Click vào số trang trong ngoặc [ ] để đến phần văn bản liên quan. Click Tóm Tắt để xem tóm tắt của bình giảng.
|
Commentary on Rule XIV |
Luận giải về Quy luật XIV |
|
Part I of V, R&I (285-292) |
Phần I trong V, R&I (285-292) |
|
(All Highlighting, Bolding and Underlining—MDR) |
(Tất cả phần tô sáng, in đậm và gạch dưới—MDR) |
|
Please read this Commentary with your book open or with reference to an electronic copy of the text. This will facilitate an appreciation of continuity. |
Xin hãy đọc phần Luận giải này với sách của bạn đang mở, hoặc tham chiếu đến một bản điện tử của văn bản. Điều này sẽ giúp bạn cảm nhận được tính liên tục. |
|
RULE FOURTEEN |
QUY LUẬT MƯỜI BỐN |
|
In this final rule for disciples and initiates, a great summation is embodied. |
Trong quy luật cuối cùng này dành cho các đệ tử và các điểm đạo đồ, một sự tổng kết lớn lao được hàm chứa. |
|
1. The summation for Rule XIV for Disciples and Initiates is extremely brief, just as is the summation for the last of the Rules for Applicants. |
1. Phần tổng kết cho Quy luật XIV dành cho các Đệ tử và các Điểm đạo đồ cực kỳ ngắn gọn, cũng như phần tổng kết cho quy luật cuối cùng trong Các Quy luật dành cho Người Dự Tuyển. |
|
2. The brevity only adds to the profundity- |
2. Sự ngắn gọn chỉ càng làm tăng thêm chiều sâu— |
|
I would here point out again (as I have so frequently in the past) that the obvious meaning—no matter how elevated—is not that with which we shall deal. |
Ở đây, Tôi muốn một lần nữa nêu rõ rằng, như Tôi đã thường xuyên làm trong quá khứ, ý nghĩa hiển nhiên—dù cao siêu đến đâu—không phải là điều chúng ta sẽ bàn đến. |
|
3. This is the ongoing challenge to students throughout these more advanced Rules. |
3. Đây là thách thức liên tục đối với các đạo sinh xuyên suốt những Quy luật cao cấp hơn này. |
|
It is the significance behind the meaning which is ever the concern of the initiate mind. |
Chính thâm nghĩa ẩn sau ý nghĩa mới luôn là mối quan tâm của thể trí điểm đạo đồ. |
|
4. DK is writing for the “initiate mind”. These Rules are to be interpreted in the light of the spiritual triad—the realm of “significance”. This task naturally demands a functional antahkarana. |
4. Chân sư DK đang viết cho “thể trí điểm đạo đồ”. Những Quy luật này phải được diễn giải trong ánh sáng của Tam Nguyên Tinh Thần—cõi giới của “thâm nghĩa”. Nhiệm vụ này tự nhiên đòi hỏi một antahkarana hoạt động hữu hiệu. |
|
Students would do well to remember the following sequence of words, embodying ideas: Symbol, Meaning, Significance, Light, regarding light as the emanating creative energy—the organiser of the symbol, the revealer of the meaning, the potency of the significance. |
Các đạo sinh nên ghi nhớ chuỗi từ ngữ sau đây, vốn hàm chứa các ý tưởng: Biểu tượng, Ý nghĩa, Thâm nghĩa, Ánh sáng, xem ánh sáng như năng lượng sáng tạo phát xạ—đấng tổ chức của biểu tượng, đấng mặc khải ý nghĩa, quyền năng của thâm nghĩa. |
|
5. Light is the final term in this sequence of four. It is really an amazing sequence and reminds us of the ancient aphorism that “a word to the wise is sufficient”. |
5. Ánh sáng là thuật ngữ cuối cùng trong chuỗi bốn này. Đó thật sự là một chuỗi đáng kinh ngạc và nhắc chúng ta nhớ đến cách ngôn cổ rằng “một lời với người minh triết là đủ”. |
|
6. In this sequence, light is not only the final term, it is also the central term, like the “point within the triangle”. |
6. Trong chuỗi này, ánh sáng không chỉ là thuật ngữ cuối cùng, mà còn là thuật ngữ trung tâm, như “điểm trong tam giác”. |
|
7. Usually one would associate light with the World of Meaning and we would say that the symbol reveals light (which in one sense is true). |
7. Thông thường, người ta sẽ liên hệ ánh sáng với Thế giới của ý nghĩa, và chúng ta sẽ nói rằng biểu tượng mặc khải ánh sáng, điều này theo một nghĩa nào đó là đúng. |
|
8. But here it seems that light is associated the Shamballa—with what has been called “unfettered enlightenment”. |
8. Nhưng ở đây dường như ánh sáng được liên hệ với Shamballa—với điều đã được gọi là “sự giác ngộ không bị ràng buộc”. |
|
9. The following planar associations can be made: |
9. Có thể thiết lập các liên hệ theo cõi như sau: |
|
a. Symbol—the World of the Mind |
a. Biểu tượng—Thế giới của Thể trí |
|
b. Meaning—the World of the Soul |
b. Ý nghĩa—Thế giới của Linh hồn |
|
c. Significance—the World of the Triad |
c. Thâm nghĩa—Thế giới của Tam nguyên tinh thần |
|
d. Light—the World of the Spirit |
d. Ánh sáng—Thế giới của Tinh thần |
|
10. Light is not only accessed by a symbol. Rather, light becomes an organizing potency. This is a third aspect function. When, along the antahkarana, the higher light is contacted, it out-pictures itself in symbol. |
10. Ánh sáng không chỉ được tiếp cận nhờ một biểu tượng. Đúng hơn, ánh sáng trở thành một quyền năng tổ chức. Đây là một chức năng của phương diện thứ ba. Khi ánh sáng cao hơn được tiếp xúc dọc theo antahkarana, nó tự biểu hiện ra ngoài thành biểu tượng. |
|
11. Further, let us think of the antahkarana process. When the creative imagination is brought into play and the bridge is imagined, it is the light of the intuition which organizes the product of the imagination so that can truly be in contact with the reflect the intuition. Imagination has contacted something more than itself and the images produced are mysteriously altered. |
11. Hơn nữa, chúng ta hãy suy xét về tiến trình antahkarana. Khi Sự tưởng tượng sáng tạo được đưa vào vận dụng và cây cầu được hình dung, chính ánh sáng của trực giác tổ chức sản phẩm của sự tưởng tượng để nó có thể thật sự tiếp xúc với, và phản ánh, trực giác. Sự tưởng tượng đã tiếp xúc với điều gì đó vượt hơn chính nó, và các hình ảnh được tạo ra bị biến đổi một cách huyền nhiệm. |
|
12. When the light of the soul descends (and even more so, the higher light), it reveals meaning, or relationship within context. This is a second aspect function of light—the Light of Love. |
12. Khi ánh sáng của linh hồn giáng xuống, và còn hơn thế nữa là ánh sáng cao hơn, nó mặc khải ý nghĩa, hay mối quan hệ trong bối cảnh. Đây là một chức năng thuộc phương diện thứ hai của ánh sáng—Ánh sáng của Tình thương. |
|
13. When the higher light is contacted (even more the “Highest Light” through the Monad) it empowers the sense of willed-direction revealed within the World of Significance. The direction of the Will of God is revealed and things are shown in relation to that Will and its direction and not only in relation to the context in which they are embraced. This is an expression of the highest aspect of light—the “Light of Life”. |
13. Khi ánh sáng cao hơn được tiếp xúc, và còn hơn nữa là “Ánh sáng Tối Cao” thông qua chân thần, nó trao quyền năng cho ý thức về phương hướng được ý chí định hướng, vốn được mặc khải trong Thế giới của thâm nghĩa. Phương hướng của Ý Chí của Thượng Đế được mặc khải, và các sự vật được chỉ ra trong tương quan với Ý Chí ấy cùng phương hướng của nó, chứ không chỉ trong tương quan với bối cảnh mà chúng được bao hàm. Đây là một biểu hiện của phương diện cao nhất của ánh sáng—“Ánh sáng của Sự sống”. |
|
14. We can see that each of the three divine aspects—light, love and power—contains within itself a threefold expression. |
14. Chúng ta có thể thấy rằng mỗi một trong ba phương diện thiêng liêng—ánh sáng, tình thương và quyền năng—đều chứa trong chính nó một biểu hiện tam phân. |
|
15. So much, we see, can be contained in a significant series of terms. |
15. Chúng ta thấy, biết bao điều có thể được hàm chứa trong một chuỗi thuật ngữ đầy thâm nghĩa. |
|
We have studied the rules and have penetrated deeply into the world of significances. |
Chúng ta đã nghiên cứu các quy luật và đã thâm nhập sâu vào thế giới của các thâm nghĩa. |
|
16. We have thus penetrated could we but realize it. |
16. Chúng ta quả thật đã thâm nhập như thế, giá như chúng ta có thể nhận ra điều đó. |
|
17. These advanced Rules are meant to be revelatory of the spiritual triad. |
17. Những Quy luật cao cấp này nhằm mặc khải Tam Nguyên Tinh Thần. |
|
18. In fact, DK is suggesting that all of the Rules are to be interpreted from the perspective of significance technically understood. |
18. Thật vậy, Chân sư DK đang gợi ý rằng tất cả các Quy luật phải được diễn giải từ viễn cảnh của thâm nghĩa, hiểu theo nghĩa chuyên môn. |
|
Most of you have not, however, passed beyond the stage of groping in the world of [Page 286] meaning. |
Tuy nhiên, đa số các bạn chưa vượt qua giai đoạn dò dẫm trong thế giới của [Page 286] ý nghĩa. |
|
19. That we grope means that we do not yet see. And in what manner do we not yet see? We do not yet see with the “wisdom eye”—the ‘eye of synthesis’ which is confirmed in its opening at the third initiation and which admits consciously into the realm of the spiritual triad. |
19. Việc chúng ta dò dẫm có nghĩa là chúng ta vẫn chưa thấy. Và chúng ta chưa thấy theo cách nào? Chúng ta chưa thấy bằng “mắt minh triết”—“con mắt tổng hợp”, vốn được xác nhận là đã mở ra ở lần điểm đạo thứ ba và đưa người ta đi vào cõi giới của Tam Nguyên Tinh Thần một cách có ý thức. |
|
The reason for this is that you have not yet taken the third initiation. |
Lý do là vì các bạn chưa trải qua lần điểm đạo thứ ba. |
|
20. True vision of significances would come at this point. |
20. Chính ở điểm này, tầm nhìn chân thực về các thâm nghĩa sẽ đến. |
|
21. The revelation of significance leads us onward according to the Divine Will. |
21. Sự mặc khải thâm nghĩa dẫn chúng ta tiến tới theo Ý Chí thiêng liêng. |
|
I would ask you also to bear in mind that the world of symbols is that of the personal life, of the phenomenal world as that phrase covers the three worlds of human evolution; the world of meaning is the world in which the soul lives and moves with intention and understanding; the world of significance is the world of the Spiritual Triad, which only confers its freedom fully after the third initiation. |
Tôi cũng xin các bạn ghi nhớ rằng thế giới của các biểu tượng là thế giới của đời sống cá nhân, của thế giới hiện tượng khi cụm từ ấy bao hàm ba cõi thấp của tiến hóa nhân loại; thế giới của ý nghĩa là thế giới trong đó linh hồn sống, vận động với chủ đích và sự thấu hiểu; thế giới của thâm nghĩa là thế giới của Tam Nguyên Tinh Thần, vốn chỉ ban tự do của nó một cách trọn vẹn sau lần điểm đạo thứ ba. |
|
22. Here DK gives the meaning of the first three terms in a full yet concise manner. |
22. Ở đây, Chân sư DK đưa ra ý nghĩa của ba thuật ngữ đầu tiên một cách đầy đủ nhưng súc tích. |
|
23. The entire world of the personality is a symbolic outpicturing of higher patterns of meaning and significance. |
23. Toàn bộ thế giới của phàm ngã là một sự biểu hiện tượng trưng ra bên ngoài của những mô hình ý nghĩa và thâm nghĩa cao hơn. |
|
24. The soul lives in a world of appreciated relationships. This type of consciousness prevails in the World of the Soul. |
24. Linh hồn sống trong một thế giới của những mối quan hệ được nhận biết và trân trọng. Loại tâm thức này ngự trị trong Thế giới của Linh hồn. |
|
25. In the World of Significance (the world of the “Spiritual Triad”) destined objectives (destined for our planet by our Planetary Logos are revealed.) The potency of intended directionality is added to the revelation of meaning. |
25. Trong Thế giới của thâm nghĩa, tức thế giới của “Tam Nguyên Tinh Thần”, các mục tiêu đã được định sẵn, được Đức Hành Tinh Thượng Đế định sẵn cho hành tinh chúng ta, được mặc khải. Quyền năng của chiều hướng đã được chủ định được thêm vào sự mặc khải ý nghĩa. |
|
26. We might say that in the World of Significance, the Light of Shamballa lights the way for the higher will of man. The man can intuit and can think in such a way as to be responsive to monadic will which is an aspect of the Will of the Planetary Logos. As this Highest Light pours in, the direction in which the man’s spiritual will should be applied (and it is a direction significant of the Will which directs our planet) is revealed, confirmed and strengthened. |
26. Chúng ta có thể nói rằng trong Thế giới của thâm nghĩa, Ánh sáng của Shamballa soi đường cho ý chí cao hơn của con người. Con người có thể trực nhận và có thể tư duy theo cách đáp ứng với ý chí chân thần, vốn là một phương diện của Ý Chí của Đức Hành Tinh Thượng Đế. Khi Ánh sáng Tối Cao này tuôn vào, phương hướng trong đó ý chí tinh thần của con người phải được áp dụng, và đó là một phương hướng mang thâm nghĩa của Ý Chí đang dẫn dắt hành tinh chúng ta, được mặc khải, xác nhận và tăng cường. |
|
27. The World of Light is not discussed. The power aspect of light is fully realized on the monadic plane. We know how much the factor of light is to be associated with the second aspect of divinity. The monadic plane is the second of the cosmic physical subplanes. |
27. Thế giới của Ánh sáng không được bàn đến. Phương diện quyền năng của ánh sáng được chứng nghiệm trọn vẹn trên cõi chân thần. Chúng ta biết yếu tố ánh sáng phải được liên hệ rất nhiều với phương diện thứ hai của thiên tính. Cõi chân thần là cõi phụ thứ hai của cõi hồng trần vũ trụ. |
|
The words dealt with in this Rule XIV are apparently so simple that they can be easily understood. I will attempt to show you that their real meaning is deep and esoteric to what you call the nth degree. |
Những từ ngữ được đề cập trong Quy luật XIV này dường như đơn giản đến mức có thể dễ dàng được thấu hiểu. Tôi sẽ cố gắng chỉ cho các bạn thấy rằng ý nghĩa đích thực của chúng sâu xa và huyền bí đến mức các bạn gọi là bậc n. |
|
28. We are shown that the Tibetan intends to lead us ever more deeply into the possibility for esoteric realization. |
28. Chúng ta được cho thấy rằng Chân sư Tây Tạng có ý định dẫn chúng ta ngày càng sâu hơn vào khả năng chứng nghiệm huyền bí. |
|
29. On a number of occasions, when the Tibetan uses the word “esoteric”, He indicates the Spirit/Monad. |
29. Trong nhiều dịp, khi Chân sư Tây Tạng dùng từ “huyền bí”, Ngài chỉ về Tinh thần/chân thần. |
|
Rule XIV. |
Quy luật XIV. |
|
For Applicants: Listen. Touch. See. Apply. Know. |
Dành cho Người Dự Tuyển: Lắng nghe. Chạm. Thấy. Áp dụng. Biết. |
|
For Disciples and Initiates: Know. Express. Reveal. Destroy. Resurrect. |
Dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ: Biết. Biểu đạt. Mặc khải. Hủy diệt. Phục sinh. |
|
30. These are all words for deep meditation. |
30. Tất cả những từ này đều là những từ dành cho sự tham thiền sâu xa. |
|
31. One point for meditative focus is the apparent overlap between series, pivoting on the word “Know”. |
31. Một điểm để tập trung tham thiền là sự chồng lấn bề ngoài giữa hai chuỗi, xoay quanh từ “Biết”. |
|
32. The series for Applicants ends with knowledge of the World of the Soul. The series for the Initiate begins there. |
32. Chuỗi dành cho Người Dự Tuyển kết thúc bằng tri thức về Thế giới của Linh hồn. Chuỗi dành cho Điểm đạo đồ bắt đầu từ đó. |
|
The following relationships should be noted, for the first is the seed of the other. |
Cần lưu ý những mối liên hệ sau đây, vì cái thứ nhất là hạt giống của cái kia. |
|
APPLICANTS INITIATES |
NGƯỜI DỰ TUYỂN ĐIỂM ĐẠO ĐỒ |
|
Listen….Know |
Lắng nghe….Biết |
|
Touch….Express |
Chạm….Biểu đạt |
|
See……Reveal |
Thấy……Mặc khải |
|
Apply….Destroy |
Áp dụng….Hủy diệt |
|
Know….Resurrect |
Biết….Phục sinh |
|
33. We see how the higher terms correlate with the lower. |
33. Chúng ta thấy các thuật ngữ cao hơn tương ứng với các thuật ngữ thấp hơn như thế nào. |
|
34. We also see the relationship of these lower terms to the first three senses, though we could not convincingly go so far as to say that the final two of these terms for applicants correlated with the sense of taste and smell. |
34. Chúng ta cũng thấy mối liên hệ của các thuật ngữ thấp hơn này với ba giác quan đầu tiên, dù chúng ta không thể đi xa một cách thuyết phục đến mức nói rằng hai thuật ngữ cuối cùng trong số này dành cho người dự tuyển tương ứng với vị giác và khứu giác. |
|
35. Also, we must remember that the true Ego or soul is the spiritual triad. |
35. Ngoài ra, chúng ta phải nhớ rằng Chân ngã đích thực hay linh hồn chính là Tam Nguyên Tinh Thần. |
|
36. We can eventually interpret even the five words for applicants in a triadal manner, but this is the not the way in which they must be interpreted initially. |
36. Cuối cùng, chúng ta có thể diễn giải ngay cả năm từ dành cho người dự tuyển theo cách tam nguyên, nhưng đó không phải là cách chúng phải được diễn giải lúc ban đầu. |
|
37. For instance, in elevating the meanings of the five terms for applicants, we could proceed as follows: |
37. Chẳng hạn, khi nâng cao ý nghĩa của năm thuật ngữ dành cho người dự tuyển, chúng ta có thể tiến hành như sau: |
|
38. Through inner hearing we come to know the soul-as-Triad. This occurs in relation to the buddhic plane, though first we must hear the “Voice of the Soul”. |
38. Thông qua thính giác bên trong, chúng ta đi đến chỗ biết linh hồn-như-Tam nguyên. Điều này xảy ra trong tương quan với cõi Bồ đề, dù trước hết chúng ta phải nghe “Tiếng Nói của Linh hồn”. |
|
39. Through the refined sense of touch we learn to express the soul-as-Triad, though first we must touch and be touched by the soul. |
39. Thông qua xúc giác đã được tinh luyện, chúng ta học cách biểu đạt linh hồn-như-Tam nguyên, dù trước hết chúng ta phải chạm đến linh hồn và được linh hồn chạm đến. |
|
40. Through the extension of the sense of sight we are able to reveal the soul-as-Triad. A higher type of realization attuned to the atmic plane is ours, though first we must learn to ‘see’ the soul in three forms of expression—as Angel, as lotus, as wheel. |
40. Thông qua sự mở rộng của thị giác, chúng ta có thể mặc khải linh hồn-như-Tam nguyên. Một loại chứng nghiệm cao hơn, hòa điệu với cõi atma, trở thành của chúng ta, dù trước hết chúng ta phải học cách “thấy” linh hồn trong ba hình thức biểu hiện—như Thiên Thần, như hoa sen, như bánh xe. |
|
41. We eventually learn to apply the higher will to destroy the “shroud of the soul” (the causal body). Initially, though, application involves the intelligent application to the three worlds of that which is known by the personality or of that which the personality knows of the soul. |
41. Cuối cùng, chúng ta học cách áp dụng ý chí cao hơn để hủy diệt “tấm khăn liệm của linh hồn”, tức thể nguyên nhân. Tuy nhiên, ban đầu, sự áp dụng bao hàm việc áp dụng một cách thông minh vào ba cõi thấp điều mà phàm ngã biết, hoặc điều mà phàm ngã biết về linh hồn. |
|
42. Finally one learns to know the spiritual triad intimately and also becomes intuitively intimate with the post-triadal world of the Monad, though at first, and obviously so, one must know the soul on the higher mental plane. |
42. Cuối cùng, người ta học cách biết Tam Nguyên Tinh Thần một cách mật thiết, và cũng trở nên mật thiết bằng trực giác với thế giới hậu-tam-nguyên của chân thần, dù lúc đầu, và hiển nhiên là như vậy, người ta phải biết linh hồn trên Cõi thượng trí. |
|
43. These are simply a few faltering attempts to convey that which the higher terms could signify when related to the original five terms and understood to include the elevated expressions of these lower five. |
43. Đây chỉ là vài nỗ lực còn dò dẫm nhằm truyền đạt điều mà các thuật ngữ cao hơn có thể biểu thị khi được liên hệ với năm thuật ngữ nguyên thủy và được hiểu là bao gồm những biểu hiện cao siêu của năm thuật ngữ thấp hơn này. |
|
44. DK will undertake the explanation of these terms according to the hierarchical perspective. |
44. Chân sư DK sẽ đảm nhiệm việc giải thích các thuật ngữ này theo viễn cảnh của Thánh đoàn. |
|
You will note that the applicant eventually arrives at knowledge and begins to know; |
Các bạn sẽ lưu ý rằng cuối cùng người dự tuyển đi đến tri thức và bắt đầu biết; |
|
45. This knowing is of that which the World of the Soul (on the higher mental plane) reveals. |
45. Sự biết này là về điều mà Thế giới của Linh hồn, trên Cõi thượng trí, mặc khải. |
|
46. The final knowing of the applicant is not a knowing of the spiritual triad. |
46. Sự biết cuối cùng của người dự tuyển không phải là sự biết về Tam Nguyên Tinh Thần. |
|
the disciple or the initiate starts with knowing, |
đệ tử hay điểm đạo đồ bắt đầu bằng sự biết, |
|
47. DK is obviously not speaking of the probationary disciple, but of the disciple who is passing through the probationary initiations. It would seem that such a disciple must have taken at least the second initiation at which time the building and utilization (with effectiveness) of the antahkarana is a confirmed part of the program of spiritual development. |
47. Chân sư DK rõ ràng không nói về đệ tử dự bị, mà nói về đệ tử đang trải qua các cuộc điểm đạo dự bị. Dường như một đệ tử như thế ít nhất phải đã trải qua lần điểm đạo thứ hai, lúc đó việc xây dựng và sử dụng antahkarana một cách hữu hiệu đã là một phần được xác nhận trong chương trình phát triển tinh thần. |
|
and through his ability to express esoterically that which he knows is able to reveal the light, |
và thông qua khả năng biểu đạt một cách huyền bí điều y biết y có thể mặc khải ánh sáng, |
|
48. DK has given us an excellent little summary of the manner in which the disciples or initiate is to demonstrate the five higher terms or, really, injunctions or commands. |
48. Chân sư DK đã trao cho chúng ta một bản tóm lược nhỏ tuyệt hảo về cách thức mà các đệ tử hay điểm đạo đồ phải biểu hiện năm thuật ngữ cao hơn, hay thật ra là những huấn thị hoặc mệnh lệnh. |
|
49. When DK uses the term “esoteric” or “esoterically”, so often He is speaking in terms of the spiritual triad or even the Monad. |
49. Khi Chân sư DK dùng thuật ngữ “huyền bí” hay “một cách huyền bí”, rất thường khi Ngài đang nói theo nghĩa của Tam Nguyên Tinh Thần hoặc thậm chí chân thần. |
|
and by that light to destroy all illusion, glamour and maya; |
và nhờ ánh sáng ấy mà hủy diệt mọi ảo tưởng, ảo cảm và ảo lực; |
|
50. It ´will be the light of the intuition (clearly a triadal form of light) which brings illusion, glamor and maya to an end. |
50. Chính ánh sáng của trực giác, rõ ràng là một hình thức ánh sáng thuộc Tam nguyên, sẽ đưa ảo tưởng, ảo cảm và ảo lực đến chỗ kết thúc. |
|
he brings about resurrection upon the physical plane—a resurrection from the death which physical plane life inevitably confers. |
y đem lại sự phục sinh trên cõi hồng trần—một sự phục sinh khỏi cái chết mà đời sống cõi hồng trần tất yếu trao cho. |
|
51. This type of resurrection suggests the taking of the fourth initiation. It is a rising out of physical plane life and a transcendence of the need to return to it through the usual process of incarnation—i.e., physical birth. |
51. Loại phục sinh này gợi ý đến việc trải qua lần điểm đạo thứ tư. Đó là sự vươn lên khỏi đời sống cõi hồng trần và sự siêu vượt nhu cầu phải trở lại cõi ấy thông qua tiến trình nhập thể thông thường—tức sự sinh ra về mặt hồng trần. |
|
52. There is also a higher type of resurrection associated with the seventh initiation and the logoic plane. Of this type of resurrection, we can know practically nothing and what we ‘know’ will be only theoretical. |
52. Cũng có một loại phục sinh cao hơn gắn liền với lần điểm đạo thứ bảy và cõi Thượng đế. Về loại phục sinh này, thực tế chúng ta không thể biết gì, và điều chúng ta “biết” sẽ chỉ là lý thuyết. |
|
The five words as given to the applicant are indeed relatively simple. |
Năm linh từ được trao cho ứng viên quả thật tương đối đơn giản. |
|
53. Though even here the simplicity can be misleading… |
53. Dù ngay cả ở đây, sự đơn giản ấy cũng có thể gây lầm lạc… |
|
Most aspirants understand their meaning [Page 287] to a certain extent. |
Hầu hết những người chí nguyện đều hiểu ý nghĩa của chúng [Page 287] đến một mức độ nào đó. |
|
54. Here DK will interpret the five words to applicants in terms of the soul. |
54. Ở đây Chân sư DK sẽ diễn giải năm linh từ cho các ứng viên theo nghĩa của linh hồn. |
|
They know that the listening mentioned has naught to do with the sense of physical hearing, and that the touch to be developed has reference to sensitivity and not the sensory perception of the physical vehicle. |
Họ biết rằng việc lắng nghe được nói đến không liên quan gì đến giác quan thính giác hồng trần, và rằng xúc chạm cần được phát triển có liên hệ đến sự nhạy bén chứ không phải tri giác giác quan của hiện thể hồng trần. |
|
55. The words do not refer to the utilization of the outer senses in the normal manner. The outer senses can, however, assist in the process of “spiritual reading” by means of which the world of phenomena can be interpreted in the light of the soul. |
55. Các linh từ này không nói đến việc sử dụng các giác quan bên ngoài theo cách thông thường. Tuy nhiên, các giác quan bên ngoài có thể trợ giúp trong tiến trình “đọc hiểu tinh thần”, nhờ đó thế giới hiện tượng có thể được diễn giải trong ánh sáng của linh hồn. |
|
56. We note that the applicant to initiation must always be sensitive, which suggests a certain refinement of the astral body. |
56. Chúng ta lưu ý rằng ứng viên bước vào điểm đạo phải luôn nhạy bén, điều này gợi ý một sự tinh luyện nào đó của thể cảm dục. |
|
They know likewise that the sight to be cultivated is the power to see the beauty underlying form, to recognise the subjective divinity and to register also the love conveyed through the medium of symbols. |
Họ cũng biết rằng thị giác cần được vun bồi là quyền năng thấy vẻ đẹp ẩn dưới hình tướng, để nhận ra thiên tính nội tại và cũng ghi nhận tình thương được truyền đạt qua phương tiện của các biểu tượng. |
|
57. This is a wonderful sentence. We are definitely speaking of “spiritual reading”, which suggest the first of the soul siddhis activate on the higher mental plane, “spiritual discernment”. It is a seeing of that which is spiritual in all things. |
57. Đây là một câu tuyệt diệu. Chúng ta chắc chắn đang nói về “đọc hiểu tinh thần”, điều gợi ý quyền năng đầu tiên của linh hồn hoạt động trên Cõi thượng trí, tức “phân biện tinh thần”. Đó là sự thấy điều tinh thần trong mọi sự. |
|
58. “Spiritual reading” (“spiritual discernment”) is a second ray type of vision, for the second ray is the “Ray of Beauty in Relationship”, the “Ray of the Divine Pattern”. |
58. “Đọc hiểu tinh thần” hay “phân biện tinh thần” là một loại tầm nhìn thuộc cung hai, vì cung hai là “Cung của Vẻ Đẹp trong Mối Quan Hệ”, “Cung của Mô Hình Thiêng Liêng”. |
|
59. Divinity is a term relating to the Spirit, and students are also to cultivate their sense of inner ‘sight’ in that direction. |
59. Thiên tính là một thuật ngữ liên quan đến Tinh thần, và các đạo sinh cũng phải vun bồi cảm thức “thị giác” nội tâm của mình theo hướng đó. |
|
60. How beautiful, as well, to consider that love is “conveyed through the medium of symbols”. Symbols reveal the beauty of the Divine Pattern formulated through pure reason, which is another term for love as expressed through the buddhic plane. |
60. Cũng đẹp biết bao khi xét rằng tình thương được “truyền đạt qua phương tiện của các biểu tượng”. Các biểu tượng mặc khải vẻ đẹp của Mô Hình Thiêng Liêng được hình thành qua lý trí thuần túy, vốn là một thuật ngữ khác chỉ tình thương khi biểu lộ qua cõi Bồ đề. |
|
61. When we look upon the world of symbols (the three lower worlds), we must realize that this world is a presentation of the love existing on the “plane of harmony”, the buddhic plane. Symbols reveal the purely reasonable love (purely reasonable in the occult sense) which underlies the World of Archetypes—found especially upon the monadic plane but reflected on the buddhic plane. In these worlds, all things exist together in loving harmony. |
61. Khi chúng ta nhìn vào thế giới của các biểu tượng, tức ba cõi thấp, chúng ta phải nhận ra rằng thế giới này là một sự trình hiện của tình thương hiện hữu trên “cõi hài hòa”, tức cõi Bồ đề. Các biểu tượng mặc khải tình thương hoàn toàn hợp lý, hợp lý hoàn toàn theo nghĩa huyền bí, vốn nằm dưới Thế giới của các Nguyên Mẫu—được tìm thấy đặc biệt trên cõi chân thần nhưng phản chiếu trên cõi Bồ đề. Trong các thế giới này, mọi sự cùng hiện hữu trong hài hòa yêu thương. |
|
62. So, in this injunction, we are asked to see with the eyes of the higher consciousness—beginning at first with the consciousness of the veiled soul upon the higher mental plane, and moving gradually into the consciousness of the spiritual triad and then, of the, Monad. The aspirant, per se, is not asked to see with these higher extensions of consciousness, but the initiate is. |
62. Vì vậy, trong huấn thị này, chúng ta được yêu cầu nhìn bằng đôi mắt của tâm thức cao hơn—ban đầu khởi từ tâm thức của linh hồn còn bị che phủ trên Cõi thượng trí, rồi dần dần đi vào tâm thức của Tam Nguyên Tinh Thần và sau đó là của Chân thần. Chính người chí nguyện, tự y, không được yêu cầu nhìn bằng những phần mở rộng cao hơn này của tâm thức, nhưng điểm đạo đồ thì được yêu cầu như vậy. |
|
The application of soul energy to the affairs of daily life and the establishing of those conditions which permit of soul knowledge are the elementary lessons of the aspirant. With these I need not deal, except in so far as they give the clue to the significance of the five words as given to the initiated disciple. |
Việc áp dụng năng lượng linh hồn vào các công việc của đời sống hằng ngày và việc thiết lập những điều kiện cho phép có tri thức linh hồn là các bài học sơ đẳng của người chí nguyện. Tôi không cần bàn đến những điều này, ngoại trừ trong chừng mực chúng cung cấp chìa khóa cho thâm nghĩa của năm linh từ như được trao cho đệ tử được điểm đạo. |
|
63. This is very straightforward. Through meditation one learns what the soul intends. Will these intentions remain theoretical only? Or will they be applied in practical service? This is the crux of the problem of every aspirant and probationer. In the section of text under consideration, the focus is upon only the “elementary” lessons of the aspirant; more advanced lessons are not considered. |
63. Điều này rất rõ ràng. Qua tham thiền, người ta học được điều linh hồn dự định. Liệu những dự định này sẽ chỉ còn là lý thuyết? Hay chúng sẽ được áp dụng trong phụng sự thực tiễn? Đây là điểm then chốt trong vấn đề của mọi người chí nguyện và người dự bị. Trong phần văn bản đang được xem xét, trọng tâm chỉ đặt vào các bài học “sơ đẳng” của người chí nguyện; những bài học tiến bộ hơn không được xét đến. |
|
64. We should note that DK is pointing not so much to the “meaning” of the five words given to the “initiated disciple” but to their “significance”. This again affirms that these five words are to be understood in the light of the spiritual triad. |
64. Chúng ta nên lưu ý rằng Chân sư DK không chỉ ra “ý nghĩa” của năm linh từ được trao cho “đệ tử được điểm đạo” cho bằng “thâm nghĩa” của chúng. Điều này lại khẳng định rằng năm linh từ này phải được thấu hiểu trong ánh sáng của Tam Nguyên Tinh Thần. |
|
65. Note as well that the five terms in the higher series is given to the “initiated disciple”. What is the meaning of that term “initiated disciple”? |
65. Cũng hãy lưu ý rằng năm thuật ngữ trong loạt cao hơn được trao cho “đệ tử được điểm đạo”. Ý nghĩa của thuật ngữ “đệ tử được điểm đạo” ấy là gì? |
|
66. Minimally, it suggests the second initiation. At that point one is a true disciple, almost certainly “accepted” in the technical sense of the term, but one is not yet the true initiate—a state of consciousness and of mind which begins at the third initiation. |
66. Tối thiểu, nó gợi ý lần điểm đạo thứ hai. Vào thời điểm đó, người ta là một đệ tử chân chính, gần như chắc chắn đã “được chấp nhận” theo nghĩa chuyên môn của thuật ngữ, nhưng người ta vẫn chưa phải là điểm đạo đồ chân chính—một trạng thái của tâm thức và của thể trí bắt đầu ở lần điểm đạo thứ ba. |
|
67. Yet, from a higher perspective, those who have taken the third initiation are still disciples, as are even the members of the Spiritual Hierarchy. And, we must remember that the last seven of the fourteen higher Rules are only really to be understood by the initiate consciousness. |
67. Tuy nhiên, từ một viễn cảnh cao hơn, những người đã trải qua lần điểm đạo thứ ba vẫn là đệ tử, cũng như ngay cả các thành viên của Huyền Giai Tinh Thần cũng vậy. Và chúng ta phải nhớ rằng bảy quy luật cuối trong mười bốn Quy Luật cao hơn chỉ thật sự được thấu hiểu bởi tâm thức điểm đạo đồ. |
|
68. So, perhaps we must conclude that the real significance of this higher series of five terms will only be understood by the initiate of the third degree and that, in this context, the “initiated disciple” is one who has taken the third degree. |
68. Vì vậy, có lẽ chúng ta phải kết luận rằng thâm nghĩa thật sự của loạt năm thuật ngữ cao hơn này chỉ được thấu hiểu bởi điểm đạo đồ cấp ba, và trong bối cảnh này, “đệ tử được điểm đạo” là người đã trải qua cấp ba. |
|
Let us take each of these five words and seek to ascertain their significance. |
Chúng ta hãy lấy từng linh từ trong năm linh từ này và tìm cách xác định thâm nghĩa của chúng. |
|
69. Again, He repeats this word “significance” which means that we will be looking at thee words from a very high perspective. |
69. Một lần nữa, Ngài lặp lại từ “thâm nghĩa” này, điều đó có nghĩa là chúng ta sẽ nhìn vào các linh từ này từ một viễn cảnh rất cao. |
|
But first of all, I would like to point out that here we are concerned with monadic signatures, |
Nhưng trước hết, tôi muốn chỉ ra rằng ở đây chúng ta đang liên quan đến các dấu ấn chân thần, |
|
70. This is an interesting and very occult term. It hearkens back to the medieval doctrine of “signatures”—which are often curiously rendered line-diagrams (very much like a person’s signature). They were sometimes called “sigils” and were thought to invoke and embody the energy or presence of a higher or lower E/entity. |
70. Đây là một thuật ngữ thú vị và rất huyền bí. Nó gợi nhớ đến học thuyết thời trung cổ về “các dấu ấn”—thường được trình bày một cách kỳ lạ dưới dạng các sơ đồ đường nét, rất giống chữ ký của một người. Đôi khi chúng được gọi là “ấn phù” và được cho là khẩn gọi cũng như hiện thân cho năng lượng hoặc sự hiện diện của một Thực Thể hay thực thể cao hơn hoặc thấp hơn. |
|
71. We might say we are dealing with concretized expressions revelatory of the identity of the Monad. |
71. Chúng ta có thể nói rằng mình đang xử lý những biểu hiện đã được cụ thể hóa, mặc khải bản sắc của Chân thần. |
|
72. DK is trying to reveal the nature of our subject. He is trying to reveal something of that monadic nature and monadic presence which lies behind the use of the five higher injunctions. |
72. Chân sư DK đang cố gắng mặc khải bản chất của chủ đề chúng ta. Ngài đang cố gắng mặc khải phần nào bản chất chân thần và sự hiện diện chân thần nằm sau việc sử dụng năm huấn thị cao hơn. |
|
with that which synthesizes significances, |
với điều tổng hợp các thâm nghĩa, |
|
73. Amazingly occult. Significances are realized within the spiritual triad. Yet it is the Monad, as the “point within the triangle”, which synthesizes significances realized within the Triad. |
73. Huyền bí một cách đáng kinh ngạc. Các thâm nghĩa được chứng nghiệm bên trong Tam Nguyên Tinh Thần. Tuy nhiên, chính Chân thần, như “điểm ở trong tam giác”, tổng hợp các thâm nghĩa được chứng nghiệm bên trong Tam nguyên tinh thần. |
|
74. Really, Rule XIV is a very synthetic, monadically inspired Rule. |
74. Thật vậy, Quy luật XIV là một Quy luật rất tổng hợp, được cảm hứng theo chân thần. |
|
and with that which contributes vital significance to the initiated life. |
và với điều đóng góp thâm nghĩa sống động cho đời sống điểm đạo. |
|
75. Vital significance is living significance. The initiate living the initiated life is vitalized by the spiritual triad which is an expression of the Monad. |
75. Thâm nghĩa sống động là thâm nghĩa đang sống. Điểm đạo đồ sống đời sống điểm đạo được tiếp sinh lực bởi Tam Nguyên Tinh Thần, vốn là một biểu hiện của Chân thần. |
|
76. The initiate experiences a living, vibrant directionality reaching him via the spiritual triad but impulsed, ultimately, by the Spirit or Monad itself. |
76. Điểm đạo đồ trải nghiệm một hướng tính sống động, rung động, đến với y qua Tam Nguyên Tinh Thần nhưng rốt cuộc được thúc đẩy bởi chính Tinh thần hay Chân thần. |
|
77. When significances, as revealed within the triadal sphere, are impressed upon the consciousness of the initiate, he becomes charged with life and with the will to apply those significances to the world of the soul-infused personality and, even more, to the world of the group and to the world of humanity. |
77. Khi các thâm nghĩa, như được mặc khải trong phạm vi Tam nguyên tinh thần, được in dấu lên tâm thức của điểm đạo đồ, y trở nên được nạp đầy sự sống và ý chí áp dụng những thâm nghĩa ấy vào thế giới của phàm ngã được linh hồn thấm nhuần, và còn hơn nữa, vào thế giới của nhóm và thế giới của nhân loại. |
|
78. The initiate is driven by the living will of the Monad expressed as significance through the Triad. |
78. Điểm đạo đồ được thúc đẩy bởi ý chí sống động của Chân thần, được biểu lộ như thâm nghĩa qua Tam nguyên tinh thần. |
|
79. Suffice it to say that the impress of the Monad substands all we study in this Rule. |
79. Chỉ cần nói rằng dấu ấn của Chân thần làm nền tảng cho tất cả những gì chúng ta nghiên cứu trong Quy luật này. |
|
I would have you, as you read my words, retreat within yourselves and seek to think, feel and perceive at your highest possible level of consciousness. |
Khi các bạn đọc những lời của tôi, tôi muốn các bạn rút lui vào bên trong chính mình và tìm cách suy nghĩ, cảm nhận và tri giác ở cấp độ tâm thức cao nhất có thể của mình. |
|
80. For us, if we have somewhat built and are using the antahkarana, the place of “retreat” will be the subplanes of the seven systemic planes through which the spiritual triad expresses—presumably the lower subplanes rather than the higher. |
80. Đối với chúng ta, nếu chúng ta đã phần nào xây dựng và đang sử dụng antahkarana, nơi “rút lui” sẽ là các cõi phụ của bảy cõi hệ thống mà qua đó Tam Nguyên Tinh Thần biểu lộ—có lẽ là các cõi phụ thấp hơn chứ không phải các cõi phụ cao hơn. |
|
The effort to do this will bear much fruit and bring rich reward to you. You will not grasp the full intention of these words, but your sense of awareness will begin to react to triadal impression. |
Nỗ lực làm điều này sẽ kết nhiều quả và đem đến cho các bạn phần thưởng phong phú. Các bạn sẽ không nắm bắt được trọn vẹn ý định của những lời này, nhưng cảm thức nhận biết của các bạn sẽ bắt đầu phản ứng với ấn tượng Tam nguyên tinh thần. |
|
81. Something higher will begin to dawn upon us even if we cannot register the full significance of what is dawning. |
81. Một điều gì đó cao hơn sẽ bắt đầu ló rạng trong chúng ta, ngay cả khi chúng ta không thể ghi nhận trọn vẹn thâm nghĩa của điều đang ló rạng ấy. |
|
I know not how else to word this, limited as I am by the necessity of language. |
Tôi không biết phải diễn đạt điều này bằng cách nào khác, vì tôi bị giới hạn bởi sự cần thiết của ngôn ngữ. |
|
82. When we reach the point of realizing that language, as ordinarily used, is a limitation upon esoteric communication, that in itself is an indication of esoteric progress. |
82. Khi chúng ta đạt đến điểm nhận ra rằng ngôn ngữ, như thường được sử dụng, là một giới hạn đối với giao tiếp huyền bí, thì chính điều đó là một dấu hiệu của tiến bộ huyền bí. |
|
You may not register anything consciously, for the brain of the average disciple is as yet insensitive to monadic vibration. |
Các bạn có thể không ghi nhận được điều gì một cách hữu thức, vì bộ não của đệ tử trung bình cho đến nay vẫn chưa nhạy cảm với rung động chân thần. |
|
83. The average disciple has not yet taken the third degree when this type of sensitivity is awakened. |
83. Đệ tử trung bình vẫn chưa trải qua cấp ba, khi loại nhạy bén này được đánh thức. |
|
84. Let us be clear—this type of study is intended to facilitate monadic impression of the brain. This higher Rule is synthetic and intends to bring “Heaven to Earth”. |
84. Chúng ta hãy nói rõ—loại nghiên cứu này nhằm tạo điều kiện cho ấn tượng chân thần tác động lên bộ não. Quy luật cao hơn này có tính tổng hợp và nhằm đưa “Thiên Đường xuống Trái Đất”. |
|
Even if the disciple is capable of some responsiveness, there are not the needed words in which to express the sensed idea or to clothe the concept. |
Ngay cả khi đệ tử có khả năng đáp ứng phần nào, vẫn không có những từ ngữ cần thiết để diễn đạt ý tưởng đã được cảm nhận hoặc khoác hình thức cho khái niệm ấy. |
|
85. A subtle esoterically- ‘poetic’ approach is, therefore, needed. |
85. Do đó, cần có một cách tiếp cận tinh tế, mang tính huyền bí và “thi vị”. |
|
It is therefore impossible to put the divine ideas into their ideal form and them bring them down into the world of meaning, and from thence into the world of symbols. |
Vì vậy, không thể đặt các ý tưởng thiêng liêng vào hình thức lý tưởng của chúng rồi đưa chúng xuống thế giới của ý nghĩa, và từ đó vào thế giới của các biểu tượng. |
|
86. These ideas originate within the World of the Monad (the World of Being) and live within the World of Significance. They do not usually live within the World of the Soul or the World of the Personality—the worlds of meaning and personality respectively. |
86. Những ý tưởng này phát nguyên trong Thế Giới của Chân thần, tức Thế Giới Bản Thể, và sống trong Thế giới của thâm nghĩa. Chúng thường không sống trong Thế Giới của Linh Hồn hay Thế Giới của Phàm Ngã—tương ứng là các thế giới của ý nghĩa và của phàm ngã. |
|
87. Remember that idealism exists with the World of the Soul and also with the World of the Triad (the faculty of idealism being found on the third subplane of the buddhic plane). And the Monad too, on the sixth plane counting from below, is the Great Idealist. |
87. Hãy nhớ rằng chủ nghĩa lý tưởng hiện hữu trong Thế Giới của Linh Hồn và cũng trong Thế Giới của Tam nguyên tinh thần, vì năng lực của chủ nghĩa lý tưởng được tìm thấy trên cõi phụ thứ ba của cõi Bồ đề. Và Chân thần nữa, trên cõi thứ sáu tính từ dưới lên, là Nhà Lý Tưởng Vĩ Đại. |
|
What I say will therefore have more significance towards the close of this century, |
Vì vậy, điều tôi nói sẽ có nhiều thâm nghĩa hơn vào gần cuối thế kỷ này, |
|
88. We have been there and beyond. Are we sufficiently aware? |
88. Chúng ta đã ở đó và vượt qua đó. Chúng ta có đủ nhận biết không? |
|
when men will have recovered from the chaos and cruelty of war, |
khi con người đã hồi phục khỏi sự hỗn loạn và tàn bạo của chiến tranh, |
|
89. Yet war within our kingdom has persisted. Has our consciousness recovered? |
89. Tuy nhiên, chiến tranh trong giới của chúng ta vẫn còn tiếp diễn. Tâm thức của chúng ta đã hồi phục chưa? |
|
and when the new and higher spiritual influences are being steadily poured out. |
và khi những ảnh hưởng tinh thần mới mẻ và cao hơn đang được tuôn đổ đều đặn. |
|
90. This has happened and is happening. |
90. Điều này đã xảy ra và đang xảy ra. |
|
I write, my brothers, for the future. |
Các huynh đệ của Tôi, Tôi viết cho tương lai. |
|
91. These Rules, I suspect, will have utility throughout the Aquarian Age. If the Gospel Narrative in the Christian Bible (written down by those who still had much to achieve in their spiritual development) endured for two thousand years, there is no reason to think that stanzas taken from the Inner Archives will not similarly endure. Stories from the Old Testament, also not written by high initiates, have lasted even longer. |
91. Tôi ngờ rằng các Quy Luật này sẽ hữu dụng suốt Kỷ Nguyên Bảo Bình. Nếu trình thuật Tin Mừng trong Kinh Thánh Cơ Đốc, được ghi chép bởi những người vẫn còn nhiều điều phải đạt được trong sự phát triển tinh thần của họ, đã tồn tại suốt hai ngàn năm, thì không có lý do gì để nghĩ rằng các bài kệ lấy từ Văn Khố Nội Môn sẽ không tồn tại tương tự. Những câu chuyện trong Cựu Ước, cũng không phải do các điểm đạo đồ cao cấp viết ra, đã tồn tại còn lâu hơn nữa. |
|
[Page 288] |
|
|
1. Know. |
1. Biết. |
|
What is the difference between the knowing of the aspirant and the knowledge of the initiated disciple? It is the difference which exists between two differing fields and areas of perception. |
Sự khác biệt giữa sự biết của người chí nguyện và tri thức của đệ tử được điểm đạo là gì? Đó là sự khác biệt hiện hữu giữa hai trường và hai phạm vi tri giác khác nhau. |
|
92. We are really only somewhat familiar with one of these fields of perception—the field of the true psyche (or soul) as it interpenetrates the world of the person. |
92. Thật ra chúng ta chỉ phần nào quen thuộc với một trong các trường tri giác này—trường của tâm hồn đích thực, hay linh hồn, khi nó thâm nhập vào thế giới của con người. |
|
93. Of course we are even more familiar with the human psyche within the personality. This is not the true psyche. |
93. Dĩ nhiên, chúng ta còn quen thuộc hơn với tâm lý con người bên trong phàm ngã. Đây không phải là tâm hồn đích thực. |
|
94. With the world of the spiritual triad as it interpenetrates the World of the Ego on the higher mental plane, we have far less familiarity. |
94. Với thế giới của Tam Nguyên Tinh Thần khi nó thâm nhập vào Thế Giới của Chân Ngã trên Cõi thượng trí, chúng ta ít quen thuộc hơn nhiều. |
|
The aspirant is told first of all to “know thyself”; he is then told to know the relation of form and soul, and the area covered by his knowledge is that of the three worlds, plus the level upon the mental plane on which his soul is focussed. |
Trước hết, người chí nguyện được bảo “hãy tự biết mình”; rồi y được bảo phải biết mối liên hệ của hình tướng và linh hồn, và phạm vi được tri thức của y bao trùm là phạm vi của ba cõi giới, cộng với cấp độ trên cõi trí nơi linh hồn của y được tập trung. |
|
95. DK says this succinctly. As aspirants, we are to know the lunar vehicles (four of them, which includes the personality) and then to understand the relationship between these vehicles and the soul or Ego on the higher mental plane. |
95. Chân sư DK nói điều này một cách súc tích. Với tư cách là những người chí nguyện, chúng ta phải biết các hiện thể thái âm, gồm bốn hiện thể, trong đó có phàm ngã, rồi thấu hiểu mối liên hệ giữa các hiện thể này và linh hồn hay Chân ngã trên Cõi thượng trí. |
|
96. Knowledge is contact and the apprehension of that which contact revealed. |
96. Tri thức là sự tiếp xúc và là sự lĩnh hội điều mà sự tiếp xúc đã mặc khải. |
|
97. To acquire knowledge one must be capable of actually contacting the sphere of vibration or field to be known. One must also be capable of registering that which the field of knowledge reveals. |
97. Để đạt được tri thức, người ta phải có khả năng thật sự tiếp xúc với khối cầu rung động hay trường cần được biết. Người ta cũng phải có khả năng ghi nhận điều mà trường tri thức ấy mặc khải. |
|
98. We note that DK reasserts that there is more than one level of the mental plane on which our soul may be focussed. As far as we know, it will be either the third or the second subplane. For an individual who is focussed primarily in the personality, it will be the third subplane. |
98. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK tái khẳng định rằng có hơn một cấp độ của cõi trí nơi linh hồn chúng ta có thể được tập trung. Theo như chúng ta biết, đó sẽ là cõi phụ thứ ba hoặc thứ hai. Đối với một cá nhân chủ yếu tập trung trong phàm ngã, đó sẽ là cõi phụ thứ ba. |
|
The initiated disciple knows the relation of the periphery to the centre, of the One to the many, and of unity to diversity. |
Đệ tử được điểm đạo biết mối liên hệ của chu vi với trung tâm, của Đấng Duy Nhất với nhiều người, và của hợp nhất với đa dạng. |
|
99. The initiated disciple dwells in unitive consciousness. It is the consciousness revealed by the true Ego, both on its own plane, and also as it works through the causal body during the later stages of evolution. |
99. Người đệ tử đã được điểm đạo an trú trong tâm thức hợp nhất. Đó là tâm thức được chân ngã đích thực mặc khải, cả trên cõi riêng của nó, lẫn khi nó hoạt động qua thể nguyên nhân trong các giai đoạn sau của tiến hoá. |
|
100. The stage of consciousness here described reaches a kind of culmination at Mastership at which time one becomes in consciousness both the point at the center and the ring-pass-not which defines the circle or, better, the sphere of consciousness. |
100. Giai đoạn tâm thức được mô tả ở đây đạt đến một loại tột đỉnh ở trạng thái Chân sư, khi đó hành giả trở thành trong tâm thức vừa là điểm ở trung tâm vừa là vòng-giới-hạn xác định vòng tròn hay, đúng hơn, khối cầu của tâm thức. |
|
101. If we think of the meanings of the signs Leo and Aquarius, we shall see that these meanings are descriptive of the state of consciousness of the high initiate. |
101. Nếu chúng ta suy nghĩ về ý nghĩa của các dấu hiệu Sư Tử và Bảo Bình, chúng ta sẽ thấy rằng các ý nghĩa này mô tả trạng thái tâm thức của điểm đạo đồ cao cấp. |
|
The applicant is concerned with triplicity: himself as the knower, his field of knowledge, and that which is the agent of knowing, the mind. |
Người ứng thí quan tâm đến bộ ba: chính y với tư cách thức giả, lĩnh vực tri thức của y, và cái làm tác nhân của sự biết, tức thể trí. |
|
102. “Learn that the Thinker and his thought and that which is the means of thought are diverse in their nature, yet one in ultimate reality”. (TWM 473) |
102. “Hãy học biết rằng Chủ thể Tư duy, tư tưởng của y, và cái là phương tiện của tư tưởng, đều khác biệt trong bản chất của chúng, tuy vẫn là một trong thực tại tối hậu”. (Luận về Chánh Thuật 473) |
|
The initiated disciple is beyond registering triplicity and is occupied with the duality of manifestation, |
Người đệ tử đã được điểm đạo vượt khỏi việc ghi nhận bộ ba và bận tâm với Nhị nguyên của biểu hiện, |
|
103. Thus he works with the “Technique of Duality” as hinted in EP II. |
103. Do đó, y làm việc với “Kỹ Thuật Nhị Nguyên” như đã được gợi ý trong Tâm Lý Học Nội Môn II. |
|
3. The Technique of Duality is applied upon the Path of Initiation. (EP II 379) |
3. Kỹ Thuật Nhị Nguyên được áp dụng trên Con Đường Điểm Đạo. (Tâm Lý Học Nội Môn II 379) |
|
with life-energy as it affects or is related to matter-force, with spirit and substance. |
với năng lượng-sự sống khi nó tác động đến hoặc liên hệ với mãnh lực-vật chất, với tinh thần và chất liệu. |
|
104. The initiated disciple is involved with the process of eliminating the soul on the higher mental plane as a central factor. He is gradually moving towards that state of identification which will transcend the state of unitive harmonious consciousness realized on the higher mental plane. |
104. Người đệ tử đã được điểm đạo tham dự vào tiến trình loại bỏ linh hồn trên Cõi thượng trí như một yếu tố trung tâm. Y đang dần tiến về trạng thái đồng nhất hóa sẽ vượt lên trên trạng thái tâm thức hài hòa hợp nhất được chứng nghiệm trên Cõi thượng trí. |
|
The knowledge of the initiate has naught to do with consciousness as the mind recognises that factor in the evolutionary process; |
Tri thức của điểm đạo đồ không liên quan gì đến tâm thức như thể trí nhận ra yếu tố ấy trong tiến trình thăng thượng tiến hoá; |
|
105. It is inferred that there is a way to recognize consciousness in a manner other than the manner in which the mind recognizes it. Consciousness in its purest form substands the entire Universal Process. |
105. Có thể suy ra rằng có một cách nhận biết tâm thức khác với cách thể trí nhận biết nó. Tâm thức trong hình thức thuần khiết nhất làm nền tảng cho toàn bộ Tiến Trình Vũ Trụ. |
|
his knowledge is related to the faculty of the intuition and to that divine perception which sees all things as within itself. |
tri thức của y liên hệ đến năng lực trực giác và đến tri giác thiêng liêng ấy, vốn thấy mọi sự như ở bên trong chính nó. |
|
106. Here is another marvelous definition of intuition and, perhaps, to a state of inclusive perception which transcends what is usually understood by the term “intuition”. It reveals the deeply ‘inclusive interiority’ of intuitive perception and of post-intuitive states—perhaps monadic states. |
106. Đây là một định nghĩa kỳ diệu khác về trực giác và, có lẽ, về một trạng thái tri giác bao gồm vượt lên trên điều thường được hiểu bằng thuật ngữ “trực giác”. Nó mặc khải tính “nội tại bao gồm” sâu xa của tri giác trực giác và của các trạng thái hậu-trực giác—có lẽ là các trạng thái chân thần. |
|
107. Long pondering on this sentence will reveal much and will stimulate the intuition as here described. |
107. Sự suy ngẫm lâu dài về câu này sẽ mặc khải nhiều điều và sẽ kích thích trực giác như được mô tả ở đây. |
|
Perhaps the simplest way to express the knowledge of the initiate is to say that it is direct awareness of God, |
Có lẽ cách đơn giản nhất để diễn đạt tri thức của điểm đạo đồ là nói rằng đó là sự nhận biết trực tiếp về Thượng đế, |
|
108. Let us call this ‘straight knowledge of Divinity”. |
108. Chúng ta hãy gọi điều này là “tri thức trực tiếp về thiên tính”. |
|
thus putting it into mystical terms; |
như vậy đặt nó vào thuật ngữ thần bí; |
|
109. Within the true initiate of the occult mysteries, the mystic is alive and well. |
109. Bên trong điểm đạo đồ chân chính của các bí nhiệm huyền bí, nhà thần bí vẫn sống động và mạnh mẽ. |
|
the knowledge of the aspirant is related to that aspect of divinity which we call the soul in form. |
tri thức của người chí nguyện liên hệ đến phương diện của thiên tính mà chúng ta gọi là linh hồn trong hình tướng. |
|
110. Not even the soul on its own plane—the higher mental plane. |
110. Thậm chí không phải linh hồn trên cõi riêng của nó—Cõi thượng trí. |
|
111. Of course the causal body is also a form and the true soul is the Ego released from the causal body and functioning as the spiritual triad. |
111. Dĩ nhiên, thể nguyên nhân cũng là một hình tướng và linh hồn đích thực là Chân ngã được giải thoát khỏi thể nguyên nhân và hoạt động như Tam Nguyên Tinh Thần. |
|
112. The aspirant cannot be expected to have full knowledge of the soul or Ego within the causal body. |
112. Không thể mong đợi người chí nguyện có tri thức đầy đủ về linh hồn hay Chân ngã bên trong thể nguyên nhân. |
|
Putting this in still another way, |
Diễn đạt điều này theo một cách khác nữa, |
|
113. And notice, one must do this to attempt to reach the many types of minds… |
113. Và hãy lưu ý, người ta phải làm điều này để cố gắng vươn tới nhiều loại thể trí khác nhau… |
|
I might point out that the aspirant is concerned with the knowledge of soul and matter, whilst the initiate is concerned with soul and spirit. |
Tôi có thể chỉ ra rằng người chí nguyện quan tâm đến tri thức về linh hồn và vật chất, trong khi điểm đạo đồ quan tâm đến linh hồn và tinh thần. |
|
114. The soul is the shared factor in both types of knowledge. The soul is Janus looking in two directions—towards personality-matter and towards spirit and spiritual soul. |
114. Linh hồn là yếu tố chung trong cả hai loại tri thức. Linh hồn là Janus nhìn về hai hướng—về phía vật chất-phàm ngã và về phía tinh thần cùng linh hồn tinh thần. |
|
If I say to you, my brothers, that the knowledge of the initiate is concerned with that which is produced by SOUND and not by the A.U.M. or the O.M., I shall have linked up these comments with much else given previously in the analysis of these fourteen rules. |
Các huynh đệ của tôi, nếu Tôi nói với các bạn rằng tri thức của điểm đạo đồ liên quan đến cái được tạo ra bởi ÂM THANH chứ không bởi A.U.M. hay O.M., thì Tôi đã nối kết những nhận xét này với nhiều điều khác đã được đưa ra trước đây trong phần phân tích mười bốn quy luật này. |
|
115. Perhaps we recognize this. The SOUND is of the Spirit; the O.M is of the soul. The A.U.M., as understood within these pages, is of the personality. |
115. Có lẽ chúng ta nhận ra điều này. ÂM THANH thuộc về Tinh thần; O.M. thuộc về linh hồn. A.U.M., như được hiểu trong các trang này, thuộc về phàm ngã. |
|
116. The initiate and his group “onward move within the Sound”. (Rule X for Dis and Initiates.) |
116. Điểm đạo đồ và nhóm của y “tiến lên phía trước trong Âm Thanh”. (Quy luật mười dành cho các Đệ tử và Điểm đạo đồ.) |
|
117. Yet, what really, do these assertions mean to us? |
117. Tuy nhiên, những khẳng định này thật sự có nghĩa gì đối với chúng ta? |
|
The “listening” of the aspirant has now been transformed into the effectual recognition of that which the Sound has created. |
Sự “lắng nghe” của người chí nguyện nay đã được chuyển đổi thành sự nhận biết hữu hiệu về điều mà Âm Thanh đã tạo ra. |
|
118. Each of the seven monadic sphere is a creative center with its own geometrizing sound, creatively impulsive in relation to the five lower worlds. |
118. Mỗi trong bảy khối cầu chân thần là một trung tâm sáng tạo với âm thanh tạo hình theo hình học riêng của nó, có xung lực sáng tạo trong tương quan với năm thế giới thấp. |
|
I refer not here to the creation of the phenomenal world, or to the world of meaning which is essentially the Plan or the pattern underlying that phenomenal world, |
Ở đây tôi không nói đến việc tạo dựng thế giới hiện tượng, hay đến thế giới của ý nghĩa, vốn về bản chất là Thiên Cơ hay mô hình nằm dưới thế giới hiện tượng ấy, |
|
119. The Monad’s influence upon these three lower worlds and upon the higher mental plane is mediated by the spiritual triad. |
119. Ảnh hưởng của chân thần lên ba cõi thấp này và lên Cõi thượng trí được Tam Nguyên Tinh Thần làm trung gian. |
|
120. Note the excellent definition of the World of Meaning. Through spiritual discernment we detect or discern this pattern and Plan. The “blueprints” which the Great Architect ‘has in Mind’ are revealed to us. |
120. Hãy lưu ý định nghĩa tuyệt hảo về Thế giới của Ý nghĩa. Nhờ phân biện tinh thần, chúng ta phát hiện hay phân biện mô hình và Thiên Cơ này. Các “bản thiết kế” mà Đấng Kiến Trúc Sư Vĩ Đại “có trong Trí” được mặc khải cho chúng ta. |
|
but to the intention or [Page 289] the Purpose Which motivated the creative Sound; |
mà là đến ý định hay [Page 289] Thiên Ý vốn thúc đẩy Âm Thanh sáng tạo; |
|
121. The true Sound reveals Divine Purpose. |
121. Âm Thanh đích thực mặc khải Thiên Ý. |
|
122. The true Sound creates the Worlds of the Triad, but it is Divine Purpose which impels and guides the sounding of the Sound. |
122. Âm Thanh đích thực tạo ra các Thế giới của Tam Nguyên Tinh Thần, nhưng chính Thiên Ý thúc đẩy và hướng dẫn việc xướng Âm Thanh. |
|
I am dealing with the impulsive energy which gives significance to activity and to the life-force which the Sound centralises at Shamballa. |
Tôi đang đề cập đến năng lượng xung động vốn đem lại thâm nghĩa cho hoạt động và cho mãnh lực sự sống mà Âm Thanh quy tụ tại Shamballa. |
|
123. The “impulsive energy” is centralized in Shamballa. Activity has no significance unless it is directed by Shamballic Will working through the spiritual triad. |
123. “Năng lượng xung động” được quy tụ trong Shamballa. Hoạt động không có thâm nghĩa nếu nó không được Ý Chí Shamballa chỉ đạo, hoạt động qua Tam Nguyên Tinh Thần. |
|
124. These are amazing words. The Sound centralizes the life-force at or in Shamballa. |
124. Đây là những lời kỳ diệu. Âm Thanh quy tụ mãnh lực sự sống tại hay trong Shamballa. |
|
125. Apparently the life-force is also in need of the impartation of significance. From the structure of the sentence, we are to understand that it is the “impulsive energy” which imparts this significance alsoto the life-force which the Sound has centralized at Shamballa. |
125. Hiển nhiên mãnh lực sự sống cũng cần được truyền đạt thâm nghĩa. Từ cấu trúc của câu, chúng ta phải hiểu rằng chính “năng lượng xung động” truyền đạt thâm nghĩa này cũngcho mãnh lực sự sống mà Âm Thanh đã quy tụ tại Shamballa. |
|
126. Shamballic purpose, intention, impulsive energy lie behind the Sound. These three are as one, and impart significance to activity and to the life force which the Sound centralizes at Shamballa. |
126. Thiên Ý Shamballa, ý định, năng lượng xung động nằm sau Âm Thanh. Ba điều này là một, và truyền thâm nghĩa cho hoạt động cũng như cho mãnh lực sự sống mà Âm Thanh quy tụ tại Shamballa. |
|
127. Long and deep pondering are needed. We can see how the use of the abstract mind is necessitated and also the application of the intuition where possible. |
127. Cần suy ngẫm lâu dài và sâu sắc. Chúng ta có thể thấy việc sử dụng Trí trừu tượng trở nên cần thiết như thế nào, và cả việc áp dụng trực giác khi có thể. |
|
It is not the fault of humanity that it is only now possible for the significance of the divine purpose to emerge more clearly in the consciousness of the initiated disciple. |
Không phải lỗi của nhân loại khi chỉ đến nay thâm nghĩa của Thiên Ý mới có thể hiển lộ rõ ràng hơn trong tâm thức của người đệ tử đã được điểm đạo. |
|
128. It is only now that we are coming to the period in the history of humanity and the planet when divine purpose may be somewhat appreciated by the initiated disciple. |
128. Chỉ lúc này chúng ta mới đang bước vào thời kỳ trong lịch sử của nhân loại và hành tinh khi Thiên Ý có thể được người đệ tử đã được điểm đạo phần nào lĩnh hội. |
|
129. The Shamballa Impacts of the last two centuries have made this possible. |
129. Các Tác Động Shamballa trong hai thế kỷ vừa qua đã làm cho điều này có thể xảy ra. |
|
It is a question of timing and of movement in space; it concerns the relation of the Hierarchy, working with the Plan, to Shamballa, |
Đây là vấn đề về thời điểm và về sự vận động trong không gian; nó liên quan đến mối quan hệ của Thánh Đoàn, đang hoạt động với Thiên Cơ, đối với Shamballa, |
|
130. This possible revelation at this time of Divine Purpose is controlled by much greater movements and cycles. |
130. Sự mặc khải khả hữu này vào lúc này về Thiên Ý chịu sự chi phối của những chuyển động và chu kỳ lớn lao hơn nhiều. |
|
the recipient (by means of the Sound) of the creative energy which it is the divine intention to expend in producing a perfect expression of the divine Idea. |
bên tiếp nhận (bằng phương tiện Âm Thanh) năng lượng sáng tạo mà ý định thiêng liêng định sử dụng để tạo ra một sự biểu hiện hoàn hảo của Ý Tưởng thiêng liêng. |
|
131. Here we have some of the profoundest statements describing the esoteric relationship between Shamballa and Hierarchy. |
131. Ở đây chúng ta có một vài phát biểu sâu xa nhất mô tả mối quan hệ huyền bí giữa Shamballa và Thánh Đoàn. |
|
132. Only now is the relationship between Shamballa and Hierarchy sufficiently adjusted for this registration of purpose to occur. |
132. Chỉ đến nay mối quan hệ giữa Shamballa và Thánh Đoàn mới được điều chỉnh đủ để sự ghi nhận Thiên Ý này xảy ra. |
|
133. Notice the function of Shamballa expressed in terms of Sound, creative energy and divine intention. Note the tremendous idealism (or ‘idea-in-substance) which Shamballa is meant to express. |
133. Hãy lưu ý chức năng của Shamballa được diễn đạt bằng các thuật ngữ Âm Thanh, năng lượng sáng tạo và ý định thiêng liêng. Hãy lưu ý chủ nghĩa lý tưởng phi thường (hay “ý tưởng-trong-chất liệu”) mà Shamballa được định để biểu hiện. |
|
134. There is operative in this process something higher than Shamballa for Shamballa is a “recipient” via the Sound of a certain “creative energy” which it is the divine intention (presumably of the Planetary Logos) to expend through Shamballa. |
134. Trong tiến trình này có điều gì đó cao hơn Shamballa đang vận hành, vì Shamballa là một “bên tiếp nhận”, qua Âm Thanh, một “năng lượng sáng tạo” nhất định mà ý định thiêng liêng (có lẽ là của Đức Hành Tinh Thượng Đế) định sử dụng xuyên qua Shamballa. |
|
135. There is a Sound produced in Shamballa and there are even greater SOUNDS produced by the Planetary Logos and Solar Logos. If Shamballa receives “by means of the Sound” that which is to be expressed, it is obvious that this “Sound” originates within points of tension higher and greater than those within Shamballa. |
135. Có một Âm Thanh được tạo ra trong Shamballa và còn có những ÂM THANH lớn lao hơn nữa do Đức Hành Tinh Thượng Đế và Thái dương Thượng đế tạo ra. Nếu Shamballa tiếp nhận “bằng phương tiện Âm Thanh” điều sẽ được biểu hiện, thì hiển nhiên “Âm Thanh” này khởi nguồn trong các điểm tập trung nhất tâm cao hơn và lớn lao hơn những điểm ở trong Shamballa. |
|
136. This “divine Idea” must emanate from the Planetary Logos or even from the Solar Logos, and Shamballa (a center directly representative of the Planetary Logos and in contact with the Solar Logos) is meant to express this Idea. |
136. “Ý Tưởng thiêng liêng” này hẳn phải phát xuất từ Đức Hành Tinh Thượng Đế hoặc thậm chí từ Thái dương Thượng đế, và Shamballa (một trung tâm đại diện trực tiếp cho Đức Hành Tinh Thượng Đế và tiếp xúc với Thái dương Thượng đế) được định để biểu hiện Ý Tưởng này. |
|
137. No wonder DK told us to retreat deeply within ourselves to seek deeper understanding of what He was about to say. |
137. Chẳng có gì lạ khi Chân sư DK bảo chúng ta rút lui thật sâu vào bên trong chính mình để tìm kiếm sự thấu hiểu sâu hơn về điều Ngài sắp nói. |
|
138. It seems that the Tibetan has never approached more abstractly than He is in this chapter. |
138. Dường như Chân sư Tây Tạng chưa bao giờ tiếp cận một cách trừu tượng hơn như Ngài đang làm trong chương này. |
|
It is to the knowledge of this relationship and of its effects that the first word of Rule XIV refers. |
Chính tri thức về mối quan hệ này và về các hiệu quả của nó là điều mà từ đầu tiên của Quy luật mười bốn ám chỉ. |
|
139. When the initiated disciple seeks to understand the meaning of the term “Know”, he is reaching towards Shamballa and attempting to understand Shamballic-Hierarchical interaction. |
139. Khi người đệ tử đã được điểm đạo tìm cách thấu hiểu ý nghĩa của thuật ngữ “Biết”, y đang vươn tới Shamballa và cố gắng thấu hiểu sự tương tác giữa Shamballa và Thánh Đoàn. |
|
140. He is also reaching towards the Divine Purpose which is known by the Planetary Logos and even more deeply by the Solar Logos. |
140. Y cũng đang vươn tới Thiên Ý, điều được Đức Hành Tinh Thượng Đế biết đến, và còn sâu xa hơn nữa bởi Thái dương Thượng đế. |
|
It was the dawning of this significance upon the consciousness of the Christ—a consciousness enlightened, purified and divinely focussed—that forced Him to cry out: “Father, not my will but Thine be done.” |
Chính sự ló rạng của thâm nghĩa này trong tâm thức của Đức Christ—một tâm thức đã được soi sáng, thanh lọc và tập trung một cách thiêng liêng—đã buộc Ngài phải kêu lên: “Lạy Cha, xin đừng theo ý con, mà theo ý Cha được nên.” |
|
141. The Christ had realized Shamballic Purpose as it was meant to impress the Hierarchy of which He was the Head. |
141. Đức Christ đã chứng nghiệm Thiên Ý Shamballa như nó được định để in dấu lên Thánh Đoàn mà Ngài là Đấng đứng đầu. |
|
142. The Christ as a Master of the Wisdom surely had achieved high levels of triadal consciousness but as He was not yet an Initiate of the sixth degree (which He rapidly became), He had not the complete monadic consciousness (presumably of His monadic Ray—the second). |
142. Đức Christ với tư cách một Chân sư Minh Triết chắc chắn đã đạt được các cấp độ cao của tâm thức Tam Nguyên Tinh Thần, nhưng vì Ngài khi ấy chưa là một điểm đạo đồ cấp sáu (điều Ngài nhanh chóng trở thành), nên Ngài chưa có tâm thức chân thần trọn vẹn (có lẽ thuộc cung chân thần của Ngài—cung hai). |
|
143. It was this dawning monadic consciousness which revealed to Him the Divine Purpose which He had to take on as His own. |
143. Chính tâm thức chân thần đang ló rạng này đã mặc khải cho Ngài Thiên Ý mà Ngài phải nhận lấy làm của chính Ngài. |
|
He received a vision of the emerging divine intention for humanity |
Ngài đã nhận một linh ảnh về ý định thiêng liêng đang hiển lộ dành cho nhân loại |
|
144. Even though the word “intention” is used, that what is meant is an aspect of the greater Divine Purpose. |
144. Dù từ “ý định” được dùng, điều được hàm ý là một phương diện của Thiên Ý lớn lao hơn. |
|
and (through humanity) for the planet as a whole. |
và (thông qua nhân loại) dành cho toàn thể hành tinh. |
|
145. The Christ registered not only the destiny of humanity but the destiny of our planet (perhaps, the entire planetary scheme but perhaps only the “divine intention” for our planetary chain and especially its fourth globe). |
145. Đức Christ đã ghi nhận không chỉ vận mệnh của nhân loại mà còn vận mệnh của hành tinh chúng ta (có lẽ là toàn bộ hệ hành tinh, nhưng có lẽ chỉ là “ý định thiêng liêng” dành cho Dãy hành tinh của chúng ta và đặc biệt là bầu hành tinh thứ tư của nó). |
|
In the hierarchical stage of development which Christ had attained and which made Him the Head of the Hierarchy and the Master of all the Masters, |
Trong giai đoạn phát triển thuộc Thánh Đoàn mà Đức Christ đã đạt đến và khiến Ngài trở thành Đấng đứng đầu Thánh Đoàn và Chân sư của mọi Chân sư, |
|
146. For He was a fifth degree initiate and the Great Teacher then even as He is now… |
146. Vì Ngài là một điểm đạo đồ cấp năm và là Đức Đại Huấn Sư khi ấy, cũng như Ngài hiện nay… |
|
His consciousness was entirely at one with the Plan; |
tâm thức của Ngài hoàn toàn là một với Thiên Cơ; |
|
147. The Plan, we remember, expresses the pattern underlying the phenomenal worlds. |
147. Chúng ta nhớ rằng Thiên Cơ biểu hiện mô hình nằm dưới các thế giới hiện tượng. |
|
148. There is also a sense in which the Plan has a triadal origin from the plane of atma. A Master of the Wisdom focusses within atma. |
148. Theo một nghĩa nào đó, Thiên Cơ cũng có nguồn gốc Tam Nguyên Tinh Thần từ cõi atma. Một Chân sư Minh Triết tập trung trong atma. |
|
its application to life in the three worlds, and its goal of establishing the Kingdom of God on earth and the emergence of the fifth kingdom in nature, |
với sự áp dụng của Thiên Cơ vào đời sống trong ba cõi, và với mục tiêu thiết lập Thiên Giới trên Trái Đất cùng sự hiển lộ của giới thứ năm trong thiên nhiên, |
|
149. DK is speaking of very practical aspects of the Plan—the Plan as it is meant to transform the three lower worlds. |
149. Chân sư DK đang nói về các phương diện rất thực tiễn của Thiên Cơ—Thiên Cơ như được định để chuyển đổi ba cõi thấp. |
|
150. He is calling attention to the Plan as it affected the expression of humanity in those worlds, and not so much to the destiny of Humanity as a whole and of the planet as a whole. These latter two belong more to the domain of Divine Purpose and of “divine intention” (as DK mentions above). |
150. Ngài đang kêu gọi chú ý đến Thiên Cơ khi nó tác động đến sự biểu hiện của nhân loại trong các cõi ấy, chứ không quá nhấn mạnh đến vận mệnh của Nhân loại như một toàn thể và của hành tinh như một toàn thể. Hai điều sau này thuộc nhiều hơn về lĩnh vực của Thiên Ý và của “ý định thiêng liêng” (như Chân sư DK đã đề cập ở trên). |
|
were now for Him simply the fulfilling of the law, and to that fulfillment His entire life was and had been geared. |
giờ đây đối với Ngài chỉ đơn giản là sự hoàn thành định luật, và toàn bộ đời sống của Ngài đã và đang được hướng trọn vào sự hoàn thành ấy. |
|
151. DK is telling us how the Christ had lived His life until that fateful moment in the Garden of Gethsemene. He certainly fulfilled atmic law—the law lying behind the Plan. The Plan itself is related to the third ray/first ray nature of the atmic plane- |
151. Chân sư DK đang nói với chúng ta về cách Đức Christ đã sống cuộc đời của Ngài cho đến khoảnh khắc định mệnh ấy trong Vườn Gethsemane. Chắc chắn Ngài đã hoàn thành định luật atma — định luật nằm sau Thiên Cơ. Chính Thiên Cơ liên hệ với bản chất cung ba/cung một của cõi atma- |
|
The Plan, its goal, its techniques and methods, its laws and their application, its phenomenal effects, the hindrances to be met, the energy (that of love) to be employed, and the close and growing relation and interplay between the Hierarchy and Humanity, between the heart centre of the planetary Logos and the creative centre, were known to Him and fully understood. |
Thiên Cơ, mục tiêu của nó, các kỹ thuật và phương pháp của nó, các định luật của nó và việc áp dụng chúng, các hiệu quả hiện tượng của nó, những chướng ngại phải gặp, năng lượng được sử dụng là năng lượng bác ái, và mối quan hệ cùng sự tương tác mật thiết và ngày càng tăng giữa Thánh Đoàn và Nhân loại, giữa trung tâm tim của Hành Tinh Thượng đế và trung tâm sáng tạo, đều đã được Ngài biết và thấu hiểu trọn vẹn. |
|
152. This is an amazing section of text. It embodies all that Christ understood until the experience in the Garden. |
152. Đây là một đoạn văn đáng kinh ngạc. Nó hàm chứa tất cả những gì Đức Christ đã thấu hiểu cho đến kinh nghiệm trong Khu Vườn. |
|
153. In executing the Plan it is principally the energy of love which is to be utilized. Intelligent application is assumed. |
153. Trong việc thực thi Thiên Cơ, chủ yếu chính năng lượng bác ái là điều phải được vận dụng. Việc áp dụng một cách thông minh được xem như điều tất nhiên. |
|
154. The Christ was overseeing the increasingly closer relationship between Hierarchy and Humanity, but the logoically-intended relationship of the central Center both to Hierarchy and humanity was not yet fully understood. |
154. Đức Christ đang trông coi mối quan hệ ngày càng mật thiết hơn giữa Thánh Đoàn và Nhân loại, nhưng mối quan hệ do Thượng đế định ý của Trung Tâm trung ương đối với cả Thánh Đoàn lẫn Nhân loại vẫn chưa được thấu hiểu trọn vẹn. |
|
At the highest point of this consummated knowledge, and at the moment of His complete surrender to the necessary sacrifice of His life to the fulfilling of the Plan, suddenly a great expansion of consciousness took place. |
Ở điểm cao nhất của tri thức viên mãn này, và vào khoảnh khắc Ngài hoàn toàn phó thác cho sự hi sinh cần thiết của đời sống Ngài nhằm hoàn thành Thiên Cơ, đột nhiên một sự mở rộng tâm thức lớn lao đã diễn ra. |
|
155. Master DK is not speaking in a manner easily understood. |
155. Chân sư DK không nói theo một cách dễ hiểu. |
|
156. One could think He was speaking of the Master Jesus, for He speaks in terms of “the necessary sacrifice of His life”. |
156. Người ta có thể nghĩ Ngài đang nói về Chân sư Jesus, vì Ngài dùng cụm từ “sự hi sinh cần thiết của đời sống Ngài”. |
|
157. Yes, the life in the body was deliberately sacrificed by the Master Jesus, but what was the “life” which the Christ was called upon to sacrifice, when He had long before outgrown the need for incarnation as a human being, and when the body He was using to express His teachings (i.e., the body of the Master Jesus) was not even His own? |
157. Đúng vậy, đời sống trong thể xác đã được Chân sư Jesus cố ý hi sinh, nhưng “đời sống” mà Đức Christ được kêu gọi phải hi sinh là gì, khi từ lâu trước đó Ngài đã vượt khỏi nhu cầu lâm phàm như một con người, và khi thể xác Ngài đang dùng để biểu đạt giáo huấn của Ngài, tức thể xác của Chân sư Jesus, thậm chí không phải là của riêng Ngài? |
|
158. May we suggest that the “life” to be sacrificed represented the full commitment of His spiritual life-energies for a five-thousand-year period of Piscean and Aquarian redemption and salvation? |
158. Chúng ta có thể gợi ý rằng “đời sống” phải được hi sinh biểu thị sự dấn thân trọn vẹn của các năng lượng đời sống tinh thần của Ngài trong một chu kỳ năm ngàn năm cứu chuộc và cứu rỗi thuộc Song Ngư và Bảo Bình chăng? |
|
159. What the Christ had to surrender were His own ideas and plans for the redemption of the human race (excellent though they were) and instead, adopt the vision and intention of One Greater than Himself. |
159. Điều Đức Christ phải từ bỏ là những ý tưởng và kế hoạch riêng của Ngài cho sự cứu chuộc nhân loại, dù chúng rất xuất sắc, và thay vào đó, chấp nhận tầm nhìn và ý định của Đấng Cao Cả hơn chính Ngài. |
|
[Page 290] The significance, the intention, the purpose of it all, and the extent of the divine Idea as it existed in the mind of the “Father,” dawned on His soul (not on His mind, but on His soul). |
[Trang 290] Thâm nghĩa, ý định, mục đích của toàn bộ điều ấy, và phạm vi của Ý Tưởng thiêng liêng như nó hiện hữu trong trí của “Cha”, đã ló rạng trong linh hồn Ngài, không phải trong thể trí Ngài, mà trong linh hồn Ngài. |
|
160. Christ was given a clear sense of the intended direction for humanity and the planet. |
160. Đức Christ đã được ban cho một ý thức rõ ràng về hướng đi được định ý cho Nhân loại và hành tinh. |
|
161. The “Father” certainly has a “mind”—something which it is so easy for students of spirituality to forget when they are striving after the development of the intuition. |
161. “Cha” chắc chắn có một “trí” — điều mà các đạo sinh tinh thần rất dễ quên khi họ nỗ lực phát triển trực giác. |
|
162. The Christ was given a Shamballic realization of that which the “Father” intended. The realization dawned upon His triadal consciousness, upon his higher soul—the Ego focussed on triadal levels. Thus, it was a completely impersonal realization. |
162. Đức Christ đã được ban cho một chứng nghiệm Shamballa về điều mà “Cha” đã định ý. Sự chứng nghiệm ấy ló rạng trong tâm thức tam nguyên tinh thần của Ngài, trong linh hồn cao siêu của Ngài — Chân ngã tập trung trên các cấp độ tam nguyên tinh thần. Vì vậy, đó là một chứng nghiệm hoàn toàn phi cá nhân. |
|
163. With regard to this dawning, is could not have been the soul within the causal body, because the Christ as the Head of the Spiritual Hierarchy had no causal body. |
163. Về sự ló rạng này, đó không thể là linh hồn bên trong thể nguyên nhân, bởi Đức Christ, với tư cách là Đầu của Thánh Đoàn Tinh Thần, không có thể nguyên nhân. |
|
He saw still further into the significance of divinity |
Ngài nhìn sâu hơn nữa vào thâm nghĩa của thiên tính |
|
164. Note how two words, “significance” and “divinity” are put together in such a way that the triadal and monadic worlds are fused, for “significance” is of the World of the Triad and “divinity” of the World of the Monad. |
164. Hãy lưu ý cách hai từ “thâm nghĩa” và “thiên tính” được đặt cạnh nhau theo một cách khiến các thế giới tam nguyên tinh thần và chân thần được dung hợp, vì “thâm nghĩa” thuộc về Thế Giới của Tam nguyên tinh thần, còn “thiên tính” thuộc về Thế Giới của Chân thần. |
|
than had ever seemed possible; |
hơn bất cứ điều gì từng có vẻ khả hữu; |
|
165. Possible to Him, is the inference… |
165. Khả hữu đối với Ngài, đó là điều được ngụ ý… |
|
the world of meaning and the world of phenomena faded out and—esoterically speaking—He lost His All. |
Thế giới của ý nghĩa và thế giới hiện tượng phai mờ đi, và — nói một cách huyền bí — Ngài đánh mất Toàn Thể của Ngài. |
|
166. The World of the Soul and the world of the personality, were blotted out. |
166. Thế Giới của Linh hồn và thế giới của phàm ngã đã bị xóa mờ. |
|
167. This experience recalls the process indicated in Rule IX for Disciples and Initiates: |
167. Kinh nghiệm này gợi nhớ đến tiến trình được chỉ ra trong Quy luật IX dành cho các Đệ tử và Điểm đạo đồ: |
|
Let the group know there are no other selves. Let the group know there is no colour, only light; and then let darkness take the place of light, hiding all difference, blotting out all form. Then—at the place of tension, and at that darkest point—let the group see a point of clear cold fire, and in the fire (right at its very heart) let the One Initiator appear Whose star shone forth when the Door first was passed. (R&I22) |
Hãy để nhóm biết rằng không có các bản ngã nào khác. Hãy để nhóm biết rằng không có màu sắc, chỉ có ánh sáng; và rồi hãy để bóng tối thay thế ánh sáng, che giấu mọi dị biệt, xóa mờ mọi hình tướng. Rồi — tại điểm tập trung nhất tâm, và tại điểm tối tăm nhất ấy — hãy để nhóm thấy một điểm lửa trong lạnh rõ ràng, và trong ngọn lửa ấy, ngay chính nơi trung tâm của nó, hãy để Đấng Điểm đạo Duy Nhất xuất hiện, Đấng mà ngôi sao của Ngài đã chiếu sáng khi Cánh Cửa lần đầu tiên được vượt qua. (CVĐĐ22) |
|
168. The “All” which the Christ “lost” may be considered all that with which He had previously identified Himself. |
168. “Toàn Thể” mà Đức Christ “đánh mất” có thể được xem là tất cả những gì trước đó Ngài đã đồng hóa với. |
|
169. The terms “esoterically speaking” are important. Words are given which have deeply esoteric meanings. If interpreted in the normal sense, they will mislead. |
169. Các thuật ngữ “nói một cách huyền bí” rất quan trọng. Những lời được đưa ra có các ý nghĩa huyền bí sâu xa. Nếu được diễn giải theo nghĩa thông thường, chúng sẽ gây lầm lạc. |
|
These are words necessarily meaningless to you. |
Đây là những lời tất yếu vô nghĩa đối với các bạn. |
|
170. We can assume that DK really means this. We have no experience in these higher worlds and thus, no way of relating occurrences within them to occurrences within our own worlds. |
170. Chúng ta có thể giả định rằng Chân sư DK thật sự muốn nói điều này. Chúng ta không có kinh nghiệm trong các thế giới cao siêu này, và do đó không có cách nào liên hệ những diễn biến trong đó với những diễn biến trong các thế giới của chính chúng ta. |
|
For the time being, neither the energy of the creative mind nor the energy of love was left to Him. |
Trong lúc ấy, cả năng lượng của trí sáng tạo lẫn năng lượng bác ái đều không còn lại cho Ngài. |
|
171. Of course, they were to be later retrieved, but He was so impressed by the Divine Will and Purpose, that these two lower aspects momentarily faded into insignificance. |
171. Dĩ nhiên, về sau chúng sẽ được thu hồi lại, nhưng Ngài đã chịu ấn tượng mạnh mẽ đến mức bởi Ý Chí và Mục Đích thiêng liêng, khiến hai phương diện thấp hơn này nhất thời phai mờ vào sự vô nghĩa. |
|
A new type of energy became available—the energy of life itself, imbued with purpose and actuated by intention. |
Một loại năng lượng mới trở nên khả dụng — năng lượng của chính sự sống, được thấm nhuần bởi mục đích và được thúc động bởi ý định. |
|
172. “Life”, “purpose”, “intention”—in that order. Life underlies even purpose. |
172. “Sự sống”, “mục đích”, “ý định” — theo thứ tự ấy. Sự sống nằm bên dưới ngay cả mục đích. |
|
173. We could question whether the term “life” should be related to the first aspect of divinity, as it is really something substanding all aspects of divinity. Yet, it often it. |
173. Chúng ta có thể đặt câu hỏi liệu thuật ngữ “sự sống” có nên được liên hệ với phương diện thứ nhất của thiên tính hay không, vì nó thật sự là một điều làm nền tảng cho tất cả các phương diện của thiên tính. Tuy vậy, nó thường được liên hệ như thế. |
|
174. Note the word “actuated” in relation to “intention”. Intention is purpose (implemented by will) on the way to becoming actual. Intention deals with specificities in worlds lower than those from which the intention originates. |
174. Hãy lưu ý từ “được thúc động” trong liên hệ với “ý định”. Ý định là mục đích, được thực thi bởi ý chí, đang trên đường trở nên thực tại. Ý định đề cập đến các đặc thù trong những thế giới thấp hơn các thế giới mà từ đó ý định phát sinh. |
|
175. This was surely an Initiation. Initiation is ever that process or event in which a new realm of divine experience is penetrated and new energies from such a realm are made available. |
175. Đây chắc chắn là một Cuộc Điểm Đạo. Điểm đạo luôn là tiến trình hay biến cố trong đó một lĩnh vực mới của kinh nghiệm thiêng liêng được thâm nhập, và các năng lượng mới từ lĩnh vực ấy trở nên khả dụng. |
|
176. Of the actually “ceremony” or “inner event” of the sixth initiation we can know nothing. |
176. Về “nghi lễ” thực sự hay “biến cố nội tâm” của lần điểm đạo thứ sáu, chúng ta không thể biết gì. |
|
For the first time, the relation of the Will, which had hitherto expressed itself in His life through love and the creative work of inaugurating the new dispensation and the launching for all time of the Kingdom of God, became clear to Him. |
Lần đầu tiên, mối quan hệ của Ý Chí, vốn cho đến lúc ấy đã biểu đạt trong đời sống Ngài qua bác ái và công việc sáng tạo là khai mở thể chế mới và khởi lập Thiên Giới cho mọi thời đại, trở nên rõ ràng đối với Ngài. |
|
177. The Will of God (Sanat Kumara as expressive of the Planetary Logos) became clear to Him. |
177. Ý Chí của Thượng Đế, tức Đức Sanat Kumara như sự biểu đạt của Hành Tinh Thượng đế, trở nên rõ ràng đối với Ngài. |
|
178. This was not to be Will-through-Creative Intelligence or Will-through-Love, but God’s living Will—a Will fitting within the context of God’s vast Purpose—a living Will expressive of Divine Purpose which it was God’s intention (the Planetary Logos’ intention) to see expressed within the phenomenal worlds. |
178. Đây không phải là Ý Chí-thông qua-Trí Tuệ Sáng Tạo hay Ý Chí-thông qua-Bác Ái, mà là Ý Chí sống động của Thượng đế — một Ý Chí phù hợp trong bối cảnh Mục Đích bao la của Thượng đế — một Ý Chí sống động biểu đạt Thiên Ý, điều mà Thượng đế định ý, tức ý định của Hành Tinh Thượng đế, muốn thấy được biểu đạt trong các thế giới hiện tượng. |
|
At that point He passed through the Gethsemane of renunciation. |
Tại điểm ấy, Ngài đã đi qua Gethsemane của sự từ bỏ. |
|
179. This renunciation is not the renunciation as experienced at the fourth initiation. It is higher. It is a renunciation of the Brahmic aspect, from the perspective of the planetary Life. It is the renunciation of the conditioning of the five lower planes. |
179. Sự từ bỏ này không phải là sự từ bỏ như được kinh nghiệm ở lần điểm đạo thứ tư. Nó cao hơn. Đó là sự từ bỏ phương diện Brahma, xét từ viễn cảnh của Sự Sống hành tinh. Đó là sự từ bỏ ảnh hưởng định hình của năm cõi thấp. |
|
180. Meanwhile, Master Jesus was passing through a renunciation of His own—the deliberate renunciation attachment to incarnated life and of further need for such incarnated life. |
180. Trong khi đó, Chân sư Jesus đang đi qua một sự từ bỏ của riêng Ngài — sự cố ý từ bỏ bám chấp vào đời sống nhập thể và nhu cầu tiếp tục đối với đời sống nhập thể như thế. |
|
A hint lies here. This high point of attainment of the Christ—as related in the Gospel story—was reached in Gethsemane, and for a brief moment we are given an insight into an aspect or happening of the Sixth Initiation. |
Ở đây có một gợi ý. Điểm thành tựu cao này của Đức Christ — như được kể lại trong câu chuyện Phúc Âm — đã đạt tới tại Gethsemane, và trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, chúng ta được ban cho một thoáng nhìn vào một phương diện hay biến cố của Lần Điểm Đạo Thứ Sáu. |
|
181. The experience in the Garden of Gethsemane was not the entirety of the aspects and happenings associated with the sixth initiation, but was an event more representative of that initiation than we have ever been given. |
181. Kinh nghiệm trong Vườn Gethsemane không phải là toàn bộ các phương diện và biến cố liên hệ với lần điểm đạo thứ sáu, nhưng đó là một biến cố tiêu biểu cho cuộc điểm đạo ấy hơn bất cứ điều gì chúng ta từng được trao cho. |
|
182. There was a great moment of choice. The sixth initiation is closely associated with Libra (as the determining of the cosmic Paths to be trodden by the Master indicates). One can ‘see’ the Christ choosing, according to the Will of God, five thousand years of “Earth service”. |
182. Đã có một khoảnh khắc lớn lao của sự lựa chọn. Lần điểm đạo thứ sáu liên hệ mật thiết với Thiên Bình, như việc xác định các Con Đường vũ trụ mà Chân sư phải bước đi đã chỉ ra. Người ta có thể ‘thấy’ Đức Christ lựa chọn, theo Ý Chí của Thượng Đế, năm ngàn năm “phụng sự Trái Đất”. |
|
183. One can see how the deepest possible of attunement with-and-as the Monad is required if one is to make this choice. |
183. Người ta có thể thấy sự hòa điệu sâu xa nhất có thể với-và-như Chân thần là điều cần thiết biết bao nếu một người phải thực hiện lựa chọn này. |
|
184. As a precedent and Great Example for all humanity, the Christ correctly made the choice of all choices with the inner surrender expressed in the words, “Not my will, Father, but thine be done”. |
184. Là tiền lệ và Tấm Gương Lớn cho toàn thể Nhân loại, Đức Christ đã thực hiện đúng đắn lựa chọn của mọi lựa chọn, với sự phó thác nội tâm được biểu đạt trong những lời: “Không phải ý chí của con, thưa Cha, mà xin ý Cha được thực hiện”. |
|
It was this event and spiritual crisis in the life of the Christ (taking place as He overshadowed His disciple, Jesus) which enabled Jesus on His own level of spiritual development to take the fourth initiation, that of the Crucifixion or the Great Renunciation. |
Chính biến cố và cuộc khủng hoảng tinh thần này trong đời sống của Đức Christ, diễn ra khi Ngài phủ bóng lên đệ tử của Ngài là Jesus, đã giúp Jesus, trên cấp độ phát triển tinh thần riêng của Ngài, có thể nhận lần điểm đạo thứ tư, tức Cuộc Đóng Đinh hay Sự Từ Bỏ Lớn Lao. |
|
185. Both the Christ and Jesus were in the Garden of Gethsemene—each attuning with a higher level of divinity than had hitherto been possible, and each in the process of making a specific type of great renunciation. |
185. Cả Đức Christ và Jesus đều ở trong Vườn Gethsemane — mỗi vị đang hòa điệu với một cấp độ thiên tính cao hơn mức trước đó từng khả hữu, và mỗi vị đang trong tiến trình thực hiện một loại sự từ bỏ lớn lao |
|
186. How this overshadowing process worked we cannot know in detail, but the interplay of the two related consciousnesses must have been considerable. |
186. Chúng ta không thể biết chi tiết tiến trình phủ bóng này đã vận hành như thế nào, nhưng sự tương tác giữa hai tâm thức liên hệ ấy hẳn đã rất đáng kể. |
|
The numbers four and six are closely connected, |
Các con số bốn và sáu có liên hệ mật thiết, |
|
187. When one numbers the third ray as the first Brahmic aspect and continues counting downward, one finds the four and the six aligned. |
187. Khi người ta đánh số cung ba như phương diện Brahma thứ nhất và tiếp tục đếm xuống, người ta thấy bốn và sáu được chỉnh hợp. |
|
and the lesser renunciation (great only from the human point of view) |
và sự từ bỏ thấp hơn, chỉ lớn lao theo quan điểm nhân loại, |
|
188. This puts things in proportion, does it not? |
188. Điều này đặt mọi sự vào đúng tỉ lệ, phải không? |
|
makes the higher renunciation possible eventually, and vice versa. |
cuối cùng làm cho sự từ bỏ cao hơn trở nên khả hữu, và ngược lại. |
|
189. Only He who has passed through the renunciation necessitated at the fourth initiation can find Himself prepared to make the greater renunciation at the sixth initiation. |
189. Chỉ Đấng đã đi qua sự từ bỏ cần thiết ở lần điểm đạo thứ tư mới có thể thấy chính mình được chuẩn bị để thực hiện sự từ bỏ lớn hơn ở lần điểm đạo thứ sáu. |
|
190. Conversely, the events transpiring during the sixth initiation, make the taking of the fourth initiation a possibility for the third degree initiate associated with his exalted Guru Who is passing through the sixth initiation. |
190. Ngược lại, các biến cố diễn ra trong lần điểm đạo thứ sáu khiến việc nhận lần điểm đạo thứ tư trở thành một khả năng cho điểm đạo đồ cấp ba liên hệ với vị Đạo sư tôn quý của mình, Đấng đang đi qua lần điểm đạo thứ sáu. |
|
Running through many parts of the Gospel story are two paralleling histories; |
Xuyên suốt nhiều phần của câu chuyện Phúc Âm là hai lịch sử song hành; |
|
191. These are the history of the Christ and history of the Master Jesus. |
191. Đó là lịch sử của Đức Christ và lịch sử của Chân sư Jesus. |
|
the lesser world of discipleship profits by the achievements of those who take the higher initiations, |
thế giới nhỏ hơn của địa vị đệ tử được hưởng lợi từ các thành tựu của những Đấng nhận các cuộc điểm đạo cao hơn, |
|
192. If we rise, we cannot help but lift those associated with us. The reverse is also true. |
192. Nếu chúng ta vươn lên, chúng ta không thể không nâng những người liên hệ với chúng ta. Điều ngược lại cũng đúng. |
|
and thus is demonstrated the close unity which forever exists within the Hierarchy and—focussing through the Christ—the synthesis which is beginning to be formed between the Hierarchy and Shamballa. |
và do đó sự hợp nhất mật thiết vốn mãi mãi hiện hữu trong Thánh Đoàn được chứng minh, cũng như — tập trung qua Đức Christ — sự tổng hợp đang bắt đầu hình thành giữa Thánh Đoàn và Shamballa. |
|
193. DK is speaking more of the synthesis existing between Hierarchy and Shamballa than of the growing fusion between Hierarchy and Humanity. |
193. Chân sư DK đang nói nhiều hơn về sự tổng hợp hiện hữu giữa Thánh Đoàn và Shamballa hơn là về sự dung hợp ngày càng tăng giữa Thánh Đoàn và Nhân loại. |
|
194. In His individualized nature, the Christ demonstrated the union of Shamballa (the Will of the “Father”) and Hierarchy (Christ’s intimate knowledge of the Plan and its best modes of implementation). |
194. Trong bản chất đã biệt ngã hóa của Ngài, Đức Christ đã biểu chứng sự hợp nhất giữa Shamballa, tức Ý Chí của “Cha”, và Thánh Đoàn, tức tri thức mật thiết của Đức Christ về Thiên Cơ và những phương thức thực thi tốt nhất của nó. |
|
This is taking place in this era for the first time in human history. |
Điều này đang diễn ra trong kỷ nguyên này lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại. |
|
195. The experience of the Christ was the forerunner of this possibility, only now emerging in humanity. |
195. Kinh nghiệm của Đức Christ là tiền thân của khả năng này, vốn chỉ nay mới đang xuất hiện trong Nhân loại. |
|
The recognition of this emerging synthesis between Will and Love produced a definite effect in [Page 291] the consciousness of the Christ and led Him to know much that had hitherto been concealed from Him. |
Sự nhận biết về sự tổng hợp đang xuất hiện này giữa Ý Chí và Bác Ái đã tạo ra một hiệu quả xác định trong [Trang 291] tâm thức của Đức Christ và dẫn Ngài đến chỗ biết nhiều điều trước đó từng bị che giấu khỏi Ngài. |
|
196. What do we learn? That fusion brings revelation. That the union of the highest principles opens doors hitherto closed. Thus we are encouraged to achieve the necessary alignments between the higher aspects of our nature, knowing that doors of perception and realization will open as a result. |
196. Chúng ta học được gì? Rằng sự dung hợp đem lại sự mặc khải. Rằng sự hợp nhất của các nguyên khí cao nhất mở ra những cánh cửa trước đó từng đóng kín. Như vậy, chúng ta được khích lệ để đạt được những chỉnh hợp cần thiết giữa các phương diện cao hơn trong bản chất của mình, biết rằng các cánh cửa của tri nhận và chứng nghiệm sẽ mở ra như một kết quả. |
|
These are deep mysteries. Their value to the disciple in training lies in the recognised and considered relationships. |
Đây là những bí nhiệm sâu xa. Giá trị của chúng đối với đệ tử đang được huấn luyện nằm trong các mối liên hệ đã được nhận biết và được suy xét. |
|
197. The Tibetan has pointed towards so much that He cannot fully disclose, but the hints given are sufficient to help us (alone and more particularly in group formation) to penetrate into spiritual realms awaiting and inviting penetration |
197. Chân sư Tây Tạng đã chỉ hướng đến rất nhiều điều mà Ngài không thể bộc lộ trọn vẹn, nhưng những gợi ý được trao là đủ để giúp chúng ta, riêng lẻ và đặc biệt hơn trong hình thái nhóm, thâm nhập vào các lĩnh vực tinh thần đang chờ đợi và mời gọi sự thâm nhập. |
|
These rules are—as you know—the rules controlling group life; |
Như các bạn biết, các quy luật này là—các quy luật chi phối đời sống nhóm; |
|
198. Why wonder how esoteric groups in the New Age will function. The outline has been clearly given. There is no need to piece together possibilities from the substance of vague impression. A Master of the Wisdom has spoken and has given us what we need to consider. Why not recognize the gift and accept it, and do what is required in relation to it? |
198. Tại sao phải băn khoăn về cách các nhóm huyền bí trong Kỷ Nguyên Mới sẽ hoạt động? Dàn ý đã được trao rõ ràng. Không cần phải ghép nối các khả năng từ chất liệu của ấn tượng mơ hồ. Một Chân sư Minh Triết đã nói và đã trao cho chúng ta điều chúng ta cần suy xét. Tại sao không nhận ra món quà ấy, chấp nhận nó, và làm điều được đòi hỏi liên quan đến nó? |
|
they constitute the key to the laws under which all planetary groups work. |
chúng cấu thành chìa khóa cho các định luật mà theo đó mọi nhóm hành tinh hoạt động. |
|
199. Thus is confirmed the amazing value of that which has been imparted. |
199. Như vậy, giá trị đáng kinh ngạc của điều đã được truyền đạt được xác nhận. |
|
The hierarchical life, through its major aspect of Love, was a familiar area of consciousness and well-known to the Masters and to the Master of Them all, the Christ. |
Đời sống Thánh Đoàn, qua phương diện chính yếu là Bác Ái, là một lĩnh vực tâm thức quen thuộc và được các Chân sư cũng như Chân sư của tất cả Các Ngài, là Đức Christ, biết rõ. |
|
200. For there were Masters in those days even as there are now. |
200. Vì trong những ngày ấy đã có các Chân sư, cũng như hiện nay. |
|
201. The Members of the Hierarchy with which we are now most familiar may not have been Masters then, but surely there were Masters of the Wisdom directed by the Christ. |
201. Các Thành viên của Thánh Đoàn mà hiện nay chúng ta quen thuộc nhất có thể khi ấy chưa phải là các Chân sư, nhưng chắc chắn đã có các Chân sư Minh Triết được Đức Christ hướng dẫn. |
|
But a further “knowing” lay ahead of even this “perfected Son of God”; |
Nhưng một “sự biết” sâu xa hơn còn ở phía trước ngay cả đối với “Con của Thượng đế đã hoàn thiện” này; |
|
202. The Christ was perfected according to human standards. The Master of the Wisdom is still a human being. A Chohan (which the Christ was about to become) is no longer a human being. “They are no longer men as are the Masters.” |
202. Đức Christ đã hoàn thiện theo các chuẩn mực nhân loại. Chân sư Minh Triết vẫn còn là một con người. Một Chohan, điều mà Đức Christ sắp trở thành, không còn là một con người nữa. “Các Ngài không còn là con người như các Chân sư.” |
|
the nature and the mind of that great Being, embodied in the Lord of the World at Shamballa, was now revealed to Him. |
bản chất và thể trí của Đấng Vĩ Đại ấy, được hiện thân nơi Đức Chúa Tể Thế Giới tại Shamballa, bấy giờ đã được mặc khải cho Ngài. |
|
203. Whose mind was revealed to the Christ? The mind of Sanat Kumara or the mind of Him of Whom Sanat Kumara is an embodiment (i.e., the Planetary Logos)? |
203. Thể trí của ai đã được mặc khải cho Đức Christ? Thể trí của Đức Sanat Kumara hay thể trí của Đấng mà Đức Sanat Kumara là một hiện thân, tức Đức Hành Tinh Thượng Đế? |
|
204. In a way, the Christ (the most rapidly developing of all the Sons of Men) was on the verge of taking the seventh initiation, at which time the Will of the Planetary Logos would also make its impression. |
204. Theo một cách nào đó, Đức Christ, Đấng phát triển nhanh chóng nhất trong tất cả những người con của nhân loại, đang ở ngưỡng cửa của lần điểm đạo thứ bảy, khi ấy Ý Chí của Đức Hành Tinh Thượng Đế cũng sẽ tạo ấn tượng của nó. |
|
205. Yet, to know something of the mind of Sanat Kumara was to know some small portion of the mind of the Planetary Logos, Himself. |
205. Tuy nhiên, biết được đôi điều về thể trí của Đức Sanat Kumara là biết được một phần nhỏ nào đó của chính thể trí Đức Hành Tinh Thượng Đế. |
|
It is this living realisation of Being and of identification with the planetary Logos upon the cosmic mental plane which constituted the unfolding awareness of the Christ upon the Way of the Higher Evolution. |
Chính sự chứng nghiệm sống động về Bản Thể và về sự đồng nhất hóa với Hành Tinh Thượng đế trên cõi trí vũ trụ đã cấu thành nhận thức đang khai mở của Đức Christ trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. |
|
206. Here it is, stated exactly. It was the Planetary Logos with which the Christ was coming into identification. |
206. Ở đây điều ấy được nêu ra một cách chính xác. Chính với Đức Hành Tinh Thượng Đế mà Đức Christ đang đi vào sự đồng nhất hóa. |
|
207. The Christ had entered the Way of Higher Evolution. He was in process of realizing the Being of our Planetary Logos (achieved via His “Father in Heaven”, Sanat Kumara). He was in process of identifying with the “One in Whom we live and move and have our being”. |
207. Đức Christ đã bước vào Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. Ngài đang trong tiến trình chứng nghiệm Bản Thể của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta, đạt được qua “Cha trên Trời” của Ngài, Đức Sanat Kumara. Ngài đang trong tiến trình đồng nhất hóa với “Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu”. |
|
208. We might say that the Christ was having not only a monadic revelation but a logoic inspiration—that His realization was impulsed from the logoic plane as well. This makes sense as He was soon to take the initial stages of the seventh initiation, which centers the high initiate on the logoic plane. |
208. Chúng ta có thể nói rằng Đức Christ không chỉ có một sự mặc khải chân thần mà còn có một cảm hứng thượng đế, rằng sự chứng nghiệm của Ngài cũng được thúc đẩy từ cõi Thượng đế. Điều này hợp lý vì Ngài sắp trải qua các giai đoạn khởi đầu của lần điểm đạo thứ bảy, vốn đặt điểm đạo đồ cao cấp vào trung tâm trên cõi Thượng đế. |
|
Therefore, experience, perception and Being are the keynotes of: |
Do đó, kinh nghiệm, tri giác và Bản Thể là các chủ âm của: |
|
209. DK reveals keywords for various stages of development for members of the Fourth Creative Hierarchy |
209. Chân sư DK mặc khải các từ khóa cho những giai đoạn phát triển khác nhau của các thành viên thuộc Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư |
|
1. The Path of Evolution. |
1. Con Đường Tiến Hóa. |
|
210. The keynote here is “experience”. |
210. Chủ âm ở đây là “kinh nghiệm”. |
|
2. The mode of unfoldment upon the Path. |
2. Phương thức khai mở trên Đường Đạo. |
|
211. The keynote here is “perception”. |
211. Chủ âm ở đây là “tri giác”. |
|
3. The state of divine focus upon the Way. |
3. Trạng thái tập trung thiêng liêng trên Con Đường. |
|
212. The keynote here is “Being”. |
212. Chủ âm ở đây là “Bản Thể”. |
|
In other words, you have the states of Individualisation, of Initiation, and of Identification. |
Nói cách khác, các bạn có những trạng thái Biệt ngã hóa, Điểm đạo và Đồng nhất hóa. |
|
213. We are given a mnemonic—Individualization, Initiation and Identification. |
213. Chúng ta được trao một công thức ghi nhớ: Biệt ngã hóa, Điểm đạo và Đồng nhất hóa. |
|
214. The signs of the zodiac involved are Leo—Capricorn—Pisces. |
214. Các dấu hiệu hoàng đạo liên quan là Sư Tử—Ma Kết—Song Ngư. |
|
215. Or if we choose to be more complete: Cancer/Leo; Capricorn/Aquarius; Pisces. |
215. Hoặc nếu muốn đầy đủ hơn: Cự Giải/Sư Tử; Ma Kết/Bảo Bình; Song Ngư. |
|
The relation between the listening of the aspirant and the knowledge of the initiated disciple has been expressed for us in a certain ancient writing as follows: |
Mối liên hệ giữa sự lắng nghe của người chí nguyện và tri thức của đệ tử được điểm đạo đã được diễn tả cho chúng ta trong một trước tác cổ xưa như sau: |
|
216. This, after all, is that upon which DK’s foregoing interpretation has been focussed. |
216. Rốt cuộc, đây chính là điều mà phần diễn giải trước đó của Chân sư DK đã tập trung vào. |
|
“Dimly the one who seeks hears the faint whisper of the life of God; |
“Một cách mờ nhạt, người tìm kiếm nghe thấy tiếng thì thầm yếu ớt của sự sống Thượng đế; |
|
217. This represents the initial influence of the Voice of the Silence which is the Voice of the Soul. |
217. Điều này tượng trưng cho ảnh hưởng ban đầu của Tiếng Nói của Im Lặng, vốn là Tiếng Nói của Linh hồn. |
|
he sees the breathing of that whisper which disturbs the waters of his Spatial life. |
y thấy hơi thở của tiếng thì thầm ấy, làm xao động những dòng nước của đời sống Không gian của y. |
|
218. It is still a faint voice, a whisper. |
218. Đó vẫn còn là một tiếng nói yếu ớt, một tiếng thì thầm. |
|
219. He notices a new rhythm, a new rhythmic breath which is a cyclic impulsion and withdrawal of energy conducted by the soul. |
219. Y nhận ra một nhịp điệu mới, một hơi thở nhịp nhàng mới, vốn là sự thúc đẩy và rút lui theo chu kỳ của năng lượng do linh hồn dẫn truyền. |
|
220. He lives in the world of time and space and he has previously established certain conditioning rhythms. Now these are to be reconditioned by new rhythms. |
220. Y sống trong thế giới của thời gian và không gian, và trước đó y đã thiết lập một số nhịp điệu định hình nhất định. Nay những nhịp điệu này phải được tái định hình bởi các nhịp điệu mới. |
|
The whisper penetrates. |
Tiếng thì thầm thấm nhập. |
|
221. He not only detects the voice but allows it ‘in’ and attends to it. The whisper can now become spiritually influential. |
221. Y không chỉ nhận ra tiếng nói mà còn cho phép nó đi ‘vào’ và chú tâm đến nó. Tiếng thì thầm nay có thể trở nên có ảnh hưởng tinh thần. |
|
It then becomes the Sound of many waters |
Bấy giờ nó trở thành Âm Thanh của nhiều dòng nước |
|
222. Many astral desires and their sounds coalesce into one Sound emanating from the soul. |
222. Nhiều dục vọng cảm dục và các âm thanh của chúng hợp nhất thành một Âm Thanh phát xuất từ linh hồn. |
|
223. The listener must not become confused by the lesser sound of many waters, but must hearken to the Synthetic Sound which unites into one those many lesser sounds. |
223. Người lắng nghe không được để mình rối loạn bởi âm thanh thấp kém của nhiều dòng nước, mà phải lắng nghe Âm Thanh Tổng Hợp, vốn hợp nhất nhiều âm thanh nhỏ bé ấy thành một. |
|
and the Word of many voices. |
và Linh Từ của nhiều tiếng nói. |
|
224. It takes a while for the sound of many waters to become the ‘soul Sound’ and for the ‘words spoken by many inner and outer voices’ to become the “Word of may voices”, the Word which synthesizes the many voices. |
224. Cần một thời gian để âm thanh của nhiều dòng nước trở thành “Âm Thanh của linh hồn”, và để “những lời được nhiều tiếng nói bên trong và bên ngoài thốt ra” trở thành “Linh Từ của nhiều tiếng nói”, Linh Từ tổng hợp nhiều tiếng nói. |
|
225. The Voice of the Soul is not easily detected, understood and obeyed. |
225. Tiếng Nói của Linh hồn không dễ được nhận ra, thấu hiểu và tuân phục. |
|
Great is the confusion but still the listening must go on. |
Sự hỗn loạn thì lớn lao, nhưng việc lắng nghe vẫn phải tiếp tục. |
|
226. One cannot allow oneself become distracted or preoccupied by diversity. One has heard the whisper of the soul and seen the rhythm of the spiritual breath. One must persist until that whisper becomes a clear spiritual voice which is immediately obeyed, and the breath the new and spiritual rhythm of all life processes. |
226. Người ta không thể để mình bị phân tán hay bị cuốn hút bởi tính đa dạng. Người ta đã nghe tiếng thì thầm của linh hồn và đã thấy nhịp điệu của hơi thở tinh thần. Người ta phải kiên trì cho đến khi tiếng thì thầm ấy trở thành một tiếng nói tinh thần rõ ràng, được tuân phục ngay lập tức, và hơi thở ấy trở thành nhịp điệu mới và tinh thần của mọi tiến trình sự sống. |
|
Listening is the seed of obedience, O Chela on the Path. |
Lắng nghe là hạt giống của sự vâng phục, hỡi Đệ tử trên Đường Đạo. |
|
227. To listen, to hearken, is to obey Saturn, the ‘God of Obedience’. |
227. Lắng nghe, chăm chú lắng nghe, là vâng phục Sao Thổ, “Vị Thượng đế của Sự Vâng Phục”. |
|
228. To listen properly invites the application of spiritual will in one’s life. |
228. Lắng nghe đúng cách mời gọi sự áp dụng ý chí tinh thần trong đời sống của một người. |
|
More loudly comes the voice; |
Tiếng nói vang lên lớn hơn; |
|
229. The Voice of the Silence asserts itself more strongly. It was and remains the “still, small Voice” but now it is taking control. |
229. Tiếng Nói của Im Lặng tự khẳng định mạnh mẽ hơn. Nó đã và vẫn là “Tiếng Nói nhỏ nhẹ, tĩnh lặng”, nhưng nay nó đang nắm quyền kiểm soát. |
|
then suddenly the voices dim and listening now gives place to knowing |
rồi đột nhiên các tiếng nói mờ dần, và sự lắng nghe giờ đây nhường chỗ cho sự biết |
|
230. It is the inner clamor which prevents us from known as the soul knows. |
230. Chính sự ồn ào bên trong ngăn chúng ta biết như linh hồn biết. |
|
231. Noise prevents the registration of soul knowledge. |
231. Tiếng ồn ngăn cản việc ghi nhận tri thức của linh hồn. |
|
—the [Page 292] knowledge of that which lies behind the outer form, the perception of that which must be done. Order is seen. The pattern clear emerges. |
—tri thức [Trang 292] về điều nằm phía sau hình tướng bên ngoài, tri giác về điều phải được thực hiện. Trật tự được nhìn thấy. Mô hình rõ ràng hiện ra. |
|
232. One knows the soul and with that knowledge come soul directives impelling the personality life in certain spiritual directions. |
232. Người ta biết linh hồn, và cùng với tri thức ấy xuất hiện những chỉ thị của linh hồn, thúc đẩy đời sống phàm ngã theo những hướng tinh thần nhất định. |
|
233. The world of the soul is a world of ordered beauty. |
233. Thế giới của linh hồn là một thế giới của vẻ đẹp có trật tự. |
|
234. The second ray is archetypally the ray of all souls and that ray is the “Ray of the Divine Pattern”. Yes, the “pattern clear emerged”. |
234. Cung hai, theo nguyên mẫu, là cung của mọi linh hồn, và cung ấy là “Cung của Mô Hình Thiêng Liêng”. Đúng vậy, “mô hình rõ ràng đã hiện ra”. |
|
Knowing is the seed of conscious doing, O Chela on the Path. |
Sự biết là hạt giống của hành động có ý thức, hỡi Đệ tử trên Đường Đạo. |
|
235. This is a somewhat Socratic statement: “To know the good is to do the good”: |
235. Đây là một phát biểu có phần mang tính Socrates: “Biết điều thiện là làm điều thiện”: |
|
236. Doing ever occurs. We always do, and that doing is often mayavic because there is no focussed consciousness attending the doing. |
236. Hành động luôn luôn xảy ra. Chúng ta luôn hành động, và hành động ấy thường mang tính ảo lực vì không có tâm thức tập trung đi kèm với hành động. |
|
237. So the quality of our action in the three worlds changes when we are soul-conscious. Our doing reflects the soul-consciousness we have achieved. |
237. Vì vậy, phẩm tính hành động của chúng ta trong ba cõi giới thay đổi khi chúng ta có tâm thức linh hồn. Hành động của chúng ta phản ánh tâm thức linh hồn mà chúng ta đã đạt được. |
|
Listening and knowledge also fade away and that which they produce can then be seen. |
Sự lắng nghe và tri thức cũng mờ dần, và bấy giờ điều chúng tạo ra có thể được nhìn thấy. |
|
238. This is to say that the worlds of the soul and personality fade away. Listening, touching, seeing and applying, even knowing in the lower sense—all these fade away. |
238. Điều này muốn nói rằng các thế giới của linh hồn và phàm ngã mờ dần. Lắng nghe, chạm, thấy và áp dụng, ngay cả sự biết theo nghĩa thấp—tất cả những điều này đều mờ dần. |
|
Being emerges and union with the One. |
Bản Thể hiện ra, cùng với sự hợp nhất với Đấng Duy Nhất. |
|
239. The third initiation is taken. Unity emerges. Oneness is no longer theorized but appreciated in actuality. |
239. Lần điểm đạo thứ ba được trải qua. Sự hợp nhất hiện ra. Tính duy nhất không còn được lý thuyết hóa nữa mà được cảm nhận trong thực tại. |
|
Identity is known— |
Bản sắc được biết— |
|
240. There are many levels of identity. The level here indicated is that which lies above and beyond what we usually call the soul. |
240. Có nhiều cấp độ của bản sắc. Cấp độ được chỉ ra ở đây là cấp độ nằm trên và vượt ngoài điều chúng ta thường gọi là linh hồn. |
|
not on this plane but on that higher sphere where move and speak the greater Sons of Life. |
không phải trên cõi này mà trên khối cầu cao hơn kia, nơi các Con cao cả hơn của Sự Sống chuyển động và nói năng. |
|
241. We are speaking of life in the triadal worlds. It is within these worlds that the Arhat and Masters move and speak—the Chohans as well. |
241. Chúng ta đang nói về sự sống trong các thế giới Tam nguyên tinh thần. Chính trong các thế giới này mà vị A-la-hán và các Chân sư chuyển động và nói năng—các Chohan cũng vậy. |
|
242. Notice that these planes together are called a “higher sphere”. All planes are spherical and the relationship of planes to each other are as spheres within spheres. |
242. Hãy lưu ý rằng các cõi này cùng nhau được gọi là một “khối cầu cao hơn”. Mọi cõi đều có dạng hình cầu, và mối liên hệ giữa các cõi với nhau giống như những khối cầu nằm trong những khối cầu. |
|
Being alone is left. The work is done.” |
Chỉ còn lại Bản Thể. Công việc đã hoàn tất.” |
|
243. “God IS. The Lord for aye stands firm. Being exists alone. Naught else is.” (DINA II 284) |
243. “Thượng đế HIỆN TỒN. Đức Chúa Tể muôn đời đứng vững. Chỉ Bản Thể hiện hữu. Không gì khác hiện hữu.” (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới II 284) |
|
244. The Tibetan has taken us through a wide range of possible knowing—from the knowing of the aspirant, to the knowing of the disciple, to the knowing of the initiate focussed in the soul, to the knowing of the high initiate and even Master in the triad and to the knowing of the Master and Chohan within the Monad. |
244. Chân sư Tây Tạng đã dẫn chúng ta đi qua một phạm vi rộng lớn của những khả thể về sự biết—từ sự biết của người chí nguyện, đến sự biết của đệ tử, đến sự biết của điểm đạo đồ tập trung trong linh hồn, đến sự biết của điểm đạo đồ cao cấp và thậm chí của Chân sư trong Tam nguyên tinh thần, và đến sự biết của Chân sư và Chohan trong Chân thần. |
|
245. Do we see how deeply we must probe the meaning of these five higher injunctions if we are to find the meaning which initiated-disciples are meant to find? |
245. Chúng ta có thấy mình phải thăm dò sâu xa đến mức nào ý nghĩa của năm huấn thị cao hơn này, nếu chúng ta muốn tìm ra ý nghĩa mà các đệ tử-điểm đạo đồ cần phải tìm thấy chăng? |
|
Part II of V, R&I (292-297) |
Phần II trong năm phần, Cung và Điểm Đạo (292-297) |
|
(All Highlighting, Bolding and Underlining—MDR) |
(Mọi phần tô sáng, in đậm và gạch dưới—do người chú giải thực hiện) |
|
Please read this Commentary with your book open or with reference to an electronic copy of the text. This will facilitate an appreciation of continuity. |
Xin hãy đọc phần Chú giải này với sách mở sẵn, hoặc đối chiếu với một bản điện tử của văn bản. Điều này sẽ giúp các bạn cảm nhận được tính liên tục. |
|
2. Express. |
2. Biểu lộ. |
|
1. This is the word we may associate with the second initiation, but there are other and deeper meanings. |
1. Đây là từ mà chúng ta có thể liên hệ với lần điểm đạo thứ hai, nhưng còn có những ý nghĩa khác và sâu hơn. |
|
We come now to the second word of the fourteenth rule for disciples and initiates—the word Express. This cannot be correctly understood apart from the earlier word imparted to applicants—the word Touch. |
Bây giờ chúng ta đi đến từ thứ hai của quy luật thứ mười bốn dành cho các đệ tử và điểm đạo đồ—từ Biểu lộ. Điều này không thể được thấu hiểu đúng đắn nếu tách rời khỏi từ trước đó được truyền trao cho các ứng viên—từ Chạm. |
|
2. In “Touch”, we have the word relating to the second sense and the second ray (and also, in a way, to the sixth). |
2. Trong “Chạm”, chúng ta có từ liên quan đến giác quan thứ hai và cung hai, và theo một cách nào đó, cũng liên quan đến cung sáu. |
|
I would have you note that all the words given to the neophyte refer basically to something he must do in reference to himself, |
Tôi muốn các bạn lưu ý rằng mọi từ được trao cho người sơ cơ về căn bản đều quy chiếu đến điều gì đó y phải làm liên quan đến chính y, |
|
3. To bring the microcosm into proper condition, into fitness for the probationary initiations, is the goal of the neophyte. |
3. Đưa tiểu thiên địa vào tình trạng thích hợp, vào sự sẵn sàng cho các cuộc điểm đạo dự bị, là mục tiêu của người sơ cơ. |
|
some task he must undertake which will make him more fit for advancement, or some process of apprehension which will enable him to function in a better and more sensitive instrument. |
một nhiệm vụ nào đó y phải đảm nhận, khiến y trở nên thích hợp hơn cho sự tiến tới, hoặc một tiến trình lĩnh hội nào đó giúp y hoạt động trong một khí cụ tốt hơn và nhạy bén hơn. |
|
4. Yes, the attention is largely on increasing the purity and vibratory quality of the instrument—the personality. |
4. Đúng vậy, sự chú tâm phần lớn đặt vào việc gia tăng sự tinh khiết và phẩm tính rung động của khí cụ—phàm ngã. |
|
This might be called the “introverted stage” of training because it brings the would-be disciple to a better knowledge of himself; |
Điều này có thể được gọi là “giai đoạn hướng nội” của sự huấn luyện, vì nó đưa người muốn làm đệ tử đến một sự hiểu biết tốt hơn về chính mình; |
|
5. One cannot be a true aspirant unless one understands how to turn inward and ‘see’ the condition of what has been built over the ages. The personality vehicles are the cumulative product of ages of experience within the lower three worlds. One cannot go forward unless one understands something of their condition and resolves to change that condition for the better. |
5. Người ta không thể là một người chí nguyện chân chính nếu không thấu hiểu cách quay vào bên trong và ‘thấy’ tình trạng của những gì đã được xây dựng qua các thời đại. Các hiện thể phàm ngã là sản phẩm tích lũy của nhiều thời đại kinh nghiệm trong ba cõi thấp. Người ta không thể tiến tới nếu không thấu hiểu đôi điều về tình trạng của chúng và quyết tâm thay đổi tình trạng ấy cho tốt đẹp hơn. |
|
he grasps the fact that he himself, the microcosm, is the key to the Macrocosm; |
y nắm bắt sự thật rằng chính y, tiểu thiên địa, là chìa khóa dẫn vào Đại thiên địa; |
|
6. Through self-study, and analogy derived from that self-study, the “One in Whom one lives and moves and has his being” is progressively revealed. |
6. Qua sự tự nghiên cứu, và phép tương đồng rút ra từ sự tự nghiên cứu ấy, “Đấng mà trong Ngài con người sống, chuyển động và hiện hữu” dần dần được mặc khải. |
|
he is the clue to the future, |
y là manh mối dẫn đến tương lai, |
|
7. The “future” emerges with the expression of the inner being, the soul, and then, later, the Monad. That portion of the Divine Plan for which the aspirant to the Mysteries is responsible is imbedded within his inner nature. It must be discovered and must be expressed. |
7. “Tương lai” hiện ra cùng với sự biểu lộ của bản thể bên trong, tức linh hồn, và rồi về sau là Chân thần. Phần Thiên Cơ mà người chí nguyện đến các Bí Nhiệm có trách nhiệm đối với nó được chôn sâu trong bản chất bên trong của y. Nó phải được khám phá và phải được biểu lộ. |
|
and he holds within himself the revelation which must precede esoteric action. |
và y nắm giữ trong chính mình sự mặc khải phải đi trước hành động huyền môn. |
|
8. There is no esoteric action which is not rooted in a quality of consciousness sufficient to illumine the purpose, significance and direction of the action. |
8. Không có hành động huyền môn nào mà không bắt rễ trong một phẩm tính tâm thức đủ để soi sáng mục đích, thâm nghĩa và phương hướng của hành động. |
|
In contradistinction to this, the words for the disciple |
Trái ngược với điều này, những từ dành cho đệ tử |
|
9. The term “disciple”, as here used, indicates minimally one who is a probationary initiate. |
9. Thuật ngữ “đệ tử”, như được dùng ở đây, tối thiểu chỉ một người là điểm đạo đồ dự bị. |
|
and the initiate mark the attainment of a capacity to work from a most deeply esoteric centre in a pronouncedly occult way. |
và điểm đạo đồ đánh dấu sự đạt được một năng lực làm việc từ một trung tâm nội môn sâu xa nhất, theo một cách rõ rệt huyền bí. |
|
10. We must ponder this statement. |
10. Chúng ta phải suy ngẫm về phát biểu này. |
|
11. What is that “centre” and what about the mode of working makes is “pronouncedly occult”. |
11. “Trung tâm” ấy là gì, và phương thức làm việc ấy có điều gì khiến nó “rõ rệt huyền bí”? |
|
12. May we say that the antahkarana is functioning; that a sufficient degree of soul-consciousness is the ‘resting level’ consciousness; that impression from the spiritual triad is developing progressively? |
12. Liệu chúng ta có thể nói rằng antahkarana đang vận hành; rằng một mức độ đầy đủ của linh hồn-tâm thức là tâm thức ở “cấp độ an trú”; rằng ấn tượng từ Tam Nguyên Tinh Thần đang phát triển dần dần? |
|
By this I mean that the initiate, working as we have seen from a standpoint of knowledge, |
Qua điều này, tôi muốn nói rằng điểm đạo đồ, khi làm việc như chúng ta đã thấy từ lập trường tri thức, |
|
13. We remember that the initiate knows. |
13. Chúng ta nhớ rằng điểm đạo đồ biết. |
|
is at the same time no longer self-centred, |
đồng thời không còn tập trung vào bản thân, |
|
14. His eyes are not on his personality. In fact, they are not even on his egoic nature (as that nature is expressed through the causal body). |
14. Đôi mắt của y không đặt trên phàm ngã của y. Thật vậy, chúng thậm chí cũng không đặt trên bản chất chân ngã của y như bản chất ấy được biểu lộ qua thể nguyên nhân. |
|
but is now preoccupied with that in which he lives and moves and has his being. |
mà nay bận tâm đến điều trong đó y sống, vận động và hiện tồn. |
|
15. In this case, we are dealing with the life, purpose and plan of the Planetary Logos (as much as these can be apprehended) and the initiate’s place and responsibility within that greater Being. |
15. Trong trường hợp này, chúng ta đang bàn đến sự sống, mục đích và Thiên Cơ của Hành Tinh Thượng đế trong mức độ có thể lĩnh hội được, cùng vị trí và trách nhiệm của điểm đạo đồ bên trong Đấng Vĩ Đại hơn ấy. |
|
16. The higher Initiate can begin to think about the Solar Logos as “that in which he lives and moves and has his being”. |
16. Điểm đạo đồ cao cấp hơn có thể bắt đầu nghĩ về Thái dương Thượng đế như “điều trong đó y sống, vận động và hiện tồn”. |
|
His interests are with the Whole and not with the part; his interests are those which will affect his environment (an aspect of that living vibrant Whole) and not himself; |
Những mối quan tâm của y hướng về Toàn Thể chứ không hướng về phần; những mối quan tâm của y là những điều sẽ ảnh hưởng đến môi trường của y, một phương diện của Toàn Thể sống động và rung động ấy, chứ không phải đến chính y; |
|
17. His consciousness has become holistic. He truly regards himself as more the Whole than the part. He is deeply concerned for the welfare of the Whole, for the “common weal” as Master M. calls it. His concern is for the “greatest Good”—and practically, for the “greatest good of the greatest number”. This is, we may realize, a state of consciousness far beyond the personal or even the individual. |
17. Tâm thức của y đã trở nên toàn thể. Y thật sự xem mình là Toàn Thể nhiều hơn là phần. Y quan tâm sâu xa đến phúc lợi của Toàn Thể, đến “công ích” như Chân sư M. gọi. Mối quan tâm của y là “Thiện Ích lớn nhất” và, trên thực tế, là “thiện ích lớn nhất cho số đông lớn nhất”. Chúng ta có thể nhận ra rằng đây là một trạng thái tâm thức vượt xa điều cá nhân, hay thậm chí điều cá biệt. |
|
18. The disciple/initiate has come to realize that his radiation is service. He cannot help but make an impact on his environment. |
18. Đệ tử/điểm đạo đồ đã đi đến chỗ nhận ra rằng sự tỏa chiếu của y chính là phụng sự. Y không thể không tạo ảnh hưởng lên môi trường của mình. |
|
his task is the hierarchical one of the salvaging of others, and not his own salvation. |
nhiệm vụ của y là nhiệm vụ của Thánh Đoàn trong việc cứu vớt người khác, chứ không phải sự cứu rỗi của chính y. |
|
19. This is only possible with the sense of identity has expanded greatly. |
19. Điều này chỉ có thể xảy ra khi ý thức về bản sắc đã mở rộng rất nhiều. |
|
20. Have we asked ourselves, “Who am I in relation to the Whole?” “Am I the part?” “Am I the part within the Whole?” “Or am I the Whole itself?” |
20. Chúng ta đã tự hỏi mình chưa: “Tôi là ai trong tương quan với Toàn Thể?” “Tôi có phải là phần không?” “Tôi có phải là phần ở trong Toàn Thể không?” “Hay tôi chính là Toàn Thể?” |
|
[Trang 293] |
|
|
If you will note your own present attitudes and actions, you will discover that primarily (I might add almost necessarily) they centre around yourselves, your own recognitions, your own grasp of truth, and your own progress upon the Path. |
Nếu các bạn lưu ý những thái độ và hành động hiện tại của chính mình, các bạn sẽ khám phá rằng, trước hết, tôi có thể nói thêm là gần như tất yếu, chúng xoay quanh chính các bạn, những nhận biết của chính các bạn, sự nắm bắt chân lý của chính các bạn, và sự tiến bộ của chính các bạn trên Đường Đạo. |
|
21. The Tibetan calls our attention to the condition of our consciousness—the consciousness of the little self. He knows where we stand and why we cannot help but stand there. |
21. Chân sư Tây Tạng kêu gọi chúng ta chú ý đến tình trạng tâm thức của chúng ta—tâm thức của tiểu ngã. Ngài biết chúng ta đang đứng ở đâu và vì sao chúng ta không thể không đứng ở đó. |
|
22. Let us tabulate for the sake of impact. Our present attitudes and actions– |
22. Chúng ta hãy lập bảng để tạo tác động. Những thái độ và hành động hiện tại của chúng ta— |
|
a. Center around ourselves |
một. Xoay quanh chính chúng ta |
|
b. Center around our own recognitions |
hai. Xoay quanh những nhận biết của chính chúng ta |
|
c. Center around our own grasp of truth |
ba. Xoay quanh sự nắm bắt chân lý của chính chúng ta |
|
d. Center around our own progress upon the Path |
bốn. Xoay quanh sự tiến bộ của chính chúng ta trên Đường Đạo |
|
23. Have we paused to ponder? Is this true, and if so, to what extent is it true? |
23. Chúng ta đã dừng lại để suy ngẫm chưa? Điều này có đúng không, và nếu đúng, thì đúng đến mức nào? |
|
But—as you achieve initiate status—self-interest declines until it disappears and, as an ancient Word has it, “only God is left”; |
Nhưng—khi các bạn đạt đến địa vị điểm đạo đồ—lợi ích bản thân suy giảm cho đến khi biến mất, và như một Linh từ cổ xưa nói, “chỉ còn lại Thượng đế”; |
|
24. This is so utterly clear. The little self fades out. We (as a personality) become smaller and smaller within our ‘field of vision’. The personal ego as one of “content of consciousness” within our field of consciousness recedes towards the vanishing point. Can we visualize this? Can we get the sense of it? |
24. Điều này hoàn toàn rõ ràng. Tiểu ngã mờ dần. Chúng ta, với tư cách phàm ngã, trở nên càng lúc càng nhỏ hơn trong “trường nhìn” của mình. Phàm ngã, như một trong những “nội dung của tâm thức” bên trong trường tâm thức của chúng ta, lùi dần về điểm tan biến. Chúng ta có thể hình dung điều này không? Chúng ta có thể cảm nhận được nó không? |
|
25. And what remains? “Only God is left?” Only the Whole is left. Only the One Identity remains. |
25. Và điều gì còn lại? “Chỉ còn lại Thượng đế?” Chỉ còn lại Toàn Thể. Chỉ còn lại Bản Sắc Duy Nhất. |
|
26. This is sufficiently practical, is it not? |
26. Điều này đủ thực tiễn, phải không? |
|
only that remains in consciousness which is THAT, which is beauty, goodness and truth; |
chỉ còn lại trong tâm thức điều vốn là CÁI ẤY, vốn là vẻ đẹp, sự thiện và chân lý; |
|
27. The consciousness has achieved the apprehension of synthesis. |
27. Tâm thức đã đạt đến sự lĩnh hội về tổng hợp. |
|
28. We are speaking of THAT (foundational Reality) and its three main qualities. |
28. Chúng ta đang nói về CÁI ẤY, Thực Tại nền tảng, và ba phẩm tính chính của nó. |
|
29. The order in which DK has presented the three qualities emphasizes the sequence 2—1—3. It is an appropriate sequence for our objectives upon this planet and within this solar system. The secondaspect is in the first place. |
29. Thứ tự mà Chân sư DK đã trình bày ba phẩm tính nhấn mạnh trình tự 2—1—3. Đó là một trình tự thích hợp cho các mục tiêu của chúng ta trên hành tinh này và bên trong hệ mặt trời này. Phương diện thứ hai ở vị trí thứ nhất. |
|
which is not form but quality, |
vốn không phải là hình tướng mà là phẩm tính, |
|
30. We move from the combination of the third and second rays (for the second ray is the form-builder) to the second ray more purely expressed. |
30. Chúng ta chuyển từ sự kết hợp của cung ba và cung hai, vì cung hai là cung kiến tạo hình tướng, sang cung hai được biểu lộ thuần khiết hơn. |
|
which is that which lies behind the form and that which indicates destiny, soul, place, and status. Ponder on these words, for they convey to you where (as evolution goes on) you will later lay the emphasis. |
vốn là điều nằm phía sau hình tướng và là điều chỉ ra vận mệnh, linh hồn, vị trí và địa vị. Hãy suy ngẫm về những lời này, vì chúng truyền đạt cho các bạn nơi mà, khi tiến hoá tiếp diễn, về sau các bạn sẽ đặt sự nhấn mạnh. |
|
31. Let us lay out these words— |
31. Chúng ta hãy trình bày những từ này— |
|
a. Destiny |
một. Vận mệnh |
|
b. Soul |
hai. Linh hồn |
|
c. Place |
ba. Vị trí |
|
d. Status |
bốn. Địa vị |
|
32. We are to move from appearance into quality—from the third aspect into the second. |
32. Chúng ta phải chuyển từ sắc tướng vào phẩm tính—từ phương diện thứ ba vào phương diện thứ hai. |
|
33. We are to see as the soul sees, which is a vision of wholeness. That vision reveals our destiny as a soul. It reveals our place within the wholeness perceived and our ranking or status, as a soul, within that wholeness. |
33. Chúng ta phải thấy như linh hồn thấy, tức là một tầm nhìn về tính toàn vẹn. Tầm nhìn ấy mặc khải vận mệnh của chúng ta với tư cách linh hồn. Nó mặc khải vị trí của chúng ta bên trong tính toàn vẹn được nhận thức, và thứ bậc hay địa vị của chúng ta, với tư cách linh hồn, bên trong tính toàn vẹn ấy. |
|
34. Do we have a clear idea as to our soul quality? Do we consciously live within that soul quality? |
34. Chúng ta có một ý niệm rõ ràng về phẩm tính linh hồn của mình không? Chúng ta có sống một cách hữu thức bên trong phẩm tính linh hồn ấy không? |
|
35. Do we understand the contrast between where we now lay emphasis and where we will lay emphasis as evolution proceeds? |
35. Chúng ta có thấu hiểu sự tương phản giữa nơi chúng ta hiện nay đặt sự nhấn mạnh và nơi chúng ta sẽ đặt sự nhấn mạnh khi tiến hoá tiếp diễn không? |
|
36. Clearly, an esoteric point of view is expected of us. This requires an identification with that aspect of ourselves which is not the form. |
36. Rõ ràng, người ta mong đợi nơi chúng ta một quan điểm nội môn. Điều này đòi hỏi sự đồng hoá với phương diện của chính chúng ta vốn không phải là hình tướng. |
|
In considering the word Express I can, I believe, make this distinction somewhat clearer. When the beginner on the Path ponders the significance of expression, he is occupied with his ability to express the truth which he theoretically recognises but to which he cannot as yet give form. |
Khi xem xét từ Biểu lộ, tôi tin rằng mình có thể làm cho sự phân biệt này rõ ràng hơn đôi chút. Khi người sơ cơ trên Đường Đạo suy ngẫm về thâm nghĩa của sự biểu lộ, y bận tâm đến khả năng của mình trong việc biểu lộ chân lý mà về mặt lý thuyết y nhận biết nhưng y chưa thể trao cho nó hình tướng. |
|
37. Attention is still focussed upon the individual ego and its abilities. Motive is good but the consciousness is still, from the larger perspective, egocentric. |
37. Sự chú ý vẫn còn tập trung vào phàm ngã cá nhân và các năng lực của nó. Động cơ thì tốt, nhưng tâm thức, từ viễn cảnh rộng lớn hơn, vẫn còn lấy bản ngã làm trung tâm. |
|
38. We are speaking of the ability to express that which consciousness apprehends and which is here called “the truth”. |
38. Chúng ta đang nói về khả năng biểu lộ điều mà tâm thức lĩnh hội và ở đây được gọi là “chân lý”. |
|
This is valuable because it feeds his aspiration, centres his attention upon himself and increases his naive self-interest. |
Điều này có giá trị vì nó nuôi dưỡng khát vọng của y, tập trung sự chú ý của y vào chính mình và làm gia tăng lợi ích bản thân ngây thơ của y. |
|
39. DK speaks of benefits to the aspirant arising from his preoccupation with his ability to express the truth: |
39. Chân sư DK nói về những lợi ích đối với người chí nguyện phát sinh từ việc y bận tâm đến khả năng biểu lộ chân lý của mình: |
|
a. The attitude feeds his aspiration |
một. Thái độ ấy nuôi dưỡng khát vọng của y |
|
b. The attitude centers his attention upon himself |
hai. Thái độ ấy tập trung sự chú ý của y vào chính y |
|
c. The attitude increases his naïve self-interest. (This is an interesting phrase and has characterized so many of us. Our scope is too narrow. The image of our the little self looms too large—it takes up too much ‘space’ within the field of consciousness.) |
ba. Thái độ ấy làm gia tăng lợi ích bản thân ngây thơ của y. Đây là một cụm từ thú vị và đã đặc trưng cho rất nhiều người trong chúng ta. Phạm vi của chúng ta quá hẹp. Hình ảnh về tiểu ngã của chúng ta hiện lên quá lớn—nó chiếm quá nhiều “không gian” bên trong trường tâm thức. |
|
This, frequently, presents its own problems, such as a sense of failure or an undue registration of success, or it fails to develop a sense of proportion. |
Điều này thường tạo ra những vấn đề riêng của nó, chẳng hạn như một cảm thức thất bại hay một sự ghi nhận thành công quá mức, hoặc nó không phát triển được Ý thức về tỉ lệ. |
|
40. When the eyes are fixed upon the little self, it is hard to maintain proportion. The aspirant is not yet in the position to live by the following: |
40. Khi đôi mắt chăm chú vào tiểu ngã, thật khó duy trì tỉ lệ đúng. Người chí nguyện chưa ở trong vị thế để sống theo điều sau đây: |
|
“Rule out the good self as well as the bad self and let only Christ be seen and heard” (DINA I 660) |
“Hãy loại bỏ bản ngã tốt cũng như bản ngã xấu, và hãy để chỉ Đức Christ được thấy và được nghe” (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, quyển một, trang 660) |
|
When, however, the initiate takes into his consciousness this injunction to express, it signifies to him not his own needs or requirements, but the need of others for those expressions of truth which will guide them on their way. |
Tuy nhiên, khi điểm đạo đồ đưa vào tâm thức mình huấn lệnh phải biểu lộ, đối với y, điều đó không biểu thị những nhu cầu hay đòi hỏi của chính y, mà là nhu cầu của người khác đối với những biểu lộ chân lý sẽ hướng dẫn họ trên đường của họ. |
|
41. It is no longer a case of attempted self-expression, of the expression of the abilities and talents of the lower ego, or even of the individual Ego. It is the truth which must be expressed in such a manner as to fulfill the needs of others, guiding them on their way. |
41. Đây không còn là vấn đề cố gắng tự biểu lộ, hay biểu lộ các năng lực và tài năng của phàm ngã, hoặc thậm chí của Chân ngã cá biệt. Chính chân lý phải được biểu lộ theo cách đáp ứng nhu cầu của người khác, hướng dẫn họ trên đường của họ. |
|
42. It is the needs of others that determine what is to be expressed and not the urgency of the ego to exteriorize that which it finds within itself. |
42. Chính nhu cầu của người khác quyết định điều gì phải được biểu lộ, chứ không phải sự thôi thúc của chân ngã muốn làm hiển lộ ra bên ngoài điều nó tìm thấy bên trong chính nó. |
|
43. This type of expression is guided by altruism and not by inner personal necessity. |
43. Loại biểu lộ này được hướng dẫn bởi lòng vị tha, chứ không bởi sự tất yếu cá nhân bên trong. |
|
This word, therefore, is to him an injunction to be creative. |
Vì vậy, đối với y, từ này là một huấn lệnh phải sáng tạo. |
|
44. We can see that the throat center is involved. At the time of the second initiation (at which time this injunction may make a successful impact upon the disciple) the illumined mind and spiritual intelligence are required, and the throat center undergoes renewed stimulation in service of the soul. |
44. Chúng ta có thể thấy rằng trung tâm cổ họng có liên quan. Vào thời điểm lần điểm đạo thứ hai, lúc huấn lệnh này có thể tạo được tác động thành công lên đệ tử, thể trí được soi sáng và trí tuệ tinh thần là cần thiết, và trung tâm cổ họng trải qua một sự kích thích mới trong phụng sự linh hồn. |
|
45. The kind of creativity we are now discussing is inspired by the soul. |
45. Loại sáng tạo mà chúng ta đang bàn đến nay được linh hồn truyền cảm hứng. |
|
The initiate creates outside himself that which is his individual contribution to the totality of the creative forms whereby the Hierarchy is attempting to create “a new heaven and a new earth.” |
Điểm đạo đồ sáng tạo bên ngoài chính mình điều vốn là phần đóng góp cá nhân của y vào toàn bộ các hình tướng sáng tạo nhờ đó Thánh Đoàn đang cố gắng tạo nên “một trời mới và một đất mới.” |
|
46. The words “creates outside himself” are of moment. This kind of creativity cannot remain introverted but must externalize in a practical manner. |
46. Những lời “sáng tạo bên ngoài chính mình” có tầm quan trọng. Loại sáng tạo này không thể vẫn hướng nội, mà phải ngoại hiện theo một cách thực tiễn. |
|
47. The Hierarchy is engaged in a great creative process. Many forms are required in the process of creating “a new heaven and a new earth”. |
47. Thánh Đoàn đang dấn thân vào một tiến trình sáng tạo vĩ đại. Nhiều hình tướng được cần đến trong tiến trình tạo nên “một trời mới và một đất mới”. |
|
48. The initiate can supply only a tiny contribution to this great hierarchical contribution, yet that is precisely what he must do. |
48. Điểm đạo đồ chỉ có thể cung cấp một đóng góp rất nhỏ cho sự đóng góp lớn lao này của Thánh Đoàn, nhưng đó chính xác là điều y phải làm. |
|
49. The work of creation is part of a Plan-inspired externalization. Obviously, the initiate’s creative work is not motivated by personal need but by the need of others and, more precisely, the ‘needs of the Plan’ at any particular time in space. |
49. Công việc sáng tạo là một phần của sự ngoại hiện được Thiên Cơ truyền cảm hứng. Hiển nhiên, công việc sáng tạo của điểm đạo đồ không được thúc đẩy bởi nhu cầu cá nhân, mà bởi nhu cầu của người khác và, chính xác hơn, bởi “những nhu cầu của Thiên Cơ” vào bất cứ thời điểm đặc thù nào trong không gian. |
|
He is not occupied with what he himself expresses as a soul within a personality; |
Y không bận tâm đến điều chính y biểu lộ với tư cách một linh hồn bên trong một phàm ngã; |
|
50. The initiate has transcended even soul expression based on soul-urgency. We may ponder on this interesting and important thought. |
50. Điểm đạo đồ đã vượt lên trên cả sự biểu hiện của linh hồn dựa trên sự thôi thúc của linh hồn. Chúng ta có thể suy ngẫm về tư tưởng thú vị và quan trọng này. |
|
51. Many are driven to express their personality. Some have transcended this stage and are impelled to express soul-urge through the personality. |
51. Nhiều người bị thúc đẩy phải biểu hiện phàm ngã của mình. Một số đã vượt qua giai đoạn này và được thôi thúc biểu hiện xung lực của linh hồn qua phàm ngã. |
|
52. The initiate, however, has transcended even this higher (yet individual) need. He is compelled to express the Plan as contact with the spiritual triad reveals it. |
52. Tuy nhiên, điểm đạo đồ đã vượt lên trên cả nhu cầu cao hơn này, dù vẫn còn mang tính cá nhân. Y bị thôi thúc phải biểu hiện Thiên Cơ như sự tiếp xúc với Tam Nguyên Tinh Thần mặc khải nó. |
|
he has developed the habit of right soul expression in the three worlds, |
y đã phát triển thói quen biểu hiện đúng đắn của linh hồn trong ba cõi thấp, |
|
53. This is assumed and basic. |
53. Điều này được xem là đương nhiên và là nền tảng. |
|
and the appearance of his quality (to revert to the use of our original words—life, quality and appearance) is automatic and without any planning on his part. |
và sắc tướng của phẩm tính nơi y để trở lại với cách dùng những từ ngữ nguyên thủy của chúng ta—sự sống, phẩm tính và sắc tướng—là tự động và không do bất kỳ sự hoạch định nào từ phía y. |
|
54. The personality no longer offers resistance to the expression of inner quality. The soul ray has subsumed the personality ray and uses it with relative ease as a vehicle for expression. |
54. Phàm ngã không còn đề kháng sự biểu hiện của phẩm tính bên trong. Cung linh hồn đã bao hàm cung phàm ngã và sử dụng nó tương đối dễ dàng như một vận cụ để biểu hiện. |
|
He is, however, occupied with the sequence of activities which I will list as follows: |
Tuy nhiên, y bận tâm với chuỗi hoạt động mà tôi sẽ liệt kê như sau: |
|
55. The initiate must perform and maintain the following: |
55. Điểm đạo đồ phải thực hiện và duy trì những điều sau đây: |
|
[Page 294] |
|
|
1. The preservation of hierarchical contact, of which direct, conscious soul contact is now an incident because it is now a habit. |
1. Sự bảo tồn tiếp xúc với Thánh Đoàn, trong đó sự tiếp xúc trực tiếp, có ý thức với linh hồn nay chỉ là một sự kiện phụ vì giờ đây nó đã là một thói quen. |
|
56. The initiate is directly related to the Ashram and the Master. He is living automatically as a soul within the three lower worlds. Increasingly, his consciousness is focused within the Ashram and thus, increasingly, he knows the Plan. |
56. Điểm đạo đồ liên hệ trực tiếp với ashram và Chân sư. Y tự động sống như một linh hồn trong ba cõi thấp. Càng lúc, tâm thức của y càng tập trung bên trong ashram, và do đó, càng lúc y càng biết Thiên Cơ. |
|
57. This condition obviously necessitates a functional antahkarana. |
57. Tình trạng này hiển nhiên đòi hỏi một antahkarana hoạt động hữu hiệu. |
|
2. An awareness, unbroken and consistent, of his ashramic place; I refer not to location but to status—a very different matter. |
2. Một sự nhận thức, không gián đoạn và nhất quán, về vị trí ashram của y; tôi không nói đến nơi chốn mà nói đến địa vị—một vấn đề rất khác. |
|
58. The initiate has already found the ‘location’ so to speak. He knows the nature of the Ashram in which he finds himself, and also that portion of the Ashram in which he is ‘located’. |
58. Điểm đạo đồ đã tìm thấy “nơi chốn”, có thể nói như vậy. Y biết bản chất của ashram mà y đang ở trong đó, và cũng biết phần của ashram nơi y được “định vị”. |
|
59. If the initiate knows his “status” within the Ashram, he will also know his function in the service of that Ashram, and those within the Ashram whose guidance he is to obey. They may be some of lesser development who are to be guided by him. |
59. Nếu điểm đạo đồ biết “địa vị” của mình trong ashram, y cũng sẽ biết chức năng của mình trong việc phụng sự ashram ấy, và biết những người trong ashram mà y phải tuân theo sự hướng dẫn. Họ có thể là một số người kém phát triển hơn cần được y hướng dẫn. |
|
3. Reflective concentration upon the hierarchical Plan as his particular Ashram has assumed responsibility for a measure of it; that responsibility he seeks to share intelligently and effectively. |
3. Sự tập trung suy tư vào Thiên Cơ của Thánh Đoàn như ashram riêng của y đã nhận trách nhiệm đối với một phần của Thiên Cơ ấy; trách nhiệm đó, y tìm cách chia sẻ một cách thông minh và hữu hiệu. |
|
60. He is not only concerned with his particular part in the expression of the Divine Plan. Rather, he is increasingly identified with the Ashram as a whole, and tries to promote the success of the Ashram as a whole. |
60. Y không chỉ quan tâm đến phần riêng của y trong sự biểu hiện của Thiên Cơ. Đúng hơn, y ngày càng đồng hoá với ashram như một toàn thể, và cố gắng thúc đẩy sự thành công của ashram như một toàn thể. |
|
61. His mind is reflectively concentrated upon the Plan as it affects his Ashram. He seeks to take his fair and appropriate share of the ashramic responsibility. |
61. Thể trí của y tập trung một cách suy tư vào Thiên Cơ như Thiên Cơ ấy ảnh hưởng đến ashram của y. Y tìm cách đảm nhận phần trách nhiệm ashram công bằng và thích hợp của mình. |
|
62. Very simply put, he thinks first in terms of the Ashram and not in terms of himself. |
62. Nói thật giản dị, trước hết y suy nghĩ theo phạm vi của ashram chứ không theo phạm vi của chính mình. |
|
4. Recognition of the immediate contribution of the Ashram and his immediate contribution as an integral part of it. This does away with visionary mysticism and produces the practicing occultist. |
4. Sự nhận biết đóng góp trước mắt của ashram và đóng góp trước mắt của chính y như một phần không thể tách rời của ashram. Điều này loại bỏ thần bí học mơ mộng và tạo nên nhà huyền bí học thực hành. |
|
63. Yes, the initiate is becoming the “practical occultist”. The Ashram is filled with practical hierarchical workers. |
63. Đúng vậy, điểm đạo đồ đang trở thành “nhà huyền bí học thực tiễn”. Ashram tràn đầy những người hoạt động thực tiễn của Thánh Đoàn. |
|
64. Once the initiate understands what the Ashram as a whole must accomplish, he can better assess the nature of his immediate contribution. |
64. Một khi điểm đạo đồ thấu hiểu điều mà ashram như một toàn thể phải hoàn thành, y có thể đánh giá tốt hơn bản chất đóng góp trước mắt của mình. |
|
5. A study of the creative methods of his particular Ray and an imaginative visualisation of that which will be expressed when the desired creative work has taken due form. |
5. Một sự nghiên cứu các phương pháp sáng tạo của cung riêng của y và một sự hình dung đầy tưởng tượng về điều sẽ được biểu hiện khi công việc sáng tạo mong muốn đã thành hình đúng mức. |
|
65. This is the ray of Ashram and also the subray of the Ashram. To this combination which compels all within the Ashram, the ray of the personality must be added. |
65. Đây là cung của ashram và cũng là cung phụ của ashram. Vào sự kết hợp này, vốn thúc buộc tất cả những ai ở trong ashram, phải thêm cung phàm ngã. |
|
66. The imagination is to be used in a creative way and to be consecrated to ashramic purposes. |
66. Sự tưởng tượng phải được sử dụng theo cách sáng tạo và được thánh hiến cho các mục đích ashram. |
|
67. Each ray has its own particular type of creativity. We may have become accustomed to think of some rays as creative and other not. |
67. Mỗi cung có kiểu sáng tạo riêng của nó. Có thể chúng ta đã quen nghĩ rằng một số cung là sáng tạo còn những cung khác thì không. |
|
68. The Ashram, together, is always thinking creatively and with an image-making faculty which moves towards the realization of its objectives. |
68. Ashram, như một toàn thể, luôn luôn suy nghĩ một cách sáng tạo và bằng một năng lực tạo hình ảnh, vốn tiến tới sự chứng nghiệm các mục tiêu của mình. |
|
69. The initiate is to all his quota to the pool of projective, imaginative thought. |
69. Điểm đạo đồ phải đóng góp phần của mình vào kho tư tưởng phóng chiếu và giàu tưởng tượng. |
|
6. Conscious projection of his contribution onto the outer physical plane. A tangible creative project is undertaken and eventually produced. |
6. Sự phóng chiếu có ý thức đóng góp của y lên cõi hồng trần bên ngoài. Một dự án sáng tạo hữu hình được đảm nhận và sau cùng được tạo ra. |
|
70. We are speaking of the individual creativity of the initiate. |
70. Chúng ta đang nói về năng lực sáng tạo cá nhân của điểm đạo đồ. |
|
71. The Ashram, per se, does not determine his project. The purpose and plan within the Ashram, however, greatly impact that which he, himself, proposes to do on behalf of the Ashram and humanity. |
71. Chính ashram không quyết định dự án của y. Tuy nhiên, mục đích và Thiên Cơ bên trong ashram ảnh hưởng rất lớn đến điều mà chính y đề xuất thực hiện nhân danh ashram và nhân loại. |
|
72. The initiate does not live in a world of dreams. He is on the way to becoming the practical occultist. He is the spiritual worker with an eye to tangible accomplishment. He is in process of making ashramic intention actual within the three lower worlds |
72. Điểm đạo đồ không sống trong một thế giới của mộng tưởng. Y đang trên đường trở thành nhà huyền bí học thực tiễn. Y là người hoạt động tinh thần với cái nhìn hướng đến thành tựu hữu hình. Y đang trong tiến trình làm cho ý định ashram trở nên hiện thực trong ba cõi thấp |
|
7. He thus plays his part in bringing into objectivity the creative undertaking of his Ashram. |
7. Do đó, y đóng phần của mình trong việc đưa công trình sáng tạo của ashram mình vào biểu hiện khách quan. |
|
73. This seventh point accords well with the seventh ray. Ashrams are in process of externalizing. Their quality and their creative plans must appear in the outer world. To this intention, every ashramicmembers gives his full attention, strength, love, and creativity. |
73. Điểm thứ bảy này rất phù hợp với cung bảy. Các ashram đang trong tiến trình ngoại hiện. Phẩm tính và các kế hoạch sáng tạo của chúng phải hiện ra trong thế giới bên ngoài. Đối với ý định này, mỗi thành viên ashram đều dâng trọn sự chú ý, sức mạnh, tình thương và năng lực sáng tạo của mình. |
|
74. All must play their part. |
74. Tất cả đều phải đóng phần của mình. |
|
75. These seven types of activity are extremely practical and require the close attention of every relatively new ashramic worker. Those with established ashramic experience will do these things automatically. |
75. Bảy loại hoạt động này hết sức thực tiễn và đòi hỏi sự chú tâm sát sao của mọi người hoạt động ashram còn tương đối mới. Những ai đã có kinh nghiệm ashram vững chắc sẽ làm những điều này một cách tự động. |
|
76. Aquarius is the sign of the Hierarchy, of the Ashram and of group creativity. We see how Aquarian attitudes must be developed and implemented by the initiate. |
76. Bảo Bình là dấu hiệu của Thánh Đoàn, của ashram và của sáng tạo tập thể. Chúng ta thấy các thái độ Bảo Bình phải được điểm đạo đồ phát triển và thực thi như thế nào. |
|
The seed of this creative work |
§hạt giống của công việc sáng tạo này |
|
77. We are speaking of the creative work of the Ashram as a whole, but especially of the creative work of the individual ashramic member within the field of ashramic creativity |
77. Chúng ta đang nói về công việc sáng tạo của ashram như một toàn thể, nhưng đặc biệt là công việc sáng tạo của từng thành viên ashram trong lĩnh vực sáng tạo ashram |
|
is that which the Ashram has planned for the exact moment of humanity’s presented need, correct as to timing and placement. |
là điều mà ashram đã hoạch định cho đúng khoảnh khắc nhu cầu được nhân loại trình hiện, chính xác về thời điểm và vị trí. |
|
78. What determines the nature of the creative work undertaken by the initiate within the Ashram? |
78. Điều gì quyết định bản chất công việc sáng tạo mà điểm đạo đồ đảm nhận trong ashram? |
|
a. The present need of humanity |
a. Nhu cầu hiện tại của nhân loại |
|
b. That which the Ashram has planned to meet this need |
b. Điều mà ashram đã hoạch định để đáp ứng nhu cầu này |
|
c. Correctness of timing in meeting humanity’s present need and fulfilling the Ashram’s plans to meet that need. |
c. Sự chính xác về thời điểm trong việc đáp ứng nhu cầu hiện tại của nhân loại và hoàn thành các kế hoạch của ashram nhằm đáp ứng nhu cầu ấy. |
|
d. Correctness regarding the “placement” or ‘point of application” when meeting humanity’s present need and fulfilling the Ashram’s plans to meet that need. |
d. Sự chính xác liên quan đến “vị trí” hay “điểm áp dụng” khi đáp ứng nhu cầu hiện tại của nhân loại và hoàn thành các kế hoạch của ashram nhằm đáp ứng nhu cầu ấy. |
|
79. The initiate’s creative work will not be properly founded unless grown from the correct seed |
79. Công việc sáng tạo của điểm đạo đồ sẽ không được đặt nền tảng đúng đắn nếu không phát triển từ hạt giống đúng đắn |
|
80. We see that it is not so much what the initiate wants to do to help humanity as it is his recognition of that which the Ashram intends to do, and his realization of his place and part within that intention. |
80. Chúng ta thấy rằng vấn đề không phải là điều điểm đạo đồ muốn làm để giúp nhân loại, cho bằng sự nhận biết của y về điều mà ashram dự định làm, và sự chứng nghiệm của y về vị trí cùng phần việc của mình trong ý định ấy. |
|
This may not be what humanity believes it needs; it is essentially what the Hierarchy recognises as the needed factor, leading to the needed progress for the race at any specific moment in time. |
Điều này có thể không phải là điều nhân loại tin rằng mình cần; về bản chất, đó là điều mà Thánh Đoàn nhận biết như yếu tố cần thiết, dẫn đến sự tiến bộ cần thiết cho nhân loại vào bất kỳ khoảnh khắc cụ thể nào trong thời gian. |
|
81. Humanity is still relatively benighted. Its desire body is not yet properly oriented. |
81. Nhân loại vẫn còn tương đối tăm tối. Thể dục vọng của nhân loại vẫn chưa được định hướng đúng đắn. |
|
82. The initiate shares in the hierarchical recognition or humanity’s real need. |
82. Điểm đạo đồ chia sẻ trong sự nhận biết của Thánh Đoàn về nhu cầu thực sự của nhân loại. |
|
83. There will probably be friction between the hierarchical recognition and humanity’s desire. The initiate will find himself always running counter to the ill-directed desire of those he seeks to assist. |
83. Có lẽ sẽ có sự va chạm giữa sự nhận biết của Thánh Đoàn và dục vọng của nhân loại. Điểm đạo đồ sẽ thấy mình luôn đi ngược lại dục vọng bị định hướng sai lầm của những người y tìm cách trợ giúp. |
|
For instance, humanity believes today that its major need is peace and material comfort and is working vaguely for both; |
Chẳng hạn, ngày nay nhân loại tin rằng nhu cầu chính yếu của mình là hòa bình và tiện nghi vật chất và đang hoạt động một cách mơ hồ cho cả hai điều ấy; |
|
84. We see this almost everywhere. |
84. Chúng ta thấy điều này hầu như khắp nơi. |
|
the Hierarchy knows that its major need is the recognition of the folly of past separateness and the cult of goodwill. |
Thánh Đoàn biết rằng nhu cầu chính yếu của nhân loại là nhận ra sự điên rồ của tính chia rẽ trong quá khứ và vun trồng hệ giá trị thiện chí. |
|
85. Separativeness is folly! Goodwill is to be cultivated. We note DK’s use of the word “cult”, signifying a system of cherished values based on the principle of goodwill. |
85. Tính chia rẽ là điên rồ! Thiện chí phải được vun trồng. Chúng ta ghi nhận cách Chân sư DK dùng từ “hệ giá trị”, biểu thị một hệ thống các giá trị được trân quý dựa trên nguyên lý thiện chí. |
|
Towards these ends, workers in the Ashrams are bending every effort. |
Hướng đến những mục tiêu này, những người hoạt động trong các ashram đang dồn mọi nỗ lực. |
|
86. This is the case regardless of the ray of the Ashram. |
86. Điều này đúng bất kể cung của ashram là gì. |
|
The creative task, therefore, of working disciples and initiates is to produce that presentation (appearance) of the necessitous truths in such a manner that the recognition of humanity may be so sound that right action can duly be [Page 295] taken. |
Do đó, nhiệm vụ sáng tạo của các đệ tử và điểm đạo đồ đang hoạt động là tạo ra sự trình hiện sắc tướng của những chân lý cần thiết theo cách sao cho sự nhận biết của nhân loại có thể vững chắc đến mức hành động đúng đắn có thể được thực hiện đúng lúc[Page 295]. |
|
87. It is necessary that humanity understand certain truths. They simply must understand. |
87. Điều cần thiết là nhân loại phải thấu hiểu một số chân lý. Họ giản dị là phải thấu hiểu. |
|
88. But how can they be helped to understand when they so frequently resist the recognition and assimilation of such truths? |
88. Nhưng làm thế nào có thể giúp họ thấu hiểu khi họ thường xuyên chống lại việc nhận biết và hấp thụ những chân lý như thế? |
|
89. They can be helped through the “skill in action” of the initiates as they present the “necessitous truths”. |
89. Họ có thể được giúp đỡ nhờ “sự khéo léo trong hành động” của các điểm đạo đồ khi các vị ấy trình bày “những chân lý cần thiết”. |
|
90. The initiate must have a very clear understanding of the level and inclination of humanity’s consciousness if he is to skillfully present the necessary truths for easier recognition and motivated assimilation. |
90. Điểm đạo đồ phải có sự thấu hiểu rất rõ về cấp độ và khuynh hướng của tâm thức nhân loại nếu y muốn trình bày một cách khéo léo những chân lý cần thiết để chúng dễ được nhận biết và được hấp thụ nhờ động lực đúng đắn hơn. |
|
91. The initiate’s work along this line is magnetic work. The manner in which the second ray disciple works comes to mind: |
91. Công việc của điểm đạo đồ theo đường lối này là công việc từ tính. Cách thức người đệ tử cung hai làm việc hiện lên trong trí: |
|
The disciples and servers on the second Ray are “busy building habitations for those dynamic entities whose function it has ever been to charge the thoughts of men and so to usher in that new and better age which will permit the fostering of the souls of men.” So runs the Old Commentary,… (EP II 141-142) |
Các đệ tử và người phụng sự trên cung hai “đang bận rộn xây dựng những nơi cư ngụ cho các thực thể năng động, những vị mà chức năng từ trước đến nay vẫn luôn là nạp năng lượng cho tư tưởng của con người, và như thế mở đường cho thời đại mới và tốt đẹp hơn, thời đại sẽ cho phép nuôi dưỡng linh hồn của con người.” Cổ Luận viết như vậy,… (EP II 141-142) |
|
Hierarchical workers must therefore express the true need in form, appropriate to the registering capacity of humanity at this moment. |
Vì vậy, những người hoạt động trong Thánh đoàn phải biểu đạt nhu cầu chân thực trong hình tướng, thích hợp với khả năng ghi nhận của nhân loại vào lúc này. |
|
92. Nothing could be more practical. Ideas and high thoughts cannot remain on their own planes. They must be embodied—i.e., expressed in such a manner that humanity can truly register them and do something constructive with them. |
92. Không gì có thể thực tiễn hơn. Các ý tưởng và tư tưởng cao siêu không thể mãi ở trên các cõi riêng của chúng. Chúng phải được hiện thân—nghĩa là, được biểu đạt theo cách mà nhân loại có thể thật sự ghi nhận chúng và làm một điều gì đó mang tính xây dựng với chúng. |
|
The creative work of expression does not consequently concern the development and personal progress of the initiate. |
Do đó, công việc sáng tạo của sự biểu đạt không liên quan đến sự phát triển và bước tiến cá nhân của điểm đạo đồ. |
|
93. Thoughts about his own personality progress are long “out of the picture”. |
93. Những tư tưởng về bước tiến phàm ngã của chính y từ lâu đã “không còn nằm trong bức tranh”. |
|
94. DK always emphasized this to the students in His Groups of IX. Many of the students gathered into these groups did, indeed, make personal progress, but that was a side-issue—not at all the deepest purpose of their gathering. |
94. Chân sư DK luôn nhấn mạnh điều này với các đạo sinh trong các Nhóm Chín của Ngài. Thật vậy, nhiều đạo sinh được tập hợp vào những nhóm này đã có bước tiến cá nhân, nhưng đó chỉ là vấn đề phụ—hoàn toàn không phải mục đích sâu xa nhất của việc họ được quy tụ. |
|
He has been taken into the Ashram because of his development and because of the contribution he should be able to make to the ashramic creative purpose. |
Y đã được đưa vào Ashram vì sự phát triển của y và vì phần đóng góp mà y phải có khả năng thực hiện cho mục đích sáng tạo của ashram. |
|
95. One does not enter the Ashram because one is a ‘good person’—though this foundational requirement cannot be discounted. |
95. Một người không bước vào Ashram chỉ vì y là một “người tốt”—dù yêu cầu nền tảng này không thể bị xem nhẹ. |
|
96. One enters or is taken in because— |
96. Một người bước vào, hoặc được tiếp nhận, bởi vì— |
|
a. One is sufficiently developed to merge and blend harmoniously with the Ashram and to recognize and promote its objectives |
a. Y đã phát triển đủ mức để hòa nhập và phối hòa một cách hài hòa với Ashram, đồng thời nhận biết và thúc đẩy các mục tiêu của Ashram |
|
b. One has something of real value to offer to the Ashram. It is assumed that one is spiritually creative and can, therefore, contribute to the “ashramic creative purpose”. |
b. Y có một điều gì đó có giá trị thật sự để hiến dâng cho Ashram. Người ta giả định rằng y có tính sáng tạo tinh thần và do đó có thể đóng góp cho “mục đích sáng tạo của ashram”. |
|
97. There are higher requirements for entry, and we had best recognize this and put aside false assumptions regarding ashramic status. |
97. Có những yêu cầu cao hơn cho việc gia nhập, và tốt nhất chúng ta nên nhận ra điều này, đồng thời gạt bỏ những giả định sai lầm về địa vị ashram. |
|
What, as a neophyte, he “touched” because of what he could gain spiritually for himself (and this with sound motive) has now become that which must be expressed in the field of service of the initiate, exacting from him all that he has and leaving him nothing for the separated self. |
Điều mà, với tư cách người sơ cơ, y đã “chạm đến” vì những gì y có thể đạt được về mặt tinh thần cho chính mình, và điều này với động cơ đúng đắn, nay đã trở thành điều phải được biểu đạt trong lĩnh vực phụng sự của điểm đạo đồ, đòi hỏi nơi y tất cả những gì y có và không để lại cho y điều gì dành cho bản ngã tách biệt. |
|
98. What an amazing and important phrase—“exacting from him all that he has and leaving him nothing for the separated self”! |
98. Thật là một cụm từ kỳ diệu và quan trọng—“đòi hỏi nơi y tất cả những gì y có và không để lại cho y điều gì dành cho bản ngã tách biệt”! |
|
99. All gain is to be put to the use of the Ashram and the greater Hierarchy which enfolds it. |
99. Mọi thành quả đạt được phải được đưa vào việc sử dụng của Ashram và của Thánh đoàn lớn hơn đang bao bọc Ashram ấy. |
|
100. That which has been gained is to be expressed. This could not be clearer. |
100. Điều đã được đạt được phải được biểu đạt. Điều này không thể rõ ràng hơn. |
|
101. What is it that exacts from the initiate all that he has? Certainly it is the spiritual will under which the initiate is learning to work. This spiritual will is a reflection of the Divine Will to which the Master of the Ashram conforms and to which the Ashram, as a whole, must learn to conform. |
101. Điều gì đòi hỏi nơi điểm đạo đồ tất cả những gì y có? Chắc chắn đó là ý chí tinh thần mà dưới sự chi phối của nó điểm đạo đồ đang học cách làm việc. Ý chí tinh thần này là phản ánh của Ý Chí thiêng liêng mà Chân sư của Ashram tuân hợp, và toàn thể Ashram cũng phải học cách tuân hợp. |
|
102. A dynamic of extraction is operative. All that one has is demanded, taken, exacted, extracted. The initiate is left bereft of all personal motive and has relinquished all application of acquired gifts topersonal satisfaction. |
102. Một động lực trích xuất đang vận hành. Tất cả những gì một người có đều bị đòi hỏi, lấy đi, buộc phải trao ra, trích xuất. Điểm đạo đồ bị để lại trong trạng thái không còn mọi động cơ cá nhân và đã từ bỏ mọi việc áp dụng các ân huệ đã đạt được chosự thỏa mãn cá nhân. |
|
103. Into the resultant emptiness, divine realization and divine power can flow. |
103. Vào sự trống rỗng phát sinh ấy, sự chứng nghiệm thiêng liêng và quyền năng thiêng liêng có thể tuôn chảy. |
|
A great creative activity involving all Ashrams—major and minor—is now being planned in the hierarchical assembly, and the work of all waiting and attentive disciples is to make that creative plan successful through its full expression upon the physical plane. |
Một hoạt động sáng tạo vĩ đại, bao gồm tất cả các Ashram—chính yếu và thứ yếu—hiện đang được hoạch định trong hội đồng Thánh đoàn, và công việc của tất cả các đệ tử đang chờ đợi và chăm chú là làm cho kế hoạch sáng tạo ấy thành công qua sự biểu đạt trọn vẹn của nó trên cõi hồng trần. |
|
104. Can Master DK be speaking of that project known as the Externalization of the Hierarchy? |
104. Có phải Chân sư DK đang nói về dự án được biết đến như Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn chăng? |
|
105. The “hierarchical assembly” meets at stated times more frequently than we may suspect, even though the Great Conclave occurs but once every hundred years. |
105. “Hội đồng Thánh đoàn” nhóm họp vào những thời điểm đã định thường xuyên hơn chúng ta có thể nghĩ, dù Đại Mật Nghị chỉ diễn ra một lần trong mỗi trăm năm. |
|
106. It is our task as disciples to be attentive to the emerging plans. True initiates know the nature of these plans. |
106. Nhiệm vụ của chúng ta, với tư cách các đệ tử, là chú tâm đến những kế hoạch đang xuất hiện. Các điểm đạo đồ chân chính biết bản chất của những kế hoạch này. |
|
107. Initiates are responsible for making the plans of the hierarchical assembly successful upon the physical plane. Success does not happen by itself. Every true disciple or initiate has his role to play. |
107. Các điểm đạo đồ chịu trách nhiệm làm cho những kế hoạch của hội đồng Thánh đoàn thành công trên cõi hồng trần. Thành công không tự nó xảy ra. Mỗi đệ tử hay điểm đạo đồ chân chính đều có vai trò của mình để đảm nhiệm. |
|
This they must do through their grouped and blended activities, which will embody the full expression of all that they have achieved and gained in the earlier stages of their individual unfoldment. |
Họ phải làm điều này thông qua các hoạt động được nhóm lại và phối hòa của họ, vốn sẽ hiện thân sự biểu đạt trọn vẹn của tất cả những gì họ đã thành tựu và đạt được trong các giai đoạn trước của sự khai mở cá nhân. |
|
108. The phrase of importance is “grouped and blended activities”. |
108. Cụm từ quan trọng là “các hoạt động được nhóm lại và phối hòa”. |
|
109. The true initiate is no longer working just as an individual. That which advanced disciples and initiates are to express is to be expressed in relation to and through the group. |
109. Điểm đạo đồ chân chính không còn chỉ làm việc như một cá nhân. Điều mà các đệ tử tiến bộ và các điểm đạo đồ phải biểu đạt cần được biểu đạt trong tương quan với, và thông qua, nhóm. |
|
110. Initiates have learned how to work together and, thus, to augment the strength and effectiveness of that which they wish to express. |
110. Các điểm đạo đồ đã học cách làm việc cùng nhau và nhờ đó gia tăng sức mạnh cũng như hiệu quả của điều họ muốn biểu đạt. |
|
111. We may ask ourselves, “how integrated with my group and with the offerings of other groups is that which I am in process of expressing on behalf of the Plan?” |
111. Chúng ta có thể tự hỏi: “Điều tôi đang trong tiến trình biểu đạt nhân danh Thiên Cơ được tích hợp đến mức nào với nhóm của tôi và với những hiến dâng của các nhóm khác?” |
|
112. While every initiate is an independent individual, he is also fully a member of an inner and/or outer spiritual group. The expression desired is to be offered in concert with the offering of the group with which he is working. |
112. Tuy mỗi điểm đạo đồ là một cá nhân độc lập, y cũng hoàn toàn là thành viên của một nhóm tinh thần bên trong và/hoặc bên ngoài. Sự biểu đạt được mong muốn cần được hiến dâng trong sự hòa hợp với sự hiến dâng của nhóm mà y đang làm việc cùng. |
|
113. The initiate is the soul-in-expression, and the soul is group conscious. |
113. Điểm đạo đồ là linh hồn-đang-biểu-đạt, và linh hồn thì có tâm thức nhóm. |
|
Thus you will see that from God the Creator of all that IS, down to the humblest disciple in the hierarchical centre, the theme of creativity dominates and is the expression (again occultly understood) of the divine intention. |
Như vậy, các bạn sẽ thấy rằng, từ Thượng đế, Đấng Sáng Tạo của tất cả những gì HIỆN TỒN, xuống đến đệ tử khiêm nhường nhất trong trung tâm Thánh đoàn, chủ đề sáng tạo chi phối tất cả và là sự biểu đạt, một lần nữa được hiểu một cách huyền bí, của ý định thiêng liêng. |
|
114. Here we have another magnificent sentence emphasizing the creativity which unites the Solar Logos to the humblest disciple. |
114. Ở đây chúng ta có một câu tuyệt diệu khác nhấn mạnh tính sáng tạo vốn hợp nhất Thái dương Thượng đế với đệ tử khiêm nhường nhất. |
|
115. What do we express? Is it “divine intention”? Close attention must be given to this question. |
115. Chúng ta biểu đạt điều gì? Có phải đó là “ý định thiêng liêng” chăng? Câu hỏi này cần được chú tâm kỹ lưỡng. |
|
At present, what is called creative work by men is in reality an expression of themselves and of their appreciation of beauty as they see it, |
Hiện nay, điều được con người gọi là công việc sáng tạo, trong thực tại, là một sự biểu đạt chính họ và sự cảm thụ của họ về cái đẹp như họ thấy nó, |
|
116. This is the motive of the usual artist, the expression of that which is within—an expression of the artist’s individual psychological state and which occurs largely for its own sake, often regardless of the impact of that expression upon others. |
116. Đây là động cơ của nghệ sĩ thông thường: sự biểu đạt điều ở bên trong—một sự biểu đạt trạng thái tâm lý cá nhân của nghệ sĩ, và điều đó xảy ra phần lớn vì chính nó, thường bất kể tác động của sự biểu đạt ấy đối với người khác. |
|
of truth as they grasp it, of psychology as they interpret it, of nature as they scientifically interpret it. |
về chân lý như họ nắm bắt nó, về tâm lý học như họ diễn giải nó, về bản chất như họ diễn giải nó một cách khoa học. |
|
117. The individual (the “they” as DK puts it) is the factor of import. ‘I am important and it is I who express’—this is the inner mantram. |
117. Cá nhân, tức “họ” như Chân sư DK nói, là yếu tố quan trọng. ‘Tôi là quan trọng và chính tôi là người biểu đạt’—đó là mantram bên trong. |
|
118. Such ego-based expression can occur in all fields of human endeavor—even science in which more objectivity and ‘distance’ for the emotional body might be expected. |
118. Sự biểu đạt dựa trên phàm ngã như thế có thể xảy ra trong mọi lĩnh vực nỗ lực của con người—ngay cả trong khoa học, nơi người ta có thể kỳ vọng nhiều tính khách quan hơn và một “khoảng cách” đối với thể cảm dục. |
|
119. Again, the individual looms too large in the tasks undertaken. The influence of the desire body has not been neutralized. This neutralization, we may assume, occurs at the time of the second initiation—that initiation to which the injunction Express applies particularly. |
119. Một lần nữa, cá nhân hiện ra quá lớn trong những nhiệm vụ được đảm nhận. Ảnh hưởng của thể dục vọng chưa được trung hòa. Chúng ta có thể giả định rằng sự trung hòa này xảy ra vào thời điểm lần điểm đạo thứ hai—cuộc điểm đạo mà huấn lệnh Biểu đạt đặc biệt áp dụng. |
|
According to their spiritual development and their intelligent perception, so will be the quality and the nature of their expression—but it will be theirs. |
Tùy theo sự phát triển tinh thần và tri giác thông minh của họ, phẩm tính và bản chất của sự biểu đạt nơi họ sẽ như thế—nhưng nó sẽ là của họ. |
|
120. It will be their expression. It will not belong to the whole. Ownership (by the lower ego) is still present. The term “my” is always implied. |
120. Nó sẽ là sự biểu đạt của họ. Nó sẽ không thuộc về toàn thể. Quyền sở hữu, do phàm ngã, vẫn còn hiện diện. Thuật ngữ “của tôi” luôn được hàm ý. |
|
121. The following from the Old Commentary is a graphic representation of this self-centered attitude: |
121. Đoạn sau đây từ Cổ Luận là một sự trình bày sinh động về thái độ tập trung vào bản thân này: |
|
“‘I see a vision. It satisfies desire; it feeds and stimulates its growth. I lay my life upon the altar of desire—the seen, the sensed, that which appeals to me, the satisfaction of my need—a need for that which is material, for that which feeds emotion, that satisfies the mind, that answers my demand for truth, for service, and my vision of the goal. It is the vision which I see, the dream I dream, the truth I hold, the active form which meets my need, that which I grasp and understand. My truth, mypeace, my satisfied desire, my dream, my vision of reality, my limited ideal, my finite thought of God;—for these I struggle, fight and die.’ (EP II 371-372) |
“‘Tôi thấy một linh ảnh. Nó thỏa mãn dục vọng; nó nuôi dưỡng và kích thích sự tăng trưởng của dục vọng. Tôi đặt đời mình trên bàn thờ của dục vọng—cái được thấy, cái được cảm nhận, điều hấp dẫn tôi, sự thỏa mãn nhu cầu của tôi—một nhu cầu đối với điều thuộc vật chất, đối với điều nuôi dưỡng cảm xúc, thỏa mãn thể trí, đáp ứng đòi hỏi của tôi về chân lý, về phụng sự, và linh ảnh của tôi về mục tiêu. Đó là linh ảnh mà tôi thấy, giấc mơ tôi mơ, chân lý tôi nắm giữ, hình tướng năng động đáp ứng nhu cầu của tôi, điều tôi nắm bắt và thấu hiểu. Chân lý của tôi, bình an của tôi, dục vọng được thỏa mãn của tôi, giấc mơ của tôi, linh ảnh của tôi về thực tại, lý tưởng giới hạn của tôi, tư tưởng hữu hạn của tôi về Thượng đế;—vì những điều này tôi phấn đấu, chiến đấu và chết.’ (EP II 371-372) |
|
In the case of hierarchical workers however, the situation is different. They work to express that which the Ashram, through its group of workers, is seeking to express; |
Tuy nhiên, trong trường hợp những người hoạt động trong Thánh đoàn, tình thế lại khác. Họ làm việc để biểu đạt điều mà Ashram, thông qua nhóm những người hoạt động của mình, đang tìm cách biểu đạt; |
|
122. The source of the impulsion towards expression is the Ashram, not the little self. |
122. Nguồn của xung lực hướng tới sự biểu đạt là Ashram, không phải tiểu ngã. |
|
123. A major decentralization has occurred. |
123. Một sự phi tập trung lớn đã xảy ra. |
|
they seek to express the Plan, or as much of it as they can grasp; |
họ tìm cách biểu đạt Thiên Cơ, hoặc phần nào của Thiên Cơ mà họ có thể nắm bắt; |
|
124. The Divine Plan is foremost in their minds: |
124. Thiên Cơ là điều hàng đầu trong trí tuệ của họ: |
|
If however they can avoid glamour, and can discriminate between the Real and the unreal, then the inflowing force will flood their lives with effective unselfish love and with devotion to the Plan, to those whom the Plan serves, and to ThoseWho serve the Plan. Note the sequence of these attitudes, and govern yourselves accordingly. (EP II 137) |
Tuy nhiên, nếu họ có thể tránh ảo cảm, và có thể phân biện giữa Cái Thật và cái không thật, thì mãnh lực đang tuôn vào sẽ tràn ngập đời sống họ bằng tình thương vị tha hữu hiệu và bằng sự tận hiến cho Thiên Cơ, cho những người mà Thiên Cơ phụng sự, và cho Những Đấng phụng sự Thiên Cơ. Hãy lưu ý trình tự của những thái độ này và hãy tự điều hành mình cho phù hợp. (EP II 137) |
|
they are occupied with the expression of soul as that soul should be known in the culture and the civilisation [Page 296] immediately to be developed. |
họ bận tâm với sự biểu đạt của linh hồn như linh hồn ấy cần được nhận biết trong nền văn hóa và nền văn minh [Page 296] sắp được phát triển ngay trước mắt. |
|
125. There are many ways that soul can be known. |
125. Có nhiều cách để linh hồn có thể được nhận biết. |
|
126. There are, however, only certain ways the soul should be known given the culture and civilization of the times. |
126. Tuy nhiên, chỉ có một số cách mà linh hồn cần được nhận biết, xét theo nền văn hóa và văn minh của thời đại. |
|
127. We can see the constant discipline of Saturn, regulating the expression of the initiate. Correct expression is not a matter of what one wants to express; it is a dependent upon true need. |
127. Chúng ta có thể thấy kỷ luật thường hằng của Sao Thổ, điều chỉnh sự biểu đạt của điểm đạo đồ. Sự biểu đạt đúng đắn không phải là vấn đề một người muốn biểu đạt điều gì; nó tùy thuộc vào nhu cầu chân thực. |
|
They can work entirely free from self-interest; |
Họ có thể làm việc hoàn toàn thoát khỏi tư lợi; |
|
128. There is, in conventional terms, no “conflict of interest”. In the life of the average disciple, that conflict of interest is between the soul and the personality. |
128. Theo cách nói thông thường, không có “xung đột lợi ích”. Trong đời sống của đệ tử trung bình, xung đột lợi ích ấy nằm giữa linh hồn và phàm ngã. |
|
that which they create is not claimed by them |
điều mà họ sáng tạo ra không được họ nhận là của mình |
|
129. They do not care who “gets the credit”. Relinquishment of recognition is their standard method of procedure. |
129. Họ không bận tâm ai “được ghi công”. Từ bỏ sự công nhận là phương pháp hành động chuẩn mực của họ. |
|
but is regarded as an expression of hierarchical activity; |
mà được xem như một biểu hiện của hoạt động Thánh Đoàn; |
|
130. This is where their identification lies—with the Hierarchy. |
130. Đây là nơi sự đồng hóa của họ hiện hữu—với Thánh Đoàn. |
|
they are free from the spirit to identify themselves with that which they expressed, |
họ thoát khỏi tinh thần đồng hóa chính mình với điều mà họ đã biểu lộ, |
|
131. How many artists have achieved this? How many creative workers in any field of expression have achieved this? |
131. Có bao nhiêu nghệ sĩ đã đạt được điều này? Có bao nhiêu người hoạt động sáng tạo trong bất kỳ lĩnh vực biểu hiện nào đã đạt được điều này? |
|
132. It is the little ego which identifies itself with that which it has expressed. |
132. Chính cái tôi nhỏ bé đồng hóa chính nó với điều mà nó đã biểu lộ. |
|
but—having created that which their ashramic impulse has indicated—they pass on to a fresh expression of the dynamic, ever-moving purpose. |
nhưng—sau khi đã sáng tạo điều mà xung lực ashram của họ đã chỉ ra—họ tiến sang một biểu hiện mới của Thiên Ý năng động, luôn chuyển động. |
|
133. This is the Aries attitude—express what is needed and move on. What is needed is an ever-fresh expression of ever-progressive divine purpose. |
133. Đây là thái độ Bạch Dương—biểu lộ điều cần thiết rồi tiếp tục tiến lên. Điều cần thiết là một biểu hiện luôn mới mẻ của Thiên Ý thiêng liêng luôn tiến bộ. |
|
134. The Divine Purpose (through the Divine Plan) is dynamic and ever-moving. The true hierarchical worker attempts to keep up with it. To identify with former expression would retard progress. |
134. Thiên Ý, thông qua Thiên Cơ, là năng động và luôn chuyển động. Người hoạt động chân chính của Thánh Đoàn cố gắng theo kịp điều đó. Đồng hóa với biểu hiện trước kia sẽ làm chậm bước tiến. |
|
135. We see how much “letting go” is required. |
135. Chúng ta thấy cần “buông bỏ” nhiều đến mức nào. |
|
They are not occupied with form, but with life, with organism rather than organisation, with ideas rather than ideals, and with essential truth rather than with carefully formulated theologies. |
Họ không bận tâm đến hình tướng, mà đến sự sống; đến cơ thể sống hơn là tổ chức; đến các ý tưởng hơn là các lý tưởng; và đến chân lý cốt yếu hơn là các nền thần học được định thức cẩn trọng. |
|
136. This is brilliant and totally clear. |
136. Điều này thật sáng tỏ và hoàn toàn rõ ràng. |
|
137. Let us tabulate for impact. The true hierarchical worker in process of fulfilling the injunction Express is— |
137. Chúng ta hãy lập bảng để tạo ấn tượng. Người hoạt động chân chính của Thánh Đoàn, trong tiến trình hoàn thành huấn lệnh Biểu Lộ, là— |
|
a. Occupied with life rather than form |
a. Bận tâm đến sự sống hơn là hình tướng |
|
b. Occupied with organism rather than organisation |
b. Bận tâm đến cơ thể sống hơn là tổ chức |
|
c. Occupied with ideas rather than ideals |
c. Bận tâm đến các ý tưởng hơn là các lý tưởng |
|
d. Occupied with essential truth rather than with carefully formulate theologies. |
d. Bận tâm đến chân lý cốt yếu hơn là các nền thần học được định thức cẩn trọng. |
|
138. It is obvious that the mind of such a worker is no longer polarized on concrete levels. He lives in a state of soul consciousness, or better, in a state of receptivity to that which the spiritual triad reveals. |
138. Rõ ràng thể trí của một người hoạt động như thế không còn phân cực ở các cấp độ cụ thể. Y sống trong một trạng thái tâm thức linh hồn, hay đúng hơn, trong một trạng thái tiếp nhận điều mà Tam Nguyên Tinh Thần mặc khải. |
|
139. He lives and focuses within the formless worlds and, thus, can concern himself with essence and not with the many forms which are intended to embody essence. |
139. Y sống và tập trung trong các thế giới vô hình tướng và do đó có thể quan tâm đến tinh yếu, chứ không phải đến nhiều hình tướng được nhằm để hiện thân tinh yếu. |
|
140. He has learned to “put first things first”. |
140. Y đã học cách “đặt điều quan trọng lên trước”. |
|
Christ expressed in Himself and refrained from putting it into form; |
Đức Christ đã biểu lộ nơi chính Ngài và không đưa điều đó vào hình tướng; |
|
141. He wrote nothing. He was (and is), and others sought to embody in form that which they experienced of His being. |
141. Ngài không viết gì cả. Ngài đã là, và đang là, rồi những người khác tìm cách hiện thân trong hình tướng điều mà họ đã kinh nghiệm về Bản Thể của Ngài. |
|
142. This was also true of the Buddha. |
142. Điều này cũng đúng đối với Đức Phật. |
|
He Himself was the truth, yet inevitably (because of its inherent life) that which He expressed took form and has greatly modified and coloured human thinking and planning, and this will be increasingly so. |
Chính Ngài là chân lý, nhưng tất yếu, do sự sống nội tại của nó, điều mà Ngài biểu lộ đã khoác lấy hình tướng và đã biến đổi sâu xa cũng như nhuộm màu tư tưởng và hoạch định của nhân loại, và điều này sẽ ngày càng tăng. |
|
143. Christ said, “I am the Way, the Truth and the Life…” |
143. Đức Christ đã nói: “Ta là Con Đường, Chân Lý và Sự Sống…” |
|
144. The true Spirit is the Truth. Christ achieved monadic identification. |
144. Tinh thần chân thật là Chân Lý. Đức Christ đã đạt được sự đồng hóa chân thần. |
|
As the essence of Christianity emerges into expression (and in so doing destroys Churchianity) you have again a striking illustration of the truth of what I am seeking to emphasise. |
Khi tinh yếu của Cơ Đốc giáo xuất hiện thành biểu hiện, và trong khi làm như thế phá hủy chủ nghĩa giáo hội, các bạn lại có một minh họa nổi bật về chân lý của điều tôi đang tìm cách nhấn mạnh. |
|
145. We are looking for the emergence of the “essence of Christianity”. The emerging truth will always destroy the forms inadequate to the expression of that truth. |
145. Chúng ta đang tìm kiếm sự xuất hiện của “tinh yếu của Cơ Đốc giáo”. Chân lý đang xuất hiện sẽ luôn phá hủy những hình tướng không còn đủ sức biểu lộ chân lý ấy. |
|
In the Christian Church, men have expressed themselves, |
Trong Giáo hội Cơ Đốc, con người đã biểu lộ chính họ, |
|
146. Not a very flattering assessment, but unfortunately true… |
146. Không phải một đánh giá dễ nghe, nhưng tiếc thay lại đúng… |
|
not the Christ; |
chứ không phải Đức Christ; |
|
147. Such was their continuing personal identification. |
147. Đó là sự đồng hóa cá nhân dai dẳng của họ. |
|
they have imposed their interpretations of truth on truth itself; |
họ đã áp đặt các diễn giải của mình về chân lý lên chính chân lý; |
|
148. The concrete mind has ruled and not the intuitive, buddhic mind. |
148. Trí cụ thể đã cai quản, chứ không phải trí tuệ trực giác, Bồ đề. |
|
149. Within the energy system of these formulators of limited truth, the antahkarana has not been built. |
149. Trong hệ thống năng lượng của những người định thức chân lý giới hạn này, antahkarana chưa được kiến tạo. |
|
they have created a massive organisation in every land but a living organism is non-existent. |
họ đã tạo ra một tổ chức đồ sộ ở mọi xứ sở, nhưng một cơ thể sống thì không hiện hữu. |
|
150. Form has been created and essence has been stifled. |
150. Hình tướng đã được tạo ra và tinh yếu đã bị bóp nghẹt. |
|
In the new world religion which is on its way, Christianity will be expressed through the creative activity of the Christ spirit through the medium of the world disciples and initiates; |
Trong tôn giáo thế giới mới đang trên đường xuất hiện, Cơ Đốc giáo sẽ được biểu lộ thông qua hoạt động sáng tạo của tinh thần Christ, qua trung gian của các đệ tử và điểm đạo đồ thế giới; |
|
151. Note that DK speaks of the “Christ spirit”. This is the creative factor. |
151. Hãy lưu ý rằng Chân sư DK nói đến “tinh thần Christ”. Đây là yếu tố sáng tạo. |
|
152. For the initiate to be truly creative, it is this spirit (the living soul within) which must be active in consciousness. |
152. Để điểm đạo đồ thật sự có tính sáng tạo, chính tinh thần này, tức linh hồn sống động bên trong, phải hoạt động trong tâm thức. |
|
153. Notice that we are speaking of the “new world religion” as we discuss the injunction “Express”. This injunction has focal application at the time of the second initiation, ruled by the sixth ray, the ray of religion. |
153. Hãy lưu ý rằng chúng ta đang nói về “tôn giáo thế giới mới” khi bàn về huấn lệnh “Biểu Lộ”. Huấn lệnh này có ứng dụng tập trung vào thời điểm lần điểm đạo thứ hai, do cung sáu cai quản, cung của tôn giáo. |
|
154. We may gather that one of the first important modes of hierarchical expression will be the reformation and essentialization of humanity’s religious impulse. |
154. Chúng ta có thể suy ra rằng một trong những phương thức quan trọng đầu tiên của biểu hiện Thánh Đoàn sẽ là sự cải tổ và tinh yếu hóa xung lực tôn giáo của nhân loại. |
|
we shall then see the full expression of hierarchical truth—of which the Christ today is the symbol and exponent. |
bấy giờ chúng ta sẽ thấy sự biểu lộ đầy đủ của chân lý Thánh Đoàn—mà ngày nay Đức Christ là biểu tượng và vị phát ngôn. |
|
155. Thus, the initiate is to express the truth—the “hierarchical truth”, a living truth. |
155. Như vậy, điểm đạo đồ phải biểu lộ chân lý—“chân lý Thánh Đoàn”, một chân lý sống động. |
|
156. This expression cannot be engineered or manipulated. It is the spontaneous expression of what one has become. One has become (or re-become) through correct identification, the soul, the Spirit. Having thus re-become what one always has been, that inner reality pours forth into expression. Such expression is not contrived. |
156. Sự biểu lộ này không thể được dàn dựng hay thao túng. Đó là sự biểu lộ tự phát của điều mà người ta đã trở thành. Người ta đã trở thành, hay trở lại thành, thông qua sự đồng hóa đúng đắn, linh hồn, Tinh thần. Sau khi đã trở lại thành điều mà mình vốn luôn là, thực tại bên trong ấy tuôn trào thành biểu hiện. Sự biểu lộ như thế không gượng tạo. |
|
Neophytes and aspirants have “touched” that for which the Christ stood, and have then attempted to impose their comprehension of that which they contacted upon the rest of the world. |
Những người sơ cơ và người chí nguyện đã “chạm” đến điều mà Đức Christ đại diện, rồi sau đó cố áp đặt sự lĩnh hội của họ về điều họ đã tiếp xúc lên phần còn lại của thế giới. |
|
157. “A little knowledge is a dangerous thing.” A “touch” is highly motivating but does not represent completed transformation. |
157. “Một chút tri thức là điều nguy hiểm.” Một “tiếp xúc” có sức thúc đẩy rất lớn, nhưng không biểu thị sự chuyển đổi đã hoàn tất. |
|
158. The little mind is a fearful tyrant impelled by the personal will. It is the mind of the theologian frightened by the wider truth which appear to him chaotic—to great to grasp. The wide sweep of truth is banished in petty formulations. |
158. Cái trí nhỏ bé là một bạo chúa đáng sợ, bị thôi thúc bởi ý chí cá nhân. Đó là thể trí của nhà thần học, kinh sợ trước chân lý rộng lớn hơn, vốn hiện ra đối với y như hỗn loạn—quá lớn để nắm bắt. Tầm bao quát rộng lớn của chân lý bị xua đuổi trong những công thức nhỏ nhen. |
|
Knowers, disciples and initiates express that which He represented (love-wisdom). |
Các thức giả, đệ tử và điểm đạo đồ biểu lộ điều mà Ngài đại diện, tức Bác Ái – Minh Triết. |
|
159. We are called upon the express love-wisdom. Our mental formulations of love-wisdom are of very little value. |
159. Chúng ta được kêu gọi biểu lộ Bác Ái – Minh Triết. Những định thức trí tuệ của chúng ta về Bác Ái – Minh Triết có rất ít giá trị. |
|
This they do automatically and by force of habit, first in themselves and finally by a definitely planned creative activity in the outer world. |
Điều này, họ thực hiện một cách tự động và do sức mạnh của thói quen, trước hết trong chính họ và sau cùng bằng một hoạt động sáng tạo được hoạch định rõ ràng trong thế giới bên ngoài. |
|
160. First we must become love-wisdom. Its quality must pervade our nature. Then we can augment is natural radiant expression through “a definitely planned creative activity in the outer world”. |
160. Trước hết chúng ta phải trở thành Bác Ái – Minh Triết. Phẩm tính của nó phải thấm nhuần bản chất chúng ta. Khi đó chúng ta có thể tăng cường sự biểu lộ tự nhiên, tỏa chiếu của nó thông qua “một hoạt động sáng tạo được hoạch định rõ ràng trong thế giới bên ngoài”. |
|
161. If, however, we are not inwardly animated by love-wisdom, no amount of outward planning will bring it forward into creative expression. |
161. Tuy nhiên, nếu bên trong chúng ta không được Bác Ái – Minh Triết làm sinh động, thì không một mức độ hoạch định bên ngoài nào có thể đưa nó ra thành biểu hiện sáng tạo. |
|
Therefore, my brothers, there lies ahead of all true aspirants an intermediate stage of decentralisation, of automatic spiritual living and of absorption into the Hierarchy [Page 297] through the medium of an Ashram; |
Các huynh đệ của Tôi, do đó, phía trước mọi người chí nguyện chân chính có một giai đoạn trung gian của phi tập trung vào bản thân, của đời sống tinh thần tự động và của sự hấp thụ vào Thánh Đoàn [Page 297] thông qua trung gian của một ashram; |
|
162. Before we can Express the quality of the Ashram as we should, the following intermediate stages must be achieved: |
162. Trước khi chúng ta có thể Biểu Lộ phẩm tính của ashram như chúng ta phải làm, các giai đoạn trung gian sau đây phải được đạt tới: |
|
a. The stage of decentralization. This calls for a change in identification. |
a. Giai đoạn phi tập trung vào bản thân. Điều này đòi hỏi một sự thay đổi trong đồng hóa. |
|
b. The stage of automatic spiritual living. That which we are becoming radiates from us and through us without plan and calculation |
b. Giai đoạn đời sống tinh thần tự động. Điều mà chúng ta đang trở thành tỏa chiếu từ chúng ta và qua chúng ta mà không có kế hoạch hay tính toán |
|
c. The stage of absorption into the Hierarchy through the medium of an Ashram. We must become true members of an Ashram and become absorbed, in fact, into the Spiritual Hierarchy of our planet. |
c. Giai đoạn hấp thụ vào Thánh Đoàn thông qua trung gian của một ashram. Chúng ta phải trở thành những thành viên chân chính của một ashram và được hấp thụ, trong thực tế, vào Huyền Giai Tinh Thần của hành tinh chúng ta. |
|
163. These are the requirements of one who is truly to Express the purposes, plans and quality of the Ashram. |
163. Đây là những yêu cầu đối với người thật sự phải Biểu Lộ các mục đích, kế hoạch và phẩm tính của ashram. |
|
therein the Plan can be learnt. |
chính trong đó Thiên Cơ có thể được học biết. |
|
164. One does not enter the Ashram knowing the Plan in its entirety. The Ashram as a point of spiritual tension on the higher planes, is an effective school for the intuitive grasp of the Plan. |
164. Người ta không bước vào ashram khi đã biết toàn bộ Thiên Cơ. Ashram, như một điểm tập trung nhất tâm tinh thần trên các cõi cao, là một trường học hữu hiệu để nắm bắt Thiên Cơ bằng trực giác. |
|
When this phase of development is completed the disciple can then begin to work creatively in line with hierarchical activity. |
Khi giai đoạn phát triển này hoàn tất, đệ tử bấy giờ có thể bắt đầu hoạt động sáng tạo phù hợp với hoạt động Thánh Đoàn. |
|
165. DK is stating the requirements clearly. There is much to do before one can effectively and creatively Express ashramic intent. |
165. Chân sư DK đang nêu rõ các yêu cầu. Còn nhiều việc phải làm trước khi người ta có thể Biểu Lộ ý định ashram một cách hữu hiệu và sáng tạo. |
|
166. Those who aspire to the fulfillment of the injunction, Express, have much preparatory work to accomplish. |
166. Những ai khát vọng hoàn thành huấn lệnh Biểu Lộ có nhiều công việc chuẩn bị phải hoàn tất. |
|
As we consider the next word on our list, we must hold in our minds what we have discussed anent the words Touch and Express. |
Khi xem xét từ kế tiếp trong danh sách, chúng ta phải giữ trong trí những gì chúng ta đã bàn liên quan đến các từ Chạm và Biểu Lộ. |
|
167. Understanding depends upon assimilation of the previous two qualities. |
167. Sự thấu hiểu tùy thuộc vào việc đồng hóa hai phẩm tính trước đó. |
|
It might be said that the words which are given to aspirants and applicants are the seed or germ of the concepts indicated in the words for initiates and disciples. |
Có thể nói rằng những từ được trao cho người chí nguyện và ứng viên là hạt giống hay mầm của các khái niệm được chỉ ra trong các từ dành cho điểm đạo đồ và đệ tử. |
|
168. We cannot study only the more advanced words. We surely have to assimilate and apply the earlier ones. |
168. Chúng ta không thể chỉ nghiên cứu những từ cao cấp hơn. Chắc chắn chúng ta phải đồng hóa và áp dụng những từ trước đó. |
|
169. Each of us should ponder the relation existing between the word for applicants and the word for disciples and initiates. Can we create a bridge of understanding between the two? |
169. Mỗi chúng ta nên suy ngẫm về mối quan hệ hiện hữu giữa từ dành cho ứng viên và từ dành cho đệ tử cùng điểm đạo đồ. Liệu chúng ta có thể tạo một cây cầu thấu hiểu giữa hai từ ấy không? |
|
170. With respect to the present instance, the two words are: Touch and Express. |
170. Đối với trường hợp hiện tại, hai từ ấy là: Chạm và Biểu Lộ. |
|
Until the earlier significances are mastered in the earlier phases of discipleship, the later illumined service—based upon the later words—is not possible. |
Cho đến khi các thâm nghĩa trước đó được làm chủ trong những giai đoạn đầu của địa vị đệ tử, sự phụng sự được soi sáng về sau—dựa trên những từ về sau—là điều không thể. |
|
171. This is clearly stated. We are building ourselves for effective expression of ashramic intent. Is our foundation solid? |
171. Điều này được nêu rõ ràng. Chúng ta đang xây dựng chính mình để biểu đạt hữu hiệu ý định của ashram. Nền tảng của chúng ta có vững chắc không? |
|
Always in the fresh attitude to the developing esoteric understanding of the initiate there is implicit the fact of transition from individual self-interest to a universal state of consciousness; |
Luôn luôn trong thái độ mới mẻ đối với sự thấu hiểu huyền bí đang phát triển của điểm đạo đồ đã hàm chứa sự kiện chuyển tiếp từ lợi ích cá nhân sang một trạng thái tâm thức phổ quát; |
|
172. “Lead us from the individual to the Universal”. (DINA II 321) |
172. “Hãy dẫn chúng con từ cá nhân đến Phổ Quát”. (DINA II 321) |
|
173. We note that understanding, per se, is insufficient. The initiate is to posses “esoteric understanding”. This means that he has become an ‘understanding soul’. |
173. Chúng ta lưu ý rằng chính sự thấu hiểu thôi thì chưa đủ. Điểm đạo đồ phải sở hữu “huyền bí thấu hiểu”. Điều này có nghĩa là y đã trở thành một “linh hồn thấu hiểu”. |
|
174. What vestiges of “individual self-interest” still remain within our consciousness? To what degree have we achieved a “universal state of consciousness”? This is the goal of initiates in the Age of Aquarius—Aquarius, the sign of universality. |
174. Những tàn dư nào của “lợi ích cá nhân” vẫn còn trong tâm thức chúng ta? Chúng ta đã đạt đến “trạng thái tâm thức phổ quát” ở mức độ nào? Đây là mục tiêu của các điểm đạo đồ trong Kỷ nguyên Bảo Bình—Bảo Bình, dấu hiệu của tính phổ quát. |
|
this in time becomes the directing agent for individualised service—as rendered by the individual disciple upon the physical plane. |
điều này theo thời gian trở thành tác nhân chỉ đạo cho sự phụng sự được cá thể hóa—như được thực hiện bởi đệ tử cá nhân trên cõi hồng trần. |
|
175. Apprehension of the universal directs individual application. Consciousness is rooted in the universal but, as well, focused with practicality upon the particular. |
175. Sự lĩnh hội điều phổ quát chỉ đạo việc áp dụng cá nhân. Tâm thức bén rễ trong điều phổ quát, nhưng đồng thời cũng tập trung một cách thực tiễn vào điều đặc thù. |
|
The fusion of the two attitudes—inclusive realisation and specialised service—renders the task of the initiate peculiarly difficult. |
Sự dung hợp của hai thái độ—sự chứng nghiệm bao gồm và sự phụng sự chuyên biệt—khiến nhiệm vụ của điểm đạo đồ trở nên đặc biệt khó khăn. |
|
176. This is the stage of consciousness and the type of orientation which members of the Hierarchy have achieved. One can often do one or the other, but the successful combination of both is rare amongdisciples. |
176. Đây là giai đoạn tâm thức và kiểu định hướng mà các thành viên của Thánh Đoàn đã đạt được. Người ta thường có thể làm điều này hoặc điều kia, nhưng sự kết hợp thành công cả hai thì hiếm giữa các đệ tử. |
|
177. We might say that the initiate has to sustain “Inclusive Reason” and “Presented Attributes” simultaneously. This calls for the simultaneous union of second ray and third ray attitudes. |
177. Chúng ta có thể nói rằng điểm đạo đồ phải đồng thời duy trì “lý trí bao gồm” và “Các Thuộc Tính Được Trình Bày”. Điều này đòi hỏi sự hợp nhất đồng thời của các thái độ cung hai và cung ba. |
|
178. It is something we must constantly practice—holding the wholeness while performing one’s part. |
178. Đó là điều chúng ta phải thường xuyên thực hành—giữ lấy toàn thể trong khi thực hiện phần việc |
|
He has to hold two attitudes simultaneously, whilst at the same time subjecting himself to the training required in order to enable him to take his next step forward upon the Path. |
Y phải đồng thời giữ hai thái độ, trong khi cùng lúc tự đặt mình dưới sự huấn luyện cần thiết để giúp y có thể tiến bước kế tiếp trên Đường Đạo. |
|
179. The requirements are clear even if difficult of attainment. |
179. Các yêu cầu đã rõ ràng, dù khó đạt được. |
|
It is only whilst this condition persists that the initiate has any sense of triplicity. This is an important point to note. |
Chỉ trong khi tình trạng này còn tiếp diễn, điểm đạo đồ mới có bất kỳ ý thức nào về bộ ba. Đây là một điểm quan trọng cần lưu ý. |
|
180. The disciple is a point standing between the realization of the universal and the application of the particular. Thus, the triplicity. |
180. Đệ tử là một điểm đứng giữa sự chứng nghiệm điều phổ quát và việc áp dụng điều đặc thù. Do đó, có bộ ba. |
|
181. When identity merges fully into the universal, only a duality remains. The circle with the point at the center. One can be, then, both universal and particular at will. In fact, one is always both—effectively. |
181. Khi bản sắc hòa nhập trọn vẹn vào điều phổ quát, chỉ còn lại một nhị nguyên. Vòng tròn với điểm ở trung tâm. Khi ấy, người ta có thể vừa là phổ quát vừa là đặc thù theo ý muốn. Thật ra, người ta luôn luôn là cả hai—một cách hữu hiệu. |
|
Bear this in mind as we discuss our next two words: See and Reveal. |
Hãy ghi nhớ điều này khi chúng ta bàn về hai từ kế tiếp: Thấy và Mặc Khải. |
|
182. We go forward into the sense of sight and its esoteric extensions. |
182. Chúng ta tiến tới ý thức thị giác và các mở rộng huyền bí của nó. |
|
Part III of V, R&I (297-305) |
Phần III trong V, R&I (297-305) |
|
(All Highlighting, Bolding and Underlining—MDR) |
(Tất cả phần Tô sáng, In đậm và Gạch dưới—MDR) |
|
Please read this Commentary with your book open or with reference to an electronic copy of the text. This will facilitate an appreciation of continuity. |
Xin đọc Bài Bình Giảng này với sách của bạn mở sẵn hoặc tham chiếu một bản điện tử của văn bản. Điều này sẽ giúp dễ cảm nhận tính liên tục. |
|
3. Reveal. |
3. Mặc Khải. |
|
1. This is the injunction or Word of Power which pertains to the third initiation. |
1. Đây là huấn lệnh hay Quyền năng từ liên quan đến lần điểm đạo thứ ba. |
|
The objective of the strictly human evolution in this planetary cycle is sight, culminating in that spiritual perception which is the major gift of the soul to the personality when contact is made; |
Mục tiêu của sự tiến hóa nhân loại thuần túy trong chu kỳ hành tinh này là thị giác, đạt đến đỉnh cao trong tri giác tinh thần vốn là tặng phẩm chính yếu của linh hồn dành cho phàm ngã khi sự tiếp xúc được thiết lập; |
|
2. The goal of our Planetary Logos is a great increase of light: |
2. Mục tiêu của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta là sự gia tăng ánh sáng vĩ đại: |
|
It must ever be borne in mind that the great theme of LIGHT underlies our entire planetary purpose. The full expression of perfect LIGHT, occultly understood, is the engrossing life-purpose of our planetary Logos. Light is the great and obsessing enterprise in the three worlds of human evolution; everywhere men rate the light of the sun as essential to healthy living; some idea of the human urge to light can be grasped if you consider the brilliance of the physically engendered light in which we live when night arrives, and compare it with the mode of lighting the streets and homes of the world prior to the discovery of gas, and later of electricity. The light of knowledge, as the reward of educational processes, is the incentive behind all our great schools of learning in every country in the world and is the goal of much of our world organisation; the terminology of light controls even our computation of time. The mystery of electricity is unfolding gradually before our rapt eyes and the electrical nature of man is being slowly proven and will later demonstrate that, throughout the human structure and form, man is composed primarily of light atoms, and that the light in the head (so familiar to esotericists) is no fiction or figment of wishful thinking or of a hallucinated imagination, but is definitely brought about by the junction or fusion of the light inherent in substance itself and the light of the soul. (R&I 142-143) |
Cần luôn ghi nhớ rằng chủ đề lớn lao về ÁNH SÁNG nằm bên dưới toàn bộ mục đích hành tinh của chúng ta. Sự biểu đạt trọn vẹn của ÁNH SÁNG hoàn hảo, được hiểu một cách huyền bí, là mục đích sống cuốn hút trọn vẹn của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta. Ánh sáng là sự nghiệp lớn lao và ám ảnh trong ba cõi thấp của sự tiến hóa nhân loại; khắp nơi, con người xem ánh sáng mặt trời là thiết yếu cho đời sống lành mạnh; có thể nắm được phần nào thôi thúc của nhân loại hướng về ánh sáng nếu bạn xét đến độ rực rỡ của ánh sáng do hồng trần tạo ra mà chúng ta sống trong đó khi đêm xuống, rồi so sánh với phương thức chiếu sáng đường phố và nhà cửa của thế giới trước khi khí đốt, và về sau là điện, được khám phá. Ánh sáng của tri thức, như phần thưởng của các tiến trình giáo dục, là động lực phía sau mọi trường học lớn của chúng ta tại mọi quốc gia trên thế giới và là mục tiêu của nhiều tổ chức thế giới của chúng ta; thuật ngữ về ánh sáng thậm chí chi phối cả cách chúng ta tính thời gian. Bí nhiệm của điện đang dần dần khai mở trước đôi mắt say mê của chúng ta, và bản chất điện của con người đang từ từ được chứng minh; về sau nó sẽ cho thấy rằng, xuyên suốt cấu trúc và hình tướng nhân loại, con người chủ yếu được cấu thành bởi các nguyên tử ánh sáng, và ánh sáng trong đầu (rất quen thuộc với các nhà bí truyền học) không phải là chuyện hư cấu hay sản phẩm của tư duy ước vọng hoặc của một sự tưởng tượng bị ảo giác, mà chắc chắn được tạo nên bởi sự nối kết hay sự dung hợp của ánh sáng vốn có trong chính chất liệu và ánh sáng của linh hồn. (R&I 142-143) |
|
3. The soul is light as well as love. |
3. Linh hồn là ánh sáng cũng như tình thương. |
|
4. We are moving through the Aryan Race, the purpose of which is the cultivation of mind with its sensory corollary, sight. |
4. Chúng ta đang đi qua Nhân loại Arya, mục đích của nó là vun trồng thể trí cùng hệ quả giác quan của nó, thị giác. |
|
5. Light, sight, mind and the Aryan Rootrace are all correlated. |
5. Ánh sáng, thị giác, thể trí và Giống dân gốc Arya đều tương liên với nhau. |
|
this conveys the sense of attractive love, indicates the nature of things, reveals the world of meaning, and gives the great gift of light, knowledge and ultimate illumination. |
điều này truyền đạt ý thức về tình thương hấp dẫn, chỉ ra bản chất của sự vật, mặc khải Thế giới của ý nghĩa, và ban tặng tặng phẩm lớn lao là ánh sáng, tri thức và sự soi sáng tối hậu. |
|
6. Let us tabulate that which accompanies “spiritual perception” when correct contact is made by the personality with the soul: |
6. Chúng ta hãy lập bảng những gì đi kèm với “tri giác tinh thần” khi phàm ngã thiết lập sự tiếp xúc đúng đắn với linh hồn: |
|
a. Spiritual perception is the major gift of this contact |
a. Tri giác tinh thần là tặng phẩm chính yếu của sự tiếp xúc này |
|
b. Spiritual perception conveys the sense of attractive love |
b. Tri giác tinh thần truyền đạt ý thức về tình thương hấp dẫn |
|
c. Spiritual perception indicates the nature of things |
c. Tri giác tinh thần chỉ ra bản chất của sự vật |
|
d. Spiritual perception reveals the world of meaning |
d. Tri giác tinh thần mặc khải Thế giới của ý nghĩa |
|
e. Spiritual perception gives the great gift of light, knowledge and ultimate illumination |
e. Tri giác tinh thần ban tặng tặng phẩm lớn lao là ánh sáng, tri thức và sự soi sáng tối hậu |
|
7. Throughout the ages, the great quest of the spiritual human being has been enlightenment. Even the average human being has sought the light (the light of greater knowledge) without realizing the deep spiritual import of his quest. |
7. Qua các thời đại, cuộc tìm kiếm lớn lao của con người tinh thần là sự giác ngộ. Ngay cả con người bình thường cũng đã tìm kiếm ánh sáng (ánh sáng của tri thức lớn hơn) mà không nhận ra ý nghĩa tinh thần sâu xa của cuộc tìm kiếm ấy. |
|
Such are the goals for the mystic, the aspirant and the pledged disciple. |
Đó là các mục tiêu dành cho nhà thần bí, người chí nguyện và đệ tử đã phát nguyện. |
|
8. DK only goes so far. He speak of the goal for the pledged disciple but not of the goal of for the initiate. |
8. Chân sư DK chỉ đi đến mức ấy. Ngài nói về mục tiêu dành cho đệ tử đã phát nguyện, nhưng không nói về mục tiêu dành cho điểm đạo đồ. |
|
The greatest physical gift is that of sight, and it is the same upon a higher turn of the spiral within the world of the soul. |
Tặng phẩm hồng trần lớn nhất là thị giác, và điều này cũng như vậy trên một vòng xoắn cao hơn bên trong thế giới của linh hồn. |
|
9. The revelation of ever-greater light is possible. |
9. Sự mặc khải ánh sáng ngày càng lớn hơn là điều có thể. |
|
When the disciple has achieved a measure of vision and is “in sight” of his goal, he [Page 298] can then be admitted to an Ashram wherein the nature of revelation can be made known to him. |
Khi đệ tử đã đạt được một mức độ tầm nhìn và “trông thấy” mục tiêu của mình, y [Page 298] khi ấy có thể được nhận vào một Ashram trong đó bản chất của sự mặc khải có thể được làm cho y biết đến. |
|
10. DK is distinguishing that which is revealed to the mystic, the aspirant, the pledged disciple (when they contact the soul) from the revelation which is accorded to the disciple who can enter the Ashram. |
10. Chân sư DK đang phân biệt điều được mặc khải cho nhà thần bí, người chí nguyện, đệ tử đã phát nguyện (khi họ tiếp xúc với linh hồn) với sự mặc khải được ban cho đệ tử có thể bước vào Ashram. |
|
11. We see that one is not admitted to the Ashram unless a certain amount of vision has been achieved. One must be “in sight” of one’s goal in order to be admitted. |
11. Chúng ta thấy rằng người ta không được nhận vào Ashram trừ khi đã đạt được một mức độ tầm nhìn nhất định. Người ta phải “trông thấy” mục tiêu của mình để được nhận vào. |
|
12. What is our goal? What is your goal? Of what goal do you think you may be “in sight”? This will tell something about your potential relationship to the Ashram. |
12. Mục tiêu của chúng ta là gì? Mục tiêu của bạn là gì? Bạn nghĩ mình có thể đang “trông thấy” mục tiêu nào? Điều này sẽ cho biết đôi điều về mối liên hệ tiềm tàng của bạn với Ashram. |
|
Men are apt to confuse vision and revelation, and I seek to clarify your minds somewhat on this matter; |
Con người thường có khuynh hướng nhầm lẫn tầm nhìn và sự mặc khải, và tôi tìm cách làm sáng tỏ phần nào thể trí của các bạn về vấn đề này; |
|
13. This is a major clarification. A vision (which every aspirant or probationary disciple must have) is not yet the revelation which the intuition will disclose and which the Ashram will nurture. |
13. Đây là một sự làm sáng tỏ chính yếu. Một tầm nhìn (mà mọi người chí nguyện hay đệ tử dự bị đều phải có) vẫn chưa phải là sự mặc khải mà trực giác sẽ khai lộ và Ashram sẽ nuôi dưỡng. |
|
therefore, the preceding sentence is of major importance. Aspirants are prone to think that the goal towards which they move is that of soul contact, with a secondary goal of hierarchical position, and a third goal of service. This, however, is not correct. |
do đó, câu trước có tầm quan trọng chính yếu. Những người chí nguyện có khuynh hướng nghĩ rằng mục tiêu mà họ đang tiến tới là sự tiếp xúc với linh hồn, với một mục tiêu thứ yếu là địa vị trong Thánh Đoàn, và mục tiêu thứ ba là phụng sự. Tuy nhiên, điều này không đúng. |
|
14. Let us tabulate the how the aspirant views the series of goals lying before them: |
14. Chúng ta hãy lập bảng cách người chí nguyện nhìn chuỗi mục tiêu nằm trước họ: |
|
a. The initial goal of soul contact |
a. Mục tiêu ban đầu là tiếp xúc với linh hồn |
|
b. The secondary goal of hierarchical position |
b. Mục tiêu thứ yếu là địa vị trong Thánh Đoàn |
|
c. Following upon this, the goal of service |
c. Tiếp theo đó, mục tiêu phụng sự |
|
15. There is something a bit ego-centric (in the lower sense) about these goals. Note that service comes only last. |
15. Có điều gì đó hơi quy ngã (theo nghĩa thấp) trong các mục tiêu này. Hãy lưu ý rằng phụng sự chỉ đến sau cùng. |
|
16. As commonly held as these goals may be, DK tells us they are not really correct. We see that, really, if the aspirant intends to move forward into the stage of true discipleship, the goals set for him (shall we say, “by his soul”) are as follows, as indicated in the text below. |
16. Dù các mục tiêu này có thể được chấp nhận phổ biến đến đâu, Chân sư DK cho chúng ta biết rằng chúng thật ra không đúng. Chúng ta thấy rằng, thực sự, nếu người chí nguyện dự định tiến tới giai đoạn địa vị đệ tử đích thực, thì các mục tiêu được đặt ra cho y (có thể nói là “bởi linh hồn của y”) như sau, như được chỉ ra trong văn bản bên dưới. |
|
a. The consciousness of non-separateness and the recognition of universal inclusiveness |
a. Tâm thức bất phân ly và sự nhận biết tính bao gồm phổ quát |
|
b. The ability to reveal the nature of that reality, that Unity |
b. Khả năng mặc khải bản chất của thực tại ấy, của Tính Hợp Nhất ấy |
|
c. The ability to facilitate man’s apprehension of these fundamentals |
c. Khả năng tạo điều kiện thuận lợi cho nhân loại lĩnh hội các nền tảng này |
|
17. The third point, point “c.” is of very great importance. |
17. Điểm thứ ba, điểm “c.”, có tầm quan trọng rất lớn. |
|
The goal ahead of the aspirant is the consciousness of non-separateness and the recognition of a universal inclusiveness; the secondary goal is the ability to reveal the nature of that reality, Unity; the third goal is the ability to take those measures in the three worlds which will facilitate mankind’s apprehension of these fundamentals. |
Mục tiêu phía trước người chí nguyện là tâm thức bất phân ly và sự nhận biết một tính bao gồm phổ quát; mục tiêu thứ yếu là khả năng mặc khải bản chất của thực tại ấy, Tính Hợp Nhất; mục tiêu thứ ba là khả năng thực hiện những biện pháp trong ba cõi thấp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhân loại lĩnh hội các nền tảng này. |
|
18. If we think carefully, we shall see that only the disciple or initiate who has achieved some measure of triadal consciousness will be able to achieve these goals. |
18. Nếu suy nghĩ cẩn thận, chúng ta sẽ thấy rằng chỉ đệ tử hay điểm đạo đồ đã đạt được một mức độ tâm thức tam nguyên nào đó mới có thể đạt được các mục tiêu này. |
|
You will note how this last definition of the goal removes inevitably the factor of self-interest in its entirety. |
Các bạn sẽ lưu ý cách định nghĩa sau cùng này về mục tiêu tất yếu loại bỏ toàn bộ yếu tố lợi ích cá nhân. |
|
19. We can certainly observe this to be the case. The implication is interesting—namely, that individual self-interest is still present in those who have contacted the soul. The soul on the higher mental plane is, after all, the individual center, i.e., the center of individuality. |
19. Chúng ta chắc chắn có thể quan sát thấy điều này là đúng. Hàm ý ở đây thật thú vị—tức là, lợi ích cá nhân vẫn còn hiện diện nơi những người đã tiếp xúc với linh hồn. Xét cho cùng, linh hồn trên Cõi thượng trí là trung tâm cá nhân, tức là trung tâm của cá tính. |
|
20. The quality of individuality as the soul experiences it on the higher mental plane has been transcended in triadal realms. Individuality, per se, is always present. The Universal Logos is anIndividual. Whenever a Cosmos exists the greatest of all Individuals exists. |
20. Phẩm tính của cá tính như linh hồn trải nghiệm nó trên Cõi thượng trí đã được siêu vượt trong các cõi của Tam Nguyên. Chính cá tính thì luôn luôn hiện diện. Thượng đế Vũ Trụ là mộtCá Thể. Bất cứ khi nào một Vũ Trụ hiện hữu, Cá Thể vĩ đại nhất trong tất cả đều hiện hữu. |
|
21. But, from a practical perspective, there is a type of limited individuality which every initiate must transcend. The ability to polarize awareness within the spiritual triad indicates that this transcendence has been achieved. |
21. Nhưng, từ một viễn cảnh thực tiễn, có một loại cá tính giới hạn mà mọi điểm đạo đồ đều phải siêu vượt. Khả năng phân cực sự nhận thức trong Tam Nguyên Tinh Thần cho thấy rằng sự siêu vượt này đã đạt được. |
|
It might therefore be said that revelation concerns Oneness and nothing else. |
Vì vậy, có thể nói rằng sự mặc khải liên quan đến Tính Nhất Thể và không gì khác. |
|
22. Here is a powerful statement, and one that illustrates that the nature of the injunction “Reveal” concerns the third initiation, for at that initiation, Oneness is realized in a sustained manner. |
22. Đây là một phát biểu mạnh mẽ, và là phát biểu minh họa rằng bản chất của huấn lệnh “Mặc Khải” liên quan đến lần điểm đạo thứ ba, vì tại lần điểm đạo ấy, Tính Nhất Thể được chứng nghiệm theo một cách bền vững. |
|
The practical nature of this truth is only recognised when the disciple attempts to do two things: to realise it individually, and to bring the nature of planetary unity and of non-separateness to the minds and into the lives of men everywhere. |
Tính chất thực tiễn của chân lý này chỉ được nhận ra khi đệ tử cố gắng làm hai việc: nhận biết nó một cách cá nhân, và đưa bản chất của sự hợp nhất hành tinh cùng tính bất phân ly vào trí tuệ và đời sống của con người ở khắp nơi. |
|
23. It is possible to realize Oneness vaguely, apparently, but it is also possible to recognize it practically. |
23. Có thể nhận biết Tính Nhất Thể một cách mơ hồ, bề ngoài, nhưng cũng có thể nhận ra nó một cách thực tiễn. |
|
24. That the realization of Oneness is truly a practical realization arises only when— |
24. Việc nhận biết Tính Nhất Thể thật sự là một nhận biết thực tiễn chỉ phát sinh khi— |
|
a. The disciple has realized in individually. He has moved far beyond the theory of Oneness into the definite and sustained experience of Oneness |
a. Đệ tử đã nhận biết nó một cách cá nhân. Y đã vượt xa lý thuyết về Tính Nhất Thể để đi vào kinh nghiệm xác định và bền vững về Tính Nhất Thể |
|
b. He has carried his realization of Oneness, or planetary unity, of non-separateness into the minds and lives of men everywhere. When they think of him, they think of Oneness, for everything he is and does gives testimony to it. |
b. Y đã đưa sự nhận biết của mình về Tính Nhất Thể, hay sự hợp nhất hành tinh, về tính bất phân ly, vào trí tuệ và đời sống của con người ở khắp nơi. Khi họ nghĩ đến y, họ nghĩ đến Tính Nhất Thể, vì mọi điều y là và làm đều làm chứng cho điều đó. |
|
The work of the aspirant is to see the light; only when this has become a fact in his consciousness can he begin to grasp the hidden revelation which that contacted and utilised light can reveal. Here is another key sentence for your consideration. |
Công việc của người chí nguyện là thấy ánh sáng; chỉ khi điều này đã trở thành một sự kiện trong tâm thức của y, y mới có thể bắt đầu nắm bắt sự mặc khải ẩn tàng mà ánh sáng đã được tiếp xúc và được sử dụng ấy có thể tiết lộ. Đây là một câu then chốt khác để các bạn suy xét. |
|
25. The light to be seen may be revealed by the mind as the light of understanding, but DK may also mean “light phenomenal”. |
25. Ánh sáng cần được thấy có thể được thể trí mặc khải như ánh sáng của sự thấu hiểu, nhưng Chân sư DK cũng có thể muốn nói đến “ánh sáng hiện tượng”. |
|
26. The revelation (we come to understand) is more deeply hidden than the light. The light, contacted, is an instrument with which to pursue revelation. |
26. Sự mặc khải, như chúng ta dần thấu hiểu, ẩn sâu hơn ánh sáng. Ánh sáng, khi đã được tiếp xúc, là một khí cụ để theo đuổi sự mặc khải. |
|
27. Do we know when we have contacted the light of the soul? |
27. Chúng ta có biết khi nào mình đã tiếp xúc với ánh sáng của linh hồn không? |
|
28. Having contacted that light, do we know how to use it to pursue revelation? Can we direct the light towards disclosure of that which is still more deeply esoteric, more deeply recessed? |
28. Sau khi đã tiếp xúc với ánh sáng ấy, chúng ta có biết cách dùng nó để theo đuổi sự mặc khải không? Chúng ta có thể hướng ánh sáng ấy về phía việc khai mở điều vẫn còn huyền bí sâu xa hơn, ẩn sâu hơn không? |
|
29. The soul-infused mind can be used as an instrument to ‘reveal’ revelation. |
29. Thể trí được linh hồn thấm nhuần có thể được dùng như một khí cụ để “mặc khải” sự mặc khải. |
|
With the theme of light, of vision, and of illumination, I seek not here to deal. I have covered these subjects at length in the books which I have written, and they have also constituted the earnest search of the mystics of all time; and also the Scriptures and the literature of all nations give much information. |
Với chủ đề ánh sáng, tầm nhìn và sự soi sáng, ở đây Tôi không tìm cách bàn đến. Tôi đã trình bày rộng rãi các chủ đề này trong những sách Tôi đã viết, và chúng cũng đã cấu thành cuộc tìm kiếm tha thiết của các nhà thần bí thuộc mọi thời đại; đồng thời, Kinh sách và văn học của mọi dân tộc cũng cung cấp nhiều thông tin. |
|
30. DK has written for a wide variety of students—for relative beginners as well as initiates who have taken the third initiation. It may be inferred that initiates of the fourth degree and even Masters may gain some hints from certain of His deeply arcane statements. |
30. Chân sư DK đã viết cho rất nhiều loại đạo sinh khác nhau—cho những người tương đối sơ cơ cũng như cho các điểm đạo đồ đã trải qua lần điểm đạo thứ ba. Có thể suy ra rằng các điểm đạo đồ bậc bốn và ngay cả các Chân sư cũng có thể thu nhận vài gợi ý từ một số phát biểu huyền áo sâu xa của Ngài. |
|
31. These is an entire book written in collaboration with AAB, called The Light of the Soul. The books on Esoteric Psychology and A Treatise on White Magic also clearly define the approach to light. |
31. Có cả một quyển sách được viết trong sự hợp tác với AAB, gọi là Ánh Sáng của Linh Hồn. Các sách về Tâm Lý Học Nội Môn và Luận về Chánh Thuật cũng xác định rõ ràng cách tiếp cận ánh sáng. |
|
It is the subject of revelation and the task of the initiate to reveal with which I am concerned. |
Điều Tôi quan tâm là chủ đề mặc khải và nhiệm vụ mặc khải của điểm đạo đồ. |
|
32. In this book, The Rays and the Initiations, Master DK is writing for initiates, and this is especially the case in the final seven of the Fourteen Advanced Rules. |
32. Trong quyển sách này, Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo, Chân sư DK đang viết cho các điểm đạo đồ, và điều này đặc biệt đúng trong bảy quy luật cuối của Mười Bốn Quy Luật Cao Cấp. |
|
The disciple, who represents the Ashram, must reveal to humanity the essential unity underlying all creation. |
Đệ tử, người đại diện cho ashram, phải mặc khải cho nhân loại sự hợp nhất cốt yếu nằm dưới toàn thể sáng tạo. |
|
33. We can understand the psychological clarity which must have been achieved if this is to be possible. A great clearing of non-revelatory thought and emotion and also mayavic habit patterns must have been achieved. |
33. Chúng ta có thể hiểu sự sáng tỏ tâm lý phải được đạt tới nếu điều này muốn trở nên khả hữu. Một cuộc thanh lọc lớn lao đối với tư tưởng và cảm xúc không mang tính mặc khải, cũng như đối với các mô hình thói quen thuộc ảo lực, phải được hoàn thành. |
|
This he does, first of all, by acting like a clear sheet of glass through which all may see the reality of Oneness as it [Page 299] demonstrates in practicing operation. |
Y làm điều này trước hết bằng cách hành động như một tấm kính trong suốt, qua đó tất cả có thể thấy thực tại của Tính Nhất Thể khi nó [Page 299] biểu lộ trong hoạt động thực tiễn. |
|
34. We have a modern word for this state: “transparency”. |
34. Chúng ta có một từ hiện đại cho trạng thái này: “tính trong suốt”. |
|
35. We are also told in the Rules of the Road that the disciple must not wear “a hood, a veil which hides his face from others”. |
35. Chúng ta cũng được dạy trong Các Quy Luật của Đường Đạo rằng đệ tử không được mang “một chiếc mũ trùm, một tấm màn che giấu khuôn mặt của y khỏi người khác”. |
|
36. The concern of such a disciple and a question which he must ask himself—“Am I, as a soul, getting through to others?” “Is that which is revealed through me the Oneness of the true soul (i.e., the spiritual triad), or am I simply conveying to others the many states, energies and forces of my personality?” |
36. Mối quan tâm của một đệ tử như thế và câu hỏi y phải tự hỏi mình là—“Là một linh hồn, tôi có xuyên thấu đến người khác không?” “Điều được mặc khải qua tôi là Tính Nhất Thể của linh hồn chân thật, tức Tam Nguyên Tinh Thần, hay tôi chỉ đang truyền đạt cho người khác nhiều trạng thái, năng lượng và mãnh lực của phàm ngã tôi?” |
|
When he has, through his own life and words, demonstrated his conscious participation in this basic unity, |
Khi y đã, qua chính đời sống và lời nói của mình, chứng minh sự tham dự có ý thức của mình vào sự hợp nhất căn bản này, |
|
37. We see that words, though necessary, are not sufficient. The revelation through life is a much more demanding task. We could call this “revelation through act”. |
37. Chúng ta thấy rằng lời nói, tuy cần thiết, vẫn chưa đủ. Sự mặc khải qua đời sống là một nhiệm vụ đòi hỏi hơn nhiều. Chúng ta có thể gọi đây là “sự mặc khải qua hành động”. |
|
he passes on to practice ashramic methods of making this fundamental truth still more apparent. |
y chuyển sang thực hành các phương pháp ashram nhằm làm cho chân lý căn bản này càng thêm hiển nhiên. |
|
38. So the revelation through the disciple is given to humanity in two principal ways: |
38. Vì vậy, sự mặc khải qua đệ tử được trao cho nhân loại theo hai cách chính: |
|
a. Through individual cultivation of revelatory words and actions |
a. Qua việc cá nhân nuôi dưỡng lời nói và hành động mang tính mặc khải |
|
b. Through sanctioned ashramic methods designed to reveal the unity. As to the nature of these methods, they are probably hinted throughout the books, but it may also be inferred that they are conferred when one is a confirmed member of the Ashram. Some who as accepted disciples are not yet tested and confirmed members of the Ashram, ready for deeper “ashramic intimacy”. |
b. Qua các phương pháp ashram được chuẩn nhận, được thiết kế để mặc khải sự hợp nhất. Về bản chất của những phương pháp này, có lẽ chúng đã được gợi ý xuyên suốt các sách, nhưng cũng có thể suy ra rằng chúng được truyền trao khi một người là thành viên đã được xác nhận của ashram. Một số người, dù là đệ tử được chấp nhận, vẫn chưa phải là những thành viên đã được thử thách và xác nhận của ashram, sẵn sàng cho “sự thân mật ashram” sâu xa hơn. |
|
You can here see why—as a hierarchical technique—we brought to the attention of the general public the fact of the existence of the New Group of World Servers. |
Ở đây các bạn có thể thấy vì sao—như một kỹ thuật của Thánh đoàn—chúng tôi đã đưa sự kiện về sự tồn tại của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đến sự chú ý của công chúng nói chung. |
|
39. DK is writing as one of a number of Masters. |
39. Chân sư DK đang viết với tư cách một trong nhiều Chân sư. |
|
40. It is interesting, is it not, to consider the New Group of World Servers as a “hierarchical technique”? We can see that the New Group of World Servers certainly reveals an underlying Unity. |
40. Thật thú vị, phải không, khi xem Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian như một “kỹ thuật của Thánh đoàn”? Chúng ta có thể thấy rằng Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian chắc chắn mặc khải một Sự Hợp Nhất tiềm ẩn. |
|
They offer a practical expression of an existent unity, based upon oneness of motive, of recognition, of orientation (towards the spiritual world and towards the service of humanity), of methods and of ideas; and all this in spite of the fact that the physical plane relationship is usually non-existent and outer organisation and recognition lack. |
Họ đưa ra một biểu hiện thực tiễn của một sự hợp nhất hiện hữu, dựa trên sự nhất trí về động cơ, về nhận thức, về định hướng đối với thế giới tinh thần và đối với việc phụng sự nhân loại, về phương pháp và về ý tưởng; và tất cả điều này bất chấp sự kiện rằng mối liên hệ trên cõi hồng trần thường không tồn tại, còn tổ chức và sự nhận biết bên ngoài thì thiếu vắng. |
|
41. The outer connections are of the least importance. When we study the Ageless Wisdom, we are studying subjective life, and the usual factors of outer relationship, which seem to be so important to the average individual, are not as important as the inner, esoteric connection. |
41. Những liên hệ bên ngoài có tầm quan trọng thấp nhất. Khi chúng ta học Minh Triết Ngàn Đời, chúng ta đang học đời sống nội tại, và các yếu tố thông thường của mối liên hệ bên ngoài, vốn dường như rất quan trọng đối với cá nhân trung bình, không quan trọng bằng mối liên hệ bên trong, huyền bí. |
|
42. Let us tabulate that which the New Group of World Servers offer and express: |
42. Chúng ta hãy lập bảng những gì Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đưa ra và biểu hiện: |
|
a. They offer a practical expression of an existent unity |
a. Họ đưa ra một biểu hiện thực tiễn của một sự hợp nhất hiện hữu |
|
b. This expression is based upon oneness of motive |
b. Biểu hiện này dựa trên sự nhất trí về động cơ |
|
c. This expression is based upon oneness of recognition |
c. Biểu hiện này dựa trên sự nhất trí về nhận thức |
|
d. This expression is based upon oneness of orientation |
d. Biểu hiện này dựa trên sự nhất trí về định hướng |
|
e. They are oriented towards the spiritual world |
e. Họ hướng về thế giới tinh thần |
|
f. They are oriented towards the service of humanity |
f. Họ hướng về việc phụng sự nhân loại |
|
43. Sometimes, when one views the appearance of the world as it presently exists, one might wonder about the factuality of the existence of this underlying, subjective group, but DK assures us of its existence, and a careful observation of areas where human progress is really occurring will reveal the servers behind such progress. |
43. Đôi khi, khi một người nhìn vào sắc tướng của thế giới như nó đang hiện hữu hiện nay, người ấy có thể tự hỏi về tính xác thực của sự tồn tại của nhóm nội tại tiềm ẩn này, nhưng Chân sư DK bảo đảm với chúng ta về sự tồn tại của nó, và sự quan sát cẩn thận các lĩnh vực nơi tiến bộ nhân loại thật sự đang diễn ra sẽ tiết lộ những người phụng sự đứng sau tiến bộ ấy. |
|
The unity is subjective, and for that reason is impervious to every taint of separateness. |
Sự hợp nhất này là nội tại, và vì lý do đó nó không thể bị bất cứ vết nhơ nào của sự chia rẽ xâm phạm. |
|
44. One could think that the fact that there is usually no outer connection between the servers would be a weakness. This affirms exactly the opposite. Separateness enters often through personal connections. |
44. Người ta có thể nghĩ rằng việc thường không có liên hệ bên ngoài giữa những người phụng sự là một điểm yếu. Điều này khẳng định chính điều ngược lại. Sự chia rẽ thường đi vào qua các mối liên hệ cá nhân. |
|
The inner organisation, to which we have given the name of the New Group of World Servers for the sake of recognition and identification, cannot be broken or in any way diminished, for it isconstructed around a major principle of evolutionary growth which—when attained—indicates a registered consciousness of unity; |
Tổ chức bên trong, mà chúng tôi đã đặt tên là Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian vì mục đích nhận biết và đồng hoá, không thể bị phá vỡ hay bị suy giảm theo bất cứ cách nào, vì nó đượcxây dựng quanh một nguyên khí lớn của sự tăng trưởng thăng thượng tiến hoá vốn—khi đạt được—chỉ ra một tâm thức về sự hợp nhất đã được ghi nhận; |
|
45. The group is called the NGWS simply for the state of recognition. It is important the people know it exists. |
45. Nhóm được gọi là Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian chỉ nhằm mục đích nhận biết. Điều quan trọng là con người biết rằng nhóm ấy tồn tại. |
|
46. What is the “major principle of evolutionary growth” around which it is constructed? DK seems to be saying that it is “a registered consciousness of unity”. |
46. “Nguyên khí lớn của sự tăng trưởng thăng thượng tiến hoá” mà quanh đó nhóm được xây dựng là gì? Chân sư DK dường như đang nói rằng đó là “một tâm thức về sự hợp nhất đã được ghi nhận”. |
|
47. Another way of thinking of this is that there is a “major principle of evolutionary growth” which, at length, induces in consciousness the perception of unity. |
47. Một cách khác để nghĩ về điều này là có một “nguyên khí lớn của sự tăng trưởng thăng thượng tiến hoá”, cuối cùng, khơi dậy trong tâm thức sự nhận thức về sự hợp nhất. |
|
48. True evolutionary growth is growth into realized and expressed Oneness. |
48. Sự tăng trưởng thăng thượng tiến hoá chân thật là sự tăng trưởng vào Tính Nhất Thể đã được nhận biết và biểu hiện. |
|
this is something which, once recorded and known, cannot be lost or disproved. |
đây là điều, một khi đã được ghi nhận và được biết, không thể bị mất đi hay bị bác bỏ. |
|
49. No one who has achieved this consciousness can be convinced to deny it. It is an intuitive apprehension and will not yield to contrary persuasion. |
49. Không ai đã đạt tới tâm thức này có thể bị thuyết phục để phủ nhận nó. Đó là một sự nắm bắt trực giác và sẽ không nhượng bộ trước sự thuyết phục trái ngược. |
|
50. DK says something very interesting here: once this consciousness has been achieved it “cannot be lost”. This is reassuring. It is a bit like the fact that once a human being has achieved self-consciousness, he cannot revert to the non-individualized state—except, perhaps, in the very rarest cases of thorough degeneration when the destruction of all the Monad has created is ordained. |
50. Chân sư DK nói một điều rất thú vị ở đây: một khi tâm thức này đã được đạt tới, nó “không thể bị mất đi”. Điều này đem lại sự an tâm. Nó hơi giống sự kiện rằng một khi một con người đã đạt được ngã thức, y không thể quay trở lại trạng thái chưa biệt ngã hóa—ngoại trừ, có lẽ, trong những trường hợp hiếm hoi nhất của sự thoái hóa triệt để, khi sự hủy diệt tất cả những gì chân thần đã tạo ra được định đoạt. |
|
Once seen and realised, it becomes as much a fact in its possessor’s consciousness as the recognition and utilisation of his own physical body. |
Một khi đã được thấy và được nhận biết, nó trở thành một sự kiện trong tâm thức của người sở hữu nó cũng như sự nhận biết và sử dụng chính thể xác của y. |
|
51. Here we have described the factuality of perceived unity. |
51. Ở đây chúng ta có sự kiện tính của sự hợp nhất được nhận thức. |
|
52. We might pause at this point to question ourselves: “to what extent do we perceive this unity and live in this unity as examples of this unity?” |
52. Chúng ta có thể dừng lại ở điểm này để tự hỏi mình: “chúng ta nhận thức sự hợp nhất này đến mức nào và sống trong sự hợp nhất này như những gương mẫu của sự hợp nhất ấy đến mức nào?” |
|
This he knows to be a complex organism which constitutes a functioning unity through the medium of the life principle; it is an incontrovertible fact in the realisation of the intelligent man. |
Y biết đây là một cơ cấu phức hợp cấu thành một sự hợp nhất đang vận hành thông qua trung gian của nguyên khí sự sống; đó là một sự kiện không thể tranh cãi trong sự nhận biết của con người thông minh. |
|
53. We can see that DK defines the consciousness of the “intelligent man” in a manner far more profound than the usual definition, which speaks only of the normal concrete mind or intellect. |
53. Chúng ta có thể thấy rằng Chân sư DK định nghĩa tâm thức của “con người thông minh” theo một cách sâu sắc hơn nhiều so với định nghĩa thông thường, vốn chỉ nói đến trí cụ thể hay trí năng bình thường. |
|
54. The realization of unity, we see, does not deny complexity. This is something which students of the Wisdom must comprehend. In the state of Isolated Unity the consciousness of Inclusive Reason or Pure Reason also exists. The whole is sensed but so is the detail of that sensed whole—sensed with “meticulous entirety”. |
54. Chúng ta thấy rằng sự nhận biết về hợp nhất không phủ nhận tính phức hợp. Đây là điều mà các đạo sinh của Minh Triết phải thấu hiểu. Trong trạng thái Hợp Nhất Cô Lập, tâm thức của Lý trí Bao gồm hay Lý trí Thuần khiết cũng hiện hữu. Toàn thể được cảm nhận, nhưng chi tiết của toàn thể được cảm nhận ấy cũng vậy—được cảm nhận với “tính toàn vẹn tỉ mỉ”. |
|
When, therefore, sight has been attained and the light streams forth, revelation of the oneness of all life is a simple and immediate occurrence; |
Khi, do đó, thị giác đã đạt được và ánh sáng tuôn trào, sự mặc khải về tính nhất thể của mọi sự sống là một biến cố đơn giản và tức thời; |
|
55. DK seems to be saying that when the true light of the soul is contacted (remembering that the soul is really the Ego which, on triadal levels is a liberated center of spiritual energy), the light pouring forth immediately produces the revelation of oneness. |
55. Chân sư DK dường như đang nói rằng khi ánh sáng chân thật của linh hồn được tiếp xúc, cần nhớ rằng linh hồn thật ra là Chân ngã, trên các cấp độ của Tam nguyên là một trung tâm được giải thoát của năng lượng tinh thần, thì ánh sáng tuôn trào lập tức tạo ra sự mặc khải về Tính Nhất Thể. |
|
56. It is the apprehension of this revelation which hovers, today, above the more advanced members of the human race. It is the revelation of that which always has existed and ever will. |
56. Chính sự nắm bắt sự mặc khải này hôm nay đang lơ lửng phía trên những thành viên tiến bộ hơn của nhân loại. Đó là sự mặc khải về điều đã luôn luôn hiện hữu và sẽ mãi mãi hiện hữu. |
|
it comes first of all to the disciple as a flash of wondrous informative and instinctive realisation and then steadies down, as progress is made, into a constant apprehension and appreciation; it eventually produces the motivating impulse of all action. |
trước hết, nó đến với đệ tử như một tia lóe của sự chứng nghiệm kỳ diệu, khai mở thông tin và mang tính bản năngrồi sau đó, khi tiến bộ được thực hiện, nó trở nên ổn định thành một sự lĩnh hội và trân quý thường hằng; sau cùng, nó tạo ra xung lực thúc đẩy mọi hành động. |
|
57. DK is speaking about the apprehension of enlightenment. In the Zen tradition it is called “Satori”. It seems to be a Uranian, Vulcanian moment—a sudden occurrence with tremendous impact. |
57. Chân sư DK đang nói về sự lĩnh hội giác ngộ. Trong truyền thống Thiền tông, điều này được gọi là “đốn ngộ”. Dường như đó là một khoảnh khắc thuộc Sao Thiên Vương và Vulcan—một sự xảy đến đột ngột với tác động mãnh liệt. |
|
58. It is characterized by: |
58. Nó được đặc trưng bởi: |
|
a. A flash |
a. Một tia lóe |
|
b. The sudden experience of “wondrous informative…realisation” |
b. Kinh nghiệm đột ngột về “sự chứng nghiệm kỳ diệu, khai mở thông tin…” |
|
c. The realization is (spiritually) “instinctive”. |
c. Sự chứng nghiệm ấy, về mặt tinh thần, mang tính “bản năng”. |
|
59. We might remember that the third initiation is base upon what DK calls “intuitive instinct”. |
59. Chúng ta có thể nhớ rằng lần điểm đạo thứ ba được đặt nền trên điều mà Chân sư DK gọi là “bản năng trực giác”. |
|
60. Eventually, we are told, the factors of constant apprehension and appreciation take over as the realization “steadies down”. |
60. Sau cùng, như chúng ta được cho biết, các yếu tố của sự lĩnh hội và trân quý thường hằng sẽ tiếp quản khi sự chứng nghiệm “trở nên ổn định”. |
|
61. Here we are speaking of the use of both Mercury (apprehension) and Venus (appreciation)—both contributing their part to the sustainment of the realization. |
61. Ở đây chúng ta đang nói đến việc sử dụng cả Sao Thủy, tức sự lĩnh hội, và Sao Kim, tức sự trân quý—cả hai đều góp phần duy trì sự chứng nghiệm. |
|
62. It is interesting and important that the perception of Oneness “produces the motivating impulse of all action”. |
62. Thật thú vị và quan trọng khi nhận thấy rằng nhận thức về Tính Nhất Thể “tạo ra xung lực thúc đẩy mọi hành động”. |
|
63. The perception of Oneness, love and pure reason can all be seen as equivalent. Love is the great motivating factor in all spiritual expression, but we see that truly spiritual love is something far more intelligent and inclusive than love as usually conceived. |
63. Nhận thức về Tính Nhất Thể, tình thương và lý trí thuần khiết đều có thể được xem là tương đương. Tình thương là yếu tố thúc đẩy vĩ đại trong mọi biểu hiện tinh thần, nhưng chúng ta thấy rằng tình thương thật sự tinh thần là một điều thông tuệ và bao gồm hơn rất nhiều so với tình thương như thường được quan niệm. |
|
64. The one who perceives this Oneness finds in it the motivating impulse of all action—action taken within the field of perceived Oneness. |
64. Người nhận thức được Tính Nhất Thể này tìm thấy trong đó xung lực thúc đẩy mọi hành động—hành động được thực hiện trong trường của Tính Nhất Thể đã được nhận thức. |
|
What is the immediate revelation which the initiates and the disciples of the world are seeking to bring to humanity? What aspect of this essential unity are they [Page 300] endeavouring to make simple and apparent? |
Sự mặc khải tức thời mà các điểm đạo đồ và các đệ tử của thế giới đang tìm cách mang đến cho nhân loại là gì? Họ đang [Page 300] nỗ lực làm cho phương diện nào của sự hợp nhất thiết yếu này trở nên đơn giản và hiển nhiên? |
|
65. Here DK challenges the tendency to revert to the platitude of Oneness. |
65. Ở đây Chân sư DK thách thức khuynh hướng quay trở lại với sáo ngữ về Tính Nhất Thể. |
|
One of the easiest things in the world to say (as has, for instance, Krishnamurti) is that life is one; that there is nothing but unity. That is a trite formulation of a very ancient truth, |
Một trong những điều dễ nói nhất trên đời, như chẳng hạn Krishnamurti đã nói, là sự sống là một; rằng không có gì ngoài sự hợp nhất. Đó là một công thức sáo mòn của một chân lý rất cổ xưa, |
|
66. Perhaps this is the most ancient of all truths. The religio-philosophical tradition which has most advanced this unitive perspective is Vedanta of India. |
66. Có lẽ đây là chân lý cổ xưa nhất trong mọi chân lý. Truyền thống tôn giáo-triết học đã đẩy xa nhất viễn tượng hợp nhất này là Vedanta của Ấn Độ. |
|
67. It is, perhaps, unusual for the Tibetan to mention with apparent criticism the name of a specific teacher. Apparently, this teacher, Jeddu Krishnamurti was once very close to the Great Ones (to Master K.H. especially). |
67. Có lẽ thật khác thường khi Chân sư Tây Tạng nhắc đến tên một huấn sư cụ thể với vẻ phê phán rõ ràng. Hiển nhiên, huấn sư này, Jiddu Krishnamurti, đã từng rất gần gũi với Các Đấng Cao Cả, đặc biệt là với Chân sư K.H. |
|
and one which is today an occult platitude. |
và ngày nay đã trở thành một sáo ngữ huyền bí. |
|
68. Platitudes may be real enough, but they cannot be understood as real unless they are truly realized and lived. |
68. Các sáo ngữ có thể đủ chân thực, nhưng chúng không thể được thấu hiểu như là chân thực trừ khi chúng thật sự được chứng nghiệm và được sống. |
|
But life is not yet one in consciousness, however true it may be in fact. |
Nhưng sự sống vẫn chưa là một trong tâm thức, dù trong thực tế điều đó có thể là chân lý. |
|
69. DK is emphasizing the difference between sutratma and antahkarana. |
69. Chân sư DK đang nhấn mạnh sự khác biệt giữa sinh mệnh tuyến và antahkarana. |
|
70. A spiritual fact may be, indeed, a fact, but if the fact is unrealized in consciousness, then the statement of the fact is merely the statement of a mental formulation and not backed by realization. |
70. Một sự kiện tinh thần quả thật có thể là một sự kiện, nhưng nếu sự kiện ấy chưa được nhận biết trong tâm thức, thì phát biểu về sự kiện đó chỉ là phát biểu về một công thức trí tuệ, chứ không được hậu thuẫn bởi sự chứng nghiệm. |
|
71. It is doubtful, however, that Master DK thinks that Krishnamurti did not realize the oneness of life. Occult rumor has it the Krishnamurti was in the process of taking the Arhat initiation (from The Initiate in the Dark Cycle). |
71. Tuy nhiên, thật đáng ngờ rằng Chân sư DK lại nghĩ Krishnamurti đã không chứng nghiệm tính nhất thể của sự sống. Theo lời đồn huyền bí, Krishnamurti đang trong tiến trình nhận điểm đạo Arhat, như được nói trong Điểm Đạo Đồ trong Chu Kỳ Hắc Ám. |
|
72. We remember, however, that the initiate is obliged to present necessitous truths in such a way that they can be assimilated by present-day humanity. Apparently, the manner in which Krishnamurti formulated this ancient truth was unsuitable to the modern human mind (though a number of students of Indian Philosophy certainly understood what he was saying). |
72. Tuy nhiên, chúng ta nhớ rằng điểm đạo đồ có bổn phận trình bày những chân lý cấp thiết theo cách để nhân loại ngày nay có thể đồng hóa được. Hiển nhiên, cách Krishnamurti diễn đạt chân lý cổ xưa này không phù hợp với thể trí của nhân loại hiện đại, dù một số đạo sinh triết học Ấn Độ chắc chắn đã hiểu điều ông đang nói. |
|
73. At one point in that book, one of the Masters half jests that Krishnamurti speaks to people “as if they were the Monad”. They are, of course, the Monad, but only rarely do people live in monadic awareness. |
73. Ở một chỗ trong quyển sách ấy, một trong các Chân sư nửa đùa rằng Krishnamurti nói với mọi người “như thể họ là Chân Thần”. Dĩ nhiên, họ là Chân Thần, nhưng con người chỉ hiếm khi sống trong nhận thức chân thần. |
|
The reason for this is that life is loving synthesis in action, and of that there is little today in demonstration. |
Lý do của điều này là sự sống là tổng hợp thương yêu trong hành động, và ngày nay điều đó còn rất ít được biểu lộ. |
|
74. Where there is a demonstration of “loving synthesis in action” then the oneness of life will be more readily realized. |
74. Ở đâu có sự biểu lộ của “tổng hợp thương yêu trong hành động”, thì tính nhất thể của sự sống sẽ được nhận biết dễ dàng hơn. |
|
75. We should take these words, “loving synthesis in action” as a potent seed thought by means of which Oneness can be approached. |
75. Chúng ta nên xem những lời này, “tổng hợp thương yêu trong hành động”, như một tư tưởng hạt giống mãnh liệt, nhờ đó Tính Nhất Thể có thể được tiếp cận. |
|
We have life in activity but love, based on realised unity and leading to expressed synthesis, is still absent. |
Chúng ta có sự sống trong hoạt động nhưng tình thương, đặt nền trên sự hợp nhất được nhận biết và dẫn đến sự tổng hợp được biểu lộ, vẫn còn vắng bóng. |
|
76. DK is essentially telling us that without love, no true synthesis can be expressed. Some have tried to express synthesis without love (the principal Nazis responded negatively to the Shamballic Will Force) but their expression proved a separative failure. |
76. Về bản chất, Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng nếu không có tình thương, không một sự tổng hợp chân thực nào có thể được biểu lộ. Một số người đã cố gắng biểu lộ sự tổng hợp mà không có tình thương, như các nhân vật chủ chốt của Quốc xã đã đáp ứng tiêu cực với Mãnh lực Ý Chí Shamballa, nhưng sự biểu lộ của họ đã chứng tỏ là một thất bại mang tính chia rẽ. |
|
The vision of it is, however, upon the horizon of many, for in these days many are attaining sight and light is pouring in. |
Tuy nhiên, tầm nhìn về điều đó đang hiện ra nơi chân trời của nhiều người, vì trong những ngày này nhiều người đang đạt được thị giác và ánh sáng đang tuôn vào. |
|
77. Although there is little “loving synthesis in action” now to be seen, Master DK is telling us that a vision of this composite quality is in process of development. This suggests that human beings of a certain quality can at least begin to understand what it is if not express it as it should be expressed. |
77. Dù hiện nay còn rất ít “tổng hợp thương yêu trong hành động” có thể được thấy, Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng tầm nhìn về phẩm tính tổng hợp này đang trong tiến trình phát triển. Điều này gợi ý rằng những con người thuộc một phẩm tính nào đó ít nhất có thể bắt đầu thấu hiểu nó là gì, nếu chưa thể biểu lộ nó như nó phải được biểu lộ. |
|
Revelation will come when the world disciples and initiates have perfected the art of revelation. |
Sự mặc khải sẽ đến khi các đệ tử và điểm đạo đồ thế giới đã hoàn thiện nghệ thuật mặc khải. |
|
78. This statement places tremendous responsibility upon the disciples and initiates of the world. Talking about Oneness is not the revelation of Oneness through the soul-infused personality of the speaker. Rather, the disciplines leading to revelation must be mastered so that the “art of revelation” may eventually be perfected. |
78. Phát biểu này đặt một trách nhiệm vô cùng lớn lên các đệ tử và điểm đạo đồ của thế giới. Nói về Tính Nhất Thể không phải là sự mặc khải Tính Nhất Thể qua phàm ngã được linh hồn thấm nhuần của người nói. Trái lại, các kỷ luật dẫn đến sự mặc khải phải được làm chủ, để sau cùng “nghệ thuật mặc khải” có thể được hoàn thiện. |
|
79. We note that DK speaks of the “art” of revelation and not, in this instance, of the science of revelation. When the concept of “art” is involved the buddhic plane is invoked. When the initiate achieves an understanding and expression of buddhi, he is in touch with that faculty which reveals unity. The “art of revelation” is a phrase worth pondering. Certainly part of this art is the achievement of the clear, cold light of the buddhic plane rather than a display of qualitative color. |
79. Chúng ta ghi nhận rằng Chân sư DK nói đến “nghệ thuật” mặc khải, chứ trong trường hợp này không nói đến khoa học mặc khải. Khi khái niệm “nghệ thuật” có liên quan, cõi Bồ đề được khơi gọi. Khi điểm đạo đồ đạt được sự thấu hiểu và biểu lộ Bồ đề, y tiếp xúc với năng lực mặc khải sự hợp nhất. “Nghệ thuật mặc khải” là một cụm từ đáng được suy ngẫm. Chắc chắn một phần của nghệ thuật này là đạt được ánh sáng trong trẻo, lạnh lẽo của cõi Bồ đề, hơn là sự phô bày màu sắc phẩm tính. |
|
The task ahead is simple. The important aspect, at this time, of the basic oneness underlying all forms, and which the workers of today must immediately emphasise, is the fact of the kingdom ofGod, of the planetary Hierarchy. |
Nhiệm vụ phía trước thì đơn giản. Phương diện quan trọng vào lúc này của tính nhất thể nền tảng nằm sau mọi hình tướng, và là điều những người hoạt động ngày nay phải lập tức nhấn mạnh, là sự kiện về Thiên Giới, về Thánh Đoàn hành tinh. |
|
80. The Kingdom of God exemplified by the Spiritual Hierarchy is the living demonstration of unity and Oneness. |
80. Thiên Giới, được Huyền Giai Tinh Thần làm gương mẫu, là sự biểu lộ sống động của sự hợp nhất và Tính Nhất Thể. |
|
81. Humanity must learn of the Spiritual Hierarchy as it is. Their minds must be disabused of the many distorted and almost farcical presentations of the Hierarchy. To clarify the image of Hierarchy is an essential spiritual task. |
81. Nhân loại phải học biết Huyền Giai Tinh Thần như chính nó là. Thể trí của họ phải được giải thoát khỏi nhiều cách trình bày méo mó và gần như lố bịch về Thánh Đoàn. Làm sáng tỏ hình ảnh của Thánh Đoàn là một nhiệm vụ tinh thần thiết yếu. |
|
The citizens of that kingdom and the members of that Hierarchy are gathered out of every nation, every political party, every social group, every religious cult or sect, and every organisation—no matter what their expressed objectives—and the universality of the field from which these people emerge, demonstrates their underlying unity. |
Các công dân của giới ấy và các thành viên của Thánh Đoàn ấy được quy tụ từ mọi quốc gia, mọi đảng phái chính trị, mọi nhóm xã hội, mọi giáo phái hay tông phái tôn giáo, và mọi tổ chức—bất kể các mục tiêu được họ tuyên bố là gì—và tính phổ quát của trường mà từ đó những người này xuất hiện chứng minh sự hợp nhất nền tảng của họ. |
|
82. We understand Hierarchy as a center of spiritual energy expressing the energy of universality. We note that the energy of universality is characteristic of the sign of the zodiac now coming into power—the sign Aquarius. |
82. Chúng ta thấu hiểu Thánh Đoàn như một trung tâm năng lượng tinh thần biểu lộ năng lượng của tính phổ quát. Chúng ta ghi nhận rằng năng lượng của tính phổ quát là đặc tính của dấu hiệu hoàng đạo hiện đang đi vào quyền lực—dấu hiệu Bảo Bình. |
|
83. We should pause and contemplate the various sources—national, political, social, religious, organization—from which the members of the Hierarchy are drawn. We see that no outer form defines a member of the Hierarchy. |
83. Chúng ta nên dừng lại và chiêm ngưỡng các nguồn khác nhau—quốc gia, chính trị, xã hội, tôn giáo, tổ chức—từ đó các thành viên của Thánh Đoàn được rút ra. Chúng ta thấy rằng không một hình tướng bên ngoài nào định nghĩa một thành viên của Thánh Đoàn. |
|
When this unity assumes adequate proportions in the eyes of mankind, a real synthesis will follow. |
Khi sự hợp nhất này mang những tỉ lệ thích đáng trong con mắt nhân loại, một sự tổng hợp thật sự sẽ theo sau. |
|
84. It is the unity of Hierarchy which must be stressed and people must come to understand it. It is our task to realize the unity of Hierarchy and find ways to convey it in assimilable terms. |
84. Chính sự hợp nhất của Thánh Đoàn phải được nhấn mạnh, và con người phải đi đến chỗ thấu hiểu nó. Nhiệm vụ của chúng ta là nhận biết sự hợp nhất của Thánh Đoàn và tìm ra những cách truyền đạt nó bằng các thuật ngữ có thể được đồng hóa. |
|
85. Until this unity has been achieved, it is useless to speak of the emergence of a realization of true synthesis. |
85. Cho đến khi sự hợp nhất này được đạt tới, thật vô ích khi nói về sự xuất hiện của một nhận thức về sự tổng hợp chân thực. |
|
Therefore the call goes out at this time for hierarchical workers to reveal with greater emphasis the fact of the Hierarchy. |
Vì vậy, vào lúc này lời kêu gọi được phát ra để những người hoạt động thuộc Thánh Đoàn mặc khải với sự nhấn mạnh lớn hơn sự kiện về Thánh Đoàn. |
|
86. Strangely, this was the only area in relation to which Master DK said AAB could have done more! |
86. Thật lạ thay, đây là lĩnh vực duy nhất mà Chân sư DK nói rằng bà Alice Bailey lẽ ra đã có thể làm nhiều hơn! |
|
87. How and when and with what skill do we speak of Hierarchy? Does the unity which Hierarchy represents flow through us? |
87. Chúng ta nói về Thánh Đoàn như thế nào, khi nào và với kỹ năng nào? Sự hợp nhất mà Thánh Đoàn đại diện có tuôn chảy qua chúng ta không? |
|
88. It is not a belief in the Hierarchy which is to be emphasized but the fact of Hierarchy. This means that for the ones making revelation of Hierarchy, Hierarchy must be factual. So, again, we are faced Will-to-Harmonize the question: “Is the Spiritual Hierarchy factual to us?” |
88. Điều cần được nhấn mạnh không phải là niềm tin vào Thánh Đoàn, mà là sự kiện về Thánh Đoàn. Điều này có nghĩa là đối với những người đang mặc khải về Thánh Đoàn, Thánh Đoàn phải là một sự kiện. Vì vậy, một lần nữa, chúng ta đối diện với câu hỏi: “Huyền Giai Tinh Thần có phải là sự kiện đối với chúng ta không?” |
|
This—if done on a large scale and through proper organisation—will destroy on a large scale the present world structure in the field of religion, of economics, and of politics; it is already doing so. |
Điều này—nếu được thực hiện trên quy mô lớn và thông qua tổ chức đúng đắn—sẽ phá hủy trên quy mô lớn cấu trúc thế giới hiện nay trong lĩnh vực tôn giáo, kinh tế và chính trị; nó đã và đang làm như vậy. |
|
89. What an amazing thought! The revelation of the true nature of the Spiritual Hierarchy, its true universality demonstrative of its underlying unity, will destroy the present forms of religion, economics and politics! No wonder there is so much resistance to the clear messages anent the Hierarchy—it is destructive of the forms in which so many have wholly invested themselves. |
89. Thật là một tư tưởng kỳ diệu! Sự mặc khải về bản chất chân thực của Huyền Giai Tinh Thần, về tính phổ quát chân thực của nó vốn chứng minh sự hợp nhất nền tảng của nó, sẽ phá hủy các hình tướng hiện nay của tôn giáo, kinh tế và chính trị! Không lạ gì khi có quá nhiều sự kháng cự đối với các thông điệp rõ ràng liên quan đến Thánh Đoàn—nó phá hủy những hình tướng mà trong đó rất nhiều người đã hoàn toàn đầu tư chính mình. |
|
An increase of pressure on the part of all who recognise the factual nature of the inner subjective kingdom of God, will produce amazing results. |
Sự gia tăng áp lực từ phía tất cả những ai nhận ra bản chất có thật của Thiên Giới nội tại và chủ quan, sẽ tạo ra những kết quả đáng kinh ngạc. |
|
90. Presumably, those who recognize the factual yet subjective nature of the Kingdom of God are members of the New Group of World Servers. |
90. Có lẽ những ai nhận ra bản chất có thật nhưng chủ quan của Thiên Giới là các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. |
|
91. Master DK is a second ray Master, but he is asking those of us who understand the unitive nature of Hierarchy to increase the pressure in our emphasis of the fact of Hierarchy and the unity of Hierarchy. |
91. Chân sư DK là một Chân sư cung hai, nhưng Ngài đang yêu cầu những ai trong chúng ta thấu hiểu bản chất hợp nhất của Thánh Đoàn hãy gia tăng áp lực trong sự nhấn mạnh của chúng ta về sự kiện của Thánh Đoàn và sự hợp nhất của Thánh Đoàn. |
|
This kingdom, through its major power (a quality of synthesis, could you but realise it), is gathering together into itself men and women out of every nation and out of all parts of the Earth. |
Giới này, qua quyền năng chủ yếu của nó, một phẩm tính tổng hợp, nếu các bạn có thể nhận ra điều đó, đang quy tụ vào trong chính nó những người nam và nữ từ mọi quốc gia và từ mọi phần của Trái Đất. |
|
92. It appears that the Kingdom of God is already characterized (in some sense) by the factor of synthesis. One would think that this factor was descriptive of the Kingdom of Planetary Lives, but it is representative even of the fifth kingdom. |
92. Dường như Thiên Giới đã được đặc trưng, theo một nghĩa nào đó, bởi yếu tố tổng hợp. Người ta có thể nghĩ rằng yếu tố này mô tả Giới của Các Sự Sống Hành tinh, nhưng nó thậm chí còn đại diện cho giới thứ năm. |
|
93. If we read carefully, however, we shall see that the fifth kingdom is characterized by a quality of synthesis. This could mean that synthesis in its entirety is not indicated but only one of the qualities of synthesis. |
93. Tuy nhiên, nếu đọc kỹ, chúng ta sẽ thấy rằng giới thứ năm được đặc trưng bởi một phẩm tính tổng hợp. Điều này có thể hàm ý rằng tổng hợp trong toàn thể của nó không được nêu ra, mà chỉ một trong các phẩm tính của tổng hợp. |
|
94. The true members of the Spiritual Hierarchy express not only the soul but the Monad as well. The Monad is an expression of life—of “loving synthesis in action”. Could it be “loving synthesis” which is that quality which the fifth kingdom of nature expresses? |
94. Các thành viên đích thực của Huyền Giai Tinh Thần biểu lộ không chỉ linh hồn mà cả chân thần nữa. Chân thần là một biểu hiện của sự sống—của “tổng hợp bác ái trong hành động”. Phải chăng chính “tổng hợp bác ái” là phẩm tính mà giới thứ năm của thiên nhiên biểu lộ? |
|
95. Could the quality expressed by the Kingdom of Planetary Lives be willing synthesis in action? |
95. Phẩm tính do Giới của Các Sự Sống Hành tinh biểu lộ có thể là tổng hợp ý chí trong hành động chăng? |
|
It is absorbing them into itself not because [Page 301] they are orthodox or religious in the generally accepted sense of the term, but because of their quality. |
Giới ấy đang thu hút họ vào chính mình không phải vì [Page 301] họ chính thống hay có tính tôn giáo theo nghĩa thường được chấp nhận của thuật ngữ này, mà vì phẩm tính của họ. |
|
96. We live in a great period of hierarchical in-gathering and absorption. We have the opportunity to take advantage of this dynamic. It may not soon come again. |
96. Chúng ta đang sống trong một thời kỳ vĩ đại của sự quy tụ và hấp thu thuộc Thánh Đoàn. Chúng ta có cơ hội tận dụng động lực này. Nó có thể sẽ không sớm trở lại. |
|
97. Throughout this book, we have been dealing with form and formlessness. Obviously the initiate focuses and even lives within the arupa worlds—the formless worlds. Adherence to any particular form of religion does not qualify an individual to be a member of the Spiritual Hierarchy. Quality alone is the discriminating factor. The “soul is the quality of life”. |
97. Xuyên suốt quyển sách này, chúng ta đã bàn đến hình tướng và sự vô tướng. Hiển nhiên, điểm đạo đồ tập trung và thậm chí sống trong các cõi vô sắc—các thế giới vô tướng. Việc gắn bó với bất kỳ hình thức tôn giáo đặc thù nào không đủ điều kiện để một cá nhân trở thành thành viên của Huyền Giai Tinh Thần. Chỉ phẩm tính mà thôi là yếu tố phân biện. “Linh hồn là phẩm tính của sự sống”. |
|
Simultaneously, as their numbers increase, a reverse movement is taking place. |
Đồng thời, khi số lượng của họ gia tăng, một chuyển động ngược lại đang diễn ra. |
|
98. This is the externalization process in which we, as disciples, should now be involved. |
98. Đây là tiến trình ngoại hiện mà hiện nay chúng ta, với tư cách là các đệ tử, nên tham dự vào. |
|
Men are moving outward on to the physical plane, and doing this as a group in order to prove the factual nature of the world of unity into which they have succeeded in penetrating. |
Con người đang tiến ra ngoài, lên cõi hồng trần, và làm điều này như một nhóm nhằm chứng minh bản chất thực tại của thế giới hợp nhất mà họ đã thành công trong việc thâm nhập. |
|
99. Their outward movement, as a group, is of the utmost importance. |
99. Sự chuyển động ra ngoài của họ, như một nhóm, có tầm quan trọng tối thượng. |
|
100. Human beings may penetrate as individuals into the subjective worlds, but the new Aquarian Order demands a group response to that which has been individually discovered. |
100. Con người có thể thâm nhập như những cá nhân vào các thế giới nội tại, nhưng Trật Tự mới Bảo Bình đòi hỏi một đáp ứng nhóm đối với điều đã được khám phá một cách cá nhân. |
|
101. Even when the individual penetrates into the subjective realms, that very penetration involves group realization. Individuality, as usually perceived, is lost to sight in realization of the group, anthen, realization of the One. |
101. Ngay cả khi cá nhân thâm nhập vào các cõi nội tại, chính sự thâm nhập ấy cũng bao hàm sự chứng nghiệm nhóm. Tính cá nhân, như thường được nhận thức, mất khỏi tầm nhìn trong sự chứng nghiệm nhóm, và rồi là sự chứng nghiệm Đấng Duy Nhất. |
|
They, therefore, are demonstrating oneness and synthesis in such a simple way that men everywhere can grasp it. |
Vì vậy, họ đang biểu chứng tính nhất như và tổng hợp theo một cách đơn giản đến mức mọi người ở khắp nơi đều có thể nắm bắt được. |
|
102. This is the point—oneness and synthesis must be demonstrated in all simplicity. |
102. Đây là điểm chính—tính nhất như và tổng hợp phải được biểu chứng trong sự đơn giản hoàn toàn. |
|
103. Oneness and simplicity may seem like recondite states of mind, but there is in both of them the element of universal appeal. There are ways of presentation which can be apprehended even by those who are relatively simple in their consciousness. Of course, a simple and apprehensible presentation of unity is part of the “art of revelation” previously mentioned. |
103. Tính nhất như và sự đơn giản có thể dường như là những trạng thái trí tuệ sâu kín, nhưng trong cả hai đều có yếu tố hấp dẫn phổ quát. Có những cách trình bày có thể được lĩnh hội ngay cả bởi những người tương đối đơn giản trong tâm thức. Dĩ nhiên, một sự trình bày về hợp nhất đơn giản và dễ lĩnh hội là một phần của “nghệ thuật mặc khải” đã được đề cập trước đó. |
|
The New Group of World Servers is the vanguard of the kingdom of God, the living proof of the existence of the world of spiritual Oneness. |
Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian là đội tiên phong của Thiên Giới, là bằng chứng sống động về sự hiện hữu của thế giới Nhất Như tinh thần. |
|
104. This is a high calling for the New Group of World Servers. It would seem that for one truly to be a member of this group, the realization of human unity is required. Even more, the realization of planetary unity and, finally, solar systemic unity must follow. |
104. Đây là một thiên chức cao cả dành cho Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Dường như để thật sự là thành viên của nhóm này, cần phải có sự chứng nghiệm về tính hợp nhất của nhân loại. Hơn thế nữa, phải tiếp theo là sự chứng nghiệm về tính hợp nhất hành tinh và, sau cùng, tính hợp nhất của hệ mặt trời. |
|
105. Note, DK specifies “spiritual Oneness”, because unholy forms of oneness also exist—the oneness, for instance, produced by totalitarianism. |
105. Hãy lưu ý, Chân sư DK nói rõ “Nhất Như tinh thần”, bởi vì cũng có những hình thức nhất như bất thiện—chẳng hạn, tính nhất như do chủ nghĩa toàn trị tạo ra. |
|
To all applicants |
Đến tất cả những người xin nhập môn |
|
106. We are speaking of applicants to initiation. |
106. Chúng ta đang nói về những người xin nhập môn để được điểm đạo. |
|
the call has gone out |
tiếng gọi đã vang lên |
|
107. The call from both the individual soul and the Spiritual Hierarchy… |
107. Tiếng gọi từ cả linh hồn cá nhân lẫn Huyền Giai Tinh Thần… |
|
to see the Christ as He is, in order (as The New Testament puts it) that “as He is, so should we be in the world.” |
để thấy Đức Christ như chính Ngài là, nhằm cho, như Tân Ước diễn tả, “Ngài như thế nào, chúng ta cũng phải như thế ấy trong thế gian.” |
|
108. To clarify the image of the Christ is one of the most important tasks. Upon a distorted image of the Christ (as Jesus—and even the image of Jesus is distorted) the Christian Church (in all its many sects) has been built. |
108. Làm sáng tỏ hình ảnh của Đức Christ là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất. Trên một hình ảnh méo mó về Đức Christ như Đức Jesus—và ngay cả hình ảnh của Đức Jesus cũng bị méo mó—Giáo Hội Kitô giáo, trong tất cả nhiều giáo phái của nó, đã được xây dựng. |
|
109. Applicants are to see. Disciples and initiates are to reveal. |
109. Những người xin nhập môn phải thấy. Các đệ tử và điểm đạo đồ phải mặc khải. |
|
To disciples and initiates the call goes out to reveal to the world the grouped formation of all spiritual workers, the nature of the Christ consciousness which knows no separation, which recognises all men everywhere as Sons of God in process of expression. |
Đến các đệ tử và điểm đạo đồ, tiếng gọi vang lên để mặc khải cho thế giới đội hình nhóm của tất cả những người hoạt động tinh thần, bản chất của tâm thức Đức Christ vốn không biết đến sự chia rẽ, vốn nhận biết mọi người khắp nơi là những người Con của Thượng đế đang trong tiến trình biểu lộ. |
|
110. To whom are disciples and initiates to reveal that which they unitedly understand? “To the world”. What is to be revealed? “The grouped formation of all spiritual workers”. It is important for men and women in the world to understand the underlying unity of all truly spiritual workers. The unity of the spiritual workers is an outer reflection of the underlying unity which characterizes the Spiritual Hierarchy of our planet. |
110. Các đệ tử và điểm đạo đồ phải mặc khải điều mà họ cùng nhau thấu hiểu cho ai? “Cho thế giới”. Điều gì phải được mặc khải? “Đội hình nhóm của tất cả những người hoạt động tinh thần”. Điều quan trọng là những người nam và nữ trong thế giới phải thấu hiểu sự hợp nhất nền tảng của tất cả những người hoạt động tinh thần đích thực. Sự hợp nhất của những người hoạt động tinh thần là một phản ánh bên ngoài của sự hợp nhất nền tảng vốn đặc trưng cho Huyền Giai Tinh Thần của hành tinh chúng ta. |
|
111. What are the characteristics of the Christ Consciousness?: |
111. Các đặc điểm của Tâm thức Đức Christ là gì?: |
|
a. The Christ Consciousness knows no separation |
a. Tâm thức Đức Christ không biết đến sự chia rẽ |
|
b. The Christ Consciousness recognizes all men everywhere as Sons of God in process of expression. |
b. Tâm thức Đức Christ nhận biết mọi người khắp nơi là những người Con của Thượng đế đang trong tiến trình biểu lộ. |
|
112. The world today is filled with violent criticism. Attacks between nations, religions and groups are constant. This, we see, is a violation of the basic principles of the Christ Consciousness. |
112. Thế giới ngày nay đầy ắp sự phê phán dữ dội. Những cuộc công kích giữa các quốc gia, tôn giáo và nhóm diễn ra liên tục. Chúng ta thấy rằng điều này vi phạm các nguyên lý căn bản của Tâm thức Đức Christ. |
|
113. What must the Christ think when He beholds the almost universal expression of wrong human relationships?! |
113. Đức Christ sẽ nghĩ gì khi Ngài chứng kiến sự biểu lộ gần như phổ quát của các mối quan hệ nhân loại sai trái?! |
|
This is all desired because of the need to emphasise the all-inclusive approach of divinity to humanity. |
Tất cả điều này được mong muốn vì nhu cầu nhấn mạnh cách tiếp cận bao gồm tất cả của thiên tính đối với nhân loại. |
|
114. It is not our differences which must be emphasized. The emphasis upon differences only further exacerbates evident differences and feeds the sense of separation, which leads when aggravated, as now it is, to global unrest and even war—a war which would be a world war and must not be fought. |
114. Không phải những khác biệt của chúng ta là điều cần được nhấn mạnh. Việc nhấn mạnh các khác biệt chỉ càng làm trầm trọng thêm những khác biệt hiển nhiên và nuôi dưỡng cảm thức chia rẽ; khi bị kích động mạnh như hiện nay, cảm thức ấy dẫn đến bất ổn toàn cầu và thậm chí chiến tranh—một cuộc chiến sẽ là chiến tranh thế giới và không được phép xảy ra. |
|
115. God is not separative. Those who would understand the nature of God must understand inclusiveness. |
115. Thượng đế không chia rẽ. Những ai muốn thấu hiểu bản chất của Thượng đế phải thấu hiểu tính bao gồm. |
|
These working disciples and initiates regard all as essentially one and as brothers, which repudiates all man-made theologies (religious, scientific, political or economic) and says to all men everywhere: “We are all the children of God; we are all equally divine; we are all on our way to the revelation of divinity, and this upon the physical plane of existence; it is what we reveal that is of importance; what is revealed to us is of lesser importance, though it has its due place in the process of training and perfecting.” |
Các đệ tử và điểm đạo đồ đang hoạt động này xem tất cả về bản chất là một và là huynh đệ, điều ấy bác bỏ mọi nền thần học do con người tạo ra, dù là tôn giáo, khoa học, chính trị hay kinh tế, và nói với mọi người ở khắp nơi: “Tất cả chúng ta đều là con cái của Thượng đế; tất cả chúng ta đều thiêng liêng như nhau; tất cả chúng ta đều đang trên đường đi đến sự mặc khải thiên tính, và điều này diễn ra trên cõi hồng trần của hiện hữu; điều chúng ta mặc khải mới là quan trọng; điều được mặc khải cho chúng ta thì ít quan trọng hơn, dù nó có vị trí thích đáng trong tiến trình rèn luyện và hoàn thiện.” |
|
116. This paragraph above is so utterly sane, so purely reasonable. Why do so many resist its implications? Can only those who have achieved some degree of clarified consciousness understand this? |
116. Đoạn văn trên thật hoàn toàn lành mạnh, thật thuần túy hợp lý. Tại sao lại có quá nhiều người chống lại những hàm ý của nó? Có phải chỉ những ai đã đạt được một mức độ nào đó của tâm thức sáng tỏ mới có thể thấu hiểu điều này? |
|
117. Theology, constructed through the use of the fifth, sixth and third rays, is rarely inclusive. Theology is man-made. The truth simply is. |
117. Thần học, được xây dựng qua việc sử dụng các cung năm, sáu và ba, hiếm khi có tính bao gồm. Thần học là do con người tạo ra. Chân lý đơn giản hiện hữu. |
|
118. We note the change of emphasis: “it is what we reveal that is of importance; what is revealed to us is of lesser importance…” |
118. Chúng ta ghi nhận sự thay đổi điểm nhấn: “điều chúng ta mặc khải mới là quan trọng; điều được mặc khải cho chúng ta thì ít quan trọng hơn…” |
|
119. This reminds one of the idea that it is not what goes into the mouth that defiles the man, but what comes out of it! |
119. Điều này nhắc ta nhớ đến ý tưởng rằng không phải điều đi vào miệng làm ô uế con người, mà là điều từ miệng đi ra! |
|
There is an old catechism which seeks to make clear to the neophyte upon the verge of acceptance the distinction and the difference between vision and revelation. |
Có một giáo lý vấn đáp xưa tìm cách làm rõ cho người sơ cơ đang ở ngưỡng được chấp nhận sự phân biệt và khác biệt giữa tầm nhìn và sự mặc khải. |
|
120. This is exactly what Master DK has been trying to convey to us. |
120. Đây chính là điều Chân sư DK đã cố gắng truyền đạt cho chúng ta. |
|
It is falling somewhat into disuse, owing to the fact that the applicant today starts on a much higher turn of the spiral than he did at the time the “form of interrogation” was compiled. I would like, however, to quote one or two of the questions and answers for the instruction of present-day aspirants. |
Nó đang phần nào rơi vào quên lãng, bởi vì người xin nhập môn ngày nay bắt đầu trên một vòng xoắn cao hơn nhiều so với y vào thời “hình thức vấn đáp” được biên soạn. Tuy nhiên, tôi muốn trích dẫn một hai câu hỏi và câu trả lời để giáo huấn những người chí nguyện thời nay. |
|
121. It is of the utmost importance for modern students to realize that the quality of the disciple rises as the ages pass. |
121. Điều tối quan trọng đối với các đạo sinh hiện đại là nhận ra rằng phẩm tính của đệ tử nâng cao khi các thời đại trôi qua. |
|
122. DK has said somewhere that the Christian scriptures are useful for those upon the Path of Probation, but are not (as a whole) meant to instruct disciples. |
122. Chân sư DK đã nói đâu đó rằng kinh điển Kitô giáo hữu ích cho những ai trên Con Đường Dự Bị, nhưng xét toàn bộ thì không nhằm giáo huấn các đệ tử. |
|
123. When we think of the contrast between vision and revelation, we must remember the injunction for applicants, “See” and the injunction for disciples and initiates, “Reveal”. |
123. Khi nghĩ về sự tương phản giữa tầm nhìn và sự mặc khải, chúng ta phải nhớ huấn thị dành cho những người xin nhập môn là “Hãy thấy” và huấn thị dành cho các đệ tử cùng điểm đạo đồ là “Hãy mặc khải”. |
|
[Page 302] |
|
|
A CATECHISM |
MỘT GIÁO LÝ VẤN ĐÁP |
|
What dost thou see, O disciple on the Path? |
Ngươi thấy gì, hỡi đệ tử trên Đường Đạo? |
|
Naught but myself, O Master of my life. |
Không gì ngoài chính con, hỡi Chân sư của đời con. |
|
124. This is the normal egocentric consciousness of the aspirant who treads the Path of Probation. |
124. Đây là tâm thức quy ngã bình thường của người chí nguyện đang bước trên Con Đường Dự Bị. |
|
Look closer at thyself and speak again. |
Hãy nhìn kỹ hơn vào chính ngươi và lại nói. |
|
125. A deeper search is always required for further illumination. |
125. Một cuộc tìm kiếm sâu hơn luôn luôn cần thiết để có thêm sự soi sáng. |
|
What seest thou? |
Ngươi thấy gì? |
|
A point of light which waxes and which wanes and makes the darkness darker. |
Một điểm sáng khi lớn khi nhỏ, và làm cho bóng tối càng tối hơn. |
|
126. That point of light is the fluctuating presence of the soul within the consciousness of the aspirant. |
126. Điểm sáng ấy là sự hiện diện dao động của linh hồn trong tâm thức của người chí nguyện. |
|
127. For the aspirant, the light of the soul does not shine with a steady consistency. The aspirant is still subject to the vacillations of the form and the presence of the light of the soul is periodically dimmed by this fluctuation. |
127. Đối với người chí nguyện, ánh sáng của linh hồn không chiếu rọi với sự ổn định bền vững. Người chí nguyện vẫn còn chịu sự dao động của hình tướng, và sự hiện diện của ánh sáng linh hồn định kỳ bị làm mờ bởi dao động này. |
|
Look with intense desire towards the dark and, |
Hãy nhìn với khát vọng mãnh liệt về phía bóng tối và, |
|
128. The aspirant must be characterized by that elevated intensity of desire we call aspiration. |
128. Người chí nguyện phải được đặc trưng bởi cường độ cao thượng của ước muốn mà chúng ta gọi là khát vọng. |
|
129. The aspirant cannot look only towards the longed-for light, but into the darkness which apparently surrounds him. This requires courage. |
129. Người chí nguyện không thể chỉ nhìn về phía ánh sáng mà y hằng mong mỏi, mà còn phải nhìn vào bóng tối dường như bao quanh y. Điều này đòi hỏi lòng can đảm. |
|
when the light shines forth grasp opportunity. |
khi ánh sáng chiếu ra, hãy nắm lấy cơ hội. |
|
130. It is possible through intensified focus to magnify the presence of soul light within the consciousness of the aspirant. This requires focus and alignment. |
130. Nhờ sự tập trung được tăng cường, có thể khuếch đại sự hiện diện của ánh sáng linh hồn trong tâm thức của người chí nguyện. Điều này đòi hỏi sự tập trung và chỉnh hợp. |
|
131. Opportunity comes at a moment when soul light is sufficiently palpable to be accessed and used. |
131. Cơ hội đến vào khoảnh khắc ánh sáng linh hồn đủ rõ rệt để có thể tiếp cận và sử dụng. |
|
132. Intensified light reveals the nature of the ‘darkness’ in which the aspirant habitually walks. |
132. Ánh sáng được tăng cường mặc khải bản chất của ‘bóng tối’ trong đó người chí nguyện thường bước đi. |
|
What now appears? |
Bây giờ điều gì xuất hiện? |
|
133. One must learn to see what the light reveals when it shines within the darkness of the lower self. |
133. Người ta phải học cách thấy điều ánh sáng mặc khải khi nó chiếu trong bóng tối của phàm ngã. |
|
A horrid sight, O Master of my life. I like it not. |
Một cảnh tượng ghê rợn, ôi Chân sư của đời con. Con không thích nó. |
|
134. This is the beginning of the revelation of the “Dweller on the Threshold”. |
134. Đây là khởi đầu của sự mặc khải về “Kẻ Chận Ngõ”. |
|
135. The entirety of the “Dweller” is only seen by the more advanced initiate, but something of the accumulated horror can be seen by the earnest (and consequently wretched) aspirant. |
135. Toàn thể “Kẻ Chận Ngõ” chỉ được điểm đạo đồ tiến bộ hơn nhìn thấy, nhưng người chí nguyện tha thiết, và do đó khốn khổ, có thể thấy được phần nào nỗi kinh hoàng tích lũy ấy. |
|
It is not true. I am not this or that. This evil selfish thing, it is not me. I am not this. |
Điều đó không đúng. Tôi không phải là cái này hay cái kia. Vật tà ác ích kỷ này, nó không phải là tôi. Tôi không phải là điều này. |
|
136. The aspirant already has a deep intuition of his true nature with which he increasingly identifies himself. He is shocked by the revelation of that which has long been suppressed or repressed (unconsciously forgotten). Yet many unredeemed patterns lurk in the lower depths of the aura. |
136. Người chí nguyện đã có một trực giác sâu xa về bản chất chân thật của y, điều mà y ngày càng đồng hóa với chính mình. Y bị chấn động trước sự mặc khải về điều đã bị đè nén hoặc dồn nén từ lâu, tức bị lãng quên một cách vô thức. Tuy vậy, nhiều mô hình chưa được cứu chuộc vẫn ẩn núp trong các tầng sâu thấp của hào quang. |
|
Turn on the light with will and power and fierce desire, |
Hãy bật ánh sáng lên bằng ý chí, quyền năng và dục vọng mãnh liệt, |
|
137. The aspirant accessing the light of the soul has some control of its expression within his consciousness. He can “turn on the light”. He can magnify it. |
137. Người chí nguyện tiếp cận ánh sáng của linh hồn có một mức kiểm soát nào đó đối với sự biểu hiện của ánh sáng ấy trong tâm thức của y. Y có thể “bật ánh sáng lên”. Y có thể khuếch đại nó. |
|
138. That which revealed the “horrid sight” was intense desire. Now for even greater illumination, “fierce desire” is needed—obviously an intensification of desire. As well, the first ray qualities of will and power are required. |
138. Điều đã làm lộ ra “cảnh tượng ghê rợn” là dục vọng mãnh liệt. Giờ đây, để có sự soi sáng còn lớn hơn, cần có “dục vọng mãnh liệt” — hiển nhiên là một sự tăng cường của dục vọng. Đồng thời, các phẩm tính cung một của ý chí và quyền năng cũng được đòi hỏi. |
|
139. The light had shone with sufficient strength to reveal the darkness but not with sufficient strength to reveal the greater Light within which the lesser light shines. |
139. Ánh sáng đã chiếu rọi với sức mạnh đủ để làm lộ ra bóng tối, nhưng chưa đủ mạnh để làm lộ ra Ánh Sáng lớn hơn, trong đó ánh sáng nhỏ hơn đang tỏa chiếu. |
|
140. In other words, intensified light must now reveal not only darkness but a Greater Light. |
140. Nói cách khác, ánh sáng được tăng cường giờ đây phải làm lộ ra không chỉ bóng tối mà còn một Ánh Sáng Lớn Hơn. |
|
and then recount the vision that may come. What seest thou? |
và rồi hãy thuật lại linh ảnh có thể đến. Ngươi thấy gì? |
|
141. A new perception beyond the horror is needed. It is always there if one can penetrate the distraction of the horrid appearance of unredeemed patterns. |
141. Cần có một nhận thức mới vượt khỏi nỗi kinh hoàng. Nó luôn hiện hữu ở đó, nếu người ta có thể xuyên qua sự xao lãng do vẻ ngoài ghê rợn của các mô hình chưa được cứu chuộc gây nên. |
|
Beyond the dark, revealed to me by means of light, |
Vượt ngoài bóng tối, được ánh sáng mặc khải cho tôi, |
|
142. “In that light we shall see Light” |
142. “Trong ánh sáng ấy, chúng ta sẽ thấy Ánh Sáng” |
|
I see a radiant form which beckons me. |
Tôi thấy một hình tướng rạng ngời đang vẫy gọi tôi. |
|
143. The form of the true Ego or Angel becomes evident. Man the Ego is the embodiment of the Solar Angel (through there is more to the Solar Angel than the higher Ego). |
143. Hình tướng của Chân ngã đích thực hay Thiên Thần trở nên hiển nhiên. Con người, tức Chân ngã, là hiện thân của Thái dương Thiên Thần, dù Thái dương Thiên Thần còn bao hàm nhiều hơn chân ngã cao siêu. |
|
144. We note that that which is seen is still a form though a spiritual one. |
144. Chúng ta lưu ý rằng điều được thấy vẫn là một hình tướng, dù là một hình tướng tinh thần. |
|
What is this Being, standing gracious in the dark and in the light? Is it and can it be my self? |
Thực Thể này là gì, đang đứng đầy ân hòa trong bóng tối và trong ánh sáng? Nó có phải, và có thể là, bản ngã của tôi chăng? |
|
145. Note the balance suggested—a gracious stance whether in the dark or light. |
145. Hãy lưu ý sự quân bình được gợi ra — một tư thế ân hòa, dù trong bóng tối hay ánh sáng. |
|
What dawns upon the sight as thou standest on the Way, O worn and tired disciple, triumphant in the light? |
Điều gì rạng hiện trước tầm nhìn khi ngươi đứng trên Con Đường, ôi đệ tử mòn mỏi và mệt nhọc, nhưng khải hoàn trong ánh sáng? |
|
146. The image of the dawn in invoked. The dawn reveals what the darkness hid. |
146. Hình ảnh bình minh được khơi gọi. Bình minh làm lộ ra điều bóng tối đã che giấu. |
|
147. The “Way” in general terms, is the great Path to revelation. Still greater than the Path is the “Way of Higher Evolution” trodden by the sixth degree initiate. The meaning of the “Way”, in this context, is still the “Path”. |
147. “Con Đường”, theo nghĩa tổng quát, là Đường Đạo lớn dẫn đến sự mặc khải. Còn lớn hơn Đường Đạo là “Con đường Tiến Hóa Cao Siêu” mà điểm đạo đồ cấp sáu bước đi. Ý nghĩa của “Con Đường” trong ngữ cảnh này vẫn là “Đường Đạo”. |
|
148. The disciple who has seen the vision of the Angel has triumphed. Thus to see, is a triumph! |
148. Đệ tử đã thấy linh ảnh của Thiên Thần thì đã khải hoàn. Thấy được như thế chính là một chiến thắng! |
|
149. Notice, however, the various ways in which the words “vision” and “revelation” or “revealed” are use—not yet with entire precision. |
149. Tuy nhiên, hãy chú ý các cách khác nhau mà những từ “linh ảnh” và “sự mặc khải” hay “được mặc khải” được sử dụng — vẫn chưa hoàn toàn chính xác. |
|
150. The “triumphant disciples” is ruled by the sign Scorpio, and the quality of light associated with Scorpio is the “Light of Day”. Such a disciple sees in the “Light of Day”. |
150. “Đệ tử khải hoàn” được cai quản bởi dấu hiệu Hổ Cáp, và phẩm tính ánh sáng liên kết với Hổ Cáp là “Ánh Sáng Ban Ngày”. Một đệ tử như thế thấy trong “Ánh Sáng Ban Ngày”. |
|
151. If triumph comes to a disciple, it will not be without great exertion. In his triumph he will find himself worn by many difficult experiences and his energy system will often be in a state of fatigue—though his consciousness will be revitalize and refreshed. |
151. Nếu chiến thắng đến với một đệ tử, điều đó sẽ không xảy ra nếu không có nỗ lực lớn lao. Trong chiến thắng của mình, y sẽ thấy mình bị bào mòn bởi nhiều kinh nghiệm khó khăn, và hệ thống năng lượng của y thường ở trong trạng thái mệt mỏi — dù tâm thức của y sẽ được tiếp sinh lực và làm tươi mới. |
|
A radiant shining form which is my Self, my soul. A dark and sombre figure, yet old and wise, experienced and sad. |
Một hình tướng sáng chói rạng ngời, chính là Bản Ngã của tôi, linh hồn của tôi. Một hình bóng tối tăm và u trầm, nhưng cổ xưa và minh triết, từng trải và buồn bã. |
|
152. The disciple who has triumphantly entered the light sees a vision of fundamental duality: he seems himself as the Angel of the Presence and yet, as well, as the “Dweller on the Threshold”, the personality. |
152. Đệ tử đã khải hoàn bước vào ánh sáng thấy một linh ảnh về nhị nguyên căn bản: y thấy chính mình là Thiên Thần của Hiện Diện, và đồng thời, cũng là “Kẻ Chận Ngõ”, tức phàm ngã. |
|
153. This description of the personality, the lower self, is remarkable and evocative. The personality has been through so much over the ages. Within the personality, uninfluenced by the soul, there is no joy—wisdom (of a kind) there is (through much learning and much experience) but sadness as well, because through strictly personal exertion there is no fulfilled liberation. The energy of the soul is required. The quality of the soul is joy. |
153. Mô tả này về phàm ngã, tức phàm ngã thấp, thật đáng chú ý và gợi cảm. Phàm ngã đã trải qua biết bao điều suốt các thời đại. Trong phàm ngã, khi không chịu ảnh hưởng của linh hồn, không có sự hoan hỉ — có minh triết thuộc một loại nào đó, nhờ nhiều học hỏi và nhiều kinh nghiệm, nhưng cũng có nỗi buồn, vì chỉ bằng nỗ lực thuần túy cá nhân thì không có sự giải thoát viên mãn. Năng lượng của linh hồn là cần thiết. Phẩm tính của linh hồn là sự hoan hỉ. |
|
154. We carry within ourselves the pairs of opposites—the joyful soul, free in the world of light and love, and the somber, sad personality, still imprisoned in the lower worlds of form. |
154. Chúng ta mang trong chính mình các cặp đối cực — linh hồn hoan hỉ, tự do trong thế giới của ánh sáng và tình thương, và phàm ngã u trầm, buồn bã, vẫn bị giam giữ trong các cõi thấp của hình tướng. |
|
This is my self, my lower self, my ancient tried appearance upon the ways of earth. |
Đây là bản ngã của tôi, phàm ngã của tôi, sắc tướng cổ xưa từng được thử thách của tôi trên những nẻo đường của Trái Đất. |
|
155. The personality has been “tried” and tested through many dire experiences. In a way, the personality is always the same entity (incarnation after incarnation) because the basis of the personality are the mental unit and the lower permanent atoms. |
155. Phàm ngã đã được “thử thách” và kiểm nghiệm qua nhiều kinh nghiệm khốc liệt. Theo một cách nào đó, phàm ngã luôn là cùng một thực thể, từ kiếp này sang kiếp khác, vì nền tảng của phàm ngã là đơn vị hạ trí và các nguyên tử trường tồn thấp. |
|
156. The elemental vehicles are always fundamentally the same. |
156. Các hiện thể hành khí về căn bản luôn giống nhau. |
|
These two stand face to face |
Hai thực thể này đứng mặt đối mặt |
|
157. In some of the sections of the Old Commentary the confrontation of the Angel and the “Dweller” is vividly portrayed according to ray type. (cf. EP II 45-49) |
157. Trong một số phần của Cổ Luận, cuộc đối diện giữa Thiên Thần và “Kẻ Chận Ngõ” được khắc họa sống động tùy theo loại cung. (xem Tâm Lý Học Nội Môn 2, 45-49) |
|
and in between, the burning ground…. |
và ở giữa là vùng đất cháy…. |
|
158. There is no way for the “Dweller” and the Angel to merge except that the “Dweller”, the personality, tread the burning ground. |
158. Không có cách nào để “Kẻ Chận Ngõ” và Thiên Thần hòa nhập với nhau, ngoại trừ việc “Kẻ Chận Ngõ”, tức phàm ngã, phải bước qua vùng đất cháy. |
|
159. Only the purified personality can merge with the Angel. Only the purified personality can exist in a condition necessary to accept the infusion of the Angel. We call this “soul-infusion”. |
159. Chỉ phàm ngã đã được thanh luyện mới có thể hòa nhập với Thiên Thần. Chỉ phàm ngã đã được thanh luyện mới có thể tồn tại trong một trạng thái cần thiết để chấp nhận sự thấm nhuần của Thiên Thần. Chúng ta gọi điều này là “sự thấm nhuần của linh hồn”. |
|
They move and merge…. |
Họ chuyển động và hòa nhập…. |
|
160. This happens particularly at the fourth initiation. At the third initiation the disciple catches his first real glimpse of the Angel and the “Dweller”. This makes one question what one had seen through the vision of negativity granted to the aspirant who begins to use or “turn on” the light. |
160. Điều này xảy ra đặc biệt ở lần điểm đạo thứ tư. Ở lần điểm đạo thứ ba, đệ tử thoáng thấy lần đầu tiên một cách thật sự Thiên Thần và “Kẻ Chận Ngõ”. Điều này khiến người ta tự hỏi điều gì đã được thấy qua linh ảnh về tính tiêu cực, vốn được ban cho người chí nguyện bắt đầu sử dụng hay “bật” ánh sáng lên. |
|
The Path comes to an end. |
Đường Đạo đi đến chỗ kết thúc. |
|
161. The Path is that which leads the personality towards fusion with the Angel. |
161. Đường Đạo là điều dẫn phàm ngã tới sự dung hợp với Thiên Thần. |
|
The Way stretches before. |
Con Đường trải rộng phía trước. |
|
162. Now we have the true “Way of Higher Evolution” which leads to the very highest initiations possible for the members of the Fourth Creative Hierarchy. |
162. Giờ đây chúng ta có “Con đường Tiến Hóa Cao Siêu” đích thực, dẫn tới những cuộc điểm đạo cao nhất có thể dành cho các thành viên của Huyền Giai Sáng Tạo Thứ Tư. |
|
Sight is attained, and in the light reality appears. |
Tầm nhìn đạt được, và trong ánh sáng, thực tại hiện ra. |
|
163. This type of “sight” is far more than a vision. It is a true revelation of reality. |
163. Loại “tầm nhìn” này vượt xa một linh ảnh. Nó là một sự mặc khải đích thực về thực tại. |
|
What canst thou now reveal, O Server on the way? |
Giờ đây ngươi có thể mặc khải điều gì, ôi Người Phụng Sự trên đường? |
|
164. This brings us to the point which DK has been emphasizing—the importance of that which the disciple reveals. DK has stressed the important of revealing the unity perceived by the disciple/initiate. |
164. Điều này đưa chúng ta đến điểm mà Chân sư DK đã nhấn mạnh — tầm quan trọng của điều mà đệ tử mặc khải. Chân sư DK đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc mặc khải sự hợp nhất mà đệ tử, hay điểm đạo đồ, nhận thức được. |
|
Revelation comes through me, O Lord of Life. I see it not. |
Sự mặc khải đến qua tôi, ôi Chúa Tể của Sự Sống. Tôi không thấy nó. |
|
165. The initiate has become the s substance of the revelation. He is not preoccupied with the attempt to sense the vision. Rather, he identifies as reality, as unity, and that with which he identifies, can now be seen through him. Those he contacts feel the great Unity, the Oneness, the Presence through him. |
165. Điểm đạo đồ đã trở thành chính chất liệu của sự mặc khải. Y không bận tâm với nỗ lực cảm nhận linh ảnh. Đúng hơn, y đồng hóa như thực tại, như sự hợp nhất, và điều mà y đồng hóa với, giờ đây có thể được thấy qua y. Những người y tiếp xúc cảm nhận được Đại Hợp Nhất, Nhất Thể, Sự Hiện Diện qua y. |
|
Why canst thou see it now? What hinders apprehension? |
Vì sao giờ đây ngươi có thể thấy nó? Điều gì ngăn trở sự lĩnh hội? |
|
166. This question would discriminate between vision, the earlier goal, and revelation. |
166. Câu hỏi này sẽ phân biện giữa linh ảnh, mục tiêu trước đó, và sự mặc khải. |
|
167. The questioner is attempting to reveal to the chela the nature of his achievement. |
167. Người hỏi đang cố gắng mặc khải cho đệ tử bản chất thành tựu của y. |
|
Naught hinders me. I seek not sight for I have seen. |
Không gì ngăn trở tôi. Tôi không tìm kiếm tầm nhìn, vì tôi đã thấy. |
|
168. The seeker and the sight are one. The vision and that for which the vision represented approach, are now at one. |
168. Người tìm kiếm và tầm nhìn là một. Linh ảnh và điều mà linh ảnh ấy biểu trưng cho sự tiến gần tới, giờ đây đã hợp nhất. |
|
169. The initiate is now a knower, and the buddhic faculty is operative. |
169. Giờ đây điểm đạo đồ là một thức giả, và năng lực Bồ đề đang vận hành. |
|
My task is revelation. I seek naught for myself. |
Nhiệm vụ của tôi là sự mặc khải. Tôi không tìm kiếm điều gì cho bản thân. |
|
170. The seeker has become the revealer. |
170. Người tìm kiếm đã trở thành người mặc khải. |
|
171. The one who follows a vision is still seeking for himself. The true revealer has found that which for ages has been sought, and identifying with that which has been found (Reality), the Real pours through him as if he were a transparency. |
171. Người theo đuổi một linh ảnh vẫn còn tìm kiếm cho chính mình. Người mặc khải chân thật đã tìm thấy điều đã được tìm kiếm suốt các thời đại, và khi đồng hóa với điều đã được tìm thấy, tức Thực Tại, Cái Thực tuôn đổ qua y như thể y là một tấm trong suốt. |
|
172. We are led to understand that the true revealer is no longer the seeker in the usual sense. Faith is lost in sight, and sight is lost in identification with the Great Light. |
172. Chúng ta được dẫn đến chỗ thấu hiểu rằng người mặc khải chân thật không còn là người tìm kiếm theo nghĩa thông thường nữa. Đức tin tan mất trong tầm nhìn, và tầm nhìn tan mất trong sự đồng hóa với Đại Ánh Sáng. |
|
173. The seeker has re-become the revealed Reality (which he has always been). |
173. Người tìm kiếm đã trở lại thành Thực Tại được mặc khải, điều mà y vốn luôn là. |
|
What comes thy way for revelation? What hast thou to reveal? |
Điều gì đến trên đường ngươi để được mặc khải? Ngươi có gì để mặc khải? |
|
174. And here is the point—the focus on that which ever true reveler of unity, oneness, synthesis, must reveal. |
174. Và đây là điểm chính — sự tập trung vào điều mà mọi người mặc khải chân thật về sự hợp nhất, nhất thể và tổng hợp đều phải mặc khải. |
|
Only that which has for aeons long existed and has for aye been here. |
Chỉ điều đã hiện hữu suốt các kỷ nguyên lâu dài và đã luôn ở đây mãi mãi. |
|
175. That which we seek is ever present. Reality is ever present despite the fact that for long ages we fail to apprehend it. |
175. Điều chúng ta tìm kiếm luôn hiện diện. Thực tại luôn hiện diện, dù trong nhiều thời đại dài lâu chúng ta không lĩnh hội được nó. |
|
176. “God IS. The Lord for aye stands firm. Being exists along. Naught else is.” |
176. “Thượng đế HIỆN HỮU. Chúa Tể mãi mãi đứng vững. Bản Thể duy nhất hiện hữu. Không còn gì khác.” |
|
177. The true revealer is the revealer of the Reality which is—Unity, Oneness, Synthesis. |
177. Người mặc khải chân thật là người mặc khải Thực Tại vốn hiện hữu—Hợp Nhất, Nhất Thể, Tổng Hợp. |
|
The Oneness of the Presence; the area [Page 303] of love; the living, loving, wise, inclusive One, enfolding all and being all and leaving naught outside. |
Nhất Thể của Sự Hiện Diện; vùng [Page 303] của tình thương; Đấng Duy Nhất sống động, yêu thương, minh triết, bao gồm, ôm trọn tất cả, là tất cả và không để điều gì ở bên ngoài. |
|
178. It is obvious that the true revealer is Sprit-identified. He has seen the Presence and through identification as that Presence subject and object are merged into one. He stands within the Presence and that Presence makes itself evident to others through his personality instrument. |
178. Hiển nhiên, người mặc khải chân thật đã đồng hóa với Tinh thần. Y đã thấy Sự Hiện Diện, và qua sự đồng hóa như Sự Hiện Diện ấy, chủ thể và đối tượng hòa nhập thành một. Y đứng trong Sự Hiện Diện, và Sự Hiện Diện ấy tự làm cho người khác nhận biết được qua khí cụ phàm ngã của y. |
|
179. He becomes the revealer of the Self he is. |
179. Y trở thành người mặc khải Bản Ngã mà y là. |
|
To whom must come this revelation, O Server of the world of living things? |
Mặc khải này phải đến với ai, hỡi Người Phụng Sự thế giới của các sinh thể? |
|
180. Who is to be served by the revelation of the Presence? This is the question. |
180. Ai sẽ được phụng sự bởi sự mặc khải của Sự Hiện Diện? Đây là câu hỏi. |
|
To all enfolded in the living, loving Presence; to those who all unknown to them maintain that Presence and for ever shall endure—as doth that Presence. |
Đến tất cả những ai được ôm trùm trong Sự Hiện Diện sống động và đầy tình thương; đến những ai, dù hoàn toàn không hay biết, vẫn duy trì Sự Hiện Diện ấy và sẽ trường tồn mãi mãi—như chính Sự Hiện Diện ấy trường tồn. |
|
181. These are such profound words. All are to be served and all are enfolded in the living, loving Presence whether or not they know it. |
181. Đây là những lời vô cùng sâu xa. Tất cả đều phải được phụng sự, và tất cả đều được ôm trùm trong Sự Hiện Diện sống động và đầy tình thương, dù họ biết điều đó hay không. |
|
182. Moreover, those enfolded in the Presence are the Presence and shall endure forever even as that Presence endures. |
182. Hơn nữa, những ai được ôm trùm trong Sự Hiện Diện chính là Sự Hiện Diện và sẽ trường tồn mãi mãi như Sự Hiện Diện ấy trường tồn. |
|
183. How interesting that all beings “maintain that Presence”. Simply by being who they are, they are inescapably an anchor for the expression of the one and only Presence. In deepest essence, all B/beings can be nothing but the Presence. |
183. Thật thú vị biết bao khi mọi hữu thể đều “duy trì Sự Hiện Diện ấy”. Chỉ bằng việc là chính mình, họ tất yếu là một điểm neo cho sự biểu hiện của Sự Hiện Diện duy nhất. Trong bản thể sâu xa nhất, mọi hữu thể không thể là gì khác ngoài Sự Hiện Diện. |
|
184. Simply by existing all beings reveal the One. |
184. Chỉ bằng việc hiện hữu, mọi hữu thể đều mặc khải Đấng Duy Nhất. |
|
And who are those who live within that Presence but know it not? |
Và những ai sống trong Sự Hiện Diện ấy nhưng không biết điều đó là ai? |
|
185. Here is hinted the state of consciousness of most human beings—those who must be reached by the revealer of the Presence. |
185. Ở đây hàm chỉ trạng thái tâm thức của đa số con người—những người mà kẻ mặc khải Sự Hiện Diện phải tiếp cận. |
|
They are myself and thou, and still they are myself and still are all I meet. |
Họ là chính tôi và bạn, và họ vẫn là chính tôi, và vẫn là tất cả những ai tôi gặp. |
|
186. The statement is utterly inclusive. All are the Presence and live within the Presence which they are, but most know it not. |
186. Lời khẳng định này hoàn toàn bao gồm. Tất cả đều là Sự Hiện Diện và sống trong Sự Hiện Diện mà họ chính là, nhưng đa số không biết điều đó. |
|
It is the one in every form who think mayhap that form is all; |
Đó là Đấng Duy Nhất trong mọi hình tướng, kẻ có lẽ nghĩ rằng hình tướng là tất cả; |
|
187. The average human being is form-identified. |
187. Con người trung bình đồng hóa với hình tướng. |
|
188. Notice that that the Catechism speaks of the true identity—the “one in every form”. |
188. Hãy lưu ý rằng Giáo lý vấn đáp nói đến bản sắc chân thật—“Đấng Duy Nhất trong mọi hình tướng”. |
|
who living thus in time and space, see not the light or life within the form, |
kẻ sống như thế trong thời gian và không gian, không thấy ánh sáng hay sự sống bên trong hình tướng, |
|
189. So many of us are blinded by the Great Illusion consisting of time/space perception—the great veil upon Reality. We see only the apparencies, the externalities. |
189. Biết bao người trong chúng ta bị làm mù bởi Đại Ảo Tưởng gồm nhận thức thời gian/không gian—tấm màn che vĩ đại phủ lên Thực Tại. Chúng ta chỉ thấy các vẻ ngoài, các điều ngoại hiện. |
|
who hide within, behind the veils, between the four and five (the four kingdoms in nature and the kingdom of God. A.A.B.) and see naught else. |
kẻ ẩn bên trong, sau các bức màn, giữa bốn và năm (bốn giới trong thiên nhiên và Thiên Giới. A.A.B.) và không thấy gì khác. |
|
190. The Spirit, in a way, is not a member of either the fourth kingdom or the fifth. The Monad is a planetary life, a true member of the sixth kingdom and thus behind the fourth lower kingdoms and the fifth (considering them as veils in relation to the ultimate reality of Spirit). |
190. Theo một cách nào đó, Tinh thần không phải là thành viên của giới thứ tư hay giới thứ năm. Chân thần là một sự sống hành tinh, một thành viên đích thực của giới thứ sáu, và do đó ở sau bốn giới thấp và giới thứ năm, nếu xem chúng như các bức màn đối với thực tại tối hậu của Tinh thần. |
|
191. The four (the three kingdoms of nature and humanity) culminate within humanity, which is, nevertheless, a veil upon reality. |
191. Bốn giới, tức ba giới của thiên nhiên và nhân loại, đạt đến đỉnh điểm trong nhân loại; tuy nhiên, chính nhân loại vẫn là một bức màn phủ lên thực tại. |
|
192. Even if the human being sees the soul on the higher mental plane, he has not yet seen Reality—the Monad, Being, Pure Existence, the One. |
192. Ngay cả khi con người thấy linh hồn trên Cõi thượng trí, y vẫn chưa thấy Thực Tại—Chân thần, Bản Thể, Hiện Hữu Thuần Khiết, Đấng Duy Nhất. |
|
193. We human beings hide from Reality are deeply hidden within the form—within even subtle forms. |
193. Chúng ta, những con người, lẩn tránh Thực Tại và bị ẩn giấu sâu trong hình tướng—ngay cả trong những hình tướng vi tế. |
|
194. We may remember how the second ray “Blessed One” built himself and ark and hid within the ark. Because he built so securely, his true nature could not be revealed. |
194. Chúng ta có thể nhớ cách Đấng Chân Phúc cung hai đã tự dựng cho mình một con tàu và ẩn trong con tàu ấy. Vì Ngài xây dựng quá chắc chắn, bản chất chân thật của Ngài không thể được mặc khải. |
|
“The Blessed One built him an ark. Stage by stage he built it, and floated upon the bosom of the waters. Deeply he hid himself, and his light was no more seen,—only his floating ark. (EP II 36) |
“Đấng Chân Phúc đã dựng cho mình một con tàu. Từng giai đoạn một, Ngài dựng nó, và trôi trên lòng nước. Ngài ẩn mình thật sâu, và ánh sáng của Ngài không còn được thấy nữa,—chỉ còn con tàu đang trôi của Ngài. (EP II 36) |
|
To them I must reveal the truth. |
Tôi phải mặc khải chân lý cho họ. |
|
195. In short, the revelation is made to all who do not perceive the Oneness, the Presence. |
195. Tóm lại, sự mặc khải được trao cho tất cả những ai không nhận ra Tính Duy Nhất, Sự Hiện Diện. |
|
196. The initiate reveals by being what he knows he is. |
196. Điểm đạo đồ mặc khải bằng cách là điều mà y biết mình là. |
|
How will you do this hardest of all tasks, O triumphing disciple? |
Bạn sẽ thực hiện nhiệm vụ khó khăn nhất trong mọi nhiệm vụ này như thế nào, hỡi đệ tử chiến thắng? |
|
197. The true initiate is the “Triumphant Disciple”. The sign Scorpio, the ‘Sign of Triumph’ is potent at the first three initiations. At the third initiation, the “Triumphant Disciple” has become the initiate. |
197. Điểm đạo đồ chân chính là “Đệ Tử Chiến Thắng”. Dấu hiệu Hổ Cáp, “Dấu Hiệu của Chiến Thắng”, có uy lực trong ba lần điểm đạo đầu tiên. Ở lần điểm đạo thứ ba, “Đệ Tử Chiến Thắng” đã trở thành điểm đạo đồ. |
|
198. There are no illusions here, no promise of ease. To reveal Oneness in a world of disparity is the most difficult task. Those mired in the perception of multiplicity automatically reject the presentation of Oneness. |
198. Ở đây không có ảo tưởng, không có lời hứa về sự dễ dàng. Mặc khải Tính Duy Nhất trong một thế giới đầy phân hóa là nhiệm vụ khó khăn nhất. Những ai sa lầy trong nhận thức về tính đa tạp tự động bác bỏ sự trình bày về Tính Duy Nhất. |
|
By letting it be seen I am myself the truth; by living as a fragment of that Presence and seeing all its parts. And thus is revelation brought into the four |
Bằng cách để cho người ta thấy rằng chính tôi là chân lý; bằng cách sống như một mảnh phần của Sự Hiện Diện ấy và thấy mọi phần của nó. Và như thế, sự mặc khải được đưa vào bốn giới |
|
and by the fifth. |
và bởi giới thứ năm. |
|
199. The initiate is a member of the fifth kingdom of nature. Only by living the truth which he inherently is, can revelation be made. |
199. Điểm đạo đồ là một thành viên của giới thứ năm trong thiên nhiên. Chỉ bằng cách sống chân lý mà y vốn là, sự mặc khải mới có thể được thực hiện. |
|
200. From those identified with the fifth kingdom, revelation is brought to those still identified with the fourth. |
200. Từ những người đồng hóa với giới thứ năm, sự mặc khải được đưa đến những người vẫn còn đồng hóa với giới thứ tư. |
|
201. The Christ was able to do this—“I am the Way, the Truth and the Life”. He made revelation of these by demonstrably being that which He is. |
201. Đức Christ đã có thể làm điều này—“Ta là Con Đường, Chân Lý và Sự Sống”. Ngài mặc khải những điều này bằng cách chứng tỏ rõ ràng rằng Ngài là điều mà Ngài vốn là. |
|
202. We note the hint that some measure of “Isolated Unity” and “Inclusive Reason” must both be present. Isolated Unity reveals the Presence. “Seeing all its part”—all part of the Presence—indicates Inclusive Reason. |
202. Chúng ta ghi nhận gợi ý rằng một mức độ nào đó của “Hợp Nhất Cô Lập” và “lý trí bao gồm” đều phải hiện diện. Hợp Nhất Cô Lập mặc khải Sự Hiện Diện. “Thấy mọi phần của nó”—mọi phần của Sự Hiện Diện—cho thấy lý trí bao gồm. |
|
This is all that I can give you at this time upon the word and the injunction given to the initiate: Reveal. |
Đó là tất cả những gì tôi có thể trao cho bạn vào lúc này về từ ngữ và huấn lệnh được ban cho điểm đạo đồ: Hãy Mặc Khải. |
|
203. A great deal has been given, has it not? |
203. Rất nhiều điều đã được trao, phải không? |
|
204. The one who has achieved (rather, who has re-become in full consciousness) that which he longed to see, may reveal. |
204. Người đã đạt được, hay đúng hơn, đã trở lại thành trong tâm thức trọn vẹn điều mà y từng khao khát thấy, có thể mặc khải. |
|
I would point that it is not his task to reveal the world of symbols. The five senses and the mind principle are adequate to bring that about. |
Tôi muốn chỉ ra rằng nhiệm vụ của y không phải là mặc khải thế giới của biểu tượng. Năm giác quan và nguyên khí trí tuệ đủ sức làm việc ấy. |
|
205. The three lower worlds are the “world of symbols”. All forms are but symbols of a higher reality. |
205. Ba cõi thấp là “thế giới của biểu tượng”. Mọi hình tướng chỉ là biểu tượng của một thực tại cao hơn. |
|
206. The world of symbols must first be studied by the senses. When DK instructs on the interpretation of symbols, He emphasizes the importance of sensory analysis. |
206. Thế giới của biểu tượng trước hết phải được nghiên cứu bằng các giác quan. Khi Chân sư DK chỉ dạy về việc diễn giải biểu tượng, Ngài nhấn mạnh tầm quan trọng của phân tích giác quan. |
|
It is not his task to reveal the world of meaning. That, the disciple arrives at and interprets as he develops soul consciousness. |
Nhiệm vụ của y không phải là mặc khải Thế giới của ý nghĩa. Điều đó, đệ tử tự đạt đến và diễn giải khi y phát triển tâm thức linh hồn. |
|
207. The World of Meaning is the World of the Soul. The place and fittingness of things within the whole is revealed to the one who has achieved soul-consciousness. |
207. Thế giới của ý nghĩa là Thế giới của Linh hồn. Vị trí và sự thích hợp của vạn vật trong toàn thể được mặc khải cho người đã đạt được tâm thức linh hồn. |
|
His is the task to reveal the world of significances, the world of reality and of essential truth. |
Nhiệm vụ của y là mặc khải thế giới của các thâm nghĩa, thế giới của thực tại và của chân lý cốt yếu. |
|
208. Some have pondered what the World of Significance really is. Here DK calls it the “World of Significances”—plural. |
208. Một số người đã suy ngẫm Thế giới của thâm nghĩa thực sự là gì. Ở đây Chân sư DK gọi đó là “Thế giới của các thâm nghĩa”—ở số nhiều. |
|
209. Reality and essential truth are characteristics of this triadal world. |
209. Thực tại và chân lý cốt yếu là những đặc tính của thế giới thuộc Tam nguyên tinh thần này. |
|
210. As well, we might say that all is revealed within the Light of the Divine Will. |
210. Cũng vậy, chúng ta có thể nói rằng tất cả đều được mặc khải trong Ánh sáng của Ý Chí thiêng liêng. |
|
211. The soul in the causal body on the higher mental plane is not yet a member of the World of Significances. |
211. Linh hồn trong thể nguyên nhân trên Cõi thượng trí vẫn chưa phải là một thành viên của Thế giới của các thâm nghĩa. |
|
Because of the success of the evolutionary process, this latter task is growing, and more and more initiated revealers will be needed during the period immediately ahead. |
Do thành công của tiến trình tiến hóa, nhiệm vụ sau này đang gia tăng, và ngày càng cần thêm nhiều vị mặc khải đã được điểm đạo trong giai đoạn ngay trước mắt. |
|
212. During the Age of Aquarius, which is the Age of Universality, revealers of the universal, the unitive, the One, will be increasingly needed. This will be a conduit through which the major quality of Aquarius can reach many of the members of the Fourth Creative Hierarchy. |
212. Trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, vốn là Kỷ Nguyên của Tính Phổ Quát, những vị mặc khải điều phổ quát, điều hợp nhất, Đấng Duy Nhất, sẽ ngày càng được cần đến. Đây sẽ là một ống dẫn qua đó phẩm tính chính yếu của Bảo Bình có thể đến với nhiều thành viên của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư. |
|
Forget not that the invocative appeal of the mass of men, and the intelligent voicing of demand by those prepared intelligently to move forward, will inevitably [Page 304] call forth the needed response and the needed revealers of reality. |
Đừng quên rằng lời thỉnh cầu mang tính khẩn cầu của quần chúng nhân loại, và sự phát biểu nhu cầu một cách sáng suốt bởi những người đã được chuẩn bị để tiến tới một cách sáng suốt, chắc chắn sẽ [Page 304] khơi gọi sự đáp ứng cần thiết và những vị mặc khải thực tại cần thiết. |
|
213. Invocation calls forth response. Invocation results in evocation. |
213. Sự khẩn cầu gợi lên đáp ứng. Sự khẩn cầu dẫn đến sự gợi lên. |
|
214. Human consciousness is awakening and demanding “more light”. That demand must be met. Perhaps there are some reading this book at this time who are sufficiently identified with Reality andas the Presence, to participate in meeting that demand. |
214. Tâm thức nhân loại đang thức tỉnh và đòi hỏi “nhiều ánh sáng hơn”. Nhu cầu ấy phải được đáp ứng. Có lẽ hiện nay có một số người đang đọc cuốn sách này đã đồng hóa đủ sâu với Thực Tại vàvới tư cách là Sự Hiện Diện, để tham gia vào việc đáp ứng nhu cầu ấy. |
|
The next word which we are to consider is one of the most difficult for me to explain. |
Từ ngữ kế tiếp mà chúng ta sẽ xem xét là một trong những từ khó giải thích nhất đối với tôi. |
|
215. We move on to the word which suggests the attainment of the fourth initiation—the word, “Destroy”. |
215. Chúng ta chuyển sang từ ngữ gợi ý sự thành đạt của lần điểm đạo thứ tư—từ ngữ “Hủy Diệt”. |
|
The reason for my difficulty is that you are all imbued with the ordinary ideas anent these familiar words, |
Lý do khiến tôi gặp khó khăn là vì tất cả các bạn đều thấm nhuần những ý niệm thông thường liên quan đến các từ quen thuộc này, |
|
216. In it necessary to destroy our customary understanding of the works used in these five injunctions. |
216. Cần phải phá hủy cách hiểu quen thuộc của chúng ta về những từ được dùng trong năm huấn lệnh này. |
|
and therefore it is well-nigh impossible for me to convey their significances to you from the angle of the initiate-consciousness. |
và vì vậy gần như không thể nào để tôi truyền đạt các thâm nghĩa của chúng cho bạn từ góc độ của tâm thức điểm đạo đồ. |
|
217. We must disabuse ourselves of common interpretations. |
217. Chúng ta phải tự giải thoát mình khỏi những cách diễn giải thông thường. |
|
218. It is quite amazing that Master DK feels much hampered in His attempt to convey the true significance of these words—the real significance, the essential significance as appreciated within the World of Significances.. |
218. Thật đáng kinh ngạc khi Chân sư DK cảm thấy bị cản trở rất nhiều trong nỗ lực truyền đạt thâm nghĩa chân thật của những từ này—thâm nghĩa thực sự, thâm nghĩa cốt yếu như được nhận biết trong Thế giới của các thâm nghĩa. |
|
Identified as you are with the form aspect and with life in the three worlds, it is hard for you to comprehend the state of mind and the type of awareness which distinguishes those who are free from these all-compelling forces in the three worlds which condition human beings, |
Vì các bạn đồng hóa với phương diện hình tướng và với đời sống trong ba cõi, nên thật khó cho các bạn thấu hiểu trạng thái trí tuệ và loại nhận biết vốn phân biệt những người đã thoát khỏi các mãnh lực chi phối hoàn toàn này trong ba cõi, những mãnh lực tác động lên con người, |
|
219. The forces and forms within the three lower worlds compel the human consciousness and imprison it in illusion. |
219. Các mãnh lực và hình tướng trong ba cõi thấp cưỡng bách tâm thức con người và giam hãm nó trong ảo tưởng. |
|
220. Who among us is to convincingly state that he or she is not largely identified with the form aspect and with life in the three lower worlds? |
220. Ai trong chúng ta có thể khẳng định một cách thuyết phục rằng mình không phần lớn đồng hóa với phương diện hình tướng và với đời sống trong ba cõi thấp? |
|
221. The power of Uranus must transcend that of lower Saturn before we are ready to achieve the kind of initiate consciousness here discussed. |
221. Quyền năng của Sao Thiên Vương phải vượt lên trên quyền năng của Sao Thổ thấp trước khi chúng ta sẵn sàng đạt đến loại tâm thức điểm đạo đồ đang được bàn đến ở đây. |
|
thus bringing about erroneous orientation and preventing what is really meant by spiritual perception. |
do đó tạo ra định hướng sai lầm và ngăn cản điều thực sự được hàm ý bởi nhận thức tinh thần. |
|
222. A “word to the wise” may be sufficient, but words can also obstruct the attainment of wisdom. |
222. Một “lời nói với người minh triết” có thể là đủ, nhưng lời nói cũng có thể cản trở việc đạt được minh triết. |
|
223. “Spiritual perception” accompanies “intuitive instinct” as a necessary foundation for the third initiation. |
223. “Nhận thức tinh thần” đi kèm với “bản năng trực giác” như một nền tảng cần thiết cho lần điểm đạo thứ ba. |
|
The attitude of the average man, and even of the average disciple, is that of one who looks in from the periphery towards the centre, of one who is preoccupied with the shell of life and is not conscious of Reality as is a member of the Hierarchy. |
Thái độ của con người trung bình, và ngay cả của đệ tử trung bình, là thái độ của một người nhìn từ ngoại vi vào trung tâm, của một người bận tâm với lớp vỏ của sự sống và không có ý thức về Thực Tại như một thành viên của Thánh Đoàn. |
|
224. DK tells us where we really are, in our consciousness. We have not yet “worked our way in”. We still dealing with the shell (Cancer) or rind (Capricorn) of life. |
224. Chân sư DK cho chúng ta biết chúng ta thực sự đang ở đâu trong tâm thức của mình. Chúng ta vẫn chưa “tự mở đường đi vào trong”. Chúng ta vẫn đang xử lý lớp vỏ ngoài của sự sống, tức Cự Giải, hay lớp cùi, tức Ma Kết. |
|
225. Yet Reality beckons to us. That which ever has been ‘calls’ for recognition and subsequent revelation. |
225. Tuy nhiên, Thực Tại vẫn vẫy gọi chúng ta. Cái vốn hằng hữu “kêu gọi” sự nhận biết và sự mặc khải tiếp sau đó. |
|
Therefore, when I tell you that these words for initiates which constitute what I have called Rule XIV have a connotation quite different from that to which you are accustomed, I am propounding for you a most difficult problem. |
Vì vậy, khi Tôi nói với các bạn rằng những linh từ dành cho các điểm đạo đồ, vốn hợp thành điều Tôi đã gọi là Quy luật Mười Bốn, có một hàm nghĩa hoàn toàn khác với điều các bạn quen thuộc, Tôi đang nêu ra cho các bạn một vấn đề hết sức khó khăn. |
|
226. It will require deep thought from each of us if we are truly to penetrate these Word of Powers. |
226. Điều đó sẽ đòi hỏi sự suy ngẫm sâu xa nơi mỗi chúng ta nếu chúng ta thật sự muốn thâm nhập những Quyền năng từ này. |
|
The true understanding is, I realise, not possible for you but much can be gained by your effort to comprehend. |
Tôi nhận ra rằng sự thấu hiểu đích thực là điều chưa thể có đối với các bạn, nhưng có thể thu đạt được nhiều điều nhờ nỗ lực thấu hiểu của các bạn. |
|
227. From this statement, we must take our consolation. Every effort to comprehend is an invocation of the hidden Truth. Such effort is a method for coming en-rapport with that which can, thus far, only be dimly sensed. |
227. Từ phát biểu này, chúng ta phải rút lấy niềm an ủi của mình. Mọi nỗ lực thấu hiểu đều là một sự khẩn cầu Chân Lý ẩn tàng. Nỗ lực như thế là một phương pháp để đi vào sự hòa hợp với điều mà cho đến nay chỉ có thể được cảm nhận một cách mơ hồ. |
|
228. When we are faced with the incomprehensible, we should redouble our efforts to understand, no matter how unproductive the task seems—at first. “What man has done, man can do.” We are all Masters in the making, and one day, will be so. |
228. Khi đối diện với điều không thể thấu hiểu, chúng ta nên tăng gấp đôi nỗ lực để hiểu, bất kể nhiệm vụ ấy thoạt đầu có vẻ không sinh kết quả đến đâu. “Điều con người đã làm được, con người có thể làm được.” Tất cả chúng ta đều là những Chân sư đang trong tiến trình hình thành, và một ngày kia sẽ trở thành như thế. |
|
What you mean when you speak of the abstract mind is not exactly true to the facts; |
Điều các bạn muốn nói khi nói đến trí trừu tượng không hoàn toàn đúng với các sự kiện; |
|
229. It has often been a problem to define exactly what the abstract mind really is. Many people may learn to think somewhat abstractly without utilizing that which DK calls the “abstract mind”. |
229. Việc định nghĩa chính xác trí trừu tượng thật sự là gì thường là một vấn đề khó khăn. Nhiều người có thể học cách suy nghĩ phần nào trừu tượng mà không vận dụng điều Chân sư DK gọi là “trí trừu tượng”. |
|
230. Abstract thinking is based upon the power of generalization which grows, inevitably, as human consciousness matures. But the abstract mind is more than the power to generalize. |
230. Tư duy trừu tượng dựa trên quyền năng khái quát hóa, vốn chắc chắn tăng trưởng khi tâm thức nhân loại trưởng thành. Nhưng trí trừu tượng còn hơn cả quyền năng khái quát hóa. |
|
the effort to think abstractly is really an effort to think as far as possible as an initiate thinks who has transcended the concrete mind and thinks, |
nỗ lực suy nghĩ một cách trừu tượng thật ra là nỗ lực suy nghĩ, càng nhiều càng tốt, như một điểm đạo đồ suy nghĩ, người đã vượt qua trí cụ thể và suy nghĩ, |
|
231. How does an initiate think? The initiate has transcended preoccupation with the lower form. He thinks in terms of energy patterns and not in terms of the forms which those patterns have coalesced. |
231. Một điểm đạo đồ suy nghĩ như thế nào? Điểm đạo đồ đã vượt qua sự bận tâm với hình tướng thấp. Y suy nghĩ theo các mô hình năng lượng, chứ không theo các hình tướng mà những mô hình ấy đã kết tụ thành. |
|
232. The abstract mind apprehends these underlying energy patterns—the ‘energy blueprints’ upon which concrete forms are built. |
232. Trí trừu tượng lĩnh hội những mô hình năng lượng nền tảng này—những “bản thiết kế năng lượng” trên đó các hình tướng cụ thể được xây dựng. |
|
or rather is aware, in terms of life and not of form, of being and not that which anchors being on the physical plane—or even in terms of consciousness, as you understand it. |
hay đúng hơn là ý thức, theo các phạm trù sự sống chứ không phải hình tướng, theo bản thể chứ không phải điều neo giữ bản thể trên cõi hồng trần—thậm chí cũng không theo các phạm trù tâm thức như các bạn hiểu. |
|
233. From this description, to utilized the abstract mind is an attempt to move beyond our ordinary understanding of consciousness. |
233. Từ mô tả này, việc vận dụng trí trừu tượng là một nỗ lực vượt ra ngoài sự hiểu biết thông thường của chúng ta về tâm thức. |
|
234. Perhaps to think abstractly it is not thinking at all, as we usually understand that term, but a kind of intuitive apprehension of that which thought is intended to reveal—namely, Reality. |
234. Có lẽ suy nghĩ một cách trừu tượng hoàn toàn không phải là suy nghĩ như chúng ta thường hiểu thuật ngữ ấy, mà là một loại lĩnh hội trực giác về điều mà tư tưởng nhằm mặc khải—tức là Thực Tại. |
|
235. The true abstract thinker is thus aware: |
235. Do đó, người tư duy trừu tượng đích thực ý thức: |
|
a. Of that which transcends the concrete mind |
a. Về điều vượt lên trên trí cụ thể |
|
b. Of life rather than form |
b. Về sự sống hơn là hình tướng |
|
c. Of being rather than that which anchors being upon the physical plane. |
c. Về bản thể hơn là điều neo giữ bản thể trên cõi hồng trần. |
|
d. Of that which lies beyond consciousness as commonly understood. |
d. Về điều nằm ngoài tâm thức như thường được hiểu. |
|
236. We must be careful to discriminate abstract thinking from intuitive apprehension. Abstract thinking, though occurring within what is normally called the arupa worlds, still, from the solar logoic perspective, occurs within the dense physical body of that Logos. Intuitive apprehension or ‘thinking’ occurs within the cosmic etheric body of that Logos. |
236. Chúng ta phải cẩn thận phân biện tư duy trừu tượng với sự lĩnh hội trực giác. Tư duy trừu tượng, dù diễn ra trong những gì thường được gọi là các cõi vô sắc, vẫn, xét từ viễn cảnh của Thái dương Thượng đế, diễn ra trong thể xác đậm đặc của Đấng Thượng đế ấy. Sự lĩnh hội trực giác hay “tư duy” diễn ra trong thể dĩ thái vũ trụ của Đấng Thượng đế ấy. |
|
Forget not that I have elsewhere told you that consciousness (as grasped by the personality and the soul) has little relation to that form of living awareness which distinguishes the initiate who is essentially an expression of the Monad through the medium of the three aspects of the Spiritual Triad. |
Đừng quên rằng ở nơi khác Tôi đã nói với các bạn rằng tâm thức, như phàm ngã và linh hồn nắm bắt, có rất ít liên hệ với hình thức nhận thức sống động vốn phân biệt điểm đạo đồ, người về bản chất là một biểu hiện của chân thần thông qua trung gian của ba phương diện của Tam Nguyên Tinh Thần. |
|
237. For the initiate, consciousness (as usually conceived) is transcended and yet consciousness (per se) is not. A “living awareness” is his. It is, essentially, “monadic awareness”. |
237. Đối với điểm đạo đồ, tâm thức, như thường được quan niệm, đã được vượt qua, nhưng chính tâm thức thì không. Y có một “nhận thức sống động”. Về bản chất, đó là “nhận thức chân thần”. |
|
238. What is the initiate? Certainly not the personality. Rather, the initiate “is essentially an expression of the Monad through the medium of the three aspects of the Spiritual Triad”. |
238. Điểm đạo đồ là gì? Chắc chắn không phải là phàm ngã. Đúng hơn, điểm đạo đồ “về bản chất là một biểu hiện của chân thần thông qua trung gian của ba phương diện của Tam Nguyên Tinh Thần”. |
|
239. Whereas we disciples think in terms of soul and personality, for the true initiate, the Monad has replaced the soul and the spiritual triad, the personality. |
239. Trong khi chúng ta, những đệ tử, suy nghĩ theo linh hồn và phàm ngã, thì đối với điểm đạo đồ đích thực, chân thần đã thay thế linh hồn, và Tam Nguyên Tinh Thần đã thay thế phàm ngã. |
|
This is peculiarly so in connection with the two [Page 305] words Which remain for us to consider: Destroy and Resurrect. |
Điều này đặc biệt đúng liên quan đến hai [Page 305] linh từ còn lại để chúng ta xem xét: Hủy Diệt và Phục Sinh. |
|
240. The words “Destroy” and “Resurrect” refer only to advanced initiates and Masters. |
240. Các linh từ “Hủy Diệt” và “Phục Sinh” chỉ liên quan đến các điểm đạo đồ cao cấp và các Chân sư. |
|
241. Those who can truly respond to these injunctions have either destroyed or are in process of destroying the causal body. This means that they are not the average reader of The Rays and the Initiations. |
241. Những ai có thể thật sự đáp ứng các huấn thị này hoặc đã hủy diệt, hoặc đang trong tiến trình hủy diệt thể nguyên nhân. Điều này có nghĩa là họ không phải là độc giả trung bình của Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo. |
|
242. Step by step Master DK is leading us into dimensions which we could not penetrate ourselves. Not that we can really penetrate them now, but we are being given some knowledge of that which is to be found within such dimensions, and the requirements of those who seek to polarize their awareness therein. |
242. Từng bước một, Chân sư DK đang dẫn chúng ta vào những chiều kích mà tự mình chúng ta không thể thâm nhập. Không phải là hiện nay chúng ta thật sự có thể thâm nhập chúng, nhưng chúng ta đang được trao cho một ít tri thức về điều có thể được tìm thấy trong những chiều kích ấy, và về các yêu cầu đối với những ai tìm cách phân cực nhận thức của mình trong đó. |
|
243. I wonder if we realize the type of insight which Master DK is attempting to evoke from us. This is no ordinary book. It speaks to that which far transcends our usual preoccupations. It speaks to our highest inner nature—the spiritual triad and Monad. |
243. Tôi tự hỏi liệu chúng ta có nhận ra loại minh kiến mà Chân sư DK đang cố gợi lên từ chúng ta hay không. Đây không phải là một cuốn sách bình thường. Nó nói với điều vượt xa những bận tâm thường lệ của chúng ta. Nó nói với bản chất bên trong cao nhất của chúng ta—Tam Nguyên Tinh Thần và chân thần. |
|
Part IV of V, R&I (305-312) |
Phần Bốn trong Năm, Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo (305-312) |
|
(All Highlighting, Bolding and Underlining—MDR) |
(Mọi phần tô sáng, in đậm và gạch dưới—MDR) |
|
Please read this Commentary with your book open or with reference to an electronic copy of the text. This will facilitate an appreciation of continuity. |
Xin hãy đọc Bài Bình Giải này khi sách của bạn đang mở, hoặc tham chiếu đến một bản điện tử của văn bản. Điều này sẽ giúp dễ cảm nhận tính liên tục. |
|
4. Destroy. |
4. Hủy diệt. |
|
What is this destruction which the disciple and the initiate (under instruction from this final rule) is asked to bring about? What is he required to destroy? Why is this destruction ordered? |
Sự hủy diệt này là gì, điều mà đệ tử và điểm đạo đồ, dưới sự huấn thị của quy luật cuối cùng này, được yêu cầu thực hiện? Y được yêu cầu hủy diệt điều gì? Tại sao sự hủy diệt này lại được truyền lệnh? |
|
1. We see that the destruction here referenced is not a matter of choice. It is ordered. It is ordained. There can be no evasion. |
1. Chúng ta thấy rằng sự hủy diệt được nói đến ở đây không phải là vấn đề lựa chọn. Nó được truyền lệnh. Nó được ấn định. Không thể có sự lẩn tránh. |
|
2. We note that in carrying out this injunction it is, in part at least, the Rule which instructs the disciple/initiation to do so. |
2. Chúng ta lưu ý rằng, khi thi hành huấn thị này, ít nhất một phần, chính Quy luật huấn thị đệ tử/điểm đạo đồ phải làm như vậy. |
|
3. Do we find that the Rules are in process of instructing us as individuals and groups? |
3. Chúng ta có nhận thấy rằng các Quy luật đang trong tiến trình huấn thị chúng ta với tư cách cá nhân và nhóm không? |
|
Let me start with a basic statement: Destruction or the power and the wish to destroy which is characteristic of the undeveloped man, of the average man and of the probationary disciple is based upon the following impelling influences: |
Tôi xin bắt đầu bằng một phát biểu căn bản: Sự hủy diệt, hay quyền năng và ước muốn hủy diệt vốn đặc trưng cho con người chưa phát triển, con người trung bình và đệ tử dự bị, dựa trên các ảnh hưởng thúc đẩy sau đây: |
|
4. We see that the wish to destroy is even to be found in the probationary disciple. |
4. Chúng ta thấy rằng ước muốn hủy diệt thậm chí còn được tìm thấy nơi đệ tử dự bị. |
|
5. When the word “wish” is employed we see that the astral body is involved. The impulse towards destruction comes largely from there. |
5. Khi từ “ước muốn” được sử dụng, chúng ta thấy rằng thể cảm dục có liên quan. Xung động hướng tới sự hủy diệt phần lớn phát xuất từ đó. |
|
6. Have we asked ourselves whether the wish to destroy is to be found without ourselves, and if so, at what level does it operate? |
6. Chúng ta đã tự hỏi liệu ước muốn hủy diệt có được tìm thấy trong chính chúng ta không, và nếu có, nó vận hành ở cấp độ nào? |
|
7. The wish or will to destroy is much associated with Mars and Pluto. Vulcan and Saturn also play their parts. Mars, since it is a planet associated strongly with the astral body, is the primary energy behind this “wish”. |
7. Ước muốn hay ý chí hủy diệt liên hệ nhiều với Sao Hỏa và Sao Diêm Vương. Vulcan và Sao Thổ cũng đóng vai trò của mình. Sao Hỏa, vì là một hành tinh gắn bó mạnh mẽ với thể cảm dục, là năng lượng chủ yếu phía sau “ước muốn” này. |
|
1. Lack of self-control along some line. |
1. Thiếu tự chủ theo một phương diện nào đó. |
|
8. Undeveloped man seeks the gratification of his lower impulses. Hs does not seek to restrain himself and his lack of control turns destructive. |
8. Con người chưa phát triển tìm kiếm sự thỏa mãn các xung động thấp của mình. Y không tìm cách kiềm chế bản thân, và sự thiếu kiểm soát của y trở nên hủy hoại. |
|
9. Sometimes destruction is accidental no doubt due to the inability to control the actions of one’s physical vehicle. Breakage through clumsiness is a fairly benign example. |
9. Đôi khi sự hủy hoại là tình cờ, chắc chắn do không thể kiểm soát các hành động của vận cụ hồng trần của mình. Sự đổ vỡ do vụng về là một ví dụ khá vô hại. |
|
2. Desire to attain one’s wishes by the removal of all obstacles. |
2. Mong muốn đạt được điều mình muốn bằng cách loại bỏ mọi chướng ngại. |
|
10. This is a Martian impulse pertaining to the low use of the sixth and first rays. The astral elemental hates restraint and only later is trained to accept it. The heated astral body ‘sees’ only the object of its desire and that which seems to stand in the way of satisfaction through the possession of that object. It is blind to the larger issues. It does not understand what the destruction of the obstacle may mean to the larger context. |
10. Đây là một xung động Sao Hỏa, liên quan đến việc sử dụng thấp cung sáu và cung một. Hành khí cảm dục ghét sự kiềm chế và chỉ về sau mới được huấn luyện để chấp nhận nó. Thể cảm dục nóng bừng chỉ “thấy” đối tượng của dục vọng của nó và điều dường như cản đường sự thỏa mãn thông qua việc sở hữu đối tượng ấy. Nó mù lòa trước những vấn đề rộng lớn hơn. Nó không hiểu việc hủy diệt chướng ngại có thể hàm ý gì đối với bối cảnh rộng lớn hơn. |
|
3. Violent emotional reaction. |
3. Phản ứng cảm xúc dữ dội. |
|
11. When murder is perpetrated without premeditation and due to emotional violence, it is called “manslaughter”. |
11. Khi một vụ giết người được thực hiện không có sự dự mưu và do bạo lực cảm xúc, nó được gọi là “ngộ sát”. |
|
12. We might call this ‘irrational mobilization’ of all forces to destroy that which threatens, displeases or offends. It happens frequently among those who cannot control their astral reactions. |
12. Chúng ta có thể gọi đây là “sự huy động phi lý trí” của mọi mãnh lực để hủy diệt điều đe dọa, làm phật ý hoặc xúc phạm. Điều đó thường xảy ra nơi những người không thể kiểm soát các phản ứng cảm dục của mình. |
|
4. Revenge, hate, acquisitiveness and similar faults, based on lack of spiritual unfoldment. |
4. Sự trả thù, lòng căm ghét, tính chiếm hữu và những lỗi lầm tương tự, dựa trên sự thiếu khai mở tinh thần. |
|
13. The spiritually unfolded individual cannot fall victim to these low emotions based upon the cravings of the ego. Here we are in the realm of the “Hydra”, especially the “emotional heads” of the Hydra. The lower solar plexus is engaged in such emotions and the sacral center to some degree. |
13. Cá nhân đã khai mở tinh thần không thể trở thành nạn nhân của những cảm xúc thấp này, vốn dựa trên các ham muốn của phàm ngã. Ở đây chúng ta ở trong cõi của “quái vật nhiều đầu”, đặc biệt là “những chiếc đầu cảm xúc” của quái vật ấy. Vùng thấp của tùng thái dương tham dự vào những cảm xúc như thế, và trung tâm xương cùng cũng tham dự ở một mức độ nào đó. |
|
5. The effort to remove hindrances within oneself, such as those implied in the rule for probationary disciples: Kill out desire. |
5. Nỗ lực loại bỏ các chướng ngại bên trong chính mình, chẳng hạn những điều được hàm ý trong quy luật dành cho các đệ tử dự bị: Hãy diệt trừ dục vọng. |
|
14. To tread the Path of Probation suggests that the discriminative mind has become active. This development has become possible through the often repeated experience of pain and suffering. The one who has endured pain and suffering through the frustration of his desires, begins to ask “why”. |
14. Bước trên Con Đường Dự Bị hàm ý rằng trí phân biện đã trở nên hoạt động. Sự phát triển này đã trở nên khả hữu nhờ kinh nghiệm đau đớn và khổ đau thường xuyên lặp lại. Người đã chịu đựng đau đớn và khổ đau do dục vọng của mình bị cản trở bắt đầu hỏi “tại sao”. |
|
15. On the Path of Probation we enter the realm of deliberate destruction within the realm of character. |
15. Trên Con Đường Dự Bị, chúng ta bước vào lĩnh vực của sự hủy diệt có chủ ý trong phạm vi tính cách. |
|
6. The deliberate destruction of all that prevents contact with the soul. |
6. Sự hủy diệt có chủ ý mọi điều ngăn cản sự tiếp xúc với linh hồn. |
|
16. This type of destruction is an act of will by the one who has become a true disciple. It is a rational, soul-inspired destructiveness. The light streaming from the soul reveals the need for such destruction. |
16. Loại hủy diệt này là một hành vi ý chí của người đã trở thành một đệ tử đích thực. Đó là tính hủy diệt hợp lý, do linh hồn truyền cảm hứng. Ánh sáng tuôn trào từ linh hồn mặc khải nhu cầu về sự hủy diệt như thế. |
|
7. The destroying of all links which hold the spiritual man in the three worlds. |
7. Việc hủy diệt mọi mắt xích giữ con người tinh thần trong ba cõi. |
|
17. We have reached the period of the fourth initiation after which incarnation in the lower three worlds is no longer necessary. |
17. Chúng ta đã đạt đến giai đoạn của lần điểm đạo thứ tư, sau đó việc lâm phàm trong ba cõi thấp không còn cần thiết nữa. |
|
18. The power of Vulcan is here for Vulcan both forges links and shatters them. |
18. Quyền năng của Vulcan hiện diện ở đây, vì Vulcan vừa rèn nên các mắt xích vừa đập vỡ chúng. |
|
19. Pluto is also involved for Pluto rules the “shears” which cut threads of attachment. |
19. Sao Diêm Vương cũng có liên quan, vì Sao Diêm Vương cai quản “những lưỡi kéo” cắt đứt các sợi dây ràng buộc. |
|
These motives for destruction are all related to desire, to emotion and also to aspiration, implemented (towards the end of the cycle which leads to the treading of the Probationary Path) by the lower concrete mind. |
Tất cả những động cơ hủy diệt này đều liên hệ với dục vọng, với cảm xúc và cũng với khát vọng, được thực thi, vào cuối chu kỳ dẫn đến việc bước trên Con Đường Dự Bị, nhờ hạ trí cụ thể. |
|
20. Yes, some form of desire is involved in all these acts of destruction, however, with increasing mental focus, destruction also becomes a willed act with the concrete mind acting as the carrier of the will. |
20. Đúng vậy, một hình thức dục vọng nào đó có liên quan trong tất cả các hành vi hủy diệt này; tuy nhiên, với sự tập trung trí tuệ ngày càng tăng, sự hủy diệt cũng trở thành một hành vi thuộc ý chí, trong đó trí cụ thể đóng vai trò vật mang của ý chí. |
|
They cover a familiar case history and one which is well known to every sincere aspirant, or one which is realised for what they are at a lower level of life expression by the man who pays the penalties involved by this type of destruction. |
Chúng bao quát một diễn trình quen thuộc, một diễn trình mà mọi người chí nguyện chân thành đều biết rõ, hoặc một diễn trình được nhận ra đúng như bản chất của chúng ở một cấp độ biểu hiện sự sống thấp hơn bởi con người phải trả những hình phạt liên quan đến loại hủy diệt này. |
|
21. Penalties paid by primitive, desire-based destruction eventually arouse the will to eliminate the causes of such painful penalties. The man who has paid the penalties begins to seek the path of liberation. |
21. Những hình phạt phải trả do sự hủy diệt sơ khai dựa trên dục vọng cuối cùng khơi dậy ý chí loại bỏ các nguyên nhân của những hình phạt đau đớn ấy. Con người đã trả giá bắt đầu tìm kiếm con đường giải thoát. |
|
I feel no necessity to enlarge on this mode of destroying to students such as those who read this Treatise. This type of destruction is concerned mainly with form life in the three worlds, with individual aspiration and enterprise (from the lowest [Page 306] groping physical desire up to the aspiration for conscious soul life), and with experiment and experience upon the three planes of ordinary human living. |
Tôi không thấy cần phải mở rộng về phương thức hủy diệt này cho những đạo sinh như những người đọc Khảo luận này. Loại hủy diệt này chủ yếu liên quan đến sự sống hình tướng trong ba cõi, đến khát vọng và nỗ lực cá nhân, từ dục vọng hồng trần lần mò thấp nhất cho đến khát vọng về đời sống linh hồn hữu thức, và đến sự thử nghiệm cùng kinh nghiệm trên ba cõi của đời sống nhân loại thông thường.[Page 306] |
|
22. This is a summary of the type of destruction the cause of which is rooted in desire and even in aspiration. The form is constantly destroyed until is unreality is cognized. |
22. Đây là một bản tóm lược về loại hủy diệt mà nguyên nhân của nó bắt rễ trong dục vọng và thậm chí trong khát vọng. Hình tướng liên tục bị hủy diệt cho đến khi tính phi thực của nó được nhận biết. |
|
23. The types of destruction here mentioned carry us to and through the fourth initiation. |
23. Các loại hủy diệt được nêu ở đây đưa chúng ta đến và xuyên qua lần điểm đạo thứ tư. |
|
24. Interestingly, DK in describing a higher type of destruction tells us that it can only be wielded by the Master of the Wisdom—an initiate of the fifth degree. |
24. Điều thú vị là, khi mô tả một loại hủy diệt cao hơn, Chân sư DK cho chúng ta biết rằng nó chỉ có thể được vận dụng bởi Chân sư Minh Triết—một điểm đạo đồ thuộc cấp độ thứ năm. |
|
But in this word “destroy” given (as an expressed command) |
Nhưng trong từ “hủy diệt” này, được ban ra như một mệnh lệnh được phát biểu |
|
25. Let us note, we are dealing with a “command”, not a suggestion. |
25. Chúng ta hãy lưu ý rằng ở đây chúng ta đang bàn đến một “mệnh lệnh”, không phải một gợi ý. |
|
26. Who or what are we, as disciples, willing to obey? |
26. Là các đệ tử, chúng ta sẵn lòng vâng phục ai hoặc điều gì? |
|
27. Can we see how the many forms of occult obedience which may be necessitated in our personality life may lead to the ability at the fourth initiation to follow the “command”, Destroy? |
27. Chúng ta có thể thấy rằng nhiều hình thức vâng phục huyền bí, vốn có thể cần thiết trong đời sống phàm ngã của chúng ta, có thể dẫn đến khả năng ở lần điểm đạo thứ tư để tuân theo “mệnh lệnh”: Hủy diệt hay không? |
|
for those who are members of the Hierarchy or who have moved or are moving from an affiliated relationship on the periphery of that Hierarchy toward the centre of activity and into close contact with some Ashram, the significance is very different. |
đối với những ai là thành viên của Thánh Đoàn, hoặc đã chuyển dịch hay đang chuyển dịch từ một mối liên hệ liên kết ở vùng ngoại vi của Thánh Đoàn ấy vào trung tâm hoạt động và vào sự tiếp xúc gần gũi với một ashram nào đó, thâm nghĩa lại rất khác. |
|
28. The ashramic relationship of the average sincere disciple is what is here called an “affiliated relationship on the periphery”. The command “Destroy” does not apply to such disciples. |
28. Mối liên hệ ashram của người đệ tử chân thành trung bình là điều ở đây được gọi là “mối liên hệ liên kết ở vùng ngoại vi”. Mệnh lệnh “Hủy diệt” không áp dụng cho những đệ tử như thế. |
|
29. Significant destructions are necessary if the disciple seeks a closer contact with the Ashram. |
29. Những sự hủy diệt quan trọng là cần thiết nếu đệ tử tìm kiếm một sự tiếp xúc gần gũi hơn với Ashram. |
|
The type of destruction here dealt with is never the result of desire; it is an effort of the spiritual will and is essentially an activity of the Spiritual Triad; |
Loại hủy diệt được bàn đến ở đây không bao giờ là kết quả của dục vọng; nó là một nỗ lực của ý chí tinh thần và về bản chất là một hoạt động của Tam Nguyên Tinh Thần; |
|
30. This is of great importance. The true spiritual will emanates from the spiritual triad and the Monad. It is of so high a nature that even the Ego on the higher mental plane cannot be its source. |
30. Điều này có tầm quan trọng lớn lao. Ý chí tinh thần chân chính xuất phát từ Tam Nguyên Tinh Thần và chân thần. Nó thuộc bản chất cao đến mức ngay cả Chân ngã trên Cõi thượng trí cũng không thể là nguồn phát sinh của nó. |
|
31. Later a still higher type of destruction is discussed—one which uses the spiritual triad as an instrument of expression. |
31. Về sau, một loại hủy diệt còn cao hơn nữa được bàn đến—loại sử dụng Tam Nguyên Tinh Thần như một khí cụ biểu lộ. |
|
it involves the carrying out of those measures which will hinder obstruction to God’s will; |
nó bao hàm việc thực hiện những biện pháp sẽ ngăn trở sự cản trở Ý Chí của Thượng Đế; |
|
32. Perhaps we can detect here a higher influence of the planet Saturn—so often considered a planet of blockage and hindrance. Saturn is the planet which rules the plane from which the true spiritual will emanates—the atmic plane. It is also associated with the logoic plane as it is a correspondence to the logoic physical permanent atom found on the logoic plane. |
32. Có lẽ ở đây chúng ta có thể nhận ra một ảnh hưởng cao hơn của hành tinh Sao Thổ—vốn thường được xem là hành tinh của sự bế tắc và cản trở. Sao Thổ là hành tinh cai quản cõi mà từ đó ý chí tinh thần chân chính xuất phát—cõi atma. Nó cũng liên hệ với cõi Thượng đế vì nó là một tương ứng với nguyên tử trường tồn hồng trần của Thượng đế được tìm thấy trên cõi Thượng đế. |
|
33. How do we hinder or inhibit the hindrance or inhibition of God’s Will in our lives? To do so requires an understanding of how to oppose forces with higher forces and certain energies with still higher energies. |
33. Làm thế nào chúng ta ngăn trở hoặc ức chế sự ngăn trở hay ức chế Ý Chí của Thượng Đế trong đời sống mình? Để làm được điều đó cần có sự thấu hiểu về cách đối kháng các mãnh lực bằng những mãnh lực cao hơn, và đối kháng một số năng lượng bằng những năng lượng còn cao hơn nữa. |
|
34. The high initiate must learn to block the blockage. |
34. Điểm đạo đồ cao cấp phải học cách chặn đứng sự chặn đứng. |
|
it is the furthering of those conditions which will destroy those who are attempting to prevent divine purpose from materialising as the Plan—for which the Hierarchy is responsible. |
đó là việc xúc tiến những điều kiện sẽ hủy diệt những kẻ đang cố ngăn cản Thiên Ý hiện hình thành Thiên Cơ—điều mà Thánh Đoàn chịu trách nhiệm. |
|
35. We seem to be reading of the destruction of individuals and groups who attempt to prevent divine purpose from materializing the Plan. |
35. Dường như chúng ta đang đọc về sự hủy diệt các cá nhân và các nhóm đang cố ngăn cản Thiên Ý hiện hình thành Thiên Cơ. |
|
36. Ultimately centers such as Shamballa and still higher centers have this responsibility. |
36. Rốt cuộc, các trung tâm như Shamballa và những trung tâm còn cao hơn nữa có trách nhiệm này. |
|
37. We note that destructive powers are not applied directly to such destructive individuals: rather the advanced and purposeful destroyer furthers “conditions” which destroy those who attempt to prevent the materialising of the Plan. This is a distinction worth noting. |
37. Chúng ta lưu ý rằng các quyền năng hủy diệt không được áp dụng trực tiếp lên những cá nhân có tính hủy hoại như thế; đúng hơn, kẻ hủy diệt tiến hóa cao và có mục đích xúc tiến “những điều kiện” hủy diệt những kẻ cố ngăn cản sự hiện hình của Thiên Cơ. Đây là một phân biệt đáng lưu ý. |
|
38. We see, however, that the obstructers are most definitely to be destroyed, but it is conditions engineered by Hierarchy which destroy the obstructers. |
38. Tuy nhiên, chúng ta thấy rằng những kẻ cản trở chắc chắn phải bị hủy diệt, nhưng chính các điều kiện do Thánh Đoàn dàn dựng mới hủy diệt những kẻ cản trở ấy. |
|
39. We are attempting to discriminate between modes of destruction. The type of destruction we are studying arises when relationship is established between Shamballa and Hierarchy and not between Hierarchy and Humanity. Another way of saying this is that such destruction can only be wielded by those or are approaching the fourth initiation or of still higher attainment. |
39. Chúng ta đang cố gắng phân biện giữa các phương thức hủy diệt. Loại hủy diệt mà chúng ta đang nghiên cứu phát sinh khi mối liên hệ được thiết lập giữa Shamballa và Thánh Đoàn, chứ không phải giữa Thánh Đoàn và Nhân loại. Một cách nói khác là sự hủy diệt như thế chỉ có thể được vận dụng bởi những ai đang tiến gần đến lần điểm đạo thứ tư hoặc đã đạt thành tựu còn cao hơn nữa. |
|
40. Are we coming to understand some of the tasks of those whose privilege it is to pass through the fourth degree? |
40. Phải chăng chúng ta đang bắt đầu thấu hiểu một số nhiệm vụ của những người có đặc ân đi qua cấp độ thứ tư? |
|
This type of destruction has only a secondary relation to the destruction of form life as you know it. When steps are taken to implement divine purpose, the resultant effect may be the destroying of forms in the three worlds, but that is an effect and only a secondary destruction; something else has been destroyed on a higher level and outside the three worlds. |
Loại hủy diệt này chỉ có liên hệ thứ yếu với sự hủy diệt sự sống hình tướng như các bạn biết. Khi các bước được tiến hành để thực thi Thiên Ý, hiệu quả phát sinh có thể là sự hủy diệt các hình tướng trong ba cõi thấp, nhưng đó là một hiệu quả và chỉ là một sự hủy diệt thứ yếu; một điều gì khác đã bị hủy diệt trên một cấp độ cao hơn và ở ngoài ba cõi thấp. |
|
41. We are speaking of destruction which occurs on the cosmic etheric plane. It is a more essential type of destruction than the destruction of dense physical forms (i.e., forms existent within the three lower worlds). We can understand that if the energy-model upon which a dense physical form is built is destroyed, that dense physical form will also be destroyed. |
41. Chúng ta đang nói về sự hủy diệt xảy ra trên cõi dĩ thái vũ trụ. Đó là một loại hủy diệt thiết yếu hơn sự hủy diệt các hình tướng hồng trần đậm đặc, tức là các hình tướng tồn tại trong ba cõi thấp. Chúng ta có thể thấu hiểu rằng nếu mô hình năng lượng mà trên đó một hình tướng hồng trần đậm đặc được xây dựng bị hủy diệt, thì hình tướng hồng trần đậm đặc ấy cũng sẽ bị hủy diệt. |
|
42. When we speak of density in this context, we are speaking of forms which exist within the dense physical body of the Solar Logos or Planetary Logos. |
42. Khi nói về tính đậm đặc trong bối cảnh này, chúng ta đang nói về những hình tướng tồn tại trong thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế hoặc Hành Tinh Thượng đế. |
|
This, in due time, may produce a form-reaction to which we may give the name of death. But the death of that form was not a primary objective and was not even considered, because it was not within the range of awareness of the destroyer. |
Điều này, đúng thời, có thể tạo ra một phản ứng nơi hình tướng mà chúng ta có thể gọi là sự chết. Nhưng cái chết của hình tướng ấy không phải là mục tiêu chính yếu và thậm chí cũng không được xét đến, bởi nó không nằm trong phạm vi nhận thức của kẻ hủy diệt. |
|
43. Such destroyer work, we see, on planes higher than the subplanes of the three lower worlds. In their destructive activities they deal with causes and not effects. |
43. Chúng ta thấy rằng công việc hủy diệt như thế diễn ra trên những cõi cao hơn các cõi phụ của ba cõi thấp. Trong các hoạt động hủy diệt của mình, họ bàn đến nguyên nhân chứ không phải hiệu quả. |
|
44. From the perspective of the cosmic physical plane, causes emanate from the cosmic ethers and effects are generated upon and within the three lower planes—the mental, astral and physical-etheric plane. |
44. Từ viễn cảnh của cõi hồng trần vũ trụ, các nguyên nhân xuất phát từ các cõi dĩ thái vũ trụ, còn các hiệu quả được tạo ra trên và trong ba cõi thấp—cõi trí, cõi cảm dục và cõi hồng trần-dĩ thái. |
|
The higher destruction which we are considering is related to the destruction of certain forms of consciousness which express themselves in great areas or extensive thoughtforms; |
Sự hủy diệt cao hơn mà chúng ta đang xem xét có liên hệ đến sự hủy diệt một số hình tướng của tâm thức vốn tự biểu lộ trong những phạm vi rộng lớn hoặc những hình tư tưởng bao quát; |
|
45. We must assume that these “great areas or extensive thoughtforms” exist outside the three lower worlds. Are we speaking of thoughtforms pertaining to the cosmic mental subplanes, such thoughtforms expressing as formative potencies within the cosmic ethers? Usually, when speaking of thoughtforms, we think of them as expressing within the confines of the mental plane within the three lower worlds. |
45. Chúng ta phải giả định rằng những “phạm vi rộng lớn hoặc những hình tư tưởng bao quát” này tồn tại ngoài ba cõi thấp. Phải chăng chúng ta đang nói về các hình tư tưởng thuộc về các cõi phụ trí tuệ vũ trụ, những hình tư tưởng ấy biểu lộ như các quyền năng tạo hình trong các cõi dĩ thái vũ trụ? Thông thường, khi nói về các hình tư tưởng, chúng ta nghĩ chúng biểu lộ trong giới hạn của cõi trí thuộc ba cõi thấp. |
|
46. “Forms of consciousness” are dependent upon the quality of matter through which consciousness expresses and also upon the way such matter is ‘arranged’ on the various planes. If the ‘arrangements’ are broken, the forms of consciousness arising as consciousness, per se, works through those arrangements are also destroyed. |
46. “Các hình tướng của tâm thức” tùy thuộc vào phẩm tính của vật chất mà qua đó tâm thức biểu lộ, và cũng tùy thuộc vào cách vật chất ấy được “sắp xếp” trên các cõi khác nhau. Nếu những “sắp xếp” ấy bị phá vỡ, thì các hình tướng của tâm thức phát sinh khi chính tâm thức hoạt động thông qua những sắp xếp ấy cũng bị hủy diệt. |
|
these may have, in turn, conditioned human thinking. |
đến lượt chúng, những điều này có thể đã định hình tư duy con người. |
|
47. Great “forms of consciousness” existent on planes higher than the three lower planes, condition human thinking. Of such conditioning we are almost totally unaware. |
47. Những “hình tướng của tâm thức” lớn lao tồn tại trên các cõi cao hơn ba cõi thấp định hình tư duy con người. Về loại tác động định hình như thế, chúng ta hầu như hoàn toàn không hay biết. |
|
Perhaps the simplest illustration I can give you of this type of destruction would be concerned with the major ideologies which down the ages have conditioned or may [Page 307] condition humanity. |
Có lẽ minh họa đơn giản nhất mà tôi có thể đưa ra cho các bạn về loại hủy diệt này sẽ liên quan đến các hệ tư tưởng chủ yếu vốn qua các thời đại đã định hình, hoặc có thể [Page 307] định hình, nhân loại. |
|
48. Ideologies have their origin within impulses emanated by planetary Ray Lords within Shamballa. Since this is the case, we can understand that the impulses which are the origin of those energies and forces which we recognize as ideologies will have a field of expression upon and within the cosmic ethers. Ideologies, then, have at least a cosmic etheric origin and, perhaps (even probably) a much higher origin. |
48. Các hệ tư tưởng có nguồn gốc trong những xung lực do các Đấng Chúa Tể Cung hành tinh trong Shamballa phát ra. Vì đây là trường hợp như vậy, chúng ta có thể thấu hiểu rằng các xung lực vốn là nguồn gốc của những năng lượng và mãnh lực mà chúng ta nhận ra như các hệ tư tưởng sẽ có một trường biểu lộ trên và trong các cõi dĩ thái vũ trụ. Như vậy, các hệ tư tưởng ít nhất có một nguồn gốc dĩ thái vũ trụ và có lẽ, thậm chí rất có thể, một nguồn gốc còn cao hơn nhiều. |
|
49. The essential energies embodied in ideologies emanate from outside the three worlds altogether. |
49. Những năng lượng thiết yếu được hiện thân trong các hệ tư tưởng hoàn toàn xuất phát từ bên ngoài ba cõi thấp. |
|
These ideologies produce potent effects in the three worlds. |
Những hệ tư tưởng này tạo ra các hiệu quả mạnh mẽ trong ba cõi thấp. |
|
50. DK is telling us that ideologies (though potently effective in the three lower worlds) have a cosmic origin. This may be a relatively new thought to us. |
50. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng các hệ tư tưởng, tuy có hiệu lực mạnh mẽ trong ba cõi thấp, có một nguồn gốc vũ trụ. Đây có thể là một tư tưởng tương đối mới đối với chúng ta. |
|
This type of destruction affects those civilisations which condition the human family for long periods of time, which concern climatic conditions that predispose the forms in the four kingdoms to certain characteristics in time and space, which produce effects in the great world religions, in world politics and all other “conditioning forms of thinking.” |
Loại hủy diệt này ảnh hưởng đến những nền văn minh định hình gia đình nhân loại trong những thời kỳ dài, liên quan đến các điều kiện khí hậu khiến các hình tướng trong bốn giới thiên về một số đặc tính nào đó trong thời gian và không gian, tạo ra các hiệu quả trong những tôn giáo lớn của thế giới, trong chính trị thế giới và trong mọi “hình thức tư duy có tính định hình” khác. |
|
51. Let us tabulate the areas of impact for the type of destruction we are discussing: |
51. Chúng ta hãy lập bảng các lĩnh vực chịu tác động của loại hủy diệt mà chúng ta đang bàn đến: |
|
a. An impact upon human civilizations |
a. Một tác động lên các nền văn minh nhân loại |
|
b. An impact upon climatic conditions. (Note the conditioning effect of climatic conditions upon the four kingdoms.) |
b. Một tác động lên các điều kiện khí hậu. Hãy lưu ý hiệu quả định hình của các điều kiện khí hậu đối với bốn giới. |
|
c. An impact upon world religions |
c. Một tác động lên các tôn giáo thế giới |
|
d. An impact upon word politics |
d. Một tác động lên chính trị thế giới |
|
e. An impact, in general, upon “conditioning forms of thinking”. |
e. Nói chung, một tác động lên “các hình thức tư duy có tính định hình”. |
|
52. We are speaking of destructive impulses of great and sweeping scope. |
52. Chúng ta đang nói về những xung lực hủy diệt có phạm vi lớn lao và bao trùm. |
|
53. It is probably clear to us that every time there is a change of change of precessional age (and a change of ray that accompanies that age), this type of destruction will be released. |
53. Có lẽ đối với chúng ta đã rõ rằng mỗi khi có sự thay đổi của một kỷ nguyên tuế sai, và sự thay đổi cung đi kèm với kỷ nguyên ấy, loại hủy diệt này sẽ được giải phóng. |
|
Does this convey much or little in connection with the concepts which I am attempting to make clear? |
Điều này truyền đạt nhiều hay ít liên quan đến những khái niệm mà tôi đang cố làm sáng tỏ? |
|
54. Certainly the power and subtlety of this type of destruction is in the hands of those who have progressed far beyond the normal human stage. |
54. Chắc chắn quyền năng và sự tinh vi của loại hủy diệt này nằm trong tay những vị đã tiến xa vượt quá giai đoạn nhân loại bình thường. |
|
That which is destroyed, therefore, are certain group forms and these upon a large scale; |
Do đó, điều bị hủy diệt là một số hình tướng nhóm, và những hình tướng này ở quy mô lớn; |
|
55. Form, we see, exists even upon what we normally call “arupa” levels. |
55. Chúng ta thấy rằng hình tướng vẫn tồn tại ngay cả trên những cấp độ mà chúng ta thường gọi là “vô sắc”. |
|
56. The destruction under consideration affects groups and large aggregations of groups rather than individuals, per se. |
56. Sự hủy diệt đang được xem xét ảnh hưởng đến các nhóm và những tập hợp lớn của các nhóm hơn là đến chính các cá nhân. |
|
this requires an exercise of the spiritual will to bring about, and does not require simply the withdrawing of the attention of the soul, |
để tạo ra điều này cần một sự vận dụng ý chí tinh thần, và không chỉ đòi hỏi việc linh hồn rút lui sự chú ý, |
|
57. Some forms of destruction proceed simply through the withdrawal of attention. One such is the death of the human being within the three lower worlds. The soul withdraws its attention from its projection into the three worlds (the soul-in-incarnation) and thence into itself. The projected soul-in-incarnation magnetically follows the withdrawal of attention and returns, eventually, to the soul on its own plane. |
57. Một số hình thức hủy diệt diễn tiến đơn giản qua việc rút lui sự chú ý. Một hình thức như thế là cái chết của con người trong ba cõi thấp. Linh hồn rút sự chú ý khỏi sự phóng chiếu của nó vào ba cõi thấp, tức linh hồn đang nhập thể, rồi thu về chính nó. Linh hồn đang nhập thể được phóng chiếu sẽ theo sự rút lui chú ý ấy một cách từ tính và cuối cùng trở về với linh hồn trên cõi riêng của nó. |
|
58. The kind of destruction we are here discussing requires still more—an active application of spiritual will. |
58. Loại hủy diệt mà chúng ta đang bàn đến ở đây còn đòi hỏi nhiều hơn nữa—một sự áp dụng tích cực của ý chí tinh thần. |
|
59. The origin of the spiritual will, as we realize, is also outside the three worlds of human evolution. |
59. Như chúng ta nhận ra, nguồn gốc của ý chí tinh thần cũng ở bên ngoài ba cõi thấp của sự tiến hoá nhân loại. |
|
the decision to vacate the form |
quyết định rời bỏ hình tướng |
|
60. Presumably the soul’s decision… |
60. Có lẽ là quyết định của linh hồn … |
|
and the failure of the basic desire to perpetuate, |
và sự suy kiệt của dục vọng căn bản muốn duy trì sự tồn tại, |
|
61. This is the failure of what we usually refer to as the “will to live”. It might be more proper to speak of it as the ‘desire to live’. |
61. Đây là sự suy kiệt của điều mà chúng ta thường gọi là “ý chí sống”. Có lẽ đúng hơn nên nói về nó như là “dục vọng sống”. |
|
which is what we imply when we speak of death in the three worlds. |
đó là điều chúng ta hàm ý khi nói về sự chết trong ba cõi thấp. |
|
62. What are the three movements which lead to the death of the unit man upon the systemic dense physical plane: |
62. Ba chuyển động dẫn đến cái chết của đơn vị con người trên cõi hồng trần đậm đặc của hệ thống là gì: |
|
a. The withdrawal of the attention of the soul |
a. Sự rút lui chú ý của linh hồn |
|
b. The decision by the soul to vacate the form and sometimes (under the impress of the soul) the decision of the soul-in-incarnation to vacate the form. |
b. Quyết định của linh hồn rời bỏ hình tướng và đôi khi, dưới ấn tượng của linh hồn, là quyết định của linh hồn đang nhập thể rời bỏ hình tướng. |
|
c. The “failure of the basic desire to perpetuate”. |
c. “Sự suy kiệt của dục vọng căn bản muốn duy trì sự tồn tại”. |
|
63. We see how closely what we normally call “death” is related to both decision and desire. |
63. Chúng ta thấy điều mà mình thường gọi là “sự chết” liên hệ mật thiết biết bao với cả quyết định lẫn dục vọng. |
|
The lack of the will-to-live of which we so glibly speak has little relation, in reality, to the will itself; |
Sự thiếu vắng ý chí-sống mà chúng ta thường nói đến một cách quá dễ dãi, trong thực tế, ít liên hệ với chính ý chí; |
|
64. Here Master DK clarifies the point. |
64. Ở đây Chân sư DK làm sáng tỏ điểm này. |
|
it refers only to its faint or distorted reflection in the three worlds; |
nó chỉ nói đến phản chiếu mờ nhạt hoặc méo mó của ý chí ấy trong ba cõi thấp; |
|
65. Desire is the faint or distorted reflection in the three worlds of the will. |
65. Dục vọng là phản chiếu mờ nhạt hoặc méo mó trong ba cõi giới của ý chí. |
|
this is much more closely related to desire and aspiration than to pure will, as spiritually comprehended. |
điều này liên hệ mật thiết với dục vọng và khát vọng hơn là với ý chí thuần khiết, như được thấu hiểu về mặt tinh thần. |
|
66. We can understand why the desire to continue living does, in fact, perpetuate life in lower form. |
66. Chúng ta có thể thấu hiểu tại sao dục vọng muốn tiếp tục sống, trên thực tế, lại duy trì sự sống trong hình tướng thấp. |
|
67. We note that “pure will”, if it is to be the true will, must be spiritually comprehended. |
67. Chúng ta lưu ý rằng “ý chí thuần khiết”, nếu đó là ý chí đích thực, phải được thấu hiểu về mặt tinh thần. |
|
The Purpose of God (to use a familiar phrase) is that which implements the Plan. |
Thiên Ý của Thượng đế, dùng một cụm từ quen thuộc, là điều thực thi Thiên Cơ. |
|
68. To implement is to impulse and utilize. |
68. Thực thi là thúc đẩy và sử dụng. |
|
69. For all practical purposes, “Purpose” lies behind and within “Plan”. |
69. Xét theo mọi mục đích thực tiễn, “Thiên Ý” nằm phía sau và bên trong “Thiên Cơ”. |
|
This purpose is the motivating life behind all that emanates from Shamballa |
Thiên ý này là sự sống thúc đẩy phía sau mọi điều xuất lộ từ Shamballa |
|
70. Notice that motivation is associated, in this context, with the life aspect. |
70. Hãy lưu ý rằng động cơ thúc đẩy, trong bối cảnh này, được liên kết với phương diện sự sống. |
|
71. Purpose lies “behind” than which emanates from Shamballa. This places Purpose in a solar context. |
71. Thiên Ý nằm “phía sau” điều xuất lộ từ Shamballa. Điều này đặt Thiên Ý trong một bối cảnh thái dương. |
|
and it is that which impulses all the activities of the Hierarchy; |
và chính đó là điều thúc đẩy mọi hoạt động của Thánh Đoàn; |
|
72. Hierarchy is impelled by Divine Purpose—and “the motivating life” lies behind that Purpose. |
72. Thánh Đoàn được Thiên Ý thúc đẩy — và “sự sống thúc đẩy” nằm phía sau Thiên Ý ấy. |
|
the task of the Hierarchy is to formulate the Plan for all forms of life in the three worlds and the four kingdoms in nature. |
nhiệm vụ của Thánh Đoàn là hình thành Thiên Cơ cho mọi hình tướng của sự sống trong ba cõi giới và bốn giới trong thiên nhiên. |
|
73. We might say that Divine Purpose, in itself, is not yet formulated with respect to the three lower worlds. That more ‘concrete’ task is left to Hierarchy. |
73. Chúng ta có thể nói rằng Thiên Ý, tự nó, vẫn chưa được hình thành đối với ba cõi thấp. Nhiệm vụ “cụ thể” hơn ấy được giao cho Thánh Đoàn. |
|
This Plan, in time and space, is not in any way concerned with individual man or with the life of any microcosmic entity in any of the kingdoms of nature, but with the wholes, the cycles of time, with those vast plans of livingness which man calls history, with nations and races, with world religions and great political ideologies and with social organisations which produce permanent changes in types, constitutions, planetary areas and cyclic manifestations. |
Thiên Cơ này, trong thời gian và không gian, không hề liên quan đến con người cá biệt hoặc đến sự sống của bất kỳ thực thể tiểu thiên địa nào trong bất kỳ giới nào của thiên nhiên, mà liên quan đến các toàn thể, các chu kỳ thời gian, những kế hoạch rộng lớn của tính sống mà con người gọi là lịch sử, đến các quốc gia và các nhân loại, đến các tôn giáo thế giới và những hệ tư tưởng chính trị lớn lao, cùng các tổ chức xã hội tạo nên những thay đổi thường tồn trong các loại hình, hiến chế, vùng hành tinh và các biểu hiện chu kỳ. |
|
74. Let us tabulate that to which the Plan refers and does not refer: |
74. Chúng ta hãy lập bảng về những điều Thiên Cơ đề cập và không đề cập: |
|
a. The Plan is not concerned with individual man |
a. Thiên Cơ không liên quan đến con người cá biệt |
|
b. The Plan is not concerned with any microcosmic entity in any kingdom of nature |
b. Thiên Cơ không liên quan đến bất kỳ thực thể tiểu thiên địa nào trong bất kỳ giới nào của thiên nhiên |
|
c. The Plan is concerned with wholes |
c. Thiên Cơ liên quan đến các toàn thể |
|
d. The Plan is concerned with cycles of time |
d. Thiên Cơ liên quan đến các chu kỳ thời gian |
|
e. The Plan is concerned with “vast plans of livingness” known as “history” |
e. Thiên Cơ liên quan đến “những kế hoạch rộng lớn của tính sống” được biết đến như “lịch sử” |
|
f. The Plan is concerned with nations and races |
f. Thiên Cơ liên quan đến các quốc gia và các nhân loại |
|
g. The Plan is concerned with world religions |
g. Thiên Cơ liên quan đến các tôn giáo thế giới |
|
h. The Plan is concerned with political ideologies |
h. Thiên Cơ liên quan đến các hệ tư tưởng chính trị |
|
i. The Plan is concerned with “social organisations which produce permanent changes in types”, in constitutions, in planetary areas, in constitutions and in cyclic manifestations. |
i. Thiên Cơ liên quan đến “các tổ chức xã hội tạo nên những thay đổi thường tồn trong các loại hình”, trong các hiến chế, trong các vùng hành tinh, trong các hiến chế và trong các biểu hiện chu kỳ. |
|
75. In short, the Divine Plan for this planet is truly planetary in scope. |
75. Tóm lại, Thiên Cơ thiêng liêng dành cho hành tinh này thực sự có phạm vi hành tinh. |
|
76. It is legitimate and even necessary for each human unit to search for his or her ‘place’ within the Divine Plan, but such a unit must remember the vast scope of the Plan and the relative tininess of any role that he or she may play—no matter how relatively important such a role may be to the unit. |
76. Việc mỗi đơn vị nhân loại tìm kiếm “vị trí” của mình trong Thiên Cơ thiêng liêng là chính đáng và thậm chí cần thiết, nhưng đơn vị ấy phải nhớ phạm vi bao la của Thiên Cơ và sự bé nhỏ tương đối của bất kỳ vai trò nào mà y có thể đảm nhận — dù vai trò ấy có thể tương đối quan trọng đến đâu đối với đơn vị ấy. |
|
It will therefore be obvious to you that from the standpoint of man’s little mind, these plans are well-nigh impossible to [Page 308] grasp. |
Do đó, đối với các bạn, điều hiển nhiên là từ quan điểm của thể trí nhỏ bé nơi con người, những kế hoạch này hầu như không thể [Page 308] nắm bắt được. |
|
77. With the Divine Plan are many “plans”. No wonder we have so much difficulty grasping the true nature of the Plan. Its scope is too vast and its reach, too deep. |
77. Trong Thiên Cơ thiêng liêng có nhiều “kế hoạch”. Không lạ gì chúng ta gặp quá nhiều khó khăn khi nắm bắt bản chất đích thực của Thiên Cơ. Phạm vi của nó quá bao la và tầm vươn của nó quá sâu. |
|
From the standpoint of the vision of the initiate who has developed or is developing the wider grasp and who can see and think and vision (I care not what word you choose) in terms of the Eternal Now, the significance is clear; |
Từ quan điểm tầm nhìn của điểm đạo đồ, người đã phát triển hoặc đang phát triển khả năng nắm bắt rộng lớn hơn, và có thể thấy, suy nghĩ và linh thị — tôi không quan tâm các bạn chọn từ nào — theo Hiện Tại Vĩnh Cửu, thâm nghĩa trở nên rõ ràng; |
|
78. Note the use of the word “significance” with its triadal implications. The initiate focuses within the spiritual triad. |
78. Hãy lưu ý cách dùng từ “thâm nghĩa” với những hàm ý thuộc Tam nguyên tinh thần của nó. Điểm đạo đồ tập trung trong Tam Nguyên Tinh Thần. |
|
79. Because all that has occurred, is occurring, or will occur is within the conscious apprehension of the One Observing Planetary Life, it is, as if, occurring in His NOW. The more we identify with the scope and embrace of that Planetary Consciousness, the more we will perceive in that NOW. |
79. Bởi vì tất cả những gì đã xảy ra, đang xảy ra, hoặc sẽ xảy ra đều nằm trong sự lĩnh hội hữu thức của Đấng đang Quan Sát Sự Sống Hành Tinh, nên như thể chúng đang xảy ra trong HIỆN TẠI của Ngài. Chúng ta càng đồng hoá với phạm vi và sự bao hàm của Tâm Thức Hành Tinh ấy, chúng ta càng nhận thức nhiều hơn trong HIỆN TẠI ấy. |
|
at times, |
đôi khi, |
|
80. But not at all times… |
80. Nhưng không phải mọi lúc… |
|
the initiate creates and then anchors a germ of livingness; |
điểm đạo đồ tạo ra rồi neo giữ một mầm của tính sống; |
|
81. The source of such a “germ” is the cosmic etheric planes, especially the atmic layer of these ethers—the layer within the lower five worlds closest to the monadic level. |
81. Nguồn gốc của một “mầm” như thế là các cõi dĩ thái vũ trụ, đặc biệt là tầng atma của các dĩ thái này — tầng trong năm cõi thấp gần với cấp độ chân thần nhất. |
|
at times he builds that which can house his living idea with its conditioning qualities; |
đôi khi y xây dựng điều có thể chứa đựng ý tưởng sống động của y cùng các phẩm tính tác động của nó; |
|
82. A “germ of livingness” is a “living idea”. |
82. Một “mầm của tính sống” là một “ý tưởng sống động”. |
|
83. Habitations must be built for such ideas and it is principally under the second ray influence that the initiate builds them. |
83. Những nơi cư trú phải được xây dựng cho các ý tưởng như thế, và điểm đạo đồ xây dựng chúng chủ yếu dưới ảnh hưởng của cung hai. |
|
at times, when these have served their purpose, he definitely and deliberately destroys. |
đôi khi, khi những điều này đã phụng sự mục đích của chúng, y hủy diệt một cách dứt khoát và có chủ ý. |
|
84. There is a threefold cycle: |
84. Có một chu kỳ tam phân: |
|
a. Accessing |
a. Tiếp cận |
|
b. Building |
b. Xây dựng |
|
c. Destroying |
c. Hủy diệt |
|
The reference is necessarily ever to form; with the initiate it is, however, to the “formless form” which is always the subjective aspect of the tangible world. |
Sự quy chiếu tất yếu luôn là đến hình tướng; tuy nhiên, đối với điểm đạo đồ, đó là “hình tướng vô tướng”, vốn luôn là phương diện chủ quan của thế giới hữu hình. |
|
85. On the cosmic physical plane, the true “formless forms” are found upon the cosmic ethers. |
85. Trên cõi hồng trần vũ trụ, các “hình tướng vô tướng” đích thực được tìm thấy trên các dĩ thái vũ trụ. |
|
86. To a lesser extent, the systemic etheric plane is home to formless forms—formless, at least, with respect to the densest physical subplanes. |
86. Ở mức độ thấp hơn, cõi dĩ thái hệ thống là nơi cư ngụ của các hình tướng vô tướng — vô tướng, ít nhất, đối với các cõi phụ hồng trần đậm đặc nhất. |
|
It must be remembered that from the point of view of esotericism, all forms in the three worlds are tangible, in contradistinction to forms in the two higher worlds of the Spiritual Triad. |
Cần nhớ rằng, từ quan điểm của huyền bí học, mọi hình tướng trong ba cõi giới đều hữu hình, trái với các hình tướng trong hai cõi cao hơn của Tam Nguyên Tinh Thần. |
|
87. DK includes even the highest subplanes of the systemic mental plane as tangible. From this perspective, the buddhic and atmic planes are considered intangible. |
87. Chân sư DK kể cả những cõi phụ cao nhất của cõi trí hệ thống là hữu hình. Từ quan điểm này, các cõi Bồ đề và atma được xem là vô hình. |
|
88. In one respect, “tangible” means ponderable or ‘touchable’. To the higher consciousness, even the buddhic and atmic planes are ‘touchable’ and have their response to gravity. |
88. Theo một phương diện, “hữu hình” có nghĩa là có thể cân đo hoặc “chạm tới”. Đối với tâm thức cao hơn, ngay cả các cõi Bồ đề và atma cũng “chạm tới” được và có sự đáp ứng của chúng đối với trọng lực. |
|
The destruction considered is that of the formless structure on which the grosser structure is built. |
Sự hủy diệt đang được xét đến là sự hủy diệt cấu trúc vô tướng mà trên đó cấu trúc thô trược hơn được xây dựng. |
|
89. This is another way of saying ‘cosmic etheric structure’ must be destroyed. |
89. Đây là một cách khác để nói rằng “cấu trúc dĩ thái vũ trụ” phải bị hủy diệt. |
|
90. All destruction is a disruption of the magnetism which produces coherence. Of course, a greater magnetism may destroy a lesser. |
90. Mọi sự hủy diệt đều là sự phá vỡ từ điện tạo nên tính cố kết. Dĩ nhiên, một từ điện lớn hơn có thể hủy diệt một từ điện nhỏ hơn. |
|
Some understanding of this will come if you consider the relation of the four subplanes of the physical plane, the four etheric levels, and the three subplanes which we call the dense physical planes. |
Một phần thấu hiểu về điều này sẽ đến nếu các bạn xem xét mối quan hệ giữa bốn cõi phụ của cõi hồng trần, bốn cấp độ dĩ thái, và ba cõi phụ mà chúng ta gọi là các cõi hồng trần đậm đặc. |
|
91. This is the very relation which is to be increasingly illumined during the Aquarian Age. |
91. Đây chính là mối quan hệ sẽ ngày càng được soi sáng trong Kỷ Nguyên Bảo Bình. |
|
These constitute our physical plane in its two aspects. This is only a reflection of the three planes of the three worlds and the four planes from the buddhic plane up to the logoic, which constitute the cosmic physical plane. |
Những điều này cấu thành cõi hồng trần của chúng ta trong hai phương diện của nó. Đây chỉ là phản chiếu của ba cõi thuộc ba cõi giới và bốn cõi từ cõi Bồ đề lên đến cõi logoic, vốn cấu thành cõi hồng trần vũ trụ. |
|
92. The inseparability of the systemic physical plane and the cosmic physical plane must be held in mind. Their relationship is far more than analogical |
92. Cần giữ trong trí tính bất khả phân ly của cõi hồng trần hệ thống và cõi hồng trần vũ trụ. Mối quan hệ của chúng vượt xa sự tương đồng |
|
The destruction considered by the initiate is connected with the subjective worlds of the four higher planes and the three worlds of human living, and of other forms of life such as the three subhuman kingdoms. |
Sự hủy diệt mà điểm đạo đồ xem xét có liên hệ với các thế giới chủ quan của bốn cõi cao và với ba cõi giới của đời sống nhân loại, cũng như của các hình tướng sự sống khác như ba giới dưới nhân loại. |
|
93. How can such destruction proceed? May it be that a pattern more archetypal is affirmed and a pattern less archetypal is vitiated or disrupted? |
93. Sự hủy diệt như thế có thể diễn ra bằng cách nào? Có thể chăng một mô hình nguyên mẫu hơn được khẳng định, còn một mô hình ít nguyên mẫu hơn bị suy yếu hoặc phá vỡ? |
|
94. May this newer and emerging pattern (which destroys the old pattern) occur through the assertion of new and timely energies and forces and the ignoring of those energies and forces which have already worked out in the ‘World of Effects’? In a way it is a kind of destructive substitution of the new for the old. |
94. Có thể chăng mô hình mới hơn và đang xuất hiện này, vốn hủy diệt mô hình cũ, diễn ra thông qua sự khẳng định các năng lượng và mãnh lực mới, đúng thời, và sự phớt lờ những năng lượng và mãnh lực đã hoàn tất tác dụng trong “Thế Giới của Hiệu Quả”? Theo một cách nào đó, đây là một kiểu thay thế mang tính hủy diệt của cái mới đối với cái cũ. |
|
In the human family, death supervenes when the soul withdraws its consciousness thread and its life thread; |
Trong gia đình nhân loại, cái chết xảy đến khi linh hồn rút sợi dây tâm thức và sinh mệnh tuyến của mình; |
|
95. Sometimes the withdrawal of the consciousness thread precedes the withdrawal of the life thread. It is hard to imagine how the reverse could be the case though there are stories of consciousness remaining attached (etherically at least) after the life of the dense physical body has ceased. |
95. Đôi khi sự rút lui của sợi dây tâm thức đi trước sự rút lui của sinh mệnh tuyến. Thật khó hình dung trường hợp ngược lại có thể xảy ra như thế nào, dù có những câu chuyện về tâm thức vẫn còn gắn kết, ít nhất về mặt dĩ thái, sau khi sự sống của thể xác đậm đặc đã chấm dứt. |
|
this process of death is contained, however, entirely within the three worlds. |
tuy nhiên, tiến trình chết này hoàn toàn nằm trong ba cõi giới. |
|
96. It is that within the three lower worlds which dies and no higher form. |
96. Chính điều ở trong ba cõi thấp mới chết, chứ không phải hình tướng cao hơn nào. |
|
The soul has its station on the higher levels of the mental plane, as well you know. |
Linh hồn có vị trí của nó trên các cấp độ cao của cõi trí, như các bạn đều biết rõ. |
|
97. Yet even this relatively high station is low compared with a position within the higher two planes of the spiritual triad. |
97. Tuy vậy, ngay cả vị trí tương đối cao này vẫn thấp so với một vị trí trong hai cõi cao hơn của Tam Nguyên Tinh Thần. |
|
In connection with the forms of expression to which I have referred above—cycles, civilisations, cultures, races, kingdoms in nature and so forth—their destruction is brought about from still higher sources than the three worlds in which they manifest. |
Liên quan đến các hình tướng biểu lộ mà tôi đã đề cập ở trên — các chu kỳ, các nền văn minh, các nền văn hoá, các nhân loại, các giới trong thiên nhiên, vân vân — sự hủy diệt của chúng được thực hiện từ những nguồn còn cao hơn ba cõi giới mà trong đó chúng biểu hiện. |
|
98. We are now dealing with triadal destruction or, perhaps, ‘reconfiguration’. If such destruction can exist within the worlds of the spiritual triad, man can surely learn to apply himself to destruction within and upon the solar systemic etheric plane. |
98. Giờ đây chúng ta đang bàn đến sự hủy diệt thuộc Tam nguyên tinh thần, hoặc có lẽ là sự “tái cấu hình”. Nếu sự hủy diệt như thế có thể tồn tại trong các thế giới của Tam Nguyên Tinh Thần, con người chắc chắn có thể học cách tự áp dụng vào sự hủy diệt trong và trên cõi dĩ thái hệ mặt trời. |
|
This destruction takes place under the direction of Shamballa |
Sự hủy diệt này diễn ra dưới sự chỉ đạo của Shamballa |
|
99. A planetary Center positioned, in its essential nature, ‘above’ the planes of the spiritual triad. Although it is possible to think of Shamballa as focussed within all of the cosmic ethers, it is specifically focussed on the monadic and logoic planes. |
99. Một Trung tâm hành tinh, trong bản chất cốt yếu của nó, được đặt “trên” các cõi của Tam Nguyên Tinh Thần. Dù có thể nghĩ về Shamballa như được tập trung trong tất cả các dĩ thái vũ trụ, nó được tập trung đặc biệt trên các cõi chân thần và logoic. |
|
as it evokes the will of the Hierarchy or some particular [Page 309] Ashram or some member of the Hierarchy in order to produce a predetermined result in the three worlds in line with the purpose of God. |
khi nó gợi lên ý chí của Thánh Đoàn, hoặc của một [Page 309] ashram đặc thù nào đó, hoặc của một thành viên nào đó trong Thánh Đoàn, nhằm tạo ra một kết quả đã được định trước trong ba cõi giới phù hợp với Thiên Ý của Thượng đế. |
|
100. Hierarchy, which is focussed principally upon the lower two cosmic etheric planes, is summoned into action by the Will of Shamballa focused principally on the two abstract or occult ethers of the cosmic physical plane. In fact, it is reasonable to assume that the Council Chamber of Shamballa is to be found upon logoic plane. |
100. Thánh Đoàn, vốn được tập trung chủ yếu trên hai cõi dĩ thái vũ trụ thấp hơn, được Ý Chí của Shamballa triệu gọi vào hành động; Ý Chí ấy được tập trung chủ yếu trên hai dĩ thái trừu tượng hoặc huyền bí của cõi hồng trần vũ trụ. Thật vậy, có thể hợp lý khi giả định rằng Phòng Hội Đồng của Shamballa được tìm thấy trên cõi logoic. |
|
101. The Masters, too, under Shamballic impress can be considered ‘Agents of Destruction’. |
101. Các Chân sư cũng vậy, dưới ấn tượng lực của Shamballa, có thể được xem là “Những Tác Nhân của Sự Hủy Diệt”. |
|
It might be said (accurately to a certain esoteric extent) that the destruction brought about in obedience to this fourth word in Rule XIV is the destruction of some aspect of the plan as it has been functioning in the three worlds, and this under divine purpose and intent. |
Có thể nói, một cách chính xác đến một mức độ huyền bí nào đó, rằng sự hủy diệt được thực hiện trong sự tuân phục linh từ thứ tư này trong Quy luật XIV là sự hủy diệt một phương diện nào đó của Thiên Cơ như nó đã vận hành trong ba cõi giới, và điều này diễn ra dưới Thiên Ý và ý định thiêng liêng. |
|
102. The Divine Purpose endures unchanged throughout planetary manifestation (on both gross and subtle levels), but the planetary Divine Plan is cyclic in its effect and phases of the Plan succeed each other in time and space (i.e., upon and within the lower five systemic planes), earlier phases become obsolete and obstructive as the time for newer phases arrives. |
102. Thiên Ý thiêng liêng tồn tại không đổi trong suốt biểu hiện hành tinh, trên cả các cấp độ thô trược lẫn vi tế, nhưng Thiên Cơ thiêng liêng của hành tinh có hiệu quả theo chu kỳ, và các giai đoạn của Thiên Cơ nối tiếp nhau trong thời gian và không gian, tức là trên và trong năm cõi hệ thống thấp hơn; các giai đoạn trước trở nên lỗi thời và gây cản trở khi thời điểm cho các giai đoạn mới hơn đến. |
|
103. For instance, the phases of the Divine Plan appropriate for the Age of Pisces could not possibly be appropriate for the Age of Aquarius. Different qualities were to be cultivated in that earlier Ages and different patterns instituted than those qualities and patterns which now must be cultivated and instituted in the impending Aquarian Age. |
103. Chẳng hạn, các giai đoạn của Thiên Cơ thiêng liêng thích hợp cho Kỷ Nguyên Song Ngư không thể nào thích hợp cho Kỷ Nguyên Bảo Bình. Những phẩm tính khác cần được vun bồi trong các Kỷ Nguyên trước ấy, và những mô hình khác cần được thiết lập, khác với các phẩm tính và mô hình hiện nay phải được vun bồi và thiết lập trong Kỷ Nguyên Bảo Bình đang đến gần. |
|
This destruction is not outwardly so conclusive as is death—on the physical plane—of a man, |
Sự hủy diệt này không có tính kết luận rõ rệt bên ngoài như cái chết—trên cõi hồng trần—của một con người, |
|
104. This means that the process of destruction is more subtle in nature—a fading from presence rather than a decisive termination, as is, apparently, the death of man upon the physical plane. |
104. Điều này có nghĩa là tiến trình hủy diệt có bản chất vi tế hơn—một sự phai mờ khỏi hiện diện hơn là một sự chấm dứt dứt khoát, như cái chết của con người trên cõi hồng trần có vẻ như vậy. |
|
105. Of course, it becomes clear that the subtle forms of death under discussion are inwardly conclusive. |
105. Dĩ nhiên, điều trở nên rõ ràng là các hình thức vi tế của cái chết đang được bàn đến đều có tính kết luận bên trong. |
|
though that is not essentially the rapidly consummated process as is usually surmised. |
dù về bản chất, đó không phải là tiến trình được hoàn tất nhanh chóng như người ta thường phỏng đoán. |
|
106. DK is informing us that even the physical plane death of man is a gradual process with a number of phases. |
106. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng ngay cả cái chết trên cõi hồng trần của con người cũng là một tiến trình dần dần, với một số giai đoạn. |
|
The physical form may die and disappear, but an inner process of dying of the subtler bodies supervenes and the death process is not complete until the astral and mental bodies have disintegrated and the man stands free in his causal or soul body. |
Hình tướng hồng trần có thể chết và biến mất, nhưng một tiến trình chết bên trong của các thể vi tế hơn tiếp diễn, và tiến trình chết chưa hoàn tất cho đến khi các thể cảm dục và thể trí đã tan rã, và con người đứng tự do trong thể nguyên nhân hay thể linh hồn của mình. |
|
107. There are souls, so we learn in A Treatise on Cosmic Fire, who (having achieved continuity of consciousness) do not relinquish their astral and mental bodies after physical plane death, and instead, seek relatively rapid reincarnation. Can they then be said to have “died”—fully? |
107. Chúng ta học được trong Luận về Lửa Vũ Trụ, rằng có những linh hồn, sau khi đạt được sự liên tục của tâm thức, không từ bỏ các thể cảm dục và thể trí của mình sau cái chết trên cõi hồng trần, mà thay vào đó, tìm cách tái sinh tương đối nhanh. Vậy có thể nói rằng họ đã “chết”—một cách trọn vẹn—hay không? |
|
108. True death is a cyclic relinquishment of all that is to be found upon the lower eighteen subplanes. |
108. Cái chết đích thực là sự từ bỏ theo chu kỳ tất cả những gì được tìm thấy trên mười tám cõi phụ thấp. |
|
So it is, on a much larger scale, with the death or destruction of phases of the divine Plan, |
Cũng như vậy, trên một quy mô lớn hơn nhiều, đối với cái chết hay sự hủy diệt của các giai đoạn thuộc Thiên Cơ, |
|
109. Entire “phases” of the Divine Plan are to die. These deaths, obviously, are, at least, connected with the incoming and outgoing of ray and astrological cycles, and with lesser and greater precessional cycles. |
109. Toàn bộ các “giai đoạn” của Thiên Cơ phải chết đi. Hiển nhiên, những cái chết này, ít nhất, có liên hệ với sự đi vào và đi ra của các chu kỳ cung và chiêm tinh, cũng như với các chu kỳ tuế sai lớn và nhỏ. |
|
engineered by the Hierarchy in conformity with the divine Purpose. |
được sắp đặt bởi Thánh Đoàn phù hợp với Thiên Ý. |
|
110. Here the Hierarchy operates under the implementing third ray with Shamballa holding (through will) the second ray pattern of that which must be. Orders (literally the ordering of that which must be) come from Shamballa. We must realize that the Monad is an expression of both the second and first rays and its motivations are those prompted by both the first and second rays. |
110. Ở đây Thánh Đoàn hoạt động dưới cung ba thực thi, trong khi Shamballa nắm giữ, thông qua ý chí, mô hình cung hai của điều phải hiện hữu. Các mệnh lệnh, theo nghĩa đen là sự sắp đặt trật tự cho điều phải hiện hữu, đến từ Shamballa. Chúng ta phải nhận ra rằng chân thần là một biểu hiện của cả cung hai lẫn cung một, và các động cơ thúc đẩy của nó là những động cơ do cả cung một và cung hai khơi lên. |
|
There is an overlapping between the building process and the destroying process. |
Có một sự chồng lấn giữa tiến trình xây dựng và tiến trình hủy diệt. |
|
111. Do we recognize that we (at this specific moment in human history) are in the midst of just such an overlapping? |
111. Chúng ta có nhận ra rằng, vào đúng thời điểm đặc biệt này trong lịch sử nhân loại, chúng ta đang ở giữa chính một sự chồng lấn như thế hay không? |
|
Dying civilisations are present in their final forms whilst new civilisations are emerging; cycles come and go and in the going overlap; |
Các nền văn minh đang tàn lụi hiện diện trong những hình thức cuối cùng của chúng, trong khi các nền văn minh mới đang xuất hiện; các chu kỳ đến rồi đi, và trong lúc ra đi, chúng chồng lấn nhau; |
|
112. We are caught in the cross currents of cultural/civilizational ebb and flow. Do we recognize these counter-currents? If so, with which are we identified and, if identified, are we wholly or onlypartially identified |
112. Chúng ta bị cuốn vào những dòng chảy giao cắt của sự lên xuống văn hóa và văn minh. Chúng ta có nhận ra những dòng ngược chiều này không? Nếu có, chúng ta đồng hóa với dòng nào, và nếu đã đồng hóa, chúng ta hoàn toàn hay chỉmột phần đồng hóa |
|
the same is also found to be true in the emerging and disappearing of rays and races. |
điều tương tự cũng được thấy là đúng trong sự xuất hiện và biến mất của các cung và các giống dân. |
|
113. The coming and going of rays, races and civilization are all strongly correlated. |
113. Sự đến và đi của các cung, các giống dân và nền văn minh đều có tương quan mạnh mẽ với nhau. |
|
114. Within a ray cycle, a number of phases of the Plan may be conceived by Hierarchy. Ray cycles have sub-cycles and precessional ages have decanate periods, and ever the Great Wheel of astrology keeps turning. All these variations have to be taken into consideration as the Divine Plan and its many sequential phases are conceived and the attempt made to implement them within prevailing conditions. |
114. Trong một chu kỳ cung, Thánh Đoàn có thể hình dung một số giai đoạn của Thiên Cơ. Các chu kỳ cung có những chu kỳ phụ, và các thời đại tuế sai có những thời kỳ thập độ, và Đại Bánh Xe chiêm tinh học vẫn luôn xoay chuyển. Tất cả những biến thiên này phải được cân nhắc khi Thiên Cơ cùng nhiều giai đoạn nối tiếp của nó được hình dung, và khi nỗ lực được thực hiện để triển khai chúng trong những điều kiện đang chi phối. |
|
Death, in the last analysis and from the standpoint of the average human being, is simply disappearance from the physical plane—the plane of appearances. |
Xét đến cùng và từ lập trường của con người trung bình, cái chết chỉ đơn giản là sự biến mất khỏi cõi hồng trần—cõi của các sắc tướng. |
|
115. In this disappearance we see death to be an essential “magical” process. The Sprit—the ever-permanent aspect of ourselves, the True Self—can never disappear, nor can it be perceived through any objective means. |
115. Trong sự biến mất này, chúng ta thấy cái chết là một tiến trình “huyền thuật” thiết yếu. Tinh thần—phương diện thường hằng mãi mãi của chính chúng ta, Bản Ngã Chân Thật—không bao giờ có thể biến mất, cũng không thể được tri nhận bằng bất kỳ phương tiện khách quan nào. |
|
116. Gradual disappearance from the astral and lower mental planes supervenes after the relatively precipitous process of disappearance from the etheric-physical-etheric plane. |
116. Sự biến mất dần dần khỏi các cõi cảm dục và hạ trí tiếp diễn sau tiến trình biến mất tương đối đột ngột khỏi cõi dĩ thái-hồng trần-dĩ thái. |
|
The form of destruction we are considering however, is more concerned with the destruction of quality than with forms, |
Tuy nhiên, hình thức hủy diệt mà chúng ta đang xem xét liên quan nhiều hơn đến sự hủy diệt phẩm tính hơn là các hình tướng, |
|
117. Quality pertains to the soul aspect and the spiritual triad is the true soul of Ego. We have been dealing with cosmic etheric destruction and, hence, with the destruction of quality (existent on the planes of the spiritual triad). |
117. Phẩm tính thuộc về phương diện linh hồn, và Tam Nguyên Tinh Thần là linh hồn đích thực của Chân ngã. Chúng ta đã đề cập đến sự hủy diệt dĩ thái vũ trụ, và do đó, đến sự hủy diệt phẩm tính, vốn hiện hữu trên các cõi của Tam Nguyên Tinh Thần. |
|
though the disappearance of these qualities produces the death of the outer form. |
dù sự biến mất của các phẩm tính này tạo nên cái chết của hình tướng bên ngoài. |
|
118. Assembled quality, energized and configured according to Shamballic design, has made the creation of outer form possible. |
118. Phẩm tính được tập hợp, được tiếp sinh lực và được cấu hình theo thiết kế của Shamballa, đã làm cho việc tạo dựng hình tướng bên ngoài trở nên khả hữu. |
|
119. If there is a Shamballic “Law of Assembly”, there must be a ‘Law of Disassembly’ engineered and applied in the triadal worlds by Hierarchy. |
119. Nếu có một “Định luật Tập Hợp” của Shamballa, thì hẳn phải có một “Định luật Tháo Rã” do Thánh Đoàn sắp đặt và áp dụng trong các thế giới thuộc Tam Nguyên Tinh Thần. |
|
The withdrawing life of a great expression of the hierarchical plan absorbs the qualities and returns with them, as endowments, later in time and space and manifests anew through the medium of more adequate forms of expression. |
Sự sống đang rút lui của một biểu hiện lớn lao thuộc thiên cơ của Thánh Đoàn hấp thụ các phẩm tính, rồi về sau, trong thời gian và không gian, trở lại cùng với chúng như những thiên phú, và biểu hiện mới qua phương tiện của những hình thức biểu đạt thích đáng hơn. |
|
120. It is as if quality, per se, is not destroyed but the configuration of quality is. |
120. Điều này như thể chính phẩm tính không bị hủy diệt, mà cấu hình của phẩm tính mới bị hủy diệt. |
|
121. Death in this sense is the ‘abstraction of quality’ following upon the expression and exercise of quality. |
121. Theo nghĩa này, cái chết là “sự trừu xuất phẩm tính” theo sau sự biểu đạt và vận dụng phẩm tính. |
|
122. Qualities experienced in the lower five worlds are really presented by great ‘Presences’ (the Ray Lords) and as Rays (Divine Beings, really) cycle out of manifestation, they withdraw the qualities They have ‘sponsored’ along with Their presence, giving way so that new Presences (other Ray Lords) may emerge into manifestation (in the five lower worlds). Later, in another cycle, the abstracted Presences (and the qualities They characteristically sponsor) will re-present themselves with Their qualities as endowments—Their characteristic qualities newly ‘configured’ to suit the conditions of the times and spaces They are entering. |
122. Các phẩm tính được kinh nghiệm trong năm thế giới thấp thật ra được trình hiện bởi các “Sự Hiện Diện” vĩ đại, tức các Đấng Chúa Tể Cung; và khi các Cung, thật ra là các Đấng Thiêng Liêng, rút khỏi biểu hiện theo chu kỳ, Các Ngài rút lại những phẩm tính mà Các Ngài đã “bảo trợ” cùng với sự hiện diện của Các Ngài, nhường chỗ để những Sự Hiện Diện mới, tức các Đấng Chúa Tể Cung khác, có thể xuất hiện vào biểu hiện trong năm thế giới thấp. Về sau, trong một chu kỳ khác, các Sự Hiện Diện đã được trừu xuất, cùng với các phẩm tính mà Các Ngài đặc trưng bảo trợ, sẽ tự tái trình hiện với các phẩm tính của Các Ngài như những thiên phú—những phẩm tính đặc trưng của Các Ngài được “cấu hình” mới để phù hợp với các điều kiện của những thời gian và không gian mà Các Ngài đang đi vào. |
|
123. Through Shamballic cycles the Ray Lords are released into manifestation in the lower five worlds, and, through hierarchical engineering, the qualities presented by these Ray Lord Presences are newly configured to suit the phase of the Divine Purpose which must, at that time in planetary time, be executed as a particular phase of the Divine Plan. |
123. Qua các chu kỳ Shamballa, các Đấng Chúa Tể Cung được phóng thích vào biểu hiện trong năm thế giới thấp, và qua sự sắp đặt của Thánh Đoàn, các phẩm tính do những Sự Hiện Diện Chúa Tể Cung này trình hiện được cấu hình mới để phù hợp với giai đoạn của Thiên Ý vốn, vào thời điểm ấy trong thời gian hành tinh, phải được thực thi như một giai đoạn đặc thù của Thiên Cơ. |
|
The soul, however, kills the forms in the three worlds; |
Tuy nhiên, linh hồn giết chết các hình tướng trong ba cõi thấp; |
|
124. What at statement! “The Lord giveth and the Lord taketh away.” The soul is our Lord. |
124. Quả là một phát biểu mạnh mẽ! “Chúa ban cho và Chúa lấy đi.” Linh hồn là Chúa của chúng ta. |
|
125. It is the soul who sounds the “Word of Death” when the spiritual usefulness of its personality has terminated or when the karma of that personality calls for its removal from the “stage” of ordinary life. |
125. Chính linh hồn xướng lên “Linh từ Tử Vong” khi sự hữu dụng tinh thần của phàm ngã của nó đã chấm dứt, hoặc khi nghiệp quả của phàm ngã ấy đòi hỏi nó phải được đưa ra khỏi “sân khấu” của đời sống thông thường. |
|
it is the life aspect (in this higher and more extensive type of destruction) which destroys the innate quality and consequently the form of a civilisation, |
chính phương diện sự sống trong loại hủy diệt cao hơn và rộng lớn hơn này hủy diệt phẩm tính nội tại và do đó hủy diệt hình tướng của một nền văn minh, |
|
126. Life destroys quality (Spirit destroys soul) just as quality destroys objective form (soul destroys personality). |
126. Sự sống hủy diệt phẩm tính, tức Tinh thần hủy diệt linh hồn, cũng như phẩm tính hủy diệt hình tướng khách quan, tức linh hồn hủy diệt phàm ngã. |
|
127. This greater type of destruction might be called ‘re-archetypalization’. Spirit, too, is possessed of quality, but a quality which is free of any type of limited personalism or individualism. |
127. Loại hủy diệt lớn hơn này có thể được gọi là “sự tái-nguyên mẫu hóa”. Tinh thần cũng sở hữu phẩm tính, nhưng là một phẩm tính tự do khỏi mọi loại phàm ngã tính hay chủ nghĩa cá nhân hạn hẹp. |
|
128. Forms of civilization adhere around “innate quality”. If innate quality is destroyed or abstracted, then the form of civilization (expressive of those qualities) is also, per force, destroyed. |
128. Các hình thức của nền văn minh bám quanh “phẩm tính nội tại”. Nếu phẩm tính nội tại bị hủy diệt hay bị trừu xuất, thì hình thức của nền văn minh, vốn biểu đạt các phẩm tính ấy, tất yếu cũng bị hủy diệt. |
|
129. Perhaps it is not so much essential quality which is destroyed as configured quality—the combinations of essential qualities which qualify any culture, civilization or great movement within culture and civilization, such as religions, political or economic systems. |
129. Có lẽ điều bị hủy diệt không hẳn là phẩm tính thiết yếu, mà là được cấu hình phẩm tính—tức những tổ hợp của các phẩm tính thiết yếu vốn định tính cho bất kỳ nền văn hóa, nền văn minh hay phong trào lớn nào trong văn hóa và văn minh, như các tôn giáo, các hệ thống chính trị hay kinh tế. |
|
the type of an ideology and the character of a race or nation, [Page 310] preserving only the essentials but discarding the distortions. |
loại hình của một hệ tư tưởng và tính cách của một giống dân hay quốc gia, [Page 310] chỉ bảo tồn những điều thiết yếu nhưng loại bỏ các biến dạng. |
|
130. What, then, is destroyed during such a greater act of destruction: |
130. Vậy thì, điều gì bị hủy diệt trong một hành động hủy diệt lớn lao như thế: |
|
a. The form of a civilization is destroyed |
a. Hình thức của một nền văn minh bị hủy diệt |
|
b. The type of ideology of a race or nation is destroyed |
b. Loại hình hệ tư tưởng của một giống dân hay quốc gia bị hủy diệt |
|
c. The character of a race or nation is destroyed. |
c. Tính cách của một giống dân hay quốc gia bị hủy diệt. |
|
This fourth word is closely related to the fourth initiation in which the causal body or soul vehicle on its own plane is destroyed—that beautiful, intangible, qualitative Identity which has motivated and implemented the man in the three worlds. |
Linh từ thứ tư này liên hệ mật thiết với lần điểm đạo thứ tư, trong đó thể nguyên nhân hay vận cụ linh hồn trên cõi riêng của nó bị hủy diệt—Bản Sắc phẩm tính đẹp đẽ, vô hình, đã thúc đẩy và triển khai con người trong ba cõi thấp. |
|
131. Here is a magnificent description of the causal body, described in so many ways. Does this mode of description help us form a clearer idea about its nature? |
131. Đây là một mô tả tráng lệ về thể nguyên nhân, vốn đã được mô tả theo rất nhiều cách. Lối mô tả này có giúp chúng ta hình thành một ý tưởng rõ ràng hơn về bản chất của nó không? |
|
132. We might well ask ourselves, ‘what is form which quality takes on the higher mental plane?’ |
132. Chúng ta rất có thể tự hỏi: “Hình tướng mà phẩm tính khoác lấy trên cõi thượng trí là gì?” |
|
133. If the soul is a “qualitative identity” and is to be destroyed, it is clear that Spirit plays an important role in the destruction of the causal body. Of this we are assured from other descriptions of the destruction of the causal body, but in the context of the foregoing discussion, we realize in another way the necessity of Spirit’s involvement in this destructive process. |
133. Nếu linh hồn là một “bản sắc phẩm tính” và sẽ bị hủy diệt, thì rõ ràng Tinh thần đóng một vai trò quan trọng trong sự hủy diệt thể nguyên nhân. Về điều này, chúng ta được bảo đảm từ những mô tả khác về sự hủy diệt thể nguyên nhân; nhưng trong bối cảnh của cuộc thảo luận trên, chúng ta nhận ra theo một cách khác sự cần thiết của việc Tinh thần tham dự vào tiến trình hủy diệt này. |
|
134. To reassert, Quality is forever found in the Universe, even on its very highest levels. But there are many configuration of quality which come and go. These configurations are combinations of more essential qualities, which, themselves are but combinations. That which combines can be and eventually will be, uncombined—i.e., destroyed. |
134. Để khẳng định lại, Phẩm tính mãi mãi hiện hữu trong Vũ trụ, ngay cả trên những cấp độ cao nhất của nó. Nhưng có nhiều cấu hình của phẩm tính đến rồi đi. Những cấu hình này là các tổ hợp của những phẩm tính thiết yếu hơn, mà chính chúng cũng chỉ là các tổ hợp. Cái gì kết hợp thì có thể, và cuối cùng sẽ, được giải kết hợp—tức là bị hủy diệt. |
|
Does this instance somewhat clarify the difficulty of this subject with which we are concerned? Ponder on this as an illustration of this form of destruction, and seek better understanding. |
Trường hợp này có phần nào làm sáng tỏ sự khó khăn của chủ đề mà chúng ta đang quan tâm không? Hãy suy ngẫm về điều này như một minh họa cho hình thức hủy diệt này, và hãy tìm kiếm sự thấu hiểu tốt hơn. |
|
135. DK attempts to bring us to a clearer understanding of intangibilities. Our minds are rather ‘thick’ and He must work to refine them. |
135. Chân sư DK cố gắng đưa chúng ta đến một sự thấu hiểu rõ ràng hơn về những điều vô hình. Các thể trí của chúng ta khá thô đặc, và Ngài phải làm việc để tinh luyện chúng. |
|
This higher form of destruction does not manifest under the activity or the non-activity of the Law of Attraction, as does the death which the soul brings about. |
Hình thức hủy diệt cao hơn này không biểu hiện dưới hoạt động hay sự không hoạt động của Định luật Hấp dẫn, như cái chết mà linh hồn gây ra. |
|
136. Death in the three lower worlds arises as a result of attraction (and, thus, inevitably, of repulsion). The attractive power of the soul overcomes the soul-in-incarnation’s desire to express through dense physical matter. |
136. Cái chết trong ba cõi thấp phát sinh như kết quả của sự hấp dẫn, và do đó, tất yếu, của sự đẩy lùi. Quyền năng hấp dẫn của linh hồn vượt thắng ham muốn của linh hồn đang nhập thể muốn biểu đạt qua vật chất hồng trần đậm đặc. |
|
137. In a way, the soul on its own plane is withdrawing its desire to express through the soul-in-incarnation. The soul-in-incarnation sensing this waning of desire thinks its own desire for expression of waning, but the waning desire has originally occurred within the soul on its own plane. |
137. Theo một nghĩa nào đó, linh hồn trên cõi riêng của nó đang rút lại ham muốn của chính nó muốn biểu đạt qua linh hồn đang nhập thể. Linh hồn đang nhập thể, khi cảm nhận sự suy giảm ham muốn này, tưởng rằng ham muốn biểu đạt của chính mình đang suy giảm, nhưng ham muốn suy giảm ấy vốn đã xảy ra trước hết trong linh hồn trên cõi riêng của nó. |
|
It is definitely under the Law of Synthesis, a law of the monadic sphere of life, |
Nó chắc chắn nằm dưới Định luật Tổng Hợp, một định luật của khối cầu sự sống chân thần, |
|
138. The monadic sphere of life is centered on the second cosmic ether, though it embraces the spheres centered upon the five lower cosmic etheric subplanes. |
138. Khối cầu sự sống chân thần đặt trung tâm trên dĩ thái vũ trụ thứ hai, dù nó bao hàm các khối cầu đặt trung tâm trên năm cõi phụ dĩ thái vũ trụ thấp. |
|
and one therefore most difficult for you to comprehend; |
và do đó là một định luật hết sức khó để các bạn lĩnh hội; |
|
139. The higher forms of death here described come definitely under the Law of Synthesis. They are ‘orchestrated’ through what we might call the ‘necessitously correlated movements within the Whole’. Death comes to uphold the expression of the Divine Purpose via the ever-changing Divine Plan. |
139. Các hình thức cao hơn của cái chết được mô tả ở đây chắc chắn nằm dưới Định luật Tổng Hợp. Chúng được “phối khí” thông qua điều mà chúng ta có thể gọi là “các chuyển động tương quan một cách tất yếu trong Toàn Thể”. Cái chết đến để duy trì sự biểu đạt của Thiên Ý qua Thiên Cơ luôn luôn biến đổi. |
|
140. Death arises so that the Purpose-ordained phase of synthesis within form may be preserved. The ordained phase of synthesis within form is another name for that phase of the Divine Plan which is intended to express during a particular temporal period and in a particular ‘space’ or vibrational domain. |
140. Cái chết phát sinh để cho giai đoạn tổng hợp trong hình tướng do Thiên Ý an bài có thể được bảo tồn. Giai đoạn tổng hợp được an bài trong hình tướng là một tên gọi khác của giai đoạn Thiên Cơ được dự định biểu đạt trong một thời kỳ đặc thù và trong một “không gian” hay miền rung động đặc thù. |
|
141. In other words, a much larger relationship of factors (a relationship necessary according to Divine Purpose and always reflective of the Law of Synthesis) ordains the type of deaths under discussion. |
141. Nói cách khác, một mối quan hệ lớn hơn nhiều giữa các yếu tố, một mối quan hệ cần thiết theo Thiên Ý và luôn phản ánh Định luật Tổng Hợp, an bài các loại cái chết đang được bàn đến. |
|
it emanates from a point outside the five worlds of human and superhuman evolution, |
nó xuất lộ từ một điểm nằm ngoài năm thế giới của sự tiến hóa nhân loại và siêu nhân loại, |
|
142. This is probably a very occult hint. The “point” referenced may well be the Monad, which hovers ‘above’ yet within the five worlds of human and super-human evolution, or it might be another point on the monadic plane. |
142. Đây có lẽ là một gợi ý rất huyền bí. “Điểm” được nói đến rất có thể là Chân thần, vốn lơ lửng “bên trên” nhưng vẫn ở trong năm thế giới của tiến hoá nhân loại và siêu nhân loại, hoặc đó có thể là một điểm khác trên cõi chân thần. |
|
143. DK is stating that the great ‘deaths’ which He has been discussing come, minimally, from the monadic plane. There is also the possibility that these ‘deaths’ could emanate from the logoic plane. |
143. Chân sư DK đang nói rằng những “cái chết” lớn lao mà Ngài đã bàn đến, tối thiểu, đến từ cõi chân thần. Cũng có khả năng những “cái chết” này có thể xuất phát từ cõi Thượng đế. |
|
just as the destruction of form in the three worlds emanates from the soul functioning outside the three worlds of the lower, concrete mind, the astral world and the physical plane. This statement again may aid you in understanding. |
cũng như sự hủy diệt hình tướng trong ba cõi giới xuất phát từ linh hồn đang hoạt động bên ngoài ba cõi giới của hạ trí cụ thể, thế giới cảm dục và cõi hồng trần. Phát biểu này một lần nữa có thể giúp bạn thấu hiểu. |
|
144. Just as the lower deaths pertain to the will (or desire) of the soul so the higher deaths pertain to the World of the Spirit. |
144. Cũng như các cái chết thấp liên hệ đến ý chí hay dục vọng của linh hồn thì các cái chết cao liên hệ đến Thế Giới của Tinh thần. |
|
145. We are learning the significant lesson that liberative death emanates from above. |
145. Chúng ta đang học bài học đầy thâm nghĩa rằng cái chết mang tính giải thoát xuất phát từ bên trên. |
|
If this is so, it will be apparent to you that only initiates who have taken the fifth initiation and higher initiations can wield effectively this particular form of death—for monadic potency only becomes available after the third initiation, and its first successful use is the destruction of the causal body of the initiate. It is the reward of Transfiguration. |
Nếu đúng như vậy, bạn sẽ thấy rõ rằng chỉ những điểm đạo đồ đã trải qua lần điểm đạo thứ năm và các lần điểm đạo cao hơn mới có thể vận dụng hữu hiệu hình thức đặc biệt này của cái chết—vì quyền năng chân thần chỉ trở nên khả dụng sau lần điểm đạo thứ ba, và sự sử dụng thành công đầu tiên của nó là sự hủy diệt thể nguyên nhân của điểm đạo đồ. Đó là phần thưởng của Biến hình. |
|
146. DK is telling us that the destruction of the causal body is a “reward”—the “reward of Transfiguration”. The Transfiguration Initiation sets the stage for the privilege of destroying of the causal body. |
146. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng sự hủy diệt thể nguyên nhân là một “phần thưởng”—“phần thưởng của Biến hình”. Cuộc Điểm Đạo Biến Hình đặt nền tảng cho đặc quyền hủy diệt thể nguyên nhân. |
|
147. Although access to monadic potency begins at the third degree and is successfully demonstrated at the fourth initiation, its truly effective and authoritative wielding seems to pertain to the fifth initiation and still later initiations. |
147. Mặc dù việc tiếp cận quyền năng chân thần bắt đầu ở cấp độ thứ ba và được biểu lộ thành công ở lần điểm đạo thứ tư, việc vận dụng thực sự hữu hiệu và có thẩm quyền quyền năng ấy dường như thuộc về lần điểm đạo thứ năm và các lần điểm đạo về sau nữa. |
|
148. We have to combine three thoughts in order to enlarge our understanding: |
148. Chúng ta phải kết hợp ba tư tưởng để mở rộng sự thấu hiểu của mình: |
|
a. The greater ‘deaths’ |
a. Những “cái chết” lớn hơn |
|
b. The Law of Synthesis |
b. Định luật Tổng hợp |
|
c. The wielding of monadic potency under the Law of Synthesis in order to produce those ‘deaths’. |
c. Việc vận dụng quyền năng chân thần dưới Định luật Tổng hợp để tạo ra những “cái chết” ấy. |
|
In connection with the use by the initiate of what we might call pure will, it should be remembered that this pure will works into manifestation through one or other of the three aspects of the Spiritual Triad. |
Liên quan đến việc điểm đạo đồ sử dụng điều mà chúng ta có thể gọi là ý chí thuần khiết, cần nhớ rằng ý chí thuần khiết này hoạt động đi vào biểu hiện qua một trong ba phương diện của Tam Nguyên Tinh Thần. |
|
149. This is another way of saying that the major monadic potency is expressed in the spiritual triad atmically, buddhically or manasically. |
149. Đây là một cách khác để nói rằng quyền năng chân thần chính yếu được biểu hiện trong Tam nguyên tinh thần theo atma, Bồ đề hoặc manas. |
|
150. The relationship between the major ray of the Monad and the major polarization of that ray within the spiritual triad has often been highlighted in our various advanced classes and forums. |
150. Mối liên hệ giữa cung chính yếu của Chân thần và sự phân cực chính yếu của cung ấy trong Tam nguyên tinh thần thường được nêu bật trong các lớp và diễn đàn nâng cao khác nhau của chúng ta. |
|
This activity is determined by the major ray upon which the initiate finds himself, from the angle of his monadic ray. |
Hoạt động này được quyết định bởi cung chính yếu mà điểm đạo đồ thấy mình thuộc về, xét từ góc độ cung chân thần của y. |
|
151. This is one of the most important statements to be found in relation to the nature and (hypothesized) sub-nature of the monadic ray. The sentence itself is written somewhat obliquely and through this obliquity, DK has managed to conceal a vital hint. |
151. Đây là một trong những phát biểu quan trọng nhất liên quan đến bản chất và tiểu bản chất được giả định của cung chân thần. Chính câu này được viết hơi quanh co, và qua sự quanh co ấy, Chân sư DK đã che giấu được một gợi ý thiết yếu. |
|
152. It is hypothesized that He is telling us of the existence of a “major” monadic ray. Therefore, if this hypothesis is true, there must be a ‘minor’ monadic ray. |
152. Có giả thuyết rằng Ngài đang nói với chúng ta về sự hiện hữu của một cung chân thần “chính yếu”. Do đó, nếu giả thuyết này đúng, hẳn phải có một cung chân thần “thứ yếu”. |
|
153. The “activity” of which we are speaking is the expression of the Monad through one or other of the three major aspects of the spiritual triad. |
153. “Hoạt động” mà chúng ta đang nói đến là sự biểu hiện của Chân thần qua một trong ba phương diện chính yếu của Tam nguyên tinh thần. |
|
154. While some might approach this sentence in a simplistic manner, deciding that the “major ray” discussed is the monadic ray pure and simple, a more subtle reading points to the likelihood that there is a major monadic ray and a minor ray. This thought is confirmed by a section of text found in TCF 176. |
154. Trong khi một số người có thể tiếp cận câu này theo cách đơn giản hóa, quyết định rằng “cung chính yếu” được bàn đến chỉ đơn thuần là cung chân thần, một cách đọc tinh tế hơn chỉ ra khả năng có một cung chân thần chính yếu và một cung thứ yếu. Tư tưởng này được xác nhận bởi một đoạn văn trong Luận về Lửa Vũ Trụ, trang 176. |
|
After the third Initiation all human beings find themselves on their monadic ray, on one of the three major rays, and the fact that Masters and Initiates are found on all the rays is due to the following two factors: |
Sau lần Điểm Đạo thứ ba, tất cả con người đều thấy mình ở trên cung chân thần của mình, trên một trong ba cung chính yếu, và sự kiện rằng các Chân sư và điểm đạo đồ được tìm thấy trên tất cả các cung là do hai yếu tố sau đây: |
|
First. Each major ray has its subrays, which correspond to all the seven. |
Thứ nhất. Mỗi cung chính yếu có các cung phụ của nó, tương ứng với cả bảy cung. |
|
Second. Many of the guides of the race transfer from one ray to another as They are needed, and as the work may require. When one of the Masters or Initiates is transferred it causes a complete re-adjustment. (TCF 176) |
Thứ hai. Nhiều vị hướng đạo của nhân loại chuyển từ cung này sang cung khác khi Các Ngài được cần đến, và khi công việc có thể đòi hỏi. Khi một trong các Chân sư hoặc điểm đạo đồ được chuyển dịch, điều đó gây ra một sự điều chỉnh lại hoàn toàn. (Luận về Lửa Vũ Trụ 176) |
|
155. In relation to the above quotation from R&I, the “initiate” referenced is one who expresses upon His monadic ray. |
155. Liên quan đến trích dẫn trên từ Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo, “điểm đạo đồ” được nói đến là một vị biểu hiện trên cung chân thần của Ngài. |
|
Every spiritual man |
Mọi con người tinh thần |
|
156. A “spiritual man” is one who is expressing principally through his spiritual triad. |
156. Một “con người tinh thần” là người biểu hiện chủ yếu qua Tam nguyên tinh thần của y. |
|
is upon one or another of the three major rays, |
đều ở trên một trong ba cung chính yếu, |
|
157. The three “major” rays of the Monad, though there are seven minor ones as well for each major monadic type. |
157. Ba cung “chính yếu” của Chân thần, dù cũng có bảy cung thứ yếu cho mỗi loại chân thần chính yếu. |
|
for the minor four rays of attribute are all eventually absorbed into the third Ray of Active Intelligence. |
vì bốn cung thuộc tính thứ yếu cuối cùng đều được hấp thụ vào cung ba của Trí Tuệ Linh Hoạt. |
|
158. This is true from one point of view, and yet the mode of absorption of rays four, five, six and seven may, at times, present some variation from the rule here given. Rays six and four, for instance, may be absorbed into ray three, and yet, may also be absorbed into ray two. Ray five may, perhaps, be absorbed into ray three, but there is a line of absorption which terminates in ray one. As for ray seven, DK tells us that initiates on that ray transfer often to the first ray, but why they should not also transfer to the third is difficult to understand. In one particular instance they did—when Master R. transferred from the seventh to the third ray, taking a number of His seventh ray second and third degree initiates onto that more abstract ray. |
158. Điều này đúng từ một quan điểm, tuy nhiên phương thức hấp thụ các cung bốn, năm, sáu và bảy đôi khi có thể biểu lộ một vài biến thể so với quy luật được đưa ra ở đây. Chẳng hạn, cung sáu và cung bốn có thể được hấp thụ vào cung ba, nhưng cũng có thể được hấp thụ vào cung hai. Có lẽ cung năm có thể được hấp thụ vào cung ba, nhưng có một đường hấp thụ kết thúc ở cung một. Còn về cung bảy, Chân sư DK cho chúng ta biết rằng các điểm đạo đồ trên cung ấy thường chuyển sang cung một, nhưng vì sao họ lại không thể cũng chuyển sang cung ba thì khó thấu hiểu. Trong một trường hợp đặc biệt, họ đã làm như vậy—khi Chân sư R. chuyển từ cung bảy sang cung ba, đưa một số điểm đạo đồ cung bảy cấp hai và cấp ba của Ngài sang cung trừu tượng hơn ấy. |
|
Your monadic ray is the second ray and hence your soul, being on a minor ray, must transfer to that line. As you know, the sequence of activity is ever the transfer of the fourth and sixth rays on to the second and the third, of the fifth and the seventh rays on to the first ray.(DINA I 573) |
Cung chân thần của bạn là cung hai, và do đó linh hồn của bạn, vì ở trên một cung thứ yếu, phải chuyển sang đường ấy. Như bạn biết, trình tự hoạt động luôn là sự chuyển dịch của cung bốn và cung sáu sang cung hai và cung ba, của cung năm và cung bảy sang cung một.(Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới I 573) |
|
If the initiate is upon the first ray, and therefore working in the Department of the Manu, he will use and express [Page 311] the innate will aspect |
Nếu điểm đạo đồ ở trên cung một, và do đó hoạt động trong Ngành của Đức Manu, y sẽ sử dụng và biểu hiện [Page 311] phương diện ý chí nội tại |
|
159. In this case “the initiate” is the Monad. We remember that the initiate ever is. The soul-infused personality must realize the presence of the initiate within itself. |
159. Trong trường hợp này, “điểm đạo đồ” là Chân thần. Chúng ta nhớ rằng điểm đạo đồ luôn luôn hiện tồn. Phàm ngã được linh hồn thấm nhuần phải nhận ra sự hiện diện của điểm đạo đồ bên trong chính nó. |
|
160. So the “innate will aspect” is the Will of the Monad, along one of three major lines (each line including all seven sub-qualities of the monadic sub-rays operative on the monadic plane). |
160. Vậy “phương diện ý chí nội tại” là Ý Chí của Chân thần, theo một trong ba đường chính yếu, mỗi đường bao gồm cả bảy tiểu phẩm tính của các cung phụ chân thần đang hoạt động trên cõi chân thần. |
|
161. The word “innate” gives the clue, as that which is innate is most essential and most recessed. |
161. Từ “nội tại” đưa ra manh mối, vì điều gì nội tại thì thiết yếu nhất và ẩn sâu nhất. |
|
through the atmic nature or through the highest aspect of the Spiritual Triad, |
xuyên qua bản chất atma hoặc xuyên qua phương diện cao nhất của Tam Nguyên Tinh Thần, |
|
162. If the “innate will aspect” expresses through the atmic nature, its source of emanation must be above that atmic nature. That which passes through something, starts from ‘outside’ that something. |
162. Nếu “phương diện ý chí nội tại” biểu hiện xuyên qua bản chất atma, thì nguồn xuất lộ của nó phải ở bên trên bản chất atma ấy. Điều gì đi xuyên qua một cái gì đó thì bắt đầu từ “bên ngoài” cái đó. |
|
163. If an emanation begins within a source it is said to original from that source and not to pass through that source. |
163. Nếu một sự xuất lộ bắt đầu bên trong một nguồn, thì người ta nói nó bắt nguồn từ nguồn ấy chứ không đi xuyên qua nguồn ấy. |
|
to which we give the inadequate name of “divine Will.” |
mà chúng ta gán cho danh xưng bất toàn là “Ý Chí thiêng liêng”. |
|
164. The “innate will aspect” expressing through the atmic nature is called “divine Will”—a term which Master DK considers inadequate. |
164. “Phương diện ý chí nội tại” biểu hiện xuyên qua bản chất atma được gọi là “Ý Chí thiêng liêng”—một thuật ngữ mà Chân sư DK xem là bất toàn. |
|
165. There will be three different major qualities to the “innate will aspect” depending on that part (or major aspect) of the spiritual triad through which it expresses. |
165. Sẽ có ba phẩm tính chính yếu khác nhau của “phương diện ý chí nội tại”, tùy thuộc vào phần hay phương diện chính yếu của Tam nguyên tinh thần mà qua đó nó biểu hiện. |
|
Students are apt to forget that the Spiritual Triad, related as it is to the Monad in much the same way as the threefold personality is related to the soul, |
Các đạo sinh dễ quên rằng Tam Nguyên Tinh Thần, vốn liên hệ với Chân thần gần như theo cùng một cách mà phàm ngã tam phân liên hệ với linh hồn, |
|
166. The spiritual triad in relation to the Monad is as the personality in relation to the soul. In other words, for practical purposes, the spiritual triad is the ‘personality’ of the Monad. |
166. Tam nguyên tinh thần trong tương quan với Chân thần cũng như phàm ngã trong tương quan với linh hồn. Nói cách khác, vì các mục đích thực tiễn, Tam nguyên tinh thần là “phàm ngã” của Chân thần. |
|
expresses the three major aspects of Shamballic energy, |
biểu hiện ba phương diện chính yếu của năng lượng Shamballa, |
|
167. Monadic energy is Shamballic energy. |
167. Năng lượng chân thần là năng lượng Shamballa. |
|
168. If there are major aspects of Shamballic energy, there must also be minor aspects of this energy. |
168. Nếu có các phương diện chính yếu của năng lượng Shamballa, thì cũng phải có các phương diện thứ yếu của năng lượng này. |
|
which three are all of them expressions of the will of the planetary Logos and His Essential Purpose. |
ba phương diện ấy đều là các biểu hiện của ý chí của Đức Hành Tinh Thượng Đế và Thiên Ý Cốt Yếu của Ngài. |
|
169. The Planetary Logos expresses equally through will, love and intelligence. There is an aspect of Planetary Logoic will expressive through each of these aspects. |
169. Đức Hành Tinh Thượng Đế biểu hiện đồng đều qua ý chí, bác ái và trí tuệ. Có một phương diện của ý chí Hành Tinh Thượng Đế biểu hiện qua mỗi phương diện này. |
|
If the initiate is on the second ray, and therefore is working in the Department of the Christ, |
Nếu điểm đạo đồ ở trên cung hai, và do đó đang hoạt động trong Ngành của Đức Christ, |
|
170. The occult “blind” enters in our designation of the spiritual status of the “initiate”. In this analysis, we are considering the “initiate” to be the Monad or as one Who expresses as the Monad. |
170. “Bức màn” huyền bí chen vào trong cách chúng ta chỉ định địa vị tinh thần của “điểm đạo đồ”. Trong phân tích này, chúng ta xem “điểm đạo đồ” là Chân thần, hoặc là Đấng biểu hiện như Chân thần. |
|
171. The term initiate always refers, minimally, to the soul, but the true initiate does not appear until the human consciousness is monadically responsive, which means that it has passed through the third initiation and is focussed in the lowest aspect of the spiritual triad. |
171. Thuật ngữ điểm đạo đồ luôn luôn, tối thiểu, chỉ linh hồn; nhưng điểm đạo đồ chân chính không xuất hiện cho đến khi tâm thức con người đáp ứng với chân thần, nghĩa là nó đã đi qua lần điểm đạo thứ ba và được tập trung trong phương diện thấp nhất của Tam nguyên tinh thần. |
|
172. The Monad within the constitution of man is the “initiate”. Through the process of initiation, we re-become what we essentially are. |
172. Chân thần trong cấu tạo của con người là “điểm đạo đồ”. Qua tiến trình điểm đạo, chúng ta trở lại thành điều mà mình vốn là về bản chất. |
|
173. Here, it would seem that Master DK is speaking of those who have for their major monadic ray, the second ray of Love-Wisdom and are, thus, what we would call “second ray Monads”. |
173. Ở đây, dường như Chân sư DK đang nói về những vị có cung chân thần chính yếu là cung hai của Bác Ái – Minh Triết và do đó là những vị mà chúng ta có thể gọi là “các Chân thần cung hai”. |
|
he will use the will through the medium of buddhi, the second aspect of the Spiritual Triad. |
y sẽ sử dụng ý chí qua trung gian của Bồ đề, phương diện thứ hai của Tam Nguyên Tinh Thần. |
|
174. According to our present mode of interpretation, second ray Monads will express triadally through the buddhic aspect of the spiritual triad. |
174. Theo phương thức diễn giải hiện nay của chúng ta, các Chân thần cung hai sẽ biểu hiện theo Tam nguyên qua phương diện Bồ đề của Tam nguyên tinh thần. |
|
If he is on the third ray and in the Department of the Mahachohan, the Lord of Civilisation, he will work through the higher mind, the lowest aspect of the Spiritual Triad. |
Nếu y ở trên cung ba và trong Ngành của Đức Mahachohan, Chúa Tể của Văn minh, y sẽ hoạt động qua thượng trí, phương diện thấp nhất của Tam Nguyên Tinh Thần. |
|
175. Again, we are considering the initiate to be the Monad-in-expression. Here, then, we are speaking of those whose Monads are majorly upon the third ray. |
175. Một lần nữa, chúng ta đang xem điểm đạo đồ là Chân thần trong sự biểu hiện. Vậy ở đây, chúng ta đang nói về những vị có Chân thần chủ yếu ở trên cung ba. |
|
Forget not, however, that none of these aspects can be regarded as higher or lower, for all are equally divine. |
Tuy nhiên, đừng quên rằng không phương diện nào trong các phương diện này có thể được xem là cao hơn hay thấp hơn, vì tất cả đều thiêng liêng như nhau. |
|
176. This is easy to forget as, at certain times and in certain ‘spaces’, some rays seem to be temporarily of more importance than others. |
176. Điều này rất dễ quên, vì vào những thời điểm nhất định và trong những “không gian” nhất định, một số cung dường như tạm thời quan trọng hơn các cung khác. |
|
Understanding of these ideas may come if, for instance, you realise that the expression of buddhi, or of the intuition, in the consciousness of the spiritual man will lead to the use of the will in working out the purposes of Shamballa in the field of religions, of education, and of salvaging or saving the life aspect in all forms in the three worlds, |
Sự thấu hiểu các ý tưởng này có thể đến nếu, chẳng hạn, bạn nhận ra rằng sự biểu hiện của Bồ đề, hay của trực giác, trong tâm thức của con người tinh thần sẽ dẫn đến việc sử dụng ý chí trong việc thực hiện các mục đích của Shamballa trong lĩnh vực tôn giáo, giáo dục, và cứu vớt hay cứu độ phương diện sự sống trong mọi hình tướng ở ba cõi giới, |
|
177. Here we are speaking of the field of expression of the one whose major monadic ray is the second ray. |
177. Ở đây chúng ta đang nói về lĩnh vực biểu hiện của vị có cung chân thần chính yếu là cung hai. |
|
178. Remember, again, that the “spiritual man” is the one who is polarized in one or other aspect of the spiritual triad. |
178. Một lần nữa, hãy nhớ rằng “con người tinh thần” là người được phân cực trong một trong các phương diện của Tam nguyên tinh thần. |
|
179. The “spiritual man” and the “innate will aspect” are two different things though, naturally, related as the innate will aspect expresses through the spiritual man. |
179. “Con người tinh thần” và “phương diện ý chí nội tại” là hai điều khác nhau, dù tất nhiên có liên hệ với nhau, vì phương diện ý chí nội tại biểu lộ qua con người tinh thần. |
|
180. Note the qualities and areas of expression within the second Depart ment of Divinity: |
180. Hãy lưu ý các phẩm tính và các lĩnh vực biểu lộ trong Bộ phận thứ hai của Thiên tính: |
|
a. Religion |
a. Tôn giáo |
|
b. Education |
b. Giáo dục |
|
c. Salvaging or saving of the life aspect in form |
c. Việc cứu vớt hay cứu độ phương diện sự sống trong hình tướng |
|
181. Technically and practically it is possible for one whose soul/Ego/Triad is upon the second ray to express in these fields. Such expression does not necessitate that the Monad be upon the second ray. Buddhi can express in the consciousness of the spiritual man even if the major monadic ray is not buddhic (i.e., not the second ray). This is so because buddhi may be expressed in the triad (and, thus, in the consciousness of the spiritual man) through a triadal sub-ray which, it turns out (EP I 168-169) is equivalent to what we usually call the soul ray. |
181. Về mặt kỹ thuật và thực tiễn, người có linh hồn/Chân ngã/Tam nguyên tinh thần ở trên cung hai có thể biểu lộ trong những lĩnh vực này. Sự biểu lộ như thế không đòi hỏi chân thần phải ở trên cung hai. Bồ đề có thể biểu lộ trong tâm thức của con người tinh thần, ngay cả khi cung chân thần chính không phải là Bồ đề, tức không phải cung hai. Điều này là như vậy vì Bồ đề có thể được biểu lộ trong Tam nguyên tinh thần, và do đó trong tâm thức của con người tinh thần, thông qua một cung phụ của Tam nguyên tinh thần; cung phụ ấy, hóa ra theo Tâm Lý Học Nội Môn I 168-169, tương đương với điều chúng ta thường gọi là cung linh hồn. |
|
182. It is possible that a man’s earthly career will be expressive of his monadic ray, his soul ray (really the ray of the triadal Ego) or a combination of the two. The Buddha, for instance, was expressive in the fields of religion, education and salvage and yet He had a third ray Monad. Such expression, was possible, however, because His soul(therefore triadal Ego) was upon the second ray of Love-Wisdom, and perhaps, the sub-ray of His Monad (expressing upon the monadic plane) was also on the second ray. |
182. Có thể sự nghiệp trần thế của một người sẽ biểu lộ cung chân thần của y, cung linh hồn của y, thực ra là cung của Chân ngã thuộc Tam nguyên tinh thần, hoặc một sự kết hợp của cả hai. Chẳng hạn, Đức Phật đã biểu lộ trong các lĩnh vực tôn giáo, giáo dục và cứu độ, vậy mà Ngài có một chân thần cung ba. Tuy nhiên, sự biểu lộ như thế là khả hữu vì linh hồn của Ngài, do đó là Chân ngã thuộc Tam nguyên tinh thần, ở trên cung hai Bác Ái – Minh Triết, và có lẽ cung phụ của chân thần Ngài, khi biểu lộ trên cõi chân thần, cũng ở trên cung hai. |
|
but it will have no relation to the individual and personal problems of the man himself. |
nhưng điều đó sẽ không liên hệ gì đến các vấn đề cá nhân và riêng tư của chính con người ấy. |
|
183. The “spiritual man” within the spiritual triad is not concerned with individual (soul) or personal (personality) problems. The spiritual man works with the Divine Plan and the Divine Plan is concerned with great wholes. The “spiritual man” is really an extension of the Monad upon triadal levels. |
183. “Con người tinh thần” bên trong Tam Nguyên Tinh Thần không bận tâm đến các vấn đề cá biệt thuộc linh hồn hay cá nhân thuộc phàm ngã. Con người tinh thần làm việc với Thiên Cơ, và Thiên Cơ liên quan đến những toàn thể lớn lao. “Con người tinh thần” thực ra là một sự mở rộng của chân thần trên các cấp độ Tam nguyên tinh thần. |
|
184. The attitude of the spiritual man to the soul/personality is impersonal. What is the highest point of view we are capable of achieving and sustaining? Is that point of view impersonal in the sense here indicated? |
184. Thái độ của con người tinh thần đối với linh hồn/phàm ngã là vô ngã. Đâu là quan điểm cao nhất mà chúng ta có thể đạt được và duy trì? Quan điểm ấy có vô ngã theo ý nghĩa được chỉ ra ở đây không? |
|
If the expression is that of the higher mind, the use of the will will be in connection with civilisations and cultures for which the third department is responsible, and there will be the carrying out of the will of God in the large and general plans. |
Nếu sự biểu lộ là của thượng trí, thì việc sử dụng ý chí sẽ liên hệ với các nền văn minh và các nền văn hóa mà bộ phận thứ ba chịu trách nhiệm, và sẽ có sự thực hiện Ý Chí của Thượng Đế trong các kế hoạch rộng lớn và tổng quát. |
|
185. Let us look closely at the qualities and areas of expression of the third major aspect of divinity through the higher mind. |
185. Chúng ta hãy xem xét kỹ các phẩm tính và các lĩnh vực biểu lộ của phương diện chính thứ ba của thiên tính thông qua thượng trí. |
|
a. The innate will is used in connection with civilizations |
a. Ý chí nội tại được sử dụng liên hệ với các nền văn minh |
|
b. The innate will is used in connection with cultures |
b. Ý chí nội tại được sử dụng liên hệ với các nền văn hóa |
|
c. The innate will aspect is used in relation to large and general plans. |
c. Phương diện ý chí nội tại được sử dụng liên quan đến các kế hoạch rộng lớn và tổng quát. |
|
186. It must be noted that the monadic will is the Will of God or, at least, a tiny aspect of that Will. |
186. Cần lưu ý rằng ý chí chân thần chính là Ý Chí của Thượng Đế, hoặc ít nhất là một phương diện nhỏ bé của Ý Chí ấy. |
|
If it is the will as it expresses itself through the atmic aspect of the Triad, it will function in relation to races, nations, and the kingdoms in nature, and to great planetary arrangements at present unknown to man. The synthesis of this picture will be apparent if carefully studied. |
Nếu đó là ý chí khi tự biểu lộ qua phương diện atma của Tam nguyên tinh thần, nó sẽ vận hành liên quan đến các giống dân, các quốc gia, các giới trong thiên nhiên, và những sắp đặt hành tinh lớn lao hiện nay con người chưa biết đến. Tổng hợp của bức tranh này sẽ trở nên rõ ràng nếu được nghiên cứu cẩn thận. |
|
187. Let us also tabulate the manner in which the “innate will aspect” works through the atmic aspect of the spiritual triad: |
187. Chúng ta cũng hãy lập bảng về cách “phương diện ý chí nội tại” hoạt động thông qua phương diện atma của Tam Nguyên Tinh Thần: |
|
a. It works in relation to races |
a. Nó hoạt động liên quan đến các giống dân |
|
b. It works in relation to races |
b. Nó hoạt động liên quan đến các giống dân |
|
c. It works in relation to kingdoms of nature |
c. Nó hoạt động liên quan đến các giới trong thiên nhiên |
|
d. It works in relation to “great planetary arrangements” presently unknown to man. |
d. Nó hoạt động liên quan đến “những sắp đặt hành tinh lớn lao” hiện nay con người chưa biết đến. |
|
188. The Buddha is possessed of a third ray Monad. Through which type of expression did the Buddha express monadically. The third ray Monad expresses through the higher mind. Does this seem characteristic of the Buddha? Or did He express through a combination of the higher mind and buddhi? |
188. Đức Phật có một chân thần cung ba. Đức Phật đã biểu lộ theo phương diện chân thần qua loại biểu lộ nào? Chân thần cung ba biểu lộ qua thượng trí. Điều này có dường như đặc trưng cho Đức Phật không? Hay Ngài đã biểu lộ qua một sự kết hợp giữa thượng trí và Bồ đề? |
|
189. If we search for a solution to this problem, will we find that ‘atmic mind’ or ‘Nirvanic mind’ is a higher correspondence to the higher mind? In the Buddha, what we see the relationship between ‘Nirvanic mind’ and higher mind? |
189. Nếu chúng ta tìm kiếm một lời giải cho vấn đề này, liệu chúng ta có thấy rằng “trí atma” hay “trí Niết Bàn” là một tương ứng cao hơn của thượng trí không? Nơi Đức Phật, chúng ta thấy mối liên hệ nào giữa “trí Niết Bàn” và thượng trí? |
|
At the same time it must be borne in mind that the destroying aspect of this pure will, expressing through the Monad, implements the purpose of Shamballa and is one of the major manifestations of the Love nature of the One in Whom we live and move and have our being; |
Đồng thời, cần ghi nhớ rằng phương diện hủy diệt của ý chí thuần khiết này, khi biểu lộ qua chân thần, thực hiện Thiên Ý của Shamballa và là một trong những biểu hiện chính yếu của bản chất Bác ái nơi Đấng Duy Nhất mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu; |
|
190. It would seem that DK is speaking of all three aspects of the “innate will aspect”. The purposes of Shamballa are implemented in three ways. |
190. Dường như Chân sư DK đang nói về cả ba phương diện của “phương diện ý chí nội tại”. Các mục đích của Shamballa được thực hiện theo ba cách. |
|
191. We see that will serves love—at least in our present solar system. Destruction emanating from pure will serves the purposes of the Love of the Solar Logos—taking that Logos as the “One in Whomwe live and move and have our being”. |
191. Chúng ta thấy rằng ý chí phụng sự bác ái, ít nhất là trong hệ mặt trời hiện nay của chúng ta. Sự hủy diệt xuất lộ từ ý chí thuần khiết phụng sự các mục đích của Bác ái nơi Thái dương Thượng đế, nếu xem Thượng đế ấy là “Đấng Duy Nhất mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu”. |
|
192. Is it too great a stretch for us to realize that destruction can be an instrument of love—in fact, very great Love? |
192. Liệu có quá xa vời đối với chúng ta khi nhận ra rằng sự hủy diệt có thể là một khí cụ của bác ái, thật ra là của Bác ái rất lớn lao chăng? |
|
it is also [Page 312] the guarantee of our ultimate and inevitable attainment, perfection, illumination and divine consummation. |
nó cũng là [Page 312] bảo chứng cho sự thành đạt tối hậu và tất yếu, sự hoàn thiện, sự soi sáng và sự viên mãn thiêng liêng của chúng ta. |
|
193. The destruction emanating from the Monad guarantees the following: |
193. Sự hủy diệt xuất lộ từ chân thần bảo đảm những điều sau: |
|
a. Ultimate and inevitable attainment |
a. Sự thành đạt tối hậu và tất yếu |
|
b. Perfection |
b. Sự hoàn thiện |
|
c. Illumination |
c. Sự soi sáng |
|
d. Divine consummation |
d. Sự viên mãn thiêng liêng |
|
This destruction wrought by the initiate is preparatory to his responsiveness to the fifth word which he receives at the fifth initiation and to which we give the inadequate name: Resurrect. |
Sự hủy diệt do điểm đạo đồ thực hiện này là sự chuẩn bị cho khả năng đáp ứng của y đối với linh từ thứ năm mà y nhận được ở lần điểm đạo thứ năm, và chúng ta gọi linh từ ấy bằng một danh xưng chưa thỏa đáng: Phục sinh. |
|
194. We are preparing to move into a consideration of the fifth word. There can be no resurrection without a prior destruction. |
194. Chúng ta đang chuẩn bị đi vào việc xem xét linh từ thứ năm. Không thể có phục sinh nếu trước đó không có sự hủy diệt. |
|
195. We will have to be careful as we consider the word, “Resurrect”, as the true Resurrection Initiation is the seventh, whereas the word “Resurrection” commonly refers to the aftermath of the fourth initiation, and in this context, seems to apply specifically to the fifth initiation. |
195. Chúng ta sẽ phải thận trọng khi xem xét linh từ “Phục sinh”, vì Cuộc Điểm Đạo Phục Sinh đích thực là lần thứ bảy, trong khi từ “Phục sinh” thường chỉ hệ quả sau lần điểm đạo thứ tư, và trong ngữ cảnh này dường như áp dụng chuyên biệt cho lần điểm đạo thứ năm. |
|
Part IV of V, Section II, R&I (312-319) |
Phần IV trong V, Mục II, Cung và Điểm Đạo (312-319) |
|
(All Highlighting, Bolding and Underlining—MDR) |
(Mọi phần tô sáng, in đậm và gạch dưới—người chú giải) |
|
Please read this Commentary with your book open or with reference to an electronic copy of the text. This will facilitate an appreciation of continuity |
Xin hãy đọc phần Chú giải này với sách của bạn mở sẵn, hoặc tham chiếu một bản điện tử của văn bản. Điều này sẽ giúp dễ nắm bắt tính liên tục |
|
Prior to considering that word, I would like to point out that these five words have a clear reference to each of the five initiations; |
Trước khi xem xét linh từ ấy, tôi muốn chỉ ra rằng năm linh từ này có sự liên hệ rõ ràng với từng lần trong năm lần điểm đạo; |
|
1. These injunctions are encapsulations or essentializations of that for which each initiation stands. If we really grasp the meaning of these words we have an infallible hint regarding the nature of the initiation. |
1. Những huấn lệnh này là sự cô đọng hay bản chất hóa điều mà mỗi lần điểm đạo đại diện. Nếu chúng ta thật sự nắm bắt ý nghĩa của các linh từ này, chúng ta có một gợi ý không sai lạc về bản chất của cuộc điểm đạo. |
|
2. It may be that they can also be applied to still higher initiations, with the series ending in the seventh initiation of “Resurrection”. |
2. Có thể chúng cũng được áp dụng cho những lần điểm đạo còn cao hơn nữa, với chuỗi này kết thúc ở lần điểm đạo thứ bảy của “Phục sinh”. |
|
they give the initiate the keynote to the work which he must carry forward between the various initiatory processes. |
chúng trao cho điểm đạo đồ chủ âm của công việc mà y phải tiếp tục thực hiện giữa các tiến trình điểm đạo khác nhau. |
|
3. If these keynotes are sounding, the candidate for a particular initiation has true guidance in its achievement. |
3. Nếu các chủ âm này đang vang lên, ứng viên cho một cuộc điểm đạo cụ thể có sự hướng dẫn chân thật trong việc đạt được cuộc điểm đạo ấy. |
|
4. Note that the initiations are more “processes” than events. |
4. Hãy lưu ý rằng các cuộc điểm đạo là những “tiến trình” hơn là các biến cố. |
|
5. Following each of the five initiations, the word or injunction must be applied. The initiation, itself, stands but for the beginning of the process which will see the word applied. Think this through |
5. Sau mỗi lần trong năm lần điểm đạo, linh từ hay huấn lệnh phải được áp dụng. Bản thân cuộc điểm đạo chỉ là điểm khởi đầu của tiến trình sẽ chứng kiến linh từ được áp dụng. Hãy suy nghĩ thấu đáo điều này |
|
a. How is the injunction “Know” applied after the first initiation |
a. Huấn lệnh “Biết” được áp dụng như thế nào sau lần điểm đạo thứ nhất |
|
b. How is the injunction “Express” applied after the second initiation |
b. Huấn lệnh “Biểu lộ” được áp dụng như thế nào sau lần điểm đạo thứ hai |
|
c. How is the injunction “Reveal” applied after the third initiation |
c. Huấn lệnh “Mặc khải” được áp dụng như thế nào sau lần điểm đạo thứ ba |
|
d. How is the injunction “Destroy” applied after the fourth initiation, or does the meaning of this word climax at the fourth degree? |
d. Huấn lệnh “Hủy diệt” được áp dụng như thế nào sau lần điểm đạo thứ tư, hay ý nghĩa của linh từ này đạt cao điểm ở cấp độ thứ tư? |
|
e. How is the injunction “Resurrect” applied after the fifth initiation or does the meaning of this word climax at the fourth degree? |
e. Huấn lệnh “Phục sinh” được áp dụng như thế nào sau lần điểm đạo thứ năm, hay ý nghĩa của linh từ này đạt cao điểm ở cấp độ thứ tư? |
|
f. All this will require careful thought. |
f. Tất cả điều này sẽ đòi hỏi sự suy nghĩ cẩn thận. |
|
The work indicated has nothing whatever to do with the training and the discipline to which he will (needless to say) subject his personality; |
Công việc được chỉ ra hoàn toàn không liên quan gì đến sự huấn luyện và kỷ luật mà y, không cần phải nói, sẽ áp đặt lên phàm ngã của mình; |
|
6. This disciplining is simply assumed. It is not that one can say, “I have moved beyond the need for disciplining the personality”. As long as the personality exists, discipline is required. After the fourth initiation this is no longer an issue as the personality as a collection of lunar vehicles no longer exists, so what is there to discipline? |
6. Sự rèn luyện kỷ luật này đơn giản được xem là điều đương nhiên. Không phải người ta có thể nói: “Tôi đã vượt qua nhu cầu rèn luyện kỷ luật phàm ngã”. Chừng nào phàm ngã còn tồn tại, kỷ luật vẫn cần thiết. Sau lần điểm đạo thứ tư, điều này không còn là vấn đề nữa, vì phàm ngã như một tập hợp các hiện thể nguyệt tinh không còn tồn tại; vậy còn gì để rèn luyện kỷ luật? |
|
7. The phrase “needless to say” tells much about the attitude of the Master to the process of disciplining the personality. |
7. Cụm từ “không cần phải nói” cho biết nhiều điều về thái độ của Chân sư đối với tiến trình rèn luyện kỷ luật phàm ngã. |
|
they are related instead to the work which he has to render. |
thay vào đó, chúng liên hệ đến công việc mà y phải thực hiện. |
|
8. Initiates are great workers. Much of their training as a human being, per se, has been successfully accomplished. |
8. Các điểm đạo đồ là những người hoạt động vĩ đại. Phần lớn sự huấn luyện của họ xét như chính một con người đã được hoàn tất thành công. |
|
9. At this point of development, attention is given to the work and not to preparing the personality instrument for that work. Again, the preparation is assumed in the case of the true initiate. |
9. Ở điểm phát triển này, sự chú ý được dành cho công việc, chứ không dành cho việc chuẩn bị công cụ phàm ngã cho công việc ấy. Một lần nữa, sự chuẩn bị được xem là điều đương nhiên trong trường hợp điểm đạo đồ chân chính. |
|
This work concerns what I might call certain essential realities connected with the purpose of Shamballa and with his ability to react or respond to the will of the Monad. |
Công việc này liên quan đến điều mà tôi có thể gọi là một số thực tại cốt yếu gắn liền với Thiên Ý của Shamballa và với khả năng của y trong việc phản ứng hay đáp ứng với ý chí của chân thần. |
|
10. Clearly, this is work of a very high order. |
10. Rõ ràng, đây là công việc thuộc một cấp độ rất cao. |
|
11. The initiate’s work lies beyond the province of the soul, per se. It is connected with the truly higher nature of the human being. |
11. Công việc của điểm đạo đồ nằm ngoài phạm vi của chính linh hồn. Nó gắn liền với bản chất thật sự cao hơn của con người. |
|
12. The work concerns the registration of Divine Purpose and the ability to respond to the Divine Will. We remember in this context, “Registrants of the Purpose” and “Custodians of the Plan”. |
12. Công việc liên quan đến việc ghi nhận Thiên Ý và khả năng đáp ứng với Ý Chí thiêng liêng. Trong ngữ cảnh này, chúng ta nhớ đến “Những người ghi nhận Thiên Ý” và “Những vị gìn giữ Thiên Cơ”. |
|
As you know, this ability [Page to respond to the will of the Monad] does not become an established fact and functioning realisation until after the third initiation; |
Như các bạn biết, khả năng này [Trang đáp ứng với ý chí của chân thần] không trở thành một sự kiện đã được thiết lập và một chứng nghiệm vận hành cho đến sau lần điểm đạo thứ ba; |
|
13. Before the third initiation this ability may be somewhat sensed and may be in process of cultivation, but the necessary realizations concerning this ability occur only sporadically and the probationary initiate cannot depend upon them. |
13. Trước lần điểm đạo thứ ba, khả năng này có thể được cảm nhận phần nào và có thể đang trong tiến trình vun bồi, nhưng những chứng nghiệm cần thiết liên quan đến khả năng này chỉ xảy ra rời rạc, và điểm đạo đồ dự bị không thể nương cậy vào chúng. |
|
14. It is not enough simply to realize. One must be able to function in a new way as a result of the realization. Thus, the realization becomes functional. |
14. Chỉ chứng nghiệm thôi là chưa đủ. Người ta phải có khả năng vận hành theo một cách mới như kết quả của sự chứng nghiệm. Như vậy, sự chứng nghiệm trở nên có tính vận hành. |
|
nevertheless, the preparatory sensitivity (if I may use this word is this connection) is slowly developing and paralleling the two other activities—Destroy and Resurrect—to which he is pledged: |
tuy nhiên, sự nhạy bén chuẩn bị, nếu tôi có thể dùng từ này trong mối liên hệ này, đang chậm rãi phát triển và song hành với hai hoạt động khác—Hủy diệt và Phục sinh—mà y đã cam kết thực hiện: |
|
15. The advancing initiate (even a probationary initiate of the first and second degrees) is pledged to move forward in his understanding of the destruction and resurrection which lies before him. |
15. Điểm đạo đồ đang tiến tới, ngay cả một điểm đạo đồ dự bị thuộc cấp độ thứ nhất và thứ hai, đã cam kết tiến lên trong sự thấu hiểu của y về sự hủy diệt và phục sinh đang ở phía trước y. |
|
16. We are all developing a “preparatory sensitivity”. It precedes the stage of “functioning realization”. |
16. Tất cả chúng ta đều đang phát triển một “sự nhạy bén chuẩn bị”. Nó đi trước giai đoạn “chứng nghiệm vận hành”. |
|
17. The sequence is: |
17. Trình tự là: |
|
a. Preparatory sensitivity |
a. Sự nhạy bén chuẩn bị |
|
b. Successful impression due to sensitive reception |
b. Sự ghi nhận ấn tượng thành công nhờ sự tiếp nhận nhạy bén |
|
c. Realization |
c. Sự chứng nghiệm |
|
1. The disciplining of his lower nature so that the unfolding initiate-consciousness may find no hindrances and obstacles. |
1. Việc rèn luyện kỷ luật bản chất thấp của y để tâm thức điểm đạo đồ đang khai mở không gặp cản trở và chướng ngại nào. |
|
18. Hindrances are found precisely here—upon the lower eighteen subplanes and the vehicles which are composed of these substances. |
18. Các cản trở được tìm thấy chính tại đây—trên mười tám cõi phụ thấp và trong các hiện thể được cấu thành từ những chất liệu này. |
|
19. It is obvious that undisciplined personality vehicles act as hindrances to the expression of Divine Purpose, Divine Plan, Divine Will and the expressions of these three through the soul. |
19. Hiển nhiên là các vận cụ phàm ngã thiếu kỷ luật hoạt động như những chướng ngại đối với sự biểu lộ của Thiên Ý, Thiên Cơ, Ý Chí thiêng liêng và những biểu lộ của ba điều này thông qua linh hồn. |
|
20. Some have inspiring glimpses of reality as seen from the initiate consciousness, but cannot sustain such perception because of the hindrances and obstacles here discussed. |
20. Một số người có những thoáng thấy đầy cảm hứng về thực tại như được nhìn từ tâm thức điểm đạo đồ, nhưng không thể duy trì tri giác ấy vì những cản trở và chướng ngại được bàn đến ở đây. |
|
2. Service to the Plan, under hierarchical impression. |
2. Phụng sự Thiên Cơ, dưới ấn tượng của Thánh Đoàn. |
|
21. This is true service and not a humanly conceived imitation of service, often for incorrect motives. |
21. Đây là sự phụng sự đích thực chứ không phải một sự mô phỏng việc phụng sự do con người hình dung, thường vì những động cơ không đúng. |
|
3. The development of monadic sensitivity. |
3. Sự phát triển tính nhạy cảm chân thần. |
|
22. This is, essentially, sensitivity to the Will of the Planetary Logos and then to the Divine Purpose of that Logos. |
22. Về bản chất, đây là sự nhạy cảm đối với Ý Chí của Đức Hành Tinh Thượng Đế, rồi đối với Thiên Ý của Thượng Đế ấy. |
|
23. We have a threefold process: |
23. Chúng ta có một tiến trình tam phân: |
|
a. Disciplining of the third aspect of divinity |
a. Rèn luyện phương diện thứ ba của thiên tính |
|
b. Service under the Plan through the exercise of the second aspect of divinity |
b. Phụng sự dưới Thiên Cơ thông qua việc vận dụng phương diện thứ hai của thiên tính |
|
c. Sensitivity to the will of the Monad—the ability to respond to the first aspect of divinity. |
c. Nhạy cảm đối với ý chí của Chân thần—khả năng đáp ứng với phương diện thứ nhất của thiên tính. |
|
It might be of interest at this point if, in view of this third development—responsiveness to pure will—we considered these five words in relation to the five initiations with which you are all sotheoretically familiar. |
Ở điểm này, có thể sẽ đáng quan tâm nếu, xét theo sự phát triển thứ ba này—khả năng đáp ứng với ý chí thuần khiết—chúng ta xem xét năm từ này trong liên hệ với năm cuộc điểm đạo mà tất cả các bạn đều đã quáquen thuộc về mặt lý thuyết. |
|
24. DK points out that we are only “theoretically” familiar with these initiations. True familiarity is another thing entirely and is based upon direct experience with particular initiatory processes. Our task, we well know, is to transform theory into practice. |
24. Chân sư DK chỉ ra rằng chúng ta chỉ quen thuộc “về mặt lý thuyết” với các cuộc điểm đạo này. Sự quen thuộc đích thực là một điều hoàn toàn khác, và đặt nền trên kinh nghiệm trực tiếp với những tiến trình điểm đạo đặc thù. Nhiệm vụ của chúng ta, như chúng ta biết rõ, là chuyển đổi lý thuyết thành thực hành. |
|
25. The Path of Initiation is one of increasing responsiveness to “pure will”. |
25. Con Đường Điểm Đạo là con đường của khả năng đáp ứng ngày càng gia tăng với “ý chí thuần khiết”. |
|
26. We must now prepare for a fuller understanding of the five words given in this Rule. We are certainly not seeking merely an understanding of the obvious implications. |
26. Giờ đây, chúng ta phải chuẩn bị cho một sự thấu hiểu đầy đủ hơn về năm từ được đưa ra trong Quy luật này. Chắc chắn chúng ta không chỉ tìm kiếm một sự thấu hiểu về những hàm ý hiển nhiên. |
|
27. All the words, we realize, are being interpreted in relation to the initiate consciousness. They are words intended to bring monadic life into full consciousness and expression. |
27. Chúng ta nhận ra rằng tất cả các từ đều đang được diễn giải trong liên hệ với tâm thức điểm đạo đồ. Chúng là những từ nhằm đưa sự sống chân thần vào tâm thức và sự biểu lộ trọn vẹn. |
|
The word Know, in relation to the initiate-consciousness, concerns the certainty of the initiate, and his profound conviction of the fact of the Christ in the heart(s) |
Từ Biết, trong liên hệ với tâm thức điểm đạo đồ, liên quan đến sự xác tín của điểm đạo đồ, và niềm xác tín sâu xa của y về sự thật của Đức Christ trong tâm |
|
28. This certainty, of course, arises from having faced the Christ in the “Chamber of Initiation”. |
28. Dĩ nhiên, sự xác tín này phát sinh từ việc đã đối diện với Đức Christ trong “Phòng Điểm Đạo”. |
|
it is at the same time coupled with a reaction which emanates from the sacrifice petals in the egoic lotus—those petals which are composed of the will quality of the Monad and relate the soul to the emanating Monad. |
đồng thời, nó được kết hợp với một phản ứng phát xuất từ các cánh hoa hi sinh trong hoa sen chân ngã—những cánh hoa được cấu thành từ phẩm tính ý chí của Chân thần và liên hệ linh hồn với Chân thần đang phát xạ. |
|
29. Chart VIII (TCF 817) should be studied to learn the sources of the energies which influence the sacrifice petals of the egoic lotus. We will find that the atmic permanent atom of the spiritual triad is to be considered a source as is the Monad. |
29. Nên nghiên cứu Biểu đồ 8 trong Luận về Lửa Vũ Trụ, trang 817, để biết các nguồn năng lượng ảnh hưởng đến các cánh hoa hi sinh của hoa sen chân ngã. Chúng ta sẽ thấy rằng nguyên tử trường tồn atma của Tam Nguyên Tinh Thần cần được xem là một nguồn, cũng như Chân thần. |
|
30. It is important to realize that the sacrifice petals of the egoic lotus are conduits for the “will quality of the Monad”. In other words, monadic energy is reaching the personality via the sacrifice petals. |
30. Điều quan trọng là nhận ra rằng các cánh hoa hi sinh của hoa sen chân ngã là những ống dẫn cho “phẩm tính ý chí của Chân thần”. Nói cách khác, năng lượng chân thần đang đến phàm ngã thông qua các cánh hoa hi sinh. |
|
31. Not only are the sacrifice petals conduits. Those petals are actually “composed of the will quality of the Monad”. This bears pondering. |
31. Các cánh hoa hi sinh không chỉ là những ống dẫn. Những cánh hoa ấy thật sự “được cấu thành từ phẩm tính ý chí của Chân thần”. Điều này đáng được suy ngẫm. |
|
32. It may be inferred that it is the energy of the Monad which in some way underlies the structure of the egoic lotus. If we can say that sacrifice petals are composed of the will quality of the Monad then why can we not say that the love petals are compose of the love quality of the Monad and the knowledge petals of the knowledge quality of that same Monad. |
32. Có thể suy ra rằng chính năng lượng của Chân thần, bằng cách nào đó, nằm bên dưới cấu trúc của hoa sen chân ngã. Nếu chúng ta có thể nói rằng các cánh hoa hi sinh được cấu thành từ phẩm tính ý chí của Chân thần, thì tại sao chúng ta không thể nói rằng các cánh hoa bác ái được cấu thành từ phẩm tính bác ái của Chân thần, và các cánh hoa tri thức từ phẩm tính tri thức của cùng Chân thần ấy. |
|
33. So to “Know” in the initiate sense is |
33. Vì vậy, “Biết” theo nghĩa điểm đạo đồ là |
|
a. To have a profound conviction of the presence of the Christ in the heart |
a. Có một niềm xác tín sâu xa về sự hiện diện của Đức Christ trong tâm |
|
b. To have a certain reaction to the energies emanating from the sacrifice petals of the egoic lotus and, thus, from the Monad (via the spiritual triad). |
b. Có một phản ứng nhất định đối với các năng lượng phát xuất từ các cánh hoa hi sinh của hoa sen chân ngã và, do đó, từ Chân thần thông qua Tam Nguyên Tinh Thần. |
|
34. It is clear, then, that this knowing concerns both love and will |
34. Vậy thì, rõ ràng là sự biết này liên quan đến cả bác ái lẫn ý chí |
|
The first faint tremor of the [Page 313] impact of monadic “destiny” (I know not how else to express this concept) makes itself felt, but is registered only by the soul of the initiate and on the level of soul consciousness; it is never registered by the man on the physical plane who is taking the first initiation; |
Cơn chấn động mơ hồ đầu tiên của [Page 313] tác động từ “định mệnh” chân thần, tôi không biết diễn đạt ý niệm này cách nào khác, bắt đầu được cảm nhận, nhưng chỉ được linh hồn của điểm đạo đồ ghi nhận, và trên cấp độ tâm thức linh hồn; nó không bao giờ được người đang nhận lần điểm đạo thứ nhất trên cõi hồng trần ghi nhận; |
|
35. We are speaking of inner events which occur at the time of the first initiation—the “Birth of the Christ in the Heart”. |
35. Chúng ta đang nói về những biến cố bên trong xảy ra vào thời điểm lần điểm đạo thứ nhất—“Sự Giáng Sinh của Đức Christ trong Tâm”. |
|
36. At that first degree, the Monad is indeed felt, but only on soul levels upon the higher mental plane. Yet, “monadic destiny” begins to impel the lower process. |
36. Ở cấp độ thứ nhất ấy, Chân thần quả thật được cảm nhận, nhưng chỉ trên các cấp độ linh hồn thuộc cõi thượng trí. Tuy nhiên, “định mệnh chân thần” bắt đầu thúc đẩy tiến trình thấp hơn. |
|
37. Thus, the initiate as the Ego on the higher mental plane, registers the incipient influence of the Monad and is directed towards a certain destiny which awaits the Monad. This is “monadic destiny”. |
37. Như vậy, điểm đạo đồ với tư cách là Chân ngã trên cõi thượng trí, ghi nhận ảnh hưởng mới khởi của Chân thần và được hướng về một định mệnh nào đó đang chờ Chân thần. Đây là “định mệnh chân thần”. |
|
his brain cannot respond to this high vibration. |
bộ não của y không thể đáp ứng với rung động cao này. |
|
38. By the time the third initiation is taken, his brain can respond to the monadic vibration. |
38. Đến khi lần điểm đạo thứ ba được nhận, bộ não của y có thể đáp ứng với rung động chân thần. |
|
Theoretically, and as a result of the teaching of the Ageless Wisdom, the spiritual man (in incarnation) has known that he is essentially the indwelling Christ, and the attainment of the Christ consciousness has been and will be his goal; |
Về mặt lý thuyết, và do kết quả của giáo huấn Minh Triết Ngàn Đời, con người tinh thần đang lâm phàm đã biết rằng y, về bản chất, là Đức Christ nội tại, và việc đạt đến tâm thức Đức Christ đã và sẽ là mục tiêu của y; |
|
39. We are speaking her of the attainment of a small degree of the possible fulness of Christ Consciousness. |
39. Ở đây, chúng ta đang nói về việc đạt được một mức độ nhỏ trong sự viên mãn khả hữu của Tâm thức Đức Christ. |
|
40. From a broader perspective, however, this goal does not stop at the third initiation. The Christ is an initiate of the seventh degree (in process) and the road to the fulness of His type of consciousness is long. |
40. Tuy nhiên, từ một viễn cảnh rộng hơn, mục tiêu này không dừng lại ở lần điểm đạo thứ ba. Đức Christ là một điểm đạo đồ cấp bảy đang trong tiến trình, và con đường dẫn đến sự viên mãn của loại tâm thức của Ngài còn dài. |
|
41. Further, we can say that there is no conceivable end to the development of the Christ Consciousness. There is, after all, a “Cosmic Christ”. |
41. Hơn nữa, chúng ta có thể nói rằng không có một điểm kết thúc nào có thể quan niệm được cho sự phát triển của Tâm thức Đức Christ. Rốt cuộc, có một “Đức Christ Vũ Trụ”. |
|
42. Yet for practical purposes we are speaking of the attainment of soul consciousness, calling it “Christ consciousness”. |
42. Tuy vậy, vì những mục đích thực tiễn, chúng ta đang nói đến việc đạt được tâm thức linh hồn, gọi đó là “tâm thức Đức Christ”. |
|
the knowledge here referred to concerns something higher still—the Self-identification of the soul on its own plane and the Self-recognition which relates that Self to the enveloping whole, the Monad. |
sự tri thức được nói đến ở đây liên quan đến một điều còn cao hơn nữa—sự tự-đồng-hóa của linh hồn trên cõi riêng của nó và sự tự-nhận-biết liên hệ Bản Ngã ấy với toàn thể bao bọc, tức Chân thần. |
|
43. In this type of identification, the man knows himself to be the Ego on its own plane and more still—to be that which envelopes the soul—the Monad. |
43. Trong loại đồng hóa này, con người biết mình là Chân ngã trên cõi riêng của nó, và hơn thế nữa—là cái bao bọc linh hồn, tức Chân thần. |
|
44. Note how DK speaks of the Monad as if it is “the enveloping whole”. |
44. Hãy lưu ý cách Chân sư DK nói về Chân thần như thể nó là “toàn thể bao bọc”. |
|
45. We note that the term “Self” (as here used) is not equivalent to the Monad, for the Self is to be related to the Monad—“the enveloping whole”. |
45. Chúng ta lưu ý rằng thuật ngữ “Bản Ngã” như được dùng ở đây không tương đương với Chân thần, vì Bản Ngã cần được liên hệ với Chân thần—“toàn thể bao bọc”. |
|
46. DK is developing His notion of the use of the word “Know”. |
46. Chân sư DK đang khai triển quan niệm của Ngài về cách dùng từ “Biết”. |
|
a. First to know oneself as the inner Christ—the Christ Principle |
a. Trước hết là biết chính mình như Đức Christ nội tại—Nguyên khí Christ |
|
b. Secondly, to know oneself as the soul on its own plane |
b. Thứ hai, biết chính mình như linh hồn trên cõi riêng của nó |
|
c. Thirdly, to know oneself as the Self, not only related to the Monad, but as the Monad itself—as the wholeness. |
c. Thứ ba, biết chính mình như Bản Ngã, không chỉ liên hệ với Chân thần, mà còn như chính Chân thần—như tính toàn thể. |
|
If I might word it symbolically, I would say that the soul, the Christ (after the first initiation), knows that the inevitable processes of Christ-expression on Earth have been started and that the attainment of “the full-grown man in Christ” cannot be arrested. |
Nếu Tôi có thể diễn đạt điều đó một cách biểu tượng, Tôi sẽ nói rằng linh hồn, tức Đức Christ sau lần điểm đạo thứ nhất, biết rằng các tiến trình tất yếu của sự biểu lộ Đức Christ trên Trái Đất đã bắt đầu, và việc đạt tới “con người trưởng thành trọn vẹn trong Đức Christ” không thể bị ngăn lại. |
|
47. DK tells us of the type of knowing which follows the first initiation. |
47. Chân sư DK cho chúng ta biết về loại sự biết theo sau lần điểm đạo thứ nhất. |
|
48. The soul on its own plane has known that this expression on Earth was divinely intended from the moment of individualization. After the first initiation, that soul or Ego may be assured that the process will go forward without arrest. |
48. Linh hồn trên cõi riêng của nó đã biết rằng sự biểu lộ này trên Trái Đất đã được thiên định từ khoảnh khắc biệt ngã hóa. Sau lần điểm đạo thứ nhất, linh hồn ấy hay Chân ngã ấy có thể tin chắc rằng tiến trình đó sẽ tiến tới mà không bị ngăn lại. |
|
49. As the process progresses, the soul-in-incarnation (the extension of the soul or Christ) comes to know this as well. This happens because the soul-in-incarnation comes into increasing identification with the soul on its own plane. |
49. Khi tiến trình tiến triển, linh hồn đang nhập thể, tức phần mở rộng của linh hồn hay Đức Christ, cũng đi đến chỗ biết điều này. Điều này xảy ra vì linh hồn đang nhập thể ngày càng đồng hóa với linh hồn trên cõi riêng của nó. |
|
The centre of interest which has hitherto been directed to bringing this about now shifts and the soul on its own plane (not in the reflection of its consciousness on Earth) becomes determined to “go to the Father” or to demonstrate the highest aspect of divinity, the will aspect. |
Trọng tâm chú ý, trước đây hướng vào việc đưa điều này thành tựu, nay chuyển dịch và linh hồn trên cõi riêng của nó, không phải trong phản chiếu tâm thức của nó trên Trái Đất, trở nên quyết tâm “đi đến với Cha” hay chứng tỏ phương diện cao nhất của thiên tính, tức phương diện ý chí. |
|
50. This is a fascinating thought. DK is telling us that it is not the soul-in-incarnation who is determined to “go to the Father” but the “soul on its own plane”. We see, then, something of the high state of consciousness of the “Prodigal Son” who is usually portrayed in very human terms. |
50. Đây là một tư tưởng hấp dẫn. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng không phải linh hồn đang nhập thể quyết tâm “đi đến với Cha”, mà là “linh hồn trên cõi riêng của nó”. Vậy chúng ta thấy được phần nào trạng thái tâm thức cao của “Người Con Hoang Đàng”, vốn thường được khắc họa bằng những thuật ngữ rất người. |
|
51. When we speak of the soul on its own plane we are speaking of the individual as the Ego. |
51. Khi nói về linh hồn trên cõi riêng của nó, chúng ta đang nói về cá nhân với tư cách là Chân ngã. |
|
52. Perhaps by the time of this arising, the soul-in-incarnation is identified as the soul on its own plane. It would seem that the period of the third initiation would have to be in sight. |
52. Có lẽ vào thời điểm của sự trỗi dậy này, linh hồn đang nhập thể đã đồng hóa như linh hồn trên cõi riêng của nó. Dường như thời kỳ của lần điểm đạo thứ ba hẳn phải đã hiện ra trước mắt. |
|
53. And yet there are earlier arisings or reversals which reveal a more human portrait of the Prodigal Son. That which occurs within the consciousness of the soul on its own plane (the Ego on the higher mental plane) also occurs at an earlier stage for the soul-in-incarnation. We could call this strictly human reorientation towards the soul (and not the Monad) the first reversal of the wheel and it occurs when the fifth petal is in process of unfoldment. |
53. Tuy nhiên, còn có những sự trỗi dậy hay đảo chiều sớm hơn, chúng bộc lộ một chân dung có tính con người hơn của Người Con Hoang Đàng. Điều xảy ra trong tâm thức của linh hồn trên cõi riêng của nó, tức Chân ngã trên cõi thượng trí, cũng xảy ra ở một giai đoạn sớm hơn đối với linh hồn đang nhập thể. Chúng ta có thể gọi sự tái định hướng thuần túy nhân loại này hướng về linh hồn, chứ không phải Chân thần, là sự đảo chiều đầu tiên của bánh xe, và nó xảy ra khi cánh hoa thứ năm đang trong tiến trình khai mở. |
|
There are in the Gospel story four recorded moments in the life of the Christ wherein this process of development within His consciousness, this monadic centralisation (I know not what other word to use, for we have not yet developed the terminology of the monad, the will aspect) |
Trong câu chuyện Phúc Âm có bốn khoảnh khắc được ghi lại trong đời sống của Đức Christ trong đó tiến trình phát triển này trong tâm thức của Ngài, sự tập trung chân thần tôi không biết dùng từ nào khác, vì chúng ta vẫn chưa phát triển thuật ngữ về chân thần, tức phương diện ý chí |
|
54. This is a fascinating thought and an incentive to us regarding our ability to capture the highest realizations in revelatory language. |
54. Đây là một tư tưởng hấp dẫn và là một khích lệ cho chúng ta liên quan đến khả năng nắm bắt những chứng nghiệm cao nhất bằng ngôn ngữ mặc khải. |
|
55. How shall we define “monadic centralisation”? Shall we call it the ‘centralisation of the consciousness which the all-pervading awareness of the Monad’? |
55. Chúng ta sẽ định nghĩa “sự tập trung chân thần” như thế nào? Chúng ta có nên gọi đó là “sự tập trung của tâm thức, vốn là nhận thức thấm khắp của Chân thần” chăng? |
|
56. In speaking of the “monadic centralisation” in the life of the Christ, let us make sure that it is, indeed, the Christ and not the Master Jesus. This is briefly discussed below. |
56. Khi nói về “sự tập trung chân thần” trong đời sống của Đức Christ, chúng ta hãy chắc chắn rằng đó thật sự là Đức Christ chứ không phải Chân sư Jesus. Điều này được bàn ngắn gọn bên dưới. |
|
57. Taking the Tibetan’s statement at face value, however, we are to look for the unfoldment of monadic consciousness in the life of the “Christ”. |
57. Tuy nhiên, nếu hiểu lời tuyên bố của Chân sư Tây Tạng theo nghĩa trực tiếp, chúng ta phải tìm kiếm sự khai mở của tâm thức chân thần trong đời sống của “Đức Christ”. |
|
begins to demonstrate and can be traced in a definitely unfolding process. In the past I have incidentally referred to these points, but I would like to gather all four of them together here for your illumination. |
bắt đầu biểu lộ và có thể được truy nguyên trong một tiến trình khai mở rõ rệt. Trước đây, tôi đã tình cờ đề cập đến những điểm này, nhưng ở đây tôi muốn gom cả bốn điểm lại để soi sáng cho các bạn. |
|
58. We are being told that “monadic centralisation” and the emergence of the will aspect is a definitely unfolding process. |
58. Chúng ta được cho biết rằng “sự quy tâm chân thần” và sự xuất hiện của phương diện ý chí là một tiến trình khai mở rõ rệt. |
|
1. His statement to His parents in the Temple, “Wist ye not that I must be about My Father’s business?” I would have you note that: |
1. Lời Ngài nói với cha mẹ trong Đền thờ: “Cha mẹ chẳng biết rằng tôi phải lo công việc của Cha tôi sao?” Tôi muốn các bạn lưu ý rằng: |
|
a. He was twelve years old at the time, and therefore the work upon which He had been occupied as a soul was finished, for twelve is the number of completed [Page 314] labour. |
a. Lúc ấy Ngài được mười hai tuổi, và do đó công trình mà Ngài đã chuyên chú với tư cách một linh hồn đã hoàn tất, vì mười hai là con số của công trình [Page 314] đã hoàn tất. |
|
59. Twelve is a number related both to the soul (with its twelve petals) and to the Monad, ruled by the sign of salvation, Pisces, the twelfth sign. |
59. Mười hai là con số liên hệ cả với linh hồn, cùng mười hai cánh hoa của nó, lẫn với Chân thần, được cai quản bởi dấu hiệu cứu độ là Song Ngư, dấu hiệu thứ mười hai. |
|
The symbolism of His twelve years is now replaced by that of the twelve Apostles. |
Biểu tượng về mười hai năm của Ngài nay được thay thế bằng biểu tượng của mười hai Tông đồ. |
|
60. The twelve Apostles represented His Teaching to the world. |
60. Mười hai Tông đồ biểu trưng cho Giáo huấn của Ngài đối với thế gian. |
|
61. As a number related so directly to the heart, the number twelve will always be important in relation to the life of the Christ. |
61. Là một con số liên hệ trực tiếp như thế với trái tim, số mười hai sẽ luôn luôn quan trọng trong liên hệ với đời sống của Đức Christ. |
|
62. As mentioned above, must ask whether we are speaking of Jesus or the Christ. Did the first tangible cooperation of the Lord Maitreya with the initiate Jesus occur at the time of the Baptism when Jesus was thirty years old (this is the usual esoteric presentation), or had it begun much earlier—when Jesus was twelve years of age? |
62. Như đã nói ở trên, cần phải hỏi liệu chúng ta đang nói về Đức Jesus hay Đức Christ. Phải chăng sự hợp tác hữu hình đầu tiên của Đức Maitreya với điểm đạo đồ Jesus đã xảy ra vào lúc Lễ Rửa Tội, khi Đức Jesus ba mươi tuổi, như cách trình bày huyền bí thường thấy, hay nó đã bắt đầu sớm hơn nhiều, khi Đức Jesus mười hai tuổi? |
|
63. The Tibetan does use the word “Christ” even though speaking of an event which occurred when the individual called Jesus was twelve years old. |
63. Chân sư Tây Tạng quả thật dùng từ “Đức Christ”, dù đang nói về một sự kiện xảy ra khi cá nhân được gọi là Đức Jesus mới mười hai tuổi. |
|
64. Perhaps the interplay between the Great Teacher and His disciple, Jesus, was progressive and dated from an early age. Perhaps the Lord Maitreya was in close affiliation with the initiate Jesus for a very long time before Their public ministry began. |
64. Có lẽ sự tương tác giữa Đại Huấn Sư và đệ tử của Ngài, Đức Jesus, đã diễn tiến dần dần và bắt đầu từ tuổi rất sớm. Có lẽ Đức Maitreya đã liên kết mật thiết với điểm đạo đồ Jesus trong một thời gian rất dài trước khi sứ vụ công khai của Các Ngài bắt đầu. |
|
b. He was in the Temple of Solomon, ever a symbol of the causal body of the soul, and He was therefore speaking on soul levels and not as the spiritual man on Earth. |
b. Ngài ở trong Đền thờ Solomon, vốn luôn là biểu tượng của thể nguyên nhân của linh hồn, và do đó Ngài đang phát biểu trên các cấp độ linh hồn chứ không phải như con người tinh thần trên Trái Đất. |
|
65. Such was the elevation of that Being Who spoke through a twelve year old form, whether that Being was the initiate Jesus or the Christ overshadowing Jesus, or the Christ in possession of the form of Jesus. |
65. Sự cao cả của Đấng đã phán qua một hình tướng mười hai tuổi là như thế, dù Đấng ấy là điểm đạo đồ Jesus, hay Đức Christ đang phủ bóng Đức Jesus, hoặc Đức Christ đang sở hữu hình tướng của Đức Jesus. |
|
66. We must note the important distinction: |
66. Chúng ta phải lưu ý sự phân biệt quan trọng này: |
|
a. One can speak as a soul on and from soul levels. |
a. Người ta có thể phát biểu như một linh hồn trên và từ các cấp độ linh hồn. |
|
b. One can speak as the spiritual man on Earth (the awakened soul-in-incarnation). |
b. Người ta có thể phát biểu như con người tinh thần trên Trái Đất, tức linh hồn đang nhập thể đã thức tỉnh. |
|
c. From what level of identification do we speak and how do we know? |
c. Từ cấp độ đồng hoá nào mà chúng ta phát biểu, và làm sao chúng ta biết? |
|
c. He was serving as a member of the Hierarchy, for He was found by His parents teaching the priests, the Pharisees and the Sadducees. |
c. Ngài đang phụng sự với tư cách một thành viên của Thánh đoàn, vì cha mẹ Ngài đã thấy Ngài đang giảng dạy cho các tư tế, những người Pha-ri-siêu và những người Sa-đu-sê. |
|
67. All members of the Hierarchy no matter what their ray are necessarily Teachers to human beings. |
67. Mọi thành viên của Thánh đoàn, bất kể cung của Các Ngài là gì, tất yếu đều là huấn sư đối với con người. |
|
68. (We must remember, however, that two thousand years ago the Christ was not just a “member” of the Spiritual Hierarchy but the Head of that Hierarchy. Was the one who was serving “as a member of the Hierarchy” the initiate, Jesus? |
68. Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng hai nghìn năm trước, Đức Christ không chỉ là một “thành viên” của Huyền Giai Tinh Thần mà là Đấng Đứng Đầu của Thánh đoàn ấy. Phải chăng vị đang phụng sự “với tư cách một thành viên của Thánh đoàn” là điểm đạo đồ Jesus? |
|
69. The authority of the fully developed soul was manifest to the astonishment of those He taught. |
69. Thẩm quyền của linh hồn đã phát triển trọn vẹn đã hiển lộ, khiến những người được Ngài giảng dạy phải kinh ngạc. |
|
70. IT could be said that Jesus (since He had been the high priest Joshua at which time he had taken the third initiation), had recovered his previous knowledge and authority and was sharing it with those who knew far less. Yet the word “Christ” is used. |
70. Có thể nói rằng Đức Jesus, vì Ngài từng là thượng tế Joshua, khi ấy Ngài đã nhận lần điểm đạo thứ ba, đã khôi phục tri thức và thẩm quyền trước kia của Ngài và đang chia sẻ chúng với những người hiểu biết ít hơn rất nhiều. Tuy vậy, từ “Đức Christ” vẫn được dùng. |
|
d. He spoke as an expression of the substance aspect (He spoke to His mother) and also as a soul (He spoke to His father), but He was controlled by neither; |
d. Ngài phát biểu như một biểu hiện của phương diện chất liệu, khi Ngài nói với mẹ Ngài, và cũng như một linh hồn, khi Ngài nói với cha Ngài, nhưng Ngài không bị bên nào kiểm soát; |
|
71. To demonstrate His independence of the control of both these aspects He said: “Wist ye not that I must be about my Father’s business?” |
71. Để chứng tỏ sự độc lập của Ngài trước sự kiểm soát của cả hai phương diện ấy, Ngài nói: “Cha mẹ chẳng biết rằng tôi phải lo công việc của Cha tôi sao?” |
|
He now functioned as the monad, above and beyond yet inclusive of both. |
Bấy giờ Ngài hoạt động như Chân thần, ở trên và vượt ngoài, song vẫn bao gồm cả hai. |
|
72. The Christ’s identification as the Monad was clear. To an extent, even the initiate Jesus (as the former third-degree initiate Joshua) could have been increasingly identified with the Monad. |
72. Sự đồng hoá của Đức Christ với tư cách Chân thần thật rõ ràng. Ở một mức độ nào đó, ngay cả điểm đạo đồ Jesus, với tư cách điểm đạo đồ bậc ba Joshua trước kia, cũng có thể đã ngày càng đồng hoá với Chân thần. |
|
73. Usually (in the Hebrew tradition) the advanced individual who has reached the age of twelve is being prepared to “become a man” (by passing through the Bar Mitzvah) and, thus, to achieve some degree of independence from his strictly lunar nature. |
73. Thông thường, trong truyền thống Do Thái, cá nhân tiến bộ khi đạt đến tuổi mười hai sẽ được chuẩn bị để “trở thành người trưởng thành”, qua nghi lễ trưởng thành Do Thái, và nhờ đó đạt được một mức độ độc lập nào đó khỏi bản chất nguyệt tính thuần túy của mình. |
|
74. In this case (the case of Christ-Jesus) reaching the age of twelve signaled independence from even the soul aspect, strictly speaking. |
74. Trong trường hợp này, trường hợp của Đức Christ-Đức Jesus, việc đạt đến tuổi mười hai báo hiệu sự độc lập, nói một cách nghiêm ngặt, ngay cả khỏi phương diện linh hồn. |
|
75. We can question whether any third degree initiate (such as Jesus was) could really function as the Monad. It seems that this type of functioning could only be true of the Christ. |
75. Chúng ta có thể đặt câu hỏi liệu bất kỳ điểm đạo đồ bậc ba nào, như Đức Jesus khi ấy, có thật sự có thể hoạt động như Chân thần hay không. Dường như loại hoạt động này chỉ có thể đúng với Đức Christ. |
|
2. His statement to His disciples, “I must go up to Jerusalem,” after which we read that He steadfastly set His face to go there. |
2. Lời Ngài nói với các đệ tử của Ngài: “Ta phải đi lên Jerusalem”, sau đó chúng ta đọc rằng Ngài kiên quyết hướng mặt đi đến đó. |
|
76. In relation to point two we are certain that we are speaking of the Christ using the body of the initiate, Jesus. |
76. Liên quan đến điểm thứ hai, chúng ta chắc chắn rằng mình đang nói về Đức Christ sử dụng thể của điểm đạo đồ Jesus. |
|
77. One should review in this context the very important section in Esoteric Astrology (563-568) in which the role of the zodiacal signs in the life of the Christ is discussed. When He set his facesteadfastly to go to Jerusalem, He was under the influence of Sagittarius. |
77. Trong bối cảnh này, nên xem lại phần rất quan trọng trong Chiêm Tinh Học Nội Môn, các trang 563-568, trong đó vai trò của các dấu hiệu hoàng đạo trong đời sống của Đức Christ được bàn đến. Khi Ngài hướng mặtmột cách kiên định để đi đến Jerusalem, Ngài đang chịu ảnh hưởng của Nhân Mã. |
|
This was an intimation that He had now a new objective. |
Đây là một gợi ý rằng bấy giờ Ngài đã có một mục tiêu mới. |
|
78. Something of the fulness of this new objective was revealed in the Garden of Gethsemene when the Christ acquiesced to the Father’ Will, agreeing to fulfill the role of World Saviour for some 5000 years. |
78. Một phần nào sự viên mãn của mục tiêu mới này đã được mặc khải trong Vườn Gethsemane, khi Đức Christ thuận theo Ý Chí của Cha, đồng ý hoàn thành vai trò Đấng Cứu Thế Thế Gian trong khoảng 5000 năm. |
|
The only place of complete “peace” (the meaning of the word Jerusalem) is Shamballa; |
Nơi duy nhất của “bình an” trọn vẹn, ý nghĩa của từ Jerusalem, là Shamballa; |
|
79. This is a statement of paramount importance and relates Shamballa to the sign Libra. |
79. Đây là một phát biểu có tầm quan trọng tối thượng và liên hệ Shamballa với dấu hiệu Thiên Bình. |
|
80. In the search today for peace in the Middle East, and in the central role of the city Jerusalem in discussions concerning achieving that peace, we can see a very dim reflection of the Shamballic association. |
80. Trong cuộc tìm kiếm hòa bình ngày nay ở Trung Đông, và trong vai trò trung tâm của thành Jerusalem trong những cuộc thảo luận liên quan đến việc đạt được nền hòa bình ấy, chúng ta có thể thấy một phản ánh rất mờ nhạt của mối liên hệ với Shamballa. |
|
the Hierarchy is not a centre of peace in the true meaning of the term, which has no relation to emotion but to the cessation of the type of activity with which we are familiar in the world of manifestation; |
Thánh đoàn không phải là một trung tâm của bình an theo ý nghĩa đích thực của thuật ngữ này, vốn không liên hệ đến cảm xúc mà liên hệ đến sự chấm dứt loại hoạt động mà chúng ta quen thuộc trong thế giới biểu hiện; |
|
81. Another statement of unusual significance! Many people interpret peace as relating to the emotional body. One of its meanings does, indeed, relate to the tranquilization of the emotions but this would not be “the true meaning of the term”. |
81. Lại là một phát biểu có thâm nghĩa khác thường! Nhiều người diễn giải bình an như điều liên hệ đến thể cảm dục. Một trong các ý nghĩa của nó quả thật liên hệ đến việc làm lắng dịu các cảm xúc, nhưng đó không phải là “ý nghĩa đích thực của thuật ngữ này”. |
|
82. In the world of manifestation we are familiar with activity based upon the third aspect of divinity, the Activity Aspect. It is this type of activity which ceases in a condition of true peace. |
82. Trong thế giới biểu hiện, chúng ta quen thuộc với hoạt động dựa trên phương diện thứ ba của thiên tính, tức Phương diện Hoạt động. Chính loại hoạt động này chấm dứt trong một trạng thái bình an đích thực. |
|
the Hierarchy is a very vortex of activity and of energies coming from Shamballa and from Humanity. |
Thánh đoàn là một xoáy lực mãnh liệt của hoạt động và của các năng lượng đến từ Shamballa và từ Nhân loại. |
|
83. DK is speaking of the Hierarchy as a meeting ground of two types of energies—the energies of Humanity and the energies of Shamballa. This meeting, we judge, produces a vortex of energies which eventually unites the lowest with the highest. |
83. Chân sư DK đang nói về Thánh đoàn như một điểm gặp gỡ của hai loại năng lượng: năng lượng của Nhân loại và năng lượng của Shamballa. Theo chúng ta nhận định, cuộc gặp gỡ này tạo ra một xoáy lực của các năng lượng, cuối cùng hợp nhất cái thấp nhất với cái cao nhất. |
|
84. The contrasting of the following ideas may bring an important illumination: |
84. Việc đối chiếu các ý tưởng sau đây có thể đem lại một sự soi sáng quan trọng: |
|
a. The intense activity of Hierarchy |
a. Hoạt động mãnh liệt của Thánh đoàn |
|
b. The peacefulness of Shamballa |
b. Sự an bình của Shamballa |
|
From the standpoint of true esotericism, Shamballa is a place of “serene determination and of poised, quiescent will” as the Old Commentary expresses it. |
Từ lập trường của huyền bí học đích thực, Shamballa là một nơi của “quyết tâm tĩnh lặng và của ý chí quân bình, tĩnh tại” như Cổ Luận diễn đạt. |
|
85. In this definition we find an expression of will devoid of resistance—thus the presence of serenity, of poise and quiescence. We are often accustomed to contemplating the expression of will amidst turbulent conditions. |
85. Trong định nghĩa này, chúng ta thấy một biểu hiện của ý chí không có sự kháng cự, do đó có sự tĩnh lặng, quân bình và tĩnh tại. Chúng ta thường quen chiêm ngưỡng sự biểu hiện của ý chí giữa những điều kiện hỗn động. |
|
86. In this definition we again notice the influence of the sign Libra, which is particularly the sign of poised quiescence. |
86. Trong định nghĩa này, chúng ta lại nhận thấy ảnh hưởng của dấu hiệu Thiên Bình, vốn đặc biệt là dấu hiệu của sự tĩnh tại quân bình. |
|
3. The exclamation of the Christ, “Father, not my will, but Thine be done,” indicated His monadic and realised “destiny.” |
3. Tiếng kêu của Đức Christ: “Lạy Cha, không phải ý chí của con, mà ý chí của Cha được thành tựu”, đã chỉ ra định mệnh chân thần và đã chứng nghiệm của Ngài. |
|
87. This exclamation occurred in the Garden of Gethsemene. |
87. Tiếng kêu này đã vang lên trong Vườn Gethsemane. |
|
88. We have read of the touch of monadic destiny which occurred faintly as early as the first initiation (though confined to soul levels). Now we read of its full realization presumably at the sixth initiation of the Christ. |
88. Chúng ta đã đọc về sự chạm khẽ của định mệnh chân thần, xảy ra một cách mờ nhạt ngay từ lần điểm đạo thứ nhất, dù còn giới hạn trong các cấp độ linh hồn. Nay chúng ta đọc về sự chứng nghiệm trọn vẹn của nó, có lẽ vào lần điểm đạo thứ sáu của Đức Christ. |
|
The meaning of these words is not as is so oft stated by Christian theologians and thinkers, a statement of acceptance of pain and of an unpleasant future. It is an exclamation evoked by the realisation of monadic awareness and the focussing of the life aspect within the Whole. |
Ý nghĩa của những lời này không phải, như các nhà thần học và tư tưởng Kitô giáo thường nói, là một tuyên bố chấp nhận đau khổ và một tương lai khó chịu. Đó là một tiếng kêu được gợi lên bởi sự chứng nghiệm về nhận thức chân thần và bởi sự tập trung của phương diện sự sống trong Toàn Thể. |
|
89. Only an Initiate of vast realization could pronounce those words with full meaning: “Father, not my will, but Thine be done.” At that time there dawned upon His consciousness an immense realization concerning the destiny of our planet and its humanity—though perhaps not the ultimate realization as it exists in the consciousness of the Planetary Logos. He was given a measure of understanding of the Purpose of the Father, of the reason for which the Father was manifesting through the planet Earth. |
89. Chỉ một điểm đạo đồ có sự chứng nghiệm bao la mới có thể thốt ra những lời ấy với đầy đủ ý nghĩa: “Lạy Cha, không phải ý chí của con, mà ý chí của Cha được thành tựu.” Khi ấy, trong tâm thức của Ngài bừng lên một sự chứng nghiệm mênh mông về định mệnh của hành tinh chúng ta và nhân loại của nó, dù có lẽ chưa phải là sự chứng nghiệm tối hậu như nó hiện hữu trong tâm thức của Đức Hành Tinh Thượng Đế. Ngài được ban cho một mức độ thấu hiểu về Thiên Ý của Cha, về lý do khiến Cha biểu hiện qua hành tinh Trái Đất. |
|
The soul, in this statement, is renounced, and the monad, as a point of centralisation, is definitely and finally recognised. |
Trong phát biểu này, linh hồn được từ bỏ, và chân thần, như một điểm quy tâm, được nhận biết một cách rõ rệt và sau cùng. |
|
90. In other words, that limitation upon consciousness which soul (as we usually understand the term) represents was renounced. |
90. Nói cách khác, giới hạn đối với tâm thức mà linh hồn, như chúng ta thường hiểu thuật ngữ này, biểu thị, đã được từ bỏ. |
|
91. From one perspective soul (as consciousness) can never be renounced (for all great Logoi have consciousness or soul of a cosmic kind), but that limitation of consciousness which soul upon triadal levels represents—that was renounced. |
91. Từ một viễn cảnh, linh hồn, với tư cách tâm thức, không bao giờ có thể bị từ bỏ, vì tất cả các Thượng đế vĩ đại đều có tâm thức hay linh hồn thuộc loại vũ trụ; nhưng chính giới hạn của tâm thức mà linh hồn trên các cấp độ Tam nguyên tinh thần biểu thị—chính điều đó đã được từ bỏ. |
|
92. The statement represented a huge expansion of consciousness. |
92. Phát biểu ấy biểu thị một sự mở rộng tâm thức vô cùng lớn lao. |
|
93. Let us ponder on the words: “the monad as a point of centralisation”. Do we have the faintest living experience of what it means to be centralized within the Monad? |
93. Chúng ta hãy suy ngẫm về những lời này: “chân thần như một điểm quy tâm”. Chúng ta có kinh nghiệm sống động dù mờ nhạt nhất nào về ý nghĩa của việc được quy tâm trong Chân thần chăng? |
|
Students would do well to bear in mind that the Christ never underwent the Crucifixion subsequent to this episode, but [Page 315] that it was the Master Jesus Who was crucified. |
Các đạo sinh nên ghi nhớ rằng Đức Christ không bao giờ trải qua Cuộc Đóng Đinh sau sự kiện này, mà [Page 315] chính Chân sư Jesus mới là Đấng bị đóng đinh. |
|
94. Here we have what most Christians would consider a radical (and also heretical) statement. |
94. Ở đây chúng ta có một phát biểu mà phần lớn các Kitô hữu sẽ xem là cấp tiến, và cũng là dị giáo. |
|
The Crucifixion lay behind Him in the experience of the Christ. |
Cuộc Đóng Đinh đã nằm phía sau Ngài trong kinh nghiệm của Đức Christ. |
|
95. Perhaps it was experienced as the Lord Krishna some three thousand years before. |
95. Có lẽ nó đã được kinh nghiệm với tư cách Đức Krishna khoảng ba nghìn năm trước. |
|
The episode of renunciation was a high point in the life of the World Saviour, but was no part of the experience of the Master Jesus. |
Sự kiện từ bỏ là một đỉnh cao trong đời sống của Đấng Cứu Thế Thế Gian, nhưng không phải là một phần trong kinh nghiệm của Chân sư Jesus. |
|
96. Even though the fourth initiation is often called “the Great Renunciation”, the renunciation through which the Christ was passing was far greater. He was renouncing the inherent limitations of His soul will (His Will as a spiritual triad or true Ego) for the far greater powers inherent in the Father’s Will. |
96. Dù lần điểm đạo thứ tư thường được gọi là “Sự Từ Bỏ Vĩ Đại”, sự từ bỏ mà Đức Christ đang trải qua còn lớn lao hơn nhiều. Ngài đang từ bỏ những giới hạn cố hữu của ý chí linh hồn của Ngài, tức Ý Chí của Ngài với tư cách Tam Nguyên Tinh Thần hay Chân ngã đích thực, để bước vào những quyền năng lớn lao hơn nhiều vốn cố hữu trong Ý Chí của Cha. |
|
4. The final words of the Christ to His apostles, gathered together in the upper chamber (in the Hierarchy, symbolically) were, “Lo, I am with you all the days, even unto the end of the age,” or cycle. |
4. Những lời sau cùng của Đức Christ dành cho các tông đồ của Ngài, đang tụ họp trong căn phòng trên cao — về mặt biểu tượng là trong Thánh Đoàn — là: “Này, Ta ở cùng các con mọi ngày, cho đến tận cuối thời đại,” hay chu kỳ. |
|
97. These words were spoken following what we understand as the “Resurrection”. |
97. Những lời này được nói ra sau điều mà chúng ta hiểu là “Sự Phục Sinh”. |
|
98. The Christ’s apostles have here been elevated to hierarchical status (at least symbolically). The Christ, we are told, demonstrated through His work with His disciples, the gathering of an outer Ashram (or group affiliated with the inner Ashram) and His expression through that outer Ashram. |
98. Ở đây, các tông đồ của Đức Christ đã được nâng lên địa vị Thánh Đoàn, ít nhất về mặt biểu tượng. Chúng ta được cho biết rằng Đức Christ đã chứng minh, qua công việc của Ngài với các đệ tử, việc quy tụ một ashram bên ngoài — hay một nhóm liên kết với ashram bên trong — và sự biểu lộ của Ngài thông qua ashram bên ngoài ấy. |
|
99. To remain until the “end of the age” was, we may suppose, an aspect of the monadic destiny which the Christ realized in Gethsemene and which He began immediately to enact. That “age”, it seems, was not only the Age of Pisces but included the Age of Aquarius. Was it at the time of His realization of monadic destiny that the Christ knew He would fulfill the function of World Saviour for two consecutive precessional ages—a period of some 5000 years? So it would seem. |
99. Việc ở lại cho đến “cuối thời đại”, chúng ta có thể giả định, là một phương diện của định mệnh chân thần mà Đức Christ đã nhận ra tại vườn Ghết-sê-ma-nê và Ngài lập tức bắt đầu thực thi. “Thời đại” ấy, dường như, không chỉ là Thời đại Song Ngư mà còn bao gồm cả Thời đại Bảo Bình. Có phải vào thời điểm chứng nghiệm định mệnh chân thần của Ngài, Đức Christ biết rằng Ngài sẽ hoàn thành chức năng Đấng Cứu Thế của thế gian trong hai thời đại tuế sai liên tiếp — một giai đoạn khoảng năm nghìn năm? Dường như là như vậy. |
|
Here He was speaking as Head of the Hierarchy, |
Ở đây Ngài đang phát biểu với tư cách là Vị Đứng Đầu Thánh Đoàn, |
|
100. This He had been since the transition of the Buddha some five hundred years before. |
100. Ngài đã giữ địa vị này từ khi Đức Phật chuyển tiếp khoảng năm trăm năm trước. |
|
which constitutes His Ashram, |
vốn cấu thành ashram của Ngài, |
|
101. We note that the Hierarchy is considered not only the Ashram of Sanat Kumara but also the Ashram of the Christ. |
101. Chúng ta lưu ý rằng Thánh Đoàn được xem không chỉ là ashram của Đức Sanat Kumara mà còn là ashram của Đức Christ. |
|
and also speaking as the Monad and expressing His divine Will to pervade or inform the world continuously and endlessly with His overshadowing consciousness; |
và cũng phát biểu với tư cách là chân thần và biểu lộ Ý Chí thiêng liêng của Ngài nhằm thấm khắp hoặc thấm nhuần thế gian một cách liên tục và vô tận bằng tâm thức phủ bóng của Ngài; |
|
102. Christ is surely a Monad upon the second ray. |
102. Đức Christ chắc chắn là một chân thần trên cung hai. |
|
103. We learn here of the vast scope of the Christ’s service to both humanity and the Earth—He pervades and informs the world continuously. |
103. Ở đây chúng ta biết được phạm vi bao la của sự phụng sự của Đức Christ đối với cả nhân loại lẫn Trái Đất — Ngài thấm khắp và thấm nhuần thế gian liên tục. |
|
104. The consciousness of the Christ, therefore, is a great pervading, informing presence always accessible to those who are qualified and approach rightly. |
104. Do đó, tâm thức của Đức Christ là một hiện diện lớn lao, thấm khắp và thấm nhuần, luôn luôn có thể được tiếp cận bởi những ai hội đủ điều kiện và đến gần đúng cách. |
|
105. We see that it is possible to speak “as the Monad”. |
105. Chúng ta thấy rằng có thể phát biểu “với tư cách là chân thần”. |
|
106. Further, the One Who is Head of the Hierarchy necessarily speaks as the Monad. |
106. Hơn nữa, Đấng là Vị Đứng Đầu Thánh Đoàn tất yếu phát biểu với tư cách là chân thần. |
|
107. In this statement the Christ demonstrated His ability to see thousands of years into the future. |
107. Trong lời tuyên bố này, Đức Christ đã biểu lộ khả năng nhìn thấy hàng nghìn năm trong tương lai. |
|
He expressed universality and the ceaseless continuity and contact which is the characteristic of monadic life—of life itself. |
Ngài biểu lộ tính phổ quát và sự liên tục cùng tiếp xúc không ngừng, vốn là đặc tính của đời sống chân thần — của chính sự sống. |
|
108. Here we have one of the great definitions of “monadic life”—“universality and…ceaseless continuity and contact”. While the Monad is in one sense remote, it is also immediately present. |
108. Ở đây chúng ta có một trong những định nghĩa lớn lao về “đời sống chân thần” — “tính phổ quát và… sự liên tục cùng tiếp xúc không ngừng”. Trong một ý nghĩa nào đó, chân thần là xa vời, nhưng cũng hiện diện tức thời. |
|
109. We see no fluctuation in this type of contact. It is characterized by “ceaseless continuity”. It is utterly and consistently present. |
109. Chúng ta không thấy có sự dao động nào trong loại tiếp xúc này. Nó được đặc trưng bởi “sự liên tục không ngừng”. Nó hiện diện một cách hoàn toàn và nhất quán. |
|
It was also a tremendous affirmation, sent forth on the energy of the will, and making all things new and all things possible. |
Đó cũng là một lời khẳng định mãnh liệt, được phóng ra trên năng lượng của ý chí, khiến mọi sự trở nên mới mẻ và mọi sự trở nên khả hữu. |
|
110. This is an extraordinary statement. It is as if this statement by the Christ inaugurated an entirely new dispensation for humanity and the planet. |
110. Đây là một lời tuyên bố phi thường. Dường như lời tuyên bố này của Đức Christ đã khai mở một thể chế hoàn toàn mới cho nhân loại và hành tinh. |
|
111. We can understand it as a huge ‘gift of life’—of “Life more Abundant”. |
111. Chúng ta có thể hiểu đó như một “tặng phẩm sự sống” lớn lao — của “Sự Sống Dồi Dào Hơn”. |
|
112. It is as if this statement released humanity from an ancient bondage from which it could not release itself. |
112. Dường như lời tuyên bố này đã giải thoát nhân loại khỏi một sự trói buộc cổ xưa mà nhân loại không thể tự mình thoát ra. |
|
If you will carefully study these four statements |
Nếu bạn chịu nghiên cứu cẩn thận bốn lời tuyên bố này |
|
113. We have been given four moments of “monadic centralisation”. |
113. Chúng ta đã được trao bốn khoảnh khắc của “sự tập trung chân thần”. |
|
you will see what is the knowledge referred to in this command given in Rule XIV to the initiate at the first initiation, the command to Know. |
bạn sẽ thấy đâu là tri thức được nói đến trong mệnh lệnh được đưa ra trong Quy luật mười bốn cho điểm đạo đồ ở lần điểm đạo thứ nhất, mệnh lệnh phải Biết. |
|
114. The knowledge is not at all soul knowledge but is monadic knowledge. |
114. Tri thức này hoàn toàn không phải là tri thức của linh hồn mà là tri thức chân thần. |
|
115. The initiate must begin to know what the Monad knows (or what He, as the Monad, knows). |
115. Điểm đạo đồ phải bắt đầu biết điều chân thần biết — hay điều mà y, với tư cách là chân thần, biết. |
|
116. We can see that the injunction does not pertain only to the first initiation. In its wider meaning, such knowledge cannot even begin until the third initiation has been taken. |
116. Chúng ta có thể thấy rằng huấn thị này không chỉ liên quan đến lần điểm đạo thứ nhất. Theo ý nghĩa rộng hơn, tri thức như thế thậm chí không thể bắt đầu cho đến khi lần điểm đạo thứ ba đã được tiếp nhận. |
|
117. In all simplicity, the injunction is give to know oneself as the Monad, and of course, to begin to act accordingly. |
117. Nói một cách hết sức giản dị, huấn thị được đưa ra là phải biết chính mình như là chân thần, và dĩ nhiên, bắt đầu hành động tương ứng. |
|
It is the order to reorient the soul to the monad and not an order to reorient the personality to the soul, as is so oft believed. |
Đó là mệnh lệnh tái định hướng linh hồn về phía chân thần chứ không phải mệnh lệnh tái định hướng phàm ngã về phía linh hồn, như người ta thường tin. |
|
118. The Word “Know” is an order, a command, an injunction. Consciousness is to be reoriented towards the Monad. This assumes that the one to be reoriented is already conscious as an Ego on the higher mental plane. One is to know the nature of monadic life. |
118. Từ “Biết” là một mệnh lệnh, một lệnh truyền, một huấn thị. Tâm thức phải được tái định hướng về phía chân thần. Điều này giả định rằng kẻ được tái định hướng đã có ý thức như một chân ngã trên Cõi thượng trí. Người ấy phải biết bản chất của đời sống chân thần. |
|
119. We can see how far this Rule is in advance of the usual soul culture. |
119. Chúng ta có thể thấy Quy luật này đi trước rất xa so với sự tu dưỡng linh hồn thông thường. |
|
120. If the word “Know” is given at the first initiation, its full meaning can only be appreciated on soul levels by the higher Ego and not within the physical brain of the new initiate. Even at the first degree there is a reorientation by the Ego on its own plane towards the Monad, but of this the personality is unaware. |
120. Nếu từ “Biết” được trao ở lần điểm đạo thứ nhất, ý nghĩa trọn vẹn của nó chỉ có thể được lĩnh hội trên các cấp độ linh hồn bởi chân ngã cao siêu, chứ không ở trong bộ não hồng trần của điểm đạo đồ mới. Ngay cả ở cấp độ thứ nhất, chân ngã trên cõi riêng của mình cũng có một sự tái định hướng về phía chân thần, nhưng phàm ngã không hay biết điều này. |
|
The word Express, in its deepest meaning and when given at the second initiation, does not mean the necessity to express the nature of the soul. |
Từ Biểu Lộ, trong ý nghĩa sâu xa nhất của nó và khi được trao ở lần điểm đạo thứ hai, không hàm ý sự cần thiết phải biểu lộ bản chất của linh hồn. |
|
121. We are gathering the impression that all these injunctions are monadic in nature. |
121. Chúng ta đang nhận được ấn tượng rằng tất cả những huấn thị này đều có bản chất chân thần. |
|
It means (behind all other possible meanings) |
Nó có nghĩa là — đằng sau mọi ý nghĩa khả hữu khác — |
|
122. And there must be a number of these… |
122. Và hẳn phải có một số ý nghĩa như thế… |
|
the command to express the will nature of the monad |
mệnh lệnh phải biểu lộ bản chất ý chí của chân thần |
|
123. The relation between desire and will begins to be fathomed at the second degree. |
123. Mối liên hệ giữa dục vọng và ý chí bắt đầu được thấu hiểu ở cấp độ thứ hai. |
|
and to “feel after” and embody the Purpose which lies behind the Plan, as a result of the developed sensitivity. |
và phải “cảm tìm” cũng như hiện thân Thiên Ý nằm sau Thiên Cơ, như kết quả của sự nhạy bén đã phát triển. |
|
124. It is the idealism of the incarnated Spirit which “feels after” the Divine Purpose. Idealism (representing a high expression of the sense of smell) finds its way back to the monadic plane—the sixth plane (counting from below), just as idealism is an expression of the sixth ray. |
124. Chính chủ nghĩa lý tưởng của Tinh thần nhập thể “cảm tìm” Thiên Ý. Chủ nghĩa lý tưởng — đại diện cho một biểu lộ cao của khứu giác — tìm đường trở về cõi chân thần, tức cõi thứ sáu nếu tính từ dưới lên, cũng như chủ nghĩa lý tưởng là một biểu lộ của cung sáu. |
|
125. Thus far, we understand that the injunction “Express” calls for two things: |
125. Cho đến đây, chúng ta hiểu rằng huấn thị “Biểu Lộ” đòi hỏi hai điều: |
|
a. The expression of the will nature of the Monad |
a. Sự biểu lộ bản chất ý chí của chân thần |
|
b. The necessity to “feel after” and embody the Divine Purpose. The factor of embodiment is not to be overlooked. |
b. Sự cần thiết phải “cảm tìm” và hiện thân Thiên Ý. Yếu tố hiện thân không được phép bị bỏ qua. |
|
126. We find that sensitivity to the Monad is being developed at the second degree. The plane of the Monad is, we realize, correlated with the astral plane. From different perspectives, they are both the sixth plane. |
126. Chúng ta thấy rằng sự nhạy bén đối với chân thần đang được phát triển ở cấp độ thứ hai. Cõi của chân thần, như chúng ta nhận ra, tương ứng với cõi cảm dục. Từ những viễn cảnh khác nhau, cả hai đều là cõi thứ sáu. |
|
Obedience to the Plan brings revelation of the hidden Purpose, |
Sự tuân phục Thiên Cơ đem lại sự mặc khải về Thiên Ý ẩn giấu, |
|
127. How shall we grasp the “hidden Purpose”? The method is here given— “obedience to the Plan”. |
127. Làm thế nào chúng ta nắm bắt được “Thiên Ý ẩn giấu”? Phương pháp được đưa ra ở đây — “sự tuân phục Thiên Cơ”. |
|
128. This is another way of saying that “those who do the Will of God shall know”. |
128. Đây là một cách nói khác rằng “những ai thực hiện Ý Chí của Thượng Đế sẽ biết”. |
|
129. We find that the concept of “obedience” is related to the second initiation and, one may suppose, to the sixth ray. |
129. Chúng ta thấy rằng khái niệm “tuân phục” liên quan đến lần điểm đạo thứ hai và, có thể giả định, đến cung sáu. |
|
130. Will we find that “occult obedience” is particularly emphasized at the second degree and in relation to the injunction “Express”? |
130. Liệu chúng ta có thấy rằng “sự tuân phục huyền bí” được đặc biệt nhấn mạnh ở cấp độ thứ hai và liên hệ với huấn thị “Biểu Lộ” không? |
|
and this is a phrasing of the great objective which impulses the Hierarchy itself. |
và đây là một cách diễn đạt về mục tiêu lớn lao thúc đẩy chính Thánh Đoàn. |
|
131. For the Hierarchy, itself, is attempting to fathom the Divine Purpose. It has by no means done so entirely. |
131. Vì chính Thánh Đoàn đang cố gắng thấu hiểu Thiên Ý. Thánh Đoàn hoàn toàn chưa làm được điều đó một cách trọn vẹn. |
|
132. And, Hierarchy must obey the Will of Shamballa. |
132. Và Thánh Đoàn phải tuân phục Ý Chí của Shamballa. |
|
As the initiate learns cooperation with the Plan and demonstrates this in his life of service, then within himself and paralleling this activity to which he is dedicated as a personality and soul, there is also an awakening realisation of the Father aspect, of the nature of the will, |
Khi điểm đạo đồ học cách hợp tác với Thiên Cơ và chứng minh điều này trong đời sống phụng sự của y, thì trong chính y và song song với hoạt động này mà y đã hiến dâng với tư cách là phàm ngã và linh hồn, cũng có một sự chứng nghiệm đang thức tỉnh về phương diện Cha, về bản chất của ý chí, |
|
133. So the initiate must first cooperate with the Plan and demonstrate this cooperation in service. To this cooperation and expression he is dedicated as both personality and soul. |
133. Vì vậy, trước hết điểm đạo đồ phải hợp tác với Thiên Cơ và chứng minh sự hợp tác này trong phụng sự. Y hiến dâng cho sự hợp tác và biểu lộ này với tư cách cả phàm ngã lẫn linh hồn. |
|
134. When this cooperation and service demonstration are in full tide, there comes an awakening realization of the Father aspect. This awakening cannot happen unless the initiate is fully engaged in the understanding and expression of the Divine Plan. Before he can express as a Monad, he must understand and express both as a soul and as a personality. |
134. Khi sự hợp tác và sự chứng minh phụng sự này dâng trọn dòng, sẽ xuất hiện một chứng nghiệm đang thức tỉnh về phương diện Cha. Sự thức tỉnh này không thể xảy ra nếu điểm đạo đồ chưa dấn thân trọn vẹn vào việc thấu hiểu và biểu lộ Thiên Cơ. Trước khi có thể biểu lộ như một chân thần, y phải thấu hiểu và biểu lộ cả như một linh hồn lẫn như một phàm ngã. |
|
135. The gradual revelation of the Divine Will arises through occult obedience. |
135. Sự mặc khải tiệm tiến về Ý Chí thiêng liêng phát sinh thông qua sự tuân phục huyền bí. |
|
of the existence and factual nature of [Page 316] Shamballa and of the universality and the livingness of whatever is meant by the word “Being.” |
về sự hiện hữu và bản chất thực tại của [Page 316] Shamballa, cũng như về tính phổ quát và sự sống động của bất cứ điều gì được hàm ý bởi từ “Hiện Tồn”. |
|
136. Let us tabulate the nature of this “awakening realisation”. When the initiate is fully cooperative with and expressive of the Divine Plan, there comes- |
136. Chúng ta hãy lập bảng về bản chất của “sự chứng nghiệm đang thức tỉnh” này. Khi điểm đạo đồ hoàn toàn hợp tác với Thiên Cơ và biểu lộ Thiên Cơ, sẽ xuất hiện— |
|
a. An awakening realisation of the “Father aspect” |
a. Một sự chứng nghiệm đang thức tỉnh về “phương diện Cha” |
|
b. An awakening realisation of the Divine Will |
b. Một sự chứng nghiệm đang thức tỉnh về Ý Chí thiêng liêng |
|
c. An awakening realisation of the factual nature of Shamballa |
c. Một sự chứng nghiệm đang thức tỉnh về bản chất thực tại của Shamballa |
|
d. An awakening realisation of the livingness of “Being”. |
d. Một sự chứng nghiệm đang thức tỉnh về sự sống động của “Hiện Tồn”. |
|
137. These realisations are, symbolically, the ‘adding of darkness to light’. |
137. Những chứng nghiệm này, về mặt biểu tượng, là “sự thêm bóng tối vào ánh sáng”. |
|
138. From one perspective, “Darkness” is Shamballa and “Light” is Hierarchy. |
138. Từ một viễn cảnh, “Bóng Tối” là Shamballa và “Ánh Sáng” là Thánh Đoàn. |
|
He knows and is beginning to express that pure Being as pure will in activity. |
Y biết và đang bắt đầu biểu lộ Hiện Tồn thuần khiết ấy như ý chí thuần khiết trong hoạt động. |
|
139. We can say that this expression begins to occur at the second initiation, but at the higher correspondence to the second (i.e., the fourth) the expression is far more unobstructed and effective. |
139. Chúng ta có thể nói rằng sự biểu lộ này bắt đầu xảy ra ở lần điểm đạo thứ hai, nhưng ở tương ứng cao hơn của lần thứ hai — tức lần thứ tư — sự biểu lộ ấy ít bị ngăn trở hơn và hiệu quả hơn rất nhiều. |
|
When the third initiation is taken the initiate becomes aware, not only of the significance of the command to Know |
Khi lần điểm đạo thứ ba được tiếp nhận, điểm đạo đồ trở nên ý thức, không chỉ về thâm nghĩa của mệnh lệnh phải Biết |
|
140. I.e., to know as the Monad would know… |
140. Nghĩa là, biết như Chân thần sẽ biết… |
|
and of his innate ability to Express the will nature of the monad in carrying out the Purpose of Shamballa, |
và về năng lực bẩm sinh của y để Biểu lộ bản chất ý chí của chân thần trong việc thực hiện Thiên Ý của Shamballa, |
|
141. I.e., to express as the Monad would express… |
141. Nghĩa là, biểu lộ như Chân thần sẽ biểu lộ… |
|
142. We note a very important idea—the will nature of the Monad carries out the Purpose of Shamballa. The Monad is directly related to and expressive of Shamballa. We might almost consider the Monad, in its own nature, as a ‘resident’ of Shamballa. |
142. Chúng ta ghi nhận một ý tưởng rất quan trọng—bản chất ý chí của Chân thần thực hiện Thiên Ý của Shamballa. Chân thần liên hệ trực tiếp với Shamballa và biểu lộ Shamballa. Hầu như chúng ta có thể xem Chân thần, trong chính bản chất của nó, như một “cư dân” của Shamballa. |
|
but that (through his fused personality-soul) he is now in a position to “make revelation” to the Hierarchy that he is en rapport with the monadic source from which he originally came. |
nhưng rằng, qua phàm ngã-linh hồn đã dung hợp của y, giờ đây y ở vào vị thế có thể “thực hiện mặc khải” cho Thánh Đoàn rằng y đang giao cảm với nguồn chân thần mà từ đó ban đầu y đã phát xuất. |
|
143. Here we have been given one of the significances of the injunction, “Reveal”. |
143. Ở đây chúng ta đã được trao cho một trong những thâm nghĩa của huấn lệnh “Mặc khải”. |
|
144. Only the fused personality-soul can truly be en rapport with the monadic source. |
144. Chỉ phàm ngã-linh hồn đã dung hợp mới có thể thật sự giao cảm với nguồn chân thần. |
|
145. We note that the revelation to be made is a revelation to Hierarchy and not (in this context, at least) to humanity. |
145. Chúng ta ghi nhận rằng sự mặc khải cần được thực hiện là một sự mặc khải cho Thánh Đoàn chứ không phải, ít nhất trong bối cảnh này, cho nhân loại. |
|
146. Apparently, to know the Monad and to express the Monad are somewhat lesser stages than to be “en rapport with” the Monad (a state characteristic of the third initiation, and, perhaps, on a higher turn of the spiral, characteristic of the fifth initiation). |
146. Dường như, biết Chân thần và biểu lộ Chân thần là những giai đoạn phần nào thấp hơn so với việc “giao cảm với” Chân thần, một trạng thái đặc trưng của lần điểm đạo thứ ba, và có lẽ, trên một vòng xoắn cao hơn, đặc trưng của lần điểm đạo thứ năm. |
|
147. We must pause to focus on the words “the monadic source from which he originally came”. Are we speaking only the Monad, per se, or of that which is the source of the Monad? Are we speaking of our Planetary Logos or of a Planetary Logos as a “monadic source”? |
147. Chúng ta phải dừng lại để tập trung vào các từ “nguồn chân thần mà từ đó ban đầu y đã phát xuất”. Chúng ta chỉ đang nói về chính Chân thần, hay về cái là nguồn của Chân thần? Chúng ta đang nói về Hành Tinh Thượng đế của chúng ta hay về một Hành Tinh Thượng đế như một “nguồn chân thần”? |
|
148. Certainly we can justifiably consider the Monad as the source from which the soul-in-incarnation came, but it may also be necessary to consider the origin of the Monad and the Planetary Logos which that Monad represents—at first the Planetary Logos of the Earth-scheme. |
148. Chắc chắn chúng ta có thể chính đáng xem Chân thần là nguồn mà từ đó linh hồn đang nhập thể đã phát xuất, nhưng cũng có thể cần xem xét nguồn gốc của Chân thần và Hành Tinh Thượng đế mà Chân thần ấy đại diện—trước hết là Hành Tinh Thượng đế của hệ hành tinh Địa Cầu. |
|
He can now obey the command to Reveal, because the Transfiguration is consummated. |
Giờ đây y có thể tuân theo mệnh lệnh Mặc khải, bởi cuộc Biến hình đã viên mãn. |
|
149. What does the Transfiguration Initiation reveal that the initiate can now reveal? What new realization does the revelation upon the mountain top confer? |
149. Cuộc Điểm Đạo Biến Hình mặc khải điều gì mà giờ đây điểm đạo đồ có thể mặc khải? Sự chứng nghiệm mới nào được ban qua sự mặc khải trên đỉnh núi? |
|
150. The consciousness of the initiate is no longer form-bound in the same sense as heretofore. |
150. Tâm thức của điểm đạo đồ không còn bị ràng buộc vào hình tướng theo cùng ý nghĩa như trước đây. |
|
He is not now revealing the soul only, but all the three aspects now meet in him and he can reveal the life aspect as will and not only the soul aspect as love or the matter aspect as intelligence. |
Giờ đây y không chỉ mặc khải linh hồn, mà cả ba phương diện nay gặp nhau trong y và y có thể mặc khải phương diện sự sống như ý chí chứ không chỉ phương diện linh hồn như bác ái, hay phương diện vật chất như trí tuệ. |
|
151. A triple revelation is now in process. |
151. Một sự mặc khải tam phân hiện đang diễn tiến. |
|
a. He reveals the life aspect as will. This is, for him, new. |
a. Y mặc khải phương diện sự sống như ý chí. Đối với y, điều này là mới. |
|
b. He reveals the soul aspect as love |
b. Y mặc khải phương diện linh hồn như bác ái |
|
c. He reveals the matter aspect as intelligence |
c. Y mặc khải phương diện vật chất như trí tuệ |
|
This is, as you know the first major initiation from the angle of the greater Lodge on Sirius, because it is the first initiation in which all the three aspects meet in the initiate. |
Như các bạn biết, đây là cuộc điểm đạo chính yếu đầu tiên xét từ góc độ của Thánh đoàn lớn trên Sirius, bởi đây là lần điểm đạo đầu tiên trong đó cả ba phương diện đều gặp nhau trong điểm đạo đồ. |
|
152. This is interesting because usually the fifth initiation is considered the first initiation in relation to the Sirian system of initiations. |
152. Điều này thú vị vì thông thường lần điểm đạo thứ năm được xem là lần điểm đạo đầu tiên liên hệ với hệ thống điểm đạo của Sirius. |
|
153. We might say that at the third initiation the transfigured initiate becomes a true disciple from the Sirian perspective. |
153. Chúng ta có thể nói rằng, ở lần điểm đạo thứ ba, điểm đạo đồ đã biến hình trở thành một đệ tử chân chính theo quan điểm của Sirius. |
|
The first two initiations—oft regarded by humanity as major initiations—are in reality minor initiations from the Sirian point of view, |
Hai lần điểm đạo đầu tiên—thường được nhân loại xem là những cuộc điểm đạo chính yếu—trên thực tế là những cuộc điểm đạo thứ yếu theo quan điểm của Sirius, |
|
154. And also, one would think, from the point of view of the Solar Logos |
154. Và hẳn cũng vậy, theo quan điểm của Thái dương Thượng đế |
|
because the relation of the man “under discipline and in training” is only a tendency; |
bởi mối liên hệ của con người “đang chịu kỷ luật và được huấn luyện” chỉ là một khuynh hướng; |
|
155. Until the third initiation is passed, this spiritual tendency is not firmly established as a reliable pattern of thought, feeling and behavior. |
155. Cho đến khi vượt qua lần điểm đạo thứ ba, khuynh hướng tinh thần này chưa được thiết lập vững chắc như một mô hình đáng tin cậy của tư tưởng, cảm xúc và hành vi. |
|
there is only a developing recognition of the Father and a slowly growing response to the monad, plus an unfolding sensitivity to the impact of the will aspect. |
chỉ có một sự nhận biết đang phát triển về Cha, một đáp ứng đang từ từ lớn lên đối với Chân thần, cộng với một sự nhạy bén đang khai mở trước tác động của phương diện ý chí. |
|
156. In fact, during the period of probationary initiations (the first and second degrees) the Father aspect is coming into recognition; there is a growing response to the Monad and there is an unfolding sensitivity to the will aspect. It is not as if the probationary initiate is entirely incognizant of the Father and the Monad. |
156. Thật vậy, trong thời kỳ của các cuộc điểm đạo dự bị, tức cấp độ thứ nhất và thứ hai, phương diện Cha đang đi vào sự nhận biết; có một đáp ứng đang tăng trưởng đối với Chân thần và có một sự nhạy bén đang khai mở đối với phương diện ý chí. Không phải là điểm đạo đồ dự bị hoàn toàn không biết gì về Cha và Chân thần. |
|
But in the third initiation these developments are sufficiently present to merit the phrase, “revelation of the glory,” and the Transfiguration initiation takes place. |
Nhưng trong lần điểm đạo thứ ba, những phát triển này hiện diện đủ mức để xứng đáng với cụm từ “sự mặc khải vinh quang”, và cuộc điểm đạo Biến hình diễn ra. |
|
157. The “glory” is that of the Father—the “Supernal Light”. The tendencies towards the recognition of the Father and of the will (the Divine Will) are, at the third degree, well-established in the consciousness of the initiate. Then, the Transfiguration initiation can take place. The Father and the Divine Will have (to a sufficient degree) become established realities in consciousness. |
157. “Vinh quang” là vinh quang của Cha—“Ánh Sáng Thiên Thượng”. Những khuynh hướng hướng tới sự nhận biết về Cha và về ý chí, tức Ý Chí thiêng liêng, ở cấp độ thứ ba, đã được thiết lập vững chắc trong tâm thức của điểm đạo đồ. Khi ấy, cuộc điểm đạo Biến hình có thể diễn ra. Cha và Ý Chí thiêng liêng, đến một mức độ đủ đầy, đã trở thành những thực tại được thiết lập trong tâm thức. |
|
158. We can see that this degree is closely related to the fifth which is called by the related name, “Revelation”. |
158. Chúng ta có thể thấy rằng cấp độ này liên hệ mật thiết với cấp độ thứ năm, vốn được gọi bằng tên tương ứng là “Mặc khải”. |
|
159. In this final Rule we are learning of the initiate’s approach to the Father, the Divine Will and the Monad. We are learning that the five injunctions are injunctions to live the monadic life—the life of one who knows the Monad, who expresses the Monad and who can reveal the nature of the Monad. |
159. Trong Quy luật cuối cùng này, chúng ta đang học về cách tiếp cận của điểm đạo đồ đối với Cha, Ý Chí thiêng liêng và Chân thần. Chúng ta đang học rằng năm huấn lệnh là những huấn lệnh để sống đời sống chân thần—đời sống của một người biết Chân thần, người biểu lộ Chân thần và người có thể mặc khải bản chất của Chân thần. |
|
At the fourth initiation the destroying aspect of the will can begin to make its presence felt; |
Ở lần điểm đạo thứ tư, phương diện hủy diệt của ý chí có thể bắt đầu khiến sự hiện diện của nó được cảm nhận; |
|
160. Notice the word “begin” because, apparently, the destroying aspect of the will continues to make is presence felt in later initiations. |
160. Hãy lưu ý từ “bắt đầu”, bởi dường như phương diện hủy diệt của ý chí tiếp tục khiến sự hiện diện của nó được cảm nhận trong các lần điểm đạo về sau. |
|
161. Every initiatic penetration of a great veil is an act of destruction. The Christ penetrated a great veil at the sixth initiation and the initiate of the ninth degree penetrates a still greater veil. |
161. Mỗi sự xuyên thấu thuộc điểm đạo qua một bức màn lớn đều là một hành vi hủy diệt. Đức Christ đã xuyên thấu một bức màn lớn ở lần điểm đạo thứ sáu, và điểm đạo đồ cấp độ thứ chín xuyên thấu một bức màn còn lớn hơn nữa. |
|
the soul body, the causal body, the Temple of the Lord, is destroyed by an act of the will |
thể linh hồn, thể nguyên nhân, Đền Thờ của Chúa, bị hủy diệt bởi một hành vi của ý chí |
|
162. From whence does this destroying will emanate? Can we say that it is the will of the Monad? |
162. Ý chí hủy diệt này phát xuất từ đâu? Chúng ta có thể nói rằng đó là ý chí của Chân thần chăng? |
|
163. We must remember that it is the second aspect of the will which is responsible for the destruction. |
163. Chúng ta phải nhớ rằng chính phương diện thứ hai của ý chí chịu trách nhiệm cho sự hủy diệt. |
|
What, therefore, brings about the destruction of the soul body? The destroying agent is the second aspect of the Will. The third or lowest aspect of the Will, working through the mind or the manasic principle, was the sustaining factor in the long cycle of personality development; it was the principle of intelligent synthesis, holding the life principle intact and individualised through the long series of successive incarnations. (R&I 216) |
Vậy điều gì đem lại sự hủy diệt của thể linh hồn? Tác nhân hủy diệt là phương diện thứ hai của Ý Chí. Phương diện thứ ba hay thấp nhất của Ý Chí, hoạt động qua thể trí hay nguyên khí manas, là yếu tố duy trì trong chu kỳ dài của sự phát triển phàm ngã; đó là nguyên khí của sự tổng hợp thông tuệ, giữ cho nguyên khí sự sống còn nguyên vẹn và được biệt ngã hóa qua chuỗi dài các lần lâm phàm kế tiếp. (R&I 216) |
|
and because even the soul is recognised as a limitation by that which is neither the body nor the soul, |
và bởi ngay cả linh hồn cũng được nhận ra như một giới hạn bởi cái vốn không phải thể xác cũng không phải linh hồn, |
|
164. The Monad recognizes that form of consciousness customarily called “soul consciousness” as a limitation. |
164. Chân thần nhận ra hình thức tâm thức thường được gọi là “tâm thức linh hồn” như một giới hạn. |
|
165. Since we have not achieved full soul consciousness (achieved at the fourth degree) the ability to recognize the soul as a limitation lies far ahead of us. |
165. Vì chúng ta chưa đạt được tâm thức linh hồn trọn vẹn, vốn đạt được ở cấp độ thứ tư, nên khả năng nhận ra linh hồn như một giới hạn còn ở rất xa phía trước chúng ta. |
|
but that which stands greater than either. |
nhưng bởi cái đứng cao hơn cả hai. |
|
166. I.e., the Monad. |
166. Nghĩa là, Chân thần. |
|
The awareness of the perfected man is now focussed in that of the monad. |
Sự nhận thức của con người hoàn thiện giờ đây được tập trung trong sự nhận thức của chân thần. |
|
167. This is an interesting sentence because it tells of two kinds of awareness: |
167. Đây là một câu thú vị vì nó nói đến hai loại nhận thức: |
|
a. The awareness of the perfected man |
a. Sự nhận thức của con người hoàn thiện |
|
b. The awareness of the Monad |
b. Sự nhận thức của Chân thần |
|
168. The monadic awareness persists constantly (on its own level) and within that pervasive and consistent awareness the perfected man focusses his awareness. |
168. Sự nhận thức chân thần tồn tại liên tục, trên cấp độ riêng của nó, và trong sự nhận thức lan tỏa, nhất quán ấy, con người hoàn thiện tập trung nhận thức của mình. |
|
169. This is a repetition on a higher turn of the spiral of that process in which the aspirant focuses his consciousness in the ongoing meditative consciousness of the soul on its own plane. |
169. Đây là sự lặp lại, trên một vòng xoắn cao hơn, của tiến trình trong đó người chí nguyện tập trung tâm thức của y vào tâm thức tham thiền đang tiếp diễn của linh hồn trên cõi riêng của nó. |
|
170. In both cases, the higher type of awareness or consciousness is ongoing. The lower type of awareness must merge and blend with the ongoing higher awareness. |
170. Trong cả hai trường hợp, loại nhận thức hay tâm thức cao hơn đang tiếp diễn. Loại nhận thức thấp hơn phải hòa nhập và dung hợp với sự nhận thức cao hơn đang tiếp diễn ấy. |
|
171. In both cases we might call the process the entering of a continuous higher consciousness by a discontinuous lower consciousness. |
171. Trong cả hai trường hợp, chúng ta có thể gọi tiến trình này là sự đi vào một tâm thức cao hơn liên tục bởi một tâm thức thấp hơn không liên tục. |
|
The road to Jerusalem has been trodden. |
Con đường đến Jerusalem đã được bước đi. |
|
172. Jerusalem is Shamballa. |
172. Jerusalem là Shamballa. |
|
This is a symbolical way of saying that the antahkarana has been constructed and [Page 317] the Way to the Higher Evolution—which confronts the higher initiates—has now opened up. |
Đây là một cách nói biểu tượng rằng antahkarana đã được kiến tạo và [Trang 317] Con đường Tiến Hóa Cao Siêu—đối diện với các điểm đạo đồ cao cấp—giờ đây đã mở ra. |
|
173. The Way of Higher Evolution is, these days, trodden following the sixth degree. The Way “to” that higher Path opens at the fourth degree though it cannot actually be trodden until the sixth degree. |
173. Con đường Tiến Hóa Cao Siêu, trong những ngày này, được bước đi sau cấp độ thứ sáu. Con đường “đến” Đường Đạo cao hơn ấy mở ra ở cấp độ thứ tư, dù thực sự chưa thể được bước đi cho đến cấp độ thứ sáu. |
|
174. We are being told that the full construction of the antahkarana is achieved by the fourth degree. (The idea of full construction, however, is relative.) |
174. Chúng ta đang được cho biết rằng việc kiến tạo trọn vẹn antahkarana được hoàn thành vào cấp độ thứ tư. Tuy nhiên, ý niệm về sự kiến tạo trọn vẹn là tương đối. |
|
175. From another perspective, the construction of the antahkarana is an ongoing process. The antahkarana (broadly conceived) is the instrument of ‘universal return’ and will not disappear until the ‘Universal Day-Be-With-Us’. |
175. Từ một viễn cảnh khác, việc kiến tạo antahkarana là một tiến trình đang tiếp diễn. Antahkarana, hiểu theo nghĩa rộng, là khí cụ của “sự trở về vũ trụ” và sẽ không biến mất cho đến “Ngày Vũ Trụ-Ở-Cùng-Chúng-Ta”. |
|
The three aspects of the will, as focussed in the Spiritual Triad, are now in full expression. |
Ba phương diện của ý chí, khi được tập trung trong Tam Nguyên Tinh Thần, giờ đây biểu lộ trọn vẹn. |
|
176. Not before the fourth degree does this occur. |
176. Điều này không xảy ra trước cấp độ thứ tư. |
|
177. One might wonder whether the full expression of atma can possibly be achieved at the fourth degree? Would not the fifth degree be required? |
177. Người ta có thể tự hỏi liệu sự biểu lộ trọn vẹn của atma có thể đạt được ở cấp độ thứ tư hay không? Chẳng phải cấp độ thứ năm mới là cần thiết sao? |
|
The initiate is animated by Purpose, |
Điểm đạo đồ được Thiên Ý truyền sinh lực, |
|
178. He is no longer animated merely by the Divine Plan. |
178. Y không còn chỉ được Thiên Cơ truyền sinh lực. |
|
179. To be “animated” by Purpose is to be ‘moved’ by Purpose. Hitherto the soul on the higher mental plane has been the ‘Animator’. Now the Spirit ‘animates’ the soul-infused personality and the Ego on its own plane. |
179. Được Thiên Ý “truyền sinh lực” là được Thiên Ý “thúc đẩy”. Cho đến nay, linh hồn trên Cõi thượng trí là “Đấng Truyền Sinh Lực”. Giờ đây, Tinh thần “truyền sinh lực” cho phàm ngã được linh hồn thấm nhuần và cho Chân ngã trên cõi riêng của nó. |
|
180. In fact, the Spirit becomes increasingly the ‘Animator’ of the spiritual triad which is the true Ego. |
180. Thật vậy, Tinh thần ngày càng trở thành “Đấng Truyền Sinh Lực” của Tam nguyên tinh thần, vốn là Chân ngã đích thực. |
|
but faces still greater evolutionary developments; |
nhưng vẫn đối diện với những phát triển thăng thượng tiến hoá còn lớn hơn nữa; |
|
181. Developments relating to the fifth degree and beyond… |
181. Những phát triển liên quan đến cấp độ thứ năm và xa hơn nữa… |
|
of these I do not need to speak, as they concern divine aspects as yet unknown and unregistered by man. |
về những điều này Tôi không cần nói, vì chúng liên quan đến các phương diện thiêng liêng mà con người cho đến nay chưa biết và chưa ghi nhận. |
|
182. We usually think of three major divine aspects and four lesser ones (attributes), yet DK constantly hints at the existence of divine aspects of which we have no notion. |
182. Chúng ta thường nghĩ đến ba phương diện thiêng liêng chính yếu và bốn phương diện nhỏ hơn, tức các thuộc tính; tuy nhiên Chân sư DK liên tục gợi ý về sự hiện hữu của những phương diện thiêng liêng mà chúng ta không hề có ý niệm. |
|
183. Ten is a more perfect number than seven (a number of relative perfection). Could the unrevealed aspects relate to the higher and synthesizing three? |
183. Mười là một con số hoàn hảo hơn bảy (một con số của sự hoàn hảo tương đối). Liệu các phương diện chưa được mặc khải có thể liên hệ đến bộ ba cao hơn và tổng hợp chăng? |
|
The reason for this complete ignorance is that the vehicles of any man below the third initiation contain too much “impure matter” to record the impact of these divine qualities. |
Lý do của sự vô minh hoàn toàn này là các hiện thể của bất cứ người nào dưới lần điểm đạo thứ ba đều chứa quá nhiều “vật chất bất tịnh” để có thể ghi nhận tác động của các phẩm tính thiêng liêng này. |
|
184. The important thing to register here is that impure matter prevents the registration in consciousness of certain higher, Spirit-related energies. |
184. Điều quan trọng cần ghi nhận ở đây là vật chất bất tịnh ngăn cản sự ghi nhận trong tâm thức các năng lượng cao hơn nào đó, liên hệ đến Tinh thần. |
|
185. Thus, purification of the material sheaths is a necessity inseparable from the expansion of consciousness. The process of purification is probably applicable to all planes on the cosmic physical plane. |
185. Do đó, việc thanh luyện các lớp vỏ vật chất là một nhu cầu tất yếu không thể tách rời khỏi sự mở rộng tâm thức. Tiến trình thanh luyện có lẽ áp dụng cho mọi cõi trên cõi hồng trần vũ trụ. |
|
Only the “created body” (the mayavirupa) of an initiate of the fourth initiation can begin to register these divine impacts; |
Chỉ “thể được tạo ra” (thể ảo lực) của một điểm đạo đồ thuộc lần điểm đạo thứ tư mới có thể bắt đầu ghi nhận các tác động thiêng liêng này; |
|
186. This is interesting, as the ability to create a Mayavirupa is usually associated with the fifth degree. |
186. Điều này thú vị, vì khả năng tạo ra một thể ảo lực thường được liên kết với cấp độ thứ năm. |
|
187. We are being told that the mayavirupa consists of very pure matter. We can say that the process through which the mayavirupa is created mobilizes and configures atomic matter in the lower three worlds. Atomic matter is the purest type of matter. |
187. Chúng ta đang được cho biết rằng thể ảo lực gồm vật chất rất tinh khiết. Chúng ta có thể nói rằng tiến trình qua đó thể ảo lực được tạo ra sẽ huy động và cấu hình vật chất nguyên tử trong ba cõi thấp. Vật chất nguyên tử là loại vật chất tinh khiết nhất. |
|
188. DK seems to be telling us that no matter to be found in the normal personality vehicles of even a high initiate is of sufficient refinement to register the very high divine impacts of which we are speaking. |
188. Chân sư DK dường như đang nói với chúng ta rằng không một loại vật chất nào có trong các hiện thể phàm ngã bình thường của ngay cả một điểm đạo đồ cao cấp lại đủ tinh luyện để ghi nhận những tác động thiêng liêng rất cao mà chúng ta đang bàn đến. |
|
189. We may remember that the vehicles of the Arhat are said to be composed entirely of atomic matter. This thought must be carefully analyzed as there is no atomic matter in the dense physical vehicle and, also, the usual mental body contains no atomic matter. Only a mental vehicle focussed entirely on the highest subplane of the mental plane can consist entirely of atomic mental matter. |
189. Chúng ta có thể nhớ rằng các hiện thể của vị A-la-hán được nói là cấu thành hoàn toàn bằng vật chất nguyên tử. Tư tưởng này phải được phân tích cẩn thận, vì không có vật chất nguyên tử trong hiện thể hồng trần đậm đặc, và đồng thời, thể trí thông thường cũng không chứa vật chất nguyên tử. Chỉ một thể trí tập trung hoàn toàn trên cõi phụ cao nhất của cõi trí mới có thể gồm hoàn toàn vật chất trí tuệ nguyên tử. |
|
it is therefore waste of our time to consider even the possibility of their existence. |
vì vậy, việc xem xét ngay cả khả năng tồn tại của chúng cũng là lãng phí thời gian của chúng ta. |
|
190. DK draws a ring-pass-not separating speculations which (for us) are useful and those which are useless. |
190. Chân sư DK vạch ra một vòng-giới-hạn, tách biệt những suy đoán (đối với chúng ta) hữu ích với những suy đoán vô ích. |
|
191. In other places, however, He does discuss developments which seem to lie even beyond those He now refuses to discuss. |
191. Tuy nhiên, ở những chỗ khác, Ngài có bàn đến những phát triển dường như còn nằm xa hơn cả những điều hiện nay Ngài từ chối bàn đến. |
|
Even I, a Master, and therefore an initiate of a relatively high degree, am only faintly sensing them, |
Ngay cả Tôi, một Chân sư, và do đó là một điểm đạo đồ ở cấp độ tương đối cao, cũng chỉ cảm nhận chúng một cách mờ nhạt, |
|
192. This puts the whole matter in proportion, does it not? |
192. Điều này đặt toàn bộ vấn đề vào đúng tỉ lệ, phải không? |
|
and that because I am learning to obey the fifth word which we will briefly, very briefly, now consider. |
và sở dĩ như vậy là vì Tôi đang học cách tuân phục linh từ thứ năm mà giờ đây chúng ta sẽ xem xét ngắn gọn, rất ngắn gọn. |
|
193. DK is a Master and yet He is only learning to obey the word related to the fifth degree. Apparently the taking of an initiation represents only a beginning point in relation to the full development of powers and qualities related to that initiation. |
193. Chân sư DK là một Chân sư, vậy mà Ngài chỉ đang học cách tuân phục linh từ liên hệ đến cấp độ thứ năm. Rõ ràng, việc nhận một cuộc điểm đạo chỉ biểu thị một điểm khởi đầu liên quan đến sự phát triển trọn vẹn các quyền năng và phẩm tính gắn với cuộc điểm đạo ấy. |
|
194. We may infer that resurrection is not just something which happens to a high initiate. We may infer that the injunction, “Resurrect” is a command to that initiate to perform a certain spiritual act. |
194. Chúng ta có thể suy ra rằng sự phục sinh không chỉ là điều gì đó xảy đến với một điểm đạo đồ cao cấp. Chúng ta có thể suy ra rằng huấn lệnh “Hãy phục sinh” là một mệnh lệnh dành cho điểm đạo đồ ấy để thực hiện một hành động tinh thần nhất định. |
|
5. Resurrect. |
5. Hãy phục sinh. |
|
One of the greatest of all distortions, and one of the most misleading of the theological teachings, has been the interpretation put upon the word “resurrection” in the Christian approach. |
Một trong những sự xuyên tạc lớn nhất, và một trong những giáo huấn thần học gây sai lạc nhất, là cách diễn giải áp đặt lên từ “phục sinh” trong đường lối tiếp cận Cơ Đốc giáo. |
|
195. DK challenges the foundations of modern Christian theology. |
195. Chân sư DK thách thức các nền tảng của thần học Cơ Đốc hiện đại. |
|
This resurrection has been applied in many cases to the resurrection of the body; |
Sự phục sinh này trong nhiều trường hợp đã được áp dụng cho sự phục sinh của thể xác; |
|
196. This distortion is the result of a grossly materialized consciousness. |
196. Sự xuyên tạc này là kết quả của một tâm thức bị vật chất hóa một cách thô thiển. |
|
it is also applied to the fact (the selfishly motivated wish) of immortality; |
nó cũng được áp dụng cho sự kiện (ước muốn được thúc đẩy bởi ích kỷ) về tính bất tử; |
|
197. Those who seek such an ‘immortality’ are closely identified with the body and with the personality as a whole. |
197. Những ai tìm kiếm một “tính bất tử” như thế đều đồng hóa chặt chẽ với thể xác và với phàm ngã như một toàn thể. |
|
it is applied also to the physical resurrection of the Christ after he supposedly died upon the Cross. |
nó cũng được áp dụng cho sự phục sinh hồng trần của Đức Christ sau khi người ta cho rằng Ngài đã chết trên Thập Giá. |
|
198. The interest, apparently, is in phenomena and in the ‘guarantee’ of immortality which the phenomenon of resurrection gives to the selfishly motivated, personality-identified consciousness. |
198. Mối quan tâm, rõ ràng, nằm ở các hiện tượng và ở “sự bảo đảm” về tính bất tử mà hiện tượng phục sinh đem lại cho tâm thức bị thúc đẩy bởi ích kỷ và đồng hóa với phàm ngã. |
|
199. The Christ, we know, did not die upon the Cross. The Master Jesus sacrificed His life for the sake a most necessary divine enactment. |
199. Chúng ta biết rằng Đức Christ đã không chết trên Thập Giá. Chân sư Jesus đã hi sinh mạng sống của Ngài vì một sự thể hiện thiêng liêng hết sức cần thiết. |
|
Resurrection teaches essentially the “lifting up” of matter into heaven; |
Sự phục sinh về căn bản dạy về việc “nâng” vật chất lên cõi trời; |
|
200. Here we have the “assumption of the Virgin”, the purification and etherealization of the third aspect of divinity—the matter aspect. |
200. Ở đây chúng ta có “sự thăng thiên của Đức Trinh Nữ”, sự thanh luyện và dĩ thái hóa phương diện thứ ba của thiên tính—phương diện vật chất. |
|
it does not teach the eternal persistence of the physical body of a man, as many Fundamentalists today suppose, |
nó không dạy về sự tồn tại vĩnh cửu của thể xác của một con người, như nhiều người theo chủ nghĩa chính thống ngày nay giả định, |
|
201. Actually this would be a ghastly proposition freezing the development of consciousness. |
201. Thật ra, đây sẽ là một luận đề ghê rợn, làm đóng băng sự phát triển của tâm thức. |
|
looking for the reappearance of the discarded physical body; |
mong chờ sự tái xuất hiện của thể xác đã bị loại bỏ; |
|
202. Such is the level of identification with the material vehicle that this gross distortion is believed by millions. Obviously the atavistic consciousness which hopes for such a resurrection must be refined. |
202. Mức độ đồng hóa với vận cụ vật chất lớn đến nỗi sự xuyên tạc thô thiển này được hàng triệu người tin theo. Rõ ràng, tâm thức phản tổ vốn hy vọng vào một sự phục sinh như thế phải được tinh luyện. |
|
it does teach the “livingness of Life” and the state of “unalterable Being.” |
nó quả thật dạy về “tính sống động của Sự Sống” và trạng thái “Bản Thể bất biến”. |
|
203. Here the true nature of resurrection is defined. Resurrection relates directly to the nature of the “life aspect” and not at all to the endless perpetuation of any lower form. |
203. Ở đây bản chất đích thực của sự phục sinh được định nghĩa. Sự phục sinh liên hệ trực tiếp với bản chất của “phương diện sự sống” và hoàn toàn không liên hệ đến sự kéo dài vô tận của bất cứ hình tướng thấp nào. |
|
This unalterable Being constitutes the nature of the Monad, |
Bản Thể bất biến này cấu thành bản chất của Chân thần, |
|
204. The essential nature of the Monad is “unalterable Being”. The monadic vehicle is, nevertheless, a form and is not meant to be unalterable. The essential nature of the Monad must be discriminated from the vehicle through which that Monad expresses. |
204. Bản chất cốt yếu của Chân thần là “Bản Thể bất biến”. Tuy nhiên, vận cụ chân thần là một hình tướng và không nhằm để bất biến. Bản chất cốt yếu của Chân thần phải được phân biện với vận cụ mà qua đó Chân thần ấy biểu lộ. |
|
205. Notice the word “unalterable”. Pure Being changes not. |
205. Hãy lưu ý từ “bất biến”. Bản Thể thuần túy không thay đổi. |
|
and it is to this condition of awareness |
và chính đến tình trạng nhận biết này |
|
206. I.e., awareness of “unalterable Being” and identification as unalterable Being… |
206. Tức là, sự nhận biết về “Bản Thể bất biến” và sự đồng hóa như Bản Thể bất biến… |
|
that Christ attained when He functioned as a World Saviour and thereby guaranteed, |
mà Đức Christ đã đạt tới khi Ngài hoạt động như một Đấng Cứu Thế của Thế Gian và nhờ đó bảo đảm, |
|
207. Christ as a “World Saviour” had attained the condition of awareness we are describing as “unalterable Being”. |
207. Đức Christ, với tư cách một “Đấng Cứu Thế của Thế Gian”, đã đạt tới tình trạng nhận biết mà chúng ta đang mô tả là “Bản Thể bất biến”. |
|
by the force of His achievement as a personality-soul, |
bằng mãnh lực thành tựu của Ngài với tư cách một phàm ngã-linh hồn, |
|
208. Although the Christ attained monadic awareness, it was as a personality-soul that He achieved, setting an example of the manner in which we must achieve. |
208. Mặc dù Đức Christ đã đạt tới sự nhận biết chân thần, chính với tư cách một phàm ngã-linh hồn mà Ngài đã thành tựu, nêu gương về cách thức mà chúng ta phải thành tựu. |
|
the same point of attainment for us, |
cùng điểm thành tựu ấy cho chúng ta, |
|
209. We are to forcefully achieve just as the Christ did. His achievement made our impending achievement easier. |
209. Chúng ta phải thành tựu một cách mạnh mẽ đúng như Đức Christ đã làm. Thành tựu của Ngài đã làm cho thành tựu sắp tới của chúng ta trở nên dễ dàng hơn. |
|
for we are equally and essentially sons of the Father or expressions of the Monad, |
vì chúng ta đều bình đẳng và về bản chất là các con của Cha, hay các biểu hiện của Chân thần, |
|
210. The Ego is a “son of the Father”. The Ego on the higher mental plane is an expression of the Monad. |
210. Chân ngã là một “con của Cha”. Chân ngã trên cõi thượng trí là một biểu hiện của Chân thần. |
|
211. In a sense, even the Monad is also a “Son of the Father” (a cell within one of the chakras of the Planetary Logos). |
211. Theo một nghĩa nào đó, ngay cả Chân thần cũng là một “Con của Cha” (một tế bào trong một trong các luân xa của Đức Hành Tinh Thượng Đế). |
|
[Page 318] the One. |
[Page 318] Đấng Duy Nhất. |
|
212. We must not think of the Monad as ‘granular’ and ‘particulate’- The Monad is, indeed, the “One”. In All there is but One MONAD. |
212. Chúng ta không được nghĩ về Chân thần như có tính “dạng hạt” và “tiểu phân”. Chân thần quả thật là “Đấng Duy Nhất”. Trong Toàn Thể chỉ có một CHÂN THẦN duy nhất. |
|
213. We are all expressions of the One and are, in fact, the One. |
213. Tất cả chúng ta đều là những biểu hiện của Đấng Duy Nhất và thật ra, chính là Đấng Duy Nhất. |
|
It does not, however, signify the resurrection of some personality in a particular vehicle used in a particular incarnation. |
Tuy nhiên, nó không biểu thị sự phục sinh của một phàm ngã nào đó trong một vận cụ đặc thù được sử dụng trong một lần lâm phàm đặc thù. |
|
214. The personality is a transiency. Form must ever keep pace with the Divine Purpose emerging through the Divine Plan. To resurrect a personality (and sustain that personality in perpetuity) would be to resurrect and sustain the past and would be distinctly evil. |
214. Phàm ngã là một sự tạm thời. Hình tướng phải luôn theo kịp Thiên Ý đang xuất hiện qua Thiên Cơ. Phục sinh một phàm ngã (và duy trì phàm ngã ấy vĩnh viễn) sẽ là phục sinh và duy trì quá khứ, và rõ ràng sẽ là điều tà ác. |
|
The whole concept of resurrection is the new and most important revelation which is coming to humanity, and which will lay the basis for the new world religion. |
Toàn bộ quan niệm về sự phục sinh là sự mặc khải mới mẻ và quan trọng nhất đang đến với nhân loại, và sẽ đặt nền tảng cho tôn giáo thế giới mới. |
|
215. Here is a most important statement. Revelation concerning resurrection will lay the basis for the new world religion. It becomes apparent that this is a religion to be based upon more than merely the soul aspect. It is to be based upon the life aspect—upon the livingness of the Spirit. |
215. Đây là một phát biểu hết sức quan trọng. Sự mặc khải liên quan đến sự phục sinh sẽ đặt nền tảng cho tôn giáo thế giới mới. Rõ ràng tôn giáo này sẽ dựa trên nhiều hơn chỉ là phương diện linh hồn. Nó sẽ dựa trên phương diện sự sống—trên tính sống động của Tinh thần. |
|
216. Obviously our concepts of resurrection will have to be drastically altered. |
216. Rõ ràng, các quan niệm của chúng ta về sự phục sinh sẽ phải thay đổi một cách triệt để. |
|
In the immediate past, the keynote of the Christian religion has been death, |
Trong quá khứ gần đây, chủ âm của tôn giáo Cơ Đốc là sự chết, |
|
217. Christianity is, after all, a Scorpionic religion and Scorpio is the sign of death. |
217. Rốt cuộc, Cơ Đốc giáo là một tôn giáo thuộc Hổ Cáp, và Hổ Cáp là dấu hiệu của sự chết. |
|
symbolised for us in the death of the Christ, and much distorted for us by St. Paul in his effort to blend the new religion which Christ gave us with the old blood religion of the Jews. |
được biểu trưng cho chúng ta trong cái chết của Đức Christ, và đã bị Thánh Phao-lô xuyên tạc rất nhiều cho chúng ta trong nỗ lực của ông nhằm hòa trộn tôn giáo mới mà Đức Christ ban cho chúng ta với tôn giáo huyết tế cũ của người Do Thái. |
|
218. We see how even a great soul can be responsible for distortions of the Divine Plan. |
218. Chúng ta thấy ngay cả một linh hồn vĩ đại cũng có thể chịu trách nhiệm về những sự xuyên tạc Thiên Cơ. |
|
219. St. Paul, apparently, intended to create a bridge between Judaism and the religion given by the Christ, but his attempt to put new wine into old bottles tainted the new wine. |
219. Rõ ràng, Thánh Phao-lô đã có ý định tạo một cây cầu giữa Do Thái giáo và tôn giáo do Đức Christ ban trao, nhưng nỗ lực của ông nhằm rót rượu mới vào những bình cũ đã làm vẩn đục rượu mới. |
|
220. It is hard to relinquish that which is old and bad but to which we have become accustomed. |
220. Thật khó từ bỏ điều gì đã cũ và xấu, nhưng là điều chúng ta đã trở nên quen thuộc. |
|
In the coming cycle, this distorted teaching on death will assume its rightful place and be known as the disciplining urge to relinquishment and to the ending by death of the hold by matter over the soul; |
Trong chu kỳ sắp đến, giáo huấn bị xuyên tạc này về sự chết sẽ đảm nhận vị trí đúng đắn của nó và được biết đến như xung lực kỷ luật hướng tới sự từ bỏ và hướng tới việc, bằng sự chết, chấm dứt quyền kìm giữ của vật chất đối với linh hồn; |
|
221. DK is telling us that the emphasis upon death does have some use as a method of release: |
221. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng việc nhấn mạnh vào sự chết quả có một công dụng nào đó như một phương pháp giải thoát: |
|
a. Death can be understood at the “disciplining urge to relinquishment” |
a. Sự chết có thể được hiểu như “xung lực kỷ luật hướng tới sự từ bỏ” |
|
b. Death can be used to end the “hold by matter over the soul”. |
b. Sự chết có thể được dùng để chấm dứt “quyền kìm giữ của vật chất đối với linh hồn”. |
|
222. While death can be utilized to prepare the way for entry (or re-entry) into Life, death is not that Life. The emphasis in the future will be upon Life. |
222. Trong khi sự chết có thể được sử dụng để chuẩn bị con đường cho sự đi vào (hoặc đi vào trở lại) Sự Sống, sự chết không phải là Sự Sống ấy. Sự nhấn mạnh trong tương lai sẽ đặt vào Sự Sống. |
|
the great goal of all religious teaching will be the resurrection of the spirit in man, and eventually in all forms of life, from the lowest point in evolution to the highest monadic experience. |
mục tiêu lớn lao của mọi giáo huấn tôn giáo sẽ là sự phục sinh của tinh thần trong con người, và cuối cùng trong mọi hình tướng của sự sống, từ điểm thấp nhất trong tiến hoá đến kinh nghiệm chân thần cao nhất. |
|
223. The true goal of all religious teaching is given. This goal relates to the Spirit in man and its liberation from the trammels of matter. |
223. Mục tiêu đích thực của mọi giáo huấn tôn giáo được nêu ra. Mục tiêu này liên hệ đến Tinh thần trong con người và sự giải phóng Tinh thần khỏi những xiềng xích của vật chất. |
|
224. Spirit is entombed in matter and must be lifted out of matter, thus uplifting and redeeming matter as well. |
224. Tinh thần bị chôn vùi trong vật chất và phải được nâng ra khỏi vật chất, nhờ đó cũng nâng cao và cứu chuộc vật chất. |
|
225. Spirit, entombed in all dimensions of matter, must be resurrected. |
225. Tinh thần, bị chôn vùi trong mọi chiều kích của vật chất, phải được phục sinh. |
|
226. The “highest monadic experience” represents, for man, the completed liberation of Spirit from the trammels of matter. Of course, further liberations lie ahead for man as he becomes more than man—i.e., as man-the-Monad ventures onward. |
226. “Kinh nghiệm chân thần cao nhất” biểu thị, đối với con người, sự giải phóng hoàn tất của Tinh thần khỏi những xiềng xích của vật chất. Dĩ nhiên, những sự giải phóng xa hơn còn ở phía trước con người khi y trở nên hơn cả con người—tức là, khi con người-Chân thần mạo hiểm tiến tới. |
|
The emphasis in the future will be upon the “livingness of the Christ nature”—the proof of which will be the Risen Christ—and upon the use of the will invoking this “living display.” |
Sự nhấn mạnh trong tương lai sẽ đặt vào “tính sống động của bản chất Đức Christ”—bằng chứng của điều đó sẽ là Đức Christ Phục Sinh—và vào việc sử dụng ý chí để khẩn cầu “sự biểu lộ sống động” này. |
|
227. The Christ will reappear and thus demonstrate that He has indeed “risen”. |
227. Đức Christ sẽ tái xuất hiện và như thế chứng minh rằng Ngài quả thật đã “phục sinh”. |
|
228. He will express in full livingness the Christ Nature—that of solar and cosmic Love. |
228. Y sẽ biểu lộ trong sự sống động trọn vẹn Bản chất Đức Christ—tức Bác Ái thái dương và vũ trụ. |
|
229. The future emphasis will be twofold: |
229. Sự nhấn mạnh trong tương lai sẽ có tính nhị phân: |
|
a. Upon the living Christ nature |
a. Trên bản chất Đức Christ sống động |
|
b. Upon a new use of the will to produce “living display”. |
b. Trên một cách sử dụng mới của ý chí để tạo ra “sự hiển lộ sống động”. |
|
230. We note that the emphasis will not be upon the intelligence aspect, per se. |
230. Chúng ta lưu ý rằng sự nhấn mạnh sẽ không đặt trên chính phương diện trí tuệ. |
|
231. In “living display” the Spirit shines forth through the matter in all forms. |
231. Trong “sự hiển lộ sống động”, Tinh thần chiếu rạng xuyên qua vật chất trong mọi hình tướng. |
|
The glory and the radiance of the Transfiguration initiation will eventually be relegated to its destined place, |
Vinh quang và vẻ rạng rỡ của cuộc điểm đạo Biến hình cuối cùng sẽ được đặt vào đúng vị trí đã định của nó, |
|
232. It is a relative glory and just the beginning of that which will manifest as an intensifying “display of life”.’ |
232. Đó là một vinh quang tương đối và chỉ là khởi đầu của điều sẽ biểu hiện như một “sự hiển lộ của sự sống” ngày càng mãnh liệt hơn.’ |
|
233. The word “relegated” suggests that the Transfiguration and its relative glory will be surpassed. |
233. Từ “được đặt vào vị trí phụ thuộc” gợi ý rằng cuộc Biến hình và vinh quang tương đối của nó sẽ bị vượt qua. |
|
and what is meant by the “display of life” will dimly be sensed in its unimaginable beauty. |
và điều được hàm ý bởi “sự hiển lộ của sự sống” sẽ được cảm nhận lờ mờ trong vẻ đẹp không thể tưởng tượng của nó. |
|
234. We will sense into the World of Ultimate Causes on the logoic plane (ultimate with respect to the cosmic physical plane). The unimaginable beauty of the archetypal world will be revealed. |
234. Chúng ta sẽ cảm nhận vào Thế Giới của các Nguyên Nhân Tối Hậu trên cõi Thượng đế (tối hậu xét theo cõi hồng trần vũ trụ). Vẻ đẹp không thể tưởng tượng của thế giới nguyên mẫu sẽ được mặc khải. |
|
235. All this is in store for humanity through the efforts of the Christ and, behind Him and supporting Him, the Lord of the World. |
235. Tất cả điều này đang chờ sẵn nhân loại nhờ những nỗ lực của Đức Christ và, đứng sau Ngài cùng nâng đỡ Ngài, Đức Chúa Tể Thế Giới. |
|
236. That this archetypal beauty is “unimaginable” reveals that our imagination cannot yet reach to the higher levels of the cosmic ethers. Simply because something is unimaginable by man does not mean it does not exist. |
236. Việc vẻ đẹp nguyên mẫu này là “không thể tưởng tượng” cho thấy sự tưởng tượng của chúng ta chưa thể vươn tới các cấp độ cao hơn của các dĩ thái vũ trụ. Chỉ vì điều gì đó không thể tưởng tượng bởi con người không có nghĩa là nó không hiện hữu. |
|
The line or the path or the Way of Resurrection is the “Radiant Way” to which we have given the cumbersome name of the Antahkarana; |
Đường tuyến hay con đường hay Con Đường Phục Sinh là “Con Đường Rạng Ngời” mà chúng ta đã gán cho cái tên nặng nề là antahkarana; |
|
237. We see that the antahkarana must necessarily extend far beyond the Monad, for the Way of Higher Evolution is itself a greater “Radiant Way”. |
237. Chúng ta thấy rằng antahkarana tất yếu phải vươn xa vượt khỏi chân thần, vì chính Con đường Tiến Hóa Cao Siêu là một “Con Đường Rạng Ngời” lớn lao hơn. |
|
238. DK, must, perforce use certain names because they are already part of the language of the Ageless Wisdom. Here, he finds the term “Antahkarana” cumbersome. Elsewhere He has found the term “Isolated Unity” inadequate. |
238. Chân sư DK tất yếu phải dùng một số danh xưng nào đó vì chúng đã là một phần của ngôn ngữ Minh Triết Ngàn Đời. Ở đây, Ngài thấy thuật ngữ “antahkarana” nặng nề. Ở nơi khác, Ngài đã thấy thuật ngữ “Hợp Nhất Cô Lập” là bất cập. |
|
this Way leads straight and directly from one great planetary centre to another—from Humanity to the Hierarchy and from the Hierarchy to Shamballa. |
Con Đường này dẫn thẳng và trực tiếp từ một trung tâm hành tinh lớn đến một trung tâm khác—từ Nhân loại đến Thánh Đoàn và từ Thánh Đoàn đến Shamballa. |
|
239. From this description it is apparent that the antahkarana leads directly into Shamballa, linking the three main planetary centers. |
239. Từ mô tả này, hiển nhiên antahkarana dẫn trực tiếp vào Shamballa, nối kết ba trung tâm hành tinh chính. |
|
This is the Way of Resurrection. |
Đây là Con Đường Phục Sinh. |
|
240. The antahkarana itself is the Way of Resurrection. |
240. Chính antahkarana tự nó là Con Đường Phục Sinh. |
|
It is a Way which is composed of the light of intelligent substance, of the radiant attractive substance of love, and the karmic way which is infused by the essence of inflexible will. |
Đó là một Con Đường được cấu thành bằng ánh sáng của chất liệu thông tuệ, bằng chất liệu hấp dẫn rạng ngời của bác ái, và bằng con đường nghiệp quả được thấm nhuần tinh túy của ý chí bất khuất. |
|
241. We see that the antahkarana is really threefold: |
241. Chúng ta thấy rằng antahkarana thật sự có tính tam phân: |
|
a. It is a lighted way. This is the customary description |
a. Nó là một con đường được soi sáng. Đây là mô tả quen thuộc |
|
b. It is also composed of “the attractive substance of love”. |
b. Nó cũng được cấu thành bằng “chất liệu hấp dẫn của bác ái”. |
|
c. It is also infused by the “essence of inflexible will”. |
c. Nó cũng được thấm nhuần bởi “tinh túy của ý chí bất khuất”. |
|
242. Note the adjective “inflexible” used to describe will. There is much to be learned by considering the inflexibility of will. |
242. Hãy lưu ý tính từ “bất khuất” được dùng để mô tả ý chí. Có nhiều điều cần học bằng cách suy xét về tính bất khuất của ý chí. |
|
243. We are given an important occult hint when it is said that the antahkarana is the “karmic way”. We see that karma and “inflexible will” are intimately related. From a planetary perspective, it is the Will of the Planetary Logos which determines the edicts of karma. When this Will is violated, there are necessitated karmic adjustments. |
243. Chúng ta được trao một gợi ý huyền bí quan trọng khi nói rằng antahkarana là “con đường nghiệp quả”. Chúng ta thấy rằng nghiệp quả và “ý chí bất khuất” có liên hệ mật thiết. Từ viễn cảnh hành tinh, chính Ý Chí của Đức Hành Tinh Thượng Đế quyết định các sắc lệnh của nghiệp quả. Khi Ý Chí này bị vi phạm, những điều chỉnh nghiệp quả trở nên tất yếu. |
|
244. We are being told that Karma descends from the Spirit/Monad and one of the ways of its descent is the antahkarana. This descent occurs at a time that the human being can be conscious of the nature of the descending karma (for that antahkarana is only built by the conscious disciple). It can be presumed that the Law of Karma can also be effectively applied via the sutratma of life thread before the antahkarana is built. |
244. Chúng ta đang được cho biết rằng nghiệp quả giáng xuống từ Tinh thần/chân thần và một trong những con đường giáng xuống của nó là antahkarana. Sự giáng xuống này xảy ra vào lúc con người có thể ý thức về bản chất của nghiệp quả đang giáng xuống (vì antahkarana ấy chỉ được xây dựng bởi đệ tử có ý thức). Có thể giả định rằng Định luật Nghiệp quả cũng có thể được áp dụng hữu hiệu qua sinh mệnh tuyến, tức sợi dây sự sống, trước khi antahkarana được xây dựng. |
|
245. The soul/Ego is a center of karmic direction and imposition, but the soul/Ego is actually the agent of the Monad. |
245. Linh hồn/chân ngã là một trung tâm của sự định hướng và áp đặt nghiệp quả, nhưng linh hồn/chân ngã thực ra là tác nhân của chân thần. |
|
Forget not that karma is essentially the conditioned will of the planetary Logos as He orders all things toward the ultimate goal of life itself through the process of livingness, of loving understanding, and of intelligent activity. |
Đừng quên rằng nghiệp quả về bản chất là Ý Chí chịu điều kiện của Đức Hành Tinh Thượng Đế khi Ngài sắp đặt mọi sự hướng tới mục tiêu tối hậu của chính sự sống qua tiến trình sống động, của sự thấu hiểu đầy tình thương, và của hoạt động thông tuệ. |
|
246. There is an imposed divine order. If that order is violated, it is karmic adjustment which brings the violator again into line with the intended order. |
246. Có một trật tự thiêng liêng được áp đặt. Nếu trật tự ấy bị vi phạm, chính sự điều chỉnh nghiệp quả sẽ đưa kẻ vi phạm trở lại phù hợp với trật tự đã định. |
|
247. We note that the will of the Planetary Logos is a “conditioned will”. It is a conditioning will because is imposes itself on all lesser lives within the Planetary Logoic ring-pass-not. It is a conditionedwill because it is executing karmic directives from greater Planetary Logoi, from the Solar Logos and even, we may suppose, from the Logos of Sirius. |
247. Chúng ta lưu ý rằng ý chí của Đức Hành Tinh Thượng Đế là một “ý chí chịu điều kiện”. Đó là một ý chí gây điều kiện vì nó áp đặt chính mình lên tất cả các sự sống nhỏ hơn bên trong vòng-giới-hạn của Đức Hành Tinh Thượng Đế. Đó là một ý chí chịu điều kiện vì nó đang thực thi các chỉ thị nghiệp quả từ các Đức Hành Tinh Thượng Đế lớn lao hơn, từ Thái dương Thượng đế và thậm chí, chúng ta có thể giả định, từ Thượng đế của Sao Thiên Lang. |
|
248. We understand that through the agency of karma the ultimate goal of the Planetary Logos is achieved. The Law of Karma ensures that necessitous guidelines are followed—eventually. |
248. Chúng ta thấu hiểu rằng nhờ tác nhân của nghiệp quả, mục tiêu tối hậu của Đức Hành Tinh Thượng Đế được thành tựu. Định luật Nghiệp quả bảo đảm rằng các đường hướng tất yếu sẽ được tuân theo—cuối cùng là như vậy. |
|
Therefore, the order to resurrect, as understood by the [Page 319] initiate, concerns solely the application of the will nature and the aspect of Shamballa to the impulsing of hierarchical attraction and activity. |
Do đó, mệnh lệnh phục sinh, như [Page 319] điểm đạo đồ thấu hiểu, chỉ liên quan đến việc áp dụng bản chất ý chí và phương diện Shamballa vào sự thúc động sức hấp dẫn và hoạt động của Thánh Đoàn. |
|
249. We are to understand the “order to resurrect” as applicable to great planetary centers—in this case, to Shamballa and to Hierarchy. The order or injunction comes from Shamballa and impulses “hierarchical attraction and activity”. Through this attraction and activity, the soul achieves its freedom from the lower forms. More importantly, humanity as a whole eventually achieves its freedom from the lower forms which imprison it. |
249. Chúng ta phải hiểu “mệnh lệnh phục sinh” là áp dụng cho các trung tâm hành tinh lớn—trong trường hợp này, cho Shamballa và cho Thánh Đoàn. Mệnh lệnh hay huấn lệnh đến từ Shamballa và thúc động “sức hấp dẫn và hoạt động của Thánh Đoàn”. Qua sức hấp dẫn và hoạt động này, linh hồn đạt được tự do khỏi các hình tướng thấp. Quan trọng hơn, cuối cùng toàn thể nhân loại đạt được tự do khỏi các hình tướng thấp đang giam hãm mình. |
|
250. Really, “Resurrect” is a planetary injunction. |
250. Thật ra, “Hãy phục sinh” là một huấn lệnh hành tinh. |
|
It does not concern the individual life of the upward-moving aspirant or disciple, no matter what his degree, except incidentally and because major divine macrocosmic impulses must have lesser microcosmic effects. |
Nó không liên quan đến đời sống cá biệt của người chí nguyện hay đệ tử đang tiến lên, bất kể cấp độ của y là gì, ngoại trừ một cách phụ thuộc và bởi vì các xung lực đại thiên địa thiêng liêng lớn lao tất phải có những hiệu ứng tiểu thiên địa nhỏ hơn. |
|
251. The Tibetan insists that we see and understand in larger terms. If Hierarchy responds to Shamballa in the way indicated, then the resurrection of individual initiates will occur, but it is not to individuals, per se, that the order is directed. |
251. Chân sư Tây Tạng nhấn mạnh rằng chúng ta phải thấy và thấu hiểu trong những phạm vi rộng lớn hơn. Nếu Thánh Đoàn đáp ứng với Shamballa theo cách đã chỉ ra, thì sự phục sinh của các điểm đạo đồ cá biệt sẽ xảy ra, nhưng mệnh lệnh ấy không được hướng tới chính các cá nhân. |
|
252. In other words, macrocosmic resurrection will evoke microcosmic resurrection. |
252. Nói cách khác, sự phục sinh đại thiên địa sẽ gợi lên sự phục sinh tiểu thiên địa. |
|
All these stupendous words with which we have been dealing relate to the cooperation of the initiate with the Will of Shamballa, and therefore, my brothers, are only dim hints to you. |
Các huynh đệ của Tôi, tất cả những lời lẽ phi thường này mà chúng ta đã bàn đến đều liên hệ đến sự hợp tác của điểm đạo đồ với Ý Chí của Shamballa, và vì vậy, chỉ là những gợi ý lờ mờ đối với các bạn. |
|
253. DK has lifted our consideration of “these stupendous words” entirely out of the context of the individual aspirant, disciple or initiate. He has shared with us their macrocosmic meaning. |
253. Chân sư DK đã nâng sự suy xét của chúng ta về “những lời lẽ phi thường này” hoàn toàn ra khỏi bối cảnh của người chí nguyện, đệ tử hay điểm đạo đồ cá biệt. Ngài đã chia sẻ với chúng ta ý nghĩa đại thiên địa của chúng. |
|
254. We are to remember that these words are Shamballic words and if obeyed properly bring the Will of Shamballa/Monad into the life of the microcosm. |
254. Chúng ta cần nhớ rằng những lời này là những lời thuộc Shamballa, và nếu được tuân hành đúng đắn, chúng đưa Ý Chí của Shamballa/chân thần vào đời sống của tiểu thiên địa. |