Quy Luật Điểm đạo 9 dành cho đệ tử (RI)

📘 Sách: Bình Giảng 14 Quy Luật Điểm đạo Dành Cho Đệ tử – RI – Tác giả: Michael D. Robbins

Click số trang trong ngoặc [ ] để đi đến bình giảng

RULE NINE [Page 168-178]

QUY LUẬT CHÍN [Page 168-178]

As we proceed with the study of these rules the difficulty of interpreting and explaining them becomes increasingly great. We have arrived at a section of the rules which requires initiate-consciousness for right and true comprehension; we are studying ideas for which we have, as yet, no adequate language. Briefly, we have considered certain of the lower aspects of the Laws of Life as they appear to the initiate and are interpreted by him within the sphere of his normal consciousness—that of the Spiritual Triad. The presentation which I gave you had to be confined within the area of consciousness which we call “manasic awareness,” which is that of the abstract mind. Just in so far as that abstract mind is developed in you and the antahkarana tenuously constructed will be your understanding of my words.

Khi chúng ta tiếp tục nghiên cứu các quy luật này, khó khăn trong việc diễn giải và giải thích chúng ngày càng lớn. Chúng ta đã đi đến một phần của các quy luật đòi hỏi tâm thức điểm đạo đồ để có thể lĩnh hội đúng đắn và chân thực; chúng ta đang nghiên cứu những ý tưởng mà cho đến nay chúng ta vẫn chưa có ngôn ngữ thích đáng để diễn đạt. Nói vắn tắt, chúng ta đã xem xét một số phương diện thấp của các Định luật Sự sống khi chúng hiện ra trước điểm đạo đồ và được y diễn giải trong phạm vi tâm thức bình thường của y — tức tâm thức của Tam Nguyên Tinh Thần. Phần trình bày mà Tôi đã trao cho các bạn phải được giới hạn trong phạm vi tâm thức mà chúng ta gọi là “nhận thức manas”, tức nhận thức của trí trừu tượng. Trí trừu tượng ấy được phát triển nơi các bạn đến đâu, và antahkarana được kiến tạo mong manh đến đâu, thì sự thấu hiểu của các bạn đối với lời Tôi cũng sẽ tương ứng đến đó.

The difficulty becomes still greater as we arrive at the study of Rule IX. It was of real difficulty when presented in its lower form to applicants. That rule, as you may remember, ran as follows: [Page 168]

Khó khăn còn trở nên lớn hơn khi chúng ta đi đến phần nghiên cứu Quy luật Chín. Quy luật này đã thật sự khó khi được trình bày dưới hình thức thấp hơn cho các ứng viên. Quy luật ấy, như các bạn có thể nhớ, có nội dung như sau: [Page 168]

Let the disciple merge himself within the circle of the other selves. Let but one color blend them and their unity appear. Only when the group is known and sensed can energy be wisely emanated. ————— ————— —————

Hãy để đệ tử hòa nhập chính mình vào vòng tròn của những bản ngã khác. Hãy để chỉ một màu sắc hòa trộn họ và để sự hợp nhất của họ hiện ra. Chỉ khi nhóm được nhận biết và được cảm nhận, năng lượng mới có thể được phát xạ một cách minh triết. ————— ————— —

Three major ideas appear in this easier rule:

Ba ý tưởng chính xuất hiện trong quy luật dễ hơn này:

1. The idea of complete identity with all other selves.

1. Ý tưởng về sự đồng nhất hoàn toàn với tất cả các bản ngã khác.

2. The idea of the uniformity of their spiritual presentation to the world when unity is established.

2. Ý tưởng về sự đồng nhất trong cách họ biểu lộ tinh thần trước thế giới khi sự hợp nhất được thiết lập.

3. The idea that—as a result of the two above achievements—the group force, as a real and focused energy, can then be used.

3. Ý tưởng rằng — như kết quả của hai thành tựu trên — mãnh lực nhóm, như một năng lượng thực sự và được tập trung, khi ấy có thể được sử dụng.

Glibly the neophyte talks of identifying himself with others, and eagerly he endeavors, to ascertain his group and merge with it; yet in so doing the constant concept of duality is ever present—himself and all other selves, himself and the group, himself and the group energy which he may now wield. Yet this is not so in reality. Where true identity is achieved, there is no sense of this and that; where the merging is complete, there is no recognition of individual activity within the group, because the will of the merged soul is identical with that of the group and automatic in its working; where true unity is present, the individual applicant becomes only a channel for the group will and activity, and this with no effort of his own but simply as a spontaneous reaction.

Người sơ cơ nói một cách dễ dãi về việc đồng hóa mình với người khác, và hăng hái nỗ lực xác định nhóm của mình rồi hòa nhập với nhóm ấy; thế nhưng khi làm như vậy, khái niệm thường trực về nhị nguyên vẫn luôn hiện diện — chính y và tất cả các bản ngã khác, chính y và nhóm, chính y và năng lượng nhóm mà giờ đây y có thể vận dụng. Tuy nhiên, trong thực tại không phải như vậy. Nơi nào sự đồng nhất chân thực được thành tựu, nơi đó không còn cảm thức về cái này và cái kia; nơi nào sự hòa nhập đã trọn vẹn, nơi đó không còn nhận biết về hoạt động cá nhân trong nhóm, bởi vì ý chí của linh hồn đã hòa nhập đồng nhất với ý chí của nhóm và tự động trong sự vận hành của nó; nơi nào sự hợp nhất chân thực hiện diện, ứng viên cá nhân chỉ còn là một kênh dẫn cho ý chí và hoạt động của nhóm, và điều này không do nỗ lực riêng của y mà đơn giản là một phản ứng tự phát.

I have emphasized the above because in the rule for disciples and initiates, this will be found to be still more the case and the results are brought about by a conscious use of the will which is divine synthesis in action; also, the group referred to is not the Ashram of some particular Master, but that of all Ashrams as they in their entirety reflect the purpose of Shamballa and work out the Plan within the active sphere of the hierarchical consciousness.

Tôi đã nhấn mạnh điều trên vì trong quy luật dành cho các đệ tử và điểm đạo đồ, điều này sẽ còn đúng hơn nữa, và các kết quả được tạo nên nhờ việc sử dụng có ý thức ý chí, vốn là sự tổng hợp thiêng liêng trong hành động; thêm nữa, nhóm được nói đến không phải là ashram của một Chân sư đặc thù nào, mà là toàn thể các ashram khi chúng, trong tính toàn vẹn của mình, phản ánh mục đích của Shamballa và thực hiện Thiên Cơ trong phạm vi hoạt động của tâm thức Thánh đoàn.

Ashrams of the Masters

Các ashram của các Chân sư

Ashrams of the Masters are to be found on every level of consciousness in the threefold world of the Spiritual Triad. Some Masters pre-eminently occupy themselves with the mind aspect within all forms, and therefore their Ashrams are conditioned by the manasic consciousness; they are [Page 169] the Ashrams of those initiates who have taken the fourth initiation but who are not yet Masters. They are largely adepts upon the third and fifth rays, and work with the manas or mind as it is developing in all forms. They do foundational work of great importance, but are little understood and their lives are consequently lives of great sacrifice and the term of their service in this particular connection is relatively short. Certain aspects of their developed consciousness have to be kept in abeyance and must remain temporarily unexpressed in order to permit them to work with substance and specifically with the consciousness of the atoms which constitute the forms in all the subhuman kingdoms of nature. They do very little work with humanity, except with certain advanced members of humanity who are on the scientific line, drawing to their Ashrams only those who are on the third and fifth rays and who can continue with the work, being trained along peculiar and special lines.

Các ashram của các Chân sư hiện diện trên mọi cấp độ tâm thức trong thế giới tam phân của Tam Nguyên Tinh Thần. Một số Chân sư đặc biệt chuyên chú vào phương diện trí tuệ trong mọi hình tướng, và do đó các ashram của các Ngài chịu sự định hình của tâm thức manas; đó là [Page 169] các ashram của những điểm đạo đồ đã trải qua lần điểm đạo thứ tư nhưng chưa phải là Chân sư. Phần lớn các vị ấy là các chân sư thuộc cung ba và cung năm, và làm việc với manas hay trí tuệ khi nó đang phát triển trong mọi hình tướng. Các vị ấy thực hiện công việc nền tảng có tầm quan trọng lớn lao, nhưng ít được thấu hiểu; vì thế đời sống của các vị là những đời sống hi sinh lớn lao, và thời hạn phụng sự của các vị trong mối liên hệ đặc thù này tương đối ngắn. Một số phương diện trong tâm thức đã phát triển của các vị phải được giữ trong trạng thái tạm lắng và phải tạm thời không biểu lộ, để cho phép các vị làm việc với chất liệu, và đặc biệt với tâm thức của các nguyên tử cấu thành các hình tướng trong tất cả các giới dưới nhân loại của thiên nhiên. Các vị làm rất ít việc với nhân loại, ngoại trừ với một số thành viên tiến bộ của nhân loại thuộc tuyến khoa học, chỉ thu hút vào các ashram của mình những người thuộc cung ba và cung năm, những người có thể tiếp tục công việc và được huấn luyện theo các đường hướng đặc thù và chuyên biệt.

The Ashrams of the Masters (to be found on all the rays) Who work in particular with humanity, are mostly to be found upon the buddhic levels of the triadal consciousness. There the note of “loving understanding” predominates, but even these words must be interpreted esoterically and not according to their usual and obvious meaning. It is not a case of “I understand because I love,” or that “this,” with love, understands “that.” It is something far deeper, involving the idea of identification, of participation, and of synthetic realization—lovely euphonious[1] words, but meaning little to the non-initiates.

Các ashram của các Chân sư (hiện diện trên tất cả các cung), là những Đấng làm việc đặc biệt với nhân loại, phần lớn được tìm thấy trên các cấp độ Bồ đề của tâm thức Tam nguyên. Nơi đó, âm điệu của “sự thấu hiểu đầy bác ái” chiếm ưu thế, nhưng ngay cả những lời này cũng phải được diễn giải một cách huyền bí, chứ không theo ý nghĩa thông thường và hiển nhiên của chúng. Đây không phải là trường hợp “Tôi thấu hiểu vì tôi yêu thương”, hay “cái này”, với tình thương, thấu hiểu “cái kia”. Đó là điều sâu xa hơn nhiều, bao hàm ý tưởng về sự đồng hóa, sự tham dự và sự chứng nghiệm tổng hợp — những từ ngữ đẹp đẽ, êm tai, nhưng ít có ý nghĩa đối với những người chưa điểm đạo.

On atmic levels, the levels of the spiritual will, are to be found the Ashrams of those Masters Who are interpreting the will of Shamballa and to Whom is committed the task of transmitting the purpose and organizing the plans whereby that purpose can be fulfiled. As on manasic levels the Ashrams as a whole are presided over by the Master R., the Lord of Civilization, so on buddhic levels all Ashrams are supervised by the Master K.H., with the aid of myself (the Master D.K.) and three senior and [Page 170] initiated disciples; the objective is the unfoldment of group awareness and of loving understanding, in order that the forms prepared and conditioned under the supervision of the Master R. may be sensitized and become increasingly conscious of reality through the development of an inner mechanism of light which—in its turn—will condition and develop the outer mechanism of contact. Ashrams on atmic levels are under the control of the Master M., Who fosters the will aspect within the developed forms and Who (as the Old Commentary expresses it) “adds darkness unto light so that the stars appear, for in the light the stars shine not, but in the darkness light diffused is not, but only focused points of radiance.” The symbolism will be obvious to you though not the full significance.

Trên các cấp độ atma, các cấp độ của ý chí tinh thần, hiện diện các ashram của những Chân sư đang diễn giải ý chí của Shamballa và được giao phó nhiệm vụ truyền đạt mục đích cùng tổ chức những kế hoạch nhờ đó mục đích ấy có thể được hoàn thành. Như trên các cấp độ manas, Chân sư R., Chúa Tể của Văn Minh, chủ trì toàn thể các ashram, thì trên các cấp độ Bồ đề, Chân sư K.H. giám sát tất cả các ashram, với sự trợ giúp của chính Tôi (Chân sư D.K.) và ba đệ tử cao niên đã được [Page 170] điểm đạo; mục tiêu là sự khai mở nhận thức nhóm và sự thấu hiểu đầy bác ái, để các hình tướng đã được chuẩn bị và định hình dưới sự giám sát của Chân sư R. có thể trở nên nhạy bén và ngày càng có ý thức về thực tại thông qua sự phát triển của một bộ máy ánh sáng bên trong, bộ máy này — đến lượt nó — sẽ định hình và phát triển bộ máy tiếp xúc bên ngoài. Các ashram trên các cấp độ atma nằm dưới sự điều khiển của Chân sư M., Đấng nuôi dưỡng phương diện ý chí bên trong các hình tướng đã phát triển và Đấng (như Cổ Luận diễn đạt) “thêm bóng tối vào ánh sáng để các vì sao hiện ra, vì trong ánh sáng các vì sao không tỏa sáng, nhưng trong bóng tối, ánh sáng không còn khuếch tán, mà chỉ là những điểm rạng rỡ được tập trung.” Biểu tượng này sẽ hiển nhiên đối với các bạn, dù thâm nghĩa đầy đủ thì chưa.

Embracing, fusing and unifying the endeavor of all these groups of Ashrams, stands the living Christ, the Head of all Ashrams and the Master of the Masters, the Mediator between Shamballa and the Hierarchy and between the Hierarchy and Humanity. Will you gain some insight into the all-pervading conditions if I state that His work of mediating between humanity and the Hierarchy was perfected by Him and carried to a conclusion when He was last on Earth, and that He is now achieving facility in the higher mediatorship which will bring about a closer relation of the Hierarchy with Shamballa at this time. This mediatory work, based on the blending of the spiritual will (which He has already developed) with the universal will (which He is developing), marks for Him a goal which will be consummated when He takes the ninth initiation. These are great mysteries and I only indicate them in order to convey to you a sense of the synthesis of the whole scheme and a recognition of the urge-to-good which pervades every aspect of the planetary Life from the smallest atom of substance, through all the intermediate living forms, on and up to the planetary Logos Himself.

Ôm trùm, dung hợp và hợp nhất nỗ lực của tất cả các nhóm ashram này, là Đức Christ hằng sống, Đầu của tất cả các ashram và Chân sư của các Chân sư, Đấng Trung Gian giữa Shamballa và Thánh đoàn, và giữa Thánh đoàn với Nhân loại. Liệu các bạn có đạt được một phần thấu hiểu về những tình trạng thấm nhập khắp nơi nếu Tôi nói rằng công việc trung gian của Ngài giữa nhân loại và Thánh đoàn đã được Ngài hoàn thiện và đưa đến kết thúc khi Ngài hiện diện lần cuối trên Trái Đất, và hiện nay Ngài đang đạt được sự thuần thục trong vai trò trung gian cao hơn, điều sẽ đem lại một mối liên hệ gần gũi hơn giữa Thánh đoàn với Shamballa vào lúc này. Công việc trung gian này, dựa trên sự hòa trộn của ý chí tinh thần (mà Ngài đã phát triển) với ý chí vũ trụ (mà Ngài đang phát triển), đánh dấu đối với Ngài một mục tiêu sẽ được hoàn tất khi Ngài trải qua lần điểm đạo thứ chín. Đây là những huyền nhiệm lớn lao, và Tôi chỉ nêu ra để truyền cho các bạn một cảm thức về sự tổng hợp của toàn bộ hệ hành tinh, cùng một sự nhận biết về xung lực hướng thiện thấm nhập mọi phương diện của Sự Sống hành tinh, từ nguyên tử chất liệu nhỏ nhất, qua tất cả các hình tướng sống trung gian, lên mãi đến chính Đức Hành Tinh Thượng Đế.

What is Will?

Ý chí là gì?

The will is too often regarded as a power by means of which things are done, activities are instituted and plans worked out. This general definition is the easiest for men [Page 171] to formulate because it is understood by them in terms of their own self-will, the will to individual self-betterment—selfish and misunderstood at first but tending eventually to selflessness as evolution carries out its beneficent task. Then the will is interpreted in terms of the hierarchical plan, and the effort of the individual man becomes that of negating his self-will and seeking to merge his will with that of the group, the group being itself an aspect of the hierarchical effort. This is a great step onward in orientation and will lead to a change in consciousness eventually. This last sentence is of importance.

Ý chí quá thường được xem là một quyền năng nhờ đó các sự việc được thực hiện, các hoạt động được khởi xướng và các kế hoạch được triển khai. Định nghĩa tổng quát này là dễ dàng nhất đối với con người [Page 171] để hình thành, vì họ hiểu nó theo ý chí riêng của chính họ, ý chí hướng đến sự tự cải thiện cá nhân—ban đầu ích kỷ và bị hiểu lầm, nhưng cuối cùng có khuynh hướng tiến đến tính vị tha khi tiến hoá thực hiện nhiệm vụ phúc lành của nó. Bấy giờ ý chí được diễn giải theo Thiên Cơ của Thánh Đoàn, và nỗ lực của con người cá nhân trở thành nỗ lực phủ định ý chí riêng của y và tìm cách hoà nhập ý chí của y với ý chí của nhóm, mà chính nhóm là một phương diện của nỗ lực Thánh Đoàn. Đây là một bước tiến lớn trong định hướng và cuối cùng sẽ dẫn đến một thay đổi trong tâm thức. Câu cuối này rất quan trọng.

It is at this stage that most aspirants today find themselves. However, the will is in reality something very different to these expressions of it which exist in the human consciousness as men attempt to interpret the divine will in terms of their present point in evolution. The clue to understanding (the clue which will be the easiest for you to understand) is to be found in the words “blotting out all form.” When the lure of substance is overcome and desire dies, then the attractive power of the soul becomes dominant and the emphasis for so long laid upon individual form and individual living and activity gives place to group form and group purpose. Then the attractive power of the Hierarchy and of the Ashrams of the Masters supersedes the lower attractions and the lesser focal points of interest. When these, in their turn, assume their rightful place in consciousness then the dynamic “pull” of Shamballa can be felt, entirely unrelated to form or forms, to a group or groups. Only a group sense of “well-Being,” esoterically understood is realized, for it is comprehended as the will-to-good. No forms can then hold; no group or Ashram can then confine the consciousness of the initiate, and all differences of every kind disappear. This preamble is given in an effort to clarify your minds before we study Rule IX carefully and arrive at its essential meaning.

Chính ở giai đoạn này mà phần lớn những người chí nguyện ngày nay đang hiện diện. Tuy nhiên, trên thực tế, ý chí là một điều rất khác với những biểu hiện này của nó vốn tồn tại trong tâm thức con người khi con người cố gắng diễn giải Ý Chí thiêng liêng theo điểm tiến hoá hiện tại của mình. Chìa khoá để thấu hiểu chìa khoá dễ hiểu nhất đối với các bạn nằm trong các lời “xóa sạch mọi hình tướng.” Khi sức quyến rũ của chất liệu được vượt thắng và dục vọng tàn lụi, bấy giờ quyền năng hấp dẫn của linh hồn trở nên ưu thắng, và trọng tâm từ lâu đặt trên hình tướng cá nhân, đời sống cá nhân và hoạt động cá nhân nhường chỗ cho hình tướng nhóm và mục đích nhóm. Khi đó quyền năng hấp dẫn của Thánh Đoàn và của các ashram của các Chân sư thay thế các sức hấp dẫn thấp hơn và những tiêu điểm quan tâm nhỏ bé hơn. Khi đến lượt chúng chiếm lấy vị trí đúng đắn trong tâm thức, bấy giờ “sức kéo” năng động của Shamballa có thể được cảm nhận, hoàn toàn không liên hệ với hình tướng hay các hình tướng, với một nhóm hay các nhóm. Chỉ có một ý thức nhóm về “sự an lành của Hiện Tồn”, được hiểu một cách huyền bí, là được chứng nghiệm, vì nó được nhận thức như Ý Chí-hướng Thiện. Khi ấy không hình tướng nào có thể níu giữ; không nhóm hay ashram nào có thể giới hạn tâm thức của điểm đạo đồ, và mọi dị biệt thuộc mọi loại đều biến mất. Phần mở đầu này được đưa ra nhằm làm sáng tỏ trí tuệ các bạn trước khi chúng ta nghiên cứu Quy luật IX một cách cẩn trọng và đi đến ý nghĩa cốt yếu của nó.

Rule IX

Quy luật IX

(1) Let the group know there are no other selves. (2) Let the group know there is no color, only light; (3) and then let [Page 172] darkness take the place of light, hiding all difference, blotting out all form. (4) Then—at the place of tension, and at that darkest point—let the group see a point of clear cold fire, and in the fire (right at its very heart) let the One Initiator appear Whose star shone forth when first the Door was passed.

(1) Hãy để nhóm biết rằng không có những cái ngã nào khác. (2) Hãy để nhóm biết rằng không có màu sắc, chỉ có ánh sáng; (3) và rồi hãy để [Page 172] bóng tối thay thế ánh sáng, che giấu mọi dị biệt, xóa sạch mọi hình tướng. (4) Bấy giờ—tại nơi tập trung nhất tâm, và tại điểm tối tăm nhất ấy—hãy để nhóm thấy một điểm lửa lạnh trong sáng, và trong ngọn lửa ấy, ngay chính nơi tâm điểm của nó, hãy để Đấng Điểm Đạo Duy Nhất xuất hiện, Đấng mà ngôi sao của Ngài đã chiếu rạng khi Cánh Cửa lần đầu được vượt qua.

The nature of identification

Bản chất của sự đồng hoá

(1) The greatest problem facing aspirants and disciples prior to the third initiation is that of comprehending the nature of identification. This concerns (in the first instance) the relation of the self to the Self and of all selves to the all-inclusive SELF. It involves the mystery of duality with which they are occupied, and the very moment that theory as to essential unity becomes definite realisation, then the realm of synthesis is entered. For that type of realisation, language as we now have it has no words, and it is therefore impossible to formulate concepts to interpret the consequent and resultant state of being. “Identification with” is the phrase which approaches the closest to the initial idea, and until man has grasped his identical at-one-ness with even one human being, it is not possible for him even to think about it in any truly constructive manner. The complete fusion of the negative and the positive aspects in marriage, at the moment that life is transmitted and transferred, is the only tangible though unsatisfactory symbol of this life-sharing process which takes place when an individual or a group knows actually and not simply theoretically that “there are no other selves.”

(1) Vấn đề lớn nhất mà những người chí nguyện và các đệ tử phải đối diện trước lần điểm đạo thứ ba là thấu hiểu bản chất của sự đồng hoá. Điều này trước hết liên quan đến mối liên hệ của cái ngã với Bản Ngã, và của mọi cái ngã với BẢN NGÃ bao gồm tất cả. Nó bao hàm huyền nhiệm của Nhị nguyên mà họ đang bận tâm, và ngay khoảnh khắc lý thuyết về sự hợp nhất cốt yếu trở thành chứng nghiệm xác định, bấy giờ cõi giới của tổng hợp được bước vào. Đối với loại chứng nghiệm ấy, ngôn ngữ như chúng ta hiện có không có từ ngữ nào, và do đó không thể hình thành các khái niệm để diễn giải trạng thái hiện tồn tiếp theo và phát sinh từ đó. “Đồng hoá với” là cụm từ đến gần nhất với ý tưởng ban đầu, và cho đến khi con người nắm bắt được tính nhất-như đồng nhất của mình với dù chỉ một con người, y cũng không thể suy nghĩ về điều ấy theo bất cứ cách nào thực sự xây dựng. Sự dung hợp trọn vẹn của các phương diện âm và dương trong hôn nhân, vào khoảnh khắc sự sống được truyền dẫn và chuyển dịch, là biểu tượng hữu hình duy nhất, dù không thoả đáng, của tiến trình chia sẻ sự sống này, vốn diễn ra khi một cá nhân hay một nhóm biết một cách thực sự, chứ không chỉ trên lý thuyết, rằng “không có những cái ngã nào khác.”

Identification (to use the only word available for our purpose) is connected with dynamic life, with conscious enhancement, with completion and with creative sharing, plus process. It is a process of participation—consciously and constructively undertaken—in the life actions and reactions of the One in Whom we live and move and have our being; it is related to the network of life channels which keep the form aspect of the planetary Logos functioning as a “Divine Representation.” Note that wording. It is connected with the circulation of that “life more abundantly” to which the Christ referred when dealing with the true nature of His [Page 173] mission. It might be said that as He uttered this phrase this mission dawned on Him and He made a preliminary effort to serve Shamballa, instead of the Hierarchy of which He was even then the Head. Later, He enunciated as best He could the extent of this realization, in the words so familiar to Christians, “I and the Father are One.” This He also attempted to elucidate in the seventeenth chapter of St. John’s Gospel. There is no other passage in the literature of the world which has exactly the same quality. Oneness, unity, synthesis and identification exist today as word related to consciousness and as expressing what is at present unattainable to the mass of men. This manifesto[2] or declaration of the Christ constitutes the first attempt to convey reaction to contact with Shamballa, and can be correctly interpreted only by initiates of some standing and experience. A concept of unity, leading to cooperation, to impersonality, to group work and to realization, plus a growing absorption in the Plan are some of the terms which can be used to express soul awareness in relation to the Hierarchy. These reactions to the united Ashrams which constitute the Hierarchy are steadily increasing and are beneficently conditioning the consciousness of the leading members of the forefront of the human wave at present in process of evolution.

Sự đồng hoá, dùng từ duy nhất hiện có cho mục đích của chúng ta, liên hệ với sự sống năng động, với sự tăng trưởng có ý thức, với sự hoàn tất và với sự chia sẻ sáng tạo, cộng thêm tiến trình. Đó là một tiến trình tham dự—được thực hiện một cách có ý thức và xây dựng—vào các hành động và phản ứng của sự sống nơi Đấng Duy Nhất mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu; nó liên quan đến mạng lưới các kênh sự sống giữ cho phương diện hình tướng của Đức Hành Tinh Thượng Đế vận hành như một “Sự Đại Diện Thiêng Liêng.” Hãy lưu ý cách dùng lời ấy. Nó liên hệ với sự lưu thông của “sự sống dồi dào hơn” mà Đức Christ đã nhắc đến khi đề cập đến bản chất đích thực của sứ mệnh [Page 173] của Ngài. Có thể nói rằng khi Ngài thốt ra cụm từ này, sứ mệnh ấy đã ló rạng trong Ngài và Ngài đã thực hiện một nỗ lực sơ khởi để phụng sự Shamballa, thay vì Thánh Đoàn mà ngay cả khi ấy Ngài đã là Đấng Đứng Đầu. Về sau, Ngài đã diễn đạt, trong khả năng tốt nhất của Ngài, tầm mức của chứng nghiệm này bằng những lời rất quen thuộc với các tín đồ Cơ Đốc: “Ta và Cha là Một.” Ngài cũng cố gắng làm sáng tỏ điều này trong chương mười bảy của Phúc Âm theo Thánh Gioan. Không có đoạn nào khác trong văn học thế giới có đúng cùng phẩm tính như vậy. Tính duy nhất, sự hợp nhất, tổng hợp và sự đồng hoá ngày nay tồn tại như những từ ngữ liên hệ với tâm thức và diễn tả điều hiện còn ngoài tầm đạt tới của đại đa số con người. Bản tuyên ngôn hay lời tuyên bố này của Đức Christ cấu thành nỗ lực đầu tiên nhằm truyền đạt phản ứng trước sự tiếp xúc với Shamballa, và chỉ có thể được diễn giải đúng đắn bởi các điểm đạo đồ có trình độ và kinh nghiệm nhất định. Một khái niệm về sự hợp nhất, dẫn đến hợp tác, tính phi cá nhân, công việc nhóm và sự chứng nghiệm, cộng với sự hấp thu ngày càng tăng vào Thiên Cơ, là một vài thuật ngữ có thể được dùng để diễn tả nhận thức của linh hồn trong liên hệ với Thánh Đoàn. Những phản ứng này đối với các ashram hợp nhất cấu thành Thánh Đoàn đang gia tăng đều đặn và đang tác động một cách phúc lành lên tâm thức của các thành viên dẫn đầu trong hàng tiền phong của làn sóng nhân loại hiện đang trong tiến trình tiến hoá.

Beyond this state of awareness there lies a state of being which is as far removed from the consciousness of Members of the Hierarchy as that is, in its turn, removed from the consciousness of the mass of men. Endeavor to grasp this, even if your brain and your power to formulate thought rejects the possibility of this exalted livingness. Be not discouraged at this inability to understand; remember that this state of being embraces the goal towards which the Masters strive, and which the Christ Himself is only now attaining.

Vượt ngoài trạng thái nhận thức này còn có một trạng thái hiện tồn xa cách tâm thức của các Thành viên Thánh Đoàn cũng như tâm thức ấy, đến lượt nó, xa cách tâm thức của đại đa số con người. Hãy cố gắng nắm bắt điều này, dù bộ não và quyền năng hình thành tư tưởng của các bạn bác bỏ khả năng của sự sống hiện tồn cao cả ấy. Đừng nản lòng trước sự bất lực này trong việc thấu hiểu; hãy nhớ rằng trạng thái hiện tồn này bao hàm mục tiêu mà các Chân sư đang vươn tới, và chính Đức Christ chỉ hiện nay mới đang đạt đến.

(2-3) It is for this reason that the symbolism of light and darkness is used in the words: Let the group know there is no color, only light; and then let darkness take the place of light.

(2-3) Chính vì lý do này mà biểu tượng ánh sáng và bóng tối được dùng trong các lời: Hãy để nhóm biết rằng không có màu sắc, chỉ có ánh sáng; và rồi hãy để bóng tối thay thế ánh sáng.

Just as the individual has to pass through the stage wherein all “color” goes out of life as he emerges out of [Page 174] the glamor which conditions the astral plane, so groups in preparation for initiation must go through the same devastating process. Glamor disappears, and for the first time the group (as is the case with the individual) walks in the light. As the group thus walks, unitedly its units learn a lesson (one clearly enunciated by modern science) that light and substance are synonymous terms; the true nature of substance as a field and medium of activity becomes clear to the initiate-members of the group. To this H.P.B. referred when he said that the true occultist works entirely in the field of forces and energies.

Cũng như cá nhân phải đi qua giai đoạn trong đó mọi “màu sắc” rời khỏi đời sống khi y thoát ra khỏi [Page 174] ảo cảm đang chi phối cõi cảm dục, cũng vậy, các nhóm chuẩn bị cho điểm đạo phải trải qua cùng tiến trình tàn phá ấy. Ảo cảm biến mất, và lần đầu tiên nhóm, cũng như trường hợp của cá nhân, bước đi trong ánh sáng. Khi nhóm bước đi như thế, các đơn vị của nó học được một bài học trong sự hợp nhất, một bài học được khoa học hiện đại phát biểu rõ ràng: rằng ánh sáng và chất liệu là những thuật ngữ đồng nghĩa; bản chất đích thực của chất liệu như một trường và một trung gian của hoạt động trở nên rõ ràng đối với các thành viên điểm đạo đồ của nhóm. Bà Blavatsky. đã ám chỉ điều này khi bà nói rằng nhà huyền bí học chân chính hoàn toàn làm việc trong trường của các mãnh lực và năng lượng.

The next lesson which the group unitedly apprehends is the significance of the words that “darkness is pure spirit.” This recognition, realization, apprehensive, comprehensive (call it what you will) is so overwhelming and all-embracing that distinctions and differences disappear. The disciple realizes that they are only the result of the activity of substance in its form-making capacity and are consequently illusion and non-existent, from the angle of the spirit at rest in its own center. The only realization left is that of pure Being Itself.

Bài học kế tiếp mà nhóm cùng nhau lĩnh hội là thâm nghĩa của những lời rằng “bóng tối là tinh thần thuần khiết.” Sự nhận biết, chứng nghiệm, lĩnh hội, bao quát này — các bạn gọi là gì cũng được — mãnh liệt và bao trùm đến nỗi mọi phân biệt và khác dị đều tan biến. Đệ tử nhận ra rằng chúng chỉ là kết quả của hoạt động của chất liệu trong năng lực tạo hình tướng của nó, và do đó là ảo tưởng, không hiện hữu, xét từ góc độ của tinh thần đang an trụ nơi trung tâm của chính nó. Sự chứng nghiệm duy nhất còn lại là chứng nghiệm về chính Bản Thể thuần khiết.

(4) This realization necessarily comes to the disciple through the means of graded revelation and in balanced sequence; each contact with the Initiator leads the initiate closer to the center of pure darkness—a darkness which is the very antithesis of darkness as the non-initiate and the unenlightened understand. It is a center or point of such intense brilliance that everything fades out and at the place of tension, and at that darkest point, let the group see a point of clear cold fire.

(4) Sự chứng nghiệm này tất yếu đến với đệ tử thông qua phương tiện mặc khải theo cấp độ và trong trình tự quân bình; mỗi sự tiếp xúc với Đấng Điểm đạo đưa điểm đạo đồ đến gần hơn với trung tâm của bóng tối thuần khiết — một bóng tối vốn là phản đề hoàn toàn của bóng tối như người chưa điểm đạo và người chưa giác ngộ hiểu. Đó là một trung tâm hay một điểm có độ rực sáng mãnh liệt đến mức mọi sự đều mờ tắt, và tại nơi tập trung nhất tâm, và tại điểm tối tăm nhất ấy, hãy để nhóm thấy một điểm lửa lạnh trong trẻo.

It is a tension and a point of attainment that is only possible in group formation. Even in the earlier initiations, and when the initiate has proved his right to be initiated, the process is still a group proceeding; it is undergone in the protective presence of initiates of the same standing and unfoldment. It is their united focus that enables the candidate for initiation to see the point of clear cold light and their united will that “brings him upright, [Page 175] standing, unafraid, with open eye before the One Who from the very first has conferred on him the gifts of life and light, and Who now—with lifted rod, surrounded by the fire, reveals to him the significance of life and the purpose of the light.” It is that of which the minds of men know naught, and which even the highest intellect is unable to grasp or even sense.

Đó là một sự tập trung nhất tâm và một điểm thành tựu chỉ có thể đạt được trong đội hình nhóm. Ngay cả trong các cuộc điểm đạo sớm hơn, và khi điểm đạo đồ đã chứng tỏ quyền được điểm đạo của y, tiến trình ấy vẫn là một diễn trình nhóm; nó diễn ra trong sự hiện diện bảo hộ của các điểm đạo đồ cùng cấp bậc và cùng mức khai mở. Chính sự tập trung hợp nhất của họ giúp ứng viên điểm đạo thấy được điểm ánh sáng lạnh trong trẻo và chính ý chí hợp nhất của họ “nâng y đứng thẳng, [Trang 175] đứng vững, không sợ hãi, với mắt mở trước Đấng ngay từ buổi ban đầu đã ban cho y các ân huệ của sự sống và ánh sáng, và Đấng giờ đây — với Thần Trượng giơ cao, được bao quanh bởi lửa, mặc khải cho y thâm nghĩa của sự sống và mục đích của ánh sáng.” Đó là điều mà trí tuệ con người chẳng biết gì, và ngay cả trí năng cao nhất cũng không thể nắm bắt hay thậm chí cảm nhận được.

In the familiar words (familiar to all esotericists) which are so often said or chanted at moments of highest spiritual aspiration, the neophyte refers to the time when “we stand where the One Initiator is invoked, when we see His star shine forth.” Two ideas then stand forth: the idea of invocation and of the result of that invocation, which is the sudden and unexpected shining forth of the Star. This star is simply a point of vivid light. This invocation, though used as the affirmation of a fixed objective by the aspirant to initiation, is nevertheless a mantram definitely appropriate to the third initiation. It is only effective in its invocative appeal when used in conjunction with a Word of Power. This Word of Power is communicated to the candidate (ever an initiate of the second degree) by the Christ Who has initiated him in the first two initiations but Whose protective aura (in conjunction with the initiate’s Master and another Master or an adept of the fourth initiation) is required before the star can shine forth—the focussed light of the One Initiator. For the first time the expanded consciousness of the initiate can contact Shamballa and the One Who rules there, the Lord of the World. For the first time, the focussed purpose which brought Sanat Kumara into incarnation makes an impact upon the enlightened brain of the initiate, bringing something new and different into his equipment, into his nature and his consciousness. I know not how else to express these ideas. It is a blinding conviction of an unalterable will, carrying all before it, oblivious of time and space, aware only of intensity of direction, and carrying with it two major qualifications or basic recognitions to the initiate: a sense of essential being which obliterates all the actions and reactions of time and [Page 176] space, and a focussed will-to-good which is so dynamic in its effect that evil disappears. Evil is after all only an impelling sense of difference, leading inevitably to separative action.

Trong những lời quen thuộc — quen thuộc với mọi nhà bí truyền học — vốn thường được nói hoặc tụng xướng vào những khoảnh khắc khát vọng tinh thần cao nhất, người sơ cơ nhắc đến thời điểm khi “chúng ta đứng nơi Đấng Điểm Đạo Duy Nhất được khẩn cầu, khi chúng ta thấy ngôi sao của Ngài chiếu rạng.” Khi ấy, hai ý tưởng nổi bật: ý tưởng về sự khẩn cầu và về kết quả của sự khẩn cầu ấy, tức là sự chiếu rạng đột ngột và bất ngờ của Ngôi Sao. Ngôi sao này chỉ đơn giản là một điểm ánh sáng sống động. Sự khẩn cầu này, tuy được người chí nguyện hướng đến điểm đạo sử dụng như lời khẳng định về một mục tiêu cố định, tuy vậy vẫn là một mantram đặc biệt thích hợp với lần điểm đạo thứ ba. Nó chỉ hữu hiệu trong lời kêu gọi khẩn cầu khi được sử dụng phối hợp với một Quyền năng từ. Quyền năng từ này được Đức Christ truyền đạt cho ứng viên — luôn luôn là một điểm đạo đồ bậc hai Đấng đã điểm đạo y trong hai cuộc điểm đạo đầu tiên, nhưng hào quang bảo hộ của Ngài — phối hợp với Chân sư của điểm đạo đồ và một Chân sư khác hoặc một chân sư đã trải qua lần điểm đạo thứ tư) là cần thiết trước khi ngôi sao có thể chiếu rạng — ánh sáng quy tụ của Đấng Điểm Đạo Duy Nhất. Lần đầu tiên, tâm thức mở rộng của điểm đạo đồ có thể tiếp xúc với Shamballa và với Đấng cai quản nơi đó, Đức Chúa Tể Thế Giới. Lần đầu tiên, mục đích quy tụ đã đưa Đức Sanat Kumara lâm phàm tác động lên bộ não đã được soi sáng của điểm đạo đồ, đem một điều mới mẻ và khác biệt vào trang bị của y, vào bản chất và tâm thức của y. Tôi không biết cách nào khác để diễn đạt những ý tưởng này. Đó là một xác tín chói lòa về một ý chí không thể đổi thay, cuốn phăng mọi sự trước nó, không màng thời gian và [Trang 176] không gian, chỉ nhận biết cường độ của hướng đi, và mang theo nó hai phẩm tính chính hay hai nhận thức căn bản đối với điểm đạo đồ: một cảm thức về bản thể cốt yếu xóa sạch mọi hành động và phản ứng của thời gian và không gian, và một Ý Chí-hướng Thiện quy tụ, năng động đến mức tà ác biến mất. Rốt cuộc, tà ác chỉ là một cảm thức thúc bách về sự khác biệt, tất yếu dẫn đến hành động chia rẽ.

The dualities are then resolved in synthesis and, again for the first time, the initiate comprehends the meaning of the ancient words, so inappropriately translated “isolated unity.” To him, in the future, there is no light or dark, no good or evil, no difference or separation. The star that has shone forth, veiling and standing between him and the Lord of the World, the Ancient of Days, is seen as the entrance or doorway and as the admitting agency into something other and larger than simply the planetary life. In the earlier two initiations, the Angel of the Presence stood between the disciple-candidate and the Presence. At the later initiations, the Angel of the Presence is the Christ Himself, one with the soul of the candidate (the individual Angel of the Presence). Through the heart of Christ passes the dynamic power of the One Initiator, as a stream of light, stepped down or toned down by the Christ in order that the candidate can appropriate its potency without risk or danger.

Khi ấy, các nhị nguyên được hóa giải trong tổng hợp, và một lần nữa, lần đầu tiên, điểm đạo đồ thấu hiểu ý nghĩa của những lời cổ xưa vốn được dịch rất không thích đáng là “Hợp Nhất Cô Lập.” Đối với y, trong tương lai, không còn sáng hay tối, không còn thiện hay ác, không còn khác biệt hay chia rẽ. Ngôi sao đã chiếu rạng, che phủ và đứng giữa y với Đức Chúa Tể Thế Giới, Đấng Thái Cổ, được thấy như lối vào hay cửa ngõ, và như phương tiện cho phép bước vào một điều gì khác và lớn lao hơn sự sống hành tinh đơn thuần. Trong hai cuộc điểm đạo đầu tiên, Thiên Thần của Hiện Diện đứng giữa đệ tử-ứng viên và Sự Hiện Diện. Ở các cuộc điểm đạo về sau, Thiên Thần của Hiện Diện chính là Đức Christ, hợp nhất với linh hồn của ứng viên — Thiên Thần của Hiện Diện cá biệt. Qua trái tim của Đức Christ, quyền năng năng động của Đấng Điểm Đạo Duy Nhất tuôn qua như một dòng ánh sáng, được Đức Christ hạ thấp hoặc làm dịu để ứng viên có thể tiếp nhận quyền năng ấy mà không gặp rủi ro hay nguy hiểm.

After the third initiation, the candidate must face the One Initiator alone, with no protective Individual standing between him and the eternal source of all-power. The Christ is present, supporting and attentive. He stands directly behind the initiate so as to arrest and distribute the potency passing through the initiate’s body and centers; the candidate is also flanked on either side by a Master. Nevertheless, he faces the Initiator alone and unprotected. Even now, at this much later initiation, he cannot see “eye to eye”—as the phrase goes. He becomes aware of a growing point of light which, from a pin-point of intensest brilliance develops before him into a five-pointed star. At the fourth initiation, it is not a star which shines forth before him, but a triangle; and within that triangle he will perceive an eye regarding him, and for the first time he does see the Most High “eye to eye.” At the fifth initiation no [Page 177] symbol or light substance separates or protects him, but he stands before the Initiator face to face, and the freedom of the City of God is his. He is not yet a Member of the Great Council, but he has the right of entrance into Shamballa, and from that point he passes on to a more intimate relation, if that is his chosen destiny. He may not even finally become a Member of the Great Council; that is reserved for relatively few and for Those Who can take even still higher initiations within the ring-pass-not of our planet—a task of profound difficulty. There are other and interesting alternatives, as I have elsewhere told you. The initiate may pass out of this planetary life altogether along one or other of the various Paths by means of which a Master can start upon the Path of the Higher Evolution and for which all that has transpired in the past will have prepared Him. Whichever Way He goes, the Master remains a part of the purpose; He knows forever the secret of the darkness which brings light, and the “inscrutable[3] will of God” is no longer a mystery to Him. He comprehends the divine idea and can now cooperate with it; He has reached a point of realization which enables Him to fathom what lies behind the Plan for which the Hierarchy has worked for aeons.

Sau lần điểm đạo thứ ba, ứng viên phải một mình đối diện với Đấng Điểm Đạo Duy Nhất, không có một Cá Thể bảo hộ nào đứng giữa y và nguồn vĩnh cửu của toàn năng. Đức Christ hiện diện, nâng đỡ và chăm chú. Ngài đứng ngay phía sau điểm đạo đồ để chặn lại và phân phối quyền năng đi qua thể và các trung tâm của điểm đạo đồ; đồng thời, một Chân sư đứng kèm ở mỗi bên của ứng viên. Tuy nhiên, y vẫn một mình và không được bảo hộ khi đối diện với Đấng Điểm Đạo. Ngay cả lúc này, ở cuộc điểm đạo muộn hơn nhiều này, y vẫn chưa thể thấy “mắt đối mắt” — như cách nói quen thuộc. Y nhận biết một điểm ánh sáng đang lớn dần, từ một điểm nhỏ li ti có độ rực sáng mãnh liệt nhất, phát triển trước mặt y thành một ngôi sao năm cánh. Ở lần điểm đạo thứ tư, không phải một ngôi sao chiếu rạng trước mặt y, mà là một tam giác; và trong tam giác ấy, y sẽ nhận thấy một con mắt đang nhìn y, và lần đầu tiên y thật sự thấy Đấng Tối Cao “mắt đối mắt.” Ở lần điểm đạo thứ năm, không [Trang 177] biểu tượng hay chất liệu ánh sáng nào còn ngăn cách hoặc bảo hộ y, mà y đứng trước Đấng Điểm Đạo mặt đối mặt, và y có quyền tự do trong Thành của Thượng đế. Y chưa phải là một Thành viên của Đại Hội Đồng, nhưng y có quyền vào Shamballa, và từ điểm đó y tiến tới một mối liên hệ mật thiết hơn, nếu đó là định mệnh y đã chọn. Rốt cuộc, y thậm chí có thể không trở thành một Thành viên của Đại Hội Đồng; điều đó được dành cho tương đối ít vị và cho Những Đấng có thể nhận những cuộc điểm đạo còn cao hơn nữa bên trong vòng-giới-hạn của hành tinh chúng ta — một nhiệm vụ có độ khó sâu xa. Có những khả năng lựa chọn khác và đầy hứng thú, như Tôi đã nói với các bạn ở nơi khác. Điểm đạo đồ có thể hoàn toàn rời khỏi sự sống hành tinh này theo một trong nhiều Con Đường khác nhau, nhờ đó một Chân sư có thể khởi hành trên Con Đường Tiến Hóa Cao Siêu, và mọi điều đã diễn ra trong quá khứ đều đã chuẩn bị Ngài cho điều đó. Dù Ngài đi theo Con Đường nào, Chân sư vẫn là một phần của Thiên Ý; Ngài mãi mãi biết bí mật của bóng tối đem lại ánh sáng, và “Ý Chí khôn dò của Thượng Đế” không còn là một huyền nhiệm đối với Ngài. Ngài thấu hiểu ý tưởng thiêng liêng và giờ đây có thể cộng tác với nó; Ngài đã đạt đến một điểm chứng nghiệm giúp Ngài thấu triệt điều nằm phía sau Thiên Cơ mà Thánh Đoàn đã phụng sự qua nhiều đại kiếp.

Just as the disciple enters the world of meaning and so can interpret events, just as the Hierarchy works in the world of mediation, applying the Plan which the world of meaning has revealed, so the higher initiate works consciously in the world of purpose which the Plan implements, the world of meaning interprets, and the world of events expresses in sequential order and under the evolutionary Law.

Cũng như người đệ tử bước vào Thế giới của ý nghĩa và nhờ đó có thể diễn giải các sự kiện, cũng như Thánh Đoàn hoạt động trong thế giới của sự trung gian, áp dụng Thiên Cơ mà Thế giới của ý nghĩa đã mặc khải, thì điểm đạo đồ cao cấp hoạt động một cách hữu thức trong Thế giới của Thiên Ý mà Thiên Cơ thực hiện, Thế giới của ý nghĩa diễn giải, và Thế giới của các sự kiện biểu lộ theo trật tự nối tiếp và dưới Định luật tiến hoá.

The symbol which expresses the door of evolution is the crescent moon; that of the process of evolution—as it affects the material or substantial life of the man—is the waxing and the waning moon—the symbol of growing desire and of the dying out of desire. The symbol of the world of meaning is Light—the light which shines upon the ways of men, interpreting events and bestowing revelation. The [Page 178] symbol of the world of mediation is the revolving Cross, whilst the symbol of the world of purpose is a twofold one: the five-pointed star and then the radiant heart of the Sun. Remember that when we talk and think in symbols, we are placing something between ourselves and reality—something protective, interpretive and significant, but something nevertheless veiling and hiding. After the fifth initiation all veils are rent and naught stands between the initiate and Essential Being.

Biểu tượng diễn tả cánh cửa tiến hoá là vầng trăng lưỡi liềm; biểu tượng của tiến trình tiến hoá—khi nó tác động đến đời sống vật chất hay chất liệu của con người—là mặt trăng tròn dần và khuyết dần—biểu tượng của dục vọng đang tăng trưởng và của dục vọng đang tàn lụi. Biểu tượng của Thế giới của ý nghĩa là Ánh sáng—ánh sáng chiếu rọi trên những nẻo đường của con người, diễn giải các sự kiện và ban sự mặc khải. Biểu tượng [Page 178] của thế giới của sự trung gian là Thập Giá xoay chuyển, trong khi biểu tượng của Thế giới của Thiên Ý là một biểu tượng nhị phân: ngôi sao năm cánh và rồi trái tim rạng rỡ của Mặt Trời. Hãy nhớ rằng khi chúng ta nói và tư duy bằng biểu tượng, chúng ta đang đặt một điều gì đó giữa chính mình và thực tại—một điều gì đó có tính bảo vệ, diễn giải và đầy thâm nghĩa, nhưng dẫu vậy vẫn là một điều gì đó che phủ và che giấu. Sau lần điểm đạo thứ năm, mọi bức màn đều rách toạc và không còn gì đứng giữa điểm đạo đồ và Bản Thể Cốt Yếu.



[1] về âm thanh êm tai

[2] bản tuyên ngôn

[3] 1. khó nhìn thấu được; 2. (nghĩa bóng) bí hiểm, khó hiểu

Leave a Comment

Scroll to Top