that identification

7. Chân sư Tây Tạng nói với chúng ta rằng đồng nhất

“is the only word I have found which can in any way convey the complete unity which is finally achieved by those who develop a sense of unity, and who refuse to accept isolation; separateness then fades out entirely”.

“là từ duy nhất Tôi tìm thấy có thể, theo bất cứ cách nào, truyền đạt nhất thể trọn vẹn cuối cùng đạt được bởi những ai phát triển ý thức về nhất thể và từ chối chấp nhận sự cô lập; khi ấy tính chia rẽ hoàn toàn phai mất”.

Notice that on the way to identification the sense of unity must be developed. Effort is required. As well, the will is required, for the act of refusal (refusing to accept isolation) is an act of will.

Hãy lưu ý rằng trên đường đi đến đồng nhất, ý thức về nhất thể phải được phát triển. Nỗ lực là điều cần thiết. Đồng thời, ý chí cũng là điều cần thiết, vì hành vi từ chối, tức từ chối chấp nhận sự cô lập, là một hành vi của ý chí.

8. Three related phases indicate the progress of the expanding and identifying consciousness: Isolated Individuality, Isolated Identity and Isolated Unity. (cf. DINA I 717)

8. Ba giai đoạn liên hệ chỉ ra sự tiến bộ của tâm thức đang mở rộng và đang đồng nhất: Cá Thể Cô Lập, Bản Sắc Cô Lập và Hợp Nhất Cô Lập. xem Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới I, trang 717

9. How does one refuse to accept to accept isolation? Perhaps it is a matter of constantly, as it were, ‘pushing against’ the ring-pass-not of one’s consciousness. Perhaps it involves the ‘will-to-include’, characteristic of the second ray. Perhaps it involves such intense concentration upon the center that the isolative periphery disappears. There simply comes a time when one realizes that one is subject to the ‘curse’ of isolation, an apparently ineradicable factor in one’s daily consciousness. One then undertakes to deconstruct this consciousness, to dismantle it, so that its ‘difference-making’ faculty is no longer compulsively operative. Differences will still be perceived, but it will be realized that they are ‘no real differences’.

9. Làm thế nào người ta từ chối chấp nhận sự cô lập? Có lẽ đó là vấn đề liên tục, có thể nói, “đẩy vào” vòng-giới-hạn của tâm thức mình. Có lẽ nó bao hàm “ý chí-bao gồm”, đặc trưng của cung hai. Có lẽ nó bao hàm sự tập trung mãnh liệt đến mức vào trung tâm đến nỗi chu vi gây cô lập biến mất. Đơn giản là sẽ đến một lúc người ta nhận ra rằng mình đang chịu “lời nguyền” của sự cô lập, một yếu tố dường như không thể nhổ tận gốc trong tâm thức hằng ngày. Khi ấy người ta đảm nhận việc tháo gỡ tâm thức này, phá dỡ nó, để năng lực “tạo khác biệt” của nó không còn vận hành một cách cưỡng bách. Những khác biệt vẫn sẽ được tri nhận, nhưng người ta sẽ nhận ra rằng chúng “không phải là những khác biệt thực sự”.

10. There is a difference between “complete unity” and what we might call an ‘harmonious unity’. Complete unity is of the spiritual triad and, even more, of the monad. Harmonious unity is a soul realization fed by buddhic energy from the buddhi plane—the plane of harmony. The sense of identicality is missing from harmonious unity, yet such unity is still a very advanced state.

10. Có một khác biệt giữa “nhất thể trọn vẹn” và điều chúng ta có thể gọi là “nhất thể hài hòa”. Nhất thể trọn vẹn thuộc về Tam Nguyên Tinh Thần, và còn hơn nữa, thuộc về chân thần. Nhất thể hài hòa là một nhận thức của linh hồn được nuôi dưỡng bởi năng lượng Bồ đề từ cõi Bồ đề, cõi của hài hòa. Cảm thức về tính đồng nhất còn thiếu trong nhất thể hài hòa, tuy vậy nhất thể ấy vẫn là một trạng thái rất tiến bộ.

11. The Tibetan tells us,

11. Chân sư Tây Tạng nói với chúng ta,

“The isolated unity achieved is unity with the Whole, with Being in its totality (and this cannot as yet convey much to you).”

“Hợp Nhất Cô Lập đạt được là sự hợp nhất với Toàn Thể, với Bản Thể trong tính toàn vẹn của nó, và điều này hiện nay vẫn chưa thể truyền đạt nhiều cho các bạn.”

These are more of those “lovely, euphonious words”, and He is not very sanguine about our possibilities of understanding. Still, platitudinous though these thoughts may be, there arises within the initiate-to-be a determination that these states must be achieved. Anything less would be a falling short. Much of worldly effectiveness may be sacrificed during the arduous process of dissolving the known world for the sake of “unity with the Whole and with Being in its totality”. In my estimation, this can be successfully undertaken at the arhat initiation, the fourth—one of the “death” initiations. (“death unto life”). By the time the fifth initiation is taken, the world must be reconstituted and form utilized masterfully. Before initiation, the mountain; during initiation no mountain; after initiation, the mountain.

Đây lại là những “lời đẹp đẽ, du dương” ấy, và Ngài không mấy lạc quan về khả năng thấu hiểu của chúng ta. Tuy vậy, dù những tư tưởng này có vẻ sáo mòn đến đâu, trong người sắp trở thành điểm đạo đồ vẫn khởi lên một quyết tâm rằng các trạng thái này phải được đạt đến. Bất cứ điều gì kém hơn đều là thiếu sót. Phần lớn hiệu quả nơi thế gian có thể phải hy sinh trong tiến trình gian khổ làm tan rã thế giới đã biết vì “sự hợp nhất với Toàn Thể và với Bản Thể trong tính toàn vẹn của nó”. Theo đánh giá của tôi, điều này có thể được thực hiện thành công ở cuộc điểm đạo La Hán, lần thứ tư, một trong các cuộc điểm đạo “tử vong”, tức “chết để đi vào sự sống”. Đến khi lần điểm đạo thứ năm được nhận, thế giới phải được tái lập và hình tướng phải được sử dụng một cách bậc thầy. Trước điểm đạo, có ngọn núi; trong điểm đạo, không có ngọn núi; sau điểm đạo, lại có ngọn núi.

12. Along the way, various states of consciousness become unacceptably limiting to us; when they become intensely unacceptable we are forced into a still closer approximation of synthesis. It is a very great skill to look in all directions and “see no difference”.

12. Trên đường đi, nhiều trạng thái tâm thức khác nhau trở nên giới hạn đến mức không thể chấp nhận đối với chúng ta; khi chúng trở nên hết sức không thể chấp nhận, chúng ta bị thúc ép tiến gần hơn nữa đến tổng hợp. Nhìn về mọi hướng mà “không thấy khác biệt” là một kỹ năng rất lớn.

Rule I: Fifth SentenceQuy luật I: Câu thứ năm

Quy luật I: Câu thứ năm—Quy luật I: Câu thứ năm

A. Together let the band of brothers onward move—out of the fire, into the cold and toward a newer tension.

A. Cùng nhau, hãy để nhóm huynh đệ tiến bước về phía trước, ra khỏi lửa, đi vào lạnh giá và hướng đến một điểm tập trung nhất tâm mới hơn.

1. The alliteration of the phrase “band of brothers” is arresting. It is one of those inspiring expressions which confers hope and enthusiasm in darkened hours. The note related to the letter “b” is also sounding—a second ray note associated with the second letter of many alphabets.

1. Sự lặp âm trong cụm từ “nhóm huynh đệ” gây chú ý mạnh. Đó là một trong những cách diễn đạt đầy cảm hứng, ban niềm hy vọng và nhiệt tâm trong những giờ phút tối tăm. Âm điệu liên hệ với chữ “b” cũng đang vang lên, một âm điệu cung hai gắn với chữ cái thứ hai trong nhiều bảng chữ cái.

2. The idea that one “travels not alone” is strongly inculcated in the esoteric doctrines of Trans-Himalayanism.

2. Ý tưởng rằng người ta “không du hành một mình” được khắc sâu mạnh mẽ trong các giáo lý huyền bí của truyền thống Xuyên-Hy Mã Lạp Sơn.

“Upon that road one wanders not alone. There is no rush, no hurry, and yet there is no time to lose. Each pilgrim sensing this presses his footsteps forward until he finds himself surrounded by his fellowmen. Some move ahead, he follows after. Some move behind, he sets the pace. He travels not alone” (Rules of the Road, III)

“Trên con đường ấy, không ai lang thang một mình. Không có sự vội vã, không có hấp tấp, nhưng cũng không có thời gian để mất. Mỗi người hành hương cảm nhận điều này đều thúc bước chân mình tiến tới cho đến khi thấy mình được bao quanh bởi đồng loại. Một số người đi trước, y theo sau. Một số người đi sau, y thiết lập nhịp độ. Y không du hành một mình” (Các Quy Luật của Đường Đạo, III)

“The Pilgrim, as he walks upon the Road, must have the open ear, the giving hand, the silent tongue, the chastened heart, the golden voice, the rapid foot, and the open eye which sees the light. He knows he travels not alone”. (Rules of the Road, VI)

“Người Hành Hương, khi bước đi trên Đường Đạo, phải có tai mở, bàn tay trao tặng, lưỡi im lặng, trái tim được tôi luyện, tiếng nói vàng, bước chân nhanh và con mắt mở thấy ánh sáng. Y biết mình không du hành một mình”. (Các Quy Luật của Đường Đạo, VI)

3. On the higher levels of the Path, we make our progress together. Indeed, we always have, even though we have not realized it, and always there were those unseen making progress in parallel to our own.

3. Trên các cấp độ cao hơn của Con Đường, chúng ta tiến bộ cùng nhau. Thật vậy, chúng ta luôn luôn đã như thế, dù chúng ta chưa nhận ra, và luôn có những người không thấy được đang tiến bộ song hành với sự tiến bộ của chúng ta.

4. The sentence we are studying points to the fifth Law of the Soul— “The Law of Group Progress” (or the “Law of Elevation”) This Soul Law is correlated with Capricorn (the sign of initiation) and basically reveals to us that if we want to achieve initiation (especially under the new initiatory dispensation necessitated by the time-space schedule of the Planetary Logos), it will have to be done in group formation. The Tibetan tells us the following concerning this law: “It is through obedience to this law that preparation for initiation is instituted by the disciple”. (EP II 177)

4. Câu chúng ta đang nghiên cứu chỉ đến Định luật thứ năm của Linh Hồn, “Định luật Tiến Bộ Nhóm”, hay “Định luật Nâng Cao”. Định luật Linh Hồn này tương ứng với Ma Kết, dấu hiệu của điểm đạo, và căn bản mặc khải cho chúng ta rằng nếu muốn đạt điểm đạo, đặc biệt dưới thể chế điểm đạo mới do lịch trình thời gian-không gian của Hành Tinh Thượng đế đòi hỏi, điều đó sẽ phải được thực hiện trong đội hình nhóm. Chân sư Tây Tạng nói với chúng ta như sau về định luật này: “Chính nhờ sự tuân phục định luật này mà người đệ tử thiết lập sự chuẩn bị cho điểm đạo”. (Tâm Lý Học Nội Môn II, trang 177)

5. It is the fifth law (correlating, thus, with the Fifth Creative Hierarchy and the members of that Hierarchy—the Solar Angels or “Hearts of Fiery Love”). It necessarily has Sirian associations because the number five is so important in the influence of Sirius upon our solar system and planet. The energy released in the enacting of this law is buddhi or spiritual love and that energy “comes via the love petals of the egoic lotus, and the subsidiary Law of Magnetic Impulse”. (cf. EP II 150)

5. Đó là định luật thứ năm, do đó tương ứng với Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm và các thành viên của Huyền Giai ấy, tức các Thái dương Thiên Thần hay “Những Trái Tim của Tình Thương Rực Lửa”. Nó nhất thiết có các liên hệ với Thiên Lang, vì con số năm rất quan trọng trong ảnh hưởng của Thiên Lang lên hệ mặt trời và hành tinh của chúng ta. Năng lượng được phóng thích trong việc thi hành định luật này là Bồ đề hay bác ái tinh thần, và năng lượng ấy “đến qua các cánh hoa bác ái của Hoa Sen Chân Ngã, và Định luật Xung Động Từ Tính phụ thuộc”. (xem Tâm Lý Học Nội Môn II, trang 150)

6. The Law of Group Progress is part of the basic ‘spiritual socialization’ of the members of the human race, helping them to realize that they make true and rapid progress together, rather than as “rugged individuals”. Rugged individualism comes under the province of Mars whereas ‘spiritual socialization’ develops through the use of Venusian energies—Venus, being for Earth, the archetypal planet and the one after which Earth patterns itself. Venus, of course, is strongly conditioned by the fifth ray and the Law of Group Progress is the fifth Law of the Soul.

6. Định luật Tiến Bộ Nhóm là một phần của sự “xã hội hóa tinh thần” căn bản nơi các thành viên của nhân loại, giúp họ nhận ra rằng họ tiến bộ chân thật và nhanh chóng cùng nhau, chứ không phải như những “cá nhân cứng cỏi”. Chủ nghĩa cá nhân cứng cỏi thuộc phạm vi Sao Hỏa, trong khi “xã hội hóa tinh thần” phát triển nhờ việc sử dụng các năng lượng Sao Kim; đối với Trái Đất, Sao Kim là hành tinh nguyên mẫu và là hành tinh mà Trái Đất noi theo mô hình. Dĩ nhiên, Sao Kim chịu tác động mạnh của cung năm, và Định luật Tiến Bộ Nhóm là Định luật thứ năm của Linh Hồn.

7. The kinds of groups which respond to this Fifth Law of the Soul, are described as follows:

7. Các loại nhóm đáp ứng với Định luật thứ năm này của Linh Hồn được mô tả như sau:

“Today the new groups are slowly and gradually coming into being and being governed by these soul laws. They will, therefore, strike a different note and produce groups which are welded together by a united aspiration and objective. Yet they will be constituted of free souls, individual and developed, who recognise no authority but that of their own souls, and submerge their interests to the soul purpose of the group as a whole. Just as the achievement of an individual has, down the ages, served to raise the race, so a paralleling achievement in group formation will tend to raise humanity still more rapidly. Hence this law is called that of Elevation”.

“Ngày nay, các nhóm mới đang chậm rãi và dần dần đi vào hiện hữu và được cai quản bởi các định luật linh hồn này. Vì vậy, họ sẽ ngân lên một âm điệu khác và tạo ra những nhóm được hàn gắn với nhau bằng một khát vọng và mục tiêu thống nhất. Tuy nhiên, họ sẽ được cấu thành từ những linh hồn tự do, cá biệt và phát triển, những linh hồn công nhận không có quyền uy nào ngoài quyền uy của chính linh hồn mình, và đặt các lợi ích của mình chìm vào mục đích linh hồn của toàn nhóm. Cũng như thành tựu của một cá nhân, qua các thời đại, đã góp phần nâng cao nhân loại, thì một thành tựu song hành trong việc hình thành nhóm sẽ có khuynh hướng nâng cao nhân loại còn nhanh chóng hơn nữa. Vì thế, định luật này được gọi là định luật Nâng Cao”.

We should think about our present enterprise and see to what extent the note we strike is that which is here suggested. Surely, it will be so increasingly.

Chúng ta nên suy nghĩ về công trình hiện tại của mình và xem âm điệu mà chúng ta ngân lên tương ứng đến mức nào với điều được gợi ý ở đây. Chắc chắn, điều đó sẽ ngày càng đúng hơn.

8. In the sentence from the first Rule here under study, we are told we are to travel “together”. The awareness of each group member is focussed on the life of the group. The individual members does not think of stepping ahead and leaving the group behind, and yet (though the group travels as one) there are those who, in consciousness, “move ahead” and “set the pace”. This takes place (and this is important) without the disruption of group integrity.

8. Trong câu thuộc Quy luật thứ nhất đang được nghiên cứu ở đây, chúng ta được bảo rằng chúng ta phải du hành “cùng nhau”. Nhận thức của mỗi thành viên nhóm được tập trung vào sự sống của nhóm. Từng thành viên không nghĩ đến việc bước lên trước và bỏ nhóm lại phía sau; tuy vậy, dù nhóm du hành như một, vẫn có những người, trong tâm thức, “đi trước” và “thiết lập nhịp độ”. Điều này diễn ra, và đây là điểm quan trọng, mà không phá vỡ tính toàn vẹn của nhóm.

9. How can group members travel at different rates of, let us say, ‘spiritual speed’ and yet travel “together”. This is an occult paradox worth pondering and each can arrive at his or her own conclusions.

9. Làm thế nào các thành viên nhóm có thể du hành với các tốc độ khác nhau, có thể nói là “tốc độ tinh thần” khác nhau, mà vẫn du hành “cùng nhau”? Đây là một nghịch lý huyền bí đáng suy ngẫm, và mỗi người có thể đi đến các kết luận của riêng mình.

10. I would suggest that in an understanding of group love and group loyalty is held the answer.

10. Tôi xin gợi ý rằng trong sự thấu hiểu tình thương tập thể và lòng trung thành tập thể có chứa câu trả lời.

11. For example, the Christ, though He travels far on ahead, is still “with us”. His loving magnetic energy suffuses the entirety of the human kingdom. This of course is a very big group compared to ours (and, of course, to any of the groups studying this rules, for humanity represents one of the largest groups with which we have any immediate contact) but a principle can be recognized.

11. Chẳng hạn, Đức Christ, dù Ngài tiến rất xa phía trước, vẫn “ở cùng chúng ta”. Năng lượng từ tính đầy yêu thương của Ngài thấm nhuần toàn thể giới nhân loại. Dĩ nhiên, đây là một nhóm rất lớn so với nhóm của chúng ta, và cũng so với bất kỳ nhóm nào đang nghiên cứu các quy luật này, vì nhân loại tiêu biểu cho một trong những nhóm lớn nhất mà chúng ta có tiếp xúc trực tiếp; nhưng có thể nhận ra một nguyên lý ở đây.

12. It is possible to deepen one’s spiritual consciousness and potency rapidly and, yet, do so in such a way as to cause no cleavage with one’s group brothers, and so that all within the group benefit from one’s rapidity. In fact, the forging ahead which is the responsibility of every disciple, serves not to separate him from his group, but to enhance the progress of the group.

12. Có thể nhanh chóng đào sâu tâm thức tinh thần và quyền năng tinh thần của mình, nhưng làm như vậy theo cách không gây chia rẽ với các huynh đệ trong nhóm, và để mọi người trong nhóm đều được lợi từ sự tiến nhanh ấy. Thật vậy, sự tiến vượt lên trước vốn là trách nhiệm của mỗi đệ tử, không nhằm tách y khỏi nhóm của mình, mà nhằm tăng cường sự tiến bộ của nhóm.

13. When we progress “together”, we do not bind ourselves to each other in ways that constrain and limit our freedom of expression. We do not insist that we all do things in the same way and at the same time. Standardization and (worse), regimentation are distortions of togetherness; rather, individual freedom is promoted.

13. Khi chúng ta tiến bộ “cùng nhau”, chúng ta không ràng buộc nhau theo những cách làm hạn chế và bó hẹp tự do biểu đạt của mình. Chúng ta không đòi hỏi tất cả phải làm mọi việc theo cùng một cách và cùng một lúc. Sự tiêu chuẩn hóa và, tệ hơn nữa, sự quân luật hóa là những biến dạng của tính cùng nhau; trái lại, tự do cá nhân được khuyến khích.

14. Then, in what consists this togetherness? What does it mean that we “onward move” together? The key elements of this kind of togetherness are: unity of purpose; a shared vision—at least with regard to esoteric essentials; commonalty of plan within a diversity of methods; mutual care and respect; and finally, above all, group love, which is the love of each other as souls and identification with and love of the group soul.

14. Vậy thì, tính cùng nhau này hệ tại điều gì? Việc chúng ta “tiến bước tới trước” cùng nhau có nghĩa là gì? Những yếu tố then chốt của loại tính cùng nhau này là: sự hợp nhất về mục đích; một tầm nhìn chung—ít nhất là đối với các yếu tính huyền bí; sự tương đồng về thiên cơ trong sự đa dạng của phương pháp; sự chăm sóc và tôn trọng lẫn nhau; và sau hết, trên hết, tình thương tập thể, tức là tình thương dành cho nhau như những linh hồn, cùng sự đồng hoá với và tình thương đối với hồn nhóm.

15. It is certainly a togetherness based on criteria other than liking and disliking—very changeable, unstable factors. Nor is it based upon approval and disapproval, nor on various gratifications of the lower personal ego. It is far deeper than this.

15. Chắc chắn đó là một tính cùng nhau dựa trên những tiêu chí khác với ưa thích và không ưa thích—những yếu tố rất dễ thay đổi và bất ổn. Nó cũng không dựa trên sự tán thành và không tán thành, cũng không dựa trên các thỏa mãn khác nhau của phàm ngã thấp. Nó sâu xa hơn thế rất nhiều.

16. The sense of identity of each individual group member has expanded beyond his/her own ring-pass-not to include and pervade the group. Thus, it might be said that the togetherness in question is based upon a growing sense of identity-as-the-group. In this we find a stage of identification we might call ‘I-as-We’.

16. Ý thức về bản sắc của mỗi thành viên cá nhân trong nhóm đã mở rộng vượt khỏi vòng-giới-hạn riêng của mình để bao gồm và thấm nhập nhóm. Vì vậy, có thể nói rằng tính cùng nhau đang được nói đến dựa trên một cảm thức ngày càng tăng về bản sắc-như-là-nhóm. Trong điều này, chúng ta thấy một giai đoạn đồng hoá mà ta có thể gọi là “Tôi-như-Chúng ta”.

17. Clearly, there is no such togetherness unless selfishness no longer exerts its separative effect.

17. Rõ ràng, không có tính cùng nhau như thế nếu lòng ích kỷ vẫn còn tạo ra tác dụng chia rẽ của nó.

18. Our little mantram, “I am with you”, interpreted beyond its more obvious functions, represents participation in this togetherness.

18. Mantram nhỏ của chúng ta, “Tôi ở cùng các bạn”, khi được diễn giải vượt khỏi các chức năng hiển nhiên hơn của nó, biểu thị sự tham dự vào tính cùng nhau này.

19. The group is a “band of brothers”. There are, therefore, bonds of a kind between these brothers, but the bonds must not be exoterically binding. The Tibetan speaks of the “banded esoteric organisms” when He looks towards unity between all those who study the Ageless Wisdom. The bonds within this band of brothers are soul bonds, and they are based upon a spirit of freedom within a spirit of love.

19. Nhóm là một “đoàn huynh đệ”. Vì vậy, có những mối dây thuộc một loại nào đó giữa các huynh đệ này, nhưng các mối dây ấy không được trở thành những ràng buộc ngoại môn. Chân sư Tây Tạng nói đến “những cơ cấu huyền bí liên kết thành đoàn” khi Ngài hướng đến sự hợp nhất giữa tất cả những ai nghiên cứu Minh Triết Ngàn Đời. Các mối dây trong đoàn huynh đệ này là những mối dây của linh hồn, và chúng dựa trên một tinh thần tự do trong một tinh thần thương yêu.

20. A true band is essentially harmonious (regardless of occasional superficial outer frictions), integrated, unified, and on its way to fusion. In a band there is an “esprit-de-corps”, which reflects a high state of shared motivation and aspiration strengthened by a common purpose and plan.

20. Một đoàn chân chính về bản chất là hài hòa, bất kể đôi khi có những va chạm bên ngoài hời hợt; nó được tích hợp, hợp nhất, và đang trên đường đi đến sự dung hợp. Trong một đoàn có một “tinh thần đoàn thể”, phản ánh một trạng thái cao của động lực và khát vọng chung, được củng cố bởi một mục đích và thiên cơ chung.

21. The thought of a “band of brothers” is inspiring. Not only are we not alone as we tread the spiritual Path, but we are together, strengthening each other and spurring each other to higher achievements. In such a band we are supplementary and complementary to each other in every way. We become a unit under the Master’s watchful eye—fused in soul and, eventually, identified in spirit.

21. Tư tưởng về một “đoàn huynh đệ” thật đầy cảm hứng. Khi bước trên Con Đường tinh thần, chúng ta không những không đơn độc, mà còn ở cùng nhau, củng cố lẫn nhau và thúc đẩy nhau vươn tới những thành tựu cao hơn. Trong một đoàn như thế, chúng ta bổ sung và hoàn thiện cho nhau bằng mọi cách. Chúng ta trở thành một đơn vị dưới con mắt tỉnh thức của Chân sư—được dung hợp trong linh hồn và, cuối cùng, được đồng hoá trong tinh thần.

22. It is no small thing to call another “brother”. Brotherhood is based upon a recognized identicality of spirit. Brotherhood is, essentially a great monadic fact in Super-Nature (the Nature of the higher planes).

22. Gọi một người khác là “huynh đệ” không phải là điều nhỏ bé. Tình huynh đệ dựa trên sự nhận biết về tính đồng nhất của tinh thần. Về bản chất, tình huynh đệ là một sự kiện chân thần vĩ đại trong Siêu-Nhiên, tức Bản chất của các cõi cao hơn.

23. The bonds of spirit are indissoluble because in spirit no difference is to be found— “hiding all difference, blotting out all form”. (Rule IX for D&I). Not only do “I Serve my Brother” (EA 332) but ‘I am my Brother’ and “I Serve the One” (EA 332, both under Gemini)

23. Những mối dây của tinh thần là bất khả phân ly, vì trong tinh thần không tìm thấy sự khác biệt nào—“che giấu mọi dị biệt, xóa mờ mọi hình tướng”. Quy luật IX cho Đệ tử và Điểm đạo. Tôi không chỉ “Phụng sự Huynh đệ của tôi” (Chiêm Tinh Học Nội Môn 332) mà “Tôi Huynh đệ của tôi” và “Tôi Phụng sự Đấng Duy Nhất” (Chiêm Tinh Học Nội Môn 332, cả hai đều dưới Song Tử)

24. A brother is so—steadfastly. Nothing can change the fact of brotherhood. One day all humanity will participate in a recognized brotherhood. This will occur on a large (but not complete) scale in the latter part of the Aquarian Age (in the approximately seven-hundred year decanate ruled by Venus, a planet strongly promotive of brotherhood). Within the specialized groups that serve the Ashram, the recognition of essential brotherhood in spirit is achievable before the last third of the Aquarian Age and long before the majority of humanity will recognize brotherhood as a monadic reality.

24. Một huynh đệ như thế—một cách kiên định. Không gì có thể thay đổi sự kiện của tình huynh đệ. Một ngày kia, toàn thể nhân loại sẽ tham dự vào một tình huynh đệ được nhận biết. Điều này sẽ xảy ra trên quy mô lớn, nhưng chưa hoàn toàn, vào phần sau của Kỷ Nguyên Bảo Bình, trong khoảng thập độ bảy trăm năm do Sao Kim cai quản, một hành tinh thúc đẩy mạnh mẽ tình huynh đệ. Trong các nhóm chuyên biệt phụng sự ashram, sự nhận biết tình huynh đệ cốt yếu trong tinh thần có thể đạt được trước một phần ba cuối của Kỷ Nguyên Bảo Bình, và rất lâu trước khi đa số nhân loại nhận ra tình huynh đệ như một thực tại chân thần.

25. There is something tremendously uplifting about recognizing a brother as a brother. The recognition carries not only the power of the soul but of the spirit—since, as stated, brotherhood is a monadic reality.

25. Có một điều gì đó nâng đỡ vô cùng mạnh mẽ trong việc nhận ra một huynh đệ như một huynh đệ. Sự nhận biết ấy mang theo không chỉ quyền năng của linh hồn mà còn quyền năng của tinh thần—vì, như đã nói, tình huynh đệ là một thực tại chân thần.

26. Divine Purpose, as far as we human beings are concerned, emanates from the monadic levels (the first plane of differentiated pattern on the cosmic physical plane). When a group of brothers recognize themselves, purpose from this plane begins to pours through, and together they become inspired.

26. Thiên Ý, trong phạm vi liên quan đến con người chúng ta, xuất lộ từ các cấp độ chân thần, tức cõi thứ nhất của mô hình đã biến phân trên cõi hồng trần vũ trụ. Khi một nhóm huynh đệ nhận biết chính mình, mục đích từ cõi này bắt đầu tuôn chảy qua, và cùng nhau họ trở nên được truyền cảm hứng.

27. So the bonds in the band of brothers are, first, soul bonds, yes, but ultimately spirit-bonds which are seamless. “I and my Brother are One”. (Of course it could be asked, philosophically, “how can there be bonds between that which is already the same?”, for is not spirit everywhere identical? In brief, I would say: because even the monad, as it manifests on the second subplane of the cosmic physical plane, is temporarily conditioned by differentiated quality).

27. Vì vậy, các mối dây trong đoàn huynh đệ trước hết là những mối dây linh hồn, đúng vậy, nhưng rốt cuộc là những mối dây tinh thần vốn liền mạch. “Tôi và Huynh đệ của tôi là Một”. Dĩ nhiên, về mặt triết học, có thể hỏi: “làm sao có thể có những mối dây giữa cái vốn đã là một như nhau?”, vì chẳng phải tinh thần ở khắp nơi đều đồng nhất sao? Nói ngắn gọn, tôi sẽ nói: bởi vì ngay cả chân thần, khi biểu hiện trên cõi phụ thứ hai của cõi hồng trần vũ trụ, cũng tạm thời chịu tác động bởi phẩm tính đã biến phân.

28. The modern esoteric movement sorely needs this kind of mutual recognition in order to carry progressive power into the group work. Such mutual inspiration will advance our contribution to the Great Work far more than a number of theoretically held propositions. Brotherhood in its own nature is essentially progressive because it is of the spirit. Let us remember that the quality of motion characteristic of spirit (i.e., of the first ray) is “progress onward” and “driving forward through space”. So when true brotherhood reigns the brother naturally move onward.

28. Phong trào huyền bí hiện đại rất cần loại nhận biết lẫn nhau này để đưa quyền năng tiến bộ vào công việc nhóm. Sự truyền cảm hứng lẫn nhau như thế sẽ thúc đẩy sự đóng góp của chúng ta cho Đại Công Trình hơn rất nhiều so với một số mệnh đề chỉ được nắm giữ trên lý thuyết. Tình huynh đệ trong bản chất riêng của nó cốt yếu là tiến bộ vì nó thuộc về tinh thần. Chúng ta hãy nhớ rằng phẩm tính chuyển động đặc trưng của tinh thần, tức của cung một, là “tiến tới trước” và “thúc đẩy tiến lên xuyên qua không gian”. Vì vậy, khi tình huynh đệ chân chính ngự trị, các huynh đệ tự nhiên tiến tới trước.

29. The word let in the phrase “let the band of brothers onward move”, is a word of will. “Let” releases the will. It is something of an irresistible, irreversible command, as in “Let there be Light”.

29. Từ hãy trong câu “hãy để đoàn huynh đệ tiến bước tới trước” là một từ của ý chí. “Hãy” giải phóng ý chí. Nó mang phần nào tính chất của một mệnh lệnh không thể cưỡng lại, không thể đảo ngược, như trong câu “Hãy có Ánh sáng”.

30. But the power to move onward does not have to be enforced or imposed because within a true brotherhood that progressive power inheres.

30. Nhưng quyền năng tiến tới trước không cần phải bị cưỡng bách hay áp đặt, vì trong một tình huynh đệ chân chính, quyền năng tiến bộ ấy vốn nội tại.

31. Note that Rule I begins by speaking of the “group”, and does so a second time, as well, within the body of the Rule. By the end of the Rule, however, the group has become a “band of brothers”. Obviously, not all groups are characterized by brotherhood; it represents a group-step towards spirit. We remember that in these more advanced fourteen Rules we are studying and seeking to apply the spirit aspect.

31. Hãy lưu ý rằng Quy luật I bắt đầu bằng việc nói đến “nhóm”, và trong thân của Quy luật, nó cũng nói đến điều ấy lần thứ hai. Tuy nhiên, đến cuối Quy luật, nhóm đã trở thành một “đoàn huynh đệ”. Hiển nhiên, không phải mọi nhóm đều mang đặc tính tình huynh đệ; điều đó biểu thị một bước tiến của nhóm hướng về tinh thần. Chúng ta nhớ rằng trong mười bốn Quy luật cao cấp hơn này, chúng ta đang nghiên cứu và tìm cách áp dụng phương diện tinh thần.

32. What I am driving at, is that true brotherhood is a very high state, and should be pondered for its implications. There is no true brotherhood in the Black Lodge or in the groups sponsored by them. In such ‘groups’ all bonds operate under what might be called ‘forced cohesion’ for selfish individualistic purposes. They may be well disciplined (as Master M. tells us); they may be well organized, but, essentially, they are disintegrative with no true magnetism to hold them together. They are bound together by fear and selfishness (the desire for individual advantage).

32. Điều tôi muốn nhấn mạnh là tình huynh đệ chân chính là một trạng thái rất cao, và cần được suy ngẫm về các hàm ý của nó. Không có tình huynh đệ chân chính trong Hắc đoàn hay trong các nhóm do họ bảo trợ. Trong những “nhóm” như thế, mọi mối dây đều vận hành dưới điều có thể gọi là “sự cố kết cưỡng bách” nhằm các mục đích cá nhân ích kỷ. Họ có thể rất kỷ luật, như Chân sư M. cho chúng ta biết; họ có thể được tổ chức rất tốt, nhưng về bản chất, họ mang tính tan rã, không có từ điện chân chính để giữ họ lại với nhau. Họ bị ràng buộc với nhau bởi sợ hãi và ích kỷ, tức ham muốn lợi thế cá nhân.

33. So, real brotherhood is progressive—naturally progressive. It onward moves.

33. Vì vậy, tình huynh đệ đích thực là tiến bộ—tiến bộ một cách tự nhiên. Nó tiến bước tới trước.

34. What is progress? In the largest sense it is movement towards the realization and manifestation of the Grand Design. It is certainly not just change, but change which leads in an series of ever more refined approximations towards the actualization of an intended archetype.

34. Tiến bộ là gì? Theo nghĩa rộng nhất, đó là sự vận động hướng đến việc thực chứng và biểu hiện Đại Thiết Kế. Chắc chắn đó không chỉ là sự thay đổi, mà là sự thay đổi dẫn qua một chuỗi những tiệm cận ngày càng tinh luyện hơn, hướng đến việc hiện thực hóa một nguyên mẫu đã được chủ định.

35. Spirit has two great movements—Self-fragmentation (apparently) and Self-re-coalescence. Spirit can never be divided or divided from itself, yet such is the illusion during every successive universe. Spirit is stillness itself and yet ever in motion. Perhaps is should be said that spirit is the great driving force, the “Prime-Mover”.

35. Tinh thần có hai chuyển động lớn—sự tự phân mảnh, theo vẻ ngoài, và sự tự tái hợp nhất. Tinh thần không bao giờ có thể bị phân chia hay bị tách khỏi chính nó, nhưng đó lại là ảo tưởng trong mỗi vũ trụ kế tiếp. Tinh thần chính là sự tĩnh lặng, nhưng luôn luôn vận động. Có lẽ nên nói rằng tinh thần là mãnh lực thúc đẩy vĩ đại, là “Động Lực Đầu Tiên”.

36. During the great phase of involution unconsciously experienced as the “Second Outpouring” (to use the Theosophical terminology) the term “onward” would lead into greater and greater differentiation, for during this phase of the total process of out-breath and in-breath, spirit (represented as the Second Logos) was in the process of apparent subdivision.

36. Trong giai đoạn lớn của giáng hạ tiến hoá, được kinh nghiệm một cách vô thức như “Lần Tuôn Đổ Thứ Hai”, theo thuật ngữ Thông Thiên Học, từ “tới trước” sẽ dẫn vào sự biến phân ngày càng lớn hơn; vì trong giai đoạn này của toàn bộ tiến trình thở ra và hít vào, tinh thần, được biểu thị như Thượng đế Ngôi Hai, đang ở trong tiến trình phân chia biểu kiến.

37. With respect to the Fourth Creative Hierarchy, however, we are now in the stage of evolution, and so “onward” means a ‘return of spirit to itself’. In the World of Becoming (the world of ceaselessly changing consciousness evolving through mutable forms), opposites attract. In the world of spirit, “like attracts like”—spirit ever seeks to merge with the other apparent fragments of itself.

37. Tuy nhiên, đối với Huyền Giai Sáng Tạo Thứ Tư, hiện nay chúng ta đang ở giai đoạn tiến hoá, và vì vậy “tới trước” có nghĩa là “sự trở về của tinh thần với chính nó”. Trong Thế Giới Đang Trở Thành, thế giới của tâm thức biến đổi không ngừng, tiến hoá qua các hình tướng khả biến, các đối cực hút nhau. Trong thế giới của tinh thần, “đồng loại hút đồng loại”—tinh thần luôn tìm cách hợp nhất với những mảnh biểu kiến khác của chính nó.

38. “Onward”, therefore, means the search of ‘spirits’ for the One Spirit Self, and the passing through all stages of lessening differentiation in order to find that Essential Oneness.

38. Vì vậy, “tới trước” có nghĩa là cuộc tìm kiếm của các “tinh thần” hướng về Bản Ngã Tinh Thần Duy Nhất, và sự đi qua mọi giai đoạn của sự biến phân ngày càng giảm để tìm thấy Tính Nhất Như Cốt Yếu ấy.

39. “Onward”, therefore, means return—conscious return to the primeval State which always is. On the way to this state of ‘Home’, many are the encounters on many dimensions.

39. Vì vậy, “tới trước” có nghĩa là trở về—sự trở về có ý thức với Trạng Thái nguyên sơ vốn luôn luôn hiện hữu. Trên đường đến trạng thái “Quê Nhà” này, có rất nhiều cuộc gặp gỡ trên nhiều chiều kích.

40. The encounters here listed are the “fire” and the “cold” and, finally, a state of “tension” higher than the one left behind, but still not a consummated capable of permanently engaging the attention of the ever-progressive individualized spirit or of the spirit-inspired group. Greater points of tension loom ever on ahead—until….the final “Day be with Us”.

40. Những cuộc gặp gỡ được liệt kê ở đây là “lửa” và “lạnh”, và sau cùng là một trạng thái “điểm tập trung nhất tâm” cao hơn trạng thái đã bỏ lại phía sau, nhưng vẫn chưa phải là một sự viên mãn có khả năng thu hút vĩnh viễn sự chú tâm của tinh thần cá biệt hoá luôn tiến bộ, hay của nhóm được tinh thần truyền cảm hứng. Những điểm tập trung nhất tâm lớn hơn luôn hiện ra phía trước—cho đến khi… “Ngày cuối cùng ở cùng Chúng ta”.

41. Ultimately, then, “progress” is spirit-based. The soul (Solar Angel) inspires progress within the world of form, but its causal impulsion comes from the world of spirit.

41. Rốt cuộc, “tiến bộ” là dựa trên tinh thần. Linh hồn, tức Thái dương Thiên Thần, truyền cảm hứng cho sự tiến bộ trong thế giới hình tướng, nhưng xung lực nguyên nhân của nó đến từ thế giới tinh thần.

42. Spirit is a word easily spoken or written but, essentially, it means something rather strange to the average human soul embodied in form. The world of the loving, lighted soul is just beginning to come into view; the world of the spirit (immortal and, essentially, ever-free,) is something far more remote and yet, fundamental— “nearer than hands and feet”.

42. Tinh thần là một từ dễ nói hoặc dễ viết, nhưng về bản chất, nó có nghĩa là một điều khá lạ lùng đối với linh hồn con người trung bình đang hiện thân trong hình tướng. Thế giới của linh hồn đầy yêu thương và được soi sáng mới chỉ bắt đầu hiện ra trong tầm nhìn; thế giới của tinh thần, bất tử và về bản chất luôn luôn tự do, là điều xa xôi hơn nhiều, nhưng lại nền tảng—“gần hơn cả tay chân”.

43. The world of fire (according to the meaning of “fire” in this Rule) is not the world of spirit; the world of the cold, here referenced, is not the world of spirit. Even the point of tension which is the goal of the questing band of brothers is not the world of spirit. That point of tension (in this particular instance) will be found upon the atmic plane. But the last sentence in this rule can be progressively applied to any advanced group at any stage of polarization; it states a universal truth about all ‘progress-in-universe’.

43. Thế giới của lửa, theo nghĩa của “lửa” trong Quy luật này, không phải là thế giới của tinh thần; thế giới của sự lạnh được nói đến ở đây cũng không phải là thế giới của tinh thần. Ngay cả điểm tập trung nhất tâm vốn là mục tiêu của đoàn huynh đệ đang tìm kiếm cũng không phải là thế giới của tinh thần. Điểm tập trung nhất tâm ấy, trong trường hợp đặc thù này, sẽ được tìm thấy trên cõi atma. Nhưng câu cuối cùng trong quy luật này có thể được áp dụng một cách tiệm tiến cho bất kỳ nhóm cao cấp nào ở bất kỳ giai đoạn phân cực nào; nó nêu lên một chân lý phổ quát về mọi “tiến bộ-trong-vũ trụ”.

44. Returning to the particular case which is applicable to spirit/souls at our level of evolution, fire, so long the goal of the adventuring, aspiring human soul, is now something that must be left behind.

44. Trở lại trường hợp cụ thể áp dụng cho các tinh thần-linh hồn ở cấp độ tiến hoá của chúng ta, lửa, vốn từ lâu là mục tiêu của linh hồn con người thích phiêu lưu và đầy khát vọng, nay là điều phải được bỏ lại phía sau.

45. In this case, “fire” can be considered the dimension of the higher or abstract mind. “Fire” is a term which often is applied to the mental plane, but there is hardly a plane of nature to which it cannot be rightly applied. Fire is simply a quality of motion; it means, essentially, the vibration to which all phenomena can be reduced, even as flame reduces matter to essence.

45. Trong trường hợp này, “lửa” có thể được xem là chiều kích của thượng trí hay trí trừu tượng. “Lửa” là một thuật ngữ thường được áp dụng cho cõi trí, nhưng hầu như không có cõi nào của thiên nhiên mà nó không thể được áp dụng một cách đúng đắn. Lửa đơn giản là một phẩm tính của chuyển động; về bản chất, nó có nghĩa là rung động mà mọi hiện tượng đều có thể được quy về, cũng như ngọn lửa quy vật chất về tinh chất.

46. The fires of the mental plane (on any of its three levels—concrete, unitive or abstract) must be left behind (as an objective though not as a useful instrument). The focus of the adventuring band of brother must not be there.

46. Các ngọn lửa của cõi trí, trên bất kỳ cấp độ nào trong ba cấp độ của nó—cụ thể, hợp nhất hay trừu tượng—phải được bỏ lại phía sau, như một mục tiêu, dù không phải như một khí cụ hữu dụng. Trọng tâm của đoàn huynh đệ phiêu lưu không được ở đó.

47. Given that the cultivation of the abstract mind is the object of developing humanity during the sixth subrace of the fifth Root-Race, we can see that a very high stage of unfoldment is required by the phrase, “out of the fire”. We are being told that the group is leaving behind what a majority of human beings will be seeking during the next sub-stage of racial unfoldment.

47. Vì việc vun bồi trí trừu tượng là mục tiêu của nhân loại đang phát triển trong giống dân phụ thứ sáu của Giống dân gốc thứ năm, chúng ta có thể thấy rằng cụm từ “ra khỏi lửa” đòi hỏi một giai đoạn khai mở rất cao. Chúng ta đang được cho biết rằng nhóm đang bỏ lại phía sau điều mà đa số con người sẽ tìm kiếm trong tiểu giai đoạn kế tiếp của sự khai mở nhân loại.

48. Facility with the abstract mind will be assumed, and of course, it will be needed, but it is not the focus of the band of brothers. Something more living looms on head.

48. Sự thành thạo với trí trừu tượng sẽ được xem là điều đã có, và dĩ nhiên nó sẽ cần thiết, nhưng nó không phải là trọng tâm của đoàn huynh đệ. Một điều sống động hơn đang hiện ra phía trước.

49. The “cold” beckons and follows the fire. The cold here is not the “cold” condition of the lunar vehicles which have finally been trained no longer to awaken to the call of Fire by Friction. That beneficial unresponsiveness is assumed. The “cold” here referenced is a great clarity of vision, which can only be achieved upon the ‘plane of wisdom’, the buddhic plane. It is a cold which kills all untruth.

49. “Sự lạnh” vẫy gọi và theo sau lửa. Sự lạnh ở đây không phải là tình trạng “lạnh” của các vận cụ thái âm vốn cuối cùng đã được rèn luyện để không còn thức dậy trước tiếng gọi của Lửa ma sát. Sự không đáp ứng hữu ích ấy được xem là điều đã đạt. “Sự lạnh” được nói đến ở đây là một sự trong sáng lớn lao của tầm nhìn, điều chỉ có thể đạt được trên “cõi minh triết”, tức cõi Bồ đề. Đó là một sự lạnh giết chết mọi điều bất chân.

50. Buddhi, in a way, is truth—cold and impartial to personality (and even soul) bias. Does it seem strange to think of the soul as biased? (Note, we are not here speaking of the Solar Angel, but rather of consciousness within the causal body—also frequently called “soul”). Built up as it is from a collection of incarnational experiences, it must necessarily be both limited and biased, though far broader in its understanding that the perspective of the consciousness of the personality.

50. Theo một nghĩa nào đó, Bồ đề là chân lý—lạnh lùng và vô tư trước thiên kiến của phàm ngã, và ngay cả của linh hồn. Có lạ không khi nghĩ rằng linh hồn cũng có thiên kiến? Hãy lưu ý, ở đây chúng ta không nói về Thái dương Thiên Thần, mà nói về tâm thức trong thể nguyên nhân—cũng thường được gọi là “linh hồn”. Vì nó được xây dựng từ một tập hợp các kinh nghiệm nhập thể, nên tất yếu nó vừa giới hạn vừa có thiên kiến, dù trong sự thấu hiểu, nó rộng lớn hơn nhiều so với viễn cảnh của tâm thức phàm nhân.

51. The fires of the abstract mental plane admit to a relatively wide and comprehensive vision, but they fall short of the truth to be found in the clear cold light of pure reason. In this “cold” above the plane of abstract mentality, a new livingness is to be found. So the “cold” (cold to all that could influence it from the lower planes) is vibrantly alive, because it pulsates with the life of the Solar Logos—the buddhic plane being the lowest plane to which that great Entity can descend.

51. Các ngọn lửa của cõi trí trừu tượng cho phép một tầm nhìn tương đối rộng và bao quát, nhưng chúng vẫn chưa đạt đến chân lý được tìm thấy trong ánh sáng lạnh trong suốt của lý trí thuần tuý. Trong “sự lạnh” này, ở phía trên cõi trí trừu tượng, có thể tìm thấy một sinh tính mới. Vì vậy, “sự lạnh”, lạnh đối với mọi điều có thể ảnh hưởng đến nó từ các cõi thấp, là sự sống động rực rỡ, vì nó rung nhịp với sự sống của Thái dương Thượng đế—cõi Bồ đề là cõi thấp nhất mà Thực Thể vĩ đại ấy có thể giáng xuống.

52. Abstract thinking is still a veil upon that which the clear cold light of pure reason reveals. Abstract thinking can reveal the plans and patterns upon which the lower worlds are built, but the clear cold light discloses the ideas which are the animating life force within these plans and patterns. Ideas are living beings, and they are first encountered within the realm of buddhi. (They are encountered still livingly upon the monadic plane.)

52. Tư duy trừu tượng vẫn còn là một bức màn che phủ điều mà ánh sáng lạnh trong suốt của lý trí thuần tuý mặc khải. Tư duy trừu tượng có thể mặc khải các thiên cơ và mô hình mà các thế giới thấp được xây dựng trên đó, nhưng ánh sáng lạnh trong suốt hé lộ các ý tưởng vốn là mãnh lực sự sống phú linh bên trong những thiên cơ và mô hình này. Các ý tưởng là những sinh thể sống động, và lần đầu tiên chúng được gặp trong cõi giới của Bồ đề. Chúng vẫn được gặp một cách sống động trên cõi chân thần.

53. What is important to realize is that the “cold” towards which the band of brothers strives is not dead and lifeless, but pulsating with life and admits to a stage of livingness beyond anything that can be experienced in the lower three worlds and even within the normal world of soul—the higher mental plane.

53. Điều quan trọng cần nhận ra là “sự lạnh” mà đoàn huynh đệ đang hướng đến không chết và vô sinh khí, mà rung nhịp với sự sống và mở ra một giai đoạn sinh tính vượt xa bất cứ điều gì có thể được kinh nghiệm trong ba cõi thấp, và ngay cả trong thế giới bình thường của linh hồn—cõi thượng trí.

54. The point of tension which beckons to the one who has achieved the “cold” is specific in this case. The band of brothers is being asked to polarize its focus of consciousness upon the atmic plane, the true plane of the spiritual will (as far as humanity is concerned).

54. Điểm tập trung nhất tâm vẫy gọi người đã đạt đến “sự lạnh” là một điểm cụ thể trong trường hợp này. Đoàn huynh đệ được yêu cầu phân cực trọng tâm tâm thức của mình trên cõi atma, cõi chân chính của Ý Chí tinh thần, trong phạm vi liên quan đến nhân loại.

55. Ever progress is from one point of tension to another. Every stabilized change of focus represents the achievement of a new point of tension. But here the point of tension lies beyond both the abstract mental and buddhic planes.

55. Sự tiến bộ luôn đi từ một điểm tập trung nhất tâm này đến một điểm tập trung nhất tâm khác. Mỗi sự chuyển đổi trọng tâm đã ổn định đều biểu thị việc đạt được một điểm tập trung nhất tâm mới. Nhưng ở đây, điểm tập trung nhất tâm nằm vượt ngoài cả cõi trí trừu tượng lẫn cõi Bồ đề.

56. Such a group will begin to inhere within the Will of God which can be found upon the atmic plane.

56. Một nhóm như thế sẽ bắt đầu an trú trong Ý Chí của Thượng Đế, điều có thể được tìm thấy trên cõi atma.

57. Note that the band is moving towards a newer tension. It does not yet achieve such a high polarization. Its practical stage of advancement is represented by the words “into the cold”. In practical terms, the buddhic plane is the focus which must be achieved. One can understand why. A fourth degree initiate is truly polarized upon the buddhic plane, and some accounts within the Teaching tell us that a Master of the Wisdom is also polarized there. Atmic polarization is something for the Masters alone. Atmic responsiveness, however, is increasingly possible.

57. Hãy lưu ý rằng đoàn đang tiến hướng đến một điểm tập trung nhất tâm mới hơn. Nó chưa đạt được sự phân cực cao như thế. Giai đoạn tiến bộ thực tiễn của nó được biểu thị bằng các từ “vào trong sự lạnh”. Về phương diện thực tiễn, cõi Bồ đề là trọng tâm cần phải đạt được. Người ta có thể hiểu vì sao. Một điểm đạo đồ bậc bốn thật sự được phân cực trên cõi Bồ đề, và một số trình bày trong Giáo Huấn cho chúng ta biết rằng một Chân sư Minh Triết cũng được phân cực ở đó. Sự phân cực atma là điều dành riêng cho các Chân sư. Tuy nhiên, sự đáp ứng với atma ngày càng trở nên khả hữu.

58. Atmic responsiveness (the point of tension which the group oriented towards the atmic plane is attempting to achieve) will render the group increasingly and consciously responsive to the Divine Plan, and, ultimately, to the Divine Purpose.

58. Sự đáp ứng với atma, tức điểm tập trung nhất tâm mà nhóm hướng về cõi atma đang cố gắng đạt được, sẽ làm cho nhóm ngày càng đáp ứng một cách có ý thức với Thiên Cơ, và cuối cùng, với Thiên Ý.

59. The ending of this first Rule (citing three levels—the “fire”, the “cold” and the “newer tension”) is inviting the group to establish itself within the world of the spiritual triad. Such an establishment is a long curriculum spanning three solar initiation (the solar first, second and third, which are the planetary third, fourth and fifth).

59. Phần kết của Quy luật thứ nhất này, khi nêu ba cấp độ—“lửa”, “sự lạnh” và “điểm tập trung nhất tâm mới hơn”—đang mời gọi nhóm an lập chính mình trong thế giới của Tam Nguyên Tinh Thần. Sự an lập như thế là một chương trình học dài trải qua ba cuộc điểm đạo thái dương, tức điểm đạo thái dương thứ nhất, thứ hai và thứ ba, tương ứng với điểm đạo hành tinh thứ ba, thứ tư và thứ năm.

60. A group which intends to follow this Rule successfully, may be working at it for a number of incarnations, or have personnel which have been working at the process for several lives.

60. Một nhóm có ý định noi theo Quy luật này một cách thành công có thể phải làm việc với nó qua nhiều kiếp lâm phàm, hoặc có những thành viên đã làm việc với tiến trình này trong nhiều đời sống.

61. We do not need to discourage ourselves, however, by looking at the ultimate meanings of this Rule. Even if a group leaves the fires of lower mind behind and establishes itself within the relative “cold” of the soul, a important step is already being taken. There are not many groups which are true soul groups, and to this achievement, Rule I, interpreted ‘sub-triadally’ can apply.

61. Tuy nhiên, chúng ta không cần làm mình nản lòng bằng cách nhìn vào các ý nghĩa tối hậu của Quy luật này. Ngay cả khi một nhóm bỏ lại phía sau các ngọn lửa của hạ trí và an lập chính mình trong “sự lạnh” tương đối của linh hồn, thì một bước quan trọng đã được thực hiện. Không có nhiều nhóm là những nhóm linh hồn chân chính, và đối với thành tựu này, Quy luật I, khi được diễn giải ở mức “dưới Tam Nguyên”, có thể áp dụng.

62. The formula holds good for several kinds of groups. A fully soul-infused group would already be a group initiate of the third degree.

62. Công thức này vẫn đúng đối với nhiều loại nhóm. Một nhóm được linh hồn thấm nhuần hoàn toàn đã là một điểm đạo đồ nhóm bậc ba.

63. Each group can place itself. Our group, for instance, has much to do before it is significantly infused by the soul. We can become increasingly triadally responsive, but we are surely not yet established in the “cold” in its triadal sense. Towards this we strive.

63. Mỗi nhóm có thể tự định vị chính mình. Chẳng hạn, nhóm của chúng ta còn nhiều việc phải làm trước khi được linh hồn thấm nhuần một cách đáng kể. Chúng ta có thể ngày càng đáp ứng với Tam Nguyên Tinh Thần, nhưng chắc chắn chúng ta chưa an lập trong “sự lạnh” theo nghĩa Tam Nguyên của nó. Chúng ta nỗ lực hướng đến điều này.

64. What is the point of tension which beckons to us? At this time, one would have to say it is the soul itself (and, by this I mean the group soul). True, we study the building of the antahkarana, do attempt to build and use it, and thus enter the world of the spiritual triad—but we are not, as a group— ‘there yet’– consciously. As more and more group members develop some facility with the antahkarana work, the light contacted by the group will get ever clearer and colder. Then some significant triadal infusion will occur.

64. Điểm tập trung nhất tâm nào đang vẫy gọi chúng ta? Vào lúc này, phải nói rằng đó là chính linh hồn, và qua điều này tôi muốn nói đến linh hồn nhóm. Đúng là chúng ta nghiên cứu việc xây dựng antahkarana, cố gắng xây dựng và sử dụng nó, và nhờ vậy bước vào thế giới của Tam Nguyên Tinh Thần—nhưng với tư cách một nhóm— chúng ta chưa “đến đó” một cách có ý thức. Khi ngày càng nhiều thành viên trong nhóm phát triển một mức độ thành thạo nào đó với công việc antahkarana, ánh sáng mà nhóm tiếp xúc sẽ ngày càng trong hơn và lạnh hơn. Khi ấy, một sự thấm nhuần đáng kể của Tam Nguyên Tinh Thần sẽ xảy ra.

65. The straining of the abstract mind after fertilization by the intuition is one good way to enter the world of pure reason, a world of living ideas. As a thinker scans the inner worlds for what he or she does not yet know, the bridge from the abstract mind to the intuition is being built. These contacts are never “worked up from below”, and are not the result of any human experience. They are part of the mind, love, wisdom and will of “God”, the Planetary Logos. They have to do with divine, living patterns which direct all outer experience. Contact with them renders us vibrantly alive. Too much contact will destroy the lower form life altogether. One wonders whether a strong factor in the destruction of the causal body is not an increasingly potent buddhic contact which demands, for the sake of fuller expression, that the impediment of causal body be destroyed. The greater, for now, only inspires the lesser, but at a certain point of intense contact, destroys the lesser. This might be called ‘destruction by superior intensification’. In more common parlance, it is called “outliving” the present life pattern. Destruction proceeds as if from within, and is not the result of mistakes or mismanagement ‘below’. This higher form of destruction is often proceeded by a period of intense fatigue which seems to have some mysterious cause. The real cause is the intensification of a hitherto undetected divine aspect; this superior aspect magnetizes the life force and robs the usual, ‘lower’ preoccupations of the energy necessary to sustain them. The greater life ‘above’ forces the outliving of the lower activities. In short: we lose interest and ‘die’ to earlier involvements.

65. Sự vươn căng của trí trừu tượng để được trực giác thụ tinh là một cách tốt để bước vào thế giới của lý trí thuần túy, một thế giới của những ý tưởng sống động. Khi một người tư tưởng khảo sát các thế giới bên trong để tìm điều mà ông hoặc bà chưa biết, cây cầu từ trí trừu tượng đến trực giác đang được xây dựng. Những tiếp xúc này không bao giờ “được tạo dựng từ bên dưới”, và không phải là kết quả của bất kỳ kinh nghiệm nhân loại nào. Chúng là một phần của trí tuệ, bác ái, minh triết và ý chí của “Thượng đế”, Hành Tinh Thượng đế. Chúng liên quan đến các mô hình sống động, thiêng liêng, vốn chỉ đạo mọi kinh nghiệm bên ngoài. Sự tiếp xúc với chúng khiến chúng ta sống động rung ngân. Tiếp xúc quá nhiều sẽ hủy diệt hoàn toàn sự sống hình tướng thấp. Người ta tự hỏi liệu một yếu tố mạnh mẽ trong sự hủy diệt thể nguyên nhân có phải là sự tiếp xúc Bồ đề ngày càng mãnh liệt, đòi hỏi, vì sự biểu lộ đầy đủ hơn, rằng chướng ngại của thể nguyên nhân phải bị hủy diệt hay không. Cái lớn hơn, hiện nay, chỉ truyền cảm hứng cho cái nhỏ hơn, nhưng đến một điểm tiếp xúc mãnh liệt nào đó, nó hủy diệt cái nhỏ hơn. Điều này có thể được gọi là “sự hủy diệt do sự tăng cường cao hơn”. Nói theo cách thông thường hơn, nó được gọi là “sống vượt qua” mô hình đời sống hiện tại. Sự hủy diệt diễn ra như thể từ bên trong, và không phải là kết quả của những sai lầm hay sự quản lý kém “bên dưới”. Hình thức hủy diệt cao hơn này thường đi trước bằng một giai đoạn mệt mỏi mãnh liệt, dường như có một nguyên nhân bí ẩn nào đó. Nguyên nhân thật là sự tăng cường của một phương diện thiêng liêng cho đến nay chưa được nhận ra; phương diện cao hơn này từ hóa sinh lực và tước khỏi những mối bận tâm “thấp” quen thuộc năng lượng cần thiết để duy trì chúng. Sự sống lớn hơn “bên trên” buộc các hoạt động thấp phải sống vượt qua chính mình. Tóm lại: chúng ta mất hứng thú và “chết” đối với những dính mắc trước kia.

66. The tiredness incident to a life in or under Pisces is often due to such causes. Pisces is, spiritually, the “end of the trail”, and preparation for the emergence of a powerful, implicate energy is often in progress.

66. Sự mệt mỏi gắn liền với một đời sống trong hoặc dưới Song Ngư thường do những nguyên nhân như thế. Về mặt tinh thần, Song Ngư là “cuối con đường”, và sự chuẩn bị cho sự xuất hiện của một năng lượng hàm tàng đầy quyền năng thường đang diễn tiến.

67. In or under Pisces, for instance, the focus upon Hierarchy can begin to dissolve, and the power of Shamballa can begin to take its place. Those who take their final incarnation in or under Pisces are learning “World Saviourship”, and are strongly influenced by Shamballa in that final incarnation.

67. Trong hoặc dưới Song Ngư, chẳng hạn, sự tập trung vào Thánh đoàn có thể bắt đầu tan rã, và quyền năng của Shamballa có thể bắt đầu thay thế nó. Những ai nhận lần lâm phàm cuối cùng trong hoặc dưới Song Ngư đang học “Địa vị Cứu Thế Thế Gian”, và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Shamballa trong lần lâm phàm cuối cùng ấy.

68. On lower turns of the spiral (and even in relation to progressed Moon phases in Pisces), the principle holds good and the steps of a process can be identified: 1) fatigue due to the incompletely sensed build-up of a source of greater energy behind the energy which sustains one’s present pattern of preoccupation; 2) the emergence of that energy accompanied by the destruction of the present ‘pattern of preoccupation’; followed by 3) liberation and a far fuller expression of the source of greater energy and the creation of a new pattern of expression.

68. Trên những vòng xoắn thấp hơn của đường xoắn ốc, và ngay cả liên quan đến các pha Mặt Trăng tiến trình trong Song Ngư, nguyên lý này vẫn đúng và có thể nhận ra các bước của một tiến trình: 1) mệt mỏi do sự tích tụ chưa được cảm nhận đầy đủ của một nguồn năng lượng lớn hơn phía sau năng lượng đang duy trì mô hình bận tâm hiện tại của một người; 2) sự xuất hiện của năng lượng ấy, đi kèm với sự hủy diệt “mô hình bận tâm” hiện tại; tiếp theo là 3) giải thoát và một sự biểu lộ đầy đủ hơn rất nhiều của nguồn năng lượng lớn hơn, cùng sự tạo lập một mô hình biểu lộ mới.

69. The important to thing to realize is that progress is eternal in cosmos. Whether there is any real progress for the ONE SUPREME IDENTITY is a very interesting and debatable question to which my present answer is, “No”. Sometime we can go into this; it is based upon the infinite perfection of the ONE ABSOLUTE SOURCE.

69. Điều quan trọng cần nhận ra là tiến bộ là vĩnh cửu trong vũ trụ. Liệu có bất kỳ tiến bộ thật sự nào đối với BẢN SẮC TỐI THƯỢNG DUY NHẤT hay không là một câu hỏi rất thú vị và còn có thể tranh luận; câu trả lời hiện nay của tôi là “Không”. Một lúc nào đó chúng ta có thể đi sâu vào điều này; nó dựa trên sự hoàn thiện vô hạn của NGUỒN TUYỆT ĐỐI DUY NHẤT.

70. For practical purposes, the stage of brotherhood about which we are today rapidly learning, is intensely progressive and leads us into the higher levels of our energy system and into the worlds/dimensions which correlate with those levels.

70. Về mặt thực tiễn, giai đoạn huynh đệ mà ngày nay chúng ta đang nhanh chóng học hỏi là một giai đoạn tiến bộ mãnh liệt, và dẫn chúng ta vào các cấp độ cao hơn của hệ năng lượng chúng ta, cũng như vào các thế giới hay chiều kích tương ứng với những cấp độ ấy.

71. There is plenty in cosmos to “keep us going” and once we learn to function as true brothers, our progress, relative to how it has been, will be rapid, indeed.

71. Trong vũ trụ có rất nhiều điều để “giữ cho chúng ta tiếp tục tiến tới”, và một khi chúng ta học cách hoạt động như những huynh đệ đích thực, tiến bộ của chúng ta, so với trước đây, quả thật sẽ nhanh chóng.

The Themes Included Under the Sentence 5Các Chủ Đề Bao Gồm Dưới Câu 5

Các Chủ Đề Bao Gồm Dưới Câu 5Các Chủ Đề Bao Gồm Dưới Câu 5

B. “Out of the fire”: this is a symbolic way of indicating that the personality life is definitely and finally left behind (cf. RI, p. 44)

B. “Ra khỏi lửa”: đây là một cách biểu tượng để chỉ rằng đời sống phàm ngã đã được bỏ lại phía sau một cách dứt khoát và sau cùng (x. RI, tr. 44)

Here, in very brief form, certain basic instructions are given. Each of them indicates the new attitudes imposed upon all who have taken initiation. They cannot be interpreted in terms of the Path of Discipleship or of Probation. The ordinary and easily-arrived-at significances mean little to the initiate mind. Let me briefly consider them so that clarity of concept, though not of detail, may prevail.

Ở đây, trong hình thức rất vắn tắt, một số huấn thị căn bản được đưa ra. Mỗi huấn thị chỉ ra những thái độ mới được áp đặt lên tất cả những ai đã được điểm đạo. Chúng không thể được diễn giải theo các thuật ngữ của Con Đường Đệ Tử hay Con Đường Dự Bị. Những thâm nghĩa thông thường và dễ đạt tới có rất ít ý nghĩa đối với trí tuệ điểm đạo đồ. Tôi sẽ xem xét vắn tắt chúng để sự rõ ràng về khái niệm, dù không phải về chi tiết, có thể chiếm ưu thế.

1. The Tibetan issues a warning—in essence, “Don’t be fooled by appearances; think more deeply than you ever have”. These Rules are written for the “initiate mind”. They are not capable of being meaningfully interpreted by those who think of themselves as separate human units, even if animated by a powerful aspiration and strong intention.

1. Chân sư Tây Tạng đưa ra một lời cảnh báo—về thực chất là: “Đừng để bị vẻ ngoài đánh lừa; hãy suy nghĩ sâu hơn các bạn từng làm”. Những Quy luật này được viết cho “trí tuệ điểm đạo đồ”. Những ai nghĩ về mình như những đơn vị nhân loại riêng biệt, dù được linh hoạt bởi một khát vọng mạnh mẽ và một ý định kiên cường, cũng không thể diễn giải chúng một cách có ý nghĩa.

2. These “new attitudes” are “imposed upon all who have taken initiation”. Why “imposed” and what does the imposing? Might we not say that the intense energies evoked by the initiate beat upon his consciousness, forcing (by their very insistent presence) the initiate to reckon with them. The result is the formation of “new attitudes”. The energies are inescapable hence their effect is an imposed one. The new point of tension achieved presses upon the initiate forcing certain realizations and conclusions.

2. Những “thái độ mới” này “được áp đặt lên tất cả những ai đã được điểm đạo”. Tại sao là “áp đặt”, và điều gì áp đặt? Chúng ta có thể nói rằng những năng lượng mãnh liệt do điểm đạo đồ gợi lên dội vào tâm thức của ông, buộc điểm đạo đồ, bằng chính sự hiện diện khẩn thiết của chúng, phải tính đến chúng. Kết quả là sự hình thành những “thái độ mới”. Những năng lượng ấy không thể tránh né, do đó hiệu quả của chúng là một hiệu quả áp đặt. Điểm tập trung nhất tâm mới đạt được đè ép lên điểm đạo đồ, buộc ông đi đến những nhận thức và kết luận nhất định.

3. As well, closer affiliation with the Master’s ashram makes the initiate more sensitive to the quality of thought generated with that ashram. As these thoughts impinge upon the initiate’s consciousness, new patterns of orientation resonant to ashramic thought are created.

3. Hơn nữa, sự liên kết gần gũi hơn với ashram của Chân sư khiến điểm đạo đồ nhạy cảm hơn với phẩm tính tư tưởng được tạo sinh trong ashram ấy. Khi những tư tưởng này tác động vào tâm thức của điểm đạo đồ, những mô hình định hướng mới cộng hưởng với tư tưởng ashram được tạo lập.

a. Out of the fire. This is a symbolic way of indicating that the personality life is definitely and finally left behind. It is this phrase which gives the clue to the initiation which is referred to in this Rule. Each of these Rules contains within itself the clue to the particular initiation to which reference is being made. The Rules are not placed in their right order, having sequential reference to the seven initiations. The intuition of the aspirant must be invoked if he is to arrive at right knowledge. I shall sometimes indicate the initiation involved, but not always, as it would profit not. The clue to the seventh initiation which lies ahead for such high Beings as the Christ would be of no service to you at all. The clue to the initiation of the Transfiguration can be of importance, as it involves the personality, and many of you in the not so distant future (from the angle of the aeonial life cycle of the soul) will face that. The secret of the third initiation is the demonstration of complete freedom from the claims and demands of the personality. It does not involve the achievement of [Page 45] a completely perfect expression of the spiritual life, but it does indicate that the service of the initiate and his life demonstration—regarded in a broad and general way, from the angle of the life-tendency and of entire dedication to humanity—remains untouched by the limitations, still existent, of the personal lower self.

a. Ra khỏi lửa. Đây là một cách biểu tượng để chỉ rằng đời sống phàm ngã đã được bỏ lại phía sau một cách dứt khoát và sau cùng. Chính cụm từ này trao chìa khóa cho cuộc điểm đạo được đề cập trong Quy luật này. Mỗi Quy luật này chứa trong chính nó chìa khóa cho cuộc điểm đạo đặc thù đang được nói đến. Các Quy luật không được đặt theo đúng thứ tự, có liên hệ tuần tự với bảy cuộc điểm đạo. Trực giác của người chí nguyện phải được khơi dậy nếu y muốn đạt đến tri thức đúng đắn. Đôi khi tôi sẽ chỉ ra cuộc điểm đạo liên hệ, nhưng không phải lúc nào cũng vậy, vì điều đó sẽ không có lợi. Chìa khóa cho lần điểm đạo thứ bảy đang ở phía trước đối với những Đấng cao cả như Đức Christ sẽ hoàn toàn không phụng sự gì cho các bạn. Chìa khóa cho cuộc điểm đạo Biến hình có thể có tầm quan trọng, vì nó liên quan đến phàm ngã, và nhiều người trong các bạn trong tương lai không quá xa, xét từ góc độ chu kỳ sự sống thiên thu của linh hồn, sẽ đối diện với điều đó. Bí nhiệm của lần điểm đạo thứ ba là sự biểu hiện của tự do hoàn toàn khỏi những đòi hỏi và yêu sách của phàm ngã. Nó không bao hàm việc đạt được [Trang 45] một sự biểu lộ hoàn toàn hoàn hảo của đời sống tinh thần, nhưng nó chỉ ra rằng sự phụng sự của điểm đạo đồ và sự thể hiện đời sống của ông—được xem theo cách rộng rãi và tổng quát, từ góc độ khuynh hướng đời sống và sự tận hiến trọn vẹn cho nhân loại—vẫn không bị chạm đến bởi những giới hạn, vẫn còn hiện hữu, của phàm ngã cá nhân thấp.

1. In this paragraph the Tibetan tells us that various of the Rules apply to the various initiations—quite possibly, but not necessarily, the first seven initiations. He invites us to study the Rules intuitively so we can discern the initiation to which a given Rule may apply.

1. Trong đoạn này, Chân sư Tây Tạng cho chúng ta biết rằng nhiều Quy luật khác nhau áp dụng cho các cuộc điểm đạo khác nhau—rất có thể, nhưng không nhất thiết, là bảy cuộc điểm đạo đầu tiên. Ngài mời gọi chúng ta nghiên cứu các Quy luật bằng trực giác để chúng ta có thể phân biện cuộc điểm đạo mà một Quy luật nhất định có thể áp dụng.

2. The Tibetan tells us “I shall sometimes indicate the initiation involved, but not always, as it would profit not”. From this sentence, we do not know whether he is indicating the initiatory level which correlates with this first Rule, yet as we read, we gather the impression that He is definitely doing so.

2. Chân sư Tây Tạng nói với chúng ta: “Đôi khi tôi sẽ chỉ ra cuộc điểm đạo liên hệ, nhưng không phải lúc nào cũng vậy, vì điều đó sẽ không có lợi”. Từ câu này, chúng ta không biết liệu Ngài có đang chỉ ra cấp độ điểm đạo tương ứng với Quy luật thứ nhất này hay không; tuy nhiên khi đọc tiếp, chúng ta có ấn tượng rằng Ngài chắc chắn đang làm như vậy.

3. He does tell us that the phrase, “Out of the fire” “is a symbolic way of indicating that the personality life is definitely and finally left behind”. So, then, this first Rule tells us that a stage of evolution has been reached in which the personality life is, indeed, left behind. Later, in the same paragraph, He tells us that “the secret of the third initiation is the demonstration of complete freedom from the claims and demands of the personality”. It does not require too much reasoning to reveal that “complete freedom from the claims and demands of the personality” is the same as leaving the personality life “definitely and finally behind”. The conclusion, therefore, is that Rule I for Disciples and Initiates refers to the third initiation. This is our starting point. The succeeding Rules will, therefore, not be in order, at least as regard the initiation to which they refer. They may well be in order in terms of some deeper design. Perhaps, later, we may make an attempt to place them in order in terms of the initiation to which they refer and see how a reading of them in such an order may reveal the initiate’s progress.

3. Ngài quả có nói với chúng ta rằng cụm từ “Ra khỏi lửa” “là một cách biểu tượng để chỉ rằng đời sống phàm ngã đã được bỏ lại phía sau một cách dứt khoát và sau cùng”. Như vậy, Quy luật thứ nhất này cho chúng ta biết rằng một giai đoạn tiến hoá đã đạt tới, trong đó đời sống phàm ngã thật sự được bỏ lại phía sau. Về sau, trong cùng đoạn ấy, Ngài nói với chúng ta rằng “bí nhiệm của lần điểm đạo thứ ba là sự biểu hiện của tự do hoàn toàn khỏi những đòi hỏi và yêu sách của phàm ngã”. Không cần lý luận quá nhiều cũng thấy rằng “tự do hoàn toàn khỏi những đòi hỏi và yêu sách của phàm ngã” chính là việc bỏ đời sống phàm ngã “một cách dứt khoát và sau cùng phía sau”. Do đó, kết luận là Quy luật I dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ liên quan đến lần điểm đạo thứ ba. Đây là điểm khởi đầu của chúng ta. Vì vậy, các Quy luật tiếp theo sẽ không theo thứ tự, ít nhất là xét theo cuộc điểm đạo mà chúng đề cập. Chúng rất có thể theo thứ tự xét theo một thiết kế sâu xa hơn. Có lẽ về sau, chúng ta có thể thử sắp đặt chúng theo thứ tự của cuộc điểm đạo mà chúng liên hệ, và xem việc đọc chúng theo thứ tự ấy có thể mặc khải sự tiến bộ của điểm đạo đồ như thế nào.

4. In our attempt to place these Rules in initiatory order, we may or may not be correct, but the attempt to do so will teach us much. We will have to know the main theme and requirements of each initiation, and how the ancient language of the Rule does or does not correlate with such themes and requirements. In the attempt to make the correlation our powers of discrimination and discernment are being tested.

4. Trong nỗ lực sắp đặt các Quy luật này theo thứ tự điểm đạo, chúng ta có thể đúng hoặc không đúng, nhưng nỗ lực ấy sẽ dạy chúng ta nhiều điều. Chúng ta sẽ phải biết chủ đề chính và các yêu cầu của mỗi cuộc điểm đạo, và ngôn ngữ cổ xưa của Quy luật tương ứng hay không tương ứng như thế nào với các chủ đề và yêu cầu ấy. Trong nỗ lực thực hiện sự tương ứng đó, các năng lực phân biện và phân biện tinh thần của chúng ta đang được thử thách.

5. Studying this first Rule carefully, we can see many “earmarks” of the third initiation:

5. Khi nghiên cứu cẩn thận Quy luật thứ nhất này, chúng ta có thể thấy nhiều “dấu hiệu nhận biết” của lần điểm đạo thứ ba:

a. clear mental focussing;

a. sự tập trung trí tuệ rõ ràng;

b. the possible appearance of the light in the head (though since such an appearance is “phenomenal”, it need not necessarily appear in the life of all third degree initiates);

b. khả năng xuất hiện ánh sáng trong đầu, dù vì sự xuất hiện như thế mang tính “hiện tượng”, nó không nhất thiết phải xuất hiện trong đời sống của mọi điểm đạo đồ bậc ba;

c. the work has been accomplished on the triple burning ground (after the third initiation, the testing period faced before initiation is not so much referred to as a burning ground);

c. công việc đã được hoàn thành trên vùng đất cháy tam phân, sau lần điểm đạo thứ ba, giai đoạn thử thách phải đối diện trước điểm đạo không còn được gọi nhiều là vùng đất cháy;

d. focus upon the higher mental plane through which the “clear, cold light shines forth

d. sự tập trung vào Cõi thượng trí mà qua đó “ánh sáng trong trẻo, lạnh lẽo chiếu rạng

e. integrated group consciousness in the field of soul love

e. tâm thức nhóm tích hợp trong lĩnh vực bác ái của linh hồn

f. the “door of initiation” stands behind. Really the “door” passed at the third degree is the door to real initiation as the Hierarchy considers initiation. The first two initiations are not, technically, real, (i.e., solar initiations)

f. “cánh cửa điểm đạo” đứng ở phía sau. Thật ra, “cánh cửa” được vượt qua ở bậc ba là cánh cửa dẫn vào điểm đạo thật sự như Thánh đoàn nhìn nhận điểm đạo. Hai lần điểm đạo đầu tiên, xét về mặt kỹ thuật, không phải là thật sự, tức là thái dương điểm đạo

g. the Way does not open up before the eye of the initiate until after the third initiation

g. Con Đường không mở ra trước mắt điểm đạo đồ cho đến sau lần điểm đạo thứ ba

h. the “cold” of the spiritual triad does not admit of penetration until after the third initiation.

h. “cái lạnh” của Tam Nguyên Tinh Thần không cho phép thâm nhập cho đến sau lần điểm đạo thứ ba.

We can see, can we not, how the stage and requirements of the third initiation are multiply indicated in this Rule.

Chúng ta có thể thấy, phải không, rằng giai đoạn và các yêu cầu của lần điểm đạo thứ ba được chỉ ra theo nhiều cách trong Quy luật này.

6. The implication in the paragraph under study is that even the seventh initiation is indicated in the Rules, but that no clue will be given by the Tibetan to alert us to which Rules may indicate it. Whether all seven initiations are indicated in the first seven Rules, or whether all fourteen must be scanned, is something we shall have to determine as we go.

6. Hàm ý trong đoạn đang được nghiên cứu là ngay cả lần điểm đạo thứ bảy cũng được chỉ ra trong các Quy luật, nhưng Chân sư Tây Tạng sẽ không trao cho chúng ta chìa khóa nào để nhận biết những Quy luật nào có thể chỉ ra nó. Liệu cả bảy cuộc điểm đạo đều được chỉ ra trong bảy Quy luật đầu, hay phải khảo sát cả mười bốn Quy luật, là điều chúng ta sẽ phải xác định khi tiến hành.

7. Note that knowledge, per se, may not necessarily be of service. We might be quite interested in the seventh initiation and which Rule pertains to it, but the knowledge to be gathered would not be capable of application and hence would not serve. There are many things which are “nice to know”, but, essentially, quite useless. The Buddha recognized this very well, and stuck in His Teaching to the fundamental knowledge which would release a human being from the thralldom of desire. The mind can range the entire planet, piling the nuggets of knowledge one atop the other—but to what end? Probably a few things—understood, assimilated and applied—would better serve.

7. Hãy lưu ý rằng tri thức, chính nó, không nhất thiết phụng sự. Chúng ta có thể khá quan tâm đến lần điểm đạo thứ bảy và Quy luật nào liên quan đến nó, nhưng tri thức thu được sẽ không thể áp dụng và do đó sẽ không phụng sự. Có nhiều điều “biết thì hay”, nhưng về thực chất lại khá vô ích. Đức Phật nhận ra điều này rất rõ, và trong Giáo huấn của Ngài, Ngài bám sát tri thức căn bản có thể giải thoát con người khỏi ách nô lệ của dục vọng. Thể trí có thể đi khắp cả hành tinh, chất chồng những hạt vàng tri thức lên nhau—nhưng để làm gì? Có lẽ một vài điều—được thấu hiểu, đồng hóa và áp dụng—sẽ phụng sự tốt hơn.

8. The Tibetan tells us that

8. Chân sư Tây Tạng nói với chúng ta rằng

“The clue to the initiation of the Transfiguration can be of importance, as it involves the personality, and many of you in the not so distant future (from the angle of the aeonial life cycle of the soul) will face that”.

“Chìa khóa cho cuộc điểm đạo Biến hình có thể có tầm quan trọng, vì nó liên quan đến phàm ngã, và nhiều người trong các bạn trong tương lai không quá xa, xét từ góc độ chu kỳ sự sống thiên thu của linh hồn, sẽ đối diện với điều đó”.

This statement certainly puts the time equation in proportion. Many students of esotericism (given the pressure of the times and the great possibilities) are in a “rush”, even though we are wisely advised that “there is no rush, no hurry, and yet there is no time to lose”.

Lời tuyên bố này chắc chắn đặt phương trình thời gian vào đúng tỉ lệ. Nhiều đạo sinh huyền bí học, do áp lực của thời đại và những khả năng lớn lao, đang “vội vã”, dù chúng ta đã được khuyên một cách minh triết rằng “không có gì phải vội, không có gì phải hấp tấp, nhưng cũng không có thời gian để mất”.

The personality may wish that the phrase, “not so distant future”, tells a story of years or perhaps decades; probably, however, it tells a story of “lives”. The soul persists through aeons and has a different, wider and more elevated perspective than the personality can possibly have. The effort to think in terms of soul perspective (rather than in terms of the time-conscious personality) is much to be recommended. The personality is the “hare” of the ancient fable; the soul is the tortoise.

Phàm ngã có thể mong rằng cụm từ “tương lai không quá xa” kể một câu chuyện tính bằng năm tháng hoặc có lẽ vài thập niên; tuy nhiên, rất có thể nó kể một câu chuyện tính bằng “nhiều kiếp sống”. Linh hồn tồn tại qua các đại kỳ và có một viễn cảnh khác, rộng hơn và cao hơn điều phàm ngã có thể có. Nỗ lực suy nghĩ theo viễn cảnh của linh hồn, thay vì theo phàm ngã có ý thức về thời gian, rất đáng được khuyến nghị. Phàm ngã là “con thỏ” trong ngụ ngôn xưa; linh hồn là con rùa.

9. Then comes this most important sentence:

9. Rồi đến câu hết sức quan trọng này:

“The secret of the third initiation is the demonstration of complete freedom from the claims and demands of the personality”.

“Bí nhiệm của lần điểm đạo thứ ba là sự biểu hiện của tự do hoàn toàn khỏi những đòi hỏi và yêu sách của phàm ngã”.

It is important to realize that this does not mean that the personality will no longer have “claims and demands”; it will. But the attitude of the consciousness of the initiate is such that these claims and demands are not allowed to disrupt the initiate’s sustained purpose and plan. Basically, the personality can no longer deviate the initiate from his will-intended course. He lives undeviatingly at a point of tension ‘above’ that of the personality, which must obey, even though it like it not.

Điều quan trọng cần nhận ra là điều này không có nghĩa phàm ngã sẽ không còn “đòi hỏi và yêu sách”; nó vẫn sẽ có. Nhưng thái độ của tâm thức điểm đạo đồ là như vậy: những đòi hỏi và yêu sách này không được phép làm gián đoạn mục đích và Thiên Cơ được duy trì của điểm đạo đồ. Về căn bản, phàm ngã không còn có thể làm điểm đạo đồ lệch khỏi lộ trình do ý chí của ông định hướng. Ông sống không sai lệch tại một điểm tập trung nhất tâm “ở trên” điểm của phàm ngã, vốn phải vâng phục, dù nó có thích hay không.

10. Of course, the personality of a third degree initiate is not so likely to present the problems resident in a personality of lower grade, but subtle problems will, nonetheless, remain (otherwise, how could the “rich young man” {ever an initiate of the third degree}”go sadly away” when the Christ asked him to “sell everything, give the money to the poor and follow me”?!. The personality is not truly defeated until the fourth degree, and even afterwards, the “Dweller on the Threshold” remains, to be finally disposed (through synthetic identification) at the fifth initiation when the debris of the exploded causal body is, at last, dissipated.

10. Dĩ nhiên, phàm ngã của một điểm đạo đồ bậc ba không còn dễ đưa ra những vấn đề cư trú trong một phàm ngã cấp thấp hơn, nhưng các vấn đề vi tế vẫn sẽ còn; nếu không, làm sao “người thanh niên giàu có”, vốn là một điểm đạo đồ bậc ba, lại có thể “buồn bã bỏ đi” khi Đức Christ yêu cầu ông “bán tất cả, đem tiền cho người nghèo và theo Ta”? Phàm ngã chưa thật sự bị đánh bại cho đến bậc bốn, và ngay cả sau đó, “Kẻ Chận Ngõ” vẫn còn, để cuối cùng được xử lý, qua sự đồng hóa tổng hợp, ở lần điểm đạo thứ năm, khi mảnh vụn của thể nguyên nhân đã nổ tung cuối cùng được làm tiêu tan.

“3. In the third initiation, the initiate can employ the intuition for the right perception of truth, and in that initiation he catches the first real glimpse of the Dweller on the Threshold and the Angel of the Presence.

“3. Trong lần điểm đạo thứ ba, điểm đạo đồ có thể vận dụng trực giác để nhận thức chân lý một cách đúng đắn, và trong cuộc điểm đạo đó, ông có thoáng nhìn thật sự đầu tiên về Kẻ Chận Ngõ và Thiên Thần của Hiện Diện.

4. In the fourth initiation, the initiate demonstrates his ability to produce complete at-one-ment between the higher and lower aspect of the soul in manifestation and sees the Dweller on the Threshold merge into the Angel of the Presence.

4. Trong lần điểm đạo thứ tư, điểm đạo đồ chứng minh khả năng tạo ra sự hợp nhất trọn vẹn giữa phương diện cao và thấp của linh hồn trong biểu hiện, và thấy Kẻ Chận Ngõ hòa nhập vào Thiên Thần của Hiện Diện.

5. In the fifth initiation—and here words fail to express the truth—he sees the Dweller on the Threshold, [Page 104] the Angel, and the Presence merged into a divine synthesis” (GWP 103-104).

5. Trong lần điểm đạo thứ năm—và ở đây ngôn từ bất lực không thể diễn tả chân lý—ông thấy Kẻ Chận Ngõ, [Trang 104] Thiên Thần, và Đấng Hiện Diện hòa nhập vào một tổng hợp thiêng liêng” (Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới, 103-104).

11. The Tibetan describes the attitude of the third degree initiate to his personality demonstration:

11. Chân sư Tây Tạng mô tả thái độ của điểm đạo đồ bậc ba đối với sự thể hiện phàm ngã của ông:

“It does not involve the achievement of a completely perfect expression of the spiritual life, but it does indicate that the service of the initiate and his life demonstration—regarded in a broad and general way, from the angle of the life-tendency and of entire dedication to humanity—remains untouched by the limitations, still existent, of the personal lower self”.

“Nó không bao hàm việc đạt được một sự biểu lộ hoàn toàn hoàn hảo của đời sống tinh thần, nhưng nó chỉ ra rằng sự phụng sự của điểm đạo đồ và sự thể hiện đời sống của ông—được xem theo cách rộng và tổng quát, từ góc độ khuynh hướng đời sống và sự tận hiến trọn vẹn cho nhân loại—vẫn không bị chạm đến bởi những giới hạn, vẫn còn hiện hữu, của phàm ngã cá nhân thấp”.

We have to remember that perfection is associated with the number four. The fourth ray is the “Corrector of the Form” and that form is finally corrected at the fourth degree, then to be discarded, in most instances.

Chúng ta phải nhớ rằng sự hoàn thiện liên hệ với con số bốn. Cung bốn là “Đấng Hiệu Chỉnh Hình Tướng”, và hình tướng ấy cuối cùng được hiệu chỉnh ở bậc bốn, rồi trong hầu hết trường hợp sẽ được loại bỏ.

It is said that the “devil is in the details”. Note that the Master is not looking too closely at the life of an initiate of the third degree, but rather “in a broad and general way” and in terms of “life-tendency” and “of entire dedication to humanity”. If these large themes and tendencies are in place, then all is well. Limitations do exist, that is certain, but they are not allowed to touch the service of the initiate who works as if above them.

Người ta nói rằng “ma quỷ nằm trong các chi tiết”. Hãy lưu ý rằng Chân sư không nhìn quá sát vào đời sống của một điểm đạo đồ bậc ba, mà đúng hơn là nhìn “theo cách rộng rãi và tổng quát”, xét theo “khuynh hướng đời sống” và “sự tận hiến trọn vẹn cho nhân loại”. Nếu những chủ đề và khuynh hướng lớn này đã đúng vị trí, thì mọi sự đều tốt đẹp. Các giới hạn vẫn tồn tại, điều đó chắc chắn, nhưng chúng không được phép chạm đến sự phụng sự của điểm đạo đồ, người làm việc như thể ở trên chúng.

12. The personality, as a disturbance, is negated. Perhaps this is what it means to conquer the Moon and Mars at that degree, for these two planets signify the power of the lunar lords to disrupt and retard.

12. Phàm ngã, như một sự nhiễu loạn, bị phủ định. Có lẽ đây là ý nghĩa của việc chinh phục Mặt Trăng và Sao Hỏa ở bậc ấy, vì hai hành tinh này biểu thị quyền năng của các nguyệt tinh quân trong việc gây gián đoạn và làm trì hoãn.

13. Note, in considering this paragraph as a whole, the several ways that the word, “fire” can be interpreted. The Tibetan interprets it as indicative of the entire personality life—the eighteen lower fires, burning with “Fire by Friction”.

13. Khi xét toàn bộ đoạn này, hãy lưu ý đến nhiều cách mà từ “lửa” có thể được diễn giải. Chân sư Tây Tạng diễn giải nó như chỉ toàn bộ đời sống phàm ngã—mười tám ngọn lửa thấp, cháy bằng “Lửa ma sát”.

14. Fire also, as previously suggested, can indicate the mental plane in general. During the progressive application of these rules, the different fires characteristic of the three levels of the mental plane have to be transcended, and consciousness eventually polarized on that level of fire we call the buddhic plane—a level which is “cold” to the eighteen lower fires. Coldness can, of course, apply to various conditions within the eighteen lower fires. In early days they are cold or unresponsive to the impact by soul energies. Later, as spiritual progress takes hold, these eighteen lower fires are subdued and the matter of the eighteen lower subplanes becomes “cold” to the fires of passion. Then the meaning of “cold” shifts into the higher planes and begins to relate to qualities of consciousness.

14. Như đã gợi ý trước đây, lửa cũng có thể chỉ cõi trí nói chung. Trong quá trình áp dụng tiến bộ các quy luật này, những loại lửa khác nhau đặc trưng cho ba cấp độ của cõi trí phải được siêu vượt, và tâm thức cuối cùng được phân cực trên cấp độ lửa mà chúng ta gọi là cõi Bồ đề—một cấp độ “lạnh” đối với mười tám ngọn lửa thấp. Dĩ nhiên, sự lạnh lẽo có thể áp dụng cho nhiều trạng thái khác nhau trong mười tám ngọn lửa thấp. Trong những ngày đầu, chúng lạnh hoặc không đáp ứng với tác động của các năng lượng linh hồn. Về sau, khi tiến bộ tinh thần bắt đầu nắm quyền, mười tám ngọn lửa thấp này được chế ngự và vật chất của mười tám cõi phụ thấp trở nên “lạnh” đối với những ngọn lửa đam mê. Khi đó ý nghĩa của “lạnh” chuyển lên các cõi cao hơn và bắt đầu liên hệ đến các phẩm tính của tâm thức.

C. “Into the cold”: this means that the focus of the life is now in the realm of clear truth and of pure reason (cf. RI, p. 45)

C. “Vào trong cái lạnh”: điều này có nghĩa rằng tiêu điểm của sự sống nay ở trong cõi giới của chân lý trong trẻo và lý trí thuần túy (x. RI, tr. 45)

b. Into the cold. This means that the focus of the life is now in the realm of clear truth and of pure reason. The life of the initiate is being rapidly transferred out of the egoic centre, the soul vehicle, on to the level of the buddhic life or state of being. Note, I do not say “of consciousness.” This is formless, but preserves the fruitage of form experience. It is being oriented towards a realised unity and identification with the life aspect of divinity, and yet preserves its own recognised and achieved identity. On this level of pure impersonality and of right orientation the group stands, obedient to the rule which governs this particular stage of development.

b. Vào trong cái lạnh. Điều này có nghĩa rằng tiêu điểm của sự sống nay ở trong cõi giới của chân lý trong trẻo và lý trí thuần túy. Sự sống của điểm đạo đồ đang nhanh chóng được chuyển dịch khỏi trung tâm chân ngã, vận cụ linh hồn, lên cấp độ của sự sống Bồ đề hay trạng thái hiện hữu Bồ đề. Hãy lưu ý, tôi không nói “của tâm thức”. Điều này vô hình tướng, nhưng vẫn bảo tồn thành quả của kinh nghiệm hình tướng. Nó đang được định hướng về một sự hợp nhất đã được nhận thức và sự đồng hóa với phương diện sự sống của thiên tính, nhưng vẫn bảo tồn bản sắc riêng đã được nhận biết và đạt thành. Trên cấp độ phi cá nhân thuần túy và định hướng đúng này, nhóm đứng vững, tuân phục quy luật chi phối giai đoạn phát triển đặc thù này.

1. Here the higher “cold” is described. The life is no longer deluded by partial and relative truths and the vagaries of reasoning. Clear truth is seen when the veils of personality no longer obscure. Pure reason prevails when fire has done its work. We might think of it as ‘reason purified by fire’.

1. Ở đây, “cái lạnh” cao hơn được mô tả. Sự sống không còn bị mê hoặc bởi các chân lý phiến diện, tương đối và những thất thường của lý luận. Chân lý trong trẻo được thấy khi các màn che của phàm ngã không còn che khuất. Lý trí thuần túy chiếm ưu thế khi lửa đã hoàn tất công việc của nó. Chúng ta có thể nghĩ về nó như “lý trí được lửa tinh luyện”.

2. At this stage (“into the cold”) there is still focus in the egoic center (the higher ego, not the personal ego), and polarization upon the buddhic plane is not yet established.

2. Ở giai đoạn này, “vào trong cái lạnh”, vẫn còn có sự tập trung trong trung tâm chân ngã, tức chân ngã cao siêu, không phải phàm ngã, và sự phân cực trên cõi Bồ đề vẫn chưa được thiết lập.

3. The Tibetan says that the “life of the initiate is being rapidly transferred”—not just the consciousness (though that, too, no matter how defined, is also involved). The initiate has been living within his causal center, and knows that he is the individual he has made himself to be over millions of years. He stands amidst his “tested accumulations” (as Master M. puts it). But soon the initiate will feel the degree of livingness characteristic of the egoic center (the causal body) to be a limitation; his life will long for greater Life; he will seek the higher, wider, freer spaces of the buddhic plane.

3. Chân sư Tây Tạng nói rằng “sự sống của điểm đạo đồ đang nhanh chóng được chuyển dịch”—không chỉ tâm thức, dù điều đó cũng vậy, bất kể được định nghĩa thế nào, cũng liên quan. Điểm đạo đồ đã từng sống trong trung tâm nguyên nhân của mình, và biết rằng ông là cá thể mà ông đã tự tạo thành qua hàng triệu năm. Ông đứng giữa “những tích lũy đã được thử thách” của mình, như Chân sư M. diễn đạt. Nhưng chẳng bao lâu điểm đạo đồ sẽ cảm thấy mức độ sống động đặc trưng của trung tâm chân ngã, tức thể nguyên nhân, là một giới hạn; sự sống của ông sẽ khao khát Sự sống lớn hơn; ông sẽ tìm kiếm những không gian cao hơn, rộng hơn, tự do hơn của cõi Bồ đề.

4. Upon the buddhic plane consciousness, as we usually know it, does not obtain—yet, forever and always in-cosmos, consciousness, itself, is inescapable. The Tibetan emphasizes the word “being” instead of “consciousness”, because a necessary adjustment in our ideas about the spiritual triad is more powerfully induced by the word “being” with its connotation of the life aspect.

4. Trên cõi Bồ đề, tâm thức như chúng ta thường biết không còn hiệu lực—tuy nhiên, mãi mãi và luôn luôn trong vũ trụ, chính tâm thức là điều không thể thoát khỏi. Chân sư Tây Tạng nhấn mạnh từ “hiện hữu” thay vì “tâm thức”, bởi vì một sự điều chỉnh cần thiết trong các ý niệm của chúng ta về Tam Nguyên Tinh Thần được gợi ra mạnh mẽ hơn bởi từ “hiện hữu”, với hàm nghĩa về phương diện sự sống.

5. Wherever the life is focussed, there the greatest magnetism occurs. When life is focussed within the causal periphery, the majority of the initiate’s experience is referred to it. When life focus is transferred to the buddhic plane, the buddhic vehicle becomes a center of magnetism more potent than the causal body, and the quality of experience (call it, ‘in-perience’) changes.

5. Sự sống tập trung ở đâu, từ điện lớn nhất xảy ra ở đó. Khi sự sống tập trung trong chu vi nhân thể, phần lớn kinh nghiệm của điểm đạo đồ được quy chiếu về đó. Khi tiêu điểm sự sống được chuyển dịch lên cõi Bồ đề, vận cụ Bồ đề trở thành một trung tâm từ điện mạnh mẽ hơn thể nguyên nhân, và phẩm tính của kinh nghiệm, có thể gọi là “nội-nghiệm”, thay đổi.

6. Consciousness necessarily changes too, and will be distinguished by intuitive apprehension and the blending and merging of subject and object. Sight as if ‘from within’ will replace the older and more habitual modes of conscious perception.

6. Tâm thức tất nhiên cũng thay đổi, và sẽ được phân biệt bởi sự lĩnh hội trực giác cùng sự hòa trộn và hòa nhập của chủ thể và đối tượng. Cái thấy như thể “từ bên trong” sẽ thay thế các phương thức tri nhận hữu thức cũ hơn và quen thuộc hơn.

7. We are given to understand that buddhic awareness “is formless, but preserves the fruitage of form experience”. The final transfer of causal content to triadal levels occurs at the fourth degree. How this occurs is mysterious, and is ‘hintingly[6]’ suggested, perhaps, by the word “translation”—the translation of content with form into content without form, yet without loss of quality and potency even though form be lost. The principle is that the greater includes the lesser, just as the idea includes the many thoughts generated from the idea. When form is sacrificed, quality is not lost. When the form through which causal quality manifested is lost, the essence of that quality is not lost but distilled, appearing, it would seem, in greater potency on the higher plane to which it is translated.

7. Chúng ta được cho biết rằng nhận thức Bồ đề “vô hình tướng, nhưng bảo tồn thành quả của kinh nghiệm hình tướng”. Sự chuyển dịch cuối cùng nội dung của thể nguyên nhân lên các cấp độ Tam nguyên tinh thần xảy ra ở lần điểm đạo thứ tư. Điều này diễn ra như thế nào vẫn là điều huyền nhiệm, và có lẽ được gợi ý một cách ‘ẩn ý’ bởi từ “chuyển dịch”—sự chuyển dịch nội dung có hình tướng thành nội dung không hình tướng, nhưng không mất đi phẩm tính và uy lực, dù hình tướng bị mất. Nguyên lý là cái lớn bao hàm cái nhỏ, cũng như ý tưởng bao hàm nhiều tư tưởng phát sinh từ ý tưởng ấy. Khi hình tướng được hi sinh, phẩm tính không mất đi. Khi hình tướng qua đó phẩm tính nguyên nhân biểu lộ bị mất, tinh hoa của phẩm tính ấy không mất đi mà được chưng cất, dường như xuất hiện với uy lực lớn hơn trên cõi cao hơn mà nó được chuyển dịch

8. In cosmos nothing can be permanently lost. The akashic record (the memory of nature) records all; the record is complete. The hardest thing, says Master M., is to lose what we have created. Benevolently, we cannot lose the quality we have worked so hard to generate. As well, we cannot lose our “tail”—the retrogressive tendencies every dragging behind us. The lesson is apt, as Master M. once again compares us to the animal kingdom just to arrest our attention and stimulate enough pride of evolutionary place to ensure that we shake off atavism!

8. Trong vũ trụ, không gì có thể mất đi vĩnh viễn. Tiên thiên ký ảnh ký ghi tất cả; ký lục ấy trọn vẹn. Chân sư M. nói rằng điều khó nhất là đánh mất những gì chúng ta đã tạo ra. May thay, chúng ta không thể mất phẩm tính mà mình đã nỗ lực rất nhiều để phát sinh. Đồng thời, chúng ta cũng không thể mất “cái đuôi” của mình—những khuynh hướng thoái hóa luôn lê kéo phía sau chúng ta. Bài học này thật thích đáng, vì Chân sư M. một lần nữa so sánh chúng ta với giới động vật chỉ để thu hút sự chú ý của chúng ta và khơi dậy đủ niềm tự hào về địa vị tiến hoá, nhằm bảo đảm rằng chúng ta rũ bỏ được khuynh hướng hồi tổ!

9. Upon the buddhic plane, the life of the initiate finds a new, mid-way focus.

9. Trên cõi Bồ đề, sự sống của điểm đạo đồ tìm thấy một trọng tâm mới, ở giữa.

“It is being oriented towards a realised unity and identification with the life aspect of divinity, and yet preserves its own recognised and achieved identity”.

“Nó đang được định hướng về một sự thống nhất đã chứng ngộ và sự đồng hoá với phương diện sự sống của thiên tính, nhưng vẫn bảo tồn bản sắc riêng đã được nhận biết và thành tựu”.

The atmic plane is the antechamber of a type of identification which can only be realized by conscious monads of the sixth degree. The high mentality of the abstract mental plane still preserves the identity achieved over millennia of labor. Buddhic awareness is a plane of “realised unity” and “divine harmony”, falling short of the complete identification which is the province of the monad, but standing in advance of the high individualism which is the perspective of the consciousness focussed within the causal body.

Cõi atma là tiền phòng của một kiểu đồng hoá mà chỉ các chân thần hữu thức ở cấp độ thứ sáu mới có thể chứng ngộ. Trí tuệ cao siêu của cõi trí trừu tượng vẫn bảo tồn bản sắc đã đạt được qua nhiều thiên niên kỷ lao tác. Nhận thức Bồ đề là một cõi của “thống nhất đã chứng ngộ” và “hài hoà thiêng liêng”, chưa đạt đến sự đồng hoá trọn vẹn vốn thuộc phạm vi của chân thần, nhưng vượt trước chủ nghĩa cá nhân cao độ vốn là viễn cảnh của tâm thức tập trung trong thể nguyên nhân.

10. The group which has ventured “into the cold” is standing in a new place, relatively:

10. Nhóm đã mạo hiểm “đi vào giá lạnh” đang đứng ở một vị trí mới, xét một cách tương đối:

“On this level of pure impersonality and of right orientation the group stands …”

“Trên cấp độ của sự vô ngã thuần khiết và định hướng đúng đắn này, nhóm đứng vững …”

The loving understanding of the buddhic plane is a friend to “pure impersonality”, which, so it seems, is not encountered before this point. “Right orientation” takes into account an awareness of the “Heart of the Sun” (an awareness common to the buddhic plane, whereon the Solar Logos has its lowest point of conscious demonstration).

Sự thấu hiểu đầy tình thương của cõi Bồ đề là bạn đồng hành của “sự vô ngã thuần khiết”, điều dường như chưa gặp được trước điểm này. “Định hướng đúng đắn” bao hàm nhận thức về “Trái Tim của Mặt Trời” — một nhận thức chung với cõi Bồ đề, nơi Thái dương Thượng đế có điểm biểu lộ hữu thức thấp nhất của Ngài.

11. The group is now “obedient”. The rebellious tendencies associated with the eighteen lower fires have been subdued, and the refined individualism of causal consciousness is put in its proper place. The will of the ashram is making itself felt in an incontestable manner. The initiate and the initiate group simply know, through pure reason, that it is necessary to obey that which the buddhic intuition reveals. Personal distortion is over and causal refraction is coming rapidly to an end (terminated at the fourth degree). The revealed truth cannot be challenged, nor is there the lower will to do so.

11. Giờ đây nhóm đã “vâng phục”. Các khuynh hướng phản loạn gắn với mười tám lửa thấp đã bị chế ngự, và chủ nghĩa cá nhân tinh luyện của tâm thức nguyên nhân được đặt vào đúng vị trí của nó. Ý chí của ashram đang tự biểu lộ một cách không thể tranh cãi. Điểm đạo đồ và nhóm điểm đạo đồ đơn giản biết, nhờ lý trí thuần khiết, rằng cần phải vâng phục điều trực giác Bồ đề mặc khải. Sự xuyên tạc cá nhân đã chấm dứt, và sự khúc xạ của thể nguyên nhân đang nhanh chóng đi đến hồi kết thúc, hoàn tất ở lần điểm đạo thứ tư. Chân lý được mặc khải không thể bị thách thức, và cũng không còn ý chí thấp để làm điều ấy.

D. “Toward a newer tension”: The esoteric significance of tension is ‘focussed immovable Will’. Right tension is the identification of brain and soul with the will aspect, and the preservation of that identification — unchanged and immovable — no matter what the circumstances and the difficulties (cf. RI, p. 45)

D. “Hướng tới một sức căng mới hơn”: Ý nghĩa nội môn của sức căng là ‘Ý Chí tập trung, bất lay chuyển’. Sức căng đúng đắn là sự đồng hoá của bộ não và linh hồn với phương diện ý chí, và sự bảo tồn đồng hoá ấy — không đổi thay và bất lay chuyển — bất kể hoàn cảnh và khó khăn nào (x. RI, tr. 45)

c. Toward a newer tension. The interpretation of the phrase presents difficulty. This is owing to the false impression which the word “tension” conveys at this time. It is associated in the minds of the reading public with the thought of nerves, with points of crisis, with courage and with fatigue. Is this not so? But in reality tension, occultly understood, is not associated with these aspects of personality reaction at all. The esoteric significance of tension (as far as I can explain it by limiting words) is “focussed immovable Will.” Right tension is the identification of brain and soul with the will aspect, and the preservation of that identification—unchanged and immovable—no matter what the circumstances and the difficulties.

c. Hướng tới một sức căng mới hơn. Việc giải thích cụm từ này gặp khó khăn. Điều này là do ấn tượng sai lầm mà từ “sức căng” truyền đạt vào thời điểm này. Trong trí của công chúng độc giả, nó gắn với ý niệm về thần kinh, các điểm khủng hoảng, lòng can đảm và sự mệt mỏi. Chẳng phải vậy sao? Nhưng thật ra, hiểu theo huyền bí học, sức căng hoàn toàn không liên quan đến các phương diện phản ứng phàm ngã này. Ý nghĩa nội môn của sức căng, trong mức độ Tôi có thể giải thích bằng ngôn từ giới hạn, là “Ý Chí tập trung, bất lay chuyển”. Sức căng đúng đắn là sự đồng hoá của bộ não và linh hồn với phương diện ý chí, và sự bảo tồn đồng hoá ấy—không đổi thay và bất lay chuyển—bất kể hoàn cảnh và khó khăn nào.

1. Much anent tension has been discussed in the earlier Commentaries. What is important to realize is that right tension does not arise within the personality at all, not even within the causal body. Both personality and soul are to be aligned with the spiritual will, the true source of which is (for practical purposes) the atmic plane—though the true origin of will far transcends that source and ends within the Universal Logos itself.

1. Nhiều điều về sức căng đã được bàn đến trong các Bình giảng trước. Điều quan trọng cần nhận ra là sức căng đúng đắn hoàn toàn không phát sinh trong phàm ngã, thậm chí cũng không trong thể nguyên nhân. Cả phàm ngã lẫn linh hồn đều phải được chỉnh hợp với ý chí tinh thần, mà nguồn chân thật của nó, xét theo mục đích thực tiễn, là cõi atma—dù nguồn gốc đích thực của ý chí vượt xa nguồn ấy và kết thúc trong chính Thượng đế Vũ Trụ.

2. The normal personality states which we call “tense” are the very negation of right tension which subdues and harmonizes all contending forces. As higher points of tension are first accessed, the effect upon the personality nature may, indeed, be “nerves”, points of crisis, the necessity for courage, and fatigue resulting from long conflict between higher and lower points of tension. But if these lower effects preoccupy the consciousness, the disciple is not really living at a higher point of tension, but is still very much in the process of disidentifying with personality states. Thus, tension is not stress, though the approach to it may temporarily induce stress.

2. Những trạng thái phàm ngã thông thường mà chúng ta gọi là “căng thẳng” chính là sự phủ định của sức căng đúng đắn, vốn chế ngự và hài hoà mọi mãnh lực đối nghịch. Khi các điểm tập trung nhất tâm cao hơn lần đầu tiên được tiếp cận, ảnh hưởng lên bản chất phàm ngã quả thật có thể là “thần kinh”, các điểm khủng hoảng, nhu cầu can đảm, và sự mệt mỏi do xung đột kéo dài giữa các điểm tập trung nhất tâm cao và thấp. Nhưng nếu các hiệu quả thấp này chiếm trọn tâm thức, thì đệ tử thật ra không sống tại một điểm tập trung nhất tâm cao hơn, mà vẫn còn đang rất nhiều trong tiến trình tháo gỡ sự đồng hoá với các trạng thái phàm ngã. Vì vậy, sức căng không phải là căng thẳng, dù cách tiếp cận nó có thể tạm thời gây ra căng thẳng.

3. The final sentence is the telling one:

3. Câu cuối cùng là câu có sức nặng:

“Right tension is the identification of brain and soul with the will aspect, and the preservation of that identification—unchanged and immovable—no matter what the circumstances and the difficulties”.

“Sức căng đúng đắn là sự đồng hoá của bộ não và linh hồn với phương diện ý chí, và sự bảo tồn đồng hoá ấy—không đổi thay và bất lay chuyển—bất kể hoàn cảnh và khó khăn nào”.

Once I did a compilation on “no matter what”, just to see how far a second ray Master would carry such an injunction; rather far, I discovered. A key phrase is “preservation of identification”. Note, He is not speaking of preserving intensity or a certain attitude or asana, but of preserving identification. This must be a most subtle interior act. How is it done?

Có lần tôi đã thực hiện một bản tổng hợp về “dù thế nào đi nữa”, chỉ để xem một Chân sư cung hai sẽ đưa huấn thị ấy đi xa đến đâu; tôi khám phá rằng Ngài đưa đi khá xa. Một cụm từ then chốt là “sự bảo tồn đồng hoá”. Hãy lưu ý, Ngài không nói đến việc bảo tồn cường độ, hay một thái độ hoặc tư thế nào đó, mà là bảo tồn sự đồng hoá. Đây hẳn phải là một hành động nội tâm tinh tế nhất. Nó được thực hiện như thế nào?

4. A mantram to help us approach this preservation of identification is, “I will not be less than I am”. It is easy to descend upon the ladder of possible identifications simply by attending overmuch to the noisy demand of some lower vehicle. As a simple example, we have all seen how hunger, a bad mood or a jumble of chaotic thoughts can distract our attention and incline us to “forget ourselves”. But in right tension, there is such clarity of perception, such a felt sense of extended being, that it is not likely that this clarity will be fogged or this felt sense will be compromised. In a way, right tension depends upon “never forgetting oneself”. Even though we are always enjoined towards “self-forgetfulness”, it is “Self-remembering” or “Self-recollection” we must achieve, and what is to be forgotten is, really, the “not-Self”.

4. Một mantram giúp chúng ta tiến gần đến sự bảo tồn đồng hoá này là: “Tôi sẽ không thấp hơn điều tôi là”. Rất dễ đi xuống trên chiếc thang của những đồng hoá khả hữu, chỉ vì chú ý quá nhiều đến đòi hỏi ồn ào của một hiện thể thấp nào đó. Như một thí dụ đơn giản, tất cả chúng ta đều đã thấy cơn đói, một tâm trạng xấu, hay một mớ tư tưởng hỗn loạn có thể làm phân tán sự chú ý và khiến chúng ta có khuynh hướng “quên mình” như thế nào. Nhưng trong sức căng đúng đắn, có một sự sáng tỏ trong tri giác, một cảm thức được cảm nhận về bản thể mở rộng, đến mức sự sáng tỏ ấy khó có thể bị che mờ hoặc cảm thức ấy khó có thể bị tổn hại. Theo một cách nào đó, sức căng đúng đắn tùy thuộc vào việc “không bao giờ quên chính mình”. Dù chúng ta luôn được khuyên hướng tới “sự quên mình”, điều chúng ta phải đạt được là “nhớ về Bản Ngã” hay “hồi niệm Bản Ngã”, và điều thật sự cần quên chính là “phi-ngã”.

5. What would happen if for one whole hour an individual would not forget who he or she really is. The sense of true identity is usually the first thing to go—victim of every passing preoccupation of consciousness. But what if real identification could be preserved.

5. Điều gì sẽ xảy ra nếu trong suốt một giờ, một cá nhân không quên mình thật sự ai? Cảm thức về bản sắc chân thật thường là điều đầu tiên biến mất—trở thành nạn nhân của mọi mối bận tâm thoáng qua của tâm thức. Nhưng sẽ ra sao nếu sự đồng hoá chân thật có thể được bảo tồn?

6. My own experience with this demonstrates that specially devised mantrams are useful—though they, too, can become a preoccupation inducing the wrong king of Self-forgetfulness.

6. Kinh nghiệm riêng của tôi về điều này cho thấy rằng các mantram được thiết kế đặc biệt rất hữu ích—dù chính chúng cũng có thể trở thành một mối bận tâm gây ra loại quên Bản Ngã sai lầm.

7. I would recommend that group members devise their own ‘mantrams of Self-remembrance’. Each will have his or her own approach. The mantrams can be repeated (with intervals of silence to allow their effect to “sink in”), and at length, once a steady vibration is established, relinquished as unnecessary—at least for that session.

7. Tôi khuyên các thành viên nhóm tự soạn các ‘mantram nhớ về Bản Ngã’ của riêng mình. Mỗi người sẽ có cách tiếp cận riêng. Các mantram có thể được lặp lại, với những khoảng lặng để cho hiệu quả của chúng “thấm vào”; và về lâu dài, một khi một rung động ổn định đã được thiết lập, chúng có thể được buông bỏ vì không còn cần thiết—ít nhất là trong buổi thực hành ấy.

8. Also a wide focus of consciousness is useful—let us call it a ‘preserved extended consciousness’. We simply do not allow consciousness to go into a ‘cramp’ and, thus, shut out a higher reality which we have managed to apprehend.

8. Một trọng tâm tâm thức rộng cũng hữu ích—hãy gọi đó là một ‘tâm thức mở rộng được bảo tồn’. Chúng ta đơn giản không cho phép tâm thức co rút lại thành một ‘cơn co thắt’ và do đó đóng kín một thực tại cao hơn mà chúng ta đã cố nắm bắt được.

9. Another useful exercise is a holding of the sense of ‘within-ness’—the contemplative consciousness.

9. Một bài tập hữu ích khác là giữ vững cảm thức về ‘tính-bên-trong’—tâm thức chiêm ngưỡng.

10. Always, it is a question of holding and sustaining. When any difference from the sustained state is noticed, it is deflected, not allowed. Thus the requisite perception remains intact. This is more easily said than done and, of course, must be practiced.

10. Luôn luôn, vấn đề là giữ vững duy trì. Khi nhận thấy bất kỳ sự khác biệt nào so với trạng thái đang được duy trì, nó được làm lệch đi, không được phép tồn tại. Nhờ vậy, tri giác cần thiết vẫn nguyên vẹn. Nói thì dễ hơn làm, và dĩ nhiên điều này phải được thực hành.

11. The idea, “I will not descend” is a good reminder. All of normal life prompts descent from reality—for those who are unpracticed. The Master does not so descend.

11. Ý tưởng “Tôi sẽ không hạ xuống” là một lời nhắc tốt. Toàn bộ đời sống bình thường đều thúc đẩy sự hạ xuống khỏi thực tại—đối với những ai chưa luyện tập. Chân sư không hạ xuống như thế.

12. As well, the simple “Who am I” exercise—asked of oneself and answered by oneself is an excellent expedient in the apprehension of true Identity. The personality, seeking novelty and relief from boredom, may grow to despise this exercise, dreading its implementation, but used well, the personality is quieted and the Greater Identity steps to the fore.

12. Cũng vậy, bài tập đơn giản “Tôi là ai”—được hỏi bởi chính mình và được trả lời bởi chính mình—là một phương tiện tuyệt hảo trong việc nắm bắt Bản Sắc chân thật. Phàm ngã, tìm kiếm điều mới lạ và sự giải thoát khỏi nhàm chán, có thể dần khinh thường bài tập này, sợ hãi việc thực hiện nó; nhưng nếu được dùng đúng, phàm ngã lắng xuống và Bản Sắc Lớn Hơn bước ra phía trước.

13. Living a life without Self-remembering is like suffocation; high points of tension are available to the rightly identified Self.

13. Sống một đời sống không nhớ về Bản Ngã giống như ngạt thở; các điểm tập trung nhất tâm cao sẵn có cho Bản Ngã được đồng hoá đúng đắn.

You can see, therefore, how far ahead of present attitudes and goals this teaching is. Identification with the soul and with the Hierarchy is dependent upon the ability of the disciple rightly to love. It is the emergence of the second divine aspect, for love is the expression of group life, and [Page 46] that is rare indeed to find in these days. Right tension indicates the emergence of the first aspect, of the will, and this is seldom to be found as yet, save among the more advanced disciples and initiate members of the Hierarchy.

Do đó, các bạn có thể thấy giáo huấn này vượt xa các thái độ và mục tiêu hiện nay đến mức nào. Sự đồng hoá với linh hồn và với Thánh Đoàn tùy thuộc vào năng lực yêu thương đúng đắn của đệ tử. Đó là sự xuất hiện của phương diện thiêng liêng thứ hai, vì tình thương là biểu hiện của sự sống nhóm, và [Page 46] điều ấy quả thật hiếm gặp trong những ngày này. Sức căng đúng đắn biểu thị sự xuất hiện của phương diện thứ nhất, của ý chí, và cho đến nay điều này hiếm khi được tìm thấy, ngoại trừ nơi các đệ tử tiến bộ hơn và các thành viên điểm đạo đồ của Thánh Đoàn.

1. The Tibetan reminds us that we are studying advanced matters—something we should bear in mind should we become frustrated with the apparently insufficient depth of our comprehension and the seemingly slow rate of our application.

1. Chân sư Tây Tạng nhắc chúng ta rằng chúng ta đang nghiên cứu những vấn đề cao cấp—một điều chúng ta nên ghi nhớ nếu cảm thấy thất vọng vì chiều sâu thấu hiểu dường như chưa đủ và tốc độ áp dụng dường như chậm chạp của mình.

2. Identification is such a wholesome state of consciousness. Frictions and dissonances subside, and the sense of “arriving home” supervenes. The disciplines of identification repay the exacting efforts expended.

2. Đồng hoá là một trạng thái tâm thức hết sức lành mạnh. Những ma sát và bất hoà lắng xuống, và cảm thức “về đến nhà” xuất hiện. Các kỷ luật của sự đồng hoá đền đáp những nỗ lực nghiêm ngặt đã bỏ ra.

3. The first stage of identification to achieve is identification with the soul and the Hierarchy, and depends upon our ability “rightly to love”. If we succeed in “asking nothing for the separated self” we can enter this love. Whenever love seems not to flow, something is being asked for the separated self. The discriminations involved are subtle, for some of these ‘askings’ are not obvious.

3. Giai đoạn đồng hoá đầu tiên cần đạt được là đồng hoá với linh hồn và Thánh Đoàn, và điều này tùy thuộc vào khả năng “yêu thương đúng đắn” của chúng ta. Nếu thành công trong việc “không đòi hỏi gì cho cái ngã tách biệt”, chúng ta có thể bước vào tình thương này. Mỗi khi tình thương dường như không tuôn chảy, thì có điều gì đó đang được đòi hỏi cho cái ngã tách biệt. Những phân biện liên quan thật tinh tế, vì một số ‘đòi hỏi’ này không hiển nhiên.

4. Love is difficult enough to achieve. What of will and the emergence of the first aspect of divinity? Rare to find, D.K. tells us, except among advanced disciples and those who are initiate. An advanced disciple is an individual approaching the third degree and an initiate is someone who has experienced the revelations of the “mountain top”.

4. Tình thương đã đủ khó để đạt được. Còn ý chí và sự xuất hiện của phương diện thứ nhất của thiên tính thì sao? Chân sư DK nói với chúng ta rằng điều ấy hiếm gặp, ngoại trừ nơi các đệ tử tiến bộ và những người đã là điểm đạo đồ. Một đệ tử tiến bộ là một cá nhân đang tiến gần đến lần điểm đạo thứ ba, còn một điểm đạo đồ là người đã kinh nghiệm những mặc khải của “đỉnh núi”.

5. What seems clear and important is that the way to identification (as the will reveals it) is through love. There should be no short cuts and side-steps. “No man commeth to the Father except through Me”, says the Christ. The Christ is the energy of love, and the Father is the monad expressed through the will aspect. If one is to achieve identification with the Father, it should be based upon the established power to love.

5. Điều có vẻ rõ ràng và quan trọng là con đường dẫn đến sự đồng hoá, như ý chí mặc khải, là qua tình thương. Không nên có đường tắt hay lối tránh. Đức Christ nói: “Không ai đến với Cha ngoại trừ qua Ta”. Đức Christ là năng lượng của tình thương, và Cha là chân thần được biểu hiện qua phương diện ý chí. Nếu một người muốn đạt được sự đồng hoá với Cha, điều ấy phải đặt nền trên quyền năng yêu thương đã được thiết lập.

E. Love governs the Way into the life of the Hierarchy (cf. RI, p. 46)

E. Tình thương cai quản Con Đường đi vào sự sống của Thánh Đoàn (x. RI, tr. 46)

Love governs the Way into the life of the Hierarchy and is the foundation for all approach to, and appreciation and acceptance of truth.

Tình thương cai quản Con Đường đi vào sự sống của Thánh Đoàn và là nền tảng cho mọi sự tiếp cận, trân trọng và chấp nhận chân lý.

1. A potent reminder, this. Mind (though necessary) does not govern the way into the Hierarchy. It is, after all, principally the Hierarchy of Love, the heart center of our little planet (whether globe, chain or scheme may be debated).

1. Đây là một lời nhắc mạnh mẽ. Thể trí, dù cần thiết, không cai quản con đường đi vào Thánh Đoàn. Sau hết, đó chủ yếu là Thánh Đoàn của Tình thương, trung tâm tim của hành tinh nhỏ bé chúng ta, dù là bầu hành tinh, Dãy hay hệ hành tinh thì còn có thể bàn luận.

2. Love helps one appreciate the truth. Love helps one accept the truth. There are all kinds of distortions to truth which real love negates. The flow of love adjusts our sense of values, thus putting our desires in order, hierarchicalizing them. Desire it is (with its inevitable bias) which distorts the truth. True love, neutralizing desire—especially lower desire—removes the cause of distortion.

2. Tình thương giúp người ta trân trọng chân lý. Tình thương giúp người ta chấp nhận chân lý. Có đủ loại xuyên tạc đối với chân lý mà tình thương chân thật phủ định. Dòng chảy của tình thương điều chỉnh cảm thức về giá trị của chúng ta, nhờ đó đặt các dục vọng của chúng ta vào trật tự, sắp xếp chúng theo thứ bậc. Chính dục vọng, với thiên lệch không tránh khỏi của nó, làm xuyên tạc chân lý. Tình thương chân thật, trung hoà dục vọng—đặc biệt là dục vọng thấp—loại bỏ nguyên nhân của sự xuyên tạc.

3. The implication is that truth will reveal itself to one who loves. One may think about the truth without much love in the heart, but one will not know the truth (intuitively and immediately) without the power of love.

3. Hàm ý là chân lý sẽ tự mặc khải cho người biết yêu thương. Người ta có thể suy nghĩ về chân lý mà không có nhiều tình thương trong tim, nhưng người ta sẽ không biết chân lý, một cách trực giác và tức thời, nếu không có quyền năng của tình thương.

F. Will governs the way into Shamballa (cf. RI, p. 46)

F. Ý chí cai quản con đường đi vào Shamballa (x. RI, tr. 46)

Will governs the Way into Shamballa and is the foundation for all approach to, appreciation of and identification with, Being.

Ý chí cai quản Con Đường đi vào Shamballa và là nền tảng cho mọi sự tiếp cận, trân trọng và đồng hoá với Bản Thể.

1. Perhaps Hierarchy is a goal sufficiently lofty. None of us is a full member of the Hierarchy, and none of us loves as one day we will. This sentence tells us that the Law of Synthesis is inclusive of the Law of Attraction. In this solar system, the Law of Attraction is supreme, but in the system to come, which will be climactic for our Solar Logos, the Law of Synthesis will prevail.

1. Có lẽ Thánh Đoàn đã là một mục tiêu đủ cao cả. Không ai trong chúng ta là thành viên trọn vẹn của Thánh Đoàn, và không ai trong chúng ta yêu thương như một ngày kia chúng ta sẽ yêu thương. Câu này cho chúng ta biết rằng Định luật Tổng hợp bao hàm Định luật Hấp dẫn. Trong hệ mặt trời này, Định luật Hấp dẫn là tối thượng, nhưng trong hệ sẽ đến, hệ sẽ là đỉnh điểm đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta, Định luật Tổng hợp sẽ thắng thế.

2. It is probable that for many working in our group, Shamballa is not the ‘Place of Destiny’. Other paths may call, and fully eighty percept of humanity treads the Path to Sirius (which is not normally directed through Shamballa except in the case of those who choose the Path of Earth Service and then proceed to Sirius having first registered their choice of Sirius before working in further service to the Earth).

2. Có lẽ đối với nhiều người đang làm việc trong nhóm chúng ta, Shamballa không phải là ‘Nơi Định Mệnh’. Những con đường khác có thể kêu gọi, và trọn tám mươi phần trăm nhân loại bước trên Con Đường đến Sirius, con đường thường không được dẫn qua Shamballa, ngoại trừ trường hợp những người chọn Con Đường Phụng sự Trái Đất và sau đó tiến đến Sirius, sau khi trước tiên đã ghi nhận sự chọn lựa Sirius của mình trước khi làm việc trong sự phụng sự thêm nữa đối với Trái Đất.

3. Nevertheless, though Shamballa may not be our destination, a term of service will come, between the fifth and sixth initiation, when we will necessarily be increasingly responsive to this higher Center. In any case, our will must be unfolded, and planetary Plan and Purpose revealed.

3. Tuy nhiên, dù Shamballa có thể không phải là đích đến của chúng ta, sẽ có một kỳ hạn phụng sự, giữa lần điểm đạo thứ năm và thứ sáu, khi chúng ta tất yếu ngày càng đáp ứng với Trung tâm cao hơn này. Dù sao đi nữa, ý chí của chúng ta phải được khai mở, và Thiên Cơ cùng Thiên Ý hành tinh phải được mặc khải.

4. Shamballa is, after all, but a point of tension—supreme tension, planetarily—but a point of tension nonetheless. The will must be cultivated.

4. Sau hết, Shamballa chỉ là một điểm tập trung nhất tâm—tối thượng về mặt hành tinh—nhưng dù sao vẫn là một điểm tập trung nhất tâm. Ý chí phải được vun trồng.

5. Some of the best ways for doing so are through a study of the expression of the Divine Plan in history. A great and wide impersonal perspective is thus developed, and the tiny person or individual is seen in truer proportion to the whole. Shamballa’s vision (and hence the vision which will reveals) is profoundly impersonal.

5. Một số cách tốt nhất để làm điều đó là nghiên cứu sự biểu hiện của Thiên Cơ trong lịch sử. Nhờ vậy, một viễn cảnh vô ngã rộng lớn được phát triển, và con người nhỏ bé hay cá nhân được nhìn thấy trong tương quan đúng thật hơn với toàn thể. Tầm nhìn của Shamballa, và do đó tầm nhìn mà ý chí mặc khải, là vô ngã một cách sâu xa.

6. How will we know when will characterizes our lives? There is no way to be exhaustive about this, and a book could easily be written on the subject. Perhaps we shall feel ourselves unusually vital and electric; Walt Whitman (very probably a third degree initiate-poet) felt this. Perhaps “no matter what” will become a meaningful mantram and we shall find ourselves applying it with increasing frequency. Perhaps our sense of timing will develop so that our actions and thoughts accord with great purposes, far beyond our personal desires. Perhaps we will, at last, become patient, for patience is one of the last beneficent qualities to emerge, and is closely related to the will. Perhaps our sense of values will be so adjusted that the claims of the personality will recede tremendously, and decisions will be made according to the Common Good. Many are the possibilities.

6. Làm sao chúng ta biết khi nào ý chí đặc trưng cho đời sống của mình? Không có cách nào trình bày hết về điều này, và có thể dễ dàng viết cả một cuốn sách về chủ đề ấy. Có lẽ chúng ta sẽ cảm thấy mình sinh động và điện lực một cách khác thường; Walt Whitman, rất có thể là một điểm đạo đồ thi sĩ cấp ba, đã cảm thấy điều này. Có lẽ “dù thế nào đi nữa” sẽ trở thành một mantram đầy ý nghĩa, và chúng ta sẽ thấy mình áp dụng nó ngày càng thường xuyên hơn. Có lẽ cảm thức về thời điểm của chúng ta sẽ phát triển để các hành động và tư tưởng của chúng ta hòa hợp với những mục đích lớn lao, vượt xa các dục vọng cá nhân. Có lẽ cuối cùng chúng ta sẽ trở nên kiên nhẫn, vì kiên nhẫn là một trong những phẩm tính thiện lành cuối cùng xuất hiện, và có liên hệ mật thiết với ý chí. Có lẽ cảm thức về giá trị của chúng ta sẽ được điều chỉnh đến mức những đòi hỏi của phàm ngã sẽ lùi xa rất nhiều, và các quyết định sẽ được đưa ra theo Thiện Ích Chung. Có nhiều khả năng như vậy.

7. In any case, the cultivation of the will is before us as that which must be attempted. We are groping our way, perhaps, and our early steps falter, but we are on our way and the increase of true will (and hence of the power to identify-as-life) will surely increase.

7. Dù sao đi nữa, việc vun trồng ý chí đang ở trước chúng ta như điều phải được cố gắng thực hiện. Có lẽ chúng ta đang dò dẫm con đường của mình, và những bước đầu còn chập choạng, nhưng chúng ta đang trên đường, và sự gia tăng của ý chí chân thật, do đó của quyền năng đồng hoá-như-sự-sống, chắc chắn sẽ gia tăng.

G. Until the fourth initiation is undergone, it is the soul as a ‘focal point for descending light and for ascending radiance (cf. RI, p. 46)

G. Cho đến khi trải qua lần điểm đạo thứ tư, chính linh hồn là ‘tiêu điểm cho ánh sáng giáng hạ và cho hào quang thăng thượng’ (x. RI, tr. 46)

This developed will expresses itself as tension, esoterically understood. It embodies the ideas of orientation, implacable determination, ability to wait and to preserve intention and orientation unmoved by aught which may occur. It also involves the determination to take the intended action (always of a creative nature and based on loving understanding) at the psychological moment (right timing), or that exact moment which the psyche or soul determines to be correct. Here you have one of the interesting transferences of meaning and of relationship which occur in the Ageless Wisdom. The Son or soul emerges into manifestation with the concurrence and aid of the Mother or of the matter aspect. This is to you a most familiar truth. In the next stage, that of initiate-development, the Son, in its turn, becomes the feminine or negative aspect and, demonstrating as the Psyche, enables the initiate to bring into expression another divine aspect—that of the will. Until the fourth initiation is undergone, it is the soul as a “focal point for descending light and for ascending radiance.” This dual activity reveals the nature of the will. Note how this phrase from an ancient writing describes the antahkarana.

Ý chí đã phát triển này tự biểu hiện như sức căng, hiểu theo nội môn. Nó bao hàm các ý tưởng về định hướng, quyết tâm không lay chuyển, khả năng chờ đợi và bảo tồn ý định cùng định hướng không bị lay chuyển bởi bất cứ điều gì có thể xảy ra. Nó cũng bao gồm quyết tâm thực hiện hành động đã định, luôn có bản chất sáng tạo và đặt nền trên sự thấu hiểu đầy tình thương, vào khoảnh khắc tâm lý, tức thời điểm đúng, hay khoảnh khắc chính xác mà tâm lý hay linh hồn xác định là đúng. Ở đây các bạn có một trong những sự chuyển dịch thú vị về ý nghĩa và tương quan xảy ra trong Minh Triết Ngàn Đời. Người Con hay linh hồn xuất hiện vào biểu lộ với sự đồng thuận và trợ giúp của Người Mẹ hay phương diện vật chất. Đây là một chân lý rất quen thuộc đối với các bạn. Ở giai đoạn kế tiếp, tức giai đoạn phát triển của điểm đạo đồ, Người Con đến lượt mình trở thành phương diện nữ tính hay âm, và khi biểu lộ như Tâm Linh, cho phép điểm đạo đồ đưa vào biểu hiện một phương diện thiêng liêng khác—đó là ý chí. Cho đến khi trải qua lần điểm đạo thứ tư, chính linh hồn là “tiêu điểm cho ánh sáng giáng hạ và cho hào quang thăng thượng”. Hoạt động kép này mặc khải bản chất của ý chí. Hãy lưu ý cách cụm từ này từ một trước tác cổ mô tả antahkarana.

1. In this paragraph the relation of right tension to will is developed.

1. Trong đoạn này, mối liên hệ giữa sức căng đúng đắn và ý chí được khai triển.

2. Will involves orientation. With correct orientation we symbolically “face the East”. We know where the Sun rises. We face the Sun of Hierarchy (the “Heart of the Sun”), and then the Sun of Shamballa (the “Central Spiritual Sun”—microcosmically, the monad.). Those lacking will are forever becoming disoriented, and facing every which way. They do not know where they are going; their sense of destiny is compromised. They have lost the ability to proceed along a straight line—reputedly (though not always) the “shortest distance between two points”. Practically, each willing disciple must learn to “face the East”—whatever that may mean to him or her. The Sun, though a great second ray Entity, is symbol also of the first ray, and is extremely powerful in two of the signs which distribute the first ray—Aries in which it is exalted, and Leo in which it rules on all three levels. Even in Capricorn as case can be made for the power of the Sun (the “Sun upon the Mountain Top”).

2. Ý chí bao hàm định hướng. Với định hướng đúng, về mặt biểu tượng chúng ta “quay mặt về phương Đông”. Chúng ta biết nơi Mặt Trời mọc. Chúng ta quay mặt về Mặt Trời của Thánh Đoàn, “Trái Tim của Mặt Trời”, rồi đến Mặt Trời của Shamballa, “Mặt trời Tinh thần Trung Ương”—trong tiểu thiên địa là chân thần. Những người thiếu ý chí mãi mãi trở nên mất định hướng, và quay mặt về mọi phía. Họ không biết mình đang đi đâu; cảm thức về định mệnh của họ bị tổn hại. Họ đã mất khả năng tiến đi theo một đường thẳng—được cho là, dù không phải luôn luôn, “khoảng cách ngắn nhất giữa hai điểm”. Trên thực tế, mỗi đệ tử có ý chí phải học cách “quay mặt về phương Đông”—dù điều ấy có nghĩa gì đối với ông hay bà. Mặt Trời, dù là một Thực Thể lớn thuộc cung hai, cũng là biểu tượng của cung một, và cực kỳ mạnh mẽ trong hai dấu hiệu phân phối cung một—Bạch Dương, nơi nó được tôn vinh, và Sư Tử, nơi nó cai quản trên cả ba cấp độ. Ngay cả trong Ma Kết cũng có thể đưa ra lập luận về quyền năng của Mặt Trời, “Mặt Trời trên Đỉnh Núi”.

3. Will involves “implacable determination”. The initiate-disciple is not to be placated, dissuaded from his objective by blandishments. Placation carries the note of appeasement—in short, “selling out to the lower forces”. The willing initiate will not make peace with the forces of form which are intent on deflecting or blunting his purpose. Implacability, in this case, indicates integrity, principle, and the refusal, “at all costs” to change the correct orientation. Moderation (as compromise for comfort) is gone and mollification is not accepted. Such an initiate is not a “wild man” nor does he appear insane and ‘crazed with intent”—yet within, he will not deviate and cannot be dissuaded from his decision.

3. Ý chí bao hàm “quyết tâm không lay chuyển”. Điểm đạo đồ đệ tử không được để cho mình bị xoa dịu, bị thuyết phục rời khỏi mục tiêu bởi những lời dụ dỗ. Sự xoa dịu mang âm điệu của thỏa hiệp—nói ngắn gọn là “bán mình cho các mãnh lực thấp”. Điểm đạo đồ có ý chí sẽ không làm hòa với các mãnh lực của hình tướng vốn quyết tâm làm lệch hướng hay làm cùn nhụt mục đích của ông. Trong trường hợp này, tính không lay chuyển biểu thị sự chính trực, nguyên khí, và sự từ chối “bằng mọi giá” việc thay đổi định hướng đúng. Sự điều độ, như một thỏa hiệp để được tiện nghi, đã biến mất, và sự xoa dịu không được chấp nhận. Một điểm đạo đồ như vậy không phải là “người hoang dại”, cũng không tỏ ra điên loạn hay ‘cuồng trí vì ý định’—nhưng bên trong, ông sẽ không lệch hướng và không thể bị thuyết phục rời khỏi quyết định của mình.

4. Then, there is the “ability to wait and to preserve intention and orientation unmoved by aught which may occur”. Patience and the refusal to move. A strong will is one that will not be moved. There are other approaches to the will—the good will, the skillful will, etc.—and these are very necessary as moderations of the strong will. I suspect, however, that all mature expressions of the will—from fierce to milder—have the ability to wait and are characterized by the preservation of intention, “no matter what”

4. Kế đến, có “khả năng chờ đợi và giữ gìn ý định cùng định hướng không lay chuyển trước bất cứ điều gì có thể xảy ra”. Sự kiên nhẫn và sự khước từ dịch chuyển. Một ý chí mạnh mẽ là ý chí không để bị lay chuyển. Có những cách tiếp cận khác đối với ý chí—thiện chí, ý chí khéo léo, v.v.—và những điều này rất cần thiết như các yếu tố điều hòa ý chí mạnh mẽ. Tuy nhiên, tôi nghi rằng mọi biểu hiện trưởng thành của ý chí—từ mãnh liệt đến dịu nhẹ hơn—đều có khả năng chờ đợi và được đặc trưng bởi sự giữ gìn ý định, “bất kể điều gì xảy ra”.

5. Personality, alone, will not hold the necessary tension to accomplish in the manner above suggested. The power must come from a more interior and far stronger source. Only real contact with and inspiration by the high energy of will will work out qualities enumerated above.

5. Chỉ riêng phàm ngã sẽ không duy trì được điểm tập trung nhất tâm cần thiết để thành tựu theo cách đã gợi ý ở trên. Quyền năng phải đến từ một nguồn nội tại hơn và mạnh mẽ hơn nhiều. Chỉ sự tiếp xúc thật sự với, và cảm hứng do, năng lượng cao của ý chí mới làm biểu lộ những phẩm tính đã liệt kê ở trên.

6. Notice in the following how will, in its correct execution, is dependent upon love and intelligence:

6. Hãy lưu ý trong phần sau đây rằng ý chí, khi được thi hành đúng đắn, tùy thuộc vào tình thương và trí tuệ như thế nào:

“It also involves the determination to take the intended action (always of a creative nature and based on loving understanding) at the psychological moment (right timing), or that exact moment which the psyche or soul determines to be correct”.

“Nó cũng bao hàm quyết tâm thực hiện hành động đã định trước, luôn có bản chất sáng tạo và dựa trên sự thấu hiểu đầy bác ái, vào thời điểm tâm lý, tức đúng thời điểm, hay chính xác khoảnh khắc mà tâm hồn hay linh hồn xác định là đúng”.

The greater includes the lesser, and will does not forget the foundation which has taken so many millions of years to build. Will is not crude; it does not manifest through blundering and its symbol is not the “bull in the china shop”. Without intelligence and love, the power of will is untrustworthy. We have seen on numerous occasions throughout the twentieth century, how will, unguided by love and creative intelligence, has become murderous. A step was skipped and the skip was disastrous.

Cái lớn bao gồm cái nhỏ, và ý chí không quên nền tảng đã mất bao nhiêu triệu năm để xây dựng. Ý chí không thô lỗ; nó không biểu lộ qua sự vụng về, và biểu tượng của nó không phải là “con bò trong cửa hàng đồ sứ”. Không có trí tuệ và tình thương, quyền năng của ý chí không đáng tin cậy. Trong suốt thế kỷ hai mươi, chúng ta đã nhiều lần thấy ý chí, không được tình thương và trí tuệ sáng tạo hướng dẫn, đã trở nên sát nhân. Một bước đã bị bỏ qua, và sự bỏ qua ấy thật tai hại.

The education of the will, therefore, is a very thorough curriculum, and involves the mastery of all beneficial qualities that go before.

Vì vậy, việc giáo dục ý chí là một chương trình đào luyện rất thấu đáo, và bao hàm sự làm chủ mọi phẩm tính hữu ích đi trước.

7. The Tibetan takes up the issue of polarity. Is the personality positive or negative?; is the soul positive or negative?; is even the spirit positive or negative? The answer to these questions depends upon relativity—positive or negative relative to what.Occultism presents a world view in which polarization is ever rising once a sufficient stage of development has been reached. That which is positive today, becomes negative or receptive tomorrow. There is no fixity in the world of relativity. The attempt to freeze relations in the world of relativity is a demonstration of evil; “evil is that good which we should have left behind”. (R&I 350)

7. Chân sư Tây Tạng đề cập đến vấn đề phân cực. Phàm ngã là dương hay âm? Linh hồn là dương hay âm? Ngay cả tinh thần là dương hay âm? Câu trả lời cho những câu hỏi này tùy thuộc vào tính tương đối—dương hay âm trong tương quan với điều gì.Huyền bí học trình bày một thế giới quan trong đó sự phân cực luôn luôn nâng cao khi đã đạt đến một giai đoạn phát triển đầy đủ. Điều gì hôm nay là dương, ngày mai trở thành âm hay tiếp nhận. Không có sự cố định trong thế giới tương đối. Nỗ lực đóng băng các mối tương quan trong thế giới tương đối là một biểu hiện của tà ác; “tà ác là điều thiện mà lẽ ra chúng ta phải bỏ lại phía sau”. (Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo, 350)

8. Psyche is negative to will. A well-developed psyche, infused by loving-understanding, is an excellent servant of will. How can will apply itself with skill-in-action, unless psyche serves to reveal and interpret the sensitivities of the world of form to which that will must be applied?

8. Tâm hồn là âm đối với ý chí. Một tâm hồn phát triển tốt, được sự thấu hiểu đầy bác ái thấm nhuần, là người phụng sự tuyệt hảo của ý chí. Làm sao ý chí có thể tự áp dụng với kỹ năng trong hành động, nếu tâm hồn không phụng sự bằng cách mặc khải và diễn giải những tính nhạy cảm của thế giới hình tướng mà ý chí ấy phải được áp dụng vào?

9. The paragraph closes with a very occult thought:

9. Đoạn văn khép lại bằng một tư tưởng rất huyền bí:

“Until the fourth initiation is undergone, it is the soul as a “focal point for descending light and for ascending radiance.” This dual activity reveals the nature of the will. Note how this phrase from an ancient writing describes the antahkarana”.

“Cho đến khi trải qua lần điểm đạo thứ tư, chính linh hồn là một ‘điểm hội tụ cho ánh sáng giáng xuống và cho ánh huy hoàng thăng lên’. Hoạt động nhị phân này mặc khải bản chất của ý chí. Hãy lưu ý cụm từ này từ một trước tác cổ mô tả antahkarana như thế nào”.

Three techniques are used by disciples and initiates to bring the higher and lower principles into closer relationship and eventual fusion. Before the second initiation, the Techniques of Integration are applied to integrate the personality and bring it into effective coordination with the soul. Before the third initiation the Techniques of Fusion are applied to create those meditative and applied states by means of which soul and personality may actually fuse and blend. Before the fourth initiation the Technique of Duality is utilized, to perfect the previously established antahkaranic rapport between the spiritual triad and the soul-infused personality.

Ba kỹ thuật được các đệ tử và điểm đạo đồ sử dụng để đưa các nguyên khí cao và thấp vào mối liên hệ gần gũi hơn và cuối cùng là sự dung hợp. Trước lần điểm đạo thứ hai, các Kỹ Thuật Tích Hợp được áp dụng để tích hợp phàm ngã và đưa nó vào sự phối hợp hữu hiệu với linh hồn. Trước lần điểm đạo thứ ba, các Kỹ Thuật Dung Hợp được áp dụng để tạo ra những trạng thái tham thiền và ứng dụng nhờ đó linh hồn và phàm ngã có thể thật sự dung hợp và hòa quyện. Trước lần điểm đạo thứ tư, Kỹ Thuật Nhị Nguyên được vận dụng để hoàn thiện mối hòa hợp antahkarana đã được thiết lập trước đó giữa Tam Nguyên Tinh Thần và phàm ngã được linh hồn thấm nhuần.

All of us are still very much dealing with the soul (as sponsored by the Solar Angel) and are not yet “free souls” (which would mean we were polarized within the spiritual triad and free of the causal body—i.e., initiates of the fourth degree)

Tất cả chúng ta vẫn còn đang rất nhiều trong phạm vi linh hồn, do Thái dương Thiên Thần bảo trợ, và chưa phải là “những linh hồn tự do”, điều đó có nghĩa là chúng ta đã phân cực trong Tam Nguyên Tinh Thần và thoát khỏi thể nguyên nhân, tức là các điểm đạo đồ bậc bốn.

10. While the will is involved progressively in both the Techniques of Integration and the Techniques of Fusion, it is vitally necessary in the pursuit of the Technique of Duality. By means of this technique, the personality learns faithfully to reflect the ‘higher personality’—the spiritual triad which serves as personality expression to the monad. The higher cosmic ethers make their way into their counterparts on the etheric plane, and the will of each of the triadal aspects masters its lower counterpart in the world of personality—higher mind masters the etheric-physical mechanism; buddhi masters the emotional vehicle; and atma masters the lower mind (by this time filled with soul light, for the infusion process is well-progressed) Note that the correspondentialtriad/personality relationship is different from the reflected relationship between soul and personality, in which the etheric body reflects the life-consciousness content of the sacrifice petals and the lower mind reflects the life-consciousness content of the knowledge petals.

10. Trong khi ý chí tham dự dần dần vào cả Kỹ Thuật Tích Hợp lẫn Kỹ Thuật Dung Hợp, nó đặc biệt thiết yếu trong việc theo đuổi Kỹ Thuật Nhị Nguyên. Nhờ kỹ thuật này, phàm ngã học cách phản chiếu trung thành “phàm ngã cao”—Tam Nguyên Tinh Thần, vốn phụng sự như biểu hiện phàm ngã cho chân thần. Các dĩ thái vũ trụ cao đi vào những đối phần của chúng trên cõi dĩ thái, và ý chí của mỗi phương diện thuộc Tam Nguyên làm chủ đối phần thấp hơn của nó trong thế giới phàm ngã—thượng trí làm chủ bộ máy dĩ thái-hồng trần; Bồ đề làm chủ vận cụ cảm xúc; và atma làm chủ hạ trí, lúc này đã tràn đầy ánh sáng linh hồn, vì tiến trình thấm nhuần đã tiến triển tốt. Hãy lưu ý rằng mối quan hệ tương ứng Tam Nguyên/phàm ngã khác với mối quan hệ phản chiếu giữa linh hồn và phàm ngã, trong đó thể dĩ thái phản chiếu nội dung sự sống-tâm thức của các cánh hoa hi sinh, và hạ trí phản chiếu nội dung sự sống-tâm thức của các cánh hoa tri thức.

H. Aspirants have to learn the nature of the will by the power of inner illumination and certain intelligent recognitions (cf. RI, p. 46)

H. Những người chí nguyện phải học bản chất của ý chí bằng quyền năng của sự soi sáng bên trong và một số nhận thức trí tuệ nhất định, xem Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo, tr. 46

Aspirants pass from the expression of the will which is purely selfish, self-sufficient and self-focussed, to the grasp of the group will and to the effort to embody that group will (cf. RI, p. 46-47)

Những người chí nguyện chuyển từ biểu hiện của ý chí thuần túy ích kỷ, tự mãn và tập trung vào bản thân, sang sự nắm bắt ý chí tập thể và nỗ lực hiện thân ý chí tập thể ấy, xem Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo, tr. 46-47

It is not possible in these brief instructions to deal adequately with the will aspect of divinity, nor would it profit at this time. Aspirants have to learn the nature of the will by the power of inner illumination and by certain intelligent recognitions. They learn the nature of the self through the aid of the personality, the shadow or distortion of the divine will. They pass from the expression of the will which [Page 47] is purely selfish, self-sufficient and self-focussed, to the grasp of the group will and to the effort to embody that group will. This group will is always concerned with that which is not the will of the separated self.

Trong những huấn thị ngắn gọn này, không thể đề cập đầy đủ đến phương diện ý chí của thiên tính, và điều đó cũng chưa có ích vào lúc này. Những người chí nguyện phải học bản chất của ý chí bằng quyền năng của sự soi sáng bên trong và bằng một số nhận thức trí tuệ nhất định. Họ học bản chất của bản ngã nhờ sự trợ giúp của phàm ngã, cái bóng hay sự bóp méo của ý chí thiêng liêng. Họ chuyển từ biểu hiện của ý chí [Trang 47] thuần túy ích kỷ, tự mãn và tập trung vào bản thân, sang sự nắm bắt ý chí tập thể và nỗ lực hiện thân ý chí tập thể ấy. Ý chí tập thể này luôn liên quan đến điều không phải là ý chí của bản ngã chia rẽ.

1. It seems, does it not, that the Tibetan has given us quite a bit about the will, both here and elsewhere in His writings. But He knows what adequate treatment of the subject would mean, and refrains. Much, therefore, is left to us, as we seek to understand from what has been given to us.

1. Dường như Chân sư Tây Tạng đã trao cho chúng ta khá nhiều điều về ý chí, cả ở đây lẫn nơi khác trong các trước tác của Ngài. Nhưng Ngài biết việc xử lý đầy đủ đề tài này sẽ hàm ý điều gì, và Ngài kiềm lại. Vì vậy, nhiều điều được để lại cho chúng ta, khi chúng ta tìm cách thấu hiểu từ những gì đã được trao cho mình.

2. It is not that we have to wait until the third initiation before we can begin cultivating the will. Aspirants may undertake the study of the nature of the will. That nature will reveal itself through “the power of inner illumination and by certain intelligent recognitions”. These two qualities direct our attention to the second initiation which requires an “illumined mind” and “spiritual intelligence”. Interestingly, it is at the second initiation, through Vulcan and Taurus in contrast with Scorpio and Mars, that the first real lessons in contrasting will and desire are drive home. Note that illumination is necessary to reveal the will. The will is seen, as it were, “in the light”. The Plan is revealed to some extent, for at the second degree it must be expressed. Mind, thus, is very much involved in learning the nature of will.

2. Không phải chúng ta phải chờ đến lần điểm đạo thứ ba rồi mới có thể bắt đầu vun bồi ý chí. Những người chí nguyện có thể đảm nhận việc nghiên cứu bản chất của ý chí. Bản chất ấy sẽ tự mặc khải qua “quyền năng của sự soi sáng bên trong và bằng một số nhận thức trí tuệ nhất định”. Hai phẩm tính này hướng sự chú ý của chúng ta đến lần điểm đạo thứ hai, vốn đòi hỏi một “thể trí được soi sáng” và “trí tuệ tinh thần”. Điều thú vị là chính ở lần điểm đạo thứ hai, qua Vulcan và Kim Ngưu đối chiếu với Hổ Cáp và Sao Hỏa, những bài học thật sự đầu tiên về sự tương phản giữa ý chí và dục vọng được khắc sâu. Hãy lưu ý rằng sự soi sáng là cần thiết để mặc khải ý chí. Có thể nói, ý chí được thấy “trong ánh sáng”. Thiên Cơ được mặc khải ở một mức độ nào đó, vì ở cấp độ thứ hai nó phải được biểu hiện. Như vậy, thể trí tham dự rất nhiều vào việc học bản chất của ý chí.

3. The Tibetan tells us that the personality is the shadow or distortion of the will. This is always interesting. The monad and its three triadal vehicles and the personality with its three lunar expressions are closely related. The soul reflects the monad, and the personality distorts it. Yet there are strong analogies between the two (monad and personality)—through they are esoterically distant.

3. Chân sư Tây Tạng cho chúng ta biết rằng phàm ngã là cái bóng hay sự bóp méo của ý chí. Điều này luôn thú vị. Chân thần cùng ba vận cụ thuộc Tam Nguyên của nó, và phàm ngã cùng ba biểu hiện thái âm của nó, có liên hệ mật thiết. Linh hồn phản chiếu chân thần, còn phàm ngã bóp méo chân thần. Tuy vậy, có những tương đồng mạnh mẽ giữa hai bên, tức chân thần và phàm ngã, dù chúng xa cách nhau về mặt huyền bí.

4. An integrating personality reveals the mysteries of lower selfhood. Thus personality is an indispensable stage in complete development. Without it, the eventual focus for higher will within the three worlds would be missing.

4. Một phàm ngã đang tích hợp mặc khải những huyền nhiệm của phàm ngã tính. Vì vậy, phàm ngã là một giai đoạn không thể thiếu trong sự phát triển trọn vẹn. Không có nó, điểm hội tụ cuối cùng cho ý chí cao trong ba cõi thấp sẽ thiếu vắng.

5. The movement from personal will to group will is described in the following:

5. Sự chuyển động từ ý chí cá nhân sang ý chí tập thể được mô tả trong phần sau:

They pass from the expression of the will which is purely selfish, self-sufficient and self-focussed, to the grasp of the group will and to the effort to embody that group will. This group will is always concerned with that which is not the will of the separated self.

“Họ chuyển từ biểu hiện của ý chí thuần túy ích kỷ, tự mãn và tập trung vào bản thân, sang sự nắm bắt ý chí tập thể và nỗ lực hiện thân ý chí tập thể ấy. Ý chí tập thể này luôn liên quan đến điều không phải là ý chí của bản ngã chia rẽ.

In the development of group will, the personal ring-pass-not is expanding, and man no longer lives unto himself alone. He is his “brothers keeper”. The Tibetan gives us a touchstone to distinguish selfish personal will from group will, in telling us that group will is always concerned with that which is not the will of the separated self. Personal satisfactions suffer as group will is applied; energy normally going to the sustainment of personal desire is redirected. Personality, for a time, starves, and the welfare of the group is promoted.

Trong sự phát triển của ý chí tập thể, vòng-giới-hạn cá nhân đang mở rộng, và con người không còn sống chỉ cho riêng mình. Y “người gìn giữ huynh đệ mình”. Chân sư Tây Tạng trao cho chúng ta một chuẩn mực để phân biệt ý chí cá nhân ích kỷ với ý chí tập thể, khi Ngài cho chúng ta biết rằng ý chí tập thể luôn luôn liên quan đến điều không phải là ý chí của bản ngã chia rẽ. Những thỏa mãn cá nhân phải chịu thiệt khi ý chí tập thể được áp dụng; năng lượng vốn thường đi vào việc duy trì dục vọng cá nhân được chuyển hướng. Trong một thời gian, phàm ngã bị đói khát, và phúc lợi của tập thể được thúc đẩy.

6. Sometimes there is a well-meaning confusion between a high form of personal will and group will. The differentiation may well be seen in the question, “Who stands to gain”. If all stand to gain (both the group and its constituent personnel) then a method of integrating group will and individual will has been found. This is the Libran phase. In the Scorpio phase, the will of the group soul becomes more exacting, seemingly ‘wanting all for itself’—a temporary expedient to break the selfish personal will of the individual or the will of the group personality.

6. Đôi khi có một sự nhầm lẫn đầy thiện chí giữa một hình thức cao của ý chí cá nhân và ý chí tập thể. Sự biến phân có thể được thấy rõ qua câu hỏi: “Ai sẽ được lợi?” Nếu tất cả đều được lợi, cả tập thể lẫn những nhân sự cấu thành nó, thì một phương pháp tích hợp ý chí tập thể và ý chí cá nhân đã được tìm thấy. Đây là giai đoạn Thiên Bình. Trong giai đoạn Hổ Cáp, ý chí của hồn nhóm trở nên đòi hỏi hơn, dường như “muốn tất cả cho chính mình”—một phương tiện tạm thời để phá vỡ ý chí cá nhân ích kỷ của cá nhân hay ý chí của phàm ngã tập thể.

I. As the ability to be selflessly centralised grows and develops, the aspirant reaches a point where the group life and the group good is seen as an integral part of a much greater Whole; this greater Whole is BEING Itself (cf. RI, p. 47)

I. Khi khả năng được tập trung một cách vô ngã tăng trưởng và phát triển, người chí nguyện đạt đến một điểm nơi đời sống tập thể và thiện ích tập thể được thấy như một phần không thể tách rời của một Toàn Thể lớn hơn nhiều; Toàn Thể lớn hơn này chính là BẢN THỂ, xem Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo, tr. 47

As this ability to be selflessly decentralised grows and develops, the aspirant reaches a point where the group life and the group good is seen as an integral part of a much greater Whole. This greater Whole is Being Itself, divorced from form but ever working through form whilst in manifestation, and working with planned purpose. The realisation then grows that intelligence and love are not enough, but that they must be supplemented and implemented by will, which is active intelligent purpose, lovingly applied.

Khi khả năng phi tập trung vào bản thân một cách vô ngã này tăng trưởng và phát triển, người chí nguyện đạt đến một điểm nơi đời sống tập thể và thiện ích tập thể được thấy như một phần không thể tách rời của một Toàn Thể lớn hơn nhiều. Toàn Thể lớn hơn này chính là Bản Thể, tách khỏi hình tướng nhưng luôn hoạt động qua hình tướng khi đang biểu hiện, và hoạt động với mục đích đã hoạch định. Khi ấy, nhận thức lớn dần rằng trí tuệ và tình thương là chưa đủ, mà chúng phải được bổ sung và thực thi bằng ý chí, tức mục đích trí tuệ năng động, được áp dụng một cách đầy bác ái.

1. Application of the values of group life and the promotion of group good are positive developments but go only so far; the vision of further possibilities is not yet completely unfolded. A vision of the Whole must come into focus.

1. Việc áp dụng các giá trị của đời sống tập thể và thúc đẩy thiện ích tập thể là những phát triển tích cực nhưng chỉ đi xa đến một mức nào đó; tầm nhìn về những khả năng xa hơn vẫn chưa khai mở hoàn toàn. Một tầm nhìn về Toàn Thể phải đi vào tiêu điểm.

2. It is always difficult to sacrifice the present good for an anticipated greater good. The path of discipleship and initiation are ever full of risks, one of the main risks being—giving away the good for the better, and the better for the best. These risks are far more easily attempted when the consciousness is filled with trust—which is another way of saying, ‘when there is consciousness of the Immortal Self’.

2. Bao giờ cũng khó hi sinh điều thiện hiện tại cho một điều thiện lớn hơn được dự liệu. Con Đường Đệ Tử và Con Đường Điểm Đạo luôn đầy rủi ro, một trong những rủi ro chính là—trao bỏ điều tốt để lấy điều tốt hơn, và điều tốt hơn để lấy điều tốt nhất. Những rủi ro này dễ được chấp nhận hơn nhiều khi tâm thức tràn đầy niềm tin—đó là một cách khác để nói rằng “khi có tâm thức về Bản Ngã Bất Tử”.

3. The Tibetan speaks of the greater Whole which is Being itself. The divorce between Being and form, while real, is not a true separation, for Being must work through form, lovingly and intelligently. This means that the highest states of realization we may achieve when identified with and as Being, must be applied to the lower worlds. This differentiates the rather ‘escapist approach’ of some older traditions with the ultra-responsible approach of modern Trans-Himalayan Occultism.

3. Chân sư Tây Tạng nói về Toàn Thể lớn hơn vốn là chính Bản Thể. Sự tách rời giữa Bản Thể và hình tướng, tuy có thật, không phải là sự phân ly đích thực, vì Bản Thể phải hoạt động qua hình tướng, một cách đầy bác ái và trí tuệ. Điều này có nghĩa là những trạng thái chứng ngộ cao nhất mà chúng ta có thể đạt được khi đồng hoá vớinhư Bản Thể, phải được áp dụng vào các thế giới thấp. Điều này phân biệt “lối tiếp cận trốn tránh” khá rõ của một số truyền thống xưa với lối tiếp cận siêu trách nhiệm của Huyền bí học Xuyên-Himalaya hiện đại.

4. Thus we have a “divorce” which, effectively, is not a divorce. The wise policy is, “in the world yet not of the world”.

4. Như vậy, chúng ta có một “sự tách rời” mà trên thực tế không phải là sự tách rời. Chính sách khôn ngoan là: “ở trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian”.

5. One of the excellent definitions of will is here offered: “will, which is active intelligent purpose, lovingly applied”. This, seemingly an obvious idea, bears meditation. We remember, in this respect, the third ray Word of Power: “Purpose itself am I”. Notice how all the three aspects of divinity are beautifully fused in the definition. The Trinity is really a three-in-one and one-in-three. In this definition is the essence of the Science of Triangles.

5. Ở đây đưa ra một trong những định nghĩa tuyệt hảo về ý chí: “ý chí, tức mục đích trí tuệ năng động, được áp dụng một cách đầy bác ái”. Ý tưởng này, dường như hiển nhiên, đáng để tham thiền. Về phương diện này, chúng ta nhớ đến Quyền năng từ cung ba: “Chính Mục Đích là tôi”. Hãy lưu ý cách cả ba phương diện của thiên tính được dung hợp đẹp đẽ trong định nghĩa này. Tam Vị thật sự là ba-trong-một và một-trong-ba. Trong định nghĩa này có tinh túy của Khoa Học về các Tam Giác.

The difficulty of this subject is inherent in the fact that basically (no matter how strange this may seem) love is the line of least resistance for the developed human being. It is the governing principle of the present solar system. Will is the governing principle of the next or coming solar system, which will be brought into manifestation through the agency of those human beings who—in this solar system—arrive at the full expression of the will aspect. Then, in the coming consummating manifestation, love will be to the will aspect what intelligence is, in this solar system, to love.

Khó khăn của đề tài này nằm ngay trong sự kiện rằng, về căn bản, dù điều này có vẻ lạ lùng đến đâu, tình thương là con đường ít trở ngại nhất đối với con người đã phát triển. Đó là nguyên khí cai quản hệ mặt trời hiện tại. Ý chí là nguyên khí cai quản hệ mặt trời kế tiếp hay sắp đến, hệ mặt trời sẽ được đưa vào biểu hiện qua trung gian của những con người mà—trong hệ mặt trời này—đạt đến sự biểu hiện trọn vẹn của phương diện ý chí. Khi ấy, trong biểu hiện hoàn mãn sắp đến, tình thương sẽ đối với phương diện ý chí như trí tuệ, trong hệ mặt trời này, đối với tình thương.

1. Some interesting ideas are offered in this final paragraph describing Rule I for Disciples and Initiates.

1. Một số ý tưởng thú vị được đưa ra trong đoạn cuối này mô tả Quy luật I dành cho các Đệ tử và Điểm đạo đồ.

2. The preeminence of love is stated. It is the line of least resistance and therefore the way in which the majority will achieve. Much depends upon the monadic ray. There are, we are told, thirty five billion monads of love, twenty billion monads of intelligence and five billion monads of will.

2. Tính ưu thắng của tình thương được khẳng định. Đó là con đường ít trở ngại nhất, và vì vậy là con đường qua đó đa số sẽ thành tựu. Nhiều điều tùy thuộc vào cung chân thần. Chúng ta được cho biết rằng có ba mươi lăm tỷ chân thần của tình thương, hai mươi tỷ chân thần của trí tuệ và năm tỷ chân thần của ý chí.

3. These three groups of monads are related, respectively to the three solar systems—the monads of intelligence to the last system, those of love to the present one, and those of will to the next.

3. Ba nhóm chân thần này lần lượt liên hệ với ba hệ mặt trời—các chân thần của trí tuệ với hệ trước, các chân thần của tình thương với hệ hiện tại, và các chân thần của ý chí với hệ kế tiếp.

4. The majority of first ray monads came in during Atlantean times and are still rather undeveloped in terms of human evolution. Some came from the Moon Chain and none (or practically none) in the Lemurian phase of the Earth Chain.

4. Đa số các chân thần cung một đã đi vào trong thời Atlantis và vẫn còn khá kém phát triển xét theo tiến hoá nhân loại. Một số đến từ Dãy Mặt Trăng, và không có ai, hay hầu như không có ai, trong giai đoạn Lemuria của Dãy Địa Cầu.

5. The goal of third ray monads is to raise their focus to the second subplane of the monadic plane where second ray monads are already focussed. Yet, withal, third ray monads, in the main, are much more advanced than second ray monads as they represent the majority of Moon Chain monads who have had much more time to evolve than the average second ray monad will have had. Only those second ray monads from the Moon Chain may be equally unfolded with the third ray monads therefrom.

5. Mục tiêu của các chân thần cung ba là nâng tiêu điểm của họ lên cõi phụ thứ hai của cõi chân thần, nơi các chân thần cung hai đã tập trung. Tuy nhiên, dẫu vậy, nhìn chung các chân thần cung ba tiến bộ hơn nhiều so với các chân thần cung hai, vì họ đại diện cho đa số các chân thần Dãy Mặt Trăng, những vị đã có nhiều thời gian tiến hoá hơn so với chân thần cung hai trung bình. Chỉ những chân thần cung hai từ Dãy Mặt Trăng mới có thể khai mở ngang bằng với các chân thần cung ba từ đó.

6. It may be hard for us to imagine a time when, in the “coming consummating manifestation” we call the next solar system, “love will be to the will aspect what intelligence is, in this solar system, to love”. Love is such a worthy object of cultivation that we can hardly imagine a time when its misuse will prove retrogressive to a far more advanced evolution, just as the misuse of intelligence is now to those who will to love. But this is the prediction.

6. Có thể khó cho chúng ta tưởng tượng một thời kỳ khi, trong “biểu hiện hoàn mãn sắp đến” mà chúng ta gọi là hệ mặt trời kế tiếp, “tình thương sẽ đối với phương diện ý chí như trí tuệ, trong hệ mặt trời này, đối với tình thương”. Tình thương là một đối tượng vun bồi cao quý đến nỗi chúng ta hầu như không thể tưởng tượng một thời kỳ khi sự lạm dụng nó sẽ tỏ ra là thoái bộ đối với một cuộc tiến hoá tiến xa hơn nhiều, cũng như sự lạm dụng trí tuệ hiện nay là thoái bộ đối với những ai có ý chí yêu thương. Nhưng đây là lời tiên đoán.

7. Maybe we can see something of this problem working out on a microcosmic level when we think of the possible expression of the highest purposes we can conceive, and how our attractions, loyalties, and ‘love’ of that which lies within the world of form (even the causal body) seems to prevent the enactment envisioned. For the moment, our only problem is to solve the matter microcosmically. We may or may not be among those being prepared for fuller expression in the third solar system—the one based on will. The odds, however, are against it. Not only is the number of first ray monads very small, but the majority are not yet found among the ranks of disciples due to their seemingly “late start” during the Atlantean period.

7. Có lẽ chúng ta có thể thấy điều gì đó về vấn đề này đang diễn ra ở cấp độ tiểu thiên địa khi chúng ta nghĩ đến sự biểu hiện khả dĩ của những mục đích cao nhất mà chúng ta có thể quan niệm, và cách những hấp lực, lòng trung thành, và “tình thương” của chúng ta đối với những gì nằm trong thế giới hình tướng, ngay cả thể nguyên nhân, dường như ngăn cản việc thực hiện điều đã được hình dung. Trong lúc này, vấn đề duy nhất của chúng ta là giải quyết vấn đề ấy theo phương diện tiểu thiên địa. Chúng ta có thể hoặc không thể thuộc về những người đang được chuẩn bị cho sự biểu hiện trọn vẹn hơn trong hệ mặt trời thứ ba—hệ đặt nền trên ý chí. Tuy nhiên, khả năng ấy không thuận lợi. Không chỉ số lượng chân thần cung một rất ít, mà đa số còn chưa được tìm thấy trong hàng ngũ đệ tử do sự “khởi đầu muộn” dường như của họ trong thời kỳ Atlantis.

8. The practical approach is to hold the macrocosmic possibility in the back of our minds. Right now we would be doing well to develop real love. But there is always a possibility that we may receive a ray of true will, one day, and that this ray will seem to be at odds with our normal expression of love. The Christ ran into this problem, we are told, in the Garden of Gethsemene. His solution was to choose Will while, of course, not abandoning Love. Really, in our solar system, any true expression of Will will be infused by Love—since it is the distinguishing quality of our Solar Logos.

8. Cách tiếp cận thực tiễn là giữ khả năng đại thiên địa ấy ở phía sau tâm trí chúng ta. Ngay lúc này, chúng ta sẽ làm tốt nếu phát triển tình thương chân thật. Nhưng luôn có khả năng rằng một ngày nào đó chúng ta có thể tiếp nhận một tia ý chí đích thực, và tia ấy dường như mâu thuẫn với biểu hiện tình thương bình thường của chúng ta. Chúng ta được cho biết rằng Đức Christ đã gặp vấn đề này trong Vườn Gethsemane. Giải pháp của Ngài là chọn Ý Chí, trong khi dĩ nhiên không từ bỏ Tình Thương. Thật ra, trong hệ mặt trời của chúng ta, bất kỳ biểu hiện chân thật nào của Ý Chí sẽ được Tình Thương thấm nhuần—vì đó là phẩm tính đặc trưng của Thái dương Thượng đế chúng ta.

9. Through the thoughts created by the Tibetan we are seeing far, far ahead. We are seeing beyond the stage of our present development and even beyond the stage of the institution of that which we are now strenuously working to develop. Perhaps, through it all, we will come to understand the Divine Will (and our tiny reflection of it) in truer proportion. It is so easy to blunder on the path of spirituality. The pitfalls are many and the unwary fall into traps with alarming regularity. The great vision presented by the Tibetan Master guards against this possibility (while not ensuring that it will not happen).

9. Qua những tư tưởng do Chân sư Tây Tạng tạo ra, chúng ta đang nhìn rất, rất xa về phía trước. Chúng ta đang nhìn vượt quá giai đoạn phát triển hiện tại của mình và thậm chí vượt quá giai đoạn thiết lập điều mà hiện nay chúng ta đang nỗ lực phát triển. Có lẽ, qua tất cả điều ấy, chúng ta sẽ đi đến chỗ thấu hiểu Ý Chí thiêng liêng, và phản chiếu bé nhỏ của chúng ta về nó, trong tỉ lệ chân thật hơn. Rất dễ vấp ngã trên con đường tinh thần. Cạm bẫy thì nhiều, và người thiếu cảnh giác rơi vào bẫy với sự đều đặn đáng lo ngại. Tầm nhìn vĩ đại do Chân sư Tây Tạng trình bày bảo vệ chống lại khả năng này, dù không bảo đảm rằng nó sẽ không xảy ra.

10. It is as if we are kindergarteners being told by someone who can “speak our language” what we will be studying when we undertake post-graduate training. There is a lot of schooling between now and then, but at least, to the degree possible, we have a fairly accurate idea of where we are going!

10. Điều đó giống như chúng ta là những trẻ mẫu giáo được một người có thể “nói ngôn ngữ của chúng ta” cho biết chúng ta sẽ học gì khi bước vào chương trình đào tạo sau đại học. Từ nay đến lúc ấy còn rất nhiều việc học, nhưng ít nhất, trong mức độ có thể, chúng ta có một ý niệm khá chính xác về nơi mình đang đi đến!

Synthesis commentaryBình luận về Tổng hợp

Bình luận tổng hợp—Bình luận về Tổng hợp

Very Dear Brothers,

Các huynh đệ rất thân mến,

It is on my mind how to render the first ruler truly effective in our group life and in our individual lives in relation to the group life. Here are my thoughts, which may in some cases take the form of directives and admonitions. Our purpose is to make this work practical, so that by the end of this phase of our work together, we, as a group, stand closer to the Ashram, and fused in more dynamic cooperation with our Elder Brothers who labor endlessly on behalf of humanity. This commentary, therefore, will use somewhat more of the first ray in the attempt to “drive the point home” for all of us.

Tôi đang suy nghĩ làm thế nào để khiến quy luật thứ nhất thật sự hữu hiệu trong đời sống tập thể của chúng ta và trong đời sống cá nhân của chúng ta trong tương quan với đời sống tập thể. Đây là những tư tưởng của tôi, trong một số trường hợp có thể mang hình thức các chỉ thị và lời khuyên răn. Mục đích của chúng ta là làm cho công việc này trở nên thực tiễn, để đến cuối giai đoạn này của công việc chung, chúng ta, với tư cách một tập thể, đứng gần ashram hơn, và được dung hợp trong sự hợp tác năng động hơn với các Huynh Trưởng, những Đấng lao động không ngừng vì nhân loại. Vì vậy, bài bình luận này sẽ dùng phần nào nhiều hơn cung một trong nỗ lực “khắc sâu trọng điểm” cho tất cả chúng ta.

I suggest during the next two weeks we … focus on the Rule from the perspective of synthesis. We should concentrate upon whatever will help us grasp the Rule in its entirety allowing it, as much as possible, to become part of the very fabric of our lives. By now it should be memorized, incorporated, breathed into our being, pervading our psyche. Although the absorption and enactment cannot be complete (especially in a group sense) we will then be ready to move on to the second Rule. We will discover, I believe, that as our study of the Rules continues, the earlier Rules will continue to be absorbed and enacted by the group, even though the concentration will be upon later Rules. In a way they are all one great process, which cannot proceed in a strictly sequential manner.

Tôi đề nghị trong hai tuần tới chúng ta … tập trung vào Quy luật từ viễn cảnh tổng hợp. Chúng ta nên tập trung vào bất cứ điều gì giúp mình nắm bắt Quy luật trong toàn thể của nó, để cho nó, trong mức tối đa có thể, trở thành một phần của chính kết cấu đời sống chúng ta. Đến lúc này, nó nên đã được ghi nhớ, được đưa vào bên trong, được hít thở vào bản thể chúng ta, thấm khắp tâm hồn chúng ta. Dù sự hấp thu và thực hiện không thể hoàn tất, đặc biệt theo ý nghĩa tập thể, khi ấy chúng ta sẽ sẵn sàng chuyển sang Quy luật thứ hai. Tôi tin rằng chúng ta sẽ khám phá rằng khi việc nghiên cứu các Quy luật tiếp tục, các Quy luật trước đó sẽ tiếp tục được tập thể hấp thu và thực hiện, dù sự tập trung sẽ đặt vào các Quy luật về sau. Theo một cách nào đó, tất cả chúng là một tiến trình vĩ đại duy nhất, không thể diễn tiến theo một cách tuần tự nghiêm ngặt.

A. “Let the disciple search within the heart’s deep cave. If there the fire burns bright, warming his brother yet heating not himself, the hour has come for making application to stand before the door.”

A. “Hãy để đệ tử tìm kiếm trong hang sâu của trái tim. Nếu ở đó ngọn lửa cháy sáng, sưởi ấm huynh đệ của y nhưng không làm nóng chính y, thì giờ đã điểm để đệ trình thỉnh nguyện đứng trước cánh cửa.”

1. Nothing will take the place of love—no knowledge, no power. Love is a plenitude which fills and fuses all illusory distances. It is the very substance of the spiritual life. It is the unconquerable force—the only antidote to spiritual death.

1. Không gì thay thế được tình thương—không tri thức, không quyền năng. Tình thương là sự viên mãn lấp đầy và dung hợp mọi khoảng cách ảo tưởng. Nó là chính chất liệu của đời sống tinh thần. Nó là mãnh lực không thể bị khuất phục—liều thuốc giải duy nhất đối với cái chết tinh thần.

2. Love is the Way into the Hierarchy. Light alone will not suffice. Power alone will not suffice. The Spiritual Hierarchy is, above all, the “Hierarchy of Love”.

2. Tình thương là Con Đường đi vào Thánh đoàn. Chỉ ánh sáng thôi sẽ không đủ. Chỉ quyền năng thôi sẽ không đủ. Trên hết, Huyền Giai Tinh Thần là “Thánh đoàn của Tình Thương”.

3. The requirement for entry is simple, fundamental and all-exacting.

3. Yêu cầu để bước vào thì giản dị, căn bản và đòi hỏi trọn vẹn.

4. Let us be sure we are standing on a firm foundation before we attempt another step—the foundation of Love.

4. Chúng ta hãy chắc chắn rằng mình đang đứng trên một nền tảng vững chắc trước khi cố gắng bước thêm một bước nữa—nền tảng của Tình Thương.

B. Within the fire of mind focussed within the head’s clear light, let the group stand.

B. Trong lửa của trí tuệ được tập trung trong ánh sáng trong trẻo của đầu, hãy để tập thể đứng vững.

1. The true fire of mind must be discovered as a living reality. It is, at the very least, a clear mental focussing during all living processes (no matter how the emotions may be playing up or the heart may be burning).

1. Lửa thật sự của trí tuệ phải được khám phá như một thực tại sống động. Ít nhất, đó là một sự tập trung trí tuệ rõ ràng trong mọi tiến trình sống, dù các cảm xúc có thể nổi lên hay trái tim có thể bừng cháy đến đâu.

2. The usual human response to an inviting point of tension is the effort to sustain it, followed by relaxation into a lesser state of tension. This introduces intermittency to the apprehension of reality. It is natural enough, but, ultimately, not desirable. Given the fluctuating nature of the form, a certain ‘vibratory retreat’ from high points of tension is perhaps inescapable, but should never be allowed to become a full retreat or rout[7]. The retraction should become increasingly slight.

2. Đáp ứng thông thường của con người trước một điểm tập trung nhất tâm hấp dẫn là nỗ lực duy trì nó, rồi sau đó buông lỏng xuống một trạng thái tập trung nhất tâm thấp hơn. Điều này đưa tính gián đoạn vào sự lĩnh hội thực tại. Nó đủ tự nhiên, nhưng rốt cuộc không đáng mong muốn. Do bản chất dao động của hình tướng, một sự “rút lui rung động” nào đó khỏi các điểm tập trung nhất tâm cao có lẽ là điều không thể tránh, nhưng không bao giờ được phép trở thành một cuộc rút lui hoàn toàn hay tan vỡ. Sự co rút ấy nên ngày càng trở nên nhẹ.

3. Therefore, a great state of vigilance[8] is required to ensure that we do not descend inordinately from a sustained mental focus. There is a level below which we must not descend; as we raise our customary point of tension, this lower level rises as well.

3. Vì vậy, cần có một trạng thái cảnh giác lớn lao để bảo đảm rằng chúng ta không hạ xuống quá mức khỏi một tiêu điểm trí tuệ được duy trì. Có một cấp độ mà chúng ta không được hạ xuống thấp hơn; khi chúng ta nâng điểm tập trung nhất tâm thường lệ của mình, cấp độ thấp hơn này cũng nâng lên theo.

4. The head is a great friend to the heart—there is no essential enmity between them. We must become capable of sustained, simultaneous head/heart states. Jupiter, the “force which brings all together”, will help us in our task. Not just one—not just the other—but both.

4. Đầu là một người bạn lớn của tim—không có sự thù nghịch cốt yếu nào giữa chúng. Chúng ta phải trở nên có khả năng duy trì các trạng thái đầu/tim đồng thời và bền vững. Sao Mộc, “mãnh lực đưa tất cả lại với nhau”, sẽ giúp chúng ta trong nhiệm vụ này. Không chỉ một bên—không chỉ bên kia—mà là cả hai.

5. The days of glamor should fast be coming to an end in the personnel of groups like this. All occult processes are controlled within the head—but let us remember that the head has a heart.

5. Những ngày của ảo cảm phải nhanh chóng đi đến hồi kết trong nhân sự của những nhóm như thế này. Mọi tiến trình huyền bí đều được kiểm soát trong đầu—nhưng chúng ta hãy nhớ rằng đầu có một trái tim.

6. We are called to live a focussed life. We emerge from habitual unconsciousness. We are no longer driven by the accumulated tendencies of the past. We recognize such tendencies from a point of clear perspective. We are focussed consciousnesses, and because of our intense focussing, the nature of life becomes ever more vivid, impressive, compelling, beautiful, exacting and joyous.

6. Chúng ta được kêu gọi sống một đời sống tập trung nhất tâm. Chúng ta thoát ra khỏi trạng thái vô thức theo thói quen. Chúng ta không còn bị thúc đẩy bởi những khuynh hướng tích lũy từ quá khứ. Chúng ta nhận ra những khuynh hướng ấy từ một điểm nhìn sáng rõ. Chúng ta là những tâm thức tập trung nhất tâm, và nhờ sự tập trung mãnh liệt ấy, bản chất của sự sống trở nên ngày càng sống động, gây ấn tượng, thôi thúc, đẹp đẽ, đòi hỏi cao và đầy hoan hỉ.

7. In the truly focussed life, joy is never far away, because right focus admits to the dimensions of the soul, spiritual triad and, eventually, spirit.

7. Trong đời sống thật sự tập trung nhất tâm, sự hoan hỉ không bao giờ ở xa, vì sự tập trung đúng đắn mở lối vào các chiều kích của linh hồn, Tam Nguyên Tinh Thần và cuối cùng là tinh thần.

8. All that we need and are is ever present. During normal life we remain, in part at least, oblivious of the pervading greatness which life essentially is. Focus is the key. Through right focus which is right tension we refuse to fall into an habitual state of oblivion—the unfortunate normal state of what Gurdjieff called the human automaton.

8. Tất cả những gì chúng ta cần đều luôn hiện diện. Trong đời sống bình thường, ít nhất phần nào, chúng ta vẫn không nhận biết được sự vĩ đại thấm khắp mà sự sống trong bản chất vốn là. Sự tập trung là chìa khóa. Qua sự tập trung đúng đắn, vốn là sự tập trung nhất tâm đúng đắn, chúng ta từ chối rơi vào trạng thái quên lãng theo thói quen—trạng thái bình thường bất hạnh của cái mà Gurdjieff gọi là người máy nhân loại.

9. When we learn to live this first rule, we also learn to stand as a group. Individuals may falter[9]; I’m sure we have all had our moments but, overall, the group must stand in its decided purpose and move without relent towards ever higher points of tension—which means ever closer to the Great Ones, and ever more fully into the field of the consuming fire which is Love.

9. Khi học cách sống quy luật thứ nhất này, chúng ta cũng học cách đứng vững như một nhóm. Các cá nhân có thể dao động; chắc chắn tất cả chúng ta đều đã có những khoảnh khắc như vậy, nhưng xét toàn thể, nhóm phải đứng vững trong mục đích đã quyết định của mình và không ngừng tiến tới những điểm tập trung nhất tâm ngày càng cao hơn—điều ấy có nghĩa là ngày càng gần hơn với Các Đấng Cao Cả, và ngày càng trọn vẹn hơn trong trường của ngọn lửa thiêu đốt vốn là Bác Ái.

10. Seven years is a long time—i.e., in personality time. Imagine. To stand for seven years. To stand with increasing uprightness and strength. It can seem a “tall order”. The personality (without the sustenance of the soul) is an inconstant thing. It follows desire more than will, and many are and will be the allurements to draw one away from original intention.

10. Bảy năm là một thời gian dài—nghĩa là, trong thời gian của phàm ngã. Hãy hình dung. Đứng vững trong bảy năm. Đứng vững với sự ngay thẳng và sức mạnh ngày càng tăng. Điều ấy có thể dường như là một “đòi hỏi rất cao”. Phàm ngã, nếu không có sự nuôi dưỡng của linh hồn, là một điều bất định. Nó đi theo dục vọng nhiều hơn ý chí, và sẽ có nhiều sự quyến rũ lôi kéo người ta rời xa ý định ban đầu.

11. What shall we do when the allurements come? When ‘other things’ begin to seem so much more spiritually interesting and alive? When staying with original intension seems a heavy and onerous task?

11. Chúng ta sẽ làm gì khi những sự quyến rũ ấy đến? Khi “những điều khác” bắt đầu có vẻ tinh thần hơn, thú vị hơn và sống động hơn rất nhiều? Khi việc giữ vững ý định ban đầu dường như là một nhiệm vụ nặng nề và khó nhọc?

I suppose we have to remind ourselves of what is really great and what is ordinary. The Hierarchy is a point of tension of earned greatness. For its Members, life is nothing as it is for us. They have broken through into greatness, into beauty, into strength and luminous living. How did They get to be as they are? Well, they followed certain rules— “no matter what”.

Tôi cho rằng chúng ta phải tự nhắc mình điều gì thật sự vĩ đại và điều gì chỉ là bình thường. Thánh đoàn là một điểm tập trung nhất tâm của sự vĩ đại đã đạt được. Đối với các Thành viên của Thánh đoàn, sự sống hoàn toàn không như đối với chúng ta. Các Ngài đã phá vỡ giới hạn để bước vào sự vĩ đại, vào vẻ đẹp, vào sức mạnh và đời sống sáng rỡ. Các Ngài đã trở thành như hiện nay bằng cách nào? Các Ngài đã tuân theo một số quy luật—“bất kể điều gì”.

Once some time ago, partially for amusement (and partially in complete earnest), I created a compilation on the Tibetan’s use of the words, “no matter what”. For a second ray master He uses this phrase rather frequently, He does, after all, have a first ray energy on His triadal level, as he informs us in DINA II. “Bear in mind that first ray disciples are in my Ashram, and that there are aspects of my nature which are of first ray origin, but when you remember this, bear also in mind that the aspect to which I refer is Triadal.” (DINA II, 761)

Một lần trước đây, phần nào để tiêu khiển và phần nào với sự nghiêm túc hoàn toàn, tôi đã biên soạn một tập hợp về cách Chân sư Tây Tạng dùng các từ “bất kể điều gì”. Đối với một Chân sư cung hai, Ngài dùng cụm từ này khá thường xuyên; rốt cuộc, Ngài có năng lượng cung một ở cấp độ Tam Nguyên Tinh Thần của Ngài, như Ngài cho chúng ta biết trong Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới II. “Hãy ghi nhớ rằng các đệ tử cung một ở trong ashram của tôi, và rằng có những phương diện trong bản chất của tôi có nguồn gốc cung một; nhưng khi các bạn nhớ điều này, cũng hãy ghi nhớ rằng phương diện mà tôi nói đến thuộc về Tam Nguyên Tinh Thần.” (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới II, 761)

12. It strikes me that the disciples of the world need to incorporate into their lives more vividly the meaning and energy of “no matter what”. Great achievement requires great exertion. The Master Morya assures us that there are times when the Great Ones “sweat blood”. This cannot sound very comfortable or, even, appealing (to the normal personality consciousness), but if one is to become a true spiritual toiler and a true spiritual warrior, a ‘life more extreme yet balanced’ is required. The extremity shows itself in no abnormality or bizarre demonstration but, rather, in a willingness, a drive, to live at the heights of one’s nature, and to exact from the pattern which one is all that may be exacted—for the gain of the world.

12. Tôi có cảm tưởng rằng các đệ tử của thế giới cần đưa ý nghĩa và năng lượng của “bất kể điều gì” vào đời sống của mình một cách sống động hơn. Thành tựu lớn đòi hỏi nỗ lực lớn. Chân sư Morya bảo đảm với chúng ta rằng có những lúc Các Đấng Cao Cả “đổ mồ hôi máu”. Điều này nghe không hề dễ chịu, thậm chí cũng không hấp dẫn đối với tâm thức phàm ngã thông thường, nhưng nếu người ta muốn trở thành một người lao tác tinh thần chân chính và một chiến sĩ tinh thần chân chính, thì cần có một “đời sống cực độ hơn nhưng vẫn quân bình”. Tính cực độ ấy không biểu lộ trong bất kỳ sự bất thường hay trình diễn kỳ dị nào, mà đúng hơn trong một sự sẵn lòng, một động lực, để sống ở những đỉnh cao của bản chất mình, và đòi hỏi từ mô hình mà mình tất cả những gì có thể được đòi hỏi—vì lợi ích của thế giới.

C. The burning ground has done its work.

C. Vùng đất cháy đã hoàn thành công việc của nó.

1. Burning is uncomfortable—even agonizing. Who wants to burn? Perhaps only those who wish to be ‘reduced to essence’, which is Love.

1. Bị thiêu đốt thì không dễ chịu—thậm chí đau đớn. Ai muốn bị thiêu đốt? Có lẽ chỉ những ai muốn được “rút gọn về tinh túy”, mà tinh túy ấy là Bác Ái.

2. How many lives must elapse before we allow the burning ground really to do its work? So many are the unconscious and barely conscious evasions. So reticent is the human being to take his “three worst faults and consign them to the flames”. So innate is the love of comfort… Of course, we are not just speaking here of gross comforts, but the subtle ones which allow us to remain as we are—refusing (ever so benignly) to go forward into greater Light, Love and Power.

2. Bao nhiêu kiếp sống phải trôi qua trước khi chúng ta cho phép vùng đất cháy thật sự hoàn thành công việc của nó? Có quá nhiều sự né tránh vô thức và chỉ hơi có ý thức. Con người quá dè dặt trong việc lấy “ba lỗi lầm tệ hại nhất của mình và phó chúng cho ngọn lửa”. Tình yêu sự tiện nghi thật bẩm sinh biết bao… Dĩ nhiên, ở đây chúng ta không chỉ nói đến những tiện nghi thô thiển, mà cả những tiện nghi tinh vi cho phép chúng ta cứ ở nguyên như mình là—từ chối, một cách rất hiền lành, tiến tới Ánh sáng, Bác Ái và Quyền năng lớn lao hơn.

3. So, for each one of us—what is the work which the burning ground has done? And what is the work which it has yet to do? Really and truly, what?

3. Vậy, đối với mỗi người chúng ta—công việc mà vùng đất cháy đã thực hiện là gì? Và công việc mà nó vẫn còn phải thực hiện là gì? Thật sự và đúng nghĩa, là gì?

4. The opportunity these days is immeasurably great—because the need is so great. Every trusted worker is needed as never before to help humanity through its tremendous pre-initiatory crisis.

4. Cơ hội trong những ngày này lớn lao không thể đo lường—vì nhu cầu quá lớn. Mọi người hoạt động đáng tin cậy đều cần thiết hơn bao giờ hết để giúp nhân loại vượt qua cuộc khủng hoảng tiền điểm đạo to lớn của mình.

5. We are perhaps familiar with the idea that an individual working from a sufficient point of tension can accomplish in a few hours or days what otherwise might take years. The Tibetan tells us this. Do we realize the implications of this statement? Reality is everywhere present. The Presence is present. Yet it remains undetected (for many) or, at least, inconsistently appreciated. Thus does the normal suffocation continue—though it need not if we realize both the opportunity and the stakes.

5. Có lẽ chúng ta quen thuộc với ý tưởng rằng một cá nhân làm việc từ một điểm tập trung nhất tâm đầy đủ có thể hoàn thành trong vài giờ hoặc vài ngày điều mà nếu không có thể mất nhiều năm. Chân sư Tây Tạng nói với chúng ta điều này. Chúng ta có nhận ra những hàm ý của phát biểu ấy không? Thực tại hiện diện khắp nơi. Đấng Hiện Diện đang hiện diện. Tuy vậy, điều ấy vẫn không được phát hiện đối với nhiều người, hoặc ít nhất không được trân trọng một cách nhất quán. Vì thế sự ngạt thở bình thường vẫn tiếp diễn—dù điều ấy không cần xảy ra nếu chúng ta nhận ra cả cơ hội lẫn tầm quan trọng của vấn đề.

6. The greatest fire upon the burning ground is all-consuming Love. The fiery heart receives this Love. Filled with gratitude for the immensity and inconceivable abundance of the Great Gift, the heart burns and consumes all dross. Not the agony of personality conflict (to which—over many lives—all human beings have become habituated) but the purifying, liberating, enlivening Fire of Love. On p. 721 of DINA I, DK tells us the following: “The Masters are, therefore, anxious to ‘burn up the disciple in the fire of the will-to-love so that he is set free and the barriers to the inflow of the avataric force may be dissolved’.” He wants to burn us up in the fire of the Will-to-Love. This is one step—a goal for many. Beyond the Will-to-Love is the actual Fire of Love, itself.

6. Ngọn lửa lớn nhất trên vùng đất cháy là Bác Ái thiêu đốt tất cả. Trái tim bừng lửa tiếp nhận Bác Ái này. Đầy lòng biết ơn trước sự bao la và phong phú không thể tưởng tượng của Đại Tặng Phẩm, trái tim bừng cháy và thiêu rụi mọi cặn bã. Không phải cơn đau đớn của xung đột phàm ngã, điều mà qua nhiều kiếp sống mọi con người đã trở nên quen thuộc, mà là Lửa Bác Ái thanh lọc, giải thoát và làm sống động. Ở trang 721 của Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới I, Chân sư DK nói với chúng ta như sau: “Vì vậy, các Chân sư nóng lòng muốn ‘thiêu đốt đệ tử trong lửa của Ý Chí-Yêu Thương để y được giải thoát và các rào cản đối với dòng tuôn vào của mãnh lực Đấng Hoá Thân có thể được làm tan biến’.” Ngài muốn thiêu đốt chúng ta trong lửa của Ý Chí-Yêu Thương. Đây là một bước—một mục tiêu đối với nhiều người. Vượt ngoài Ý Chí-Yêu Thương là chính Lửa Bác Ái thực sự.

7. If we were burning within the Fire of Love what a force we would be! What a force the group would be! Hierarchy is such a group, and what a Force They are!

7. Nếu chúng ta đang bừng cháy trong Lửa Bác Ái, chúng ta sẽ là một mãnh lực biết bao! Nhóm sẽ là một mãnh lực biết bao! Thánh đoàn một nhóm như thế, và Các Ngài một Mãnh Lực biết bao!

D. The clear cold light shines forth and cold it is, and yet the heat evoked by the group love permits the warmth of energetic moving out. [Page 32]

D. Ánh sáng lạnh trong trẻo chiếu tỏa, và nó lạnh; tuy vậy, nhiệt được gợi lên bởi tình thương nhóm cho phép sự ấm áp của việc tiến ra năng động. [Trang 32]

1. Life (as we usually know it) is an illusion. The whole universe (as we usually know it is an illusion) the Great Illusion. Long time it takes to see through this illusion. This is the great theme of our evolution.

1. Sự sống, như chúng ta thường biết, là một ảo tưởng. Toàn thể vũ trụ, như chúng ta thường biết, là một ảo tưởng— Đại Ảo Tưởng. Cần rất lâu mới nhìn xuyên qua được ảo tưởng này. Đây là chủ đề lớn lao của cuộc tiến hoá của chúng ta.

2. So many of us want the assurance of warmth—the warmth of the soul—solar fire. There is nothing wrong with this, and indeed it is a beautiful energy, to be cultivated and used in the redemption of humanity and the world.

2. Rất nhiều người trong chúng ta muốn sự bảo đảm của hơi ấm—hơi ấm của linh hồn—Lửa Thái dương. Điều này không có gì sai, và quả thật đó là một năng lượng đẹp đẽ, cần được vun bồi và sử dụng trong việc cứu chuộc nhân loại và thế giới.

3. Then what are the advantages of the “clear cold light”, which lies ‘beyond’. ‘above’ and ‘through’ the normal aura of what we usually call soul?

3. Vậy những lợi ích của “ánh sáng lạnh trong trẻo”, vốn nằm “bên kia”, “bên trên” và “xuyên qua” hào quang bình thường của điều chúng ta thường gọi là linh hồn, là gì?

4. Well, things are as they are—whether we see them or not. Some One sees them as they are. There is a Great “All-Seeing Eye” (an ‘Optimal Observer’) a ‘Viewer at a Supreme Point of View’. All ascending beings (who are, themselves) but I’s/’eyes’ can only faintly approximate this Revelation—but in it is liberation and the solution to the Great Illusion in which we toil, struggle and repeatedly die of ignorance.

4. Sự vật là như chúng là—dù chúng ta có thấy hay không. Một Đấng nào đó thấy chúng đúng như chúng là. Có một “Con Mắt Thấy Tất Cả” vĩ đại, một “Nhà Quan Sát Tối Ưu”, một “Đấng Nhìn từ một Điểm Nhìn Tối Cao”. Mọi hữu thể đang thăng thượng, vốn tự chúng chỉ là những cái tôi hay những con mắt, chỉ có thể mơ hồ đến gần sự mặc khải này—nhưng trong đó có giải thoát và giải pháp cho Đại Ảo Tưởng mà trong đó chúng ta lao tác, vật lộn và liên tục chết vì vô minh.

5. Seeing in the “clear cold light” is the beginning of the end of the spell which the Great Illusion has cast over us (or which we—self-voluntarily—have cast over ourselves). We are told that illusion is not dispelled until the ninth initiation—and that is, of course, only a temporary dispelling. But for those who want to enjoy themselves in cosmos (or, more accurately, ‘enjoy the Self in cosmos’), the less illusion the better—even if the illusions we must relinquish are cherished illusion.

5. Thấy trong “ánh sáng lạnh trong trẻo” là khởi đầu của hồi kết đối với bùa mê mà Đại Ảo Tưởng đã phủ lên chúng ta, hoặc chính chúng ta, do tự nguyện, đã phủ lên mình. Chúng ta được cho biết rằng ảo tưởng không được xua tan cho đến lần điểm đạo thứ chín—và dĩ nhiên đó chỉ là sự xua tan tạm thời. Nhưng đối với những ai muốn hoan hưởng chính mình trong vũ trụ, hay chính xác hơn là “hoan hưởng Chân Ngã trong vũ trụ”, càng ít ảo tưởng càng tốt—ngay cả khi những ảo tưởng mà chúng ta phải buông bỏ là những ảo tưởng được nâng niu.

6. When cultivating the will, the fruits of soul unfoldment are not relinquished. Warmth and cold exist at the same time in our consciousness—and must. Thus, we learn to contain the apparent opposites, and being to live a life which will lead one day to the fourth degree in which the opposites are reconciled in harmony. “Crucifixion—Sacrifice—Harmony”. (R&I 340)

6. Khi vun bồi ý chí, những thành quả của sự khai mở linh hồn không bị từ bỏ. Hơi ấm và cái lạnh cùng tồn tại trong tâm thức chúng ta—và phải như vậy. Vì thế, chúng ta học cách chứa đựng những đối cực bề ngoài, và bắt đầu sống một đời sống sẽ một ngày dẫn đến cấp độ thứ tư, nơi các đối cực được hòa giải trong hài hòa. “Đóng Đinh—Hi Sinh—Hài Hòa”. (Cung và Điểm Đạo, 340)

7. As for group love—there is tremendous potential to discover the actuality which already exists. True Love is a group phenomenon. One can hardly go back to the poverty of the individual state when group love has been discovered for the reality it is.

7. Về tình thương nhóm—có một tiềm năng to lớn để khám phá thực tại vốn đã hiện hữu. Bác Ái chân thật một hiện tượng nhóm. Người ta khó có thể quay lại sự nghèo nàn của trạng thái cá nhân khi tình thương nhóm đã được khám phá như thực tại vốn có của nó.

8. When group love informs and pervades, the stage is set for spontaneous group activism. Let’s think of it. The Spiritual Hierarchy is an activist Group—a center of pulsating, dynamic energy. The Masters of the Wisdom are busy individuals. This DK alludes to quietly; other stories of the demands placed upon the Masters are more explicit. Theirs is not a breathless pace, but for us it certainly would be.

8. Khi tình thương nhóm thấm nhuần thấm khắp, sân khấu đã sẵn sàng cho hoạt động nhóm tích cực tự phát. Hãy nghĩ về điều đó. Huyền Giai Tinh Thần là một Nhóm hoạt động tích cực—một trung tâm của năng lượng rung động, năng động. Các Chân sư Minh Triết là những cá nhân bận rộn. Chân sư DK ám chỉ điều này một cách nhẹ nhàng; những câu chuyện khác về các đòi hỏi đặt lên các Chân sư thì rõ ràng hơn. Nhịp độ của Các Ngài không hối hả nghẹt thở, nhưng đối với chúng ta thì chắc chắn sẽ là như vậy.

E. Behind the group there stands the Door. Before them opens out the Way.

E. Phía sau nhóm có Cánh Cửa đứng đó. Trước mặt họ, Con Đường mở ra.

1. We take our stand in confidence on the basis of the doors passed through. There is always striving, and the “road winds uphill all the way”, but there are moments of recollected realization based upon achievements. When one recognizes clearly the doors passed, one is liberated to attend to the matter next at hand.

1. Chúng ta đứng vững trong niềm tin dựa trên những cánh cửa đã đi qua. Luôn có sự phấn đấu, và “con đường quanh co lên dốc suốt cả chặng”, nhưng cũng có những khoảnh khắc nhận thức hồi tưởng dựa trên các thành tựu. Khi người ta nhận ra rõ ràng những cánh cửa đã đi qua, người ta được giải thoát để chú tâm vào vấn đề kế tiếp trước mắt.

2. Contemplation of the “Way” is for our inspiration; it is not for us—yet. The “Way” is a reality for a Master of the fifth degree. Meanwhile, we are learning about it.

2. Sự chiêm ngưỡng “Con Đường” là để khơi cảm hứng cho chúng ta; nó chưa dành cho chúng ta—chưa. “Con Đường” là một thực tại đối với một Chân sư bậc năm. Trong khi đó, chúng ta đang học về nó.

3. But the human being needs inspiration—the sense of something better ever on ahead.

3. Nhưng con người cần cảm hứng—cảm thức rằng luôn có điều gì tốt đẹp hơn ở phía trước.

4. When we realize the Way as endless (or almost endless—for a deep philosophical question is involved here), it is a realization which constantly stimulates the progressive flow of the life-force. For one immersed in this state of realization, stagnation and death can never occur—for long. The Vision of the “Endless Way” (and by the way, the ‘Beginningless Way’) is a key to identification with and pervasion by the life-force.

4. Khi chúng ta nhận ra Con Đường là vô tận hoặc gần như vô tận—vì ở đây có liên quan đến một vấn đề triết học sâu xa—đó là một nhận thức không ngừng kích thích dòng chảy tiến bộ của sinh lực. Đối với người đắm mình trong trạng thái nhận thức này, sự trì trệ và cái chết không bao giờ có thể xảy ra lâu dài. Tầm nhìn về “Con Đường Vô Tận”, và nhân tiện, cả “Con Đường Vô Thủy ”, là một chìa khóa dẫn đến sự đồng hoá với sinh lực và được sinh lực thấm nhuần.

5. What are our sources of inspiration? Everyone of us will have something which truly and infallibly inspires us. We sense the breath of the Endless Way—we breathe it and become more alive in the moment. The future is always for inspiration, for an intensified beauty of livingness.

5. Những nguồn cảm hứng của chúng ta là gì? Mỗi người trong chúng ta sẽ có điều gì đó thật sự và chắc chắn khơi cảm hứng cho mình. Chúng ta cảm nhận hơi thở của Con Đường Vô Tận—chúng ta hít thở nó và trở nên sống động hơn trong khoảnh khắc.  Tương lai luôn là để khơi cảm hứng, để làm tăng cường vẻ đẹp của sự sống động.

F. Together let the band of brothers onward move—out of the fire, into the cold and towards a newer tension.

F. Cùng nhau, đoàn huynh đệ hãy tiến bước—ra khỏi lửa, vào trong cái lạnh và hướng tới một sự tập trung nhất tâm mới hơn.

1. We are a group—certainly of a kind. Over the years we will prove whether or not we are a band of brothers.

1. Chúng ta là một nhóm—chắc chắn là một nhóm thuộc một loại nào đó. Qua nhiều năm, chúng ta sẽ chứng minh liệu mình có phải là một đoàn huynh đệ hay không.

2. This group will be tested—how else could it be? We are participating in an experiment concerning group discipleship and group initiation. Some of the Masters may be slightly aware of what we are attempting. The real question is, how aware are we? I think constant reminders are required, so that this rather new approach to group-spiritual-development is not allowed to lapse into the commonplace.

2. Nhóm này sẽ được thử thách—còn có thể khác đi thế nào? Chúng ta đang tham gia vào một thí nghiệm liên quan đến địa vị đệ tử nhóm và điểm đạo nhóm. Một vài Chân sư có thể biết đôi chút về điều chúng ta đang cố gắng thực hiện. Câu hỏi thật sự là: chúng ta ý thức đến mức nào? Tôi nghĩ cần có những nhắc nhở liên tục, để cách tiếp cận khá mới mẻ này đối với sự phát triển tinh thần theo nhóm không bị rơi vào điều tầm thường.

3. Life is progressive. The energy of the first ray (the energy of will) is especially progressive. We are involved in an experiment utilizing the energy of “progress onward”. We are attempting to drive “forward through space”. We have passed through the numbness of rotary motion, and (in theory) through the more gentle ascension of spiral cyclic motion (though this still is very applicable), and have now entered a mode of progress which, willfully, moves from one point of achievement to the next by the shortest distance—which is sacrifice.

3. Sự sống thì tiến tới. Năng lượng của cung một, năng lượng của ý chí, thì đặc biệt tiến tới. Chúng ta đang tham gia vào một thí nghiệm sử dụng năng lượng của “sự tiến bước về phía trước”. Chúng ta đang cố gắng thúc đẩy “tiến tới xuyên qua không gian”. Chúng ta đã đi qua sự tê liệt của chuyển động xoay vòng, và trên lý thuyết, qua sự thăng lên nhẹ nhàng hơn của chuyển động chu kỳ xoắn ốc, dù điều này vẫn còn rất áp dụng, và nay đã bước vào một phương thức tiến bộ, bằng ý chí, di chuyển từ một điểm thành tựu đến điểm kế tiếp theo khoảng cách ngắn nhất—tức là sự hi sinh.

4. It is a spiritual privilege to recognize one’s brothers and, in celebration of spirit, move forward with them.

4. Nhận ra các huynh đệ của mình và, trong sự tôn vinh tinh thần, tiến bước cùng họ là một đặc ân tinh thần.

5. In sober moments one may wonder how one will have the strength to do this—but the spirit, the monad, is more than adequate to the task. ‘We’ are inwardly sustained by a force which will accept nothing less than victory, and which is victory, itself.

5. Trong những khoảnh khắc nghiêm tỉnh, người ta có thể tự hỏi làm sao mình có đủ sức mạnh để làm điều này—nhưng tinh thần, chân thần, thì dư sức đảm đương nhiệm vụ. “Chúng ta” được nâng đỡ từ bên trong bởi một mãnh lực không chấp nhận điều gì kém hơn chiến thắng, và mãnh lực ấy chính là chiến thắng.

6. May we, increasingly, realize ourselves as spirit and, absorbing a supreme confidence from this unalterable fact, push forward “as one” (which indeed we are) towards victory.

6. Mong rằng chúng ta ngày càng nhận ra mình là tinh thần và, khi hấp thụ một niềm tin tối thượng từ sự kiện bất biến này, tiến tới “như một”, điều mà quả thật chúng ta là, hướng về chiến thắng.



[1] năn nỉ, van xin, khẩn khoản

[2] không giảm, không ngừng bao giờ, không ngớt, liên tục, dai dẳng

[3] chế ngự, kiềm chế

[4] làm cho sững sờ; làm cho chết khiếp, làm chết đứng

[5] (lòng tin vào một) hệ thống, sự lãnh đạo.. nhằm phát triển các tầng lớp ưu tú

[6] để gợi ý; có ý ám chỉ, có ý bóng gió

[7] sự thất bại thảm hại; sự thất bại hoàn toàn (kết thúc trong hỗn loạn)

[8] sự cảnh giác, sự thận trọng, sự đề phòng (nguy hiểm..)

[9] nản chí; chùn bước

Leave a Comment

Scroll to Top