Click số trang giữa ngoặc [ ] để đi đến phần bình giảng.
|
RULE III (68-88) |
QUY LUẬT III (68-88) |
|
(1) Dual the moving forward. The Door is left behind. That is a happening of the past. (2) Let the cry of invocation [Page 68] issue forth from the deep center of the group’s clear cold light. (3) Let it evoke response from the bright center, lying far ahead. (4) When the demand and the response are lost in one great Sound, move outward from the desert, leave the seas behind, and know that God is Fire. —————— |
(1) Sự tiến tới là song đôi. Cánh Cửa đã bị bỏ lại phía sau. Đó là một biến cố thuộc về quá khứ. (2) Hãy để tiếng kêu khẩn cầu [Page 68] phát ra từ trung tâm sâu thẳm của ánh sáng trong trẻo, lạnh lẽo của nhóm. (3) Hãy để nó gợi lên sự đáp ứng từ trung tâm sáng rực, nằm rất xa phía trước. (4) Khi lời thỉnh cầu và sự đáp ứng tan hòa trong một Âm Thanh vĩ đại duy nhất, hãy tiến ra khỏi sa mạc, bỏ lại các biển phía sau, và biết rằng Thượng đế là Lửa. —— |
|
This is perhaps one of the two most occult rules which the initiate has to master, whether as an individual or in conjunction with his group. The group recognizes and works under the pervasive influence of the purpose; the individual initiate works with the plan. The group expression, as far as in it lies at any given moment in time and space, is in line with the will of the One in Whom we live and move and have our being, the Life of all that is. The individual initiate uses the attractive force (to which we give the oft misleading name of love) of that fundamental Life to gather together that which will give body to form and so manifest the will. The group can be, and frequently is, responsive to the “bright center,” Shamballa, where the initiate by himself and in his own essential identity cannot so respond. The individual must be protected by the group from the terrific potencies which emanate from Shamballa. These must be stepped down for him by the process of distribution, so that their impact is not focused in any one or all of his centers but is shared by all the group members. Here is the clue to the significance of group work. One of its major functions, esoterically speaking, is to absorb, share, circulate, and then distribute energy. |
Đây có lẽ là một trong hai quy luật huyền bí nhất mà điểm đạo đồ phải làm chủ, dù với tư cách cá nhân hay trong sự kết hợp với nhóm của mình. Nhóm nhận biết và hoạt động dưới ảnh hưởng lan tỏa của Thiên Ý; điểm đạo đồ cá nhân hoạt động với Thiên Cơ. Biểu hiện của nhóm, trong mức độ có thể của nó tại bất cứ thời điểm nào trong thời gian và không gian, đều phù hợp với ý chí của Đấng Duy Nhất, trong Ngài chúng ta sống, vận động và có hiện tồn của mình, Sự Sống của tất cả những gì hiện hữu. Điểm đạo đồ cá nhân sử dụng mãnh lực hấp dẫn mà chúng ta gán cho cái tên thường gây lầm lạc là tình thương, của Sự Sống nền tảng ấy, để quy tụ những gì sẽ đem lại thể cho hình tướng và nhờ đó biểu lộ ý chí. Nhóm có thể, và thường khi thật sự, đáp ứng với “trung tâm sáng rực”, Shamballa, nơi mà điểm đạo đồ tự mình và trong bản sắc cốt yếu riêng của mình không thể đáp ứng như thế. Cá nhân phải được bảo vệ bởi nhóm khỏi những quyền năng khủng khiếp xuất lộ từ Shamballa. Những quyền năng này phải được hạ giảm cho y qua tiến trình phân phối, để tác động của chúng không tập trung vào bất cứ một hay tất cả các trung tâm nào của y mà được tất cả các thành viên nhóm cùng chia sẻ. Đây là chìa khóa cho thâm nghĩa của công việc nhóm. Một trong những chức năng chính của nó, nói theo huyền bí học, là hấp thụ, chia sẻ, luân chuyển, rồi phân phối năng lượng. |
|
This process of protection and of distribution is one of the functions of the great meeting of all the Hierarchy, under the aegis[1] of the three Great Lords (the Manu, the Mahachohan and the Christ) in that high and sacred valley in the Himalayas where annually—after due preparation—the Hierarchy makes contact with Shamballa and a relationship is then set up between the “bright and living center” and the “radiating and magnetic center,” in order that the “acquiescent waiting center” may be stimulated to move forward upon the ladder of evolution. Even the Hierarchy [Page 69] itself needs the protection of its full membership in order rightly to absorb the incoming energies, and later wisely to distribute the forces of the divine will in the three worlds where lies Their major responsibility. The focused will of God, in its immediate implications and application, constitutes the point of tension from which Shamballa works in order to bring about the eventual fruition of the divine Purpose. |
Tiến trình bảo vệ và phân phối này là một trong các chức năng của cuộc hội họp vĩ đại của toàn thể Thánh Đoàn, dưới sự bảo hộ của ba Đấng Chúa Tể Vĩ Đại, Đức Manu, Đức Mahachohan và Đức Christ, trong thung lũng cao cả và thiêng liêng ấy trên dãy Himalaya, nơi hằng năm, sau sự chuẩn bị đúng mức, Thánh Đoàn tiếp xúc với Shamballa và một mối liên hệ khi ấy được thiết lập giữa “trung tâm sáng rực và sống động” với “trung tâm tỏa chiếu và từ tính”, để “trung tâm thuận nhận và chờ đợi” có thể được kích thích tiến tới trên chiếc thang tiến hoá. Ngay cả chính Thánh Đoàn [Page 69] cũng cần sự bảo vệ của toàn thể thành viên để hấp thụ đúng đắn các năng lượng đang đi vào, và về sau phân phối một cách minh triết các mãnh lực của Ý Chí thiêng liêng trong ba cõi thấp, nơi trách nhiệm chính của Các Ngài nằm ở đó. Ý Chí tập trung của Thượng đế, trong các hàm ý và ứng dụng trực tiếp của nó, tạo thành điểm tập trung nhất tâm mà từ đó Shamballa hoạt động nhằm đưa Thiên Ý đến sự thành tựu sau cùng. |
|
Purpose and Will |
Thiên Ý và Ý Chí |
|
There is a definite distinction between Purpose and Will; it is subtle indeed, but quite definite to the advanced initiate, and therefore the dualistic nature of our planetary manifestation and our solar Expression appear even in this. The Members of the Council at Shamballa recognize this distinction and therefore divide Themselves into two groups which are called in the ancient parlance, Registrants of the Purpose and Custodians of the Will. Will is active. Purpose is passive, waiting for the results of the activity of the will. These two groups are reflected in hierarchical circles by the Nirmanakayas or the Planetary Contemplatives, and the Custodians of the Plan. The function of the Registrants of the Purpose is to keep the channel open between our Earth, the planet Venus and the Central Spiritual Sun. The function of the Custodians of the Will is to relate the Council, the Hierarchy and Humanity, thus creating a basic triangle of force between the three major centers of the planetary Life. This is the higher expression (symbolic, if you like) of the six-pointed star, formed of two interlaced triangles. A replica of this fundamental triangle and of this symbol of energy, with its inflow and distribution, is to be found in the relation of the three higher centers in the human being—head, heart and throat—to the three lower centers—solar plexus, sacral center and the center at the base of the spine. The Science of Invocation and Evocation is also seen to be symbolically proceeding along evolutionary lines. Worship, the attitude of the mystic, must give place to Invocation in the man who knows he is divine. This symbolic revelation is to be seen in the lifting up of the three lower energies and their evocative response to the three higher, thus producing [Page 70] an eventual unity at the point of tension. I realize that this is a hard thing to comprehend because it embodies truths which are difficult for the disciple to grasp. But they will be grasped and mastered by each one as he proceeds along the Path of Discipleship and submits to the needed training for initiation. They will also be mastered, later in this century and in the next, by the rapidly developing humanity, thus demonstrating that the initiation of the moment becomes the past achievement of the masses eventually. This enhanced liberation will later appear as a definite result of the war. The Atlantic Charter and the Four Freedoms, formulated in the tension produced by the world agony and strain, are the reflections of this, and embody all that it is possible for average materially-minded man to grasp of the present will of Shamballa as it conditions the plans of the Hierarchy and is impulsed by the Registrants of the Purpose. This is as far as the two groups of Custodians have been able to convey this revelation to the best human intellects—the first group dealing with the senior members of the Hierarchy and the latter with those initiates and disciples who are closely related to humanity. |
Có một sự phân biệt rõ ràng giữa Thiên Ý và Ý Chí; sự phân biệt ấy thật tinh tế, nhưng rất rõ ràng đối với điểm đạo đồ tiến bộ, và vì vậy bản chất nhị nguyên của biểu hiện hành tinh chúng ta và Biểu Hiện thái dương của chúng ta xuất hiện ngay cả trong điều này. Các Thành viên của Hội Đồng tại Shamballa nhận biết sự phân biệt này và do đó tự chia thành hai nhóm, được gọi theo ngôn ngữ cổ là Các Đấng Ghi Nhận Thiên Ý và Các Đấng Gìn Giữ Ý Chí. Ý Chí thì hoạt động. Thiên Ý thì thụ động, chờ đợi các kết quả của hoạt động của ý chí. Hai nhóm này được phản chiếu trong các vòng thuộc Thánh Đoàn bởi các Đấng Ứng Thân, hay Các Đấng Chiêm Ngưỡng Hành Tinh, và Các Đấng Gìn Giữ Thiên Cơ. Chức năng của Các Đấng Ghi Nhận Thiên Ý là giữ cho vận hà được mở giữa Trái Đất của chúng ta, hành tinh Sao Kim và Mặt trời Tinh thần Trung Ương. Chức năng của Các Đấng Gìn Giữ Ý Chí là liên kết Hội Đồng, Thánh Đoàn và Nhân Loại, nhờ đó tạo nên một tam giác mãnh lực nền tảng giữa ba trung tâm chính của Sự Sống hành tinh. Đây là biểu hiện cao hơn, mang tính biểu tượng nếu các bạn muốn nói như vậy, của ngôi sao sáu cánh, được tạo thành bởi hai tam giác đan xen nhau. Một bản sao của tam giác nền tảng này và của biểu tượng năng lượng này, với dòng năng lượng đi vào và sự phân phối của nó, có thể được tìm thấy trong mối liên hệ của ba trung tâm cao trong con người, đầu, tim và cổ họng, với ba trung tâm thấp, tùng thái dương, trung tâm xương cùng và trung tâm ở đáy cột sống. Khoa học Khẩn Cầu và Gợi Lên cũng được thấy là đang tiến hành một cách biểu tượng theo các đường lối tiến hoá. Sự tôn thờ, thái độ của nhà thần bí, phải nhường chỗ cho Sự Khẩn Cầu nơi con người biết rằng mình là thiêng liêng. Sự mặc khải biểu tượng này được thấy trong việc nâng lên của ba năng lượng thấp và sự đáp ứng gợi lên của chúng đối với ba năng lượng cao, nhờ đó tạo ra [Page 70] một sự hợp nhất sau cùng tại điểm tập trung nhất tâm. Tôi nhận ra rằng đây là điều khó lĩnh hội, vì nó chứa đựng những chân lý mà đệ tử khó nắm bắt. Nhưng mỗi người sẽ nắm bắt và làm chủ chúng khi y tiến bước trên Con Đường Đệ Tử và thuận theo sự huấn luyện cần thiết cho điểm đạo. Về sau trong thế kỷ này và thế kỷ kế tiếp, nhân loại đang phát triển nhanh chóng cũng sẽ làm chủ chúng, qua đó chứng minh rằng cuộc điểm đạo của hiện tại cuối cùng trở thành thành tựu quá khứ của quần chúng. Sự giải thoát gia tăng này về sau sẽ xuất hiện như một kết quả rõ rệt của chiến tranh. Hiến chương Đại Tây Dương và Bốn Quyền Tự Do, được hình thành trong sự căng thẳng do nỗi thống khổ và áp lực của thế giới tạo nên, là những phản chiếu của điều này, và hàm chứa tất cả những gì con người trung bình còn thiên về vật chất có thể nắm bắt về ý chí hiện tại của Shamballa khi nó tác động lên các kế hoạch của Thánh Đoàn và được thúc đẩy bởi Các Đấng Ghi Nhận Thiên Ý. Đây là mức độ xa nhất mà hai nhóm Đấng Gìn Giữ đã có thể truyền đạt sự mặc khải này đến những trí tuệ nhân loại ưu tú nhất, nhóm thứ nhất đề cập đến các thành viên cao cấp của Thánh Đoàn, còn nhóm sau đề cập đến những điểm đạo đồ và đệ tử có liên hệ mật thiết với nhân loại. |
|
The Science of Invocation and Evocation |
Khoa học Khẩn Cầu và Gợi Lên |
|
Here again we come up against the fact that the Science of Invocation and Evocation, with which this Rule fundamentally deals, is primarily a great and scientific activity of which modern humanity knows practically nothing, but which is related to thought power and to thought-form building. Only initiates of the highest degree—such as the three Great Lords—have the right to invoke alone and unaccompanied by any protective agency, such as a group, and the reason for that is that They Themselves are members of the Council at Shamballa and are individually Registrants of the Purpose. The annual appearance of the Lord Buddha is the outer demonstration or symbol of the emergence of this Science of Invocation and Evocation in the waking consciousness of humanity. Prayer is the dim, faint and inadequate expression of this; affirmation of divinity in order to gain material well-being is a distortion of this truth. This needs to be remembered. The true significance of this [Page 71] emerging science is that, in the early or first stages, it embodies the seed concept of the new world religion. |
Ở đây một lần nữa chúng ta đối diện với sự thật rằng Khoa học Khẩn Cầu và Gợi Lên, là điều mà Quy Luật này về căn bản đề cập đến, trước hết là một hoạt động vĩ đại và khoa học mà nhân loại hiện đại hầu như không biết gì, nhưng lại liên hệ với quyền năng tư tưởng và với việc kiến tạo hình tư tưởng. Chỉ các điểm đạo đồ ở cấp độ cao nhất, như ba Đấng Chúa Tể Vĩ Đại, mới có quyền khẩn cầu một mình và không có bất cứ cơ quan bảo vệ nào đi kèm, chẳng hạn như một nhóm, và lý do là vì chính Các Ngài là thành viên của Hội Đồng tại Shamballa và là từng Đấng Ghi Nhận Thiên Ý. Sự xuất hiện hằng năm của Đức Phật là biểu hiện bên ngoài hay biểu tượng của sự nổi lên của Khoa học Khẩn Cầu và Gợi Lên này trong tâm thức tỉnh thức của nhân loại. Cầu nguyện là biểu hiện mờ nhạt, yếu ớt và bất toàn của điều này; sự khẳng định thiên tính nhằm đạt được sự an vui vật chất là một sự bóp méo chân lý này. Điều này cần được ghi nhớ. Thâm nghĩa đích thực của [Page 71] khoa học đang xuất hiện này là, trong các giai đoạn sơ khởi hay đầu tiên, nó hàm chứa khái niệm hạt giống của tôn giáo thế giới mới. |
|
In the great invocations which I have given out, the first one (The Externalization of the Hierarchy, Page V). (“Let the Forces of Light bring illumination to mankind…”) was an effort on my part to put into words the invocative cry of mankind and of all men and women of goodwill throughout the world. Its success was indicative of the strength of that goodwill. The second (“Let the Lords of Liberation issue forth…”) can, in reality, only be used with any measure or hope of success by aspirants, disciples and initiates, and hence was not nearly so popular with the general public, though in reality much more powerful and potentially effective. It was essential, however, that a fusion of the two groups should take place before the invocative cry of humanity as a whole could be powerful and effective in evoking response. |
Trong các đại khấn nguyện mà tôi đã ban ra, bản thứ nhất (Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn, Trang V). (“Nguyện các Mãnh Lực Ánh Sáng đem sự soi sáng đến cho nhân loại…”) là một nỗ lực từ phía tôi nhằm đặt thành lời tiếng kêu khẩn cầu của nhân loại và của tất cả những người nam và nữ thiện chí trên khắp thế giới. Sự thành công của nó cho thấy sức mạnh của thiện chí ấy. Bản thứ hai (“Nguyện các Đấng Giải Thoát xuất hiện…”) trong thực tế chỉ có thể được sử dụng với một mức độ hay hy vọng thành công nào đó bởi những người chí nguyện, đệ tử và điểm đạo đồ, và do đó không được công chúng nói chung ưa chuộng gần bằng, dù trong thực tế nó mạnh mẽ hơn nhiều và có hiệu quả tiềm tàng hơn. Tuy nhiên, điều cốt yếu là sự dung hợp của hai nhóm phải diễn ra trước khi tiếng kêu khẩn cầu của toàn thể nhân loại có thể mạnh mẽ và hiệu quả trong việc gợi lên sự đáp ứng. |
|
Prior to taking up the study, phrase by phrase, of Rule III, I would call your attention to the relation between this Rule and the earlier one given to applicants. The applicant sends out his cry—across the desert, over all the seas and through the fires. His entire personality, integrated and oriented, is focused at a point of tension; then he utters his cry (symbolic of a voiceless expression) and this cry beats against the door which separates him from the soul, in the first instance, and from the Hierarchy, in the second. The door is only a symbol of separation; it divides one place from another location, one sphere of activity from another, and one state of consciousness from another. It fosters in the aspirant a sense of duality. It is a word descriptive of the mystic attitude. This attitude embraces the concepts of here and there, of soul and body, of God and man, of Hierarchy and humanity. But Rule III, as voiced for initiates, demonstrates that this mystical realization finally goes; the sense of separation disappears, and the door is left behind. |
Trước khi bắt đầu nghiên cứu từng cụm từ của Quy Luật III, tôi muốn hướng sự chú ý của các bạn đến mối liên hệ giữa Quy Luật này và quy luật trước đó đã được trao cho các ứng viên. Ứng viên phát ra tiếng kêu của mình, băng qua sa mạc, vượt qua mọi biển cả và xuyên qua các ngọn lửa. Toàn thể phàm ngã của y, được tích hợp và được định hướng, được tập trung tại một điểm tập trung nhất tâm; rồi y thốt lên tiếng kêu của mình, biểu tượng của một biểu hiện không lời, và tiếng kêu này dội vào cánh cửa ngăn cách y với linh hồn, trước hết, và với Thánh Đoàn, kế đến. Cánh cửa chỉ là một biểu tượng của sự phân cách; nó chia tách một nơi này với một vị trí khác, một lĩnh vực hoạt động này với một lĩnh vực khác, và một trạng thái tâm thức này với một trạng thái khác. Nó nuôi dưỡng trong người chí nguyện một ý thức về nhị nguyên. Đó là một từ mô tả thái độ thần bí. Thái độ này bao hàm các quan niệm về ở đây và ở kia, về linh hồn và thể xác, về Thượng đế và con người, về Thánh Đoàn và nhân loại. Nhưng Quy Luật III, như được xướng lên cho các điểm đạo đồ, chứng minh rằng sự nhận thức thần bí này cuối cùng biến mất; ý thức về sự phân cách tiêu tan, và cánh cửa bị bỏ lại phía sau. |
|
First sentence —The moving forward is dual. The Door is left behind |
Câu thứ nhất — Sự tiến tới là nhị phân. Cánh Cửa đã bị bỏ lại phía sau |
|
1. Dual the moving forward. The Door is left behind. That is a happening of the past. (←) [Page 72] |
1. Sự tiến tới là song đôi. Cánh Cửa đã bị bỏ lại phía sau. Đó là một biến cố thuộc về quá khứ. (←) [Page 72] |
|
The first point which should be noted is that we have here the definition of an initiate. He is one who, in his two-fold nature (soul and personality), moves forward. No longer is his point of tension that of the personality. He has fused and blended two divine aspects in himself, and they now constitute one integrated unit. This fusion produces its own point of tension. He has moved forward through the door. A point of tension again ensues in which a Word goes forth in response to the invocative cry of the new initiate. A Word is returned to him: Accepted as a group. Then he, with the group of which he is now a recognized part, moves forward. For the initiate (as I have earlier pointed out) the past is left behind: “Let there be no recollection”; the present embodies a point of tension; the future indicates a moving forward from that point of tension as a result of its effective action. The door closes behind the initiate, who is now an accepted member of his group, and as the Old Commentary puts it, “its sound in closing informs the watching world that the initiate has passed into a secret place and that to reach him in the real sense they too must pass that door.” This conveys the thought of individual self-initiation, to which all must be subjected, and indicates also the loneliness of the initiate as he moves forward. He does not yet understand all that his group as a whole grasps; he is himself not understood by those on the other side of the door. He has sensed for some time the group with which he is now affiliated, and is becoming increasingly aware of their spiritual impersonality, which seems to him to be almost a form of aloofness and which in no way feeds in him those elements which are of a personality nature; he therefore suffers. Those left behind as a part of his old life in no way comprehend his basic (even if undeveloped) impersonality. This attitude of theirs evokes in him, when sensed, a resentment[2] and a criticism which he realizes is not right but which at this stage he seems unable to avoid, whilst those he criticizes endeavor to tear him down or (at the least) to make him feel despised[3] and uncomfortable. |
Điểm đầu tiên cần được ghi nhận là ở đây chúng ta có định nghĩa về một điểm đạo đồ. Y là người, trong bản chất nhị phân của mình, linh hồn và phàm ngã, tiến tới. Điểm tập trung nhất tâm của y không còn là điểm của phàm ngã nữa. Y đã dung hợp và hòa quyện hai phương diện thiêng liêng trong chính mình, và giờ đây chúng tạo thành một đơn vị tích hợp duy nhất. Sự dung hợp này tạo ra điểm tập trung nhất tâm riêng của nó. Y đã tiến tới qua cánh cửa. Một điểm tập trung nhất tâm lại tiếp diễn, trong đó một Linh từ phát ra để đáp ứng tiếng kêu khẩn cầu của điểm đạo đồ mới. Một Linh từ được đáp lại cho y: Được chấp nhận như một nhóm. Rồi y, cùng với nhóm mà hiện nay y là một phần được công nhận, tiến tới. Đối với điểm đạo đồ, như tôi đã chỉ ra trước đây, quá khứ bị bỏ lại phía sau: “Đừng để có sự hồi tưởng”; hiện tại hàm chứa một điểm tập trung nhất tâm; tương lai chỉ ra một sự tiến tới từ điểm tập trung nhất tâm ấy như kết quả của hành động hữu hiệu của nó. Cánh cửa khép lại phía sau điểm đạo đồ, người giờ đây là một thành viên được chấp nhận của nhóm mình, và như Cổ Luận diễn đạt, “âm thanh của nó khi khép lại báo cho thế giới đang quan sát biết rằng điểm đạo đồ đã bước vào một nơi bí mật, và để đến được với y theo nghĩa thực sự, họ cũng phải đi qua cánh cửa ấy.” Điều này truyền đạt tư tưởng về sự tự-điểm đạo cá nhân, mà tất cả đều phải trải qua, và cũng chỉ ra sự cô độc của điểm đạo đồ khi y tiến tới. Y vẫn chưa thấu hiểu tất cả những gì toàn thể nhóm của y nắm bắt; chính y không được những người ở phía bên kia cánh cửa thấu hiểu. Từ lâu y đã cảm nhận được nhóm mà hiện nay y liên kết, và ngày càng ý thức hơn về sự vô ngã tinh thần của họ, điều đối với y dường như gần như là một hình thức xa cách, và tuyệt nhiên không nuôi dưỡng trong y những yếu tố thuộc bản chất phàm ngã; do đó y đau khổ. Những người bị bỏ lại phía sau như một phần của đời sống cũ tuyệt nhiên không lĩnh hội sự vô ngã căn bản của y, dù nó còn chưa phát triển. Thái độ này của họ gợi lên trong y, khi được cảm nhận, một sự oán giận và một sự phê phán mà y nhận ra là không đúng, nhưng ở giai đoạn này y dường như không thể tránh khỏi, trong khi những người mà y phê phán lại cố gắng kéo y xuống, hoặc ít nhất làm cho y cảm thấy bị khinh miệt và khó chịu. |
|
In the early stages he takes refuge from those left [Page 73] behind by withdrawing himself and by much unnecessary and almost obtrusive[4] silence. He learns to penetrate into the consciousness of his new group by strenuously endeavoring to develop their capacity for spiritual impersonality. He knows it is something which he must achieve and—as he achieves it—he discovers that this impersonality is not based on indifference or upon preoccupation, as he had thought, but upon a deep understanding, upon a dynamic focus on world service, upon a sense of proportion and upon a detachment which makes true help possible. Thus the door and the past are left behind. St. Paul attempted to express this idea when he said: “Forgetting the things which are behind, press forward towards the prize of your high calling in Christ.” I would ask your attention to the word “calling.” |
Trong các giai đoạn đầu, y tìm nơi trú ẩn khỏi những người bị bỏ lại [Page 73] phía sau bằng cách rút lui và bằng nhiều sự im lặng không cần thiết, gần như gây chú ý. Y học cách thâm nhập vào tâm thức của nhóm mới của mình bằng nỗ lực mạnh mẽ phát triển năng lực vô ngã tinh thần của họ. Y biết đó là điều mình phải đạt được và, khi đạt được nó, y khám phá rằng sự vô ngã này không dựa trên sự điềm nhiên hay sự bận tâm với chính mình, như y từng nghĩ, mà dựa trên một sự thấu hiểu sâu xa, trên sự tập trung năng động vào việc phụng sự thế gian, trên Ý thức về tỉ lệ và trên sự tách rời khiến sự trợ giúp chân thật trở nên khả hữu. Như thế, cánh cửa và quá khứ bị bỏ lại phía sau. Thánh Paul đã cố gắng diễn đạt ý tưởng này khi ông nói: “Quên những điều ở phía sau, hãy tiến tới hướng về phần thưởng của thiên triệu cao cả trong Đức Christ.” Tôi muốn các bạn lưu ý đến từ “triệu gọi”. |
|
Sentence 2— the cry of invocation issue forth from the deep center |
Câu thứ hai — tiếng kêu khẩn cầu phát ra từ trung tâm sâu thẳm |
|
2. Let the cry of invocation issue forth from the deep center of the group’s clear cold light. (←) |
2. Hãy để tiếng kêu khẩn cầu phát ra từ trung tâm sâu thẳm của ánh sáng trong trẻo, lạnh lẽo của nhóm. (←) |
|
We are not here dealing with the light in the head or with soul light as it is perceived by the attuned and aligned personality. That too is left behind, and the initiate is aware of the light of the Ashram and the all-including light of the Hierarchy. These are two aspects of soul light which the individual light in the head has revealed. That soul light which the initiate has been aware of from the first moment of soul contact, and at rapidly decreasing intervals, is created by the fusion of the light of the soul with the light of substance itself, and is the inevitable and automatic consequence of the purification of the three vehicles and of creative meditation. We are told in the world Scriptures that “in that light shall we see Light”; and it is to this other Light that I now refer—a light which is only to be perceived when the door is shut behind the initiate. That light is itself composed of the light of buddhi and the light of atma, and these are (to interpret these Sanskrit terms esoterically) the light of the pure reason, which is the sublimation of the intellect, and the light of the spiritual will, which is the revelation of the unfolding purpose. The first [Page 74] is focused in the Ashram, and the second in the Hierarchy as a whole, and both of them are the expression of the activity of the Spiritual Triad. |
Ở đây chúng ta không đề cập đến ánh sáng trong đầu hay ánh sáng linh hồn như phàm ngã đã hòa điệu và chỉnh hợp nhận thức được. Điều đó cũng bị bỏ lại phía sau, và điểm đạo đồ ý thức được ánh sáng của ashram và ánh sáng bao trùm tất cả của Thánh Đoàn. Đây là hai phương diện của ánh sáng linh hồn mà ánh sáng cá nhân trong đầu đã mặc khải. Ánh sáng linh hồn ấy, mà điểm đạo đồ đã ý thức từ khoảnh khắc đầu tiên của sự tiếp xúc với linh hồn, và sau đó trong những khoảng cách ngày càng ngắn, được tạo ra bởi sự dung hợp ánh sáng của linh hồn với ánh sáng của chính chất liệu, và là hệ quả tất yếu và tự động của sự thanh luyện ba vận cụ và của tham thiền sáng tạo. Chúng ta được dạy trong các Thánh Kinh của thế giới rằng “trong ánh sáng ấy chúng ta sẽ thấy Ánh Sáng”; và chính Ánh Sáng khác này là điều tôi đang nói đến, một ánh sáng chỉ có thể được nhận thức khi cánh cửa đã khép lại phía sau điểm đạo đồ. Ánh sáng ấy tự nó được hợp thành bởi ánh sáng của Bồ đề và ánh sáng của atma, và những điều này, nếu diễn giải các thuật ngữ tiếng Phạn này một cách huyền bí, là ánh sáng của lý trí thuần khiết, vốn là sự thăng hoa của trí năng, và ánh sáng của ý chí tinh thần, vốn là sự mặc khải của Thiên Ý đang khai mở. Ánh sáng thứ nhất [Page 74] được tập trung trong ashram, và ánh sáng thứ hai trong toàn thể Thánh Đoàn, và cả hai đều là biểu hiện hoạt động của Tam Nguyên Tinh Thần. |
|
Let me make myself clearly understood, if possible. You have, therefore, three great lights, all of them focused upon the mental plane, for beyond that plane the symbolism of light is not used; divinity is known as life, where the Monad and its expression, the Spiritual Triad, are concerned. All the lights are finally focused upon the mental plane: |
Nếu có thể, hãy để tôi làm cho mình được thấu hiểu rõ ràng. Do đó, các bạn có ba ánh sáng vĩ đại, tất cả đều được tập trung trên cõi trí, vì vượt ngoài cõi ấy, biểu tượng ánh sáng không được sử dụng; thiên tính được biết đến như sự sống, khi liên quan đến chân thần và biểu hiện của nó, Tam Nguyên Tinh Thần. Mọi ánh sáng sau cùng đều được tập trung trên cõi trí: |
|
1. The blended light of soul and personality. |
1. Ánh sáng hòa quyện của linh hồn và phàm ngã. |
|
2. The light of the egoic group which, when forming a recognized group in the consciousness of the illumined initiate, is called an Ashram, embodying the light of buddhi or pure reason. |
2. Ánh sáng của nhóm chân ngã, khi hình thành một nhóm được công nhận trong tâm thức của điểm đạo đồ đã được soi sáng, được gọi là một ashram, hàm chứa ánh sáng của Bồ đề hay lý trí thuần khiết. |
|
3. The light of the Hierarchy as a center of radiance in the planetary body and embodying the light which understanding of the plan and cooperation with that plan produce, and which comes from identification—upon mental levels—with the spiritual will. |
3. Ánh sáng của Thánh Đoàn như một trung tâm tỏa chiếu trong thể hành tinh và hàm chứa ánh sáng do sự thấu hiểu Thiên Cơ và sự hợp tác với Thiên Cơ ấy tạo ra, và đến từ sự đồng hoá với ý chí tinh thần trên các cấp độ trí tuệ. |
|
All these three aspects of light can be described as: |
Cả ba phương diện ánh sáng này có thể được mô tả là: |
|
1. The light which is thrown upward. This is the lesser light, from the angle of the Monad. |
1. Ánh sáng được phóng lên trên. Đây là ánh sáng thấp hơn, xét theo góc độ của chân thần. |
|
2. The light which the Spiritual Triad reflects upon the mental plane. |
2. Ánh sáng mà Tam Nguyên Tinh Thần phản chiếu lên cõi trí. |
|
3. The focused light which is produced by the meeting of the two lights, the higher and the lower. |
3. Ánh sáng tập trung được tạo ra bởi sự gặp gỡ của hai ánh sáng, cao và thấp. |
|
These are the higher correspondence of the blazing forth of the light in the head, when the light of the personality and the light of the soul make contact. |
Đây là tương ứng cao hơn của sự bừng sáng của ánh sáng trong đầu, khi ánh sáng của phàm ngã và ánh sáng của linh hồn tiếp xúc với nhau. |
|
Beyond the mental plane, the initiatory impulse or emphasis is upon the life aspect, upon dynamic energy, and upon the cause of manifestation, and this incentive to progress is not based on revelation, which is ever incident to or related to the significance of light. Light and revelation are cause and effect. The coming revelation for which all men wait, and which will come when world adjustment has [Page 75] reached an already determined point, is concerned with the impartation to the human consciousness of the meaning and purpose of life; this will take place in a gradually unfolding series of spiritual events. I cannot and must not put these truths more clearly, even if the necessary words were available to express what is not as yet even dimly sensed by disciples of the first and second degrees of initiation. What will come through that series of spiritual happenings and their inevitable reaction upon the whole body of humanity is in no way related to consciousness, to revelation or to light. There will come to humanity at some moment still a long way ahead a period of realization, constituting both a point of crisis and a point of tension. That realization will summarize, in effective conditioning consciousness, all that the quality of sensitivity has conveyed to mankind throughout the ages. It is the consummation of the activity of the Christ-consciousness, and is the state referred to when it is said of the Christ: “He shall see of the travail of his soul and be satisfied.” At the crisis of that revelation, at its highest point of tension, humanity as with one voice will say: “Behold! All things are become new.” This is the apotheosis of vision and the prelude to an unfoldment in the general massed human consciousness (from that point in time slowly brought about) of certain powers and capacities of which the race is today totally unaware. The immediate revelation ahead will be only the first step towards this distant related point, and its significance will not be apparent to the present generation, or even to the next; it will, however, be steadily though gradually appreciated as the new world religion with its emphasis upon the invocation of energies and the evocation of “life more abundantly” is developed and has its inevitable effect. Students would do well to bear in mind that the impact of energies upon forms produces results which are dependent upon the quality of the forms receiving the impression. This is a statement of occult law. |
Vượt ngoài cõi trí, xung lực hay trọng tâm điểm đạo đặt trên phương diện sự sống, trên năng lượng năng động và trên nguyên nhân của sự biểu hiện, và động lực thúc đẩy tiến bộ này không dựa trên sự mặc khải, vốn luôn đi kèm hoặc liên hệ với thâm nghĩa của ánh sáng. Ánh sáng và sự mặc khải là nhân và quả. Sự mặc khải sắp đến mà tất cả mọi người đang chờ đợi, và sẽ đến khi sự điều chỉnh của thế giới đã [Page 75] đạt tới một điểm đã được xác định, liên quan đến việc truyền vào tâm thức nhân loại ý nghĩa và mục đích của sự sống; điều này sẽ diễn ra trong một chuỗi các biến cố tinh thần khai mở dần dần. Tôi không thể và không được diễn đạt các chân lý này rõ ràng hơn, ngay cả nếu có sẵn những từ ngữ cần thiết để diễn tả điều mà các đệ tử thuộc lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai hiện nay thậm chí còn chưa cảm nhận được một cách mơ hồ. Điều sẽ đến qua chuỗi biến cố tinh thần ấy và phản ứng tất yếu của chúng trên toàn thể nhân loại tuyệt nhiên không liên hệ đến tâm thức, sự mặc khải hay ánh sáng. Đến một thời điểm vẫn còn rất xa phía trước, nhân loại sẽ bước vào một thời kỳ chứng nghiệm, cấu thành cả một điểm khủng hoảng lẫn một điểm tập trung nhất tâm. Sự chứng nghiệm ấy sẽ tổng kết, trong tâm thức tác động một cách hữu hiệu, tất cả những gì phẩm tính nhạy bén đã truyền đạt cho nhân loại qua các thời đại. Đó là sự viên mãn của hoạt động của tâm thức Đức Christ, và là trạng thái được nói đến khi người ta nói về Đức Christ: “Ngài sẽ thấy kết quả lao nhọc của linh hồn mình và được thỏa mãn.” Tại cuộc khủng hoảng của sự mặc khải ấy, ở điểm tập trung nhất tâm cao nhất của nó, nhân loại như bằng một tiếng nói sẽ nói: “Kìa! Mọi sự đều đã trở nên mới.” Đây là sự tôn vinh tột đỉnh của tầm nhìn và là khúc dạo đầu cho một sự khai mở trong tâm thức nhân loại đại chúng nói chung, từ điểm thời gian ấy được thực hiện chậm rãi, của một số quyền năng và năng lực mà ngày nay nhân loại hoàn toàn không biết đến. Sự mặc khải trước mắt sẽ chỉ là bước đầu tiên hướng tới điểm liên hệ xa xôi này, và thâm nghĩa của nó sẽ không hiển nhiên đối với thế hệ hiện tại, hay ngay cả thế hệ kế tiếp; tuy nhiên, nó sẽ được nhận biết vững vàng dù dần dần khi tôn giáo thế giới mới, với sự nhấn mạnh vào việc khẩn cầu các năng lượng và gợi lên “sự sống dồi dào hơn”, được phát triển và tạo ra hiệu quả tất yếu của nó. Các đạo sinh nên ghi nhớ rằng tác động của các năng lượng lên các hình tướng tạo ra những kết quả tùy thuộc vào phẩm tính của các hình tướng tiếp nhận ấn tượng. Đây là một phát biểu của định luật huyền bí. |
|
One of the purposes lying behind the present holocaust (World War II) has been the necessity for the [Page 76] destruction of inadequate forms. This destruction could have been brought about by an act of God, such as a great natural catastrophe or a universal epidemic, and such had been the original intention. Humanity was, however, swept by forces that carried in themselves the seeds of destruction, and there was that in humanity which responded to those forces. Therefore the Law of destruction was permitted to work through humanity itself, and men are now destroying the forms through which many masses of men are functioning. This is both a good and a bad thing, viewed from the evolutionary angle. It is nevertheless a fact which cannot be gainsaid, and the problem, therefore, confronting the Custodians of the Will, working through the Custodians of the Plan, is to bring good out of the evil which man has wrought, and thus gear events to the larger issues. |
Một trong những mục đích nằm sau cuộc tàn sát hiện nay, Chiến tranh thế giới thứ hai, là sự cần thiết phải [Page 76] hủy diệt các hình tướng bất toàn. Sự hủy diệt này đã có thể được thực hiện bởi một hành động của Thượng đế, chẳng hạn như một đại thảm họa thiên nhiên hay một trận dịch toàn cầu, và đó từng là ý định ban đầu. Tuy nhiên, nhân loại đã bị cuốn đi bởi những mãnh lực mang trong chính chúng các hạt giống của sự hủy diệt, và trong nhân loại có điều đáp ứng với các mãnh lực ấy. Vì vậy Định luật hủy diệt được phép hoạt động qua chính nhân loại, và con người hiện nay đang hủy diệt các hình tướng mà qua đó nhiều khối quần chúng nhân loại đang hoạt động. Đây vừa là điều tốt vừa là điều xấu, xét từ góc độ tiến hoá. Dẫu vậy, đó là một sự kiện không thể phủ nhận, và do đó vấn đề đang đối diện Các Đấng Gìn Giữ Ý Chí, hoạt động qua Các Đấng Gìn Giữ Thiên Cơ, là đem điều thiện ra khỏi cái ác mà con người đã gây nên, và nhờ đó hướng các biến cố vào những vấn đề lớn lao hơn. |
|
That is one of the objectives before the Hierarchy at this time (written April, 1943) as it prepares for participation in the May and June Full Moons. Can the forces be so organized and the energies so distributed that the full measure of good may be evoked from humanity by the invocation sounded forth by Shamballa? Can this evocation of a new cycle of spiritual contact and of liberation be brought about by the invocation of the men and women of goodwill? Can the will-to-good of the spiritual Forces and the goodwill of humanity be brought together and produce those conditions in which the new world order may function? These are the important questions which the Hierarchy is attempting to solve. |
Đó là một trong những mục tiêu trước mắt Thánh Đoàn vào lúc này, viết tháng Tư năm 1943, khi Thánh Đoàn chuẩn bị tham dự các kỳ Trăng Tròn tháng Năm và tháng Sáu. Liệu các mãnh lực có thể được tổ chức như thế, và các năng lượng được phân phối như thế, để toàn bộ mức độ thiện lành có thể được gợi lên từ nhân loại bởi lời khẩn cầu do Shamballa xướng ra chăng? Liệu sự gợi lên một chu kỳ mới của sự tiếp xúc tinh thần và của sự giải thoát có thể được thực hiện bởi lời khẩn cầu của những người nam và nữ thiện chí chăng? Liệu Ý Chí-hướng Thiện của các Mãnh Lực tinh thần và thiện chí của nhân loại có thể được đưa lại với nhau và tạo ra những điều kiện trong đó trật tự thế giới mới có thể hoạt động chăng? Đây là những câu hỏi quan trọng mà Thánh Đoàn đang cố gắng giải quyết. |
|
It must be remembered that the Science of Invocation and Evocation is a reciprocal effort. Humanity could not be invocative were it not that the Spiritual Hierarchy (and by that term I include both Shamballa and the planetary Hierarchy) is evoking the spirit of man. The invocative cry of humanity is evoked by the invocation or Sound of the spiritual hierarchies. Man’s responsibility, however, is to invoke at this time the Lords of Liberation and the Spirit of Peace. These are the Beings which have the power to raise humanity, once the race of men has assumed the right [Page 77] attitude. They correspond to the group, in the third degree of Masonry, who raise the Master. Their response to the cry of mankind is largely, but not wholly, dependent upon the quality of that cry. |
Cần nhớ rằng Khoa học Khẩn Cầu và Gợi Lên là một nỗ lực tương hỗ. Nhân loại không thể có tính khẩn cầu nếu Thánh Đoàn Tinh Thần, và bằng thuật ngữ đó tôi bao gồm cả Shamballa lẫn Thánh Đoàn hành tinh, không đang gợi lên tinh thần của con người. Tiếng kêu khẩn cầu của nhân loại được gợi lên bởi lời khẩn cầu hay Âm Thanh của các Huyền Giai tinh thần. Tuy nhiên, trách nhiệm của con người vào lúc này là khẩn cầu các Đấng Giải Thoát và Đấng Tinh thần Hòa Bình. Đây là các Đấng có quyền năng nâng nhân loại lên, một khi nhân loại đã đảm nhận thái độ đúng [Page 77] đắn. Các Ngài tương ứng với nhóm, trong cấp độ thứ ba của Hội Tam Điểm, những người nâng Chân sư lên. Sự đáp ứng của Các Ngài đối với tiếng kêu của nhân loại phần lớn, nhưng không hoàn toàn, tùy thuộc vào phẩm tính của tiếng kêu ấy. |
|
I wonder if I could make the problem of invocation clearer to you if I were to suggest that the words, “issue forth from the deep center of the group’s clear cold light,” have a meaning both for the individual initiate and for all groups of disciples and all Ashrams? The use of the words, “clear cold light,” is deeply symbolical. The clarity of that light indicates the function of the soul, as its great light enables the initiate to see light. The coldness of that light refers to the light of substance, which cannot be warmed into a glow by desire or by the heat of passion, but is now and at last only responsive to the light of the soul. It is therefore cold to all that limits and hinders, and this state of personality consciousness has to be realized at the very center of man’s being; there the clear light of the soul and the cold light of the personality are united in the deepest conscious point of the disciple’s nature, at the extreme point of withdrawal (for which all concentration exercises and meditation processes have been a scientific preparation). Then, through the produced tension, the invocative cry can go forth with power and effectiveness. The same is true of the disciple’s group or of any group of true and selfless aspirants. There can come a moment in the life of the group when the blended cold light of the contributing personalities and the clear light of their souls can so function that united invocative cry will evoke a response. That cry will ever be concerned with the selfless service of the group—a service which, under the Plan, they are seeking to render to humanity. |
Tôi tự hỏi liệu tôi có thể làm cho vấn đề khẩn cầu trở nên rõ ràng hơn đối với các bạn không, nếu tôi gợi ý rằng những lời “phát ra từ trung tâm sâu thẳm của ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo của nhóm” có một ý nghĩa cho cả điểm đạo đồ cá nhân lẫn cho mọi nhóm đệ tử và mọi ashram? Việc dùng những lời “ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo” mang tính biểu tượng sâu xa. Sự trong trẻo của ánh sáng ấy chỉ chức năng của linh hồn, vì ánh sáng vĩ đại của nó giúp điểm đạo đồ thấy được ánh sáng. Tính lạnh lẽo của ánh sáng ấy chỉ ánh sáng của chất liệu, vốn không thể được dục vọng hay sức nóng của đam mê làm ấm lên thành một ánh rực rỡ, mà nay, cuối cùng, chỉ còn đáp ứng với ánh sáng của linh hồn. Vì vậy, nó lạnh lẽo đối với tất cả những gì giới hạn và cản trở, và trạng thái tâm thức phàm ngã này phải được chứng nghiệm ngay tại trung tâm bản thể của con người; nơi đó, ánh sáng trong trẻo của linh hồn và ánh sáng lạnh lẽo của phàm ngã được hợp nhất tại điểm hữu thức sâu nhất trong bản chất của đệ tử, tại điểm tận cùng của sự thu hồi vào trong, điều mà mọi bài tập tập trung và mọi tiến trình tham thiền đều là sự chuẩn bị khoa học. Khi ấy, nhờ điểm tập trung nhất tâm được tạo ra, tiếng kêu khẩn cầu có thể phát ra với quyền năng và hiệu quả. Điều tương tự cũng đúng với nhóm của đệ tử, hay với bất cứ nhóm nào gồm những người chí nguyện chân chính và vô ngã. Có thể đến một thời điểm trong đời sống của nhóm khi ánh sáng lạnh lẽo hòa hợp của các phàm ngã đóng góp và ánh sáng trong trẻo của các linh hồn họ có thể hoạt động đến mức tiếng kêu khẩn cầu hợp nhất sẽ gợi lên một đáp ứng. Tiếng kêu ấy sẽ luôn liên quan đến sự phụng sự vô ngã của nhóm — một sự phụng sự mà, theo Thiên Cơ, họ đang tìm cách thực hiện cho nhân loại. |
|
As we continue our study of Rule III, I am myself struck with the oppositeness of its words in connection with this particular historical cycle and in relation to the truths which are slowly taking form in the consciousness of humanity. New truths (and by that I mean truths which are new to the most advanced thinkers and which are only [Page 78] dimly sensed by the most advanced esotericist) are hovering on the horizon of the human mind. The ground is being prepared for the sowing of this new seed and the stage set for the emergence of new Actors in the great drama of the unfolding revelation of Deity. |
Khi chúng ta tiếp tục nghiên cứu Quy luật III, chính tôi cũng bị đánh động bởi tính đối nghịch trong những lời của nó khi liên hệ với chu kỳ lịch sử đặc biệt này và với các chân lý đang chậm rãi thành hình trong tâm thức nhân loại. Những chân lý mới — và qua đó tôi muốn nói những chân lý mới đối với các nhà tư tưởng tiến bộ nhất, và chỉ được nhà bí truyền học tiến bộ nhất cảm nhận một cách [Page 78] lờ mờ — đang lơ lửng nơi chân trời của trí tuệ nhân loại. Mảnh đất đang được chuẩn bị để gieo hạt giống mới này, và sân khấu đang được dàn dựng cho sự xuất hiện của các Diễn Viên mới trong vở kịch vĩ đại của sự mặc khải đang khai mở về Thượng đế. |
|
Certain great concepts are firmly grasped by man. Certain great hopes are taking form and will become the pattern of man’s living. Certain great speculations will become experimental theories and later prove demonstrated facts. Behind all this, two things are happening: Men are being stimulated and brought to that point of necessary tension which (as a result of a crisis) must precede a great moving forward upon the Path of Evolution. Secondly, a process of reorientation is going on which will eventually enable the mass of men to present a united front upon views hitherto regarded as the vague visions of intelligent and optimistic dreamers. A great stirring and moving is going on. The world of men is seething in response to the inflow of spiritual energy. This energy has been evoked by the unrealized and inaudible cry of humanity itself. Humanity has become—for the first time in its history—spiritually invocative. |
Một số quan niệm vĩ đại đang được con người nắm vững. Một số hy vọng lớn lao đang thành hình và sẽ trở thành mô hình cho đời sống của con người. Một số suy luận lớn lao sẽ trở thành các lý thuyết thực nghiệm, và về sau chứng tỏ là những sự kiện đã được minh chứng. Đằng sau tất cả những điều này, có hai việc đang diễn ra: Con người đang được kích thích và được đưa đến điểm tập trung nhất tâm cần thiết, điểm mà — như kết quả của một cuộc khủng hoảng — phải đi trước một bước tiến lớn lao trên Con Đường Tiến Hóa. Thứ hai, một tiến trình tái định hướng đang diễn ra, rốt cuộc sẽ giúp quần chúng nhân loại trình hiện một mặt trận thống nhất đối với những quan điểm trước đây từng bị xem là các linh ảnh mơ hồ của những người mơ mộng thông minh và lạc quan. Một sự khuấy động và chuyển động lớn lao đang diễn ra. Thế giới con người đang sôi sục để đáp ứng với dòng năng lượng tinh thần tuôn vào. Năng lượng này đã được gợi lên bởi tiếng kêu chưa được nhận biết và không nghe thấy của chính nhân loại. Lần đầu tiên trong lịch sử của mình, nhân loại đã trở nên có tính khẩn cầu về mặt tinh thần. |
|
Let us now consider briefly the nature of that which is being evoked, and thus gain an insight into the interrelation which exists between the three great planetary centers: The human center, the hierarchical center, and Shamballa. Each of these is evocative to the one functioning at a slower or lesser speed (if I might use such inappropriate terms) and invocative to the one above it—again using a form of words which is misleading in the extreme; there is no higher or lower and no greater or lesser in our universe of reality. There is only the interpenetrating of substances which are all basically expressions of matter, and their vitalization and organization into forms of expression of the unknown Real. This essential Reality, we call spirit or life. |
Giờ đây, chúng ta hãy xem xét vắn tắt bản chất của điều đang được gợi lên, và nhờ đó đạt được một cái nhìn thấu suốt về mối tương quan đang tồn tại giữa ba trung tâm hành tinh lớn: trung tâm nhân loại, trung tâm Thánh đoàn, và Shamballa. Mỗi trung tâm này đều có tính gợi lên đối với trung tâm đang hoạt động ở một tốc độ chậm hơn hay thấp hơn — nếu tôi có thể dùng những thuật ngữ không thích hợp như thế — và có tính khẩn cầu đối với trung tâm ở trên nó; ở đây một lần nữa tôi đang dùng một hình thức ngôn từ hết sức dễ gây hiểu lầm, vì trong vũ trụ thực tại của chúng ta không có cao hơn hay thấp hơn, không có lớn hơn hay nhỏ hơn. Chỉ có sự xuyên thấu lẫn nhau của các chất liệu, tất cả về căn bản đều là những biểu hiện của vật chất, cùng với sự tiếp sinh lực và tổ chức chúng thành các hình tướng biểu hiện của Thực Tại vô danh. Thực Tại thiết yếu này, chúng ta gọi là tinh thần hay sự sống. |
|
As a result of the interplay of these two, humanity eventually appears in time and space. Humanity is the result of all subhuman forms of expression and experience and of the activity of superhuman Beings. These superhuman [Page 79] Beings are the product of past evolutionary systems and are in Themselves the sum total of the great Divine Sacrifice as it focuses itself in our planetary life. Having passed through all previous phases of existence and perfected the consciousness aspect in Themselves through human experiences, They have transcended all that man can know and all states of consciousness with which he is or may be in the future familiar, and are now expressing a phase of divinity of which he can know naught. They Live. They are energy itself, and in Their totality They form the “bright center lying far ahead.” |
Như kết quả của sự tương tác giữa hai điều này, rốt cuộc nhân loại xuất hiện trong thời gian và không gian. Nhân loại là kết quả của mọi hình tướng biểu hiện và kinh nghiệm dưới nhân loại, cũng như của hoạt động của các Đấng siêu nhân. Những Đấng siêu nhân [Page 79] ấy là sản phẩm của các hệ thống tiến hóa quá khứ, và trong Chính Các Ngài là tổng toàn bộ của Sự Hy Sinh Thiêng Liêng vĩ đại khi nó tập trung chính nó trong đời sống hành tinh của chúng ta. Sau khi đã đi qua mọi giai đoạn hiện hữu trước đó và hoàn thiện phương diện tâm thức trong Chính Các Ngài nhờ các kinh nghiệm nhân loại, Các Ngài đã vượt lên trên tất cả những gì con người có thể biết và mọi trạng thái tâm thức mà y đang quen thuộc hoặc có thể quen thuộc trong tương lai, và giờ đây đang biểu hiện một giai đoạn thiên tính mà y không thể biết gì. Các Ngài Sống. Các Ngài là chính năng lượng, và trong toàn thể của Các Ngài, Các Ngài tạo thành “trung tâm sáng rực nằm xa phía trước.” |
|
Sentence 3—response is evoked from the bright center |
Câu 3 — đáp ứng được gợi lên từ trung tâm sáng rực |
|
3. Let it evoke response from the bright center, lying far ahead. (←) |
3. Hãy để nó gợi lên đáp ứng từ trung tâm sáng rực, nằm xa phía trước. (←) |
|
To this center we give the name Shamballa, the component letters of which are numerically: S.H.A.M.B.A.L.L.A. or 1.8.1.4.2.1.3.3.1. This word equals the number 24 which in its turn equals 6. I would call your attention to the fact that the word has in it nine letters, and—as you know—nine is the number of initiation. The goal of all the initiatory process is to admit mankind into realization of and identification with the will or purpose of Deity. The number 6 is the number of form or of manifestation, which is the agent or medium through which this realization comes and by which the consciousness is unfolded so that it can become the foundation of the higher process which is instituted at the third initiation. That initiation is closely related to the third major center, Shamballa; it is the third, from the angle of man’s perception and understanding, but the first from the angle of Deity Itself. Again, 6 being the number of the sixth ray, it is therefore the number of idealism and of that driving force which makes mankind move forward upon the path and in response to the vision and press upward towards the light. It is in reality devotion to an unseen goal, ever on ahead, and an unswerving recognition of the objective. Like all other divine qualities, it has its material counterpart, and that is why 666 is regarded as the number of the Beast or of materialism, the number of the [Page 80] dominance of the three worlds prior to the process of reorientation and the expression of developed idealism and purpose. The third aspect expresses itself through pure materialism, and hence the three sixes. In an ancient book on numbers the initiate is defined as “the one who has experienced and expressed 666 and found it naught; who has dropped the 6 and become the 66, and thus has found himself upon the Way; later, again, he drops the 6 and becomes the perfected 6—form, the instrument and expression of spirit.” |
Chúng ta đặt cho trung tâm này tên gọi Shamballa, các chữ cái cấu thành nó, tính theo số học, là: S.H.A.M.B.A.L.L.A. hay 1.8.1.4.2.1.3.3.1. Từ này bằng con số 24, mà đến lượt nó bằng 6. Tôi muốn các bạn chú ý đến sự kiện rằng từ này có chín chữ cái, và — như các bạn biết — chín là con số của điểm đạo. Mục tiêu của toàn bộ tiến trình điểm đạo là đưa nhân loại vào sự chứng nghiệm và sự đồng hóa với ý chí hay mục đích của Thượng đế. Con số 6 là con số của hình tướng hay của biểu hiện, vốn là tác nhân hay phương tiện qua đó sự chứng nghiệm này đến và nhờ đó tâm thức được khai mở để có thể trở thành nền tảng của tiến trình cao hơn được thiết lập ở lần điểm đạo thứ ba. Cuộc điểm đạo ấy liên hệ mật thiết với trung tâm chính thứ ba, Shamballa; nó là trung tâm thứ ba theo góc nhìn của tri giác và sự thấu hiểu của con người, nhưng là trung tâm thứ nhất theo góc nhìn của Chính Thượng đế. Lại nữa, vì 6 là con số của cung sáu, nên nó là con số của chủ nghĩa lý tưởng và của mãnh lực thúc đẩy khiến nhân loại tiến bước trên Đường Đạo, đáp ứng với tầm nhìn và vươn lên hướng về ánh sáng. Trong thực tại, đó là sự sùng tín đối với một mục tiêu vô hình, luôn ở phía trước, và là sự nhận biết bất lay chuyển về mục tiêu. Như mọi phẩm tính thiêng liêng khác, nó có đối phần vật chất của nó; và vì thế 666 được xem là con số của Con Thú hay của chủ nghĩa vật chất, con số của sự [Page 80] thống trị của ba cõi thấp trước tiến trình tái định hướng và trước sự biểu hiện của chủ nghĩa lý tưởng và mục đích đã phát triển. Phương diện thứ ba tự biểu hiện qua chủ nghĩa vật chất thuần túy, và do đó có ba số sáu. Trong một quyển sách cổ về các con số, điểm đạo đồ được định nghĩa là “người đã trải nghiệm và biểu hiện 666, rồi thấy nó là hư vô; người đã buông bỏ số 6 và trở thành 66, và nhờ vậy thấy mình ở trên Con Đường; về sau, một lần nữa, y buông bỏ số 6 và trở thành số 6 hoàn thiện — hình tướng, khí cụ và biểu hiện của tinh thần.” |
|
The number 24 is of deep interest, expressing as it does the double 12—the greater and the lesser zodiac. Just as the number 6 expresses space, so the number 24 expresses time, and is the key to the great cycle of manifestation. It is the clue to all cyclic appearance or incarnation. Its two figures define the method of evolution; 2 equals the quality of love-wisdom, working under the Law of Attraction and drawing man from one point of attainment to another; whilst 4 indicates the technique of conflict and the achieving of harmony through that conflict; 4 is also the number of the human hierarchy, and 2 is the number of the spiritual hierarchy. Technically speaking, until the third initiation, the initiate is “occupied with the relationship of the 2 and the 4; these, when placed side by side, connote relation; and when placed the one above the other, the initiate passes from the 4 into the 2.” Needless to say, there is much more to say anent these figures, but the above will suffice to show the satisfactory nature of esoteric numerology—not numerology as understood today. |
Con số 24 có ý nghĩa rất sâu sắc, vì nó biểu hiện 12 kép — hoàng đạo lớn và hoàng đạo nhỏ. Cũng như con số 6 biểu hiện không gian, thì con số 24 biểu hiện thời gian, và là chìa khóa của chu kỳ biểu hiện lớn lao. Nó là manh mối cho mọi sự xuất hiện hay nhập thể theo chu kỳ. Hai chữ số của nó định rõ phương pháp tiến hóa; 2 tương ứng với phẩm tính Bác Ái – Minh Triết, hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn và kéo con người từ một điểm thành tựu này sang một điểm thành tựu khác; còn 4 chỉ kỹ thuật xung đột và việc đạt được hòa hợp qua xung đột ấy; 4 cũng là con số của huyền giai nhân loại, và 2 là con số của Huyền Giai Tinh Thần. Nói một cách kỹ thuật, cho đến lần điểm đạo thứ ba, điểm đạo đồ “bận tâm với mối liên hệ giữa 2 và 4; khi đặt cạnh nhau, chúng hàm ý quan hệ; và khi đặt cái này bên trên cái kia, điểm đạo đồ chuyển từ 4 vào 2.” Không cần phải nói, còn nhiều điều hơn nữa có thể nói về các con số này, nhưng những điều trên đủ để cho thấy bản chất thỏa đáng của số học huyền bí — không phải số học như được hiểu ngày nay. |
|
I would have you note that the sounds which compose the word “Shamballa” are predominantly along the line of will or power or of first ray energy. Of the nine letters, six are on the first ray line of force, 1. 1. 1.3.3. 1.—spirit and matter, will and intelligence. Two of them are along the second line of force, 4 and 2. The number 8 inaugurates ever a new cycle, following after the number 7, which is that of a relative perfection. It is the number of the Christ-consciousness; just as 7 is the number of man, 8 is the [Page 81] number of the Hierarchy, and 9 is the number of initiation or of Forget not that, from the angle of the Hierarchy, the third initiation is regarded as the first major initiation. |
Tôi muốn các bạn lưu ý rằng các âm tạo thành từ “Shamballa” chủ yếu nằm theo đường lối của ý chí hay quyền năng, hay của năng lượng cung một. Trong chín chữ cái, sáu chữ nằm trên đường mãnh lực của cung một: 1. 1. 1.3.3. 1. — tinh thần và vật chất, ý chí và trí tuệ. Hai chữ nằm theo đường mãnh lực thứ hai, 4 và 2. Con số 8 luôn khai mở một chu kỳ mới, theo sau con số 7, vốn là con số của một sự hoàn thiện tương đối. Nó là con số của tâm thức Đức Christ; cũng như 7 là con số của con người, 8 là [Page 81] con số của Thánh đoàn, và 9 là con số của điểm đạo. Đừng quên rằng, theo góc nhìn của Thánh đoàn, lần điểm đạo thứ ba được xem là lần điểm đạo chính yếu thứ nhất. |
|
These preliminary remarks are intended to convey much esoteric information to those who realize that number gives the clue to the form and purpose of the life which the form veils. At the third major initiation, the third planetary initiation (which is in fact the first solar initiation), the liberated disciple for the first time—alone and unaided—invokes the highest spiritual center on our planet, Shamballa. This he does because, for the first time, consciously and with understanding, he registers the life aspect (which has brought his soul into action through the medium of form) and vibrates to the Monad. That registration enables him to contact “the bright center, lying far ahead,” to blend his individual will with the divine will, and to cooperate with the purpose aspect of manifestation. He has learnt to function through form; he has become aware, as a soul, of the divine form in its many aspects and differentiations; he now starts off upon the way of the higher unfoldment, of which the first step is contact with Shamballa, involving the fusion of his self-will and his spiritual will with the Will of God. |
Những nhận xét sơ khởi này nhằm truyền đạt nhiều thông tin huyền bí cho những ai nhận ra rằng con số trao chìa khóa cho hình tướng và mục đích của sự sống mà hình tướng che phủ. Ở lần điểm đạo chính yếu thứ ba, lần điểm đạo hành tinh thứ ba — thực ra là lần điểm đạo thái dương thứ nhất — người đệ tử được giải thoát lần đầu tiên, một mình và không được trợ giúp, khẩn cầu trung tâm tinh thần cao nhất trên hành tinh chúng ta, Shamballa. Y làm điều này vì, lần đầu tiên, một cách có ý thức và với sự thấu hiểu, y ghi nhận phương diện sự sống — phương diện đã đưa linh hồn của y vào hoạt động qua phương tiện hình tướng — và rung động với chân thần. Sự ghi nhận ấy giúp y tiếp xúc với “trung tâm sáng rực, nằm xa phía trước,” hòa nhập ý chí cá nhân của y với Ý Chí thiêng liêng, và hợp tác với phương diện mục đích của biểu hiện. Y đã học cách hoạt động qua hình tướng; với tư cách một linh hồn, y đã ý thức được hình tướng thiêng liêng trong nhiều phương diện và biến phân của nó; giờ đây y khởi sự trên con đường khai mở cao hơn, mà bước đầu tiên là tiếp xúc với Shamballa, bao hàm sự dung hợp giữa ý chí riêng của y và ý chí tinh thần của y với Ý Chí của Thượng Đế. |
|
At the third initiation he stands before the One Initiator, the Lord of the World, and “sees His star shine forth” and hears the sound which—to quote the Old Commentary. |
Ở lần điểm đạo thứ ba, y đứng trước Đấng Điểm đạo Duy Nhất, Đức Chúa Tể Thế Giới, và “thấy ngôi sao của Ngài tỏa sáng” và nghe âm thanh mà — trích từ Cổ Luận. |
|
“…pours forth from that central point of power where substance and the outer life have met together, where spirit utters loud the cry which drew the form to meet the highest need; where energy comes forth and blends with force and (in the blending) music had its start within the sphere of blending and of being thus created. |
“…tuôn ra từ điểm quyền năng trung tâm ấy, nơi chất liệu và sự sống bên ngoài đã gặp nhau, nơi tinh thần cất tiếng kêu vang, tiếng kêu đã kéo hình tướng đến để đáp ứng nhu cầu cao nhất; nơi năng lượng phát ra và hòa nhập với mãnh lực, và trong sự hòa nhập ấy, âm nhạc đã khởi đầu trong khối cầu của sự hòa nhập và của hiện hữu được tạo thành như vậy. |
|
“Man only hears the distant sound and knows it not for what it is. The disciple hears the sound and sees its form. The one who stands for the third time upon the mountain top hears a clear note and [Page 82] knows it as his own, as ours, as yours, and yet the note which none have sounded forth.” |
“Con người chỉ nghe âm thanh xa xăm và không biết nó là gì. Đệ tử nghe âm thanh và thấy hình tướng của nó. Người đứng lần thứ ba trên đỉnh núi nghe một âm điệu trong trẻo và [Page 82] biết đó là của chính mình, của chúng ta, của các bạn, nhưng vẫn là âm điệu mà chưa ai từng xướng lên.” |
|
Sentence 4— the demand and the response are lost in one great Sound |
Câu 4 — yêu cầu và đáp ứng tan mất trong một Âm Thanh vĩ đại |
|
4. When the demand and the response are lost in one great Sound, move outward from the desert, leave the seas behind and know that God is Fire. (←) |
4. Khi yêu cầu và đáp ứng tan mất trong một Âm Thanh vĩ đại, hãy đi ra khỏi sa mạc, bỏ lại các biển phía sau và biết rằng Thượng đế là Lửa. (←) |
|
This means more than its obvious significance. Superficially it can mean that when the initiate hears the Sound, he leaves behind the desert life of physical incarnation, the emotional life of the astral plane, seething and unstable as the sea, and functions on the plane of mind, of which the symbol is fire. That is the most elementary and obvious meaning, and as this section of A Treatise on the Seven Rays is written for those with initiate understanding, the obvious interpretation will not prove satisfactory. The meaning must be broader and deeper. The words “outward from the desert” have application for the entire life of the incarnated Monad in the three worlds of human endeavor and enterprise. “Leaving the sea behind” has reference to the withdrawal of the initiate from all sensuous experience because, as I have pointed out, the state of consciousness or awareness is superseded when the higher initiations are taken and their place is filled by a state of being for which we have no word but the unsatisfactory one of identification. This state of being is something very different to consciousness as you understand it. The phrase therefore means (if such a misleading form of words can be justifiably used) that the initiate leaves consciousness itself behind and the five worlds of life expression are transcended; at the third initiation the initiate grasps what is meant when the One in Whom we live and move and have our being (note that expression) is referred to as Fire. I elaborated this theme in A Treatise on Cosmic Fire—a book which evades understanding by all except those with initiate consciousness. Fire is the sumtotal of that which destroys form, produces complete purity in that which is not itself, generates the warmth which lies behind all growth, and is vitality itself. [Page 83] |
Điều này có ý nghĩa nhiều hơn ý nghĩa hiển nhiên của nó. Nhìn bề ngoài, nó có thể có nghĩa rằng khi điểm đạo đồ nghe Âm Thanh, y bỏ lại phía sau đời sống sa mạc của sự nhập thể hồng trần, đời sống cảm xúc của cõi cảm dục, sôi sục và bất ổn như biển cả, và hoạt động trên cõi trí, mà biểu tượng là lửa. Đó là ý nghĩa sơ đẳng và hiển nhiên nhất; và vì phần này của Luận về Bảy Cung được viết cho những người có sự thấu hiểu của điểm đạo đồ, cách diễn giải hiển nhiên sẽ không thỏa đáng. Ý nghĩa phải rộng hơn và sâu hơn. Những lời “đi ra khỏi sa mạc” áp dụng cho toàn bộ đời sống của chân thần nhập thể trong ba cõi thấp của nỗ lực và hoạt động nhân loại. “Bỏ lại biển phía sau” chỉ sự rút lui của điểm đạo đồ khỏi mọi kinh nghiệm giác quan, bởi vì, như tôi đã chỉ ra, trạng thái tâm thức hay nhận biết bị thay thế khi các cuộc điểm đạo cao hơn được nhận, và vị trí của nó được lấp đầy bởi một trạng thái hiện hữu mà chúng ta không có từ nào ngoài từ không thỏa đáng là đồng hóa với. Trạng thái hiện hữu này là một điều rất khác với tâm thức như các bạn hiểu. Vì vậy, cụm từ ấy có nghĩa — nếu một hình thức ngôn từ dễ gây hiểu lầm như vậy có thể được dùng một cách chính đáng — rằng điểm đạo đồ bỏ lại chính tâm thức phía sau, và năm cõi biểu hiện sự sống được vượt qua; ở lần điểm đạo thứ ba, điểm đạo đồ nắm bắt được điều muốn nói khi Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu — hãy lưu ý cách diễn đạt ấy — được gọi là Lửa. Tôi đã khai triển chủ đề này trong Luận về Lửa Vũ Trụ —một quyển sách vượt khỏi sự thấu hiểu của tất cả, ngoại trừ những người có tâm thức điểm đạo đồ. Lửa là tổng toàn bộ của cái phá hủy hình tướng, tạo ra sự tinh khiết hoàn toàn nơi cái không phải là chính nó, sinh ra hơi ấm nằm sau mọi sự tăng trưởng, và là chính sinh lực. [Page 83] |
|
This initiate realization is all brought about by the sudden appreciation or apprehension of sound, by the awakening of the inner ear to the significance of the Voice, just as the disciple in the earlier stage awakened to the significance of vision. That is why, at the third initiation, the initiate sees the star and hears the sound. At the first two initiations, he sees the light and hears the Word; but this is something different and is the higher correspondence to the earlier experience. It will be obvious that I can say no more upon this subject. |
Sự chứng nghiệm này của điểm đạo đồ hoàn toàn được tạo ra bởi sự nhận biết hay nắm bắt đột ngột về âm thanh, bởi sự thức tỉnh của nội nhĩ trước thâm nghĩa của Tiếng Nói, cũng như ở giai đoạn trước, đệ tử đã thức tỉnh trước thâm nghĩa của tầm nhìn. Đó là lý do vì sao, ở lần điểm đạo thứ ba, điểm đạo đồ thấy ngôi sao và nghe âm thanh. Ở hai lần điểm đạo đầu, y thấy ánh sáng và nghe Linh từ; nhưng đây là một điều khác, và là tương ứng cao hơn của kinh nghiệm trước đó. Hiển nhiên là tôi không thể nói thêm về chủ đề này. |
|
It is essential, however, that some knowledge begin to reach the public anent the highest spiritual center to which (as the Gospel story intimates) Christ Himself was attentive. Frequently we read in the New Testament that “the Father spoke to Him,” that “He heard a voice,” and that the seal of affirmation (as it is occultly called) was given to Him. Only the Father, the planetary Logos, the Lord of the World, enunciates the final affirmative sound. This has no reference—when it occurs—to the earlier initiations, but only to the final ones. There are five obvious crises of initiation which concern the Master Jesus as step by step He took or re-enacted the five initiations. But lying behind this obvious and practical teaching, lies an undercurrent or thread of higher revelation. This is concerned with the realizations of the over-shadowing Christ as He registered the Voice which is heard at the third, fifth, sixth and seventh initiations. The Gospel story gives us the five initiations of the Master Jesus, beginning with the first and ending with the fifth. But it also gives the initiations of the Christ, starting from the second and ending with the seventh. The latter is left incomplete, and the Voice is not recorded, because at the Resurrection and Ascension we are not told of the hearing of the affirmative sound. That will be heard when the Christ completes His work at the time of the Second Coming. Then the great seventh initiation, which is a dual one (love-wisdom in full manifestation motivated by power and will), will be consummated, and the Buddha and the Christ will together pass before the Lord of the [Page 84] World, together see the glory of the Lord, and together pass to higher service of a nature and caliber unknown to us. |
Tuy nhiên, điều thiết yếu là một ít tri thức bắt đầu đến với công chúng về trung tâm tinh thần cao nhất mà — như câu chuyện Phúc Âm hàm ý — chính Đức Christ đã chú tâm đến. Chúng ta thường đọc trong Tân Ước rằng “Đức Cha đã phán với Ngài,” rằng “Ngài nghe một tiếng nói,” và rằng ấn tín xác nhận — như cách gọi huyền bí — đã được ban cho Ngài. Chỉ Đức Cha, Hành Tinh Thượng đế, Đức Chúa Tể Thế Giới, mới phát ra âm thanh xác nhận sau cùng. Khi điều này xảy ra, nó không liên quan đến các cuộc điểm đạo trước đó, mà chỉ liên quan đến các cuộc điểm đạo cuối cùng. Có năm cuộc khủng hoảng điểm đạo rõ rệt liên quan đến Chân sư Jesus khi từng bước Ngài trải qua hoặc tái diễn năm cuộc điểm đạo. Nhưng ẩn sau giáo huấn hiển nhiên và thực tiễn này có một dòng chảy ngầm hay một sợi dây mặc khải cao hơn. Điều này liên quan đến các chứng nghiệm của Đức Christ đang phủ bóng khi Ngài ghi nhận Tiếng Nói được nghe ở lần điểm đạo thứ ba, thứ năm, thứ sáu và thứ bảy. Câu chuyện Phúc Âm trao cho chúng ta năm cuộc điểm đạo của Chân sư Jesus, bắt đầu với lần thứ nhất và kết thúc với lần thứ năm. Nhưng nó cũng trao các cuộc điểm đạo của Đức Christ, bắt đầu từ lần thứ hai và kết thúc với lần thứ bảy. Lần sau cùng được để chưa hoàn tất, và Tiếng Nói không được ghi lại, vì ở sự Phục Sinh và Thăng Thiên, chúng ta không được kể về việc nghe âm thanh xác nhận. Âm thanh ấy sẽ được nghe khi Đức Christ hoàn tất công việc của Ngài vào thời điểm Tái Lâm. Khi ấy, cuộc điểm đạo vĩ đại thứ bảy, vốn là một cuộc điểm đạo kép — Bác Ái – Minh Triết trong sự biểu hiện trọn vẹn, được thúc đẩy bởi quyền năng và ý chí — sẽ được hoàn mãn, và Đức Phật cùng Đức Christ sẽ cùng nhau đi qua trước Đức Chúa Tể của [Page 84] Thế Giới, cùng nhau thấy vinh quang của Đức Chúa, và cùng nhau đi vào sự phụng sự cao hơn thuộc một bản chất và tầm vóc mà chúng ta không biết. |
|
In this connection it is wise to remember that three great energies are focused in Shamballa, the seat of fire: |
Trong mối liên hệ này, điều khôn ngoan là nhớ rằng ba năng lượng lớn được tập trung tại Shamballa, nơi ngự của lửa: |
|
1. The Energy of Purification: This is the power, innate in the manifested universe, which gradually and steadily adapts the substance aspect to the spiritual by a process which we call purification, where humanity is concerned. It involves the elimination of all that hinders the nature of divinity from full expression, and this again from inherent or latent capacity. This necessitates the leaving behind, stage after stage, cycle after cycle, life after life, and plane after plane, of every tendency in the form nature which veils or hides the glory of God. It is essentially the energy which substitutes good for evil. Human thinking has debased this concept so that purification is related mainly to physical phenomena and physical plane life and to a selfish idealism which is largely based on the thought of the sanitary care of substance. An enforced celibacy and a rigid vegetarianism are familiar instances of this, and these physical disciplines have been put in the place of emotional loveliness, mental clarity, intuitional illumination, and the thoughts of the aspirant become focused downwards into matter and not outwards and upwards into light. |
1. Năng Lượng Thanh Lọc: Đây là quyền năng vốn có trong vũ trụ biểu hiện, dần dần và đều đặn thích nghi phương diện chất liệu với phương diện tinh thần bằng một tiến trình mà, đối với nhân loại, chúng ta gọi là thanh lọc. Nó bao hàm việc loại bỏ tất cả những gì cản trở bản chất thiên tính biểu hiện trọn vẹn, và điều này lại phát xuất từ năng lực nội tại hay tiềm tàng. Điều này đòi hỏi phải bỏ lại phía sau, giai đoạn này sang giai đoạn khác, chu kỳ này sang chu kỳ khác, kiếp sống này sang kiếp sống khác, và cõi này sang cõi khác, mọi khuynh hướng trong bản chất hình tướng vốn che phủ hay ẩn giấu vinh quang của Thượng đế. Về bản chất, đó là năng lượng thay thế cái ác bằng cái thiện. Tư tưởng nhân loại đã làm suy giảm quan niệm này đến mức sự thanh lọc chủ yếu được liên hệ với các hiện tượng hồng trần và đời sống cõi hồng trần, cùng với một chủ nghĩa lý tưởng ích kỷ phần lớn đặt nền trên tư tưởng về việc chăm sóc vệ sinh cho chất liệu. Sự độc thân bị cưỡng ép và chế độ ăn chay cứng nhắc là những ví dụ quen thuộc về điều này, và các kỷ luật hồng trần ấy đã được đặt vào vị trí của vẻ đẹp cảm xúc, sự trong sáng trí tuệ, sự soi sáng trực giác, khiến tư tưởng của người chí nguyện bị tập trung xuống dưới vào vật chất, chứ không hướng ra ngoài và vươn lên trên vào ánh sáng. |
|
2. The Energy of Destruction: This is a destruction which removes the forms which are imprisoning the inner spiritual life, and hiding the inner soul light. This energy is therefore one of the major aspects of the purificatory nature of the divine Life, and that is the reason why I have put purification ahead of destruction. It is the destroying aspect of life itself, just as there is a destructive agency in matter itself. Two things must be borne in mind in connection with the destroyer aspect of Deity and with those responsible for its appearance: |
2. Năng Lượng Hủy Diệt: Đây là một sự hủy diệt loại bỏ các hình tướng đang giam hãm sự sống tinh thần bên trong và che giấu ánh sáng linh hồn bên trong. Vì vậy, năng lượng này là một trong các phương diện chính yếu của bản chất thanh lọc thuộc Sự Sống thiêng liêng, và đó là lý do tôi đặt sự thanh lọc trước sự hủy diệt. Nó là phương diện hủy diệt của chính sự sống, cũng như trong chính vật chất có một tác nhân hủy diệt. Hai điều phải được ghi nhớ liên quan đến phương diện hủy diệt của Thượng đế và đến những Đấng chịu trách nhiệm cho sự xuất hiện của nó: |
|
a. The destructive activity is set in motion through the will of Those Who constitute the Council at Shamballa and Who are instrumental in bringing the forms in all the subhuman kingdoms into line with the [Page 85] evolving purpose. Under cyclic law, this destructive energy comes into play and destroys the forms of life which prevent divine expression. |
a. Hoạt động hủy diệt được khởi động thông qua ý chí của Những Đấng tạo thành Hội Đồng tại Shamballa, và Các Ngài là khí cụ trong việc đưa các hình tướng trong mọi giới dưới nhân loại vào sự phù hợp với [Page 85] mục đích đang tiến hóa. Dưới định luật chu kỳ, năng lượng hủy diệt này đi vào hoạt động và phá hủy các hình tướng sự sống ngăn cản sự biểu hiện thiêng liêng. |
|
b. It is also brought into activity through the determinations of humanity itself which—under the Law of Karma—makes man the master of his own destiny, leading him to initiate those causes which are responsible for the cyclic events and consequences in human affairs. |
b. Nó cũng được đưa vào hoạt động thông qua các quyết định của chính nhân loại, vốn — dưới Định luật Nghiệp quả — khiến con người trở thành chủ nhân vận mệnh của chính mình, dẫn y đến việc khởi phát những nguyên nhân chịu trách nhiệm cho các biến cố và hệ quả theo chu kỳ trong các sự việc của nhân loại. |
|
There is naturally a close connection between the first Ray of Will or Power, the energies concentrated at Shamballa and the Law of Karma, particularly in its planetary potency and in relation to advanced humanity. It will be apparent, therefore, that the more rapidly the individual aspirant approaches the third initiation, the more rapidly and directly will the individual’s karma be worked out. Monadic relation, as it becomes established, lets loose the destructive aspect of the basic energy, and all hindrances are destroyed with expedition. This is true also of humanity as a whole. Two factors have, subjectively and spiritually, precipitated this world crisis: The growth and development of the human family and (as you have been told) the inflow of the Shamballa force at this particular time, both as a result of karmic law and the planned decision of the Great Council. |
Tự nhiên có một mối liên hệ mật thiết giữa Cung một của Ý Chí hay Quyền Năng, các năng lượng tập trung tại Shamballa và Định luật Nghiệp quả, đặc biệt trong quyền năng hành tinh của nó và trong liên hệ với nhân loại tiến bộ. Vì vậy, sẽ thấy rõ rằng người chí nguyện cá nhân càng nhanh chóng tiến gần đến lần điểm đạo thứ ba, thì nghiệp quả cá nhân của y càng được xử lý nhanh chóng và trực tiếp. Khi mối liên hệ chân thần được thiết lập, nó giải phóng phương diện hủy diệt của năng lượng căn bản, và mọi chướng ngại bị phá hủy nhanh chóng. Điều này cũng đúng với toàn thể nhân loại. Hai yếu tố, một cách chủ quan và tinh thần, đã làm ngưng tụ cuộc khủng hoảng thế giới này: sự tăng trưởng và phát triển của gia đình nhân loại, và — như các bạn đã được nói — dòng mãnh lực Shamballa tuôn vào ở thời điểm đặc biệt này, cả hai đều là kết quả của định luật nghiệp quả và quyết định có hoạch định của Đại Hội Đồng. |
|
3. The Energy of Organization: This is the energy which set in motion the activity of the great Ray Lives and started the motivation and impulse of that which produced manifestation. Thus were the seven ray qualities brought into expression. The relation of spirit and matter produced this ordered process which again, cyclically and under law, creates the manifested world as a field for soul development and as an area wherein divine purpose is wrought out through the medium of the plan. Again I call your attention to the distinction existing between purpose and plan. This is the aspect, emanating from Shamballa, and inherent also in form (as are the other two), which eventually relates the human will, through the right use of the mind, to the organized planning of his separate and individual life in the [Page 86] three worlds, and which eventually relates and reorients that will to the Will of God. |
3. Năng Lượng Tổ Chức: Đây là năng lượng đã khởi động hoạt động của các Sự Sống Cung vĩ đại, và khởi đầu động cơ cùng xung lực của điều đã tạo ra biểu hiện. Nhờ vậy, bảy phẩm tính cung được đưa vào biểu hiện. Mối liên hệ giữa tinh thần và vật chất đã tạo ra tiến trình có trật tự này, tiến trình mà, một lần nữa theo chu kỳ và dưới định luật, tạo nên thế giới biểu hiện như một trường cho sự phát triển của linh hồn và như một khu vực trong đó mục đích thiêng liêng được thực hiện thông qua phương tiện của Thiên Cơ. Một lần nữa, tôi kêu gọi các bạn chú ý đến sự phân biệt đang tồn tại giữa mục đích và Thiên Cơ. Đây là phương diện xuất phát từ Shamballa, và cũng vốn có trong hình tướng — cũng như hai phương diện kia — rốt cuộc liên kết ý chí con người, thông qua việc sử dụng thể trí đúng đắn, với sự hoạch định có tổ chức của đời sống riêng biệt và cá nhân của y trong [Page 86] ba cõi thấp, và cuối cùng liên kết cũng như tái định hướng ý chí ấy về Ý Chí của Thượng Đế. |
|
These three energies are faintly symbolized for us in the life of Christ when over-shadowing the Master Jesus, two thousand years ago. |
Ba năng lượng này được biểu tượng một cách mờ nhạt cho chúng ta trong đời sống của Đức Christ khi Ngài phủ bóng Chân sư Jesus, hai nghìn năm trước. |
|
The purificatory aspect of the monadic force is indicated at the Baptism episode; secondly, the destroyer aspect can be seen expressing itself at the time of the Crucifixion, when it rent the veil of the Temple from the top to the bottom. The episode which indicates the energy of organization and the relation of the spiritual will of the Christ to the purpose and the will of the Father appears when He said, in the Garden of Gethsemane, “Not my will but Thine be done.” This final episode is closely related to the consciously expressed will of the Christ Child when He realized in the Temple that He must be about His Father’s business and that His will was to do the will and fulfil the purpose of the Father, the Monad and the One of Whom the Monad is the expression. |
Phương diện thanh lọc của mãnh lực chân thần được chỉ ra trong biến cố Lễ Rửa Tội; thứ hai, phương diện hủy diệt có thể được thấy khi nó tự biểu hiện vào thời điểm Đóng Đinh, khi nó xé bức màn của Đền Thờ từ trên xuống dưới. Biến cố chỉ năng lượng tổ chức và mối liên hệ giữa ý chí tinh thần của Đức Christ với mục đích và ý chí của Đức Cha xuất hiện khi Ngài nói trong Vườn Gethsemane: “Không phải ý muốn của con, mà ý muốn của Cha được thành tựu.” Biến cố cuối cùng này liên hệ mật thiết với ý chí được biểu hiện một cách có ý thức của Hài Nhi Christ khi Ngài nhận ra trong Đền Thờ rằng Ngài phải lo công việc của Cha Ngài, và rằng ý chí của Ngài là thực hiện ý chí và hoàn thành mục đích của Đức Cha, của chân thần và của Đấng mà chân thần là sự biểu hiện. |
|
It is these three energies which have precipitated the world crisis, and it is helpful for us to recognize the factual nature of the Shamballa forces as they play upon our planetary life and work out human destiny. The great energy of purification is regenerating humanity, and of this the widespread fires which have been such an outstanding characteristic of this war (1914-1945) are the outward and visible sign. Much evil is being burnt out through the revelation of the appalling character of that evil, and through this, unity is being produced. Mankind has looked upon evil in every land and known it to be wrought by men. Men have seen, and that sight will never be forgotten, and the horror thus engendered will aid in stiffening the will of humanity to betterment. The energy of destruction has its side of beauty when the spiritual values are grasped. That which has so grossly imprisoned the human spirit is disappearing, the rocky grave of humanity is breaking open and releasing men to a life of resurrection. Forget not that in the interim between the tomb experience and the appearance in living [Page 87] form to His disciples, the Master Jesus went down into hell (figuratively speaking), carrying release for those to be found there. There will be an interim between the darkness of the war with the evil history of the past, and the appearance of a living civilization and culture based on the spiritual values and intelligently developing the divine purpose. The stage is now being set for this. |
Chính ba năng lượng này đã làm ngưng tụ cuộc khủng hoảng thế giới, và thật hữu ích cho chúng ta khi nhận ra bản chất thực tại của các mãnh lực Shamballa khi chúng tác động lên đời sống hành tinh của chúng ta và thực hiện vận mệnh nhân loại. Năng lượng vĩ đại của sự thanh lọc đang tái sinh nhân loại, và dấu hiệu bên ngoài, hữu hình của điều này là các đám cháy lan rộng, vốn là một đặc tính nổi bật của cuộc chiến này (1914-1945). Nhiều điều ác đang bị thiêu rụi nhờ sự mặc khải về bản chất kinh hoàng của điều ác ấy, và thông qua điều này, sự hợp nhất đang được tạo ra. Nhân loại đã nhìn thấy điều ác ở mọi xứ sở và biết rằng nó do con người gây ra. Con người đã thấy, và cảnh tượng ấy sẽ không bao giờ bị lãng quên; nỗi kinh hoàng được sinh ra như vậy sẽ trợ giúp trong việc làm cứng rắn ý chí hướng đến sự cải thiện của nhân loại. Năng lượng hủy diệt có mặt đẹp của nó khi các giá trị tinh thần được nắm bắt. Điều đã giam hãm tinh thần con người một cách quá thô bạo đang biến mất; ngôi mộ đá của nhân loại đang nứt mở và giải phóng con người vào một đời sống phục sinh. Đừng quên rằng trong khoảng giữa kinh nghiệm ngôi mộ và sự xuất hiện trong hình tướng sống động trước các đệ tử của Ngài, Chân sư Jesus đã đi xuống địa ngục — nói theo nghĩa bóng — mang sự giải thoát cho những ai được tìm thấy ở đó. Sẽ có một khoảng giữa bóng tối của chiến tranh cùng lịch sử tà ác của quá khứ, và sự xuất hiện của một nền văn minh cùng văn hóa sống động, đặt nền trên các giá trị tinh thần và phát triển một cách thông minh mục đích thiêng liêng. Sân khấu hiện đang được dàn dựng cho điều này. |
|
The Crucifixion and the tomb experience lead eventually to resurrection and to life. The destruction is appalling, but it is only the destruction of the form side of manifestation in this particular cycle, and (a point which I would beg you not to forget) it is the destruction of much planetary evil, focused for aeons in humanity as a whole and brought to the surface and precipitated into violent activity by a group of evil men whose destiny it was. This destiny was the result of their own deliberate choice, and of prolonged cycles of purely material selfishness. |
Sự Đóng Đinh và kinh nghiệm ngôi mộ rốt cuộc dẫn đến phục sinh và sự sống. Sự hủy diệt thật kinh hoàng, nhưng đó chỉ là sự hủy diệt phương diện hình tướng của biểu hiện trong chu kỳ đặc biệt này, và — một điểm mà tôi khẩn thiết xin các bạn đừng quên — đó là sự hủy diệt nhiều điều ác hành tinh, vốn đã tập trung trong nhiều đại kiếp nơi toàn thể nhân loại, được đưa lên bề mặt và ngưng tụ thành hoạt động dữ dội bởi một nhóm người ác mà đó là số phận của họ. Số phận này là kết quả của sự lựa chọn cố ý của chính họ, và của những chu kỳ kéo dài của tính ích kỷ thuần túy vật chất. |
|
I would ask all aspirants and disciples to ponder upon the destructive purpose of God—a purpose which is motivated by love, guided by a balanced judgment as to form, and which cherishes and fosters the life and its resultant spiritual values. |
Tôi xin tất cả những người chí nguyện và đệ tử suy ngẫm về mục đích hủy diệt của Thượng đế — một mục đích được thúc đẩy bởi tình thương, được hướng dẫn bởi một phán đoán quân bình về hình tướng, và trân quý cũng như nuôi dưỡng sự sống cùng các giá trị tinh thần do nó tạo ra. |
|
There is an inherent destructive energy in matter itself and an energy of very great potency; it is with this energy that the Axis Powers are working. The destructive energy, emanating from “the bright center,” Shamballa, is something very different, and I would ask you to remember this. The destroying power of spirit is not the same as that of matter. A human being destroys his own form again and again through the evil which he does and by the material focus of his desires; the following of a life of vice will breed disease, as is well known. |
Có một năng lượng hủy diệt cố hữu trong chính vật chất, và đó là một năng lượng có uy lực rất lớn; chính với năng lượng này mà các Cường quốc Trục đang làm việc. Năng lượng hủy diệt phát xuất từ “trung tâm sáng rực”, Shamballa, là một điều rất khác, và Tôi xin các bạn ghi nhớ điều này. Quyền năng hủy diệt của tinh thần không giống với quyền năng hủy diệt của vật chất. Một con người hủy hoại hình tướng của chính y hết lần này đến lần khác qua điều tà ác mà y làm và qua sự tập trung vật chất của các ham muốn nơi y; việc theo đuổi một đời sống đồi bại sẽ sinh ra bệnh tật, như ai cũng biết. |
|
The disciple can also destroy his form nature through selfless service and devotion to a cause. In both cases the form is destroyed, but the motivating impulse is different and the energy of destruction comes from different sources. The death of a Master Jesus or of a Father Damien, and [Page 88] the death of a Hitler or of a murderer, are not the result of the same essential energies. |
Đệ tử cũng có thể hủy hoại bản chất hình tướng của y qua sự phụng sự vô kỷ và lòng sùng tín đối với một chính nghĩa. Trong cả hai trường hợp, hình tướng đều bị hủy hoại, nhưng xung lực thúc đẩy thì khác nhau và năng lượng hủy diệt đến từ những nguồn khác nhau. Cái chết của Chân sư Đức Jesus hay của Cha Damien, và [Page 88] cái chết của Hitler hay của một kẻ sát nhân, không phải là kết quả của cùng những năng lượng cốt yếu. |
|
When the din[5] of battle and the smoke and fire of bombing and the cruel effects on human bodies have faded into the past, it will be apparent to the understanding aspirant that much evil has been destroyed in all fields of human activity—in the field of theological religion, in the field of politics, and in the field of selfish economic competition. It will be for humanity then to precipitate and stabilize the appearing good, and this they will learn to do through the utilization of the third Shamballa energy—the energy of organization. The new world will be built upon the ruins of the old. The new structure will rise. Men of goodwill everywhere, under the guidance of the New Group of World Servers, will organize themselves into battalions[6] of life, and their first major task must be the development of right human relations, through the education of the masses. This means the paralleling development of an enlightened public opinion, which is (speaking esoterically) right response to the sound which conveys the will of God to the ears of the attentive. Then humanity will indeed move outward from the desert, leave the seas behind, and know that God is Fire. |
Khi tiếng ầm vang của chiến trận, khói lửa của bom đạn và những hậu quả tàn khốc trên thân thể con người đã lùi vào quá khứ, người chí nguyện có sự thấu hiểu sẽ thấy rõ rằng nhiều điều tà ác đã bị tiêu diệt trong mọi lĩnh vực hoạt động của nhân loại — trong lĩnh vực tôn giáo thần học, trong lĩnh vực chính trị, và trong lĩnh vực cạnh tranh kinh tế ích kỷ. Khi ấy, nhân loại sẽ phải làm ngưng tụ và ổn định điều thiện đang xuất hiện, và họ sẽ học cách thực hiện điều này qua việc sử dụng năng lượng Shamballa thứ ba — năng lượng tổ chức. Thế giới mới sẽ được xây dựng trên những tàn tích của thế giới cũ. Cấu trúc mới sẽ vươn lên. Những người thiện chí ở khắp nơi, dưới sự hướng dẫn của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, sẽ tự tổ chức thành các đạo quân của sự sống, và nhiệm vụ chính yếu đầu tiên của họ phải là phát triển các mối quan hệ đúng đắn giữa con người với nhau, thông qua việc giáo dục quần chúng. Điều này hàm ý sự phát triển song hành của một dư luận công chúng được soi sáng, vốn là — nói một cách huyền bí — sự đáp ứng đúng đắn đối với âm thanh truyền đạt Ý Chí của Thượng Đế đến tai những người biết lắng nghe. Khi ấy, nhân loại quả thật sẽ tiến ra khỏi sa mạc, bỏ lại biển cả phía sau, và biết rằng Thượng Đế là Lửa. |
[1] dưới sự che chở của
[2] sự oán giận
[3] xem thường, khinh thường, khinh miệt
[4] làm phiền, quấy rầy, khó chịu
[5] tiếng ầm ĩ hỗn loạn kéo dài
[6] đạo quân lớn; nhóm lớn binh lính