Bình Giảng Quy Luật Điểm đạo 4 dành cho đệ tử (RI)

📘 Sách: Bình Giảng 14 Quy Luật Điểm đạo Dành Cho Đệ tử – RI – Tác giả: Michael D. Robbins

COMMENTARY ON RULE IV

BÌNH GIẢI VỀ QUY LUẬT IV

Rule IV in its Entirety

Quy luật IV trong toàn văn

For Disciples and Initiates: Let the group see that all the eighteen fires die down and that the lesser lives return unto the reservoir of life. This they must bring about through the evocation of the Will. The lesser wheels must not for aye revolve in time and space. Only the greater Wheel must onward move and turn. (R&I 96)

Dành cho các Đệ tử và Điểm đạo đồ: Hãy để nhóm thấy rằng tất cả mười tám ngọn lửa lắng xuống và các sự sống nhỏ hơn trở về kho dự trữ của sự sống. Họ phải thực hiện điều này qua việc gợi lên Ý Chí. Các bánh xe nhỏ hơn không được mãi xoay trong thời gian và không gian. Chỉ Bánh Xe lớn hơn mới phải tiến tới và xoay chuyển. (R&I 96)

Introductory Remarks to Rule IV

Những nhận xét mở đầu về Quy luật IV

A. Paragraph 1

A. Đoạn 1

1. At the time of the June Full Moon, each year, the love of God, the spiritual essence of solar fire, reaches its highest point of expression. Why is this to be the case? (cf. RI p. 88)

1. Vào thời điểm Trăng Tròn tháng Sáu hằng năm, tình thương của Thượng đế, tinh túy tinh thần của Lửa Thái dương, đạt đến điểm biểu lộ cao nhất. Tại sao điều này lại như vậy? (x. RI tr. 88)

2. The Hierarchy has ever been the custodian of the principle of light, of enlightened love. (cf. RI p. 88)

2. Thánh đoàn từ trước đến nay luôn là vị gìn giữ nguyên khí ánh sáng, của tình thương đã được soi sáng. (x. RI tr. 88)

3. At the time of the June Full Moon, each year, the Hierarchy focusses its attention upon the race of men when the spiritual influence is at its height. Why is this to be the case? (cf. RI p. 88)

3. Vào thời điểm Trăng Tròn tháng Sáu hằng năm, Thánh đoàn tập trung sự chú ý của mình vào nhân loại khi ảnh hưởng tinh thần đạt đến đỉnh cao. Tại sao điều này lại như vậy? (x. RI tr. 88)

4. At the Full Moon of June of 1943 the outpouring of divine love reached its highest expression for all time. (cf. RI p. 88)

4. Vào Trăng Tròn tháng Sáu năm 1943, lần tuôn đổ của tình thương thiêng liêng đạt đến biểu lộ cao nhất cho mọi thời đại. (x. RI tr. 88)

5. At the Full Moon of June of 1943 the Christ reached His highest point of attainment. (cf. RI p. 88)

5. Vào Trăng Tròn tháng Sáu năm 1943, Đức Christ đạt đến điểm thành tựu cao nhất của Ngài. (x. RI tr. 88)

6. In the sign of Gemini the complete victory of life over form, and of spirit over matter, is consummated and celebrated. (cf. RI p. 89)

6. Trong dấu hiệu Song Tử, chiến thắng trọn vẹn của sự sống đối với hình tướng, và của tinh thần đối với vật chất, được hoàn thành và cử hành. (x. RI tr. 89)

At the time of the June Full Moon, each year, the love of God, the spiritual essence of solar fire, reaches its highest point of expression. This it achieves through the instrumentality of the Hierarchy, that great group of souls which has ever been the custodian of the principle of light, of enlightened love, and which always—down the ages—focusses its attention upon the race of men when the spiritual influence is at its height. This it does through one of the great Sons of God. The Full Moon of June of 1943 saw this outpouring of divine love reach its highest expression for all time, and at the point of attainment which is, for that particular Son of God, His highest also. Such is the Law. When an embodied Christ in time and space reaches [Page 89] His goal of achievement, recognition of this comes to Him at the time of the June Full Moon, for in that sign of Gemini the complete victory of life over form, and of spirit over matter, is consummated and celebrated.

Vào thời điểm Trăng Tròn tháng Sáu hằng năm, tình thương của Thượng đế, tinh túy tinh thần của Lửa Thái dương, đạt đến điểm biểu lộ cao nhất. Điều này được thành tựu qua phương tiện của Thánh đoàn, nhóm lớn lao ấy gồm các linh hồn vốn từ trước đến nay luôn là vị gìn giữ nguyên khí ánh sáng, của tình thương đã được soi sáng, và luôn luôn—qua các thời đại—tập trung sự chú ý của mình vào nhân loại khi ảnh hưởng tinh thần đạt đến đỉnh cao. Thánh đoàn làm điều này qua một trong các Con vĩ đại của Thượng đế. Trăng Tròn tháng Sáu năm 1943 chứng kiến lần tuôn đổ này của tình thương thiêng liêng đạt đến biểu lộ cao nhất cho mọi thời đại, và tại điểm thành tựu vốn, đối với Con đặc biệt ấy của Thượng đế, cũng là điểm cao nhất của Ngài. Định luật là như vậy. Khi một Đức Christ nhập thể trong thời gian và không gian đạt đến [Page 89] mục tiêu thành tựu của Ngài, sự công nhận điều này đến với Ngài vào thời điểm Trăng Tròn tháng Sáu, vì trong dấu hiệu Song Tử ấy, chiến thắng trọn vẹn của sự sống đối với hình tướng, và của tinh thần đối với vật chất, được hoàn thành và cử hành.

1. This statement about the strength of the love energy reaching its highest point of expression at the June Full Moon is perhaps surprising, as there are other signs of zodiac more conventionally associated with love. Gemini, in fact, is traditionally associated with knowledge and mind.

1. Phát biểu này về sức mạnh của năng lượng tình thương đạt đến điểm biểu lộ cao nhất vào Trăng Tròn tháng Sáu có lẽ gây ngạc nhiên, vì có những dấu hiệu hoàng đạo khác thường được liên hệ với tình thương theo cách quen thuộc hơn. Thật vậy, Song Tử theo truyền thống được liên hệ với tri thức và trí tuệ.

2. But if seek the ray that is expressed through Gemini, we find it is the second Ray of Love-Wisdom. Further, Gemini is a great relating agent, uniting all the zodiacal opposites with each other (except for itself and Sagittarius, which are united by Pisces). Further, Gemini is a dual sign related to the expression of the dual energies of our Solar Logos—namely, Love and Wisdom.

2. Nhưng nếu tìm cung được biểu lộ qua Song Tử, chúng ta thấy đó là cung hai Bác Ái – Minh Triết. Hơn nữa, Song Tử là một tác nhân liên kết lớn lao, hợp nhất tất cả các cặp đối cực hoàng đạo với nhau, ngoại trừ chính nó và Nhân Mã, vốn được Song Ngư hợp nhất. Hơn nữa, Song Tử là một dấu hiệu kép liên quan đến sự biểu lộ của các năng lượng kép của Thái dương Thượng đế chúng ta—tức là Bác Ái và Minh Triết.

3. What may be the “spiritual essence of solar fire”? At our stage of evolution, we cannot know exactly. We are told it is the “love of God”. Is this essence zodiacally monadic in some respect? Every sign of the zodiac has a monad, soul and personality, just as has any other self-conscious entity. The rays expressing through a zodiacal constellation may change with various periods and world cycles, but probably one ray, a primary ray, remains constant. Is the second ray of Love-Wisdom the primary ray of the constellational Being we call Gemini?

3. “Tinh túy tinh thần của Lửa Thái dương” có thể là gì? Ở giai đoạn tiến hoá của chúng ta, chúng ta không thể biết một cách chính xác. Chúng ta được bảo rằng đó là “tình thương của Thượng đế”. Theo một phương diện nào đó, tinh túy này có tính chân thần theo hoàng đạo chăng? Mỗi dấu hiệu hoàng đạo đều có một chân thần, linh hồn và phàm ngã, cũng như bất kỳ thực thể tự ý thức nào khác. Các cung biểu lộ qua một chòm sao hoàng đạo có thể thay đổi theo các thời kỳ và các chu kỳ thế giới khác nhau, nhưng có lẽ một cung, một cung chính yếu, vẫn không đổi. Liệu cung hai Bác Ái – Minh Triết có phải là cung chính yếu của Đấng Hiện Tồn thuộc chòm sao mà chúng ta gọi là Song Tử chăng?

4. Expression of this high form of love comes “through the instrumentality of the Hierarchy”. It appears that at the Gemini Full Moon (down the ages), the Hierarchy has always focussed its attention on humanity. We see, then, that this festival, now called the “Festival of the Christ” was not always the festival of this Christ (our Christ, the Lord Maitreya). Probably there was always some World Teacher on the second ray Who expressed the Love-Wisdom energy at this time, but only recently the Christ (with the cooperation of this Buddha). At one point He Whom we call the Buddha was the primary agent of expression for He was the head of the Spiritual Hierarchy.

4. Sự biểu lộ của hình thức cao cả này của tình thương đến “qua phương tiện của Thánh đoàn”. Có vẻ như vào Trăng Tròn Song Tử, qua các thời đại, Thánh đoàn luôn luôn tập trung sự chú ý của mình vào nhân loại. Vậy chúng ta thấy rằng lễ hội này, hiện nay được gọi là “Lễ hội của Đức Christ”, không phải lúc nào cũng là lễ hội của Đức Christ này, Đức Christ của chúng ta, Đức Chúa Maitreya. Có lẽ luôn luôn có một Đức Chưởng Giáo nào đó thuộc cung hai biểu lộ năng lượng Bác Ái – Minh Triết vào thời điểm này, nhưng chỉ gần đây mới là Đức Christ, với sự hợp tác của Đức Phật này. Vào một thời điểm, Đấng mà chúng ta gọi là Đức Phật là tác nhân biểu lộ chính yếu, vì Ngài là vị đứng đầu Huyền Giai Tinh Thần.

5. Note that the Hierarchy is the custodian, not just of love but of enlightened love. This is important, as it links light to love and head to heart.

5. Hãy lưu ý rằng Thánh đoàn là vị gìn giữ, không chỉ của tình thương mà của tình thương được soi sáng. Điều này quan trọng, vì nó liên kết ánh sáng với tình thương và đầu với tim.

6. It would be interesting to know Who have been the “Great Sons of God” Who have led the Hierarchy down the ages, what qualities They have displayed, and what developments in and through humanity occurred during Their tenure in office. The most recent, of course, is the Lord Maitreya, Him Whom we call the Christ. The Lord Buddha preceded Him. The next such figure will be the Master K.H., probably after the Aquarian Age.

6. Sẽ rất thú vị nếu biết được các “Con Vĩ Đại của Thượng đế” đã lãnh đạo Thánh đoàn qua các thời đại là Những Ai, Các Ngài đã biểu lộ những phẩm tính nào, và những phát triển nào trong và qua nhân loại đã xảy ra trong nhiệm kỳ của Các Ngài. Vị gần đây nhất, dĩ nhiên, là Đức Chúa Maitreya, Đấng mà chúng ta gọi là Đức Christ. Đức Phật đi trước Ngài. Nhân vật kế tiếp như vậy sẽ là Chân sư K.H., có lẽ sau Kỷ Nguyên Bảo Bình.

7. A fascinating and enigmatical statement is made:

7. Một phát biểu hấp dẫn và bí ẩn được đưa ra:

“The Full Moon of June of 1943 saw this outpouring of divine love reach its highest expression for all time, and at the point of attainment which is, for that particular Son of God, His highest also.”

“Trăng Tròn tháng Sáu năm 1943 chứng kiến lần tuôn đổ này của tình thương thiêng liêng đạt đến biểu lộ cao nhất cho mọi thời đại, và tại điểm thành tựu vốn, đối với Con đặc biệt ấy của Thượng đế, cũng là điểm cao nhất của Ngài.”

The phrase “for all time” is puzzling. Is it an outpouring of divine love upon humanity and the Earth which, for the Christ, was the highest expression for all time? Yet the Christ will be the presiding Master during the Aquarian Age, and will His outpouring of love as expressed in 1943 not be equaled by His outpouring at various points during the Aquarian Age? Or will that outpouring during the Aquarian Age be tinged by other energies—for instance, the energy of the will, and thus not be an outpouring of pure “divine love”?

Cụm từ “cho mọi thời đại” thật khó hiểu. Phải chăng đó là một lần tuôn đổ tình thương thiêng liêng xuống nhân loại và Trái Đất, mà đối với Đức Christ, là biểu lộ cao nhất cho mọi thời đại? Tuy nhiên Đức Christ sẽ là Chân sư chủ trì trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, và lẽ nào lần tuôn đổ tình thương của Ngài như đã biểu lộ vào năm 1943 lại không được sánh bằng các lần tuôn đổ của Ngài ở những thời điểm khác nhau trong Kỷ Nguyên Bảo Bình? Hay lần tuôn đổ ấy trong Kỷ Nguyên Bảo Bình sẽ nhuốm những năng lượng khác—chẳng hạn, năng lượng của ý chí—và do đó không phải là một lần tuôn đổ của tình thương thiêng liêng “thuần khiết”?

8. If the quotation does not refer to the Christ, then it is ever more puzzling, because “for all time” is a long time, to say the least! One cannot imagine the expression of love having reached its apotheosis with respect to the Earth or the wider system, for Love-Wisdom must intensify in expression on this planet as our planet’s second ray soul emerges.

8. Nếu đoạn trích không ám chỉ Đức Christ, thì nó lại càng khó hiểu hơn, bởi “cho mọi thời đại” là một thời gian dài, ít nhất cũng phải nói như vậy! Người ta không thể hình dung rằng sự biểu lộ của tình thương đã đạt đến tuyệt đỉnh đối với Trái Đất hay hệ thống rộng lớn hơn, vì Bác Ái – Minh Triết phải gia tăng cường độ biểu lộ trên hành tinh này khi linh hồn cung hai của hành tinh chúng ta xuất hiện.

9. It is probable that this quotation is referring to an important step in the seventh initiation process presently being undergone by the Christ. It is probable that this initiation process is not yet completed, and, therefore, was not completed in 1943, but that a mile-stone in the process was reached.

9. Có lẽ đoạn trích này ám chỉ một bước quan trọng trong tiến trình lần điểm đạo thứ bảy mà Đức Christ hiện đang trải qua. Có lẽ tiến trình điểm đạo này chưa hoàn tất, và do đó, đã không hoàn tất vào năm 1943, nhưng một cột mốc trong tiến trình ấy đã được đạt tới.

10. We realize that by that time, June 1943, the Forces of Darkness and Materialism has been inwardly defeated, and a new outpouring of love upon the Earth was possible. Perhaps that outpouring of divine love was the highest for “all time” leading up to that point.

10. Chúng ta nhận ra rằng vào thời điểm ấy, tháng Sáu năm 1943, các Mãnh lực Bóng Tối và Chủ nghĩa Vật chất đã bị đánh bại ở bên trong, và một lần tuôn đổ tình thương mới xuống Trái Đất đã trở nên khả dĩ. Có lẽ lần tuôn đổ tình thương thiêng liêng ấy là cao nhất cho “mọi thời đại” dẫn đến thời điểm đó.

11. So has the Christ already reached His “goal of achievement”? Is He not still in the process of undergoing the seventh initiation?

11. Vậy Đức Christ đã đạt “mục tiêu thành tựu” của Ngài rồi chăng? Chẳng phải Ngài vẫn đang trong tiến trình trải qua lần điểm đạo thứ bảy hay sao?

12. We are told that “the sixth initiation marks the point of attainment of the Christ,…” (IHS 17) We also read, “The clue to the seventh initiation which lies ahead for such high Beings as the Christ would be of no service to you at all.” (R&I 44) Further, the following: “That will be heard when the Christ completes His work at the time of the Second Coming. Then the great seventh initiation, which is a dual one (love-wisdom in full manifestation motivated by power and will), will be consummated, and the Buddha and the Christ will together pass before the Lord of the World, together see the glory of the Lord, and together pass to higher service of a nature and calibre unknown to us.” (R&I 83-84) Through these and other references, we come to understand that the Christ has not yet fully taken the seventh initiation, and will do so after His work during the Aquarian Age is completed.

12. Chúng ta được bảo rằng “lần điểm đạo thứ sáu đánh dấu điểm thành tựu của Đức Christ,…” (IHS 17) Chúng ta cũng đọc thấy: “Manh mối về lần điểm đạo thứ bảy vốn còn ở phía trước đối với các Đấng cao cả như Đức Christ sẽ chẳng hữu ích gì cho các bạn cả.” (R&I 44) Hơn nữa, còn có đoạn sau: “Điều đó sẽ được nghe thấy khi Đức Christ hoàn tất công việc của Ngài vào thời điểm Tái Lâm. Khi ấy, lần điểm đạo thứ bảy vĩ đại, vốn là một cuộc điểm đạo kép, Bác Ái – Minh Triết trong sự biểu lộ trọn vẹn được thúc đẩy bởi quyền năng và ý chí, sẽ được hoàn thành, và Đức Phật cùng Đức Christ sẽ cùng nhau đi qua trước Đức Chúa Tể Thế Giới, cùng nhau thấy vinh quang của Đức Chúa, và cùng nhau bước sang sự phụng sự cao hơn thuộc một bản chất và tầm vóc mà chúng ta không biết.” (R&I 83-84) Qua những tham chiếu này và những tham chiếu khác, chúng ta đi đến thấu hiểu rằng Đức Christ chưa hoàn toàn nhận lần điểm đạo thứ bảy, và Ngài sẽ làm như vậy sau khi công việc của Ngài trong Kỷ Nguyên Bảo Bình hoàn tất.

13. Therefore it is to be questioned whether the June Full Moon of 1943 could, possibly, have indicated the seventh initiation for the Christ—for it is a Love-Wisdom initiation? Or whether, more probably, an important stage in that initiatory process.

13. Do đó, cần đặt vấn đề liệu Trăng Tròn tháng Sáu năm 1943 có thể đã chỉ ra lần điểm đạo thứ bảy cho Đức Christ hay không—vì đó là một cuộc điểm đạo Bác Ái – Minh Triết? Hay, có lẽ đúng hơn, nó chỉ ra một giai đoạn quan trọng trong tiến trình điểm đạo ấy?

14. It does not seem as if some other Son of God could have reached the seventh degree at that Full Moon, for the Christ is the presently presiding Son of God with respect to our Spiritual Hierarchy, and even the present Manu and Mahachohan (with the Christ, the two other “Three Great Lords”) are initiates of the sixth degree, not the seventh.

14. Dường như không thể có chuyện một Con khác của Thượng đế đã đạt đến cấp độ thứ bảy vào Trăng Tròn ấy, vì Đức Christ hiện là Con của Thượng đế đang chủ trì đối với Huyền Giai Tinh Thần của chúng ta, và ngay cả Đức Manu hiện nay cùng Đức Mahachohan, cùng với Đức Christ là hai vị còn lại trong “Ba Chúa Tể Vĩ Đại”, cũng là các điểm đạo đồ cấp độ thứ sáu, chứ không phải thứ bảy.

15. Probably there will be a June Full Moon in the future, at which the fulness of the seventh degree will be reached by our present Christ and perhaps by our Buddha as well (though He is naturally far more identified with Wesak).

15. Có lẽ trong tương lai sẽ có một Trăng Tròn tháng Sáu mà ở đó sự viên mãn của cấp độ thứ bảy sẽ được Đức Christ hiện nay của chúng ta đạt tới, và có lẽ cả Đức Phật của chúng ta nữa, dù tự nhiên Ngài được đồng hoá sâu xa hơn nhiều với Wesak.

16. Yet, at the Gemini Full Moon, both the Christ and the Buddha are active in Their various ways, and so it is not out of keeping to expect a climactic seventh degree point for them both at the Gemini Full Moon at some future date far ahead.

16. Tuy nhiên, vào Trăng Tròn Song Tử, cả Đức Christ lẫn Đức Phật đều hoạt động theo những cách khác nhau của Các Ngài, và vì thế không phải là không phù hợp khi kỳ vọng một điểm cực đỉnh thuộc cấp độ thứ bảy cho cả hai Ngài vào Trăng Tròn Song Tử ở một ngày rất xa trong tương lai.

17. What does the term, “Second Coming”, mean as presented here? It cannot mean the first appearance of the Reappearing Christ, for there would have been no time for Him to complete His work. Rather, it may mean that His quality has permeated (or come into) humanity to the degree that He intends, and, thus, that His work will be complete at that point—at least with respect to humanity and the Aquarian Age.

17. Thuật ngữ “Tái Lâm”, như được trình bày ở đây, có nghĩa là gì? Nó không thể có nghĩa là sự xuất hiện đầu tiên của Đức Christ Tái Hiện, vì như vậy sẽ không có thời gian để Ngài hoàn tất công việc của mình. Đúng hơn, nó có thể có nghĩa là phẩm tính của Ngài đã thấm nhuần, hay đi vào, nhân loại đến mức độ mà Ngài dự định, và do đó, công việc của Ngài sẽ hoàn tất tại điểm ấy—ít nhất là đối với nhân loại và Kỷ Nguyên Bảo Bình.

18. In truth, studies concerning the seventh initiation in relation to the Christ present apparently contradictory statements. In one respect it would appear that the Christ has had the experience of the seventh initiation. In another respect, it would seem that He could not possibly have completed it.

18. Thật ra, các nghiên cứu về lần điểm đạo thứ bảy liên quan đến Đức Christ đưa ra những phát biểu dường như mâu thuẫn. Theo một phương diện, có vẻ như Đức Christ đã có kinh nghiệm về lần điểm đạo thứ bảy. Theo phương diện khác, dường như Ngài không thể nào đã hoàn tất nó.

19. Perhaps a study of Christ’s achievements on different planes will hold the key to this riddle. What may be accomplished inwardly, may take a long time (thousands of years in this case) to work out.

19. Có lẽ một nghiên cứu về các thành tựu của Đức Christ trên các cõi khác nhau sẽ nắm giữ chìa khóa cho câu đố này. Điều có thể được thành tựu ở bên trong có thể cần một thời gian dài, trong trường hợp này là hàng nghìn năm, để thể hiện ra bên ngoài.

20. About the seventh initiation we can only speculate. If its fulness lies ahead for such great Beings as the Christ, what can we really know about it? However, we can reason and attempt to keep things in proportion. The Tibetan would not have presented this material if it were not valuable to consider it. Probably it goes towards the completion of our understanding of the initiation process. It may also prevent us from falling victim to spiritual inflation, which seems to seize so many as they begin thinking about this subject (especially in relation to themselves).

20. Về lần điểm đạo thứ bảy, chúng ta chỉ có thể suy đoán. Nếu sự viên mãn của nó còn ở phía trước đối với các Đấng vĩ đại như Đức Christ, thì chúng ta thật sự có thể biết gì về nó? Tuy nhiên, chúng ta có thể lý luận và cố gắng giữ mọi sự trong đúng tỉ lệ. Chân sư Tây Tạng đã không trình bày tư liệu này nếu việc suy xét nó không có giá trị. Có lẽ nó góp phần hoàn tất sự thấu hiểu của chúng ta về tiến trình điểm đạo. Nó cũng có thể ngăn chúng ta khỏi trở thành nạn nhân của sự tự thổi phồng tinh thần, điều dường như chiếm lấy rất nhiều người khi họ bắt đầu suy nghĩ về chủ đề này, đặc biệt là trong liên hệ với chính họ.

B. Paragraph 2

B. Đoạn 2

1. The love of God, focussed in the Christ, seeks to express itself in some act of peculiarly useful service to humanity. (cf. RI p. 89)

1. Tình thương của Thượng đế, được tập trung trong Đức Christ, tìm cách biểu lộ chính nó trong một hành động phụng sự đặc biệt hữu ích nào đó cho nhân loại. (x. RI tr. 89)

2. Christ in His capacity of the God-Saviour, is sacrificing Himself through pure love for His fellowmen. (cf. RI p. 89)

2. Đức Christ, trong năng lực của Ngài là Thượng đế-Cứu Thế, hi sinh chính mình qua tình thương thuần khiết dành cho đồng loại của Ngài. (x. RI tr. 89)

3. The saving principle of pure love finds its expression at the hour of humanity’s greatest need in the work of a World Saviour and “for the salvation of His people, He comes forth.” (cf. RI p. 89)

3. Nguyên khí cứu rỗi của tình thương thuần khiết tìm thấy sự biểu lộ của nó vào giờ phút nhân loại cần thiết nhất trong công việc của một Đấng Cứu Thế Thế Gian, và “để cứu độ dân của Ngài, Ngài xuất hiện.” (x. RI tr. 89)

4. The task of the Christ (as the expression in time and space of the second divine aspect) is to establish relationships. (cf. RI p. 89)

4. Nhiệm vụ của Đức Christ, với tư cách là sự biểu lộ trong thời gian và không gian của phương diện thiêng liêng thứ hai, là thiết lập các mối liên hệ. (x. RI tr. 89)

5. Every cyclic Representative of Deity furthers the approach of the Hierarchy to mankind. (cf. RI p. 89)

5. Mỗi Đấng Đại Diện theo chu kỳ của Thượng đế đều thúc đẩy sự tiếp cận của Thánh đoàn đối với nhân loại. (x. RI tr. 89)

The love of God, focussed in the Christ, seeks to express itself in some act of peculiarly useful service to humanity. This service has taken different forms down through the ages, but it has always expressed itself through two episodes: One of them, the first, reveals the Christ in His capacity of the God-Saviour, sacrificing Himself through pure love for His fellowmen. The annals of the Hierarchy contain many such histories of sacrifice and service, dating far back into the very night of time. The saving principle of pure love finds its expression at the hour of humanity’s greatest need in the work of a World Saviour and “for the salvation of His people, He comes forth.” He thus meets the need, and at the same time strengthens the link which relates the Hierarchy to Humanity. The task of the Christ (as the expression in time and space of the second divine aspect) is to establish relationships. Every cyclic Representative of Deity furthers the approach of the Hierarchy to mankind, and seals this service by some final act which becomes the historical nucleus whereby later generations remember Him.

Tình thương của Thượng đế, được tập trung trong Đức Christ, tìm cách biểu lộ chính nó trong một hành động phụng sự đặc biệt hữu ích nào đó cho nhân loại. Sự phụng sự này đã mang những hình thức khác nhau qua các thời đại, nhưng nó luôn luôn tự biểu lộ qua hai biến cố: một trong hai, biến cố thứ nhất, mặc khải Đức Christ trong năng lực của Ngài là Thượng đế-Cứu Thế, hi sinh chính mình qua tình thương thuần khiết dành cho đồng loại của Ngài. Biên niên sử của Thánh đoàn chứa đựng nhiều câu chuyện như vậy về hi sinh và phụng sự, có từ rất xa xưa trong chính đêm tối của thời gian. Nguyên khí cứu rỗi của tình thương thuần khiết tìm thấy sự biểu lộ của nó vào giờ phút nhân loại cần thiết nhất trong công việc của một Đấng Cứu Thế Thế Gian, và “để cứu độ dân của Ngài, Ngài xuất hiện.” Như vậy Ngài đáp ứng nhu cầu, đồng thời củng cố mối liên kết liên hệ Thánh đoàn với Nhân loại. Nhiệm vụ của Đức Christ, với tư cách là sự biểu lộ trong thời gian và không gian của phương diện thiêng liêng thứ hai, là thiết lập các mối liên hệ. Mỗi Đấng Đại Diện theo chu kỳ của Thượng đế đều thúc đẩy sự tiếp cận của Thánh đoàn đối với nhân loại, và ấn chứng sự phụng sự này bằng một hành động cuối cùng nào đó, hành động trở thành hạt nhân lịch sử nhờ đó các thế hệ sau tưởng nhớ Ngài.

1. The love of God always seeks to work out in loving acts. The various initiations see different degrees of love expressing in relation to the welfare of humanity. There are constantly ascending degrees of love. Of the highest forms expressed at the very highest initiations, we can have no notion.

1. Tình thương của Thượng đế luôn tìm cách thể hiện trong những hành động yêu thương. Các cuộc điểm đạo khác nhau chứng kiến những mức độ khác nhau của tình thương biểu lộ trong liên hệ với phúc lợi của nhân loại. Có những cấp độ tình thương không ngừng thăng cao. Về những hình thức cao nhất được biểu lộ ở các cuộc điểm đạo tối cao, chúng ta không thể có khái niệm nào.

2. The love of God expresses itself in two types of episodes.

2. Tình thương của Thượng đế tự biểu lộ trong hai loại biến cố.

3. The first type of episode (relevant to all Christs, not just our own) sees the Christ expressing himself sacrificially as the “God-Saviour”.

3. Loại biến cố thứ nhất, liên quan đến tất cả các Đức Christ, không chỉ riêng Đức Christ của chúng ta, chứng kiến Đức Christ biểu lộ chính mình một cách hi sinh với tư cách là “Thượng đế-Cứu Thế”.

4. Many are the stories of this kind of saviorship (the Tibetan tells us), and they date back into the “night of time” (presumably for millions of years).

4. Có nhiều câu chuyện về loại cứu độ này, Chân sư Tây Tạng nói với chúng ta như vậy, và chúng có từ “đêm tối của thời gian”, có lẽ trong hàng triệu năm.

5. Humanity’s great need evokes great love, which always comes when the need is the greatest. And it is “pure love” by means of which salvation comes.

5. Nhu cầu lớn lao của nhân loại gợi lên tình thương lớn lao, vốn luôn đến khi nhu cầu là lớn nhất. Và chính nhờ “tình thương thuần khiết” mà sự cứu độ đến.

6. As the need is met through pure love, the link between humanity and Hierarchy is strengthened. Here we may see the activity of the energy of the linking sign/constellation Gemini creating the necessary link between that which is ‘above’ and that which lies ‘below’.

6. Khi nhu cầu được đáp ứng qua tình thương thuần khiết, mối liên kết giữa nhân loại và Thánh đoàn được củng cố. Ở đây chúng ta có thể thấy hoạt động của năng lượng thuộc dấu hiệu hay chòm sao liên kết Song Tử, tạo nên mối liên kết cần thiết giữa điều ở “trên” và điều nằm ở “dưới”.

7. It is through the mediation of these world-saviours that Hierarchy and humanity steadily approach each other. Presumably, Hierarchy is now closer to humanity than it has ever been. Does this statement surprise us, knowing what we do of the “God-Kings” who walked the Earth with infant humanity. The answer may be as follows; Hierarchy may have been physically close in ancient days, but the consciousness of humanity was not such that Hierarchy could have been psychologically or mentally close.

7. Chính qua sự trung gian của các đấng cứu thế thế gian này mà Thánh đoàn và nhân loại đều đặn tiến lại gần nhau. Có lẽ hiện nay Thánh đoàn gần với nhân loại hơn bao giờ hết. Phát biểu này có làm chúng ta ngạc nhiên không, khi biết những gì chúng ta biết về các “Thần Vương” từng bước đi trên Trái Đất cùng nhân loại sơ khai? Câu trả lời có thể như sau: trong những ngày cổ xưa, Thánh đoàn có thể đã gần gũi về mặt hồng trần, nhưng tâm thức của nhân loại không đến mức Thánh đoàn có thể gần gũi về mặt tâm lý hay trí tuệ.

8. The service to humanity of a world saviour must be sealed by a symbolical enactment. Usually this will occur at the fourth initiation, and hence the drama of the enactment, for the fourth ray is the ray of dramatic expression, involving as it does the many pairs of opposites and the great contrasts of opposing energies.

8. Sự phụng sự nhân loại của một đấng cứu thế thế gian phải được ấn chứng bằng một màn thể hiện mang tính biểu tượng. Thông thường điều này sẽ xảy ra vào lần điểm đạo thứ tư, và vì thế có tính kịch của màn thể hiện, bởi cung bốn là cung của biểu lộ kịch tính, liên quan như nó vốn vậy đến nhiều cặp đối cực và những tương phản lớn lao của các năng lượng đối lập.

9. These sacrificial enactments are remembered by the humanity to and for whom they were offered, and perhaps for some centuries or millennia to come, but then fade away in the memory of the race and have to be re-enacted in a new way by yet another sacrificing Son of God, yet another World Saviour, Self-assigned a saving task appropriate to the Divine Plan for that period of humanity’s development.

9. Những màn thể hiện hi sinh này được nhân loại, đối tượng mà chúng được dâng hiến cho và vì họ, ghi nhớ, có lẽ trong nhiều thế kỷ hay nhiều thiên niên kỷ sắp tới, nhưng rồi phai mờ trong ký ức của nhân loại và phải được tái thể hiện theo một cách mới bởi một Con hi sinh khác của Thượng đế, một Đấng Cứu Thế Thế Gian khác, tự giao cho mình một nhiệm vụ cứu độ phù hợp với Thiên Cơ cho giai đoạn phát triển ấy của nhân loại.

10. Each of us, on our own tiny scale, will have to offer our ‘dramatic enactment’ in a culminating life of service (and thus of saviourship) to humanity. Much will depend upon our ray, for some offerings may not be as noticeable as others. The silent sacrifice is, of course, no less real, and can be equally potent as the one noticed by all. A great yogi in a cave (unseen by the world) may be living a life of total renunciation which is extraordinarily uplifting to a humanity who cannot realize the source of the subtle beneficence.

10. Mỗi chúng ta, trên quy mô nhỏ bé của riêng mình, sẽ phải dâng hiến “màn thể hiện kịch tính” của mình trong một đời sống phụng sự đạt đến đỉnh điểm, và do đó là một đời sống cứu độ nhân loại. Nhiều điều sẽ tùy thuộc vào cung của chúng ta, vì một số dâng hiến có thể không nổi bật như những dâng hiến khác. Sự hi sinh thầm lặng, dĩ nhiên, không kém phần thực hữu, và có thể mạnh mẽ ngang với sự hi sinh được mọi người nhận thấy. Một yogi vĩ đại trong hang động, không được thế gian nhìn thấy, có thể đang sống một đời sống từ bỏ hoàn toàn, đời sống ấy nâng đỡ nhân loại một cách phi thường dù nhân loại không thể nhận ra nguồn của ân phúc tinh tế ấy.

11. The day will come with a saving group will offer its culminating sacrifice to humanity. This they will do when the “point of tension is reached by the brothers at the fourth great cycle of attainment” (Rule XII). Perhaps we can look for such group-saviours and group-sacrifices as the Aquarian Age progresses. There have always been group sacrifices. War itself can be seen in this light. But conscious group sacrifice by conscious initiates of the fourth degree is more of thing of the future than the past (at least with respect to our Earth-chain and globe).

11. Ngày sẽ đến khi một nhóm cứu độ sẽ dâng hiến sự hi sinh đạt đến đỉnh điểm của mình cho nhân loại. Họ sẽ làm điều này khi “điểm tập trung nhất tâm được các huynh đệ đạt tới ở chu kỳ thành tựu lớn thứ tư” (Quy luật XII). Có lẽ chúng ta có thể trông đợi những nhóm-cứu độ và những nhóm-hi sinh như vậy khi Kỷ Nguyên Bảo Bình tiến triển. Bao giờ cũng đã có những hi sinh nhóm. Chính chiến tranh cũng có thể được nhìn theo ánh sáng này. Nhưng sự hi sinh nhóm hữu thức bởi các điểm đạo đồ hữu thức cấp độ thứ tư là một điều thuộc về tương lai nhiều hơn quá khứ, ít nhất là đối với Dãy Địa Cầu và bầu hành tinh của chúng ta.

C. Paragraph 3

C. Đoạn 3

1. The Christ’s second opportunity comes, when as Representative both of Humanity and the Hierarchy, He can relate them both to Shamballa. (cf. RI p. 89)

1. Cơ hội thứ hai của Đức Christ đến khi, với tư cách là Đấng Đại Diện cho cả Nhân loại lẫn Thánh đoàn, Ngài có thể liên hệ cả hai với Shamballa. (x. RI tr. 89)

2. The major linking agent in the universe is the energy of Love-Wisdom. Love relates the Hierarchy to Humanity, and Wisdom relates the Hierarchy to Shamballa. (cf. RI p. 89)

2. Tác nhân liên kết chủ yếu trong vũ trụ là năng lượng Bác Ái – Minh Triết. Bác Ái liên hệ Thánh đoàn với Nhân loại, và Minh Triết liên hệ Thánh đoàn với Shamballa. (x. RI tr. 89)

3. Only when Humanity and the Hierarchy are working together in a practical synthesis, can the Shamballa energy be permitted complete inflow through the medium of the two other centres. (cf. RI p. 89)

3. Chỉ khi Nhân loại và Thánh đoàn cùng làm việc trong một tổng hợp thực tiễn, năng lượng Shamballa mới có thể được phép tuôn vào trọn vẹn qua trung gian của hai trung tâm kia. (x. RI tr. 89)

That accomplished, He stays with His people as Head of the Hierarchy until His second opportunity comes, in which as Representative both of Humanity and the Hierarchy, He can relate them both to Shamballa. This He does through a great act of evocation, seeking to bring about a closer relationship between all the three great planetary centres: Shamballa, the Hierarchy, and Humanity. He can do this because the development of the Wisdom aspect in His nature makes it possible. The major linking agent in the universe is the energy of Love-Wisdom. Love relates the Hierarchy to Humanity, and Wisdom relates the Hierarchy to Shamballa. Only when Humanity and the Hierarchy are working together in a practical synthesis, can the Shamballa energy be permitted complete inflow through the medium of the two other centres.

Khi điều đó hoàn tất, Ngài ở lại với dân của Ngài với tư cách là Đầu của Thánh đoàn cho đến khi cơ hội thứ hai của Ngài đến, trong đó, với tư cách là Đấng Đại Diện cho cả Nhân loại lẫn Thánh đoàn, Ngài có thể liên hệ cả hai với Shamballa. Ngài thực hiện điều này qua một hành động gợi lên vĩ đại, tìm cách tạo nên một mối liên hệ gần gũi hơn giữa cả ba trung tâm hành tinh vĩ đại: Shamballa, Thánh đoàn và Nhân loại. Ngài có thể làm điều này vì sự phát triển của phương diện Minh Triết trong bản chất của Ngài khiến điều đó trở nên khả dĩ. Tác nhân liên kết chủ yếu trong vũ trụ là năng lượng Bác Ái – Minh Triết. Bác Ái liên hệ Thánh đoàn với Nhân loại, và Minh Triết liên hệ Thánh đoàn với Shamballa. Chỉ khi Nhân loại và Thánh đoàn cùng làm việc trong một tổng hợp thực tiễn, năng lượng Shamballa mới có thể được phép tuôn vào trọn vẹn qua trung gian của hai trung tâm kia.

1. The generic progress of “World Saviours” is being discussed—the two phases of Their work: the first phase relating humanity to Hierarchy and the second phase relating both humanity and Hierarchy to Shamballa.

1. Ở đây đang bàn về tiến trình chung của các “Đấng Cứu Thế Thế Gian”—hai giai đoạn trong công việc của Các Ngài: giai đoạn thứ nhất liên hệ nhân loại với Thánh đoàn, và giai đoạn thứ hai liên hệ cả nhân loại lẫn Thánh đoàn với Shamballa.

2. Our Christ has now reached the point in His development at which He is prepared for the second phase of His saviourship.

2. Đức Christ của chúng ta hiện đã đạt đến điểm trong sự phát triển của Ngài, tại đó Ngài được chuẩn bị cho giai đoạn thứ hai của công cuộc cứu độ của Ngài.

3. He is, then, according to this instruction, preparing for a great “act of evocation” which will relate still more closely, humanity, Hierarchy and Shamballa.

3. Vậy, theo huấn thị này, Ngài đang chuẩn bị cho một “hành động gợi lên” vĩ đại, hành động sẽ liên hệ nhân loại, Thánh đoàn và Shamballa một cách còn gần gũi hơn nữa.

4. Why can He do this? Because the development of the “Wisdom aspect” makes it possible. Wisdom, in this respect, emanates from Shamballa. The Buddha, “the Lord of Wisdom” and “the Lord of Light” comes forth from Shamballa annually in full cooperation with the Christ (notably at the time of Wesak and differently at the Festival of the Christ—the Gemini Full Moon).

4. Tại sao Ngài có thể làm điều này? Vì sự phát triển của “phương diện Minh Triết” khiến điều đó trở nên khả dĩ. Theo phương diện này, Minh Triết xuất lộ từ Shamballa. Đức Phật, “Chúa Tể của Minh Triết” và “Chúa Tể của Ánh Sáng”, xuất hiện hằng năm từ Shamballa trong sự hợp tác trọn vẹn với Đức Christ, đặc biệt vào thời điểm Wesak và theo cách khác vào Lễ hội của Đức Christ—Trăng Tròn Song Tử.

5. The Christ’s long association with the Buddha has certainly strengthened the Wisdom aspect within His (the Christ’s) nature, and also His connection to Shamballa.

5. Sự liên hệ lâu dài của Đức Christ với Đức Phật chắc chắn đã củng cố phương diện Minh triết trong bản chất của Ngài, tức của Đức Christ, cũng như mối liên hệ của Ngài với Shamballa.

6. A foundational statement is now made:

6. Nay một phát biểu nền tảng được đưa ra:

The major linking agent in the universe is the energy of Love-Wisdom. Love relates the Hierarchy to Humanity, and Wisdom relates the Hierarchy to Shamballa”.

“Tác nhân liên kết chủ yếu trong vũ trụ là năng lượng Bác Ái – Minh Triết. Bác Ái liên kết Thánh Đoàn với Nhân loại, và Minh Triết liên kết Thánh Đoàn với Shamballa”.

Note that is it not only love which is the link. Wisdom must be included. And so it is that both the Christ and the Buddha (one representing love and the other wisdom) are necessary to bring humanity into its growing relationship with Shamballa.

Hãy lưu ý rằng mối liên kết ấy không chỉ là bác ái. Minh triết cũng phải được bao gồm. Và vì thế, cả Đức Christ lẫn Đức Phật, một Đấng đại diện cho bác ái và Đấng kia đại diện cho minh triết, đều cần thiết để đưa nhân loại vào mối liên hệ ngày càng tăng trưởng của mình với Shamballa.

7. The relationship of Gemini to the process is evident. Gemini is a sign of Love-Wisdom. Gemini is related to all antahkaranas (at least in our local cosmos). Gemini is ruled by both Mercury and Venus (the first represented the Christ as “love-wisdom” and the second representing the Buddha as “mind-wisdom”). These two planets will have to be powerfully invoked during the Aquarian Age in order to accomplish the intended alignments and links.

7. Mối liên hệ của Song Tử với tiến trình này thật hiển nhiên. Song Tử là một dấu hiệu của Bác Ái – Minh Triết. Song Tử liên hệ với mọi antahkarana, ít nhất trong vũ trụ cục bộ của chúng ta. Song Tử do cả Sao Thủy và Sao Kim cai quản; hành tinh thứ nhất đại diện cho Đức Christ với tư cách “bác ái-minh triết”, và hành tinh thứ hai đại diện cho Đức Phật với tư cách “trí tuệ-minh triết”. Hai hành tinh này sẽ phải được khẩn cầu một cách mạnh mẽ trong Kỷ Nguyên Bảo Bình để hoàn thành những chỉnh hợp và liên kết đã định.

8. We see that we need to bring humanity and Hierarchy into a “practical synthesis”. This would be the state of soul infusion. Only when this is accomplished can the necessary infusion of Shamballic energy be permitted. As it is in the microcosm, so it is in the macrocosm.

8. Chúng ta thấy rằng cần đưa nhân loại và Thánh Đoàn vào một “sự tổng hợp thực tiễn”. Đây sẽ là trạng thái linh hồn thấm nhuần. Chỉ khi điều này hoàn tất, sự thấm nhuần cần thiết của năng lượng Shamballa mới có thể được cho phép. Như trong tiểu thiên địa, cũng vậy trong đại thiên địa.

9. Therefore, our first order of business is to relate soul and personality effectively—in the individual, group and planetary sense. Then Shamballic energy can have freer sway.

9. Do đó, công việc ưu tiên đầu tiên của chúng ta là liên hệ linh hồn và phàm ngã một cách hữu hiệu — theo nghĩa cá nhân, nhóm và hành tinh. Khi ấy năng lượng Shamballa có thể vận hành tự do hơn.

D. Paragraph 4

D. Đoạn 4

1. The work of the Christ as God-Saviour can be carried forward by Him alone and unaided. The work of the Christ as God the Preserver needs the united work, as yet, of the two highest Representatives of the second divine aspect when present together upon the Earth, as is the case today of both the Buddha and the Christ. (cf. RI p. 90)

1. Công việc của Đức Christ với tư cách Thượng đế-Cứu Thế có thể do một mình Ngài thực hiện và không cần trợ giúp. Công việc của Đức Christ với tư cách Thượng đế Đấng Bảo Tồn, cho đến nay, cần công việc hợp nhất của hai Vị Đại Diện cao nhất của phương diện thiêng liêng thứ hai khi cùng hiện diện trên Trái Đất, như trường hợp ngày nay của cả Đức Phật và Đức Christ. (x. RI tr. 90)

2. The time has now been reached when Shamballa can be contacted and its energy evoked. (cf. RI p. 90)

2. Hiện nay đã đến thời điểm Shamballa có thể được tiếp xúc và năng lượng của nó được gợi lên. (x. RI tr. 90)

3. The united activity of the Buddha and the Christ serves to bring about a much closer approach between the Lord of the World and the Hierarchy, via His four Representatives: the Buddha, the Christ, the Manu, and the Mahachohan. (cf. RI p. 90)

3. Hoạt động hợp nhất của Đức Phật và Đức Christ giúp đem lại một sự tiếp cận gần gũi hơn nhiều giữa Đức Chúa Tể Thế Giới và Thánh Đoàn, thông qua bốn Vị Đại Diện của Ngài: Đức Phật, Đức Christ, Đức Manu và Đức Mahachohan. (x. RI tr. 90)

4. The Lord of the World, the Buddha, the Christ, the Manu, and the Mahachohan, together represent the five points of energy which are creating the five-pointed star of Humanity at this time. (cf. RI p. 90)

4. Đức Chúa Tể Thế Giới, Đức Phật, Đức Christ, Đức Manu và Đức Mahachohan cùng đại diện cho năm điểm năng lượng đang tạo nên ngôi sao năm cánh của Nhân loại vào thời điểm này. (x. RI tr. 90)

[Page 90]

[Trang 90]

To aid in this process of gradual perfecting and an eventual bringing about of a complete alignment, the help of the Buddha must be invoked and accepted. The work of the Christ as God-Saviour can be carried forward by Him alone and unaided. The work of the Christ as God the Preserver needs the united work, as yet, of the two highest Representatives of the second divine aspect when present together upon the Earth, as is the case today of both the Buddha and the Christ. This is the first cycle in the history of humanity when this has been the case. One or the other has been present down the ages, but not the two simultaneously. The reason for this is that the time has now been reached when Shamballa can be contacted and its energy evoked. Hence we have the activity of the Buddha at the May Full Moon and that of the Christ at the following June Full Moon. Their united activity serves to bring about a much closer approach between the Lord of the World and the Hierarchy, via His four Representatives: the Buddha, the Christ, the Manu, and the Mahachohan—the five points of energy which are creating the five-pointed star of Humanity at this time.

Để trợ giúp tiến trình hoàn thiện dần dần này và sau cùng đem lại một sự chỉnh hợp trọn vẹn, sự trợ giúp của Đức Phật phải được khẩn cầu và chấp nhận. Công việc của Đức Christ với tư cách Thượng đế-Cứu Thế có thể do một mình Ngài thực hiện và không cần trợ giúp. Công việc của Đức Christ với tư cách Thượng đế Đấng Bảo Tồn, cho đến nay, cần công việc hợp nhất của hai Vị Đại Diện cao nhất của phương diện thiêng liêng thứ hai khi cùng hiện diện trên Trái Đất, như trường hợp ngày nay của cả Đức Phật và Đức Christ. Đây là chu kỳ đầu tiên trong lịch sử nhân loại mà điều này đã xảy ra. Qua các thời đại, Đấng này hoặc Đấng kia đã hiện diện, nhưng không phải cả hai đồng thời. Lý do là hiện nay đã đến thời điểm Shamballa có thể được tiếp xúc và năng lượng của nó được gợi lên. Vì thế, chúng ta có hoạt động của Đức Phật vào kỳ Trăng Tròn tháng Năm, và hoạt động của Đức Christ vào kỳ Trăng Tròn tháng Sáu tiếp theo. Hoạt động hợp nhất của Các Ngài giúp đem lại một sự tiếp cận gần gũi hơn nhiều giữa Đức Chúa Tể Thế Giới và Thánh Đoàn, thông qua bốn Vị Đại Diện của Ngài: Đức Phật, Đức Christ, Đức Manu và Đức Mahachohan — năm điểm năng lượng đang tạo nên ngôi sao năm cánh của Nhân loại vào thời điểm này.

1. There is a difference between “God the Saviour” and “God the Preserver”—the second state being in advance of the first.

1. Có một sự khác biệt giữa “Thượng đế Đấng Cứu Thế” và “Thượng đế Đấng Bảo Tồn” — trạng thái thứ hai tiến xa hơn trạng thái thứ nhất.

2. We note that the cooperation of the Buddha is required if the Christ is to become a channel for the energy of “God the Preserver”. We are told that this cooperation has long been in effect and today, following the linking of the Avatar of Synthesis with our Planetary Logos, a Triangle of Energies surrounds and supports the Christ: the Avatar of Synthesis, the Spirit of Peace and the Buddha.

2. Chúng ta lưu ý rằng sự hợp tác của Đức Phật là cần thiết nếu Đức Christ muốn trở thành một kênh dẫn cho năng lượng của “Thượng đế Đấng Bảo Tồn”. Chúng ta được cho biết rằng sự hợp tác này đã có hiệu lực từ lâu, và ngày nay, sau sự liên kết của Đấng Hóa Thân của Tổng Hợp với Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta, một Tam Giác Năng Lượng bao quanh và nâng đỡ Đức Christ: Đấng Hóa Thân của Tổng Hợp, Đấng Tinh thần Hòa Bình và Đức Phật.

3. The Tibetan tells us that we are living through a unique period of history with respect to the presence of the Christ and the Buddha, for the two highest representatives of the second aspect are “present together upon the Earth”.

3. Chân sư Tây Tạng cho chúng ta biết rằng chúng ta đang sống qua một giai đoạn độc nhất trong lịch sử xét về sự hiện diện của Đức Christ và Đức Phật, vì hai Vị Đại Diện cao nhất của phương diện thứ hai đang “cùng hiện diện trên Trái Đất”.

4. What may this mean? What does the term “Earth” mean in this context, for we are told that the Christ has never left us, and the Buddha has, reportedly, taken at least one incarnation since He entered Nirvana some 2500 years ago.

4. Điều này có thể có nghĩa gì? Thuật ngữ “Trái Đất” có nghĩa gì trong bối cảnh này, vì chúng ta được cho biết rằng Đức Christ chưa bao giờ rời bỏ chúng ta, và theo tường thuật, Đức Phật đã nhận ít nhất một lần lâm phàm kể từ khi Ngài nhập Niết Bàn khoảng 2500 năm trước.

5. Can the term “Earth” mean the actual physical plane, or the etheric-physical plane? Perhaps these two great Beings have not, during the past two thousand years, both had etheric bodies at the same time.

5. Thuật ngữ “Trái Đất” có thể có nghĩa là cõi hồng trần thực sự, hay là cõi dĩ thái-hồng trần? Có lẽ trong hai ngàn năm qua, hai Đấng Cao Cả này đã không cùng có các thể dĩ thái cùng một lúc.

6. But today, the Buddha is ‘in’ Shamballa, and Shamballa, we are told, has an etheric expression in the second systemic ether (not only upon the cosmic ethers of the cosmic physical plane). The Christ has a physical body we are told, and therefore, He will have an etheric body as well.

6. Nhưng ngày nay, Đức Phật đang “ở trong” Shamballa, và chúng ta được cho biết rằng Shamballa có một biểu hiện dĩ thái trong dĩ thái hệ thống thứ hai, không chỉ trên các dĩ thái vũ trụ của cõi hồng trần vũ trụ. Chúng ta được cho biết rằng Đức Christ có một thể xác, và do đó Ngài cũng sẽ có một thể dĩ thái.

7. We probably cannot know the true meaning of this simple idea that both the Christ and the Buddha will be present “upon the Earth” simultaneously. We would have to know their etheric-physical history during the past 2500 years, and we do not. It would seem that “Earth” cannot mean only the outer physical plane. The idea, however, is simple enough and can be meaningful just as the Tibetan states it if we think that both the Christ and the Buddha will be focussing streams of energy strongly upon the etheric-physical plane during the Aquarian Age (and, doubtlessly, upon many higher planes from which the energy will make its way to the outer planes).

7. Có lẽ chúng ta không thể biết ý nghĩa chân thực của ý tưởng đơn giản rằng cả Đức Christ lẫn Đức Phật sẽ đồng thời hiện diện “trên Trái Đất”. Chúng ta sẽ phải biết lịch sử dĩ thái-hồng trần của Các Ngài trong 2500 năm qua, và chúng ta không biết. Dường như “Trái Đất” không thể có nghĩa chỉ là cõi hồng trần bên ngoài. Tuy nhiên, ý tưởng này đủ đơn giản và có thể đầy ý nghĩa đúng như Chân sư Tây Tạng phát biểu, nếu chúng ta nghĩ rằng cả Đức Christ lẫn Đức Phật sẽ tập trung mạnh mẽ các dòng năng lượng lên cõi dĩ thái-hồng trần trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, và chắc chắn lên nhiều cõi cao hơn, từ đó năng lượng sẽ tìm đường đi xuống các cõi bên ngoài.

8. One day we may know where one of Them ‘goes’ (or has gone) when the other is present on the outer planes of Earth and vise versa.

8. Một ngày nào đó, chúng ta có thể biết một trong Các Ngài “đi” đâu, hoặc đã đi đâu, khi Đấng kia hiện diện trên các cõi bên ngoài của Trái Đất, và ngược lại.

9. We do not expect the ‘Reappearance of the Buddha’ in physical form, so the etheric level must be important in interpreting the idea of Their presence ‘on’ Earth.

9. Chúng ta không mong đợi “Sự Tái Hiện của Đức Phật” trong hình tướng hồng trần, vì vậy cấp độ dĩ thái hẳn phải quan trọng trong việc diễn giải ý tưởng về sự hiện diện của Các Ngài “trên” Trái Đất.

10. The Christ and Buddha are?/will be? present together “upon the Earth” because contact with Shamballa is now possible for humanity and imminent. Both great Teachers are needed if this contact is to be accomplished.

10. Đức Christ và Đức Phật đang chăng? sẽ chăng? cùng hiện diện “trên Trái Đất” bởi vì việc tiếp xúc với Shamballa hiện nay là khả hữu và sắp xảy ra đối với nhân loại. Cả hai Vị Huấn Sư cao cả đều cần thiết nếu sự tiếp xúc này phải được hoàn thành.

11. The two great Teachers also intensify the relationship between Hierarchy and Shamballa. Because of the united action of the Christ and the Buddha the Lord of the World may more closely approach Hierarchy.

11. Hai Vị Huấn Sư cao cả cũng làm tăng cường mối liên hệ giữa Thánh Đoàn và Shamballa. Nhờ hành động hợp nhất của Đức Christ và Đức Phật, Đức Chúa Tể Thế Giới có thể tiếp cận Thánh Đoàn gần gũi hơn.

12. An interesting five-pointed star is discussed—the five-pointed “Star of Humanity”. It includes the Lord of the World, the Buddha, the Christ, the Manu and the Mahachohan.

12. Một ngôi sao năm cánh thú vị được bàn đến — “Ngôi Sao của Nhân loại” năm cánh. Nó bao gồm Đức Chúa Tể Thế Giới, Đức Phật, Đức Christ, Đức Manu và Đức Mahachohan.

13. We can reasonably visualize Sanat Kumara at the apex. The Buddha and the Christ would be on the transverse arm with the Buddha on the left (as we face the star) the Christ on the left. On the star-point beneath the Buddha, the Manu would be found. On the point beneath the Christ, the Mahachohan.

13. Chúng ta có thể hình dung một cách hợp lý Đức Sanat Kumara ở đỉnh. Đức Phật và Đức Christ sẽ ở trên cánh ngang, với Đức Phật ở bên trái khi chúng ta đối diện ngôi sao, và Đức Christ ở bên trái. Ở điểm sao bên dưới Đức Phật sẽ là Đức Manu. Ở điểm bên dưới Đức Christ sẽ là Đức Mahachohan.

14. Via the instrumentality of this star, the “Highest and the Lowest” can meet, and the Will of Sanat Kumara can be lovingly, wisely and intelligently worked out through the prepared forms of the human race.

14. Thông qua công cụ là ngôi sao này, “Đấng Cao Nhất và kẻ thấp nhất” có thể gặp nhau, và Ý Chí của Đức Sanat Kumara có thể được thực hiện một cách đầy bác ái, minh triết và thông tuệ thông qua các hình tướng đã được chuẩn bị của nhân loại.

15. Another way to visualize these five is with Sanat Kumara at an elevated point connecting to a lower triangle via an intermediating Buddha. The lower triangle would consist of the Christ at the apex with the Manu on the left point of the base line (as we face the star) and the Mahachohan on the right point.

15. Một cách khác để hình dung năm Đấng này là đặt Đức Sanat Kumara ở một điểm cao, nối với một tam giác thấp hơn thông qua Đức Phật đóng vai trò trung gian. Tam giác thấp hơn sẽ gồm Đức Christ ở đỉnh, với Đức Manu ở điểm trái của đường đáy khi chúng ta đối diện ngôi sao, và Đức Mahachohan ở điểm phải.

16. Through the instrumentality of these five beings, humanity will be saved and the planet transformed—elevated towards its eventual “sacred” status.

16. Thông qua công cụ là năm Đấng này, nhân loại sẽ được cứu độ và hành tinh được chuyển đổi — được nâng lên hướng tới địa vị “thiêng liêng” sau cùng của nó.

E. Paragraph 5

E. Đoạn 5

1. Rule IV for Applicants gives in perfect wording the nature of the urge which prompts the present activity of the Christ as God the Saviour. (cf. RI p. 90)

1. Quy luật IV dành cho Người Thỉnh Cầu, bằng lời lẽ hoàn hảo, cho thấy bản chất của thôi thúc thúc đẩy hoạt động hiện nay của Đức Christ với tư cách Thượng đế Đấng Cứu Thế. (x. RI tr. 90)

An ancient rule—Rule IV for Applicants gives us in perfect wording the nature of the urge which prompts the present activity of the Christ. He has accomplished His task as God the Saviour. The fourth Rule, as it is given to all applicants and probationary disciples, gives His work the following definition:

Một quy luật cổ xưa — Quy luật IV dành cho Người Thỉnh Cầu, bằng lời lẽ hoàn hảo, cho chúng ta thấy bản chất của thôi thúc thúc đẩy hoạt động hiện nay của Đức Christ. Ngài đã hoàn thành nhiệm vụ của Ngài với tư cách Thượng đế Đấng Cứu Thế. Quy luật thứ tư, như được ban cho mọi người thỉnh cầu và các đệ tử dự bị, đưa ra định nghĩa sau đây về công việc của Ngài:

Let the disciple tend the evocation of the fire, nourish the lesser lives and thus keep the wheel revolving.

Hãy để đệ tử chăm lo việc gợi lên lửa, nuôi dưỡng các sự sống nhỏ hơn và nhờ vậy giữ cho bánh xe tiếp tục quay.

It is given in this short form to all who are approaching the Path, in order to convey to them with the utmost brevity and beauty the nature of the life of the Head of the Hierarchy, the Initiator Whom they must face at the time of the first and second initiations, and upon Whose activities they—as individual aspirants—must learn to model their lives. Only today is it possible to present that work in other terms than those which emphasise the part the Christ plays in the salvaging of man.

Nó được ban dưới hình thức ngắn gọn này cho tất cả những ai đang tiến gần Đường Đạo, nhằm truyền đạt cho họ, với sự cô đọng và vẻ đẹp tối đa, bản chất đời sống của Đấng Đứng Đầu Thánh Đoàn, Đấng Điểm đạo mà họ phải đối diện vào lúc lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai, và là Đấng mà trên các hoạt động của Ngài, họ — với tư cách những người chí nguyện cá nhân — phải học cách mô phỏng đời sống mình. Chỉ ngày nay mới có thể trình bày công việc ấy bằng những thuật ngữ khác hơn những thuật ngữ nhấn mạnh phần Đức Christ đảm nhận trong việc cứu vớt con người.

1. One wonders, how ancient is the ancient Rule? Are these Atlantean Rules or did they originate in the Aryan Age (i.e., during the fifth rootrace)?

1. Người ta tự hỏi, Quy luật cổ xưa ấy cổ xưa đến mức nào? Đây có phải là các Quy luật Atlantis, hay chúng phát sinh trong Thời Đại Arya, tức trong giống dân gốc thứ năm?

2. Reason tells us that the period of the fifth rootrace is a good possibility as, in these Rules, states of group initiatory development are described which are in advance of the initiatory possibilities of the Atlantean rootrace.

2. Lý trí cho chúng ta biết rằng giai đoạn của giống dân gốc thứ năm là một khả năng đáng kể, vì trong các Quy luật này, những trạng thái phát triển điểm đạo theo nhóm được mô tả vốn tiến xa hơn các khả năng điểm đạo của giống dân gốc Atlantis.

3. Of course, the Rules could have originated in Shamballa in a prognosticative form. They could have been Rules foretelling later initiatory developments within humanity, even if such developments were not possible at the time of the origin of the Rules.

3. Dĩ nhiên, các Quy luật có thể đã phát sinh trong Shamballa dưới một hình thức tiên tri. Chúng có thể là những Quy luật báo trước các phát triển điểm đạo về sau trong nhân loại, dù những phát triển ấy chưa thể xảy ra vào thời điểm các Quy luật ra đời.

4. Or the Rules could be relatively timeless, and apply to all individual and group development on all planets. They could have been brought to his planet and planetary chain when Sanat Kumara and His Kumaric Host arrived and established Hierarchy and Shamballa (on Earth). On the planetary-scheme level there was surely a Hierarchy and Shamballa long before such a group existed on our little physical planet.

4. Hoặc các Quy luật có thể tương đối phi thời gian, và áp dụng cho mọi sự phát triển cá nhân và nhóm trên mọi hành tinh. Chúng có thể đã được mang đến hành tinh và Dãy hành tinh này khi Đức Sanat Kumara cùng Đoàn Kumara của Ngài đến và thiết lập Thánh Đoàn cùng Shamballa trên Trái Đất. Trên cấp độ hệ hành tinh, chắc chắn đã có một Thánh Đoàn và Shamballa từ lâu trước khi một nhóm như thế hiện hữu trên hành tinh hồng trần nhỏ bé của chúng ta.

5. The Rule for Applicants,

5. Quy luật dành cho Người Thỉnh Cầu,

Let the disciple tend the evocation of the fire, nourish the lesser lives and thus keep the wheel revolving”

Hãy để đệ tử chăm lo việc gợi lên lửa, nuôi dưỡng các sự sống nhỏ hơn và nhờ vậy giữ cho bánh xe tiếp tục quay”

is given, and has been somewhat elucidated in the previous commentary.

được ban ra, và đã phần nào được làm sáng tỏ trong phần bình giảng trước.

6. Interestingly, the Tibetan tells us that this brief and beautiful form of the Rule reveals the nature of the life of the Head of the Hierarchy—the Christ. In a way, this is an enigmatical statement.

6. Điều thú vị là Chân sư Tây Tạng cho chúng ta biết rằng hình thức ngắn gọn và đẹp đẽ này của Quy luật mặc khải bản chất đời sống của Đấng Đứng Đầu Thánh Đoàn — Đức Christ. Theo một cách nào đó, đây là một phát biểu khó hiểu.

7. Perhaps the disciple is to tend the evocation of the ‘Christ-fire’ which both purifies and nourishes the lesser lives of the three lower vehicles. The Christ-energy is a kind of ‘fiery nourishment’ to the imprisoned lives and the imprisoned human consciousness.

7. Có lẽ đệ tử phải chăm lo việc gợi lên “lửa-Christ”, vốn vừa thanh luyện vừa nuôi dưỡng các sự sống nhỏ hơn của ba vận cụ thấp. Năng lượng Christ là một loại “dưỡng chất bằng lửa” dành cho các sự sống bị giam hãm và tâm thức nhân loại bị giam hãm.

8. Just as the Christ salvages humanity, the nourishing ‘Christ-fire’ salvages the tiny lives (the tiny wheels) which revolve within the energy system of man.

8. Cũng như Đức Christ cứu vớt nhân loại, “lửa-Christ” nuôi dưỡng cứu vớt những sự sống bé nhỏ, những bánh xe bé nhỏ, vốn xoay chuyển trong hệ thống năng lượng của con người.

9. The nourishing fire is a preserver and reflects the role of Christ as the channel for the energy of “God the Preserver”.

9. Ngọn lửa nuôi dưỡng là một đấng bảo tồn và phản ánh vai trò của Đức Christ với tư cách kênh dẫn cho năng lượng của “Thượng đế Đấng Bảo Tồn”.

10. We have to realize that it is the presence of Christ (or the soul aspect) which keeps the human being and humanity spiritually alive. Without the sustenance of that energy we ‘die’—at least, spiritually. The soul aspect, however, keeps even the personal part of man in incarnation, sustaining it whether or not it has been enlightened by the Christ-energy.

10. Chúng ta phải nhận ra rằng chính sự hiện diện của Đức Christ, hay phương diện linh hồn, giữ cho con người và nhân loại sống về mặt tinh thần. Không có sự nuôi dưỡng của năng lượng ấy, chúng ta “chết” — ít nhất là về mặt tinh thần. Tuy nhiên, phương diện linh hồn vẫn giữ ngay cả phần phàm ngã của con người trong lâm phàm, duy trì nó dù nó đã hay chưa được giác ngộ bởi năng lượng Christ.

F. Paragraph 6

F. Đoạn 6

1. Man’s sense of proportion, his recognition of others, his growing sense of responsibility, his power to suffer for the good, the beautiful and true, his appropriation of the vision, and his point in evolution warrant a truer picture which—if adequately grasped—will enable the disciple to comprehend the requirements of Rule IV as given for disciples and initiates. (cf. RI p. 91)

1. Ý thức về tỉ lệ của con người, sự nhận biết của y về những người khác, ý thức trách nhiệm đang tăng trưởng của y, năng lực chịu khổ vì điều thiện, điều đẹp và điều chân, sự chiếm hữu tầm nhìn của y, và điểm tiến hoá của y biện minh cho một bức tranh chân thực hơn; nếu được nắm bắt đầy đủ, bức tranh ấy sẽ giúp đệ tử thấu hiểu các yêu cầu của Quy luật IV như được ban cho các đệ tử và điểm đạo đồ. (x. RI tr. 91)

2. Only as the disciple grasps the nature of the work of Christ, after His final act of service as God-Saviour, he can understand the nature of group service and begin to pattern his life and nature so as to meet similar requirements in group formation. (cf. RI p. 91)

2. Chỉ khi đệ tử nắm bắt bản chất công việc của Đức Christ sau hành vi phụng sự cuối cùng của Ngài với tư cách Thượng đế-Cứu Thế, y mới có thể thấu hiểu bản chất của phụng sự nhóm và bắt đầu mô phỏng đời sống cùng bản chất của mình sao cho đáp ứng các yêu cầu tương tự trong đội hình nhóm. (x. RI tr. 91)

[Page 91]

[Trang 91]

It is now possible, however, to present His true and wider task, because man’s sense of proportion, his recognition of others, his growing sense of responsibility, his power to suffer for the good, the beautiful and true, his appropriation of the vision, and his point in evolution warrant a truer picture which—if adequately grasped—will enable the disciple to comprehend the requirements of Rule IV as given for disciples and initiates. Only as they grasp the nature of the work of Christ, after His final act of service as God-Saviour, can they understand the nature of group service and begin to pattern their lives and natures so as to meet similar requirements in group formation.

Tuy nhiên, hiện nay có thể trình bày nhiệm vụ chân thực và rộng lớn hơn của Ngài, bởi vì ý thức về tỉ lệ của con người, sự nhận biết của y về những người khác, ý thức trách nhiệm đang tăng trưởng của y, năng lực chịu khổ vì điều thiện, điều đẹp và điều chân, sự chiếm hữu tầm nhìn của y, và điểm tiến hoá của y biện minh cho một bức tranh chân thực hơn; nếu được nắm bắt đầy đủ, bức tranh ấy sẽ giúp đệ tử thấu hiểu các yêu cầu của Quy luật IV như được ban cho các đệ tử và điểm đạo đồ. Chỉ khi họ nắm bắt bản chất công việc của Đức Christ sau hành vi phụng sự cuối cùng của Ngài với tư cách Thượng đế-Cứu Thế, họ mới có thể thấu hiểu bản chất của phụng sự nhóm và bắt đầu mô phỏng đời sống cùng bản chất của mình sao cho đáp ứng các yêu cầu tương tự trong đội hình nhóm.

1. Christ has a wider (and truer) task than that of World Saviour—namely that of World Preserver. Man has reached sufficient maturity for this task to be more widely understood.

1. Đức Christ có một nhiệm vụ rộng lớn hơn và chân thực hơn nhiệm vụ của Đấng Cứu Thế của Thế Gian — đó là nhiệm vụ của Đấng Bảo Tồn Thế Gian. Con người đã đạt tới mức trưởng thành đủ để nhiệm vụ này được thấu hiểu rộng rãi hơn.

2. The Tibetan lists the reasons why man can now appreciate a truer vision of Christ’s wider and truer role. A sense of proportion, a wider recognition of others, a growing sense of responsibility, the power to suffer for ideals, a wider vision and man’s point of evolution all contribute to the possibility that he can now appreciate a truer vision of the Christ and His work.

2. Chân sư Tây Tạng liệt kê các lý do vì sao con người hiện nay có thể trân trọng một tầm nhìn chân thực hơn về vai trò rộng lớn hơn và chân thực hơn của Đức Christ. Ý thức về tỉ lệ, sự nhận biết rộng hơn về những người khác, ý thức trách nhiệm đang tăng trưởng, năng lực chịu khổ vì các lý tưởng, một tầm nhìn rộng hơn và điểm tiến hoá của con người, tất cả đều góp phần vào khả năng hiện nay y có thể trân trọng một tầm nhìn chân thực hơn về Đức Christ và công việc của Ngài.

3. There is a sequence necessitated. First Christ as representative of “God the Saviour” has to be understood. To understand the Christ as He serves (and preserves) the group is a later phase of understanding.

3. Có một trình tự tất yếu. Trước hết, Đức Christ với tư cách đại diện của “Thượng đế Đấng Cứu Thế” phải được thấu hiểu. Việc thấu hiểu Đức Christ khi Ngài phụng sự và bảo tồn nhóm là một giai đoạn thấu hiểu về sau.

4. We are going to see the advent of a ‘new Christ’, and both He and His role will have to be reinterpreted for the many who still conceive of Him in strictly the old way.

4. Chúng ta sắp chứng kiến sự xuất hiện của một “Đức Christ mới”, và cả Ngài lẫn vai trò của Ngài sẽ phải được diễn giải lại cho nhiều người vẫn còn quan niệm về Ngài hoàn toàn theo cách cũ.

5. In the study of the new role of the Christ will come a deeper understanding of group service as it will be presented during the Aquarian Age, and as it is presented in the Fourteen Rules for Disciples and Initiates.

5. Trong việc nghiên cứu vai trò mới của Đức Christ sẽ xuất hiện một sự thấu hiểu sâu sắc hơn về phụng sự nhóm, như nó sẽ được trình bày trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, và như nó được trình bày trong Mười Bốn Quy Luật dành cho Đệ Tử và Điểm Đạo Đồ.

G. Paragraph 7

G. Đoạn 7

1. The Hierarchy itself is part of the evolutionary process: The attitude and position of the members of the Hierarchy are not static. All are moving forward. (cf. RI p. 91)

1. Chính Thánh Đoàn là một phần của tiến trình thăng thượng tiến hoá: Thái độ và vị trí của các thành viên Thánh Đoàn không tĩnh tại. Tất cả đều đang tiến tới. (x. RI tr. 91)

2. The Christ Who came two thousand years ago embodied in Himself not only the principle of love in the planetary sense, but a cosmic principle of love also, and this for the first time in human history. (cf. RI p. 91)

2. Đức Christ, Đấng đã đến hai ngàn năm trước, đã hiện thân trong chính Ngài không chỉ nguyên khí bác ái theo nghĩa hành tinh, mà còn cả một nguyên khí bác ái vũ trụ nữa, và điều này lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại. (x. RI tr. 91)

3. The future progress of humanity is also aided and hastened because of the attainment and activity of the Christ, and because He remains with us as God the Preserver. (cf. RI p. 91)

3. Sự tiến bộ tương lai của nhân loại cũng được trợ giúp và thúc đẩy nhờ thành tựu và hoạt động của Đức Christ, và vì Ngài vẫn ở cùng chúng ta với tư cách Thượng đế Đấng Bảo Tồn. (x. RI tr. 91)

This has become possible because of the point in the evolutionary process which the Hierarchy has attained. The attitude and position of the members of the Hierarchy are not static. All are moving forward. The Christ Who came two thousand years ago embodied in Himself not only the principle of love in the planetary sense (a thing which Shri Krishna had achieved), but a cosmic principle of love also, and this for the first time in human history. His achievement was made possible by the fact that the human family had reached a point at which it could produce the perfect Man, Christ, the “eldest in a great family of brothers,” a Son of God, the Word made flesh. The future progress of humanity is also aided and hastened because of the attainment and activity of the Christ, and because He remains with us as God the Preserver.

Điều này trở nên khả hữu nhờ điểm trong tiến trình thăng thượng tiến hoá mà Thánh Đoàn đã đạt tới. Thái độ và vị trí của các thành viên Thánh Đoàn không tĩnh tại. Tất cả đều đang tiến tới. Đức Christ, Đấng đã đến hai ngàn năm trước, đã hiện thân trong chính Ngài không chỉ nguyên khí bác ái theo nghĩa hành tinh, một điều mà Đức Shri Krishna đã đạt được, mà còn cả một nguyên khí bác ái vũ trụ nữa, và điều này lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Thành tựu của Ngài trở nên khả hữu nhờ sự kiện gia đình nhân loại đã đạt tới một điểm mà nó có thể sản sinh Con Người hoàn hảo, Đức Christ, “người trưởng nam trong một đại gia đình huynh đệ”, một Con của Thượng đế, Linh từ thành xác thịt. Sự tiến bộ tương lai của nhân loại cũng được trợ giúp và thúc đẩy nhờ thành tựu và hoạt động của Đức Christ, và vì Ngài vẫn ở cùng chúng ta với tư cách Thượng đế Đấng Bảo Tồn.

1. We are presented with a vision of Hierarchy as a progressive group of servers. A great evolutionary principle is enunciated: “All are moving forward”.

1. Chúng ta được trao một tầm nhìn về Thánh Đoàn như một nhóm những người phụng sự đang tiến bộ. Một nguyên lý thăng thượng tiến hoá vĩ đại được phát biểu: “Tất cả đều đang tiến tới”.

2. The Christ of two thousand years ago both was and was not the Christ as Krishna. Though He was the same monad/soul, He had progressed beyond the expression of the principle of love in the planetary sense (which He expressed as Krishna) to an expression of love as a cosmic principle.

2. Đức Christ của hai ngàn năm trước vừa là, vừa không là Đức Christ với tư cách Krishna. Dù Ngài là cùng một chân thần/linh hồn, Ngài đã tiến xa hơn sự biểu hiện nguyên khí bác ái theo nghĩa hành tinh, điều Ngài đã biểu hiện với tư cách Krishna, để đi tới sự biểu hiện bác ái như một nguyên khí vũ trụ.

3. We should note that although there have been many World Saviours, none of Them, before that time, had succeeded in expressing love as a cosmic principle. For that matter, the Buddha’s expression of wisdom pervaded by a touch of the cosmic mental plane was, it would seem, also a first, or at least, an extremely “rare occurrence” in the history of our planet. Both the Buddha and the Christ are referred to as “cosmic Avatars”. (EPII 278)

3. Chúng ta nên lưu ý rằng mặc dù đã có nhiều Đấng Cứu Thế của Thế Gian, không Đấng nào trong Các Ngài trước thời điểm đó đã thành công trong việc biểu hiện bác ái như một nguyên khí vũ trụ. Về phần mình, biểu hiện minh triết của Đức Phật, thấm nhuần bởi một nét chạm của cõi trí vũ trụ, dường như cũng là lần đầu tiên, hoặc ít nhất là một “sự kiện cực kỳ hiếm” trong lịch sử hành tinh chúng ta. Cả Đức Phật lẫn Đức Christ đều được gọi là “các Đấng Hóa Thân vũ trụ”. (EPII 278)

4. It was the evolution of humanity as a group that made possible the appearance of a Christ as He demonstrated some two thousand years ago, as the “Word made Flesh”, expressive of love as a cosmic principle.

4. Chính sự tiến hoá của nhân loại với tư cách một nhóm đã làm cho sự xuất hiện của một Đức Christ như Ngài đã chứng minh khoảng hai ngàn năm trước trở nên khả hữu, với tư cách “Linh từ thành Xác thịt”, biểu hiện bác ái như một nguyên khí vũ trụ.

5. Christ as “God the Saviour” appeared but briefly; His public ministry lasted only three years.. The Coming Christ, as “God the Preserver” has remained with us and will remain with us as He demonstrates even more fully this second of His roles—the one relating specifically to Rule IV.

5. Đức Christ với tư cách “Thượng đế Đấng Cứu Thế” chỉ xuất hiện trong thời gian ngắn; sứ vụ công khai của Ngài chỉ kéo dài ba năm. Đức Christ Đang Đến, với tư cách “Thượng đế Đấng Bảo Tồn”, đã ở lại với chúng ta và sẽ ở lại với chúng ta khi Ngài biểu lộ trọn vẹn hơn nữa vai trò thứ hai này của Ngài — vai trò liên hệ đặc biệt với Quy luật IV.

H. Paragraph 8

H. Đoạn 8

1. The Christ’s task today is threefold: He “tends the evocation of the fire.” He “nourishes the lesser lives.” He “keeps the wheel revolving.” (cf. RI p. 91-92)

1. Nhiệm vụ của Đức Christ ngày nay là tam phân: Ngài “chăm lo việc gợi lên lửa”. Ngài “nuôi dưỡng các sự sống nhỏ hơn”. Ngài “giữ cho bánh xe tiếp tục quay”. (x. RI tr. 91-92)

2. The Christ’s major task as Head of the Hierarchy is to evoke the electric fire of Shamballa, the energy of the divine Will, and this in such a form that the Hierarchy can be drawn nearer to the source of Life, and Humanity can consequently profit by this hierarchical Approach and know eventually the meaning of the words “life more abundantly.” (cf. RI p. 91)

2. Nhiệm vụ chủ yếu của Đức Christ với tư cách Đấng Đứng Đầu Thánh Đoàn là gợi lên Lửa Điện của Shamballa, năng lượng của Ý Chí thiêng liêng, và làm điều này dưới một hình thức khiến Thánh Đoàn có thể được kéo đến gần hơn nguồn Sự Sống, và do đó Nhân loại có thể hưởng lợi từ Sự Tiếp Cận của Thánh Đoàn này, rồi sau cùng biết ý nghĩa của những lời “sự sống dồi dào hơn”. (x. RI tr. 91)

3. The Christ has twice symbolically shown His individual response to the Shamballa energy: Once in the Temple of Jerusalem as a child, and again in the Garden as a full grown man at the close of His earthly career. (cf. RI p. 92)

3. Đức Christ đã hai lần biểu tượng cho thấy sự đáp ứng cá nhân của Ngài đối với năng lượng Shamballa: một lần trong Đền Thờ Jerusalem khi còn là một trẻ nhỏ, và lần nữa trong Khu Vườn khi là một người trưởng thành vào cuối sự nghiệp trần thế của Ngài. (x. RI tr. 92)

4. The Christ’s third and final response covers nine years, from the Full Moon of June, 1936, to the Full Moon of June, 1945. This period, in reality, constitutes one event to Him Who lives now free in His Own world and free from the limitations of time and space. (cf. RI p. 92)

4. Sự đáp ứng thứ ba và cuối cùng của Đức Christ bao trùm chín năm, từ kỳ Trăng Tròn tháng Sáu năm 1936 đến kỳ Trăng Tròn tháng Sáu năm 1945. Thời kỳ này, trong thực tại, cấu thành một biến cố duy nhất đối với Ngài, Đấng hiện nay sống tự do trong Thế Giới riêng của Ngài và thoát khỏi các giới hạn của thời gian và không gian. (x. RI tr. 92)

5. Having related Humanity to the Hierarchy (which in the case of individual man means relating the personality to the soul), the Christ now seeks to relate more closely, with the aid of the Buddha, the Hierarchy to Shamballa, love to will, electric fire to solar fire. (cf. RI p. 92)

5. Sau khi đã liên kết Nhân loại với Thánh Đoàn, điều này trong trường hợp con người cá nhân có nghĩa là liên kết phàm ngã với linh hồn, Đức Christ hiện tìm cách, với sự trợ giúp của Đức Phật, liên kết Thánh Đoàn với Shamballa một cách mật thiết hơn, liên kết bác ái với ý chí, Lửa Điện với Lửa Thái dương. (x. RI tr. 92)

His task today is threefold, and the Rule states in very simple language these three aspects of His divine activity or phases of His work. These are:

Nhiệm vụ của Ngài ngày nay có tính tam phân, và Quy luật trình bày bằng ngôn ngữ rất giản dị ba phương diện này trong hoạt động thiêng liêng của Ngài, hay ba giai đoạn trong công việc của Ngài. Đó là:

1. He “tends the evocation of the fire.” His major task as Head of the Hierarchy is to evoke the electric fire of Shamballa, the energy of the divine Will, and this in such a form that the Hierarchy can be drawn nearer to the source of Life, and Humanity can consequently profit by this hierarchical Approach and know eventually the meaning of the words “life more abundantly.” Christ’s evocation of the fire of the will was initiated symbolically in the Garden of [Page 92] Gethsemane

1. Ngài “chăm lo việc gợi lên ngọn lửa.” Nhiệm vụ chính của Ngài, với tư cách là Đấng Đứng Đầu Thánh Đoàn, là gợi lên Lửa Điện của Shamballa, năng lượng của Ý Chí thiêng liêng, và gợi lên trong một hình thức sao cho Thánh Đoàn có thể được kéo đến gần hơn với nguồn Sự Sống, và do đó Nhân loại cuối cùng có thể hưởng lợi từ sự Tiếp Cận có tính Thánh Đoàn này và biết được ý nghĩa của những lời “sự sống dồi dào hơn.” Việc Đức Christ gợi lên ngọn lửa của ý chí đã được khởi đầu một cách biểu tượng trong Vườn [Page 92] Gethsemane

He has twice symbolically shown His individual response to the Shamballa energy: Once in the Temple of Jerusalem as a child, and again in the Garden as a full grown man at the close of His earthly career. His third and final response (which climaxes His work from our human angle) covers nine years, from the Full Moon of June, 1936, to the Full Moon of June, 1945. This period, in reality, constitutes one event to Him Who lives now free in His Own world and free from the limitations of time and space. Having related Humanity to the Hierarchy (which in the case of individual man means relating the personality to the soul), He now seeks to relate more closely, with the aid of the Buddha, the Hierarchy to Shamballa, love to will, electric fire to solar fire.

Hai lần Ngài đã biểu thị một cách tượng trưng sự đáp ứng cá nhân của Ngài đối với năng lượng Shamballa: một lần trong Đền Thờ Jerusalem khi còn là một đứa trẻ, và một lần nữa trong Vườn khi đã là một người trưởng thành, vào cuối sự nghiệp trần thế của Ngài. Sự đáp ứng thứ ba và cuối cùng của Ngài, vốn làm tột đỉnh công việc của Ngài theo góc nhìn nhân loại của chúng ta, kéo dài chín năm, từ Trăng Tròn tháng Sáu, 1936, đến Trăng Tròn tháng Sáu, 1945. Thời kỳ này, trong thực tại, đối với Ngài, Đấng hiện sống tự do trong thế giới riêng của Ngài và thoát khỏi những giới hạn của thời gian và không gian, chỉ là một biến cố duy nhất. Sau khi đã liên kết Nhân loại với Thánh Đoàn, điều này trong trường hợp con người cá nhân có nghĩa là liên kết phàm ngã với linh hồn, Ngài hiện tìm cách, với sự trợ giúp của Đức Phật, liên kết Thánh Đoàn với Shamballa một cách mật thiết hơn, liên kết bác ái với ý chí, Lửa Điện với Lửa Thái dương.

1. In this and the immediately following sections, we are interpreting Rule IV for Applicants in higher terms relating to the Christ and His tasks.

1. Trong tiết này và các tiết ngay sau đây, chúng ta đang diễn giải Quy luật IV dành cho những người dự bị theo những thuật ngữ cao hơn liên quan đến Đức Christ và các nhiệm vụ của Ngài.

2. When Christ “tends the evocation of the fire”, that fire is the “electric fire of Shamballa”, tended, in a way, for Hierarchy.. When studying Rule IV for the individual disciple, one can view the term “evocation” as referring to both higher fires (soul fires, for instance) and lower, sustaining fires (pranic fires, for instance).

2. Khi Đức Christ “chăm lo việc gợi lên ngọn lửa”, ngọn lửa ấy là “Lửa Điện của Shamballa”, được chăm lo, theo một cách nào đó, cho Thánh Đoàn. Khi nghiên cứu Quy luật IV dành cho đệ tử cá nhân, người ta có thể xem thuật ngữ “gợi lên” như chỉ cả các ngọn lửa cao, chẳng hạn như các ngọn lửa của linh hồn, lẫn các ngọn lửa thấp có chức năng nâng đỡ, chẳng hạn như các ngọn lửa prana.

3. In this section about the work of the Christ, the fire evoked is definitely the higher fire.

3. Trong tiết này về công việc của Đức Christ, ngọn lửa được gợi lên chắc chắn là ngọn lửa cao.

4. The fire of Shamballa which Christ evokes (through invocation) must be in a particular “form” from which the Hierarchy as a whole can benefit. Hierarchy could not profit from each and every form of electric fire, but only that form which is especially adapted to Their needs.

4. Ngọn lửa của Shamballa mà Đức Christ gợi lên qua sự khẩn cầu phải ở trong một “hình thức” đặc thù, từ đó Thánh Đoàn như một toàn thể có thể được lợi ích. Thánh Đoàn không thể hưởng lợi từ mọi hình thức của Lửa Điện, mà chỉ từ hình thức được thích nghi đặc biệt với nhu cầu của Các Ngài.

5. The particular form of electric fire which the Christ in a sense mediates to Hierarchy is that which embodies the energy of “life more abundantly”. A little thought about this phrase will reveal that it has a somewhat second ray quality.

5. Hình thức đặc thù của Lửa Điện mà Đức Christ, theo một nghĩa nào đó, trung chuyển đến Thánh Đoàn là hình thức thể hiện năng lượng của “sự sống dồi dào hơn”. Suy ngẫm đôi chút về cụm từ này sẽ cho thấy nó có phần nào phẩm tính cung hai.

6. We are reminded of the importance of Christ’s episode in the Garden of Gethsemene in the matter of evoking the Divine Will. Note, however, that we are told that it was “initiated symbolically” in that episode. This means that the episode in the Garden was, in part, a memorable dramatization for the purpose of focussing human understanding upon the Divine Will. The Christ had certainly been in contact with His “Father in Heaven” long before that, as even the early episode in the Temple (at which time He was found teaching the elders) demonstrates.

6. Chúng ta được nhắc nhớ về tầm quan trọng của biến cố Đức Christ trong Vườn Gethsemane trong vấn đề gợi lên Ý Chí Thiêng Liêng. Tuy nhiên, hãy lưu ý rằng chúng ta được cho biết điều đó đã “được khởi đầu một cách tượng trưng” trong biến cố ấy. Điều này có nghĩa là biến cố trong Vườn, một phần, là một sự kịch hóa đáng ghi nhớ nhằm tập trung sự thấu hiểu của nhân loại vào Ý Chí Thiêng Liêng. Đức Christ chắc chắn đã tiếp xúc với “Cha trên Trời” của Ngài từ rất lâu trước đó, như chính biến cố thời thơ ấu trong Đền Thờ, khi Ngài được thấy đang giảng dạy các bậc trưởng lão, đã chứng tỏ.

7. The question must be asked, however, “Was it the Christ in the Temple, or was it Jesus”? From what is given in the teaching, the first association of Maitreya the Christ with the initiate Jesus occurred at the time of the Baptism. If it occurred before (as early as the twelfth year of the Master Jesus) the teaching is silent on that point. We know that the first public association of the Christ with Jesus was at the time of the Baptism, but what earlier, ‘training’ associations might there have been?

7. Tuy nhiên, câu hỏi cần được đặt ra là: “Đó là Đức Christ trong Đền Thờ, hay đó là Đức Jesus?” Theo những gì được nêu trong giáo huấn, sự liên kết đầu tiên giữa Di Lặc, Đức Christ, với điểm đạo đồ Jesus đã xảy ra vào thời điểm Phép Rửa. Nếu điều đó đã xảy ra trước đó, sớm như năm thứ mười hai của Chân sư Jesus, thì giáo huấn im lặng về điểm này. Chúng ta biết rằng sự liên kết công khai đầu tiên của Đức Christ với Đức Jesus là vào thời điểm Phép Rửa, nhưng trước đó có thể đã có những sự liên kết “huấn luyện” nào chăng?

8. It would, of course, not have been beyond the capabilities of the Master Jesus to evoke the Divine Will, for He was an initiate of the third degree even then, but this section of the teaching is certainly focussing on the accomplishments of the Christ, and so we are presented with a problem to be solved. We need to know is what manner, even at an early age, the Initiate Jesus may have been under the influence of the Christ, or may have voluntarily or involuntarily stepped aside for the entry of the Christ presence and consciousness (in an early act of divine mediumship, perhaps).

8. Dĩ nhiên, việc gợi lên Ý Chí Thiêng Liêng không vượt quá khả năng của Chân sư Jesus, vì ngay khi ấy Ngài đã là một điểm đạo đồ bậc ba; nhưng tiết giáo huấn này chắc chắn đang tập trung vào các thành tựu của Đức Christ, và vì vậy chúng ta được đặt trước một vấn đề cần giải quyết. Điều chúng ta cần biết là theo cách nào, ngay cả ở tuổi còn trẻ, Điểm đạo đồ Jesus có thể đã ở dưới ảnh hưởng của Đức Christ, hoặc đã tự nguyện hay vô ý lùi sang một bên để cho Hiện Diện và tâm thức của Đức Christ đi vào, có lẽ trong một hành vi đồng tử thiêng liêng sơ khởi.

9. A third evocation by Christ of the fire of Shamballic Will was in process during the writing of the material which became The Rays and the Initiations. The duration of this evocation was nine years, from 1936 to 1945—interestingly, the years during which the three Great Invocations (really, three stanzas of one Invocation) were given to humanity.

9. Một sự gợi lên thứ ba của Đức Christ đối với ngọn lửa của Ý Chí Shamballa đang diễn ra trong thời gian viết tài liệu về sau trở thành Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo. Thời hạn của sự gợi lên này là chín năm, từ 1936 đến 1945 — đáng chú ý là những năm trong đó ba Đại Khấn Nguyện, thực ra là ba bài kệ của một Khấn Nguyện duy nhất, được trao cho nhân loại.

10. It was probably a period of very significant decision including a decision relating to the degree of His intended materialization or precipitation during the Aquarian Age. Perhaps it was at that time that He decided to appear in a “physical materialization” (i.e., in a physical body) before the eyes of men.

10. Đó có lẽ là một thời kỳ quyết định rất quan trọng, bao gồm một quyết định liên quan đến mức độ hiện hình hay ngưng tụ mà Ngài dự định trong Kỷ Nguyên Bảo Bình. Có lẽ chính vào lúc ấy Ngài đã quyết định xuất hiện trong một “sự hiện hình hồng trần”, nghĩa là trong một thể xác, trước mắt con người.

11. For Beings of greater consciousness than our own, what to us would be an extended period of time can appear to them as “one event”. The extended scope of Their consciousness makes this possible.

11. Đối với những Đấng có tâm thức lớn hơn chúng ta, điều đối với chúng ta là một khoảng thời gian kéo dài có thể hiện ra với Các Ngài như “một biến cố duy nhất”. Phạm vi mở rộng của tâm thức Các Ngài khiến điều này thành khả hữu.

12. We note that at that time (and this) the Christ lived “free in His own world and free from the limitations of time and space”. That world now begins to include the seventh or logoic plane. We can understand how a consciousness focussed on that level would be free of what we usually call time and space. Even upon the higher mental plane there are significant modifications in the perception of time and space. As time and space are fundamentally perceptions, we can speak of degrees of freedom from customary perceptions, or of modifications of those perceptions which alter the view of the perceiver to what are usually called time and space.

12. Chúng ta lưu ý rằng vào thời điểm ấy, và cả hiện nay, Đức Christ sống “tự do trong thế giới riêng của Ngài và thoát khỏi những giới hạn của thời gian và không gian”. Thế giới ấy hiện bắt đầu bao gồm cõi thứ bảy, hay cõi thượng đế. Chúng ta có thể thấu hiểu vì sao một tâm thức tập trung ở cấp độ ấy sẽ thoát khỏi điều chúng ta thường gọi là thời gian và không gian. Ngay cả trên Cõi thượng trí cũng có những biến đổi đáng kể trong nhận thức về thời gian và không gian. Vì thời gian và không gian về căn bản là những nhận thức, chúng ta có thể nói đến các mức độ tự do khỏi những nhận thức quen thuộc, hoặc đến những biến đổi của các nhận thức ấy, vốn làm thay đổi cách nhìn của người nhận thức đối với điều thường được gọi là thời gian và không gian.

13. Surely a great Being such as the Christ “lives in the eternal” (the Eternal Now) and “knows the self as one”. This realization may be approached by even the initiate of the third degree.

13. Chắc chắn một Đấng vĩ đại như Đức Christ “sống trong cõi vĩnh cửu”, tức Hiện Tại Vĩnh Cửu, và “biết bản ngã là một”. Ngay cả điểm đạo đồ bậc ba cũng có thể tiến gần đến sự chứng nghiệm này.

14. At the time of His third and extended approach to the Divine Will (1936-1945) it can be inferred that He linked with the Buddha in a new way and decided with the Buddha upon modes of approach to link Hierarchy more closely with Shamballa.

14. Vào thời điểm lần tiếp cận thứ ba và kéo dài của Ngài đối với Ý Chí Thiêng Liêng, từ 1936 đến 1945, có thể suy ra rằng Ngài đã liên kết với Đức Phật theo một cách mới và cùng Đức Phật quyết định các phương thức tiếp cận nhằm liên kết Thánh Đoàn mật thiết hơn với Shamballa.

15. Incidentally, They both ‘fought’ and ‘won’ the Second World War, focussing on an inner and outer victory of humanity over the Black Lodge. It is remarkable to realize how involved (from higher planes) were both the Buddha and the Christ in the traumatic events which engaged humanity during those years. We know that at a certain point the Lords of Liberation were successfully (and most fortunately) evoked, turning the tide of the war towards the success of the Forces of Light. It is hard to imagine that the Christ and the Buddha (lesser Beings relatively than these Lords of Liberation) would not have been in some manner involved in that great “turning of the tide”.

15. Nhân tiện, Các Ngài cả hai đã “chiến đấu” và “chiến thắng” trong Thế Chiến thứ hai, tập trung vào một chiến thắng bên trong và bên ngoài của nhân loại trước Hắc đoàn. Thật đáng kinh ngạc khi nhận ra rằng, từ các cõi cao, cả Đức Phật lẫn Đức Christ đã tham dự sâu xa đến mức nào vào những biến cố đau thương lôi cuốn nhân loại trong các năm ấy. Chúng ta biết rằng đến một thời điểm nhất định, các Đấng Giải Thoát đã được gợi lên thành công, và thật may mắn, làm xoay chiều cuộc chiến về phía thắng lợi của các Mãnh Lực Ánh Sáng. Khó có thể tưởng tượng rằng Đức Christ và Đức Phật, xét tương đối là những Đấng nhỏ hơn các Đấng Giải Thoát này, lại không tham dự theo một cách nào đó vào cuộc “xoay chiều thế cục” vĩ đại ấy.

16. From all that we read above, we see that the Christ has been preparing for a new kind of demonstration and appearance—one that is only faintly understood today by a few human beings, but which must become relatively common knowledge among the spiritually inclined during the Aquarian Age.

16. Từ tất cả những gì chúng ta đọc ở trên, chúng ta thấy rằng Đức Christ đã và đang chuẩn bị cho một kiểu biểu hiện và xuất hiện mới — một điều ngày nay chỉ được vài người trong nhân loại hiểu rất mờ nhạt, nhưng trong Kỷ Nguyên Bảo Bình phải trở thành tri thức tương đối phổ biến nơi những người có khuynh hướng tinh thần.

I. Paragraph 9

I. Đoạn 9

1. The task of the Christ as God the Preserver concerns His activity as Initiator and His responsibility as Head of the Hierarchy. (cf. RI p. 92)

1. Nhiệm vụ của Đức Christ với tư cách Thượng đế Bảo Tồn liên quan đến hoạt động của Ngài như Đấng Điểm đạo và trách nhiệm của Ngài như Đấng Đứng Đầu Thánh Đoàn. (x. RI tr. 92)

2. The nourishing of the little lives refers primarily to the Christ’s task as World Teacher and to His responsibility to lead humanity on into the light, with the aid of all the Masters. (cf. RI p. 92)

2. Việc nuôi dưỡng các sự sống nhỏ bé chủ yếu chỉ đến nhiệm vụ của Đức Christ với tư cách Đức Chưởng Giáo và trách nhiệm của Ngài trong việc dẫn dắt nhân loại tiến vào ánh sáng, với sự trợ giúp của tất cả các Chân sư. (x. RI tr. 92)

2. He “nourishes the lesser lives.” This refers to the task of the Christ which proceeds day by day, in His capacity of God the Preserver. He “tends the little ones.” The work here referred to concerns His activity as Initiator and His responsibility as Head of the Hierarchy. The nourishing of the little lives refers primarily to His task as World Teacher and to His responsibility to lead humanity on into the light, with the aid of all the Masters, working, each of Them through His Own Ashram.

2. Ngài “nuôi dưỡng các sự sống nhỏ bé.” Điều này chỉ đến nhiệm vụ của Đức Christ đang được tiến hành từng ngày, trong cương vị của Ngài là Thượng đế Bảo Tồn. Ngài “chăm nom những kẻ bé nhỏ.” Công việc được nói đến ở đây liên quan đến hoạt động của Ngài như Đấng Điểm đạo và trách nhiệm của Ngài như Đấng Đứng Đầu Thánh Đoàn. Việc nuôi dưỡng các sự sống nhỏ bé chủ yếu chỉ đến nhiệm vụ của Ngài với tư cách Đức Chưởng Giáo và trách nhiệm của Ngài trong việc dẫn dắt nhân loại tiến vào ánh sáng, với sự trợ giúp của tất cả các Chân sư, mỗi Ngài làm việc thông qua Ashram riêng của mình.

1. The “lesser lives” are nourished from above, and, as the Tibetan says, “day by day”. It seems that the Christ is profoundly attentive to His task, nourishing in ways we cannot understand those in whom the spiritual impulse is awakening—namely the “little ones”.

1. “Các sự sống nhỏ bé” được nuôi dưỡng từ bên trên, và như Chân sư Tây Tạng nói, “từng ngày”. Dường như Đức Christ chú tâm sâu xa đến nhiệm vụ của Ngài, nuôi dưỡng theo những cách chúng ta không thể thấu hiểu những người nơi họ xung lực tinh thần đang thức tỉnh — tức “những kẻ bé nhỏ”.

2. In His role as representative of “God the Preserver”, what is being preserved? May we say that it is the connection of the lines of communication and flow between the lesser lives and the greater, between the sources of supply and the demand of the lesser lives?

2. Trong vai trò đại diện cho “Thượng đế Bảo Tồn”, điều gì đang được bảo tồn? Chúng ta có thể nói rằng đó là sự nối kết của các đường giao tiếp và luồng lưu chuyển giữa các sự sống nhỏ bé và các sự sống lớn hơn, giữa những nguồn cung ứng và nhu cầu của các sự sống nhỏ bé chăng?

3. Is a “World Teacher” a nourisher? Most definitely, yes, because the higher light conveyed by the Teacher brings new life to those who are in a relatively deprived condition. Perhaps all teachers should ponder on the idea of nourishing with light.

3. Một “Đức Chưởng Giáo” có phải là một đấng nuôi dưỡng chăng? Chắc chắn là có, vì ánh sáng cao hơn do Huấn sư truyền đạt đem sự sống mới đến cho những người đang ở trong một tình trạng tương đối thiếu thốn. Có lẽ mọi huấn sư nên suy ngẫm về ý tưởng nuôi dưỡng bằng ánh sáng.

J. Paragraph 10

J. Đoạn 10

1. The Christ’s task to keep the wheel revolving has a specific relation to His work as the Word of God, which manifests as the Word made flesh. (cf. RI p. 92)

1. Nhiệm vụ của Đức Christ là giữ cho bánh xe quay có một liên hệ đặc thù với công việc của Ngài như Linh từ của Thượng đế, vốn biểu hiện thành Linh từ thành xác thịt. (x. RI tr. 92)

2. The Christ, the Manu and the Lord of Civilisation represent the three divine Aspects in the Hierarchy. These three, together with the four Lords of Karma, form the seven Who control the whole process of incarnation. (cf. RI p. 92-93)

2. Đức Christ, Đức Manu và Chúa Tể Văn Minh đại diện cho ba Phương diện thiêng liêng trong Thánh Đoàn. Ba Đấng này, cùng với bốn Chúa Tể Nghiệp Quả, hợp thành bảy Đấng kiểm soát toàn bộ tiến trình nhập thể. (x. RI tr. 92-93)

3. He “keeps the wheel revolving.” This has a specific relation to His work as the Word of God, which manifests as the Word made flesh. This refers specifically to the great Wheel of Rebirth whereby, upon that turning wheel, souls are carried down into incarnation and then up and out of the soul’s prison; through the turning of the wheel, human beings learn their needed lessons, create cyclically their vehicles of expression (the response apparatus of the soul in the three worlds) and in this way, under soul guidance, and aided by the Hierarchy and its schools of instruction, they arrive at perfection. This entire process is under the control of the Christ, assisted by the Manu and the Lord of Civilisation. These three Great Lords thus represent the three divine Aspects in the Hierarchy; They, with the four Lords of Karma, form the seven Who control the whole [Page 93] process of incarnation. The subject is too vast and intricate to be adequately considered here. The above truth does, however, give us a clue as to why the Christ made no specific reference to the work of incarnation in His spoken utterances whilst on Earth. He was then occupied with His task of World Saviour.

3. Ngài “giữ cho bánh xe quay.” Điều này có một liên hệ đặc thù với công việc của Ngài như Linh từ của Thượng đế, vốn biểu hiện thành Linh từ thành xác thịt. Điều này đặc biệt chỉ đến Bánh Xe Tái Sinh vĩ đại, nhờ đó, trên bánh xe đang quay ấy, các linh hồn được đưa xuống vào nhập thể rồi lại đi lên và thoát khỏi nhà tù của linh hồn; nhờ sự quay của bánh xe, con người học những bài học cần thiết, theo chu kỳ tạo nên các vận cụ biểu hiện của mình, tức bộ máy đáp ứng của linh hồn trong ba cõi thấp, và bằng cách này, dưới sự hướng dẫn của linh hồn, cùng với sự trợ giúp của Thánh Đoàn và các trường huấn luyện của Thánh Đoàn, họ đạt đến sự hoàn thiện. Toàn bộ tiến trình này ở dưới sự kiểm soát của Đức Christ, với sự trợ giúp của Đức Manu và Chúa Tể Văn Minh. Ba Đấng Chúa Tể Vĩ Đại này do đó đại diện cho ba Phương diện thiêng liêng trong Thánh Đoàn; Các Ngài, cùng với bốn Chúa Tể Nghiệp Quả, hợp thành bảy Đấng kiểm soát toàn bộ [Page 93] tiến trình nhập thể. Chủ đề này quá rộng lớn và phức tạp để có thể được xem xét đầy đủ ở đây. Tuy nhiên, chân lý trên cho chúng ta một manh mối về lý do tại sao Đức Christ không nêu một tham chiếu cụ thể nào đến công việc nhập thể trong những lời Ngài đã phán khi còn ở trên Trái Đất. Khi ấy Ngài đang bận tâm với nhiệm vụ của Ngài là Đấng Cứu Thế.

1. How is it that the “Word of God” “made flesh” can promote the right turning of the wheel of rebirth? Perhaps, in response to this Word, right desire is pursued, building in quality and faculty, and strengthening the soul in incarnation so that the next incarnation may be freer and more qualified.

1. Làm sao “Linh từ của Thượng đế” “thành xác thịt” có thể thúc đẩy sự quay đúng đắn của bánh xe tái sinh? Có lẽ, để đáp ứng với Linh từ này, dục vọng đúng đắn được theo đuổi, xây dựng phẩm tính và năng lực, đồng thời củng cố linh hồn trong nhập thể, để lần nhập thể kế tiếp có thể tự do hơn và đủ phẩm tính hơn.

2. We are told that there are seven Who control the process of incarnation: the Christ, the Manu, the Mahachohan and the Four Lords of Karma. We cannot know the intricate manner in which this is done, but we can imagine a balance of incentives, causal quality made available for accomplishment, karmic debts presented for redress and for the building of quality during the process of expiation, all driven (and drawn) by the prompting of the Solar Angels and the members of the Hierarchy, including the seven great lives here mentioned.

2. Chúng ta được cho biết rằng có bảy Đấng kiểm soát tiến trình nhập thể: Đức Christ, Đức Manu, Đức Mahachohan và Bốn Chúa Tể Nghiệp Quả. Chúng ta không thể biết cách thức tinh vi mà điều này được thực hiện, nhưng chúng ta có thể hình dung một sự cân bằng giữa các động lực thúc đẩy, phẩm tính nguyên nhân được cung ứng cho sự thành tựu, các món nợ nghiệp quả được đưa ra để đền bù và để xây dựng phẩm tính trong tiến trình chuộc trả, tất cả đều được thúc đẩy và lôi kéo bởi sự thôi thúc của các Thái dương Thiên Thần và các thành viên của Thánh Đoàn, bao gồm bảy sự sống vĩ đại được nêu ở đây.

3. The “great Wheel of Rebirth” can turn repetitively or with spiral-cyclic motion. In the early days of incarnation, progress was painfully slow and rotary motion may have seemed to rule the day. As the Hierarchy became more powerful and man more responsive, the Wheel turned forward more progressively (more ‘spiral-cyclically’) and the units of humanity rose more rapidly.

3. “Bánh Xe Tái Sinh vĩ đại” có thể quay một cách lặp lại hoặc theo chuyển động xoắn ốc theo chu kỳ. Trong những ngày đầu của nhập thể, tiến bộ chậm chạp một cách đau đớn và chuyển động quay tròn có thể dường như chi phối thời cuộc. Khi Thánh Đoàn trở nên mạnh mẽ hơn và con người đáp ứng hơn, Bánh Xe quay tiến về phía trước một cách tiến bộ hơn, tức theo lối “xoắn ốc theo chu kỳ” hơn, và các đơn vị của nhân loại vươn lên nhanh chóng hơn.

4. In all this we realize that the Christ and His Co-Workers are driving human evolution forward. They are the “Word of the Soul” and as humanity strives to receive and sound this Word in its life, it sounds the note of soul more purely and with greater strength.

4. Trong tất cả điều này, chúng ta nhận ra rằng Đức Christ và các Đồng Sự của Ngài đang thúc đẩy cuộc tiến hoá của nhân loại tiến về phía trước. Các Ngài là “Linh từ của Linh hồn”, và khi nhân loại cố gắng tiếp nhận và xướng Linh từ này trong đời sống mình, nhân loại xướng âm điệu của linh hồn một cách tinh khiết hơn và với sức mạnh lớn hơn.

5. That resounding “Word” is like a great magnet, drawing humanity towards it. Humanity is both driven and drawn by the higher agencies. The great “Wheel” turns with greater rapidity and with greater evolutionary result.

5. “Linh từ” vang dội ấy giống như một nam châm vĩ đại, lôi kéo nhân loại hướng về nó. Nhân loại vừa được thúc đẩy vừa được lôi kéo bởi các tác nhân cao hơn. “Bánh Xe” vĩ đại quay nhanh hơn và đem lại kết quả tiến hoá lớn hơn.

6. The Tibetan presents an interesting idea. He presents the idea that the Christ said practically nothing about the process of reincarnation because He was occupied with His role as World Saviour. The implication is that, had He specifically mentioned and elaborated the process of reincarnation, He would have divided and weakened a needed emphasis on the methods of salvation through service and sacrifice.

6. Chân sư Tây Tạng trình bày một ý tưởng thú vị. Ngài nêu ý tưởng rằng Đức Christ hầu như không nói gì về tiến trình tái sinh vì Ngài đang bận tâm với vai trò Đấng Cứu Thế của mình. Hàm ý là nếu Ngài đã nêu rõ và khai triển tiến trình tái sinh, thì Ngài sẽ làm phân tán và suy yếu sự nhấn mạnh cần thiết vào các phương pháp cứu rỗi thông qua phụng sự và hi sinh.

7. Perhaps the times were urgent (“cosmic evil” was taking root in the Roman Empire), and humanity needed to be seized by this sense of urgency in order to overcome certain dangers which were inherent in social/political/psychological conditions. The doctrine of reincarnation can cause a certain relaxation of attitude in those who are insufficiently trained.

7. Có lẽ thời thế khi ấy rất khẩn cấp, vì “tà ác vũ trụ” đang bén rễ trong Đế quốc La Mã, và nhân loại cần được nắm bắt bởi ý thức cấp bách này để vượt qua một số nguy cơ vốn tiềm tàng trong các điều kiện xã hội, chính trị và tâm lý. Giáo lý về tái sinh có thể gây ra một sự nới lỏng thái độ nào đó nơi những người chưa được huấn luyện đầy đủ.

K. Paragraph 11

K. Đoạn 11

(No excised sentences)

(Không có câu bị lược bỏ)

His work as Preserver and as Head of the Hierarchy had not then begun. It was at that time dependent upon the experience in the Garden o f Gethsemane and upon the Resurrection initiation. Some day the gold and the silver threads of the Gospel story will be disentangled, and men will know the two interpretations which can be put upon the events and episodes in the career of Jesus the Christ. The underlying true events give us great steps and developments in the work of the Christ as He “enveloped humanity in the mantle of love, grasped the rod of initiation on behalf of His brothers, and faced the Lord of Life Himself, unattended, unafraid and in His Own right.” The episodes refer to happenings in the life of Jesus.

Công việc của Ngài với tư cách Đấng Bảo Tồn và Đấng Đứng Đầu Thánh Đoàn khi ấy chưa bắt đầu. Vào thời điểm đó, nó tùy thuộc vào kinh nghiệm trong Vườn Gethsemane và vào cuộc điểm đạo Phục Sinh. Một ngày nào đó, các sợi chỉ vàng và bạc của câu chuyện Phúc Âm sẽ được gỡ tách ra, và con người sẽ biết hai cách diễn giải có thể đặt lên các biến cố và tình tiết trong sự nghiệp của Đức Jesus, Đấng Christ. Những biến cố chân thực nằm bên dưới cho chúng ta thấy các bước tiến và phát triển vĩ đại trong công việc của Đức Christ khi Ngài “bao bọc nhân loại trong áo choàng của bác ái, nắm lấy Thần Trượng Điểm đạo thay mặt các huynh đệ của Ngài, và đối diện với chính Chúa Tể Sự Sống, không người hộ tống, không sợ hãi và bằng quyền riêng của Ngài.” Các tình tiết chỉ đến những sự việc xảy ra trong đời sống của Đức Jesus.

1. It is “God the Preserver”, the Initiator at the first two initiations, Who promotes the turning of the “Great Wheel” and thus, the reincarnational process. The Tibetan seems to be saying that the Christ’s capacity act as “God the Preserver” had not yet reached sufficiency, being dependent upon His acceptance of the Divine Will in the Garden o f Gethsemene and “the Resurrection initiation”.

1. Chính “Thượng đế Bảo Tồn”, Đấng Điểm đạo trong hai lần điểm đạo đầu tiên, thúc đẩy sự quay của “Bánh Xe Vĩ Đại” và do đó thúc đẩy tiến trình tái sinh. Chân sư Tây Tạng dường như đang nói rằng năng lực hành động của Đức Christ như “Thượng đế Bảo Tồn” khi ấy chưa đạt đến mức đầy đủ, vì còn tùy thuộc vào sự chấp nhận Ý Chí Thiêng Liêng của Ngài trong Vườn Gethsemane và “cuộc điểm đạo Phục Sinh”.

2. When Master DK speaks here of the “Resurrection”, does He mean the conventional understanding of the Resurrection as an event following the Crucifixion, or the true Resurrection initiation, the seventh, the process of which (according to DK’s account) the Christ began in those days. If He means the seventh initiation, then He is saying that the Christ could not function as “God the Preserver” without contact with the very highest planes of the cosmic physical plane (namely the monadic and logoic planes to which the sixth and seventh initiations give access).

2. Khi Chân sư DK nói ở đây về “Phục Sinh”, Ngài muốn nói đến cách hiểu thông thường về Phục Sinh như một biến cố theo sau cuộc Đóng Đinh, hay cuộc điểm đạo Phục Sinh đích thực, tức cuộc điểm đạo thứ bảy, mà theo trình thuật của Chân sư DK, Đức Christ đã bắt đầu tiến trình ấy trong những ngày đó? Nếu Ngài muốn nói đến lần điểm đạo thứ bảy, thì Ngài đang nói rằng Đức Christ không thể hoạt động như “Thượng đế Bảo Tồn” nếu không tiếp xúc với các cõi cao nhất của cõi hồng trần vũ trụ, tức các cõi chân thần và thượng đế mà lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy mở lối tiếp cận.

3. The Tibetan points to the difficulty experienced by the average disciple when it comes to determining who (a various times) was active in the Gospel Story. Was it the Christ or what it the Initiate Jesus, or what it, in some way, both?

3. Chân sư Tây Tạng chỉ ra khó khăn mà đệ tử trung bình kinh nghiệm khi phải xác định ai, vào những thời điểm khác nhau, đã hoạt động trong Câu Chuyện Phúc Âm. Đó là Đức Christ hay là Điểm đạo đồ Jesus, hay theo một cách nào đó, đó là cả hai?

4. A disentangling of threads is necessary. The gold threads are those which relate to the work of the Christ. The color, gold, relates the Christ to the Solar Logos. The silver threads are those pertaining to the Initiate Jesus, Who was still under the control of the ‘silver’ Moon, having not yet taken the fourth initiation, at which point there is a transition, symbolically, from silver to gold.

4. Cần phải gỡ tách các sợi chỉ. Các sợi chỉ vàng là những gì liên quan đến công việc của Đức Christ. Màu vàng liên hệ Đức Christ với Thái dương Thượng đế. Các sợi chỉ bạc là những gì thuộc về Điểm đạo đồ Jesus, Đấng khi ấy vẫn còn ở dưới sự kiểm soát của Mặt Trăng “bạc”, vì chưa trải qua lần điểm đạo thứ tư; ở điểm đó, một sự chuyển tiếp diễn ra, theo biểu tượng, từ bạc sang vàng.

5. According to the above account, “events” pertain to the great works of the Christ and “episodes” to “happenings” in the life of the Initiate Jesus. Though today He is called the “Master” Jesus, He was not at that time a Master.

5. Theo trình thuật trên, “các biến cố” thuộc về những công trình vĩ đại của Đức Christ, còn “các tình tiết” thuộc về “những sự việc xảy ra” trong đời sống của Điểm đạo đồ Jesus. Dù ngày nay Ngài được gọi là “Chân sư” Jesus, vào thời điểm ấy Ngài chưa phải là một Chân sư.

6. An “event” has planetary significance and an abiding influence on human affairs. An “episode” is a happening which occurs more within the personal/individual sphere. Through the agency of the Christ, however, the “episodes” in the life of Jesus were, many of them, elevated to the level of “events”.

6. Một “biến cố” có thâm nghĩa hành tinh và ảnh hưởng lâu dài đối với các sự vụ của nhân loại. Một “tình tiết” là một sự việc xảy ra nhiều hơn trong phạm vi cá nhân hay cá thể. Tuy nhiên, thông qua tác nhân Đức Christ, nhiều “tình tiết” trong đời sống của Đức Jesus đã được nâng lên cấp độ của “biến cố”.

7. Of the work of the Christ it is said that He “enveloped humanity in the mantle of love, grasped the rod of initiation on behalf of His brothers, and faced the Lord of Life Himself, unattended, unafraid and in His Own right.” These are powerful words conveying in heroic terms the courageous sacrifice of the Christ on behalf of humanity. Only a Master of the Wisdom can look upon the face of the King and not perish. The Christ was already an initiate of the fifth degree (though He may have been confirming the higher aspects of that degree) and was in process of taking both the sixth and certain aspects of the seventh degree. He could, therefore, without sponsors (and, thus, “alone”), face the Lord of Life Himself, fearlessly and by right of His own attainment. Probably there are few Who know how courageous the Christ really is, so distorted has His image become through its presentation in conventional Christianity.

7. Về công việc của Đức Christ, có nói rằng Ngài “bao bọc nhân loại trong áo choàng của bác ái, nắm lấy Thần Trượng Điểm đạo thay mặt các huynh đệ của Ngài, và đối diện với chính Chúa Tể Sự Sống, không người hộ tống, không sợ hãi và bằng quyền riêng của Ngài.” Đây là những lời đầy quyền năng, truyền đạt bằng những thuật ngữ anh hùng sự hi sinh can đảm của Đức Christ thay mặt nhân loại. Chỉ một Chân sư Minh Triết mới có thể nhìn vào dung nhan của Đức Vua mà không bị diệt vong. Đức Christ khi ấy đã là một điểm đạo đồ bậc năm, dù có thể Ngài đang xác chứng các phương diện cao hơn của bậc ấy, và đang trong tiến trình trải qua cả lần điểm đạo thứ sáu lẫn một số phương diện của bậc thứ bảy. Vì vậy, không cần người bảo trợ, và do đó “một mình”, Ngài có thể đối diện với chính Chúa Tể Sự Sống, không sợ hãi và bằng quyền của thành tựu riêng Ngài. Có lẽ rất ít Đấng biết Đức Christ thực sự can đảm đến mức nào, bởi hình ảnh của Ngài đã bị bóp méo quá nhiều qua cách trình bày của Cơ Đốc giáo quy ước.

L. Paragraph 12

L. Đoạn 12

1. At the present time, and at the immediate point of tension, Christ has added to His two immediate and constant tasks that of hastening the coming of the Avatar Who waits for the perfected work of the Hierarchy, focussed in the Christ, and the powerful work of Shamballa, focussed in the Lord of the World. (cf. RI p. 93)

1. Vào thời điểm hiện tại, và tại điểm tập trung nhất tâm trước mắt, Đức Christ đã thêm vào hai nhiệm vụ trực tiếp và thường hằng của Ngài nhiệm vụ thúc đẩy sự giáng lâm của Đấng Hoá Thân, Đấng đang chờ công việc hoàn thiện của Thánh Đoàn, được tập trung nơi Đức Christ, và công việc đầy quyền năng của Shamballa, được tập trung nơi Đức Chúa Tể Thế Giới. (x. RI tr. 93)

2. When the exact moment has arrived, the work of the Buddha, representing Shamballa, and of the Christ, representing the Hierarchy, plus the sincere demand of Humanity, will bring about an arrangement or an alignment which will release an evocative Sound which will be extra-planetary, and then the Avatar will come. (cf. RI p. 93)

2. Khi khoảnh khắc chính xác đã đến, công việc của Đức Phật, đại diện cho Shamballa, và của Đức Christ, đại diện cho Thánh Đoàn, cộng với lời thỉnh cầu chân thành của Nhân loại, sẽ tạo nên một sự sắp đặt hay một sự chỉnh hợp, giải phóng một Âm Thanh có sức gợi lên và có tính ngoại hành tinh, rồi Đấng Hoá Thân sẽ đến. (x. RI tr. 93)

At the present time, and at the immediate point of tension, Christ has added to His two immediate and constant tasks that of hastening the coming of the Avatar Who waits for the perfected work of the Hierarchy, focussed in the Christ, and the powerful work of Shamballa, focussed in the Lord of the World. When the exact moment has arrived, the work of the Buddha, representing Shamballa, and of the Christ, representing the Hierarchy, plus the sincere demand of Humanity, will bring about an arrangement or an alignment which will release an evocative Sound which will be extra-planetary, and then the Avatar will come.

Vào thời điểm hiện tại, và tại điểm tập trung nhất tâm trước mắt, Đức Christ đã thêm vào hai nhiệm vụ trực tiếp và thường hằng của Ngài nhiệm vụ thúc đẩy sự giáng lâm của Đấng Hoá Thân, Đấng đang chờ công việc hoàn thiện của Thánh Đoàn, được tập trung nơi Đức Christ, và công việc đầy quyền năng của Shamballa, được tập trung nơi Đức Chúa Tể Thế Giới. Khi khoảnh khắc chính xác đã đến, công việc của Đức Phật, đại diện cho Shamballa, và của Đức Christ, đại diện cho Thánh Đoàn, cộng với lời thỉnh cầu chân thành của Nhân loại, sẽ tạo nên một sự sắp đặt hay một sự chỉnh hợp, giải phóng một Âm Thanh có sức gợi lên và có tính ngoại hành tinh, rồi Đấng Hoá Thân sẽ đến.

1. The Avatar referenced here is very likely the Avatar of Synthesis. (Sometimes Sanat Kumara is considered a coming Avatar, but as He is referenced here in another context, He is probably not the Avatar here indicated). The Avatar here mentioned is also not to be confused with a coming seventh ray Avatar of lesser stature than either the Buddha or the Christ, but still great in His own way. (cf. EXH 298)

1. Đấng Hoá Thân được nhắc đến ở đây rất có thể là Đấng Hoá Thân Tổng Hợp. Đôi khi Đức Sanat Kumara được xem là một Đấng Hoá Thân đang đến, nhưng vì Ngài được nhắc đến ở đây trong một bối cảnh khác, nên có lẽ Ngài không phải là Đấng Hoá Thân được chỉ ra ở đây. Đấng Hoá Thân được nêu ở đây cũng không nên bị nhầm lẫn với một Đấng Hoá Thân cung bảy đang đến, có tầm vóc nhỏ hơn cả Đức Phật lẫn Đức Christ, nhưng vẫn vĩ đại theo cách riêng của Ngài. (x. EXH 298)

2. Of course, the Avatar of Synthesis has, by now, already linked up with the Planetary Logos, with the Christ and presumably with Sanat Kumara. This alignment occurred probably in 1945 when the third stanza of the Great Invocation was given to humanity through the Tibetan and AAB.

2. Dĩ nhiên, đến nay Đấng Hoá Thân Tổng Hợp đã liên kết với Hành Tinh Thượng đế, với Đức Christ và có lẽ với Đức Sanat Kumara. Sự chỉnh hợp này có lẽ đã xảy ra vào năm 1945, khi bài kệ thứ ba của Đại Khấn Nguyện được trao cho nhân loại thông qua Chân sư Tây Tạng và Alice Bailey.

3. Many energies and forces contributed to this avataric bestowal. Was the work of the Hierarchy “perfected” and in place? Was the work of Shamballa sufficiently powerful as focussed in the Lord of the World? Was the Buddha involved as well as the Christ and was the demand of humanity sincere and of sufficient strength to invoke the Avatar? The answer to all these questions is apparently, “yes”, if the Avatar of Synthesis was the Avatar referenced in this paragraph.

3. Nhiều năng lượng và mãnh lực đã góp phần vào sự ban phát có tính Đấng Hoá Thân này. Công việc của Thánh Đoàn đã “hoàn thiện” và đúng vị trí chưa? Công việc của Shamballa, được tập trung nơi Đức Chúa Tể Thế Giới, đã đủ quyền năng chưa? Đức Phật có tham dự cùng với Đức Christ không, và lời thỉnh cầu của nhân loại có chân thành và đủ mạnh để khẩn cầu Đấng Hoá Thân không? Câu trả lời cho tất cả những câu hỏi này rõ ràng là “có”, nếu Đấng Hoá Thân Tổng Hợp là Đấng Hoá Thân được nhắc đến trong đoạn này.

4. The Christ was certainly potently active from the years 1936-1945, at the end of which period, the Avatar made His link with the Planetary Logos, and, presumably, with the Buddha and the Spirit of Peace, as well as with the Christ. That Avatar is an extra-planetary Being.

4. Đức Christ chắc chắn đã hoạt động đầy quyền năng từ các năm 1936 đến 1945, vào cuối thời kỳ ấy Đấng Hoá Thân đã tạo liên kết của Ngài với Hành Tinh Thượng đế, và có lẽ với Đức Phật và Đấng Tinh thần Hòa Bình, cũng như với Đức Christ. Đấng Hoá Thân ấy là một Thực Thể ngoại hành tinh.

5. That a “Sound” arose as a result of all these fulfilled conditions is also fitting, and reminds us that invocation demands sound of some kind, even invocation of great Beings such as the Avatar of Synthesis.

5. Việc một “Âm Thanh” phát sinh như kết quả của tất cả các điều kiện đã được hoàn thành này cũng là điều thích hợp, và nhắc chúng ta nhớ rằng sự khẩn cầu đòi hỏi một loại âm thanh nào đó, ngay cả khi khẩn cầu những Đấng vĩ đại như Đấng Hoá Thân Tổng Hợp.

6. We note that a kind of musical chord (a triad) must have been created from the triad of influences involved in this invocation: the note of the Buddha representing Shamballa, that of the Christ representing Hierarchy and that of humanity sounding its note of demand.

6. Chúng ta lưu ý rằng một loại hợp âm, tức một tam nguyên, hẳn đã được tạo nên từ bộ ba ảnh hưởng tham dự vào sự khẩn cầu này: âm điệu của Đức Phật đại diện cho Shamballa, âm điệu của Đức Christ đại diện cho Thánh Đoàn, và âm điệu của nhân loại đang xướng lên lời thỉnh cầu của mình.

M. Paragraph 13

M. Đoạn 13

1. The date or the hour of that alignment depend upon the voiceless appeal of all who stand with massed intent, upon certain aspects of work being done at this time by the senior Members of the Hierarchy, and also upon the steadfastness of the disciples in the world and the initiates, and upon the so called “inscrutable will of God”. (cf. RI p. 93-94)

1. Ngày hay giờ của sự chỉnh hợp ấy tùy thuộc vào lời thỉnh cầu vô thanh của tất cả những ai đứng vững với ý định tập trung đồng loạt, vào một số phương diện công việc đang được các Thành viên cao cấp của Thánh Đoàn thực hiện vào lúc này, và cũng vào sự kiên định của các đệ tử trên thế gian cùng các điểm đạo đồ, cũng như vào cái gọi là “Ý Chí khôn dò của Thượng đế”. (x. RI tr. 93-94)

2. The “inscrutable will of God,” can be considered as the unrecognised purpose of the Lord of the World Who “knows His Own Mind, radiates the highest quality of Love, and focusses His Will in His Own high Place outside the Council Chamber of Shamballa.” (cf. RI p. 94)

2. “Ý Chí khôn dò của Thượng đế” có thể được xem là mục đích chưa được nhận biết của Đức Chúa Tể Thế Giới, Đấng “biết rõ Trí của Chính Ngài, tỏa phát phẩm tính cao nhất của Bác Ái, và tập trung Ý Chí của Ngài tại Nơi cao cả của riêng Ngài bên ngoài Phòng Hội Đồng Shamballa.” (x. RI tr. 94)

Ask me not for the date or the hour, brother of mine, for I know it not. It is dependent upon the appeal—the voiceless appeal—of all who stand with massed intent; it is dependent also upon the hour of exact alignment and upon certain aspects of work being done at this time by the senior Members of the Hierarchy, and also upon the steadfastness of the disciples in the world and the initiates—working in their various Ashrams. To this must be added [Page 94] what Christians call the “inscrutable will of God,” the unrecognised purpose of the Lord of the World Who “knows His Own Mind, radiates the highest quality of Love, and focusses His Will in His Own high Place outside the Council Chamber of Shamballa.”

Huynh đệ của tôi, đừng hỏi tôi về ngày hay giờ, vì tôi không biết. Điều đó tùy thuộc vào lời thỉnh cầu — lời thỉnh cầu vô thanh — của tất cả những ai đứng vững với ý định tập trung đồng loạt; điều đó cũng tùy thuộc vào giờ của sự chỉnh hợp chính xác và vào một số phương diện công việc đang được các Thành viên cao cấp của Thánh Đoàn thực hiện vào lúc này, và cũng vào sự kiên định của các đệ tử trên thế gian cùng các điểm đạo đồ — đang làm việc trong các ashram khác nhau của mình. Vào điều này phải thêm [Page 94] điều mà các tín đồ Cơ Đốc gọi là “Ý Chí khôn dò của Thượng đế”, tức mục đích chưa được nhận biết của Đức Chúa Tể Thế Giới, Đấng “biết rõ Trí của Chính Ngài, tỏa phát phẩm tính cao nhất của Bác Ái, và tập trung Ý Chí của Ngài tại Nơi cao cả của riêng Ngài bên ngoài Phòng Hội Đồng Shamballa.”

1. This section of the book was, in fact, written before 1945. The Tibetan is speaking of a date and hour which became a period in 1945 occurring after the World War had been inwardly and nearly outwardly won by the forces representing the Forces of Light.

1. Thật ra, phần này của sách đã được viết trước năm 1945. Chân sư Tây Tạng đang nói về một ngày và giờ đã trở thành một thời kỳ trong năm 1945, xảy ra sau khi Chiến tranh Thế giới đã được các lực lượng đại diện cho các Mãnh Lực Ánh Sáng chiến thắng ở bên trong và hầu như ở bên ngoài.

2. DK speaks of the responsibility of various parties necessarily involved in invoking the Avatar. A number of different E/entities were involved in this invocation, and certainly disciples were put on notice that their correct response (“steadfastness”) was also an important part of the invocatory formula.

2. Chân sư DK nói về trách nhiệm của nhiều bên khác nhau tất yếu liên quan đến việc khẩn cầu Đấng Hoá Thân. Nhiều Thực Thể/thực thể khác nhau đã tham dự vào sự khẩn cầu này, và chắc chắn các đệ tử đã được báo trước rằng sự đáp ứng đúng đắn của họ, tức “sự kiên định”, cũng là một phần quan trọng của công thức khẩn cầu.

3. Lest one think that the appearance of the Avatar would be foregone conclusion, occurring as the inevitable result of a properly offered invocation reaching the awareness of the Lords of Liberation, DK adds another necessary influence—the influence of Sanat Kumara which He describes as the “inscrutable will of God”. The Lords of Liberation are Shamballic Beings Who obey the Will of Sanat Kumara.

3. Để tránh cho người ta nghĩ rằng sự xuất hiện của Đấng Hoá Thân là một kết luận đương nhiên, xảy ra như kết quả tất yếu của một lời khẩn cầu được dâng lên đúng cách và đạt đến nhận thức của các Đấng Giải Thoát, Chân sư DK thêm vào một ảnh hưởng cần thiết khác — ảnh hưởng của Đức Sanat Kumara, mà Ngài mô tả là “Ý Chí khôn dò của Thượng đế”. Các Đấng Giải Thoát là những Đấng thuộc Shamballa, tuân phục Ý Chí của Đức Sanat Kumara.

4. This additional consideration introduces into the discussion an important note of humility, and reminds us that, essentially, we stand before an unfathomable mystery.

4. Sự cân nhắc bổ sung này đưa vào cuộc bàn luận một âm điệu quan trọng của đức khiêm nhường, và nhắc chúng ta rằng, về bản chất, chúng ta đang đứng trước một huyền nhiệm không thể dò thấu.

5. Several beautiful and awe-inspiring things are said about the Lord of the World. His purpose is unrecognized; He alone “knows his Own Mind”; He radiates the highest quality of Love (on our planet); and, that His Will is so great that it is focussed in a ‘place’ that is entirely His Own—a place “outside the Council Chamber of Shamballa” (where He consults with Those of august yet lower rank than He). That great Kumaric Will is, no doubt, focussed on levels which far transcend the cosmic physical plane.

5. Nhiều điều đẹp đẽ và gây kính sợ được nói về Đức Chúa Tể Thế Giới. Mục đích của Ngài chưa được nhận biết; chỉ mình Ngài “biết rõ Trí của Chính Ngài”; Ngài tỏa phát phẩm tính cao nhất của Bác Ái trên hành tinh chúng ta; và Ý Chí của Ngài vĩ đại đến nỗi được tập trung trong một “nơi” hoàn toàn thuộc riêng Ngài — một nơi “bên ngoài Phòng Hội Đồng Shamballa”, nơi Ngài hội ý với các Đấng uy nghiêm nhưng có cấp bậc thấp hơn Ngài. Không nghi ngờ gì, Ý Chí vĩ đại ấy của Đức Kumara được tập trung trên các cấp độ vượt xa cõi hồng trần vũ trụ.

6. We are solemnly introduced to the idea that the invocation of the Avatar is a tremendous happening in which humanity plays only a tiny (if necessary) part, and that Beings far greater than man are earnestly involved in the process. This is good, lest we speak glibly of the event.

6. Chúng ta được trang nghiêm giới thiệu với ý tưởng rằng sự khẩn cầu Đấng Hoá Thân là một biến cố vô cùng lớn lao, trong đó nhân loại chỉ đóng một phần rất nhỏ, dù cần thiết, và rằng những Đấng vĩ đại hơn con người rất nhiều đang tha thiết tham dự vào tiến trình ấy. Điều này là tốt, để chúng ta khỏi nói về biến cố ấy một cách hời hợt.

N. Paragraph 14

N. Đoạn 14

1. That the Avatar will come is a predictable certainty. That His forerunner will be the Christ is equally sure. Why is this the case? (cf. RI p. 94)

1. Việc Đấng Hoá Thân sẽ đến là một điều chắc chắn có thể tiên liệu. Việc vị tiền phong của Ngài sẽ là Đức Christ cũng chắc chắn như vậy. Tại sao lại như thế? (x. RI tr. 94)

2. When Christ comes, the advanced units of the human family will recognise Him, whilst His advent will evoke a responsive vibration from the masses, but not straight recognition. (cf. RI p. 94)

2. Khi Đức Christ đến, các đơn vị tiến hóa cao của gia đình nhân loại sẽ nhận ra Ngài, trong khi sự giáng lâm của Ngài sẽ gợi lên một rung động đáp ứng từ quần chúng, nhưng không phải là sự nhận ra trực tiếp. (x. RI tr. 94)

3. The coming Avatar will be recognised by Hierarchy as an overshadowing Presence within Whose aura the planetary Logos will take His stand as the planetary Representative. (cf. RI p. 94)

3. Đấng Hoá Thân sắp đến sẽ được Thánh Đoàn nhận ra như một Sự Hiện Diện phủ bóng, trong hào quang của Ngài, Đức Hành Tinh Thượng Đế sẽ đứng vững với tư cách là Đấng Đại Diện hành tinh. (x. RI tr. 94)

4. Then from Shamballa will descend a stream of spiritual potency, qualified by the will-to-good, and this will reach the attentive Hierarchy. The Members of Hierarchy on their turn will, through the medium of the Christ, pour light and healing energy upon the Earth and peculiarly into the consciousness of men. (cf. RI p. 94)

4. Bấy giờ từ Shamballa sẽ giáng xuống một dòng quyền năng tinh thần, được định tính bởi Ý Chí-hướng Thiện, và dòng này sẽ đến với Thánh Đoàn đang chú tâm. Đến lượt mình, các Thành viên của Thánh Đoàn, qua trung gian Đức Christ, sẽ tuôn đổ ánh sáng và năng lượng chữa lành xuống Trái Đất, và đặc biệt vào tâm thức của con người. (x. RI tr. 94)

5. Christ will come in the air, and that He will bring the “healing of the nations” in His wings. (cf. RI p. 94)

5. Đức Christ sẽ đến trong không trung, và Ngài sẽ mang “sự chữa lành cho các quốc gia” trong đôi cánh của Ngài. (x. RI tr. 94)

That the Avatar will come is a predictable certainty. That His forerunner will be the Christ is equally sure. When Christ comes it will be for the advanced units of the human family; they will recognise Him because He has always been with us, whilst His advent will evoke a responsive vibration from the masses, but not straight recognition. In connection with the Avatar, it will be a process of hierarchical recognition of an overshadowing Presence within Whose aura the planetary Logos will take His stand as the planetary Representative. Then from Shamballa will descend a stream of spiritual potency, qualified by the will-to-good, and this will reach the attentive Hierarchy. The Members of this Group will, through the medium of the Christ, pour light and healing energy upon the Earth and peculiarly into the consciousness of men. I am not able to express the effect of the outpouring from Shamballa in clearer terms. We are told in the Bible that Christ will come in the air, and that He will bring the “healing of the nations” in His wings. I would call your attention to this thought and to its appositeness to this day and generation. I make no prophetical predictions, I only indicate possibility.

Việc Đấng Hoá Thân sẽ đến là một điều chắc chắn có thể tiên liệu. Việc vị tiền phong của Ngài sẽ là Đức Christ cũng chắc chắn như vậy. Khi Đức Christ đến, điều đó sẽ dành cho các đơn vị tiến hóa cao của gia đình nhân loại; họ sẽ nhận ra Ngài vì Ngài đã luôn ở với chúng ta, trong khi sự giáng lâm của Ngài sẽ gợi lên một rung động đáp ứng từ quần chúng, nhưng không phải là sự nhận ra trực tiếp. Liên quan đến Đấng Hoá Thân, đó sẽ là một tiến trình nhận biết của Thánh Đoàn đối với một Sự Hiện Diện phủ bóng, trong hào quang của Ngài, Đức Hành Tinh Thượng Đế sẽ đứng vững với tư cách là Đấng Đại Diện hành tinh. Bấy giờ từ Shamballa sẽ giáng xuống một dòng quyền năng tinh thần, được định tính bởi Ý Chí-hướng Thiện, và dòng này sẽ đến với Thánh Đoàn đang chú tâm. Các Thành viên của Nhóm này, qua trung gian Đức Christ, sẽ tuôn đổ ánh sáng và năng lượng chữa lành xuống Trái Đất, và đặc biệt vào tâm thức của con người. Tôi không thể diễn tả hiệu quả của lần tuôn đổ từ Shamballa bằng những từ ngữ rõ ràng hơn. Chúng ta được cho biết trong Kinh Thánh rằng Đức Christ sẽ đến trong không trung, và Ngài sẽ mang “sự chữa lành cho các quốc gia” trong đôi cánh của Ngài. Tôi muốn các bạn lưu ý đến tư tưởng này và sự thích hợp của nó đối với ngày nay và thế hệ này. Tôi không đưa ra những tiên đoán tiên tri; tôi chỉ nêu lên khả năng.

1. If the Avatar of which we are speaking is, indeed, the Avatar of Synthesis, we see that His coming is not the thing of a moment, but a gradually intensifying process which will go through various stages of recognition.

1. Nếu Đấng Hoá Thân mà chúng ta đang nói đến quả thật là Đấng Hoá Thân của Tổng Hợp, chúng ta thấy rằng sự đến của Ngài không phải là sự việc của một khoảnh khắc, mà là một tiến trình tăng cường dần dần, sẽ trải qua nhiều giai đoạn nhận biết khác nhau.

2. The Christ has not yet “come” though He is “on His way”. The Avatar may have already linked up with the Planetary Logos, but in a deeper sense He, also, has not yet “come” just as the Christ has not yet “come”. We are speaking of processes which will require recognition over centuries.

2. Đức Christ chưa “đến”, dù Ngài đang “trên đường đến”. Đấng Hoá Thân có thể đã liên kết với Đức Hành Tinh Thượng Đế, nhưng theo một ý nghĩa sâu xa hơn, Ngài cũng chưa “đến”, cũng như Đức Christ chưa “đến”. Chúng ta đang nói về những tiến trình sẽ đòi hỏi sự nhận biết qua nhiều thế kỷ.

3. Now we are in a period during which the NGWS is serving as the forerunner of the Christ, just as the Christ is the forerunner of an Avatar Who is a supporting Presence to the Christ (along with the Spirit of Peace and the Buddha).

3. Hiện nay chúng ta đang ở trong một thời kỳ mà Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đang phụng sự như vị tiền phong của Đức Christ, cũng như Đức Christ là vị tiền phong của một Đấng Hoá Thân, Đấng là một Sự Hiện Diện hỗ trợ cho Đức Christ, cùng với Đấng Tinh thần Hòa Bình và Đức Phật.

4. It is interesting that the Christ is said to be coming for the advanced units of the human family who will recognize him as One Who has always been with us. The masses of men will feel His presence, but may not recognize Him directly. Though “every eye shall see Him”, not every eye shall recognize Him.

4. Điều thú vị là Đức Christ được nói là sẽ đến vì các đơn vị tiến hóa cao của gia đình nhân loại, những người sẽ nhận ra Ngài như Đấng đã luôn ở với chúng ta. Quần chúng nhân loại sẽ cảm thấy sự hiện diện của Ngài, nhưng có thể không nhận ra Ngài trực tiếp. Dù “mọi mắt sẽ thấy Ngài”, không phải mọi mắt đều sẽ nhận ra Ngài.

5. As for the Avatar of Synthesis, it is not anticipated that the masses of human beings will recognize Him as a Being. Members and affiliates of Hierarchy will recognize Him as an “overshadowing Presence”—in a way overshadowing not only the Christ but the Planetary Logos as well.

5. Đối với Đấng Hoá Thân của Tổng Hợp, người ta không trông đợi rằng quần chúng nhân loại sẽ nhận ra Ngài như một Đấng. Các Thành viên và những người liên kết với Thánh Đoàn sẽ nhận ra Ngài như một “Sự Hiện Diện phủ bóng” — theo một cách nào đó phủ bóng không chỉ Đức Christ mà cả Đức Hành Tinh Thượng Đế nữa.

6. We now see that the Avatar can be no Being of lesser rank than the Planetary Logos, as the Planetary Logos is due to “take His stand” within the aura of the Avatar! Sanat Kumara may well be involved here, as Shamballa is mentioned as the source of a descending stream of spiritual potency. In many instances, the Planetary Logos and Sanat Kumara are as one. The inspiring Avatar can be considered an interplanetary Being.

6. Giờ đây chúng ta thấy rằng Đấng Hoá Thân không thể là một Đấng có cấp bậc thấp hơn Đức Hành Tinh Thượng Đế, vì Đức Hành Tinh Thượng Đế sẽ “đứng vững” trong hào quang của Đấng Hoá Thân! Đức Sanat Kumara rất có thể liên quan ở đây, vì Shamballa được nhắc đến như nguồn của một dòng quyền năng tinh thần giáng xuống. Trong nhiều trường hợp, Đức Hành Tinh Thượng Đế và Đức Sanat Kumara gần như là một. Đấng Hoá Thân truyền cảm hứng này có thể được xem là một Đấng liên hành tinh.

7. A great, healing, vitalizing outpouring from Shamballa is due and will focus through the Christ. The energy of the Avatar, the Planetary Logos/Sanat Kumara, the Buddha and the Spirit of Peace will reach humanity via the Christ. The Christ will bring the “healing of the nations” in His wings. This thought suggests the presence and helpful power of the ‘winged’ deva kingdom. On the other hand, humanity now has wings through its airplanes which (why not) the Christ may well use.

7. Một lần tuôn đổ vĩ đại, chữa lành và tiếp sinh lực từ Shamballa đang đến hạn và sẽ tập trung qua Đức Christ. Năng lượng của Đấng Hoá Thân, Đức Hành Tinh Thượng Đế/Đức Sanat Kumara, Đức Phật và Đấng Tinh thần Hòa Bình sẽ đến với nhân loại qua Đức Christ. Đức Christ sẽ mang “sự chữa lành cho các quốc gia” trong đôi cánh của Ngài. Tư tưởng này gợi ý sự hiện diện và quyền năng trợ giúp của giới thiên thần “có cánh”. Mặt khác, nhân loại ngày nay cũng có đôi cánh qua những chiếc máy bay của mình, và tại sao Đức Christ lại không thể sử dụng chúng?

8. Great plans are being laid and great possibilities exist. The Tibetan avoids prophecy indicating only possibilities towards which we are all enjoined to work.

8. Những Thiên Cơ lớn lao đang được chuẩn bị và những khả năng lớn lao đang hiện hữu. Chân sư Tây Tạng tránh lời tiên tri, chỉ nêu ra những khả năng mà tất cả chúng ta được huấn thị phải hướng tới trong công việc.

O. Paragraph 15

O. Đoạn 15

1. When the Avatar has made His appearance, then will the

1. Khi Đấng Hoá Thân đã xuất hiện, bấy giờ

“Sons of men who are now the Sons of God withdraw Their faces from the shining light and radiate that light upon the sons of men who know not yet they are the Sons of God. Then shall the Coming One appear, His footsteps hastened through the valley of the shadow by the One of awful power Who stands upon the mountain top, breathing out love eternal, light supernal and peaceful silent Will.

“Những người con của nhân loại nay là Các Con của Thượng đế sẽ quay mặt khỏi ánh sáng rực rỡ và tỏa ánh sáng ấy xuống những người con của nhân loại còn chưa biết rằng họ là Các Con của Thượng đế. Bấy giờ Đấng Đang Đến sẽ xuất hiện, bước chân của Ngài được thúc nhanh qua thung lũng bóng tối bởi Đấng có quyền năng đáng kính sợ, Đấng đứng trên đỉnh núi, thở ra tình thương vĩnh cửu, ánh sáng thiên thượng và Ý Chí an bình lặng lẽ.

“Then will the sons of men respond. Then will a newer light shine forth into the dismal weary vale of earth. Then will new life course through the veins of men, and then will their vision compass all the ways of what may be.

“Bấy giờ những người con của nhân loại sẽ đáp ứng. Bấy giờ một ánh sáng mới hơn sẽ chiếu rọi vào thung lũng trần gian u ám mỏi mệt. Bấy giờ sự sống mới sẽ tuôn chảy qua huyết mạch con người, và bấy giờ tầm nhìn của họ sẽ bao quát mọi nẻo đường của những điều có thể thành.

“So peace will come again on earth, but a peace unlike aught known before. Then will the will-to-good flower forth as understanding, and understanding blossom as goodwill in men.” (cf. RI p. 94-95)

“Như vậy bình an sẽ lại đến trên Trái Đất, nhưng là một bình an không giống bất cứ điều gì từng được biết trước kia. Bấy giờ Ý Chí-hướng Thiện sẽ nở hoa thành sự thấu hiểu, và sự thấu hiểu sẽ nở rộ thành thiện chí nơi con người.” (x. RI tr. 94-95)

When the Avatar has made His appearance, then will the

Khi Đấng Hoá Thân đã xuất hiện, bấy giờ

“Sons of men who are now the Sons of God withdraw Their faces from the shining light and radiate that light upon the sons of men who know not yet they are the Sons of God. Then shall the Coming One appear, His footsteps hastened through the valley of the shadow by the One of awful power Who stands upon the mountain top, breathing out love eternal, light supernal and peaceful silent Will.

“Những người con của nhân loại nay là Các Con của Thượng đế sẽ quay mặt khỏi ánh sáng rực rỡ và tỏa ánh sáng ấy xuống những người con của nhân loại còn chưa biết rằng họ là Các Con của Thượng đế. Bấy giờ Đấng Đang Đến sẽ xuất hiện, bước chân của Ngài được thúc nhanh qua thung lũng bóng tối bởi Đấng có quyền năng đáng kính sợ, Đấng đứng trên đỉnh núi, thở ra tình thương vĩnh cửu, ánh sáng thiên thượng và Ý Chí an bình lặng lẽ.

“Then will the sons of men respond. Then will a newer light shine forth into the dismal weary vale of [Page 95] earth. Then will new life course through the veins of men, and then will their vision compass all the ways of what may be.

“Bấy giờ những người con của nhân loại sẽ đáp ứng. Bấy giờ một ánh sáng mới hơn sẽ chiếu rọi vào thung lũng [Page 95] trần gian u ám mỏi mệt. Bấy giờ sự sống mới sẽ tuôn chảy qua huyết mạch con người, và bấy giờ tầm nhìn của họ sẽ bao quát mọi nẻo đường của những điều có thể thành.

“So peace will come again on earth, but a peace unlike aught known before. Then will the will-to-good flower forth as understanding, and understanding blossom as goodwill in men.”

“Như vậy bình an sẽ lại đến trên Trái Đất, nhưng là một bình an không giống bất cứ điều gì từng được biết trước kia. Bấy giờ Ý Chí-hướng Thiện sẽ nở hoa thành sự thấu hiểu, và sự thấu hiểu sẽ nở rộ thành thiện chí nơi con người.”

1. We are here presented with a paragraph of extraordinary beauty from the Old Commentary telling of an impending time of fulfillment for humanity.

1. Ở đây chúng ta được trao cho một đoạn văn có vẻ đẹp phi thường từ Cổ Luận, kể về một thời kỳ thành tựu sắp đến cho nhân loại.

2. Interpreting these words, we find that the Hierarchy will withdraw Their faces from contemplating Shamballa and turn Their gaze towards unawakened humanity (i.e., upon those “who know not yet they are Sons of God”).

2. Khi diễn giải những lời này, chúng ta thấy rằng Thánh Đoàn sẽ quay mặt khỏi việc chiêm ngưỡng Shamballa và hướng ánh nhìn của Các Ngài về phía nhân loại chưa thức tỉnh, tức là về phía những người “còn chưa biết rằng họ là Các Con của Thượng đế”.

3. The Coming One is the Christ and His footsteps will be hastened through the “valley of the shadow” (namely, the lower planes) by Sanat Kumara, Who stands upon the “mountain top” (the logoic plane, as the One Initiator) breathing out the essence of the three Divine Aspects—“love eternal, light supernal, peaceful silent will”.

3. Đấng Đang Đến là Đức Christ, và bước chân của Ngài sẽ được thúc nhanh qua “thung lũng bóng tối”, tức là các cõi thấp, bởi Đức Sanat Kumara, Đấng đứng trên “đỉnh núi”, tức cõi Thượng đế, với tư cách là Đấng Điểm Đạo Duy Nhất, thở ra tinh túy của ba Phương diện Thiêng liêng — “tình thương vĩnh cửu, ánh sáng thiên thượng, Ý Chí an bình lặng lẽ”.

4. Humanity will respond, become enlightened, become re-animated, and see their divine possibilities.

4. Nhân loại sẽ đáp ứng, trở nên được soi sáng, được tái tiếp sinh lực, và thấy những khả năng thiêng liêng của mình.

5. The Peace of Shamballa will descend upon Earth (through the agency of Sanat Kumara and the Spirit of Peace). It will be an entirely new kind of peace.

5. Bình an của Shamballa sẽ giáng xuống Trái Đất, qua tác động của Đức Sanat Kumara và Đấng Tinh thần Hòa Bình. Đó sẽ là một loại bình an hoàn toàn mới.

6. A sequence of fulfillments will emerge. The will-to-good will become understanding and understanding “blossom as goodwill in men”.

6. Một chuỗi thành tựu sẽ hiện ra. Ý Chí-hướng Thiện sẽ trở thành sự thấu hiểu, và sự thấu hiểu “nở rộ thành thiện chí nơi con người”.

7. In short, the soul of our Planetary Logos will be infusing His personality. The Saviours involved in this great redemption will, like the Christ, “see of the travail of His [Their] Soul and be satisfied”.

7. Tóm lại, linh hồn của Đức Hành Tinh Thượng Đế chúng ta sẽ thấm nhuần phàm ngã của Ngài. Các Đấng Cứu Rỗi liên quan đến cuộc cứu chuộc vĩ đại này, giống như Đức Christ, sẽ “thấy thành quả lao khổ của Linh Hồn Ngài [của Các Ngài] và được thỏa nguyện”.

8. There are times when discouragement may descend upon even the sincere and highly motivated disciple. If such times arise, perhaps this paragraph from the Old Commentary may be read. Will not inspiration return?

8. Có những lúc sự nản lòng có thể giáng xuống ngay cả với người đệ tử chân thành và có động cơ cao cả. Nếu những lúc như thế xuất hiện, có lẽ đoạn văn này từ Cổ Luận nên được đọc lên. Chẳng phải cảm hứng sẽ trở lại hay sao?

P. Paragraph 16

P. Đoạn 16

1. The Avatar has linked up with the planetary Logos in the year 1945, at the time when the final Stanza of the Great Invocation has been given out. (cf. RI p. 95)

1. Đấng Hoá Thân đã liên kết với Đức Hành Tinh Thượng Đế vào năm 1945, vào thời điểm Bài kệ cuối cùng của Đại Khấn Nguyện được ban truyền. (x. RI tr. 95)

2. The use of the Great Invocation will serve to bring the Coming One to recognition and enable Him to draw upon the resources of the Avatar in the task of world reorganisation and regeneration. (cf. RI p. 95)

2. Việc sử dụng Đại Khấn Nguyện sẽ giúp đưa Đấng Đang Đến đến chỗ được nhận biết và giúp Ngài có thể rút lấy các nguồn lực của Đấng Hoá Thân trong nhiệm vụ tái tổ chức và tái sinh thế giới. (x. RI tr. 95)

3. The Christ will again come as the World Saviour, but He will be fortified and buttressed by the “silent Avatar” Who (occultly speaking) will “keep His eye upon Him, His hand beneath, and His heart in unison with His.” (cf. RI p. 95)

3. Đức Christ sẽ lại đến với tư cách là Đấng Cứu Thế của thế giới, nhưng Ngài sẽ được củng cố và nâng đỡ bởi “Đấng Hoá Thân lặng lẽ”, Đấng, nói theo huyền bí học, sẽ “giữ mắt của Ngài dõi theo Đức Christ, tay của Ngài nâng đỡ bên dưới, và trái tim của Ngài hòa cùng nhịp với trái tim của Đức Christ.” (x. RI tr. 95)

So speaks a prophetic passage in the ancient Archives of the Hierarchy which deals with the present cycle of distress (written in June, 1943). For this time men must prepare. You will know when the Avatar links up with the planetary Logos because I will then give you the final Stanza of the Great Invocation (given out in April, 1945). Its use will serve to bring the Coming One to recognition and enable Him to draw upon the resources of the Avatar in the task of world reorganisation and regeneration. He will again come as the World Saviour, but owing to the stupendous nature of the work ahead, He will be fortified and buttressed by the “silent Avatar” Who (occultly speaking) will “keep His eye upon Him, His hand beneath, and His heart in unison with His.”

Một đoạn tiên tri trong Văn Khố cổ xưa của Thánh Đoàn, đề cập đến chu kỳ đau khổ hiện tại, đã nói như vậy, được viết vào tháng Sáu năm 1943. Nhân loại phải chuẩn bị cho thời điểm này. Các bạn sẽ biết khi Đấng Hoá Thân liên kết với Đức Hành Tinh Thượng Đế, vì khi ấy tôi sẽ trao cho các bạn Bài kệ cuối cùng của Đại Khấn Nguyện, được ban truyền vào tháng Tư năm 1945. Việc sử dụng nó sẽ giúp đưa Đấng Đang Đến đến chỗ được nhận biết và giúp Ngài có thể rút lấy các nguồn lực của Đấng Hoá Thân trong nhiệm vụ tái tổ chức và tái sinh thế giới. Ngài sẽ lại đến với tư cách là Đấng Cứu Thế của thế giới, nhưng do bản chất phi thường của công việc phía trước, Ngài sẽ được củng cố và nâng đỡ bởi “Đấng Hoá Thân lặng lẽ”, Đấng, nói theo huyền bí học, sẽ “giữ mắt của Ngài dõi theo Đức Christ, tay của Ngài nâng đỡ bên dưới, và trái tim của Ngài hòa cùng nhịp với trái tim của Đức Christ.”

1. As the chapter unfolds, we see and understand that the Avatar here referenced is, indeed, the “Avatar of Synthesis”.

1. Khi chương này khai mở, chúng ta thấy và thấu hiểu rằng Đấng Hoá Thân được nói đến ở đây quả thật là “Đấng Hoá Thân của Tổng Hợp”.

2. The Great Invocation (Stanza Three) is promised as the signal of His link up with the Planetary Logos.

2. Đại Khấn Nguyện, Bài kệ thứ ba, được hứa như dấu hiệu cho sự liên kết của Ngài với Đức Hành Tinh Thượng Đế.

3. The use of this great Mantram for preparing for the Coming One is noted. In fact, we are told that there is no better way to prepare for the Reappearance of the Christ than through the use of the Great Invocation.

3. Việc sử dụng mantram vĩ đại này để chuẩn bị cho Đấng Đang Đến được ghi nhận. Thật ra, chúng ta được cho biết rằng không có cách nào tốt hơn để chuẩn bị cho sự tái xuất hiện của Đức Christ ngoài việc sử dụng Đại Khấn Nguyện.

4. The resources of the Avatar will be needed for “world reorganization and regeneration”

4. Các nguồn lực của Đấng Hoá Thân sẽ cần thiết cho “tái tổ chức và tái sinh thế giới”.

5. The Christ’s coming work will be “stupendous”—that word again, and no exaggeration.

5. Công việc sắp đến của Đức Christ sẽ “phi thường” — lại là từ ấy, và không hề phóng đại.

6. How the Avatar works is beautifully given. He is the “silent Avatar”, for in the silence is synthesis, and He is the Avatar of Synthesis.

6. Cách Đấng Hoá Thân làm việc được trình bày thật đẹp đẽ. Ngài là “Đấng Hoá Thân lặng lẽ”, vì trong im lặng có sự tổng hợp, và Ngài là Đấng Hoá Thân của Tổng Hợp.

7. The Avatar will work (and presumably is now working) through the eye, hand and heart. The eye directs (and carries the potency of) the first ray. The hand supports and creates the foundation of the third ray. The heart brings the intimacy of the second ray, and assures the deepest identification.

7. Đấng Hoá Thân sẽ làm việc, và có lẽ hiện nay đang làm việc, qua mắt, tay và tim. Mắt chỉ đạo, và mang quyền năng của cung một. Tay nâng đỡ và tạo nền tảng của cung ba. Tim mang đến sự thân mật của cung hai, và bảo đảm sự đồng nhất sâu xa nhất.

8. Is it not amazing what resources are gathered together to assist the Christ in His salvation of humanity and the planet. How deserving the Christ must be to have warranted such support! Only a profoundly selfless love could magnetize it.

8. Thật đáng kinh ngạc biết bao khi thấy những nguồn lực được quy tụ để trợ giúp Đức Christ trong việc cứu rỗi nhân loại và hành tinh. Đức Christ hẳn phải xứng đáng đến dường nào mới bảo đảm được sự hỗ trợ như thế! Chỉ một tình thương vô ngã sâu xa mới có thể thu hút được điều đó.

Q. Paragraph 16

Q. Đoạn 16

1. The keynote of Christ’s mission will be to evoke from humanity a response to that influence, and an unfoldment on a large scale of intuitive perception. /cf. RI p. 95)

1. Chủ âm của sứ mệnh Đức Christ sẽ là gợi lên từ nhân loại một đáp ứng đối với ảnh hưởng ấy, và một sự khai mở trên quy mô lớn của nhận thức trực giác. (x. RI tr. 95)

2. When the Christ came 2000 years ago, He evoked from humanity a gradual response to truth, and mental understanding. That is why at the end of the cycle, which He inaugurated, we have formulated doctrine and mental development. (cf. RI p. 95)

2. Khi Đức Christ đến cách đây 2000 năm, Ngài đã gợi lên từ nhân loại một đáp ứng dần dần đối với chân lý, và sự thấu hiểu trí tuệ. Đó là lý do tại sao vào cuối chu kỳ mà Ngài đã khai mở, chúng ta có giáo lý được hình thành và sự phát triển trí tuệ. (x. RI tr. 95)

The keynote of Christ’s mission will be to evoke from humanity a response to that influence, and an unfoldment on a large scale of intuitive perception. When He came before, He evoked from humanity a gradual response to truth, and mental understanding. That is why at the end of the cycle, which He inaugurated, we have formulated doctrine and mental development.

Chủ âm của sứ mệnh Đức Christ sẽ là gợi lên từ nhân loại một đáp ứng đối với ảnh hưởng ấy, và một sự khai mở trên quy mô lớn của nhận thức trực giác. Khi Ngài đến trước kia, Ngài đã gợi lên từ nhân loại một đáp ứng dần dần đối với chân lý, và sự thấu hiểu trí tuệ. Đó là lý do tại sao vào cuối chu kỳ mà Ngài đã khai mở, chúng ta có giáo lý được hình thành và sự phát triển trí tuệ.

1. A great synthesis is gathering and already it can be felt. It is intuition that will appreciate the gathering synthesis and it will be Christ’s mission to evoke from humanity a great development of “intuitive perception”. The intuition can sense the whole.

1. Một sự tổng hợp lớn lao đang quy tụ và đã có thể được cảm nhận. Chính trực giác sẽ nhận biết sự tổng hợp đang quy tụ ấy, và sứ mệnh của Đức Christ sẽ là gợi lên từ nhân loại một sự phát triển lớn lao của “nhận thức trực giác”. Trực giác có thể cảm nhận tổng thể.

2. We have learned that there are two phases to the Christ’s mission—God the Saviour and God the Preserver. There is also a sequence of evocations. Two thousand years ago (and following) He evoked from humanity “a gradual response to truth, and mental understanding”. Humanity has responded and today we have what the Tibetan calls “formulated doctrine and mental development” (for better or for worse, and both rather closely related to the Virgo polarity of the Age of Pisces/Virgo).

2. Chúng ta đã học rằng có hai giai đoạn trong sứ mệnh của Đức Christ — Thượng đế Đấng Cứu Rỗi và Thượng đế Đấng Bảo Tồn. Cũng có một chuỗi các sự gợi lên. Cách đây hai nghìn năm, và trong thời gian sau đó, Ngài đã gợi lên từ nhân loại “một đáp ứng dần dần đối với chân lý, và sự thấu hiểu trí tuệ”. Nhân loại đã đáp ứng, và ngày nay chúng ta có điều mà Chân sư Tây Tạng gọi là “giáo lý được hình thành và sự phát triển trí tuệ”, dù tốt hay xấu, và cả hai đều liên hệ khá chặt chẽ với cực tính Xử Nữ của Kỷ Nguyên Song Ngư/Xử Nữ.

3. But now buddhi is required to supercede and yet infuse manas.

3. Nhưng giờ đây Bồ đề được cần đến để vượt lên trên và đồng thời thấm nhuần manas.

R. Paragraph 17

R. Đoạn 17

1. The work now being done by Shamballa and the Hierarchy on behalf of humanity will tend also to develop group consciousness and the formation of many groups which will be living organisms and not organisations; it will make group initiation possible and will enable certain aspects of the will to flower forth correctly and with safety. (cf. RI p. 95)

1. Công việc hiện đang được Shamballa và Thánh Đoàn thực hiện vì nhân loại cũng sẽ có khuynh hướng phát triển tâm thức nhóm và hình thành nhiều nhóm vốn sẽ là những sinh thể sống chứ không phải các tổ chức; công việc ấy sẽ làm cho điểm đạo nhóm trở nên khả hữu và sẽ giúp một số phương diện của ý chí nở hoa một cách đúng đắn và an toàn. (x. RI tr. 95)

2. There is a distinction between groups and organisations upon which the coming of the Christ will throw much light. (cf. RI p. 95)

2. Có một sự phân biệt giữa các nhóm và các tổ chức mà sự đến của Đức Christ sẽ soi sáng rất nhiều. (x. RI tr. 95)

The work now being done by Shamballa and the Hierarchy on behalf of humanity will tend also to develop group consciousness and the formation of many groups which will be living organisms and not organisations; it will make group initiation possible and will enable certain aspects of the will to flower forth correctly and with safety. The tendency to overlook the distinction between groups and organisations is still very deep-seated; the coming of the Christ will throw much light upon this problem. A study of Rule IV as given to disciples and initiates will also serve [Page 96] to clarify this matter, and with that we shall now concern ourselves.

Công việc hiện đang được Shamballa và Thánh Đoàn thực hiện vì nhân loại cũng sẽ có khuynh hướng phát triển tâm thức nhóm và hình thành nhiều nhóm vốn sẽ là những sinh thể sống chứ không phải các tổ chức; công việc ấy sẽ làm cho điểm đạo nhóm trở nên khả hữu và sẽ giúp một số phương diện của ý chí nở hoa một cách đúng đắn và an toàn. Khuynh hướng bỏ qua sự phân biệt giữa các nhóm và các tổ chức vẫn còn bám rễ rất sâu; sự đến của Đức Christ sẽ soi sáng rất nhiều vấn đề này. Việc nghiên cứu Quy luật IV như được trao cho các đệ tử và các điểm đạo đồ cũng sẽ giúp [Page 96] làm sáng tỏ vấn đề này, và giờ đây chúng ta sẽ quan tâm đến điều đó.

1. Superceding mental consciousness will be intuitive consciousness, which is intimately related to group consciousness.

1. Thay thế tâm thức trí tuệ sẽ là tâm thức trực giác, vốn liên hệ mật thiết với tâm thức nhóm.

2. Note that if the consciousness is truly intuitive (rather than simply mental) organizations will give way to living organisms, flexible and responsive to the Divine Plan.

2. Hãy lưu ý rằng nếu tâm thức thật sự là trực giác, chứ không chỉ đơn thuần là trí tuệ, thì các tổ chức sẽ nhường chỗ cho những sinh thể sống động, linh hoạt và đáp ứng với Thiên Cơ.

3. As group consciousness and intuition blossom, group initiation will emerge as a reality and the development of will will occur with relative safety, buffered by the presence of group love.

3. Khi tâm thức nhóm và trực giác nở hoa, điểm đạo nhóm sẽ xuất hiện như một thực tại, và sự phát triển của ý chí sẽ diễn ra với sự an toàn tương đối, được đệm đỡ bởi sự hiện diện của tình thương nhóm.

4. Christ is coming, among other things, to bring “not peace but the sword”. A sharpened faculty of discrimination will appear, helping to differentiate between the motive and quality of various groups. People do not know the difference between true groups (i.e., organisms) and organizations, because buddhic life is not yet pervading their consciousness.

4. Đức Christ đang đến, giữa nhiều điều khác, để mang lại “không phải bình an mà là thanh gươm”. Một năng lực phân biện sắc bén sẽ xuất hiện, giúp phân biệt giữa động cơ và phẩm tính của các nhóm khác nhau. Người ta không biết sự khác biệt giữa các nhóm chân chính, tức là các sinh thể, và các tổ chức, bởi vì đời sống Bồ đề chưa thấm nhuần tâm thức của họ.

5. The livingness of Christ will help reveal the distinction, as will a realization of what constitutes greater and lesser lives, greater and lesser wheels—the theme of Rules IV.

5. Tính sống động của Đức Christ sẽ giúp mặc khải sự phân biệt ấy, cũng như sự nhận biết về điều gì cấu thành các sự sống lớn hơn và nhỏ hơn, các bánh xe lớn hơn và nhỏ hơn — chủ đề của Quy luật IV.

Rule IV: First Sentence

Quy luật IV: Câu thứ nhất

The Sentence

Câu văn

A. “Let the group see that all the eighteen fires die down and that the lesser lives return unto the reservoir of life.(R&I 96)

A. “Hãy để nhóm thấy rằng cả mười tám ngọn lửa đều lắng xuống và những sự sống nhỏ bé hơn trở về kho chứa của sự sống.(R&I 96)

1. The eighteen fires are the forces of the eighteen lower subplanes: three on the dense physical plane; four on the etheric planes; seven on the astral plane; and four on the plane of concrete mind.

1. Mười tám ngọn lửa là các mãnh lực của mười tám cõi phụ thấp: ba trên cõi hồng trần đậm đặc; bốn trên các cõi dĩ thái; bảy trên cõi cảm dục; và bốn trên cõi trí cụ thể.

2. These forces are characteristic of the vibratory level which we call a subplane.

2. Những mãnh lực này là đặc trưng của cấp độ rung động mà chúng ta gọi là một cõi phụ.

3. Since the lunar vehicles of a human being are composed of matter of the lower two and a half systemic planes, and the eighteen subplanes which are found on those two and a half planes, the fires of these subplanes are, naturally, an integral part of man’s lunar vehicles.

3. Vì các vận cụ thái âm của con người được cấu thành bằng vật chất của hai cõi rưỡi thấp trong hệ thống, và bằng mười tám cõi phụ hiện diện trên hai cõi rưỡi ấy, nên các ngọn lửa của những cõi phụ này, một cách tự nhiên, là một phần không thể tách rời của các vận cụ thái âm nơi con người.

4. These fires are, in general, the fires of the physical instinctual nature, including all the normal physical appetites; the fires of the desire nature, with all of its magnetism toward the form; and the fires of the lower mental nature (separating this from that and correlating that which is separated).

4. Nói chung, những ngọn lửa này là các ngọn lửa của bản chất bản năng hồng trần, bao gồm mọi dục vọng hồng trần bình thường; các ngọn lửa của bản chất ham muốn, với toàn bộ từ điện của nó hướng về hình tướng; và các ngọn lửa của bản chất hạ trí, tách cái này khỏi cái kia và liên kết những gì đã bị tách rời.

5. Of these eighteen fires, four of them are considered to be outside the province of man’s attention: the fires pertaining to the lowest two subplanes of the physical plane (dense and liquidic), and pertaining to the lowest two subplanes of the astral plane. Of these subplanes, DK has the following to say:

5. Trong mười tám ngọn lửa này, bốn ngọn được xem là nằm ngoài phạm vi chú tâm của con người: các ngọn lửa liên quan đến hai cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần, tức đậm đặc và dạng lỏng, và liên quan đến hai cõi phụ thấp nhất của cõi cảm dục. Về các cõi phụ này, Chân sư DK có nói như sau:

“In the two lower planes in the three worlds—the astral and the physical—the five subplanes of human endeavour are the five highest. The two lowest subplanes, the sixth and seventh, are what we might express as ‘below the threshold,’ and concern forms of life beneath the human altogether. We have a corroborating analogy in the fact that the two earliest root-races in this round are not definitely human, and that it is the third root-race which is really human for the first time. Counting, therefore, from the bottom upwards it is only the third subplane on the physical and the astral planes which mark the commencement of human effort, leaving five subplanes to be subdued.” (TCF 187)

“Trong hai cõi thấp thuộc ba cõi giới — cõi cảm dục và cõi hồng trần — năm cõi phụ của nỗ lực nhân loại là năm cõi cao nhất. Hai cõi phụ thấp nhất, cõi thứ sáu và thứ bảy, là những gì chúng ta có thể diễn đạt là ‘dưới ngưỡng cửa’, và liên quan đến các hình thức sự sống hoàn toàn thấp hơn nhân loại. Chúng ta có một tương đồng xác nhận trong sự kiện rằng hai giống dân gốc sớm nhất trong cuộc tuần hoàn này chưa thật sự là nhân loại, và chính giống dân gốc thứ ba mới lần đầu tiên thật sự là nhân loại. Vì vậy, nếu đếm từ dưới lên, chỉ cõi phụ thứ ba trên cõi hồng trần và cõi cảm dục mới đánh dấu sự khởi đầu của nỗ lực nhân loại, để lại năm cõi phụ cần được chế ngự.” (TCF 187)

6. There are some 346 references in the Blue Books to “subplane” and “subplanes”. I would recommend that a compilation be made and shared with all. It may take a number of hours, but would surely repay the effort. What we know about subplanes is a mixture of experience, inference and text reference. Combining the three our knowledge should grow.

6. Trong các Sách Xanh có khoảng 346 chỗ tham chiếu đến “cõi phụ” và “các cõi phụ”. Tôi khuyên nên thực hiện một bản biên tập tổng hợp và chia sẻ với tất cả. Việc này có thể mất nhiều giờ, nhưng chắc chắn sẽ xứng đáng với công sức bỏ ra. Những gì chúng ta biết về các cõi phụ là một hỗn hợp gồm kinh nghiệm, suy luận và tham chiếu văn bản. Khi phối hợp cả ba, tri thức của chúng ta sẽ tăng trưởng.

7. One way of inferring the nature and behavior of the various subplanes is by assigned numbers, rays, astrological signs and planets and even generic colors (with which they, according to the Law of Correspondences) would have correlation.

7. Một cách để suy ra bản chất và hành vi của các cõi phụ khác nhau là căn cứ vào những con số, các cung, các dấu hiệu chiêm tinh và các hành tinh được gán cho chúng, và ngay cả các màu sắc tổng quát mà, theo Định luật Tương Ứng, chúng sẽ có sự liên hệ.

8. The seven subplanes of any systemic plane, for instance, could be numbered one through seven from the ‘top’ down, and, equally from the ‘bottom up’. Thus the highest subplane of the astral plane would have the overall quality of the number six (just as all subplanes on that plane), but secondary numbers of one and seven. The same is true for the lowest subplane of the astral plane. The second highest subplane would have the secondary numbers of two and six, just as would the subplane next to the lowest—and so forth.

8. Chẳng hạn, bảy cõi phụ của bất kỳ cõi hệ thống nào có thể được đánh số từ một đến bảy, từ ‘trên’ xuống, và cũng như thế từ ‘dưới lên’. Do đó, cõi phụ cao nhất của cõi cảm dục sẽ có phẩm tính tổng quát của con số sáu, giống như mọi cõi phụ trên cõi ấy, nhưng có các con số phụ là mộtbảy. Điều tương tự cũng đúng đối với cõi phụ thấp nhất của cõi cảm dục. Cõi phụ cao thứ hai sẽ có các con số phụ là hai và sáu, cũng như cõi phụ kế cận cõi thấp nhất — và cứ thế.

9. The seven rays would correlate with these numbers. On the atomic subplane of any systemic plane (or cosmic plane, for that matter) the first ray would be expressive and also, to a degree, the seventh ray.

9. Bảy cung sẽ tương ứng với những con số này. Trên cõi phụ nguyên tử của bất kỳ cõi hệ thống nào, hay của cõi vũ trụ nào cũng vậy, cung một sẽ biểu lộ, và ở một mức độ nào đó, cung bảy cũng vậy.

10. The planets (especially the sacred planets) related to the subplanes would be assigned according to their predominating ray—probably the soul ray in the case of the sacred and synthesizing planets.

10. Các hành tinh, đặc biệt là các hành tinh thiêng liêng, liên hệ với các cõi phụ sẽ được gán theo cung chủ đạo của chúng — có lẽ là cung linh hồn trong trường hợp các hành tinh thiêng liêng và các hành tinh tổng hợp.

11. Therefore, first ray Vulcan would be associated with the atomic subplane of all systemic planes, and to a degree with the lowest subplane; second ray Jupiter with the subatomic subplane and, to a degree, with the subplane next to the lowest; third ray Saturn with the super-etheric subplane (we will use this term although not technically speaking of the actual etheric plane–the seventh) as well as with the third numbering from below; fourth ray Mercury with the central subplane of any systemic plane; fifth ray Venus with the fifth subplane numbering either down or up; sixth ray Neptune with the sixth subplane numbering either down or up; and seventh ray Uranus with the seventh subplane, numbering either down or up. There is a symmetry which needs careful consideration.

11. Vì vậy, Vulcan thuộc cung một sẽ được liên kết với cõi phụ nguyên tử của mọi cõi hệ thống, và ở một mức độ nào đó với cõi phụ thấp nhất; Sao Mộc thuộc cung hai với cõi phụ hạ nguyên tử và, ở một mức độ nào đó, với cõi phụ kế cận cõi thấp nhất; Sao Thổ thuộc cung ba với cõi phụ siêu dĩ thái, chúng ta sẽ dùng thuật ngữ này dù về mặt kỹ thuật không nói đến cõi dĩ thái thật sự, tức cõi thứ bảy, cũng như với cõi được đánh số thứ ba từ dưới lên; Sao Thủy thuộc cung bốn với cõi phụ trung tâm của bất kỳ cõi hệ thống nào; Sao Kim thuộc cung năm với cõi phụ thứ năm, dù đếm xuống hay đếm lên; Sao Hải Vương thuộc cung sáu với cõi phụ thứ sáu, dù đếm xuống hay đếm lên; và Sao Thiên Vương thuộc cung bảy với cõi phụ thứ bảy, dù đếm xuống hay đếm lên. Có một tính đối xứng cần được suy xét cẩn thận.

12. Non-sacred planets can also be assigned in this manner according to their predominating ray: the first for Pluto; the second for the Sun (or, more properly, for the unnamed non-sacred second ray planet it veils); the third for Earth; the fourth for the Moon (or, more properly, for the unnamed, non-sacred fourth ray planet it veils); the sixth for Mars.

12. Các hành tinh không thiêng liêng cũng có thể được gán theo cách này, tùy theo cung chủ đạo của chúng: cung một cho Sao Diêm Vương; cung hai cho Mặt Trời, hay đúng hơn, cho hành tinh không thiêng liêng thuộc cung hai chưa được nêu tên mà Mặt Trời che khuất; cung ba cho Trái Đất; cung bốn cho Mặt Trăng, hay đúng hơn, cho hành tinh không thiêng liêng thuộc cung bốn chưa được nêu tên mà Mặt Trăng che khuất; cung sáu cho Sao Hỏa.

13. Different musical notes can also be assigned to the subplanes, either according to the ray correlated to the note or the planet correlated to the note (as the assignment will differ in some cases for each).

13. Các nốt nhạc khác nhau cũng có thể được gán cho các cõi phụ, hoặc theo cung tương ứng với nốt ấy, hoặc theo hành tinh tương ứng với nốt ấy, vì trong một số trường hợp sự gán định sẽ khác nhau đối với mỗi cách.

14. The planes, counting from above or below, can be assigned Do, Re, Mi, Fa, Sol, La, Ti (in straight order), but this may not be the most accurate assignment. If musical notes are correlated according to the ray presumably ruling a subplane, the order of the notes assigned will not be in straight “solfeggio” order, but will occur more along the line of Do, Sol, Fa, Mi, Re, La, Ti, where Do is red, Sol is blue, Fa is green, Mi is yellow, Re is orange, La is questionable (though, perhaps, indigo), and Ti is, predictably, violet.

14. Các cõi, đếm từ trên xuống hoặc từ dưới lên, có thể được gán Đô, Rê, Mi, Fa, Sol, La, Si theo thứ tự thẳng, nhưng đây có thể không phải là sự gán định chính xác nhất. Nếu các nốt nhạc được tương ứng theo cung được giả định là cai quản một cõi phụ, thì thứ tự các nốt được gán sẽ không theo trật tự “xướng âm” thẳng, mà sẽ diễn ra gần hơn theo đường Đô, Sol, Fa, Mi, Rê, La, Si, trong đó Đô là đỏ, Sol là xanh dương, Fa là xanh lá, Mi là vàng, Rê là cam, La còn đáng nghi vấn, dù có lẽ là chàm, và Si, như có thể dự đoán, là tím.

15. But if notes are correlated with planets rather than with the rays which they emit, then a different assignment might result in some cases. The whole subject is very technical and prone to confusion, worsened by the arbitrary pronouncements of those who have never tested their assumptions or perceptions according to the Law of Correspondences.

15. Nhưng nếu các nốt được tương ứng với các hành tinh thay vì với các cung mà chúng phát ra, thì trong một số trường hợp có thể phát sinh một sự gán định khác. Toàn bộ chủ đề này rất kỹ thuật và dễ gây nhầm lẫn, lại bị làm tệ hơn bởi những lời tuyên bố tùy tiện của những người chưa bao giờ kiểm chứng các giả định hay nhận thức của mình theo Định luật Tương Ứng.

16. Assignment of colors to the subplanes may also occur in relation to the rays, numbered sequentially from one to seven (counting from both ‘above’ and ‘below’).

16. Việc gán màu sắc cho các cõi phụ cũng có thể diễn ra trong liên hệ với các cung, được đánh số tuần tự từ một đến bảy, đếm cả từ ‘trên’ lẫn từ ‘dưới’.

17. Where the number one is relevant, the color can be red or certain shades of orange; where number two is relevant, the color can be indigo blue or light blue; for three, the colors green or black, or perhaps, yellow; for four, yellow, green or cream; for five, the colors orange or indigo blue; for six, light blue, rose or red; for seven, violet and related shades.

17. Ở nơi con số một có liên quan, màu sắc có thể là đỏ hoặc một số sắc thái cam; nơi con số hai có liên quan, màu sắc có thể là xanh chàm hoặc xanh dương nhạt; đối với ba, các màu là xanh lá hoặc đen, hay có lẽ vàng; đối với bốn, vàng, xanh lá hoặc màu kem; đối với năm, các màu cam hoặc xanh chàm; đối với sáu, xanh dương nhạt, hồng hoặc đỏ; đối với bảy, tím và các sắc thái liên hệ.

18. The whole question of number/ray/color/note assignments is extremely complex and will depend upon one’s angle of vision. The correspondences can be worked out inferentially, but they will have to be measured by subtle instruments (when such instruments are invented) and by reliable psychics (scientifically monitored) whose perception is demonstrated elsewhere to correlate with known fact; they will definitely have to be called into the process.

18. Toàn bộ vấn đề gán định số/cung/màu/nốt là cực kỳ phức tạp và sẽ tùy thuộc vào góc nhìn của mỗi người. Các tương ứng có thể được suy ra bằng suy luận, nhưng chúng sẽ phải được đo bằng những dụng cụ tinh vi, khi các dụng cụ ấy được phát minh, và bởi những người có năng lực thông linh đáng tin cậy, được giám sát một cách khoa học, những người mà nhận thức của họ ở nơi khác đã được chứng minh là tương ứng với sự kiện đã biết; chắc chắn họ sẽ phải được đưa vào tiến trình này.

19. This will be a revelation for a time when the fourth ray, fifth ray and seventh ray are powerful and skillfully used. Fortunately, such a time is approaching during the Aquarian Age.

19. Đây sẽ là một sự mặc khải cho một thời kỳ khi cung bốn, cung năm và cung bảy trở nên mạnh mẽ và được vận dụng khéo léo. May thay, một thời kỳ như thế đang đến gần trong Kỷ nguyên Bảo Bình.

20. For the present time and in the interests of simplicity, the meaning of the various subplanes can be gathered by combining the ray of the plane and subplane:

20. Trong thời hiện tại và vì lợi ích của sự đơn giản, ý nghĩa của các cõi phụ khác nhau có thể được gom lại bằng cách phối hợp cung của cõi và cõi phụ:

21. On the etheric-physical plane, we would number, from above, 7:1, 7:2, 7:3, 7:4, 7:5, 7:6, 7:7. On the astral plane—6:1, 6:2, 6:3, 6:4, 6:5, 6:6, 6:7. On the concrete mental plane—5:4, 5:5, 5:6 and 5:7. The higher three subplanes of the systemic mental plane are not concerned with the eighteen fires which must die down.

21. Trên cõi dĩ thái-hồng trần, chúng ta sẽ đánh số, từ trên xuống, 7:1, 7:2, 7:3, 7:4, 7:5, 7:6, 7:7. Trên cõi cảm dục — 6:1, 6:2, 6:3, 6:4, 6:5, 6:6, 6:7. Trên cõi trí cụ thể — 5:4, 5:5, 5:6 và 5:7. Ba cõi phụ cao hơn của cõi trí hệ thống không liên quan đến mười tám ngọn lửa phải lắng xuống.

22. Also, we will not concern ourselves with 7:6, 7:7, 6:6, and 6:7. The gaseous subplane of the etheric-physical plane is worthy of attention as it is the subplane by means of which the breath is controlled and related to the first etheric plane, 7:4. The relationship between 7:5 and 7:4 will be involved in breathing exercises which have an effect on pranic currents.

22. Ngoài ra, chúng ta sẽ không bàn đến 7:6, 7:7, 6:6 và 6:7. Cõi phụ khí của cõi dĩ thái-hồng trần đáng được chú ý vì đó là cõi phụ nhờ đó hơi thở được kiểm soát và liên hệ với cõi dĩ thái thứ nhất, 7:4. Mối liên hệ giữa 7:5 và 7:4 sẽ tham dự vào các bài tập thở có ảnh hưởng đến các dòng prana.

23. As for subplanes 6:6 and 6:7 they have been, by some writers, associated with “astral hells”, and are the sites of certain kinds of phenomena with which man should have nothing to do. There is also a kind of astrality associated with the plant and animal kingdoms, and perhaps the fires of these subplanes are involved in relation to such functioning. For man, they would have to do with irrational and repetitive impulses, uninfluenced and unguided by any form of manas.

23. Đối với các cõi phụ 6:6 và 6:7, một số tác giả đã liên kết chúng với “các địa ngục cảm dục”, và chúng là địa điểm của một số loại hiện tượng mà con người không nên dính líu. Cũng có một loại cảm dục tính liên hệ với giới thực vật và giới động vật, và có lẽ các ngọn lửa của những cõi phụ này tham dự vào các hoạt động như thế. Đối với con người, chúng liên quan đến những xung động phi lý và lặp đi lặp lại, không chịu ảnh hưởng và không được hướng dẫn bởi bất kỳ hình thức manas nào.

24. Just briefly, subplane 6:5 would relate to very concrete forms of low desire. Because of the 5, however, that quality in man which makes him man (namely, the individualized mind) would still be influential, but mostly lending intelligence to the acquisition of what is desired. It is the subplane of clairaudience. (cf. TCF 188-189)

24. Nói thật vắn tắt, cõi phụ 6:5 sẽ liên hệ với những hình thức rất cụ thể của ham muốn thấp. Tuy nhiên, vì có số 5, phẩm tính nơi con người khiến y là con người, tức thể trí đã biệt ngã hóa, vẫn sẽ có ảnh hưởng, nhưng chủ yếu là đem trí thông minh phục vụ cho việc đạt được điều được ham muốn. Đây là cõi phụ của thông nhĩ. (xem TCF 188-189)

25. On subplane 6:4 a struggle between lower and higher desire would be encountered. It is the subplane of psychometry.

25. Trên cõi phụ 6:4, người ta sẽ gặp một cuộc đấu tranh giữa ham muốn thấp và ham muốn cao. Đây là cõi phụ của thuật trắc tâm.

26. On subplane 6:3 diversified intelligence would be brought to bear for the fulfillment of desire (still personal) but more illumined. It is the subplane of clairvoyance. According to the Law of Correspondences, this would be the first astral subplane responsive to the subplanes of soul, the third subplane of the mental plane (upon which the egoic lotuses of average humanity are found focussed).

26. Trên cõi phụ 6:3, trí thông minh đa dạng sẽ được đem vào vận dụng để hoàn thành ham muốn, vẫn còn mang tính cá nhân, nhưng được soi sáng hơn. Đây là cõi phụ của thông nhãn. Theo Định luật Tương Ứng, đây sẽ là cõi phụ cảm dục đầu tiên đáp ứng với các cõi phụ của linh hồn, tức cõi phụ thứ ba của cõi trí, nơi các hoa sen chân ngã của nhân loại trung bình được tập trung.

27. On subplane 6:2, the energy of love would enter, contributing to selfless desire. Higher, loving emotions would here be found. It is the subplane of imagination.

27. Trên cõi phụ 6:2, năng lượng bác ái sẽ đi vào, góp phần tạo nên ham muốn vô kỷ. Những cảm xúc cao hơn và đầy tình thương sẽ được thấy ở đây. Đây là cõi phụ của sự tưởng tượng.

28. On subplane 6:1, the will achieves regulation over desire, and one’s desires are correlated and aligned with Divine Plan and Purpose. It is the subplane of idealism.

28. Trên cõi phụ 6:1, ý chí đạt được sự điều chỉnh đối với ham muốn, và các ham muốn của con người được liên hệ và chỉnh hợp với Thiên Cơ và Thiên Ý. Đây là cõi phụ của chủ nghĩa lý tưởng.

29. On subplane 5:7, thoughts are concrete, absorbed and repetitious. Although the mind is in use, when this particular mental fire is emphasized one does not expect to find originality and the ability to “think for oneself”. It is the subplane of higher clairaudience.

29. Trên cõi phụ 5:7, tư tưởng cụ thể, bị thu hút và lặp đi lặp lại. Dù thể trí đang được sử dụng, khi ngọn lửa trí tuệ đặc thù này được nhấn mạnh, người ta không mong tìm thấy tính độc sáng và khả năng “tự mình suy nghĩ”. Đây là cõi phụ của thông nhĩ cao hơn.

30. On subplane 5:6, there is a correlation to kama-manas. One thinks in a certain manner because one wants to. One’s desires tinge the thought process. We have “feeling-toned thoughts”. Thoughts are strongly influenced by desire and aspiration and perhaps, idealism. As DK tells us that rays five and six combine in cases of ‘idée-fixe’, we would expect to find a relative frequency of that phenomenon in individuals for whom this particular mental fire was prominent. This is the subplane of planetary psychometry.

30. Trên cõi phụ 5:6, có một sự tương ứng với trí-cảm. Người ta suy nghĩ theo một cách nào đó bởi vì người ta muốn như vậy. Các ham muốn của người ta nhuốm màu tiến trình tư tưởng. Chúng ta có “những tư tưởng nhuốm sắc cảm xúc”. Các tư tưởng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của ham muốn và khát vọng, và có lẽ cả chủ nghĩa lý tưởng. Vì Chân sư DK cho chúng ta biết rằng cung năm và cung sáu kết hợp trong các trường hợp “ý tưởng cố định ám ảnh”, nên chúng ta có thể mong tìm thấy hiện tượng ấy với tần suất tương đối nơi những cá nhân mà ngọn lửa trí tuệ đặc thù này nổi bật. Đây là cõi phụ của thuật trắc tâm hành tinh.

31. On subplane 5:5, manas begins to win its contest with kama, and kama-manas. The individual becomes mentally detached from his emotions and can think clearly (albeit in a rather concrete manner). The power to use the mind to increase knowledge through investigation and analysis is here found. It is possible that many of those with fifth ray minds are focussed here (though we must avoid the tendency to oversimplify). This is the subplane of higher clairvoyance.

31. Trên cõi phụ 5:5, trí tuệ bắt đầu thắng trong cuộc tranh đấu với dục vọng và trí-cảm. Cá nhân trở nên tách rời về mặt trí tuệ khỏi các cảm xúc của mình và có thể suy nghĩ rõ ràng, dù theo một cách khá cụ thể. Quyền năng sử dụng thể trí để gia tăng tri thức qua khảo sát và phân tích được tìm thấy ở đây. Có thể nhiều người có thể trí cung năm tập trung tại đây, dù chúng ta phải tránh khuynh hướng giản lược quá mức. Đây là cõi phụ của thông nhãn cao hơn.

32. On subplane 5:4, the first impacts of intuition can make their way into the concrete mind. This is a pivotal subplane, and an entire compilation could be created from the references to it. The mental unit is here focussed, and this unit has, fittingly, four divisions. This is the subplane of personality and it the pivot point in the transition from personality to soul-responsiveness. It is impossible to be a truly integrated personality unless there is significant focus on this subplane. This is the subplane of discrimination — discrimination between the self and the not-self, and between the self-as-soul and the self-as-personality.

32. Trên cõi phụ 5:4, những tác động đầu tiên của trực giác có thể đi vào trí cụ thể. Đây là một cõi phụ then chốt, và có thể lập nên cả một bản biên tập tổng hợp từ các tham chiếu đến nó. Đơn vị hạ trí được tập trung tại đây, và đơn vị này, một cách thích hợp, có bốn phân bộ. Đây là cõi phụ của phàm ngã và là điểm xoay trong sự chuyển tiếp từ phàm ngã sang khả năng đáp ứng với linh hồn. Không thể là một Phàm ngã tích hợp thật sự nếu không có sự tập trung đáng kể trên cõi phụ này. Đây là cõi phụ của phân biện — phân biện giữa bản ngã và phi-ngã, và giữa bản ngã với tư cách linh hồn và bản ngã với tư cách phàm ngã.

33. Human evolution is very long and there are very few subplanes with which man is associated (and, we can say, simultaneously associated) for at this stage of evolution (and even in relation to the evolutionary development occurring millions of years ago) he was focussing on all three systemic planes (etheric-physical, astral and mental) simultaneously, though the ‘locus of attention’ continued to rise.

33. Sự tiến hoá của nhân loại rất dài lâu và có rất ít cõi phụ mà con người liên hệ với chúng, và chúng ta có thể nói là liên hệ đồng thời, vì ở giai đoạn tiến hoá này, và ngay cả trong liên hệ với sự phát triển thăng thượng tiến hoá diễn ra hàng triệu năm trước, y đã đồng thời tập trung trên cả ba cõi hệ thống, tức dĩ thái-hồng trần, cảm dục và trí tuệ, dù ‘vị trí của sự chú tâm’ vẫn tiếp tục nâng lên.

34. This is not the place to go into this subject exhaustively. It would require a book in itself to scratch the surface, and probably, among the esotericists of the world, significant thought on these matters has already emerged, and essays, articles and books elucidating these matters have already appeared. The information purporting to elucidate this abstruse area of occult study can never simply be assumed to be accurate. The many explanations must be correlated with each other and with what Master DK has said, and to this must be added (when possible) one’s own sensitive and illumined investigation of the matter and the testimony of reliable sensitives.

34. Đây không phải là nơi để đi sâu vào chủ đề này một cách toàn diện. Chỉ để chạm đến bề mặt của nó thôi cũng cần cả một cuốn sách, và có lẽ, trong số các nhà bí truyền học trên thế giới, những tư tưởng đáng kể về các vấn đề này đã xuất hiện, và các tiểu luận, bài viết cùng sách vở làm sáng tỏ các vấn đề này cũng đã ra đời. Thông tin tự cho là làm sáng tỏ lĩnh vực nghiên cứu huyền bí thâm áo này không bao giờ có thể đơn giản được giả định là chính xác. Nhiều cách giải thích phải được liên hệ với nhau và với những gì Chân sư DK đã nói; và thêm vào đó, khi có thể, phải có sự khảo sát nhạy bén và được soi sáng của chính mình về vấn đề, cùng lời chứng của những người nhạy cảm đáng tin cậy.

35. Still, these thoughts give us a little background from which to address the idea that the “eighteen fires must die down”.

35. Tuy vậy, những tư tưởng này cho chúng ta một chút bối cảnh để từ đó đề cập đến ý tưởng rằng “mười tám ngọn lửa phải lắng xuống”.

36. We see that, inherently, there is nothing wrong with the eighteen fires. They are just as necessary as the personality of which they are constituent forces.

36. Chúng ta thấy rằng, tự bản chất, không có gì sai trái nơi mười tám ngọn lửa. Chúng cũng cần thiết như chính phàm ngã mà chúng là những mãnh lực cấu thành.

37. There would be times in the evolution of the personality when one or other of the eighteen fires, or certain groups of them would definitely have to be cultivated. But, presumably, we do not stand at that point, or at least the students for whom these more advanced Rules were intended do not stand at that point. It is their task to see that the soul dominates all their living and that a focus within the soul gradually shifts into a still higher focus within the spiritual triad.

37. Sẽ có những thời kỳ trong sự tiến hoá của phàm ngã khi một trong mười tám ngọn lửa, hoặc một vài nhóm trong số đó, chắc chắn phải được vun trồng. Nhưng có lẽ chúng ta không đứng ở điểm ấy, hoặc ít nhất các đạo sinh mà những Quy luật cao cấp hơn này được dành cho cũng không đứng ở điểm ấy. Nhiệm vụ của họ là thấy rằng linh hồn thống ngự toàn bộ đời sống của họ, và một tiêu điểm bên trong linh hồn dần dần chuyển sang một tiêu điểm còn cao hơn trong Tam Nguyên Tinh Thần.

38. During such higher processes the lower fires cannot be allowed to ‘roar on’, as they would consume energy meant to promote the transference and refocussing of energy. Thus, in all evolutionary process over time, there is a natural and progressive de-emphasis of the ‘lower’ accompanying a progressive emphasis of the ‘higher’

38. Trong các tiến trình cao hơn như thế, các ngọn lửa thấp không thể được phép ‘gầm thét tiếp’, vì chúng sẽ tiêu hao năng lượng vốn nhằm thúc đẩy sự chuyển dịch và tái tập trung năng lượng. Do đó, trong toàn bộ tiến trình thăng thượng tiến hoá qua thời gian, có một sự giảm nhấn mạnh tự nhiên và tuần tự đối với cái ‘thấp’, đi kèm với một sự nhấn mạnh tuần tự đối với cái ‘cao’

39. Note, however, that the sentence asks that the eighteen fires “die down”—not that they disappear. Just as even the newly individualized soul has all chakras represented, even though only the base and sacral centers are active, so the initiate still utilizes the eighteen fires instrumentally, though they do not, as it were, ‘burn unto themselves alone’.

39. Tuy nhiên, hãy lưu ý rằng câu văn yêu cầu mười tám ngọn lửa “lắng xuống” — không phải là chúng biến mất. Cũng như ngay cả linh hồn mới biệt ngã hóa cũng có mọi luân xa được biểu hiện, dù chỉ các trung tâm ở đáy cột sống và xương cùng là hoạt động, điểm đạo đồ vẫn sử dụng mười tám ngọn lửa như các khí cụ, dù có thể nói rằng chúng không ‘chỉ cháy cho riêng chính chúng’.

40. When, however, an individual becomes a fourth degree initiate, a kind of death occurs in that process (literally or symbolically). The personality elementals are no longer necessitated for the Arhat/Master Who can build a mayavirupa (or will-created body of manifestation). Lower fires are marshaled and used, but they are not of the same nature as the fires which were consigned to animating the vehicles utilized by the lunar elementals.

40. Tuy nhiên, khi một cá nhân trở thành điểm đạo đồ bậc bốn, một loại cái chết xảy ra trong tiến trình ấy, theo nghĩa đen hoặc nghĩa biểu tượng. Các hành khí của phàm ngã không còn cần thiết đối với vị La Hán/Chân sư, Đấng có thể kiến tạo một thể ảo hóa, hay thể biểu hiện do ý chí tạo ra. Các ngọn lửa thấp được tập hợp và sử dụng, nhưng chúng không cùng bản chất với những ngọn lửa từng được giao phó để làm linh hoạt các vận cụ do các hành khí thái âm sử dụng.

41. Thus, ‘dying down’ may be the first phase experienced by the initiate standing at the third degree and advancing towards the fourth, but the ‘putting out’ of those fires (at least in a manner of speaking) is reserved for the one who has actually passed through the fourth degree and stands an Arhat or Master in a will-created body. What the exact technical process may be here is beyond the understanding of those who do not stand at that level of evolution, but as we approach the possibility of creating a mayavirupa we will understand what is necessary.

41. Vì vậy, ‘lắng xuống’ có thể là giai đoạn đầu tiên mà điểm đạo đồ đứng ở bậc ba và tiến về bậc bốn trải nghiệm; nhưng việc ‘dập tắt’ những ngọn lửa ấy, ít nhất theo một cách nói, được dành cho người đã thật sự vượt qua bậc bốn và đứng như một vị La Hán hay Chân sư trong một thể do ý chí tạo ra. Tiến trình kỹ thuật chính xác ở đây là gì thì vượt ngoài sự thấu hiểu của những ai không đứng ở cấp độ tiến hoá ấy, nhưng khi chúng ta đến gần khả năng tạo ra một thể ảo hóa, chúng ta sẽ thấu hiểu điều gì là cần thiết.

42. A word should be said about the number eighteen. It sums to nine, the number of the third ray, and hence of the third aspect of divinity. Nine is the (or, at least, a) number of completion, and signifies the end of the reign of the third aspect of divinity within the constitution of man—namely, the personality aspect.

42. Cần nói một lời về con số mười tám. Nó cộng lại thành chín, con số của cung ba, và do đó của phương diện thứ ba của thiên tính. Chín là con số, hoặc ít nhất là một con số, của sự hoàn tất, và biểu thị sự chấm dứt triều đại của phương diện thứ ba của thiên tính trong cấu tạo của con người — tức phương diện phàm ngã.

43. We notice, in English, at least (which is, at least, indicative) that the eighteenth letter of the alphabet is “R”. This letter is related to the “Beast”, 666, which three numbers also sum to eighteen or nine.

43. Chúng ta lưu ý rằng, ít nhất trong tiếng Anh, và điều này ít nhất cũng có tính gợi ý, chữ cái thứ mười tám của bảng chữ cái là “R”. Chữ cái này liên hệ với “Con Thú”, 666, mà ba con số ấy cũng cộng lại thành mười tám hoặc chín.

44. When the eighteen fires die down, the “Beast” also dies down, and finally dies.

44. Khi mười tám ngọn lửa lắng xuống, “Con Thú” cũng lắng xuống, và cuối cùng chết đi.

45. It is interesting that in the “growl” of many beasts, the sound which we interpret as “Rrrrrrrrrr” is prominent. It is something about how the mouth and tongue are held when a beast is growling. You can reproduce this for yourselves if you imitate a growl.

45. Điều thú vị là trong “tiếng gầm gừ” của nhiều con thú, âm thanh mà chúng ta diễn dịch là “Rrrrrrrrrr” rất nổi bật. Điều này có liên quan đến cách miệng và lưỡi được giữ khi một con thú đang gầm gừ. Các bạn có thể tự tái tạo điều này nếu bắt chước một tiếng gầm gừ.

46. We note as well how prominent is the “R” is the idea of the Roar. This “R” suggests the violent powers of nature which must be subdued by the higher faculties.

46. Chúng ta cũng lưu ý chữ “R” nổi bật như thế nào trong ý tưởng về tiếng Gầm. Chữ “R” này gợi lên các quyền năng hung bạo của thiên nhiên vốn phải được các năng lực cao hơn chế ngự.

47. We notice that the present Mahachohan is called Master “R” and, fittingly, He has dominion over the third aspect of divinity and the third ray as they relate to the manifestation of the human race.

47. Chúng ta lưu ý rằng Đức Mahachohan hiện nay được gọi là Chân sư “R”, và một cách thích hợp, Ngài có quyền cai quản phương diện thứ ba của thiên tính và cung ba khi chúng liên hệ với sự biểu hiện của nhân loại.

48. Notice that it is the group which sees or, perhaps, sees to the dying down of the eighteen fires.

48. Hãy lưu ý rằng chính nhóm là thành phần thấy hoặc có lẽ lo liệu cho sự lắng xuống của mười tám ngọn lửa.

49. Of course, in a way, each individual has to see to this process himself/herself. The esotericist is S/self-taught and S/self-disciplined.

49. Dĩ nhiên, theo một cách nào đó, mỗi cá nhân phải tự mình lo liệu tiến trình này. Nhà bí truyền học được tự ngã/Bản Ngã giáo huấn và được tự ngã/Bản Ngã rèn luyện.

50. But there is something here about the responsibility of the group to facilitate this phase of dying down, of transition into a higher focus, which is significant. We wish to understand what role the group really has in the process.

50. Nhưng ở đây có một điều gì đó quan trọng về trách nhiệm của nhóm trong việc tạo điều kiện cho giai đoạn lắng xuống này, giai đoạn chuyển tiếp vào một tiêu điểm cao hơn. Chúng ta muốn thấu hiểu nhóm thật sự có vai trò gì trong tiến trình ấy.

51. We do know that as we rise into the higher aspects of our nature and focus there, we do not do so as individuals. We remain, in a way, individuals, of course, but our sense of identity is continually changing and elevating, and we come to think of ourselves, factually, as “I the group”, and later “I the whole”.

51. Chúng ta quả biết rằng khi vươn lên các phương diện cao hơn của bản chất mình và tập trung tại đó, chúng ta không làm như vậy với tư cách các cá nhân. Dĩ nhiên, theo một cách nào đó, chúng ta vẫn là các cá nhân, nhưng ý thức về bản sắc của chúng ta không ngừng biến đổi và nâng cao, và chúng ta đi đến chỗ thật sự nghĩ về chính mình như “Tôi là nhóm”, rồi về sau là “Tôi là toàn thể”.

52. In discussing progress made in relation to these more advanced Rules we are not talking about individual process; rather, our progress occurs under the “Law of Group Progress”.

52. Khi bàn về tiến bộ đạt được liên quan đến các Quy luật cao cấp hơn này, chúng ta không nói về tiến trình cá nhân; đúng hơn, tiến bộ của chúng ta diễn ra dưới “Định luật Tiến Bộ Nhóm”.

53. It is the members of the materialistic group (the black lodge and its representatives of all grades) who seek to ascend, egoistically, and as individuals, unrelated in love to a group. Such individuals may be related to selfish groups, but only for selfish individual purposes.

53. Chính các thành viên của nhóm duy vật, tức Hắc đoàn và những đại diện của nó ở mọi cấp bậc, là những kẻ tìm cách thăng lên một cách vị kỷ, và như những cá nhân, không liên hệ với một nhóm trong tình thương. Những cá nhân như thế có thể liên hệ với các nhóm ích kỷ, nhưng chỉ vì những mục đích cá nhân ích kỷ.

54. They, too, may see to the subduing of the fires, but only for their own safety and the growth of their power. In subtle ways, they still serve the very forces which should be dying down.

54. Họ cũng có thể chăm lo việc chế ngự các ngọn lửa, nhưng chỉ vì sự an toàn của riêng họ và sự tăng trưởng quyền lực của họ. Theo những cách tinh vi, họ vẫn phụng sự chính các mãnh lực lẽ ra phải đang lắng xuống.

55. There are a number of different kinds of lesser lives: perhaps three kinds connected with the lunar nature of man. All of them, in a way, are elemental lives.

55. Có một số loại sự sống thấp kém khác nhau: có lẽ là ba loại liên hệ với bản chất thái âm của con người. Theo một nghĩa nào đó, tất cả chúng đều là sự sống hành khí.

56. The smallest of the lives are part of that group called “elemental essence”.

56. Những sự sống nhỏ bé nhất là một phần của nhóm được gọi là “Tinh chất hành khí”.

57. The next lives are those who are called the “lunar elementals” or “lunar lords”

57. Các sự sống kế tiếp là những gì được gọi là “các hành khí thái âm” hoặc “các nguyệt tinh quân”

58. These “lunar lords” may be of two varieties, higher and lower.

58. Những “nguyệt tinh quân” này có thể thuộc hai loại, cao và thấp.

59. The tabulation in A Treatise on Cosmic Fire p.844, is very interesting and important in this regard, for there the higher and lower “lunar pitris” are mentioned (just as the higher and lower “solar pitris”).

59. Bảng liệt kê trong Luận về Lửa Vũ Trụ trang 844 rất thú vị và quan trọng về phương diện này, vì ở đó có nhắc đến các “thái âm tổ phụ” cao và thấp, cũng như các “thái dương tổ phụ” cao và thấp.

60. Each of the two kinds of lunar pitris has different destinies—some to enter the animal kingdom and, thus, eventually individualize; the other to “contribute to the quaternic forms of the men of the next creation”.

60. Mỗi một trong hai loại thái âm tổ phụ có những số phận khác nhau—một số sẽ đi vào giới động vật và, do đó, cuối cùng sẽ biệt ngã hóa; số còn lại sẽ “đóng góp vào các hình tướng tứ phân của những con người trong cuộc sáng tạo kế tiếp”.

61. While this subject must be further researched in a cautious manner, it is possible that three different kinds of elemental life are associated with the lower part of the human energy system.

61. Dù chủ đề này cần được nghiên cứu thêm một cách thận trọng, có thể có ba loại sự sống hành khí khác nhau gắn liền với phần thấp của hệ thống năng lượng con người.

62. When the time of the fourth initiation dawns, they, all of them, return to the “reservoir of life”, improved in their nature through their association with the incarnating human soul.

62. Khi thời điểm của lần điểm đạo thứ tư ló rạng, tất cả chúng đều trở về “kho chứa sự sống”, với bản chất được cải thiện nhờ sự liên hệ của chúng với linh hồn con người đang lâm phàm.

63. The “reservoirs” are different in each case, but they have in common this—that they re interim conditions from which these lives may again be called forth when the time for the next evolutionary step arrives.

63. Trong mỗi trường hợp, các “kho chứa” đều khác nhau, nhưng chúng có điểm chung này—chúng là những trạng thái trung gian, từ đó các sự sống này có thể lại được gọi ra khi thời điểm cho bước thăng thượng tiến hoá kế tiếp đến.

64. The number and status of elemental lives is a matter for deep research. There are said to be three different kinds of “elemental essence”. There are also three kinds of “elementals” which are called “lunar pitris”, each kind associated with a different level of the personality—physical, astral and lower mental. If, in addition, there is a higher kind of lunar pitris (also associated with each of the three vehicles of the human being,) then we have yet another order of lives to consider in the constitution of man.

64. Số lượng và địa vị của các sự sống hành khí là một vấn đề cần nghiên cứu sâu. Người ta nói có ba loại “Tinh chất hành khí” khác nhau. Cũng có ba loại “hành khí” được gọi là “thái âm tổ phụ”, mỗi loại gắn liền với một cấp độ khác nhau của phàm ngã—hồng trần, cảm dục và hạ trí. Nếu, thêm vào đó, còn có một loại thái âm tổ phụ cao hơn, cũng gắn liền với mỗi một trong ba hiện thể của con người, thì chúng ta lại có thêm một cấp bậc sự sống khác cần xem xét trong cấu tạo của con người.

65. What is important to realize is that the fourth initiation in the human being releases each of these kinds of pitris to a “reservoir” or “pralayic” condition. A necessary attainment has been achieved, and they are released, so it would seem, for a cycle of ‘rest’ (whatever that might mean at their level of development).

65. Điều quan trọng cần nhận ra là lần điểm đạo thứ tư trong con người giải phóng mỗi loại tổ phụ này vào một “kho chứa” hay một trạng thái “thuộc Giai kỳ qui nguyên”. Một thành tựu cần thiết đã đạt được, và dường như chúng được giải phóng cho một chu kỳ “nghỉ ngơi”, dù điều đó có thể hàm ý gì ở cấp độ phát triển của chúng.

66. While elemental essence is involutionary in its nature, the lunar pitris (in both their proposed categories) are evolutionary (though unconscious) beings.

66. Trong khi Tinh chất hành khí có bản chất giáng hạ tiến hoá, thì các thái âm tổ phụ, trong cả hai phạm trù được đề xuất, là những thực thể thăng thượng tiến hoá, dù vô thức.

67. For the “monadic essence” the fourth degree of man represents a significant moment in their involutionary attainment.

67. Đối với “tinh chất chân thần”, cấp độ thứ tư của con người biểu thị một thời điểm quan trọng trong thành tựu giáng hạ tiến hoá của chúng.

68. For lunar pitris, the fourth degree of man represents a significant moment in their evolutionary attainment.

68. Đối với các thái âm tổ phụ, cấp độ thứ tư của con người biểu thị một thời điểm quan trọng trong thành tựu thăng thượng tiến hoá của chúng.

69. The fourth degree, therefore, represents a “parting of the ways” for temporarily associated lives from a number of different Creative Hierarchies.

69. Do đó, cấp độ thứ tư biểu thị một “sự chia ngả” đối với những sự sống tạm thời liên kết từ một số Huyền Giai Sáng Tạo khác nhau.

70. Man, we realize is a blend of the fourth, fifth and sixth and seventh Creative Hierarchies. His higher principles (the spiritual triad and the monad) receive contributions from the third and second Creative Hierarchies.

70. Chúng ta nhận ra rằng con người là một sự pha trộn của các Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, thứ năm, thứ sáu và thứ bảy. Các nguyên khí cao của y, tức Tam Nguyên Tinh Thần và chân thần, tiếp nhận những đóng góp từ các Huyền Giai Sáng Tạo thứ ba và thứ hai.

71. At the fourth degree, the fifth goes its own separate way (back to the “Heart of the Sun” we have been told. The sixth and seventh also separate, from each other, and from the fifth and the fourth. The fourth remains in association with third and the second who provide the substance for its higher principles.

71. Ở cấp độ thứ tư, Huyền Giai thứ năm đi theo con đường riêng của mình, trở về “Trái Tim Mặt Trời”, như chúng ta đã được cho biết. Huyền Giai thứ sáu và thứ bảy cũng tách rời nhau, và tách rời khỏi Huyền Giai thứ năm và thứ tư. Huyền Giai thứ tư vẫn liên hệ với Huyền Giai thứ ba và thứ hai, là những Huyền Giai cung cấp chất liệu cho các nguyên khí cao của nó.

72. A reservoir is thus a condition of disengagement from which a life may be called forth from latency to activity. Within various pralayic states, something of value is definitely happening, but largely unknown to those not involved in that state.

72. Như vậy, một kho chứa là một trạng thái tách rời, từ đó một sự sống có thể được gọi ra khỏi tiềm phục để đi vào hoạt động. Trong các trạng thái thuộc Giai kỳ qui nguyên khác nhau, chắc chắn có một điều gì đó giá trị đang diễn ra, nhưng phần lớn vẫn chưa được những ai không liên quan đến trạng thái ấy biết đến.

73. The purpose of the association of the members of the various Creative Hierarchies is distinct for each, but, in the last analysis, all who are associated benefit from the association.

73. Mục đích của sự liên kết giữa các thành viên của những Huyền Giai Sáng Tạo khác nhau là riêng biệt đối với mỗi bên, nhưng xét đến cùng, tất cả những ai liên kết đều được lợi ích từ sự liên kết ấy.

74. Some serve, and some are served. But even those who serve are also served, for their capacity increases and they grow in unexpected ways through sacrifice. As Master Morya has said, “When have you ever become less through sacrifice?” The pouring forth of the cup invokes its replenishment.

74. Một số phụng sự, và một số được phụng sự. Nhưng ngay cả những ai phụng sự cũng được phụng sự, vì năng lực của họ gia tăng và họ tăng trưởng theo những cách bất ngờ nhờ sự hi sinh. Như Chân sư Morya đã nói: “Có bao giờ các bạn trở nên kém đi nhờ hi sinh chăng?” Sự tuôn đổ của chiếc chén khẩn cầu việc nó được làm đầy trở lại.

The Themes Included Under the Sentence 3

Các Chủ Đề Bao Gồm Dưới Câu 3

B. Paragraph 1

B. Đoạn 1

Let the group see that all the eighteen fires die down and that the lesser lives return unto the reservoir of life. This they must bring about through the evocation of the Will. The lesser wheels must not for aye revolve in time and space. Only the greater Wheel must onward move and turn.

Hãy để nhóm thấy rằng tất cả mười tám ngọn lửa lắng xuống và các sự sống thấp kém trở về kho chứa sự sống. Họ phải thực hiện điều này thông qua việc gợi lên Ý Chí. Các bánh xe nhỏ hơn không được mãi mãi quay trong thời gian và không gian. Chỉ Bánh Xe lớn hơn mới phải tiến tới và xoay chuyển.

1. While this rule is apparently very concerned with the elemental lives in their various categories, the real focus is the achievement of freedom by the human unit who has reached the “fourth great cycle of attainment”. (Rule XI for Disciples and Initiates)

1. Dù quy luật này bề ngoài rất quan tâm đến các sự sống hành khí trong những phạm trù khác nhau của chúng, trọng tâm thật sự là việc đơn vị nhân loại đạt được tự do khi y đã đạt đến “chu kỳ thành tựu lớn thứ tư”. (Quy luật mười một dành cho các đệ tử và điểm đạo đồ)

2. In the gradual process of absorption, lesser wheels are absorbed into greater wheels, until only the greatest of all wheels remains (what we might call the ‘universal wheel’). (TCF 1084)

2. Trong tiến trình hấp thu dần dần, các bánh xe nhỏ hơn được hấp thu vào các bánh xe lớn hơn, cho đến khi chỉ còn lại bánh xe lớn nhất trong tất cả, điều mà chúng ta có thể gọi là “bánh xe vũ trụ”. (Luận về Lửa Vũ Trụ 1084)

3. This Rule is, therefore, focussed on processes which operate under the Law of Synthesis.

3. Do đó, Quy luật này tập trung vào các tiến trình vận hành dưới Định luật Tổng Hợp.

C. Paragraph 2

C. Đoạn 2

1. This rule is related to the fourth Creative Hierarchy, also to the quaternary to which we give the name “personality”. This rule reveals the nature of the fourth plane or fourth state of consciousness, that of buddhi or the plane of pure reason, the intuition. From the angle of the higher initiate, this rule is related to the activity of Monad, Soul and body within the planetary Life. (cf. RI p. 96)

1. Quy luật này liên hệ với Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, cũng như với bộ tứ mà chúng ta gọi là “phàm ngã”. Quy luật này mặc khải bản chất của cõi thứ tư hay trạng thái tâm thức thứ tư, tức Bồ đề hay cõi của lý trí thuần túy, trực giác. Từ góc độ của điểm đạo đồ cao cấp hơn, quy luật này liên hệ với hoạt động của Chân thần, Linh hồn và thể trong Sự sống Hành tinh. (x. Cung và Điểm Đạo, tr. 96)

This is a rule peculiarly related to the fourth Creative Hierarchy, embodying its goal as the Aryan rootrace can sense and approximate it. It is peculiarly related also to the quaternary to which we give the name “personality,” composed of a vital or etheric body, a sumtotal of emotional states and a mind, plus that integrated something which we call the whole man. Rightly understood and followed, this rule reveals the nature of the fourth plane or fourth state of consciousness, that of buddhi or the plane of pure reason, the intuition. From the angle of the higher initiate, this rule is related to the activity of Monad, Soul and body within the planetary Life, and covers a great mystery and an entire system of relationships of which man in the three worlds is a dim and uncertain shadow. Some clue to the higher quaternary dealt with in this rule will emerge dimly in your consciousness (more is not yet possible) if you will attempt to realise the following:

Đây là một quy luật liên hệ một cách đặc biệt với Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, thể hiện mục tiêu của nó như giống dân gốc Arya có thể cảm nhận và tiệm cận. Nó cũng liên hệ một cách đặc biệt với bộ tứ mà chúng ta gọi là “phàm ngã”, gồm một thể sinh lực hay thể dĩ thái, một toàn bộ tổng hợp các trạng thái cảm xúc và một thể trí, cộng với một điều gì đó đã được tích hợp mà chúng ta gọi là toàn thể con người. Nếu được thấu hiểu và tuân theo đúng đắn, quy luật này mặc khải bản chất của cõi thứ tư hay trạng thái tâm thức thứ tư, tức Bồ đề hay cõi của lý trí thuần túy, trực giác. Từ góc độ của điểm đạo đồ cao cấp hơn, quy luật này liên hệ với hoạt động của Chân thần, Linh hồn và thể trong Sự sống Hành tinh, và bao hàm một đại huyền nhiệm cùng một toàn bộ hệ thống các mối liên hệ mà con người trong ba cõi thấp chỉ là một bóng mờ nhạt và bất định. Một vài manh mối về bộ tứ cao hơn được đề cập trong quy luật này sẽ hiện ra lờ mờ trong tâm thức của bạn, vì hiện nay chưa thể có nhiều hơn, nếu bạn cố gắng nhận ra điều sau đây:

1. Here is given a brief essentialization of the significance of the entire fourth Rule.

1. Ở đây có một sự tinh yếu hóa ngắn gọn về thâm nghĩa của toàn bộ Quy luật thứ tư.

2. This the fourth Rule and, therefore, has applicability to the life of the fourth Creative Hierarchy.

2. Đây là Quy luật thứ tư và, do đó, có thể áp dụng cho đời sống của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư.

3. Each of the rootraces has an initiatory goal. The fourth initiation conferred adeptship in Atlantean times (c.f. DINA II 467). In the Aryan race one becomes adept at the fifth degree. Even in the Aryan race, at this time, the realization of the meaning of the fourth degree has yet to be deeply established.

3. Mỗi giống dân gốc đều có một mục tiêu điểm đạo. Lần điểm đạo thứ tư ban cho địa vị chân sư trong thời Atlantis (x. Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, tập hai, 467). Trong nhân loại Arya, người ta trở thành chân sư ở cấp độ thứ năm. Ngay cả trong nhân loại Arya, vào lúc này, việc chứng nghiệm ý nghĩa của cấp độ thứ tư vẫn còn chưa được thiết lập sâu xa.

4. The Fourth Creative Hierarchy is closely associated with the fourth, or buddhic, plane and also with the fourth initiation. This initiation is to be the emblematic achievement and attainment of the race in this fourth round within this fourth chain. The race, in its higher strata, must achieve the highest attainment of the adepts of the Atlantean period. Certain members of the race will achieve attainments still higher (a number have already done so), and, of course, many will have to wait until the fifth round for further attainments—but it will be the fifth round in the fourth chain. There are other chains. In this chain the fourth initiation has to be of special significance.

4. Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư liên hệ mật thiết với cõi thứ tư, hay cõi Bồ đề, và cũng với lần điểm đạo thứ tư. Điểm đạo này phải là thành tựu và chứng đạt mang tính biểu tượng của nhân loại trong cuộc tuần hoàn thứ tư này, bên trong Dãy Thứ Tư này. Nhân loại, trong các tầng lớp cao hơn của mình, phải đạt đến thành tựu cao nhất của các chân sư thời Atlantis. Một số thành viên của nhân loại sẽ đạt những thành tựu còn cao hơn nữa, và một số đã làm được như vậy; dĩ nhiên, nhiều người sẽ phải chờ đến cuộc tuần hoàn thứ năm để có những thành tựu xa hơn—nhưng đó sẽ là cuộc tuần hoàn thứ năm trong Dãy Thứ Tư. Còn có những Dãy khác. Trong Dãy này, lần điểm đạo thứ tư phải có thâm nghĩa đặc biệt.

5. The personality is, from one perspective, a quaternary—if we divide the sevenfold physical plane into its etheric and dense physical aspects. From another perspective the personality is a trinity. If however, we sum the three basic personality vehicles (the physical, emotional and lower mental vehicles) we arrive at a inclusive totality to which we give the name “personality”, and thus another quaternary is achieved—the personality and its three major vehicles. If we divide the personality into four vehicles, the personality as a whole may be regarded as a ‘quinary’. In this way we can understand personality (when unguided by soul) as an inverted five-pointed star.

5. Từ một viễn cảnh, phàm ngã là một bộ tứ—nếu chúng ta chia cõi hồng trần thất phân thành các phương diện dĩ thái và hồng trần đậm đặc của nó. Từ một viễn cảnh khác, phàm ngã là một tam vị. Tuy nhiên, nếu chúng ta cộng gộp ba hiện thể căn bản của phàm ngã, tức các hiện thể hồng trần, cảm xúc và hạ trí, chúng ta đạt đến một toàn thể bao gồm mà chúng ta gọi là “phàm ngã”, và như vậy một bộ tứ khác được thành tựu—phàm ngã ba hiện thể chính của nó. Nếu chúng ta chia phàm ngã thành bốn hiện thể, thì phàm ngã như một toàn thể có thể được xem như một “bộ năm”. Theo cách này, chúng ta có thể hiểu phàm ngã, khi không được linh hồn hướng dẫn, như một ngôi sao năm cánh đảo ngược.

6. That “integrated something called the whole man” is another name for “personality”. It is fourfold or fivefold depending upon the point of view taken.

6. “Điều gì đó đã được tích hợp gọi là toàn thể con người” là một tên gọi khác của “phàm ngã”. Nó là tứ phân hay ngũ phân tùy theo quan điểm được chọn.

7. We are told that the Rule, if rightly understood, reveals buddhi—the nature of the fourth plane or state of consciousness. In other words, the dying down of the fires associated with the lower quaternary, personality, reveals a kind of higher quaternary of which the buddhic plane is the lowest (and first revealed) aspect.

7. Chúng ta được cho biết rằng Quy luật này, nếu được thấu hiểu đúng đắn, sẽ mặc khải Bồ đề—bản chất của cõi thứ tư hay trạng thái tâm thức thứ tư. Nói cách khác, sự lắng xuống của các ngọn lửa gắn liền với bộ tứ thấp, tức phàm ngã, mặc khải một loại bộ tứ cao mà cõi Bồ đề là phương diện thấp nhất, và là phương diện đầu tiên được mặc khải.

8. There is nothing inherently wrong with the lower eighteen fires. There comes a day, however, when they simply outlive their usefulness to the advancing soul in incarnation; their continued obtrusion into the consciousness becomes impedimentary, and they must be assigned a lower priority.

8. Không có gì sai trái cố hữu nơi mười tám ngọn lửa thấp. Tuy nhiên, sẽ đến một ngày khi chúng đơn giản đã hết còn hữu dụng đối với linh hồn đang tiến tới trong nhập thể; sự xâm nhập liên tục của chúng vào tâm thức trở thành một chướng ngại, và chúng phải được đặt vào một ưu tiên thấp hơn.

9. We have often discussed the equivalence of buddhi, intuition and pure reason. When buddhi becomes a fact in consciousness the disciple/initiate has entered the realm of unmediated truth, and major illusions are lifted (especially, the illusion of separateness).

9. Chúng ta thường bàn về sự tương đương giữa Bồ đề, trực giác và lý trí thuần túy. Khi Bồ đề trở thành một sự thật trong tâm thức, đệ tử hoặc điểm đạo đồ đã đi vào cõi giới của chân lý không qua trung gian, và các ảo tưởng lớn được nâng bỏ, đặc biệt là ảo tưởng về sự chia rẽ.

10. Notice carefully that these Rules do not apply to only one level of evolution; they are useful for the advancing disciple, but also useful (and indicative of other processes) for initiates of high degree. Our task is to understand their application to the higher initiates, but to make application of them at our own level of unfoldment.

10. Hãy chú ý cẩn thận rằng các Quy luật này không chỉ áp dụng cho một cấp độ tiến hoá duy nhất; chúng hữu ích cho đệ tử đang tiến tới, nhưng cũng hữu ích, và chỉ ra các tiến trình khác, đối với các điểm đạo đồ cấp cao. Nhiệm vụ của chúng ta là thấu hiểu sự áp dụng của chúng đối với các điểm đạo đồ cao hơn, nhưng áp dụng chúng ở cấp độ khai mở của chính mình.

11. Just as the three personality vehicles (considering the physical-etheric vehicle as a single unit) are synthesized in the life of that unitary lunar lord we call the personality, so the three periodical vehicles are synthesized into that, which is a higher correspondence of the personality within the “planetary Life”.

11. Cũng như ba hiện thể phàm ngã, nếu xem hiện thể hồng trần-dĩ thái như một đơn vị duy nhất, được tổng hợp trong sự sống của vị nguyệt tinh quân đơn nhất mà chúng ta gọi là phàm ngã, thì ba hiện thể chu kỳ cũng được tổng hợp vào cái vốn là một tương ứng cao hơn của phàm ngã bên trong “Sự sống Hành tinh”.

12. We have a system of analogies and correspondences to consider when we compare the three periodical vehicles (personality, causal body and monadic vehicle) and their synthesis with the three personality vehicles and their synthesis, the personality.

12. Chúng ta có một hệ thống các tương đồng và tương ứng cần xem xét khi so sánh ba hiện thể chu kỳ, tức phàm ngã, thể nguyên nhân và hiện thể chân thần, cùng sự tổng hợp của chúng, với ba hiện thể phàm ngã và sự tổng hợp của chúng, tức phàm ngã.

13. The personality as a whole corresponds to the physical-etheric vehicle considered as a unit. The soul corresponds to the astral vehicle. The monad corresponds to the mental vehicle.

13. Phàm ngã như một toàn thể tương ứng với hiện thể hồng trần-dĩ thái được xem như một đơn vị. Linh hồn tương ứng với hiện thể cảm dục. Chân thần tương ứng với hiện thể trí tuệ.

14. What is it, then, which corresponds to the personality as a whole? Whatever it may be, it may well have its ‘home’ on the logoic plane and be related to Sanat Kumara, Who is focussed ‘there’ and Who, in a manner of speaking, is the ‘Prototypal Man’.

14. Vậy thì, điều gì tương ứng với phàm ngã như một toàn thể? Dù đó là gì, rất có thể nó có “ngôi nhà” của mình trên cõi Thượng đế và liên hệ với Đức Sanat Kumara, Đấng tập trung “ở đó” và, theo một cách nói, là “Con Người Nguyên Mẫu”.

15. Whatever may be the synthesis of the monad (and its two emanations, the soul and personality), that synthesis is occurring within the Lord of the World, and by further extrapolation, with the Planetary Logos, itself

15. Dù sự tổng hợp của chân thần, cùng hai phát xạ của nó là linh hồn và phàm ngã, có thể là gì đi nữa, sự tổng hợp ấy đang diễn ra bên trong Đức Chúa Tể Thế Giới, và nếu suy rộng thêm, bên trong chính Hành Tinh Thượng đế

16. We may tend to think that our ultimate identity is our monad (as that monad is now expressing). This would be only imperfectly true, for the present monadic state is a limitation upon what we even more essentially are.

16. Chúng ta có thể có khuynh hướng nghĩ rằng bản sắc tối hậu của mình là chân thần của mình, như chân thần ấy hiện đang biểu hiện. Điều này chỉ đúng một cách chưa hoàn hảo, vì trạng thái chân thần hiện tại là một giới hạn đối với điều mà chúng ta còn là một cách thiết yếu hơn nữa.

17. In principle, all things are derived from the number one, and in a deeply occult sense the monad is a number two. There is always a point within the triangle. The monad is the most elevated angle of its triangle, but in a deeper sense is not the point at the center of the triangle.

17. Về nguyên lý, mọi sự đều bắt nguồn từ con số một, và theo một nghĩa huyền bí sâu xa, chân thần là con số hai. Luôn luôn có một điểm bên trong tam giác. Chân thần là góc cao nhất của tam giác của nó, nhưng theo một nghĩa sâu hơn thì không phải là điểm ở trung tâm của tam giác.

18. In a way, the real monad is the ‘Ray of the Absolute’ focussed within the monadic sheath, just as it is focussed within the causal body and the personality. What we normally consider the monad is simply the highest vehicle of the monad (the highest of three such vehicles). The soul-in-incarnation is really the Ray of the Absolute; the soul within the causal body is really the Ray of the Absolute; and the soul within the monadic sheath is really the Ray of the Absolute—the true Monad, of which there is, essentially, only one in Cosmos.

18. Theo một cách nào đó, chân thần thật sự là “Cung của Tuyệt Đối” được tập trung trong vỏ bọc chân thần, cũng như nó được tập trung trong thể nguyên nhân và phàm ngã. Điều chúng ta thường xem là chân thần chỉ đơn giản là hiện thể cao nhất của chân thần, tức cao nhất trong ba hiện thể như thế. Linh hồn đang nhập thể thật sự là Cung của Tuyệt Đối; linh hồn bên trong thể nguyên nhân thật sự là Cung của Tuyệt Đối; và linh hồn bên trong vỏ bọc chân thần thật sự là Cung của Tuyệt Đối—Chân thần đích thực, mà về bản chất, chỉ có một trong Vũ trụ.

19. These are abstract matters and are of philosophical interest though, perhaps, of no immediate utility to students at our stage of unfoldment. To a Master such matters will be both vital and applicable.

19. Đây là những vấn đề trừu tượng và có giá trị triết học, dù có lẽ chưa có ích dụng tức thời đối với các đạo sinh ở giai đoạn khai mở của chúng ta. Đối với một Chân sư, những vấn đề như thế vừa thiết yếu vừa có thể áp dụng.

20. Returning to our main consideration, what we are looking for what is called a “higher quaternary”. Master DK is going to give us some hints about what it may be. We already know what the “lower quaternary” is; it is the personality.

20. Trở lại với điều chúng ta đang xem xét chính yếu, điều chúng ta đang tìm kiếm là cái được gọi là “bộ tứ cao hơn”. Chân sư DK sắp cho chúng ta một vài gợi ý về điều đó có thể là gì. Chúng ta đã biết “bộ tứ thấp” là gì; đó là phàm ngã.

21. In a way, Pythagoras has already given us certain hints when he presented (or re-presented) the Tetraktys. The Tetraktys is a symbol of many quaternaries, but refers in this case to a higher quaternary of man which begins on the first plane (the logoic plane) and of which the buddhic vehicle is the lowest aspect.

21. Theo một cách nào đó, Pi-ta-go đã cho chúng ta một số gợi ý khi ông trình bày, hay tái trình bày, Tứ Thể. Tứ Thể là một biểu tượng của nhiều bộ tứ, nhưng trong trường hợp này nó quy chiếu đến một bộ tứ cao của con người, bắt đầu trên cõi thứ nhất, tức cõi Thượng đế, và trong đó hiện thể Bồ đề là phương diện thấp nhất.

22. Although our normal life is still very much involved with the lower quaternary, from which we are not liberated until the fourth initiation, it helps to know something of the ‘identificatory destiny’ which lies ahead.

22. Mặc dù đời sống bình thường của chúng ta vẫn còn liên hệ rất nhiều với bộ tứ thấp, khỏi đó chúng ta chưa được giải thoát cho đến lần điểm đạo thứ tư, việc biết đôi điều về “định mệnh đồng nhất hóa” nằm phía trước cũng là điều hữu ích.

D. Paragraph 3

D. Đoạn 3

1. Major quaternaries:

1. Các bộ tứ chính:

2. The Monad relates the initiate to the Will of God, to the Council at Shamballa, to forces active on the planet Pluto, and on another planet which must remain nameless, and also to the Central Spiritual Sun. (cf. RI p. 96)

2. Chân thần liên hệ điểm đạo đồ với Ý Chí của Thượng Đế, với Hội Đồng tại Shamballa, với các mãnh lực hoạt động trên hành tinh Sao Diêm Vương, và trên một hành tinh khác phải được giữ vô danh, cũng như với Mặt trời Tinh thần Trung Ương. (x. Cung và Điểm Đạo, tr. 96)

3. The Soul relates the initiate to the Love of God, to the consciousness aspect of Deity, to the Hierarchy as a whole, entering it through the Ashram of the Master Who has aided him to take initiation, to the planets Venus and Mercury, to the Sun Sirius, and to the Heart of the Sun. (cf. RI p. 96)

3. Linh hồn liên hệ điểm đạo đồ với Tình thương của Thượng đế, với phương diện tâm thức của Thượng đế, với toàn thể Thánh đoàn, mà y đi vào qua ashram của vị Chân sư đã trợ giúp y nhận điểm đạo, với các hành tinh Sao Kim và Sao Thủy, với Mặt Trời Thiên Lang, và với Trái Tim Mặt Trời. (x. Cung và Điểm Đạo, tr. 96)

4. The Personality relates the initiate to the Mind [Page 97] of God, to the intelligence principle of the planetary Life, to humanity as a whole, to Saturn and Mars, and to the physical Sun through its pranic aspect. (cf. RI p. 96-97)

4. Phàm ngã liên hệ điểm đạo đồ với Trí [Trang 97] của Thượng đế, với nguyên khí thông tuệ của Sự sống Hành tinh, với toàn thể nhân loại, với Sao Thổ và Sao Hỏa, và với Mặt Trời hồng trần qua phương diện prana của nó. (x. Cung và Điểm Đạo, tr. 96-97)

5. The Life aspect of the planet, or that great ocean of forces in which all these three aspects live and move and have their being, relates the initiate to that Life which works out through Shamballa, through the Hierarchy and through Humanity, thus forming part of the great sumtotal of manifestation. (cf. RI p. 97)

5. Phương diện Sự sống của hành tinh, hay đại dương mãnh lực vĩ đại trong đó cả ba phương diện này sống, chuyển động và hiện hữu, liên hệ điểm đạo đồ với Sự sống đang tự biểu lộ qua Shamballa, qua Thánh đoàn và qua Nhân loại, do đó tạo thành một phần của toàn bộ tổng hợp vĩ đại của biểu hiện. (x. Cung và Điểm Đạo, tr. 97)

The Monad relates the initiate to the Will of God, to the Council at Shamballa, to forces active on the planet Pluto, and on another planet which must remain nameless, and also to the Central Spiritual Sun.

Chân thần liên hệ điểm đạo đồ với Ý Chí của Thượng Đế, với Hội Đồng tại Shamballa, với các mãnh lực đang hoạt động trên hành tinh Sao Diêm Vương, và trên một hành tinh khác phải được giữ vô danh, cũng như với Mặt trời Tinh thần Trung Ương.

1. What this can mean is that when the monad’s influence is registered by the initiate, there is a great infusion of the Will of God.

1. Điều này có thể hàm ý rằng khi ảnh hưởng của chân thần được điểm đạo đồ ghi nhận, thì có một sự truyền nhập lớn lao của Ý Chí của Thượng Đế.

2. The Council at Shamballa is composed of very great lives—lives Who have achieved a level of attainment far higher than any human being (especially of the Earth Chain) has been able to achieve. The normal high initiate will be able to register some of the decisions taken in this Council, but cannot engage in full participation; it is not permitted.

2. Hội Đồng tại Shamballa gồm những Sự Sống vô cùng vĩ đại—những Sự Sống đã đạt tới một cấp độ thành tựu cao hơn rất nhiều so với bất cứ con người nào, đặc biệt là thuộc Dãy Địa Cầu, từng có thể đạt được. Điểm đạo đồ cao cấp bình thường sẽ có thể ghi nhận một số quyết định được đưa ra trong Hội Đồng này, nhưng không thể tham dự trọn vẹn; điều đó không được phép.

3. Pluto is a most mysterious planet—“non sacred” in one way, and yet “esoteric” in another. Pluto stimulates much evil on our planet, but as well, it confers the ability to recognize, confront and destroy evil.

3. Sao Diêm Vương là một hành tinh hết sức huyền bí—“không thiêng liêng” theo một cách, nhưng lại “huyền bí” theo một cách khác. Sao Diêm Vương kích thích nhiều điều tà ác trên hành tinh chúng ta, nhưng đồng thời cũng ban cho khả năng nhận biết, đối diện và tiêu diệt điều tà ác.

4. What is the identity of the planet called here, “another planet”, and why must it remain nameless? There is certainly a relation between Vulcan and Pluto, being two planets usually associated with the first ray. They are also related to the crown center and the center at the based of the spine, respectively.

4. Đâu là căn tính của hành tinh được gọi ở đây là “một hành tinh khác”, và tại sao nó phải được giữ vô danh? Chắc chắn có một mối liên hệ giữa Vulcan và Sao Diêm Vương, vì đây là hai hành tinh thường được liên kết với cung một. Chúng cũng lần lượt liên hệ với trung tâm đỉnh đầu và trung tâm ở đáy cột sống.

5. Uranus, the “home of electric fire” is also a good candidate for this other plane, and in its own right is related to the highest head center, especially after the third initiation.

5. Sao Thiên Vương, “ngôi nhà của Lửa Điện”, cũng là một ứng viên thích hợp cho hành tinh kia, và tự bản chất nó liên hệ với trung tâm đầu cao nhất, đặc biệt sau lần điểm đạo thứ ba.

“The throat centre is ruled by Saturn just as the two head centres are ruled respectively by Uranus (ruling the head centre) and Mercury (ruling the ajna centre). This is only where the disciple is concerned; the rulership changes after the third initiation or before the first.” (EH 151)

“Trung tâm cổ họng do Sao Thổ cai quản, cũng như hai trung tâm đầu lần lượt do Sao Thiên Vương cai quản trung tâm đầu và Sao Thủy cai quản trung tâm ajna. Điều này chỉ đúng khi xét đến đệ tử; quyền cai quản thay đổi sau lần điểm đạo thứ ba hoặc trước lần điểm đạo thứ nhất.” (Trị Liệu Huyền Môn 151)

6. These two planets (Vulcan and Uranus) are probabilities. If the monad is related to a planet other than these, it would come as something of a surprise (which may be one of the reasons why that planet “must remain nameless”).

6. Hai hành tinh này, Vulcan và Sao Thiên Vương, đều là những khả năng có thể. Nếu chân thần liên hệ với một hành tinh khác ngoài hai hành tinh này, thì điều đó sẽ khá bất ngờ, và có thể đây là một trong những lý do khiến hành tinh ấy “phải được giữ vô danh”.

7. If the monad relates the initiate to the Central Spiritual Sun, and if Uranus is often associated with the Central Spiritual Sun (as it is in the Leo chapter of Esoteric Astrology), there is a strong possibility that the unnamed planet may be Uranus. Certainly, the monad is associated with “electric fire” more than the other two fires, Uranus is always associated with electric fire. There is, therefore, every reason to think of the monad as essentially related to Uranus.

7. Nếu chân thần liên hệ điểm đạo đồ với Mặt trời Tinh thần Trung Ương, và nếu Sao Thiên Vương thường được liên kết với Mặt trời Tinh thần Trung Ương, như trong chương về Sư Tử của Chiêm Tinh Học Nội Môn, thì rất có khả năng hành tinh vô danh ấy là Sao Thiên Vương. Chắc chắn, chân thần liên kết với “Lửa Điện” nhiều hơn hai loại lửa kia, và Sao Thiên Vương luôn luôn được liên kết với Lửa Điện. Do đó, có mọi lý do để nghĩ rằng chân thần về căn bản liên hệ với Sao Thiên Vương.

“Neptune is looked upon as the repository of the “solar flames,” and Uranus as the home of ‘fire electric’.” (TCF 1154)

“Sao Hải Vương được xem là kho chứa của ‘các ngọn lửa thái dương’, và Sao Thiên Vương là ngôi nhà của ‘lửa điện’.” (Luận về Lửa Vũ Trụ 1154)

The Soul relates the initiate to the Love of God, to the consciousness aspect of Deity, to the Hierarchy as a whole, entering it through the Ashram of the Master Who has aided him to take initiation, to the planets Venus and Mercury, to the Sun Sirius, and to the Heart of the Sun.

Linh hồn liên hệ điểm đạo đồ với Tình thương của Thượng Đế, với phương diện tâm thức của Thượng đế, với toàn thể Thánh Đoàn, đi vào Thánh Đoàn qua ashram của Chân sư đã trợ giúp y nhận điểm đạo, với các hành tinh Sao Kim và Sao Thủy, với Mặt Trời Sirius, và với Trái Tim của Mặt Trời.

8. Some amazing astrological relationships are presented in this section, the previous and the following.

8. Một số mối liên hệ chiêm tinh đáng kinh ngạc được trình bày trong phần này, phần trước và phần sau.

9. When we achieve soul consciousness, the relations into which we enter are detailed above.

9. Khi chúng ta đạt được tâm thức linh hồn, những mối liên hệ mà chúng ta bước vào đã được trình bày chi tiết ở trên.

10. The soul is what might be called the ‘factor of relational sensitivity’. It relates the initiate to those entities or beings which function in terms of relation.

10. Linh hồn là điều có thể được gọi là “yếu tố nhạy bén trong liên hệ”. Nó liên hệ điểm đạo đồ với những thực thể hoặc hữu thể hoạt động theo phương diện liên hệ.

11. When soul consciousness supersedes personality consciousness, the initiate becomes far more aware and sensitive than previously. He is then aware, to an extent, of the Master and the Master’s will, and the Ashramic Program to enact that will. Through the soul, the initiate finds the Hierarchy (considering it as a whole).

11. Khi tâm thức linh hồn thay thế tâm thức phàm ngã, điểm đạo đồ trở nên ý thức và nhạy bén hơn trước rất nhiều. Khi ấy, trong một mức độ nào đó, y ý thức được Chân sư và ý chí của Chân sư, cũng như Chương Trình của ashram nhằm thực thi ý chí ấy. Qua linh hồn, điểm đạo đồ tìm thấy Thánh Đoàn, xét như một toàn thể.

12. Then we are presented with the interesting idea that the soul relates the initiate to both Venus and Mercury. While a close connection to Venus may have been expected, perhaps relations to Mercury have not. However, we must remember that the Buddha and the Christ are strongly representative of the soul nature of Man, and that the Buddha is symbolically Mercury and the Christ is symbolically Venus.

12. Khi ấy chúng ta được trình bày ý tưởng thú vị rằng linh hồn liên hệ điểm đạo đồ với cả Sao Kim lẫn Sao Thủy. Trong khi một mối liên hệ mật thiết với Sao Kim có thể đã được dự liệu, thì có lẽ những liên hệ với Sao Thủy lại không như vậy. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng Đức Phật và Đức Christ là những đại diện mạnh mẽ cho bản chất linh hồn của Con Người, và Đức Phật về mặt biểu tượng là Sao Thủy, còn Đức Christ về mặt biểu tượng là Sao Kim.

13. The soul is the “Divine Hermaphrodite”, meaning not only that it is ‘bi-sexual’ and ‘trans-sexual’, but that it has the qualities of both Hermes and Aphrodite.

13. Linh hồn là “Lưỡng Tính Thiêng Liêng”, nghĩa là không chỉ “song tính” và “siêu giới tính”, mà còn mang các phẩm tính của cả vị thần đưa tin và nữ thần tình yêu.

14. Hermes is Mercury and confers the ability to communicate as will with a wide network of related ‘souls’, and to act as a messenger between that which is ‘above’ (namely, the spirit) and that which is ‘below’ (namely the personality.

14. Vị thần đưa tin tương ứng với Sao Thủy và ban cho khả năng giao tiếp theo ý chí với một mạng lưới rộng lớn các “linh hồn” có liên hệ, đồng thời hành động như một sứ giả giữa cái ở “trên”, tức tinh thần, và cái ở “dưới”, tức phàm ngã.

15. Aphrodite is Venus relating the soul to all souls in magnetic love.

15. Nữ thần tình yêu tương ứng với Sao Kim, liên hệ linh hồn với mọi linh hồn trong tình thương từ tính.

16. There are many virtues to be found associated with the soul, but perhaps the light and love of Venus and the light and power to link associated with Mercury are among the most characteristic.

16. Có nhiều đức hạnh được thấy là liên kết với linh hồn, nhưng có lẽ ánh sáng và tình thương của Sao Kim, cùng ánh sáng và quyền năng liên kết gắn với Sao Thủy, là những đặc tính tiêu biểu nhất.

17. We note, by the way, that the Master helps the one who would be initiate take initiation. How the Master does this we are not given to know. The help must be of a very subjective, occult kind. And, the Master will be one of the becoming-initiate’s sponsors in the initiation ceremony, which is certainly of tangible assistance. Help however, is obviously offered before the confirmatory event.

17. Nhân tiện, chúng ta ghi nhận rằng Chân sư giúp người sắp trở thành điểm đạo đồ nhận điểm đạo. Chúng ta không được cho biết Chân sư thực hiện điều này như thế nào. Sự trợ giúp ấy hẳn thuộc một loại rất nội tại và huyền bí. Và Chân sư sẽ là một trong những vị bảo trợ của người đang trở thành điểm đạo đồ trong nghi lễ điểm đạo, điều này chắc chắn là một sự trợ giúp cụ thể. Tuy nhiên, rõ ràng sự trợ giúp được trao trước biến cố xác nhận ấy.

18. The soul also relates the initiates to the “Sun Sirius” (from which our entire program of soul culture is sponsored). The relation of Venus to the Earth is analogous to the relation between Sirius and the Sun. The Solar Angels are related to both Venus and Sirius.

18. Linh hồn cũng liên hệ các điểm đạo đồ với “Mặt Trời Sirius”, từ đó toàn bộ chương trình vun bồi linh hồn của chúng ta được bảo trợ. Mối liên hệ của Sao Kim với Trái Đất tương đồng với mối liên hệ giữa Sirius và Mặt Trời. Các Thái dương Thiên Thần liên hệ với cả Sao Kim lẫn Sirius.

19. Mercury, too, has its very close relation to Sirius. In the following reference from The Secret Doctrine we see this relationship named.

19. Sao Thủy cũng có mối liên hệ rất mật thiết với Sirius. Trong đoạn tham chiếu sau đây từ Giáo Lý Bí Nhiệm, chúng ta thấy mối liên hệ này được nêu tên.

“1. Sirius was called the ‘Dog Star.’ It was the star of Mercury, or Buddha, called the ‘Great Instructor of mankind’.” (S.D. II. 391.)

“1. Sirius được gọi là ‘Sao Chó’. Nó là ngôi sao của Sao Thủy, hay Đức Phật, được gọi là ‘Đại Huấn Sư của nhân loại’.” (Giáo Lý Bí Nhiệm II. 391.)

20. We must remember that Sirius has associated with it the second, fifth and sixth rays (perhaps in ascending order). Sirius is, in a way, a ‘Star of Manas’ and initiates tread the Path to Sirius for the stimulation of Manas. Both Mercury and Venus are highly manasic planets, one having a definite fifth ray and the other (Mercury) almost certainly as well (perhaps at the monadic level). As well, Venus has a second and sixth ray associated with it, thus rendering it resonant to Sirius.

20. Chúng ta phải nhớ rằng Sirius có liên hệ với cung hai, cung năm và cung sáu, có lẽ theo thứ tự tăng dần. Theo một cách nào đó, Sirius là “Ngôi Sao của Manas”, và các điểm đạo đồ bước trên Đường Đạo đến Sirius để được kích thích Manas. Cả Sao Thủy lẫn Sao Kim đều là những hành tinh mang tính manas cao, một hành tinh có cung năm rõ rệt và hành tinh kia, Sao Thủy, hầu như chắc chắn cũng vậy, có lẽ ở cấp độ chân thần. Đồng thời, Sao Kim có cung hai và cung sáu liên kết với nó, do đó khiến nó cộng hưởng với Sirius.

21. The “Heart of the Sun” is one way of naming the soul nature of the Solar Logos. Solar Angels are related to Sirius, to the Heart of our Sun (though not exclusively to the Heart—for some are related to the “Central Spiritual Sun”) and to Venus. The implication in the alignment the Tibetan suggests is that streams of energy from the Heart of the Sun must pass through both Mercury and Venus. Of course, the Heart of the Sun must, necessarily, sustain all planets in our solar system, but perhaps certain of them are more related to that Heart than others. Usually, one would think of Venus, Jupiter and Neptune, but the Tibetan’s association of Mercury with both Sirius and the Heart of the Sun indicates that it would be wise to consider Mercury in relation to the second aspect as well as to the strictly manasic or third aspect.

21. “Trái Tim của Mặt Trời” là một cách gọi bản chất linh hồn của Thái dương Thượng đế. Các Thái dương Thiên Thần liên hệ với Sirius, với Trái Tim của Mặt Trời chúng ta, dù không duy nhất với Trái Tim, vì một số vị liên hệ với “Mặt trời Tinh thần Trung Ương”, và với Sao Kim. Hàm ý trong sự chỉnh hợp mà Chân sư Tây Tạng gợi ra là các dòng năng lượng từ Trái Tim của Mặt Trời phải đi qua cả Sao Thủy lẫn Sao Kim. Dĩ nhiên, Trái Tim của Mặt Trời tất yếu phải nâng đỡ tất cả các hành tinh trong hệ mặt trời của chúng ta, nhưng có lẽ một số hành tinh liên hệ với Trái Tim ấy nhiều hơn những hành tinh khác. Thông thường, người ta sẽ nghĩ đến Sao Kim, Sao Mộc và Sao Hải Vương, nhưng việc Chân sư Tây Tạng liên kết Sao Thủy với cả Sirius lẫn Trái Tim của Mặt Trời cho thấy sẽ là khôn ngoan nếu xét Sao Thủy trong tương quan với phương diện thứ hai cũng như với phương diện manas thuần túy hay phương diện thứ ba.

The Personality relates the initiate to the Mind [Page 97] of God, to the intelligence principle of the planetary Life, to humanity as a whole, to Saturn and Mars, and to the physical Sun through its pranic aspect.

Phàm ngã liên hệ điểm đạo đồ với Trí của [Page 97] Thượng Đế, với nguyên khí thông tuệ của Sự Sống hành tinh, với toàn thể nhân loại, với Sao Thổ và Sao Hỏa, và với Mặt Trời hồng trần qua phương diện prana của nó.

22. The personality is the third aspect of the human energy system consisting of monad, soul and personality. The Mind of God is the third of three principles of Deity: the Will of God, the Love of God and the Mind of God.

22. Phàm ngã là phương diện thứ ba của hệ thống năng lượng con người gồm chân thần, linh hồn và phàm ngã. Trí của Thượng Đế là nguyên khí thứ ba trong ba nguyên khí của Thượng đế: Ý Chí của Thượng Đế, Tình thương của Thượng Đế và Trí của Thượng Đế.

23. As the personality is the third of the periodical vehicles, its connection to the third aspect of divinity is easily understood.

23. Vì phàm ngã là vận cụ thứ ba trong các vận cụ chu kỳ, nên mối liên hệ của nó với phương diện thứ ba của thiên tính là điều dễ hiểu.

24. It is interesting that Saturn and Mars are (in conventional astrology) considered to be “malefic” planets (those which bring difficulty and even “evil”). These planets are, however, those which test and try the personality, and are the ruling planets of two signs which specifically prepare the disciple to enter the ranks of Hierarchy. These two signs are, as we may know, Scorpio (ruled esoterically and exoterically by Mars) and Capricorn (ruled esoterically and exoterically by Saturn).

24. Điều thú vị là Sao Thổ và Sao Hỏa, trong chiêm tinh học thông thường, được xem là các hành tinh “hung tinh”, tức những hành tinh mang lại khó khăn và thậm chí “điều ác”. Tuy nhiên, các hành tinh này là những hành tinh thử thách và khảo nghiệm phàm ngã, đồng thời là các hành tinh cai quản hai dấu hiệu đặc biệt chuẩn bị cho đệ tử bước vào hàng ngũ Thánh Đoàn. Hai dấu hiệu ấy, như chúng ta có thể biết, là Hổ Cáp, do Sao Hỏa cai quản cả về mặt nội môn lẫn ngoại môn, và Ma Kết, do Sao Thổ cai quản cả về mặt nội môn lẫn ngoại môn.

25. Saturn, of course, is a major distributor of the third ray (for Saturn has a third ray monad and very probably a third ray soul). Mars, while it does not distribute the third ray is, with Saturn and third ray Earth, a planet which holds a specific place within the body of manifestation of a great third ray Entity. In relation to this Entity, Earth stands for the physical body, Mars for the astral body and Saturn for the mental body. This third ray connection is yet another reason why Saturn and Mars are related to the third aspect of the human energy system—the personality.

25. Dĩ nhiên, Sao Thổ là một nhà phân phối chính của cung ba, vì Sao Thổ có chân thần cung ba và rất có thể có linh hồn cung ba. Sao Hỏa, dù không phân phối cung ba, nhưng cùng với Sao Thổ và Trái Đất cung ba, là một hành tinh giữ một vị trí đặc biệt trong thể biểu hiện của một Thực Thể cung ba vĩ đại. Trong tương quan với Thực Thể này, Trái Đất tượng trưng cho thể xác, Sao Hỏa cho thể cảm dục và Sao Thổ cho thể trí. Mối liên hệ cung ba này là một lý do khác nữa khiến Sao Thổ và Sao Hỏa liên hệ với phương diện thứ ba của hệ thống năng lượng con người—phàm ngã.

26. The Solar Logos manifests through three aspects as well: the “Central Spiritual Sun”, the Heart of the Sun and the Personality of the Sun (which, in turn is symbolized by the physical Sun. Prana is also connected to the third aspect of divinity and to the vitalization of the form (i.e., the third aspect).

26. Thái dương Thượng đế cũng biểu hiện qua ba phương diện: “Mặt trời Tinh thần Trung Ương”, Trái Tim của Mặt Trời và Phàm ngã của Mặt Trời, đến lượt nó được tượng trưng bởi Mặt Trời hồng trần. Prana cũng liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính và với việc tiếp sinh lực cho hình tướng, tức phương diện thứ ba.

27. When we think of the personality vehicles, there are always a three and a four to be considered, as we have discussed above. When we look as the sub-diaphragmatic chakras which symbolize these personality vehicles within the etheric body, we have the sacral center representing the lower mental vehicle, the solar plexus representing the astral vehicle, the base of the spine representing the dense physical vehicle and the splenic center (not a major center) representing the etheric body itself.

27. Khi nghĩ đến các vận cụ của phàm ngã, luôn có một bộ ba và một bộ bốn cần được xét đến, như chúng ta đã bàn ở trên. Khi nhìn vào các luân xa dưới hoành cách mô vốn tượng trưng cho các vận cụ phàm ngã này trong thể dĩ thái, chúng ta có trung tâm xương cùng tượng trưng cho vận cụ hạ trí, tùng thái dương tượng trưng cho vận cụ cảm dục, đáy cột sống tượng trưng cho vận cụ hồng trần đậm đặc, và trung tâm lá lách, không phải là một trung tâm chính, tượng trưng cho chính thể dĩ thái.

4. The Life aspect of the planet, or that great ocean of forces in which all these three aspects live and move and have their being, relates the initiate to that Life which works out through Shamballa, through the Hierarchy and through Humanity, thus forming part of the great sumtotal of manifestation.

4. Phương diện Sự Sống của hành tinh, hay đại dương mãnh lực vĩ đại trong đó cả ba phương diện này sống, vận hành và hiện hữu, liên hệ điểm đạo đồ với Sự Sống hoạt động qua Shamballa, qua Thánh Đoàn và qua Nhân loại, do đó tạo thành một phần của tổng thể vĩ đại của biểu hiện.

It is to these major quaternaries that Rule IV refers, and their relationships only emerge as the initiate keeps the rules. Let us now take this rule stanza by stanza, and so get some understanding of its basic significances.

Chính đến những bộ tứ chính này mà Quy luật IV đề cập, và các mối liên hệ của chúng chỉ hiển lộ khi điểm đạo đồ tuân giữ các quy luật. Giờ đây chúng ta hãy xét quy luật này từng bài kệ một, và nhờ vậy đạt được một vài thấu hiểu về các thâm nghĩa căn bản của nó.

1. “Life” is a great synthesizing Force. It is more than will, love or intelligence. It synthesizes them all.

1. “Sự Sống” là một Mãnh lực tổng hợp vĩ đại. Nó còn hơn cả ý chí, tình thương hay trí tuệ. Nó tổng hợp tất cả những điều ấy.

2. The Life here referenced must be that of the Planetary Logos, the synthesizing Life of our planetary scheme.

2. Sự Sống được nói đến ở đây hẳn là Sự Sống của Hành Tinh Thượng đế, Sự Sống tổng hợp của hệ hành tinh chúng ta.

3. We note that, while Rule IV can be understood as relating to the lower quaternary, its real significance deals with this great higher quaternary—

3. Chúng ta lưu ý rằng, trong khi Quy luật IV có thể được hiểu là liên hệ với bộ tứ thấp hơn, thâm nghĩa thực sự của nó đề cập đến bộ tứ cao cả này—

a. the Mind of God-the-Planetary-Logos,

a. Trí của Thượng Đế-tức-Đức Hành Tinh Thượng Đế,

b. the Heart of God-the-Planetary-Logos,

b. Trái Tim của Thượng Đế-tức-Đức Hành Tinh Thượng Đế,

c. the Will of God-the-Planetary Logos,

c. Ý Chí của Thượng Đế-tức-Đức Hành Tinh Thượng Đế,

d. and to the Life of the Planetary Logos as a whole.

d. và với toàn thể Sự Sống của Đức Hành Tinh Thượng Đế.

4. There are still higher solar-logoic correspondences to this higher quaternary. and Rule IV must have resonances with these as well.

4. Vẫn còn những tương ứng cao hơn thuộc Thái dương Thượng đế đối với bộ tứ cao cả này, và Quy luật IV hẳn cũng cộng hưởng với những tương ứng ấy.

E. Paragraph 4

E. Đoạn 4

(No sentences excised)

(Không lược bỏ câu nào)

1. Let the group see that all the eighteen fires die down and that the lesser lives return unto the reservoir of life.

1. Hãy để nhóm thấy rằng tất cả mười tám ngọn lửa lắng xuống và các sự sống thấp hơn trở về nguồn chứa của sự sống.

A very casual consideration will show the student that this rule contains four sentences which refer to one or other of the four aspects we have been considering. Bear this in mind as we study significances, interpretations and carry our thoughts into the world of meaning.

Một sự xem xét rất thoáng qua cũng sẽ cho đạo sinh thấy rằng quy luật này chứa bốn câu, mỗi câu đề cập đến một trong bốn phương diện mà chúng ta đã và đang xem xét. Hãy ghi nhớ điều này khi chúng ta nghiên cứu các thâm nghĩa, các diễn giải và đưa tư tưởng của mình vào thế giới của ý nghĩa.

1. In these analyses there is always a method of interpretation involving numerology. Master DK’s mind seems, at times, to work in a numerological manner. One senses Him structuring His presentation with numerology in mind. Sometimes, however, such structuring is subtle; one has to remain alert to the possibility because He does not always draw our attention to it.

1. Trong các phân tích này luôn có một phương pháp diễn giải liên quan đến số học. Trí tuệ của Chân sư DK đôi khi dường như vận hành theo lối số học. Người ta cảm nhận Ngài cấu trúc phần trình bày của Ngài với số học trong tâm trí. Tuy nhiên, đôi khi sự cấu trúc ấy rất tinh tế; cần luôn tỉnh thức trước khả năng này, vì không phải lúc nào Ngài cũng hướng sự chú ý của chúng ta đến nó.

2. This is the fourth Rule and it is significant that there are four sentences.

2. Đây là Quy luật thứ tư và điều có ý nghĩa là có bốn câu.

3. We shall find ourselves thinking very seriously of higher and lower quaternaries.

3. Chúng ta sẽ thấy mình suy nghĩ rất nghiêm túc về các bộ tứ cao và thấp.

4. “Significances” relate to the will aspect. The “world of meaning” relates to the soul aspect. Interpretations allow us to frame these Rules in terms of these two contexts, one of which is essentially higher than the other.

4. “Các thâm nghĩa” liên hệ với phương diện ý chí. “Thế giới của ý nghĩa” liên hệ với phương diện linh hồn. Các diễn giải cho phép chúng ta đặt những Quy luật này trong khuôn khổ của hai bối cảnh ấy, trong đó một bối cảnh về căn bản cao hơn bối cảnh kia.

F. Paragraph 5

F. Đoạn 5

1. “Let the group see that all the eighteen fires die down and that the lesser lives return unto the reservoir of life.” These words deal with the group personality, composed of all the personalities of its members. (cf. RI p. 97)

1. “Hãy để nhóm thấy rằng tất cả mười tám ngọn lửa lắng xuống và các sự sống thấp hơn trở về nguồn chứa của sự sống.” Những lời này đề cập đến phàm ngã nhóm, được cấu thành bởi tất cả các phàm ngã của các thành viên trong nhóm. (xem Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo tr. 97)

2. A group is in itself an entity, having form, substance, soul and purpose or objective, and that none of these is better or greater, or more developed than the aggregate of group lives which compose it. (cf. RI p. 97)

2. Một nhóm tự nó là một thực thể, có hình tướng, chất liệu, linh hồn và mục đích hay mục tiêu, và không điều nào trong các điều này tốt hơn, lớn hơn, hay phát triển hơn tổng hợp các sự sống nhóm cấu thành nó. (xem Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo tr. 97)

3. A Master’s Ashram has in it disciples and initiates of all degrees, but no probationary disciples at all. No one below the rank of disciples—accepted and dedicated—is admitted. (cf. RI p. 97)

3. Ashram của một Chân sư có trong đó các đệ tử và điểm đạo đồ thuộc mọi cấp độ, nhưng hoàn toàn không có đệ tử dự bị. Không ai dưới cấp bậc đệ tử—được chấp nhận và tận hiến—được thu nhận. (xem Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo tr. 97)

A very cursory reading of the Rule leads one to the surmise that one of the most important hints concerns the effect of the group life and radiation upon the individual in the group. “Let the group see that all the eighteen fires die down and that the lesser lives return unto the reservoir of life.” These words deal with the group personality, composed of all the personalities of its members. It should be borne in mind that a group is in itself an entity, having form, substance, soul and purpose or objective, and that none of these is better or greater, or more developed than the aggregate of group lives which compose it. Though individuals of varying points in evolution form the group, none of them is below the level of disciples upon the evolutionary ladder. A Master’s Ashram has in it disciples and initiates of all degrees, but no probationary disciples at all. No one below the rank of disciples—accepted and dedicated—is admitted. This is one of the first Rules given to an accepted [Page 98] disciple when first admitted into the Ashram, and it is from that angle that we should now consider it.

Một sự đọc rất lướt qua Quy luật cũng dẫn người ta đến phỏng đoán rằng một trong những gợi ý quan trọng nhất liên quan đến tác động của đời sống nhóm và bức xạ nhóm lên cá nhân trong nhóm. “Hãy để nhóm thấy rằng tất cả mười tám ngọn lửa lắng xuống và các sự sống thấp hơn trở về nguồn chứa của sự sống.” Những lời này đề cập đến phàm ngã nhóm, được cấu thành bởi tất cả các phàm ngã của các thành viên trong nhóm. Cần ghi nhớ rằng một nhóm tự nó là một thực thể, có hình tướng, chất liệu, linh hồn và mục đích hay mục tiêu, và không điều nào trong các điều này tốt hơn, lớn hơn, hay phát triển hơn tổng hợp các sự sống nhóm cấu thành nó. Dù các cá nhân ở những điểm tiến hoá khác nhau hợp thành nhóm, không ai trong số họ ở dưới cấp độ đệ tử trên thang tiến hoá. Ashram của một Chân sư có trong đó các đệ tử và điểm đạo đồ thuộc mọi cấp độ, nhưng hoàn toàn không có đệ tử dự bị. Không ai dưới cấp bậc đệ tử—được chấp nhận và tận hiến—được thu nhận. Đây là một trong những Quy luật đầu tiên được trao cho một [Page 98] đệ tử được chấp nhận khi lần đầu được thu nhận vào ashram, và chính từ góc độ đó mà giờ đây chúng ta nên xem xét nó.

1. DK points out the group import of the first sentence of the Rule.

1. Chân sư DK chỉ ra ý nghĩa nhóm của câu đầu tiên trong Quy luật.

2. “Group life and radiation” can indeed be powerful as we will have understood if we have participated cooperatively with any substantial group.

2. “Đời sống nhóm và bức xạ nhóm” quả thật có thể rất mạnh mẽ, như chúng ta hẳn đã hiểu nếu từng cộng tác với bất kỳ nhóm đáng kể nào.

3. The group is to “see” that the eighteen fires die down. It seems a matter for a kind of ‘group supervision’. It is as if the group has not only to “see” this happen but to ‘see to it’—i.e., to ensure that it happens.

3. Nhóm phải “thấy” rằng mười tám ngọn lửa lắng xuống. Dường như đây là vấn đề thuộc một loại “giám sát nhóm”. Như thể nhóm không chỉ phải “thấy” điều này xảy ra mà còn phải “lo sao cho nó xảy ra”, tức là phải bảo đảm rằng nó xảy ra.

4. It is one of the blessings of the spiritual Path that the strengths of our co-workers facilitate our individual progress. Upon this we can rely. A higher form of this group facilitation of the progress of the individual is the assistance lent by the Ashram (whether deliberately or simply because the Ashram is what it is—radiatorily). Of course the converse is also unhappily true, and if our group or groups fail(s), we, as individuals, can have our vibration lowered.

4. Một trong những ân phúc của Con Đường tinh thần là sức mạnh của các cộng sự chúng ta hỗ trợ sự tiến bộ cá nhân của chúng ta. Chúng ta có thể nương tựa vào điều này. Một hình thức cao hơn của sự hỗ trợ nhóm đối với sự tiến bộ của cá nhân là sự trợ giúp do ashram trao cho, dù một cách chủ ý hay chỉ vì ashram cái mà nó —bằng bức xạ. Dĩ nhiên, điều ngược lại đáng tiếc cũng đúng, và nếu nhóm hay các nhóm của chúng ta thất bại, thì với tư cách cá nhân, rung động của chúng ta có thể bị hạ thấp.

5. The eighteen fires are the fires of personality—whether of the individual personality or the group personality.

5. Mười tám ngọn lửa là các ngọn lửa của phàm ngã—dù là của phàm ngã cá nhân hay phàm ngã nhóm.

6. DK calls our attention to the “aggregate of group lives” contributing to the nature of any group—the nature of its soul, its substance, purpose, and objective. To the quality of each of these, the aggregate of group lives contributes, and that quality is limited by the quality of the aggregate.

6. Chân sư DK hướng sự chú ý của chúng ta đến “tổng hợp các sự sống nhóm” góp phần vào bản chất của bất kỳ nhóm nào—bản chất của linh hồn, chất liệu, mục đích và mục tiêu của nhóm ấy. Tổng hợp các sự sống nhóm góp phần vào phẩm tính của mỗi yếu tố này, và phẩm tính ấy bị giới hạn bởi phẩm tính của tổng hợp đó.

7. In the kind of group here discussed, all members must be, at the very least, disciples—as that term is understood technically. This “rank” involves a serious application of the energies of Mercury and Saturn and, thus, a movement towards mental polarization. Strictly emotional aspirants cannot form a part of such a group.

7. Trong loại nhóm được bàn đến ở đây, mọi thành viên ít nhất phải là đệ tử—theo nghĩa kỹ thuật của thuật ngữ này. “Cấp bậc” này bao hàm một sự vận dụng nghiêm túc các năng lượng của Sao Thủy và Sao Thổ, và do đó là một chuyển động hướng tới sự phân cực trí tuệ. Những người chí nguyện thuần túy cảm xúc không thể là một phần của loại nhóm như vậy.

8. Some exact information about the constitution of a Master’s Ashram is given. In it are to be found disciples and initiates “of all degrees” but no probationary disciples. One wonders what is meant by the phrase “of all degrees”. [Ital. MDR] We understand that a Master may have other Masters in His Ashram—and this is the case with Master DK (five other Masters assist Him). It does not seem conceivable, however, that a Master would have in His Ashram an initiate of a higher degree than Himself. Initiates of higher degree than a Master may, however, cooperate with Him without, technically, being members of His Ashram.

8. Một số thông tin chính xác về cấu trúc của ashram của một Chân sư được đưa ra. Trong đó có thể tìm thấy các đệ tử và điểm đạo đồ “thuộc mọi cấp độ”, nhưng không có đệ tử dự bị. Người ta tự hỏi cụm từ “thuộc mọi cấp độ” có nghĩa là gì. [Chữ nghiêng của tác giả chú giải] Chúng ta hiểu rằng một Chân sư có thể có các Chân sư khác trong ashram của Ngài—và đây là trường hợp của Chân sư DK, năm Chân sư khác trợ giúp Ngài. Tuy nhiên, dường như không thể quan niệm rằng một Chân sư lại có trong ashram của Ngài một điểm đạo đồ có cấp độ cao hơn chính Ngài. Tuy vậy, các điểm đạo đồ có cấp độ cao hơn một Chân sư có thể hợp tác với Ngài mà, về mặt kỹ thuật, không phải là thành viên của ashram của Ngài.

9. What is a probationary disciple? Might we say, ‘a disciple who is still being tested”? Of course, all disciples are continuously tested, so the tests which distinguish a probationary disciple from a disciple (technically understood) must be specific.

9. Đệ tử dự bị là gì? Có thể chăng chúng ta nói rằng đó là “một đệ tử vẫn đang được thử thách”? Dĩ nhiên, mọi đệ tử đều liên tục được thử thách, nên những thử thách phân biệt một đệ tử dự bị với một đệ tử, theo nghĩa kỹ thuật, hẳn phải có tính chuyên biệt.

10. Let us consider a probationary disciple as one who has made a “pledge”, a promise of commitment. That pledge or promise is then tested, and it is the degree to which the disciple can hold to his/her pledge or promise which is determined by the tests.

10. Chúng ta hãy xem đệ tử dự bị là người đã lập một “lời nguyện”, một lời hứa dấn thân. Lời nguyện hay lời hứa ấy sau đó được thử thách, và chính mức độ mà đệ tử có thể giữ vững lời nguyện hay lời hứa của mình được xác định qua các thử thách.

11. Even an “accepting disciple” is, in a sense, a probationary disciple, but the period of probation does not begin in earnest until the pledge or promise is made.

11. Ngay cả một “đệ tử đang chấp nhận”, theo một nghĩa nào đó, cũng là một đệ tử dự bị, nhưng thời kỳ dự bị không thực sự bắt đầu cho đến khi lời nguyện hay lời hứa được lập.

12. We learn in this paragraph what Master DK means by the kind of disciple who can be a member of such a group; that disciple must be “accepted and dedicated”. So we understand that to simply be a “pledged disciple” is not sufficient. If the disciple adheres successfully to his/her pledge, he/she will, when the time is right, be accepted by the Master.

12. Trong đoạn này, chúng ta học được Chân sư DK muốn nói gì về loại đệ tử có thể là thành viên của một nhóm như thế; đệ tử ấy phải là người “được chấp nhận và thánh hiến”. Vì vậy, chúng ta hiểu rằng chỉ đơn giản là một “đệ tử đã tuyên nguyện” thì chưa đủ. Nếu đệ tử trung thành giữ lời tuyên nguyện của y một cách thành công, thì khi thời điểm thích hợp đến, y sẽ được chấp nhận bởi Chân sư.

13. Why will no disciple below the rank of “accepted disciple” be admitted to such a group on the periphery of the Master’s Ashram? Because such a disciple could not be trusted. His//her level of commitment to the Master, the Ashram, and the plan and program of the Master working out through the Ashram, would not be sufficiently reliable and too easily subject to distortion.

13. Tại sao không một đệ tử nào dưới cấp bậc “đệ tử được chấp nhận” lại được thu nhận vào một nhóm như thế ở chu vi ashram của Chân sư? Bởi vì một đệ tử như thế không thể được tin cậy. Mức độ tận hiến của y đối với Chân sư, ashram, cũng như thiên cơ và chương trình của Chân sư đang được thực hiện thông qua ashram, sẽ không đủ đáng tin cậy và quá dễ bị lệch lạc.

14. A pledged disciple may be dedicated to the fulfilment of his/her pledge, but will certainly be even more dedicated as an “accepted disciple” (technically understood).

14. Một đệ tử đã tuyên nguyện có thể tận hiến cho việc hoàn thành lời tuyên nguyện của y, nhưng chắc chắn sẽ còn tận hiến hơn nữa khi là một “đệ tử được chấp nhận” theo nghĩa chuyên môn.

15. All the disciples, whose personal instructions may be read in the Discipleship in the New Age books, were, technically considered, accepted disciples.

15. Tất cả các đệ tử, mà những huấn thị cá nhân của họ có thể được đọc trong các sách Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, xét theo nghĩa chuyên môn, đều là các đệ tử được chấp nhận.

16. We come to realize that the kind of groups here discussed are, technically considered, composed of those who are members of the Master’s Ashram—even if members on the periphery. All “accepted disciples” are members of the Master’s Ashram, and the rank of “accepted disciple” is, therefore, the minimum requirement for membership in such groups.

16. Chúng ta dần nhận ra rằng loại nhóm được bàn đến ở đây, xét theo nghĩa chuyên môn, gồm những người là thành viên ashram của Chân sư — dù chỉ là thành viên ở chu vi. Tất cả các “đệ tử được chấp nhận” đều là thành viên ashram của Chân sư, và do đó cấp bậc “đệ tử được chấp nhận” là yêu cầu tối thiểu để trở thành thành viên trong những nhóm như thế.

17. We must be realistic about ourselves. Probably there are not so many of us who know, with certainty, that we are “accepted disciples”. Probably all of us have made a pledge of some kind (to the soul, the Master, the Ashram, the Hierarchy or to humanity), and this pledge has been of greater or lesser intensity (and has been made with greater or lesser conscious deliberation). How we do with the maintenance of this pledge will determine whether we, one day, may form part of such as group as here discussed. Right now we are in what might be called a ‘rehearsal group’. But the rehearsal usually guarantees that a ‘performance’ will occur—whether in this life or in several lives to come. Right now, the task is to understand the part to be played and to rehearse diligently.

17. Chúng ta phải thực tế về chính mình. Có lẽ không có nhiều người trong chúng ta biết chắc rằng mình là “đệ tử được chấp nhận”. Có lẽ tất cả chúng ta đều đã lập một lời tuyên nguyện nào đó với linh hồn, Chân sư, ashram, Thánh Đoàn hoặc nhân loại; và lời tuyên nguyện này có cường độ lớn hoặc nhỏ khác nhau, cũng như được lập với mức độ cân nhắc hữu thức lớn hoặc nhỏ khác nhau. Cách chúng ta duy trì lời tuyên nguyện này sẽ quyết định liệu một ngày nào đó chúng ta có thể trở thành một phần của một nhóm như được bàn đến ở đây hay không. Ngay lúc này, chúng ta đang ở trong điều có thể gọi là một “nhóm tập dượt”. Nhưng việc tập dượt thường bảo đảm rằng một “buổi trình diễn” sẽ xảy ra — dù trong đời này hay trong nhiều đời sắp tới. Ngay lúc này, nhiệm vụ là thấu hiểu phần việc cần đảm nhiệm và chuyên cần tập dượt.

18. We learn the interesting fact that this Rule is one of the first to be given to accepted disciples when they enter the Ashram. This is interesting because accepted disciples may be only initiates of the first degree (or second), and this Rule can be understood as applying to the fourth degree (or, when related to the higher quaternaries previously discussed) to degrees beyond.

18. Chúng ta học được một sự kiện thú vị rằng Quy luật này là một trong những quy luật đầu tiên được trao cho các đệ tử được chấp nhận khi họ bước vào ashram. Điều này thú vị vì các đệ tử được chấp nhận có thể chỉ là các điểm đạo đồ bậc một hoặc bậc hai, trong khi Quy luật này có thể được hiểu là áp dụng cho bậc bốn, hoặc khi liên hệ với các bộ tứ cao đã bàn trước đó, thì áp dụng cho các cấp độ cao hơn.

19. Thus, we see again the wide range of applicability of these Rules.

19. Như vậy, chúng ta lại thấy phạm vi áp dụng rộng lớn của các Quy luật này.

G. Paragraph 6

G. Đoạn 6

1. Rule IV for Disciples and Initiates is one of the first Rules given to an accepted disciple when first admitted into the Ashram. (c.f., RI p. 97-98)

1. Quy luật IV dành cho các Đệ tử và Điểm đạo đồ là một trong những Quy luật đầu tiên được trao cho một đệ tử được chấp nhận khi y lần đầu được thu nhận vào ashram. (x. Cung và Điểm Đạo, tr. 97-98)

2. Rule IV for Disciples and Initiates indicates certain “intentional” activities which must govern the disciple’s life now that he is an integral part of the Ashram. (cf. RI p. 98)

2. Quy luật IV dành cho các Đệ tử và Điểm đạo đồ chỉ ra một số hoạt động “có chủ ý” nhất định, vốn phải chi phối đời sống của đệ tử nay khi y là một phần không thể tách rời của ashram. (x. Cung và Điểm Đạo, tr. 98)

3. The disciple admitted into an Ashram is faced with the proposition of making his life of such a nature that it furthers the group purpose, enhances the group strength, eliminates all that might hinder group usefulness, and brings closer the objective for which the group was formed—the carrying out of the Master’s plans. (cf. RI p. 98)

3. Đệ tử được thu nhận vào một ashram phải đối diện với mệnh đề là làm cho đời sống của y có bản chất sao cho nó thúc đẩy mục đích nhóm, tăng cường sức mạnh nhóm, loại bỏ mọi điều có thể cản trở tính hữu dụng của nhóm, và đưa mục tiêu mà vì đó nhóm được thành lập đến gần hơn — tức là việc thực hiện các kế hoạch của Chân sư. (x. Cung và Điểm Đạo, tr. 98)

4. It was the disciple’s innate, instinctual and individual response to this ray objective, and his effort to subordinate his personality to the dimly sensed soul dedication, which led the Master in the first instance to recognise him and incorporate him into his Ashram. (cf. RI p. 98)

4. Chính sự đáp ứng bẩm sinh, bản năng và cá nhân của đệ tử đối với mục tiêu cung này, cùng nỗ lực của y nhằm đặt phàm ngã của mình dưới sự tận hiến linh hồn được cảm nhận mơ hồ, đã khiến Chân sư ngay từ đầu nhận ra y và đưa y vào ashram của Ngài. (x. Cung và Điểm Đạo, tr. 98)

5. The magnetic “pulling” power which had hitherto led the disciple forward is now — when admitted to enter into an Ashram — superseded by a radiating stimulating potency; this effects great changes in him, and produces both eliminating and substituting results. (cf. RI p. 98)

5. Quyền năng “kéo” từ tính vốn từ trước đến nay đã dẫn đệ tử tiến tới, nay — khi y được thu nhận để bước vào một ashram — được thay thế bằng một quyền năng kích thích tỏa chiếu; điều này tạo ra những thay đổi lớn lao nơi y, và sinh ra cả những kết quả loại bỏ lẫn thay thế. (x. Cung và Điểm Đạo, tr. 98)

The three Rules we have earlier considered are general in nature and relate to certain broad themes or demanded hypotheses which must govern the consciousness of the disciple in the future. In this particular Rule we enter the realm of the specific, and are presented with certain “intentional” activities which must govern the disciple’s life now that he is an integral part of the Ashram. He is faced with the proposition of making his life of such a nature that it furthers the group purpose, enhances the group strength, eliminates all that might hinder group usefulness, and brings closer the objective for which the group was formed—the carrying out of the Master’s plans. It was the disciple’s innate, instinctual and individual response to this ray objective, and his effort to subordinate his personality to the dimly sensed soul dedication, which led the Master in the first instance to recognise him and incorporate him into his Ashram. The moment that happened, the disciple came not only under an increased impact of egoic force and egoic impulsive intention (using those words in their occult sense), but the group radiation began its beneficent work upon him. The magnetic “pulling” power which had hitherto led him forward is now superseded by a radiating stimulating potency; this effects great changes in him, and produces both eliminating and substituting results.

Ba Quy luật mà chúng ta đã xem xét trước đây có bản chất tổng quát và liên hệ đến một số chủ đề rộng hoặc những giả thuyết được đòi hỏi, vốn phải chi phối tâm thức của đệ tử trong tương lai. Trong Quy luật đặc thù này, chúng ta bước vào lĩnh vực của điều cụ thể, và được trình bày với một số hoạt động “có chủ ý” nhất định, vốn phải chi phối đời sống của đệ tử nay khi y là một phần không thể tách rời của ashram. Y phải đối diện với mệnh đề là làm cho đời sống của mình có bản chất sao cho nó thúc đẩy mục đích nhóm, tăng cường sức mạnh nhóm, loại bỏ mọi điều có thể cản trở tính hữu dụng của nhóm, và đưa mục tiêu mà vì đó nhóm được thành lập đến gần hơn — tức là việc thực hiện các kế hoạch của Chân sư. Chính sự đáp ứng bẩm sinh, bản năng và cá nhân của đệ tử đối với mục tiêu cung này, cùng nỗ lực của y nhằm đặt phàm ngã của mình dưới sự tận hiến linh hồn được cảm nhận mơ hồ, đã khiến Chân sư ngay từ đầu nhận ra y và đưa y vào ashram của Ngài. Khoảnh khắc điều đó xảy ra, đệ tử không chỉ chịu một tác động gia tăng của mãnh lực chân ngã và ý định thúc đẩy của chân ngã, dùng những từ này theo nghĩa huyền bí của chúng, mà sự tỏa chiếu của nhóm cũng bắt đầu công việc lợi lạc của nó nơi y. Quyền năng “kéo” từ tính vốn từ trước đến nay đã dẫn y tiến tới, nay được thay thế bằng một quyền năng kích thích tỏa chiếu; điều này tạo ra những thay đổi lớn lao nơi y, và sinh ra cả những kết quả loại bỏ lẫn thay thế.

1. We learn that the first three Rules are of a general and preliminary nature. They are foundational and must be understood by all the newer kind of disciples.

1. Chúng ta học được rằng ba Quy luật đầu tiên có bản chất tổng quát và sơ bộ. Chúng có tính nền tảng và phải được tất cả những đệ tử thuộc kiểu mới hơn thấu hiểu.

2. We note that the content of these Rules refers to “the disciple in the future”. Disciples of the present may study these Rules (and, indeed, we are) but we should not delude ourselves that fulfillment of the requirements will be easy of accomplishment before the Aquarian Age is with us, and this will not be for more than a hundred and ten years [written 2003].

2. Chúng ta lưu ý rằng nội dung của các Quy luật này quy chiếu đến “đệ tử trong tương lai”. Các đệ tử hiện nay có thể nghiên cứu các Quy luật này, và quả thật chúng ta đang làm như vậy, nhưng chúng ta không nên tự lừa dối mình rằng việc hoàn thành các yêu cầu sẽ dễ đạt được trước khi Kỷ Nguyên Bảo Bình đến với chúng ta, và điều này sẽ chưa xảy ra trong hơn một trăm mười năm nữa [viết năm 2003].

3. The number four takes us into the world of concrete form and onto the dense physical plane. It is only natural that a new level of specificity should accompany this fourth Rule.

3. Con số bốn đưa chúng ta vào thế giới của hình tướng cụ thể và xuống cõi hồng trần đậm đặc. Thật tự nhiên khi một cấp độ tính cụ thể mới đi kèm với Quy luật thứ tư này.

4. In this fourth Rule we are speaking of the will and its “intentional activities”. The number four brings us into relation with the life aspect of the Planetary Logos and Solar Logos, for this aspect expresses itself with reasonable fulness upon the buddhi plane, the fourth.

4. Trong Quy luật thứ tư này, chúng ta đang nói về ý chí và các “hoạt động có chủ ý” của nó. Con số bốn đưa chúng ta vào mối liên hệ với phương diện sự sống của Đức Hành Tinh Thượng Đế và Thái dương Thượng đế, vì phương diện này biểu lộ chính nó với mức độ khá trọn vẹn trên cõi Bồ đề, cõi thứ tư.

5. We have it affirmed for us that the disciple to whom this Rule applies is “an integral part of the Ashram”. Such a disciple is, we have been told, an accepted disciple and an accepted disciple is an integral part of the Master’s Ashram (though standing on its periphery).

5. Điều được xác nhận cho chúng ta là đệ tử mà Quy luật này áp dụng là “một phần không thể tách rời của ashram”. Như chúng ta đã được nói, một đệ tử như thế là một đệ tử được chấp nhận, và một đệ tử được chấp nhận là một phần không thể tách rời của ashram của Chân sư, dù đứng ở chu vi của ashram ấy.

6. As an accepted disciple, demanding requirements are laid upon him/her. In the consciousness of such a disciple, the Ashram must “come first”, and his/her presence in the Ashram must be of benefit and value to the Ashram. The accepted disciple knows somewhat of the Master’s plans and is willfully and aspirationally dedicated to the carrying out of those plans.

6. Là một đệ tử được chấp nhận, y phải gánh lấy những yêu cầu nghiêm ngặt. Trong tâm thức của một đệ tử như thế, ashram phải “được đặt lên hàng đầu”, và sự hiện diện của y trong ashram phải đem lại lợi ích và giá trị cho ashram. Đệ tử được chấp nhận biết phần nào các kế hoạch của Chân sư và tận hiến bằng ý chí cũng như bằng khát vọng cho việc thực hiện các kế hoạch ấy.

7. Why did the Master accept the disciple? What did the disciple do to deserve acceptance? The disciple had an innate, spiritually instinctual, individual response to the “ray objective” which expresses itself in the Master’s Ashram, and made a considerable effort to subordinate his/her personality to the dimly sensed soul dedication which resonated with the Master’s objective.

7. Tại sao Chân sư chấp nhận đệ tử? Đệ tử đã làm gì để xứng đáng được chấp nhận? Đệ tử đã có một sự đáp ứng bẩm sinh, bản năng về tinh thần và cá nhân đối với “mục tiêu cung” đang biểu lộ trong ashram của Chân sư, và đã nỗ lực đáng kể để đặt phàm ngã của mình dưới sự tận hiến linh hồn được cảm nhận mơ hồ, vốn cộng hưởng với mục tiêu của Chân sư.

8. It is clear that the disciple is responding to his/her own soul ray. That response leads him/her into the Ashram of a Master on the same ray as the disciple’s soul.

8. Rõ ràng đệ tử đang đáp ứng với cung linh hồn của chính y. Sự đáp ứng ấy dẫn y vào ashram của một Chân sư thuộc cùng cung với linh hồn của đệ tử.

9. Acceptance into a Master’s Ashram is not light matter; in fact it places considerable spiritual pressure upon the newly accepted disciple. The disciple’s own soul increases its energic flow towards the disciple’s personality. Master DK calls this increase of egoic force by the term, “egoic impulsive intention”. It is a powerfully descriptive phrase referencing the application of the will of the Solar Angel, and the power of that will to produce or impel action in the personality life of the disciple.

9. Việc được chấp nhận vào ashram của một Chân sư không phải là chuyện nhẹ nhàng; thật ra nó đặt một áp lực tinh thần đáng kể lên đệ tử mới được chấp nhận. Chính linh hồn của đệ tử gia tăng dòng năng lượng của nó hướng về phàm ngã của đệ tử. Chân sư DK gọi sự gia tăng mãnh lực chân ngã này bằng thuật ngữ “ý định thúc đẩy của chân ngã”. Đây là một cụm từ mô tả mạnh mẽ, quy chiếu đến việc áp dụng ý chí của Thái dương Thiên Thần, và quyền năng của ý chí ấy trong việc tạo ra hoặc thúc đẩy hành động trong đời sống phàm ngã của đệ tử.

10. So the higher ego (the Solar Angel) is able to make a great impact on the disciple as a result of the fact of “acceptance” into the Ashram. As well, greater conscious access to the stored content of the causal body may be expected.

10. Vì vậy, chân ngã, tức Thái dương Thiên Thần, có thể tạo một tác động lớn lao trên đệ tử do sự kiện “được chấp nhận” vào ashram. Đồng thời, có thể kỳ vọng một sự tiếp cận hữu thức lớn hơn với nội dung được lưu giữ trong thể nguyên nhân.

11. Further, and most importantly, the group radiation of the Ashram begins its “beneficent work upon him”. The newly accepted disciple begins to rise because of the effect of ashramic radiation. A door has been opened. That which was inaccessible before now flows in. A new form of elevating stimulation is sensed. This, of course, may produce reaction in the unredeemed aspects of the disciple’s lunar vehicles.

11. Hơn nữa, và quan trọng nhất, sự tỏa chiếu nhóm của ashram bắt đầu “công việc lợi lạc của nó nơi y”. Đệ tử mới được chấp nhận bắt đầu vươn lên nhờ ảnh hưởng của sự tỏa chiếu ashram. Một cánh cửa đã được mở ra. Điều trước kia không thể tiếp cận nay tuôn vào. Một hình thức kích thích nâng cao mới được cảm nhận. Dĩ nhiên, điều này có thể tạo ra phản ứng trong các phương diện chưa được cứu chuộc của các hiện thể nguyệt tính nơi đệ tử.

12. We are told of two kinds of energies/forces which emanate from the Ashram where the disciple is concerned. At first he/she was subjected to a “magnetic pulling power”. It was an attractive power, not a forcing power. It led forward invitingly and without coercion. It was correlated to the second ray, no matter what the ray of the Ashram may have been.

12. Chúng ta được cho biết về hai loại năng lượng hoặc mãnh lực xuất lộ từ ashram liên quan đến đệ tử. Lúc đầu y chịu tác động của một “quyền năng kéo từ tính”. Đó là một quyền năng hấp dẫn, chứ không phải một quyền năng cưỡng ép. Nó dẫn tiến một cách mời gọi và không cưỡng bức. Nó tương ứng với cung hai, bất kể cung của ashram là gì.

13. Once technical “acceptance” has occurred, a new type of force is added to the “pulling” power. It is more like a ‘pushing’ power. It is directly stimulative and radiatory rather than attractive and magnetic. Its stimulation produces both eliminative and substitutive effects.

13. Một khi sự “chấp nhận” theo nghĩa chuyên môn đã xảy ra, một loại mãnh lực mới được thêm vào quyền năng “kéo”. Nó giống một quyền năng “đẩy” hơn. Nó trực tiếp kích thích và tỏa chiếu hơn là hấp dẫn và từ tính. Sự kích thích của nó tạo ra cả những hiệu quả loại bỏ lẫn thay thế.

14. We can see that “acceptance” into an Ashram subjects the newly accepted disciple to first ray energy (again, regardless of the ray nature of the Ashram). Undesirable conditions in the personality are noted and expelled (gradually or more rapidly) and new conditions are deliberately built in.

14. Chúng ta có thể thấy rằng việc “được chấp nhận” vào một ashram khiến đệ tử mới được chấp nhận chịu tác động của năng lượng cung một, một lần nữa bất kể bản chất cung của ashram là gì. Những tình trạng không mong muốn trong phàm ngã được nhận biết và bị trục xuất, dần dần hoặc nhanh chóng hơn, và những tình trạng mới được cố ý xây dựng vào.

H. Paragraph 7

H. Đoạn 7

1. The effect of the life of the Ashram upon the disciple:

1. Ảnh hưởng của đời sống ashram lên đệ tử:

a. The life of the personality is steadily weakened, and its grip upon the soul is definitely loosened. The soul begins to dominate in a very real sense. (cf. RI p. 98)

a. Đời sống của phàm ngã dần dần suy yếu, và sự nắm giữ của nó đối với linh hồn rõ ràng được nới lỏng. Linh hồn bắt đầu thống trị theo một nghĩa rất thực. (x. Cung và Điểm Đạo, tr. 98)

b. in the three worlds of human manifestation becomes needless. All the lessons have been learnt and the soul objective has been attained. (CF. RI p. 98)

b. trong ba cõi giới của sự biểu hiện nhân loại trở nên không cần thiết. Tất cả các bài học đã được học xong và mục tiêu của linh hồn đã đạt được. (x. Cung và Điểm Đạo, tr. 98)

c. The Will of the Monad begins to be sensed; the will aspect blends with the love aspect and makes the intelligence aspect fruitful and effective for the carrying out of divine purpose, focussed for the disciple through the Ashram. (cf. RI p. 98-99)

c. Ý Chí của chân thần bắt đầu được cảm nhận; phương diện ý chí hòa nhập với phương diện bác ái và làm cho phương diện trí tuệ trở nên phong phú và hiệu quả trong việc thực hiện Thiên Ý, được tập trung cho đệ tử thông qua ashram. (x. Cung và Điểm Đạo, tr. 98-99)

d. The purposes of time and space, of events and extension, of matter and consciousness have been achieved and are eventually superseded by something for which we have as yet no term and of which we have no conception. It is that which begins to express itself after the third initiation, when the Father aspect “comes into view”. (cf. RI p.99)

d. Các mục đích của thời gian và không gian, của biến cố và sự mở rộng, của vật chất và tâm thức đã được thành tựu và cuối cùng được thay thế bởi một điều mà đến nay chúng ta chưa có thuật ngữ và cũng không có quan niệm. Đó là điều bắt đầu biểu lộ chính nó sau lần điểm đạo thứ ba, khi phương diện Cha “hiện ra trong tầm nhìn”. (x. Cung và Điểm Đạo, tr. 99)

e. The whole is seen to be of more vital importance than the part, and this not as a dream, a vision, a theory, a process of wishful thinking, a hypothesis or an urge. It is realised as an innate necessity and as inevitable. It connotes death, but death as beauty, as joy, as spirit in action, as the consummation of all good. (cf. RI p. 99)

e. Toàn thể được thấy là có tầm quan trọng sống động hơn phần riêng, và điều này không phải như một giấc mơ, một linh ảnh, một lý thuyết, một tiến trình tư duy ước vọng, một giả thuyết hay một xung lực. Nó được chứng nghiệm như một tất yếu bẩm sinh và như điều không thể tránh. Nó hàm ý cái chết, nhưng là cái chết như vẻ đẹp, như sự hoan hỉ, như tinh thần trong hành động, như sự hoàn tất của mọi điều thiện. (x. Cung và Điểm Đạo, tr. 99)

The effect of the life of the Ashram, as far as the group which forms it is concerned and apart from the Master’s Own potency, can be described as follows:

Ảnh hưởng của đời sống ashram, xét về nhóm hình thành nên nó và tách khỏi quyền năng riêng của Chân sư, có thể được mô tả như sau:

1. The life of the personality is steadily weakened, and its grip upon the soul is definitely loosened. The soul begins to dominate in a very real sense.

1. Đời sống của phàm ngã dần dần suy yếu, và sự nắm giữ của nó đối với linh hồn rõ ràng được nới lỏng. Linh hồn bắt đầu thống trị theo một nghĩa rất thực.

2. The necessity of incarnation becomes appreciably less, and finally life in the three worlds of human manifestation becomes needless. All the lessons have been learnt and the soul objective has been attained.

2. Sự cần thiết phải lâm phàm giảm đi một cách đáng kể, và cuối cùng đời sống trong ba cõi giới của sự biểu hiện nhân loại trở nên không cần thiết. Tất cả các bài học đã được học xong và mục tiêu của linh hồn đã đạt được.

3. The Will of the Monad begins to be sensed; the will aspect blends with the love aspect and makes the [Page 99] intelligence aspect fruitful and effective for the carrying out of divine purpose, focussed for the disciple through the Ashram.

3. Ý Chí của chân thần bắt đầu được cảm nhận; phương diện ý chí hòa nhập với phương diện bác ái và làm cho [Trang 99] phương diện trí tuệ trở nên phong phú và hiệu quả trong việc thực hiện Thiên Ý, được tập trung cho đệ tử thông qua ashram.

4. The purposes of time and space, of events and extension, of matter and consciousness have been achieved and are eventually superseded by something for which we have as yet no term and of which we have no conception. It is that which begins to express itself after the third initiation, when the Father aspect “comes into view”—I know not how else to word it.

4. Các mục đích của thời gian và không gian, của biến cố và sự mở rộng, của vật chất và tâm thức đã được thành tựu và cuối cùng được thay thế bởi một điều mà đến nay chúng ta chưa có thuật ngữ và cũng không có quan niệm. Đó là điều bắt đầu biểu lộ chính nó sau lần điểm đạo thứ ba, khi phương diện Cha “hiện ra trong tầm nhìn” — tôi không biết phải diễn đạt cách nào khác.

5. The whole is seen to be of more vital importance than the part, and this not as a dream, a vision, a theory, a process of wishful thinking, an hypothesis or an urge. It is realised as an innate necessity and as inevitable. It connotes death, but death as beauty, as joy, as spirit in action, as the consummation of all good.

5. Toàn thể được thấy là có tầm quan trọng sống động hơn phần riêng, và điều này không phải như một giấc mơ, một linh ảnh, một lý thuyết, một tiến trình tư duy ước vọng, một giả thuyết hay một xung lực. Nó được chứng nghiệm như một tất yếu bẩm sinh và như điều không thể tránh. Nó hàm ý cái chết, nhưng là cái chết như vẻ đẹp, như sự hoan hỉ, như tinh thần trong hành động, như sự hoàn tất của mọi điều thiện.

1. These are most important descriptions and must be carefully studied. Note that the Master’s potency (although potent indeed) is not here referenced. The results relate to the impact of the Ashram, itself.

1. Đây là những mô tả hết sức quan trọng và phải được nghiên cứu cẩn thận. Hãy lưu ý rằng quyền năng của Chân sư, mặc dù thật sự mạnh mẽ, không được quy chiếu ở đây. Các kết quả liên hệ đến tác động của chính ashram.

2. DK speaks of the weakening of the personality life and the loosening of its grip upon the soul. Vulcan is the planet of strength and of the grip. Vulcan represents both the soul’s grip upon the personality and the personality’s lunar grip upon the soul.

2. Chân sư DK nói về sự suy yếu của đời sống phàm ngã và sự nới lỏng của sự nắm giữ của nó đối với linh hồn. Vulcan là hành tinh của sức mạnh và của sự nắm giữ. Vulcan tượng trưng cho cả sự nắm giữ của linh hồn đối với phàm ngã lẫn sự nắm giữ nguyệt tính của phàm ngã đối với linh hồn.

3. When the personality is strong, it drives energy below the diaphragm. (cf. R&I 9-10) We can see that Ashramic radiation must have just the reversed effect.

3. Khi phàm ngã mạnh mẽ, nó đẩy năng lượng xuống dưới cơ hoành. (x. Cung và Điểm Đạo, tr. 9-10) Chúng ta có thể thấy rằng sự tỏa chiếu ashram phải có hiệu quả hoàn toàn ngược lại.

4. When a personality is weakened the principle of ahamkara (as it applies to one’s lower sense of identity) begins to fade. One moves increasingly beyond a sense of isolated personal identity.

4. Khi một phàm ngã suy yếu, nguyên khí ngã chấp, xét như nó áp dụng cho ý thức thấp về bản sắc của một người, bắt đầu phai nhạt. Người ấy ngày càng vượt khỏi cảm thức về bản sắc cá nhân cô lập.

5. From a planetary perspective, under the influence of Ashramic radiation, Mercury and Venus subdue the lower energies of Saturn and Mars.

5. Từ viễn cảnh hành tinh, dưới ảnh hưởng của sự tỏa chiếu ashram, Sao Thủy và Sao Kim chế ngự các năng lượng thấp của Sao Thổ và Sao Hỏa.

6. The second point informs us that the necessity for incarnation decreases under Ashramic impact. Probably the desires and values are so altered that karma-producing desires are no longer pursued to the same extent, and thus, no longer draw the disciple back into incarnation so insistently.

6. Điểm thứ hai cho chúng ta biết rằng sự cần thiết phải lâm phàm giảm xuống dưới tác động ashram. Có lẽ các dục vọng và các giá trị được biến đổi đến mức những dục vọng tạo nghiệp không còn được theo đuổi ở cùng mức độ nữa, và vì thế không còn lôi kéo đệ tử trở lại lâm phàm một cách mãnh liệt như trước.

7. From the Ashram there comes a stream of informative wisdom which reveals the three worlds for what they are. These lower three dimensions are seen as increasingly less desirable, and the methods of handling problems within these worlds is subject to this stream of wisdom. Under ashramic radiation the disciple is able to work with increasing skill-in-action, thus decreasing the karmic consequences of his/her acts.

7. Từ ashram tuôn đến một dòng minh triết thấm nhuần, mặc khải ba cõi giới đúng như chúng là. Ba chiều kích thấp này được thấy là ngày càng ít đáng mong muốn hơn, và các phương pháp xử lý vấn đề trong những cõi giới này chịu tác động của dòng minh triết ấy. Dưới sự tỏa chiếu ashram, đệ tử có thể làm việc với kỹ năng ngày càng tăng trong hành động, qua đó giảm bớt các hệ quả nghiệp quả của các hành vi của y.

8. We can see what a liberating effect Ashramic radiation has upon the disciple.

8. Chúng ta có thể thấy sự tỏa chiếu ashram có ảnh hưởng giải thoát như thế nào đối với đệ tử.

9. If it was ever wondered when the will aspect of the monad makes its presence consciously felt, that question is answered here. The stage of accepted discipleship marks the point when monadic energy begins to be sensed. This fact tends to place the stage of accepted discipleship closer to the second initiation than to the first, for the will aspect is consciously felt as that initiation is approached. At the second degree, will counters desire (as Vulcan counters Mars, and as the secretions of the pineal gland eventually regulate the secretions of all other glands).

9. Nếu từng có người tự hỏi khi nào phương diện ý chí của chân thần làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận một cách hữu thức, thì câu hỏi ấy được trả lời ở đây. Giai đoạn địa vị đệ tử được chấp nhận đánh dấu điểm mà năng lượng chân thần bắt đầu được cảm nhận. Sự kiện này có khuynh hướng đặt giai đoạn địa vị đệ tử được chấp nhận gần với lần điểm đạo thứ hai hơn là lần điểm đạo thứ nhất, vì phương diện ý chí được cảm nhận một cách hữu thức khi cuộc điểm đạo ấy được tiếp cận. Ở bậc hai, ý chí đối kháng dục vọng, như Vulcan đối kháng Sao Hỏa, và như các tiết dịch của tuyến tùng cuối cùng điều hòa các tiết dịch của mọi tuyến khác.

10. So, ashramic radiation stimulates monadic registration. The members of the Ashram are somewhat sensitive to the will of purpose of the Master as that will or purpose is focussed through the Ashram’s plan. The monad knows its part in the purpose—the Divine Purpose. The pertinent aspect of the Divine Purpose reaches the disciple through that part of the Divine Plan for which the Ashram is responsible.

10. Vì vậy, sự tỏa chiếu ashram kích thích sự ghi nhận chân thần. Các thành viên của ashram phần nào nhạy cảm với ý chí hay mục đích của Chân sư khi ý chí hay mục đích ấy được tập trung thông qua thiên cơ của ashram. Chân thần biết phần của mình trong mục đích — tức Thiên Ý. Phương diện thích hợp của Thiên Ý đến với đệ tử thông qua phần của Thiên Cơ mà ashram chịu trách nhiệm.

11. The disciple may have imagined that he/she knew somewhat of Divine Purpose, but when the stage of accepted discipleship is reached, the Ashram focusses that Purpose. When will stimulates intelligence, the intelligence aspect becomes “fruitful and effective” upon the physical plane. This means that intelligence can now successfully carry out a portion of the Divine Plan.

11. Đệ tử có thể đã tưởng rằng y biết phần nào về Thiên Ý, nhưng khi đạt đến giai đoạn địa vị đệ tử được chấp nhận, ashram tập trung Thiên Ý ấy. Khi ý chí kích thích trí tuệ, phương diện trí tuệ trở nên “phong phú và hiệu quả” trên cõi hồng trần. Điều này có nghĩa là trí tuệ nay có thể thực hiện thành công một phần của Thiên Cơ.

12. We can see that Ashramic radiation will make a disciple a far more effective and useful server. His/her physical plane actions, guided by loving, intelligence spiritual will, will serve ashramic intention with an accuracy and impact unattainable before “acceptance”.

12. Chúng ta có thể thấy rằng sự tỏa chiếu ashram sẽ làm cho một đệ tử trở thành một người phụng sự hữu hiệu và hữu dụng hơn rất nhiều. Các hành động của y trên cõi hồng trần, được dẫn dắt bởi ý chí tinh thần đầy bác ái và trí tuệ, sẽ phụng sự ý định ashram với độ chính xác và tác động mà trước khi “được chấp nhận” không thể đạt tới.

13. The fourth result of ashramic radiation on the life of the accepted disciple (and it is not an immediate result, for it concerns that which “comes into view” after the third initiation) enters the realm of philosophy—though a practical and occult philosophy. “The purposes of time and space, of events and extension, of matter and consciousness have been achieved” we are told. This achievement occurs at the third initiation, when the illusions of time, space, matter, extension, events and consciousness (as usually understood) are somewhat dispelled. To a degree these categories will continue to exist in the consciousness of the higher initiate, but they will be seen in such a new light, that the understanding of them is very much altered.

13. Kết quả thứ tư của sự tỏa chiếu ashram trên đời sống của đệ tử được chấp nhận, và đó không phải là một kết quả tức thời, vì nó liên quan đến điều “hiện ra trong tầm nhìn” sau lần điểm đạo thứ ba, đi vào lĩnh vực triết học — tuy là một triết học thực tiễnhuyền bí. Chúng ta được cho biết rằng “các mục đích của thời gian và không gian, của biến cố và sự mở rộng, của vật chất và tâm thức đã được thành tựu”. Sự thành tựu này xảy ra ở lần điểm đạo thứ ba, khi các ảo tưởng về thời gian, không gian, vật chất, sự mở rộng, biến cố và tâm thức, như thường được hiểu, phần nào được làm tiêu tan. Ở một mức độ nào đó, các phạm trù này sẽ tiếp tục hiện hữu trong tâm thức của điểm đạo đồ cao cấp hơn, nhưng chúng sẽ được thấy trong một ánh sáng mới đến mức sự thấu hiểu về chúng được biến đổi rất nhiều.

14. The majority of the Ashrams are now focussed on the buddhic plane. We are told that relatively recently, the Ashrams moved to the buddhic plane from the higher mental plane. Upon the buddhic plane an entirely new type of consciousness ‘begins’—at least for the disciple who has previously been subject to the illusions of the three lower worlds. Ashramic radiation could not so well help to dispel the illusions of time and space, were they not now focussed on the buddhic plane.

14. Phần lớn các ashram hiện nay được tập trung trên cõi Bồ đề. Chúng ta được cho biết rằng tương đối gần đây, các ashram đã chuyển lên cõi Bồ đề từ Cõi thượng trí. Trên cõi Bồ đề, một loại tâm thức hoàn toàn mới “bắt đầu” — ít nhất là đối với đệ tử trước đó đã chịu tác động của các ảo tưởng thuộc ba cõi thấp. Sự tỏa chiếu ashram không thể giúp làm tiêu tan các ảo tưởng về thời gian và không gian một cách hiệu quả như vậy, nếu nay chúng không được tập trung trên cõi Bồ đề.

15. For the disciple approaching and identifying with the Ashram, something new is coming “into view”. This “something” is related to the awareness of the spirit the truly divine aspect of man.

15. Đối với đệ tử đang tiến gần và đồng hóa với ashram, một điều mới đang “hiện ra trong tầm nhìn”. “Điều” này liên quan đến nhận thức về tinh thần, phương diện thật sự thiêng liêng của con người.

16. The Ashram already lives “in” the awareness of this “something”, for the Ashram is focussed on the buddhic plane. It is natural, then, that ashramic radiation will confer upon the disciple’s consciousness something of the quality of the level of awareness of the Ashram.

16. Ashram vốn đã sống “trong” nhận thức về “điều” này, vì ashram tập trung trên cõi Bồ đề. Vì vậy, tự nhiên là bức xạ ashram sẽ truyền cho tâm thức của đệ tử một phần phẩm tính thuộc cấp độ nhận thức của ashram.

17. Thus, we can understand how ashramic radiation helps bring an awareness of the spirit “into view”. This cannot happen immediately, because one can be an accepted disciple even before the second initiation, and ‘spirit awareness’ really emerges following the third degree. But ashramic radiation will lead the consciousness of the disciple in that direction.

17. Do đó, chúng ta có thể hiểu cách bức xạ ashram giúp đưa nhận thức về tinh thần “hiện ra trong tầm nhìn”. Điều này không thể xảy ra ngay lập tức, vì một người có thể là đệ tử được chấp nhận ngay cả trước lần điểm đạo thứ hai, và “nhận thức tinh thần” thật sự xuất hiện sau cấp độ thứ ba. Nhưng bức xạ ashram sẽ dẫn tâm thức của đệ tử theo hướng đó.

18. As discussed earlier, the weakening of the personality quaternary slowly reveals the presence of a higher quaternary of which the buddhic vehicle is the lowest point. As buddhic focus increases, the Presence, Itself, “comes into view”. Of course, the word “view” suggests objectivity and the separation of “this” from “that”. Rather, as spirit “comes into view”, it is through an identificatory process and not a process of consciousness at all (for in consciousness, as usually understood, subject and object are differentiated, and when spirit comes into view. that differentiation is overcome).

18. Như đã bàn trước đó, sự suy yếu của bộ tứ phàm ngã dần dần làm hiển lộ sự hiện diện của một bộ tứ cao hơn, trong đó hiện thể Bồ đề là điểm thấp nhất. Khi sự tập trung Bồ đề gia tăng, chính Sự Hiện Diện “hiện ra trong tầm nhìn”. Dĩ nhiên, từ “tầm nhìn” gợi ý tính khách quan và sự tách biệt giữa “điều này” với “điều kia”. Đúng hơn, khi tinh thần “hiện ra trong tầm nhìn”, điều ấy diễn ra qua một tiến trình đồng hóa, chứ hoàn toàn không phải qua một tiến trình tâm thức; vì trong tâm thức, như thường được hiểu, chủ thể và đối tượng được biến phân, còn khi tinh thần hiện ra trong tầm nhìn, sự biến phân ấy được vượt qua.

19. The fifth result of ashramic radiation upon the consciousness of the accepted disciple is a glorious realization. The Ashram stimulates in its new members a very real sense of wholeness, which transcends the theory of wholeness found ready on the lips of those who are very far from any true appreciation of its real nature.

19. Kết quả thứ năm của bức xạ ashram trên tâm thức của đệ tử được chấp nhận là một sự chứng nghiệm huy hoàng. Ashram kích thích nơi các thành viên mới của mình một cảm thức rất thực về tính toàn vẹn, vượt lên trên lý thuyết về tính toàn vẹn vốn sẵn có trên môi miệng của những người còn rất xa mới có bất cứ sự trân trọng chân thật nào đối với bản chất thực sự của nó.

20. Note in this fifth point the presentation of all the things which a real understanding of wholeness is not—not a dream, vision, theory, process of wishful thinking, hypothesis nor an urge. These words pretty well include how the average disciple relates to the reality of oneness—even though he/she may think he/she has transcended these limited approaches. The radiatory stimulation of the Ashram brings all of these approaches into the realm of realized fulfillment. The fact of oneness/wholeness is known and can be asserted factually.

20. Hãy lưu ý trong điểm thứ năm này sự trình bày tất cả những gì mà một sự thấu hiểu chân thực về tính toàn vẹn không phải là — không phải một giấc mơ, linh ảnh, lý thuyết, tiến trình suy nghĩ theo ước muốn, giả thuyết hay một thôi thúc. Những từ này gần như bao gồm cách người đệ tử trung bình liên hệ với thực tại của tính nhất thể — ngay cả khi y có thể nghĩ rằng y đã vượt lên trên những lối tiếp cận giới hạn này. Sự kích thích bằng bức xạ của ashram đưa tất cả những lối tiếp cận ấy vào lĩnh vực của sự thành tựu đã được chứng nghiệm. Sự kiện về tính nhất thể/tính toàn vẹn được biết đến và có thể được khẳng định như một sự kiện.

21. The third aspect of consciousness (the individual, personal aspect) is completely overcome. “The macrocosmic whole is all there is”. The part no longer contends with the whole; it has lost the contest through the breaking of illusions, which begins to occur at the third degree.

21. Phương diện thứ ba của tâm thức, tức phương diện cá nhân và phàm ngã, hoàn toàn bị vượt qua. “Toàn thể đại thiên địa là tất cả những gì hiện hữu”. Phần không còn tranh chấp với toàn thể nữa; nó đã thua cuộc qua sự phá vỡ các ảo tưởng, điều bắt đầu xảy ra ở cấp độ thứ ba.

22. When these kinds of realizations begin to dawn, there is no room for argument. Argument belongs to unenlightened minds who are fighting about the true nature of that which they have not yet seen.

22. Khi những loại chứng nghiệm này bắt đầu ló rạng, không còn chỗ cho tranh luận. Tranh luận thuộc về những thể trí chưa giác ngộ đang tranh cãi về bản chất chân thật của điều mà họ chưa từng thấy.

23. We can see that ashramic radiation leads the disciple into the realm of “death”, but it is an occult death which is more living than any life experienced before that point.

23. Chúng ta có thể thấy rằng bức xạ ashram dẫn đệ tử vào lĩnh vực của “cái chết”, nhưng đó là một cái chết huyền bí, vốn sống động hơn bất cứ sự sống nào đã từng được trải nghiệm trước điểm ấy.

24. Once the disciple has truly “entered the stream”, the stream of ashramic radiatory influence is there to propel him/her along towards the great “ocean of consciousness” and realization. We can understand that entry into that “ocean” is a kind of death to all the limitations of form.

24. Một khi đệ tử đã thật sự “nhập lưu”, dòng ảnh hưởng bức xạ ashram hiện diện để thúc đẩy y tiến về phía “đại dương tâm thức” và sự chứng nghiệm vĩ đại. Chúng ta có thể hiểu rằng việc đi vào “đại dương” ấy là một loại cái chết đối với mọi giới hạn của hình tướng.

25. It becomes clear that ashramic radiation leads the disciple towards the opportunity of the fourth initiation, when “death” is truly understood and faced, and real entry into life occurs.

25. Rõ ràng là bức xạ ashram dẫn đệ tử hướng tới cơ hội của lần điểm đạo thứ tư, khi “cái chết” thật sự được thấu hiểu và đối diện, và sự đi vào đích thực trong sự sống xảy ra.

26. Surely we see how profound are these five points which discuss the radiatory effect of the Ashram upon the new accepted disciple. Let us ponder them carefully, and see whether we can sense any of these factors operative in our lives, and to what degree.

26. Chắc chắn chúng ta thấy năm điểm bàn về tác động bức xạ của ashram trên đệ tử mới được chấp nhận này sâu sắc biết bao. Chúng ta hãy suy ngẫm kỹ về chúng, và xem liệu chúng ta có thể cảm nhận bất cứ yếu tố nào trong số này đang hoạt động trong đời sống mình hay không, và ở mức độ nào.

I. Paragraph 8

I. Đoạn 8

1. When admitted into an Ashram, life is approached from the angle of the Observer and not from that of a participator in actual experiment and experience in the three worlds. This Observer is different to the Observer on the probationary Path. (cf. RI p. 99)

1. Khi được nhận vào một ashram, sự sống được tiếp cận từ góc độ của Nhà Quan Sát, chứ không phải từ góc độ của một người tham dự vào cuộc thử nghiệm và kinh nghiệm thực tế trong ba cõi thấp. Nhà Quan Sát này khác với Nhà Quan Sát trên Con Đường Dự Bị. (xem RI tr. 99)

2. Those who form the Ashram are living in the three worlds of experience if they are accepted disciples, but the focus of their attention is not there. If they are initiated disciples, they are unaware of the activities and reactions of their personalities, because certain aspects of the lower nature are now so controlled and purified that they have dropped below the threshold of consciousness and have entered the world of instinct. (cf. RI p. 99)

2. Những ai hợp thành ashram thì đang sống trong ba cõi giới của kinh nghiệm nếu họ là các đệ tử được chấp nhận, nhưng trọng tâm chú ý của họ không ở đó. Nếu họ là các đệ tử được điểm đạo, họ không còn nhận biết các hoạt động và phản ứng của phàm ngã mình, bởi vì một số phương diện của bản chất thấp giờ đây đã được kiểm soát và thanh luyện đến mức chúng đã rơi xuống dưới ngưỡng tâm thức và đã đi vào thế giới bản năng. (xem RI tr. 99)

3. Death is in reality unconsciousness of that which may be functioning in some form or another, but in a form of which the spiritual entity is totally unaware. (cf. RI p. 100)

3. Cái chết, trong thực tại, là sự vô thức đối với điều có thể đang vận hành trong hình thức này hay hình thức khác, nhưng trong một hình thức mà thực thể tinh thần hoàn toàn không nhận biết. (xem RI tr. 100)

4. The reservoir of life is the place of death, and this is the first lesson the disciple learns. (cf. RI p. 100)

4. Kho chứa sự sống là nơi của cái chết, và đây là bài học đầu tiên mà đệ tử học được. (xem RI tr. 100)

It will be obvious, therefore, that the interpretation of these Rules must involve capacity to pass beyond the usual attitudes and what one might call the usual metaphysical and theosophical platitudes, and to see life as the Hierarchy sees it. This means that life is approached from the angle of the Observer and not from that of a participator in actual experiment and experience in the three worlds. This Observer is different to the Observer on the probationary Path. Most of the experiment and experience has been left behind, and a new orientation to a world of values, higher than even the world of meaning, has set in. This attitude might well be described as the mode of approach of all who form a part of an Ashram. Those who form the Ashram are living in the three worlds of experience if they are accepted disciples, but the focus of their attention is not there. If they are initiated disciples, they are increasingly unaware of the activities and reactions of their personalities, because certain aspects of the lower nature are now so controlled and purified that they have dropped below the threshold of consciousness and have entered the world of instinct; therefore there is no more awareness of them than a man asleep is conscious of the rhythmic functioning of his sleeping [Page 100] physical vehicle. This is a deep and largely unrealised truth. It is related to the entire process of death and might be regarded as one of the definitions of death; it holds the clue to the mysterious words “the reservoir of life.” Death is in reality unconsciousness of that which may be functioning in some form or another, but in a form of which the spiritual entity is totally unaware. The reservoir of life is the place of death, and this is the first lesson the disciple learns.

Do đó, điều hiển nhiên là việc diễn giải các Quy luật này phải bao hàm khả năng vượt qua những thái độ thông thường và những điều mà người ta có thể gọi là các sáo ngữ siêu hình và Thông Thiên Học thông thường, để thấy sự sống như Thánh đoàn thấy. Điều này có nghĩa là sự sống được tiếp cận từ góc độ của Nhà Quan Sát, chứ không phải từ góc độ của một người tham dự vào cuộc thử nghiệm và kinh nghiệm thực tế trong ba cõi thấp. Nhà Quan Sát này khác với Nhà Quan Sát trên Con Đường Dự Bị. Phần lớn cuộc thử nghiệm và kinh nghiệm đã được bỏ lại phía sau, và một định hướng mới hướng tới một thế giới các giá trị, cao hơn ngay cả Thế giới của ý nghĩa, đã bắt đầu. Thái độ này rất có thể được mô tả là phương thức tiếp cận của tất cả những ai hợp thành một phần của ashram. Những ai hợp thành ashram thì đang sống trong ba cõi giới của kinh nghiệm nếu họ là các đệ tử được chấp nhận, nhưng trọng tâm chú ý của họ không ở đó. Nếu họ là các đệ tử được điểm đạo, họ ngày càng không nhận biết các hoạt động và phản ứng của phàm ngã mình, bởi vì một số phương diện của bản chất thấp giờ đây đã được kiểm soát và thanh luyện đến mức chúng đã rơi xuống dưới ngưỡng tâm thức và đã đi vào thế giới bản năng; do đó, họ không còn nhận thức về chúng hơn gì một người đang ngủ nhận thức về sự vận hành nhịp nhàng của hiện thể [Page 100] hồng trần đang ngủ của mình. Đây là một chân lý sâu xa và phần lớn chưa được chứng nghiệm. Nó liên quan đến toàn bộ tiến trình của cái chết và có thể được xem như một trong những định nghĩa về cái chết; nó nắm giữ chìa khóa của những lời bí nhiệm “kho chứa sự sống”. Cái chết, trong thực tại, là sự vô thức đối với điều có thể đang vận hành trong hình thức này hay hình thức khác, nhưng trong một hình thức mà thực thể tinh thần hoàn toàn không nhận biết. Kho chứa sự sống là nơi của cái chết, và đây là bài học đầu tiên mà đệ tử học được.

1. DK tells us that there is no way to interpret this Rule successfully unless we can move beyond the usual attitudes, metaphysical and theosophical platitudes. Without realization, our interpretations will be untrue and insubstantial.

1. Chân sư DK nói với chúng ta rằng không có cách nào diễn giải Quy luật này thành công trừ phi chúng ta có thể vượt qua những thái độ thông thường, những sáo ngữ siêu hình và Thông Thiên Học. Nếu không có sự chứng nghiệm, các diễn giải của chúng ta sẽ không chân thật và thiếu thực chất.

2. What would it mean to see life as the Hierarchy sees it? Technically, the accepted disciple is a member of the Spiritual Hierarchy, though, of course, a neophyte.

2. Thấy sự sống như Thánh đoàn thấy có nghĩa là gì? Về mặt kỹ thuật, đệ tử được chấp nhận là một thành viên của Huyền Giai Tinh Thần, dù dĩ nhiên vẫn là một người sơ cơ.

3. Hierarchy views the world through the consciousness of love-wisdom. Hierarchy sees with “pure reason” and with “infallible intuitive perception”. Hierarchy has mastered to some significant extent the buddhic consciousness. All these perspectives would be required of one capable of seeing life as Hierarchy sees it.

3. Thánh đoàn nhìn thế giới qua tâm thức Bác Ái – Minh Triết. Thánh đoàn thấy bằng “lý trí thuần khiết” và bằng “nhận thức trực giác không sai lầm”. Thánh đoàn đã làm chủ tâm thức Bồ đề đến một mức độ đáng kể. Tất cả những viễn cảnh này sẽ được đòi hỏi nơi người có khả năng thấy sự sống như Thánh đoàn thấy.

4. But all of us are participators in experiment and experience within the three worlds. We are still ‘here’ and are not sufficiently free to see as can see those who have completed Their experiment and experience. Yet the accepted disciple is beginning the process of completion and can, therefore, begin the process of seeing as see Those who stand, for him/her, as great Prototypes.

4. Nhưng tất cả chúng ta đều là những người tham dự vào cuộc thử nghiệm và kinh nghiệm trong ba cõi thấp. Chúng ta vẫn còn “ở đây” và chưa đủ tự do để thấy như những Đấng đã hoàn tất cuộc thử nghiệm và kinh nghiệm của Các Ngài có thể thấy. Tuy nhiên, đệ tử được chấp nhận đang bắt đầu tiến trình hoàn tất, và vì vậy, có thể bắt đầu tiến trình thấy như Những Đấng đối với y là các Nguyên Mẫu vĩ đại đang thấy.

5. Master DK urges upon us a new understanding of the term “Observer”, for it is observers we are to become, but not the kind of observer which is found upon the Probationary Path. The observer standing on the probationary path is attempting some form of detached mental observation so he/she can free himself/herself from glamor (and, to a degree, illusion).This type of observation serves the interests of clarification. The kind of Observer which the more advanced disciple must become uses observation as a method of detached, synthetic understanding. The major glamors and illusions have been overcome, and as one becomes this kind of Observer, one begins identifying with the spirit through which, ultimately, all observation comes. The monad or spirit is, for us, the ultimate, detached Spiritual Observer.

5. Chân sư DK thúc giục chúng ta có một sự thấu hiểu mới về thuật ngữ “Nhà Quan Sát”, vì chúng ta phải trở thành những nhà quan sát, nhưng không phải loại nhà quan sát được thấy trên Con Đường Dự Bị. Nhà quan sát đứng trên Con Đường Dự Bị đang cố gắng một hình thức quan sát trí tuệ tách rời nào đó để y có thể giải thoát chính mình khỏi ảo cảm và, ở một mức độ nào đó, khỏi ảo tưởng. Loại quan sát này phục vụ cho lợi ích của sự làm sáng tỏ. Loại Nhà Quan Sát mà đệ tử tiến xa hơn phải trở thành thì sử dụng sự quan sát như một phương pháp thấu hiểu tổng hợp và tách rời. Những ảo cảm và ảo tưởng chính đã được vượt qua, và khi một người trở thành loại Nhà Quan Sát này, y bắt đầu đồng hóa với tinh thần, qua đó, rốt cuộc, mọi sự quan sát đều phát xuất. Chân thần hay tinh thần, đối với chúng ta, là Nhà Quan Sát Tinh Thần tối hậu và tách rời.

6. For the kind of Observer we are to become, new values are being developed. The World of Meaning (so important to soul consciousness) is being transcended. The World of Significance is being entered.

6. Đối với loại Nhà Quan Sát mà chúng ta phải trở thành, các giá trị mới đang được phát triển. Thế giới của ý nghĩa, vốn rất quan trọng đối với tâm thức linh hồn, đang được vượt qua. Thế giới của thâm nghĩa đang được bước vào.

7. We are told that all those who are members of an Ashram are Observers of this kind. The attempt to become the Observer in this higher sense is a “mode of approach” familiar to all ashramic members. Full members of the Ashram have achieved it; newcomers to the Ashram are achieving it.

7. Chúng ta được cho biết rằng tất cả những ai là thành viên của một ashram đều là những Nhà Quan Sát thuộc loại này. Nỗ lực trở thành Nhà Quan Sát theo nghĩa cao hơn này là một “phương thức tiếp cận” quen thuộc với mọi thành viên ashram. Các thành viên trọn vẹn của ashram đã đạt được điều đó; những người mới đến ashram đang đạt được điều đó.

8. DK contrasts the consciousness of the accepted disciple with that of the true initiate. Accepted disciples live in the three worlds, but the major focus of their consciousness is not there. They are becoming increasingly detached from preoccupation with the happenings in those three worlds. They are learning to focus as the Observer, which is soul conscious and increasingly, and in time, spirit conscious.

8. Chân sư DK đối chiếu tâm thức của đệ tử được chấp nhận với tâm thức của điểm đạo đồ chân chính. Các đệ tử được chấp nhận sống trong ba cõi thấp, nhưng trọng tâm chính của tâm thức họ không ở đó. Họ ngày càng trở nên tách rời khỏi sự bận tâm với những biến cố trong ba cõi ấy. Họ đang học cách tập trung như Nhà Quan Sát, vốn có ý thức linh hồn và ngày càng, theo thời gian, có ý thức tinh thần.

9. The true initiate has advanced even further. DK tells us something rather remarkable. All personality functioning has dropped below the threshold of consciousness for the true initiate. There is no more ‘trouble’ in the realm of personality. Personality reactions have long been purified and controlled. They have been correctly patterned and no longer obtrude. Personality function has become instinctive. The true initiate is totally unaware of that level of functioning (to us, is it not true, a very noticeable level—usually). To make His point exceedingly graphic, DK refers to our unawareness of the physical body during sleep. The consciousness is elsewhere. The one who is truly asleep is focussed on the inner planes. What his/her physical body does or does not do is quite unconscious. Can one imagine the point of tension required to render the personality and its responses completely instinctual and unconscious?

9. Điểm đạo đồ chân chính đã tiến xa hơn nữa. Chân sư DK nói với chúng ta một điều khá đáng chú ý. Toàn bộ sự vận hành của phàm ngã đã rơi xuống dưới ngưỡng tâm thức đối với điểm đạo đồ chân chính. Không còn “rắc rối” nào trong lĩnh vực phàm ngã. Các phản ứng của phàm ngã từ lâu đã được thanh luyện và kiểm soát. Chúng đã được định khuôn đúng đắn và không còn chen vào nữa. Chức năng của phàm ngã đã trở thành bản năng. Điểm đạo đồ chân chính hoàn toàn không nhận biết cấp độ vận hành ấy, một cấp độ đối với chúng ta, chẳng phải là rất dễ nhận thấy hay sao, thường là như vậy. Để làm cho luận điểm của Ngài trở nên hết sức sống động, Chân sư DK nhắc đến việc chúng ta không nhận biết thể xác trong lúc ngủ. Tâm thức ở nơi khác. Người thật sự đang ngủ thì tập trung trên các cõi bên trong. Thể xác của y làm hay không làm gì đều hoàn toàn vô thức. Người ta có thể hình dung điểm tập trung nhất tâm cần thiết để khiến phàm ngã và các đáp ứng của nó trở nên hoàn toàn bản năng và vô thức hay không?

10. The Master is telling us something really important about initiate consciousness—something, He suggests, that is both deep and unrealized.

10. Chân sư đang nói với chúng ta một điều thật sự quan trọng về tâm thức điểm đạo đồ — một điều mà Ngài gợi ý là vừa sâu xa vừa chưa được chứng nghiệm.

11. DK deals with very occult matters:

11. Chân sư DK đề cập đến những vấn đề rất huyền bí:

“This is a deep and largely unrealised truth. It is related to the entire process of death and might be regarded as one of the definitions of death; it holds the clue to the mysterious words ‘the reservoir of life.’ Death is in reality unconsciousness of that which may be functioning in some form or another, but in a form of which the spiritual entity is totally unaware. The reservoir of life is the place of death, and this is the first lesson the disciple learns.”

“Đây là một chân lý sâu xa và phần lớn chưa được chứng nghiệm. Nó liên quan đến toàn bộ tiến trình của cái chết và có thể được xem như một trong những định nghĩa về cái chết; nó nắm giữ chìa khóa của những lời bí nhiệm ‘kho chứa sự sống’. Cái chết, trong thực tại, là sự vô thức đối với điều có thể đang vận hành trong hình thức này hay hình thức khác, nhưng trong một hình thức mà thực thể tinh thần hoàn toàn không nhận biết. Kho chứa sự sống là nơi của cái chết, và đây là bài học đầu tiên mà đệ tử học được.”

DK is giving us a new insight into the meaning of death. Death is defined in terms of consciousness and unconsciousness. That which dies passes out of our range of consciousness and into a dimension from which it can no longer be conscious of the dimension from which it passed (at least, not usually). To those who have dimensionally-pervasive consciousness, there is no death. There is merely something happening ‘in another room’, so to speak.

Chân sư DK đang trao cho chúng ta một tuệ kiến mới về ý nghĩa của cái chết. Cái chết được định nghĩa theo tâm thức và vô thức. Điều chết đi vượt ra khỏi phạm vi tâm thức của chúng ta và đi vào một chiều kích mà từ đó nó không còn có thể ý thức về chiều kích mà nó đã rời khỏi, ít nhất thường là như vậy. Đối với những ai có tâm thức thấm khắp các chiều kích, không có cái chết. Chỉ đơn thuần có một điều gì đó đang xảy ra “trong một căn phòng khác”, có thể nói như vậy.

12. The “reservoir of life is the place of death”. This is the first lesson the accepted disciple in an Ashram learns. It seems a difficult and obscure lesson. Perhaps it means that the lesson of “multi-dimensional consciousness” is brought home as a factual reality. We normally live in such a darkened space of consciousness. The accepted disciple is given the opportunity to overcome such limitations and ‘leave the darkened room’.

12. “Kho chứa sự sống là nơi của cái chết”. Đây là bài học đầu tiên mà đệ tử được chấp nhận trong một ashram học được. Dường như đó là một bài học khó và mơ hồ. Có lẽ nó có nghĩa là bài học về “tâm thức đa chiều” được đưa về nhà như một thực tại có tính sự kiện. Bình thường chúng ta sống trong một không gian tâm thức tối tăm như thế. Đệ tử được chấp nhận được trao cơ hội vượt qua những giới hạn ấy và “rời khỏi căn phòng tối”.

13. So much stimulation emanates from dimensions which are outside the apprehension of the normal consciousness. A reservoir is a place of sustainment. That which is needed is stored there. Water, for instance, is drawn from a water reservoir to meet need. Occult reservoirs are hidden from the eyes of the uninitiated. They, therefore, exist in the realm of “death”, because the usual consciousness is unconscious of them.

13. Quá nhiều sự kích thích xuất lộ từ những chiều kích nằm ngoài tầm lĩnh hội của tâm thức bình thường. Một kho chứa là nơi duy trì. Điều cần thiết được cất giữ ở đó. Chẳng hạn, nước được lấy từ một hồ chứa nước để đáp ứng nhu cầu. Các kho chứa huyền bí bị che khuất khỏi mắt của những người chưa được điểm đạo. Vì vậy, chúng tồn tại trong lĩnh vực của “cái chết”, bởi vì tâm thức thông thường thì vô thức đối với chúng.

14. We are, in a way, ‘dead’ to the true sources of sustainment of the worlds in which we habitually live.

14. Theo một cách nào đó, chúng ta “đã chết” đối với các nguồn duy trì chân thật của những thế giới mà chúng ta quen sống trong đó.

15. If we are to “overcome death” we must begin by overcoming unconsciousness. Every bringing of unconscious content into the realm of consciousness is an incremental step in the overcoming of death.

15. Nếu chúng ta muốn “vượt qua cái chết”, chúng ta phải bắt đầu bằng việc vượt qua sự vô thức. Mỗi lần đưa nội dung vô thức vào lĩnh vực tâm thức là một bước gia tăng trong việc vượt qua cái chết.

16. No doubt there are many “reservoirs of life”. There are many ‘energy repositories’ for all manner of lives. The various conditions of “pralaya” are such energy repositories. Death is a limitation upon accessibility. To the one who overcomes death, the repositories or reservoirs of energies on various planes are increasingly accessible.

16. Không nghi ngờ gì, có nhiều “kho chứa sự sống”. Có nhiều “kho năng lượng” dành cho đủ loại sự sống. Các tình trạng khác nhau của “Giai kỳ qui nguyên” là những kho năng lượng như thế. Cái chết là một giới hạn đối với khả năng tiếp cận. Đối với người vượt qua cái chết, các kho hay kho chứa năng lượng trên những cõi khác nhau ngày càng trở nên có thể tiếp cận.

17. The accepted disciple learns an attitude which might be expressed as the following mantram: ‘death demands penetration’. Everything is ‘here’; everything is ‘happening’, but we don’t know it—directly. Direct knowledge must come, and with its coming, the reign of what we usually call “death” will end.

17. Đệ tử được chấp nhận học một thái độ có thể được diễn tả bằng mantram sau đây: “cái chết đòi hỏi sự xuyên nhập”. Mọi sự đều “ở đây”; mọi sự đều “đang xảy ra”, nhưng chúng ta không biết điều đó một cách trực tiếp. Tri thức trực tiếp phải đến, và khi nó đến, triều đại của điều chúng ta thường gọi là “cái chết” sẽ chấm dứt.

J. Paragraph 9

J. Đoạn 9

1. The eighteen fires refer to the eighteen states of matter which constitute the personality (seven physical states of matter, seven emotional states, enabling the astral body to function on the seven subplanes of the astral plane, and four states of matter for each of the four conditions of the concrete mind). (cf. RI p. 100)

1. Mười tám ngọn lửa chỉ mười tám trạng thái của vật chất cấu thành phàm ngã: bảy trạng thái vật chất hồng trần, bảy trạng thái cảm xúc, giúp thể cảm dục vận hành trên bảy cõi phụ của cõi cảm dục, và bốn trạng thái vật chất cho mỗi trong bốn tình trạng của trí cụ thể. (xem RI tr. 100)

2. The eighteen fires are, in fact, eighteen grades of substance, eighteen vibratory groups of atoms, and eighteen aggregates of life which form the bodies of the lunar lords which in their totality, form the body of the Lunar Lord, the Personality. (cf. RI p. 100)

2. Mười tám ngọn lửa thật ra là mười tám cấp độ chất liệu, mười tám nhóm nguyên tử rung động, và mười tám tập hợp sự sống tạo thành các thể của những nguyệt tinh quân, mà trong toàn thể của chúng, tạo thành thể của Nguyệt Tinh Quân, tức Phàm ngã. (xem RI tr. 100)

The eighteen fires refer to the eighteen states of matter which constitute the personality. They are: seven physical states of matter, seven emotional states, enabling the astral body to function on the seven subplanes of the astral plane, and four states of matter for each of the four conditions of the concrete mind—(7, 7, 4, = 18). These are eighteen grades of substance, eighteen vibratory groups of atoms, and eighteen aggregates of life which form the bodies of the lunar lords (as The Secret Doctrine calls them) which in their totality, form the body of the Lunar Lord, the Personality. The above is the very a b c of occultism and a familiar truth to all of you. What is referred to here has, however, no reference to processes of purification, of control or of discipline. These have been much earlier considered and are regarded as the necessary processes instituted upon the probationary path, and should have reached a point prior to the stage of accepted discipleship where—rapid or slow in expression—they are nevertheless automatic in action, sure and inevitable.

Mười tám ngọn lửa chỉ mười tám trạng thái của vật chất cấu thành phàm ngã. Chúng là: bảy trạng thái vật chất hồng trần, bảy trạng thái cảm xúc, giúp thể cảm dục vận hành trên bảy cõi phụ của cõi cảm dục, và bốn trạng thái vật chất cho mỗi trong bốn tình trạng của trí cụ thể — (7, 7, 4, = 18). Đây là mười tám cấp độ chất liệu, mười tám nhóm nguyên tử rung động, và mười tám tập hợp sự sống tạo thành các thể của những nguyệt tinh quân, như Giáo Lý Bí Nhiệm gọi chúng, mà trong toàn thể của chúng, tạo thành thể của Nguyệt Tinh Quân, tức Phàm ngã. Những điều trên là phần vỡ lòng căn bản nhất của huyền bí học và là một chân lý quen thuộc với tất cả các bạn. Tuy nhiên, điều được nói đến ở đây không liên quan đến các tiến trình thanh luyện, kiểm soát hay kỷ luật. Những tiến trình này đã được xem xét từ rất sớm và được coi là các tiến trình cần thiết được thiết lập trên Con Đường Dự Bị, và lẽ ra phải đạt đến một điểm trước giai đoạn địa vị đệ tử được chấp nhận, nơi mà — dù biểu lộ nhanh hay chậm — chúng vẫn tự động trong hành động, chắc chắn và tất yếu.

1. The eighteen fires are eighteen states of matter, vibratorily distinct. We do not yet have the key notes and vibratory frequencies which distinguish one state of matter from another, but one day, when we can be trusted, and when it will serve a useful purpose in relation to the Plan, we will be entrusted with them.

1. Mười tám ngọn lửa là mười tám trạng thái vật chất, khác biệt về mặt rung động. Chúng ta chưa có các chủ âm và tần số rung động phân biệt trạng thái vật chất này với trạng thái vật chất khác, nhưng một ngày nào đó, khi chúng ta có thể được tin cậy, và khi điều ấy phục vụ một mục đích hữu ích liên quan đến Thiên Cơ, chúng ta sẽ được giao phó chúng.

2. Master DK gives us technical information concerning the eighteen fires. He calls them “eighteen grades of substance, eighteen vibratory groups of atoms, and eighteen aggregate of life”. To learn more about these aggregates from a quantitative point of view, the book Occult Chemistry, by C.W. Leadbeater and Annie Besant is recommended. The methods of aggregation are therein disclosed.

2. Chân sư DK trao cho chúng ta thông tin kỹ thuật liên quan đến mười tám ngọn lửa. Ngài gọi chúng là “mười tám cấp độ chất liệu, mười tám nhóm nguyên tử rung động, và mười tám tập hợp sự sống”. Để tìm hiểu thêm về các tập hợp này từ quan điểm định lượng, nên tham khảo sách Hóa Học Huyền Bí, của C.W. Leadbeater và Annie Besant. Các phương pháp tập hợp được tiết lộ trong đó.

3. Some basic occultism is given here with which most of us will be familiar.

3. Một số huyền bí học căn bản được đưa ra ở đây, điều mà phần lớn chúng ta đều quen thuộc.

4. As suggested earlier in this Commentary, the number 18 is to be studied numerologically and in relation to the third ray.

4. Như đã gợi ý trước đó trong phần Chú Giải này, con số 18 cần được nghiên cứu theo số học huyền bí và trong liên hệ với cung ba.

5. DK points out to us that, with respect to Rule IV, we are not dealing with the processes of purification (processes instituted upon the Paths of Aspiration and Probation).

5. Chân sư DK chỉ ra cho chúng ta rằng, liên quan đến Quy luật IV, chúng ta không đang đề cập đến các tiến trình thanh luyện, những tiến trình được thiết lập trên Con Đường Khát Vọng và Con Đường Dự Bị.

6. An important hint is given to us: by the time the stage of accepted discipleship is reached the processes of purification, control and discipline are “automatic in action, sure and inevitable” even though the degree of rapidity of these processes will vary from disciple to disciple.

6. Một gợi ý quan trọng được trao cho chúng ta: vào lúc đạt đến giai đoạn địa vị đệ tử được chấp nhận, các tiến trình thanh luyện, kiểm soát và kỷ luật đều “tự động trong hành động, chắc chắn và tất yếu”, dù mức độ nhanh chậm của những tiến trình này sẽ khác nhau giữa đệ tử này với đệ tử khác.

7. Thus, for an accepted disciple, it is not a question of “whether” there will be purification, control and discipline, but rather of “how long it will take”. It will happen and, in fact, is in process—automatically.

7. Vì vậy, đối với một đệ tử được chấp nhận, vấn đề không phải là “liệu” có sự thanh luyện, kiểm soát và kỷ luật hay không, mà đúng hơn là “sẽ mất bao lâu”. Điều đó sẽ xảy ra và, thật ra, đang trong tiến trình — một cách tự động.

8. The dying down of the eighteen fires is the dying down of purified, controlled and disciplined fires. They are working well and as they should, but must give way to vibratory states which are intended to supersede them (intended to lead into states of consciousness and potential not accessible to the eighteen fires no matter how refined and purified).

8. Sự lắng xuống của mười tám ngọn lửa là sự lắng xuống của những ngọn lửa đã được thanh luyện, kiểm soát và kỷ luật. Chúng đang hoạt động tốt và đúng như phải thế, nhưng phải nhường chỗ cho những trạng thái rung động được dự định thay thế chúng, được dự định dẫn vào các trạng thái tâm thức và tiềm năng mà mười tám ngọn lửa không thể tiếp cận, dù chúng tinh luyện và thanh khiết đến đâu.

9. If we think that the initiate of the third degree still functions through a personality (albeit a very highly developed personality—refined, purified, controlled and disciplined), we can see the corroboration that the dying down of the eighteen fires refers to fires that have already been spiritually conditioned to a great extent and are not altogether unmanageable and rebellious. Still, because they are burning and consuming attention, they are ultimately obstructive of the higher processes which must supersede them.

9. Nếu chúng ta nghĩ rằng điểm đạo đồ cấp độ thứ ba vẫn vận hành qua một phàm ngã, dù là một phàm ngã phát triển rất cao — tinh luyện, thanh luyện, kiểm soát và kỷ luật — thì chúng ta có thể thấy sự xác nhận rằng sự lắng xuống của mười tám ngọn lửa chỉ những ngọn lửa đã được tác động tinh thần đến một mức độ lớn và không hoàn toàn khó kiểm soát hay phản nghịch. Tuy vậy, vì chúng đang cháy và tiêu hao sự chú ý, rốt cuộc chúng cản trở các tiến trình cao hơn vốn phải thay thế chúng.

K. Paragraph 10

K. Đoạn 10

Detachment and its significance for the initiate:

Sự tách rời và thâm nghĩa của nó đối với điểm đạo đồ:

It is the detachment of the soul from the body or the institution of those activities which bring about what is called in the Bible “the second death.” It is not detachment as the aspirant practices it. It is the scientific breaking of all links and the ending (through completed use) of all contacts which are now regarded as militating against liberation. It is in reality a scientific process of ending karma; it is individual and national karma which brings a man back into a physical vehicle and clothes him with the qualities and aspects of substance. This must end whilst he is a member of the Master’s Ashram and is preparing himself for the triumph of the fourth initiation. This is brought about by the automatic, ceaseless and unquestioning fulfillment of duty, from the angle of recognised service. (cf. RI p. 100-101)

Đó là sự tách rời của linh hồn khỏi thể, hay việc thiết lập những hoạt động đem lại điều được gọi trong Kinh Thánh là “cái chết thứ hai”. Đó không phải là sự tách rời như người chí nguyện thực hành. Đó là sự cắt đứt một cách khoa học mọi liên kết và sự chấm dứt, qua việc sử dụng đã hoàn tất, mọi tiếp xúc hiện nay được xem là chống lại sự giải thoát. Thực ra, đó là một tiến trình khoa học nhằm chấm dứt nghiệp quả; chính nghiệp quả cá nhân và quốc gia đưa con người trở lại một hiện thể hồng trần và khoác cho y các phẩm tính cùng phương diện của chất liệu. Điều này phải chấm dứt trong khi y là thành viên của ashram của Chân sư và đang tự chuẩn bị cho chiến thắng của lần điểm đạo thứ tư. Điều này được đem lại bởi sự chu toàn bổn phận một cách tự động, không ngừng và không thắc mắc, từ góc độ của phụng sự đã được nhận biết. (xem RI tr. 100-101)

The first sentence in this fourth rule refers to Detachment—the detachment of the soul from the body or the institution of those activities which bring about what is called in the Bible “the second death.” It is not detachment as the aspirant practices it. It is the scientific breaking of all links and the ending (through completed use) of all contacts which are now regarded as militating against liberation. It is in reality a scientific process of ending karma; it is individual and national karma which brings a man back into a physical vehicle and clothes him with the qualities and aspects of substance. This must end whilst he is a member [Page 101] of the Master’s Ashram and is preparing himself for the triumph of the fourth initiation. This is brought about by the automatic, ceaseless and unquestioning fulfillment of duty, from the angle of recognised service.

Câu đầu tiên trong quy luật thứ tư này đề cập đến Sự tách rời—sự tách rời của linh hồn khỏi thể xác, hoặc việc thiết lập những hoạt động đưa đến điều được gọi trong Kinh Thánh là “cái chết thứ hai”. Đó không phải là sự tách rời như người chí nguyện thực hành. Đó là sự cắt đứt một cách khoa học mọi liên kết và sự chấm dứt, nhờ đã sử dụng trọn vẹn, mọi tiếp xúc hiện nay được xem là chống lại giải thoát. Thực ra, đó là một tiến trình khoa học nhằm chấm dứt nghiệp quả; chính nghiệp quả cá nhân và quốc gia đưa con người trở lại vào một vận cụ hồng trần và khoác cho y các phẩm tính và phương diện của chất liệu. Điều này phải chấm dứt khi y còn là một thành viên [Page 101] của Ashram của Chân sư và đang chuẩn bị cho chính mình bước vào chiến thắng của lần điểm đạo thứ tư. Điều này được thực hiện nhờ sự hoàn thành bổn phận một cách tự động, không ngừng và không chất vấn, từ góc độ được nhận biết của phụng sự.

1. Detachment, we are told, is the keynote of the first sentence of Rule IV. This is not the detachment of the mind from the astral vehicle (a preliminary and necessary detachment). It is a detachment of soul consciousness from the entire personality. It begins with the process of disidentification from the personality nature and ends with the consciousness focussed firmly in the soul.

1. Chúng ta được cho biết rằng Sự tách rời là chủ âm của câu đầu tiên trong Quy luật IV. Đây không phải là sự tách rời của thể trí khỏi vận cụ cảm dục, một sự tách rời sơ bộ và cần thiết. Đó là sự tách rời của tâm thức linh hồn khỏi toàn bộ phàm ngã. Nó bắt đầu bằng tiến trình thôi đồng hoá với bản chất phàm ngã và kết thúc với tâm thức được tập trung vững chắc trong linh hồn.

2. Just as there is a “second birth” (which we can think of as the first initiation), so there is a “second death” which can reasonably be conceived as the fourth initiation.

2. Cũng như có “lần sinh thứ hai”, mà chúng ta có thể xem là lần điểm đạo thứ nhất, thì cũng có “cái chết thứ hai”, điều có thể được quan niệm hợp lý là lần điểm đạo thứ tư.

3. The aspirant practices one type of detachment. He/she seeks no longer to be swayed by desire, emotion and wayward thought currents. This is detachment within the realm of personality. The detachment we are speaking of here is detachment from the personality altogether.

3. Người chí nguyện thực hành một loại tách rời. Y tìm cách không còn bị dao động bởi dục vọng, cảm xúc và các dòng tư tưởng thất thường. Đây là sự tách rời trong phạm vi phàm ngã. Sự tách rời mà chúng ta đang nói đến ở đây là sự tách rời khỏi toàn thể phàm ngã.

4. We see much of the first ray entering in the process which makes of the accepted disciple the true Observer and the ‘One Detached’. There are a deliberate “breaking of links” and an ending of all contacts militating against liberation. One can clearly see the application of the potency of Pluto—the one who “severs the thread”.

4. Chúng ta thấy nhiều ảnh hưởng của cung một đi vào tiến trình làm cho đệ tử được chấp nhận trở thành Nhà Quan Sát đích thực và “Người Tách Rời”. Có một sự “cắt đứt các liên kết” có chủ ý và một sự chấm dứt mọi tiếp xúc chống lại giải thoát. Người ta có thể thấy rõ sự ứng dụng quyền năng của Sao Diêm Vương—đấng “cắt đứt sợi dây”.

5. Note that we are talking about a “scientific” breaking of links. We must remember that at the third initiation, the term “science” takes on a special significance. The fifth ray is prominent at this initiation and is necessarily used in preparation for the fourth degree, when all ties to the world of normal human experience are broken. That initiation, however, is qualified mainly by the fourth ray.

5. Hãy lưu ý rằng chúng ta đang nói về một sự cắt đứt các liên kết một cách “khoa học”. Chúng ta phải nhớ rằng ở lần điểm đạo thứ ba, thuật ngữ “khoa học” mang một thâm nghĩa đặc biệt. Cung năm nổi bật ở lần điểm đạo này và tất yếu được dùng trong sự chuẩn bị cho cấp độ thứ tư, khi mọi ràng buộc với thế giới kinh nghiệm nhân loại bình thường đều bị cắt đứt. Tuy nhiên, lần điểm đạo ấy chủ yếu được phẩm định bởi cung bốn.

6. A very occult statement is made anent the causes of reincarnation. Individual and national karma bring a man back into incarnation. They clothe the man with “qualities and aspects of substance”. We can see all kind of connections here between ‘karmic clothing’ and the third-ray-“Weaver” who ‘weaves’ that clothing. The clothing is made of many ‘threads’ (threads of connection to the life of the lower three worlds). These threads must be severed. We can see how the harsher planets are of extreme usefulness in this process—Pluto (the ‘shears’) and Saturn with His scythe, especially.

6. Một phát biểu rất huyền bí được đưa ra liên quan đến các nguyên nhân của sự tái sinh. Nghiệp quả cá nhân và quốc gia đưa con người trở lại lâm phàm. Chúng khoác cho con người “các phẩm tính và phương diện của chất liệu”. Chúng ta có thể thấy ở đây đủ loại liên hệ giữa “lớp y phục nghiệp quả” và “Đấng Dệt” thuộc cung ba, đấng “dệt” nên lớp y phục ấy. Lớp y phục được tạo nên bằng nhiều “sợi dây”, tức các sợi dây liên kết với sự sống của ba cõi thấp. Những sợi dây này phải bị cắt đứt. Chúng ta có thể thấy các hành tinh nghiêm khắc hơn hữu dụng đến mức nào trong tiến trình này—đặc biệt là Sao Diêm Vương, “cặp kéo”, và Sao Thổ với lưỡi hái của Ngài.

7. So much of the successful ending of karma has to do with the cutting of threads, and the wisdom and skill in action to avoid binding oneself by newly generated threads. But this is not accomplished through a selfish refusal to engage with the lower three worlds—especially when need is evidenced within those worlds. Such a refusal binds one even more tightly to the ones who were in need and selfishly refused.

7. Phần lớn sự chấm dứt thành công nghiệp quả liên quan đến việc cắt các sợi dây, và đến minh triết cùng kỹ năng trong hành động để tránh tự ràng buộc mình bằng những sợi dây mới được tạo ra. Nhưng điều này không được hoàn thành bằng một sự từ chối ích kỷ, không chịu dấn thân với ba cõi thấp—đặc biệt khi trong các cõi ấy có nhu cầu hiển lộ. Một sự từ chối như thế còn ràng buộc người ta chặt chẽ hơn với những người đang có nhu cầu và đã bị từ chối một cách ích kỷ.

8. The right kind of relation to need and to those in need (through selfless love) is a great dissolver of the threads of karma.

8. Loại liên hệ đúng đắn với nhu cầu và với những người đang cần, thông qua tình thương vô kỷ, là một tác nhân làm tan rã lớn đối với các sợi dây nghiệp quả.

9. We can see how radiatory stimulation from the ashram unties the threads, dissolves the threads, cuts the threads of karma. And all this is done in order to prepare the accepted disciples for the fourth initiation which is a “triumph”. When the word “triumph” is used, one thinks of Hercules and the sign Scorpio—even though the peculiar “testing potency” of Scorpio is said to be active in relation only to the first three initiations. Perhaps Scorpio is related to the fourth initiation in another way, after the individual tests leading to the third degree have been passed.

9. Chúng ta có thể thấy sự kích thích bức xạ từ ashram tháo gỡ các sợi dây, làm tan các sợi dây, cắt đứt các sợi dây nghiệp quả như thế nào. Và tất cả điều này được thực hiện nhằm chuẩn bị cho các đệ tử được chấp nhận bước vào lần điểm đạo thứ tư, vốn là một “chiến thắng”. Khi dùng từ “chiến thắng”, người ta nghĩ đến Hercules và dấu hiệu Hổ Cáp—dù “quyền năng thử thách” đặc thù của Hổ Cáp được nói là chỉ hoạt động liên quan đến ba lần điểm đạo đầu tiên. Có lẽ Hổ Cáp liên hệ với lần điểm đạo thứ tư theo một cách khác, sau khi các thử thách cá nhân dẫn đến cấp độ thứ ba đã được vượt qua.

10. ‘Karmic binding’ must end by the time the fourth degree is to be taken. We are told how: “This is brought about by the automatic, ceaseless and unquestioning fulfillment of duty, from the angle of recognised service”.

10. “Sự ràng buộc nghiệp quả” phải chấm dứt vào thời điểm cấp độ thứ tư sắp được nhận. Chúng ta được cho biết cách thức: “Điều này được thực hiện nhờ sự hoàn thành bổn phận một cách tự động, không ngừng và không chất vấn, từ góc độ được nhận biết của phụng sự”.

11. In what manner does this kind of fulfillment of duty lead to the ability to, symbolically, stand ‘naked and unclothed’ at the fourth degree—i.e., free from the binding clothing of karma?

11. Theo cách nào mà loại hoàn thành bổn phận này dẫn đến khả năng, một cách biểu tượng, đứng “trần trụi và không được khoác y phục” ở cấp độ thứ tư—tức là tự do khỏi lớp y phục ràng buộc của nghiệp quả?

12. In the fulfillment of duty there is no personal element. When one fulfills duty properly, one does not do so because one desires to do what must be done, but because one loves and wills to do it. There is no personal investment in such fulfillment. There are no personal desires being gratified through such fulfillment. Regardless of what the personality may want, the fulfillment is enacted–automatically, ceaselessly and unquestioningly.

12. Trong sự hoàn thành bổn phận, không có yếu tố cá nhân. Khi một người hoàn thành bổn phận đúng cách, y không làm như vậy vì y muốn làm điều phải làm, mà vì y yêu thương có ý chí làm điều đó. Không có sự đầu tư cá nhân nào trong sự hoàn thành như thế. Không có dục vọng cá nhân nào được thỏa mãn qua sự hoàn thành ấy. Bất kể phàm ngã có thể muốn điều gì, sự hoàn thành vẫn được thực thi—một cách tự động, không ngừng và không chất vấn.

13. It is clear that when possessed of such an attitude, there is no delay, no temporizing, no struggle with the ‘parts’ of oneself which may not desire to fulfill the duty. When one “questions” the fulfilment of duty, it is usually the part which does not wish to fulfill, that is doing the questioning. This recalcitrant part has been overcome and can no longer impose delaying tactics upon the process.

13. Rõ ràng khi có thái độ như thế, không có trì hoãn, không có lần lữa, không có đấu tranh với những “phần” trong chính mình có thể không muốn hoàn thành bổn phận. Khi một người “chất vấn” việc hoàn thành bổn phận, thường thì chính phần không muốn hoàn thành đang đặt câu hỏi. Phần ngoan cố này đã bị vượt qua và không còn có thể áp đặt các chiến thuật trì hoãn lên tiến trình.

14. At length, in the midst of this process, one discovers that one is “asking nothing for the separated self”. One discovers that desire has been superseded by will. One discovers that desire, with its binding power, has died of attrition. One discovers as well, that one wants nothing from the lower three worlds except the opportunity to serve them. One then functions solely as a contributor rather than as one animated by the spirit of acquisition (however subtle such acquisitions might be).

14. Sau cùng, ở giữa tiến trình này, người ta khám phá rằng mình “không đòi hỏi gì cho bản ngã phân ly”. Người ta khám phá rằng dục vọng đã được thay thế bởi ý chí. Người ta khám phá rằng dục vọng, cùng quyền năng ràng buộc của nó, đã chết dần do hao mòn. Người ta cũng khám phá rằng mình không muốn gì từ ba cõi thấp ngoại trừ cơ hội phụng sự chúng. Khi ấy, người ta hoạt động chỉ như một người đóng góp hơn là như một người được thúc đẩy bởi tinh thần chiếm hữu, dù những điều chiếm hữu ấy có thể tinh vi đến đâu.

15. Animated by the will to fulfill all duties and ‘giving all away’ as one persists in the process of fulfilment, the day of freedom and of triumph at last arrives. The triumphant initiate sees the “Light of Day” and breaks forth into the freedom of the buddhic plane.

15. Được thúc đẩy bởi ý chí hoàn thành mọi bổn phận và “cho đi tất cả” khi kiên trì trong tiến trình hoàn thành, ngày tự do và chiến thắng cuối cùng cũng đến. Điểm đạo đồ chiến thắng nhìn thấy “Ánh sáng Ban Ngày” và bừng thoát vào tự do của cõi Bồ đề.

16. It would repay each of us to make a list of our duties (real and imagined) and assess our attitude towards their fulfilment. When one loves the process of fulfilling duty (considering it a privilege so to do rather than emphasizing the weight of the burden to be carried) it is a sign that much progress in the right direction has been made.

16. Mỗi chúng ta sẽ được lợi ích nếu lập một danh sách các bổn phận của mình, cả thực lẫn tưởng tượng, và đánh giá thái độ của mình đối với việc hoàn thành chúng. Khi một người yêu thích tiến trình hoàn thành bổn phận, xem đó là một đặc ân để thực hiện hơn là nhấn mạnh sức nặng của gánh nặng phải mang, thì đó là dấu hiệu cho thấy nhiều tiến bộ đã được thực hiện theo hướng đúng.

L. Paragraph 11

L. Đoạn 11

1. An intelligent understanding of this first sentence of Rule IV for Disciples and Initiates will lead to those actions which “produce the death and dissipation and final dissolution of the personality through the ending of karma.” (cf. RI p. 101)

1. Một sự thấu hiểu sáng suốt về câu đầu tiên này của Quy luật IV dành cho các Đệ tử và Điểm đạo đồ sẽ dẫn đến những hành động “tạo ra cái chết, sự làm tiêu tan và sự tan rã cuối cùng của phàm ngã thông qua việc chấm dứt nghiệp quả”.

2. A Master has no personality at all. His divine nature is all that He has. The form through which He works (if he is working through and living in a physical vehicle) is a created image, the product of a focussed will and the creative imagination; it is not the product of desire, as in the case of a human being. The lesser lives (which are governed by the Moon) have been dispersed. (cf. RI p. 101)

2. Một Chân sư hoàn toàn không có phàm ngã. Bản chất thiêng liêng của Ngài là tất cả những gì Ngài có. Hình tướng qua đó Ngài làm việc, nếu Ngài làm việc thông qua và sống trong một vận cụ hồng trần, là một hình ảnh được tạo ra, sản phẩm của một ý chí tập trung và sự tưởng tượng sáng tạo; nó không phải là sản phẩm của dục vọng, như trong trường hợp một con người. Các sự sống thấp, vốn do Mặt Trăng cai quản, đã bị phân tán.

3. For the adept after the 4th initiation the lesser lives no longer respond to the ancient call of the reincarnating soul, which again and again has gathered to itself the lives which it has touched and coloured by its quality in the past. (cf. RI p. 101)

3. Đối với vị chân sư sau lần điểm đạo thứ tư, các sự sống thấp không còn đáp ứng với tiếng gọi cổ xưa của linh hồn tái sinh, linh hồn ấy hết lần này đến lần khác đã quy tụ về mình những sự sống mà nó đã chạm đến và nhuộm màu bằng phẩm tính của nó trong quá khứ.

4. The soul and the causal body no longer exist by the time the fourth initiation is undergone. What is left is the Monad and the thread, the antahkarana which it has spun out of its own life and consciousness down the ages and which it can focus at will upon the physical plane, where it can create a body of pure substance and radiant light for all that the Master may require. (cf. RI p. 101)

4. Linh hồn và thể nguyên nhân không còn tồn tại vào thời điểm lần điểm đạo thứ tư được trải qua. Điều còn lại là Chân thần và sợi dây, tức antahkarana mà Chân thần đã se dệt từ chính sự sống và tâm thức của mình qua các thời đại, và có thể tập trung nó theo ý chí trên cõi hồng trần, nơi nó có thể tạo ra một thể bằng chất liệu tinh khiết và ánh sáng rạng ngời cho mọi điều mà Chân sư có thể cần.

5. A Masters body will be a perfect body, utterly adapted to the need, the plan and the purpose of the Master. None of the lesser lives form part of it, for they can only be summoned by desire. (cf. RI p. 101)

5. Thể của một Chân sư sẽ là một thể hoàn hảo, hoàn toàn thích ứng với nhu cầu, Thiên Cơ và mục đích của Chân sư. Không một sự sống thấp nào tạo thành một phần của nó, vì chúng chỉ có thể được triệu tập bởi dục vọng.

It might be stated that an intelligent understanding of this sentence will lead to those actions which “produce the death and dissipation and final dissolution of the personality through the ending of karma.” It must be remembered that a Master has no personality at all. His divine nature is all that He has. The form through which He works (if he is working through and living in a physical vehicle) is a created image, the product of a focussed will and the creative imagination; it is not the product of desire, as in the case of a human being. This is an important distinction and one which warrants careful thinking. The lesser lives (which are governed by the Moon) have been dispersed. They no longer respond to the ancient call of the reincarnating soul, which again and again has gathered to itself the lives which it has touched and coloured by its quality in the past. The soul and the causal body no longer exist by the time the fourth initiation is undergone. What is left is the Monad and the thread, the antahkarana which it has spun out of its own life and consciousness down the ages and which it can focus at will upon the physical plane, where it can create a body of pure substance and radiant light for all that the Master may require. This will be a perfect body, utterly adapted to the need, the plan and the purpose of the Master. None of the lesser lives (as we understand the term) form part of it, for they can only be summoned by desire. In the Master there is no desire left, and this is the thought held before the disciple as he begins to master the significance of the fourth Rule.

Có thể nói rằng một sự thấu hiểu sáng suốt về câu này sẽ dẫn đến những hành động “tạo ra cái chết, sự làm tiêu tan và sự tan rã cuối cùng của phàm ngã thông qua việc chấm dứt nghiệp quả”. Cần nhớ rằng một Chân sư hoàn toàn không có phàm ngã. Bản chất thiêng liêng của Ngài là tất cả những gì Ngài có. Hình tướng qua đó Ngài làm việc, nếu Ngài làm việc thông qua và sống trong một vận cụ hồng trần, là một hình ảnh được tạo ra, sản phẩm của một ý chí tập trung và sự tưởng tượng sáng tạo; nó không phải là sản phẩm của dục vọng, như trong trường hợp một con người. Đây là một phân biệt quan trọng và đáng được suy nghĩ cẩn thận. Các sự sống thấp, vốn do Mặt Trăng cai quản, đã bị phân tán. Chúng không còn đáp ứng với tiếng gọi cổ xưa của linh hồn tái sinh, linh hồn ấy hết lần này đến lần khác đã quy tụ về mình những sự sống mà nó đã chạm đến và nhuộm màu bằng phẩm tính của nó trong quá khứ. Linh hồn và thể nguyên nhân không còn tồn tại vào thời điểm lần điểm đạo thứ tư được trải qua. Điều còn lại là Chân thần và sợi dây, tức antahkarana mà Chân thần đã se dệt từ chính sự sống và tâm thức của mình qua các thời đại, và có thể tập trung nó theo ý chí trên cõi hồng trần, nơi nó có thể tạo ra một thể bằng chất liệu tinh khiết và ánh sáng rạng ngời cho mọi điều mà Chân sư có thể cần. Đây sẽ là một thể hoàn hảo, hoàn toàn thích ứng với nhu cầu, Thiên Cơ và mục đích của Chân sư. Không một sự sống thấp nào, theo cách chúng ta hiểu thuật ngữ này, tạo thành một phần của nó, vì chúng chỉ có thể được triệu tập bởi dục vọng. Trong Chân sư, không còn dục vọng nào, và đây là tư tưởng được đặt trước đệ tử khi y bắt đầu làm chủ thâm nghĩa của Quy luật thứ tư.

1. We are shown the powerful results to be expected from an intelligent understanding of this first sentence in Rule IV. We might add the word “execution” to the word “understanding”.

1. Chúng ta được cho thấy những kết quả mạnh mẽ có thể mong đợi từ một sự thấu hiểu sáng suốt về câu đầu tiên này trong Quy luật IV. Chúng ta có thể thêm từ “thi hành” vào từ “thấu hiểu”.

2. We are looking for the death, dissipation and final dissolution of the personality. In Rule IV, we are, indeed, courting death. The planets involved are necessarily Saturn, Uranus, Neptune and Pluto. Probably every planet can participate in the process of ending the reign of personality, but these “synthesizing planets” plus the “esoteric” planet Pluto are unusually “death-dealing”.

2. Chúng ta đang tìm kiếm cái chết, sự làm tiêu tan và sự tan rã cuối cùng của phàm ngã. Trong Quy luật IV, quả thật, chúng ta đang hướng đến cái chết. Các hành tinh liên quan tất yếu là Sao Thổ, Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương và Sao Diêm Vương. Có lẽ mọi hành tinh đều có thể tham gia vào tiến trình chấm dứt sự thống trị của phàm ngã, nhưng các “hành tinh tổng hợp” này, cộng với Sao Diêm Vương là hành tinh “huyền bí”, đặc biệt mang tính “đem lại cái chết”.

3. We also see that if personal karma is fulfilled, the personality necessarily dies. It is as if personality is held together by “threads of karma”. This is an occult thought and deserves pondering.

3. Chúng ta cũng thấy rằng nếu nghiệp quả cá nhân được hoàn tất, phàm ngã tất yếu chết đi. Dường như phàm ngã được giữ lại với nhau bởi “các sợi dây nghiệp quả”. Đây là một tư tưởng huyền bí và đáng được suy ngẫm.

4. When there is no karma related to the three lower worlds, there is no attractive force to hold personality together. That which seems like personality in the case of the Master or higher initiates, is not really personality.

4. Khi không còn nghiệp quả liên hệ với ba cõi thấp, thì không còn mãnh lực hấp dẫn nào để giữ phàm ngã lại với nhau. Điều có vẻ như phàm ngã trong trường hợp của Chân sư hay các điểm đạo đồ cao hơn, thực ra không phải là phàm ngã.

5. The Master, we are told, has no personality (in the sense that men do). The Master is possessed of His “divine nature”. That’s it—nothing else. That which seems to be a personality is a will-created body, a mayavirupa.

5. Chúng ta được cho biết rằng Chân sư không có phàm ngã, theo nghĩa mà con người có. Chân sư sở hữu “bản chất thiêng liêng” của Ngài. Chỉ vậy thôi—không gì khác. Điều có vẻ là một phàm ngã chính là một thể do ý chí tạo ra, một thể huyễn hóa.

6. What is significant to realize is that a mayavirupa is not created through the forces of desire but, rather, through will (aided by the imagination, magically potentized).

6. Điều quan trọng cần nhận ra là một thể huyễn hóa không được tạo ra qua các mãnh lực của dục vọng mà đúng hơn qua ý chí, được sự tưởng tượng đã được gia cường bằng huyền thuật trợ giúp.

7. The lunar lords are gone. They are ruled by desire; they are unconscious desire beings and not conscious will beings. In the case of the Arhat or the Master, the lunar lords have been released to the “reservoir of life” awaiting their next opportunity. They form no part of the expressive ‘mask’ used by the Master to function in the lower worlds.

7. Các nguyệt tinh quân đã ra đi. Chúng bị dục vọng cai quản; chúng là những hữu thể dục vọng vô thức chứ không phải những hữu thể ý chí có ý thức. Trong trường hợp của vị A La Hán hay Chân sư, các nguyệt tinh quân đã được giải phóng vào “kho chứa sự sống”, chờ cơ hội kế tiếp của chúng. Chúng không tạo thành phần nào của “mặt nạ” biểu hiện mà Chân sư dùng để hoạt động trong các cõi thấp.

8. We are asked to ponder on the difference between a desire-created personality and a will-created mayavirupa which only seems like a personality but is not.

8. Chúng ta được yêu cầu suy ngẫm về sự khác biệt giữa một phàm ngã do dục vọng tạo ra và một thể huyễn hóa do ý chí tạo ra, vốn chỉ có vẻ như một phàm ngã nhưng không phải vậy.

9. At the fourth degree, the lesser lives, governed by the Moon, have been dispersed. This refers not so much to the tiny elemental lives which are the atoms of the various planes on which the lunar lords function, but to the lunar lords, themselves, whose bodies are composed of these tiny lives—atomic and molecular.

9. Ở cấp độ thứ tư, các sự sống thấp do Mặt Trăng cai quản đã bị phân tán. Điều này không ám chỉ nhiều đến các sự sống hành khí tí hon là những nguyên tử của các cõi khác nhau nơi các nguyệt tinh quân hoạt động, mà ám chỉ chính các nguyệt tinh quân, những thể của chúng được cấu thành từ các sự sống tí hon này—nguyên tử và phân tử.

10. The lunar lords are evolutionary beings. Some say there are two types of lunar lords associated with each lunar vehicle. This warrants research, but whether or not it is true, these lives are dispersed at the moment of triumph we call the fourth degree.

10. Các nguyệt tinh quân là những hữu thể thăng thượng tiến hoá. Một số người nói rằng có hai loại nguyệt tinh quân gắn liền với mỗi vận cụ nguyệt tính. Điều này đáng được nghiên cứu, nhưng dù đúng hay không, các sự sống này cũng bị phân tán vào khoảnh khắc chiến thắng mà chúng ta gọi là cấp độ thứ tư.

11. The ‘building materials’ of the Master are “pure substance and radiant light”. We may question whether “pure substance” relates to any monadic essence which has been formerly tinctured by association with lunar elementals, or whether only substance which has been unassociated with such elementals is utilized. (This is an important question.) Such substance would be, as it were, virgin substance and would be untinctured by any taint of association. Such ‘free substance’ must abound for not all planar substance finds its way into the constitution of the entity man, or any entity for that matter.

11. “Vật liệu kiến tạo” của Chân sư là “chất liệu tinh khiết và ánh sáng rạng ngời”. Chúng ta có thể đặt câu hỏi liệu “chất liệu tinh khiết” có liên hệ với một tinh chất chân thần nào trước kia đã bị nhuộm màu do liên kết với các hành khí nguyệt tính, hay chỉ có chất liệu chưa từng liên kết với các hành khí như thế mới được sử dụng. Đây là một câu hỏi quan trọng. Chất liệu như thế có thể nói là chất liệu trinh nguyên và không bị nhuộm bởi bất kỳ vết nhiễm nào của sự liên kết. “Chất liệu tự do” như thế hẳn phải rất dồi dào, vì không phải mọi chất liệu của cõi đều đi vào cấu tạo của thực thể con người, hay của bất kỳ thực thể nào khác.

12. From this paragraph, we learn that the lunar lords remain in association with the reincarnating human soul for the duration of its human experience. Life after life, these unconscious elemental lives are touched and influenced by the quality of that soul. In fact, these elemental lives are being elevated through such contact and sped upon their own path of evolution.

12. Từ đoạn này, chúng ta học được rằng các nguyệt tinh quân vẫn liên kết với linh hồn nhân loại tái sinh trong suốt thời gian kinh nghiệm nhân loại của nó. Kiếp này sang kiếp khác, các sự sống hành khí vô thức này được chạm đến và chịu ảnh hưởng bởi phẩm tính của linh hồn ấy. Thật vậy, các sự sống hành khí này đang được nâng cao nhờ sự tiếp xúc ấy và được thúc đẩy trên chính con đường tiến hoá của chúng.

13. Time after time they, as it were, ‘re-find’ the reincarnating human soul and again form the personality vehicles of that soul. The reincarnating soul sends for a “call” and these lives respond. When the fourth degree is reached, however, there is no need for reincarnation, and the soul reentering the lower world operates in a different way. The call sent forth is not the kind to which the lunar lords can respond; besides, they have been returned to the “reservoir of life” and are not able to respond even if they could. The ‘mayavirupic call’ mobilizes rather than summons the tiny lives of the various planes (physical and etheric) but not the lunar lords which previously organized and animated such tiny atoms of substance. This is a most significant difference. It is questionable (after a close reading of the text) whether substantial lives from the emotional and lower mental planes are mobilized.

13. Hết lần này đến lần khác, như thể chúng “tìm lại” linh hồn nhân loại tái sinh và lại tạo thành các vận cụ phàm ngã của linh hồn ấy. Linh hồn tái sinh phát ra một “tiếng gọi” và các sự sống này đáp ứng. Tuy nhiên, khi đạt đến cấp độ thứ tư, không còn nhu cầu tái sinh, và linh hồn khi trở lại cõi thấp hoạt động theo một cách khác. Tiếng gọi được phát ra không phải là loại mà các nguyệt tinh quân có thể đáp ứng; hơn nữa, chúng đã được đưa trở lại “kho chứa sự sống” và không có khả năng đáp ứng, ngay cả nếu chúng có thể. “Tiếng gọi của thể huyễn hóa” huy động chứ không triệu tập các sự sống tí hon của các cõi khác nhau, hồng trần và dĩ thái, nhưng không huy động các nguyệt tinh quân vốn trước kia tổ chức và làm sinh động những nguyên tử chất liệu tí hon ấy. Đây là một khác biệt hết sức quan trọng. Sau khi đọc kỹ văn bản, vẫn có thể đặt câu hỏi liệu các sự sống chất liệu từ các cõi cảm xúc và cõi hạ trí có được huy động hay không.

14. The Master is the monad and the antahkarana, which He focuses upon the physical-etheric plane to create His mayavirupa. This is the “body incorruptible” and utilizes substance, but does not call lesser lives which respond only to desire. It would seem that this kind of creation is a magical process necessitating only matter of the etheric levels (which gathers to itself physical substance as needed for the sake of appearance) but which can disappear instantly, flashing in and out of normal perception according to the will of the Master animating the mayavirupa.

14. Chân sư là chân thần và antahkarana, điều mà Ngài tập trung trên cõi hồng trần-dĩ thái để tạo ra thể huyễn hóa của Ngài. Đây là “thể bất hoại” và sử dụng chất liệu, nhưng không triệu gọi các sự sống thấp vốn chỉ đáp ứng với dục vọng. Dường như loại sáng tạo này là một tiến trình huyền thuật, chỉ cần vật chất của các cấp độ dĩ thái, vốn quy tụ về mình chất liệu hồng trần khi cần vì mục đích sắc tướng, nhưng có thể biến mất tức khắc, lóe hiện rồi khuất khỏi tri giác bình thường tùy theo ý chí của Chân sư đang làm sinh động thể huyễn hóa.

15. If physical plane matter is involved in such a vehicle, its tangibility (though palpable) can be shed in an instant.

15. Nếu vật chất cõi hồng trần tham dự vào một vận cụ như thế, tính hữu hình của nó, dù có thể sờ thấy, cũng có thể được rũ bỏ trong khoảnh khắc.

16. There are a number of occultly scientific questions to be asked here. They concern the manner in which “materializations” occur. They concern the ‘conversion’ of energy-force of a higher dimension into energy-force of a lower. Can matter of a ‘higher’ dimension appear as matter of a lower dimension, or must it appear in and through matter of a lower dimension. It is a subtle distinction, but important.

16. Có một số câu hỏi huyền bí học mang tính khoa học cần được đặt ra ở đây. Chúng liên quan đến cách thức các hiện hình xảy ra. Chúng liên quan đến sự “chuyển đổi” năng lượng-mãnh lực của một chiều kích cao hơn thành năng lượng-mãnh lực của một chiều kích thấp hơn. Liệu vật chất của một chiều kích “cao hơn” có thể xuất hiện như vật chất của một chiều kích thấp hơn, hay nó phải xuất hiện trongthông qua vật chất của một chiều kích thấp hơn? Đó là một phân biệt tinh tế, nhưng quan trọng.

17. The Master, really, is only the “monad and the antahkarana” (though, by “monad”, we must necessarily include the personality of the monad—the spiritual triad). The Master’s “mask” is substantial, but from where is this substance drawn? Is it through the mobilization of that which lies below, or the precipitation of that which lies above until it obtains the form of that which usually lies below? This question has to be with the ‘convertability’ of ‘matter’ of higher planes into ‘matter’ of lower planes.

17. Thực ra, Chân sư chỉ là “chân thần và antahkarana”, mặc dù khi nói “chân thần”, chúng ta tất yếu phải bao gồm phàm ngã của chân thần—Tam Nguyên Tinh Thần. “Mặt nạ” của Chân sư có tính chất liệu, nhưng chất liệu này được rút ra từ đâu? Có phải qua sự huy động những gì nằm bên dưới, hay qua sự ngưng tụ những gì nằm bên trên cho đến khi nó đạt được hình tướng của những gì thường nằm bên dưới? Câu hỏi này liên quan đến “tính có thể chuyển đổi” của “vật chất” thuộc các cõi cao thành “vật chất” thuộc các cõi thấp.

18. We are told that “the soul and the causal body no longer exist by the time the fourth initiation is undergone”. This must be carefully interpreted. Perhaps we should understand it as follows: ‘the soul in the causal body no longer exists…’. Soul is a universal principle and always exists while there is a cosmos. But soul as it has expressed for the duration of the human experience in the fourth kingdom of nature—that soul, no longer exists. Soul-as-spiritual-triad does, however, exist. And later, ‘soul-as-monad’ will be the central focus of awareness. Does this use of the word “soul” make sense; we are speaking of soul as “consciousness”.

18. Chúng ta được cho biết rằng “linh hồn và thể nguyên nhân không còn tồn tại vào thời điểm lần điểm đạo thứ tư được trải qua”. Điều này phải được diễn giải cẩn thận. Có lẽ chúng ta nên hiểu như sau: “linh hồn trong thể nguyên nhân không còn tồn tại…”. Linh hồn là một nguyên khí phổ quát và luôn luôn tồn tại khi còn có một vũ trụ. Nhưng linh hồn như nó đã biểu hiện trong suốt thời gian kinh nghiệm nhân loại trong giới thứ tư của thiên nhiên—linh hồn ấy không còn tồn tại. Tuy nhiên, linh hồn-như-Tam Nguyên Tinh Thần thì tồn tại. Và về sau, “linh hồn-như-chân thần” sẽ là tiêu điểm trung tâm của nhận thức. Cách dùng từ “linh hồn” này có hợp lý không; chúng ta đang nói về linh hồn như “tâm thức”.

19. We learn something interesting about the antahkarana; it is an instrument which can be focussed at will upon the physical plane. Quite often we think of the antahkarana as an instrument built from ‘below’ to ‘above’. We, the building agents, attempt to focus it in the ‘higher’ worlds. But in this description, the antahkarana is an instrument used by the ‘Master-as-monad’. Antahkarana, then and at this stage of unfoldment, is a completed line of ascent and descent, and is focussed at will to create an immortal and incorruptible body on the etheric-physical plane. It seems quite certain that the main focus of attention of the Master Who creates a mayavirupa is on the etheric plane. The physical work (whatever its mechanism) would be secondary and, it would seem, automatic.

19. Chúng ta học được một điều thú vị về antahkarana; đó là một khí cụ có thể được tập trung theo ý chí trên cõi hồng trần. Khá thường xuyên, chúng ta nghĩ về antahkarana như một khí cụ được xây dựng từ “dưới” lên “trên”. Chúng ta, những tác nhân kiến tạo, cố gắng tập trung nó trong các thế giới “cao hơn”. Nhưng trong mô tả này, antahkarana là một khí cụ được “Chân sư-như-chân thần” sử dụng. Như vậy, antahkarana, khi ấy và ở giai đoạn khai mở này, là một đường lên và xuống đã hoàn tất, và được tập trung theo ý chí để tạo ra một thể bất tử và bất hoại trên cõi dĩ thái-hồng trần. Dường như khá chắc chắn rằng tiêu điểm chú ý chính của Chân sư, Đấng tạo ra một thể huyễn hóa, nằm trên cõi dĩ thái. Công việc hồng trần, dù bộ máy của nó là gì, sẽ là thứ yếu và, dường như, tự động.

20. A mayavirupa will be a “perfect body”. It will be completely suited to the Master’s purpose and plan. It will be a perfect instrument of expression, devoid of all liabilities found in desire-created bodies.

20. Một thể huyễn hóa sẽ là một “thể hoàn hảo”. Nó sẽ hoàn toàn phù hợp với mục đích và Thiên Cơ của Chân sư. Nó sẽ là một khí cụ biểu hiện hoàn hảo, không có mọi khiếm khuyết tìm thấy trong các thể do dục vọng tạo ra.

21. In the mayavirupa there are no “lesser lives”; the Tibetan qualifies the statement by saying that the mayavirupa is composed of, “none of the lesser lives (as we understand the term)”. All etheric and physical substance is, however, composed of “lives”. In this hylozoistic universe, there is naught but that which lives. We, therefore, must look closely at the qualifying phrase—“as we understand the term”. It is clear that any substance used will not have ‘any will of its own’ that could counter the Master’s intentions. The entire magical process must involve a profound knowledge of vibration of which we can have no notion. It would repay thought to consider what kinds of tiny lives are mobilized for the Master compared to those summoned by an incarnating human being. This is probably one of the technical occult mysteries.

21. Trong thể huyễn hóa không có “các sự sống thấp”; Chân sư Tây Tạng phẩm định phát biểu này bằng cách nói rằng thể huyễn hóa được cấu thành bởi “không một sự sống thấp nào, theo cách chúng ta hiểu thuật ngữ này”. Tuy nhiên, mọi chất liệu dĩ thái và hồng trần đều được cấu thành bởi “các sự sống”. Trong vũ trụ vật hoạt luận này, không có gì ngoài cái sống. Vì vậy, chúng ta phải xem xét kỹ cụm từ phẩm định—“theo cách chúng ta hiểu thuật ngữ này”. Rõ ràng bất kỳ chất liệu nào được sử dụng cũng sẽ không có “bất kỳ ý chí riêng nào” có thể chống lại các ý định của Chân sư. Toàn bộ tiến trình huyền thuật hẳn phải bao hàm một tri thức sâu xa về rung động mà chúng ta không thể có khái niệm nào. Sẽ đáng suy ngẫm khi xem xét những loại sự sống tí hon nào được huy động cho Chân sư so với những loại được một con người lâm phàm triệu tập. Đây có lẽ là một trong các bí nhiệm huyền bí học mang tính kỹ thuật.

22. The accepted disciple who begins to work towards a mastery of Rule IV is taught that the Master has no desire. The disciple’s attitude towards the lesser lives (substantial and elemental) must be that these lives (presently summoned by desire) are to be dispersed as desire is overcome. One day the lives composing the eighteen fires will be replaced by a different state of substance. Symbolically, the Moon will be transformed into the Sun; the presently dominating lunar lords will give way to an ultimately dominating Solar Lord, and that Solar Lord (that “Angel of the Presence”) to the presence of the monad. An instrument for soul expression created under the magnetism of desire will give place to a willfully created instrument for spirit-expression. Even the Solar Angel’s creation (the causal body) will be dissipated. That which karma has brought together, love will dissipate. That which love (the quality of the Solar Angels) has fabricated, the will will dissipate, substituting an entirely new creation in the place of both the usual personality and the causal body. The accepted disciple begins the process by means of which this destined eventuality may become a reality.

22. Đệ tử được chấp nhận bắt đầu hướng tới việc làm chủ Quy luật IV được dạy rằng Chân sư không có dục vọng. Thái độ của đệ tử đối với các sự sống nhỏ bé hơn thuộc chất liệu và hành khí phải là: các sự sống này, hiện đang được dục vọng triệu gọi, sẽ được phân tán khi dục vọng được vượt thắng. Một ngày kia, những sự sống cấu thành mười tám ngọn lửa sẽ được thay thế bằng một trạng thái chất liệu khác. Theo biểu tượng, Mặt Trăng sẽ được chuyển đổi thành Mặt Trời; các nguyệt tinh quân hiện đang chi phối sẽ nhường chỗ cho một Chúa Tể Thái Dương cuối cùng sẽ chi phối, và Chúa Tể Thái Dương ấy, tức “Thiên Thần của Hiện Diện”, sẽ nhường chỗ cho sự hiện diện của chân thần. Một khí cụ cho sự biểu lộ của linh hồn, được tạo ra dưới từ điện của dục vọng, sẽ nhường chỗ cho một khí cụ được tạo ra bằng ý chí để biểu lộ tinh thần. Ngay cả tạo vật của Thái dương Thiên Thần, tức thể nguyên nhân, cũng sẽ được làm tiêu tan. Điều mà nghiệp quả đã kết hợp, tình thương sẽ làm tiêu tan. Điều mà tình thương, tức phẩm tính của các Thái dương Thiên Thần, đã tạo dựng, thì ý chí sẽ làm tiêu tan, thay thế cả phàm ngã thông thường lẫn thể nguyên nhân bằng một tạo vật hoàn toàn mới. Đệ tử được chấp nhận khởi đầu tiến trình nhờ đó kết quả đã định này có thể trở thành hiện thực.

M. Paragraph 12

M. Đoạn 12

1. In the coming century, death and the will inevitably will be seen to have new meanings for humanity, and many of the old ideas will vanish. (cf. RI p. 101)

1. Trong thế kỷ sắp đến, cái chết và ý chí chắc chắn sẽ được nhìn nhận là có những ý nghĩa mới đối với nhân loại, và nhiều ý tưởng cũ sẽ biến mất. (xem RI tr. 101)

2. Death, to the average thinking man, is a point of catastrophic crisis. It is the cessation and the ending of all that has been loved, all that is familiar and to be desired; it is a crashing entrance into the unknown, into uncertainty, and the abrupt conclusion of all plans and projects. (cf. RI p. 101-102)

2. Cái chết, đối với người có suy tư trung bình, là một điểm khủng hoảng thảm khốc. Nó là sự chấm dứt và kết thúc của tất cả những gì đã được yêu thương, tất cả những gì quen thuộc và đáng ước muốn; nó là sự lao sầm vào điều chưa biết, vào bất định, và là sự kết thúc đột ngột của mọi kế hoạch và dự án. (xem RI tr. 101-102)

3. The emphasis of all thought on the subject of death concerns the central “I” or the integrity of Deity. In Rule Four for Disciples and Initiates the emphasis shifts from the “I” to the constituent parts which form the garment of the Self and to work for the dissipation of this garment and for the return of the lesser lives to the general reservoir of living substance. (cf. RI p. 102)

3. Trọng tâm của mọi tư tưởng về đề tài cái chết liên quan đến “Tôi” trung tâm hay sự toàn vẹn của Thượng đế. Trong Quy luật Bốn dành cho các Đệ tử và Điểm đạo đồ, trọng tâm chuyển từ “Tôi” sang các thành phần cấu tạo nên chiếc áo của Bản Ngã, và sang công việc làm tiêu tan chiếc áo này, cũng như đưa các sự sống nhỏ bé hơn trở về kho chứa chung của chất liệu sống. (xem RI tr. 102)

In this Rule two main ideas are to be found, both of them connected with the first divine aspect: the thought of Death and the nature of the Will. In the coming century, death and the will inevitably will be seen to have new meanings for humanity, and many of the old ideas will vanish. Death, to the average thinking man, is a point of [Page 102] catastrophic crisis. It is the cessation and the ending of all that has been loved, all that is familiar and to be desired; it is a crashing entrance into the unknown, into uncertainty, and the abrupt conclusion of all plans and projects. No matter how much true faith in the spiritual values may be present, no matter how clear the rationalising of the mind may be anent immortality, no matter how conclusive the evidence of persistence and eternity, there still remains a questioning, a recognition of the possibility of complete finality and negation and an end to all activity, of all heart reactions, of all thought, emotion, desire, aspiration, and the intentions which focus around the central core of a man’s being. The longing and the determination to persist and the sense of continuity still rest, even to the most determined believer, upon probability, upon an unstable foundation, and upon the testimony of others—who have never in reality returned to tell the truth. The emphasis of all thought on this subject concerns the central “I” or the integrity of Deity.

Trong Quy luật này có thể tìm thấy hai ý tưởng chính, cả hai đều liên hệ với phương diện thiêng liêng thứ nhất: tư tưởng về Cái Chết và bản chất của Ý Chí. Trong thế kỷ sắp đến, cái chết và ý chí chắc chắn sẽ được nhìn nhận là có những ý nghĩa mới đối với nhân loại, và nhiều ý tưởng cũ sẽ biến mất. Cái chết, đối với người có suy tư trung bình, là một điểm [Page 102] khủng hoảng thảm khốc. Nó là sự chấm dứt và kết thúc của tất cả những gì đã được yêu thương, tất cả những gì quen thuộc và đáng ước muốn; nó là sự lao sầm vào điều chưa biết, vào bất định, và là sự kết thúc đột ngột của mọi kế hoạch và dự án. Dù niềm tin chân thật vào các giá trị tinh thần có thể hiện diện nhiều đến đâu, dù sự lý giải của thể trí về tính bất tử có thể rõ ràng đến đâu, dù bằng chứng về sự tồn tại liên tục và tính vĩnh cửu có thể có sức thuyết phục đến đâu, vẫn còn đó một sự chất vấn, một sự thừa nhận khả năng của một chung cuộc và phủ định hoàn toàn, và một sự chấm dứt mọi hoạt động, mọi phản ứng của trái tim, mọi tư tưởng, cảm xúc, dục vọng, khát vọng, cùng những ý định quy tụ quanh lõi trung tâm của bản thể con người. Niềm khao khát và quyết tâm tiếp tục tồn tại, cùng ý thức về tính liên tục, ngay cả đối với người tin tưởng kiên định nhất, vẫn đặt trên khả năng có thể xảy ra, trên một nền tảng bất ổn, và trên lời chứng của những người khác—những người trong thực tế chưa bao giờ trở lại để nói sự thật. Trọng tâm của mọi tư tưởng về đề tài này liên quan đến “Tôi” trung tâm hay sự toàn vẹn của Thượng đế.

1. In this Rule which accepted disciples must begin to take into consideration and to which they must begin to conform, the “thought of Death and the nature of the Will” are focal issues.

1. Trong Quy luật này, điều mà các đệ tử được chấp nhận phải bắt đầu xem xét và bắt đầu tuân theo, “tư tưởng về Cái Chết và bản chất của Ý Chí” là những vấn đề trọng tâm.

2. It is the usual thoughts of death which form a great detriment to the progress of humanity and not death itself (without which the Great Wheel of Rebirth could not turn and no evolutionary progress could be made).

2. Chính những tư tưởng thông thường về cái chết mới tạo thành một trở ngại lớn cho sự tiến bộ của nhân loại, chứ không phải chính cái chết, vì nếu không có cái chết thì Bánh Xe Tái Sinh Vĩ Đại không thể quay và không thể có tiến bộ thăng thượng tiến hoá nào.

3. We are told that “many” of the old ideas will vanish—perhaps not all, but enough of them to create for humanity a new understanding of and attitude to death.

3. Chúng ta được cho biết rằng “nhiều” ý tưởng cũ sẽ biến mất—có lẽ không phải tất cả, nhưng đủ nhiều để tạo cho nhân loại một sự thấu hiểu mới và một thái độ mới đối với cái chết.

4. Is it not interesting that in connection with the fourth Rule we are speaking of “death” and the “will”. The fourth plane, the buddhic, is the “Mountain whereon form dies” (EP I 71). Form (as we usually conceive of it) ceases to exist on that truly “arupa” plane. The arupa subplanes of the mental plane are still “formal” in relation to the Solar Logos; the buddhic plane is not. Death, in a certain respect, is a ‘will to the temporary consummation of formlessness’ and, thus, can be understood as partially impulsed from the buddhic plane. The ‘will to death’ and, ‘will to freedom’ and the ‘will to consummation’ can be understood as closely related. For humanity as a whole, the buddhic plane represents the dimension of consummation.

4. Há chẳng thú vị sao khi liên hệ với Quy luật thứ tư, chúng ta đang nói về “cái chết” và “ý chí”. Cõi thứ tư, cõi Bồ đề, là “Ngọn Núi nơi hình tướng chết đi” (EP I 71). Hình tướng, theo cách chúng ta thường quan niệm, ngừng tồn tại trên cõi thật sự “vô sắc” ấy. Các cõi phụ vô sắc của cõi trí vẫn còn “có hình tướng” trong tương quan với Thái dương Thượng đế; cõi Bồ đề thì không. Theo một phương diện nào đó, cái chết là “ý chí đưa đến sự hoàn tất tạm thời của trạng thái vô hình tướng” và do đó có thể được hiểu là phần nào được thúc đẩy từ cõi Bồ đề. “Ý chí hướng tới cái chết”, “ý chí hướng tới tự do” và “ý chí hướng tới sự hoàn tất” có thể được hiểu là có liên hệ mật thiết. Đối với toàn thể nhân loại, cõi Bồ đề biểu trưng cho chiều kích của sự hoàn tất.

5. Master DK presents and extraordinarily vivid description of what the death process usually means to the average man—even to the average “thinking” man. Even though the individual may be spiritually convinced of the unreality of death (as usually conceived) the grim possibility of total annihilation always remains in the consciousness.

5. Chân sư DK trình bày một mô tả cực kỳ sống động về điều mà tiến trình chết thường có nghĩa đối với con người trung bình—ngay cả đối với người “có suy tư” trung bình. Dù cá nhân có thể được thuyết phục về mặt tinh thần rằng cái chết, như thường được quan niệm, là không thật, khả năng nghiệt ngã của sự hủy diệt hoàn toàn vẫn luôn còn lại trong tâm thức.

6. The “determined believer” still rests his/her conclusions upon an “unstable foundation”. Belief concerning persistence after death is based, according to the Tibetan, upon the “testimony of others”. He says, provocatively, that these “others” have never in reality returned to tell the truth. Somewhere, deep in the consciousness, this unstable foundation for belief is suspected and, thus, uncertainty (possibly with the accompaniment of fear) is still present.

6. “Người tin tưởng kiên định” vẫn đặt các kết luận của mình trên một “nền tảng bất ổn”. Theo Chân sư Tây Tạng, niềm tin về sự tồn tại sau cái chết dựa trên “lời chứng của những người khác”. Ngài nói một cách gợi suy rằng những “người khác” này trong thực tế chưa bao giờ trở lại để nói sự thật. Ở đâu đó, sâu trong tâm thức, nền tảng bất ổn này của niềm tin bị nghi ngờ, và vì vậy sự bất định, có thể kèm theo sợ hãi, vẫn còn hiện diện.

7. The whole issue of the fear and dread of death concerns the concept of the “I” which DK relates to the “integrity of Deity”. Shall the “I” survive death? It would seem that some experience of “death” prior to the ending of the reincarnational cycle on the physical plane is needed to confirm the experience. If a human consciousness can be convinced that it has entered the “realm of the dead” while the “silver cord” is yet intact, the basis for a firm conviction in the survival of the “I” through the death process will be strengthened.

7. Toàn bộ vấn đề về nỗi sợ và sự khiếp hãi cái chết liên quan đến khái niệm về “Tôi”, điều mà Chân sư DK liên hệ với “sự toàn vẹn của Thượng đế”. Liệu “Tôi” có sống sót qua cái chết không? Dường như cần có một kinh nghiệm nào đó về “cái chết” trước khi chu kỳ tái sinh trên cõi hồng trần chấm dứt, để xác nhận kinh nghiệm ấy. Nếu một tâm thức con người có thể được thuyết phục rằng nó đã bước vào “cõi của người chết” trong khi “dây bạc” vẫn còn nguyên vẹn, thì cơ sở cho một niềm xác tín vững chắc vào sự sống sót của “Tôi” qua tiến trình chết sẽ được củng cố.

8. Certain dreams and astral projections may give this kind of evidence. The separability of the “I consciousness” from the usual perception of body can be established through experience. It can seem very much as if one has “died” while still “living”. The analogy can be seen (and the experience of the separability of the consciousness from the body can be vivid) but is it quite the same as death? Though the integrity of the “I” survives self-conscious experience “out of the body”, will it also survive the apparently analogous experience of death? Some doubts may remain.

8. Một số giấc mơ và sự phóng chiếu cảm dục có thể đem lại loại bằng chứng này. Tính có thể tách rời của “tâm thức Tôi” khỏi tri giác thông thường về thể xác có thể được xác lập qua kinh nghiệm. Điều đó có thể dường như rất giống với việc một người đã “chết” trong khi vẫn “sống”. Sự tương đồng có thể được nhận thấy, và kinh nghiệm về tính có thể tách rời của tâm thức khỏi thể xác có thể rất sống động; nhưng liệu nó có hoàn toàn giống với cái chết không? Dù sự toàn vẹn của “Tôi” sống sót qua kinh nghiệm ngã thức “ngoài thân xác”, liệu nó cũng sẽ sống sót qua kinh nghiệm cái chết dường như tương tự chăng? Một vài nghi ngờ có thể vẫn còn.

9. The phrase “integrity of Deity” is interesting. There is a hint here that the “I” is Deity. Human beings experience a series of “I’s” as they evolve. The “I-consciousness” of the undeveloped man, of the average man and of the advanced initiate is very different.

9. Cụm từ “sự toàn vẹn của Thượng đế” thật thú vị. Ở đây có một gợi ý rằng “Tôi” Thượng đế. Con người kinh nghiệm một chuỗi các “Tôi” khi họ tiến hoá. “Tâm thức-Tôi” của người chưa phát triển, của người trung bình và của điểm đạo đồ tiến bộ rất khác nhau.

10. Here we are talking about the “central I” (which can be interpreted as the spirit or monad). This “central I” is the ‘true survivor in us’ (whatever other kind of “I” may seem to survive).

10. Ở đây chúng ta đang nói về “Tôi trung tâm”, có thể được diễn giải là tinh thần hay chân thần.Tôi trung tâm” này là “kẻ sống sót chân thật trong chúng ta”, bất kể loại “Tôi” nào khác có vẻ như sống sót.

11. The spirit is possessed of the straight knowledge of its own survivability. The various “I’s” of man (misconceived or more correctly conceived by the indwelling consciousness) are imbued with a sense dim sense of this knowledge of survival. This sense manifests in various ways—for instance, as the “survival instinct” and as an instinctual sense of ‘integral persistence’ (i.e., survival as an ‘integrated I’). The “longing and determination to persist” is simply a reflection of that which the spirit/monad definitely knows about its own nature. We, ‘below’ carry a reflection of this certain knowledge and it forms the basis for our “hope” to survive what is normally called “death”.

11. Tinh thần sở hữu tri thức trực tiếp về khả năng tồn tại của chính nó. Các “Tôi” khác nhau của con người, dù bị quan niệm sai hay được quan niệm đúng hơn bởi tâm thức nội tại, đều được thấm nhuần một cảm thức mờ nhạt về tri thức sống sót này. Cảm thức này biểu hiện theo nhiều cách khác nhau—chẳng hạn như “bản năng sinh tồn” và như một cảm thức bản năng về “sự tồn tại toàn vẹn”, tức sự sống sót như một “Tôi tích hợp”. “Niềm khao khát và quyết tâm tiếp tục tồn tại” chỉ là một phản chiếu của điều mà tinh thần hay chân thần chắc chắn biết về bản chất của chính nó. Chúng ta, ở “bên dưới”, mang một phản chiếu của tri thức chắc chắn này, và nó tạo thành nền tảng cho “hy vọng” của chúng ta về việc sống sót qua điều thường được gọi là “cái chết”.

12. We have to transform ourselves from intelligently thinking, determined believers into experienced knowers of the fact of persistence. It is easier to be self-assured of the fact of persistence than it is to be assured of the ‘fact of recurrence’ (or the fact of reincarnational return). We must, as well, become knowers of what we believe to be the fact of reincarnation.

12. Chúng ta phải chuyển đổi chính mình từ những người tin tưởng kiên định và suy tư thông minh thành những thức giả có kinh nghiệm về sự kiện tồn tại liên tục. Dễ tự tin về sự kiện tồn tại liên tục hơn là chắc chắn về “sự kiện tái hồi”, tức sự kiện trở lại do tái sinh. Đồng thời, chúng ta cũng phải trở thành những thức giả về điều mà chúng ta tinsự kiện của luân hồi.

N. Paragraph 13

N. Đoạn 13

1. The Ocean of Being. (cf. RI p. 102)

1. Đại dương Bản Thể. (xem RI tr. 102)

2. The focus of activity shifts from the active body to the active entity within that body, the master of his surroundings, the director of his possessions, and the one who is the breath itself, despatching the lives to the reservoir of substance, or recalling them at will to resume their relation to him. (cf. RI p. 102)

2. Trọng tâm hoạt động chuyển từ thể đang hoạt động sang thực thể đang hoạt động bên trong thể ấy, vị chủ nhân của môi trường chung quanh mình, người điều khiển những sở hữu của mình, và là người chính là hơi thở, sai phái các sự sống trở về kho chứa của chất liệu, hoặc tùy ý triệu hồi chúng để tiếp tục mối liên hệ của chúng với mình. (xem RI tr. 102)

You will note that in this Rule, the emphasis shifts from the “I” to the constituent parts which form the garment of the Self, and this is a point worth noting. The information given to the disciple is to work for the dissipation of this garment and for the return of the lesser lives to the general reservoir of living substance. The ocean of Being is nowhere referred to. Careful thought will here show that this ordered process of detachment, which the group life makes effective in the case of the individual, is one of the strongest arguments for the fact of continuity and for individual identifiable persistence. Note those words. The focus of activity shifts from the active body to the active entity within that body, the master of his surroundings, the director of his possessions, and the one who is the breath itself, dispatching the lives to the reservoir of substance, or recalling them at will to resume their relation to him.

Bạn sẽ lưu ý rằng trong Quy luật này, trọng tâm chuyển từ “Tôi” sang các thành phần cấu tạo nên chiếc áo của Bản Ngã, và đây là một điểm đáng chú ý. Thông tin được trao cho đệ tử là hãy làm việc để làm tiêu tan chiếc áo này và để đưa các sự sống nhỏ bé hơn trở về kho chứa chung của chất liệu sống. Đại dương Bản Thể không hề được đề cập. Suy tư cẩn thận ở đây sẽ cho thấy rằng tiến trình tách rời có trật tự này, vốn được đời sống nhóm làm cho hữu hiệu trong trường hợp cá nhân, là một trong những luận cứ mạnh mẽ nhất cho sự kiện về tính liên tục và sự tồn tại cá nhân có thể nhận diện được. Hãy lưu ý những lời ấy. Trọng tâm hoạt động chuyển từ thể đang hoạt động sang thực thể đang hoạt động bên trong thể ấy, vị chủ nhân của môi trường chung quanh mình, người điều khiển những sở hữu của mình, và là người chính là hơi thở, sai phái các sự sống trở về kho chứa của chất liệu, hoặc tùy ý triệu hồi chúng để tiếp tục mối liên hệ của chúng với mình.

1. Master DK points out the emphasis of Rule IV; it is not, per se, upon the “I” (that is the subject of Rule V) but upon the “garment of the Self” and its constituent parts (the lesser lives).

1. Chân sư DK chỉ ra trọng tâm của Quy luật IV; tự nó, trọng tâm không nằm ở “Tôi”, đó là đề tài của Quy luật V, mà ở “chiếc áo của Bản Ngã” và các thành phần cấu tạo của nó, tức các sự sống nhỏ bé hơn.

2. Self-realization which concerns direct knowledge of the “central I” is achieved through the dissipation of that which veils the central I. When the karmically woven “veils” are dispersed, the central I (the monadic identity) will be revealed.

2. Sự chứng ngộ Bản Ngã, liên quan đến tri thức trực tiếp về “Tôi trung tâm”, đạt được qua việc làm tiêu tan điều che phủ Tôi trung tâm. Khi những “bức màn” được dệt nên theo nghiệp quả bị phân tán, Tôi trung tâm, tức bản sắc chân thần, sẽ được mặc khải.

3. The Rule calls for a focus upon that which, apparently, negates the Self.

3. Quy luật đòi hỏi sự tập trung vào điều, bề ngoài, phủ định Bản Ngã.

4. DK focuses our attention on the distinction between the phrases “reservoir of living substance” and the “ocean o f Being”. The first is perceived through objectivity, the second through ‘identificatory apprehension’.

4. Chân sư DK tập trung sự chú ý của chúng ta vào sự phân biệt giữa các cụm từ “kho chứa của chất liệu sống” và “đại dương Bản Thể”. Cụm thứ nhất được tri nhận qua tính khách quan, cụm thứ hai qua “sự lĩnh hội bằng đồng hoá”.

5. He calls our attention to a point which is to be carefully pondered:

5. Ngài kêu gọi sự chú ý của chúng ta đến một điểm cần được suy ngẫm cẩn thận:

“Careful thought will here show that this ordered process of detachment, which the group life makes effective in the case of the individual, is one of the strongest arguments for the fact of continuity and for individual identifiable persistence. Note those words”.

“Suy tư cẩn thận ở đây sẽ cho thấy rằng tiến trình tách rời có trật tự này, vốn được đời sống nhóm làm cho hữu hiệu trong trường hợp cá nhân, là một trong những luận cứ mạnh mẽ nhất cho sự kiện về tính liên tục và sự tồn tại cá nhân có thể nhận diện được. Hãy lưu ý những lời ấy”.

After all, if detachment is proven possible, there must be something which is engaged in the process of detachment. That something is realized to be individual, identifiable and persistent.

Sau hết, nếu sự tách rời được chứng minh là có thể, thì hẳn phải có một điều gì đó tham dự vào tiến trình tách rời. Điều gì đó ấy được nhận ra là cá nhân, có thể nhận diện và tồn tại liên tục.

6. The realization of the immortality of that which persists in an individual and identifiable state is the basis for all Self-confidence, and for the eventual spiritual victory which truly Self-confident human beings can achieve.

6. Sự nhận biết về tính bất tử của điều tồn tại trong một trạng thái cá nhân và có thể nhận diện là nền tảng của mọi niềm tin vào Bản Ngã, và của chiến thắng tinh thần cuối cùng mà những con người thật sự tự tin nơi Bản Ngã có thể đạt được.

7. The group life, the radiatory influence of the Ashram, strengthens the ‘detaching nucleus of Selfhood” and helps it separate itself from the limiting and strictly objective state of consciousness.

7. Đời sống nhóm, ảnh hưởng phóng xạ của ashram, củng cố “hạt nhân tách rời của Bản Ngã tính” và giúp nó tự tách mình khỏi trạng thái tâm thức giới hạn và thuần túy khách quan.

8. Although the accepted disciple’s attention is on the veiling eighteen fires, the effect of ashramic energy is focussed on the positive ‘nucleus of life’.

8. Mặc dù sự chú ý của đệ tử được chấp nhận đặt trên mười tám ngọn lửa che phủ, hiệu quả của năng lượng ashram lại được tập trung vào “hạt nhân sự sống” tích cực.

9. By the paths of negation of and disidentification from the veils, that which is not the veils is gradually revealed.

9. Bằng những con đường phủ định các bức màn và không đồng hoá với chúng, điều không phải là các bức màn dần dần được mặc khải.

10. DK indicates a change of focus in the following words:

10. Chân sư DK chỉ ra một sự thay đổi trọng tâm trong những lời sau:

“The focus of activity shifts from the active body to the active entity within that body, the master of his surroundings, the director of his possessions, and the one who is the breath itself, dispatching the lives to the reservoir of substance, or recalling them at will to resume their relation to him.”

“Trọng tâm hoạt động chuyển từ thể đang hoạt động sang thực thể đang hoạt động bên trong thể ấy, vị chủ nhân của môi trường chung quanh mình, người điều khiển những sở hữu của mình, và là người chính là hơi thở, sai phái các sự sống trở về kho chứa của chất liệu, hoặc tùy ý triệu hồi chúng để tiếp tục mối liên hệ của chúng với mình.”

The process of dispersal reveals the dispersing agent. Every effect has a cause; there is that which dispatches the lesser lives to the reservoir of substance. The ‘willing entity’ is implicit in Rule IV.

Tiến trình phân tán mặc khải tác nhân phân tán. Mọi hiệu quả đều có một nguyên nhân; có điều gì đó sai phái các sự sống nhỏ bé hơn trở về kho chứa của chất liệu. “Thực thể có ý chí” được hàm ngụ trong Quy luật IV.

11. Note the words used in connection with the “active entity” within the veils: the “master”, the “director”, the “breath”. These are all words related to the first aspect of divinity. The “central I” is the master, director and breath. The identification of the Master of the Wisdom with and as the directing monad, vivifying the veils with the breath of life, is hinted.

11. Hãy lưu ý các từ được dùng liên quan đến “thực thể đang hoạt động” bên trong các bức màn: “chủ nhân”, “người điều khiển”, “hơi thở”. Tất cả đều là những từ liên hệ với phương diện thứ nhất của thiên tính. “Tôi trung tâm” là chủ nhân, người điều khiển và hơi thở. Có gợi ý về sự đồng hoá của Chân sư Minh Triết với như chân thần điều khiển, tiếp sinh lực cho các bức màn bằng hơi thở của sự sống.

12. A possible puzzle for pondering is, however, indicated. The various “lunar lords” build up a long-term association with the soul in incarnation. Is this true also of the very tiny lives which are substantial in their nature. Are the tiny atomic lives also colored by and connected to a particular reincarnating soul. While one could understand how this might be accomplished on the etheric, astral and mental planes, the possibilities seem limited in relation to the dense physical plane. Sometimes reincarnation recurs rapidly, even before the former physical vehicle is completely decomposed and its constituents returned to their “reservoir”.

12. Tuy nhiên, một câu đố khả dĩ để suy ngẫm được nêu ra. Các “nguyệt tinh quân” khác nhau xây dựng một sự liên kết lâu dài với linh hồn đang nhập thể. Điều này có đúng cả với những sự sống rất nhỏ bé vốn có bản chất thuộc chất liệu không? Liệu các sự sống nguyên tử nhỏ bé cũng được tô màu bởi và liên kết với một linh hồn tái sinh đặc thù hay không? Trong khi người ta có thể hiểu cách điều này có thể được thực hiện trên các cõi dĩ thái, cảm dục và trí tuệ, thì các khả năng dường như bị giới hạn đối với cõi hồng trần đậm đặc. Đôi khi sự tái sinh diễn ra nhanh chóng, ngay cả trước khi vận cụ hồng trần trước đó hoàn toàn phân hủy và các thành phần cấu tạo của nó trở về “kho chứa” của chúng.

13. That the “lunar lords” in their various divisions may be recalled at will by the incarnating soul is reasonable to contemplate. How this process of ‘recall’ might work in relation to the tiny atomic lives, however, requires pondering, especially if we focus on the atomic lives of the dense physical plane.

13. Việc các “nguyệt tinh quân” trong những phân bộ khác nhau của chúng có thể được linh hồn nhập thể tùy ý triệu hồi là điều hợp lý để chiêm ngưỡng. Tuy nhiên, tiến trình “triệu hồi” này có thể vận hành thế nào đối với các sự sống nguyên tử nhỏ bé thì cần được suy ngẫm, đặc biệt nếu chúng ta tập trung vào các sự sống nguyên tử của cõi hồng trần đậm đặc.

O. Paragraph 14

O. Đoạn 14

1. The disciple is enjoined to recognise (with the assistance of his group) that he is essentially the Father aspect himself, the first cause, the creative will and the breath of life within the form. (cf. RI p. 102-103)

1. Đệ tử được truyền dạy phải nhận biết, với sự trợ giúp của nhóm mình, rằng về bản chất y chính là phương diện Cha, nguyên nhân thứ nhất, ý chí sáng tạo và hơi thở của sự sống bên trong hình tướng. (xem RI tr. 102-103)

2. Hitherto the disciples focus has been to regard himself as the soul, reincarnating when desire calls and withdrawing when need arises. Now a shift in realisation away from form and consciousness to the will and life aspect or principle occurs. The group life as a whole is here needed to make possible this shift. Why is this to be the case? (cf. RI p. 103)

2. Cho đến nay, trọng tâm của đệ tử là xem chính mình như linh hồn, tái sinh khi dục vọng kêu gọi và rút lui khi nhu cầu phát sinh. Giờ đây xảy ra một sự chuyển dịch trong chứng nghiệm, rời khỏi hình tướng và tâm thức để hướng tới phương diện hay nguyên khí ý chí và sự sống. Ở đây, đời sống nhóm như một toàn thể là cần thiết để làm cho sự chuyển dịch này có thể xảy ra. Tại sao lại như vậy? (xem RI tr. 103)

3. Knowledge can be defined as consciousness of form and its contacts. (cf. RI p. 103)

3. Tri thức có thể được định nghĩa là tâm thức về hình tướng và các tiếp xúc của nó. (xem RI tr. 103)

4. One of the first recognitions of the initiate-disciple is that form, and his consciousness of form and its contacts, have in themselves produced a great thought-form which has summed up in itself his entire relation to form, to existence and experience in the three worlds, to matter, to desire and to all that incarnation has brought him. The detaching of himself from this ancient thoughtform—the final form which the Dweller on the Threshold takes—is called by him Death. (cf. RI p. 103)

4. Một trong những nhận biết đầu tiên của đệ tử-điểm đạo đồ là hình tướng, cùng tâm thức của y về hình tướng và các tiếp xúc của nó, tự chúng đã tạo ra một hình tư tưởng lớn, trong đó đã tổng hợp toàn bộ mối liên hệ của y với hình tướng, với sự tồn tại và kinh nghiệm trong ba cõi thấp, với vật chất, với dục vọng và với tất cả những gì sự nhập thể đã mang đến cho y. Việc y tách rời khỏi hình tư tưởng cổ xưa này—hình tướng cuối cùng mà Kẻ Chận Ngõ khoác lấy—được y gọi là Cái Chết. (xem RI tr. 103)

5. At the fourth initiation the initiate-disciple realises that death is nothing but the severing of a thread which links him to the ring-pass-not within which he has chosen to circumscribe himself. (cf. RI p. 103)

5. Ở lần điểm đạo thứ tư, đệ tử-điểm đạo đồ nhận ra rằng cái chết không là gì khác ngoài việc cắt đứt một sợi dây nối y với vòng-giới-hạn mà trong đó y đã chọn tự giới định mình. (xem RI tr. 103)

6. The initiate-disciple discovers that the “last enemy to be destroyed” is brought to that final destruction by the first aspect in himself, the Father or Monad (which moved originally to create that form), the Life, the Breath, the directing energising Will. (cf. RI p. 103)

6. Đệ tử-điểm đạo đồ khám phá rằng “kẻ thù cuối cùng phải bị hủy diệt” được đưa đến sự hủy diệt sau cùng ấy bởi phương diện thứ nhất trong chính y, tức Cha hay Chân Thần, vốn ban đầu đã chuyển động để tạo ra hình tướng ấy, Sự Sống, Hơi Thở, Ý Chí điều khiển và tiếp năng lượng. (xem RI tr. 103)

Putting it this way, you will note how the disciple is really enjoined to recognise (with the assistance of his group) that he is essentially the Father aspect himself, the first cause, the creative will and the breath of life within the [Page 103] form. This is a somewhat new attitude which he is asked to take, because hitherto the emphasis upon his focus has been to regard himself as the soul, reincarnating when desire calls and withdrawing when need arises.

Diễn đạt như vậy, bạn sẽ lưu ý cách đệ tử thật sự được truyền dạy phải nhận biết, với sự trợ giúp của nhóm mình, rằng về bản chất y chính là phương diện Cha, nguyên nhân thứ nhất, ý chí sáng tạo và hơi thở của sự sống bên trong [Page 103] hình tướng. Đây là một thái độ phần nào mới mà y được yêu cầu đảm nhận, bởi vì cho đến nay trọng tâm của y vẫn là xem chính mình như linh hồn, tái sinh khi dục vọng kêu gọi và rút lui khi nhu cầu phát sinh.

1. The fourth Rule demands new recognitions of the newly accepted disciple: a disidentification from the “Mother” and an identification with the “Father”

1. Quy luật thứ tư đòi hỏi những nhận biết mới nơi đệ tử mới được chấp nhận: không đồng hoá với “Mẹ” và đồng hoá với “Cha”.

2. These recognitions occur with the assistance of his/her group (i.e., the inner ashramic group, radiating its influence into the life of the disciple) once formal “acceptance” into the Ashram has come. What the ashramic group already is, the disciple will become. The disciple is ‘entrained’ by the rhythm of the Ashram; a re-patterning-in-consciousness is in process.

2. Những nhận biết này xảy ra với sự trợ giúp của nhóm của y, tức nhóm ashram bên trong, đang phóng xạ ảnh hưởng của mình vào đời sống của đệ tử, một khi sự “chấp nhận” chính thức vào ashram đã diễn ra. Điều mà nhóm ashram đã là, đệ tử sẽ trở thành. Đệ tử được “hòa nhịp” theo nhịp điệu của ashram; một tiến trình tái lập mô hình trong tâm thức đang diễn ra.

3. The main shift is identification is away from the soul and towards the spirit. It is assumed that the disciple has already managed to disidentify himself/herself more or less from the personality.

3. Sự chuyển dịch chính trong đồng hoá là rời khỏi linh hồn và hướng về tinh thần. Người ta giả định rằng đệ tử đã phần nào xoay xở để không còn đồng hoá với phàm ngã.

4. Some important names for the “father aspect” are given: the “first cause”, the “creative will”, the “breath of life”. These words indicate the new and desired identification.

4. Một số danh xưng quan trọng dành cho “phương diện Cha” được đưa ra: “nguyên nhân thứ nhất”, “ý chí sáng tạo”, “hơi thở của sự sống”. Những lời này chỉ ra sự đồng hoá mới và đáng mong muốn.

5. The emphasis shifts away from “desire” and “need”—the factors which controlled, respectively, the return to incarnation of the reincarnating soul and its cyclic release from incarnation. Desire is connected with Mars and “need” with Saturn (Saturn, in one respect, the “Lord of Death”, the “Grim Reaper”).

5. Trọng tâm chuyển khỏi “ham muốn” và “nhu cầu”—những yếu tố đã lần lượt chi phối việc linh hồn tái sinh trở lại lâm phàm và sự giải thoát theo chu kỳ của nó khỏi lâm phàm. Ham muốn liên hệ với Sao Hỏa và “nhu cầu” liên hệ với Sao Thổ, theo một phương diện, Sao Thổ là “Chúa Tể Tử Thần”, “Kẻ Gặt Hái Nghiệt Ngã”.

6. We can well understand the desire (both individual desire and group desire) which contributes to the return of a soul to incarnation, but what of the “need” which signals the cyclic release from form?

6. Chúng ta có thể thấu hiểu rõ ham muốn, cả ham muốn cá nhân lẫn ham muốn nhóm, vốn góp phần đưa một linh hồn trở lại lâm phàm; nhưng còn “nhu cầu” báo hiệu sự giải thoát theo chu kỳ khỏi hình tướng thì sao?

7. We do not usually think that we “die” because we are responding to “need”. And yet in the Tenth Law for Healers we are told:

7. Thông thường, chúng ta không nghĩ rằng mình “chết” vì đang đáp ứng với “nhu cầu”. Thế nhưng trong Định luật Thứ Mười dành cho những người chữa trị, chúng ta được dạy rằng:

“Respond, O Rising One, to the call which comes within the sphere of obligation; recognize the call emerging from the Ashram or from the Council Chamber where waits the Lord of Life Himself. The Sound goes forth. Both soul and form together must renounce the Principle of life and thus Permit the Monad to stand free. The soul responds. The form then shatters the connection. Life is now liberated, owning the quality of conscious knowledge and the fruit of all experience. These are the gifts of soul and form combined”. (EH 502).

“Hỡi Đấng Đang Vươn Lên, hãy đáp ứng tiếng gọi đến trong phạm vi của bổn phận; hãy nhận ra tiếng gọi phát sinh từ ashram hoặc từ Phòng Hội Đồng, nơi chính Chúa Tể Sự Sống đang chờ đợi. Âm thanh phát ra. Cả linh hồn và hình tướng cùng nhau phải từ bỏ Nguyên khí sự sống và nhờ thế cho phép chân thần đứng tự do. Linh hồn đáp ứng. Khi ấy hình tướng phá vỡ mối liên kết. Sự sống giờ đây được giải thoát, sở hữu phẩm tính của tri thức hữu thức và quả trái của mọi kinh nghiệm. Đây là những tặng phẩm của linh hồn và hình tướng hợp nhất”. (Trị Liệu Huyền Môn 502).

The “sphere of obligation” suggests need or necessity. It has nothing to do with the lower spheres from which an intentional ‘exit’ is being made.

“Phạm vi của bổn phận” gợi lên nhu cầu hay sự tất yếu. Nó không liên quan gì đến các phạm vi thấp mà từ đó một cuộc “ra đi” có chủ ý đang được thực hiện.

8. What is this “need” which stimulates withdrawal from form? Is it soul-need? Is it Ashramic-need? Is it the “need” of the ray-group within which the individual soul takes incarnation?

8. “Nhu cầu” nào kích thích sự rút lui khỏi hình tướng? Đó có phải là nhu cầu của linh hồn không? Có phải là nhu cầu của ashram không? Có phải là “nhu cầu” của nhóm cung mà trong đó linh hồn cá nhân lâm phàm không?

9. The inner Ashram is also a “wheel” which must turn; it, too, has its requirements and its need for personnel.

9. Ashram bên trong cũng là một “bánh xe” phải quay; nó cũng có những đòi hỏi và nhu cầu về nhân sự của riêng nó.

10. Even if the incarnating human unit has not reached the point of development when membership in an Ashram is possible, the Solar Angel has its program and schedule (i.e. what might be called its “needs”). Were the human soul to remain in incarnation overly long it might frustrate other necessary processes.

10. Ngay cả khi đơn vị nhân loại đang lâm phàm chưa đạt đến điểm phát triển mà tư cách thành viên trong một ashram trở nên khả hữu, Thái dương Thiên Thần vẫn có chương trình và thời biểu của nó, tức điều có thể gọi là những “nhu cầu” của nó. Nếu linh hồn nhân loại ở lại trong lâm phàm quá lâu, nó có thể làm trở ngại các tiến trình cần thiết khác.

11. We can see how a change of perspective may be necessary. Higher “needs” may have to be acknowledged and respected.

11. Chúng ta có thể thấy một sự thay đổi trong viễn cảnh có thể là cần thiết. Những “nhu cầu” cao hơn có thể phải được thừa nhận và tôn trọng.

The group life as a whole is here needed to make possible this shift in realisation away from form and consciousness to the will and life aspect or principle. When this has begun to take place, one of the first recognitions of the initiate-disciple is that form, and his consciousness of form and its contacts (which we call knowledge), have in themselves produced a great thought-form which has summed up in itself his entire relation to form, to existence and experience in the three worlds, to matter, to desire and to all that incarnation has brought him. The whole matter looms, therefore, over-large in his consciousness. The detaching of himself from this ancient thoughtform—the final form which the Dweller on the Threshold takes—is called by him Death. Only at the fourth initiation does he realise that death is nothing but the severing of a thread which links him to the ring-pass-not within which he has chosen to circumscribe himself. He discovers that the “last enemy to be destroyed” is brought to that final destruction by the first aspect in himself, the Father or Monad (which moved originally to create that form), the Life, the Breath, the directing energising Will. It is the will that, in the last analysis, produces orientation, focus, emphasis, the world of form, and above all else (because of its relation to the world of cause), the world of meaning.

Ở đây, sự sống nhóm như một toàn thể là cần thiết để làm cho sự chuyển dịch này trong chứng nghiệm trở nên khả hữu, chuyển khỏi hình tướng và tâm thức để hướng đến phương diện hay nguyên khí ý chí và sự sống. Khi điều này đã bắt đầu diễn ra, một trong những nhận biết đầu tiên của điểm đạo đồ-đệ tử là hình tướng, cùng tâm thức của y về hình tướng và các tiếp xúc của nó, điều mà chúng ta gọi là tri thức, tự chúng đã tạo ra một hình tư tưởng lớn lao, hình tư tưởng ấy đã tổng kết trong chính nó toàn bộ mối liên hệ của y với hình tướng, với sự tồn tại và kinh nghiệm trong ba cõi thấp, với vật chất, với ham muốn và với tất cả những gì lâm phàm đã đem lại cho y. Vì vậy, toàn bộ vấn đề hiện lên quá lớn trong tâm thức y. Việc y tách rời khỏi hình tư tưởng cổ xưa này—hình tướng cuối cùng mà Kẻ Chận Ngõ khoác lấy—được y gọi là Cái Chết. Chỉ ở lần điểm đạo thứ tư, y mới nhận ra rằng cái chết chẳng là gì ngoài việc cắt đứt một sợi dây nối y với vòng-giới-hạn mà trong đó y đã chọn tự giới hạn mình. Y khám phá rằng “kẻ thù cuối cùng phải bị tiêu diệt” được đưa đến sự hủy diệt sau cùng ấy bởi phương diện thứ nhất trong chính y, Cha hay chân thần, vốn nguyên thủy đã chuyển động để tạo nên hình tướng ấy, tức Sự Sống, Hơi Thở, Ý Chí chỉ đạo và tiếp sinh lực. Xét đến cùng, chính ý chí tạo ra định hướng, sự tập trung, điểm nhấn, thế giới của hình tướng, và trên hết mọi sự, vì mối liên hệ của nó với thế giới của nguyên nhân, Thế giới của ý nghĩa.

1. Access to the true “Will” involves the group. We are told that Shamballa (the Home of the Will, in a planetary sense) can only be approached by a group. We can see that one does not grow into the “Will” without growing into the group.

1. Việc tiếp cận “Ý Chí” chân thật liên quan đến nhóm. Chúng ta được dạy rằng Shamballa, Ngôi Nhà của Ý Chí theo nghĩa hành tinh, chỉ có thể được tiếp cận bởi một nhóm. Chúng ta có thể thấy rằng người ta không trưởng thành vào trong “Ý Chí” nếu không trưởng thành vào trong nhóm.

2. The shift away from form and consciousness is a major one. An energy of significant potency is required to make this shift possible. The ashramic group provides it. The evocation of the “Will” is required if the eighteen fires are to die down. This evocation, as we have seen is stimulated by the ashramic group which has its impact upon the will aspect of the disciple.

2. Sự chuyển dịch khỏi hình tướng và tâm thức là một chuyển dịch trọng đại. Một năng lượng có quyền năng đáng kể được đòi hỏi để làm cho sự chuyển dịch này trở nên khả hữu. Nhóm ashram cung cấp năng lượng ấy. Sự gợi lên “Ý Chí” là cần thiết nếu mười tám ngọn lửa phải lắng xuống. Như chúng ta đã thấy, sự gợi lên này được kích thích bởi nhóm ashram, nhóm ấy tạo ảnh hưởng lên phương diện ý chí của đệ tử.

3. We learn an interesting thing: “consciousness of form and its contacts” is called “knowledge”. Wisdom, per se, has naught to do with form, though wisdom can be applied in relation to form.

3. Chúng ta học được một điều thú vị: “tâm thức về hình tướng và các tiếp xúc của nó” được gọi là “tri thức”. Chính minh triết không liên quan gì đến hình tướng, dù minh triết có thể được áp dụng trong liên hệ với hình tướng.

4. Under the impress of ashramic radiation, the accepted disciple learns of a huge thoughtform which has been created over many lives. This thoughtform sums up his/her entire relation to form and the experiences of form life. This thoughtform is a small aspect of the “Great Illusion” and must be dissipated.

4. Dưới ấn tượng của bức xạ ashram, đệ tử được chấp nhận học biết về một hình tư tưởng khổng lồ đã được tạo ra qua nhiều kiếp sống. Hình tư tưởng này tổng kết toàn bộ mối liên hệ của y với hình tướng và các kinh nghiệm của sự sống trong hình tướng. Hình tư tưởng này là một phương diện nhỏ của “Đại Ảo Tưởng” và phải được làm tiêu tan.

5. The disciple grows into an increasing illumination which reveals the ancient thoughtform (hitherto so entirely engrossing) for what it is.

5. Đệ tử tăng trưởng vào trong một sự soi sáng ngày càng lớn, sự soi sáng ấy mặc khải hình tư tưởng cổ xưa, vốn cho đến nay đã hoàn toàn cuốn hút y, đúng như bản chất của nó.

“The detaching of himself from this ancient thoughtform—the final form which the Dweller on the Threshold takes—is called by him Death.”

“Việc y tách rời khỏi hình tư tưởng cổ xưa này—hình tướng cuối cùng mà Kẻ Chận Ngõ khoác lấy—được y gọi là Cái Chết.”

The final “Dweller on the Threshold” is not just the personality, per se, but an aspect of the “World Illusion” which that personality represents.

“Kẻ Chận Ngõ” cuối cùng không chỉ là chính phàm ngã, mà là một phương diện của “Ảo Tưởng Thế Gian” mà phàm ngã ấy đại diện.

6. Only a strengthened ‘nucleus of spirit’ has the power to disperse and scatter that thoughtform. One is normally bound to this thoughtform by many threads; these threads must be snapped. Identification with the Ashram and the Life at the Heart of the Ashram (i.e., with the Master) assists in the snapping of the threads.

6. Chỉ một “hạt nhân tinh thần” đã được tăng cường mới có quyền năng làm tan rã và phân tán hình tư tưởng ấy. Người ta thường bị ràng buộc với hình tư tưởng này bằng nhiều sợi dây; các sợi dây ấy phải bị bứt đứt. Sự đồng hóa với ashram và với Sự Sống nơi Tâm của ashram, tức với Chân sư, hỗ trợ cho việc bứt đứt các sợi dây ấy.

7. So, what we finally call “Death” is an act by which freedom from one’s individual part of the Great Illusion is achieved. But this ancient thoughtform represents all that one habitually ‘knows’, all that is familiar and seems real. Hence the experience can be, initially, terrifying, for it seems to promise loss and existential annihilation.

7. Vì vậy, điều cuối cùng chúng ta gọi là “Cái Chết” là một hành động nhờ đó đạt được sự tự do khỏi phần cá nhân của mình trong Đại Ảo Tưởng. Nhưng hình tư tưởng cổ xưa này đại diện cho tất cả những gì người ta quen “biết”, tất cả những gì quen thuộc và có vẻ thực. Do đó, kinh nghiệm ấy lúc đầu có thể gây kinh hãi, vì dường như nó hứa hẹn sự mất mát và sự hủy diệt hiện sinh.

8. Let us ponder the following:

8. Chúng ta hãy suy ngẫm điều sau đây:

“Only at the fourth initiation does he realise that death is nothing but the severing of a thread which links him to the ring-pass-not within which he has chosen to circumscribe himself”.

“Chỉ ở lần điểm đạo thứ tư, y mới nhận ra rằng cái chết chẳng là gì ngoài việc cắt đứt một sợi dây nối y với vòng-giới-hạn mà trong đó y đã chọn tự giới hạn mình”.

This is an amazing thought. At the fourth degree we learn that our “prison” has been self-constructed and that the duration of our incarceration has been, to a degree, self-determined.

Đây là một tư tưởng đáng kinh ngạc. Ở cấp độ thứ tư, chúng ta học biết rằng “nhà tù” của chúng ta đã do chính mình xây dựng, và thời hạn bị giam giữ của chúng ta, ở một mức độ nào đó, cũng do chính mình quyết định.

9. Death, then, relates, above all, to a profound change in consciousness. It is the end to a self-chosen and self-perpetuated confinement within a self-generated prison of illusion. Through will, properly understood and applied, one can walk out of that prison.

9. Vậy thì, trên hết, cái chết liên quan đến một sự thay đổi sâu xa trong tâm thức. Đó là sự chấm dứt một tình trạng giam hãm do tự chọn và tự kéo dài trong một nhà tù ảo tưởng do chính mình tạo ra. Nhờ ý chí, khi được thấu hiểu và áp dụng đúng đắn, người ta có thể bước ra khỏi nhà tù ấy.

10. The “last enemy to be destroyed” is therefore no “content of consciousness” or specific content within the field of consciousness, but, rather, the entire fabric of habitual consciousness, itself.

10. Vì thế, “kẻ thù cuối cùng phải bị tiêu diệt” không phải là một “nội dung của tâm thức” hay một nội dung đặc thù nào trong trường tâm thức, mà đúng hơn là toàn bộ kết cấu của chính tâm thức tập quán.

11. At the fourth degree the Arhat focusses within the world of buddhi, the world of “pure reason”. Illusion is destroyed by pure reason. Pure reason is entered through a death process. Freedom from illusion, therefore, is produced through death, rightly understood.

11. Ở cấp độ thứ tư, vị La Hán tập trung trong thế giới Bồ đề, thế giới của “lý trí thuần túy”. Ảo tưởng bị hủy diệt bởi lý trí thuần túy. Người ta bước vào lý trí thuần túy thông qua một tiến trình chết. Vì vậy, sự tự do khỏi ảo tưởng được tạo ra thông qua cái chết, khi được thấu hiểu đúng đắn.

12. The threads of desire, the threads of karma, the act of severing and the true meaning of death—all these must be contemplated together.

12. Các sợi dây của ham muốn, các sợi dây của nghiệp quả, hành động cắt đứt và ý nghĩa chân thật của cái chết—tất cả những điều này phải được chiêm ngưỡng cùng nhau.

13. The initiate on the verge of liberation from form discovers the “destroyer” within himself/herself; it is the monad, the “Father aspect”, the “breath of life”. The monadic will has created all the disciple’s many worlds, and now the monadic aspect will engage in an act of necessary destruction so that the disciple (really a projection of the monad) may be free from the worlds with which he/she has preoccupied himself/herself for ages.

13. Điểm đạo đồ ở ngưỡng giải thoát khỏi hình tướng khám phá “kẻ hủy diệt” bên trong chính mình; đó là chân thần, “phương diện Cha”, “hơi thở của sự sống”. Ý chí chân thần đã tạo ra tất cả nhiều thế giới của đệ tử, và giờ đây phương diện chân thần sẽ tham dự vào một hành động hủy diệt cần thiết để đệ tử, thực ra là một phóng chiếu của chân thần, có thể được tự do khỏi các thế giới mà y đã bận tâm trong nhiều thời đại.

14. When “time is up” it is “up”. Pluto, so related to the monad, tells us when we can no longer abide within a state of limited consciousness; it is no longer necessary to do so, nor is it, from the larger perspective, helpful to the Plan. If we overstay our ‘welcome’ in a limited condition, the whole suffers. Something of this nature happened in relation to the Buddha and His, so called, “sin”—a sin of compassion.

14. Khi “thời gian đã hết” thì nó thật sự “đã hết”. Sao Diêm Vương, vốn liên hệ mật thiết với chân thần, cho chúng ta biết khi nào chúng ta không còn có thể lưu lại trong một trạng thái tâm thức giới hạn; làm như thế không còn cần thiết nữa, và theo viễn cảnh rộng lớn hơn, cũng không còn hữu ích cho Thiên Cơ. Nếu chúng ta lưu lại quá lâu trong một tình trạng giới hạn, toàn thể sẽ chịu thiệt hại. Một điều gì đó thuộc bản chất này đã xảy ra trong liên hệ với Đức Phật và cái gọi là “tội” của Ngài—một tội của lòng bi mẫn.

15. “The Lord giveth and the Lord taketh away”. ‘The monad giveth and the monad taketh away’. As we begin to identity with and as the monad, we ‘see’ what we have created through aeons of pilgrimage and experimentation. We see its purpose; we see its effect and its results.

15. “Chúa ban cho và Chúa lấy đi”. “Chân thần ban cho và chân thần lấy đi”. Khi chúng ta bắt đầu đồng hóa với chân thần và như chân thần, chúng ta “thấy” những gì mình đã tạo ra qua các thời đại hành hương và thử nghiệm. Chúng ta thấy mục đích của nó; chúng ta thấy tác động và kết quả của nó.

16. Just as Tibetan monks destroy the sand paintings over which they have labored for so many hours, we (with the help of the Ashram and, increasingly, identified as the monad) destroy the necessary illusion in which we have labored, creatively, for so many life cycles.

16. Cũng như các tăng sĩ Tây Tạng phá hủy những bức tranh cát mà họ đã lao tác trên đó suốt nhiều giờ, chúng ta, với sự trợ giúp của ashram và ngày càng đồng hóa như chân thần, phá hủy ảo tưởng cần thiết mà trong đó chúng ta đã lao tác một cách sáng tạo qua rất nhiều chu kỳ sống.

17. We enter the realm of “Death”. Our consciousness changed permanently, and we truly begin to live.

17. Chúng ta bước vào cõi giới của “Cái Chết”. Tâm thức chúng ta thay đổi vĩnh viễn, và chúng ta thật sự bắt đầu sống.

P. Paragraph 15

P. Đoạn 15

1. It is the will that, in the last analysis, produces orientation, focus, emphasis, the world of form, and above all else (because of its relation to the world of cause), the world of meaning. (cf. RI p. 103)

1. Xét đến cùng, chính ý chí tạo ra định hướng, sự tập trung, điểm nhấn, thế giới của hình tướng, và trên hết mọi sự, vì mối liên hệ của nó với thế giới của nguyên nhân, Thế giới của ý nghĩa. (xem sách đã dẫn, tr. 103)

2. Average man lives and has his being in the world of meaning; the initiate and the Master have their focus in the world of Being. They are then naught but will, illumined by love which links them with the world of meaning, and capable of intelligent activity which links them with the world of form, and is the indication of life. (cf. RI p. 103)

2. Con người trung bình sống và có bản thể của mình trong Thế giới của ý nghĩa; điểm đạo đồ và Chân sư có tiêu điểm của mình trong Thế Giới Bản Thể. Khi ấy, Các Ngài chẳng là gì ngoài ý chí, được tình thương soi sáng, tình thương ấy liên kết Các Ngài với Thế giới của ý nghĩa, và Các Ngài có khả năng hoạt động thông tuệ, hoạt động ấy liên kết Các Ngài với thế giới của hình tướng, và là dấu hiệu của sự sống. (xem sách đã dẫn, tr. 103)

3. The Masters effort is for the realisation of Being, immovable, immutable, living and only to be comprehended in terms which embody the concept of “It is not this; it is not that.” It is life, Being, the whole, the One. It is the will-to-be which has found itself through the will-to-good. (cf. RI p. 104)

3. Nỗ lực của các Chân sư là hướng đến sự chứng nghiệm Bản Thể, bất lay chuyển, bất biến, sống động và chỉ có thể được thấu hiểu bằng những thuật ngữ hàm chứa khái niệm “Nó không phải cái này; nó không phải cái kia.” Đó là sự sống, Bản Thể, toàn thể, Đấng Duy Nhất. Đó là Ý Chí-hiện hữu đã tìm thấy chính mình thông qua Ý Chí-hướng Thiện. (xem sách đã dẫn, tr. 104)

Average man lives and has his being in the world of meaning; the initiate and the Master have their focus in the world of Being. They are then naught but will, illumined by love which links them with the world of meaning, and capable of intelligent activity which links them with the world of form, and is the indication of life. But the desire of the initiate is not now for activity, or even for the expression of love. These qualities are integral parts of his equipment and expression but have dropped below the threshold of consciousness (a higher correspondence of the automatic [Page 104] activities of the physical body which proceed upon their work without any realised consciousness on the part of the man).

Con người trung bình sống và có bản thể của mình trong Thế giới của ý nghĩa; điểm đạo đồ và Chân sư có tiêu điểm của mình trong Thế Giới Bản Thể. Khi ấy, Các Ngài chẳng là gì ngoài ý chí, được tình thương soi sáng, tình thương ấy liên kết Các Ngài với Thế giới của ý nghĩa, và Các Ngài có khả năng hoạt động thông tuệ, hoạt động ấy liên kết Các Ngài với thế giới của hình tướng, và là dấu hiệu của sự sống. Nhưng ham muốn của điểm đạo đồ lúc này không còn hướng đến hoạt động, thậm chí cũng không hướng đến sự biểu hiện của tình thương. Những phẩm tính này là các phần cấu thành trong trang bị và biểu hiện của y, nhưng đã rơi xuống dưới ngưỡng tâm thức, một tương ứng cao hơn của các hoạt động tự động [Page 104] của thể xác, vốn tiếp tục công việc của chúng mà không có bất kỳ tâm thức nhận biết nào từ phía con người.

1. The monad creates the World of Meaning and lives in the World of Being. Being is the ‘fact-foremost’ in the awareness of the initiate, and moreso in the awareness of the Master.

1. Chân thần tạo ra Thế giới của ý nghĩa và sống trong Thế Giới Bản Thể. Bản Thể là “sự kiện đứng hàng đầu” trong nhận thức của điểm đạo đồ, và càng hơn nữa trong nhận thức của Chân sư.

2. When we live in the World of Meaning we are still trying to ‘see’. We are “piecing things together” and discovering the patterns which underlie the whole.

2. Khi sống trong Thế giới của ý nghĩa, chúng ta vẫn đang cố gắng “thấy”. Chúng ta đang “ghép nối các sự việc lại với nhau” và khám phá những mô hình nằm bên dưới toàn thể.

3. When, as initiates and Masters, we are focussed in the World of Being, the World Pattern is patent to us; the “Whole is seen as One”.

3. Khi, với tư cách là các điểm đạo đồ và các Chân sư, chúng ta tập trung trong Thế Giới Bản Thể, Mô Hình Thế Gian trở nên hiển nhiên đối với chúng ta; “Toàn Thể được thấy như Một”.

4. DK offers us a simplified understanding of what a Master really is: essentially, monad and antahkarana. Notice that the Master contains all three aspects of divinity in a very high state of development. Notice also that will is illumined by love—a very interesting relation of the three aspects. Love as an illumining power must be contemplated.

4. Chân sư DK trao cho chúng ta một hiểu biết giản lược về thực chất Chân sư là gì: về bản chất, là chân thần và antahkarana. Hãy lưu ý rằng Chân sư chứa đựng cả ba phương diện của thiên tính trong một trạng thái phát triển rất cao. Cũng hãy lưu ý rằng ý chí được tình thương soi sáng—một mối liên hệ rất thú vị giữa ba phương diện. Tình thương như một quyền năng soi sáng phải được chiêm ngưỡng.

5. The Master is not oriented towards activity or love, per se. These divine principles are inherent in His being; they are an automatic part of His life-demonstration.

5. Chân sư không định hướng về hoạt động hay tình thương, xét như chính chúng. Những nguyên khí thiêng liêng này vốn cố hữu trong bản thể của Ngài; chúng là một phần tự động trong sự biểu lộ sự sống của Ngài.

His effort is towards something which means little as yet to those of you who read these words; it is for the realisation of Being, immovable, immutable, living and only to be comprehended in terms which embody the concept of “It is not this; it is not that.” It is No-Thing; it is not thought or desire. It is life, Being, the whole, the One. It is not expressed by the words “I am” or by the words “I am not.” It is expressed by the words “I am that I am.” Having said that, know you what I mean? It is the will-to-be which has found itself through the will-to-good.

Nỗ lực của Ngài hướng đến một điều mà cho đến nay vẫn có rất ít ý nghĩa đối với các bạn đang đọc những lời này; đó là hướng đến sự chứng nghiệm Bản Thể, bất lay chuyển, bất biến, sống động và chỉ có thể được thấu hiểu bằng những thuật ngữ hàm chứa khái niệm “Nó không phải cái này; nó không phải cái kia.” Nó là Không-Vật; nó không phải tư tưởng hay ham muốn. Nó là sự sống, Bản Thể, toàn thể, Đấng Duy Nhất. Nó không được diễn tả bằng những lời “Tôi là” hay bằng những lời “Tôi không là”. Nó được diễn tả bằng những lời “Tôi là cái Tôi là.” Nói như thế rồi, các bạn có biết Tôi muốn nói gì không? Đó là Ý Chí-hiện hữu đã tìm thấy chính mình thông qua Ý Chí-hướng Thiện.

1. This is one of the rare occasions when Master DK enters a subject which He knows so well, but which He usually refrains from discussing because He realizes it is far beyond the realization of those He is addressing. He begins to speak as if out of the Upanishads, out of the Vedanta.

1. Đây là một trong những dịp hiếm hoi khi Chân sư DK đi vào một đề tài mà Ngài biết rất rõ, nhưng Ngài thường tránh bàn đến vì Ngài nhận ra rằng nó vượt rất xa sự chứng nghiệm của những người Ngài đang ngỏ lời. Ngài bắt đầu nói như thể từ các kinh sách triết học cổ Ấn Độ, từ truyền thống minh triết Ấn Độ.

2. We recognize the ‘language of negation’ at work. Those who attempt in language to reveal the qualities of being are forced to use negations. One can never describe what being is—only what it is not. By doing so, some glimmer of what it is may arise in the awareness.

2. Chúng ta nhận ra “ngôn ngữ phủ định” đang vận hành. Những ai cố gắng dùng ngôn ngữ để mặc khải các phẩm tính của bản thể buộc phải dùng các phủ định. Người ta không bao giờ có thể mô tả bản thể là gì—chỉ có thể nói nó không là gì. Bằng cách ấy, một tia sáng mờ nhạt nào đó về điều nó có thể nảy sinh trong nhận thức.

3. The realization of being transcends subject-object consciousness. It is akin to what Franklin Wolfe attempted to describe as “consciousness without an object”. It seems like a mystical state, but rather, more accurately, it is an occult state, based upon identification with Substance (which Spinoza equated with God).

3. Sự chứng nghiệm bản thể siêu vượt tâm thức chủ thể-đối tượng. Nó gần với điều Franklin Wolfe đã cố mô tả là “tâm thức không có đối tượng”. Nó có vẻ như một trạng thái thần bí, nhưng đúng hơn, chính xác hơn, đó là một trạng thái huyền bí học, dựa trên sự đồng hóa với Chất Liệu, điều mà Spinoza đã đồng nhất với Thượng đế.

4. Such sections as the paragraph portion above are inspiring and may evoke in us some dim apprehension of the One Substance of Creation (the One Substanding FACT).

4. Những phần như đoạn văn ở trên đem lại cảm hứng và có thể gợi lên trong chúng ta một sự lĩnh hội mờ nhạt nào đó về Chất Liệu Duy Nhất của Sáng Tạo, tức Sự làm nền SỰ THẬT Duy Nhất.

5. DK is not overly optimistic that we will know what He is talking about.

5. Chân sư DK không quá lạc quan rằng chúng ta sẽ biết Ngài đang nói về điều gì.

6. The “something” towards which the initiate’s effort is directed is described as the “will-to-be which has found itself through the will-to-good”. When thinking about the various aspects of the will, we can profitably think of the “will-to-be” as related to the first aspect of the will, and the “will-to-good” as related to the second aspect.

6. “Điều gì đó” mà nỗ lực của điểm đạo đồ hướng tới được mô tả là “Ý Chí-hiện hữu đã tìm thấy chính mình thông qua Ý Chí-hướng Thiện”. Khi suy nghĩ về các phương diện khác nhau của ý chí, chúng ta có thể hữu ích khi xem “Ý Chí-hiện hữu” là liên hệ với phương diện thứ nhất của ý chí, và “Ý Chí-hướng Thiện” là liên hệ với phương diện thứ hai.

7. How do we discover the “will-to-be” within ourselves. DK suggests that we must apply ourselves to the understanding and expression of the “will-to-good”. In the movement towards to the good (towards an optimal relationship between all ‘things’ within the Great Creation), we will find That which substands them all.

7. Làm thế nào chúng ta khám phá “Ý Chí-hiện hữu” bên trong chính mình? Chân sư DK gợi ý rằng chúng ta phải chuyên tâm vào việc thấu hiểu và biểu hiện “Ý Chí-hướng Thiện”. Trong chuyển động hướng về điều thiện, hướng về một mối liên hệ tối ưu giữa mọi “sự vật” trong Đại Sáng Tạo, chúng ta sẽ tìm thấy Cái làm nền cho tất cả chúng.

8. What is suggested is a familiar thought: that we reach the first aspect of divinity through the second. At least, that is how we do it in this second solar system, ruled by the second aspect.

8. Điều được gợi ý là một tư tưởng quen thuộc: rằng chúng ta đạt đến phương diện thứ nhất của thiên tính thông qua phương diện thứ hai. Ít nhất, đó là cách chúng ta thực hiện trong hệ mặt trời thứ hai này, vốn do phương diện thứ hai cai quản.

9. What mystery is held in the words, “I am that I am”? This form of words is really a riddle. It is not quite the same as saying, “I am That and That am I”. In this latter formulation, subject-object consciousness is still rather emphasized. In the formulation, “I am that I am”, however, there is a kind of ‘self-reflexive circularity’ which unites “all things considered” into one, and resolves them into the fact of being. It is as if to say that what I am can only be realized through the fact of my being. Also that “I am” only that which I am, and nought else. It is my beingness that I am; I am no ‘thing’ at all, for beingness is not a ‘thing’. ‘What I am is that I am’. What I am has no quality at all. ‘That I am is what is important about who I am’. ‘I am indescribable, non-attributive being’.

9. Bí nhiệm nào được chứa đựng trong những lời “Tôi là cái Tôi là”? Hình thức lời nói này thật sự là một câu đố. Nó không hoàn toàn giống như nói “Tôi là Cái Đó và Cái Đó là tôi”. Trong công thức sau này, tâm thức chủ thể-đối tượng vẫn còn được nhấn mạnh khá rõ. Tuy nhiên, trong công thức “Tôi là cái Tôi là”, có một kiểu “tính vòng tròn tự phản chiếu” hợp nhất “mọi sự khi được xét đến” thành một, và phân giải chúng vào trong sự kiện của bản thể. Điều đó như thể nói rằng cái mà tôi là chỉ có thể được chứng nghiệm thông qua sự kiện về bản thể của tôi. Cũng như rằng “Tôi là” chỉ cái mà tôi là, và không gì khác. Chính tính bản thể của tôi là điều tôi là; tôi hoàn toàn không phải là một “vật”, vì tính bản thể không phải là một “vật”. “Cái mà tôi là chính là rằng tôi là”. Cái tôi là không có phẩm tính nào cả. “Rằng tôi là là điều quan trọng nơi tôi là ai”. “Tôi là bản thể không thể mô tả, không thuộc tính.”

10. These are feeble attempts to describe what can only be experiences or, rather, to coin a word, ‘inperienced’.

10. Đây là những cố gắng yếu ớt nhằm mô tả điều chỉ có thể được kinh nghiệm, hay đúng hơn, để tạo một từ, được “nội nghiệm”.

11. The practical thing to emerge from all this may sound platitudinous, but so be it: if we seek to be “good”, and become “good” (eventually becoming “the Good”) we shall know what being really is, and hence, what we really are.

11. Điều thực tiễn phát sinh từ tất cả những điều này có thể nghe sáo mòn, nhưng cứ để vậy: nếu chúng ta tìm cách trở nên “thiện” và trở thành “thiện”, cuối cùng trở thành “Điều Thiện”, chúng ta sẽ biết bản thể thật sự là gì, và do đó biết chúng ta thật sự gì.

12. Therefore, let us apply ourselves to the ‘Project of Goodness’; it is the surest way into the ‘Realization of Being’.

12. Vì vậy, chúng ta hãy chuyên tâm vào “Dự Án Thiện Tính”; đó là con đường chắc chắn nhất đưa vào “Sự Chứng Nghiệm Bản Thể”.

Q. Paragraph 17

Q. Đoạn 17

The eighteen fires must die down; the lesser lives (embodying the principle of form, of desire and of thought, the sum total of creativity, based upon magnetic love) must return to the reservoir of life and naught be left but that which caused them to be, the central will which is known by the effects of its radiation or breath. (cf. RI p. 104)

Mười tám ngọn lửa phải lắng xuống; các sự sống nhỏ bé, vốn hiện thân cho nguyên khí của hình tướng, của ham muốn và của tư tưởng, tổng hòa của tính sáng tạo dựa trên bác ái từ tính, phải trở về kho chứa của sự sống, và không còn lại gì ngoài cái đã khiến chúng hiện hữu, tức ý chí trung tâm được biết đến qua các tác động của bức xạ hay hơi thở của nó. (xem sách đã dẫn, tr. 104)

Therefore, the eighteen fires must die down; the lesser lives (embodying the principle of form, of desire and of thought, the sum total of creativity, based upon magnetic love) must return to the reservoir of life and naught be left but that which caused them to be, the central will which is known by the effects of its radiation or breath. This dispersal, death or dissolution is in reality a great effect produced by the central Cause, and the injunction is consequently: (and here we move on to the next sentence in Rule IV)

Do đó, mười tám ngọn lửa phải lắng xuống; các sự sống nhỏ bé (hiện thân cho nguyên khí của hình tướng, của dục vọng và của tư tưởng, tổng thể của tính sáng tạo, đặt nền trên tình thương từ tính) phải trở về nguồn dự trữ sự sống, và không còn lại gì ngoài cái đã khiến chúng hiện hữu: ý chí trung tâm, được nhận biết qua các hiệu quả của sự phóng xạ hay hơi thở của nó. Sự phân tán, cái chết hay sự tan rã này, trong thực tại, là một hiệu quả lớn lao do Nguyên Nhân trung tâm tạo ra, và vì thế huấn lệnh là: (và ở đây chúng ta chuyển sang câu kế tiếp trong Quy luật IV)

1. We reach the point of summation. That which the following of Rule IV is to accomplish is succinctly stated.

1. Chúng ta đạt đến điểm tổng kết. Điều mà việc tuân theo Quy luật IV nhằm hoàn thành được phát biểu một cách súc tích.

2. The “principle of form, of desire and of thought” is reflected in the three elemental lives which comprise the personality. The existence of the personality (the “sum total of creativity”—the creativity of the Solar Angel) is based upon magnetic love. The “central will” takes the place of that which magnetic love has created over the aeons.

2. “Nguyên khí của hình tướng, của dục vọng và của tư tưởng” được phản chiếu trong ba sự sống hành khí cấu thành phàm ngã. Sự tồn tại của phàm ngã (“tổng thể của tính sáng tạo”—tính sáng tạo của Thái dương Thiên Thần) được đặt nền trên tình thương từ tính. “Ý chí trung tâm” thay thế cho cái mà tình thương từ tính đã tạo ra qua các đại kiếp.

3. We are dealing here with the ‘restoration—in awareness—of the Central Mystery’—the microcosmic restoration of that which is essential and immortal, and a ‘partless-part’ of the ever-existent Central Reality.

3. Ở đây chúng ta đang bàn đến “sự hoàn phục—trong nhận thức—của Bí Nhiệm Trung Tâm”—sự hoàn phục tiểu thiên địa của cái vốn thiết yếu và bất tử, và là một “phần-không-phần” của Thực Tại Trung Tâm hằng hữu.

4. Have we realized our destination should we become accepted disciples? That we are on a ‘journey’ to ‘the Ultimate’ (ultimate, at least for us).

4. Chúng ta đã nhận ra đích đến của mình nếu chúng ta trở thành các đệ tử được chấp nhận chưa? Rằng chúng ta đang ở trên một “hành trình” hướng đến “Tối Hậu” (tối hậu, ít nhất là đối với chúng ta).

5. There is incredibly much to ponder in relation to this first sentence of Rule IV.

5. Có vô cùng nhiều điều để suy ngẫm liên quan đến câu đầu tiên này của Quy luật IV.

“Let the group see that all the eighteen fires die down and that the lesser lives return unto the reservoir of life.(R&I 96)

“Hãy để nhóm thấy rằng tất cả mười tám ngọn lửa lắng xuống và các sự sống nhỏ bé trở về nguồn dự trữ sự sống.(R&I 96)

Rule IV: Second Sentence

Quy luật IV: Câu thứ hai

This they must bring about through the evocation of the Will.(RI p. 104)

“Điều này họ phải thực hiện thông qua sự gợi lên Ý Chí.(RI tr. 104)

The Sentence

Câu văn

A. This they must bring about through the evocation of the Will.” (RI p. 104).

A. “Điều này họ phải thực hiện thông qua sự gợi lên Ý Chí.” (RI tr. 104).

1. Much that pertains to this sentence has already been discussed or hinted in the Commentary on Part II of Rule IV.

1. Nhiều điều liên quan đến câu này đã được thảo luận hoặc gợi ý trong phần Bình giảng về Phần II của Quy luật IV.

2. The “evocation of the Will” is one of the principle objectives of the Divine Plan, along with the “revelation of love” and the “illumination of the mind”.

2. “Sự gợi lên Ý Chí” là một trong những mục tiêu chính của Thiên Cơ, cùng với “sự mặc khải của tình thương” và “sự soi sáng thể trí”.

3. The evocation of the Will is equivalent to the strengthening of the nucleus of power within any disciple. This central nucleus (at first the soul center, but later, and more authentically, the spirit center) is the controlling, dispersing and dissipating agent in the constitution of man.

3. Sự gợi lên Ý Chí tương đương với việc củng cố hạt nhân quyền năng bên trong bất kỳ đệ tử nào. Hạt nhân trung tâm này (lúc đầu là trung tâm linh hồn, nhưng về sau, và xác thực hơn, là trung tâm tinh thần) là tác nhân kiểm soát, phân tán và làm tiêu tan trong cấu tạo của con người.

4. The strengthening of the central nucleus has a subduing effect upon the eighteen lower fires, just as the secretion of the pineal gland (a gland ruled by willful Vulcan, from one perspective) has a subduing effect upon the glandular secretions stimulated by Mars (adrenaline).

4. Việc củng cố hạt nhân trung tâm có tác dụng chế ngự đối với mười tám ngọn lửa thấp, cũng như sự tiết xuất của tuyến tùng (một tuyến do Vulcan đầy ý chí cai quản, theo một góc nhìn) có tác dụng chế ngự đối với các tiết xuất tuyến thể được Sao Hỏa kích thích (adrenaline).

5. Mars, which was called the “six-faced planet” (SD II. 399.) is closely correlated to the burning of the eighteen fires which compose the bodies of the “lunar lords” or “lunar pitris”. Mars, therefore, is stimulative of the lower man in his three divisions—physical, emotional and lower mental.

5. Sao Hỏa, từng được gọi là “hành tinh sáu mặt” (SD II. 399.) có tương quan mật thiết với sự bừng cháy của mười tám ngọn lửa cấu thành các thể của “các nguyệt tinh quân” hay “thái âm tổ phụ”. Do đó, Sao Hỏa kích thích phàm nhân trong ba phần của y—hồng trần, cảm xúc và hạ trí.

6. When the eighteen fires die down, they do so through the dying down of the Martian vibration within the personality. Vulcan (associated with the highest head center {EA 517}, and with the pineal gland) is the planetary force which is instrumental in bringing this about (though all the sacred planets, especially Venus, help in the process).

6. Khi mười tám ngọn lửa lắng xuống, chúng lắng xuống nhờ sự lắng xuống của rung động Sao Hỏa bên trong phàm ngã. Vulcan (liên hệ với trung tâm đầu cao nhất {EA 517}, và với tuyến tùng) là mãnh lực hành tinh giữ vai trò công cụ trong việc đem lại điều này (dù tất cả các hành tinh thiêng liêng, đặc biệt là Sao Kim, đều trợ giúp trong tiến trình ấy).

7. At the second initiation there is a confrontation between Vulcan and Mars. (In fact, it could be said that at each of the first three initiations, and even at the fourth, there is a confrontation between these planets, though the confrontation at the third initiation is most focal.)

7. Ở lần điểm đạo thứ hai, có một cuộc đối diện giữa Vulcan và Sao Hỏa. (Thật ra, có thể nói rằng ở mỗi một trong ba lần điểm đạo đầu, và ngay cả ở lần thứ tư, đều có một cuộc đối diện giữa các hành tinh này, dù cuộc đối diện ở lần điểm đạo thứ ba là trọng tâm nhất.)

8. Mars represents desire and everything “personal”, and Vulcan is the planet of the will, especially (in this consideration) the spiritual will.

8. Sao Hỏa tượng trưng cho dục vọng và mọi điều “cá nhân”, còn Vulcan là hành tinh của ý chí, đặc biệt (trong sự xem xét này) là ý chí tinh thần.

9. The fires of desire (“fire by friction”) must give way to solar fire. Vulcan (agent of the spiritual will) is the means of bringing this about.

9. Các ngọn lửa của dục vọng (“Lửa ma sát”) phải nhường chỗ cho Lửa Thái dương. Vulcan (tác nhân của ý chí tinh thần) là phương tiện đem lại điều này.

10. Every initiation represents the relative triumph of spiritual will over one aspect of the personality. At the first degree, the will subdues and aligns the etheric-physical body (not completely, but to a necessary extent). At the second degree it is the astral body that is subdued by spiritual will, and the transformation of desire into will makes significant headway. At the third degree, the mental body is forced to become an instrument of the spiritual will.

10. Mỗi cuộc điểm đạo tượng trưng cho sự chiến thắng tương đối của ý chí tinh thần đối với một phương diện của phàm ngã. Ở cấp độ thứ nhất, ý chí chế ngự và chỉnh hợp thể dĩ thái-hồng trần (không hoàn toàn, nhưng đến mức cần thiết). Ở cấp độ thứ hai, chính thể cảm dục bị ý chí tinh thần chế ngự, và sự chuyển đổi dục vọng thành ý chí đạt được bước tiến đáng kể. Ở cấp độ thứ ba, thể trí bị buộc phải trở thành một khí cụ của ý chí tinh thần.

11. It is the spiritual will that subdues the eighteen fires just as it is Vulcan that subdues (even “kills”) Mars (for “Cain” {‘Vul-cain’} kills Abel).

11. Chính ý chí tinh thần chế ngự mười tám ngọn lửa, cũng như chính Vulcan chế ngự (thậm chí “giết chết”) Sao Hỏa (vì “Cain” {‘Vul-cain’} giết Abel).

12. The will is closely connected to the highest head center. When the will is stimulated (under the radiatory influence of the Ashram into which the new accepted disciple has entered), the crown center of the disciple is stimulated.

12. Ý chí liên hệ mật thiết với trung tâm đầu cao nhất. Khi ý chí được kích thích (dưới ảnh hưởng phóng xạ của ashram mà người đệ tử mới được chấp nhận đã bước vào), trung tâm đỉnh đầu của đệ tử được kích thích.

13. The stimulation of the head/crown begins a “drawing action” on the energies which animate the etheric body. The strengthening of the crown center means a reduction in the amount of energy being directed to the stimulation of the lower centers—especially to the sub-diaphragmatic centers under the general rulership of Mars. (There is no major center below to the diaphragm to which Mars cannot be related.)

13. Sự kích thích trung tâm đầu/đỉnh đầu khởi đầu một “tác động lôi kéo” đối với các năng lượng làm linh hoạt thể dĩ thái. Việc củng cố trung tâm đỉnh đầu có nghĩa là giảm lượng năng lượng được hướng đến việc kích thích các trung tâm thấp—đặc biệt là các trung tâm dưới cơ hoành nằm dưới quyền cai quản chung của Sao Hỏa. (Không có trung tâm chính nào bên dưới cơ hoành mà Sao Hỏa không thể liên hệ.)

14. Through the strengthening of the spiritual will, the higher principles, aspects, centers of the man are stimulated and the lower principles, aspects, centers subdued. This change of emphasis (from ‘operates energetically and even chemically. The pineal gland is, in many respects, a “master gland” and its increasing activation corresponds with the spiritual elevation of the evolving individual.

14. Thông qua việc củng cố ý chí tinh thần, các nguyên khí, phương diện, trung tâm cao của con người được kích thích và các nguyên khí, phương diện, trung tâm thấp bị chế ngự. Sự chuyển đổi trọng tâm này (từ ‘vận hành một cách năng lượng và thậm chí hóa học. Tuyến tùng, theo nhiều phương diện, là một “tuyến chủ”, và sự hoạt hóa ngày càng tăng của nó tương ứng với sự nâng cao tinh thần của cá nhân đang tiến hoá.

15. We therefore see that when we are successful in bringing the spiritual will into effective expression in our lives, the result will be a gradual subduing of the lower fires (once so necessary but obstructive to the spiritualization of man in the later stages of the evolutionary process).

15. Do đó, chúng ta thấy rằng khi chúng ta thành công trong việc đưa ý chí tinh thần vào biểu hiện hữu hiệu trong đời sống mình, kết quả sẽ là sự chế ngự dần dần các ngọn lửa thấp (từng rất cần thiết nhưng lại cản trở sự tinh thần hóa con người trong các giai đoạn về sau của tiến trình tiến hoá).

16. The spiritual will is strengthened through constant effort to fulfill the next duty. When the life is consecrated to the fulfillment of the Divine Plan (as best the disciple understands that Plan), then the spiritual will is inevitably strengthened.

16. Ý chí tinh thần được củng cố thông qua nỗ lực liên tục nhằm hoàn thành bổn phận kế tiếp. Khi đời sống được thánh hiến cho việc thực hiện Thiên Cơ (theo mức tốt nhất mà đệ tử thấu hiểu Thiên Cơ ấy), thì ý chí tinh thần tất yếu được củng cố.

17. A closer association with the inner Ashram strengthens the resolve of the disciple and encourages the necessary fulfillments.

17. Sự liên kết mật thiết hơn với ashram bên trong củng cố quyết tâm của đệ tử và khuyến khích những sự hoàn thành cần thiết.

18. Many energies, forces, centers and spiritual sources are cooperating in the desirable elevation of both the individual disciple and groups of disciples. The disciple or discipleship group (stimulated by closer association with the Master and the Ashram) undertake certain initiatives which lead to progress. The Ashram continues to pour forth its elevating influence and the disciple and discipleship group are stimulated to ever fresh initiatives leading to still further progress. A virtuous circle is created and all concerned ascend.

18. Nhiều năng lượng, mãnh lực, trung tâm và nguồn tinh thần đang hợp tác trong sự nâng cao đáng mong muốn của cả đệ tử cá nhân lẫn các nhóm đệ tử. Đệ tử hay nhóm đệ tử (được kích thích nhờ sự liên kết mật thiết hơn với Chân sư và ashram) đảm nhận một số sáng kiến dẫn đến tiến bộ. Ashram tiếp tục tuôn đổ ảnh hưởng nâng cao của mình, và đệ tử cùng nhóm đệ tử được kích thích đến những sáng kiến luôn mới mẻ, dẫn đến tiến bộ xa hơn nữa. Một vòng tròn thiện lành được tạo ra và tất cả những ai liên quan đều thăng lên.

19. Let us be clear about some methods of strengthening the spiritual will:

19. Chúng ta hãy làm rõ một số phương pháp củng cố ý chí tinh thần:

a. Focus the consciousness frequently within the crown center.

a. Thường xuyên tập trung tâm thức bên trong trung tâm đỉnh đầu.

b. Think with love towards your fellow human beings. The Will of God is Love.

b. Hãy nghĩ với tình thương hướng đến đồng loại của bạn. Ý Chí của Thượng Đế là Tình thương.

c. Think universally and, every so often, attempt to grasp the largest possible picture of the cosmos you can imagine.

c. Hãy tư duy một cách phổ quát và, thỉnh thoảng, cố gắng nắm bắt bức tranh rộng lớn nhất có thể về vũ trụ mà bạn có thể hình dung.

d. Think of the livingness of the great Beings Who form our local cosmo system—the constellational gods, the solar gods and the planetary gods, and, of course, of our Earth (understood as the expression of our Planetary Logos).

d. Hãy nghĩ về tính sống động của các Đấng Vĩ Đại tạo thành hệ vũ trụ địa phương của chúng ta—các vị thần của những chòm sao, các vị thần thái dương và các vị thần hành tinh, và dĩ nhiên, của Trái Đất chúng ta (được hiểu như biểu hiện của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta).

e. Think often of the Great Ashram (the Ashram of Sanat Kumara), its purpose, its projects, and attempt to fulfill its objectives.

e. Hãy thường nghĩ đến Đại Ashram (Ashram của Đức Sanat Kumara), mục đích, các công trình của nó, và cố gắng thực hiện các mục tiêu của nó.

f. Dedicate yourself and your group to Sanat Kumara (the King of Shamballa) and to the Christ (the Master of all the Masters).

f. Hãy hiến dâng chính bạn và nhóm của bạn cho Đức Sanat Kumara (Vua của Shamballa) và cho Đức Christ (Chân sư của mọi Chân sư).

g. Meditate upon and study the Divine Plan as a whole.

g. Hãy tham thiền về và nghiên cứu Thiên Cơ như một toàn thể.

“Speak not of self. Pity not thy fate. The thoughts of self and of thy lower destiny prevent the inner voice of thine own soul from striking upon thine ear. Speak of the soul; enlarge upon the plan; forget thyself in building for the world. Thus is the law of form offset. Thus can the rule of love enter upon that world.” (TWM 474-475)

“Đừng nói về bản thân. Đừng thương hại số phận của mình. Những tư tưởng về bản thân và về định mệnh thấp của ngươi ngăn cản tiếng nói bên trong của chính linh hồn ngươi vang đến tai ngươi. Hãy nói về linh hồn; hãy mở rộng về Thiên Cơ; hãy quên mình trong việc xây dựng cho thế gian. Như thế định luật của hình tướng được hóa giải. Như thế quy luật của tình thương có thể bước vào thế gian ấy.” (TWM 474-475)

h. Find the Master to Whom you most resonate and seek to understand His plans and purposes.

h. Hãy tìm vị Chân sư mà bạn cộng hưởng nhiều nhất và tìm cách thấu hiểu các kế hoạch cùng mục đích của Ngài.

i. Identify with your Ashramic Brothers and attune to their ‘will-stream’. Their consecrated will can be added to our own.

i. Hãy đồng hoá với các Huynh đệ Ashram của bạn và hòa điệu với “dòng ý chí” của họ. Ý chí thánh hiến của họ có thể được thêm vào ý chí của chính chúng ta.

j. Meditate upon and study Divine Plan in relation to the Ashram with which you find/believe yourself to be affiliated.

j. Hãy tham thiền về và nghiên cứu Thiên Cơ trong liên hệ với ashram mà bạn thấy/tin rằng mình thuộc về.

k. Determine which aspect of the Divine Plan it is within your power and ability to fulfill.

k. Hãy xác định phương diện nào của Thiên Cơ nằm trong quyền năng và khả năng của bạn để thực hiện.

l. Take responsibility for the fulfillment of that aspect.

l. Hãy nhận trách nhiệm đối với việc thực hiện phương diện ấy.

m. Create an organized program of action which will lead to the fulfillment of the chosen aspect of the Divine Plan for which you have taken responsibility.

m. Hãy tạo ra một chương trình hành động có tổ chức, dẫn đến việc thực hiện phương diện đã chọn của Thiên Cơ mà bạn đã nhận trách nhiệm.

n. Attempt to fulfill your self-created program of action in relation to the Plan and hold to that program at any cost. Do not deviate.

n. Hãy cố gắng thực hiện chương trình hành động do chính bạn tạo ra trong liên hệ với Thiên Cơ và giữ vững chương trình ấy bằng mọi giá. Đừng đi chệch hướng.

o. Reaffirm, with frequency, your willingness to carry out your share in the Divine Plan to the best of your ability.

o. Hãy thường xuyên tái khẳng định thiện chí sẵn sàng của bạn trong việc thực hiện phần việc của mình trong Thiên Cơ với hết khả năng của bạn.

p. Persist! The “Will to Persist” is a great Vulcanian quality associated with the first ray. One of the significant mantrams of the first ray is, “I still persist” (EP II 84).

p. Hãy kiên trì! “Ý Chí Kiên Trì” là một phẩm tính Vulcan vĩ đại liên hệ với cung một. Một trong những mantram quan trọng của cung một là: “Tôi vẫn kiên trì” (EP II 84).

The Themes Included Under the Sentence 2

Các chủ đề được bao gồm dưới Câu 2

B. Paragraph 1

B. Đoạn 1

1. This type of death is ever brought about by a group, because it is from the earliest moment the one unmistakable expression of soul activity—as influenced consciously by the Monad or Father—and this activity is a group activity which wills the return of the lesser lives to the general reservoir from the very first moment that it has become apparent that the form experience has served its purpose and that the form has reached a point of such resilience and capacity that perfection has been practically achieved. This is definitely consummated at the fourth initiation. (cf. RI p. 104)

1. Loại cái chết này luôn do một nhóm tạo ra, bởi vì ngay từ khoảnh khắc sớm nhất, nó là biểu hiện duy nhất không thể nhầm lẫn của hoạt động linh hồn—như được Chân Thần hay Cha tác động một cách có ý thức—và hoạt động này là một hoạt động nhóm, vốn chủ ý khiến các sự sống nhỏ bé trở về nguồn dự trữ chung ngay từ khoảnh khắc đầu tiên khi đã trở nên rõ ràng rằng kinh nghiệm hình tướng đã phục vụ mục đích của nó, và hình tướng đã đạt đến một điểm có độ đàn hồi và năng lực đến mức sự hoàn thiện hầu như đã thành tựu. Điều này được hoàn tất một cách xác định ở lần điểm đạo thứ tư. (xem RI tr. 104)

2. For the initiate-disciple death is simply an effect produced by life and by his conscious will, and is a mode whereby he directs substance and controls matter. This becomes consciously possible because, having developed awareness of two divine aspects—creative activity and love—he is now focussed in the highest aspect and knows himself to be the Will, the Life, the Father, the Monad, the One. (cf. RI p. 104-105)

2. Đối với điểm đạo đồ-đệ tử, cái chết chỉ đơn giản là một hiệu quả do sự sống và ý chí có ý thức của y tạo ra, và là một phương thức nhờ đó y điều động chất liệu và kiểm soát vật chất. Điều này trở nên khả hữu một cách có ý thức bởi vì, sau khi đã phát triển nhận thức về hai phương diện thiêng liêng—hoạt động sáng tạo và tình thương—giờ đây y tập trung trong phương diện cao nhất và biết mình là Ý Chí, Sự Sống, Cha, Chân Thần, Đấng Duy Nhất. (xem RI tr. 104-105)

This type of death is ever brought about by a group, because it is from the earliest moment the one unmistakable expression of soul activity—as influenced consciously by the Monad or Father—and this activity is a group activity which wills the return of the lesser lives to the general reservoir from the very first moment that it has become apparent that the form experience has served its purpose and that the form has reached a point of such resilience and capacity that perfection has been practically achieved. This is definitely consummated at the fourth initiation.

Loại cái chết này luôn do một nhóm tạo ra, bởi vì ngay từ khoảnh khắc sớm nhất, nó là biểu hiện duy nhất không thể nhầm lẫn của hoạt động linh hồn—như được Chân Thần hay Cha tác động một cách có ý thức—và hoạt động này là một hoạt động nhóm, vốn chủ ý khiến các sự sống nhỏ bé trở về nguồn dự trữ chung ngay từ khoảnh khắc đầu tiên khi đã trở nên rõ ràng rằng kinh nghiệm hình tướng đã phục vụ mục đích của nó, và hình tướng đã đạt đến một điểm có độ đàn hồi và năng lực đến mức sự hoàn thiện hầu như đã thành tựu. Điều này được hoàn tất một cách xác định ở lần điểm đạo thứ tư.

1. The dying down of the eighteen fires is a kind of “death”. It is a transfer of energy from one form of expression to another and higher. As higher centers and patterns are animated by the transferred energy, the lower centers subside (though are not extinguished) and the patterns associated with them begin to die of attrition.

1. Sự lắng xuống của mười tám ngọn lửa là một dạng “cái chết”. Đó là sự chuyển dịch năng lượng từ một hình thức biểu hiện sang một hình thức khác và cao hơn. Khi các trung tâm và mô hình cao hơn được làm linh hoạt bởi năng lượng đã chuyển dịch, các trung tâm thấp lắng xuống (dù không bị dập tắt), và các mô hình liên hệ với chúng bắt đầu chết dần do hao mòn.

2. The Tibetan is definite in stating that the kind of death here discussed “is ever brought about by a group”. This “death” is an unmistakable expression of soul activity, and the idea of “soul” is inseparable from the idea of “group”.

2. Chân sư Tây Tạng khẳng định rõ ràng rằng loại cái chết được bàn đến ở đây “luôn do một nhóm tạo ra”. “Cái chết” này là một biểu hiện không thể nhầm lẫn của hoạt động linh hồn, và ý tưởng về “linh hồn” không thể tách rời khỏi ý tưởng về “nhóm”.

3. Man, himself, is a “group”, a composite formed of many lives. There are two main categories of lives which compose the man—the lunar lives and the solar lives, and within each are various categories of lesser lives—i.e., the various kinds of solar and lunar “pitris”.

3. Chính con người là một “nhóm”, một hợp thể được tạo thành từ nhiều sự sống. Có hai loại sự sống chính cấu thành con người—các sự sống thái âm và các sự sống thái dương, và bên trong mỗi loại có nhiều loại sự sống nhỏ bé khác nhau—tức là các loại “tổ phụ” thái dương và thái âm khác nhau.

4. The fourth initiation can be considered and event causing a triple liberation. The human soul is liberated onto the buddhic plane; the Solar Pitris (in their several categories aggregated in relation to the causal body of man), having completed their millions of years of service and servitude, are liberated to return to the “Heart of the Sun” (and some, perhaps, to the “Central Spiritual Sun”—the monadic sphere of the Solar Logos); the lunar lords or lunar pitris are also liberated to return to a temporary pralayic state awaiting the opportunity to either enter the animal evolution, or to be built into the quaternic forms of man (but on a higher turn of the spiral than previously). (cf. TCF 844)

4. Lần điểm đạo thứ tư có thể được xem là một biến cố gây nên một sự giải thoát tam phân. Linh hồn nhân loại được giải thoát lên cõi Bồ đề; các thái dương tổ phụ (trong nhiều loại của các Ngài được kết tập trong liên hệ với thể nguyên nhân của con người), sau khi đã hoàn tất hàng triệu năm phụng sự và lệ thuộc, được giải thoát để trở về “Trái Tim của Mặt Trời” (và một số, có lẽ, về “Mặt trời Tinh thần Trung Ương”—khối cầu chân thần của Thái dương Thượng đế); các nguyệt tinh quân hay thái âm tổ phụ cũng được giải thoát để trở về một trạng thái qui nguyên tạm thời, chờ cơ hội hoặc bước vào cuộc tiến hoá động vật, hoặc được xây dựng vào các hình tướng tứ phân của con người (nhưng trên một vòng xoắn cao hơn trước kia). (xem TCF 844)

5. If we wish to include in our consideration the tiny atoms (the “elemental essence”) which have comprised the physical, etheric, astral and mental bodies of the reincarnating man, we could say that they, too, are ‘liberated’ to return to the “Reservoir of Life”, awaiting the opportunity to be ‘built into” forms suitable for their advancing stage evolution. Thus, in a way, the liberation at the fourth initiation is fourfold, or quadruple—which is numerologically fitting.

5. Nếu chúng ta muốn bao gồm trong sự xem xét của mình các nguyên tử bé nhỏ (“Tinh chất hành khí”) đã cấu thành các thể hồng trần, dĩ thái, cảm dục và trí tuệ của con người tái sinh, chúng ta có thể nói rằng chúng cũng được “giải thoát” để trở về “Nguồn Dự Trữ Sự Sống”, chờ cơ hội được “xây dựng vào” những hình tướng thích hợp với giai đoạn tiến hoá đang tiến tới của chúng. Như vậy, theo một cách nào đó, sự giải thoát ở lần điểm đạo thứ tư là tứ phân, hay bốn mặt—điều này phù hợp về mặt số học huyền bí.

6. We see that, at the fourth degree, groups are being liberated—lower groups and higher groups. As well, there may be a group of human “brothers” who have reached the “fourth great cycle of attainment” together, and they, too, are being liberated as a group. (cf. Rule XI)

6. Chúng ta thấy rằng, ở cấp độ thứ tư, các nhóm đang được giải thoát—các nhóm thấp và các nhóm cao. Đồng thời, có thể có một nhóm “huynh đệ” nhân loại đã cùng nhau đạt đến “chu kỳ thành tựu lớn thứ tư”, và họ cũng đang được giải thoát như một nhóm. (xem Quy luật XI)

7. We see that, although initiation appears to be, from a certain perspective, a very individual matter, its group implications are inescapable. The only unaggregated aspect of man (or, really, of any other being) is the monad. While there are, indeed, groupings of monads, in its essence, the monad is one.

7. Chúng ta thấy rằng, mặc dù điểm đạo, theo một góc nhìn nào đó, dường như là một vấn đề rất cá nhân, những hàm ý nhóm của nó là điều không thể tránh khỏi. Phương diện duy nhất không kết tập của con người (hay thật ra, của bất kỳ hữu thể nào khác) là chân thần. Dù quả thật có những nhóm chân thần, nhưng trong tinh tuý của nó, chân thần là một.

8. From one perspective, a group of higher lives (the Solar Pitris) wills the return of a group of lesser lives (the lunar pitris) to the “Great Reservoir of Life”.

8. Theo một góc nhìn, một nhóm các sự sống cao (các thái dương tổ phụ) chủ ý khiến một nhóm các sự sống nhỏ bé hơn (các thái âm tổ phụ) trở về “Nguồn Dự Trữ Sự Sống Vĩ Đại”.

9. The members of the Ashram (those who have achieved the fourth and fifth degrees) are functioning as “liberated souls” working in cooperation with the Solar Pitris. The Solar Pitris are seeking to bring man to perfection and, thus, to complete their ‘Project of Salvation’ which has extended over millions of years.

9. Các thành viên của ashram (những vị đã đạt các cấp độ thứ tư và thứ năm) đang hoạt động như “các linh hồn được giải thoát”, làm việc trong sự hợp tác với các thái dương tổ phụ. Các thái dương tổ phụ đang tìm cách đưa con người đến sự hoàn thiện và, nhờ đó, hoàn tất “Dự Án Cứu Rỗi” của các Ngài, vốn đã kéo dài qua hàng triệu năm.

10. The Ashramic Group (through its radiation and through deliberate thought in the direction of the disciple/initiate who is advancing towards the fourth degree) does all it can to lead towards the consummation which will liberate both the Solar Pitris and the lunar pitris in one great ‘Festival of Liberation’.

10. Nhóm Ashram (thông qua sự phóng xạ của mình và thông qua tư tưởng có chủ ý hướng đến vị đệ tử/điểm đạo đồ đang tiến về cấp độ thứ tư) làm tất cả những gì có thể để dẫn đến sự hoàn tất, điều sẽ giải thoát cả các thái dương tổ phụ lẫn các thái âm tổ phụ trong một “Đại Lễ Hội Giải Thoát” lớn lao.

11. We can see somewhat the nature of the cooperation between the Solar Pitris and the Ashramic Brothers, remembering ever that the Solar Pitris are of much greater attainment than the members of an Ashram.

11. Chúng ta có thể phần nào thấy bản chất của sự hợp tác giữa các thái dương tổ phụ và các Huynh đệ Ashram, luôn nhớ rằng các thái dương tổ phụ có thành tựu lớn hơn nhiều so với các thành viên của một ashram.

12. Even the lunar pitris, however unconsciously, are working in the direction of liberation.

12. Ngay cả các thái âm tổ phụ, dù vô thức đến đâu, cũng đang làm việc theo hướng giải thoát.

13. It is apparent that no one group is completely responsible for the general liberation which occurs at that highpoint of human attainment, and that all (including the Master, the Christ and Sanat Kumara and His Workers—“the Lights Who carry out the Will of God”) make Their contribution.

13. Rõ ràng là không một nhóm nào hoàn toàn chịu trách nhiệm cho sự giải thoát chung xảy ra tại đỉnh cao ấy của thành tựu nhân loại, và tất cả (bao gồm Chân sư, Đức Christ và Đức Sanat Kumara cùng các Người Hoạt Động của Ngài—“các Ánh Sáng thi hành Ý Chí của Thượng Đế”) đều đóng góp phần mình.

14. The fourth initiation marks a very high point of attainment—for the personality as well.

14. Lần điểm đạo thứ tư đánh dấu một đỉnh cao thành tựu rất lớn—đối với cả phàm ngã nữa.

“The form has reached a point of such resilience and capacity that perfection has been practically achieved”.

“Hình tướng đã đạt đến một điểm có độ đàn hồi và năng lực đến mức sự hoàn thiện hầu như đã thành tựu”.

Nature is ever economical and does not contribute to the perpetuation of already consummated processes. Once the moment of perfection arrives (for patterns, processes and entities {all, really, equivalent terms}), the moment of death is imminent.

Thiên nhiên luôn tiết kiệm và không góp phần duy trì mãi những tiến trình đã hoàn tất. Một khi khoảnh khắc hoàn thiện đến (đối với các mô hình, tiến trình và thực thể {thật ra, tất cả đều là những thuật ngữ tương đương}), khoảnh khắc của cái chết đã cận kề.

15. The form, we note, has many abilities or capacities and is, also, resilient, which means that it is optimally adaptable to spiritual and environmental impress, and can easily recover from impacts, whether from ‘above’ or ‘below’.

15. Hình tướng, như chúng ta ghi nhận, có nhiều năng lực hay khả năng, và cũng có tính đàn hồi; điều này có nghĩa là nó thích nghi tối ưu với ấn tượng tinh thần và môi trường, đồng thời có thể dễ dàng phục hồi sau các va chạm, dù đến từ “trên” hay “dưới”.

16. The ‘Cosmic Process’ moves from one perfection to the next. First ray energy (“driving forward through space”) drives the whole, and urges, ever onward, towards the next fulfillment and engagement in the process which will lead to it. The mantram describing this process would be: “Complete, and move on!”

16. “Tiến Trình Vũ Trụ” chuyển từ một sự hoàn thiện này sang sự hoàn thiện kế tiếp. Năng lượng cung một “thúc đẩy tiến tới xuyên qua không gian” thúc đẩy toàn thể, và thôi thúc, mãi tiến lên, hướng tới sự thành tựu kế tiếp và sự tham dự vào tiến trình sẽ dẫn đến điều đó. Mantram mô tả tiến trình này sẽ là: “Hoàn tất, và tiến onward!”

Now, at the end of the great life cycle of the soul, persisting for aeons, the time is nearing when form-taking and experience in the three worlds must end. The disciple finds his group in the Master’s Ashram, and consciously and with full understanding, [Page 105] masters death—the long-feared enemy of existence. He discovers that death is simply an effect produced by life and by his conscious will, and is a mode whereby he directs substance and controls matter. This becomes consciously possible because, having developed awareness of two divine aspects—creative activity and love—he is now focussed in the highest aspect and knows himself to be the Will, the Life, the Father, the Monad, the One.

Giờ đây, vào cuối chu kỳ sự sống vĩ đại của linh hồn, kéo dài qua nhiều đại kiếp, thời điểm đang đến gần khi việc khoác lấy hình tướng và kinh nghiệm trong ba cõi thấp phải chấm dứt. Đệ tử tìm thấy nhóm của mình trong ashram của Chân sư, và một cách có ý thức, với sự thấu hiểu trọn vẹn, [Page 105] y làm chủ cái chết—kẻ thù của hiện hữu mà y từng sợ hãi từ lâu. Y khám phá rằng cái chết chỉ đơn giản là một hệ quả do sự sống và ý chí hữu thức của y tạo ra, và là một phương thức nhờ đó y điều hướng chất liệu và kiểm soát vật chất. Điều này trở nên có thể một cách hữu thức bởi vì, sau khi đã phát triển sự nhận biết về hai phương diện thiêng liêng—hoạt động sáng tạo và bác ái—giờ đây y tập trung trong phương diện cao nhất và biết mình là Ý Chí, là Sự Sống, là Cha, là chân thần, là Đấng Duy Nhất.

1. How long is an “aeon”? As usually used, this term connotes simply a very lengthy period of time. Perhaps, however, the Tibetan has some definite measure in mind. Even the word “eternity” can be used in a specific manner. The “Eternal Parent”, we are told, “slumbered for seven eternities”. (cf. opening Slokas of The Secret Doctrine, Vol. I)

1. Một “đại kiếp” dài bao lâu? Theo cách dùng thông thường, thuật ngữ này chỉ đơn giản hàm ý một khoảng thời gian rất dài. Tuy nhiên, có lẽ Chân sư Tây Tạng có một thước đo xác định nào đó trong trí. Ngay cả từ “vĩnh cửu” cũng có thể được dùng theo một cách cụ thể. Chúng ta được cho biết rằng “Đấng Cha Mẹ Vĩnh Cửu” đã “ngủ trong bảy thời kỳ vĩnh cửu”. (xem các bài kệ mở đầu của Giáo Lý Bí Nhiệm, Tập I)

2. The symbolism of the number four is coming home to us in many ways. As the fourth degree is approached, the mastery of death is undertaken by the candidate. Finding his “group in the Master’s Ashram” definitely assists the disciple in this mastery.

2. Biểu tượng của con số bốn đang trở nên rõ ràng với chúng ta theo nhiều cách. Khi tiến gần đến cấp độ thứ tư, ứng viên bắt đầu đảm nhận việc làm chủ cái chết. Việc tìm thấy “nhóm của y trong ashram của Chân sư” chắc chắn hỗ trợ đệ tử trong sự làm chủ này.

3. The phrase, “long feared enemy of existence” is interesting. Death is, indeed, the feared enemy of a certain kind of existence—or, rather, the apparent enemy of the perpetuation of existence in the three worlds. Mastery of this enemy becomes possible as the initiate disidentifies with those levels of existence.

3. Cụm từ “kẻ thù của hiện hữu từng bị sợ hãi từ lâu” thật thú vị. Quả thật, cái chết là kẻ thù đáng sợ của một loại hiện hữu nào đó—hay đúng hơn, là kẻ thù biểu kiến của sự kéo dài hiện hữu trong ba cõi thấp. Việc làm chủ kẻ thù này trở nên khả hữu khi điểm đạo đồ không còn đồng hoá với những cấp độ hiện hữu ấy.

4. “Life” is not “existence”.

4. “Sự sống” không phải là “hiện hữu”.

5. We will ponder on the next sentence pertaining the what the initiate discovers through more intensive association with the Master’s Ashram and its initiates:

5. Chúng ta sẽ suy ngẫm về câu kế tiếp liên quan đến điều mà điểm đạo đồ khám phá qua sự liên hệ mật thiết hơn với ashram của Chân sư và các điểm đạo đồ trong đó:

“He discovers that death is simply an effect produced by life and by his conscious will, and is a mode whereby he directs substance and controls matter”.

“Y khám phá rằng cái chết chỉ đơn giản là một hệ quả do sự sống và ý chí hữu thức của y tạo ra, và là một phương thức nhờ đó y điều hướng chất liệu và kiểm soát vật chất”.

Who is the initiate when he makes this discovery? It sounds very much as if the initiate is the “liberated soul” or, even more, the ‘life-directing monad’. Surely, the disciple-as-personality does not do, and cannot do, what is here suggested. The Solar Angel is a director of substance and a controller of matter, and so are the liberated members of the Ashram (including, of course, the Master). These beings are, in their own understanding, monads in incarnation. As the advancing disciple/initiate enters the consciousness appropriate to the fourth degree, he also is well on his way to realizing himself as the monad in incarnation.

Điểm đạo đồ là ai khi y thực hiện khám phá này? Điều này nghe rất giống như thể điểm đạo đồ là “linh hồn được giải thoát”, hay hơn thế nữa, là “chân thần điều hướng sự sống”. Chắc chắn đệ tử-xét-như-phàm ngã không làm, và không thể làm, điều được gợi ý ở đây. Thái dương Thiên Thần là vị điều hướng chất liệu và là vị kiểm soát vật chất, và các thành viên được giải thoát của ashram cũng vậy, tất nhiên bao gồm cả Chân sư. Trong sự thấu hiểu của chính mình, các Đấng này là những chân thần đang lâm phàm. Khi đệ tử/điểm đạo đồ đang tiến tới bước vào tâm thức thích hợp với cấp độ thứ tư, y cũng đang tiến rất xa trên đường chứng nghiệm chính mình là chân thần đang lâm phàm.

6. To the monad, death is a means to an end; it is a method of ensuring cyclic attainment. Death is necessitated by the inadequacy of the form or of any aggregated creation. Such aggregates have only a limited capacity to absorb and express the ‘intended pattern of spirit’.

6. Đối với chân thần, cái chết là một phương tiện để đạt mục đích; nó là một phương pháp bảo đảm sự thành tựu theo chu kỳ. Cái chết trở nên cần thiết do sự bất toàn của hình tướng hay của bất kỳ sáng tạo tổng hợp nào. Những tổng hợp như thế chỉ có năng lực giới hạn để hấp thụ và biểu đạt “mô hình dự định của tinh thần”.

7. Death is a method of beneficent re-aggregation. Soul-guided and then, later, monadically-guided re-aggregation enhances the capacity of the form to bear the impress of spirit. As the Grand Design is presently configured, a cosmos without death would be a cosmos-in-stasis. Death destroys limitation; it is Nature’s way of transcending present conditions and improving them, with the end in mind of fulfilling the “Fixed Design”.

7. Cái chết là một phương pháp tái-kết-hợp đầy lợi ích. Sự tái-kết-hợp do linh hồn hướng dẫn, và về sau do chân thần hướng dẫn, làm tăng năng lực của hình tướng trong việc chịu đựng ấn tượng của tinh thần. Như Đại Thiết Kế hiện đang được cấu hình, một vũ trụ không có cái chết sẽ là một vũ trụ-trong-trạng-thái-bất-động. Cái chết phá hủy giới hạn; đó là cách của Thiên Nhiên để vượt lên các điều kiện hiện tại và cải thiện chúng, với mục tiêu hoàn thành “Thiết Kế Cố Định”.

8. It obviously takes a considerable amount of detachment to see death in this light. When, however, the human soul is increasingly identified with the central nucleus of identity (a process promoted by the Master, the Ashram and the Solar Pitris), a sufficient ‘distance’ from form life makes this understanding of death possible.

8. Hiển nhiên cần một mức độ tách rời đáng kể để nhìn cái chết dưới ánh sáng này. Tuy nhiên, khi linh hồn con người ngày càng đồng hoá với hạt nhân trung tâm của bản sắc—một tiến trình được Chân sư, ashram và các thái dương tổ phụ thúc đẩy—thì một “khoảng cách” đủ đối với đời sống hình tướng khiến sự thấu hiểu này về cái chết trở nên khả hữu.

9. When, in Raja Yoga, we practice “pratyahara” or “abstraction”, we are preparing our consciousness for this type of understanding and for the liberations which follow upon the assimilation and application of such understanding.

9. Khi, trong Yoga Vương Giả, chúng ta thực hành “thu hồi” hay “trừu xuất”, chúng ta đang chuẩn bị tâm thức của mình cho kiểu thấu hiểu này và cho những sự giải thoát theo sau việc đồng hoá và áp dụng sự thấu hiểu ấy.

C. Paragraph 2

C. Đoạn 2

1. The method of evoking the Will aspect. (cf. RI p. 105)

1. Phương pháp gợi lên phương diện Ý Chí. (xem sách Cung và Điểm Đạo, tr. 105)

2. The process of recognising the Life aspect, the Monad, the Father in Heaven. (cf. RI p. 105)

2. Tiến trình nhận ra phương diện Sự Sống, chân thần, Cha trên Trời. (xem sách Cung và Điểm Đạo, tr. 105)

In concluding our study of Rule IV, we are to consider two things:

Khi kết thúc phần nghiên cứu của chúng ta về Quy luật IV, chúng ta sẽ xem xét hai điều:

The method of evoking the Will aspect.

Phương pháp gợi lên phương diện Ý Chí.

The process of recognising the Life aspect, the Monad, the Father in Heaven.

Tiến trình nhận ra phương diện Sự Sống, chân thần, Cha trên Trời.

The result of these two is given in the two closing phrases of this rule:

Kết quả của hai điều này được nêu trong hai cụm từ kết thúc của quy luật này:

1. As we continue the study of Rule IV, we will focus on vital processes. We have discussed methods of invoking the Will Aspect of Divinity. We wish to know how the Tibetan suggests that this be done. The will is a great and newly emerging power. We want to learn how to access and use it.

1. Khi tiếp tục nghiên cứu Quy luật IV, chúng ta sẽ tập trung vào những tiến trình thiết yếu. Chúng ta đã bàn về các phương pháp khẩn cầu Phương diện Ý Chí của Thiên Tính. Chúng ta muốn biết Chân sư Tây Tạng gợi ý rằng điều này nên được thực hiện như thế nào. Ý chí là một quyền năng vĩ đại và mới đang xuất hiện. Chúng ta muốn học cách tiếp cận và sử dụng nó.

2. Much can be spoken of the monad, and yet, in the consciousness of many, it can simply remain a pale abstraction, its living presence unrecognized. We wish to move beyond a simply academic understanding of the highest aspect of our nature towards the state of being whole—monad, soul and personality, and consciously realizing our wholeness.

2. Có thể nói nhiều về chân thần, vậy mà trong tâm thức của nhiều người, nó vẫn có thể chỉ là một sự trừu tượng mờ nhạt, sự hiện diện sống động của nó không được nhận ra. Chúng ta muốn vượt khỏi một sự thấu hiểu đơn thuần có tính học thuật về phương diện cao nhất của bản chất mình, để tiến tới trạng thái hiện hữu toàn vẹn—chân thần, linh hồn và phàm ngã, và một cách hữu thức chứng nghiệm sự toàn vẹn của chúng ta.

Rule IV: Third Sentence

Quy luật IV: Câu thứ ba

The lesser wheels must not for aye revolve in time and space. Only the greater Wheel must onward move and turn.” (RI p. 105)

Các bánh xe nhỏ hơn không được quay mãi trong thời gian và không gian. Chỉ Bánh Xe lớn hơn phải tiến tới và xoay chuyển.” (sách Cung và Điểm Đạo, tr. 105)

The Sentence

Câu văn

A. The lesser wheels must not for aye revolve in time and space. Only the greater Wheel must onward move and turn.”

A. Các bánh xe nhỏ hơn không được quay mãi trong thời gian và không gian. Chỉ Bánh Xe lớn hơn phải tiến tới và xoay chuyển.”

1. All entities are subject to the Law of Periodicity. The Second Fundamental of The Secret Doctrine is expressed in A Treatise on Cosmic Fire as follows: “There is a basic law called the Law of Periodicity(TCF 5)

1. Mọi thực thể đều chịu sự chi phối của Định luật Chu Kỳ Tính. Nguyên lý Căn bản thứ Hai của Giáo Lý Bí Nhiệm được diễn đạt trong Luận về Lửa Vũ Trụ như sau: “Có một định luật căn bản gọi là Định luật Chu Kỳ Tính(Luận về Lửa Vũ Trụ, tr. 5)

2. Under this law, all entities emerge from subjectivity into objectivity and return again to subjectivity—continually.

2. Dưới định luật này, mọi thực thể xuất hiện từ chủ quan tính vào khách quan tính rồi lại trở về chủ quan tính—một cách liên tục.

3. All things that are, are periodic in their manifestation including the ‘Grand Totality’—the Universe itself.

3. Mọi sự vật hiện hữu, đều có tính chu kỳ trong sự biểu hiện của chúng, bao gồm cả “Đại Toàn Thể”—chính Vũ Trụ.

4. No thing that is, is in perpetuity. Only THAT, which is no thing (and does not exist in the usual sense of the term) is in perpetuity.

4. Không một vật nào hiện hữu, tồn tại vĩnh viễn. Chỉ CÁI ẤY, vốn không là một vật nào và không hiện hữu theo nghĩa thông thường của thuật ngữ này, mới vĩnh viễn.

5. All things that exist, alternate between negation and ‘position’—the act of being posited. They alternate between being and not-being.

5. Mọi sự vật hiện hữu đều luân phiên giữa phủ định và “định vị”—hành vi được đặt vào hiện hữu. Chúng luân phiên giữa hữu thểphi-hữu thể.

6. A symbol for this alternation, this cyclicity, is the wheel and its turning.

6. Một biểu tượng cho sự luân phiên này, cho tính chu kỳ này, là bánh xe và sự quay của nó.

7. When we observe a turning wheel, we do not know where its cycle began. A wheel in its rolling completes many cycles, but (simply by observing it in the present moment) we do not know which was the first or which will be the last.

7. Khi quan sát một bánh xe đang quay, chúng ta không biết chu kỳ của nó bắt đầu ở đâu. Một bánh xe khi lăn hoàn tất nhiều chu kỳ, nhưng chỉ bằng cách quan sát nó trong khoảnh khắc hiện tại, chúng ta không biết đâu là chu kỳ đầu tiên hay đâu sẽ là chu kỳ cuối cùng.

8. Such are the many cycles, great and minute, of the universe. We do not know with certainty when they began nor do we know when they will end. If we accept the Fundamentals of the Secret Doctrine, however, we do know that such cycles began and that they will end. Scientists also do not know, for the beginning they seek to define deals only with objectivity, and takes no account of a multi-dimensional subjective universe which preceded objectivity nor of the multi-dimensional subjective universe which will remain when objectivity (the usual world of time and space) ceases.

8. Các chu kỳ của vũ trụ, lớn lao và nhỏ nhiệm, cũng như vậy. Chúng ta không biết chắc chúng bắt đầu khi nào, cũng không biết chúng sẽ kết thúc khi nào. Tuy nhiên, nếu chúng ta chấp nhận các Nguyên lý Căn bản của Giáo Lý Bí Nhiệm, thì chúng ta biết rằng những chu kỳ như thế đã bắt đầu và chúng sẽ kết thúc. Các nhà khoa học cũng không biết, vì khởi đầu mà họ tìm cách định nghĩa chỉ liên quan đến khách quan tính, và không xét đến một vũ trụ chủ quan đa chiều đã có trước khách quan tính, cũng như vũ trụ chủ quan đa chiều sẽ còn lại khi khách quan tính, tức thế giới thông thường của thời gian và không gian, chấm dứt.

9. The Tradition of the Ageless Wisdom tells us that there was a beginning to the subjective universe, but no meaningful date can possibly be given for this beginning, nor is any attempt made to do so.

9. Truyền thống Minh Triết Ngàn Đời cho chúng ta biết rằng đã có một khởi đầu của vũ trụ chủ quan, nhưng không thể đưa ra một niên đại có ý nghĩa nào cho khởi đầu này, và cũng không có nỗ lực nào nhằm làm như vậy.

10. We are nevertheless assured that, although there was a beginning, it was not the only beginning, but was the ‘infinitudineth’ beginning in an infinitudinous series of universes which never had a beginning.

10. Tuy nhiên, chúng ta được bảo đảm rằng, mặc dù đã có một khởi đầu, đó không phải là khởi đầu duy nhất, mà là khởi đầu “thứ vô lượng vô biên” trong một chuỗi các vũ trụ vô lượng vô biên vốn chưa từng có khởi đầu.

11. Therefore the Greatest Event That Ever Is of Ever Can Be (i.e., the appearance of a universe) is, itself, subject to a para-universal Law of Periodicity. For a universe is a thing and no thing is in perpetuity. The universe, however, appears and disappears in perpetuity. In other words, the appearance and disappearance of universes is a perpetual process.

11. Do đó, Biến Cố Vĩ Đại Nhất Từng Hiện Hữu hay Từng Có Thể Hiện Hữu, tức sự xuất hiện của một vũ trụ, tự nó cũng chịu sự chi phối của một Định luật Chu Kỳ Tính vượt ngoài vũ trụ. Vì một vũ trụ là một vật, và không một vật nào tồn tại vĩnh viễn. Tuy nhiên, vũ trụ xuất hiện và biến mất trong sự vĩnh viễn. Nói cách khác, sự xuất hiện và biến mất của các vũ trụ là một tiến trình vĩnh viễn.

12. For every type of cycle of appearance and disappearance, the wheel is an appropriate symbol. Let us suppose that a wheel is turning along the ground. If we choose any point on that wheel and mark it for visibility, there will always be a time when that point is touching the ground and an opposite position when the point is as far from the ground as possible (given the dimensions of the wheel).

12. Đối với mọi loại chu kỳ xuất hiện và biến mất, bánh xe là một biểu tượng thích hợp. Chúng ta hãy giả định rằng một bánh xe đang quay trên mặt đất. Nếu chúng ta chọn bất kỳ điểm nào trên bánh xe ấy và đánh dấu để có thể nhìn thấy, thì luôn sẽ có một thời điểm khi điểm đó chạm mặt đất, và một vị trí đối nghịch khi điểm ấy ở xa mặt đất nhất có thể, tùy theo kích thước của bánh xe.

13. Our wheel can symbolically describe the life-cycle of an entity, and the point on the wheel symbolically indicates the degree of the entity’s subjective or objective focus. When the point touches the ground, it is analogous to the deepest state of objectivity for that entity. When the point is as far as possible from the ground, it is analogous to the state of the most refined subjectivity possible to that entity.

13. Bánh xe của chúng ta có thể mô tả một cách biểu tượng chu kỳ sự sống của một thực thể, và điểm trên bánh xe chỉ ra một cách biểu tượng mức độ tập trung chủ quan hay khách quan của thực thể ấy. Khi điểm ấy chạm mặt đất, nó tương ứng với trạng thái khách quan tính sâu nhất đối với thực thể ấy. Khi điểm ấy ở xa mặt đất nhất có thể, nó tương ứng với trạng thái chủ quan tính tinh luyện nhất có thể đối với thực thể ấy.

14. Every Order of Life is like a wheel with a certain number of points upon it. The number of points is the total number of units within that Order of Life.

14. Mỗi Bậc Sự Sống giống như một bánh xe với một số điểm nhất định trên đó. Số điểm là tổng số đơn vị trong Bậc Sự Sống ấy.

15. The Wheel of Humanity (at least of Earth Humanity) has, the Tibetan tells us, sixty billion points on it. As the Wheel of Humanity turns, all units are either entering manifestation, experiencing deep objectivity, leaving manifestation or experiencing increasingly or decreasingly rarefied subjectivity.

15. Bánh Xe của Nhân Loại, ít nhất là Nhân Loại trên Trái Đất, theo Chân sư Tây Tạng cho chúng ta biết, có sáu mươi tỉ điểm trên đó. Khi Bánh Xe của Nhân Loại quay, mọi đơn vị hoặc đang đi vào biểu hiện, trải nghiệm khách quan tính sâu, rời khỏi biểu hiện, hoặc trải nghiệm chủ quan tính ngày càng tinh vi hơn hay ngày càng kém tinh vi hơn.

16. Of course this is a gross oversimplification, as for different individual units in an Order of Life (or Creative Hierarchy) the wheel turns at different rates of speed.

16. Tất nhiên đây là một sự giản lược thô sơ, vì đối với các đơn vị cá biệt khác nhau trong một Bậc Sự Sống hay Huyền Giai Sáng Tạo, bánh xe quay với các tốc độ khác nhau.

17. There are (confining ourselves for the moment to a consideration of Humanity) many lesser wheels which turn with the Great Wheel, each at its own rate of speed, speeding up or slowing down according to its own Self-determined process.

17. Có nhiều bánh xe nhỏ hơn, tạm thời chỉ xét đến Nhân Loại, quay cùng với Bánh Xe Lớn, mỗi bánh xe theo tốc độ riêng của nó, tăng tốc hay giảm tốc tùy theo tiến trình do chính Bản Ngã của nó quyết định.

18. The Greatest Wheel for Humanity is the Wheel of the Fourth Creative Hierarchy, representing the descent and reascent of the aggregated monads which constitute that Hierarchy. On this wheel these monads move from the state of deep, interior subjectivity on the second systemic plane, into dense objectivity and back again to the second plane.

18. Bánh Xe Lớn Nhất đối với Nhân Loại là Bánh Xe của Huyền Giai Sáng Tạo thứ Tư, tượng trưng cho sự giáng xuống và tái thăng lên của các chân thần tổng hợp cấu thành Huyền Giai ấy. Trên bánh xe này, các chân thần ấy chuyển từ trạng thái chủ quan tính sâu thẳm, nội tại trên cõi hệ thống thứ hai, vào khách quan tính đậm đặc rồi lại trở về cõi thứ hai.

19. There is a mean or average speed for the turning of this Great Wheel, but many lesser wheels are attached to it and may, to a certain extent, change their position on the Great Wheel depending upon the assertion of their free will. The lesser wheels may allow the Great Wheel to move them along at its own predetermined speed, or they may advance their position on the descending or ascending arc of the Greater Wheel. Lesser wheels can even break free from their next largest enclosing wheel, and join the turning or another greater wheel further advanced in the turning of the great wheel, for the greater wheel has (turning with it) many wheels of greater or lesser dimension.

19. Có một tốc độ trung bình cho sự quay của Bánh Xe Lớn này, nhưng nhiều bánh xe nhỏ hơn được gắn với nó và có thể, đến một mức nào đó, thay đổi vị trí của mình trên Bánh Xe Lớn tùy thuộc vào sự khẳng định ý chí tự do của chúng. Các bánh xe nhỏ hơn có thể để Bánh Xe Lớn đưa chúng tiến theo tốc độ đã được định sẵn của nó, hoặc chúng có thể tiến vị trí của mình trên cung giáng xuống hay cung thăng lên của Bánh Xe Lớn hơn. Các bánh xe nhỏ hơn thậm chí có thể thoát ra khỏi bánh xe bao hàm lớn kế tiếp của chúng, và gia nhập sự quay của một bánh xe lớn hơn khác, đã tiến xa hơn trong sự quay của bánh xe lớn; vì bánh xe lớn, khi quay cùng nó, có nhiều bánh xe với kích thước lớn hơn hoặc nhỏ hơn.

20. Rootraces are wheels; subraces are wheels; branch races are wheels; and many lesser groups as well. Each will turn at the rate of speed more or less assigned to it by the Divine Plan, but by free will can either turn somewhat faster or slower than expected, thus either turning faster than the Great Wheel would normally carry it, or turning slower, and thus resisting the forward motion of the Great Wheel, and, in fact, turning against it, and moving contrary to its motion.

20. Các giống dân gốc là những bánh xe; các giống dân phụ là những bánh xe; các giống dân nhánh là những bánh xe; và nhiều nhóm nhỏ hơn cũng vậy. Mỗi nhóm sẽ quay với tốc độ ít nhiều được Thiên Cơ ấn định cho nó, nhưng bằng ý chí tự do có thể quay phần nào nhanh hơn hoặc chậm hơn so với dự kiến; nhờ đó hoặc quay nhanh hơn mức mà Bánh Xe Lớn thường sẽ mang nó đi, hoặc quay chậm hơn, và như vậy chống lại chuyển động tiến tới của Bánh Xe Lớn, và thật ra quay ngược với nó, chuyển động trái với chuyển động của nó.

21. Lesser wheels turn within greater wheels. The lesser wheels follow their own cycles but move as well moved by the cycle of the greater wheel—borne along.

21. Các bánh xe nhỏ hơn quay bên trong các bánh xe lớn hơn. Các bánh xe nhỏ hơn theo các chu kỳ riêng của chúng, nhưng cũng chuyển động khi được chu kỳ của bánh xe lớn hơn mang đi—được cuốn theo.

22. Within any lesser wheel, a still lesser wheel turns and within it, a still lesser wheel, and so on—though in a finite universe, there is a lower and upper limit to the vastness or diminutive dimensions of wheels.

22. Bên trong bất kỳ bánh xe nhỏ hơn nào, một bánh xe còn nhỏ hơn nữa quay, và bên trong nó, một bánh xe còn nhỏ hơn nữa, cứ như thế tiếp tục—dù trong một vũ trụ hữu hạn, có một giới hạn dưới và giới hạn trên đối với kích thước bao la hay cực nhỏ của các bánh xe.

23. It would seem that as a lesser wheel turns within a greater wheel, its revolutions may spiral towards the center of the greater wheel, and increase in cyclic speed as they do so.

23. Dường như khi một bánh xe nhỏ hơn quay bên trong một bánh xe lớn hơn, các vòng quay của nó có thể xoắn ốc hướng về tâm của bánh xe lớn hơn, và khi làm như vậy, tốc độ chu kỳ của nó gia tăng.

24. A lesser wheel arriving at the center of its next-greater wheel, might lose its own ring-pass not and, identifying with the greater wheel, become an aspect of that greater wheel. That is, the lesser wheel might no longer ‘revolved unto itself’

24. Một bánh xe nhỏ hơn, khi đến tâm của bánh xe lớn kế tiếp của nó, có thể mất vòng-giới-hạn riêng của mình và, đồng hoá với bánh xe lớn hơn, trở thành một phương diện của bánh xe lớn hơn ấy. Tức là, bánh xe nhỏ hơn có thể không còn “quay cho chính nó” nữa.

25. Or having reached the center of the greater wheel, it might be liberated to join the periphery of another ‘more advanced’ greater wheel. This would amount to a change of “Creative Hierarchies” (which are aggregations of monads moving through similar experiences together).. A human unit, for instance, who was a member of the Fourth Creative Hierarchy, might, upon completing that curriculum, be transferred to a more advanced Creative Hierarchy—perhaps the Fifth (and become an apprentice Solar Angel, rotating and revolving on the periphery of that Hierarchy’s wheel).

25. Hoặc, sau khi đạt đến tâm của bánh xe lớn hơn, nó có thể được giải thoát để gia nhập chu vi của một bánh xe lớn hơn khác “tiến xa hơn”. Điều này sẽ tương đương với một sự thay đổi “Các Huyền Giai Sáng Tạo”, vốn là những tổng hợp của các chân thần cùng nhau đi qua những kinh nghiệm tương tự. Chẳng hạn, một đơn vị nhân loại từng là thành viên của Huyền Giai Sáng Tạo thứ Tư, sau khi hoàn tất chương trình học ấy, có thể được chuyển sang một Huyền Giai Sáng Tạo tiến xa hơn—có lẽ là Huyền Giai thứ Năm, và trở thành một Thái dương Thiên Thần tập sự, xoay và quay trên chu vi bánh xe của Huyền Giai ấy.

26. From a practical perspective, and in terms of discipleship, we have to consider the wheel of individual incarnating man within whom many lesser wheels turn. Each of the elemental vehicles within his system is a wheel with its own cycle, and each tiny atomic life participating in the vehicles of the elemental lives is also a wheel—a still lesser wheel.

26. Từ góc nhìn thực tiễn, và xét theo địa vị đệ tử, chúng ta phải xem xét bánh xe của con người cá biệt đang lâm phàm, bên trong y có nhiều bánh xe nhỏ hơn quay. Mỗi hiện thể hành khí trong hệ thống của y là một bánh xe với chu kỳ riêng của nó, và mỗi sự sống nguyên tử nhỏ bé tham dự vào các hiện thể của những sự sống hành khí cũng là một bánh xe—một bánh xe còn nhỏ hơn nữa.

27. Man as a monad is turning at the slowest rate of speed. A monadic revolution can take millions upon millions of years—perhaps billions if we consider ‘inmineralization’, ‘invegitalization’, ‘inzoonation’. Man as a soul is turning much faster. Fastest of all, is man as a personality, cycling in and out of incarnation in cycles with which we are somewhat familiar—the “four score and ten” being an arc-of-duration within the total cycle which may take a hundred or perhaps a thousand or more years.

27. Con người xét như một chân thần đang quay với tốc độ chậm nhất. Một vòng quay chân thần có thể mất hàng triệu trên hàng triệu năm—có lẽ hàng tỉ năm nếu chúng ta xét đến “sự nhập vào giới kim thạch”, “sự nhập vào giới thực vật”, “sự nhập vào giới động vật”. Con người xét như một linh hồn quay nhanh hơn nhiều. Nhanh nhất trong tất cả là con người xét như một phàm ngã, luân chuyển vào và ra khỏi lâm phàm trong những chu kỳ mà chúng ta phần nào quen thuộc—“bốn mươi cộng năm mươi” là một cung-thời-lượng trong toàn bộ chu kỳ, vốn có thể mất một trăm năm, hoặc có lẽ một nghìn năm hay hơn nữa.

28. Every wheel has a probable number of revolutions—an average, let us say. That average number of revolutions can be shortened or prolonged. The Buddha, probably symbolically, was said to have had 555 incarnations or rotations of the wheel of personality.

28. Mỗi bánh xe có một số vòng quay có khả năng xảy ra—có thể nói là một mức trung bình. Số vòng quay trung bình ấy có thể được rút ngắn hoặc kéo dài. Đức Phật, có lẽ theo nghĩa biểu tượng, được nói là đã có 555 lần lâm phàm hay 555 vòng quay của bánh xe phàm ngã.

29. When rotation (whether during a phase of development in the evolution of man, or during the entire evolutionary period) continues beyond the probable number of revolutions, there is a problem. Rotary motion is in power and spiral-cyclic motion is not properly elevating the cycling unit. Under spiral-cyclic motion, one keeps pace with evolutionary intension. When rotary motion prevails, one can become a “laggard” and fall behind one’s evolutionary life-wave.

29. Khi sự quay, dù trong một giai đoạn phát triển trong sự tiến hoá của con người, hay trong toàn bộ thời kỳ thăng thượng tiến hoá, tiếp tục vượt quá số vòng quay có khả năng xảy ra, thì có một vấn đề. Chuyển động quay đang nắm quyền, và chuyển động xoắn ốc-theo chu kỳ không nâng đơn vị đang luân chuyển lên một cách đúng đắn. Dưới chuyển động xoắn ốc-theo chu kỳ, người ta giữ nhịp với chủ đích thăng thượng tiến hoá. Khi chuyển động quay chiếm ưu thế, người ta có thể trở thành một “kẻ tụt hậu” và rơi lại phía sau làn sóng sự sống thăng thượng tiến hoá của mình.

30. We are dealing here with the phenomenon of absorption—sometimes called obscuration. This is discussed in relation to planets on p. 406 of A Treatise on Cosmic Fire. Obscuration (of any wheel) involves a merging into a greater wheel. Any future turning of the wheel that has merged into a greater, is a turning as an integral part of the greater wheel. The lesser wheel no longer turns unto itself.

30. Ở đây chúng ta đang đề cập đến hiện tượng hấp thụ—đôi khi được gọi là sự che khuất. Điều này được bàn đến liên quan đến các hành tinh ở trang 406 của Luận về Lửa Vũ Trụ. Sự che khuất của bất kỳ bánh xe nào bao hàm một sự hòa nhập vào một bánh xe lớn hơn. Bất kỳ sự quay nào trong tương lai của bánh xe đã hòa nhập vào một bánh xe lớn hơn đều là sự quay như một bộ phận hợp nhất của bánh xe lớn hơn. Bánh xe nhỏ hơn không còn quay cho chính nó nữa.

31. When Venus, for instance, enters obscuration and merges into and is absorbed by Neptune, does it still remain Venus, or had it entirely become Neptune? When a personality ray merges into or is absorbed by a soul ray, does it cease to be a personality ray or does it, in some way, remain a personality ray? When a soul ray merges into or is absorbed by a monadic ray, does it cease or continue as a soul ray?

31. Chẳng hạn, khi Sao Kim đi vào sự che khuất, hòa nhập vào và được Sao Hải Vương hấp thụ, nó vẫn còn là Sao Kim, hay đã hoàn toàn trở thành Sao Hải Vương? Khi một cung phàm ngã hòa nhập vào hay được hấp thụ bởi một cung linh hồn, nó có chấm dứt là một cung phàm ngã hay, theo một cách nào đó, vẫn còn là một cung phàm ngã? Khi một cung linh hồn hòa nhập vào hay được hấp thụ bởi một cung chân thần, nó chấm dứt hay tiếp tục như một cung linh hồn?

32. These are the questions to ask about obscuration, merging and absorption.

32. Đây là những câu hỏi cần đặt ra về sự che khuất, sự hòa nhập và sự hấp thụ.

33. These are questions which must also be applied to the “lesser wheels” which are part of man, and to man-the-personality as a lesser wheel within a soul wheel, and to man-the-soul/triad as a lesser wheel within the monadic wheel.

33. Đây cũng là những câu hỏi phải được áp dụng cho các “bánh xe nhỏ hơn” vốn là một phần của con người, và cho con người-phàm ngã như một bánh xe nhỏ hơn bên trong bánh xe linh hồn, cũng như cho con người-linh hồn/tam nguyên tinh thần như một bánh xe nhỏ hơn bên trong bánh xe chân thần.

34. In such processes on various different scales, a lesser wheel may return to a reservoir or finally be absorbed. Even if temporarily absorbed, it may be breathed out again into seemingly independent existence during a later cycle.

34. Trong các tiến trình như thế, ở nhiều thang mức khác nhau, một bánh xe nhỏ hơn có thể trở về một kho chứa hoặc cuối cùng bị hấp thu. Ngay cả khi tạm thời bị hấp thu, nó vẫn có thể được thở ra trở lại vào một sự tồn tại có vẻ độc lập trong một chu kỳ về sau.

35. These perplexing questions are related to the Problem of the One and the Many. Are the many the One, or are they themselves? Or are they themselves and the One?

35. Những câu hỏi rối rắm này liên hệ đến Vấn đề về Đấng Duy Nhất và số nhiều. Phải chăng số nhiều là Đấng Duy Nhất, hay chúng là chính chúng? Hay chúng vừa là chính chúng vừa là Đấng Duy Nhất?

36. The lesser wheels cannot ‘turn unto themselves’ for aye (i.e. proceed alone through rotary motion), non-harmoniously related to the turning of the greater wheel of which they should be and are integral parts. There is something about the fundamental rhythm, note, key, or pitch which the lesser wheels must tune to. This is part of absorption.

36. Các bánh xe nhỏ hơn không thể ‘quay về chính mình’ mãi mãi, tức là tiến hành đơn độc qua chuyển động quay, trong một tương quan thiếu hài hòa với sự quay của bánh xe lớn hơn mà chúng phải là, và đang là, những phần hợp nhất. Có một điều gì đó nơi nhịp điệu, âm điệu, khóa âm hay cao độ căn bản mà các bánh xe nhỏ hơn phải điều chỉnh theo. Đây là một phần của sự hấp thu.

37. There are three generic phases in the absorption process—the processes by which lesser wheels cease revolving in time and space.

37. Có ba giai đoạn phổ quát trong tiến trình hấp thu — những tiến trình nhờ đó các bánh xe nhỏ hơn chấm dứt việc xoay vòng trong thời gian và không gian.

a. The lesser wheel “turns unto itself” unconsciously influenced by the greater wheel.

a. Bánh xe nhỏ hơn “quay về chính mình” dưới ảnh hưởng vô thức của bánh xe lớn hơn.

b. The lesser wheel attunes to the greater wheel.

b. Bánh xe nhỏ hơn điều hợp với bánh xe lớn hơn.

c. The lesser wheel runs its life cycle and disappears (perhaps at first into a reservoir containing wheels of its own kind; perhaps later into the greater wheel), leaving the great wheel to turn by itself, unencumbered by the lesser wheels.

c. Bánh xe nhỏ hơn hoàn tất chu kỳ sống của nó và biến mất, có lẽ trước hết vào một kho chứa gồm những bánh xe cùng loại với nó, rồi có lẽ về sau vào bánh xe lớn hơn, để lại bánh xe lớn tự quay một mình, không bị các bánh xe nhỏ hơn làm vướng bận.

38. When we, as lesser wheels, will the will of the greater wheel in which our lesser revolutions occur, we become extensions of the greater wheel.

38. Khi chúng ta, như những bánh xe nhỏ hơn, lấy ý chí của bánh xe lớn hơn — trong đó các vòng quay nhỏ hơn của chúng ta diễn ra — làm ý chí của mình, chúng ta trở thành những phần mở rộng của bánh xe lớn hơn.

39. When such extensions are properly aligned and harmonized with the purpose of the greater wheel (which begins to happen at the end of the evolutionary cycle of the greater wheel) it is increasingly as if only the greater wheel is turning.

39. Khi những phần mở rộng như thế được chỉnh hợp đúng đắn và hài hòa với mục đích của bánh xe lớn hơn, điều bắt đầu xảy ra vào cuối chu kỳ thăng thượng tiến hoá của bánh xe lớn hơn, thì ngày càng như thể chỉ có bánh xe lớn hơn đang quay.

40. During the many, many obscurations which lead to the One Final Universal Obscuration, the lesser wheels cannot be entirely absorbed, as they must be an the Universal End. But the influence of that particular greater wheel which includes them is so dominant with respect to them, that it is as if only the greater wheel turns.

40. Trong nhiều, rất nhiều kỳ che khuất dẫn đến Kỳ Che Khuất Vũ Trụ Tối Hậu của Đấng Duy Nhất, các bánh xe nhỏ hơn không thể được hấp thu hoàn toàn như chúng phải được hấp thu vào Chung Cục Vũ Trụ. Nhưng ảnh hưởng của bánh xe lớn hơn đặc thù bao gồm chúng mạnh mẽ đến mức, đối với chúng, dường như chỉ có bánh xe lớn hơn quay.

41. Similarly, within a greater will, there are many lesser wills, which, when thoroughly attuned to the greater will, are like extensions of that greater will. In such a situation, only the greater will is willing—though it wills through many apparently lesser wills.

41. Tương tự, bên trong một ý chí lớn hơn có nhiều ý chí nhỏ hơn; khi đã được điều hợp trọn vẹn với ý chí lớn hơn, chúng giống như những phần mở rộng của ý chí lớn hơn ấy. Trong một tình huống như vậy, chỉ có ý chí lớn hơn là đang muốn —dù nó muốn thông qua nhiều ý chí có vẻ nhỏ hơn.

The Themes Included Under the Sentence 3

Các chủ đề được bao gồm dưới Câu 3

B. Paragraph 1

B. Đoạn 1

(No sentence excised)

(Không có câu nào bị lược bỏ)

There is one point here that I should like to make because it opens the door to new concepts, even if it is not yet possible for these concepts to be defined so that the mass can understand; even the disciples who read these words will fail truly to comprehend. Only those who have taken the third initiation will rightly interpret. Constantly in all esoteric literature reference is made to the factors of time and space as if there were a basic distinction between the worlds in which these two hold sway and in which the aspirants and initiates of all degrees freely move. Constantly the aspirant is reminded that time is cyclic in nature and manifestation, and that “space is an entity.” It is necessary that there should be some comprehension of these terms if that which the will controls (when evoked) is to penetrate into the knowing consciousness of the thinker.

Ở đây có một điểm mà Tôi muốn nêu ra, vì nó mở cánh cửa vào những khái niệm mới, dù hiện nay vẫn chưa thể định nghĩa các khái niệm này sao cho đại chúng có thể thấu hiểu; ngay cả các đệ tử đọc những lời này cũng sẽ không thật sự lĩnh hội được. Chỉ những ai đã trải qua lần điểm đạo thứ ba mới diễn giải đúng. Trong mọi văn liệu huyền bí học, người ta thường xuyên nhắc đến các yếu tố thời gian và không gian như thể có một sự phân biệt căn bản giữa những thế giới nơi hai yếu tố này ngự trị và nơi các người chí nguyện cùng các điểm đạo đồ thuộc mọi cấp độ tự do di chuyển. Người chí nguyện thường xuyên được nhắc rằng thời gian có bản chất và sự biểu hiện theo chu kỳ, và rằng “không gian là một thực thể”. Cần phải có một sự thấu hiểu nào đó về các thuật ngữ này nếu điều mà ý chí kiểm soát, khi được gợi lên, phải thâm nhập vào tâm thức hiểu biết của người tư tưởng.

1. We see the Tibetan always pushing the present horizon of consciousness—not only for the mass of humanity but, especially, for the disciples whom He is instructing.

1. Chúng ta thấy Chân sư Tây Tạng luôn luôn đẩy xa đường chân trời hiện tại của tâm thức — không chỉ cho đại chúng nhân loại mà đặc biệt cho các đệ tử mà Ngài đang huấn luyện.

2. The Tibetan is pointing to the assumed reality of the “World of Time and Space”. The illusion woven together with these two is so pervasive that the consciousness of the average aspirant/disciple can hardly extricate itself. The fish in water does not know that air exists (except, of course, if it is a “flying” fish!).

2. Chân sư Tây Tạng đang chỉ đến thực tại giả định của “Thế Giới Thời Gian và Không Gian”. Ảo tưởng được dệt nên cùng với hai yếu tố này lan tỏa sâu rộng đến mức tâm thức của người chí nguyện/đệ tử trung bình hầu như không thể tự gỡ mình ra. Con cá ở trong nước không biết rằng không khí tồn tại, dĩ nhiên ngoại trừ khi nó là một con cá “biết bay”!

3. That “space is an entity” is a profound and elusive concept, given our usual conception of the word “entity”. What are usually conceptualized are the entities within apparent space. To call the context (within which entities appear) an entity as well, is surprising. However, philosophically, space arises with entification. Universal, multi-dimensional ‘Space’ is the first ‘arising’ out of NO-THING (out of the STATE of NON-ENTIFICATION) and this ‘arising’ is the first ‘Entity’. If there were no being as opposed to BE-NESS, there would be no ‘Space’. So ‘Space’ is not only the commonsense context in which beings seem to “live and move and have their being” but is the ‘Primary Entification’ from which all other entifications are derived through the process of emanation.

3. Rằng “không gian là một thực thể” là một khái niệm sâu xa và khó nắm bắt, xét theo quan niệm thông thường của chúng ta về từ “thực thể”. Điều thường được khái niệm hóa là các thực thể bên trong không gian biểu kiến. Gọi bối cảnh nơi các thực thể xuất hiện cũng là một thực thể thì thật đáng ngạc nhiên. Tuy nhiên, xét về mặt triết học, không gian phát sinh cùng với sự thực thể hóa. ‘Không Gian’ phổ quát, đa chiều là sự ‘phát sinh’ đầu tiên ra khỏi VÔ-VẬT, ra khỏi TRẠNG THÁI PHI-THỰC THỂ-HÓA, và sự ‘phát sinh’ này là ‘Thực Thể’ đầu tiên. Nếu không có sự hiện hữu đối lập với HIỆN HỮU TÍNH, thì sẽ không có ‘Không Gian’. Vì vậy, ‘Không Gian’ không chỉ là bối cảnh theo lẽ thường trong đó các hữu thể dường như “sống, chuyển động và có hiện tồn của mình”, mà còn là ‘Sự Thực Thể Hóa Nguyên Sơ’ từ đó mọi sự thực thể hóa khác được dẫn xuất qua tiến trình xuất lộ.

4. As for “time”, the Tibetan tells us that it is cyclic. This is true even in the most profound sense, and is, thus, a statement which invites the deepest possible reflection. According to the Ageless Wisdom ‘Time’ (in the universal sense) is not continuous but occurs rhythmically. Paradoxically, there are countless times throughout the infinitude of UNIVERSAL DURATION when there is no time. We cannot really speak sensibly of these terms without falling into paradox and contradiction, but ‘during’!? ‘NO-THING-NESS’, there are no ‘things’, and thus, Time, as usually conceived, ceases to exist, for Time is a measure of relative duration which depends on relating the duration of ‘this’ to the duration of ‘that’, and when there is no ‘this and that’ there can be no relative measures, obviously.

4. Về “thời gian”, Chân sư Tây Tạng cho chúng ta biết rằng nó có tính chu kỳ. Điều này đúng ngay cả theo nghĩa sâu xa nhất, và do đó là một phát biểu mời gọi sự suy tư sâu thẳm nhất có thể. Theo Minh Triết Ngàn Đời, ‘Thời Gian’, theo nghĩa phổ quát, không liên tục mà diễn ra theo nhịp điệu. Nghịch lý thay, có vô số thời điểm trong suốt tính vô tận của TRƯỜNG KỲ PHỔ QUÁT khi không có thời gian. Chúng ta thật sự không thể nói một cách hợp lý về những thuật ngữ này mà không rơi vào nghịch lý và mâu thuẫn; nhưng ‘trong lúc’!? ‘TÍNH VÔ-VẬT’, không có ‘sự vật’, và vì vậy Thời Gian, như thường được quan niệm, ngừng tồn tại, vì Thời Gian là thước đo trường kỳ tương đối, phụ thuộc vào việc liên hệ trường kỳ của ‘cái này’ với trường kỳ của ‘cái kia’; và khi không có ‘cái này và cái kia’ thì hiển nhiên không thể có các thước đo tương đối.

5. Our problem arises when we consider a period of timelessness as a ‘this’ in relation to a certain kind of ‘that’—namely, a period in which Time exists.

5. Vấn đề của chúng ta nảy sinh khi chúng ta xem một thời kỳ phi thời gian như một ‘cái này’ trong tương quan với một loại ‘cái kia’ nào đó — tức là một thời kỳ trong đó Thời Gian tồn tại.

6. ‘Where’ are we ‘standing’ in consciousness when we entertain such a perspective?

6. Chúng ta đang ‘đứng’ ở ‘đâu’ trong tâm thức khi duy trì một viễn tượng như thế?

7. Is there any ‘Observer’ which can really ‘see’ the proposedly perpetual alternation of Time and Timelessness. If so, ‘what’ would that ‘Observer’ be?

7. Có ‘Nhà Quan Sát’ nào thật sự có thể ‘thấy’ sự luân phiên được giả định là vĩnh viễn giữa Thời Gian và Phi Thời Gian không? Nếu có, ‘Nhà Quan Sát’ ấy sẽ là gì?

8. Such a sequence of alternating Time and Timelessness would be, in any case, only cyclically conceivable, for ‘during’ periods of Timelessness, there would be no ‘Observer’ capable of perception. Thus, recognition of a perpetual sequence of Time and Timelessness occurs only during Time; but from a perspective ‘within Time’, all perception is subject to the illusion of the presence of Time. When, from ‘within Time’, we try to perceive NON-ENTITY, we thereby entify IT by the very act of our attempted perception.

8. Dù thế nào, một chuỗi luân phiên giữa Thời Gian và Phi Thời Gian như vậy chỉ có thể được quan niệm theo chu kỳ, vì ‘trong’ các thời kỳ Phi Thời Gian, sẽ không có ‘Nhà Quan Sát’ nào có khả năng tri giác. Do đó, sự nhận biết về một chuỗi vĩnh viễn giữa Thời Gian và Phi Thời Gian chỉ xảy ra trong Thời Gian; nhưng từ một viễn tượng ‘bên trong Thời Gian’, mọi tri giác đều chịu sự chi phối của ảo tưởng về sự hiện diện của Thời Gian. Khi, từ ‘bên trong Thời Gian’, chúng ta cố tri giác PHI-THỰC THỂ, thì qua chính hành vi cố tri giác ấy, chúng ta thực thể hóa NÓ.

9. Let us say that ‘cognition of duration’ occurs only cyclically. We can only infer the possibility of non-cognition. If we think about anything, even NOTHING, we have cognized it. NO-THING is essentially incognisable, un-recognizable. During Time we, automatically and inescapably, reduce NOTHING to something. Thereby, what IT is, in ESSENTIAL ESSENCE, escapes us entirely.

9. Có thể nói rằng ‘sự nhận thức về trường kỳ’ chỉ xảy ra theo chu kỳ. Chúng ta chỉ có thể suy ra khả thể của sự không-nhận-thức. Nếu chúng ta suy nghĩ về bất cứ điều gì, ngay cả HƯ VÔ, thì chúng ta đã nhận thức nó. VÔ-VẬT về bản chất là không thể nhận thức, không thể nhận biết. Trong Thời Gian, một cách tự động và không thể tránh khỏi, chúng ta giản lược HƯ VÔ thành một cái gì đó. Do đó, điều NÓ là trong TINH YẾU CỐT TỦY hoàn toàn thoát khỏi chúng ta.

10. So Time is a concept which exists only when Time is ‘happening’, which, by inference, is not ‘always’ so.

10. Vì vậy, Thời Gian là một khái niệm chỉ tồn tại khi Thời Gian đang ‘diễn ra’, điều mà theo suy luận không phải ‘luôn luôn’ như vậy.

11. And, perhaps, the whole conception of alternating cycles of Time and Timelessness, is simply a high illusion produced by the inescapable conditions of ‘attempted cognition within Time’.

11. Và có lẽ toàn bộ quan niệm về các chu kỳ luân phiên của Thời Gian và Phi Thời Gian chỉ là một ảo tưởng cao siêu do những điều kiện không thể tránh khỏi của ‘nỗ lực nhận thức bên trong Thời Gian’ tạo ra.

12. For practical, ‘in-Universe’ purpose, Time does, indeed, exists, appearing cyclically, and is measured in terms of cycles (compared to each other).

12. Vì mục đích thực tiễn, ‘trong-Vũ Trụ’, Thời Gian quả thật tồn tại, xuất hiện theo chu kỳ, và được đo lường bằng các chu kỳ, khi được so sánh với nhau.

13. From a deeper perspective, Time does not exist—never has, never does, never will—‘in’ the unfathomable ‘state’ of PERPETUAL BE-NESS.

13. Từ một viễn tượng sâu xa hơn, Thời Gian không tồn tại — chưa từng tồn tại, hiện không tồn tại, và sẽ không bao giờ tồn tại — ‘trong’ ‘trạng thái’ khôn dò của HIỆN HỮU TÍNH VĨNH CỬU.

14. Obviously, language fails.

14. Hiển nhiên, ngôn ngữ bất lực.

C. Paragraph 2

C. Đoạn 2

1. Space and substance are synonymous terms; substance is the aggregate of atomic lives out of which all forms are built. (cf. RI p. 105)

1. Không gian và chất liệu là những thuật ngữ đồng nghĩa; chất liệu là tổng hợp các sự sống nguyên tử, từ đó mọi hình tướng được kiến tạo. (x. Các Cung và Điểm Đạo, tr. 105)

2. Substance is a soul concept, and is only truly known to the soul. Therefore, after the fourth initiation, when the work of the soul is accomplished and the soul body fades out of the picture, only the quality which it has imparted in substance is left as its contribution—individual, group or planetary—to the sumtotal of manifestation. All that remains is a point of light. This point is conscious, immutable and aware of the two extremes of the divine expression: the sense of individual identity and the sense of universality. These are fused and blended in the ONE. (cf. RI p. 106)

2. Chất liệu là một khái niệm của linh hồn, và chỉ thật sự được linh hồn biết đến. Vì vậy, sau lần điểm đạo thứ tư, khi công việc của linh hồn đã hoàn tất và thể linh hồn mờ dần khỏi bức tranh, chỉ còn lại phẩm tính mà nó đã truyền vào chất liệu như phần đóng góp của nó — cá nhân, nhóm hoặc hành tinh — cho tổng toàn bộ của biểu hiện. Tất cả những gì còn lại là một điểm sáng. Điểm này có ý thức, bất biến và nhận biết hai cực của biểu hiện thiêng liêng: ý thức về bản sắc cá nhân và ý thức về tính phổ quát. Hai điều này được dung hợp và hòa nhập trong ĐẤNG DUY NHẤT. (x. Các Cung và Điểm Đạo, tr. 106)

3. In the state of being which we call the monadic, it is realised that there is no identity apart from universality and no appreciation of the universal apart from the individual realisation, and this realisation of identification with both the part and the whole finds its point of tension in the will-to-be, which is qualified by the will-to-good and developed (from the consciousness angle) by the will-to-know. (cf. RI p. 106)

3. Trong trạng thái hiện hữu mà chúng ta gọi là chân thần, người ta chứng nghiệm rằng không có bản sắc nào tách rời khỏi tính phổ quát, và không có sự cảm nhận nào về cái phổ quát tách rời khỏi sự chứng nghiệm cá nhân; sự chứng nghiệm đồng hóa với cả phần lẫn toàn thể này tìm thấy điểm tập trung nhất tâm của nó trong ý chí-hiện hữu, vốn được phẩm định bởi Ý Chí-hướng Thiện và được phát triển, xét từ góc độ tâm thức, bởi ý chí-biết. (x. Các Cung và Điểm Đạo, tr. 106)

4. The will-to-be, the will-to-good and the will-to-know are in truth three aspects of the divine will which exists in its perfection in the solar Logos and finds a medium of expression through the planetary Logos. (cf. RI p. 106)

4. Ý chí-hiện hữu, Ý Chí-hướng Thiện và ý chí-biết thật ra là ba phương diện của Ý Chí thiêng liêng, vốn tồn tại trong sự hoàn hảo của nó nơi Thái dương Thượng đế và tìm được một trung gian biểu hiện qua Hành Tinh Thượng đế. (x. Các Cung và Điểm Đạo, tr. 106)

5. The will is working out in seven ways, via the living qualities of the seven planetary Logoi Who express Themselves through the seven sacred planets; They are preoccupied with the endeavour of bringing all the forms of life within the orbit of Their influence up to the same measure of recorded recognition and of registered existence. On each of the seven sacred planets one aspect of the divine Will is dominant. (cf. RI p. 106)

5. Ý chí đang thể hiện theo bảy cách, qua các phẩm tính sống động của bảy Hành Tinh Thượng đế, Các Ngài biểu hiện Chính Mình qua bảy hành tinh thiêng liêng; Các Ngài chuyên tâm vào nỗ lực đưa mọi hình tướng sự sống trong quỹ đạo ảnh hưởng của Các Ngài lên cùng một mức độ nhận biết được ghi nhận và tồn tại được đăng ký. Trên mỗi một trong bảy hành tinh thiêng liêng, một phương diện của Ý Chí thiêng liêng chiếm ưu thế. (x. Các Cung và Điểm Đạo, tr. 106)

Space and substance are synonymous terms; substance is the aggregate of atomic lives out of which all forms are built. With this the Treatise on Cosmic Fire largely dealt. [Page 106] This is both an occult and a scientific truism.

Không gian và chất liệu là những thuật ngữ đồng nghĩa; chất liệu là tổng hợp các sự sống nguyên tử, từ đó mọi hình tướng được kiến tạo. Luận về Lửa Vũ Trụ đã đề cập phần lớn đến điều này. [Trang 106] Đây vừa là một chân lý hiển nhiên huyền bí học vừa là một chân lý hiển nhiên khoa học.

1. True science and occultism are the same thing.

1. Khoa học chân chính và huyền bí học là cùng một điều.

2. We have often discussed the difference between matter and substance. They are relative terms. Substance is ‘substantial’ to matter. Anything that is, can be considered matter or substance depending upon the point of view and the degree of ‘vibrational elevation’ of the viewer.

2. Chúng ta thường bàn về sự khác biệt giữa vật chất và chất liệu. Chúng là những thuật ngữ tương đối. Chất liệu là cái ‘có tính chất liệu’ đối với vật chất. Bất cứ điều gì hiện hữu đều có thể được xem là vật chất hoặc chất liệu, tùy theo quan điểm và mức độ ‘nâng cao rung động’ của người quan sát.

3. Ultimately, as with Spinoza, GOD is that SUBSTANCE, in relation to WHOM there can be nothing substantial. The apparently infinite regression towards ever more refined substantiality (i.e., towards increasingly ‘sub-standing’ substantiality) stops with the BE-NESS of the ULTIMATE DEITY (which is not the same as the Universal Deity, and in fact, infinitely greater).

3. Rốt ráo, cũng như nơi Spinoza, THƯỢNG ĐẾ là CHẤT LIỆU ấy, trong tương quan với ĐẤNG mà không gì có thể là chất liệu. Sự thoái lui có vẻ vô hạn hướng về tính chất liệu ngày càng tinh tế hơn, tức hướng về tính chất-liệu ‘làm nền’ ngày càng sâu hơn, dừng lại nơi HIỆN HỮU TÍNH của THƯỢNG ĐẾ TỐI HẬU, vốn không giống với Thượng đế Vũ Trụ, và thật ra lớn lao vô hạn hơn.

4. In ‘GOD-as-SPACE’ there is no ‘Space’; but God is ‘Space’. (This should be pondered, as in the two spellings of both god and space much is suggested.)

4. Trong ‘THƯỢNG ĐẾ-như-KHÔNG GIAN’ không có ‘Không Gian’; nhưng Thượng đế ‘Không Gian’. Điều này cần được suy ngẫm, vì trong hai cách viết của cả thượng đếkhông gian có nhiều điều được gợi mở.

5. In more practical, immediately perceptible and cognizable terms, ‘Space’ is utterly dense. In ‘Space’ there is no ‘nothing’—no vacuum. ‘Thingness’ is the opposite of the vacuum, and ‘Space’ (as we know it) is ‘aggregated thingness’.

5. Theo những thuật ngữ thực tiễn hơn, có thể tri giác và nhận thức ngay hơn, ‘Không Gian’ hoàn toàn đậm đặc. Trong ‘Không Gian’ không có ‘hư vô’ — không có chân không. ‘Tính vật’ là đối cực của chân không, và ‘Không Gian’, như chúng ta biết, là ‘tính vật được kết tập’.

6. The apparent ‘space between things’ is Presence.

6. ‘Không gian giữa các sự vật’ biểu kiến là Hiện Diện.

7. Presence fills ‘spaces’; Presence is ‘Space’.

7. Hiện Diện lấp đầy các ‘khoảng không’; Hiện Diện ‘Không Gian’.

8. Where there is ‘Presence’ there is no vacuum.

8. Nơi nào có ‘Hiện Diện’, nơi đó không có chân không.

9. Space/Presence is the ‘vacuumless state’

9. Không Gian/Hiện Diện là ‘trạng thái không chân không’

10. Presence is Substance; ABSENCE is SUBSTANCE; the IT is the absence of ‘Substance’. (The capitalizations are important).

10. Hiện Diện là Chất Liệu; SỰ VẮNG MẶT là CHẤT LIỆU; CÁI ẤY là sự vắng mặt của ‘Chất Liệu’. Việc viết hoa rất quan trọng.

11. Presence is Entification; Presence is Substance; Presence is ‘Space’.

11. Hiện Diện là Sự Thực Thể Hóa; Hiện Diện là Chất Liệu; Hiện Diện là ‘Không Gian’.

12. ABSENCE is NON-ENTIFICATION; ABSENCE is SUBSTANCE; ABSENCE is SPACE or the VACUUM, and is both non-‘Spatial’ and non-‘Substantial’. Again, the capitalizations are important.

12. SỰ VẮNG MẶT là PHI-THỰC THỂ-HÓA; SỰ VẮNG MẶT là CHẤT LIỆU; SỰ VẮNG MẶT là KHÔNG GIAN hay CHÂN KHÔNG, và vừa phi-‘Không Gian’ vừa phi-‘Chất Liệu’. Một lần nữa, việc viết hoa rất quan trọng.

13. For practical purposes, and in terms of the discussion the Tibetan is bringing forward, if there were not many little ‘lives’, there would be no Space.

13. Vì các mục đích thực tiễn, và xét theo cuộc bàn luận mà Chân sư Tây Tạng đang đưa ra, nếu không có nhiều ‘sự sống’ nhỏ bé, thì sẽ không có Không Gian.

14. But far more deeply, if there were not the assertion or ‘SELF-Objectification’ of THAT—which assertion we call the Presence—there would be no ‘Space’—only SPACE.

14. Nhưng sâu xa hơn nhiều, nếu không có sự khẳng định hay ‘TỰ-khách-thể-hóa’ của CÁI ẤY — sự khẳng định mà chúng ta gọi là Hiện Diện — thì sẽ không có ‘Không Gian’ — chỉ có KHÔNG GIAN.

Substance is, however, a soul concept, and is only truly known to the soul. Therefore, after the fourth initiation, when the work of the soul is accomplished and the soul body fades out of the picture, only the quality which it has imparted in substance is left as its contribution—individual, group or planetary—to the sumtotal of manifestation. All that remains is a point of light. This point is conscious, immutable and aware of the two extremes of the divine expression: the sense of individual identity and the sense of universality. These are fused and blended in the ONE. Of this ONE the divine Hermaphrodite is the concrete symbol—the union in one of the pairs of opposites, negative and positive, male and female.

Tuy nhiên, chất liệu là một khái niệm của linh hồn, và chỉ thật sự được linh hồn biết đến. Vì vậy, sau lần điểm đạo thứ tư, khi công việc của linh hồn đã hoàn tất và thể linh hồn mờ dần khỏi bức tranh, chỉ còn lại phẩm tính mà nó đã truyền vào chất liệu như phần đóng góp của nó — cá nhân, nhóm hoặc hành tinh — cho tổng toàn bộ của biểu hiện. Tất cả những gì còn lại là một điểm sáng. Điểm này có ý thức, bất biến và nhận biết hai cực của biểu hiện thiêng liêng: ý thức về bản sắc cá nhân và ý thức về tính phổ quát. Hai điều này được dung hợp và hòa nhập trong ĐẤNG DUY NHẤT. Về ĐẤNG DUY NHẤT này, Đấng Lưỡng Tính thiêng liêng là biểu tượng cụ thể — sự hợp nhất trong một của các cặp đối cực, âm và dương, nam và nữ.

1. The term “substance” is here being used more scientifically than philosophically.

1. Thuật ngữ “chất liệu” ở đây được dùng theo nghĩa khoa học hơn là triết học.

2. Soul concepts arise from a consciousness that is ‘imprisoned’ in that state of limitation we call “soul”.

2. Các khái niệm của linh hồn phát sinh từ một tâm thức bị ‘giam giữ’ trong trạng thái giới hạn mà chúng ta gọi là “linh hồn”.

3. When we (rays of the Universal Consciousness) function within the causal body, we think in terms of materiel and that which substands it, and of that which substands that which substands. We are not yet thinking in terms of the “Life”, but, rather, in terms of the many material/substantial expressions which Life assumes.

3. Khi chúng ta, những tia của Tâm Thức Vũ Trụ, hoạt động bên trong thể nguyên nhân, chúng ta tư duy theo các thuật ngữ vật liệu và cái làm nền cho nó, rồi cái làm nền cho cái làm nền ấy. Chúng ta chưa tư duy theo các thuật ngữ của “Sự Sống”, mà đúng hơn, theo các thuật ngữ của nhiều biểu hiện vật chất/chất liệu mà Sự Sống khoác lấy.

4. At the fourth initiation, the work of the soul is accomplished. Really, it is the work of the Solar Angel that is accomplished with respect to man.

4. Ở lần điểm đạo thứ tư, công việc của linh hồn được hoàn tất. Thật ra, đó là công việc của Thái dương Thiên Thần được hoàn tất đối với con người.

5. Notice that it is the “soul body[ital. MDR) that fades out. Essential soul must always remain, because soul is a universal principle—inescapable in cosmos.

5. Hãy lưu ý rằng chính “thể linh hồn” [chữ nghiêng của MDR) mờ dần. Linh hồn cốt yếu phải luôn luôn còn lại, bởi vì linh hồn là một nguyên khí phổ quát — không thể tránh khỏi trong vũ trụ.

6. However, the “special case” of Universal Soul (which we have been calling “the soul”), alters its consciousness at this high initiation, becoming freer, less bound by ‘subtle objectivity’.

6. Tuy nhiên, “trường hợp đặc biệt” của Linh Hồn Vũ Trụ, mà chúng ta đã gọi là “linh hồn”, thay đổi tâm thức của nó ở cuộc điểm đạo cao này, trở nên tự do hơn, ít bị ràng buộc bởi ‘tính khách quan vi tế’ hơn.

7. The soul is said to impart “quality” to “substance”. What does this really mean? Imparted quality is really a rearrangement of pattern and an alteration of vibration. Quality is quantity and pattern. The frequencies and patterns characteristic of the world of the Solar Angel are much higher and more refined that the frequencies and patterns characteristic of substance (as here discussed). The impartation of quality (frequency and pattern) elevates the quality of substance. We are speaking of a ‘vibratory gift’ (a vibratory “contribution”) from that which is ‘above’ to that which is ‘below’.

7. Người ta nói linh hồn truyền “phẩm tính” vào “chất liệu”. Điều này thật sự có nghĩa là gì? Phẩm tính được truyền vào thật ra là một sự tái sắp xếp mô hình và một sự biến đổi rung động. Phẩm tính là lượng và mô hình. Các tần số và mô hình đặc trưng cho thế giới của Thái dương Thiên Thần cao hơn và tinh luyện hơn nhiều so với các tần số và mô hình đặc trưng cho chất liệu, như đang được bàn ở đây. Việc truyền phẩm tính, tức tần số và mô hình, nâng cao phẩm tính của chất liệu. Chúng ta đang nói về một ‘món quà rung động’, một “đóng góp” rung động, từ cái ở ‘trên’ xuống cái ở ‘dưới’.

8. With the destruction of the causal body, we are told that a “point of light” remains. This statement must be examined.

8. Với sự hủy diệt của thể nguyên nhân, chúng ta được cho biết rằng một “điểm sáng” còn lại. Phát biểu này cần được khảo sát.

9. We are used to the idea that the spiritual triad remains after the destruction of the causal body; why is the phrase “point of light” used?

9. Chúng ta đã quen với ý tưởng rằng Tam Nguyên Tinh Thần còn lại sau sự hủy diệt của thể nguyên nhân; tại sao cụm từ “điểm sáng” lại được dùng?

10. That “point of light” is, very conceivably, the monad and its threefold expression, the spiritual triad. We do not really imagine that the triangular shape by which the spiritual triad is customarily depicted in our literature is anything but symbolic.

10. “Điểm sáng” ấy rất có thể là chân thần và biểu hiện tam phân của nó, tức Tam Nguyên Tinh Thần. Chúng ta thật sự không hình dung rằng hình tam giác, qua đó Tam Nguyên Tinh Thần thường được mô tả trong văn liệu của chúng ta, là bất cứ điều gì khác ngoài biểu tượng.

11. Although the monad and the spiritual triad are really a ‘three-in-one’, this ‘three-in-one’ is even more essentially a ‘one’, and can be conceived as a point of light. Phenomenally, to the ‘Eye’ of the Master, it probably appears as a point of light.

11. Mặc dù chân thần và Tam Nguyên Tinh Thần thật sự là một ‘ba-trong-một’, nhưng ‘ba-trong-một’ này, xét theo yếu tính còn sâu xa hơn, là ‘một’, và có thể được quan niệm như một điểm sáng. Về mặt hiện tượng, đối với ‘Mắt’ của Chân sư, có lẽ nó hiện ra như một điểm sáng.

12. The fact that the point of light is “immutable” and “conscious” confirms that it is the monad, for the monad, in essence, is immutable, whereas the spiritual triad is not (thought the principle of the ‘Trinity’ is immutable in cosmos—i.e., there will always be a three which is essentially a one.

12. Sự kiện điểm sáng là “bất biến” và “có ý thức” xác nhận rằng đó là chân thần, vì chân thần, về bản chất, là bất biến, trong khi Tam Nguyên Tinh Thần thì không, dù nguyên khí của ‘Ba Ngôi’ là bất biến trong vũ trụ — tức là sẽ luôn luôn có một ba mà về bản chất là một một.

13. The Master, therefore, is speaking of monadic realizations which follow upon the destruction of the causal body.

13. Vì vậy, Chân sư đang nói đến các chứng nghiệm chân thần tiếp theo sau sự hủy diệt của thể nguyên nhân.

14. The “point of light” is aware to two extremes of divine expression—“the sense of individual identity and the sense of universality”.

14. “Điểm sáng” nhận biết hai cực của biểu hiện thiêng liêng — “ý thức về bản sắc cá nhân và ý thức về tính phổ quát”.

15. As long as the monad exists, there will be an awareness of these two extremes.

15. Bao lâu chân thần còn tồn tại, bấy lâu vẫn sẽ có sự nhận biết về hai cực này.

16. They will cease to be extremes when the consummation of the cosmos is achieved; then individual identity and the sense of universality will merge, because the only Conscious Individual in cosmos will be the Universal Logos, the Consciousness of Whom is undivided by ‘Self-reflective emanation’. This is clearly a moment of absorption analogous to the moment when the emanatory process, with all its division into numerous emanated entities, began.

16. Chúng sẽ không còn là những cực đoan khi sự viên mãn của vũ trụ đạt được; khi ấy bản sắc cá nhân và ý thức về tính phổ quát sẽ hòa nhập, bởi vì Cá Nhân Hữu Thức duy nhất trong vũ trụ sẽ là Thượng đế Vũ Trụ, Đấng có Tâm thức không bị phân chia bởi ‘sự xuất lộ tự phản chiếu’. Đây rõ ràng là một khoảnh khắc hấp thu, tương tự với khoảnh khắc khi tiến trình xuất lộ, cùng với toàn bộ sự phân chia của nó thành vô số thực thể được xuất lộ, đã bắt đầu.

17. It is said that for the monad (which is here described as the “point of light”) the individual and the universal are already blended in the ONE. However, it is not quite logical that the simultaneous experience of individuality and universality would be consummatory for the human monad. The human monad cannot experience the highest degree of this blending experience. One can envision a progressive intensification of such experiences (with ever lessening dualism) for beings greater than the human monad (beings into which the human monad merges) until, at last, the most intense possible non-dual experience is reached (the most intense within any given cosmos). This would be the moment of the Self-realization of all lesser cosmic B/beings as the Universal Logos or, really, as the Universal Monad. This experience lies ahead for all emanated monads regardless of their present level of ‘prakritic immersion’. [cf. Infinitization of Selfhood—Glossary]

17. Người ta nói rằng đối với chân thần, ở đây được mô tả như “điểm sáng”, cá nhân và phổ quát đã hòa quyện trong ĐẤNG DUY NHẤT. Tuy nhiên, không hoàn toàn hợp lý khi cho rằng kinh nghiệm đồng thời về cá tính và tính phổ quát sẽ là kinh nghiệm viên mãn đối với chân thần nhân loại. Chân thần nhân loại không thể kinh nghiệm mức độ cao nhất của kinh nghiệm hòa quyện này. Ta có thể hình dung một sự tăng cường tiệm tiến của những kinh nghiệm như thế, với tính nhị nguyên ngày càng giảm bớt, đối với những hữu thể lớn hơn chân thần nhân loại, tức những hữu thể mà chân thần nhân loại hòa nhập vào, cho đến khi cuối cùng đạt tới kinh nghiệm bất nhị mãnh liệt nhất có thể, mãnh liệt nhất trong bất kỳ vũ trụ nào đã cho. Đây sẽ là khoảnh khắc Tự chứng ngộ của tất cả các Hữu Thể/hữu thể vũ trụ thấp hơn như Thượng đế Vũ Trụ, hay thật ra, như Chân thần Phổ Quát. Kinh nghiệm này nằm ở phía trước đối với mọi chân thần đã xuất lộ, bất kể cấp độ hiện tại của chúng trong sự đắm chìm vào vật chất nguyên sơ. [xem Sự Vô Hạn Hóa của Bản Ngã Tính—Bảng Thuật Ngữ]

18. On our own planetary level (quite lowly from a more cosmic perspective), the symbol of this great Union is the “Divine Hermaphrodite”, which symbolizes the blending of spirit and matter.

18. Trên cấp độ hành tinh của chính chúng ta, vốn khá thấp nếu nhìn từ một viễn cảnh vũ trụ hơn, biểu tượng của Đại Hợp Nhất này là “Đấng Lưỡng Tính Thiêng Liêng”, tượng trưng cho sự hòa quyện của tinh thần và vật chất.

19. When the Tibetan speaks of the “ONE”, He may not, at this point in the text, mean the ‘Universal ONE’, but rather the normal ring-pass-not of the human monad (the Planetary Logos). It is always a question of judgment to evaluate just how much ‘ultimacy’ is indicated by the terms which are used to designate the ultimate. In this case, how much of the ‘Universal ONE’ is meant by the term here used—the “ONE”? Where does the Tibetan draw His boundary?

19. Khi Chân sư Tây Tạng nói về “ĐẤNG DUY NHẤT”, ở điểm này trong văn bản, Ngài có thể không muốn nói đến ‘ĐẤNG DUY NHẤT Phổ Quát’, mà đúng hơn là vòng-giới-hạn bình thường của chân thần nhân loại, tức Hành Tinh Thượng đế. Luôn luôn cần đến sự phán đoán để đánh giá chính xác mức độ bao nhiêu của ‘tính tối hậu’ được chỉ ra bởi các thuật ngữ dùng để gọi điều tối hậu. Trong trường hợp này, thuật ngữ được dùng ở đây—“ĐẤNG DUY NHẤT”—muốn nói đến bao nhiêu phần của ‘ĐẤNG DUY NHẤT Phổ Quát’? Chân sư Tây Tạng vạch ranh giới của Ngài ở đâu?

20. It is interesting to note that in the case of the “Divine Hermaphrodite” here referenced, Venus (Aphrodite) plays the role of the feminine energy and of matter, whereas Mercury (Hermes) is understood as allied with the masculine energy and with spirit.

20. Điều đáng chú ý là trong trường hợp “Đấng Lưỡng Tính Thiêng Liêng” được nhắc đến ở đây, Sao Kim giữ vai trò của năng lượng nữ tính và của vật chất, trong khi Sao Thủy được hiểu là liên kết với năng lượng nam tính và với tinh thần.

In the state of being which we call the monadic, no difference is recognised between these two because (if I can bring such ideas down to the level of the intelligence of the aspirant) it is realised that there is no identity apart from universality and no appreciation of the universal apart from the individual realisation, and this realisation of identification with both the part and the whole finds its point of tension in the will-to-be, which is qualified by the will-to-good and developed (from the consciousness angle) by the will-to-know. These are in truth three aspects of the divine will which exists in its perfection in the solar Logos and finds a medium of expression through the planetary Logos.

Trong trạng thái hiện hữu mà chúng ta gọi là chân thần, không có sự khác biệt nào được nhận biết giữa hai điều này, bởi vì, nếu tôi có thể đưa những ý tưởng như thế xuống cấp độ trí tuệ của người chí nguyện, người ta nhận ra rằng không có bản sắc nào tách khỏi tính phổ quát, và không có sự tri nhận nào về cái phổ quát tách khỏi chứng nghiệm cá nhân; và chứng nghiệm về sự đồng hóa với cả phần lẫn toàn thể này tìm thấy điểm tập trung nhất tâm của nó trong Ý Chí-hiện hữu, vốn được phẩm định bởi Ý Chí-hướng Thiện và được phát triển, xét từ góc độ tâm thức, bởi Ý Chí-biết. Thật ra, đây là ba phương diện của Ý Chí thiêng liêng, vốn hiện hữu trong sự toàn hảo của nó nơi Thái dương Thượng đế và tìm được một phương tiện biểu lộ qua Hành Tinh Thượng đế.

1. We are considering here a tremendous sentence about the nature of monadic awareness.

1. Ở đây chúng ta đang xem xét một câu hết sức trọng đại về bản chất của sự nhận biết chân thần.

2. The Tibetan is attempting to bring certain realizations down to the level of intelligence of the aspirant. ‘We’ (serious students of the Tibetan’s thoughts) are most definitely the “aspirant” in this case—aspirants to the “mysteries of being” (in which mysteries, the Tibetan is an initiate).

2. Chân sư Tây Tạng đang cố gắng đưa một số chứng ngộ nhất định xuống cấp độ trí tuệ của người chí nguyện. ‘Chúng ta’, tức những đạo sinh nghiêm túc đối với tư tưởng của Chân sư Tây Tạng, chắc chắn chính là “người chí nguyện” trong trường hợp này—những người chí nguyện hướng tới “các huyền nhiệm của hiện hữu”, trong các huyền nhiệm ấy, Chân sư Tây Tạng là một điểm đạo đồ.

3. Monadic awareness is a very special state—intensely focussed, yet all-embracing.

3. Sự nhận biết chân thần là một trạng thái rất đặc biệt—tập trung mãnh liệt, nhưng đồng thời bao trùm tất cả.

4. The Tibetan makes a definite statement which must be understood (if we can):

4. Chân sư Tây Tạng đưa ra một phát biểu dứt khoát cần được thấu hiểu, nếu chúng ta có thể:

there is no identity apart from universality and no appreciation of the universal apart from the individual realisation”.

“không có bản sắc nào tách khỏi tính phổ quát, và không có sự tri nhận nào về cái phổ quát tách khỏi chứng nghiệm cá nhân”.

If we dig deeply enough into the nature of individuality, we shall never find only individuality; individuality is not a terminal state; it always ends in universality, because every individual is, at length, an emanation of the Universal—i.e., of the Universal Logos.

Nếu chúng ta đào sâu đủ vào bản chất của cá tính, chúng ta sẽ không bao giờ chỉ tìm thấy cá tính; cá tính không phải là một trạng thái sau cùng; rốt cuộc nó luôn kết thúc trong tính phổ quát, bởi vì mọi cá nhân, về lâu dài, đều là một xuất lộ của Cái Phổ Quát—tức là của Thượng đế Vũ Trụ.

5. Similarly, when looking for who or what might be able to appreciate the universal, we shall find that all appreciators are individual, because all appreciators are emanations. Even the ‘Final Appreciator’ (the Universal Logos) is a kind of Emanation (or “flashing forth’) of the One RAY OF The ABSOLUTE. How the Universal Logos comes to be is shrouded in presently-impenetrable mystery (perhaps forever-impenetrable mystery).

5. Tương tự, khi tìm kiếm ai hay điều gì có thể tri nhận cái phổ quát, chúng ta sẽ thấy rằng mọi chủ thể tri nhận đều là cá nhân, bởi vì mọi chủ thể tri nhận đều là các xuất lộ. Ngay cả ‘Chủ Thể Tri Nhận Cuối Cùng’, tức Thượng đế Vũ Trụ, cũng là một loại Xuất Lộ, hay “sự lóe sáng phát ra”, của TIA DUY NHẤT CỦA TUYỆT ĐỐI. Thượng đế Vũ Trụ đi vào hiện hữu như thế nào vẫn bị che phủ trong huyền nhiệm hiện nay không thể xuyên thấu, có lẽ là huyền nhiệm mãi mãi không thể xuyên thấu.

6. So whether “I”, the apparently tiny human monad appreciate the Universal, or whether the Planetary or Solar Logoi, appreciate the Universal, or whether some far vaster Being (as vast as even the Universal Logos) appreciates the Universal, all A/appreciators are E/entities, and, hence, individual. The only non-individual is THAT—the GREAT NON-ENTITY (which I just entified by calling it THAT!)

6. Vì vậy, dù “tôi”, chân thần nhân loại dường như bé nhỏ, tri nhận Cái Phổ Quát, hay dù các Hành Tinh Thượng đế hoặc Thái dương Thượng đế tri nhận Cái Phổ Quát, hay dù một Hữu Thể nào đó bao la hơn rất nhiều, bao la đến mức như chính Thượng đế Vũ Trụ, tri nhận Cái Phổ Quát, thì mọi Chủ thể/chủ thể tri nhận đều là Thực Thể/thực thể, và do đó, là cá nhân. Cái duy nhất không-cá-nhân là CÁI ĐÓ—ĐẠI PHI-THỰC-THỂ, điều mà tôi vừa thực-thể-hóa bằng cách gọi nó là CÁI ĐÓ!

7. Then comes a most profound statement, again needing interpretation:

7. Rồi đến một phát biểu sâu xa nhất, một lần nữa cần được diễn giải:

“this realisation of identification with both the part and the whole finds its point of tension in the will-to-be, which is qualified by the will-to-good and developed (from the consciousness angle) by the will-to-know.”

“chứng nghiệm về sự đồng hóa với cả phần lẫn toàn thể này tìm thấy điểm tập trung nhất tâm của nó trong Ý Chí-hiện hữu, vốn được phẩm định bởi Ý Chí-hướng Thiện và được phát triển, xét từ góc độ tâm thức, bởi Ý Chí-biết.”

It is the “will-to-be” which is particularly characteristic of the monad; it can reasonably be considered the first aspect of the Divine Will. The monad is imbued with the factor of persistence; it is possessed of the will to endure as itself throughout great durations, perhaps throughout the entirety of cosmos (though if this latter type of persistence were true, certain philosophical questions would have to be answered. [see again, Infinitization of Selfhood]) The “will-to-good” as here expressed (qualifying the “will-to-be”) is the factor of will associated first with what we call soul-consciousness (and then, when that soul consciousness is free of the causal body, associated with triadal consciousness). “Being” itself, has no quality; it simply is. Of course, the monad (as manifesting on the cosmic physical plane) is not pure being, and definitely has quality; the essence of the monad is, however, pure being.

Chính “Ý Chí-hiện hữu” là điều đặc biệt tiêu biểu cho chân thần; có thể hợp lý xem nó là phương diện thứ nhất của Ý Chí thiêng liêng. Chân thần thấm nhuần yếu tố bền bỉ; nó sở hữu ý chí chịu đựng như chính nó qua những thời kỳ dài lớn lao, có lẽ qua toàn thể vũ trụ, dù nếu loại bền bỉ sau này là đúng, thì một số câu hỏi triết học nhất định sẽ phải được trả lời. [xem lại, Sự Vô Hạn Hóa của Bản Ngã Tính] “Ý Chí-hướng Thiện” như được diễn đạt ở đây, vốn phẩm định “Ý Chí-hiện hữu”, là yếu tố ý chí trước hết liên kết với điều chúng ta gọi là tâm thức linh hồn, và rồi, khi tâm thức linh hồn ấy thoát khỏi thể nguyên nhân, liên kết với tâm thức Tam nguyên tinh thần. “Hiện Hữu” tự nó không có phẩm tính; nó đơn giản hiện hữu. Dĩ nhiên, chân thần, khi biểu hiện trên cõi hồng trần vũ trụ, không phải là hiện hữu thuần túy, và chắc chắn có phẩm tính; tuy nhiên, tinh túy của chân thần là hiện hữu thuần túy.

8. Whatever quality the monad may express (one of the three major rays, qualified by subrays that may be any one of the seven), the descent of its expressiveness upon the lower three cosmic ethers is further qualified by will, love and intelligence, in various combinations and permutations. Still, in this descent, we are in the realm of quality, and are not yet speaking of any tangible expression through the form.

8. Bất kỳ phẩm tính nào mà chân thần có thể biểu lộ, một trong ba cung chính, được phẩm định bởi các cung phụ có thể là bất kỳ cung nào trong bảy cung, thì sự giáng xuống của khả năng biểu lộ ấy trên ba cõi dĩ thái vũ trụ thấp hơn còn được phẩm định thêm bởi ý chí, bác ái và trí tuệ, trong nhiều tổ hợp và hoán vị khác nhau. Tuy vậy, trong sự giáng xuống này, chúng ta đang ở trong lĩnh vực của phẩm tính, và chưa nói đến bất kỳ biểu lộ hữu hình nào qua hình tướng.

9. A word should be said about why the “will-to-good” is related to quality, and to the second aspect of the will. The “Good” is related to fulfillment, to the rounding out and mutual enhancement of all qualities within any whole. The “will-to-fulfillment” is the second type of will in the series, “will-to-create”, “will-to-good”, “will-that-conquers-death”. There is, therefore, a relationship between the “will-to-good” and the “will-to-fulfillment”, for, essentially, “fulfillment” is the “good”. The “Good” arises through right relationships reflective of the Divine Archetype. The “will-to-good” is the will to the achievement or fulfillment of that Archetype. This is much different than the pure will to be or simply to persist (really a more fundamental quality of the will than the “will-to-good”).

9. Cần nói một lời về lý do vì sao “Ý Chí-hướng Thiện” liên hệ với phẩm tính, và với phương diện thứ hai của ý chí. “Thiện” liên hệ với sự viên mãn, với sự hoàn thiện trọn vẹn và tăng cường hỗ tương của mọi phẩm tính bên trong bất kỳ toàn thể nào. “Ý Chí-viên mãn” là loại ý chí thứ hai trong chuỗi “Ý Chí-sáng tạo”, “Ý Chí-hướng Thiện”, “Ý Chí-chinh phục sự chết”. Do đó, có một mối liên hệ giữa “Ý Chí-hướng Thiện” và “Ý Chí-viên mãn”, bởi vì, về bản chất, “viên mãn” chính là “thiện”. “Thiện” phát sinh qua các mối liên hệ đúng đắn phản ánh Nguyên Mẫu Thiêng Liêng. “Ý Chí-hướng Thiện” là ý chí hướng tới việc thành tựu hay hoàn thành Nguyên Mẫu ấy. Điều này rất khác với ý chí thuần túy muốn hiện hữu hay đơn giản là muốn tồn tại bền bỉ, thật ra là một phẩm tính căn bản hơn của ý chí so với “Ý Chí-hướng Thiện”.

10. The “will-to-know” is obviously connected with the third aspect of divinity. It is not enough for the identification of the part and the whole to remain simply that—an identification. This identification must have results—specific results—‘below’. Triadal qualification is the first step towards specificity, but the monad becomes really effective in relation to the worlds of form by means of the “will-to-know”. We are saying that the simultaneous realization of part and whole is “developed” by means of the “will-to-know”. What can the term “developed” mean in this context”? We can say that, through this development, the realization of part and whole is eventually made pervasive in all lower states of matter. This realization does not remain only on its own high planes—it descends, until, eventually, God knows Himself as He is, thoroughly, on all planes. There is surely much that remains to be “developed” (“from the consciousness angle”) before the primary focus of the residual “point of light” focusses purely monadically and, subsequently, with what can justifiably be called “universality”.

10. “Ý Chí-biết” rõ ràng liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính. Việc đồng hóa phần và toàn thể chỉ đơn giản còn lại như thế—một sự đồng hóa—là chưa đủ. Sự đồng hóa này phải có kết quả—những kết quả cụ thể—‘ở bên dưới’. Sự phẩm định của Tam nguyên tinh thần là bước đầu tiên hướng tới tính cụ thể, nhưng chân thần trở nên thật sự hữu hiệu trong tương quan với các thế giới của hình tướng nhờ “Ý Chí-biết”. Chúng ta đang nói rằng sự chứng nghiệm đồng thời về phần và toàn thể được “phát triển” nhờ “Ý Chí-biết”. Thuật ngữ “phát triển” có thể hàm ý gì trong ngữ cảnh này? Chúng ta có thể nói rằng, qua sự phát triển này, chứng nghiệm về phần và toàn thể cuối cùng được làm cho thấm khắp trong mọi trạng thái thấp hơn của vật chất. Chứng nghiệm này không chỉ ở lại trên các cõi cao của chính nó—nó giáng xuống, cho đến khi cuối cùng, Thượng đế biết Chính Ngài như Ngài là, một cách thấu triệt, trên mọi cõi. Chắc chắn còn nhiều điều phải được “phát triển”, xét “từ góc độ tâm thức”, trước khi tiêu điểm chính yếu của “điểm sáng” còn lại tập trung một cách thuần túy chân thần, và sau đó, với điều có thể được gọi một cách chính đáng là “tính phổ quát”.

11. But, lest we think that these three aspects of the will have a purely microcosmic application, the Tibetan assures us that in the being of the Solar Logos, these three types of will are expressing in perfection. Their “medium of expression” is the Planetary Logos. Their expression through man is quite tertiary and seems almost an incidental—resulting because the monad is a constituent of one or other center in a Planetary Logos.

11. Nhưng để chúng ta khỏi nghĩ rằng ba phương diện này của ý chí chỉ có ứng dụng thuần túy tiểu thiên địa, Chân sư Tây Tạng bảo đảm với chúng ta rằng trong bản thể của Thái dương Thượng đế, ba loại ý chí này đang biểu lộ trong sự toàn hảo. “Phương tiện biểu lộ” của chúng là Hành Tinh Thượng đế. Sự biểu lộ của chúng qua con người là khá thứ yếu và dường như gần như chỉ là điều phụ thuộc—phát sinh vì chân thần là một thành tố của trung tâm này hay trung tâm khác trong một Hành Tinh Thượng đế.

12. We can see however that to the extent we can participate in the “will-to-be”, the “will-to-good” and the “will-to-know”, we will be functioning increasingly as a factor of significance within the Planetary Logos.

12. Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy rằng trong chừng mực chúng ta có thể tham dự vào “Ý Chí-hiện hữu”, “Ý Chí-hướng Thiện” và “Ý Chí-biết”, chúng ta sẽ ngày càng vận hành như một yếu tố có thâm nghĩa bên trong Hành Tinh Thượng đế.

This will is therefore working out in seven ways, via the living qualities of the seven planetary Logoi Who express Themselves through the seven sacred planets; They are preoccupied with the endeavour of bringing all the forms of life within the orbit of Their influence up to the same measure of recorded recognition and of registered existence. It will be obvious to you, consequently, that on each of the seven sacred planets one aspect of the divine Will will be dominant.

Do đó, ý chí này đang được thể hiện theo bảy cách, qua các phẩm tính sống động của bảy Hành Tinh Thượng đế, Các Ngài biểu lộ Chính Mình qua bảy hành tinh thiêng liêng; Các Ngài chú tâm vào nỗ lực nâng mọi hình tướng của sự sống nằm trong quỹ đạo ảnh hưởng của Các Ngài lên cùng một mức độ nhận biết được ghi nhận và hiện hữu được đăng ký. Vì vậy, đối với các bạn, rõ ràng là trên mỗi một trong bảy hành tinh thiêng liêng, một phương diện của Ý Chí thiêng liêng sẽ chiếm ưu thế.

1. The Planetary Logoi in this solar system are functioning predominantly through Their soul aspect, for this is (from one method of enumeration) the second of three major solar systems. It would seem that Planetary Logoi, like human beings, are found on only three major monadic rays, though there would be a potential for seven subrays monadically considered, and these subrays would be of great importance.

1. Các Hành Tinh Thượng đế trong hệ mặt trời này đang vận hành chủ yếu qua phương diện linh hồn của Các Ngài, vì đây là, theo một phương pháp liệt kê, hệ mặt trời thứ hai trong ba hệ mặt trời chính. Dường như các Hành Tinh Thượng đế, giống như con người, chỉ được thấy trên ba cung chân thần chính, dù sẽ có tiềm năng cho bảy cung phụ xét theo phương diện chân thần, và các cung phụ này sẽ có tầm quan trọng rất lớn.

2. Such planets as Venus (which can be hypothesized as having a monad on the sixth ray) would, in terms of its major monadic ray, be on the second, whereas a planet like Mercury, with a proposed fifth ray monad, would be, in terms of its major monadic ray, upon the third. Some very interesting speculations can arise from this line of thought.

2. Những hành tinh như Sao Kim, có thể được giả định là có một chân thần trên cung sáu, xét theo cung chân thần chính của nó, sẽ thuộc cung hai; trong khi một hành tinh như Sao Thủy, với một chân thần cung năm được đề xuất, xét theo cung chân thần chính của nó, sẽ thuộc cung ba. Một số suy đoán rất thú vị có thể nảy sinh từ dòng tư tưởng này.

3. We note that the will expresses in seven “ways” and thus, through seven “rays”.

3. Chúng ta lưu ý rằng ý chí biểu lộ theo bảy “cách”, và do đó qua bảy “cung”.

4. In the case of the majority of the sacred planets (and perhaps, at this time, for all) it is the will-to-good which is primarily in expression, emanating from the Solar Logos and reflected through the Planetary Logoi:

4. Trong trường hợp đa số các hành tinh thiêng liêng, và có lẽ vào lúc này là tất cả, chính Ý Chí-hướng Thiện đang biểu lộ chủ yếu, xuất lộ từ Thái dương Thượng đế và được phản chiếu qua các Hành Tinh Thượng đế:

5. We gather that the Planetary Logoi are attempting to raise all forms of life within the orbit of Their influence up to the same measure of recorded recognition as their own. This is a stupendous idea. And says something about the level of sacrifice typical of their functioning.

5. Chúng ta hiểu rằng các Hành Tinh Thượng đế đang cố gắng nâng mọi hình tướng của sự sống trong quỹ đạo ảnh hưởng của Các Ngài lên cùng một mức độ nhận biết được ghi nhận như của chính Các Ngài. Đây là một ý tưởng vĩ đại phi thường. Và nó nói lên điều gì đó về cấp độ hy sinh tiêu biểu cho cách vận hành của Các Ngài.

6. Could we devise conceptions about the seven kinds of will working out through the seven sacred planets? Here are some propositions (while admitting the hopelessness of stating the will of a great Logos in terms of a simple word or two)

6. Liệu chúng ta có thể hình thành những quan niệm về bảy loại ý chí đang được thể hiện qua bảy hành tinh thiêng liêng không? Sau đây là một vài mệnh đề, dù thừa nhận sự bất khả trong việc diễn đạt ý chí của một Thượng đế vĩ đại bằng một hay hai từ đơn giản.

a. Uranus: the will to archetypalize (to transform existing patterns into patterns reflective of archetypes).

a. Sao Thiên Vương: ý chí làm cho trở nên nguyên mẫu, tức chuyển đổi các mô hình hiện hữu thành những mô hình phản ánh các nguyên mẫu.

b. Neptune: the will to transcendence (to permeate and transcend)

b. Sao Hải Vương: ý chí hướng tới sự siêu vượt, tức thấm nhập và siêu vượt.

c. Saturn: the will to law

c. Sao Thổ: ý chí hướng tới định luật.

d. Vulcan: the will to impress

d. Vulcan: ý chí gây ấn tượng.

e. Mercury: the will to correlate

e. Sao Thủy: ý chí tương liên.

f. Venus: the will to refine

f. Sao Kim: ý chí tinh luyện.

g. Jupiter: the will to fuse into wholeness

g. Sao Mộc: ý chí dung hợp vào tính toàn vẹn.

D. Paragraph 3

D. Đoạn 3

1. The significance of Space is the field wherein states of Being are brought to the stage of recognition. (cf. RI p. 106)

1. Thâm nghĩa của Không Gian là trường trong đó các trạng thái Hiện Hữu được đưa đến giai đoạn nhận biết. (xem sách Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo, tr. 106)

2. When that stage has been reached and the Knower, the Soul, is fully aware and fully conscious, then there enters in a new factor which also affects space but which is related to the monadic Life. That factor is Time. (cf. RI p. 106-107)

2. Khi giai đoạn ấy đã đạt đến và Thức giả, Linh hồn, hoàn toàn nhận biết và hoàn toàn hữu thức, thì một yếu tố mới bước vào, yếu tố này cũng ảnh hưởng đến không gian nhưng liên hệ với Sự Sống chân thần. Yếu tố ấy là Thời Gian. (xem sách Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo, tr. 106-107)

3. Time is related to the will aspect and is dependent upon the dynamic life, self-directed, which produces persistence and which demonstrates persistence in that dynamic focus of intention by periodic or cyclic appearance. (cf. RI p. 107)

3. Thời Gian liên hệ với phương diện ý chí và tùy thuộc vào sự sống năng động, tự định hướng, vốn tạo ra sự bền bỉ và biểu lộ sự bền bỉ trong tiêu điểm năng động ấy của ý định bằng sự xuất hiện định kỳ hay theo chu kỳ. (xem sách Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo, tr. 107)

This is the significance of Space—the field wherein states of Being are brought to the stage of recognition. When that stage has been reached and the Knower, the Soul, is fully aware and fully conscious, then there enters [Page 107] in a new factor which also affects space—though in a different way—but which is related to the monadic Life. That factor is Time. Time is related to the will aspect and is dependent upon the dynamic life, self-directed, which produces persistence and which demonstrates persistence in that dynamic focus of intention by periodic or cyclic appearance.

Đây là thâm nghĩa của Không Gian—trường trong đó các trạng thái Hiện Hữu được đưa đến giai đoạn nhận biết. Khi giai đoạn ấy đã đạt đến và Thức giả, Linh hồn, hoàn toàn nhận biết và hoàn toàn hữu thức, thì bước vào [Trang 107] một yếu tố mới, yếu tố này cũng ảnh hưởng đến không gian—dù theo một cách khác—nhưng liên hệ với Sự Sống chân thần. Yếu tố ấy là Thời Gian. Thời Gian liên hệ với phương diện ý chí và tùy thuộc vào sự sống năng động, tự định hướng, vốn tạo ra sự bền bỉ và biểu lộ sự bền bỉ trong tiêu điểm năng động ấy của ý định bằng sự xuất hiện định kỳ hay theo chu kỳ.

1. This is a brilliant definition of Space. A “state of Being” is a sustained state of vibration. Many are such vibratory levels, but they exist in a state of non-recognition with respect to the multitudinous beings who function at ‘lower’ levels of vibration.

1. Đây là một định nghĩa xuất sắc về Không Gian. Một “trạng thái Hiện Hữu” là một trạng thái rung động được duy trì. Có nhiều cấp độ rung động như thế, nhưng chúng hiện hữu trong trạng thái không được nhận biết đối với vô số hữu thể đang vận hành ở các cấp độ rung động ‘thấp hơn’.

2. In this definition, we see the blending of Being and Consciousness, for a “state of recognition” is a state of consciousness.

2. Trong định nghĩa này, chúng ta thấy sự hòa quyện của Hiện Hữu và Tâm thức, bởi vì một “trạng thái nhận biết” là một trạng thái tâm thức.

3. Things “are as they are” and Being, simply, is, but what is registered, recorded and acknowledged about that which is?

3. Mọi sự “là như chính chúng là” và Hiện Hữu, đơn giản, hiện hữu; nhưng điều gì được đăng ký, ghi nhận và thừa nhận về cái đang hiện hữu?

4. Note that DK uses the word “significance” rather than “meaning”, showing us that He is thinking in relation to purpose.

4. Hãy lưu ý rằng Chân sư DK dùng từ “thâm nghĩa” thay vì “ý nghĩa”, cho chúng ta thấy rằng Ngài đang suy tư trong tương quan với mục đích.

5. If we wish to speak of the purpose of Space or of a particular field of Space, that purpose is the elevation of the consciousnesses confined to that field.

5. Nếu chúng ta muốn nói về mục đích của Không Gian hay của một trường Không Gian đặc thù, thì mục đích ấy là nâng cao các tâm thức bị giới hạn trong trường ấy.

6. Being is what it is, but what it is has to be discovered, cognised. It is consciousness which (in any field, system or cosmos) is the factor of growth. Pure Being does not grow, but the realization of Being intensifies and grows.

6. Hiện Hữu là cái nó là, nhưng cái nó là phải được khám phá, được nhận thức. Chính tâm thức, trong bất kỳ trường, hệ thống hay vũ trụ nào, là yếu tố tăng trưởng. Hiện Hữu thuần túy không tăng trưởng, nhưng sự chứng nghiệm về Hiện Hữu thì tăng cường và lớn lên.

7. In this discussion we are dealing with the “sutratma” which is related to Being, and with the antahkarana, related to Consciousness.

7. Trong cuộc bàn luận này, chúng ta đang đề cập đến “sinh mệnh tuyến”, liên hệ với Hiện Hữu, và đến antahkarana, liên hệ với Tâm thức.

8. Additionally, we are dealing with the function of two aspects of man within the field of Space. First, we are dealing with the manner in which soul functions within the field of Space; soul brings that which is (namely, Being) into consciousness, into the light.

8. Thêm nữa, chúng ta đang đề cập đến chức năng của hai phương diện nơi con người trong trường Không Gian. Trước hết, chúng ta đề cập đến cách thức linh hồn vận hành trong trường Không Gian; linh hồn đưa cái đang hiện hữu, tức Hiện Hữu, vào tâm thức, vào ánh sáng.

9. Then, a new factor related to monadic life, enters our consideration. That factor is Time. We are interested here not just in Time, per se, but in the manner in which Time functions within the field of Space

9. Rồi một yếu tố mới liên hệ với sự sống chân thần bước vào sự xem xét của chúng ta. Yếu tố ấy là Thời Gian. Ở đây, chúng ta không chỉ quan tâm đến chính Thời Gian, mà đến cách thức Thời Gian vận hành trong trường Không Gian.

10. As a generalization, we can say that Time is related to monadic life and Space is related to soul life. Time, then, is related to sutratma and Space to antahkarana.

10. Như một khái quát, chúng ta có thể nói rằng Thời Gian liên hệ với sự sống chân thần, còn Không Gian liên hệ với sự sống linh hồn. Do đó, Thời Gian liên hệ với sinh mệnh tuyến, và Không Gian với antahkarana.

11. It is interesting here that Time is related to “dynamic life” which, itself, produces “persistence”—persistence in a “dynamic focus of intention” which demonstrates through periodicity and cyclicity.

11. Điều thú vị ở đây là Thời Gian liên hệ với “sự sống năng động”, vốn tự nó tạo ra “sự bền bỉ”—sự bền bỉ trong một “tiêu điểm năng động của ý định”, biểu lộ qua tính định kỳ và tính chu kỳ.

12. There is a continuous Will behind the constantly recurring cycles of appearance and disappearance.

12. Có một Ý Chí liên tục đứng sau các chu kỳ xuất hiện và biến mất không ngừng tái diễn.

13. Then how is it that Time affects Space, for in a way, Time is an aspect superior to Space? (In another way Time and Space—with Motion—are equal and coeval.)

13. Vậy thì Thời Gian ảnh hưởng đến Không Gian như thế nào, bởi vì theo một nghĩa nào đó, Thời Gian là một phương diện cao hơn Không Gian? Theo một nghĩa khác, Thời Gian và Không Gian—cùng với Chuyển Động—là ngang bằng và đồng thời.

14. We can say that Time (dependent upon and supported by “dynamic life”) can be called ‘sustained entification’. Time, in essence is ‘will-sustained-entification’ by means of which states of Being can be brought to the stage of recognition. This kind of fulfilment, via the Will-to-Good “takes time”. The completion of all processes takes time—requires time. Without Time no process is possible

14. Chúng ta có thể nói rằng Thời Gian, tùy thuộc vào và được nâng đỡ bởi “sự sống năng động”, có thể được gọi là ‘sự thực-thể-hóa được duy trì’. Về bản chất, Thời Gian là ‘sự-thực-thể-hóa-được-ý-chí-duy-trì’, nhờ đó các trạng thái Hiện Hữu có thể được đưa đến giai đoạn nhận biết. Loại viên mãn này, qua Ý Chí-hướng Thiện, “cần có thời gian”. Sự hoàn tất mọi tiến trình cần có thời gian—đòi hỏi thời gian. Không có Thời Gian thì không tiến trình nào có thể xảy ra.

15. We might say that ‘Time sustains Space’, just as the Father (“Father Time”) is the sustaining aspect—sustaining the Mother.

15. Chúng ta có thể nói rằng ‘Thời Gian duy trì Không Gian’, cũng như Cha, tức “Cha Thời Gian”, là phương diện duy trì—duy trì Mẹ.

16. Time is related to the monad, and, simply understood, the monad is the sustaining aspect of the human constitution. The monad (in a way, related to Vulcan) provides endurance and sustainment-through-time of those ‘relationships in space’ which are the human being. All human vehicles are ‘relationships in space’.

16. Thời gian liên hệ với chân thần, và, hiểu một cách đơn giản, chân thần là phương diện duy trì của cấu tạo con người. Chân thần, theo một cách nào đó liên hệ với Vulcan, cung cấp sức bền và sự duy trì-xuyên-thời-gian cho những ‘mối liên hệ trong không gian’ vốn con người. Tất cả các hiện thể của con người đều là ‘những mối liên hệ trong không gian’.

17. Microcosmically, and simply understood, the monad provides time, in which its intended processes can come to fulfilment. Each of the monad’s emanated aspects (spiritual triad, soul and the personality) has an ‘intended program of fulfillment’, and the monad provides the ‘sustainment-in-existence’ by means of which this can happen. The monad is much more a temporal factor than a spatial one.

17. Xét theo tiểu thiên địa, và hiểu một cách đơn giản, chân thần cung cấp thời gian, trong đó các tiến trình mà nó chủ định có thể đi đến thành tựu. Mỗi phương diện được xuất lộ của chân thần, Tam Nguyên Tinh Thần, linh hồn và phàm ngã, đều có một ‘chương trình thành tựu đã được chủ định’, và chân thần cung cấp ‘sự duy trì-trong-hiện-hữu’ nhờ đó điều này có thể xảy ra. Chân thần là một yếu tố thời gian hơn là một yếu tố không gian rất nhiều.

18. It has been said that “Time is God’s way of ensuring that everything does not happen at once!”

18. Người ta đã nói rằng “Thời gian là cách Thượng đế bảo đảm rằng mọi sự không xảy ra cùng một lúc!”

19. Time is necessitated by entification, and entification is equivalent to limitation. Time is necessitated by the Principle of Limitation, which, in a way, creates Time through its cyclic appearance. The one thing which THAT ‘DOES’ is limit ITSELF (apparently).

19. Thời gian trở nên cần thiết do sự thực thể hóa, và sự thực thể hóa tương đương với giới hạn. Thời gian trở nên cần thiết do Nguyên khí Giới hạn, vốn, theo một cách nào đó, tạo ra Thời gian qua sự xuất hiện theo chu kỳ của nó. Điều duy nhất mà CÁI ẤY ‘LÀM’ là giới hạn CHÍNH NÓ, một cách biểu kiến.

20. Consciousness, when it cyclically exists, can only conceive in terms of Time. The conception of Time is an inescapable ‘Category of Perception’ The moment there are ‘this’ and ‘that’, the Factor of Time forces itself into consciousness as inescapable. When there no longer ‘this’ and ‘that’, Time ceases to exist.

20. Tâm thức, khi hiện hữu theo chu kỳ, chỉ có thể quan niệm theo những phạm trù của Thời gian. Quan niệm về Thời gian là một ‘Phạm trù Tri giác’ không thể tránh khỏi. Ngay khoảnh khắc có ‘cái này’ và ‘cái kia’, Yếu tố Thời gian tự áp đặt vào tâm thức như một điều không thể tránh khỏi. Khi không còn ‘cái này’ và ‘cái kia’ nữa, Thời gian chấm dứt hiện hữu.

E. Paragraph 4

E. Đoạn 4

From the angle of the Will or the Father, these appearances in time and through space are so small a part of the experience of the living Entity Whose life is lived on planes other than the physical, emotional or mental, that they are regarded as no life. To understand this, we must seek to understand the sum total in the light of the part, the Macrocosm in the light of the Microcosm. (cf. RI p. 107)

Từ góc độ của Ý Chí hay của Cha, những sắc tướng này trong thời gian và xuyên qua không gian chỉ là một phần rất nhỏ trong kinh nghiệm của Thực Thể sống động, Đấng có sự sống được sống trên các cõi khác với cõi hồng trần, cảm dục hay trí tuệ, đến nỗi chúng được xem như không phải là sự sống. Để thấu hiểu điều này, chúng ta phải tìm cách thấu hiểu toàn thể tổng hợp dưới ánh sáng của bộ phận, Đại thiên địa dưới ánh sáng của Tiểu thiên địa. (xem RI tr. 107)

From the angle of the Will or the Father, these appearances in time and through space are so small a part of the experience of the living Entity Whose life is lived on planes other than the physical, emotional or mental, that they are regarded as no life. To understand this, I would remind you again that we must seek to understand the sum total in the light of the part, the Macrocosm in the light of the Microcosm. That is no easy task and is necessarily most limited.

Từ góc độ của Ý Chí hay của Cha, những sắc tướng này trong thời gian và xuyên qua không gian chỉ là một phần rất nhỏ trong kinh nghiệm của Thực Thể sống động, Đấng có sự sống được sống trên các cõi khác với cõi hồng trần, cảm dục hay trí tuệ, đến nỗi chúng được xem như không phải là sự sống. Để thấu hiểu điều này, tôi xin nhắc lại với các bạn rằng chúng ta phải tìm cách thấu hiểu toàn thể tổng hợp dưới ánh sáng của bộ phận, Đại thiên địa dưới ánh sáng của Tiểu thiên địa. Đó không phải là nhiệm vụ dễ dàng và tất yếu là rất giới hạn.

1. The Tibetan, whose consciousness is, presumably, monadic (or very nearly so) tries to give us a sense of proportion.

1. Chân sư Tây Tạng, mà tâm thức của Ngài, có lẽ, thuộc chân thần, hoặc rất gần như thế, cố gắng trao cho chúng ta một Ý thức về tỉ lệ.

2. We are again speaking microcosmically. The “appearances in time and through space” (or ‘by the instrumentality of space’) are the appearances of our vehicles of expression—especially those in the lower three worlds.

2. Chúng ta lại đang nói theo tiểu thiên địa. “Những sắc tướng trong thời gian và xuyên qua không gian”, hay ‘bằng phương tiện của không gian’, là những sắc tướng của các hiện thể biểu đạt của chúng ta, đặc biệt là những hiện thể trong ba cõi thấp.

3. The experience of “the living Entity’ (the monad) is vast beyond our conception. The work of study with which we are engaged, is a piece of work undertaken ‘from below’ (as it were). As the lesser cannot include the greater, this work is subject to the probability of considerable error.

3. Kinh nghiệm của “Thực Thể sống động”, tức chân thần, thì bao la vượt ngoài quan niệm của chúng ta. Công việc nghiên cứu mà chúng ta đang tham gia là một phần việc được đảm nhận ‘từ bên dưới’, có thể nói như vậy. Vì cái nhỏ hơn không thể bao gồm cái lớn hơn, công việc này chịu khả năng có sai lầm đáng kể.

4. But such study, though inescapably subject to illusions, is a necessary aspect of the return of the part to the whole, and of the Mother/Son aspect to the Father aspect.

4. Nhưng sự nghiên cứu như thế, tuy không tránh khỏi chịu ảnh hưởng của các ảo tưởng, vẫn là một phương diện cần thiết trong sự trở về của bộ phận với toàn thể, và của phương diện Mẹ/Con với phương diện Cha.

F. Paragraph 5

F. Đoạn 5

1. The disciple knows or is learning to know that he is not this or that, but Life Itself. (cf. RI p. 107)

1. Đệ tử biết, hoặc đang học để biết, rằng y không phải là cái này hay cái kia, mà là chính Sự Sống. (xem RI tr. 107)

2. The disciple is not the physical body or its emotional nature; he is not, in the last analysis (a most occult phrase) the mind or that by which he knows. He is learning that that too must be transcended and superseded by intelligent love (only truly possible after the mind has been developed), and he begins to realise himself as the soul. (cf. RI p. 107)

2. Đệ tử không phải là thể xác hay bản chất cảm dục của nó; y không phải, trong phân tích sau cùng, một cụm từ huyền bí nhất, là thể trí hay cái nhờ đó y biết. Y đang học rằng điều ấy cũng phải được vượt qua và thay thế bằng tình thương thông tuệ, điều chỉ thật sự có thể có sau khi thể trí đã được phát triển, và y bắt đầu nhận ra chính mình là linh hồn. (xem RI tr. 107)

3. Later, comes the awful “moment in time” when, pendant in space, the disciple discovers that he is not the soul. What then is he? A point of divine dynamic will, focussed in the soul and arriving at awareness of Being through the use of form. (cf. RI p. 107)

3. Về sau, khoảnh khắc đầy kính úy “trong thời gian” đến, khi, treo lơ lửng trong không gian, đệ tử khám phá rằng y không phải là linh hồn. Vậy y là gì? Một điểm của ý chí thiêng liêng năng động, tập trung trong linh hồn và đạt tới sự nhận biết về Bản Thể qua việc sử dụng hình tướng. (xem RI tr. 107)

4. The disciple realises that he is Will, the ruler of time and the organiser, in time, of space. (cf. RI p. 107)

4. Đệ tử nhận ra rằng y là Ý Chí, chủ quản thời gian và là Đấng tổ chức không gian trong thời gian. (xem RI tr. 107)

5. Time and space are the “divine playthings” and can be used or not at will. (cf. RI p. 107)

5. Thời gian và không gian là những “đồ chơi thiêng liêng” và có thể được sử dụng hay không tùy ý chí. (xem RI tr. 107)

The disciple knows or is learning to know that he is not this or that, but Life Itself. He is not the physical body or its emotional nature; he is not, in the last analysis (a most occult phrase) the mind or that by which he knows. He is learning that that too must be transcended and superseded by intelligent love (only truly possible after the mind has been developed), and he begins to realise himself as the soul. Then, later, comes the awful “moment in time” when, pendant in space, he discovers that he is not the soul. What then is he? A point of divine dynamic will, focussed in the soul and arriving at awareness of Being through the use of form. He is Will, the ruler of time and the organiser, in time, of space. This he does, but ever with the reservation that time and space are the “divine playthings” and can be used or not at will.

Đệ tử biết, hoặc đang học để biết, rằng y không phải là cái này hay cái kia, mà là chính Sự Sống. Y không phải là thể xác hay bản chất cảm dục của nó; y không phải, trong phân tích sau cùng, một cụm từ huyền bí nhất, là thể trí hay cái nhờ đó y biết. Y đang học rằng điều ấy cũng phải được vượt qua và thay thế bằng tình thương thông tuệ, điều chỉ thật sự có thể có sau khi thể trí đã được phát triển, và y bắt đầu nhận ra chính mình là linh hồn. Rồi, về sau, khoảnh khắc đầy kính úy “trong thời gian” đến, khi, treo lơ lửng trong không gian, y khám phá rằng y không phải là linh hồn. Vậy y là gì? Một điểm của ý chí thiêng liêng năng động, tập trung trong linh hồn và đạt tới sự nhận biết về Bản Thể qua việc sử dụng hình tướng. Y là Ý Chí, chủ quản thời gian và là Đấng tổ chức, trong thời gian, của không gian. Y làm điều này, nhưng luôn với sự dè dặt rằng thời gian và không gian là những “đồ chơi thiêng liêng” và có thể được sử dụng hay không tùy ý chí.

1. This, of course, is a major learning. It is a fundamental discrimination—not a discrimination ‘within’ the worlds of form, revealing how this aspect of form is different from that aspect of form, but, rather, a discrimination between different orders of being It is, fundamentally, the discrimination of unity/wholeness from duality/partiality.

1. Điều này, dĩ nhiên, là một sự học hỏi chính yếu. Đó là một sự phân biện căn bản, không phải là sự phân biện ‘trong’ các thế giới hình tướng, mặc khải cách phương diện này của hình tướng khác với phương diện kia của hình tướng ra sao, mà đúng hơn là sự phân biện giữa những trật tự hiện hữu khác nhau. Về căn bản, đó là sự phân biện giữa nhất tính/toàn vẹn và nhị nguyên/tính bộ phận.

2. The Tibetan offers a little hint: He calls the phrase, “in the last analysis”, “a most occult phrase”. Perhaps, there is a phase of analysis which immediately precedes realization. The “last analysis” represents the point at which manas is ready to transition into buddhi. Once the “last analysis” is reached, no further analysis is possible. A different faculty has to be used if there is to be further penetration into reality—the faculty of intuition.

2. Chân sư Tây Tạng đưa ra một gợi ý nhỏ: Ngài gọi cụm từ “trong phân tích sau cùng” là “một cụm từ huyền bí nhất”. Có lẽ có một giai đoạn phân tích ngay trước sự chứng nghiệm. “Phân tích sau cùng” biểu thị điểm mà manas sẵn sàng chuyển tiếp vào Bồ đề. Một khi đã đạt đến “phân tích sau cùng”, không còn phân tích nào thêm nữa có thể có. Một năng lực khác phải được sử dụng nếu muốn thâm nhập sâu hơn vào thực tại, đó là năng lực trực giác.

3. This paragraph deals with the disidentification process, the successive repudiation of illusory ‘points of identification’.

3. Đoạn này đề cập đến tiến trình rút khỏi sự đồng hóa, sự lần lượt bác bỏ các ‘điểm đồng hóa’ hư ảo.

4. We note that mind is to be transcended or superseded by “intelligent” love and not just by love. This is an important transitional phase on the way to the pure love of the buddhic plane.

4. Chúng ta lưu ý rằng thể trí phải được vượt qua hay thay thế bằng tình thương “thông tuệ”, chứ không chỉ bằng tình thương. Đây là một giai đoạn chuyển tiếp quan trọng trên con đường đi tới tình thương thuần khiết của cõi Bồ đề.

5. When we think of “intelligent” love, we necessarily think of Venus—a planet representing the blending of the manasic and the love aspects. Venus, for us, is the foremost planet of the soul. What we normally call “soul” is a blend of light and love, of intelligence and love—it is the second or “love” aspect focussed on the manasic plane (though the “power” aspect is also somewhat present). Neptune, perhaps, should be considered a planet of pure love—at least the higher aspects of Neptune relate to love in all its purity.

5. Khi nghĩ đến tình thương “thông tuệ”, tất yếu chúng ta nghĩ đến Sao Kim, một hành tinh biểu trưng cho sự hòa quyện giữa phương diện manas và phương diện tình thương. Đối với chúng ta, Sao Kim là hành tinh nổi bật nhất của linh hồn. Điều chúng ta thường gọi là “linh hồn” là sự hòa quyện của ánh sáng và tình thương, của trí tuệ và tình thương; đó là phương diện thứ hai hay phương diện “tình thương” tập trung trên cõi manas, dù phương diện “quyền năng” cũng hiện diện phần nào. Sao Hải Vương, có lẽ, nên được xem là một hành tinh của tình thương thuần khiết, ít nhất các phương diện cao của Sao Hải Vương liên hệ với tình thương trong toàn bộ sự tinh khiết của nó.

6. It is interesting that, in Rule IV, which deals with attaining freedom from the lesser lives, and with the dispersal or return of those lives to the “reservoir of life”, the Tibetan says so many profound things about the human being’s true monadic identity.

6. Điều thú vị là, trong Quy luật IV, vốn đề cập đến việc đạt được tự do khỏi các sự sống nhỏ bé hơn, và đến sự phân tán hay trở về của những sự sống ấy vào “hồ chứa sự sống”, Chân sư Tây Tạng nói rất nhiều điều sâu sắc về bản sắc chân thần đích thực của con người.

7. All of us will one day experience an “awful moment in time”, when we discover that we are not the soul. The meaning is that it will be a moment ‘full of awe’ and amazement—rather than a moment which is negatively terrible.

7. Một ngày nào đó tất cả chúng ta sẽ trải nghiệm một “khoảnh khắc đầy kính úy trong thời gian”, khi chúng ta khám phá rằng mình không phải là linh hồn. Ý nghĩa là đó sẽ là một khoảnh khắc ‘đầy kính úy’ và kinh ngạc, hơn là một khoảnh khắc khủng khiếp theo nghĩa tiêu cực.

8. The unexpected will “come into view”, and we shall feel both small, indeed, and yet far more vast than ever before.

8. Điều bất ngờ sẽ “hiện ra trước mắt”, và chúng ta sẽ cảm thấy mình thật nhỏ bé, nhưng đồng thời lại bao la hơn trước kia rất nhiều.

9. What does it mean that we shall be “pendant in space” during this “awful moment in time”? To be “pendant” means to be hanging or suspended. This is no mere figure of speech, for indeed the spark hangs from the flame by the most refined “thread of Fohat”. No matter where we are in the ‘Sphere of Space’ we are “pendant” from the monad, which, itself, it pendant from the Universal Spirit.

9. Điều đó có nghĩa gì khi nói rằng chúng ta sẽ “treo lơ lửng trong không gian” trong “khoảnh khắc đầy kính úy trong thời gian” này? “Treo lơ lửng” có nghĩa là bị treo hay lơ lửng. Đây không chỉ là một hình ảnh tu từ, vì quả thật tia lửa treo từ ngọn lửa bằng “sợi dây Fohat” tinh vi nhất. Dù chúng ta ở đâu trong ‘Khối Cầu Không Gian’, chúng ta vẫn “treo lơ lửng” từ chân thần, mà chính nó cũng treo lơ lửng từ Tinh Thần Vũ Trụ.

10. When one is “pendant”, it is as if one has lost one’s foundation (at least a foundation found ‘below’—the normal place for foundations). At such a moment, one feels that one has lost one’s ‘basis’, the ‘place whereon one stands’. One feels oneself to be in a ‘fathomless’ situation, with no way to be ‘upheld’. One may, for a ‘time’ feel lost, until it is realized that the foundation must be sought ‘above’, within one’s true Source, and that that from which one is pendant is the true Foundation and Root.

10. Khi một người “treo lơ lửng”, như thể người ấy đã mất nền tảng của mình, ít nhất là nền tảng được tìm thấy ‘ở bên dưới’, nơi thông thường của các nền tảng. Trong khoảnh khắc như thế, người ấy cảm thấy mình đã mất ‘cơ sở’, ‘nơi mình đứng’. Người ấy cảm thấy mình ở trong một tình trạng ‘không đáy’, không có cách nào để được ‘nâng đỡ’. Trong một ‘thời gian’, người ấy có thể cảm thấy lạc mất, cho đến khi nhận ra rằng nền tảng phải được tìm kiếm ‘ở bên trên’, trong Cội Nguồn đích thực của mình, và cái mà từ đó người ấy treo lơ lửng chính là Nền Tảng và Gốc Rễ chân thật.

11. All such realizations are the result of a Great Abstraction (deriving from the first aspect of divinity).

11. Tất cả những chứng nghiệm như thế đều là kết quả của một Sự Trừu Ly Vĩ Đại, phát sinh từ phương diện thứ nhất của thiên tính.

12. What am I? What are we? This is one of the places in which the Tibetan offers an arresting definition of the Self.

12. Tôi là gì? Chúng ta là gì? Đây là một trong những chỗ Chân sư Tây Tạng đưa ra một định nghĩa gây chú ý về Bản Ngã.

A point of divine dynamic will, focussed in the soul and arriving at awareness of Being through the use of form.”

“Một điểm của ý chí thiêng liêng năng động, tập trung trong linh hồn và đạt tới sự nhận biết về Bản Thể qua việc sử dụng hình tướng.”

When it comes to identity, the idea of the “point” is inescapable. As a monad we are a “point” which is a ‘dimensionless presence possessed of will, love and intelligence’. This point is dynamic because within it is power and the ability to move things.

Khi nói đến bản sắc, ý tưởng về “điểm” là điều không thể tránh khỏi. Với tư cách là chân thần, chúng ta là một “điểm”, tức một ‘hiện diện không chiều kích, sở hữu ý chí, tình thương và trí tuệ’. Điểm này năng động vì bên trong nó có quyền năng và khả năng làm chuyển động sự vật.

13. For that point to be focussed in the soul means that it is experiencing relationship on a certain level of vibration. (Somehow, in cosmos, the experience of relationship on some vibratory level or another is inevitable.)

13. Việc điểm ấy được tập trung trong linh hồn có nghĩa là nó đang trải nghiệm mối liên hệ trên một cấp độ rung động nào đó. Bằng cách nào đó, trong vũ trụ, kinh nghiệm về mối liên hệ trên cấp độ rung động này hay cấp độ rung động khác là điều không thể tránh khỏi.

14. Why is it that this “point of dynamic will” has to arrive at “awareness of Being”? Is it not, intrinsically, aware of Being, since essentially, it is Being, itself? We are reminded that in the Field of Space “states of Being are brought to the stage of recognition”.

14. Tại sao “điểm của ý chí năng động” này phải đạt tới “sự nhận biết về Bản Thể”? Chẳng phải, tự bản chất, nó đã nhận biết về Bản Thể sao, vì về cốt yếu, nó chính Bản Thể? Chúng ta được nhắc rằng trong Trường Không Gian, “các trạng thái Bản Thể được đưa đến giai đoạn được nhận ra”.

15. It seems most reasonable to think that the monad is, indeed, essentially Self-aware, but it is not necessarily aware of itself as ‘Being within form’, for form obscures awareness of Being until form is overcome by Consciousness.

15. Có vẻ hợp lý nhất khi nghĩ rằng chân thần quả thật, về bản chất, tự nhận biết, nhưng nó không nhất thiết nhận biết chính mình như ‘Bản Thể trong hình tướng’, vì hình tướng che khuất sự nhận biết về Bản Thể cho đến khi hình tướng được Tâm thức vượt qua.

16. The disciple-as-monad is further aware of himself in the following way:

16. Đệ tử-với-tư-cách-là-chân-thần còn nhận biết chính mình theo cách sau:

“He is Will, the ruler of time and the organiser, in time, of space. This he does, but ever with the reservation that time and space are the ‘divine playthings’ and can be used or not at will”.

“Y là Ý Chí, chủ quản thời gian và là Đấng tổ chức, trong thời gian, của không gian. Y làm điều này, nhưng luôn với sự dè dặt rằng thời gian và không gian là những ‘đồ chơi thiêng liêng’ và có thể được sử dụng hay không tùy ý chí”.

17. Why is the Will the “ruler of time”? Time will cease unless the Will sustains cosmic duration. Time is simply the ‘will-sustained-continuation of the Cosmic Process’. There is discontinuance if and when the Process ceases. The Process will cease if the Will does not will the Process to continue. Thus Will causes continuance and continuance is Time, Therefore, Will is the “ruler of time” (as here stated). Will determines the appearance of Time.

17. Tại sao Ý Chí là “chủ quản thời gian”? Thời gian sẽ chấm dứt nếu Ý Chí không duy trì trường tồn vũ trụ. Thời gian chỉ đơn giản là ‘sự tiếp diễn của Tiến Trình Vũ Trụ do ý chí duy trì’. Có sự gián đoạn nếu và khi Tiến Trình chấm dứt. Tiến Trình sẽ chấm dứt nếu Ý Chí không muốn Tiến Trình tiếp tục. Như vậy, Ý Chí gây ra sự tiếp diễn, và sự tiếp diễn là Thời gian. Vì vậy, Ý Chí là “chủ quản thời gian”, như đã nêu ở đây. Ý Chí quyết định sự xuất hiện của Thời gian.

18. Will is also said to be the “organizer in time of space”. All things that ‘happen’, happen ‘in time’ Nothing can ‘happen’ outside the medium of Time. Time provides the possibility of limited occurrence, and since all occurrence is limited, Time provides the possibility of occurrence.

18. Ý Chí cũng được nói là “Đấng tổ chức không gian trong thời gian”. Mọi sự ‘xảy ra’ đều xảy ra ‘trong thời gian’. Không gì có thể ‘xảy ra’ bên ngoài môi trường của Thời gian. Thời gian cung cấp khả thể của sự xảy ra có giới hạn, và vì mọi sự xảy ra đều có giới hạn, Thời gian cung cấp khả thể của sự xảy ra.

19. PURE, ETERNAL DURATION is immeasurable. Time requires Maya and is measurable.

19. TRƯỜNG TỒN THUẦN KHIẾT, VĨNH CỬU là không thể đo lường. Thời gian đòi hỏi ảo lực và có thể đo lường.

20. What does it mean that space is to be organized? If ‘Space is Substance’, and Substance is the ‘mutual perception of all aggregated entities’, then it is the Will which determines (with the aid of its instrument, manas) how those entities shall be related. Space is Substance and Substance is the ‘mutual perception of aggregated entities’, but the patterns of aggregation are decided by Will (really, by the ‘Ultimate Perceiver’ ‘behind’ Will) as it surveys the possibilities of combination offered by Mind.

20. Điều đó có nghĩa gì khi nói rằng không gian phải được tổ chức? Nếu ‘Không gian là Chất liệu’, và Chất liệu là ‘sự tri giác hỗ tương của mọi thực thể được tập hợp’, thì chính Ý Chí quyết định, với sự trợ giúp của công cụ của nó là manas, các thực thể ấy sẽ liên hệ với nhau như thế nào. Không gian là Chất liệu và Chất liệu là ‘sự tri giác hỗ tương của các thực thể được tập hợp’, nhưng các mô hình tập hợp được quyết định bởi Ý Chí, thật ra là bởi ‘Đấng Tri Giác Tối Hậu’ ở ‘phía sau’ Ý Chí, khi Đấng ấy khảo sát những khả thể phối hợp do Trí Tuệ đưa ra.

21. The concept of Time and Space as playthings is novel and important. The Creator/Manipulator (which God-the-Monad essentially is) stands detached. Nothing the M/monad does can alter what it is.

21. Quan niệm về Thời gian và Không gian như những đồ chơi là mới mẻ và quan trọng. Đấng Sáng Tạo/Đấng Vận Dụng, mà Thượng đế-chân thần về cốt yếu như thế, đứng tách rời. Không điều gì Chân thần/chân thần làm có thể thay đổi cái mà nó là.

22. We human beings “play” when what we do is for the pleasure of doing it. To play is sheer creativity, performed “for the fun of it”, ‘for the joy of it’. At the end of play we can say, “it was only a game”. Essence remains and has not been touched or altered by play.

22. Con người chúng ta “chơi” khi điều chúng ta làm là vì niềm vui của chính việc làm ấy. Chơi là sự sáng tạo thuần túy, được thực hiện “cho vui”, ‘vì sự hoan hỉ của nó’. Khi cuộc chơi kết thúc, chúng ta có thể nói, “đó chỉ là một trò chơi”. Yếu tính vẫn còn và không bị chạm đến hay biến đổi bởi cuộc chơi.

23. If Time and Space can be used or not at will, the monad-Creator must be content and adequate within itself. Its world is other than the world of Time and Space, and it need not ‘take up” these “divine playthings”. The monad-Creator can do so if it will, but there is no compulsion to do so.

23. Nếu Thời gian và Không gian có thể được sử dụng hay không tùy ý chí, thì chân thần-Đấng Sáng Tạo phải tự mãn nguyện và đầy đủ trong chính mình. Thế giới của nó là khác với thế giới của Thời gian và Không gian, và nó không cần phải ‘cầm lấy’ những “đồ chơi thiêng liêng” này. Chân thần-Đấng Sáng Tạo có thể làm như vậy nếu nó muốn, nhưng không có sự cưỡng bách nào phải làm như vậy.

24. One’s view of the seriousness of life is entirely changed. Those immersed in Time and Space are immersed in the Creation and take it seriously because they have no conscious point of view ‘outside’ the Creation. Involvement in the World-Process is both serious and not serious. Its outcome makes no difference except in relation to the Process itself.

24. Cách nhìn của một người về tính nghiêm trọng của đời sống được thay đổi hoàn toàn. Những ai đắm chìm trong Thời gian và Không gian thì đắm chìm trong Cuộc Sáng Tạo và xem nó là nghiêm trọng vì họ không có điểm nhìn hữu thức nào ‘bên ngoài’ Cuộc Sáng Tạo. Sự tham dự vào Tiến Trình Thế Giới vừa nghiêm trọng vừa không nghiêm trọng. Kết quả của nó không tạo nên khác biệt nào ngoại trừ trong tương quan với chính Tiến Trình.

25. The Master or Chohan (as conscious monad) is focussed outside of Time and Space (as these two “categories of perception” are usually considered). They are utterly secure in their sense of being, and realize that they have had, and will have, an endlessness of creativity using Time and Space as the media of creation.

25. Chân sư hay Chohan, với tư cách là chân thần hữu thức, tập trung bên ngoài Thời gian và Không gian, như hai “phạm trù tri giác” này thường được xem xét. Các Ngài hoàn toàn an toàn trong ý thức về bản thể của mình, và nhận ra rằng Các Ngài đã có, và sẽ có, một sự sáng tạo vô tận khi sử dụng Thời gian và Không gian làm môi trường sáng tạo.

26. They are detached and blissful in Their detachment. They have become consciously a part of the Universal Creative Process.

26. Các Ngài tách rời và chí phúc trong sự tách rời của Các Ngài. Các Ngài đã trở thành một phần hữu thức của Tiến Trình Sáng Tạo Vũ Trụ.

G. Paragraph 6

G. Đoạn 6

1. The evocation of the will involves identity with the larger purpose. The little will of the little lives must be merged in the larger will of the whole. Individual purpose must be identified with group purpose, which is as much of the purpose of the Whole or the One Life as the little life can grasp at any given point in time and space. (cf. RI p. 107-108)

1. Sự gợi lên ý chí bao hàm sự đồng nhất với mục đích lớn hơn. Ý chí nhỏ bé của những sự sống nhỏ bé phải được hòa nhập vào Ý Chí lớn hơn của toàn thể. Mục đích cá nhân phải được đồng hóa với mục đích nhóm, vốn là phần mục đích của Toàn Thể hay của Sự Sống Duy Nhất mà sự sống nhỏ bé có thể nắm bắt tại bất cứ điểm nào trong thời gian và không gian. (xem RI tr. 107-108)

2. It is in this sense, esoterically understood, that time is an event. (cf. RI p. 108)

2. Chính theo nghĩa này, được hiểu một cách huyền bí, mà thời gian là một biến cố. (xem RI tr. 108)

We could paraphrase the last two sentences of this fourth rule as follows: The evocation of the will involves identity with the larger purpose. The little will of the little lives must be merged in the larger will of the whole. Individual purpose must be identified with group purpose, which is as much of the purpose of the Whole or the One Life as the little life can grasp at any given point in time [Page 108] and space. It is in this sense, esoterically understood, that time is an event—which philosophy now points out, groping towards an expression of the initiate consciousness.

Chúng ta có thể diễn giải hai câu cuối của quy luật thứ tư này như sau: Sự gợi lên ý chí bao hàm sự đồng nhất với mục đích lớn hơn. Ý chí nhỏ bé của những sự sống nhỏ bé phải được hòa nhập vào Ý Chí lớn hơn của toàn thể. Mục đích cá nhân phải được đồng hóa với mục đích nhóm, vốn là phần mục đích của Toàn Thể hay của Sự Sống Duy Nhất mà sự sống nhỏ bé có thể nắm bắt tại bất cứ điểm nào trong thời gian [Page 108] và không gian. Chính theo nghĩa này, được hiểu một cách huyền bí, mà thời gian là một biến cố, điều mà triết học hiện nay đang chỉ ra, khi dò dẫm hướng tới một biểu đạt của tâm thức điểm đạo đồ.

1. Purpose is a ‘Will-sustained pattern that is to manifest’.

1. Mục đích là một ‘mô hình do Ý Chí duy trì, sẽ biểu hiện’.

2. When the disciple-as-monad realizes that Purpose as his own, he is identified with it. Purpose is no longer something outside him. Purpose is, as it were, his creation.

2. Khi đệ tử-với-tư-cách-là-chân-thần nhận ra Mục đích ấy như của chính mình, y đồng hóa với nó. Mục đích không còn là điều gì ở bên ngoài y. Có thể nói, Mục đích là sáng tạo của y.

3. Identification with Purpose is then the ‘evocation of one’s own will-as-Will’.

3. Khi ấy, sự đồng hóa với Mục đích là ‘sự gợi lên ý chí-của-chính-mình như Ý Chí’.

4. All acts of will are ‘wayward’ until they derive from one’s own essential will-as-Will. As long as purpose is not one’s own, one is not truly engaged in Will.

4. Mọi hành vi của ý chí đều ‘lạc hướng’ cho đến khi chúng phát sinh từ ý chí thiết yếu của chính mình như Ý Chí. Bao lâu mục đích chưa phải là của chính mình, thì người ta chưa thật sự tham dự vào Ý Chí.

5. True Will grows out of an elevation of the sense of identity. The merging of one’s own little will with a larger will, is the discovery that the larger Will is, in fact, one’s own will.

5. Ý Chí chân thật lớn lên từ sự nâng cao ý thức về bản sắc. Sự hòa nhập ý chí nhỏ bé của chính mình vào một Ý Chí lớn hơn là khám phá rằng Ý Chí lớn hơn ấy, thật ra, chính là ý chí của mình.

6. The Tibetan stratifies purpose into individual purpose, group purpose and finally the purpose of the Whole—whatever that Whole that might be.

6. Chân sư Tây Tạng phân tầng mục đích thành mục đích cá nhân, mục đích nhóm, và cuối cùng là mục đích của Toàn Thể, dù Toàn Thể ấy là gì đi nữa.

7. As human beings, we are on our way to identifying with the Purpose of the Whole, but, in truth, that ‘day’ will not come until the “End Time”. Every larger whole with which we identify is not the Whole at all, but only a larger group.

7. Với tư cách con người, chúng ta đang trên đường đồng hóa với Mục đích của Toàn Thể, nhưng thật ra, ‘ngày’ ấy sẽ không đến cho đến “Thời Điểm Kết Thúc”. Mọi toàn thể lớn hơn mà chúng ta đồng hóa với đều không phải là Toàn Thể, mà chỉ là một nhóm lớn hơn.

8. At all points in time throughout the Cosmic Process (except for the ‘Moment of the End’) it is only possible to be identified with “group purpose”—but we must learn to interpret all great entities as groups. The Whole is not, per se, a group, as there are “none like unto it”, but it is composed of many groups.

8. Tại mọi điểm trong thời gian suốt Tiến Trình Vũ Trụ, ngoại trừ ‘Khoảnh Khắc Kết Thúc’, chỉ có thể đồng hóa với “mục đích nhóm”, nhưng chúng ta phải học cách diễn giải mọi thực thể vĩ đại như các nhóm. Toàn Thể, chính nó, không phải là một nhóm, vì “không có gì giống như nó”, nhưng nó được cấu thành bởi nhiều nhóm.

9. Group affiliation is always an opportunity for merging with a larger and more powerful context. As the individual is always really more than an individual, to merge progressively with groups is to expand the self until it becomes truer to its own nature. An individual self is a great limitation upon Self.

9. Sự liên kết nhóm luôn là một cơ hội để hòa nhập vào một bối cảnh lớn hơn và mạnh mẽ hơn. Vì cá nhân thật ra luôn nhiều hơn một cá nhân, nên việc hòa nhập dần dần với các nhóm là mở rộng bản ngã cho đến khi nó trở nên đúng hơn với bản chất của chính nó. Một bản ngã cá nhân là một giới hạn lớn đối với Bản Ngã.

10. The closer we come to merging with the purpose of the Whole, the greater the scope and power of the groups with which we find ourselves identified. Identification with the group called Hierarchy is one phase in the progress towards identification with the whole. Identification with Shamballa is a further phrase. Then there is the identification with the Group called the Planetary Whole, and eventually with the group called the Solar Systemic Whole. These vast wholes are nonetheless miniscule when compared to identification with the Whole, or with the One Life—the Universal Logos.

10. Chúng ta càng tiến gần đến sự hòa nhập với mục đích của Toàn Thể, phạm vi và quyền năng của các nhóm mà chúng ta thấy mình đồng hóa với đó càng lớn lao. Sự đồng hóa với nhóm được gọi là Thánh Đoàn là một giai đoạn trong tiến trình hướng tới sự đồng hóa với toàn thể. Sự đồng hóa với Shamballa là một giai đoạn xa hơn. Rồi đến sự đồng hóa với Nhóm được gọi là Toàn Thể Hành Tinh, và cuối cùng với nhóm được gọi là Toàn Thể Hệ Mặt Trời. Tuy vậy, những toàn thể rộng lớn này vẫn hết sức nhỏ bé khi so với sự đồng hóa với chính Toàn Thể, hay với Sự Sống Duy Nhất—Thượng đế Vũ Trụ.

H. Paragraph 7

H. Đoạn 7

1. When the path of evolution is trodden to its end, what remains will be the divine purpose and the all-enveloping Life as it materialises the plan in time and space. (cf. RI p. 108)

1. Khi con đường tiến hoá đã được đi đến tận cùng, điều còn lại sẽ là Thiên Ý và Sự Sống bao trùm tất cả khi Sự Sống ấy làm hiện hình Thiên Cơ trong thời gian và không gian. (xem RI, tr. 108)

2. The human being is first of all driven by desire, then by aspiration towards some visioned goal, then by his selfish will, which reveals to him the nature of the will: persistent application to some purpose, seen as desirable and to which every power is bent. Having exhausted all tangible goals, the inner life forces the man on towards the intangible, and the quality of his will begins to change. He discovers a larger will than his own and begins slowly to identify himself with it, proceeding stage by stage from one realised purpose to another higher one, each step removing him further from his own so-called will and bringing him nearer to an appreciation of the significance of the divine will or purpose. (cf. RI p. 108)

2. Trước hết, con người bị dục vọng thúc đẩy, rồi được khát vọng hướng về một mục tiêu đã được linh kiến thúc đẩy, rồi bởi ý chí ích kỷ của y, vốn mặc khải cho y bản chất của ý chí: sự áp dụng bền bỉ vào một mục đích nào đó, được xem là đáng khao khát và mọi quyền năng đều được uốn theo đó. Sau khi đã cạn kiệt mọi mục tiêu hữu hình, sự sống bên trong thúc đẩy con người tiến tới điều vô hình, và phẩm tính của ý chí y bắt đầu thay đổi. Y khám phá một Ý Chí lớn lao hơn ý chí của chính mình và bắt đầu chậm rãi đồng hóa mình với Ý Chí ấy, tiến từng giai đoạn từ một mục đích đã được chứng nghiệm sang một mục đích cao hơn khác, mỗi bước đưa y xa hơn khỏi cái gọi là ý chí của chính y và đưa y đến gần hơn với sự thẩm nhận thâm nghĩa của Ý Chí hay Thiên Ý thiêng liêng. (xem RI, tr. 108)

In the long run, literally when the path of evolution is trodden to its end, what remains will be the divine purpose and the all-enveloping Life as it materialises the plan in time and space. This is the result of the turning of the greater Wheel of life, causing all the lesser wheels—in time and space—also to turn. In the meantime, the human being is first of all driven by desire, then by aspiration towards some visioned goal, then by his selfish will, which reveals to him the nature of the will: persistent application to some purpose, seen as desirable and to which every power is bent. Having exhausted all tangible goals, the inner life forces the man on towards the intangible, and the quality of his will begins to change. He discovers a larger will than his own and begins slowly to identify himself with it, proceeding stage by stage from one realised purpose to another higher one, each step removing him further from his own so-called will and bringing him nearer to an appreciation of the significance of the divine will or purpose.

Về lâu dài, đúng theo nghĩa đen là khi con đường tiến hoá đã được đi đến tận cùng, điều còn lại sẽ là Thiên Ý và Sự Sống bao trùm tất cả khi Sự Sống ấy làm hiện hình Thiên Cơ trong thời gian và không gian. Đây là kết quả của sự chuyển động của Bánh Xe lớn hơn của sự sống, khiến mọi bánh xe nhỏ hơn—trong thời gian và không gian—cũng chuyển động. Trong khi đó, trước hết con người bị dục vọng thúc đẩy, rồi được khát vọng hướng về một mục tiêu đã được linh kiến thúc đẩy, rồi bởi ý chí ích kỷ của y, vốn mặc khải cho y bản chất của ý chí: sự áp dụng bền bỉ vào một mục đích nào đó, được xem là đáng khao khát và mọi quyền năng đều được uốn theo đó. Sau khi đã cạn kiệt mọi mục tiêu hữu hình, sự sống bên trong thúc đẩy con người tiến tới điều vô hình, và phẩm tính của ý chí y bắt đầu thay đổi. Y khám phá một Ý Chí lớn lao hơn ý chí của chính mình và bắt đầu chậm rãi đồng hóa mình với Ý Chí ấy, tiến từng giai đoạn từ một mục đích đã được chứng nghiệm sang một mục đích cao hơn khác, mỗi bước đưa y xa hơn khỏi cái gọi là ý chí của chính y và đưa y đến gần hơn với sự thẩm nhận thâm nghĩa của Ý Chí hay Thiên Ý thiêng liêng.

1. The Tibetan is essentializing for us. He is telling us what will remain after many eliminations have occurred,

1. Chân sư Tây Tạng đang cốt yếu hóa cho chúng ta. Ngài đang nói với chúng ta điều gì sẽ còn lại sau khi nhiều sự loại trừ đã xảy ra,

2. From a practical perspective, the “all-enveloping Life”, is the Life of the Planetary Logos. That will be more than sufficient for our purposes.

2. Từ góc nhìn thực tiễn, “Sự Sống bao trùm tất cả” là Sự Sống của Hành Tinh Thượng đế. Điều đó sẽ quá đủ cho các mục đích của chúng ta.

3. The Life, its Will and Plan, and the act of materializing that Plan (through Will) in Time and Space will preoccupy us for millennia to come, and we shall gradually merge with that Life, our will becoming its Will and our plan, its Plan.

3. Sự Sống, Ý Chí và Thiên Cơ của Sự Sống ấy, cùng hành vi làm hiện hình Thiên Cơ ấy bằng Ý Chí trong Thời Gian và Không Gian, sẽ chiếm trọn sự quan tâm của chúng ta trong nhiều thiên niên kỷ sắp tới, và chúng ta sẽ dần dần hòa nhập với Sự Sống ấy, ý chí của chúng ta trở thành Ý Chí của Sự Sống ấy, và kế hoạch của chúng ta trở thành Thiên Cơ của Sự Sống ấy.

4. Our identification at the time of consummation will be with the Great Life and, therefore, with a far Greater Wheel than the little wheels which comprise our individual self.. The smaller lives and the smaller wheels will no longer be successful in holding our sense of identity captive.

4. Sự đồng hóa của chúng ta vào thời điểm viên mãn sẽ là với Sự Sống Vĩ Đại và, do đó, với một Bánh Xe lớn lao hơn rất nhiều so với những bánh xe nhỏ bé cấu thành cái ngã cá nhân của chúng ta. Những sự sống nhỏ hơn và những bánh xe nhỏ hơn sẽ không còn có thể giữ ý thức bản sắc của chúng ta trong sự giam hãm nữa.

5. Here the Tibetan states the idea that was developed in the first part of this Commentary: the turning of the Greater Wheel causes all the lesser wheels to turn.

5. Ở đây Chân sư Tây Tạng nêu lên ý tưởng đã được triển khai trong phần đầu của Bài Bình Luận này: sự chuyển động của Bánh Xe Lớn hơn khiến mọi bánh xe nhỏ hơn chuyển động.

6. A wonderful description of human progress then follows. We can realize that the Tibetan is also describing the turning of lesser wheels within greater and greater wheels?

6. Tiếp theo là một mô tả tuyệt diệu về sự tiến bộ của con người. Chúng ta có thể nhận ra rằng Chân sư Tây Tạng cũng đang mô tả sự chuyển động của những bánh xe nhỏ hơn bên trong những bánh xe ngày càng lớn hơn chăng?

7. We note that in this process, selfishness comes first, and selfish will is necessary in order to reveal the nature of will.

7. Chúng ta lưu ý rằng trong tiến trình này, tính ích kỷ xuất hiện trước, và ý chí ích kỷ là cần thiết để mặc khải bản chất của ý chí.

8. We also notice that the quality of will begins to change as the objectives which the will pursues become more intangible.

8. Chúng ta cũng nhận thấy rằng phẩm tính của ý chí bắt đầu thay đổi khi các mục tiêu mà ý chí theo đuổi trở nên vô hình hơn.

9. A very important principle of progress is suggestion: the exhaustion of the tangible leads to the pursuit of the intangible.

9. Một nguyên lý rất quan trọng của sự tiến bộ là sự gợi ý: sự cạn kiệt của điều hữu hình dẫn đến việc theo đuổi điều vô hình.

10. The important thing to emerge in this description is the contrast between an individual’s “so-called will” and what the Will really is.

10. Điều quan trọng nổi lên trong mô tả này là sự tương phản giữa “cái gọi là ý chí” của một cá nhân và điều Ý Chí thật sự là.

11. Something of vital moment occurs during this process: the discovery of a larger Will than one’s own.

11. Một điều có tầm quan trọng thiết yếu xảy ra trong tiến trình này: sự khám phá một Ý Chí lớn lao hơn ý chí của chính mình.

12. We should pause and recollect: have we had such moments of discovery?

12. Chúng ta nên dừng lại và hồi tưởng: chúng ta đã từng có những khoảnh khắc khám phá như thế chưa?

13. Such moments also bring with them the sense of the Entity to Whom the larger Will belongs—for will, per se, is secondary to the Presence which sustains it.

13. Những khoảnh khắc như thế cũng đem theo cảm thức về Thực Thể mà Ý Chí lớn lao hơn ấy thuộc về—vì ý chí, chính nó, là thứ yếu so với Sự Hiện Diện nâng đỡ nó.

14. The process described is, generically, threefold: identification with one’s own will; the apprehension of a greater Will and the process of contrasting that greater Will with one’s own; the merging of one’s own will with the greater Will, or the transformation of one’s own will into the greater Will, or the discovery that the greater Will is really one’s own true will.

14. Tiến trình được mô tả, nói chung, là tam phân: sự đồng hóa với ý chí của chính mình; sự lĩnh hội một Ý Chí lớn lao hơn và tiến trình đối chiếu Ý Chí lớn lao hơn ấy với ý chí của chính mình; sự hòa nhập ý chí của chính mình với Ý Chí lớn lao hơn, hay sự chuyển đổi ý chí của chính mình thành Ý Chí lớn lao hơn, hoặc sự khám phá rằng Ý Chí lớn lao hơn thật raý chí chân thật của chính mình.

15. In all this we have to remember that we are larger than we may have suspected, that that the largeness that we essentially are has a Will which is greater and more encompassing that the ‘smallness’ which we thought ourselves to be.

15. Trong tất cả những điều này, chúng ta phải nhớ rằng chúng ta rộng lớn hơn điều mình có thể đã nghi ngờ, rằng sự rộng lớn mà trong bản chất chúng ta là có một Ý Chí lớn lao hơn và bao hàm hơn sự “nhỏ bé” mà chúng ta từng nghĩ mình là.

I. Paragraph 8

I. Đoạn 8

1. By the carrying out of the plan the disciple learns the nature of the purpose, but that the purpose itself can only be grasped by one who is developing monadic consciousness. (cf. RI p. 1089

1. Nhờ thực hiện Thiên Cơ, đệ tử học biết bản chất của mục đích, nhưng chính mục đích ấy chỉ có thể được nắm bắt bởi người đang phát triển tâm thức chân thần. (xem RI, tr. 108)

2. Monadic consciousness is not consciousness as human beings understand it, but is that state of apprehension which is not consciousness or realisation, as the mystic feels it, or identification, as the occultist terms it, but something that appears when all of these three are appreciated and registered in a moment of time within the orbit of space. (cf. RI p. 108)

2. Tâm thức chân thần không phải là tâm thức như con người hiểu, mà là trạng thái lĩnh hội vốn không phải là tâm thức hay sự chứng nghiệm như nhà thần bí cảm nhận, cũng không phải là sự đồng hóa như nhà huyền bí học gọi tên, mà là một điều xuất hiện khi cả ba điều này được thẩm nhận và ghi nhận trong một khoảnh khắc của thời gian bên trong quỹ đạo của không gian. (xem RI, tr. 108)

It might be stated, in an effort to clarify the method whereby this is done, that by the carrying out of the plan the disciple learns the nature of the purpose, but that the purpose itself can only be grasped by one who is developing monadic consciousness. Monadic consciousness is not consciousness as human beings understand it, but is that state of apprehension which is not consciousness or realisation, as the mystic feels it, or identification, as the occultist terms it, but something that appears when all of these three are appreciated and registered in a moment of time within the orbit of space.

Có thể nói rằng, trong nỗ lực làm sáng tỏ phương pháp nhờ đó điều này được thực hiện, rằng nhờ thực hiện Thiên Cơ, đệ tử học biết bản chất của mục đích, nhưng chính mục đích ấy chỉ có thể được nắm bắt bởi người đang phát triển tâm thức chân thần. Tâm thức chân thần không phải là tâm thức như con người hiểu, mà là trạng thái lĩnh hội vốn không phải là tâm thức hay sự chứng nghiệm như nhà thần bí cảm nhận, cũng không phải là sự đồng hóa như nhà huyền bí học gọi tên, mà là một điều xuất hiện khi cả ba điều này được thẩm nhận và ghi nhận trong một khoảnh khắc của thời gian bên trong quỹ đạo của không gian.

1. Practical advice is given. First carry out the Plan and Purpose will reveal itself. Plan is more a sequence of necessary steps to be accomplished in time. Purpose is the Pattern (sustained in the Mind and by the Will of God—the Planetary Logos) towards the consummation of which the execution of the Plan leads.

1. Lời khuyên thực tiễn được đưa ra. Trước hết hãy thực hiện Thiên Cơ, rồi Thiên Ý sẽ tự mặc khải. Thiên Cơ là một chuỗi các bước cần thiết phải được hoàn thành trong thời gian. Mục đích là Mô Hình được duy trì trong Trí và bởi Ý Chí của Thượng Đế—Hành Tinh Thượng đế—mà việc thực thi Thiên Cơ dẫn tới sự viên mãn của Mô Hình ấy.

2. Purpose, we learn, is monadic in its nature. The plane whereon the monad is focussed is a great ‘Plane of Archetypal Patterning’ (as far as the cosmic physical plane is concerned). The apprehension of the highest purpose for man-as-man requires that man be monadically sensitive and finally monadically focussed. To be monadically focussed means to be more aware of that which can be seen when identified as a monad than aware of anything else—which is hardly yet the case for the vast majority of those who form part of the Fourth Creative Hierarchy.

2. Chúng ta học được rằng mục đích có bản chất chân thần. Cõi mà chân thần tập trung trên đó là một “Cõi của sự Tạo Mẫu Nguyên Mẫu” vĩ đại xét theo cõi hồng trần vũ trụ. Sự lĩnh hội mục đích cao nhất dành cho con-người-như-con-người đòi hỏi con người phải nhạy bén theo chân thần và cuối cùng tập trung theo chân thần. Tập trung theo chân thần nghĩa là ý thức nhiều hơn về điều có thể được thấy khi đồng hóa như một chân thần so với bất cứ điều gì khác—điều này hầu như chưa phải là trường hợp của đại đa số những ai là thành phần của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư.

3. Another ultra-profound definition is here offered: monadic consciousness is not any one state; a number of factors contribute to making it what it is. It is consciousness and realization as the mystic feels these; it is also identification as the occultist terms it. But all three of these must be present simultaneously, appreciated and registered “in a moment of time within the orbit of space”.

3. Ở đây một định nghĩa siêu thâm sâu khác được đưa ra: tâm thức chân thần không phải là bất cứ một trạng thái nào; nhiều yếu tố góp phần làm cho nó trở thành điều nó là. Nó là tâm thức và sự chứng nghiệm như nhà thần bí cảm nhận những điều này; nó cũng là sự đồng hóa như nhà huyền bí học gọi tên. Nhưng cả ba điều này phải hiện diện đồng thời, được thẩm nhận và ghi nhận “trong một khoảnh khắc của thời gian bên trong quỹ đạo của không gian”.

4. With respect to consciousness, one is sensitive to that which is apprehended, knowing all about it, registering all there is to know about it (through participation in its nature).

4. Đối với tâm thức, người ta nhạy bén với điều được lĩnh hội, biết tất cả về nó, ghi nhận mọi điều có thể biết về nó thông qua sự tham dự vào bản chất của nó.

5. Through realization one is impressed by the reality and significance of that of which one is fully conscious.

5. Thông qua sự chứng nghiệm, người ta được in sâu bởi thực tại và thâm nghĩa của điều mà mình hoàn toàn có ý thức về.

6. Through identification, one not only knows deeply and sees, simultaneously, significance and purpose; one is that of which one is conscious and about which one realizes.

6. Thông qua sự đồng hóa, người ta không chỉ biết sâu xa và đồng thời thấy thâm nghĩa cùng mục đích; người ta chính điều mà mình có ý thức và điều mà mình chứng nghiệm.

7. And monadic awareness is all of these high acts or processes in simultaneous occurrence.

7. Và nhận thức chân thần là tất cả những hành vi hay tiến trình cao siêu này xảy ra đồng thời.

8. Monadic awareness is apprehension of the thing-in-itself; the thing-in-context; the thing-as-oneself—and all of these together and simultaneously.

8. Nhận thức chân thần là sự lĩnh hội sự-vật-tự-thân; sự-vật-trong-bối-cảnh; sự-vật-như-chính-mình—và tất cả những điều này cùng nhau và đồng thời.

9. There are no other times than “moments” of time. The moment is the ‘medium of revelation’. Revelation comes only in moments.

9. Không có những thời điểm nào khác ngoài những “khoảnh khắc” của thời gian. Khoảnh khắc là “môi trường của sự mặc khải”. Sự mặc khải chỉ đến trong các khoảnh khắc.

10. There are moments of obscurity and moments of revelation. Moments are temporal apertures through which comes change of apprehension, ‘change of touch’.

10. Có những khoảnh khắc của sự mờ tối và những khoảnh khắc của sự mặc khải. Các khoảnh khắc là những khe mở thời gian mà qua đó sự thay đổi trong lĩnh hội, “sự thay đổi trong tiếp xúc”, đi vào.

11. All consciousness has a “ring-pass-not”. All units of consciousness turn in an orbit (symbolically speaking). There is a cyclic nature to consciousness; it is not merely non-repetitively progressive. As consciousness widens, its orbit widens and rises in a spiral.

11. Mọi tâm thức đều có một “vòng-giới-hạn”. Mọi đơn vị tâm thức đều chuyển động trong một quỹ đạo nói theo biểu tượng. Tâm thức có bản chất chu kỳ; nó không chỉ tiến bộ theo cách không lặp lại. Khi tâm thức mở rộng, quỹ đạo của nó mở rộng và vươn lên theo hình xoắn ốc.

12. But in any given ‘moment’, consciousness apprehends a section of space within a given orbit.

12. Nhưng trong bất cứ “khoảnh khắc” nào, tâm thức lĩnh hội một phần của không gian bên trong một quỹ đạo nhất định.

13. The “orbit of space” might be alternatively defined. The purpose of an orbit is ‘cyclic exposure to a central source’. Space (even ‘Great Space’) is never completely exposed to its Central Source. Space symbolically turns (rotates or revolves) in its ‘orbit’ to receive that which, at any particular moment, must impregnate Space.

13. “Quỹ đạo của không gian” có thể được định nghĩa theo cách khác. Mục đích của một quỹ đạo là “sự phơi mở theo chu kỳ trước một nguồn trung tâm”. Không gian, ngay cả “Đại Không Gian”, không bao giờ hoàn toàn phơi mở trước Nguồn Trung Tâm của nó. Không gian, nói theo biểu tượng, quay trong “quỹ đạo” của nó để tiếp nhận điều mà, vào bất cứ khoảnh khắc cụ thể nào, phải thấm nhuần Không Gian.

14. Thus, every ‘field of space’ within Space has its central source and rotates revolves symbolically around this source, receiving its pulsations in a gradual, repetitive yet progressive manner. Rotation relates to the center of an entity’s ‘proprietary space’; revolution defines a relationship with the center of the ‘proprietary space’ of a still greater entity. ‘Great Space’ can only rotate, it cannot revolve. All other ‘spaces’ within Universal Space or ‘Great Space’, both rotate and revolve.

14. Vì vậy, mọi “trường không gian” bên trong Không Gian đều có nguồn trung tâm của nó và, nói theo biểu tượng, quay hoặc chuyển động quanh nguồn này, tiếp nhận các nhịp đập của nguồn ấy theo cách dần dần, lặp lại nhưng vẫn tiến bộ. Sự tự quay liên hệ với trung tâm của “không gian sở hữu” của một thực thể; sự chuyển động quanh quỹ đạo xác định mối quan hệ với trung tâm của “không gian sở hữu” của một thực thể còn lớn hơn. “Đại Không Gian” chỉ có thể tự quay, nó không thể chuyển động quanh quỹ đạo. Mọi “không gian” khác bên trong Không Gian Vũ Trụ hay “Đại Không Gian” đều vừa tự quay vừa chuyển động quanh quỹ đạo.

15. It is justifiable to consider that ‘Great Space’ (the Universal Totality), has its own kind of ‘orbit’, otherwise the Cosmic Process would occur instantaneously. Instead there is an incremental reception of the rhythmic impulsions of the Great Center occurring in Time.

15. Có thể chính đáng khi xem rằng “Đại Không Gian”, tức Toàn Thể Vũ Trụ, có loại “quỹ đạo” riêng của nó; nếu không, Tiến Trình Vũ Trụ sẽ xảy ra tức thời. Thay vào đó, có sự tiếp nhận từng bước các xung lực nhịp điệu của Trung Tâm Vĩ Đại xảy ra trong Thời Gian.

16. ‘Great Space’ may have only one rotation per universal cycle.

16. “Đại Không Gian” có thể chỉ có một vòng tự quay trong mỗi chu kỳ vũ trụ.

17. If we ponder on the true meaning of monadic awareness (consciousness, realization, identification) we may come closer to an apprehension of its real nature. It is surely a type of awareness which has little to do with our normal preoccupation with the usual “contents of consciousness”.

17. Nếu chúng ta suy ngẫm về ý nghĩa chân thật của nhận thức chân thần, tức tâm thức, sự chứng nghiệm và sự đồng hóa, chúng ta có thể đến gần hơn với sự lĩnh hội bản chất thật sự của nó. Chắc chắn đó là một loại nhận thức ít liên quan đến sự bận tâm thông thường của chúng ta đối với những “nội dung của tâm thức” quen thuộc.

J. Paragraph 9

J. Đoạn 9

1. One of the duties of a Master of the Wisdom:

1. Một trong những bổn phận của một Chân sư Minh Triết:

2. One of my functions and duties (as a Master of the Wisdom) is to anchor ideas in the mind of man and carry down into the realm of words certain emerging concepts so that they may [Page 109] begin to influence the higher level of thinkers. These latter are responsible for precipitating the ideas deep into the human consciousness. (cf. RI p. 108-109)

2. Một trong những chức năng và bổn phận của Tôi, với tư cách một Chân sư Minh Triết, là neo giữ các ý tưởng trong thể trí của con người và đưa xuống cõi giới của ngôn từ một số quan niệm đang xuất hiện, để chúng có thể [Page 109] bắt đầu ảnh hưởng đến tầng lớp cao hơn của các nhà tư tưởng. Chính những người sau này chịu trách nhiệm ngưng tụ các ý tưởng sâu vào tâm thức nhân loại. (xem RI, tr. 108-109)

3. The generation which will come into active thought expression at the end of the 20th century will inaugurate the framework, structure and fabric of the New Age which will start with certain premises which today are the dream of the more exalted dreamers and which will develop the civilisation of the Aquarian Age. (cf. RI p. 109)

3. Thế hệ sẽ bước vào sự biểu đạt tư tưởng tích cực vào cuối thế kỷ 20 sẽ khai mở khung sườn, cấu trúc và kết cấu của Kỷ Nguyên Mới, vốn sẽ khởi đầu bằng một số tiền đề mà ngày nay là giấc mơ của những người mơ mộng cao cả hơn và sẽ phát triển nền văn minh của Kỷ Nguyên Bảo Bình. (xem RI, tr. 109)

4. The Aquarian Age will be as predominantly the age of group interplay, group idealism and group consciousness as the Piscean Age has been one of personality unfoldment and emphasis, personality focus and personality consciousness. (cf. RI p. 109)

4. Kỷ Nguyên Bảo Bình sẽ là thời đại nổi bật của sự tương tác nhóm, chủ nghĩa lý tưởng nhóm và tâm thức nhóm, cũng như Kỷ Nguyên Song Ngư đã là thời đại của sự khai mở và nhấn mạnh phàm ngã, sự tập trung vào phàm ngã và tâm thức phàm ngã. (xem RI, tr. 109)

5. Selfishness, as we now understand it, will gradually disappear in the Aquarian Age, for the will of the individual will voluntarily be blended into the group will. (cf. RI p. 109)

5. Tính ích kỷ, như hiện nay chúng ta hiểu, sẽ dần dần biến mất trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, vì ý chí của cá nhân sẽ tự nguyện được hòa nhập vào ý chí nhóm. (xem RI, tr. 109)

6. The Aquarian Age might give rise to group selfishness. This could well bring about a still more dangerous situation, because a group would be a combination of focussed energies, and unless these energies are directed towards the fulfilment of the Plan (which coordinates and makes possible the divine purpose) we shall have the gradual consolidation of the forces of evil or of materialism on Earth. (cf. RI p. 109)

6. Kỷ Nguyên Bảo Bình có thể làm phát sinh tính ích kỷ nhóm. Điều này rất có thể tạo nên một tình thế còn nguy hiểm hơn, bởi vì một nhóm sẽ là sự kết hợp của các năng lượng đã được tập trung, và nếu các năng lượng này không được hướng tới việc hoàn thành Thiên Cơ, vốn phối hợp và làm cho Thiên Ý trở nên khả hữu, thì chúng ta sẽ có sự củng cố dần dần của các mãnh lực tà ác hay của chủ nghĩa vật chất trên Trái Đất. (xem RI, tr. 109)

7. There is the absolute necessity for the steadfast consecration of the spiritually minded to the task of developing the will-to-good on Earth and the absolute importance of fostering goodwill among the masses. (cf. RI p. 109)

7. Có sự cần thiết tuyệt đối về việc những người có khuynh hướng tinh thần phải thánh hiến kiên định cho nhiệm vụ phát triển Ý Chí-hướng Thiện trên Trái Đất, và có tầm quan trọng tuyệt đối của việc nuôi dưỡng thiện chí trong quần chúng. (xem RI, tr. 109)

8. If we shall have individual selfishness superseded by group selfishness, which will be consequently still more potent in its evil dedication, focus and results, the little wheels can continue to revolve in time and space, hindering the onward progress of the great Wheel which—again in time and space—is the wheel of humanity. (cf. RI p. 109)

8. Nếu tính ích kỷ cá nhân bị thay thế bởi tính ích kỷ nhóm, vốn do đó sẽ còn mạnh mẽ hơn trong sự hiến dâng, sự tập trung và các kết quả tà ác của nó, thì những bánh xe nhỏ vẫn có thể tiếp tục quay trong thời gian và không gian, cản trở bước tiến tới của Bánh Xe lớn, vốn—lại cũng trong thời gian và không gian—là bánh xe của nhân loại. (xem RI, tr. 109)

9. The Heavenly Man and the human being upon that Wheel are developing divine qualities and attributes. (cf. RI p. 109)

9. Đấng Thiên Nhân và con người trên Bánh Xe ấy đang phát triển các phẩm tính và thuộc tính thiêng liêng. (xem RI, tr. 109)

Now, having said this, I would ask you if you are much the wiser, or of what profit it is for me to write these words if you understand them not? For two reasons I write. One of my functions and duties (as a Master of the Wisdom) is to anchor ideas in the mind of man and carry down into the realm of words certain emerging concepts so that they may [Page 109] begin to influence the higher level of thinkers. These latter are responsible for precipitating the ideas deep into the human consciousness. Secondly, I write for the generation which will come into active thought expression at the end of this century; they will inaugurate the framework, structure and fabric of the New Age which will start with certain premises which today are the dream of the more exalted dreamers and which will develop the civilisation of the Aquarian Age.

Giờ đây, sau khi đã nói điều này, Tôi muốn hỏi các bạn liệu các bạn có trở nên minh triết hơn nhiều không, hay việc Tôi viết những lời này có ích lợi gì nếu các bạn không hiểu chúng? Tôi viết vì hai lý do. Một trong những chức năng và bổn phận của Tôi, với tư cách một Chân sư Minh Triết, là neo giữ các ý tưởng trong thể trí của con người và đưa xuống cõi giới của ngôn từ một số quan niệm đang xuất hiện, để chúng có thể [Page 109] bắt đầu ảnh hưởng đến tầng lớp cao hơn của các nhà tư tưởng. Chính những người sau này chịu trách nhiệm ngưng tụ các ý tưởng sâu vào tâm thức nhân loại. Thứ hai, Tôi viết cho thế hệ sẽ bước vào sự biểu đạt tư tưởng tích cực vào cuối thế kỷ này; họ sẽ khai mở khung sườn, cấu trúc và kết cấu của Kỷ Nguyên Mới, vốn sẽ khởi đầu bằng một số tiền đề mà ngày nay là giấc mơ của những người mơ mộng cao cả hơn và sẽ phát triển nền văn minh của Kỷ Nguyên Bảo Bình.

1. The Tibetan is well aware of the abstract nature of what He has just conveyed. Right interpretation requires access to the Spiritual Triad via the Antahkarana.

1. Chân sư Tây Tạng hoàn toàn ý thức rõ bản chất trừu tượng của điều Ngài vừa truyền đạt. Sự diễn giải đúng đắn đòi hỏi khả năng tiếp cận Tam Nguyên Tinh Thần thông qua antahkarana.

2. Are we any wiser for having read what He has written? We may pause to assess.

2. Chúng ta có minh triết hơn chút nào nhờ đã đọc những điều Ngài viết không? Chúng ta có thể dừng lại để tự đánh giá.

3. The Tibetan clarifies the nature of those for whom He writes—presumably (in the case of these Rules) those who are not only capable of abstract thought, but of blending abstract thought with, at least, nascent intuition.

3. Chân sư Tây Tạng làm sáng tỏ bản chất của những người mà Ngài viết cho—có lẽ, trong trường hợp các Quy Luật này, là những người không chỉ có khả năng tư duy trừu tượng, mà còn có khả năng hòa trộn tư duy trừu tượng với ít nhất là trực giác vừa manh nha.

4. Why, when dealing with such thoughts, are words necessary? It is simply a matter of the present level of evolution reached by evolving man. The Masters can communicate about such matters (among Themselves) without the use of words. Human beings have not yet become capable of doing so.

4. Tại sao, khi đề cập đến những tư tưởng như thế, ngôn từ lại cần thiết? Đó đơn giản là vấn đề về cấp độ tiến hoá hiện tại mà con người đang tiến hoá đã đạt tới. Các Chân sư có thể giao tiếp về những vấn đề như thế giữa Các Ngài mà không cần dùng ngôn từ. Con người vẫn chưa trở nên có khả năng làm như vậy.

5. The “emerging concepts” of which the Tibetan speaks are part of that portion of the Divine Plan slated for revelation at this time of humanity’s development. These concepts are ‘stored’ (as it were) within the intuitive level of the Spiritual Triad and are incapable of revelation to any except those who have developed the antahkarana to a sufficient degree.

5. Các “quan niệm đang xuất hiện” mà Chân sư Tây Tạng nói đến là một phần của phần Thiên Cơ được định sẵn để mặc khải vào thời điểm này trong sự phát triển của nhân loại. Những quan niệm này, có thể nói, được “lưu giữ” bên trong cấp độ trực giác của Tam Nguyên Tinh Thần và không thể được mặc khải cho bất cứ ai ngoại trừ những người đã phát triển antahkarana đến một mức độ đủ đầy.

6. The “higher level of thinkers” have a responsibility for rendering that which is abstract into thought which is more concrete and, thus, apprehensible by intelligent thinkers whose access to the Spiritual Triad is not yet appreciable.

6. “Tầng lớp cao hơn của các nhà tư tưởng” có trách nhiệm chuyển điều trừu tượng thành tư tưởng cụ thể hơn, và do đó có thể được lĩnh hội bởi những nhà tư tưởng thông minh mà khả năng tiếp cận Tam Nguyên Tinh Thần của họ vẫn chưa đáng kể.

7. We see a constant ‘chain of descent’ or ‘chain of precipitation’ as that which is intangible moves and is moved towards a useful tangibility.

7. Chúng ta thấy một “chuỗi giáng hạ” hay “chuỗi ngưng tụ” liên tục khi điều vô hình chuyển động và được thúc đẩy hướng tới một tính hữu hình hữu dụng.

8. The second reason that Master D.K. writes of that which could not yet be adequately understood by His then readers is that He was not writing only for them, but for that group which should have entered “active thought expression” at the end of the twentieth century and is now entering such expression at the beginning of the twenty-first. The members of groups of this nature (the 28 Rules Group, for instance) should be among those for whom He has written.

8. Lý do thứ hai khiến Chân sư D.K. viết về điều mà những độc giả khi ấy của Ngài chưa thể hiểu một cách đầy đủ là vì Ngài không chỉ viết cho họ, mà còn cho nhóm lẽ ra đã bước vào “sự biểu đạt tư tưởng tích cực” vào cuối thế kỷ hai mươi và hiện đang bước vào sự biểu đạt ấy vào đầu thế kỷ hai mươi mốt. Các thành viên của những nhóm thuộc bản chất này, chẳng hạn Nhóm Hai Mươi Tám Quy Luật, nên nằm trong số những người mà Ngài đã viết cho.

9. The obvious question arises: “Can we actually understand and appreciate what He has written?” “Or are we in exactly the same condition as that group of disciples for whom the text was originally written?” This will not be easy to assess. The world has changed profoundly over the last sixty years (written 2003) and much is built into the structure of our understanding which was then, perhaps, rather more theoretical.

9. Câu hỏi hiển nhiên nảy sinh: “Chúng ta có thật sự hiểu và thẩm nhận được điều Ngài đã viết không?” “Hay chúng ta đang ở đúng cùng tình trạng như nhóm đệ tử mà bản văn này ban đầu được viết cho?” Điều này sẽ không dễ đánh giá. Thế giới đã thay đổi sâu sắc trong sáu mươi năm qua, tính từ năm 2003, và nhiều điều đã được xây vào cấu trúc của sự thấu hiểu của chúng ta, vốn khi ấy có lẽ còn mang tính lý thuyết hơn khá nhiều.

10. Of course, those who will inaugurate the “framework, structure and fabric of the New Age” are also those who will live during the next one hundred or so years. The Aquarian Age will not (according to the astronomical data given by the Tibetan) begin until the year 2117, and even then, there will be an overlap period of 250 years during which the Piscean energy slowly recedes.

10. Dĩ nhiên, những người sẽ khai mở “khuôn khổ, cấu trúc và mô thức của Kỷ Nguyên Mới” cũng là những người sẽ sống trong khoảng một trăm năm tới hoặc hơn. Kỷ nguyên Bảo Bình sẽ không bắt đầu cho đến năm 2117, theo các dữ liệu thiên văn do Chân sư Tây Tạng đưa ra; và ngay cả khi ấy, vẫn sẽ có một giai đoạn chồng lấn 250 năm, trong đó năng lượng Song Ngư dần dần rút lui.

11. As we think and speculate, do we, in fact, start with certain premises which were the dreams of the more exalted dreamers of, say, sixty years ago? Perhaps, to a degree. Certainly, the tendency to base one’s thought upon such premises will only increase as the twenty-first century unfolds.

11. Khi suy tư và suy đoán, trên thực tế, phải chăng chúng ta bắt đầu từ một số tiền đề vốn từng là những giấc mơ của các nhà mơ mộng cao cả hơn, chẳng hạn, sáu mươi năm trước? Có lẽ, ở một mức độ nào đó. Chắc chắn, khuynh hướng đặt tư tưởng của mình trên những tiền đề như thế sẽ chỉ gia tăng khi thế kỷ hai mươi mốt khai mở.

12. We are led to understand something about how a Master considers time. Masters are consciously immortal beings who have achieved an imperturbable continuity of consciousness. They know where They have been and where They are going; They think in terms of centuries and even of millennia and are not limited in their thought to the few short decades which probably loom overly large in the consciousness of the average disciple.

12. Chúng ta được dẫn đến chỗ thấu hiểu đôi điều về cách một Chân sư nhìn nhận thời gian. Các Chân sư là những Đấng bất tử có ý thức, đã đạt được sự liên tục bất nhiễu của tâm thức. Các Ngài biết Các Ngài đã ở đâu và đang đi về đâu; Các Ngài suy nghĩ theo những chu kỳ hàng thế kỷ, thậm chí hàng thiên niên kỷ, và tư tưởng của Các Ngài không bị giới hạn trong vài thập niên ngắn ngủi, vốn có lẽ hiện ra quá lớn trong tâm thức của người đệ tử trung bình.

13. It would be wise for us to begin to cultivate the kind of ‘time-sense’ possessed by the Great Ones. We will not immediately succeed, but it will be easier to apply the factor of Wisdom to our work, and we will probably work with a truer sense of values and with fewer errors.

13. Sẽ là khôn ngoan nếu chúng ta bắt đầu vun trồng loại “ý thức về thời gian” mà Các Đấng Cao Cả sở hữu. Chúng ta sẽ không thành công ngay lập tức, nhưng sẽ dễ dàng hơn để áp dụng yếu tố minh triết vào công việc của mình, và có lẽ chúng ta sẽ làm việc với một ý thức đúng đắn hơn về các giá trị và với ít sai lầm hơn.

14. When a lesser eye ascends to the perspective of a greater ‘Eye’, life is understood with increasing breadth and profundity.

14. Khi một con mắt nhỏ hơn vươn lên viễn cảnh của một “Con Mắt” lớn hơn, sự sống được thấu hiểu với bề rộng và chiều sâu ngày càng tăng.

15. Daily we should pause to evaluate the ‘pinnacle of our perspective’ and see whether it might be raised. Thus will our sense of time and space alter in a way inconceivable by the strictly concrete mind.

15. Mỗi ngày, chúng ta nên dừng lại để đánh giá “đỉnh cao của viễn cảnh chúng ta” và xem liệu nó có thể được nâng lên hay không. Nhờ vậy, ý thức của chúng ta về thời giankhông gian sẽ biến đổi theo một cách mà trí cụ thể thuần túy không thể quan niệm được.

This coming age will be as predominantly the age of group interplay, group idealism and group consciousness as the Piscean Age has been one of personality unfoldment and emphasis, personality focus and personality consciousness. Selfishness, as we now understand it, will gradually disappear, for the will of the individual will voluntarily be blended into the group will. It will be obvious to you, therefore, that this could well bring about a still more dangerous situation, because a group would be a combination of focussed energies, and unless these energies are directed towards the fulfillment of the Plan (which coordinates and makes possible the divine purpose) we shall have the gradual consolidation of the forces of evil or of materialism on Earth.

Kỷ nguyên sắp đến này sẽ nổi bật là kỷ nguyên của sự tương tác nhóm, chủ nghĩa lý tưởng nhóm và tâm thức nhóm, cũng như Kỷ nguyên Song Ngư đã là kỷ nguyên của sự khai mở và nhấn mạnh phàm ngã, của sự tập trung phàm ngã và tâm thức phàm ngã. Tính ích kỷ, như chúng ta hiện nay hiểu nó, sẽ dần dần biến mất, vì ý chí của cá nhân sẽ tự nguyện hòa vào ý chí nhóm. Do đó, các bạn sẽ thấy rõ rằng điều này rất có thể đem lại một tình trạng còn nguy hiểm hơn, bởi vì một nhóm sẽ là sự phối hợp của các năng lượng được tập trung; và nếu các năng lượng này không được hướng đến việc hoàn thành Thiên Cơ, vốn phối hợp và làm cho Thiên Ý có thể thực hiện, thì chúng ta sẽ có sự củng cố dần dần của các mãnh lực tà ác hoặc của chủ nghĩa duy vật trên Trái Đất.

1. The Tibetan contrasts the Aquarian and Piscean Ages in terms of consciousness—group consciousness versus individual consciousness.

1. Chân sư Tây Tạng đối chiếu các Kỷ nguyên Bảo Bình và Song Ngư xét theo tâm thức—tâm thức nhóm đối lập với tâm thức cá nhân.

2. We might wonder why there has been so much developing individualism during the Piscean Age, for the sign Pisces, by itself, does not confer it. Virgo, however, has also been active (as the sign opposite the sign which rules a precessional age ever is), and Virgo confers a quality of mentality and analysis which contribute to personality integration and to individualism.

2. Chúng ta có thể tự hỏi tại sao đã có quá nhiều chủ nghĩa cá nhân phát triển trong Kỷ nguyên Song Ngư, vì riêng dấu hiệu Song Ngư tự nó không ban cho điều đó. Tuy nhiên, Xử Nữ cũng đã hoạt động, như dấu hiệu đối vị với dấu hiệu cai quản một kỷ nguyên tuế sai bao giờ cũng vậy; và Xử Nữ ban cho một phẩm tính trí tuệ và phân tích, góp phần vào sự tích hợp phàm ngã và vào chủ nghĩa cá nhân.

3. During the latter part of the Piscean Age the seventh and fifth rays have emerged into prominence and these, too, have potentized the distinct individual and his/her expression.

3. Trong phần sau của Kỷ nguyên Song Ngư, cung bảy và cung năm đã nổi bật lên, và cả hai cũng đã tiếp thêm sức mạnh cho cá nhân riêng biệt và sự biểu hiện của y.

4. The Tibetan predicts the disappearance of selfishness, “as we now understand it”. This is an important exception, for there are other kinds of selfishness than individual selfishness.

4. Chân sư Tây Tạng tiên đoán sự biến mất của tính ích kỷ, “như chúng ta hiện nay hiểu nó”. Đây là một ngoại lệ quan trọng, vì còn có những loại ích kỷ khác ngoài tính ích kỷ cá nhân.

5. The perspective or point of view of the average consciousness will so expand during the Aquarian Age that the tiny individual will be seen in a larger context and ordinary selfishness will become untenable to those who are capable of reasonable thought. When ignorance flourishes, the vision typical of the lower ego is much more prominent; the lines of causation are not seen and the derivative, dependent nature of the individual is not understood. Aquarius is such an encompassing energy that, accompanied by an intensifying fifth and seventh rays (the fifth revealing causation and the seventh, lineage), the illusion of the isolated individual will be largely undermined. With the devaluation of the concept of the reality of the lower ego, ordinary selfishness will also fade. This is a general statement, of course, because the New Age is also the Age of Aquarius-Leo, and a number of very selfish individuals will emerge under the cleavages induced by the fifth ray and the materialism possible to those upon the seventh ray.

5. Viễn cảnh hay quan điểm của tâm thức trung bình sẽ mở rộng đến mức trong Kỷ nguyên Bảo Bình, cá nhân nhỏ bé sẽ được nhìn thấy trong một bối cảnh rộng lớn hơn, và tính ích kỷ thông thường sẽ trở nên không thể đứng vững đối với những ai có khả năng suy nghĩ hợp lý. Khi vô minh hưng thịnh, tầm nhìn đặc trưng của phàm ngã nổi bật hơn nhiều; các đường dây nhân quả không được thấy, và bản chất phái sinh, lệ thuộc của cá nhân không được thấu hiểu. Bảo Bình là một năng lượng bao quát đến mức, khi đi kèm với cung năm và cung bảy đang tăng cường, cung năm mặc khải nhân quả và cung bảy mặc khải dòng truyền thừa, thì ảo tưởng về cá nhân cô lập sẽ phần lớn bị phá vỡ. Cùng với sự hạ giá trị của quan niệm về thực tại của phàm ngã, tính ích kỷ thông thường cũng sẽ phai mờ. Dĩ nhiên, đây là một phát biểu tổng quát, bởi Kỷ Nguyên Mới cũng là Kỷ nguyên Bảo Bình-Sư Tử, và một số cá nhân rất ích kỷ sẽ xuất hiện dưới những chia rẽ do cung năm gây ra và dưới chủ nghĩa duy vật mà những người thuộc cung bảy có thể sa vào.

6. After predicting the end of ordinary selfishness, the Tibetan sounds a rather ominous warning: individual selfishness can give way to group selfishness. Signs of this can already be seen and His prophecy has been, to a degree, fulfilled. A group is a kind of individual (and is treated as such in the legal system of some countries.). The group is an encompassing entity, and it is, perhaps, more difficult for group members to see into the egoistic nature of groups to which they give their loyalty and which, in turn, offer them protection, sustenance and individual advancement.

6. Sau khi tiên đoán sự chấm dứt của tính ích kỷ thông thường, Chân sư Tây Tạng đưa ra một lời cảnh báo khá u ám: tính ích kỷ cá nhân có thể nhường chỗ cho tính ích kỷ nhóm. Các dấu hiệu của điều này đã có thể được thấy, và lời tiên tri của Ngài, ở một mức độ nào đó, đã được ứng nghiệm. Một nhóm là một loại cá nhân, và được đối xử như thế trong hệ thống pháp lý của một số quốc gia. Nhóm là một thực thể bao quát, và có lẽ các thành viên trong nhóm khó thấy rõ bản chất vị ngã của những nhóm mà họ dâng lòng trung thành, và những nhóm ấy đến lượt mình lại đem cho họ sự bảo vệ, dưỡng nuôi và thăng tiến cá nhân.

7. So, a still further range of vision is required—the power to see beyond the insularity of one’s own group. In the modern era this ability tends to differentiate those who are blindly nationalistic and those who see their nation as a member of a community of nations. Within the business field, there is a contrast between those who seek to see their business or corporation succeed no matter what the repercussions may be on other members of the same business community, and those who think in terms of the welfare of a national and, even, world economy.

7. Vì vậy, cần có một tầm nhìn còn rộng hơn nữa—quyền năng nhìn vượt khỏi tính biệt lập của chính nhóm mình. Trong thời đại hiện đại, năng lực này có xu hướng phân biệt những người mù quáng theo chủ nghĩa dân tộc với những người nhìn quốc gia mình như một thành viên của cộng đồng các quốc gia. Trong lĩnh vực kinh doanh, có sự tương phản giữa những người chỉ tìm cách làm cho doanh nghiệp hay tập đoàn của mình thành công bất kể hậu quả đối với các thành viên khác trong cùng cộng đồng kinh doanh, và những người suy nghĩ theo phúc lợi của nền kinh tế quốc gia, thậm chí nền kinh tế thế giới.

8. The Tibetan warns of a possible “gradual consolidation of the forces of evil or of materialism upon the Earth”. From an astrological perspective, we may expect tendencies of this nature when the planet representing focussed evil (Pluto) enters the sign of consolidation (Capricorn) on January 25th 2008. Humanity and our planet have much testing, trial and housecleaning ahead, as we enter the period immediately preceding the laying of hierarchical plans for the Externalization of the Hierarchy and the Reappearance of the Christ.

8. Chân sư Tây Tạng cảnh báo về khả năng “sự củng cố dần dần của các mãnh lực tà ác hoặc của chủ nghĩa duy vật trên Trái Đất”. Từ viễn cảnh chiêm tinh, chúng ta có thể trông đợi những khuynh hướng thuộc bản chất này khi hành tinh tượng trưng cho tà ác được tập trung, tức Sao Diêm Vương, đi vào dấu hiệu của sự củng cố, tức Ma Kết, vào ngày 25 tháng 1 năm 2008. Nhân loại và hành tinh của chúng ta còn nhiều thử thách, khảo nghiệm và thanh lọc phía trước, khi chúng ta bước vào giai đoạn ngay trước việc đặt ra các kế hoạch của Thánh đoàn cho Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn và Sự Tái Lâm của Đức Christ.

I am not speaking lightly, but am endeavouring to show the necessity for the steadfast consecration of the spiritually minded to the task of developing the will-to-good on Earth and the absolute importance of fostering goodwill among the masses. If this is not done after the terrific global housecleaning that has gone on, the last state will be worse than the first. We shall have individual selfishness superseded by group selfishness, which will be consequently still more potent in its evil dedication, focus and results. The little wheels can continue to revolve in time and space, hindering the onward progress of the great Wheel which—again in time and space—is the wheel of humanity. The Heavenly Man and the human being upon that Wheel are developing divine qualities and attributes.

Tôi không nói một cách hời hợt, mà đang nỗ lực chỉ ra sự cần thiết của việc những người có trí hướng tinh thần thánh hiến kiên định cho nhiệm vụ phát triển Ý Chí-hướng Thiện trên Trái Đất, và tầm quan trọng tuyệt đối của việc nuôi dưỡng thiện chí trong quần chúng. Nếu điều này không được thực hiện sau cuộc thanh lọc toàn cầu khủng khiếp đã diễn ra, thì tình trạng sau cùng sẽ tệ hơn tình trạng ban đầu. Chúng ta sẽ có tính ích kỷ cá nhân bị thay thế bởi tính ích kỷ nhóm, và do đó nó sẽ còn mạnh mẽ hơn trong sự tận hiến, sự tập trung và các kết quả tà ác của nó. Những bánh xe nhỏ có thể tiếp tục quay trong thời gian và không gian, cản trở bước tiến tới của Bánh Xe lớn, vốn—cũng trong thời gian và không gian—là bánh xe của nhân loại. Đấng Thiên Nhân và con người trên Bánh Xe ấy đang phát triển các phẩm tính và thuộc tính thiêng liêng.

1. The warning given then should be taken to heart by those of us who are endeavoring to labor in the present field of human glamor and illusion. The text above was written as World War II was turning for the better and hope for a better future was emerging.. The results of mishandling the peace, however, are with us, and dire possibilities loom on humanity’s present horizon.

1. Lời cảnh báo được đưa ra khi ấy nên được những người trong chúng ta, vốn đang nỗ lực lao tác trong lĩnh vực hiện nay của ảo cảm và ảo tưởng nhân loại, ghi khắc trong lòng. Đoạn văn trên được viết khi Chiến tranh thế giới thứ hai đang chuyển biến theo chiều hướng tốt đẹp hơn và niềm hy vọng về một tương lai tốt đẹp hơn đang xuất hiện. Tuy nhiên, các kết quả của việc xử lý sai lầm nền hòa bình vẫn đang ở với chúng ta, và những khả năng nghiêm trọng đang hiện ra trên chân trời hiện tại của nhân loại.

2. The need for the “will-to-good” among the spiritually minded, and of goodwill among the masses, is today even more pressing than at the time the Tibetan wrote these words.

2. Nhu cầu về “Ý Chí-hướng Thiện” nơi những người có trí hướng tinh thần, và về thiện chí nơi quần chúng, ngày nay còn cấp bách hơn cả vào thời điểm Chân sư Tây Tạng viết những lời này.

3. The emphasis upon both of these aspects of the will must be intensified as we move towards the year 2025. If, as students of occultism and servers of humanity, we find that our individual and group relations are not characterized by these aspects of the will, we must immediately make amends. The times are too dangerous for us to hesitate.

3. Sự nhấn mạnh vào cả hai phương diện này của ý chí phải được tăng cường khi chúng ta tiến về năm 2025. Nếu, với tư cách là các đạo sinh huyền bí học và những người phụng sự nhân loại, chúng ta thấy rằng các quan hệ cá nhân và nhóm của mình không mang đặc tính của những phương diện này của ý chí, thì chúng ta phải lập tức sửa đổi. Thời cuộc quá nguy hiểm để chúng ta do dự.

4. The Tibetan warns us of the effect of laziness following upon the “terrific housecleaning” which World War II represented. We are reminded of Christ’s parable of the man who swept his house clean and was thus rid of many devils only to succumb to an even greater possession. Has this happened? As humanity, do we find ourselves now in the undesirable state which the Master foresaw as a possibility?

4. Chân sư Tây Tạng cảnh báo chúng ta về tác động của sự lười biếng theo sau “cuộc thanh lọc khủng khiếp” mà Chiến tranh thế giới thứ hai tượng trưng. Chúng ta được nhắc nhớ dụ ngôn của Đức Christ về người đã quét sạch ngôi nhà mình và nhờ đó thoát khỏi nhiều quỷ dữ, nhưng rồi lại rơi vào một sự ám nhập còn lớn hơn. Điều này đã xảy ra chăng? Với tư cách là nhân loại, phải chăng hiện nay chúng ta đang ở trong tình trạng không đáng mong muốn mà Chân sư đã tiên liệu như một khả năng?

5. We are dealing with a Rule which speaks of lesser wheels and a “Greater Wheel”. Here the Tibetan names that greater wheel as humanity, itself. Selfish individuals and selfish groups are lesser wheels, which, in their turning, inhibit the correct turning of the “Greater Wheel”, humanity.

5. Chúng ta đang đề cập đến một Quy luật nói về những bánh xe nhỏ hơn và một “Bánh Xe Lớn Hơn”. Ở đây Chân sư Tây Tạng gọi bánh xe lớn hơn ấy là chính nhân loại,. Những cá nhân ích kỷ và những nhóm ích kỷ là các bánh xe nhỏ hơn, trong sự quay của mình, chúng ngăn cản sự quay đúng đắn của “Bánh Xe Lớn Hơn”, tức nhân loại.

6. When we offer our allegiance to the Greater Wheel and its turning, we, the lesser wheels, begin to develop “divine qualities and attributes”. Selfishness cannot develop such qualities.

6. Khi chúng ta dâng sự trung thành của mình cho Bánh Xe Lớn Hơn và sự quay của nó, chúng ta, những bánh xe nhỏ hơn, bắt đầu phát triển “các phẩm tính và thuộc tính thiêng liêng”. Tính ích kỷ không thể phát triển những phẩm tính như thế.

7. Many opportunities for the relinquishment of selfishness will be offered to us in years immediately ahead. May we take those opportunities and, thus, facilitate the turning of the “Greater Wheel” and even of the “Great Wheel”—however we may conceive it to be. Perhaps it is the Wheel of our Planetary Life in which the right relation between Shamballa, Hierarchy and Humanity is in process of fulfillment.

7. Nhiều cơ hội để từ bỏ tính ích kỷ sẽ được trao cho chúng ta trong những năm ngay trước mắt. Mong sao chúng ta nắm lấy những cơ hội ấy và, nhờ vậy, tạo thuận lợi cho sự quay của “Bánh Xe Lớn Hơn” và thậm chí của “Bánh Xe Lớn”—dù chúng ta quan niệm nó là gì. Có lẽ đó là Bánh Xe của Sự Sống Hành Tinh của chúng ta, trong đó mối liên hệ đúng đắn giữa Shamballa, Thánh đoàn và Nhân loại đang trong tiến trình thành tựu.

K. Paragraph 10

K. Đoạn 10

A. The will aspect of divinity can find expression only through humanity, for the fourth kingdom in nature is intended to be the agent of the will to the three subhuman kingdoms. (cf. RI p. 109-110)

A. Phương diện ý chí của thiên tính chỉ có thể tìm được sự biểu hiện thông qua nhân loại, vì giới thứ tư trong thiên nhiên được định là tác nhân của ý chí đối với ba giới dưới nhân loại. xem RI tr. 109-110

B. It is therefore essential that the spirit of inclusiveness and the tendency to spiritual identification should be developed in humanity as a step preparatory to the development of response to divine purpose. (cf. RI p. 110)

B. Do đó, điều thiết yếu là tinh thần bao gồm và khuynh hướng đồng hoá tinh thần phải được phát triển trong nhân loại như một bước chuẩn bị cho sự phát triển khả năng đáp ứng với Thiên Ý. xem RI tr. 110

C. It is absolutely essential that the will-to-good be unfolded by the disciples of the world so that goodwill can be expressed by the rank and file of mankind. (cf. RI p. 110)

C. Điều tuyệt đối thiết yếu là Ý Chí-hướng Thiện phải được các đệ tử thế giới khai mở để thiện chí có thể được biểu hiện bởi đông đảo nhân loại bình thường. xem RI tr. 110

D. The will-to-good of the world knowers is the magnetic seed of the future. (cf. RI p. 110)

D. Ý Chí-hướng Thiện của các thức giả thế gian là hạt giống từ tính của tương lai. xem RI tr. 110

E. The will-to-good is the Father aspect, whilst goodwill is the Mother aspect, and from the relation of these two the new civilisation, based on sound spiritual (but utterly different) lines, can be founded. (cf. RI p. 110)

E. Ý Chí-hướng Thiện là phương diện Cha, trong khi thiện chí là phương diện Mẹ, và từ mối liên hệ của hai điều này, nền văn minh mới, đặt trên những đường lối tinh thần lành mạnh nhưng hoàn toàn khác biệt, có thể được thiết lập. xem RI tr. 110

F. The will-to-good and goodwill must be nurtured in the immediate future, for on them the more distant hope of happiness and of world peace depends. (cf. RI p. 110)

F. Ý Chí-hướng Thiện và thiện chí phải được nuôi dưỡng trong tương lai trước mắt, vì hy vọng xa hơn về hạnh phúc và hòa bình thế giới tùy thuộc vào chúng. xem RI tr. 110

G. The New Group of World Servers must be reached and the will-to-good developed in them, and the masses simultaneously must be reached with the message of goodwill. (cf. RI p. 110)

G. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian phải được tiếp cận và Ý Chí-hướng Thiện phải được phát triển nơi họ; đồng thời quần chúng phải được tiếp cận bằng thông điệp thiện chí. xem RI tr. 110

H. The will-to-good is dynamic, powerful and effective; it is based on realisation of the plan and on reaction to the purpose as sensed by those who are either initiate, and consciously in touch with Shamballa, or disciples who are likewise a part of the Hierarchy but are not yet able to contact the central Purpose or Life. (cf. RI p. 110)

H. Ý Chí-hướng Thiện có tính năng động, mạnh mẽ và hữu hiệu; nó đặt nền trên sự chứng nghiệm Thiên Cơ và trên phản ứng đối với Thiên Ý như được cảm nhận bởi những người hoặc là điểm đạo đồ, có ý thức tiếp xúc với Shamballa, hoặc là các đệ tử cũng thuộc về Thánh đoàn nhưng chưa thể tiếp xúc với Thiên Ý hay Sự Sống trung tâm. xem RI tr. 110

I. It would be dangerous for disciples to reach Shamballa (prior to the third initiation when all personality tendencies are obliterated). They would destroy themselves. (cf. RI p. 110)

I. Sẽ nguy hiểm nếu các đệ tử vươn tới Shamballa trước lần điểm đạo thứ ba, khi mọi khuynh hướng phàm ngã đều bị xóa bỏ. Họ sẽ tự hủy diệt mình. xem RI tr. 110

J. It would be as dangerous for the ordinary man to reach Shamballa (prior to the third initiation when all personality tendencies are obliterated). He damage himself. (cf. RI p. 110)

J. Cũng sẽ nguy hiểm như thế nếu người bình thường vươn tới Shamballa trước lần điểm đạo thứ ba, khi mọi khuynh hướng phàm ngã đều bị xóa bỏ. Y sẽ tự gây tổn hại cho mình. xem RI tr. 110

K. To teach the masses of men today techniques-of-will would render their still selfish will effective. (cf. RI p. 110)

K. Ngày nay, dạy cho quần chúng nhân loại các kỹ thuật về ý chí sẽ khiến ý chí vẫn còn ích kỷ của họ trở nên hữu hiệu. xem RI tr. 110

The will aspect of divinity can find expression only through humanity, for the fourth kingdom in nature is intended to be the agent of the will to the three subhuman [Page 110] kingdoms. It was therefore essential that the spirit of inclusiveness and the tendency to spiritual identification should be developed in humanity as a step preparatory to the development of response to divine purpose. It is absolutely essential that the will-to-good be unfolded by the disciples of the world so that goodwill can be expressed by the rank and file of mankind. The will-to-good of the world knowers is the magnetic seed of the future. The will-to-good is the Father aspect, whilst goodwill is the Mother aspect, and from the relation of these two the new civilisation, based on sound spiritual (but utterly different) lines, can be founded. I would commend this thought to your consciousness, for it means that two aspects of spiritual work must be nurtured in the immediate future, for on them the more distant hope of happiness and of world peace depends.

Phương diện ý chí của thiên tính chỉ có thể tìm được sự biểu hiện thông qua nhân loại, vì giới thứ tư trong thiên nhiên được định là tác nhân của ý chí đối với ba giới dưới nhân loại [Page 110]. Do đó, điều thiết yếu là tinh thần bao gồm và khuynh hướng đồng hoá tinh thần phải được phát triển trong nhân loại như một bước chuẩn bị cho sự phát triển khả năng đáp ứng với Thiên Ý. Điều tuyệt đối thiết yếu là Ý Chí-hướng Thiện phải được các đệ tử thế giới khai mở để thiện chí có thể được biểu hiện bởi đông đảo nhân loại bình thường. Ý Chí-hướng Thiện của các thức giả thế gian là hạt giống từ tính của tương lai. Ý Chí-hướng Thiện là phương diện Cha, trong khi thiện chí là phương diện Mẹ, và từ mối liên hệ của hai điều này, nền văn minh mới, đặt trên những đường lối tinh thần lành mạnh nhưng hoàn toàn khác biệt, có thể được thiết lập. Tôi muốn gửi gắm tư tưởng này vào tâm thức của các bạn, vì nó có nghĩa là hai phương diện của công việc tinh thần phải được nuôi dưỡng trong tương lai trước mắt, bởi hy vọng xa hơn về hạnh phúc và hòa bình thế giới tùy thuộc vào chúng.

1. This paragraph opens with a very interesting statement and one which seems implausible at first. Perhaps the word “expression” is the key, for expression occurs within the lower worlds upon which humanity focuses and in which the three lower kingdoms “live and move and have their being”.

1. Đoạn này mở đầu bằng một phát biểu rất thú vị, và thoạt tiên có vẻ khó tin. Có lẽ từ “biểu hiện” là chìa khóa, vì sự biểu hiện diễn ra trong các cõi thấp mà nhân loại tập trung vào, và trong đó ba giới thấp “sống, chuyển động và có bản thể của mình”.

2. The higher kingdoms are surely endowed with the will, and to a far greater extent than humanity or any of the lower kingdoms, but these kingdoms focus in areas of the planetary life which are not, technically, arenas of “expression”—a ‘pressing outwards’ and ‘downwards’.

2. Các giới cao chắc chắn được phú cho ý chí, và ở mức độ lớn hơn nhân loại hay bất cứ giới thấp nào rất nhiều; nhưng các giới này tập trung trong những khu vực của sự sống hành tinh vốn, về mặt kỹ thuật, không phải là các trường hoạt động của “sự biểu hiện”—một sự “đẩy ra ngoài” và “đi xuống”.

3. We are now talking about how the Divine Plan will work out through the three lower kingdoms, and humanity’s role in that outworking. The Divine Plan must work out purposefully, hence the need for “the spirit of inclusiveness” and “spiritual identification” within humanity; only these two capacities of consciousness will conduce to the correct registration of the Divine Purpose—which is vastly inclusive and based upon the apprehension of the fundamental Oneness of all participants within the planetary ring-pass-not.

3. Giờ đây chúng ta đang nói về cách Thiên Cơ sẽ được thực hiện thông qua ba giới thấp, và vai trò của nhân loại trong sự thực hiện ấy. Thiên Cơ phải được thực hiện một cách có mục đích, vì vậy cần có “tinh thần bao gồm” và “sự đồng hoá tinh thần” trong nhân loại; chỉ hai năng lực tâm thức này mới dẫn đến sự ghi nhận đúng đắn Thiên Ý—vốn bao gồm bao la và đặt nền trên sự lĩnh hội Tính Duy Nhất căn bản của mọi thành phần tham dự bên trong vòng-giới-hạn hành tinh.

4. If the will-to-good is to be unfolded within the disciples of the world, how will it be recognized? It will not be only a heart response. The will-inspired mind must be involved and some idea of what really constitutes the “Good” must be alive in the consciousness. The “Good” is the synthesis of all the many ‘goods’, and its appreciation requires considerable philosophical understanding. The point is that the consciousness of disciples must be considerably broadened if they are to appreciate the will-to-good.

4. Nếu Ý Chí-hướng Thiện phải được khai mở trong các đệ tử thế giới, thì nó sẽ được nhận biết như thế nào? Nó sẽ không chỉ là một đáp ứng của trái tim. Trí tuệ được ý chí cảm hứng phải tham dự, và một ý tưởng nào đó về điều gì thực sự cấu thành “Thiện” phải sống động trong tâm thức. “Thiện” là sự tổng hợp của tất cả nhiều điều “thiện”, và việc trân trọng nó đòi hỏi một sự thấu hiểu triết học đáng kể. Điểm cốt yếu là tâm thức của các đệ tử phải được mở rộng đáng kể nếu họ muốn trân trọng Ý Chí-hướng Thiện.

5. Another of D.K.’s memorable statements is offered as follows: “The will-to-good of the world knowers is the magnetic seed of the future.” It is as if the will-to-good magnetically draws into relationship all the many ‘goods’ which will constitute the “Good”. Note that one must be a “knower” to possess the will-to-good. Only what who knows somewhat as the Solar Angel knows, can apprehend a reasonable portion of the “Good”.

5. Một phát biểu đáng ghi nhớ khác của Chân sư DK được đưa ra như sau: “Ý Chí-hướng Thiện của các thức giả thế gian là hạt giống từ tính của tương lai.” Dường như Ý Chí-hướng Thiện thu hút bằng từ tính vào trong mối liên hệ tất cả nhiều điều “thiện” sẽ cấu thành “Thiện”. Hãy lưu ý rằng người ta phải là một “thức giả” mới sở hữu Ý Chí-hướng Thiện. Chỉ người nào biết phần nào như Thái dương Thiên Thần biết, mới có thể lĩnh hội một phần hợp lý của “Thiện”.

6. We can, however, gather this—that if we are truly animated by the will-to-good, that which we do, speak and think will have the effect of bringing into manifestation the ‘good which ought to be’. If we wish to know, then, how to bring forward the divinely-intended future, the simple answer is, “Be animated by the will-to-good, and act upon it”.

6. Tuy nhiên, chúng ta có thể nắm được điều này—rằng nếu chúng ta thật sự được Ý Chí-hướng Thiện làm sinh động, thì những gì chúng ta làm, nói và nghĩ sẽ có tác dụng đưa vào biểu hiện “điều thiện phải là như thế”. Vậy nếu chúng ta muốn biết cách đem tương lai được thiêng liêng định ý ra phía trước, câu trả lời đơn giản là: “Hãy được Ý Chí-hướng Thiện làm sinh động, và hãy hành động theo nó”.

7. We learn that the new civilization is a kind of ‘Son’ born from Father and Mother—Father seen as the “will-to-good” and Mother seen as “goodwill”. This is an important slant on the birthing of the new and spiritual civilization—far more spiritual than has been possible in the past.

7. Chúng ta học được rằng nền văn minh mới là một loại “Người Con” sinh ra từ Cha và Mẹ—Cha được nhìn như “Ý Chí-hướng Thiện” và Mẹ được nhìn như “thiện chí”. Đây là một góc nhìn quan trọng về sự khai sinh của nền văn minh mới và tinh thần—tinh thần hơn rất nhiều so với điều đã có thể trong quá khứ.

8. We might ask ourselves, “How are the ‘will-to-good’ and ‘goodwill’ to interact? As the greater will ever include the lesser, the expression of the will-to-good must be done, as much as possible, via the medium of goodwill. This is not necessarily a foregone conclusion, as the “good” may call for the imposition of patterns which seem to violate the principle of “goodwill”. When this is the case, the reason for the necessary imposition must be carefully explained to that the will-to-good may be accepted by those who cannot usually understand it, and for whom it is a task even to understand the nature and value of goodwill.

8. Chúng ta có thể tự hỏi: “Ý Chí-hướng Thiện” và “thiện chí” sẽ tương tác như thế nào? Vì ý chí lớn hơn bao giờ cũng bao gồm ý chí nhỏ hơn, nên sự biểu hiện của Ý Chí-hướng Thiện phải được thực hiện, càng nhiều càng tốt, qua phương tiện thiện chí. Điều này không nhất thiết là một kết luận hiển nhiên, vì “Thiện” có thể đòi hỏi việc áp đặt những mô hình dường như vi phạm nguyên lý “thiện chí”. Khi đúng như vậy, lý do cho sự áp đặt cần thiết phải được giải thích cẩn thận, để Ý Chí-hướng Thiện có thể được chấp nhận bởi những người thường không thể thấu hiểu nó, và đối với họ, ngay cả việc thấu hiểu bản chất và giá trị của thiện chí cũng là một nhiệm vụ.

9. It would seem that much intelligent adaptability is required if those who are animated by the will-to-good are to effectively mobilize those for whom goodwill is more compelling. Interpretive Mercury and appreciative Venus play their role in the appropriate interface between these two types of will.

9. Có vẻ như cần có nhiều khả năng thích ứng thông minh nếu những người được Ý Chí-hướng Thiện làm sinh động muốn huy động hữu hiệu những người mà thiện chí có sức thuyết phục hơn. Sao Thủy có tính diễn giải và Sao Kim có tính trân trọng đóng vai trò của chúng trong giao diện thích hợp giữa hai loại ý chí này.

10. The Tibetan commends these considerations to our “consciousness”, not only to our minds. The consciousness is deeper than the mind and includes it. He is calling for a deep understanding of the two types of will, suggesting that the future happiness (and, even, peace) of humanity depends upon their proper nurturing. Thus, these two factors are vitally important.

10. Chân sư Tây Tạng gửi gắm những suy xét này vào “tâm thức” của chúng ta, chứ không chỉ vào thể trí của chúng ta. Tâm thức sâu hơn thể trí và bao gồm thể trí. Ngài kêu gọi một sự thấu hiểu sâu sắc về hai loại ý chí, gợi ý rằng hạnh phúc tương lai, và thậm chí hòa bình, của nhân loại tùy thuộc vào việc nuôi dưỡng đúng đắn chúng. Vì vậy, hai yếu tố này có tầm quan trọng thiết yếu.

11. How does one go about nurturing the will-to-good and goodwill? First of all by understanding them, valuing them and explaining their nature and value to others. Even more importantly, one has to demonstrate them in one’s life. Goodwill as “love in action” is, of the two, the easier to understand. No great mental development or expansions of consciousness are necessary as in relation to the will-to-good.

11. Người ta sẽ nuôi dưỡng Ý Chí-hướng Thiện và thiện chí như thế nào? Trước hết bằng cách thấu hiểu chúng, trân trọng chúng và giải thích bản chất cùng giá trị của chúng cho người khác. Quan trọng hơn nữa, người ta phải thể hiện chúng trong đời sống của mình. Thiện chí như “tình thương trong hành động” là điều dễ hiểu hơn trong hai điều này. Không cần sự phát triển trí tuệ lớn lao hay những mở rộng tâm thức như đối với Ý Chí-hướng Thiện.

12. The nurturance of the will-to-good requires a constantly intuitive orientation for only from the realm of intuition can the nature of the will-to-good be apprehended, this being the case because the intuition reveals the “good” and, at length (in a planetary sense) the “Good”.

12. Việc nuôi dưỡng Ý Chí-hướng Thiện đòi hỏi một định hướng trực giác thường hằng, vì chỉ từ cõi của trực giác mới có thể lĩnh hội bản chất của Ý Chí-hướng Thiện; điều này đúng bởi trực giác mặc khải “thiện”, và cuối cùng, theo nghĩa hành tinh, mặc khải “Thiện”.

13. The paragraph under study was written in the early to mid 1940’s. We can see that humanity, as a whole, is not yet happy. Perhaps it is too soon. The requisite work has not been done. There is far too little of both the will-to-good and goodwill alive and active in the world. Many years of nurturance and cultivation lie ahead of us.

13. Đoạn đang nghiên cứu được viết vào đầu đến giữa thập niên 1940. Chúng ta có thể thấy rằng nhân loại, xét như một toàn thể, vẫn chưa hạnh phúc. Có lẽ còn quá sớm. Công việc cần thiết chưa được thực hiện. Trên thế giới có quá ít Ý Chí-hướng Thiện và thiện chí đang sống động và hoạt động. Nhiều năm nuôi dưỡng và vun trồng còn ở phía trước chúng ta.

The New Group of World Servers must be reached and the will-to-good developed in them, and the masses simultaneously must be reached with the message of goodwill. The will-to-good is dynamic, powerful and effective; it is based on realisation of the plan and on reaction to the purpose as sensed by those who are either initiate, and consciously in touch with Shamballa, or disciples who are likewise a part of the Hierarchy but are not yet able to contact the central Purpose or Life. Not yet having taken the third initiation, the monadic vibration is to them largely unknown. It would be just as dangerous for them to be able to reach Shamballa (prior to the third initiation when all personality tendencies are obliterated) as it would be to teach the masses of men today techniques of will which would render their still selfish will effective. The main difficulty would be that the disciples would destroy themselves, whilst the ordinary man would damage himself.

Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian phải được tiếp cận và Ý Chí-hướng Thiện phải được phát triển nơi họ; đồng thời quần chúng phải được tiếp cận bằng thông điệp thiện chí. Ý Chí-hướng Thiện có tính năng động, mạnh mẽ và hữu hiệu; nó đặt nền trên sự chứng nghiệm Thiên Cơ và trên phản ứng đối với Thiên Ý như được cảm nhận bởi những người hoặc là điểm đạo đồ, có ý thức tiếp xúc với Shamballa, hoặc là các đệ tử cũng thuộc về Thánh đoàn nhưng chưa thể tiếp xúc với Thiên Ý hay Sự Sống trung tâm. Vì chưa trải qua lần điểm đạo thứ ba, rung động chân thần phần lớn vẫn chưa được họ biết đến. Sẽ nguy hiểm cho họ nếu có thể vươn tới Shamballa trước lần điểm đạo thứ ba, khi mọi khuynh hướng phàm ngã đều bị xóa bỏ, cũng như sẽ nguy hiểm nếu dạy cho quần chúng nhân loại ngày nay các kỹ thuật về ý chí, vốn sẽ khiến ý chí vẫn còn ích kỷ của họ trở nên hữu hiệu. Khó khăn chính là các đệ tử sẽ tự hủy diệt mình, trong khi người bình thường sẽ tự gây tổn hại cho mình.

1. How many people are members of the New Group of World Servers? In the 1930’s there were only a few thousands. Today there may be hundreds of thousands, perhaps even millions. The Hierarchy (which can infallibly recognize those who are members) is in a position to know with accuracy. We are not.

1. Có bao nhiêu người là thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian? Vào thập niên 1930 chỉ có vài nghìn người. Ngày nay có thể có hàng trăm nghìn, có lẽ thậm chí hàng triệu. Thánh đoàn, vốn có thể nhận biết không sai lầm những ai là thành viên, ở vị thế biết một cách chính xác. Còn chúng ta thì không.

2. The will-to-good will mean one thing to the average member of the NGWS, another to a disciple trained in occultism, and still another to initiates and members of the Spiritual Hierarchy. It becomes clear, however, that even average members of the NGWS can be trained sufficiently to recognize planetary good that the will-to-good can arise within their consciousness. The way to achieve this is to offer an increasingly clear vision of planetary possibilities—possibilities which are not too occult or dependent upon an understanding of occult technicalities. The “good” (conceived in planetary terms) is already the property-in-consciousness of many servers of the race. They do not and cannot see the whole picture, and perhaps they conceive of the good only in relation to the work of a particular Ashram (which, unknown to them, inspires them), but some aspect of the ‘planetary good’ has, at least, taken shape within their consciousness.

2. Ý Chí-hướng Thiện sẽ có một ý nghĩa đối với thành viên trung bình của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, một ý nghĩa khác đối với đệ tử được huấn luyện trong huyền bí học, và lại một ý nghĩa khác nữa đối với các điểm đạo đồ và các thành viên của Huyền Giai Tinh Thần. Tuy nhiên, điều trở nên rõ ràng là ngay cả những thành viên trung bình của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian cũng có thể được huấn luyện đầy đủ để nhận ra điều thiện hành tinh, đến mức Ý Chí-hướng Thiện có thể phát sinh trong tâm thức của họ. Cách để đạt được điều này là đưa ra một tầm nhìn ngày càng rõ ràng hơn về các khả tính hành tinh — những khả tính không quá huyền bí hoặc lệ thuộc vào sự thấu hiểu các chi tiết kỹ thuật huyền bí. “Điều thiện” được quan niệm theo nghĩa hành tinh đã là sở hữu trong tâm thức của nhiều người phụng sự nhân loại. Họ không thấy và không thể thấy toàn cảnh, và có lẽ họ chỉ quan niệm điều thiện trong liên hệ với công việc của một ashram đặc thù vốn, tuy họ không biết, đang truyền cảm hứng cho họ; nhưng ít nhất, một phương diện nào đó của “điều thiện hành tinh” đã thành hình trong tâm thức của họ.

3. The Tibetan describes the will-to-good as “dynamic, powerful and effective”. He offers us two types of reaction to this will—one characteristic of initiates and the other of disciples. Disciples can realize the Plan, but only react to the Purpose. The soul-influenced consciousness is sufficiently wide and deep to embrace the Plan with reasonable entirety (at least with respect to their particular field of service) but not yet adequate to a realization of the greater Purpose which substands the Plan. The apprehension of Divine Purpose requires ‘occult distance vision’, a realization of whence, whither and wherefore which far beyond the ken of even the astute disciple.

3. Chân sư Tây Tạng mô tả Ý Chí-hướng Thiện là “năng động, mạnh mẽ và hữu hiệu”. Ngài đưa ra cho chúng ta hai loại phản ứng đối với ý chí này — một loại đặc trưng cho các điểm đạo đồ và loại kia đặc trưng cho các đệ tử. Các đệ tử có thể nhận thức Thiên Cơ, nhưng chỉ có thể đáp ứng với Thiên Ý. Tâm thức chịu ảnh hưởng của linh hồn đủ rộng và đủ sâu để bao hàm Thiên Cơ một cách tương đối toàn vẹn, ít nhất là đối với lĩnh vực phụng sự riêng của họ, nhưng vẫn chưa đủ khả năng để chứng nghiệm Thiên Ý lớn lao hơn vốn làm nền tảng cho Thiên Cơ. Việc lĩnh hội Thiên Ý đòi hỏi “tầm nhìn xa huyền bí”, một chứng nghiệm về nguồn gốc, đích đến và lý do hiện hữu, điều vượt xa tầm hiểu biết ngay cả của đệ tử sắc sảo.

4. Always knowing that there is much more to see and understand, we must be reasonably content with the scope of apprehension presently available to us, and then act upon the apprehension. We will apprehend more as we act according to what we presently know.

4. Luôn biết rằng còn nhiều điều hơn nữa để thấy và thấu hiểu, chúng ta phải tương đối hài lòng với phạm vi lĩnh hội hiện đang sẵn có cho mình, rồi hành động dựa trên sự lĩnh hội ấy. Chúng ta sẽ lĩnh hội nhiều hơn khi hành động theo những gì mình hiện nay biết.

5. Since those who are technically disciples have not yet taken the third initiation, they cannot realize the Divine Purpose. After the third initiation, some contact with Shamballa begins, though it is but a faint contact. The monad, however, is that state of awareness which apprehends purpose, and thus the third degree at which time monadic contact becomes conscious is the ante-chamber to the realization of Divine Purpose.

5. Vì những ai về mặt kỹ thuật là đệ tử vẫn chưa trải qua lần điểm đạo thứ ba, họ không thể chứng nghiệm Thiên Ý. Sau lần điểm đạo thứ ba, một sự tiếp xúc nào đó với Shamballa bắt đầu, dù chỉ là một tiếp xúc mờ nhạt. Tuy nhiên, chân thần là trạng thái nhận thức lĩnh hội được mục đích; do đó, cấp độ thứ ba, lúc sự tiếp xúc chân thần trở nên hữu thức, là tiền phòng dẫn đến sự chứng nghiệm Thiên Ý.

6. The paragraph concludes with a most powerful and revelatory section:

6. Đoạn văn kết thúc bằng một phần hết sức mạnh mẽ và mặc khải:

“It would be just as dangerous for them to be able to reach Shamballa (prior to the third initiation when all personality tendencies are obliterated) as it would be to teach the masses of men today techniques of will which would render their still selfish will effective. The main difficulty would be that the disciples would destroy themselves, whilst the ordinary man would damage himself.”

“Việc họ có thể vươn tới Shamballa trước lần điểm đạo thứ ba, khi mọi khuynh hướng phàm ngã đã bị xóa bỏ, sẽ nguy hiểm chẳng khác nào việc dạy cho quần chúng nhân loại ngày nay các kỹ thuật của ý chí, những kỹ thuật khiến ý chí vẫn còn ích kỷ của họ trở nên hữu hiệu. Khó khăn chính là các đệ tử sẽ tự hủy diệt chính mình, trong khi người bình thường sẽ gây tổn hại cho chính mình.”

Two types of danger are cited—one based upon selfishness and the other, less selfish, but still highly inadvisable.

Hai loại nguy hiểm được nêu ra — một loại dựa trên tính ích kỷ, và loại kia ít ích kỷ hơn, nhưng vẫn hết sức không nên.

7. We learn something of real importance: at the third initiation “all personality tendencies are obliterated”. This is an uncompromising statement which should give pause to many who think they have attained to this degree.

7. Chúng ta học được một điều có tầm quan trọng thật sự: ở lần điểm đạo thứ ba, “mọi khuynh hướng phàm ngã đều bị xóa bỏ”. Đây là một tuyên bố dứt khoát, đáng khiến nhiều người tưởng rằng mình đã đạt tới cấp độ này phải dừng lại suy xét.

8. Selfishness is always destructive, both to victim and perpetrator. When members of the mass are selfish, karma brings its correctives and the cost of selfishness is driven home.

8. Tính ích kỷ luôn có tính hủy hoại, đối với cả nạn nhân lẫn kẻ gây ra. Khi các thành viên của quần chúng ích kỷ, nghiệp quả đem đến những điều chỉnh đúng đắn, và cái giá của tính ích kỷ được khắc sâu vào họ.

9. When a well-intended (though still personal) disciple becomes over-driven by the will, the motive for action may be good but the intensity of application will be unwise—too much for the personality to handle. The energy of love (conferred in abundance by the Solar Angel at the third degree) does not serve as a buffering, moderating influence. During the Second World War we saw certain members of the Axis group driven by immoderate will, and their paths ended in destruction. These individuals, however, were selfishly motivated in the extreme, and so the forces of retributive karma were also activated, making their unhappy and unholy end even more certain.

9. Khi một đệ tử có thiện ý, dù vẫn còn mang tính cá nhân, bị ý chí thúc đẩy quá mức, động cơ hành động có thể là tốt, nhưng cường độ áp dụng sẽ thiếu minh triết — quá sức để phàm ngã xử lý. Năng lượng bác ái, được Thái dương Thiên Thần ban tràn đầy ở cấp độ thứ ba, không đóng vai trò như một ảnh hưởng đệm và điều hòa. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, chúng ta đã thấy một số thành viên của phe Trục bị thúc đẩy bởi ý chí không điều độ, và con đường của họ kết thúc trong hủy diệt. Tuy nhiên, những cá nhân này có động cơ ích kỷ đến cực độ, nên các mãnh lực nghiệp quả báo ứng cũng được kích hoạt, khiến kết cục bất hạnh và bất thiện của họ càng chắc chắn hơn.

10. Dynamic will (impulsed from Shamballa) tends to overlook the limitations of the form unless the second ray (the Preserver of the Form) is functioning simultaneously. Personalities prior to the third degree are, however, incompletely soul-infused and thus incompletely protected by the second ray. Even for the well-intended, the Shamballic Will would become so strong as to run roughshod over the legitimate needs of the form; thus, the inevitable destruction.

10. Ý chí năng động, được thúc đẩy từ Shamballa, có khuynh hướng bỏ qua các giới hạn của hình tướng, trừ khi cung hai, Đấng Bảo Tồn Hình Tướng, đồng thời đang hoạt động. Tuy nhiên, các phàm ngã trước cấp độ thứ ba chưa được linh hồn thấm nhuần hoàn toàn, và do đó chưa được cung hai bảo vệ hoàn toàn. Ngay cả đối với người có thiện ý, Ý Chí Shamballa cũng sẽ trở nên mạnh đến mức chà đạp lên những nhu cầu chính đáng của hình tướng; do đó, sự hủy diệt là điều tất yếu.

11. No wonder that Shamballa and its ‘Residents’ are so careful in making un-buffered contact with humanity and human beings; such contact is inevitably destructive of the form. Premature contact will destroy those forms which are not ‘ready for destruction’.

11. Không có gì lạ khi Shamballa và các “Cư dân” của nơi ấy hết sức thận trọng trong việc tạo tiếp xúc không có lớp đệm với nhân loại và con người; sự tiếp xúc như thế tất yếu hủy hoại hình tướng. Sự tiếp xúc quá sớm sẽ hủy diệt những hình tướng chưa “sẵn sàng để bị hủy diệt”.

12. In reading this final statement, we come to realize the potency of will. Shamballic Will added to a will but little developed would be damaging though not destroying. Shamballic Will added to the highly developed personal will of an incompletely soul-infused personality would lead to its destruction.

12. Khi đọc lời tuyên bố cuối cùng này, chúng ta nhận ra uy lực của ý chí. Ý Chí Shamballa được thêm vào một ý chí còn ít phát triển sẽ gây tổn hại, dù chưa hủy diệt. Ý Chí Shamballa được thêm vào ý chí cá nhân đã phát triển cao của một phàm ngã chưa được linh hồn thấm nhuần hoàn toàn sẽ dẫn tới sự hủy diệt của nó.

13. The inexperienced long to “play with fire” for the rapid development which it promises. Their ambition and naïveté lead, however, to lives of retardation than to the envisioned rapid progress. Progress along the Path of Occultism must be wisely measured if it is not to lead to disaster and delay.

13. Những người thiếu kinh nghiệm khao khát “đùa với lửa” vì sự phát triển nhanh chóng mà nó hứa hẹn. Tuy nhiên, tham vọng và sự ngây thơ của họ đưa đến những kiếp sống trì hoãn hơn là sự tiến bộ nhanh chóng mà họ hình dung. Sự tiến bộ trên Con Đường Huyền Bí Học phải được đo lường một cách minh triết, nếu không nó sẽ dẫn tới tai họa và chậm trễ.

L. Paragraph 11

L. Đoạn 11

This exegesis of Rule IV is necessarily brief because it is of such deep significance that it requires careful study, sentence by sentence, and even so it is very largely beyond the grasp of the majority of readers. It will, however, be useful for disciples to reflect upon the various meanings (there are several) and upon the esoteric implications. [Page 111]

Phần chú giải Quy luật IV này tất yếu phải ngắn gọn, vì nó có thâm nghĩa sâu xa đến mức đòi hỏi phải nghiên cứu cẩn thận từng câu một; và ngay cả như vậy, phần lớn nó vẫn vượt ngoài tầm nắm bắt của đa số độc giả. Tuy nhiên, sẽ hữu ích cho các đệ tử khi suy ngẫm về những ý nghĩa khác nhau, mà có nhiều ý nghĩa, và về các hàm ý huyền bí. [Trang 111]

1. This exegesis is perhaps no more brief than those for the other Rules, but Master D.K. knows, it would seem, what else might be said.

1. Phần chú giải này có lẽ không ngắn gọn hơn các phần dành cho những Quy luật khác, nhưng dường như Chân sư DK biết còn có thể nói thêm điều gì khác.

2. We have been working through Rule IV carefully, studying not only the Rule but D.K.’s commentary almost sentence by sentence.

2. Chúng ta đã làm việc cẩn thận qua Quy luật IV, nghiên cứu không chỉ Quy luật mà cả phần bình luận của Chân sư DK gần như từng câu một.

3. We realize that we are studying matters beyond our grasp, but our very effort to do so bring true understanding closer. Master D.K. has assured us that this is so.

3. Chúng ta nhận ra rằng mình đang nghiên cứu những vấn đề vượt ngoài tầm nắm bắt của mình, nhưng chính nỗ lực làm như vậy đưa sự thấu hiểu chân thật đến gần hơn. Chân sư DK đã bảo đảm với chúng ta rằng điều đó là như vậy.

4. We realize that no one interpretation can reveal but a small portion of what may be extracted from these Rules. A number of meanings emerge even in this analysis. As the greater group turns its attention to interpreting and explaining, a number of suggestive interpretations will emerge.

4. Chúng ta nhận ra rằng không một cách diễn giải nào có thể mặc khải ngoài một phần nhỏ những gì có thể rút ra từ các Quy luật này. Ngay trong phân tích này, một số ý nghĩa đã xuất hiện. Khi nhóm lớn hơn hướng sự chú ý vào việc diễn giải và giải thích, một số cách diễn giải đầy gợi ý sẽ xuất hiện.

5. Our task is not only to survey a number of possible meanings, but to find the meanings most pertinent to the development of our group and to our own development—something which we may know better than our fellow students.

5. Nhiệm vụ của chúng ta không chỉ là khảo sát một số ý nghĩa có thể có, mà còn là tìm ra những ý nghĩa thích hợp nhất với sự phát triển của nhóm chúng ta và với sự phát triển của chính mình — điều mà chúng ta có thể biết rõ hơn các môn sinh đồng môn của mình.

6. Perhaps, after careful consideration of this Rule, we will find that our ‘orbit of consciousness’ has increased its radius, and that our tendency is to identify with the turning of the “Greater Wheel” rather than with the more egoistic turnings of lesser wheels, including that of our own personality.

6. Có lẽ, sau khi cân nhắc kỹ Quy luật này, chúng ta sẽ thấy rằng “quỹ đạo tâm thức” của mình đã gia tăng bán kính, và khuynh hướng của chúng ta là đồng hoá với sự chuyển động của “Bánh Xe Lớn” hơn là với những vòng quay mang tính chân ngã hơn của các bánh xe nhỏ hơn, kể cả bánh xe của chính phàm ngã chúng ta.

7. Not only do we wish to expand our ring-pass-not, but we wish to increase our orbit of consciousness. Perhaps this is done by ‘changing center’. When we discover that we are actually revolving around a ‘center more remote’ (and thus spiritually ‘higher’), we discover that the orbit of our consciousness has also increased. When, at great length, the center of that orbit becomes the highest of all possible centers, we shall discover that but One Wheel is turning and that we are identified as that Wheel. This would represent a point of ultimate consummation. For the time being, it is sufficient to find centers ever more spiritual, subtle and thus more ‘spiritually distant’ (thus increasing the orbit of our consciousness).

7. Chúng ta không chỉ muốn mở rộng vòng-giới-hạn của mình, mà còn muốn gia tăng quỹ đạo tâm thức của mình. Có lẽ điều này được thực hiện bằng cách “đổi trung tâm”. Khi khám phá rằng mình thật sự đang xoay quanh một “trung tâm xa hơn”, và do đó “cao hơn” về mặt tinh thần, chúng ta khám phá rằng quỹ đạo tâm thức của mình cũng đã gia tăng. Khi, sau một thời gian rất dài, trung tâm của quỹ đạo ấy trở thành trung tâm cao nhất trong mọi trung tâm có thể có, chúng ta sẽ khám phá rằng chỉ có Một Bánh Xe đang quay và chúng ta được đồng hoá như chính Bánh Xe ấy. Điều này sẽ biểu thị một điểm thành tựu tối hậu. Trong lúc này, chỉ cần tìm những trung tâm ngày càng tinh thần hơn, tinh tế hơn và do đó “xa hơn về mặt tinh thần”, nhờ vậy gia tăng quỹ đạo tâm thức của chúng ta.

Rule IV: Third Sentence

Quy luật IV: Câu thứ ba

Rule Four for Applicants: Let the disciple tend the evolution of the fire; nourish the lesser lives, and thus keep the wheel revolving.

Quy luật Bốn dành cho Ứng viên: Hãy để đệ tử chăm lo sự tiến hoá của lửa; nuôi dưỡng các sự sống nhỏ bé hơn, và nhờ vậy giữ cho bánh xe tiếp tục quay.

Rule Four for Disciples and Initiates: Let the group see that all the eighteen fires die down and that the lesser lives return unto the reservoir of life. This they must bring about through the evocation of the Will. The lesser wheels must not for aye revolve in time and space. Only the greater Wheel must onward move and turn.

Quy luật Bốn dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ: Hãy để nhóm thấy rằng tất cả mười tám ngọn lửa lắng xuống và các sự sống nhỏ bé hơn trở về kho chứa của sự sống. Họ phải thực hiện điều này thông qua việc gợi lên Ý Chí. Các bánh xe nhỏ bé hơn không được mãi mãi quay trong thời gian và không gian. Chỉ Bánh Xe lớn hơn mới phải tiến bước và xoay chuyển.

The Rule for Applicants

Quy luật dành cho Ứng viên

A. Rule Four for Applicants: Let the disciple tend the evocation of the fire; nourish the lesser lives, and thus keep the wheel revolving.

A. Quy luật Bốn dành cho Ứng viên: Hãy để đệ tử chăm lo việc gợi lên lửa; nuôi dưỡng các sự sống nhỏ bé hơn, và nhờ vậy giữ cho bánh xe tiếp tục quay.

1. Fire is life.

1. Lửa là sự sống.

2. Fire is like the breath; without it we die.

2. Lửa giống như hơi thở; không có nó, chúng ta chết.

3. Fire is vibration. Distinct fires are distinct levels of vibration.

3. Lửa là rung động. Những ngọn lửa khác nhau là những cấp độ rung động khác nhau.

4. Fire, as understood in this Rule, keeps us spiritually alive.

4. Lửa, như được hiểu trong Quy luật này, giữ cho chúng ta sống về mặt tinh thần.

5. All is fire, of some kind or nature, but, upon our planet, the right circulation of the fire has been inhibited. Various fires are congealed and wrong fixation or localization has occurred. The divine circulatory flow must be restored.

5. Tất cả đều là lửa, thuộc một loại hay bản chất nào đó, nhưng trên hành tinh chúng ta, sự lưu thông đúng đắn của lửa đã bị ức chế. Nhiều loại lửa khác nhau đã đông đặc lại, và sự cố định hoặc định vị sai lầm đã xảy ra. Dòng tuần hoàn thiêng liêng phải được phục hồi.

6. The fire of the higher mental plane, the fire of the Solar Angel, is always available to those who know how to access it. In a way, that fire sustains all we are upon those three subplanes (the causal body) and all we are in the three lower words.

6. Lửa của Cõi thượng trí, lửa của Thái dương Thiên Thần, luôn sẵn có cho những ai biết cách tiếp cận nó. Theo một cách nào đó, lửa ấy nâng đỡ tất cả những gì chúng ta là trên ba cõi phụ ấy, tức thể nguyên nhân, và tất cả những gì chúng ta là trong ba cõi thấp.

7. The disciple needs conscious access to this fire in order to promote his/her progress and strength in serve.

7. Đệ tử cần tiếp cận lửa này một cách có ý thức để thúc đẩy sự tiến bộ và sức mạnh của y trong phụng sự.

8. So that fire must be invoked and its intended work within the personality promoted.

8. Vì vậy, lửa ấy phải được khẩn cầu và công việc được dự định của nó trong phàm ngã phải được thúc đẩy.

9. The greater fire, invoked, will cause the lesser fires to circulate properly; the various triangles which are to be vivified in right succession according to the ray of the soul and monad will evolve correctly.

9. Ngọn lửa lớn hơn, khi được khẩn cầu, sẽ khiến các ngọn lửa nhỏ hơn lưu thông đúng đắn; các tam giác khác nhau cần được tiếp sinh lực theo trình tự đúng đắn, phù hợp với cung linh hồn và cung chân thần, sẽ tiến hoá một cách chính xác.

10. Our task is to see to the evocation of solar fire. This we do by invoking solar fire through correct occult meditation and through an attitude and acts of service. Our personal lives become an ongoing invocation to the source of solar fire, and by means of this invocation, solar fire is evoked.

10. Nhiệm vụ của chúng ta là chăm lo việc gợi lên Lửa Thái dương. Chúng ta làm điều này bằng cách khẩn cầu Lửa Thái dương qua tham thiền huyền bí đúng đắn, và qua thái độ cùng các hành vi phụng sự. Đời sống cá nhân của chúng ta trở thành một lời khẩn cầu liên tục hướng tới nguồn của Lửa Thái dương, và nhờ lời khẩn cầu này, Lửa Thái dương được gợi lên.

11. We know that spiritually nourishing solar fire is present in our personal lives when our heart is alive and when we approach living with a true and impersonal wisdom.

11. Chúng ta biết rằng Lửa Thái dương nuôi dưỡng về mặt tinh thần đang hiện diện trong đời sống cá nhân của mình khi trái tim chúng ta sống động và khi chúng ta tiếp cận đời sống bằng một minh triết chân thật và vô ngã.

12. Then, the consciousness and form nourished by solar fire are no longer under the sway of binding desire. Other and higher ‘gods’ are now served, and release from spiritual bondage is imminent.

12. Khi ấy, tâm thức và hình tướng được nuôi dưỡng bởi Lửa Thái dương không còn nằm dưới quyền chi phối của dục vọng trói buộc. Những “thần linh” khác và cao hơn giờ đây được phụng sự, và sự giải thoát khỏi cảnh nô lệ tinh thần đã gần kề.

13. How actually do we tend to the evocation of the redeeming solar fire (the fire of the increasingly attentive Solar Angel)?

13. Thật ra, chúng ta chăm lo việc gợi lên Lửa Thái dương cứu chuộc, tức lửa của Thái dương Thiên Thần ngày càng chú tâm, bằng cách nào?

a. We center the consciousness in the head (etherically) or ‘above’ the head.. This is the prerequisite of occult meditation. We never forget that the ‘heart of pure reason’ is found within the head center.

a. Chúng ta đặt tâm thức vào trong đầu, theo nghĩa dĩ thái, hoặc “ở trên” đầu. Đây là điều kiện tiên quyết của tham thiền huyền bí. Chúng ta không bao giờ quên rằng “trái tim của lý trí thuần khiết” được tìm thấy trong trung tâm đầu.

b. We keep the Divine Plan always in mind, remembering that, first and foremost, it must be the Plan we serve, for the right emergence of the Divine Plan will bring the good of all.

b. Chúng ta luôn giữ Thiên Cơ trong trí, nhớ rằng trước hết và trên hết, đó phải là Thiên Cơ mà chúng ta phụng sự, vì sự xuất hiện đúng đắn của Thiên Cơ sẽ đem lại điều thiện của tất cả.

c. We remember the nature of our soul ray, its color and its note. Solar fire is sevenfold, and each of us can best promote its evocation by working along the vibratory line which, for us, is the spiritual line of least resistance.

c. Chúng ta nhớ đến bản chất của cung linh hồn mình, màu sắc và âm điệu của nó. Lửa Thái dương có tính thất phân, và mỗi chúng ta có thể thúc đẩy tốt nhất việc gợi lên lửa ấy bằng cách làm việc theo đường rung động vốn, đối với chúng ta, là con đường ít trở ngại nhất về mặt tinh thần.

d. We seek to be sensitive to the needs of the environment or context in which our personal lives are immersed. All environments and contexts and sounding their notes and chords. Dissonance exists and must give way to harmony. We remain sensitive to the ‘touch of improvement’ which we may be equipped to offer.

d. Chúng ta tìm cách nhạy bén với các nhu cầu của môi trường hoặc bối cảnh mà đời sống cá nhân của mình đang chìm ngập trong đó. Mọi môi trường và bối cảnh đều xướng lên âm điệu và hợp âm của chúng. Sự nghịch âm tồn tại và phải nhường chỗ cho hài hoà. Chúng ta vẫn nhạy bén với “sự chạm đến để cải thiện” mà mình có thể được trang bị để cống hiến.

e. When we look towards our brothers and sisters we attempt to sense their real need—the need as seen from the soul perspective. This may not be easy. When, through the open heart, the need is detected, however, solar fire will respond to meet that need.

e. Khi nhìn về phía các huynh đệ và tỷ muội của mình, chúng ta cố gắng cảm nhận nhu cầu thật sự của họ — nhu cầu như được thấy từ viễn cảnh của linh hồn. Điều này có thể không dễ. Tuy nhiên, khi nhu cầu được phát hiện qua trái tim rộng mở, Lửa Thái dương sẽ đáp ứng để thỏa ứng nhu cầu ấy.

f. Our orientation, then, is one of helpfulness (whether the help to be given is objective, or, quite often, subjective). We are ready to give the help which only the soul can give and the soul is ready, from its perspective, to flow through us to the ‘sensed place of need’.

f. Khi ấy, định hướng của chúng ta là một định hướng của sự hữu ích, dù sự trợ giúp cần trao là khách quan hay, rất thường khi, chủ quan. Chúng ta sẵn sàng trao sự trợ giúp mà chỉ linh hồn mới có thể trao, và linh hồn, từ viễn cảnh của nó, sẵn sàng tuôn chảy qua chúng ta đến “nơi có nhu cầu được cảm nhận”.

g. We keep the instrument fit, and knowingly do no thing which will dampen its vibration and is receptive/radiatory capacity.

g. Chúng ta giữ cho khí cụ được thích hợp, và có ý thức không làm điều gì sẽ làm giảm rung động cùng khả năng tiếp nhận và phát xạ của nó.

h. We learn the mantrams, Words of Power, Rules and Laws which (practiced) will keep us en-rapport with the ‘fires from heaven’—whether solar fire, triadal fire of monadic fire. There are, after all, technical means by which the lower worlds may be connected to the higher, promoting the flow from higher to lower. We should make a number of these techniques our own.

h. Chúng ta học các mantram, các Quyền năng từ, các Quy luật và Định luật mà khi được thực hành sẽ giữ chúng ta trong mối tương thông với “những ngọn lửa từ trời” — dù là Lửa Thái dương, lửa của Tam Nguyên Tinh Thần hay lửa chân thần. Rốt cuộc, có những phương tiện kỹ thuật nhờ đó các cõi thấp có thể được nối kết với các cõi cao, thúc đẩy dòng chảy từ cao xuống thấp. Chúng ta nên làm chủ một số kỹ thuật này.

i. We devise our own mantrams which will summon the “fires of heaven”.

i. Chúng ta tự đặt ra các mantram của riêng mình để triệu thỉnh “những ngọn lửa của trời”.

j. We learn the secrets of the “Breath”—the Breath as key to the sources of inspiration.

j. Chúng ta học các bí mật của “Hơi Thở” — Hơi Thở như chìa khóa dẫn đến các nguồn của cảm hứng.

k. We live with positivity and as cheerfully as possible, knowing that depression is ingratitude.

k. Chúng ta sống với tính tích cực và vui tươi hết mức có thể, biết rằng sự chán nản là vô ơn.

l. Each will have his/her own means of tending the evocation of the fire. Think how you do it and make sure the heavenly fire is burning for you and definitely make your list.

l. Mỗi người sẽ có phương tiện riêng để chăm lo việc gợi lên lửa. Hãy suy nghĩ xem bạn làm điều đó như thế nào, và hãy chắc chắn rằng ngọn lửa thiên thượng đang cháy vì bạn, rồi nhất định hãy lập danh sách của mình.

14. The nourishing (and ordering) of the lesser lives will proceed automatically with the right evocation of the higher fire.

14. Việc nuôi dưỡng và sắp đặt các sự sống nhỏ bé hơn sẽ tự động diễn tiến khi ngọn lửa cao hơn được gợi lên đúng đắn.

15. The popular idea about nourishment is that is derives from what we eat, but nourishment is a much wider concept.

15. Ý niệm phổ biến về sự nuôi dưỡng là nó bắt nguồn từ những gì chúng ta ăn, nhưng sự nuôi dưỡng là một quan niệm rộng hơn nhiều.

16. Nourishment deals with the assimilation of that which promotes the sustainment and expression of the pattern of our being.

16. Sự nuôi dưỡng đề cập đến việc đồng hoá những gì thúc đẩy sự duy trì và biểu lộ mô hình bản thể của chúng ta.

17. Non-nourishing assimilations weaken the pattern of our being. Just as there is “junk food”, there is ‘junk thought’, ‘junk feelings’ and ‘junk actions’.

17. Những sự đồng hoá không nuôi dưỡng làm suy yếu mô hình bản thể của chúng ta. Cũng như có “thức ăn rác”, cũng có “tư tưởng rác”, “cảm xúc rác” và “hành động rác”.

18. Every environmental contact can be nourishing or not. Every thought, feeling or action can nourish or promote the expression of that archetypal pattern, or not.

18. Mọi tiếp xúc với môi trường đều có thể nuôi dưỡng hoặc không. Mọi tư tưởng, cảm xúc hay hành động đều có thể nuôi dưỡng hoặc thúc đẩy sự biểu lộ của mô hình nguyên mẫu ấy, hoặc không.

19. At this stage of our development, and spiritually speaking, soul energy (solar fire) brings nourishment and, with it, true health.

19. Ở giai đoạn phát triển này của chúng ta, và nói theo nghĩa tinh thần, năng lượng linh hồn, tức Lửa Thái dương, đem lại sự nuôi dưỡng và cùng với nó là sức khỏe chân thật.

20. When we align and attune with the soul/Solar Angel, we place ourselves in the stream of true beneficence, and, overall, stimulate those parts of our nature that should flourish and endure.

20. Khi chúng ta chỉnh hợp và hòa điệu với linh hồn, tức Thái dương Thiên Thần, chúng ta đặt mình vào dòng chảy của ân ích chân thật, và nhìn chung, kích thích những phần trong bản chất chúng ta vốn nên nở rộ và bền vững.

21. Yes, there may be such a thing as ‘over-exposure’, and some adjustment may be needed to ensure that the “lesser lives” receive only that which they can assimilate (for they are lives of a lower order than the ‘soul-source’). Over time, however, those lesser lives will adjust to a greater inflow of soul energy, and a greater flow of soul energy will be assimilable. Besides, the Solar Angel is a highly intelligent being, and will not release an excessive ‘flow of its energy’ into an aligning human being, lest damage be done. But the invoking human being must also be watchful.

21. Đúng vậy, có thể có điều gọi là “phơi nhiễm quá mức”, và có thể cần một số điều chỉnh để bảo đảm rằng các “sự sống nhỏ bé hơn” chỉ nhận những gì chúng có thể đồng hoá, vì chúng là những sự sống thuộc trật tự thấp hơn “nguồn linh hồn”. Tuy nhiên, theo thời gian, những sự sống nhỏ bé hơn ấy sẽ thích nghi với một dòng năng lượng linh hồn tuôn vào lớn hơn, và một dòng năng lượng linh hồn lớn hơn sẽ có thể được đồng hoá. Hơn nữa, Thái dương Thiên Thần là một hữu thể có trí tuệ cao, và sẽ không phóng thích một “dòng năng lượng của mình” quá mức vào một con người đang chỉnh hợp, kẻo gây tổn hại. Nhưng con người đang khẩn cầu cũng phải cảnh giác.

22. When we think of ‘spiritual nourishment’, the principle is that ‘nourishment descends from above’ or ‘emerges from within’.

22. Khi nghĩ đến “sự nuôi dưỡng tinh thần”, nguyên lý là “sự nuôi dưỡng giáng xuống từ trên” hoặc “phát sinh từ bên trong”.

23. The “wheel” that must be kept revolving is the symbol for all periodic processes which sustain the energy system of man. Each life (of whatever size and scope) is, in a sense, a “wheel”, and must continue its developmental processes—which means to ‘revolve’.

23. “Bánh xe” phải được giữ cho tiếp tục quay là biểu tượng cho mọi tiến trình chu kỳ vốn duy trì hệ thống năng lượng của con người. Mỗi sự sống, dù thuộc kích thước và phạm vi nào, theo một nghĩa nào đó, là một “bánh xe”, và phải tiếp tục các tiến trình phát triển của nó — điều này có nghĩa là “quay”.

24. From the microcosmic perspective, the most important wheel is the “wheel of incarnation”. The incarnating monad, assisted by the Solar Angel, has a developmental purpose which is achieved ‘over time’ through the means of cyclic immersion in the worlds of form. That purpose must be continually advanced or the will of the monad, expressing itself as the will of the soul, will be thwarted. We remember that the ‘will of the monad’ is an aspect of God’s Will (God—the Planetary Logos).

24. Từ viễn cảnh tiểu thiên địa, bánh xe quan trọng nhất là “bánh xe luân hồi nhập thể”. Chân thần đang nhập thể, với sự trợ giúp của Thái dương Thiên Thần, có một mục đích phát triển được thành tựu “theo thời gian” thông qua phương tiện là sự chìm ngập theo chu kỳ trong các thế giới của hình tướng. Mục đích ấy phải được liên tục thúc đẩy, nếu không ý chí của chân thần, biểu lộ như ý chí của linh hồn, sẽ bị cản trở. Chúng ta nhớ rằng “ý chí của chân thần” là một phương diện của Ý Chí của Thượng Đế, tức Thượng Đế — Đức Hành Tinh Thượng Đế.

25. As evolution proceeds, the closer the rapport between the “overshadowing soul” (the inspiring Solar Angel), the more rapid and effective the turning of the wheel of incarnation. Each life cycle is actuated by a definite purpose known (on causal levels, and fully only there) to the incarnating human soul and incarnation proceeds as it should. Lessons are learned, skills and capacities are developed, and service is rendered.

25. Khi tiến hoá diễn tiến, mối tương thông giữa “linh hồn phủ bóng”, tức Thái dương Thiên Thần truyền cảm hứng, càng gần gũi bao nhiêu, thì sự quay của bánh xe luân hồi nhập thể càng nhanh chóng và hữu hiệu bấy nhiêu. Mỗi chu kỳ sống được tác động bởi một mục đích xác định, được linh hồn nhân loại đang nhập thể biết đến trên các cấp độ nguyên nhân, và chỉ ở đó mới biết trọn vẹn; và sự nhập thể diễn tiến như nó phải diễn tiến. Các bài học được học, các kỹ năng và năng lực được phát triển, và sự phụng sự được thực hiện.

26. The quality of this cyclic progression depends upon the quality of our contact with the ‘inspiring supervisor’ (the soul/Solar Angel), the nourisher of the lesser lives through solar fire.

26. Phẩm tính của sự tiến triển chu kỳ này tùy thuộc vào phẩm tính tiếp xúc của chúng ta với “đấng giám hộ truyền cảm hứng”, tức linh hồn hay Thái dương Thiên Thần, đấng nuôi dưỡng các sự sống nhỏ bé hơn thông qua Lửa Thái dương.

27. We are not yet at a sufficiently high point of evolution that the services of the Solar Angel are no longer needed. Our “inner Guide” our “inner Monitor” must be consulted as if it were our very Self. And in a sense, that Solar Angel is our “Higher Self”—the representative of the monad which we essentially are.

27. Chúng ta chưa ở một điểm tiến hoá đủ cao để không còn cần đến các sự phụng sự của Thái dương Thiên Thần. “Đấng Hướng Đạo bên trong”, “Đấng Giám Sát bên trong” của chúng ta phải được tham vấn như thể đó là chính Bản Ngã của chúng ta. Và theo một nghĩa nào đó, Thái dương Thiên Thần ấy chính là “Bản Ngã Cao Siêu” của chúng ta — đại diện của chân thần mà chúng ta, trong yếu tính, vốn là.

28. The Solar Angel embodies the will of the monad as we (the immersed human soul) can appreciate it and assimilate it.

28. Thái dương Thiên Thần hiện thân cho ý chí của chân thần trong mức độ mà chúng ta, tức linh hồn nhân loại đang chìm ngập, có thể cảm nhận và đồng hoá được.

29. First must come the assimilation of solar fire and only then, can we safely approach electric fire—the true “Fire from Heaven” (the fire of the “Heavenly One”, Uranus).

29. Trước hết phải có sự đồng hoá Lửa Thái dương, và chỉ sau đó chúng ta mới có thể an toàn tiếp cận Lửa Điện — “Lửa từ Trời” đích thực, tức lửa của “Đấng Thiên Thượng”, Sao Thiên Vương.

30. As students of occultism there is no way we could or should avoid this fire. If we do not make application for the assimilation of a nourishing fire, our lives will be ruled by the lower fire which has for ages ruled—fire-by-friction.

30. Là những môn sinh của huyền bí học, chúng ta không thể và cũng không nên tránh né ngọn lửa này. Nếu chúng ta không nỗ lực xin được đồng hoá một ngọn lửa nuôi dưỡng, đời sống của chúng ta sẽ bị cai quản bởi ngọn lửa thấp vốn đã cai quản qua nhiều thời đại — Lửa ma sát.

31. The New Age (as far as esotericists are concerned) is all about an increasing appreciation of and group-access to solar fire. It is the ‘fire of salvation’, of redemption and of solution to the many ills which presently plague the human race (and the planet).

31. Kỷ Nguyên Mới, xét theo quan điểm của các nhà bí truyền học, hoàn toàn liên quan đến sự ngày càng cảm nhận sâu sắc hơn và sự tiếp cận theo nhóm đối với Lửa Thái dương. Đó là “ngọn lửa cứu rỗi”, của sự cứu chuộc và của giải pháp cho nhiều tai ương hiện đang gây khổ cho nhân loại và hành tinh.

32. Indeed, let us tend the evocation of the fire and thus contribute to the turning of all wheels which will advance the Divine Plan.

32. Thật vậy, chúng ta hãy chăm lo việc gợi lên lửa, và nhờ đó góp phần vào sự quay của mọi bánh xe sẽ thúc đẩy Thiên Cơ.

33. “Let the disciple tend the evocation of the fire, nourish the lesser lives and thus keep the wheel revolving”.

33. “Hãy để đệ tử chăm lo việc gợi lên lửa, nuôi dưỡng các sự sống nhỏ bé hơn và nhờ vậy giữ cho bánh xe tiếp tục quay”.

The Rule for Disciples

Quy luật dành cho Đệ tử

B. Rule Four for Disciples and Initiates: Let the group see that all the eighteen fires die down and that the lesser lives return unto the reservoir of life. This they must bring about through the evocation of the Will. The lesser wheels must not for aye revolve in time and space. Only the greater Wheel must onward move and turn.

B. Quy luật Bốn dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ: Hãy để nhóm bảo đảm rằng tất cả mười tám ngọn lửa lắng tắt và các sự sống nhỏ bé hơn trở về kho chứa sự sống. Họ phải thực hiện điều này thông qua việc gợi lên Ý Chí. Các bánh xe nhỏ hơn không được mãi mãi quay trong thời gian và không gian. Chỉ Bánh Xe lớn hơn mới phải tiếp tục chuyển động và quay.

1. The eighteen fires have long served us, though during the majority of that lengthy evolutionary period, we have been ignorant of their true nature and significance within our developmental process.

1. Mười tám ngọn lửa đã phụng sự chúng ta từ lâu, dù trong phần lớn thời kỳ tiến hoá dài lâu ấy, chúng ta vẫn không biết bản chất và thâm nghĩa đích thực của chúng trong tiến trình phát triển của mình.

2. The eighteen fires are, as we know, the fires of personality. The number 18 sums to 9 which is the number of the third ray. The personality is (in the human microcosm) the expression of the third aspect of divinity.

2. Như chúng ta biết, mười tám ngọn lửa là các ngọn lửa của phàm ngã. Con số 18 cộng lại thành 9, là con số của cung ba. Phàm ngã, trong tiểu thiên địa con người, là biểu hiện của phương diện thứ ba của thiên tính.

3. For ages the human being tends the stimulation of the eighteen fires. This he does through the agency of desire. Again, he is mostly unconscious of what he does, for desire rules him, and stimulates the eighteen fires with or without his conscious consent.

3. Qua nhiều thời đại, con người chăm lo sự kích thích mười tám ngọn lửa. Y làm điều này thông qua trung gian của ham muốn. Một lần nữa, y hầu như không ý thức về điều mình làm, vì ham muốn cai quản y và kích thích mười tám ngọn lửa, dù có hay không có sự đồng thuận hữu thức của y.

4. But the human spirit will not forever abide limitation, and there comes the day when the eighteen fires are seen, by the detaching human soul, to have served their purpose.

4. Nhưng tinh thần con người sẽ không mãi mãi ở trong giới hạn, và rồi đến ngày linh hồn con người đang tách rời nhìn thấy rằng mười tám ngọn lửa đã hoàn thành mục đích của chúng.

5. From that time forth attitude of the man (now a disciple and growing in wisdom) is that the fires must be instrumental to his higher purposes (inspired by the soul).

5. Từ lúc ấy trở đi, thái độ của con người, giờ đây là một đệ tử và đang tăng trưởng trong minh triết, là các ngọn lửa phải trở thành công cụ cho những mục đích cao hơn của y, vốn được linh hồn truyền cảm hứng.

6. He then begins to see the eighteen fires (if ‘burning unto themselves’) as obstructive of his higher purposes and he determines that they must be controlled.

6. Bấy giờ y bắt đầu thấy mười tám ngọn lửa, nếu chúng “cháy cho chính chúng”, như những gì cản trở các mục đích cao hơn của y, và y quyết định rằng chúng phải được kiểm soát.

7. Of course, he must understand them before he can successfully control them. Thus, he sets himself to discover their nature and their true function within the life of a spiritually advancing individual.

7. Dĩ nhiên, y phải thấu hiểu chúng trước khi có thể kiểm soát chúng một cách thành công. Vì vậy, y bắt tay vào việc khám phá bản chất và chức năng đích thực của chúng trong đời sống của một cá nhân đang tiến bước về tinh thần.

8. He places his attention on ‘higher’ things and the eighteen fires begin to subside through lack of attention. The “feeding power of the attention” has been directed elsewhere.

8. Y đặt sự chú ý của mình vào những điều “cao hơn”, và mười tám ngọn lửa bắt đầu lắng xuống vì thiếu sự chú ý. “Quyền năng nuôi dưỡng của sự chú ý” đã được hướng sang nơi khác.

9. How shall we—disciples in the modern world—contribute to the needed ‘dying-down’ of the eighteen fires?

9. Chúng ta, những đệ tử trong thế giới hiện đại, sẽ góp phần vào sự “lắng tắt” cần thiết của mười tám ngọn lửa như thế nào?

a. By communing with the soul and thus affirming the existence and nature of that higher ‘Other’ which is the higher of the “pairs of opposites” (personality and soul).

a. Bằng cách giao cảm với linh hồn và nhờ vậy xác nhận sự hiện hữu cùng bản chất của “Cái Khác” cao hơn ấy, vốn là cực cao hơn trong “cặp đối cực” là phàm ngã và linh hồn.

b. By experiencing the nature of the soul/Solar Angel as fully as possible so we come to value it and its fires above that which the eighteen fires can offer.

b. Bằng cách trải nghiệm bản chất của linh hồn/Thái dương Thiên Thần một cách trọn vẹn nhất có thể, để chúng ta đi đến chỗ quý trọng nó và những ngọn lửa của nó hơn những gì mười tám ngọn lửa có thể ban cho.

c. By turning our attention to the cultivation of soul-presence, soul-power, soul-love and soul-intelligence, thereby replacing within out field of consciousness, the lower energies which have typically dominated that field.

c. Bằng cách chuyển sự chú ý của chúng ta sang việc vun bồi sự hiện diện của linh hồn, quyền năng linh hồn, tình thương linh hồn và trí tuệ linh hồn, nhờ đó thay thế trong trường tâm thức của chúng ta những năng lượng thấp hơn vốn thường thống trị trường ấy.

d. By so identifying with soul/Solar Angel that it becomes possible to direct its energy into the forces represented by the eighteen fires.

d. Bằng cách đồng hoá với linh hồn/Thái dương Thiên Thần đến mức có thể điều hướng năng lượng của nó vào các mãnh lực được mười tám ngọn lửa đại diện.

e. It is not that the eighteen fires must be thoroughly repudiated (until the fourth initiation), for they are useful instruments in the worlds of lower form, but they must be transformed by soul-infusion. At this process we must become somewhat adept.

e. Không phải mười tám ngọn lửa phải bị hoàn toàn bác bỏ, cho đến lần điểm đạo thứ tư, vì chúng là những công cụ hữu ích trong các cõi giới của hình tướng thấp hơn, nhưng chúng phải được chuyển đổi nhờ sự thấm nhuần của linh hồn. Chúng ta phải trở nên phần nào thành thạo trong tiến trình này.

f. We must use the eighteen fires and not be used by them. That use must be purposeful and in accordance with the Divine Plan which the soul/Solar Angel always promotes. Thus the eighteen fires become subordinated to soul-purpose and plan, and we, focussed in our will nature (higher will), administer the application of that higher purpose with which we have come to identify.

f. Chúng ta phải sử dụng mười tám ngọn lửa, chứ không để chúng sử dụng mình. Việc sử dụng ấy phải có mục đích và phù hợp với Thiên Cơ mà linh hồn/Thái dương Thiên Thần luôn thúc đẩy. Như vậy, mười tám ngọn lửa trở nên lệ thuộc vào mục đích và thiên cơ của linh hồn, và chúng ta, tập trung trong bản chất ý chí của mình, tức ý chí cao hơn, quản trị việc áp dụng mục đích cao hơn ấy mà chúng ta đã đi đến chỗ đồng hoá với.

g. All depends upon ‘right use’. When the eighteen fires take their proper place in the Hierarchy of Lives, they will be naturally subordinate to the higher aspects of the human energy system. Of that Hierarchy we must be aware, and our actions must support its influence in the microcosmic life as well as the group life.

g. Tất cả tùy thuộc vào “sự sử dụng đúng đắn”. Khi mười tám ngọn lửa giữ đúng vị trí của chúng trong trật tự huyền giai của các Sự Sống, chúng sẽ tự nhiên lệ thuộc vào các phương diện cao hơn của hệ thống năng lượng con người. Chúng ta phải ý thức về Huyền Giai ấy, và các hành động của chúng ta phải hỗ trợ ảnh hưởng của nó trong đời sống tiểu thiên địa cũng như trong đời sống nhóm.

10. Of course the presence of a spiritually-purposeful group will assist the dying-down of the eighteen fires. The individual microcosm can only do so much. The group will—reflecting the Will of the Ashram, of Hierarchy and eventually, of Shamballa—is much stronger.

10. Dĩ nhiên, sự hiện diện của một nhóm có mục đích tinh thần sẽ trợ giúp sự lắng tắt của mười tám ngọn lửa. Tiểu thiên địa cá nhân chỉ có thể làm được đến một mức nào đó. Ý chí của nhóm, phản ánh Ý Chí của ashram, của Thánh đoàn và cuối cùng của Shamballa, mạnh mẽ hơn nhiều.

11. Personality tendencies within the individual will naturally become subordinate to the group-will. The personality of the group itself will gradually become subordinate to the group will.

11. Các khuynh hướng phàm ngã trong cá nhân sẽ tự nhiên trở nên lệ thuộc vào ý chí của nhóm. Chính phàm ngã của nhóm cũng sẽ dần dần trở nên lệ thuộc vào ý chí của nhóm.

12. How does this happen?

12. Điều này xảy ra như thế nào?

a. Group meditative application brings purpose and plan into increasing prominence in the group life. The members of the group know why they are assembled, what they have to do, and why they have to do it. These higher directives begin to dominate the group life, and all lesser things begin to take their proper place.

a. Sự ứng dụng tham thiền của nhóm làm cho mục đích và thiên cơ ngày càng nổi bật trong đời sống nhóm. Các thành viên của nhóm biết vì sao họ được quy tụ, điều gì họ phải làm, và vì sao họ phải làm điều đó. Những chỉ thị cao hơn này bắt đầu thống trị đời sống nhóm, và mọi điều nhỏ bé hơn bắt đầu giữ đúng vị trí của chúng.

b. Among the lesser things are the personality forces of the constituent members—whether the members are considered singly or in aggregate. The higher directives become stronger than the individual and group personality tendencies.

b. Trong số những điều nhỏ bé hơn có các mãnh lực phàm ngã của những thành viên cấu thành, dù các thành viên được xét riêng từng người hay xét chung toàn thể. Những chỉ thị cao hơn trở nên mạnh hơn các khuynh hướng phàm ngã cá nhân và phàm ngã nhóm.

c. The group as a whole keeps a watchful eye upon the group personality even as it attends to the higher matters of executing plan according to purpose.

c. Nhóm như một toàn thể giữ con mắt tỉnh thức trên phàm ngã nhóm, ngay cả khi nhóm chú tâm đến những vấn đề cao hơn là thực thi thiên cơ theo mục đích.

d. The pressure experienced through that ‘group-eye’ both restrains and transforms personality tendencies found within the group. The members find that it is, as it were, ‘against group law’ to allow the eighteen fires too much scope. A hierarchy of functions becomes established and various energies and forces are forced to keep to their proper spheres.

d. Áp lực được trải nghiệm qua “con mắt nhóm” ấy vừa kiềm chế vừa chuyển đổi các khuynh hướng phàm ngã có trong nhóm. Các thành viên nhận thấy rằng, có thể nói, việc cho phép mười tám ngọn lửa có quá nhiều phạm vi hoạt động là “trái với luật của nhóm”. Một hệ cấp bậc chức năng được thiết lập, và các năng lượng cùng mãnh lực khác nhau buộc phải ở trong những phạm vi thích hợp của chúng.

e. As the group communes with its own higher nature, and increasingly with the Master of the Ashram and the Hierarchy itself, the group will is strengthened, and its purifying, regulating and transforming effect upon the eighteen fires of the group personality is intensified.

e. Khi nhóm giao cảm với bản chất cao hơn của chính mình, và ngày càng giao cảm với Chân sư của ashram cùng chính Thánh đoàn, ý chí của nhóm được củng cố, và tác dụng thanh lọc, điều chỉnh, chuyển đổi của nó đối với mười tám ngọn lửa của phàm ngã nhóm được tăng cường.

f. Esoterically, the group becomes a “burning ground”, and those who stay in the group and submit to its pressure, are changed for the better. Their eighteen fires are subordinated, subside and eventually are released to the place from which they came (“the reservoir of life”) at that period when the human soul achieves liberation from form.

f. Một cách huyền bí, nhóm trở thành một “vùng đất cháy”, và những ai ở lại trong nhóm, thuận theo áp lực của nhóm, đều được biến đổi theo hướng tốt đẹp hơn. Mười tám ngọn lửa của họ trở nên lệ thuộc, lắng xuống và cuối cùng được giải phóng về nơi chúng đã đến, tức “kho chứa sự sống”, vào thời kỳ linh hồn con người đạt sự giải thoát khỏi hình tướng.

g. Is it clear that we are not only members of groups, but are being trained by the group (provided that our group is a spiritually-intended group)?

g. Có rõ chăng rằng chúng ta không chỉ là thành viên của các nhóm, mà còn đang được huấn luyện bởi nhóm, miễn là nhóm của chúng ta là một nhóm có chủ định tinh thần?

13. The eighteen fires are really “lesser lives”, and the day of their release is the fourth initiation, just as that initiation is the day of release for the patiently supervising Solar Angels.

13. Mười tám ngọn lửa thật ra là “các sự sống nhỏ bé hơn”, và ngày giải phóng của chúng là lần điểm đạo thứ tư, cũng như lần điểm đạo ấy là ngày giải phóng cho các Thái dương Thiên Thần đã kiên nhẫn giám sát.

14. All lives progress to and through various points of freedom, and the lesser lives which comprise our personality are no exception.

14. Mọi sự sống đều tiến tới và đi qua nhiều điểm tự do khác nhau, và các sự sống nhỏ bé hơn cấu thành phàm ngã của chúng ta cũng không ngoại lệ.

15. Our responsibility to these lesser lives is to bring about their release through the instrumentality of our own release. Really, there is a triple release at the fourth initiation—the lesser lives are liberated to the “reservoir of life”; the Solar Angels are liberated to return, eventually, to the “Heart of the Sun”, and we—that ‘extension’ of the monad immersed in lower form—are released (by ‘translation’) into the higher ‘spaces’ of the Spiritual Triad—i.e., into that vibratory domain which participates in the mind, heart and will of God the Planetary Logos.

15. Trách nhiệm của chúng ta đối với các sự sống nhỏ bé hơn này là đem lại sự giải phóng cho chúng thông qua vai trò công cụ của chính sự giải thoát của chúng ta. Thật ra, có một sự giải phóng tam phân ở lần điểm đạo thứ tư: các sự sống nhỏ bé hơn được giải phóng về “kho chứa sự sống”; các Thái dương Thiên Thần được giải phóng để cuối cùng trở về “Trái Tim của Mặt Trời”; và chúng ta, “phần mở rộng” ấy của chân thần đang chìm đắm trong hình tướng thấp hơn, được giải phóng, nhờ sự “chuyển dịch”, vào các “không gian” cao hơn của Tam Nguyên Tinh Thần, nghĩa là vào lĩnh vực rung động tham dự vào trí, tâm và ý chí của Thượng đế, Đức Hành Tinh Thượng Đế.

16. This great release is prepared in many ways over the millennia, but finally love, will, and dis-identification are the releasing agents. It must be realized that spiritual love and spiritual will promote the disidentification which brings release.

16. Sự giải phóng vĩ đại này được chuẩn bị bằng nhiều cách qua hàng thiên niên kỷ, nhưng cuối cùng tình thương, ý chí, và sự giải đồng hoá là các tác nhân giải phóng. Cần nhận ra rằng tình thương tinh thần và ý chí tinh thần thúc đẩy sự giải đồng hoá đem lại giải thoát.

17. For ages we, the human soul, have involved our consciousnesses with the turning of the lesser wheels. We have been preoccupied with ‘lesser turnings’.

17. Qua nhiều thời đại, chúng ta, linh hồn con người, đã để tâm thức của mình dính líu vào sự quay của các bánh xe nhỏ hơn. Chúng ta đã bận tâm với “những vòng quay nhỏ bé hơn”.

18. Wearying of that preoccupation, at last, we have noticed that the lesser revolutions are part of greater revolutions, and they, of still greater revolutions.

18. Cuối cùng, khi mệt mỏi với sự bận tâm ấy, chúng ta đã nhận thấy rằng những vòng quay nhỏ hơn là một phần của những vòng quay lớn hơn, và những vòng quay lớn hơn ấy lại là một phần của những vòng quay còn lớn hơn nữa.

19. The vast extent of our world, our cosmos, has begun to dawn upon us and we have noted that the Great Structure can be seen as a Vast Wheel, composed of wheels within wheels within wheels—all turning according to their regulated measures.

19. Tầm rộng lớn bao la của thế giới chúng ta, vũ trụ chúng ta, đã bắt đầu ló rạng trong nhận thức của chúng ta, và chúng ta đã ghi nhận rằng Đại Cấu Trúc có thể được nhìn như một Bánh Xe Mênh Mông, gồm những bánh xe trong bánh xe trong bánh xe, tất cả đều quay theo những mức độ đã được điều chỉnh của chúng.

20. In the Process of Cosmogenesis, the greatest wheels have become, in emanation, lesser wheels and these lesser wheels, still lesser wheels. Every emanated life going forth functions through cyclicity.

20. Trong Tiến trình phát sinh vũ trụ, những bánh xe lớn nhất, qua sự xuất lộ, đã trở thành những bánh xe nhỏ hơn, và những bánh xe nhỏ hơn này lại trở thành những bánh xe còn nhỏ hơn nữa. Mọi sự sống được xuất lộ và đi ra đều hoạt động thông qua tính chu kỳ.

21. Revolving wheels do not turn without reason. They turn until an intended point of accomplishment is reached. When sufficient ‘cyclic exposure’ is achieved, there comes a fulness which indicates that the period of revolution may now come to an end—in fact, should come to an end.

21. Các bánh xe đang quay không quay mà không có lý do. Chúng quay cho đến khi đạt được một điểm thành tựu đã định. Khi đạt được đủ mức “phơi trải theo chu kỳ”, sẽ đến một sự viên mãn cho thấy rằng thời kỳ quay giờ đây có thể chấm dứt, thật ra là phải chấm dứt.

22. This period of fulness, of completeness, is the period of absorption, wherein lesser wheels are absorbed into greater wheels—or, alternatively, lesser wheels are separated from greater wheels (giving them both a temporary respite until the hour of re-amalgamation on a higher turn of the evolutionary spiral).

22. Thời kỳ viên mãn, hoàn tất này là thời kỳ hấp thu, trong đó các bánh xe nhỏ hơn được hấp thu vào những bánh xe lớn hơn, hoặc, theo một cách khác, các bánh xe nhỏ hơn được tách khỏi các bánh xe lớn hơn, đem lại cho cả hai một thời gian tạm nghỉ cho đến giờ tái hợp nhất trên một vòng cao hơn của vòng xoắn ốc tiến hoá.

23. How can we make these thoughts about lesser and greater wheels practical in terms of our discipleship service and progress?

23. Làm thế nào chúng ta có thể khiến những tư tưởng này về các bánh xe nhỏ hơn và lớn hơn trở nên thiết thực xét theo sự phụng sự và tiến bộ trong địa vị đệ tử của chúng ta?

a. We can question: “What are the wheels which ‘turn within me’ and ‘within which I turn’?” Thus we will become aware of the many cyclic motions which are taking place within the microcosmic energy system and in relation to the larger energy systems within which the microcosm holds place.

a. Chúng ta có thể tự hỏi: “Những bánh xe nào đang ‘quay trong tôi’ và ‘trong đó tôi đang quay’?” Nhờ vậy, chúng ta sẽ ý thức được nhiều chuyển động chu kỳ đang diễn ra trong hệ thống năng lượng tiểu thiên địa và trong tương quan với những hệ thống năng lượng lớn hơn mà tiểu thiên địa đang giữ vị trí trong đó.

b. We can take notice of the wheels or cycles which have involved our attention, perhaps preoccupying our attention and preventing its focus upon greater wheels within and around us.

b. Chúng ta có thể lưu ý đến các bánh xe hay chu kỳ đã cuốn hút sự chú ý của mình, có lẽ đã chiếm hết sự chú ý của chúng ta và ngăn không cho nó tập trung vào những bánh xe lớn hơn ở bên trong và chung quanh chúng ta.

c. Once such a determination is made, we can begin to detach ourselves from the turning of lesser wheels. That is, we can relinquish lower preoccupations and attend to the progression of greater and more meaningful cycles. Practically, we can keep larger purposes and plans in mind though exposed to lesser purposes and plans.

c. Một khi sự xác định như vậy đã được thực hiện, chúng ta có thể bắt đầu tách mình khỏi sự quay của các bánh xe nhỏ hơn. Nghĩa là, chúng ta có thể buông bỏ những bận tâm thấp hơn và chú tâm đến sự diễn tiến của những chu kỳ lớn hơn và có ý nghĩa hơn. Về mặt thực hành, chúng ta có thể giữ trong trí các mục đích và kế hoạch rộng lớn hơn, dù vẫn tiếp xúc với những mục đích và kế hoạch nhỏ hơn.

d. Perhaps physical cycles have engrossed our attention, or emotional, or mental cycles. Perhaps we have followed (with excessive attention) the cyclic ups and downs of our personality nature. A certain measure of attention to such cycles can, of course, be constructive and is inevitable in the course of life. But the ‘normal’ becomes ‘excessive’ when it is “time to move on”.

d. Có lẽ các chu kỳ hồng trần đã thu hút trọn sự chú ý của chúng ta, hoặc các chu kỳ cảm xúc, hoặc các chu kỳ trí tuệ. Có lẽ chúng ta đã theo dõi, với sự chú ý quá mức, những lên xuống theo chu kỳ của bản chất phàm ngã mình. Dĩ nhiên, một mức độ chú ý nào đó đối với các chu kỳ như vậy có thể mang tính xây dựng và là điều không tránh khỏi trong dòng đời. Nhưng cái “bình thường” trở thành “quá mức” khi đã đến lúc “tiến bước”.

e. Perhaps now, after ages of ‘attending to the lower’, we are ready to attend to the cyclic impulsions which emanate from the soul/Solar Angel. Perhaps we are ready to think of incarnational-purpose and incarnational-plan. Perhaps, we can even become aware of the present incarnational cycle (or wheel) as simply one of a series—originating from semi-detectable causes and moving towards semi-detectable results.

e. Có lẽ giờ đây, sau nhiều thời đại “chú tâm đến cái thấp hơn”, chúng ta đã sẵn sàng chú tâm đến các xung động theo chu kỳ xuất lộ từ linh hồn/Thái dương Thiên Thần. Có lẽ chúng ta đã sẵn sàng nghĩ đến mục đích nhập thể và kế hoạch nhập thể. Có lẽ chúng ta thậm chí có thể ý thức rằng chu kỳ nhập thể hiện tại, hay bánh xe hiện tại, chỉ đơn giản là một trong cả một chuỗi, bắt nguồn từ những nguyên nhân phần nào nhận biết được và hướng tới những kết quả phần nào nhận biết được.

f. Perhaps the ‘ashramic wheel’ (and its cycles over decades and centuries) can become the object of our attention, and we can see how our lesser cycles have fit into that greater cycle.

f. Có lẽ “bánh xe ashram”, cùng các chu kỳ của nó qua nhiều thập kỷ và thế kỷ, có thể trở thành đối tượng chú ý của chúng ta, và chúng ta có thể thấy các chu kỳ nhỏ hơn của mình đã khớp vào chu kỳ lớn hơn ấy như thế nào.

g. This process can be extended to the cycles of Hierarchy. Shamballa too, has its cycles—almost completely unknown to us (except from what Master DK has imparted). Into those greatest of planetary cycles, our little cycles fit in ways unknown to us, but as our intimacy with Hierarchy increases, even those ‘turnings’ will be revealed (when they can be usefully revealed). That which is revealed must, of course, be used.

g. Tiến trình này có thể được mở rộng đến các chu kỳ của Thánh đoàn. Shamballa cũng có các chu kỳ của nó, gần như hoàn toàn xa lạ đối với chúng ta, ngoại trừ những gì Chân sư DK đã truyền đạt. Các chu kỳ nhỏ bé của chúng ta khớp vào những chu kỳ hành tinh lớn lao nhất ấy theo những cách chúng ta không biết, nhưng khi sự thân cận của chúng ta với Thánh đoàn gia tăng, ngay cả những “vòng quay” ấy cũng sẽ được mặc khải, khi chúng có thể được mặc khải một cách hữu ích. Dĩ nhiên, điều gì được mặc khải thì phải được sử dụng.

24. Our greatest concern at the moment is the turning of the ‘Wheel of Humanity’. With that turning all lesser turnings must find their place. All our lesser wheels are to contribute to the progress of that greater wheel.

24. Mối quan tâm lớn nhất của chúng ta vào lúc này là sự quay của “Bánh Xe Nhân Loại”. Mọi vòng quay nhỏ hơn phải tìm thấy vị trí của mình trong sự quay ấy. Tất cả các bánh xe nhỏ hơn của chúng ta phải góp phần vào sự tiến bộ của bánh xe lớn hơn ấy.

25. Where is humanity in its cyclic-spiralling progression? Probably we have no immediate way of knowing. Our knowledge of humanity’s history is scanty and our intimations of its destiny vague. But, perhaps we know enough to sense that which is to be accomplished as the wheel of humanity turns, and perhaps we can so identify with that turning that we learn to subordinate our lesser turnings to the immediate purpose of the greater turning.

25. Nhân loại đang ở đâu trong sự tiến triển xoắn ốc theo chu kỳ của mình? Có lẽ trước mắt chúng ta không có cách nào để biết. Tri thức của chúng ta về lịch sử nhân loại còn ít ỏi, và những linh cảm của chúng ta về vận mệnh của nhân loại còn mơ hồ. Nhưng có lẽ chúng ta biết đủ để cảm nhận điều cần được thành tựu khi bánh xe nhân loại quay, và có lẽ chúng ta có thể đồng hoá với sự quay ấy đến mức học được cách đặt các vòng quay nhỏ hơn của mình lệ thuộc vào mục đích trước mắt của vòng quay lớn hơn.

26. We can approach this approximation by asking, “What does humanity need”? “And how can I, given my capacities and responsibilities, contribute to the fulfillment of that need?”

26. Chúng ta có thể tiến gần đến sự ước lượng này bằng cách hỏi: “Nhân loại cần gì?” “Và với các năng lực cùng trách nhiệm của mình, tôi có thể góp phần vào việc đáp ứng nhu cầu ấy như thế nào?”

27. But only if we have succeeded in dis-identifying from preoccupation with the lesser wheels will we find ourselves ready and willing to ask such questions.

27. Nhưng chỉ khi chúng ta đã thành công trong việc giải đồng hoá khỏi sự bận tâm với các bánh xe nhỏ hơn, chúng ta mới thấy mình sẵn sàng và tự nguyện nêu lên những câu hỏi như vậy.

28. Not only is there a ‘will of the group’ which forces the eighteen fires of its members to die down, but there is a ‘Will of Humanity’ (of that great Entity Who ensouls the human race). What does that Will require of us? What fires will die-down when that Will becomes our will? The fires of the causal body?

28. Không chỉ có một “ý chí của nhóm” buộc mười tám ngọn lửa của các thành viên nhóm lắng tắt, mà còn có một “Ý Chí của Nhân Loại”, tức của Thực Thể vĩ đại phú linh cho nhân loại. Ý Chí ấy đòi hỏi điều gì nơi chúng ta? Những ngọn lửa nào sẽ lắng tắt khi Ý Chí ấy trở thành ý chí của chúng ta? Các ngọn lửa của thể nguyên nhân chăng?

29. We might come to a general principle: ‘Adherence to Purpose hierarchicalizes the fires’.

29. Chúng ta có thể đi đến một nguyên lý chung: “Sự bám sát Mục Đích sắp xếp các ngọn lửa theo trật tự huyền giai”.

30. This entire Rule demands that we learn to abstract and participate identificatorily in processes much greater than our own microcosmic processes—participate in the processes of Those “in whom we live and move and have our being”.

30. Toàn bộ Quy luật này đòi hỏi chúng ta học cách trừu xuất và tham dự bằng sự đồng hoá vào những tiến trình lớn hơn rất nhiều so với các tiến trình tiểu thiên địa của chính chúng ta, tức tham dự vào các tiến trình của Các Đấng “mà trong Các Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu”.

31. If we can think with sufficient expansiveness (not only vaguely but in detail), we may begin to see our place within our groups, and the place of our groups within the Ashrams and the Great Ashram (the Ashram of the Lord of the World—Shamballa) as a whole, and the place of the Great Ashram within the Fourth Creative Hierarchy, and its place within the Kingdoms of Nature—and so forth.

31. Nếu chúng ta có thể suy tư với đủ tính mở rộng, không chỉ mơ hồ mà còn chi tiết, chúng ta có thể bắt đầu thấy vị trí của mình trong các nhóm của mình, vị trí của các nhóm ấy trong các ashram và trong Đại Ashram như một toàn thể, tức Ashram của Đức Chúa Tể Thế Giới, Shamballa; vị trí của Đại Ashram trong Huyền Giai Sáng Tạo thứ Tư; và vị trí của Huyền Giai ấy trong các Giới của Thiên Nhiên, và cứ thế tiếp tục.

32. This venture into even-more encompassing thinking is a venture into abstraction. It is a perspectivizing method which also will contribute to the dying down of the eighteen fires of any lesser whole—for each of these greater wholes has its eighteen fires which must die-down during the process of identification with the greater whole which includes it.

32. Cuộc dấn thân vào tư duy ngày càng bao quát hơn này là một cuộc dấn thân vào sự trừu tượng. Đó là một phương pháp tạo lập viễn cảnh, và phương pháp ấy cũng sẽ góp phần làm lắng tắt mười tám ngọn lửa của bất kỳ toàn thể nhỏ hơn nào, vì mỗi toàn thể lớn hơn này đều có mười tám ngọn lửa của nó, những ngọn lửa phải lắng tắt trong tiến trình đồng hoá với toàn thể lớn hơn bao gồm nó.

33. Disidentification is the cousin of Death, and both are cousins to Release.

33. Sự giải đồng hoá là anh em họ của Cái Chết, và cả hai đều là anh em họ của Sự Giải Thoát.

34. This Rule is about death, abstraction and release. It is about prioritization through the processes of death and abstraction. Our attachments to lesser things can last only so long. The hour will strike when the turning of the “greater wheel” calls to us. By that time may we be, somewhat, the master of our lesser cycles, so that we can answer the greater call by disidentifying with the turning of lesser wheels and re-identifying with turning of greater.

34. Quy luật này nói về cái chết, sự trừu tượng và sự giải thoát. Nó nói về việc xác lập ưu tiên thông qua các tiến trình của cái chết và sự trừu tượng. Những ràng buộc của chúng ta với các điều nhỏ bé hơn chỉ có thể kéo dài đến một mức nào đó. Giờ sẽ điểm khi sự quay của “bánh xe lớn hơn” cất tiếng gọi chúng ta. Đến lúc ấy, mong sao chúng ta, phần nào, đã làm chủ các chu kỳ nhỏ hơn của mình, để có thể đáp lại tiếng gọi lớn hơn bằng cách giải đồng hoá khỏi sự quay của các bánh xe nhỏ hơn và tái đồng hoá với sự quay của các bánh xe lớn hơn.

“Let the group see that all the eighteen fires die down and that the lesser lives return unto the reservoir of life. This they must bring about through the evocation of the Will. The lesser wheels must not for aye revolve in time and space. Only the greater Wheel must onward move and turn.”

“Hãy để nhóm bảo đảm rằng tất cả mười tám ngọn lửa lắng tắt và các sự sống nhỏ bé hơn trở về kho chứa sự sống. Họ phải thực hiện điều này thông qua việc gợi lên Ý Chí. Các bánh xe nhỏ hơn không được mãi mãi quay trong thời gian và không gian. Chỉ Bánh Xe lớn hơn mới phải tiếp tục chuyển động và quay.”

If we have given careful thought to what may be required of us, we have probably noticed that the ‘actions’ required are internal, subjective, subtle. It is ‘movements in consciousness’ which are necessitated, changes of attitude and perspective. We must realize the truth of these new perspectives. To do this we must pass through the ‘disciplines of realization’. Much of value conveyed to us is simply not realized—we do not appreciate its reality. Our task is to make these Rules among the most real factors in our life. They cannot remain remote, strange or unassimilable. They must be woven into the fabric of daily living.

Nếu chúng ta đã suy nghĩ cẩn thận về những gì có thể được đòi hỏi nơi mình, có lẽ chúng ta đã nhận thấy rằng các “hành động” được đòi hỏi là nội tại, chủ quan, tinh tế. Điều cần thiết là “những chuyển động trong tâm thức”, những thay đổi về thái độ và viễn cảnh. Chúng ta phải nhận ra chân lý của những viễn cảnh mới này. Để làm điều này, chúng ta phải đi qua “các kỷ luật của sự chứng nghiệm”. Nhiều điều có giá trị được truyền đạt cho chúng ta nhưng đơn giản là chưa được chứng nghiệm, chúng ta chưa cảm nhận đúng thực tại của chúng. Nhiệm vụ của chúng ta là làm cho các Quy luật này trở thành một trong những yếu tố chân thực nhất trong đời sống mình. Chúng không thể cứ xa xôi, lạ lẫm hay không thể tiếp nhận. Chúng phải được dệt vào kết cấu của đời sống hằng ngày.

But how shall this be done? One can only count on human resourcefulness. Everyone will find his/her own way to do this. Suggestions may be offered, but only the disciple himself/herself will find the way, just as each must find the unique way to build the bridge (the antahkarana) to the realms of realization (the realm of the Spiritual Triad).

Nhưng điều này sẽ được thực hiện như thế nào? Chỉ có thể trông cậy vào sự tháo vát của con người. Mỗi người sẽ tìm ra con đường riêng của mình để làm điều này. Có thể đưa ra những gợi ý, nhưng chỉ chính đệ tử mới tìm ra con đường, cũng như mỗi người phải tìm ra con đường độc đáo để xây dựng cây cầu, tức antahkarana, đến các cõi chứng nghiệm, tức cõi của Tam Nguyên Tinh Thần.

Leave a Comment

Scroll to Top