Quy Luật Điểm đạo 8 dành cho đệ tử (RI)

📘 Sách: Bình Giảng 14 Quy Luật Điểm đạo Dành Cho Đệ tử – RI – Tác giả: Michael D. Robbins

Click số trang trong ngoặc [ ] để đi đến bình giảng

RULE EIGHT [Page 148 – 167]

QUY LUẬT TÁM [Page 148 – 167]

Rule VIII now comes up for consideration. The previous seven rules have been of a wide and general connotation. They have been largely postulates, emphasizing group life, group planetary relationships, and the fundamental Science of Invocation and Evocation which underlies all world processes, which is the inspiring energy behind all evolutionary unfoldment, and which creates the medium or channel of related communication between the great centers in our planet, through which the life of our Logos flows and His purposes are worked out. I would remind you that the creative process was initiated by Sound, and in that Sound the Logos both invoked and evoked. He issued the call and He engineered and implemented the response and thus the “Army of the Voice” (as The Secret Doctrine calls it) came into being. [Page 148]

Quy luật VIII nay được đưa ra xem xét. Bảy quy luật trước có ý nghĩa rộng và tổng quát. Phần lớn chúng là những định đề, nhấn mạnh đời sống nhóm, các mối liên hệ hành tinh của nhóm, và Khoa học căn bản về Khẩn Cầu và Gợi Lên, vốn nằm bên dưới mọi tiến trình thế giới, vốn là năng lượng gợi cảm hứng phía sau mọi sự khai mở tiến hoá, và tạo nên phương tiện hay kênh giao tiếp liên hệ giữa các trung tâm lớn trên hành tinh chúng ta, qua đó sự sống của Thượng đế chúng ta tuôn chảy và các mục đích của Ngài được thực hiện. Tôi muốn nhắc các bạn rằng tiến trình sáng tạo đã được khởi phát bằng Âm Thanh, và trong Âm Thanh ấy, Thượng đế vừa khẩn cầu vừa gợi lên. Ngài phát ra lời kêu gọi, và Ngài điều hành cũng như thực hiện sự đáp ứng; do đó “Đạo Quân của Âm Thanh” như Giáo Lý Bí Nhiệm gọi tên, đã đi vào hiện hữu. [Page 148]

The Head (the idea), the Heart (the ideal) and the Throat (the creative agent of the resulting idol, the temporary and fleeting expression of the ideal, inspired by the idea) came into being; three great Centers emerged in time and space and—at this point in the evolutionary cycle—we call them Shamballa, the Hierarchy and Humanity.

Đầu ý tưởng), Tim lý tưởng) và Cổ Họng tác nhân sáng tạo của ngẫu tượng phát sinh, tức biểu hiện tạm thời và thoáng qua của lý tưởng, được cảm hứng bởi ý tưởng) đã đi vào hiện hữu; ba Trung tâm lớn xuất hiện trong thời gian và không gian và—ở điểm này trong chu kỳ tiến hoá—chúng ta gọi các trung tâm ấy là Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân loại.

With these fundamental factors the first seven rules have been occupied, and I have tried to help you to see their significance somewhat, from the angle of the initiate-consciousness.

Bảy quy luật đầu đã đề cập đến những yếu tố căn bản này, và tôi đã cố gắng giúp các bạn phần nào thấy được thâm nghĩa của chúng, từ góc độ tâm thức của điểm đạo đồ.

We come now to a close consideration of this Rule VIII, where it might be said that the specific rules for the training of initiates begin. These remaining seven rules must be studied most carefully from that angle. They are not susceptible of casual and superficial analysis. I realize that only those who have taken initiation will be in a position to grasp the esoteric significance of the words I use and of much that I may say, but it is for them I write; their numbers are even today more than are suspected, and their ranks will be steadily increased in the postwar period, both through the strenuous effort of disciples in training to “make the grade,” and through the coming into incarnation of initiates of all degrees—some of whom are the children of today.

Giờ đây chúng ta đi đến việc xem xét kỹ Quy luật VIII này, nơi có thể nói rằng những quy luật chuyên biệt cho việc huấn luyện các điểm đạo đồ bắt đầu. Bảy quy luật còn lại này phải được nghiên cứu hết sức cẩn trọng từ góc độ ấy. Chúng không thích hợp cho sự phân tích hời hợt và nông cạn. Tôi nhận ra rằng chỉ những ai đã trải qua điểm đạo mới có khả năng nắm bắt thâm nghĩa huyền bí của những lời tôi dùng và của nhiều điều tôi có thể nói, nhưng chính cho họ mà tôi viết; ngay cả hiện nay, số lượng của họ cũng nhiều hơn người ta tưởng, và hàng ngũ của họ sẽ tăng đều đặn trong thời kỳ hậu chiến, vừa qua nỗ lực mạnh mẽ của các đệ tử đang được huấn luyện để “đạt chuẩn”, vừa qua sự lâm phàm của các điểm đạo đồ thuộc mọi cấp độ—một số trong họ là trẻ em ngày nay.

Rule VIII

Quy luật VIII

For Applicants: When the disciple nears the Portal, the greater seven must awaken and bring forth response from the lesser seven upon the double circle.

Dành cho các Ứng viên: Khi đệ tử tiến gần đến Cửa, bảy lớn hơn phải thức tỉnh và khơi dậy đáp ứng từ bảy nhỏ hơn trên vòng tròn kép. ————

For Disciples and Initiates: (1) Let the group find within itself response to the greater seven groups which carry out the hierarchical will with love and understanding. The group contains all seven, the perfect group. (2) The lesser seven, the greater seven and the planetary seven form one great whole, and these the group must know. (3) When this is realized and the Law of the Supplementary Seven is understood, let the group understand the Three and then the ONE. (4) This they can do with the unified breath and the unified rhythm.

Dành cho các Đệ tử và Điểm đạo đồ: (1) Hãy để nhóm tự tìm thấy trong chính mình sự đáp ứng đối với bảy nhóm lớn hơn, là những nhóm thực hiện ý chí của Thánh Đoàn bằng tình thương và sự thấu hiểu. Nhóm chứa đựng tất cả bảy, tức nhóm hoàn hảo. (2) Bảy nhỏ hơn, bảy lớn hơn và bảy hành tinh tạo thành một toàn thể vĩ đại, và nhóm phải biết những điều này. (3) Khi điều này được chứng nghiệm và Định luật Bảy Bổ Sung được thấu hiểu, hãy để nhóm thấu hiểu Ba rồi đến MỘT. (4) Họ có thể làm điều này bằng hơi thở hợp nhất và nhịp điệu hợp nhất.

On the surface, this rule appears to be one of surprising [Page 149] complexity and immense difficulty. It deals with so many groups and septenates and this seems to complicate understanding considerably. Yet every person in the world is dealing with the multiplicity of units and combinations of forces which make up his entire daily life and which create his environment and his life circumstances. Life would be simple indeed if the average man had only seven factors to consider, with which to conform, to work with and to use. Advance into the world of spiritual values and into the realm of triadal existence (in which the initiate moves) is definitely an advance into simplicity. It is an advance from the complications of the multiplication table and its resultant arithmetic into the simplicity of the symbolic formulas as used in the higher mathematics; it is a moving out of the world of kaleidoscopic figures in constant movement, into the world of meaning; it is a process of getting behind the world of effects into the world of causes, realizing that one simple cause or directed movement of energy can set in motion a myriad of effects. The way of the initiate is not a complicated one, once he has grasped the fact that he must release himself from the world of seeming and of illusion and stand free in the world of light, where all stand clearly revealed. Then he can begin to face the lessons and take the training which will enable him to handle energy—having released himself from the control of forces—and begin to direct energy in conformity with the great Plan. The complexity lies in the thinking of the neophyte. The initiate knows it not.

Nhìn bề ngoài, quy luật này dường như là một quy luật có [Page 149] tính phức tạp đáng ngạc nhiên và khó khăn vô cùng. Nó đề cập đến rất nhiều nhóm và các nhóm bảy, và điều này dường như làm cho sự thấu hiểu trở nên phức tạp đáng kể. Tuy nhiên, mỗi người trên thế gian đều đang xử lý tính đa dạng của các đơn vị và các tổ hợp mãnh lực cấu thành toàn bộ đời sống hằng ngày của y, đồng thời tạo nên môi trường và hoàn cảnh sống của y. Quả thật, đời sống sẽ đơn giản nếu con người trung bình chỉ có bảy yếu tố để xem xét, để thích ứng, để làm việc cùng và để sử dụng. Tiến vào thế giới của các giá trị tinh thần và vào lĩnh vực tồn tại thuộc Tam nguyên tinh thần, nơi điểm đạo đồ vận hành, chắc chắn là tiến vào sự đơn giản. Đó là sự tiến bước từ những phức tạp của bảng cửu chương và phép số học phát sinh từ đó, vào sự đơn giản của các công thức biểu tượng như được dùng trong toán học cao cấp; đó là sự rời khỏi thế giới của những hình thể kính vạn hoa luôn chuyển động, để đi vào Thế giới của ý nghĩa; đó là tiến trình đi ra phía sau thế giới của các hệ quả để vào thế giới của các nguyên nhân, nhận ra rằng một nguyên nhân đơn giản hay một chuyển động năng lượng được định hướng có thể khởi động vô số hệ quả. Con đường của điểm đạo đồ không phải là con đường phức tạp, một khi y đã nắm bắt sự thật rằng y phải giải phóng mình khỏi thế giới của vẻ bề ngoài và ảo tưởng, và đứng tự do trong thế giới ánh sáng, nơi mọi sự đều hiển lộ rõ ràng. Khi ấy y có thể bắt đầu đối diện với các bài học và tiếp nhận sự huấn luyện sẽ giúp y xử lý năng lượng—sau khi đã giải phóng mình khỏi sự chi phối của các mãnh lực—và bắt đầu điều hướng năng lượng phù hợp với Thiên Cơ vĩ đại. Sự phức tạp nằm trong tư duy của người sơ cơ. Điểm đạo đồ không biết đến điều đó.

First let us clearly define the various septenates referred to in this rule. I will first tabulate them in the order of their appearance and define them, and then I will enlarge upon them in order to point out where the training enters in, where the rule applies, and how the embodied rule is in the nature of a Law which the initiate may not evade.

Trước hết, chúng ta hãy định nghĩa rõ ràng các nhóm bảy khác nhau được nói đến trong quy luật này. Trước tiên tôi sẽ lập bảng chúng theo thứ tự xuất hiện của chúng và định nghĩa chúng, rồi sau đó tôi sẽ bàn rộng thêm để chỉ ra nơi sự huấn luyện đi vào, nơi quy luật được áp dụng, và bằng cách nào quy luật được thể hiện này mang bản chất của một Định luật mà điểm đạo đồ không thể né tránh.

I would ask you here to refer to what I earlier said anent rules, laws and orders when starting with you this particular study. [Page 150]

Ở đây, tôi xin các bạn tham chiếu lại những gì tôi đã nói trước đó về các quy luật, định luật và mệnh lệnh khi bắt đầu cùng các bạn công trình nghiên cứu đặc biệt này. [Page 150]

1. The seven greater groups—The seven groups or Ashrams within the Hierarchy.

1. Bảy nhóm lớn hơn—Bảy nhóm hay ashram trong Thánh Đoàn.

The Hierarchy

Thánh Đoàn

· These carry out the hierarchical will, which is love.

· Các nhóm này thực hiện ý chí của Thánh Đoàn, tức tình thương.

· They work through love and understanding.

· Các nhóm ấy làm việc thông qua tình thương và sự thấu hiểu.

· Each is presided over by a Chohan and a group is called an Ashram.

· Mỗi nhóm do một Chohan chủ trì và một nhóm được gọi là một ashram.

· These major Ashrams have many affiliated Ashrams, presided over by a Master on the same ray as the Chohan, and are capable at any moment of being absorbed into the primary Ashram.

· Các ashram chính này có nhiều ashram liên kết, do một Chân sư cùng cung với Chohan chủ trì, và bất cứ lúc nào cũng có thể được hấp thu vào ashram nguyên thủy.

· The perfect or complete group is the Hierarchy itself, containing all the seven major Ashrams and their affiliates.

 Nhóm hoàn hảo hay trọn vẹn chính là Thánh Đoàn, bao gồm tất cả bảy ashram chính và các ashram liên kết của chúng.

2. The Planetary seven groups—The seven rays, the central septenate of energy.

2. Bảy nhóm hành tinh—Bảy cung, bộ bảy trung tâm của năng lượng.

Shamballa

Shamballa

· These embody the will of Shamballa, which is divine purpose.

· Các nhóm này hiện thân cho ý chí của Shamballa, tức Thiên Ý.

· They work as life energy, as quality, and produce appearance.

· Chúng hoạt động như năng lượng sự sống, như phẩm tính, và tạo ra sắc tướng.

· Each is presided over by one of the seven Spirits before the Throne; by one of the seven Ray Lords.

· Mỗi nhóm do một trong Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai chủ trì; do một trong bảy Đấng Chúa Tể Cung chủ trì.

· Each of these rays has its seven subrays which relate it to all the other rays.

· Mỗi cung trong các cung này có bảy cung phụ của nó, liên hệ nó với tất cả các cung khác.

· These seven rays can, under divine purpose, be reabsorbed into the Three and then into the One.

· Bảy cung này, dưới Thiên Ý, có thể được tái hấp thu vào Ba, rồi vào Đấng Duy Nhất.

3. The lesser seven—The seven types of men and also the seven root races.

3. Bảy nhóm nhỏ hơn—Bảy kiểu người và cũng là bảy giống dân gốc.

Humanity

Nhân loại

· These embody the intelligence of the Logos as it expresses itself through creativity.

· Các nhóm này hiện thân cho trí tuệ của Thượng đế khi trí tuệ ấy biểu lộ qua sự sáng tạo.

· They are learning to work intelligently with matter in order to develop love in response to divine purpose—which is will or life.

· Họ đang học cách làm việc một cách thông minh với vật chất để phát triển tình thương, nhằm đáp ứng Thiên Ý—tức ý chí hay sự sống.

· Each of the seven types, responsive to one or [Page 151] other of the seven rays, is conditioned or ruled by its prototype, the soul on its own plane.

· Mỗi một trong bảy kiểu, đáp ứng với cung này hoặc [Page 151] cung khác trong bảy cung, đều chịu tác động hoặc sự cai quản của nguyên mẫu của mình, tức linh hồn trên cõi riêng của nó.

· These major types or races of men have many subraces and subsidiary types, developed during the evolutionary process; all will eventually demonstrate the seven major types.

· Các kiểu chính hay các giống dân chính của nhân loại này có nhiều giống dân phụ và các kiểu phụ thuộc, được phát triển trong tiến trình tiến hoá; cuối cùng tất cả sẽ biểu lộ bảy kiểu chính.

· The perfect type is the Christ, the Heavenly Man, Who expresses all the major types and Who is the “pattern of things as they are.”

· Kiểu hoàn hảo là Đức Christ, Đấng Thiên Nhân, Đấng biểu lộ tất cả các kiểu chính và là “mô hình của vạn sự như chúng đang là.”

4. The supplementary seven—The seven centers of energy in the individual man.

4. Bảy nhóm bổ sung—Bảy trung tâm năng lượng trong cá nhân con người.

Humanity

Nhân loại

· These together embody the combined forces of the planetary life as registered by the perfected individual. They will eventually enable the man to achieve perfection.

· Cùng nhau, các trung tâm này hiện thân cho các mãnh lực tổng hợp của sự sống hành tinh khi được cá nhân hoàn thiện ghi nhận. Cuối cùng, chúng sẽ giúp con người đạt đến sự hoàn hảo.

· They enable the individual to respond to material forces, to soul energy and spiritual life, and they constitute a complete response apparatus to the planetary life, purpose, intent and form.

· Chúng giúp cá nhân đáp ứng với các mãnh lực vật chất, với năng lượng linh hồn và sự sống tinh thần, và chúng cấu thành một bộ máy đáp ứng trọn vẹn đối với sự sống, mục đích, ý định và hình tướng của hành tinh.

· Each of the seven centers is responsive to one or other of the seven rays and their qualities under the conditioning energy of the soul ray and the forces, emanating from the environment.

· Mỗi một trong bảy trung tâm đều đáp ứng với cung này hoặc cung khác trong bảy cung và các phẩm tính của chúng, dưới năng lượng tác động của cung linh hồn và các mãnh lực phát xuất từ môi trường.

· These centers develop progressively and under the impact of circumstances and the Law of the Supplementary Seven, but all will eventually express in some measure the seven types of ray energy.

· Các trung tâm này phát triển dần dần, dưới tác động của hoàn cảnh và Định luật Bảy Bổ Sung, nhưng cuối cùng tất cả sẽ biểu lộ, ở một mức độ nào đó, bảy kiểu năng lượng cung.

· The Law of the Supplementary Seven can be worded as follows:

·  Định luật Bảy Bổ Sung có thể được diễn đạt như sau:

“The Law demands the entrance of that which can effect a change.

“Định luật đòi hỏi sự đi vào của điều có thể tạo nên một thay đổi.

The Law demands that right direction should then guide the entering forces.

Định luật đòi hỏi rằng sự hướng dẫn đúng đắn khi ấy phải dẫn dắt các mãnh lực đang đi vào.

The Law demands that the changes thus effected remove the form, bring quality to light and lay the emphasis upon life. [Page 152]

Định luật đòi hỏi rằng những thay đổi được tạo nên như thế phải loại bỏ hình tướng, đưa phẩm tính ra ánh sáng và đặt trọng tâm vào sự sống. [Page 152]

The Law demands that this is brought about by the One, working through the Three, energizing the Seven and creating the straight line from there to here, and ending in a point which ignores the Three.”

Định luật đòi hỏi rằng Đấng Duy Nhất thực hiện điều này, hoạt động thông qua Ba, tiếp sinh lực cho Bảy và tạo nên đường thẳng từ đó đến đây, kết thúc ở một điểm bỏ qua Ba.”

When, the rule goes on, this is understood and applied, then four things happen:

Khi điều này được thấu hiểu và áp dụng, quy luật tiếp tục nói, bấy giờ bốn điều xảy ra:

1. The group must understand the nature of the Three.

1. Nhóm phải thấu hiểu bản chất của Ba.

2. The nature of the One must be grasped and comprehended.

2. Bản chất của Đấng Duy Nhất phải được nắm bắt và lĩnh hội.

3. The group must work through the medium of the united breath.

3. Nhóm phải làm việc thông qua phương tiện của hơi thở hợp nhất.

4. The group must attain a unified rhythm.

4. Nhóm phải đạt được một nhịp điệu hợp nhất.

Here you have a relatively simple analysis (on the face of it, though not in reality) of a complex rule which the initiate has to apply to himself once he has grasped the significance of the seven basic postulates. The first seven rules provide the framework within which his work has to be done. The last seven rules concern various significant matters which, step by step, are revealed to the initiate as his consciousness is expanded. They relate to:

Ở đây các bạn có một phân tích tương đối đơn giản, xét bề ngoài nhưng không phải trong thực tế, về một quy luật phức tạp mà điểm đạo đồ phải áp dụng cho chính y, một khi y đã nắm bắt thâm nghĩa của bảy định đề căn bản. Bảy quy luật đầu tiên cung cấp khuôn khổ trong đó công việc của y phải được thực hiện. Bảy quy luật cuối cùng liên quan đến nhiều vấn đề quan trọng khác nhau, từng bước một được mặc khải cho điểm đạo đồ khi tâm thức của y được mở rộng. Chúng liên quan đến:

1. The work which the initiate must accomplish within himself.

1. Công việc mà điểm đạo đồ phải hoàn thành trong chính mình.

2. The group relations of the initiate and his absolute need to work with his group and as an integrated and conscious part of it.

2. Các mối quan hệ nhóm của điểm đạo đồ và nhu cầu tuyệt đối của y phải làm việc với nhóm của mình, và như một phần tích hợp, hữu thức của nhóm ấy.

3. The place which invocation and evocation must take as instruments in his pledged intelligent service.

3. Vị trí mà Khẩn Cầu và Gợi Lên phải đảm nhiệm như những khí cụ trong sự phụng sự thông minh mà y đã nguyện thực hiện.

4. The blending of the four lessons which the applicant has to master and the four lessons which the initiate has to complete in order that a complete fusion of personality and Monad can be brought about.

4. Sự hòa quyện của bốn bài học mà người thỉnh nguyện phải nắm vững và bốn bài học mà điểm đạo đồ phải hoàn tất, để có thể mang lại sự dung hợp trọn vẹn giữa phàm ngã và Chân thần.

5. The significance of resurrection and ascension, particularly the latter, because little has been given out to date anent ascension.

5. Thâm nghĩa của sự phục sinh và thăng thiên, đặc biệt là thăng thiên, bởi cho đến nay rất ít điều đã được công bố liên quan đến thăng thiên.

There are certain major frameworks (if I may continue to use this phrase) within which the initiate has to learn [Page 153] consciously to work, recognizing them for what they are; once he has learnt to master that which lies within some particular framework, he finds that it is only a part, a small fraction, of a still greater whole, within which he must also learn to function and play his part.

Có một số khuôn khổ chính yếu nhất định, nếu tôi có thể tiếp tục dùng cụm từ này, mà trong đó điểm đạo đồ phải học cách [Page 153] làm việc một cách có ý thức, nhận biết chúng đúng theo bản chất của chúng; một khi y đã học làm chủ điều nằm trong một khuôn khổ đặc thù nào đó, y nhận ra rằng đó chỉ là một phần, một mảnh nhỏ, của một toàn thể còn lớn hơn nữa, mà trong đó y cũng phải học cách hoạt động và đóng phần của mình.

[Page 1] First he, as a disciple, has to learn to work within the framework of his blending soul-personality. This task at first takes the form of character building and disciplining (whilst upon the Probationary Path), of a struggle to see, of an endeavor to make a continuity of his soul contact. Finally, this leads to the beginning of the stage of soul and personality merging and at this point he steps upon the Path of Discipleship, technically understood. From then on his problem is to know himself as he truly is, to direct energy to the needed centers which are awaiting scientific attention, to superintend[1] consciously the fitting of himself, as a personality, to act as the instrument of the soul and later of the Hierarchy, to learn to contact energy, to handle and direct it. This entails a comprehension of the mechanism within himself—the seven centers within the vital body—through which the contacted energy must flow under soul direction, and it also means the perfecting of the response apparatus and the newly constructed spiritual mechanism which exoterically enables him to contact the outside world, and esoterically enables him to contact the world of souls. It implies a steady process of interior perfecting until nothing further remains to be done within that individual framework. The bulk of this work has been covered by the time the fourth initiation has been taken, and has been completely covered when the fifth initiation is undergone.

[Page 1] Thứ nhất, với tư cách là một đệ tử, y phải học làm việc trong khuôn khổ của linh hồn-phàm ngã đang hòa quyện nơi y. Ban đầu, nhiệm vụ này mang hình thức lập hạnh và rèn luyện kỷ luật, trong khi y còn ở trên Con Đường Dự Bị, của một cuộc đấu tranh để thấy, của một nỗ lực nhằm tạo nên tính liên tục trong sự tiếp xúc với linh hồn của y. Cuối cùng, điều này dẫn đến khởi đầu của giai đoạn linh hồn và phàm ngã hòa nhập, và tại điểm này y bước lên Con Đường Đệ Tử, hiểu theo nghĩa chuyên môn. Từ đó trở đi, vấn đề của y là biết chính mình như y thật sự là, điều hướng năng lượng đến các trung tâm cần thiết đang chờ sự chú tâm khoa học, giám sát một cách có ý thức việc làm cho chính y, với tư cách một phàm ngã, trở nên thích hợp để hoạt động như khí cụ của linh hồn và về sau của Thánh Đoàn, học cách tiếp xúc với năng lượng, xử lý và điều hướng nó. Điều này bao hàm sự thấu hiểu về bộ máy bên trong chính y—bảy trung tâm trong thể sinh lực—mà qua đó năng lượng được tiếp xúc phải tuôn chảy dưới sự điều hướng của linh hồn; đồng thời nó cũng hàm ý việc hoàn thiện bộ máy đáp ứng và bộ máy tinh thần mới được kiến tạo, vốn về mặt ngoại môn cho phép y tiếp xúc với thế giới bên ngoài, và một cách huyền bí cho phép y tiếp xúc với thế giới của các linh hồn. Nó ngụ ý một tiến trình hoàn thiện nội tâm đều đặn cho đến khi không còn điều gì cần phải làm thêm trong khuôn khổ cá nhân ấy. Phần lớn công việc này đã hoàn tất vào thời điểm lần điểm đạo thứ tư được nhận, và đã hoàn tất trọn vẹn khi trải qua lần điểm đạo thứ năm.

This all takes much time, but when a certain measure of success has been achieved, when the initiate’s understanding is somewhat enlightened and his energy-use and his power of direction are becoming intelligently applied, he can [Page 2] then begin to work within the framework of the greater seven groups, that is, within the Hierarchy. This he does first upon the periphery of the hierarchical aura and later as a conscious, accepted and pledged worker in some [Page 154] Ashram—the Ashram being dependent upon his ray type. He then is in a position to discover the close interlocking that exists between the supplementary seven (his own seven centers) and the seven great groups within the Hierarchy; he comes to realize that only when his centers are somewhat awakened and attuned is it possible for him to work within the larger framework of the Hierarchy, and this because the quality of the greater groups and the life expression of the seven planetary groups, the seven rays, are being slowly developed by him under the influence of hierarchical supervision through the medium of his own seven centers the—supplementary seven.

Tất cả điều này đòi hỏi nhiều thời gian, nhưng khi đã đạt được một mức độ thành công nào đó, khi sự thấu hiểu của điểm đạo đồ phần nào được soi sáng và việc sử dụng năng lượng cùng quyền năng điều hướng của y đang được áp dụng một cách thông minh, y có thể [Page 2] bấy giờ bắt đầu làm việc trong khuôn khổ của bảy nhóm lớn hơn, nghĩa là, trong Thánh Đoàn. Trước hết y làm điều này ở vùng ngoại vi hào quang của Thánh Đoàn, và về sau như một người hoạt động hữu thức, được chấp nhận và đã tuyên thệ trong một [Page 154] ashram nào đó—ashram tùy thuộc vào loại cung của y. Bấy giờ y ở trong vị thế khám phá mối liên kết chặt chẽ tồn tại giữa bảy bổ sung (bảy trung tâm của chính y) và bảy nhóm lớn trong Thánh Đoàn; y đi đến nhận ra rằng chỉ khi các trung tâm của y phần nào được đánh thức và chỉnh hợp thì y mới có thể làm việc trong khuôn khổ rộng lớn hơn của Thánh Đoàn, và điều này là vì phẩm tính của các nhóm lớn hơn cùng biểu hiện sự sống của bảy nhóm hành tinh, tức bảy cung, đang được y phát triển chậm rãi dưới ảnh hưởng của sự giám sát từ Thánh Đoàn, thông qua trung gian của chính bảy trung tâm của y—bảy bổ sung.

Thus, from a new angle which is practical and not simply theoretical, it begins to dawn on him that he is an inalienable part of a group whole and that this incontrovertible fact involves responsibilities and duties. He discovers that his major responsibility—spiritually speaking—is to permit no hindrance, on the part of the supplementary seven, to the free flow of love from the greater seven, and later the free flow of life (inspired by purpose) from the planetary seven. He knows now that all form a great interlocking directorate through which the will of God is working out. He now knows himself to be a minute part of that great interlocking Whole, a responsible conscious atom within its periphery. Then as he goes on and learns to submit to the Law of the Supplementary Seven, he finds that from the life angle and through his own conscious direction, gradually developed, all the potencies of divinity are his to use, once he can be trusted, as the advanced initiate can ever be trusted. He is then set free for complete cooperation with the purpose lying behind the Plan. He has passed out of the human kingdom into the Hierarchy; later he will pass out of the hierarchical group into Shamballa, or out of our planetary life altogether, and either here or there will begin a greater and more extended service.

Như vậy, từ một góc nhìn mới, mang tính thực tiễn chứ không chỉ lý thuyết, y bắt đầu nhận ra rằng y là một phần bất khả phân của một toàn thể nhóm, và sự kiện không thể tranh cãi này bao hàm những trách nhiệm và bổn phận. Y khám phá rằng trách nhiệm chính yếu của y—nói theo tinh thần—là không để bảy bổ sung gây bất cứ cản trở nào đối với dòng tuôn chảy tự do của bác ái từ bảy lớn hơn, và về sau là dòng tuôn chảy tự do của sự sống, được cảm hứng bởi mục đích, từ bảy hành tinh. Giờ đây y biết rằng tất cả hợp thành một ban điều hành vĩ đại, đan kết chặt chẽ, qua đó Ý Chí của Thượng Đế đang được thực hiện. Giờ đây y biết chính mình là một phần rất nhỏ của Toàn Thể vĩ đại đan kết ấy, một nguyên tử hữu thức có trách nhiệm trong chu vi của nó. Rồi khi y tiếp tục tiến bước và học quy phục Định luật của Bảy Bổ Sung, y nhận ra rằng, xét từ góc độ sự sống và thông qua sự điều hướng có ý thức của chính y, vốn được phát triển dần dần, mọi quyền năng của thiên tính đều thuộc về y để sử dụng, một khi y có thể được tin cậy, như điểm đạo đồ cao cấp luôn có thể được tin cậy. Bấy giờ y được giải phóng để hợp tác trọn vẹn với mục đích nằm sau Thiên Cơ. Y đã vượt ra khỏi giới nhân loại để bước vào Thánh Đoàn; về sau y sẽ vượt ra khỏi nhóm Thánh Đoàn để bước vào Shamballa, hoặc hoàn toàn vượt ra khỏi sự sống hành tinh của chúng ta, và dù ở đây hay ở đó, y sẽ bắt đầu một sự phụng sự lớn lao và rộng mở hơn.

Coming down to the immediate practical issues, the initiate is confronted with the problem of work within the individual framework, for I am not here dealing with the [Page 155] requirements for the initiations above or beyond the third. Here the initiate has reached the point where he grasps the significant fact that the way into the innermost Center is most securely guarded; no one can pass onward and take those more advanced steps which admit into the higher worlds of being and of unparalleled potency until he has demonstrated within the framework of his own life a definite control of energy (and this the black adept also possesses), purity of motive (which the black adept can likewise have, if by purity of motive you mean single-hearted and one-pointed intent), deep love of humanity (which the black adept never has), selflessness, willingness to follow the light wherever it may lead, ability to begin work within the larger framework the moment such an attempt becomes possible, clear vision and spiritual insight, a developed intuition, and an undeviating intention and strong faith in the future. When these qualities begin to show themselves, it then becomes possible to admit the initiate to further advancement upon the Way.

Xét đến các vấn đề thực tiễn trước mắt, điểm đạo đồ đối diện với vấn đề làm việc trong khuôn khổ cá nhân, vì ở đây tôi không bàn đến các [Page 155] yêu cầu dành cho những lần điểm đạo trên hoặc vượt quá lần thứ ba. Ở đây điểm đạo đồ đã đạt đến điểm mà y nắm bắt sự kiện đầy thâm nghĩa rằng con đường vào Trung Tâm nội tại sâu thẳm nhất được canh giữ hết sức nghiêm mật; không ai có thể đi tiếp và thực hiện những bước cao cấp hơn vốn cho phép đi vào các thế giới bản thể cao hơn và của quyền năng vô song cho đến khi y đã chứng minh, trong khuôn khổ đời sống của chính mình, một sự kiểm soát rõ rệt đối với năng lượng, điều này chân sư hắc đạo cũng có; sự thanh khiết của động cơ, điều mà chân sư hắc đạo cũng có thể có, nếu qua sự thanh khiết của động cơ bạn muốn nói đến ý định toàn tâm và nhất tâm; lòng bác ái sâu xa đối với nhân loại, điều mà chân sư hắc đạo không bao giờ có, tính vô ngã, sự sẵn lòng đi theo ánh sáng đến bất cứ nơi nào ánh sáng dẫn dắt, khả năng bắt đầu làm việc trong khuôn khổ rộng lớn hơn ngay khi một nỗ lực như thế trở nên khả thi, tầm nhìn rõ ràng và tuệ giác tinh thần, trực giác đã phát triển, cùng một ý định không lệch hướng và niềm tin mạnh mẽ vào tương lai. Khi những phẩm tính này bắt đầu tự biểu lộ, bấy giờ việc cho phép điểm đạo đồ tiến xa hơn trên Con Đường trở nên khả dĩ.

It is believed to be safe for him now to move on a few more steps into greater light, and then—having reached his next point of testing—he must there again demonstrate the rightness of his work within the individual framework and his ability to work within the greater framework in group formation. He must appreciate the fact that as he passes upon the upward way he may not safely so do without the safeguards which protect the Way from him until he knows more; he must learn also that the group protects him and that only with the group can he proceed with security; he begins to realize that the group is not only a protection but also his chosen and destined field of service. He begins to learn with his group the meaning of the “united breath” referred to in the rule, and also to work with the group in unified rhythm.”

Người ta tin rằng hiện nay y có thể an toàn tiến thêm vài bước vào ánh sáng lớn hơn, rồi—khi đã đạt tới điểm thử thách kế tiếp—tại đó y lại phải chứng minh sự đúng đắn của công việc của mình trong khuôn khổ cá nhân, và khả năng làm việc trong khuôn khổ rộng lớn hơn theo đội hình nhóm. Y phải thấu hiểu sự thật rằng khi đi trên con đường đi lên, y không thể an toàn tiến bước nếu thiếu những biện pháp bảo vệ giữ gìn Đường Đạo khỏi y cho đến khi y biết nhiều hơn; y cũng phải học rằng nhóm bảo vệ y, và chỉ với nhóm y mới có thể tiến bước trong an toàn; y bắt đầu nhận ra rằng nhóm không chỉ là một sự bảo vệ mà còn là lĩnh vực phụng sự do y lựa chọn và đã được định sẵn. Y bắt đầu học cùng với nhóm của y ý nghĩa của “hơi thở hợp nhất” được nói đến trong quy luật, và cũng học cách làm việc với nhóm trong nhịp điệu hợp nhất.”

Thus he goes from strength to strength. All the time the Hierarchy is aiding in his development and at the same time protecting the Way from him until such time as glamor cannot reach him. This individual security of his [Page 156] is only reached between the time of taking the second initiation and the third. Prior to that, he is still regarded as a potential hazard and as unstable. After that, he may suffer from illusion, but there is then no fear of his permanently turning back and reaching the left-hand path and so perhaps, in rare cases, finding his way into the Black Lodge. The major liability of the average initiate is sloth[2] or lack of speed. Ponder on that.

Như vậy, y tiến từ sức mạnh này đến sức mạnh khác. Trong suốt thời gian ấy, Thánh Đoàn đang trợ giúp sự phát triển của y, đồng thời bảo vệ Đường Đạo khỏi y cho đến khi ảo cảm không còn có thể chạm tới y. Sự an toàn cá nhân này của y [Page 156] chỉ đạt được trong khoảng thời gian giữa lần điểm đạo thứ hai và lần thứ ba. Trước đó, y vẫn được xem là một mối nguy tiềm tàng và còn bất ổn. Sau đó, y có thể chịu tác động của ảo tưởng, nhưng khi ấy không còn nỗi lo rằng y sẽ quay lui vĩnh viễn, đi vào tả đạo và như thế, có lẽ trong những trường hợp hiếm hoi, tìm đường vào Hắc đoàn. Trở ngại chính của điểm đạo đồ trung bình là sự biếng nhác hay thiếu tốc độ. Hãy suy ngẫm về điều đó.

I would have you grasp clearly the highly condensed presentation I have given you. Some of it you know already but it is the synthetic presentation which I would have you appreciate and appropriate. We can then take up the work to be done within the individual framework by the initiate; I will endeavor to help you to understand somewhat more clearly what the initiate-consciousness would read into the Law of the Supplementary Seven.

Tôi muốn các bạn nắm bắt rõ phần trình bày hết sức cô đọng mà tôi đã trao cho các bạn. Một phần trong đó các bạn đã biết rồi, nhưng chính sự trình bày tổng hợp này là điều tôi muốn các bạn lĩnh hội và biến thành của mình. Khi ấy, chúng ta có thể bàn đến công việc cần được thực hiện trong khuôn khổ cá nhân do điểm đạo đồ; tôi sẽ cố gắng giúp các bạn thấu hiểu rõ hơn đôi chút điều mà tâm thức điểm đạo đồ sẽ đọc thấy trong Định luật của Bảy Bổ Sung.

Beginning with this eighth rule which we are now studying, we enter upon the consideration of certain major unfoldment, major spiritual happenings and a series of major awakenings in consciousness which are in the nature of events. These involve likewise certain major recognitions and appreciations which will affect the initiate increasingly and bring about his eventual attainment. These are the factors which condition the date of his achievement and not the character undertakings and the soul contacts which are so necessary upon the Path of Probation and upon the Path of Discipleship.

Bắt đầu với quy luật thứ tám này, điều chúng ta hiện đang nghiên cứu, chúng ta bước vào việc xem xét một số sự khai mở lớn lao, những biến cố tinh thần trọng đại và một loạt những thức tỉnh lớn lao trong tâm thức, vốn mang tính chất của các sự kiện. Những điều này cũng bao hàm một số nhận biết và lĩnh hội trọng đại, sẽ ngày càng tác động đến điểm đạo đồ và đưa đến thành tựu sau cùng của y. Chính những điều này là các yếu tố quyết định thời điểm thành tựu của y, chứ không phải những nỗ lực rèn luyện tính cách và những tiếp xúc với linh hồn vốn rất cần thiết trên Con Đường Dự Bị và trên Con Đường Đệ Tử.

The Law of The Supplementary Seven

Định luật của Bảy Bổ Sung

We are principally concerned at this point with the interpretation of the Law of the Supplementary Seven. It must be remembered that the Laws of Nature are imposed upon the mass of men, and cannot be avoided. If these laws are broken, infringed or evaded, they carry their own penalty within themselves, and this also cannot be avoided. These great protective laws are intended to guard the personalities through which the soul incarnates and eventually to cement and further all the great and possible relationships. The man passes from the stage of antagonism (as an individual) to the control of these natural though divine [Page 157] laws, to a recognition of their inevitability and of their wisdom. They automatically then control him.

Ở điểm này, chúng ta chủ yếu quan tâm đến việc diễn giải Định luật của Bảy Bổ Sung. Cần nhớ rằng Các Định luật của Tự nhiên được áp đặt lên đại chúng nhân loại và không thể tránh khỏi. Nếu các định luật này bị phá vỡ, vi phạm hay lẩn tránh, chúng mang sẵn hình phạt trong chính chúng, và điều này cũng không thể tránh khỏi. Những định luật bảo hộ lớn lao này nhằm gìn giữ các phàm ngã mà qua đó linh hồn nhập thể, và rốt cuộc nhằm củng cố cũng như thúc đẩy tất cả những mối quan hệ lớn lao và khả hữu. Con người chuyển từ giai đoạn đối kháng với tư cách một cá nhân, sang sự kiểm soát của các định luật tự nhiên nhưng thiêng liêng [Page 157] này, rồi đến sự nhận biết tính tất yếu và minh triết của chúng. Khi ấy, chúng tự động kiểm soát y.

When this control by the Laws of Nature has become complete, the man becomes an aspirant and begins to come under the Laws of the Soul, which are laws concerned primarily with the establishing of the great Fellowship of the Universe. There has been much confusion among esotericist upon these points. They confuse the discipline to which the personality has to submit when coming under soul influence, with the Laws of the Soul which have naught to do with the petty little affairs of the personality—unimportant and unnoticed by the soul on its own plane—but with the growing recognition of right group relations; these are based upon a growing understanding of the hierarchical mode of work and of inter-hierarchical relationships. The Laws of Nature, therefore, concern the activities of the soul in form and are mandatory and accepted by the form nature. The Laws of the Soul concern the life of the soul upon its own plane, and the relation which the blending soul and personality learn to establish with other souls and with the Hierarchy. These are consciously and voluntarily obeyed, and are not just accepted as mandatory and as forced upon the man by force of circumstances, experience and evolution. They tend to bring about increasing relation between the Hierarchy of Souls and Humanity as a whole, between the great planetary center which is the custodian of the principle of love and the planetary center, humanity, which nurtures and distributes the energy of mind.

Khi sự kiểm soát bởi Các Định luật của Tự nhiên đã trở nên trọn vẹn, con người trở thành người chí nguyện và bắt đầu đi vào phạm vi của Các Định luật của Linh hồn, là những định luật chủ yếu liên quan đến việc thiết lập Tình Huynh Đệ vĩ đại của Vũ Trụ. Đã có nhiều nhầm lẫn trong hàng ngũ các nhà bí truyền học về những điểm này. Họ lẫn lộn kỷ luật mà phàm ngã phải tuân phục khi đi vào ảnh hưởng của linh hồn, với Các Định luật của Linh hồn, vốn không liên quan gì đến những việc nhỏ nhặt tầm thường của phàm ngã—không quan trọng và không được linh hồn trên cõi riêng của nó lưu ý—mà liên quan đến sự nhận biết ngày càng tăng về các quan hệ nhóm đúng đắn; những quan hệ này đặt nền trên sự thấu hiểu ngày càng lớn về phương thức làm việc của Thánh Đoàn và các mối quan hệ liên-Thánh Đoàn. Do đó, Các Định luật của Tự nhiên liên quan đến các hoạt động của linh hồn trong hình tướng, có tính bắt buộc và được bản chất hình tướng chấp nhận. Các Định luật của Linh hồn liên quan đến đời sống của linh hồn trên cõi riêng của nó, và mối quan hệ mà linh hồn cùng phàm ngã đang hòa nhập học cách thiết lập với những linh hồn khác và với Thánh Đoàn. Những định luật này được tuân theo một cách có ý thức và tự nguyện, chứ không chỉ được chấp nhận như điều bắt buộc và bị áp đặt lên con người bởi sức ép của hoàn cảnh, kinh nghiệm và tiến hoá. Chúng có khuynh hướng tạo nên mối liên hệ ngày càng tăng giữa Huyền Giai các Linh hồn và Nhân loại xét như một toàn thể, giữa trung tâm hành tinh vĩ đại vốn là vị gìn giữ nguyên khí bác ái, và trung tâm hành tinh là nhân loại, vốn nuôi dưỡng và phân phối năng lượng của trí tuệ.

The Law of the Supplementary Seven is the great synthetic Law of Life or of Spirit and is the law with which the initiate works; it is this law he wields. From acceptance of the laws of nature and obedience to the laws of the soul, he passes into the positive phase of understanding and wielding the Law of Life. Because this is a governing law for all initiates, and because we know that the nature of life-energy or of spirit cannot be grasped until after the third initiation, it is exceedingly difficult for me to write in explanation of this law. You have not yet the initiate [Page 158] consciousness. I have therefore had to express this law in terms of form, whereas the initiate understands it from its formless angle.

Định luật của Bảy Bổ Sung là Định luật Sự Sống tổng hợp vĩ đại, hay Định luật của Tinh thần, và là định luật mà điểm đạo đồ vận dụng; chính định luật này y sử dụng. Từ việc chấp nhận các định luật của tự nhiên và vâng theo các định luật của linh hồn, y chuyển sang giai đoạn tích cực của việc thấu hiểu và vận dụng Định luật Sự Sống. Vì đây là một định luật cai quản mọi điểm đạo đồ, và vì chúng ta biết rằng bản chất của năng lượng-sự sống hay của tinh thần không thể được nắm bắt cho đến sau lần điểm đạo thứ ba, nên tôi vô cùng khó viết lời giải thích về định luật này. Các bạn chưa có [Page 158] tâm thức điểm đạo đồ. Do đó, tôi đã phải diễn đạt định luật này theo ngôn ngữ của hình tướng, trong khi điểm đạo đồ thấu hiểu nó từ góc độ vô hình tướng.

This law is concerned with the wielding of energy in the world of the Spiritual Triad and not with the distribution or the transmission of this energy to the three worlds in which average humanity habitually dwells. Right wielding of this law (controlling energy in the initiatory world of causes) automatically brings about activity, movement, force expression, and right distribution of these forces in the lower three worlds. These are, under the evolutionary law, direct reflections of the three higher worlds of the triadal light and life. Motivation, the use of the eye of vision (turned this time by the initiate functioning in the world of causes upon the worlds of human living), and the correct direction of force in cooperation with the hierarchical Plan condition all the activities of the initiate working with this law. Clearer than this I cannot be.

Định luật này liên quan đến sự vận dụng năng lượng trong thế giới của Tam Nguyên Tinh Thần chứ không liên quan đến việc phân phối hay truyền dẫn năng lượng này đến ba cõi thấp nơi nhân loại trung bình thường cư trú. Việc vận dụng đúng định luật này, tức kiểm soát năng lượng trong thế giới điểm đạo của các nguyên nhân, tự động đem lại hoạt động, chuyển động, sự biểu lộ mãnh lực và sự phân phối đúng các mãnh lực này trong ba cõi thấp. Theo định luật thăng thượng tiến hoá, những cõi này là phản ánh trực tiếp của ba thế giới cao hơn thuộc ánh sáng và sự sống Tam Nguyên. Động cơ, việc sử dụng con mắt của tầm nhìn, lần này do điểm đạo đồ đang hoạt động trong thế giới của các nguyên nhân hướng về các thế giới sinh hoạt của con người, và sự điều hướng đúng đắn mãnh lực trong sự hợp tác với Thiên Cơ của Thánh Đoàn định hình mọi hoạt động của điểm đạo đồ đang làm việc với định luật này. Tôi không thể nói rõ hơn thế.

This Law of the Supplementary Seven is concerned with the inflow of energy from the seven planetary centers to the seven groups or types of men, via the seven groups within the Hierarchy. In this work of transmission, the seven centers of the initiate are used as agencies; their work, therefore, is not the interrelated work of right transmission of energy within the septenary constitution of the etheric body of the individual initiate, implementing his life expression, but is the task of being responsive to the seven types of planetary energy which are received in a pure state. It is then channeled through the seven centers, in the initiate’s etheric vehicle and out into the world of men as regenerative and constructive forces. These living spiritual energies—transmitted by the individual initiate from the planetary centers—are handled by him under a great uniform plan and are the means whereby salvation (to use an old familiar word) can come to the aid of humanity. This is the “saving force” in its various aspects, of which the Great Invocation speaks: “The hour of service of the Saving Force has now arrived”. (The Externalization of the Hierarchy, Page 249.) [Page 159] The high Initiates (Those above the rank of Master) work with the energies coming from the seven planets of the solar system at this time active; these feed or implement the seven planetary centers. But the Law of the Supplementary Seven is applied by initiates below the rank of Master, and they are therefore working solely with the seven centers within the Form of the One in Whom we live and move and have our being.

Định luật Bảy Bổ Sung này liên quan đến dòng năng lượng tuôn vào từ bảy trung tâm hành tinh đến bảy nhóm hay bảy kiểu người, thông qua bảy nhóm trong Thánh Đoàn. Trong công việc truyền dẫn này, bảy trung tâm của điểm đạo đồ được sử dụng như những cơ quan trung gian; vì vậy, công việc của chúng không phải là công việc tương liên nhằm truyền dẫn đúng năng lượng trong cấu tạo thất phân của thể dĩ thái nơi từng điểm đạo đồ, để thực thi sự biểu lộ đời sống của y, mà là nhiệm vụ đáp ứng với bảy loại năng lượng hành tinh được tiếp nhận trong trạng thái tinh thuần. Bấy giờ năng lượng ấy được dẫn qua bảy trung tâm trong vận cụ dĩ thái của điểm đạo đồ và tuôn ra thế giới con người như những mãnh lực tái sinh và kiến tạo. Những năng lượng tinh thần sống động này—do từng điểm đạo đồ truyền dẫn từ các trung tâm hành tinh—được y vận dụng theo một đại Thiên Cơ thống nhất, và là phương tiện nhờ đó sự cứu rỗi, dùng một từ cổ quen thuộc, có thể đến trợ giúp nhân loại. Đây là “Mãnh Lực Cứu Rỗi” trong các phương diện khác nhau, mà Đại Khấn Nguyện nói đến: “Giờ phụng sự của Mãnh Lực Cứu Rỗi nay đã đến”. (Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn, Trang 249.) [Trang 159] Các điểm đạo đồ cao cấp, tức Những Đấng trên cấp bậc Chân sư, làm việc với các năng lượng đến từ bảy hành tinh của hệ mặt trời hiện đang hoạt động; các năng lượng này nuôi dưỡng hay thực thi bảy trung tâm hành tinh. Nhưng Định luật Bảy Bổ Sung được các điểm đạo đồ dưới cấp bậc Chân sư áp dụng, và vì thế các vị ấy chỉ làm việc với bảy trung tâm trong Hình Tướng của Đấng Duy Nhất mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu.

One of their first tasks is to bring about a free flow and right energy relations between the three major centers in our planet which correspond to the head, heart and throat centers in man. They are occupied with the circulation of energy between Shamballa, the Hierarchy and Humanity. This circulation, which for the first time in planetary history includes the highest center, Shamballa, is not yet completely established. Shamballa has been in touch with the center called Humanity by impact several times in the history of the race. But there has been no reciprocal action and no free flow. Humanity has taken the impact of energy and this impact has wrought changes in the activity of the center, but there has been no “responsive return,” as it is esoterically called, and hence no circulation. The Shamballa force has hitherto been transmitted via the Hierarchy. For the first time, and in this century there has been direct impact. The diagram on page 160 may make this clearer.

Một trong những nhiệm vụ đầu tiên của các vị ấy là tạo nên một dòng chảy tự do và những tương quan năng lượng đúng đắn giữa ba trung tâm chính trong hành tinh chúng ta vốn tương ứng với các trung tâm đầu, tim và cổ họng nơi con người. Các vị ấy chuyên chú vào sự tuần hoàn năng lượng giữa Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân Loại. Sự tuần hoàn này, lần đầu tiên trong lịch sử hành tinh bao gồm trung tâm cao nhất là Shamballa, vẫn chưa được thiết lập hoàn toàn. Shamballa đã tiếp xúc với trung tâm gọi là Nhân Loại bằng sự tác động vài lần trong lịch sử nhân loại. Nhưng chưa có tác động qua lại và chưa có dòng chảy tự do. Nhân Loại đã tiếp nhận tác động của năng lượng, và tác động này đã tạo nên những thay đổi trong hoạt động của trung tâm ấy, nhưng chưa có “sự hồi đáp đáp ứng”, như cách gọi huyền bí, và do đó chưa có sự tuần hoàn. Mãnh lực Shamballa cho đến nay vẫn được truyền dẫn qua Thánh Đoàn. Lần đầu tiên, và trong thế kỷ này, đã có sự tác động trực tiếp. Sơ đồ ở trang 160 có thể làm điều này rõ hơn.

We shall eventually have a free circulation and a veritable vortex of force set up between the three centers; it will be of such an increasing radiatory activity that—moving in both directions around the three centers—it will eventually contact the radiations emanating from the other four centers of the planetary Life, thus completing the interplay and the interrelation between all seven. These four include the three lower kingdoms of nature and a certain basic center (corresponding to the center at the base of the spine in man) about which nothing is as yet known nor will be known for ages to come. [Page 160]

Rốt cuộc, chúng ta sẽ có một sự tuần hoàn tự do và một xoáy lực thực sự được thiết lập giữa ba trung tâm; nó sẽ có hoạt động phát xạ ngày càng gia tăng đến mức, khi chuyển động theo cả hai hướng quanh ba trung tâm, cuối cùng nó sẽ tiếp xúc với các phát xạ xuất lộ từ bốn trung tâm kia của Sự Sống hành tinh, nhờ đó hoàn tất sự tác động qua lại và mối tương quan giữa cả bảy trung tâm. Bốn trung tâm này bao gồm ba giới thấp của thiên nhiên và một trung tâm căn bản nào đó, tương ứng với trung tâm ở đáy cột sống nơi con người, mà hiện nay chưa biết gì về nó và cũng sẽ chưa biết trong nhiều thời đại sắp tới. [Trang 160]

Illustration

The importance, therefore, of the center which we call Humanity will be apparent. The Secret Doctrine has ever taught that mankind has a special function in saving and regenerating nature. The “saving force”—a circulatory combination of the three major energies—is radiated by humanity as a group-creative impulse, and this gradually sweeps all forms of life into the field of its magnetic potency, thus relating them (or rather the soul of each kingdom) to the Hierarchy and to Shamballa. This involves a great mystery which is closely tied up—little as you may realize it—with the doctrine of Avatars or of World Saviors.

Vì vậy, tầm quan trọng của trung tâm mà chúng ta gọi là Nhân Loại sẽ trở nên hiển nhiên. Giáo Lý Bí Nhiệm luôn dạy rằng nhân loại có một chức năng đặc biệt trong việc cứu rỗi và tái sinh thiên nhiên. “Mãnh Lực Cứu Rỗi”—một tổ hợp tuần hoàn của ba năng lượng chính—được nhân loại phát xạ như một xung lực sáng tạo theo nhóm, và điều này dần dần cuốn mọi hình tướng sự sống vào trường quyền năng từ tính của nó, qua đó liên kết chúng, hay đúng hơn là linh hồn của mỗi giới, với Thánh Đoàn và với Shamballa. Điều này hàm chứa một huyền nhiệm lớn, gắn bó mật thiết—dù các bạn có thể ít nhận ra—với giáo lý về các Đấng Hoá Thân hay các Đấng Cứu Thế của Thế Gian.

It is in this connection that the words I gave you previously are pertinent[3]: [Page 161]

Chính trong mối liên hệ này mà những lời tôi đã trao cho các bạn trước đây trở nên thích đáng: [Trang 161]

1. “The group must understand the nature of the Three.” This will be seen to refer to the three major centers and the nature of their relationship, and not specifically to the Trinity.

1. “Nhóm phải thấu hiểu bản chất của Ba.” Điều này sẽ được thấy là ám chỉ ba trung tâm chính và bản chất mối quan hệ của chúng, chứ không đặc biệt ám chỉ Ba Ngôi.

2. “The nature of the One must be grasped and comprehended.” This has reference to the fact that our planetary Life is Itself a center within a still greater Life, and is today one of the three planetary centers (even if not yet one of the seven sacred planets) which are the custodians of the force, in process of transmission, which will be to the greater Life what Shamballa, the Hierarchy and Humanity are to our planetary Logos.

2. “Bản chất của Đấng Duy Nhất phải được nắm bắt và thấu hiểu.” Điều này liên quan đến sự kiện rằng Sự Sống hành tinh của chúng ta chính nó là một trung tâm trong một Sự Sống còn lớn hơn nữa, và ngày nay là một trong ba trung tâm hành tinh, dù chưa phải là một trong bảy hành tinh thiêng liêng, vốn là những vị gìn giữ mãnh lực đang trong tiến trình truyền dẫn; mãnh lực này đối với Sự Sống lớn hơn sẽ tương ứng với vai trò của Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân Loại đối với Hành Tinh Thượng đế của chúng ta.

3. “The group must work through the medium of the united breath.” This deals with the processes of circulation, for the breath is the life and pours through all the centers.

3. “Nhóm phải làm việc qua phương tiện của hơi thở hợp nhất.” Điều này đề cập đến các tiến trình tuần hoàn, vì hơi thở là sự sống và tuôn chảy qua mọi trung tâm.

4. “The group must attain a unified rhythm.” This has no reference in reality to the work of a group of disciples, but to a group of centers of life, such as the three major centers or the entire group of seven centers.

4. “Nhóm phải đạt đến một nhịp điệu hợp nhất.” Trong thực tế, điều này không liên quan đến công việc của một nhóm đệ tử, mà liên quan đến một nhóm các trung tâm sự sống, chẳng hạn như ba trung tâm chính hay toàn bộ nhóm bảy trung tâm.

A study of these ideas may carry illumination, but I would again remind you that I write for initiates, living at a later period in this century and in the next.

Việc nghiên cứu những ý tưởng này có thể đem lại sự soi sáng, nhưng tôi xin nhắc lại với các bạn rằng tôi viết cho các điểm đạo đồ sống vào giai đoạn muộn hơn trong thế kỷ này và trong thế kỷ tới.

In considering this Law of the Supplementary Seven, I would like to point out that the word “supplementary” is of real significance. It brings in a factor of great interest, from the angle of initiation. You must bear in mind that when the antahkarana is constructed and in use, there is consequently a free play of energy in a direct line between the Spiritual Triad and the personality; i.e., between the Monad and its “earthly anchor.” You will also remember that the soul body, the form on the higher levels of the mental plane which has “shrouded” the soul, eventually disappears. This, as you know, takes place at the fourth initiation and is one of the best recognized facts in the occult teaching. In the three worlds, the correspondence to this disappearance of the form of the second divine aspect, the soul, is the dissolution of the astral body—the second aspect [Page 162] of the personality. Then the personality stands free from its control. Sensitivity and reaction to contact in the three worlds has been perfectly developed, but it no longer holds the disciple a prisoner.

Khi xem xét Định luật Bảy Bổ Sung này, Tôi muốn chỉ ra rằng từ “bổ sung” có thâm nghĩa thật sự. Nó đưa vào một yếu tố rất đáng quan tâm, xét từ góc độ điểm đạo. Các bạn phải ghi nhớ rằng khi antahkarana đã được kiến tạo và đưa vào sử dụng, do đó có một sự lưu chuyển năng lượng tự do theo đường trực tiếp giữa Tam Nguyên Tinh Thần và phàm ngã; tức là, giữa chân thần và “neo đậu trần thế” của nó. Các bạn cũng sẽ nhớ rằng thể linh hồn, hình tướng trên các cấp cao của cõi trí vốn đã “che phủ” linh hồn, cuối cùng sẽ biến mất. Như các bạn biết, điều này diễn ra ở lần điểm đạo thứ tư và là một trong những sự kiện được công nhận rõ nhất trong giáo huấn huyền bí. Trong ba cõi giới, sự tương ứng với việc biến mất của hình tướng thuộc phương diện thiêng liêng thứ hai, tức linh hồn, là sự tan rã của thể cảm dục—phương diện thứ hai [Page 162] của phàm ngã. Khi ấy phàm ngã thoát khỏi sự kiểm soát của nó. Sự nhạy cảm và phản ứng với tiếp xúc trong ba cõi giới đã được phát triển hoàn hảo, nhưng nó không còn giam giữ đệ tử như một tù nhân nữa.

Then, at a later stage upon the Path of Initiation, the causal body also disappears and the initiate stands free in the three worlds. The astral body and the causal or soul body are—in the language of esotericism—supplementary to reality. They have had a temporary reality during the evolutionary process, but (having served their purpose and having endowed man with certain required assets—consciousness, feeling, sensitivity, the ability to establish and register contact) they pass away and the initiate remains, possessed of power over form and a fully awakened consciousness. He is a soul and the fusion is complete.

Rồi, ở một giai đoạn về sau trên Con Đường Điểm Đạo, thể nguyên nhân cũng biến mất và điểm đạo đồ đứng tự do trong ba cõi giới. Thể cảm dục và thể nguyên nhân hay thể linh hồn, theo ngôn ngữ của huyền bí học, là những gì bổ sung cho thực tại. Chúng đã có một thực tại tạm thời trong tiến trình tiến hoá, nhưng sau khi đã phụng sự mục đích của mình và đã ban cho con người những năng lực cần thiết—tâm thức, cảm xúc, sự nhạy cảm, khả năng thiết lập và ghi nhận tiếp xúc—chúng qua đi, và điểm đạo đồ còn lại, sở hữu quyền năng đối với hình tướng và một tâm thức đã hoàn toàn thức tỉnh. Y là một linh hồn và sự dung hợp đã hoàn tất.

What is true of the individual is true too of the Heavenly Man, the planetary Logos. In the long period of a world cycle there comes a time when the Hierarchy itself, as a body organized and functioning in order to implement certain evolutionary ends, is no longer needed. It is then regarded as “supplementary,” and under the Law its life, its potency and its entire consciousness are absorbed into the planetary head center, Shamballa. A great process of abstraction or of withdrawal takes place, covering necessarily a long period of time, and which is consummated only when evolution—as we know it—comes to an end and the planetary Life (again as we know it) also comes to an end. This process of abstraction is always going on. Men become disciples and then initiates. Some stay as hierarchical workers, choosing to work with the planetary forces of evolution. Others pass on into the great Council Chamber of the Lord of the World, and still others pass out of our planetary ring-pass-not altogether.

Điều đúng với cá nhân cũng đúng với Đấng Thiên Nhân, tức Hành Tinh Thượng đế. Trong thời kỳ dài của một chu kỳ thế giới, sẽ đến lúc chính Thánh Đoàn, như một cơ thể được tổ chức và hoạt động nhằm thực hiện một số mục tiêu tiến hoá, không còn cần thiết nữa. Khi ấy Thánh Đoàn được xem là “bổ sung”, và theo Định luật, sự sống, quyền năng và toàn bộ tâm thức của Thánh Đoàn được hấp thu vào trung tâm đầu hành tinh, Shamballa. Một tiến trình trừu xuất hay thu hồi vĩ đại diễn ra, nhất thiết kéo dài qua một thời kỳ lâu dài, và chỉ hoàn tất khi tiến hoá—như chúng ta biết—đi đến hồi kết, và Sự Sống hành tinh, cũng như chúng ta biết, cũng đi đến hồi kết. Tiến trình trừu xuất này luôn luôn đang diễn ra. Con người trở thành đệ tử rồi thành điểm đạo đồ. Một số ở lại làm những người hoạt động trong Thánh Đoàn, chọn làm việc với các mãnh lực tiến hoá của hành tinh. Những người khác đi vào Đại Phòng Hội Đồng của Đức Chúa Tể Thế Giới, và những người khác nữa hoàn toàn vượt ra ngoài vòng-giới-hạn hành tinh của chúng ta.

Thus the Law of the Supplementary Seven is ever in force. It functions in the processes going on in the seven centers of the individual man, gathering energy from one center into another until all are centered, controlled and directed in the head. In the stage of what the Hindus call [Page 163] “samadhi” the vital energies from all the centers are concentrated in the highest head center in the etheric body, in the area just above the physical head. Thus the analogy is complete. The processes of abstraction are (as you may thus see) connected with the life aspect, are set in motion by an act of the spiritual will, and constitute the “resurrection principle which lies hidden in the work of the Destroyer,” as an old esoteric saying expresses it. The lowest manifestation of this principle is to be seen in the process of what we call Death—which is in reality a means of abstracting the life principle, informed by consciousness, from the form or the bodies in the three, worlds.

Do đó, Định luật Bảy Bổ Sung luôn luôn tác động. Nó vận hành trong các tiến trình đang diễn ra nơi bảy trung tâm của con người cá nhân, gom năng lượng từ trung tâm này sang trung tâm khác cho đến khi tất cả đều được quy tụ, kiểm soát và định hướng trong đầu. Trong giai đoạn của điều mà người Ấn Độ gọi là [Page 163] “đại định”, các năng lượng sinh lực từ tất cả các trung tâm được tập trung trong trung tâm đầu cao nhất nơi thể dĩ thái, ở vùng ngay phía trên đầu thể xác. Như vậy, sự tương đồng đã hoàn chỉnh. Các tiến trình trừu xuất, như các bạn có thể thấy, liên hệ với phương diện sự sống, được khởi động bởi một hành vi của ý chí tinh thần, và cấu thành “nguyên khí phục sinh vốn ẩn tàng trong công trình của Đấng Hủy Diệt”, như một câu nói huyền bí xưa diễn tả. Biểu hiện thấp nhất của nguyên khí này được thấy trong tiến trình mà chúng ta gọi là Cái Chết—vốn trong thực tại là một phương tiện trừu xuất nguyên khí sự sống, đã được tâm thức thấm nhuần, khỏi hình tướng hay các thể trong ba cõi giới.

Thus, the great synthesis emerges, and destruction, death, and dissolution are in reality naught but life processes. Abstraction is indicative of process, progress and development.

Như vậy, cuộc tổng hợp vĩ đại hiện ra, và hủy diệt, cái chết cùng sự tan rã trong thực tại chẳng là gì khác hơn các tiến trình của sự sống. Sự trừu xuất là dấu hiệu của tiến trình, tiến bộ và phát triển.

It is this aspect of the Law of Life (or the Law of Synthesis as it is called in certain larger connotations) with which the initiate specifically deals when wielding the Law of the Supplementary Seven. The group angle of the matter can be seen if you remember that the individual initiate, when wielding this law, draws upon the united energy of the Will as the group is expressing it in “unified rhythm.” It is by the use of the “united breath” of the entire group (as much of it as his individual will can assimilate, focus, use and direct) that he augments his own will and its directed force. The breath, as we well know, is the life; this Law is the one wielded by the living or risen Christ, in perfect harmony with the will of Shamballa. Herein lies one of the mysteries of the resurrection initiation about which so little has been told, and it is the very heart of the mystery of the ascension initiation. In this latter initiation the living risen Christ withdraws or abstracts Himself and enters consciously and permanently into the great center, Shamballa. The resurrection and the ascension are the results of the death or destruction of the causal body. It can be seen, therefore, how true the Gospel story is to the purposes of Shamballa.

Chính phương diện này của Định luật Sự Sống, hay Định luật Tổng Hợp như nó được gọi trong một số hàm nghĩa rộng lớn hơn, là điều mà điểm đạo đồ đặc biệt xử lý khi vận dụng Định luật Bảy Bổ Sung. Góc độ tập thể của vấn đề có thể được thấy nếu các bạn nhớ rằng điểm đạo đồ cá nhân, khi vận dụng định luật này, rút lấy năng lượng hợp nhất của Ý Chí như nhóm đang biểu lộ nó trong “nhịp điệu hợp nhất”. Chính nhờ sử dụng “hơi thở hợp nhất” của toàn thể nhóm, trong mức độ mà ý chí cá nhân của y có thể đồng hoá, tập trung, sử dụng và định hướng, mà y tăng cường ý chí của chính mình và mãnh lực được định hướng của nó. Hơi thở, như chúng ta biết rõ, là sự sống; Định luật này là định luật được Đức Christ sống động hay phục sinh vận dụng, trong sự hài hòa hoàn hảo với ý chí của Shamballa. Chính trong đây có một trong những huyền nhiệm của cuộc điểm đạo phục sinh mà rất ít điều đã được kể lại, và đó là chính trái tim của huyền nhiệm trong cuộc điểm đạo thăng thiên. Trong cuộc điểm đạo sau này, Đức Christ sống động phục sinh rút lui hay tự trừu xuất chính Ngài và đi vào một cách hữu thức, vĩnh viễn trong trung tâm vĩ đại, Shamballa. Sự phục sinh và sự thăng thiên là kết quả của cái chết hay sự hủy diệt thể nguyên nhân. Do đó, có thể thấy câu chuyện Phúc Âm trung thực biết bao đối với các mục đích của Shamballa.

Let us now briefly interpret or rather paraphrase the [Page 164] four sentences by means of which I have sought to embody this law, or as much of it as it is possible to put into words, for the enlightenment of the initiates of the future.

Giờ đây chúng ta hãy diễn giải ngắn gọn, hay đúng hơn là diễn ý, [Page 164] bốn câu mà Tôi đã tìm cách dùng để thể hiện định luật này, hay phần nào của nó có thể đưa vào ngôn từ, nhằm soi sáng các điểm đạo đồ tương lai.

1. The Law demands the entrance of that which can effect a change.

1. Định luật đòi hỏi sự đi vào của cái có thể tạo nên một thay đổi.

Bearing in mind what I have elsewhere given, it is obvious that that which must find entrance is that vital concentrated will which, when set in motion in an individual, in a group, in a nation, in a kingdom of nature (a planetary center), and in the planet as a whole, i.e., in all the planetary centers simultaneously, will cause a stirring, a changed measure, a new movement and momentum, an uprising and a consequent abstraction. The changes wrought in the centers when the death of the physical body is taking place have never yet been observed or recorded; they are, however, definitely present to the eye of the initiate and prove most interesting and informative. It is the recognition of the condition of the centers which enables the initiate to know—when in process of bestowing healing—whether the physical healing of the body is permissible or not. He can see whether the will principle of abstraction to which I have been referring is actively present or not. The same process can be seen taking place in organizations and in civilizations in which the form aspect is being destroyed in order that the life may be abstracted and later again rebuild for itself a more adequate form. It is the same under the great processes of initiation, which are not only processes of expanding the consciousness but are rooted in the death or the abstraction process, leading to resurrection and ascension.

Khi ghi nhớ những gì Tôi đã trình bày ở nơi khác, rõ ràng điều phải tìm được lối vào là ý chí sống động được tập trung, vốn khi được khởi động trong một cá nhân, trong một nhóm, trong một quốc gia, trong một giới của thiên nhiên, tức một trung tâm hành tinh, và trong toàn bộ hành tinh, nghĩa là trong tất cả các trung tâm hành tinh cùng lúc, sẽ gây nên một sự khuấy động, một nhịp độ thay đổi, một chuyển động và đà lực mới, một sự trỗi dậy và một sự trừu xuất tiếp theo. Những thay đổi được tạo ra trong các trung tâm khi cái chết của thể xác đang diễn ra cho đến nay vẫn chưa từng được quan sát hay ghi nhận; tuy nhiên, chúng hiển hiện rõ ràng trước mắt điểm đạo đồ và chứng tỏ vô cùng lý thú cũng như giàu thông tin. Chính sự nhận biết trạng thái của các trung tâm cho phép điểm đạo đồ biết—khi đang trong tiến trình ban truyền chữa lành—liệu việc chữa lành hồng trần cho thể xác có được phép hay không. Y có thể thấy nguyên khí ý chí của sự trừu xuất mà Tôi đang nói đến có đang hiện diện một cách tích cực hay không. Cùng tiến trình ấy có thể được thấy đang diễn ra trong các tổ chức và các nền văn minh, nơi phương diện hình tướng đang bị phá hủy để sự sống có thể được trừu xuất và về sau lại xây dựng cho chính nó một hình tướng thích hợp hơn. Dưới các tiến trình điểm đạo vĩ đại cũng như vậy, vốn không chỉ là các tiến trình mở rộng tâm thức mà còn bắt rễ trong cái chết hay tiến trình trừu xuất, dẫn đến phục sinh và thăng thiên.

That which effects a change is a discharge (to use a totally inadequate phrase) of directed and focused will-energy. This is so magnetic in quality that it draws to itself the life of the centers, bringing about the dissolution of the form and the release of the life. Death comes to the individual man, in the ordinary sense of the term, when the will-to-live in a physical body goes and the will-to-abstract [Page 165] takes its place. This we call death. In cases of death in war, for instance, it is not then a case of the individual will-to-withdraw, but an enforced participation in a great group abstraction. From its own place, the soul of the individual man recognizes the end of a cycle of incarnation and recalls its life. This it does through a discharge of the will-energy that is strong enough to bring about the change.

Điều tạo ra một sự thay đổi là một sự phóng xả (dùng một cụm từ hoàn toàn không đầy đủ) của năng lượng ý chí được định hướng và tập trung. Năng lượng này có phẩm tính từ tính mạnh đến nỗi nó hút về chính mình sự sống của các trung tâm, tạo nên sự tan rã của hình tướng và sự giải thoát của sự sống. Cái chết đến với cá nhân con người, theo nghĩa thông thường của thuật ngữ này, khi ý chí-muốn-sống trong một thể xác ra đi và ý chí-muốn-trừu xuất [Page 165] thay thế nó. Điều này chúng ta gọi là chết. Chẳng hạn, trong các trường hợp tử vong nơi chiến tranh, khi ấy đó không phải là vấn đề ý chí cá nhân muốn rút lui, mà là sự tham dự bắt buộc vào một sự trừu xuất tập thể lớn lao. Từ vị trí riêng của mình, linh hồn của cá nhân con người nhận ra sự kết thúc của một chu kỳ lâm phàm và thu hồi sự sống của nó. Linh hồn làm điều này thông qua một sự phóng xả năng lượng ý chí đủ mạnh để tạo ra sự thay đổi.

2. The Law demands that right direction should then guide the entering forces.

2. Định luật đòi hỏi rằng sự định hướng đúng đắn khi ấy phải dẫn dắt các mãnh lực đang đi vào.

The entering forces, working under this law, are directed first of all to the head center, from thence to the ajna center and then to that center which has been the governing and most active center during the incarnation of the life principle. This varies according to the point reached upon the ladder of evolution, and according to the personality ray, with later the soul ray bringing about a major conditioning and change. In the work of the initiate who is consciously wielding this law, the principle of abstraction (when entering the body) is held focused in the head and is of such a magnetic potency that the energy of the remaining centers is rapidly gathered up and withdrawn. What is true of the individual process of abstracting the life principle, under the Law of the Supplementary Seven, is equally true of the process in all forms and in all groups of forms. Christ referred to this work of abstraction, as regards the third great planetary center, Humanity, when He said (and He was speaking as the Representative of the Hierarchy, the second planetary center into which all human beings achieving initiation are “withdrawn” esoterically), “I, if I be lifted up will draw all men unto me.” A different word to this word of His will be spoken at the end of the age when the Lord of the World will speak from Shamballa, will abstract the life principle from the Hierarchy, and all life and consciousness will then be focused in the planetary head center—the great Council Chamber at Shamballa.

Các mãnh lực đi vào, khi hoạt động dưới định luật này, trước hết được hướng đến trung tâm đầu, từ đó đến trung tâm ajnarồi đến trung tâm đã là trung tâm chi phối và hoạt động mạnh nhất trong thời gian lâm phàm của nguyên khí sự sống. Điều này thay đổi tùy theo điểm đã đạt được trên nấc thang tiến hoá, và tùy theo cung phàm ngã, về sau cung linh hồn sẽ tạo ra một sự định hình và thay đổi lớn lao. Trong công việc của điểm đạo đồ đang vận dụng định luật này một cách hữu thức, nguyên lý trừu xuất (khi đi vào thể xác) được giữ tập trung trong đầu và có một uy lực từ tính đến mức năng lượng của các trung tâm còn lại nhanh chóng được gom lại và rút ra. Điều đúng với tiến trình cá nhân của việc trừu xuất nguyên khí sự sống, dưới Định luật Bảy Bổ Sung, cũng đúng như thế đối với tiến trình trong mọi hình tướng và trong mọi nhóm hình tướng. Đức Christ đã nói đến công việc trừu xuất này, liên quan đến trung tâm hành tinh lớn thứ ba là Nhân loại, khi Ngài nói (và Ngài đang phát biểu với tư cách là Đại diện của Thánh Đoàn, trung tâm hành tinh thứ hai mà mọi con người đạt được điểm đạo đều được “rút vào” một cách huyền bí): “Nếu Tôi được nâng lên, Tôi sẽ thu hút mọi người về với Tôi.” Một linh từ khác với linh từ này của Ngài sẽ được xướng lên vào cuối thời đại, khi Đức Chúa Tể Thế Giới sẽ phán từ Shamballa, sẽ trừu xuất nguyên khí sự sống khỏi Thánh Đoàn, và khi ấy mọi sự sống cùng tâm thức sẽ được tập trung trong trung tâm đầu của hành tinh — Đại Hội trường Hội đồng tại Shamballa.

3. The Law demands that the changes thus effected remove the form, bring quality to light, and lay the emphasis upon life. [Page 166]

3. Định luật đòi hỏi rằng những thay đổi được tạo ra như thế phải loại bỏ hình tướng, đưa phẩm tính ra ánh sáng, và đặt trọng tâm vào sự sống. [Page 166]

Here the three great aspects—form, quality and life—are brought into relation and the point of the evolutionary objective is seen in its true light—Life. Note this phrasing. Form or appearance, having served its purpose, disappears. Death of the form takes place. Quality, the major divine attribute being developed in this planet, becomes dominant and is “conscious of itself”—as the ancient writings put it. It is identified and individual but has no implementing form, except that of the greater whole in which it finds its place. Neither form nor quality (body nor consciousness) are paramount in the new state of Being, but only the life aspect, the spirit on its own plane, becomes the dominating factor. Some faint dim light on the significance of this may come if you bear in mind that our seven planes are only the seven subplanes of the cosmic physical plane. The process of developing sensitivity in this sevenfold evolution has been undergone in order to enable the initiate to function upon the cosmic astral plane, when withdrawn or abstracted after the higher initiations. He is abstracted from our planetary life altogether. Only one factor could prevent this, and that might be his pledge to serve temporarily within the planetary ring-pass-not. Such Members of the Hierarchy Who pledge Themselves to this work are stated to have the Buddhic consciousness, and the line of Their descent (occultly understood) is from the Eternal Pilgrim, the Lord of the World, then the Buddha, and then the Christ. They remain identified through the free choice with the “quality seen within the light,” and for the term of Their freely rendered service They work with the consciousness aspect in order to lay the emphasis later upon the life aspect.

Ở đây, ba phương diện lớn — hình tướng, phẩm tính và sự sống — được đưa vào tương quan, và điểm mục tiêu của sự tiến hoá được nhìn thấy trong ánh sáng đích thực của nó — Sự sống. Hãy lưu ý cách diễn đạt này. Hình tướng hay vẻ ngoài, sau khi đã phục vụ mục đích của nó, biến mất. Cái chết của hình tướng diễn ra. Phẩm tính, thuộc tính thiêng liêng chủ yếu đang được phát triển trên hành tinh này, trở nên thống ngự và “tự ý thức về chính mình” — như các cổ thư diễn đạt. Nó có bản sắc và tính cá thể, nhưng không có hình tướng thực thi, ngoại trừ hình tướng của tổng thể lớn hơn trong đó nó tìm thấy vị trí của mình. Trong trạng thái Hiện Tồn mới, không phải hình tướng cũng không phải phẩm tính (thể hay tâm thức) là điều tối thượng, mà chỉ có phương diện sự sống, tinh thần trên cõi riêng của nó, trở thành yếu tố chi phối. Một chút ánh sáng mờ nhạt về thâm nghĩa của điều này có thể đến nếu bạn ghi nhớ rằng bảy cõi của chúng ta chỉ là bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ. Tiến trình phát triển tính nhạy cảm trong cuộc tiến hoá thất phân này đã được trải qua nhằm giúp điểm đạo đồ có thể hoạt động trên cõi cảm dục vũ trụ, khi y được rút lui hay trừu xuất sau các lần điểm đạo cao. Y được trừu xuất hoàn toàn khỏi sự sống hành tinh của chúng ta. Chỉ một yếu tố có thể ngăn điều này, và đó có thể là lời cam kết của y phụng sự tạm thời bên trong vòng-giới-hạn hành tinh. Những Thành viên như thế của Thánh Đoàn, Các Ngài tự cam kết với công việc này, được nói là có tâm thức Bồ đề, và dòng giáng hạ của Các Ngài (hiểu theo huyền bí học) là từ Người Hành Hương Vĩnh Cửu, Đức Chúa Tể Thế Giới, rồi Đức Phật, và rồi Đức Christ. Các Ngài vẫn đồng hoá, do sự chọn lựa tự do, với “phẩm tính được thấy trong ánh sáng,” và trong thời hạn phụng sự tự nguyện của Các Ngài, Các Ngài làm việc với phương diện tâm thức để về sau đặt trọng tâm vào phương diện sự sống.

4. The Law demands that this is brought about by the One, working through the Three, energizing the Seven and creating the straight line from there to here, and ending in a point which ignores the Three.

4. Định luật đòi hỏi rằng điều này được tạo ra bởi Đấng Duy Nhất, hoạt động thông qua Ba, tiếp sinh lực cho Bảy và tạo nên đường thẳng từ đó đến đây, rồi kết thúc nơi một điểm không còn xét đến Ba.

Let me paraphrase this, for detailed comment is not possible or permissible. The One directed will (of the [Page 167] individual, of humanity, of the Hierarchy) and the great Lords of Shamballa, working through the three major centers (head, heart and throat; Humanity, the Hierarchy and Shamballa), thereby energize all the seven centers (to the point of abstraction), using the straight line of the antahkarana from above downwards (from the center of power, the head or Shamballa), and gather all upwards into a point which is neither of the Three (Shamballa, the Hierarchy and Humanity) and ignores them, for they must no longer limit the life. This point lies outside manifestation altogether. Abstraction is complete.

Cho phép tôi diễn giải lại điều này, vì không thể và cũng không được phép bình luận chi tiết. Một Ý chí được định hướng (của [Page 167] cá nhân, của nhân loại, của Thánh Đoàn) cùng các Đấng Chúa Tể vĩ đại của Shamballa, khi hoạt động thông qua ba trung tâm chính (đầu, tim và cổ họng; Nhân loại, Thánh Đoàn và Shamballa), nhờ đó tiếp sinh lực cho tất cả bảy trung tâm (đến mức trừu xuất), sử dụng đường thẳng của antahkarana từ trên xuống dưới (từ trung tâm quyền năng, đầu hay Shamballa), và gom tất cả lên trên vào một điểm không thuộc về Ba (Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân loại) và không còn xét đến chúng, vì chúng không được phép giới hạn sự sống nữa. Điểm này hoàn toàn nằm ngoài sự biểu hiện. Sự trừu xuất hoàn tất.

Ponder, therefore, upon this doctrine. of abstraction. It covers all life processes, and will convey to you the eternally lovely secret of Death, which is entrance into life.

Vì vậy, hãy suy ngẫm về giáo lý trừu xuất này. Nó bao hàm mọi tiến trình sự sống, và sẽ truyền đạt cho bạn bí mật đẹp đẽ vĩnh hằng của Cái Chết, vốn là lối vào sự sống.



[1] trông nom, coi sóc, giám thị, quản lý (công việc)

[2] 1. sự lười biếng, sự uể oải; 2. sự chậm chạp, sự chậm trễ

[3] thích hợp, thích đáng, đúng chỗ; đi thẳng vào

Leave a Comment

Scroll to Top