Quy Luật Điểm đạo 4 dành cho đệ tử (RI)

📘 Sách: Bình Giảng 14 Quy Luật Điểm đạo Dành Cho Đệ tử – RI – Tác giả: Michael D. Robbins

Click số trang giữa ngoặc [ ] để đi đến phần bình giảng.

RULE FOUR (89-111)

QUY LUẬT BỐN (89-111)

At the time of the June Full Moon, each year, the love of God, the spiritual essence of solar fire, reaches its highest point of expression. This it achieves through the instrumentality of the Hierarchy, that great group of souls which has ever been the custodian of the principle of light, of enlightened love, and which always—down the ages—focuses its attention upon the race of men when the spiritual influence is at its height. This it does through one of the great Sons of God. The Full Moon of June of 1943 saw this outpouring of divine love reach its highest expression for all time, and at the point of attainment which is, for that particular Son of God, His highest also. Such is the Law. When an embodied Christ in time and space reaches [Page 89] His goal of achievement, recognition of this comes to Him at the time of the June Full Moon, for in that sign of Gemini the complete victory of life over form, and of spirit over matter, is consummated and celebrated.

Vào kỳ Trăng Tròn tháng Sáu, mỗi năm, tình thương của Thượng đế, tinh túy tinh thần của Lửa Thái dương, đạt đến điểm biểu hiện cao nhất. Tình thương ấy đạt được điều này nhờ công cụ là Thánh Đoàn, nhóm linh hồn vĩ đại vốn từ muôn đời là vị gìn giữ nguyên khí ánh sáng, của tình thương được soi sáng, và luôn luôn—qua các thời đại—tập trung sự chú ý vào nhân loại khi ảnh hưởng tinh thần ở mức cao nhất. Điều này được thực hiện qua một trong các Con vĩ đại của Thượng đế. Kỳ Trăng Tròn tháng Sáu năm 1943 đã chứng kiến lần tuôn đổ tình thương thiêng liêng này đạt đến biểu hiện cao nhất từ trước đến nay, và cũng đạt đến điểm thành tựu cao nhất đối với chính Con đặc biệt ấy của Thượng đế. Định luật là như thế. Khi một Đức Christ nhập thể trong thời gian và không gian đạt đến mục tiêu thành tựu của Ngài, sự công nhận điều này đến với Ngài vào kỳ Trăng Tròn tháng Sáu, vì trong dấu hiệu Song Tử ấy, chiến thắng hoàn toàn của sự sống đối với hình tướng, và của tinh thần đối với vật chất, được hoàn tất và cử hành.[Trang 89]

The love of God, focused in the Christ, seeks to express itself in some act of peculiarly useful service to humanity. This service has taken different forms down through the ages, but it has always expressed itself through two episodes: One of them, the first, reveals the Christ in His capacity of the God-Savior, sacrificing Himself through pure love for His fellowmen. The annals of the Hierarchy contain many such histories of sacrifice and service, dating far back into the very night of time. The saving principle of pure love finds its expression at the hour of humanity’s greatest need in the work of a World Savior and “for the salvation of His people, He comes forth.” He thus meets the need, and at the same time strengthens the link which relates the Hierarchy to Humanity. The task of the Christ (as the expression in time and space of the second divine aspect) is to establish relationships. Every cyclic Representative of Deity furthers the approach of the Hierarchy to mankind, and seals this service by some final act which becomes the historical nucleus whereby later generations remember Him.

Tình thương của Thượng đế, được tập trung nơi Đức Christ, tìm cách biểu hiện chính nó trong một hành vi phụng sự đặc biệt hữu ích cho nhân loại. Sự phụng sự này đã mang nhiều hình thức khác nhau qua các thời đại, nhưng nó luôn luôn biểu hiện qua hai sự kiện: Một trong hai sự kiện ấy, sự kiện thứ nhất, mặc khải Đức Christ trong khả năng của Ngài như Thượng đế-Cứu Tinh, hy sinh Chính Ngài bằng tình thương thuần khiết vì đồng loại của Ngài. Biên niên sử của Thánh Đoàn chứa đựng nhiều câu chuyện như thế về hy sinh và phụng sự, có từ rất xa xưa trong đêm tối của thời gian. Nguyên khí cứu rỗi của tình thương thuần khiết tìm thấy biểu hiện của nó vào giờ phút nhân loại cần thiết nhất trong công việc của một Đấng Cứu Thế của Thế Gian, và “vì sự cứu rỗi dân của Ngài, Ngài xuất hiện.” Như thế, Ngài đáp ứng nhu cầu, đồng thời củng cố mối liên kết nối Thánh Đoàn với Nhân Loại. Nhiệm vụ của Đức Christ, với tư cách là biểu hiện trong thời gian và không gian của phương diện thiêng liêng thứ hai, là thiết lập các mối liên hệ. Mỗi Đại Diện theo chu kỳ của Thượng đế đều thúc đẩy sự tiếp cận của Thánh Đoàn đối với nhân loại, và đóng ấn sự phụng sự này bằng một hành vi cuối cùng nào đó, trở thành hạt nhân lịch sử nhờ đó các thế hệ về sau tưởng nhớ Ngài.

That accomplished, He stays with His people as Head of the Hierarchy until His second opportunity comes, in which as Representative both of Humanity and the Hierarchy, He can relate them both to Shamballa. This He does through a great act of evocation, seeking to bring about a closer relationship between all the three great planetary centers: Shamballa, the Hierarchy, and Humanity. He can do this because the development of the Wisdom aspect in His nature makes it possible. The major linking agent in the universe is the energy of Love-Wisdom. Love relates the Hierarchy to Humanity, and Wisdom relates the Hierarchy to Shamballa. Only when Humanity and the Hierarchy are working together in a practical synthesis, can the Shamballa energy be permitted complete inflow through the medium of the two other centers. [Page 90]

Khi điều ấy đã hoàn tất, Ngài ở lại với dân của Ngài với tư cách là Vị Đứng Đầu Thánh Đoàn cho đến khi cơ hội thứ hai của Ngài đến, trong đó, với tư cách là Đại Diện của cả Nhân Loại lẫn Thánh Đoàn, Ngài có thể liên kết cả hai với Shamballa. Điều này Ngài thực hiện qua một hành vi gợi lên vĩ đại, tìm cách tạo nên một mối liên hệ gần gũi hơn giữa cả ba trung tâm hành tinh vĩ đại: Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân Loại. Ngài có thể làm điều này vì sự phát triển của phương diện Minh triết trong bản chất Ngài khiến điều đó trở nên khả dĩ. Tác nhân liên kết chủ yếu trong vũ trụ là năng lượng Bác Ái – Minh Triết. Tình thương liên kết Thánh Đoàn với Nhân Loại, và Minh triết liên kết Thánh Đoàn với Shamballa. Chỉ khi Nhân Loại và Thánh Đoàn cùng làm việc trong một tổng hợp thực tiễn, năng lượng Shamballa mới có thể được phép tuôn vào trọn vẹn qua trung gian của hai trung tâm kia. [Trang 90]

To aid in this process of gradual perfecting and an eventual bringing about of a complete alignment, the help of the Buddha must be invoked and accepted. The work of the Christ as God-Savior can be carried forward by Him alone and unaided. The work of the Christ as God the Preserver needs the united work, as yet, of the two highest Representatives of the second divine aspect when present together upon the Earth, as is the case today of both the Buddha and the Christ. This is the first cycle in the history of humanity when this has been the case. One or the other has been present down the ages, but not the two simultaneously. The reason for this is that the time has now been reached when Shamballa can be contacted and its energy evoked. Hence we have the activity of the Buddha at the May Full Moon and that of the Christ at the following June Full Moon. Their united activity serves to bring about a much closer approach between the Lord of the World and the Hierarchy, via His four Representatives: the Buddha, the Christ, the Manu, and the Mahachohan—the five points of energy which are creating the five-pointed star of Humanity at this time.

Để trợ giúp tiến trình hoàn thiện dần dần này và cuối cùng đưa đến một sự chỉnh hợp hoàn toàn, cần khẩn cầu và tiếp nhận sự trợ giúp của Đức Phật. Công việc của Đức Christ với tư cách là Thượng đế-Cứu Tinh có thể do một mình Ngài xúc tiến mà không cần trợ giúp. Công việc của Đức Christ với tư cách là Thượng đế Bảo Tồn, cho đến nay, cần đến công việc hợp nhất của hai Đại Diện cao nhất của phương diện thiêng liêng thứ hai khi các Ngài cùng hiện diện trên Trái Đất, như trường hợp ngày nay của cả Đức Phật và Đức Christ. Đây là chu kỳ đầu tiên trong lịch sử nhân loại mà điều này đã xảy ra. Qua các thời đại, hoặc vị này hoặc vị kia đã hiện diện, nhưng không phải cả hai cùng lúc. Lý do là vì nay đã đến lúc Shamballa có thể được tiếp xúc và năng lượng của nó được gợi lên. Do đó, chúng ta có hoạt động của Đức Phật vào kỳ Trăng Tròn tháng Năm và hoạt động của Đức Christ vào kỳ Trăng Tròn tháng Sáu kế tiếp. Hoạt động hợp nhất của các Ngài phụng sự cho việc tạo nên một sự tiếp cận gần gũi hơn nhiều giữa Đức Chúa Tể Thế Giới và Thánh Đoàn, qua bốn Đại Diện của Ngài: Đức Phật, Đức Christ, Đức Manu và Đức Mahachohan—năm điểm năng lượng đang tạo nên ngôi sao năm cánh của Nhân Loại vào lúc này.

An ancient rule—Rule IV for Applicants gives us in perfect wording the nature of the urge which prompts the present activity of the Christ. He has accomplished His task as God the Savior. The fourth Rule, as it is given to all applicants and probationary disciples, gives His work the following definition:

Một quy luật cổ xưa—Quy luật IV dành cho các người thỉnh nguyện—cho chúng ta, bằng ngôn từ hoàn hảo, bản chất của sự thôi thúc đang thúc đẩy hoạt động hiện nay của Đức Christ. Ngài đã hoàn thành nhiệm vụ của Ngài với tư cách là Thượng đế-Cứu Tinh. Quy luật thứ tư, như được trao cho tất cả các người thỉnh nguyện và các đệ tử dự bị, định nghĩa công việc của Ngài như sau:

Let the disciple tend the evocation of the fire, nourish the lesser lives and thus keep the wheel revolving.

Hãy để người đệ tử chăm lo việc gợi lên lửa, nuôi dưỡng các sự sống nhỏ bé hơn và nhờ đó giữ bánh xe xoay chuyển.

It is given in this short form to all who are approaching the Path, in order to convey to them with the utmost brevity and beauty the nature of the life of the Head of the Hierarchy, the Initiator Whom they must face at the time of the first and second initiations, and upon Whose activities they—as individual aspirants—must learn to model their lives. Only today is it possible to present that work in other terms than those which emphasize the part the Christ plays in the salvaging of man. [Page 91]

Quy luật này được trao dưới hình thức ngắn gọn ấy cho tất cả những ai đang tiến gần đến Đường Đạo, nhằm truyền đạt cho họ, bằng sự cô đọng và vẻ đẹp tối đa, bản chất đời sống của Vị Đứng Đầu Thánh Đoàn, Đấng Điểm đạo mà họ phải đối diện vào thời điểm của lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai, và theo các hoạt động của Ngài, họ—với tư cách là những người chí nguyện cá nhân—phải học cách khuôn đúc đời sống mình. Chỉ ngày nay mới có thể trình bày công việc ấy bằng những thuật ngữ khác hơn các thuật ngữ nhấn mạnh phần mà Đức Christ đảm nhận trong việc cứu vớt con người. [Trang 91]

It is now possible, however, to present His true and wider task, because man’s sense of proportion, his recognition of others, his growing sense of responsibility, his power to suffer for the good, the beautiful and true, his appropriation of the vision, and his point in evolution warrant a truer picture which—if adequately grasped—will enable the disciple to comprehend the requirements of Rule IV as given for disciples and initiates. Only as they grasp the nature of the work of Christ, after His final act of service as God-Savior, can they understand the nature of group service and begin to pattern their lives and natures so as to meet similar requirements in group formation.

Tuy nhiên, nay đã có thể trình bày nhiệm vụ đích thựcrộng lớn hơn của Ngài, bởi vì Ý thức về tỉ lệ của con người, sự nhận biết của y về người khác, ý thức trách nhiệm ngày càng tăng của y, năng lực chịu khổ vì cái thiện, cái đẹp và cái chân, sự tiếp nhận tầm nhìn của y, và điểm tiến hoá của y cho phép đưa ra một bức tranh chân thực hơn; nếu được nắm bắt đầy đủ, bức tranh ấy sẽ giúp đệ tử thấu hiểu những đòi hỏi của Quy luật IV như được trao cho các đệ tử và điểm đạo đồ. Chỉ khi họ nắm bắt bản chất công việc của Đức Christ, sau hành vi phụng sự cuối cùng của Ngài với tư cách là Thượng đế-Cứu Tinh, họ mới có thể thấu hiểu bản chất của phụng sự nhóm và bắt đầu khuôn đúc đời sống cùng bản chất của mình sao cho đáp ứng những đòi hỏi tương tự trong sự hình thành nhóm.

This has become possible because of the point in the evolutionary process which the Hierarchy has attained. The attitude and position of the members of the Hierarchy are not static. All are moving forward. The Christ Who came two thousand years ago embodied in Himself not only the principle of love in the planetary sense (a thing which Shri Krishna had achieved), but a cosmic principle of love also, and this for the first time in human history. His achievement was made possible by the fact that the human family had reached a point at which it could produce the perfect Man, Christ, the “eldest in a great family of brothers,” a Son of God, the Word made flesh. The future progress of humanity is also aided and hastened because of the attainment and activity of the Christ, and because He remains with us as God the Preserver.

Điều này đã trở nên khả dĩ nhờ điểm mà Thánh Đoàn đã đạt được trong tiến trình tiến hóa. Thái độ và vị thế của các thành viên Thánh Đoàn không hề tĩnh tại. Tất cả đều đang tiến tới. Đức Christ, Đấng đã đến cách đây hai ngàn năm, hiện thân nơi chính Ngài không chỉ nguyên khí bác ái theo nghĩa hành tinh —một điều mà Đức Krishna đã đạt được—mà còn cả một nguyên khí bác ái vũ trụ, và đây là lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Thành tựu của Ngài trở nên khả dĩ nhờ sự kiện gia đình nhân loại đã đạt đến một điểm mà nó có thể sản sinh ra Con Người hoàn hảo, Đức Christ, “người anh cả trong một đại gia đình huynh đệ,” một Con của Thượng đế, Linh từ thành xác phàm. Sự tiến bộ tương lai của nhân loại cũng được trợ giúp và thúc đẩy nhờ thành tựu và hoạt động của Đức Christ, và vì Ngài vẫn ở cùng chúng ta với tư cách là Thượng đế Bảo Tồn.

His task today is threefold, and the Rule states in very simple language these three aspects of His divine activity or phases of His work. These are:

Nhiệm vụ của Ngài ngày nay là tam phân, và Quy luật trình bày bằng ngôn ngữ rất đơn giản ba phương diện này của hoạt động thiêng liêng của Ngài, hay ba giai đoạn trong công việc của Ngài. Đó là:

1. He “tends the evocation of the fire.” His major task as Head of the Hierarchy is to evoke the electric fire of Shamballa, the energy of the divine Will, and this in such a form that the Hierarchy can be drawn nearer to the source of Life, and Humanity can consequently profit by this hierarchical Approach and know eventually the meaning of the words “life more abundantly.” Christ’s evocation of the fire of the will was initiated symbolically in the Garden of [Page 92] Gethsemane. He has twice symbolically shown His individual response to the Shamballa energy: Once in the Temple of Jerusalem as a child, and again in the Garden as a full grown man at the close of His earthly career. His third and final response (which climaxes His work from our human angle) covers nine years, from the Full Moon of June, 1936, to the Full Moon of June, 1945. This period, in reality, constitutes one event to Him Who lives now free in His Own world and free from the limitations of time and space. Having related Humanity to the Hierarchy (which in the case of individual man means relating the personality to the soul), He now seeks to relate more closely, with the aid of the Buddha, the Hierarchy to Shamballa, love to will, electric fire to solar fire.

1. Ngài “chăm lo việc gợi lên ngọn lửa.” Nhiệm vụ chính yếu của Ngài với tư cách Đấng Đứng Đầu Thánh Đoàn là gợi lên Lửa Điện của Shamballa, năng lượng của Ý Chí thiêng liêng, và làm điều này dưới một hình thức sao cho Thánh Đoàn có thể được kéo đến gần hơn với nguồn Sự Sống, và do đó Nhân loại có thể hưởng lợi từ Sự Tiếp Cận này của Thánh Đoàn, để cuối cùng biết được ý nghĩa của những lời “sự sống dồi dào hơn.” Sự gợi lên lửa của ý chí bởi Đức Christ đã được khởi đầu một cách biểu tượng trong Vườn [Page 92] Gethsemane. Ngài đã hai lần biểu lộ một cách biểu tượng sự đáp ứng cá nhân của Ngài đối với năng lượng Shamballa: một lần trong Đền thờ Jerusalem khi còn là một hài nhi, và lần nữa trong Vườn khi là một người trưởng thành, vào cuối sự nghiệp trần thế của Ngài. Sự đáp ứng thứ ba và sau cùng của Ngài, vốn là đỉnh điểm công việc của Ngài theo góc nhìn nhân loại của chúng ta, trải dài chín năm, từ Trăng tròn tháng Sáu năm 1936 đến Trăng tròn tháng Sáu năm 1945. Trong thực tại, giai đoạn này cấu thành một biến cố duy nhất đối với Đấng hiện nay đang sống tự do trong thế giới riêng của Ngài và tự do khỏi các giới hạn của thời gian và không gian. Sau khi đã liên hệ Nhân loại với Thánh Đoàn, điều mà trong trường hợp con người cá biệt có nghĩa là liên hệ phàm ngã với linh hồn, giờ đây Ngài tìm cách, với sự trợ giúp của Đức Phật, liên hệ Thánh Đoàn với Shamballa một cách mật thiết hơn, liên hệ bác ái với ý chí, Lửa Điện với Lửa Thái dương.

2. He “nourishes the lesser lives.” This refers to the task of the Christ which proceeds day by day, in His capacity of God the Preserver. He “tends the little ones.” The work here referred to concerns His activity as Initiator and His responsibility as Head of the Hierarchy. The nourishing of the little lives refers primarily to His task as World Teacher and to His responsibility to lead humanity on into the light, with the aid of all the Masters, working, each of Them through His Own Ashram.

2. Ngài “nuôi dưỡng các sự sống thấp bé.” Điều này nói đến nhiệm vụ của Đức Christ, vốn diễn ra ngày qua ngày, trong cương vị của Ngài là Thượng đế Đấng Bảo Tồn. Ngài “chăm sóc những kẻ bé nhỏ.” Công việc được nói đến ở đây liên quan đến hoạt động của Ngài với tư cách Đấng Điểm đạo và trách nhiệm của Ngài với tư cách Đấng Đứng Đầu Thánh Đoàn. Việc nuôi dưỡng các sự sống nhỏ bé chủ yếu nói đến nhiệm vụ của Ngài với tư cách Đức Chưởng Giáo và trách nhiệm của Ngài trong việc dẫn dắt nhân loại tiến vào ánh sáng, với sự trợ giúp của tất cả các Chân sư, mỗi Ngài hoạt động qua Ashram riêng của mình.

3. He “keeps the wheel revolving.” This has a specific relation to His work as the Word of God, which manifests as the Word made flesh. This refers specifically to the great Wheel of Rebirth whereby, upon that turning wheel, souls are carried down into incarnation and then up and out of the soul’s prison; through the turning of the wheel, human beings learn their needed lessons, create cyclically their vehicles of expression (the response apparatus of the soul in the three worlds) and in this way, under soul guidance, and aided by the Hierarchy and its schools of instruction, they arrive at perfection. This entire process is under the control of the Christ, assisted by the Manu and the Lord of Civilization. These three Great Lords thus represent the three divine Aspects in the Hierarchy; They, with the four Lords of Karma, form the seven Who control the whole [Page 93] process of incarnation. The subject is too vast and intricate to be adequately considered here. The above truth does, however, give us a clue as to why the Christ made no specific reference to the work of incarnation in His spoken utterances whilst on Earth. He was then occupied with His task of World Savior.

3. Ngài “giữ cho bánh xe quay.” Điều này có mối liên hệ đặc thù với công việc của Ngài với tư cách Linh từ của Thượng đế, biểu hiện như Linh từ trở thành xác phàm. Điều này đặc biệt nói đến Bánh xe Tái sinh vĩ đại, nhờ đó, trên bánh xe đang quay ấy, các linh hồn được đưa xuống nhập thể rồi lại được nâng lên và thoát khỏi nhà tù của linh hồn; qua sự xoay chuyển của bánh xe, con người học những bài học cần thiết của mình, tạo dựng theo chu kỳ các vận cụ biểu đạt của mình, tức bộ máy đáp ứng của linh hồn trong ba cõi giới, và bằng cách này, dưới sự dẫn dắt của linh hồn, đồng thời được Thánh Đoàn và các trường huấn luyện của Thánh Đoàn trợ giúp, họ đạt đến sự hoàn thiện. Toàn bộ tiến trình này đặt dưới quyền kiểm soát của Đức Christ, với sự trợ giúp của Đức Manu và Chúa Tể Văn Minh. Ba Đấng Chúa Tể Cao Cả này do đó đại diện cho ba Phương diện thiêng liêng trong Thánh Đoàn; Các Ngài, cùng với bốn Chúa Tể Nghiệp Quả, tạo thành bảy Đấng kiểm soát toàn bộ [Page 93] tiến trình nhập thể. Chủ đề này quá rộng lớn và phức tạp để có thể được xem xét đầy đủ ở đây. Tuy nhiên, chân lý trên cho chúng ta một manh mối về lý do tại sao Đức Christ đã không nhắc đến một cách cụ thể công việc nhập thể trong những lời Ngài đã nói khi còn ở trên Trái Đất. Khi ấy Ngài đang bận rộn với nhiệm vụ của Ngài là Đấng Cứu Thế Gian.

His work as Preserver and as Head of the Hierarchy had not then begun. It was at that time dependent upon the experience in the Garden of Gethsemane and upon the Resurrection initiation. Some day the gold and the silver threads of the Gospel story will be disentangled, and men will know the two interpretations which can be put upon the events and episodes in the career of Jesus the Christ. The underlying true events give us great steps and developments in the work of the Christ as He “enveloped humanity in the mantle of love, grasped the rod of initiation on behalf of His brothers, and faced the Lord of Life Himself, unattended, unafraid and in His Own right.” The episodes refer to happenings in the life of Jesus.

Công việc của Ngài với tư cách Đấng Bảo Tồn và Đấng Đứng Đầu Thánh Đoàn lúc ấy chưa bắt đầu. Vào thời điểm đó, công việc ấy còn tùy thuộc vào kinh nghiệm trong Vườn Gethsemane và vào cuộc điểm đạo Phục Sinh. Một ngày nào đó, các sợi chỉ vàng và bạc của câu chuyện Phúc Âm sẽ được gỡ rối, và con người sẽ biết hai cách diễn giải có thể được đặt lên các biến cố và tình tiết trong sự nghiệp của Đức Jesus, Đấng Christ. Những biến cố chân thực nằm bên dưới cho chúng ta thấy các bước tiến và sự phát triển vĩ đại trong công việc của Đức Christ khi Ngài “bao bọc nhân loại trong áo choàng của tình thương, nắm lấy Thần Trượng Điểm đạo thay mặt cho các huynh đệ của Ngài, và đối diện với chính Chúa Tể Sự Sống, không người hộ tống, không sợ hãi và trong quyền chính đáng của riêng Ngài.” Các tình tiết thì nói đến những sự việc xảy ra trong đời sống của Đức Jesus.

At the present time, and at the immediate point of tension, Christ has added to His two immediate and constant tasks that of hastening the coming of the Avatar Who waits for the perfected work of the Hierarchy, focused in the Christ, and the powerful work of Shamballa, focused in the Lord of the World. When the exact moment has arrived, the work of the Buddha, representing Shamballa, and of the Christ, representing the Hierarchy, plus the sincere demand of Humanity, will bring about an arrangement or an alignment which will release an evocative Sound which will be extra-planetary, and then the Avatar will come.

Vào thời điểm hiện tại, và tại điểm tập trung nhất tâm trước mắt, Đức Christ đã thêm vào hai nhiệm vụ trực tiếp và thường hằng của Ngài nhiệm vụ thúc đẩy sự giáng lâm của Đấng Hoá Thân, Đấng đang chờ công trình hoàn thiện của Thánh Đoàn, được quy tụ nơi Đức Christ, và công việc quyền năng của Shamballa, được quy tụ nơi Đức Chúa Tể Thế Giới. Khi đúng thời điểm đã đến, công việc của Đức Phật, đại diện cho Shamballa, và của Đức Christ, đại diện cho Thánh Đoàn, cộng với lời thỉnh cầu chân thành của Nhân loại, sẽ tạo nên một sự sắp đặt hay một sự chỉnh hợp, giải phóng một Âm Thanh gợi lên mang tính ngoài hành tinh; và bấy giờ Đấng Hoá Thân sẽ đến.

Ask me not for the date or the hour, brother of mine, for I know it not. It is dependent upon the appeal—the voiceless appeal—of all who stand with massed intent; it is dependent also upon the hour of exact alignment and upon certain aspects of work being done at this time by the senior Members of the Hierarchy, and also upon the steadfastness of the disciples in the world and the initiates—working in their various Ashrams. To this must be added [Page 94] what Christians call the “inscrutable will of God,” the unrecognized purpose of the Lord of the World Who “knows His Own Mind, radiates the highest quality of Love, and focuses His Will in His Own high Place outside the Council Chamber of Shamballa.

Huynh đệ của tôi, đừng hỏi tôi về ngày hay giờ, vì tôi không biết. Điều ấy tùy thuộc vào lời kêu gọi—lời kêu gọi không thành tiếng—của tất cả những ai đứng vững với chủ định hợp nhất; điều ấy cũng tùy thuộc vào giờ phút chỉnh hợp chính xác, vào một số phương diện của công việc đang được các Thành viên cao cấp của Thánh Đoàn thực hiện vào lúc này, và vào sự kiên định của các đệ tử trên thế gian cùng các điểm đạo đồ—đang làm việc trong những Ashram khác nhau của họ. Vào đó phải thêm [Page 94] điều mà các tín hữu Ki-tô gọi là “ý chí khôn dò của Thượng đế,” mục đích chưa được nhận biết của Đức Chúa Tể Thế Giới, Đấng “biết rõ Trí của chính Ngài, phát xạ phẩm tính cao nhất của Bác Ái, và tập trung Ý Chí của Ngài nơi Chốn cao cả riêng của Ngài, bên ngoài Phòng Hội Đồng Shamballa.

That the Avatar will come is a predictable certainty. That His forerunner will be the Christ is equally sure. When Christ comes it will be for the advanced units of the human family; they will recognize Him because He has always been with us, whilst His advent will evoke a responsive vibration from the masses, but not straight recognition. In connection with the Avatar, it will be a process of hierarchical recognition of an over-shadowing Presence within Whose aura the planetary Logos will take His stand as the planetary Representative. Then from Shamballa will descend a stream of spiritual potency, qualified by the will-to-good, and this will reach the attentive Hierarchy. The Members of this Group will, through the medium of the Christ, pour light and healing energy upon the Earth and peculiarly into the consciousness of men. I am not able to express the effect of the outpouring from Shamballa in clearer terms. We are told in the Bible that Christ will come in the air, and that He will bring the “healing of the nations” in His wings. I would call your attention to this thought and to its appositives[1] to this day and generation. I make no prophetically predictions, I only indicate possibility. When the Avatar has made His appearance, then will the

Việc Đấng Hoá Thân sẽ đến là một điều chắc chắn có thể tiên đoán. Việc vị tiền phong của Ngài sẽ là Đức Christ cũng chắc chắn như vậy. Khi Đức Christ đến, điều đó sẽ dành cho những đơn vị tiến hóa cao trong gia đình nhân loại; họ sẽ nhận ra Ngài vì Ngài đã luôn ở cùng chúng ta, trong khi sự giáng lâm của Ngài sẽ gợi lên một rung động đáp ứng từ quần chúng, nhưng không phải sự nhận biết trực tiếp. Liên quan đến Đấng Hoá Thân, đó sẽ là một tiến trình nhận biết của Thánh Đoàn về một Sự Hiện Diện phủ bóng, trong hào quang của Ngài, Hành Tinh Thượng đế sẽ đảm nhận vị thế là Đấng Đại Diện hành tinh. Khi ấy, từ Shamballa sẽ giáng xuống một dòng quyền năng tinh thần, được định tính bởi Ý Chí-hướng Thiện, và dòng này sẽ đến với Thánh Đoàn đang chú tâm. Các Thành viên của Nhóm này, qua trung gian Đức Christ, sẽ tuôn đổ ánh sáng và năng lượng chữa lành xuống Trái Đất, và đặc biệt vào tâm thức con người. Tôi không thể diễn tả tác động của lần tuôn đổ từ Shamballa bằng những từ ngữ rõ ràng hơn. Trong Kinh Thánh, chúng ta được cho biết rằng Đức Christ sẽ đến trong không trung, và rằng Ngài sẽ mang “sự chữa lành các quốc gia” trong đôi cánh của Ngài. Tôi muốn các bạn lưu ý đến tư tưởng này và đến sự thích đáng của nó đối với ngày nay và thế hệ này. Tôi không đưa ra lời tiên tri nào; tôi chỉ chỉ ra khả tính. Khi Đấng Hoá Thân đã xuất hiện, bấy giờ

“Sons of men who are now the Sons of God withdraw Their faces from the shining light and radiate that light upon the sons of men who know not yet they are the Sons of God. Then shall the Coming One appear, His footsteps hastened through the valley of the shadow by the One of awful power Who stands upon the mountain top, breathing out love eternal, light supernal and peaceful silent Will.

“Những người con của nhân loại, nay là Các Con của Thượng đế, Các Ngài sẽ ngoảnh mặt khỏi ánh sáng rực rỡ và tỏa ánh sáng ấy xuống những người con của nhân loại, những người chưa biết rằng họ là Các Con của Thượng đế. Khi ấy Đấng Đang Đến sẽ xuất hiện, bước chân của Ngài được thúc nhanh qua thung lũng bóng tối bởi Đấng có quyền năng uy nghi, Đấng đứng trên đỉnh núi, tuôn ra tình thương vĩnh cửu, ánh sáng thiên thượng và Ý Chí tĩnh lặng an bình.

“Then will the sons of men respond. Then will a newer light shine forth into the dismal weary vale of [Page 95] earth. Then will new life course through the veins of men, and then will their vision compass all the ways of what may be.

“Khi ấy những người con của nhân loại sẽ đáp ứng. Khi ấy một ánh sáng mới hơn sẽ chiếu rạng vào thung lũng u ám, mỏi mệt của [Page 95] địa cầu. Khi ấy sự sống mới sẽ chảy trong huyết quản con người, và khi ấy tầm nhìn của họ sẽ bao quát mọi con đường của những gì có thể thành tựu.

“So peace will come again on earth, but a peace unlike aught known before. Then will the will-to-good flower forth as understanding, and understanding blossom as goodwill in men.”

“Như vậy hòa bình sẽ lại đến trên địa cầu, nhưng là một nền hòa bình không giống bất cứ điều gì đã từng được biết trước đây. Khi ấy Ý Chí-hướng Thiện sẽ nở hoa thành sự thấu hiểu, và sự thấu hiểu sẽ nở rộ thành thiện chí nơi con người.”

So speaks a prophetic passage in the ancient Archives of the Hierarchy which deals with the present cycle of distress (written in June, 1943). For this time men must prepare. You will know when the Avatar links up with the planetary Logos because I will then give you the final Stanza of the Great Invocation (given out in April, 1945). Its use will serve to bring the Coming One to recognition and enable Him to draw upon the resources of the Avatar in the task of world reorganization and regeneration. He will again come as the World Savior, but owing to the stupendous nature of the work ahead, He will be fortified and buttressed[2] by the “silent Avatar” Who (occultly speaking) will “keep His eye upon Him, His hand beneath, and His heart in unison with His.”

Một đoạn văn tiên tri trong các Văn Khố cổ xưa của Thánh Đoàn, vốn bàn đến chu kỳ khốn khó hiện nay, đã nói như vậy (được viết vào tháng Sáu năm 1943). Nhân loại phải chuẩn bị cho thời kỳ này. Các bạn sẽ biết khi Đấng Hoá Thân liên kết với Hành Tinh Thượng đế, bởi khi ấy Tôi sẽ trao cho các bạn Bài Kệ cuối cùng của Đại Khấn Nguyện (được ban ra vào tháng Tư năm 1945). Việc sử dụng bài ấy sẽ giúp Đấng Đang Đến được nhận biết và cho phép Ngài vận dụng các nguồn lực của Đấng Hoá Thân trong nhiệm vụ tái tổ chức và tái sinh thế giới. Ngài sẽ lại đến như Đấng Cứu Thế của thế gian, nhưng vì tính chất phi thường của công việc phía trước, Ngài sẽ được củng cố và nâng đỡ bởi “Đấng Hoá Thân thầm lặng”, Đấng mà, nói theo huyền bí học, sẽ “giữ mắt Ngài dõi theo Ngài, đặt tay Ngài bên dưới, và để trái tim Ngài hòa nhịp cùng trái tim Ngài.”

The keynote of Christ’s mission will be to evoke from humanity a response to that influence, and an unfoldment on a large scale of intuitive perception. When He came before, He evoked from humanity a gradual response to truth, and mental understanding. That is why at the end of the cycle, which He inaugurated, we have formulated doctrine and mental development.

Chủ âm sứ mệnh của Đức Christ sẽ là khơi gợi nơi nhân loại một đáp ứng đối với ảnh hưởng ấy, và một sự khai mở trên quy mô rộng lớn của tri giác trực giác. Khi Ngài đã đến trước kia, Ngài khơi gợi nơi nhân loại một đáp ứng dần dần đối với chân lý, và sự thấu hiểu trí tuệ. Đó là lý do vì sao vào cuối chu kỳ mà Ngài đã khai mở, chúng ta có giáo lý đã được định hình và sự phát triển trí tuệ.

The work now being done by Shamballa and the Hierarchy on behalf of humanity will tend also to develop group consciousness and the formation of many groups which will be living organisms and not organizations; it will make group initiation possible and will enable certain aspects of the will to flower forth correctly and with safety. The tendency to overlook the distinction between groups and organizations is still very deep seated; the coming of the Christ will throw much light upon this problem. A study of Rule IV as given to disciples and initiates will also serve [Page 96] to clarify this matter, and with that we shall now concern ourselves.

Công việc hiện đang được Shamballa và Thánh Đoàn thực hiện thay mặt cho nhân loại cũng sẽ có khuynh hướng phát triển tâm thức nhóm và sự hình thành nhiều nhóm mà sẽ là những cơ thể sống chứ không phải các tổ chức; nó sẽ làm cho điểm đạo nhóm trở nên khả hữu và sẽ cho phép một vài phương diện của ý chí nở hoa một cách đúng đắn và an toàn. Khuynh hướng xem nhẹ sự phân biệt giữa các nhóm và các tổ chức vẫn còn ăn sâu; sự giáng lâm của Đức Christ sẽ rọi nhiều ánh sáng vào vấn đề này. Việc nghiên cứu Quy luật IV như được trao cho các đệ tử và điểm đạo đồ cũng sẽ giúp [Trang 96] làm sáng tỏ vấn đề này, và giờ đây chúng ta sẽ bàn đến điều đó.

Rule IV

Quy luật IV

(1) Let the group see that all the eighteen fires die down and that the lesser lives return unto the reservoir of life. (2) This they must bring about through the evocation of the Will. (3) The lesser wheels must not for aye[3] revolve in time and space. Only the greater Wheel must onward move and turn.

(1) Hãy để nhóm thấy rằng tất cả mười tám ngọn lửa lắng xuống và rằng những sự sống nhỏ hơn trở về kho chứa của sự sống. (2) Họ phải thực hiện điều này qua sự gợi lên của Ý Chí. (3) Những bánh xe nhỏ hơn không được mãi mãi xoay trong thời gian và không gian. Chỉ Bánh Xe lớn hơn mới phải tiến tới và xoay chuyển.

This is a rule peculiarly related to the fourth Creative Hierarchy, embodying its goal as the Aryan root-race can sense and approximate it. It is peculiarly related also to the quaternary to which we give the name “personality,” composed of a vital or etheric body, a sumtotal of emotional states and a mind, plus that integrated something which we call the whole man. Rightly understood and followed, this rule reveals the nature of the fourth plane or fourth state of consciousness, that of buddhi or the plane of pure reason, the intuition. From the angle of the higher initiate, this rule is related to the activity of Monad, Soul and body within the planetary Life, and covers a great mystery and an entire system of relationships of which man in the three worlds is a dim and uncertain shadow. Some clue to the higher quaternary dealt with in this rule will emerge dimly in your consciousness (more is not yet possible) if you will attempt to realize the following:

Đây là một quy luật liên hệ đặc biệt với Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, thể hiện mục tiêu của nó như giống dân gốc Arya có thể cảm nhận và tiến gần đến. Nó cũng liên hệ đặc biệt với bộ tứ mà chúng ta gọi là “phàm ngã”, gồm một thể sinh lực hay thể dĩ thái, một tổng thể các trạng thái cảm xúc và một thể trí, cộng với một cái gì đó đã tích hợp mà chúng ta gọi là toàn thể con người. Khi được thấu hiểu và tuân theo đúng đắn, quy luật này mặc khải bản chất của cõi thứ tư hay trạng thái tâm thức thứ tư, tức Bồ đề hay cõi của lý trí thuần túy, trực giác. Từ góc độ của điểm đạo đồ cao cấp hơn, quy luật này liên hệ với hoạt động của Chân thần, Linh hồn và thể trong Sự sống hành tinh, và bao hàm một huyền nhiệm lớn cùng toàn bộ một hệ thống các mối tương quan mà con người trong ba cõi thấp chỉ là một cái bóng mờ nhạt và bất định. Một vài manh mối về bộ tứ cao hơn được đề cập trong quy luật này sẽ hiện lên lờ mờ trong tâm thức các bạn (nhiều hơn nữa hiện chưa thể có) nếu các bạn cố gắng nhận ra những điều sau đây:

1. The Monad relates the initiate to the Will of God, to the Council at Shamballa, to forces active on the planet Pluto, and on another planet which must remain nameless, and also to the Central Spiritual Sun.

1. Chân thần liên hệ điểm đạo đồ với Ý Chí của Thượng Đế, với Hội Đồng tại Shamballa, với các mãnh lực đang hoạt động trên hành tinh Sao Diêm Vương, và trên một hành tinh khác phải được giữ không nêu tên, cũng như với Mặt trời Tinh thần Trung Ương.

2. The Soul relates the initiate to the Love of God, to the consciousness aspect of Deity, to the Hierarchy as a whole, entering it through the Ashram of the Master Who has aided him to take initiation, to the planets Venus and Mercury, to the Sun Sirius, and to the Heart of the Sun.

2. Linh hồn liên hệ điểm đạo đồ với Tình thương của Thượng đế, với phương diện tâm thức của Thượng đế, với toàn thể Thánh Đoàn, đi vào Thánh Đoàn qua ashram của Chân sư đã trợ giúp y thọ điểm đạo, với các hành tinh Sao Kim và Sao Thủy, với Mặt Trời Thiên Lang, và với Trái Tim của Mặt Trời.

3. The Personality relates the initiate to the Mind [Page 97] of God, to the intelligence principle of the planetary Life, to humanity as a whole, to Saturn and Mars, and to the physical Sun through its pranic aspect.

3. Phàm ngã liên hệ điểm đạo đồ với Trí [Trang 97] của Thượng đế, với nguyên khí trí tuệ của Sự sống hành tinh, với toàn thể nhân loại, với Sao Thổ và Sao Hỏa, và với Mặt Trời hồng trần qua phương diện prana của nó.

4. The Life aspect of the planet, or that great ocean of forces in which all these three aspects live and move and have their being, relates the initiate to that Life which works out through Shamballa, through the Hierarchy and through Humanity, thus forming part of the great sumtotal of manifestation.

4. Phương diện Sự sống của hành tinh, hay đại dương mãnh lực vĩ đại trong đó cả ba phương diện này sống, vận động và hiện hữu, liên hệ điểm đạo đồ với Sự sống đang thể hiện qua Shamballa, qua Thánh Đoàn và qua Nhân loại, nhờ đó tạo thành một phần của đại tổng thể biểu hiện.

It is to these major quaternaries that Rule IV refers, and their relationships only emerge as the initiate keeps the rules. Let us now take this rule stanza by stanza, and so get some understanding of its basic significances.

Quy luật IV quy chiếu đến những bộ tứ chính yếu này, và các mối tương quan của chúng chỉ hiển lộ khi điểm đạo đồ giữ các quy luật. Giờ đây chúng ta hãy xét quy luật này từng bài kệ một, và nhờ vậy đạt được phần nào sự thấu hiểu về các thâm nghĩa căn bản của nó.

First sentence: Let the group see that all the eighteen fires die down and that the lesser lives return unto the reservoir of life.

Câu thứ nhất: Hãy để nhóm thấy rằng tất cả mười tám ngọn lửa lắng xuống và rằng những sự sống nhỏ hơn trở về kho chứa của sự sống.

1. Let the group see that all the eighteen fires die down and that the lesser lives return unto the reservoir of life. ()

1. Hãy để nhóm thấy rằng tất cả mười tám ngọn lửa lắng xuống và rằng những sự sống nhỏ hơn trở về kho chứa của sự sống. ()

A very casual consideration will show the student that this rule contains four sentences which refer to one or other of the four aspects we have been considering. Bear this in mind as we study significances, interpretations and carry our thoughts into the world of meaning.

Một sự xem xét rất thoáng qua cũng sẽ cho đạo sinh thấy rằng quy luật này chứa bốn câu quy chiếu đến một trong bốn phương diện mà chúng ta đã và đang xem xét. Hãy ghi nhớ điều này khi chúng ta nghiên cứu các thâm nghĩa, các diễn giải, và đưa tư tưởng của mình vào Thế giới của ý nghĩa.

A very cursory[4] reading of the Rule leads one to the surmise that one of the most important hints concerns the effect of the group life and radiation upon the individual in the group.Let the group see that all the eighteen fires die down and that the lesser lives return unto the reservoir of life.” These words deal with the group personality, composed of all the personalities of its members. It should be borne in mind that a group is in itself an entity, having form, substance, soul and purpose or objective, and that none of these [Page form, soul, purpose] is better or greater, or more developed than the aggregate of group lives which compose it. Though individuals of varying points in evolution form the group, none of them is below the level of disciples upon the evolutionary ladder. A Master’s Ashram has in it disciples and initiates of all degrees, but no probationary disciples at all. No one below the rank of disciples—accepted and dedicated—is admitted. This is one of the first Rules given to an accepted [Page 98] disciple when first admitted into the Ashram, and it is from that angle that we should now consider it.

Một sự đọc rất lướt Quy luật này khiến người ta phỏng đoán rằng một trong những gợi ý quan trọng nhất liên quan đến tác động của đời sống nhóm và sự tỏa chiếu của nhóm lên cá nhân trong nhóm.Hãy để nhóm thấy rằng tất cả mười tám ngọn lửa lắng xuống và rằng những sự sống nhỏ hơn trở về kho chứa của sự sống.” Những lời này đề cập đến phàm ngã nhóm, được cấu thành từ tất cả các phàm ngã của các thành viên trong nhóm. Cần ghi nhớ rằng một nhóm tự nó là một thực thể, có hình tướng, chất liệu, linh hồn và mục đích hay mục tiêu, và không một yếu tố nào trong các yếu tố này [Trang hình tướng, linh hồn, mục đích] là tốt hơn, lớn hơn, hay phát triển hơn tổng hợp các sự sống nhóm cấu thành nó. Dù các cá nhân ở những điểm tiến hoá khác nhau tạo thành nhóm, không ai trong số họ ở dưới cấp độ của các đệ tử trên thang tiến hoá. Một ashram của Chân sư có trong đó các đệ tử và các điểm đạo đồ thuộc mọi cấp độ, nhưng hoàn toàn không có các đệ tử dự bị. Không ai dưới phẩm bậc đệ tử—đã được chấp nhận và đã thánh hiến—được thu nhận. Đây là một trong những Quy luật đầu tiên được trao cho một đệ tử đã được chấp nhận [Trang 98] khi lần đầu được thu nhận vào ashram, và chính từ góc độ ấy mà giờ đây chúng ta nên xem xét nó.

The three Rules we have earlier considered are general in nature and relate to certain broad themes or demanded hypotheses which must govern the consciousness of the disciple in the future. In this particular Rule we enter the realm of the specific, and are presented with certain “intentional” activities which must govern the disciple’s life now that he is an integral part of the Ashram. He is faced with the proposition of making his life of such a nature that it furthers the group purpose, enhances the group strength, eliminates all that might hinder group usefulness, and brings closer the objective for which the group was formed—the carrying out of the Master’s plans. It was the disciple’s innate, instinctual and individual response to this ray objective, and his effort to subordinate his personality to the dimly sensed soul dedication, which led the Master in the first instance to recognize him and incorporate him into His Ashram. The moment that happened, the disciple came not only under an increased impact of egoic force and egoic impulsive intention (using those words in their occult sense), but the group radiation began its beneficent work upon him. The magnetic “pulling” power which had hitherto led him forward is now superseded by a radiating stimulating potency; this effects great changes in him, and produces both eliminating and substituting results. The effect of the life of the Ashram, as far as the group which forms it is concerned and apart from the Master’s Own potency, can be described as follows:

Ba Quy luật mà chúng ta đã xem xét trước đây có bản chất tổng quát và liên quan đến một số chủ đề rộng lớn hoặc những giả thuyết được đòi hỏi, vốn phải chi phối tâm thức của đệ tử trong tương lai. Trong Quy luật đặc thù này, chúng ta bước vào lĩnh vực cụ thể, và được trình bày một số hoạt động “có chủ đích” vốn phải chi phối đời sống của đệ tử, nay khi y là một phần tích hợp của ashram. Y đứng trước mệnh đề phải làm cho đời sống của mình có bản chất đến mức nó thúc đẩy mục đích nhóm, tăng cường sức mạnh nhóm, loại bỏ mọi điều có thể cản trở tính hữu dụng của nhóm, và đưa mục tiêu mà nhóm được thành lập để đạt tới đến gần hơn—việc thực hiện các kế hoạch của Chân sư. Chính sự đáp ứng bẩm sinh, bản năng và cá nhân của đệ tử đối với mục tiêu thuộc cung này, cùng nỗ lực của y nhằm đặt phàm ngã dưới sự hiến dâng của linh hồn mà y cảm nhận còn mơ hồ, đã khiến Chân sư ngay từ đầu nhận ra y và đưa y vào ashram của Ngài. Ngay khi điều đó xảy ra, đệ tử không chỉ chịu một tác động gia tăng của mãnh lực chân ngã và ý định thôi thúc của chân ngã, dùng các từ ấy theo ý nghĩa huyền bí, mà bức xạ của nhóm cũng bắt đầu công việc lành của nó nơi y. Sức “kéo hút” từ tính vốn trước đó dẫn y tiến lên nay được thay thế bằng một uy lực kích thích tỏa chiếu; điều này tạo nên những biến đổi lớn lao trong y, và sinh ra các kết quả vừa loại trừ vừa thay thế. Ảnh hưởng của đời sống ashram, xét trong phạm vi nhóm tạo nên ashram ấy và tách khỏi uy lực riêng của Chân sư, có thể được mô tả như sau:

1. The life of the personality is steadily weakened, and its grip upon the soul is definitely loosened. The soul begins to dominate in a very real sense.

1. Đời sống của phàm ngã dần dần suy yếu, và sự bám giữ của nó đối với linh hồn được nới lỏng rõ rệt. Linh hồn bắt đầu chủ trị theo một ý nghĩa rất thực.

2. The necessity of incarnation becomes appreciably less, and finally life in the three worlds of human manifestation becomes needless. All the lessons have been learnt and the soul objective has been attained.

2. Nhu cầu lâm phàm trở nên giảm đi đáng kể, và cuối cùng đời sống trong ba cõi thấp của sự biểu hiện nhân loại trở nên không còn cần thiết. Mọi bài học đã được học xong và mục tiêu của linh hồn đã đạt được.

3. The Will of the Monad begins to be sensed; the will aspect blends with the love aspect and makes the [Page 99] intelligence aspect fruitful and effective for the carrying out of divine purpose, focused for the disciple through the Ashram.

3. Ý Chí của chân thần bắt đầu được cảm nhận; phương diện ý chí hòa nhập với phương diện bác ái và làm cho phương diện [Page 99] trí tuệ trở nên phong phú và hiệu quả trong việc thực hiện Thiên Ý, được quy tụ cho đệ tử thông qua ashram.

4. The purposes of time and space, of events and extension, of matter and consciousness have been achieved and are eventually superseded by something for which we have as yet no term and of which we have no conception. It is that which begins to express itself after the third initiation, when the Father aspect “comes into view”—I know not how else to word it.

4. Các mục đích của thời gian và không gian, của biến cố và sự mở rộng, của vật chất và tâm thức đã được thành tựu và rốt cuộc được thay thế bằng một điều mà chúng ta hiện chưa có thuật ngữ để gọi và chưa có quan niệm nào về nó. Đó là điều bắt đầu tự biểu lộ sau lần điểm đạo thứ ba, khi phương diện Cha “hiện ra trước mắt”—tôi không biết phải diễn đạt cách nào khác.

5. The whole is seen to be of more vital importance than the part, and this not as a dream, a vision, a theory, a process of wishful thinking, an hypothesis or an urge. It is realized as an innate necessity and as inevitable. It connotes death, but death as beauty, as joy, as spirit in action, as the consummation of all good.

5. Cái toàn thể được thấy là có tầm quan trọng sống động hơn phần tử, và điều này không phải như một giấc mơ, một linh ảnh, một lý thuyết, một tiến trình suy tưởng theo ước vọng, một giả thuyết hay một thôi thúc. Nó được chứng nghiệm như một nhu cầu bẩm sinh và như điều tất yếu. Nó hàm ý cái chết, nhưng là cái chết như vẻ đẹp, như sự hoan hỉ, như tinh thần trong hành động, như sự viên thành của mọi điều thiện.

It will be obvious, therefore, that the interpretation of these Rules must involve capacity to pass beyond the usual attitudes and what one might call the usual metaphysical and theosophical platitudes, and to see life as the Hierarchy sees it. This means that life is approached from the angle of the Observer and not from that of a participator in actual experiment and experience in the three worlds. This Observer is different to the Observer on the probationary Path. Most of the experiment and experience has been left behind, and a new orientation to a world of values, higher than even the world of meaning, has set in. This attitude might well be described as the mode of approach of all who form a part of an Ashram. Those who form the Ashram are living in the three worlds of experience if they are accepted disciples, but the focus of their attention is not there. If they are initiated disciples, they are increasingly unaware of the activities and reactions of their personalities, because certain aspects of the lower nature are now so controlled and purified that they have dropped below the threshold of consciousness and have entered the world of instinct; therefore there is no more awareness of them than a man asleep is conscious of the rhythmic functioning of his sleeping [Page 100] physical vehicle. This is a deep and largely unrealized truth. It is related to the entire process of death and might be regarded as one of the definitions of death; it holds the clue to the mysterious words “the reservoir of life.” Death is in reality unconsciousness of that which may be functioning in some form or another, but in a form of which the spiritual entity is totally unaware. The reservoir of life is the place of death, and this is the first lesson the disciple learns.

Do đó, hiển nhiên rằng việc diễn giải các Quy luật này phải bao hàm khả năng vượt lên trên những thái độ thông thường và những điều có thể gọi là các sáo ngữ siêu hình và Thông Thiên Học quen thuộc, để thấy đời sống như Thánh Đoàn thấy. Điều này có nghĩa là đời sống được tiếp cận từ góc độ của Người Quan Sát, chứ không từ góc độ của một người tham dự vào cuộc thử nghiệm và kinh nghiệm thực tế trong ba cõi thấp. Người Quan Sát này khác với Người Quan Sát trên Con Đường Dự Bị. Phần lớn cuộc thử nghiệm và kinh nghiệm đã được bỏ lại phía sau, và một định hướng mới hướng về một thế giới các giá trị, cao hơn cả Thế giới của ý nghĩa, đã bắt đầu. Thái độ này có thể được mô tả đúng là cách tiếp cận của tất cả những ai là một phần của ashram. Những ai tạo nên ashram đang sống trong ba cõi thấp của kinh nghiệm nếu họ là các đệ tử được chấp nhận, nhưng tiêu điểm chú tâm của họ không ở đó. Nếu họ là các đệ tử đã được điểm đạo, họ ngày càng ít nhận biết các hoạt động và phản ứng của phàm ngã mình, bởi vì một số phương diện của bản chất thấp nay đã được kiểm soát và thanh lọc đến mức chúng rơi xuống dưới ngưỡng tâm thức và đã đi vào thế giới bản năng; do đó, người ta không còn nhận biết chúng hơn gì một người đang ngủ ý thức về hoạt động nhịp nhàng của hiện thể hồng trần đang ngủ của mình [Page 100]. Đây là một chân lý sâu xa và phần lớn chưa được nhận ra. Nó liên quan đến toàn bộ tiến trình của cái chết và có thể được xem như một trong các định nghĩa về cái chết; nó nắm giữ manh mối của những lời huyền nhiệm “hồ chứa sự sống.” Cái chết thực ra là sự vô thức đối với điều có thể đang vận hành dưới một hình tướng nào đó, nhưng trong một hình tướng mà thực thể tinh thần hoàn toàn không nhận biết. Hồ chứa sự sống là nơi chốn của cái chết, và đây là bài học đầu tiên mà đệ tử học được.

The eighteen fires refer to the eighteen states of matter which constitute the personality. They are:

Mười tám ngọn lửa chỉ mười tám trạng thái của vật chất cấu thành phàm ngã. Chúng là:

– seven physical states of matter,

– bảy trạng thái vật chất hồng trần,

– seven emotional states, enabling the astral body to function on the seven subplanes of the astral plane, and

– bảy trạng thái cảm xúc, cho phép thể cảm dục vận hành trên bảy cõi phụ của cõi cảm dục, và

– four states of matter for each of the four conditions of the concrete mind

– bốn trạng thái vật chất cho mỗi trong bốn điều kiện của trí cụ thể

– (7, 7, 4, = 18).

– (7, 7, 4, = 18).

– These are eighteen grades of substance,

– Đây là mười tám cấp độ của chất liệu,

– eighteen vibratory groups of atoms, and

– mười tám nhóm nguyên tử rung động, và

– eighteen aggregates of life

– mười tám tập hợp sự sống

which form the bodies of the lunar lords (as The Secret Doctrine calls them) which in their totality, form the body of the Lunar Lord, the Personality. The above is the very A B C of occultism and a familiar truth to all of you. What is referred to here has, however, no reference to processes of purification, of control or of discipline. These have been much earlier considered and are regarded as the necessary processes instituted upon the probationary path, and should have reached a point prior to the stage of accepted discipleship where—rapid or slow in expression—they are nevertheless automatic in action, sure and inevitable.

tạo thành các thể của các nguyệt tinh quân, như Giáo Lý Bí Nhiệm gọi họ, và trong toàn thể của chúng, tạo thành thể của Nguyệt Tinh Quân, tức Phàm ngã. Điều trên chính là những điều sơ đẳng nhất của huyền bí học và là một chân lý quen thuộc đối với tất cả các bạn. Tuy nhiên, điều được nói đến ở đây không liên quan đến các tiến trình thanh lọc, kiểm soát hay kỷ luật. Những tiến trình này đã được xem xét từ lâu trước đó và được xem là các tiến trình cần thiết được thiết lập trên Con Đường Dự Bị, và lẽ ra phải đạt tới một điểm trước giai đoạn địa vị đệ tử được chấp nhận, nơi mà—dù biểu hiện nhanh hay chậm—chúng vẫn tự động trong hành động, chắc chắn và tất yếu.

The first sentence in this fourth rule refers to Detachment—the detachment of the soul from the body or the institution of those activities which bring about what is called in the Bible “the second death.” It is not detachment as the aspirant practices it. It is the scientific breaking of all links and the ending (through completed use) of all contacts which are now regarded as militating against liberation. It is in reality a scientific process of ending karma; it is individual and national karma which brings a man back into a physical vehicle and clothes him with the qualities and aspects of substance. This must end whilst he is a member [Page 101] of the Master’s Ashram and is preparing himself for the triumph of the fourth initiation. This is brought about by the automatic, ceaseless and unquestioning fulfilment of duty, from the angle of recognized service.

Câu đầu tiên trong quy luật thứ tư này nói đến Sự tách rời—sự tách rời của linh hồn khỏi thể xác, hay việc thiết lập những hoạt động đưa đến điều được gọi trong Kinh Thánh là “cái chết thứ hai.” Đó không phải là sự tách rời như người chí nguyện thực hành. Đó là sự cắt đứt một cách khoa học mọi liên kết và sự chấm dứt, thông qua việc sử dụng đã hoàn tất, mọi tiếp xúc nay được xem là chống lại sự giải thoát. Thực ra, đó là một tiến trình khoa học nhằm chấm dứt nghiệp quả; chính nghiệp quả cá nhân và quốc gia đưa con người trở lại vào một hiện thể hồng trần và khoác lên y các phẩm tính cùng phương diện của chất liệu. Điều này phải chấm dứt khi y là một thành viên [Page 101] của ashram của Chân sư và đang chuẩn bị cho chiến thắng của lần điểm đạo thứ tư. Điều này được tạo nên nhờ sự hoàn thành bổn phận một cách tự động, không ngừng và không nghi vấn, từ góc độ sự phụng sự đã được nhận thức rõ.

It might be stated that an intelligent understanding of this sentence will lead to those actions which produce the death and dissipation and final dissolution of the personality through the ending of karma. It must be remembered that a Master has no personality at all. His divine nature is all that He has. The form through which He works (if He is working through and living in a physical vehicle) is a created image, the product of a focused will and the creative imagination; it is not the product of desire, as in the case of a human being. This is an important distinction and one which warrants careful thinking. The lesser lives (which are governed by the Moon) have been dispersed. They no longer respond to the ancient call of the reincarnating soul, which again and again has gathered to itself the lives which it has touched and colored by its quality in the past. The soul and the causal body no longer exist by the time the fourth initiation is undergone. What is left is the Monad and the thread, the antahkarana which it has spun out of its own life and consciousness down the ages and which it can focus at will upon the physical plane, where it can create a body of pure substance and radiant light for all that the Master may require. This will be a perfect body, utterly adapted to the need, the plan and the purpose of the Master. None of the lesser lives (as we understand the term) form part of it, for they can only be summoned by desire. In the Master there is no desire left, and this is the thought held before the disciple as he begins to master the significance of the fourth Rule.

Có thể nói rằng một sự thấu hiểu sáng suốt về câu này sẽ dẫn đến những hành động tạo ra cái chết, sự tiêu tan và sự tan rã cuối cùng của phàm ngã thông qua việc chấm dứt nghiệp quả. Cần nhớ rằng một Chân sư hoàn toàn không có phàm ngã. Bản chất thiêng liêng của Ngài là tất cả những gì Ngài có. Hình tướng qua đó Ngài hoạt động, nếu Ngài đang hoạt động qua và sống trong một vận cụ hồng trần, là một hình ảnh được tạo ra, sản phẩm của một ý chí tập trung và sự tưởng tượng sáng tạo; nó không phải là sản phẩm của dục vọng, như trong trường hợp của một con người. Đây là một phân biệt quan trọng và đáng được suy ngẫm cẩn thận. Các sự sống nhỏ bé, vốn do Mặt Trăng cai quản, đã bị phân tán. Chúng không còn đáp ứng với tiếng gọi xa xưa của linh hồn tái lâm phàm, linh hồn đã nhiều lần quy tụ về mình những sự sống mà nó đã chạm đến và nhuộm màu bằng phẩm tính của mình trong quá khứ. Linh hồn và thể nguyên nhân không còn tồn tại vào thời điểm diễn ra lần điểm đạo thứ tư. Điều còn lại là chân thần và sợi dây, antahkarana mà chân thần đã se dệt từ chính sự sống và tâm thức của mình qua nhiều thời đại và mà nó có thể tập trung theo ý chí trên cõi hồng trần, nơi nó có thể tạo ra một thể bằng chất liệu tinh khiết và ánh sáng rạng ngời cho mọi điều mà Chân sư có thể cần. Đây sẽ là một thể hoàn hảo, hoàn toàn thích ứng với nhu cầu, Thiên Cơ và mục đích của Chân sư. Không một sự sống nhỏ bé nào, như chúng ta hiểu thuật ngữ này, cấu thành một phần của nó, vì chúng chỉ có thể được triệu gọi bởi dục vọng. Trong Chân sư không còn dục vọng nào, và đây là tư tưởng được đặt trước người đệ tử khi y bắt đầu làm chủ thâm nghĩa của Quy luật thứ tư.

In this Rule two main ideas are to be found, both of them connected with the first divine aspect: the thought of Death and the nature of the Will. In the coming century, death and the will inevitably will be seen to have new meanings for humanity, and many of the old ideas will vanish. Death, to the average thinking man, is a point of [Page 102] catastrophic crisis. It is the cessation and the ending of all that has been loved, all that is familiar and to be desired; it is a crashing entrance into the unknown, into uncertainty, and the abrupt conclusion of all plans and projects. No matter how much true faith in the spiritual values may be present, no matter how clear the rationalizing of the mind may be anent immortality, no matter how conclusive the evidence of persistence and eternity, there still remains a questioning, a recognition of the possibility of complete finality and negation and an end to all activity, of all heart reactions, of all thought, emotion, desire, aspiration, and the intentions which focus around the central core of a man’s being. The longing and the determination to persist and the sense of continuity still rest, even to the most determined believer, upon probability, upon an unstable foundation, and upon the testimony of others—who have never in reality returned to tell the truth. The emphasis of all thought on this subject concerns the central “I” or the integrity of Deity.

Trong Quy luật này có thể tìm thấy hai ý tưởng chính, cả hai đều liên hệ với phương diện thiêng liêng thứ nhất: tư tưởng về Cái Chết và bản chất của Ý Chí. Trong thế kỷ sắp tới, cái chết và ý chí tất yếu sẽ được nhân loại thấy là có những ý nghĩa mới, và nhiều ý tưởng cũ sẽ biến mất. Đối với người suy tư trung bình, cái chết là một điểm [Trang 102]khủng hoảng thảm khốc. Nó là sự ngừng dứt và kết thúc của tất cả những gì đã được yêu thương, tất cả những gì quen thuộc và đáng ham muốn; nó là một sự lao vào dữ dội trong cõi chưa biết, trong bất định, và là sự kết thúc đột ngột của mọi kế hoạch và dự án. Dù đức tin chân thật nơi các giá trị tinh thần có hiện diện nhiều đến đâu, dù sự lý giải của thể trí về sự bất tử có rõ ràng đến đâu, dù bằng chứng về sự tồn tại tiếp diễn và vĩnh cửu có thuyết phục đến đâu, vẫn còn đó một nghi vấn, một sự nhận biết về khả thể của sự chung cuộc và phủ định hoàn toàn, và về sự kết thúc của mọi hoạt động, mọi phản ứng của trái tim, mọi tư tưởng, cảm xúc, dục vọng, khát vọng và các ý định vốn tập trung quanh lõi trung tâm của bản thể con người. Niềm khao khát và quyết tâm tồn tại tiếp, cùng ý thức về tính liên tục, ngay cả đối với người tin tưởng kiên định nhất, vẫn đặt nền trên xác suất, trên một nền tảng bất ổn, và trên lời chứng của những người khác—những người trên thực tế chưa bao giờ trở lại để nói sự thật. Trọng tâm của mọi tư tưởng về chủ đề này liên quan đến cái “Tôi” trung tâm hoặc tính toàn vẹn của Thượng đế.

You will note that in this Rule, the emphasis shifts from the “I” to the constituent parts which form the garment of the Self, and this is a point worth noting. The information given to the disciple is to work for the dissipation of this garment and for the return of the lesser lives to the general reservoir of living substance. The ocean of Being is nowhere referred to. Careful thought will here show that this ordered process of detachment, which the group life makes effective in the case of the individual, is one of the strongest arguments for the fact of continuity and for individual identifiable persistence. Note those words. The focus of activity shifts from the active body to the active entity within that body, the master of his surroundings, the director of his possessions, and the one who is the breath itself, dispatching the lives to the reservoir of substance, or recalling them at will to resume their relation to him.

Các bạn sẽ lưu ý rằng trong Quy luật này, trọng tâm chuyển từ cái “Tôi” sang các thành phần cấu tạo nên lớp áo của Bản Ngã, và đây là một điểm đáng lưu ý. Lời chỉ dẫn được trao cho người đệ tử là hãy hoạt động nhằm làm tiêu tan lớp áo này và đưa các sự sống nhỏ bé trở về kho chứa chung của chất liệu sống. Đại dương Bản Thể không hề được đề cập. Ở đây, suy ngẫm cẩn thận sẽ cho thấy rằng tiến trình tách rời có trật tự này, vốn được đời sống nhóm làm cho hữu hiệu trong trường hợp cá nhân, là một trong những luận cứ mạnh mẽ nhất cho sự kiện của tính liên tục và cho sự tồn tại tiếp diễn có thể nhận diện của cá nhân. Hãy lưu ý những lời này. Điểm tập trung của hoạt động chuyển từ thể hoạt động sang thực thể hoạt động bên trong thể ấy, người làm chủ hoàn cảnh xung quanh mình, người điều khiển những gì y sở hữu, và là chính hơi thở, phái các sự sống đến kho chứa chất liệu, hoặc triệu hồi chúng theo ý chí để nối lại mối quan hệ với y.

Putting it this way, you will note how the disciple is really enjoined to recognize (with the assistance of his group) that he is essentially the Father aspect himself, the first cause, the creative will and the breath of life within the [Page 103] form. This is a somewhat new attitude which he is asked to take, because hitherto the emphasis upon his focus has been to regard himself as the soul, reincarnating when desire calls and withdrawing when need arises. The group life as a whole is here needed to make possible this shift in realization away from form and consciousness to the will and life aspect or principle. When this has begun to take place, one of the first recognitions of the initiate-disciple is that form, and his consciousness of form and its contacts (which we call knowledge), have in themselves produced a great thought-form which has summed up in itself his entire relation to form, to existence and experience in the three worlds, to matter, to desire and to all that incarnation has brought him. The whole matter looms, therefore, over-large in his consciousness. The detaching of himself from this ancient thought-form—the final form which the Dweller on the Threshold takes—is called by him Death. Only at the fourth initiation does he realize that death is nothing but the severing of a thread which links him to the ring-pass-not within which he has chosen to circumscribe himself. He discovers that the “last enemy to be destroyed” is brought to that final destruction by the first aspect in himself, the Father or Monad (which moved originally to create that form), the Life, the Breath, the directing energizing Will. It is the will that, in the last analysis, produces orientation, focus, emphasis, the world of form, and above all else (because of its relation to the world of cause), the world of meaning.

Diễn đạt như vậy, các bạn sẽ lưu ý rằng người đệ tử thực sự được huấn thị phải nhận ra, với sự trợ giúp của nhóm mình, rằng về bản chất y chính là phương diện Cha, nguyên nhân thứ nhất, ý chí sáng tạo và hơi thở của sự sống bên trong [Trang 103]hình tướng. Đây là một thái độ có phần mới mà y được yêu cầu tiếp nhận, bởi vì cho đến nay, trọng tâm nơi điểm tập trung của y là xem chính mình như linh hồn, tái lâm phàm khi dục vọng kêu gọi và rút lui khi nhu cầu nảy sinh. Ở đây, toàn thể đời sống nhóm là cần thiết để làm cho sự chuyển dịch trong nhận biết này trở nên khả hữu, từ hình tướng và tâm thức sang phương diện hay nguyên khí ý chí và sự sống. Khi điều này đã bắt đầu diễn ra, một trong những nhận biết đầu tiên của đệ tử-điểm đạo đồ là hình tướng, cùng tâm thức của y về hình tướng và các tiếp xúc của nó, điều chúng ta gọi là tri thức, tự chúng đã tạo ra một hình tư tưởng lớn, trong đó kết tụ toàn bộ mối quan hệ của y với hình tướng, với sự tồn tại và kinh nghiệm trong ba cõi thấp, với vật chất, với dục vọng và với tất cả những gì sự lâm phàm đã đem lại cho y. Vì vậy, toàn bộ vấn đề hiện ra quá lớn trong tâm thức của y. Việc tự tách rời khỏi hình tư tưởng cổ xưa này—hình tướng cuối cùng mà Kẻ Chận Ngõ khoác lấy—được y gọi là Cái Chết. Chỉ ở lần điểm đạo thứ tư y mới nhận ra rằng cái chết không là gì khác ngoài việc cắt đứt một sợi dây nối y với vòng-giới-hạn mà trong đó y đã chọn tự giới hạn mình. Y khám phá rằng chính phương diện thứ nhất trong y, Cha hay chân thần, vốn nguyên thủy đã chuyển động để tạo ra hình tướng ấy, tức Sự Sống, Hơi Thở, Ý Chí định hướng và tiếp sinh lực, đưa “kẻ thù cuối cùng phải bị tiêu diệt” đến sự hủy diệt cuối cùng ấy. Xét đến cùng, chính ý chí tạo ra sự định hướng, điểm tập trung, sự nhấn mạnh, thế giới hình tướng, và hơn hết thảy, vì mối liên hệ của nó với thế giới nguyên nhân, Thế giới của ý nghĩa.

Average man lives and has his being in the world of meaning; the initiate and the Master have their focus in the world of Being. They are then naught but will, illumined by love which links them with the world of meaning, and capable of intelligent activity which links them with the world of form, and is the indication of life. But the desire of the initiate is not now for activity, or even for the expression of love. These qualities are integral parts of his equipment and expression but have dropped below the threshold of consciousness (a higher correspondence of the automatic [Page 104] activities of the physical body which proceed upon their work without any realized consciousness on the part of the man). His effort is towards something which means little as yet to those of you who read these words; it is for the realization of Being, immovable, immutable, living and only to be comprehended in terms which embody the concept of “It is not this; it is not that.” It is No-Thing; it is not thought or desire. It is life, Being, the whole, the One. It is not expressed by the words “I am” or by the words “I am not.” It is expressed by the words “I am that I am.” Having said that, know you what I mean? It is the will-to-be which has found itself through the will-to-good.

Con người trung bình sống và hiện hữu trong Thế giới của ý nghĩa; điểm đạo đồ và Chân sư đặt điểm tập trung của mình trong Thế Giới Bản Thể. Bấy giờ, Các Ngài không là gì khác ngoài ý chí, được tình thương soi sáng, vốn nối kết Các Ngài với Thế giới của ý nghĩa, và có khả năng hoạt động sáng suốt, vốn nối kết Các Ngài với thế giới hình tướng và là dấu hiệu của sự sống. Nhưng nay mong muốn của điểm đạo đồ không hướng đến hoạt động, cũng không hướng đến việc biểu lộ tình thương. Những phẩm tính này là các phần không thể thiếu trong trang bị và sự biểu lộ của y, nhưng đã hạ xuống dưới ngưỡng tâm thức, một tương ứng cao hơn của các hoạt động tự động [Trang 104]của thể xác, vốn tiếp tục công việc của chúng mà con người không có tâm thức nhận biết về chúng. Nỗ lực của y hướng đến một điều hiện vẫn còn ít ý nghĩa đối với những ai trong các bạn đọc các lời này; đó là sự chứng nghiệm Bản Thể, bất lay chuyển, bất biến, sống động, và chỉ có thể được thấu hiểu bằng những thuật ngữ hàm chứa quan niệm “Nó không phải cái này; nó không phải cái kia.” Nó là Phi-Vật; nó không phải tư tưởng hay dục vọng. Nó là sự sống, Bản Thể, toàn thể, Đấng Duy Nhất. Nó không được diễn đạt bằng các lời “Tôi là” hay bằng các lời “Tôi không là.” Nó được diễn đạt bằng các lời “Tôi là cái Tôi là.” Nói như thế rồi, các bạn có biết Tôi muốn nói gì không? Đó là Ý Chí-hiện hữu đã tìm thấy chính mình thông qua Ý Chí-hướng Thiện.

Therefore, the eighteen fires must die down; the lesser lives (embodying the principle of form, of desire and of thought, the sumtotal of creativity, based upon magnetic love) must return to the reservoir of life and naught be left but that which caused them to be, the central will which is known by the effects of its radiation or breath. This dispersal, death or dissolution is in reality a great effect produced by the central Cause, and the injunction is consequently:

Do đó, mười tám ngọn lửa phải tắt dần; các sự sống nhỏ bé, vốn hiện thân cho nguyên khí của hình tướng, của dục vọng và của tư tưởng, tổng số của tính sáng tạo, đặt nền trên tình thương từ tính, phải trở về kho chứa sự sống và không còn lại gì ngoài cái đã khiến chúng hiện hữu, Ý Chí trung tâm được biết đến qua các hiệu quả của bức xạ hay hơi thở của nó. Sự phân tán, cái chết hay sự tan rã này, trong thực tại, là một hiệu quả lớn do Nguyên Nhân trung tâm tạo ra, và vì thế huấn thị là:

Second sentence: This they must bring about through the evocation of the Will

Câu thứ hai: Điều này họ phải thực hiện thông qua sự gợi lên Ý Chí

2. This they must bring about through the evocation of the Will. (←)

2. Họ phải tạo ra điều này thông qua việc gợi lên Ý chí. (←)

This type of death is ever brought about by a group, because it is from the earliest moment the one unmistakable expression of soul activity—as influenced consciously by the Monad or Father—and this activity is a group activity which wills the return of the lesser lives to the general reservoir from the very first moment that it has become apparent that the form experience has served its purpose and that the form has reached a point of such resilience and capacity that perfection has been practically achieved. This is definitely consummated at the fourth initiation. Now, at the end of the great life cycle of the soul, persisting for aeons, the time is nearing when form-taking and experience in the three worlds must end. The disciple finds his group in the Master’s Ashram, and consciously and with full understanding, [Page 105] masters death—the long-feared enemy of existence. He discovers that death is simply an effect produced by life and by his conscious will, and is a mode whereby he directs substance and controls matter. This becomes consciously possible because, having developed awareness of two divine aspects—creative activity and love—he is now focused in the highest aspect and knows himself to be the Will, the Life, the Father, the Monad, the One.

Kiểu chết này luôn do một nhóm tạo ra, bởi ngay từ ban đầu nó là biểu hiện không thể nhầm lẫn duy nhất của hoạt động linh hồn—dưới ảnh hưởng hữu thức của Chân thần hay Cha—và hoạt động này là một hoạt động nhóm, chủ ý đưa các sự sống nhỏ bé trở về kho dự trữ chung ngay từ khoảnh khắc đầu tiên khi đã trở nên rõ ràng rằng kinh nghiệm trong hình tướng đã phục vụ mục đích của nó, và hình tướng đã đạt đến một điểm có sức đàn hồi và năng lực đến mức sự hoàn thiện hầu như đã đạt được. Điều này được hoàn tất dứt khoát ở lần điểm đạo thứ tư. Giờ đây, vào cuối chu kỳ sống vĩ đại của linh hồn, kéo dài qua nhiều đại kiếp, thời điểm đang đến gần khi việc khoác lấy hình tướng và kinh nghiệm trong ba cõi phải chấm dứt. Đệ tử tìm thấy nhóm của y trong ashram của Chân sư, và một cách hữu thức, với sự thấu hiểu trọn vẹn, [Page 105] làm chủ cái chết—kẻ thù của sự hiện hữu từng bị sợ hãi từ lâu. Y khám phá rằng cái chết chỉ đơn giản là một hiệu quả do sự sống và ý chí hữu thức của y tạo ra, và là một phương thức qua đó y điều hướng chất liệu và kiểm soát vật chất. Điều này trở nên khả hữu một cách hữu thức bởi vì, sau khi đã phát triển nhận thức về hai phương diện thiêng liêng—hoạt động sáng tạo và bác ái—giờ đây y tập trung vào phương diện cao nhất và biết mình là Ý chí, Sự sống, Cha, Chân thần, Đấng Duy Nhất.

In concluding our study of Rule IV, we are to consider two things:

Khi kết thúc phần nghiên cứu của chúng ta về Quy luật 4, chúng ta sẽ xem xét hai điều:

– The method of evoking the Will aspect.

– Phương pháp gợi lên phương diện Ý chí.

– The process of recognizing the Life aspect, the Monad, the Father in Heaven.

– Tiến trình nhận ra phương diện Sự sống, Chân thần, Cha trên Trời.

The result of these two is given in the two closing phrases of this rule:

Kết quả của hai điều này được nêu trong hai cụm từ kết thúc của quy luật này:

Third sentence: The lesser wheels must not for aye revolve in time and space. Only the greater Wheel must onward move and turn

Câu thứ ba: Những bánh xe nhỏ hơn không được mãi mãi quay trong thời gian và không gian. Chỉ Bánh Xe lớn hơn mới phải tiếp tục chuyển động và quay

3. The lesser wheels must not for aye revolve in time and space. Only the greater Wheel must onward move and turn. ()

3. Những bánh xe nhỏ hơn không được mãi mãi quay trong thời gian và không gian. Chỉ Bánh Xe lớn hơn mới phải tiếp tục chuyển động và quay. ()

There is one point here that I should like to make because it opens the door to new concepts, even if it is not yet possible for these concepts to be defined so that the mass can understand; even the disciples who read these words will fail truly to comprehend. Only those who have taken the third initiation will rightly interpret. Constantly in all esoteric literature reference is made to the factors of time and space as if there were a basic distinction between the worlds in which these two hold sway and in which the aspirants and initiates of all degrees freely move. Constantly the aspirant is reminded that time is cyclic in nature and manifestation, and that “space is an entity.” It is necessary that there should be some comprehension of these terms if that which the will controls (when evoked) is to penetrate into the knowing consciousness of the thinker.

Có một điểm ở đây mà Tôi muốn nêu ra, bởi nó mở cánh cửa đi vào những khái niệm mới, dù hiện nay vẫn chưa thể định nghĩa các khái niệm ấy sao cho quần chúng có thể thấu hiểu; ngay cả các đệ tử đọc những lời này cũng sẽ không thật sự lĩnh hội được. Chỉ những ai đã trải qua lần điểm đạo thứ ba mới diễn giải đúng. Trong toàn bộ văn học huyền bí, người ta không ngừng nhắc đến các yếu tố thời gian và không gian như thể có một sự phân biệt căn bản giữa các thế giới mà hai yếu tố này chi phối và các thế giới mà những người chí nguyện cùng các điểm đạo đồ thuộc mọi cấp độ tự do di chuyển. Người chí nguyện không ngừng được nhắc nhở rằng thời gian có bản chất và biểu hiện theo chu kỳ, và rằng “không gian là một thực thể.” Cần có một sự thấu hiểu nào đó về các thuật ngữ này nếu cái mà ý chí kiểm soát, khi được gợi lên, phải thâm nhập vào tâm thức tri nhận của người tư tưởng.

Space and substance are synonymous terms; substance is the aggregate of atomic lives out of which all forms are built. With this the Treatise on Cosmic Fire largely dealt. [Page 106] This is both an occult and a scientific truism. Substance is, however, a soul concept, and is only truly known to the soul. Therefore, after the fourth initiation, when the work of the soul is accomplished and the soul body fades out of the picture, only the quality which it has imparted in substance is left as its contribution—individual, group or planetary—to the sumtotal of manifestation. All that remains is a point of light. This point is conscious, immutable and aware of the two extremes of the divine expression: the sense of individual identity and the sense of universality. These are fused and blended in the One. Of this One the divine Hermaphrodite is the concrete symbol—the union in one of the pairs of opposites, negative and positive, male and female. In the state of being which we call the monadic, no difference is recognized between these two because (if I can bring such ideas down to the level of the intelligence of the aspirant) it is realized that there is no identity apart from universality and no appreciation of the universal apart from the individual realization, and this realization of identification with both the part and the whole finds its point of tension in the will-to-be, which is qualified by the will-to-good and developed (from the consciousness angle) by the will-to-know. These are in truth three aspects of the divine will which exists in its perfection in the solar Logos and finds a medium of expression through the planetary Logos. This will is therefore working out in seven ways, via the living qualities of the seven planetary Logoi Who express Themselves through the seven sacred planets; They are preoccupied with the endeavor of bringing all the forms of life within the orbit of Their influence up to the same measure of recorded recognition and of registered existence. It will be obvious to you, consequently, that on each of the seven sacred planets one aspect of the divine Will will be dominant.

Không gian và chất liệu là những thuật ngữ đồng nghĩa; chất liệu là tập hợp các sự sống nguyên tử mà từ đó mọi hình tướng được kiến tạo. Điều này đã được Luận về Lửa Vũ Trụ bàn đến phần lớn. [Page 106] Đây vừa là một chân lý hiển nhiên huyền bí vừa là một chân lý hiển nhiên khoa học. Tuy nhiên, chất liệu là một khái niệm của linh hồn, và chỉ linh hồn mới thật sự biết được nó. Vì vậy, sau lần điểm đạo thứ tư, khi công việc của linh hồn đã hoàn tất và thể linh hồn mờ khỏi bức tranh, chỉ còn lại phẩm tính mà nó đã truyền vào chất liệu như phần đóng góp của nó—cá nhân, nhóm hay hành tinh—cho tổng thể của biểu hiện. Tất cả những gì còn lại là một điểm ánh sáng. Điểm này hữu thức, bất biến và nhận biết hai cực của sự biểu lộ thiêng liêng: cảm thức về bản sắc cá nhân và cảm thức về tính phổ quát. Hai điều này được dung hợp và hòa trộn trong Đấng Duy Nhất. Đấng Lưỡng Tính thiêng liêng là biểu tượng cụ thể của Đấng Duy Nhất này—sự hợp nhất trong một của các cặp đối cực, âm và dương, nam và nữ. Trong trạng thái hiện hữu mà chúng ta gọi là chân thần, không có sự khác biệt nào được nhận ra giữa hai điều này, bởi vì, nếu Tôi có thể hạ những ý tưởng như thế xuống cấp độ trí tuệ của người chí nguyện, người ta nhận ra rằng không hề có bản sắc nào tách rời khỏi tính phổ quát, và cũng không có sự cảm nhận nào về cái phổ quát tách rời khỏi chứng nghiệm cá nhân; chứng nghiệm về sự đồng hoá với cả phần lẫn toàn thể này tìm thấy điểm tập trung nhất tâm của nó trong Ý Chí-hiện hữu, được Ý Chí-hướng Thiện định phẩm và được phát triển, xét từ góc độ tâm thức, bởi Ý Chí-biết. Ba điều này thật ra là ba phương diện của ý chí thiêng liêng, vốn hiện hữu trong sự hoàn thiện nơi Thái dương Thượng đế và tìm được phương tiện biểu lộ qua Hành Tinh Thượng đế. Vì vậy, ý chí này đang biểu hiện theo bảy cách, thông qua các phẩm tính sống động của bảy Hành Tinh Thượng đế, Các Ngài tự biểu lộ qua bảy hành tinh thiêng liêng; Các Ngài chuyên chú vào nỗ lực đưa mọi hình tướng sự sống trong quỹ đạo ảnh hưởng của Các Ngài lên cùng một mức độ nhận biết được ghi nhận và hiện hữu được đăng ký. Do đó, các bạn sẽ thấy rõ rằng trên mỗi một trong bảy hành tinh thiêng liêng, một phương diện của Ý Chí thiêng liêng sẽ chiếm ưu thế.

This is the significance of Space—the field wherein states of Being are brought to the stage of recognition. When that stage has been reached and the Knower, the Soul, is fully aware and fully conscious, then there enters [Page 107] in a new factor which also affects space—though in a different way—but which is related to the monadic Life. That factor is Time. Time is related to the will aspect and is dependent upon the dynamic life, self-directed, which produces persistence and which demonstrates persistence in that dynamic focus of intention by periodic or cyclic appearance.

Đây là thâm nghĩa của Không gian—trường trong đó các trạng thái Bản Thể được đưa đến giai đoạn được nhận biết. Khi giai đoạn đó đã đạt tới và Thức giả, Linh hồn, hoàn toàn nhận biết và hoàn toàn hữu thức, bấy giờ[Page 107] một yếu tố mới đi vào, yếu tố này cũng ảnh hưởng đến không gian—dù theo một cách khác—nhưng liên hệ với Sự sống chân thần. Yếu tố đó là Thời gian. Thời gian liên hệ với phương diện ý chí và tùy thuộc vào sự sống năng động, tự định hướng, vốn tạo ra sự bền bỉ và biểu lộ sự bền bỉ trong tiêu điểm năng động của chủ đích ấy bằng sự xuất hiện định kỳ hay chu kỳ.

From the angle of the Will or the Father, these appearances in time and through space are so small a part of the experience of the living Entity Whose life is lived on planes other than the physical, emotional or mental, that they are regarded as no life. To understand this, I would remind you again that we must seek to understand the sum total in the light of the part, the Macrocosm in the light of the Microcosm. That is no easy task and is necessarily most limited.

Từ góc độ Ý chí hay Cha, những lần xuất hiện này trong thời gian và xuyên qua không gian chỉ là một phần quá nhỏ trong kinh nghiệm của Thực Thể sống động, Đấng mà sự sống của Ngài được sống trên những cõi khác với cõi hồng trần, cảm xúc hay trí tuệ, đến nỗi chúng được xem như không phải là sự sống. Để thấu hiểu điều này, Tôi lại nhắc các bạn rằng chúng ta phải tìm cách thấu hiểu tổng thể trong ánh sáng của phần, Đại thiên địa trong ánh sáng của Tiểu thiên địa. Đó không phải là một nhiệm vụ dễ dàng và tất yếu hết sức giới hạn.

The disciple knows or is learning to know that he is not this or that, but Life Itself. He is not the physical body or its emotional nature; he is not, in the last analysis (a most occult phrase) the mind or that by which he knows. He is learning that that too must be transcended and superseded by intelligent love (only truly possible after the mind has been developed), and he begins to realize himself as the soul. Then, later, comes the awful “moment in time” when, pendant in space, he discovers that he is not the soul. What then is he? A point of divine dynamic will, focused in the soul and arriving at awareness of Being through the use of form. He is Will, the ruler of time and the organizer, in time, of space. This he does, but ever with the reservation that time and space are the “divine playthings” and can be used or not at will.

Đệ tử biết, hoặc đang học để biết, rằng y không phải là cái này hay cái kia, mà là chính Sự Sống. Y không phải là thể xác hay bản chất cảm xúc của nó; rốt cuộc, một cụm từ hết sức huyền bí, y không phải là thể trí hay cái nhờ đó y biết. Y đang học rằng điều đó cũng phải được vượt qua và được thay thế bằng bác ái có trí tuệ, điều chỉ thật sự khả hữu sau khi thể trí đã được phát triển, và y bắt đầu nhận ra mình là linh hồn. Rồi về sau, khoảnh khắc đáng kinh sợ “trong thời gian” đến, khi lơ lửng trong không gian, y khám phá rằng y không phải là linh hồn. Vậy y là gì? Một điểm ý chí năng động thiêng liêng, tập trung trong linh hồn và đạt tới nhận thức về Bản Thể thông qua việc sử dụng hình tướng. Y là Ý chí, chủ tể của thời gian và là người tổ chức không gian trong thời gian. Y làm điều này, nhưng luôn với sự dè giữ rằng thời gian và không gian là “những món đồ chơi thiêng liêng” và có thể được sử dụng hay không tùy ý.

We could paraphrase the last two sentences of this fourth rule as follows: The evocation of the will involves identity with the larger purpose. The little will of the little lives must be merged in the larger will of the whole. Individual purpose must be identified with group purpose, which is as much of the purpose of the Whole or the One Life as the little life can grasp at any given point in time [Page 108] and space. It is in this sense, esoterically understood, that time is an event—which philosophy now points out, groping towards an expression of the initiate consciousness.

Chúng ta có thể diễn giải hai câu cuối của quy luật thứ tư này như sau: Việc gợi lên ý chí bao hàm sự đồng nhất với mục đích lớn hơn. Ý chí nhỏ bé của các sự sống nhỏ bé phải hòa nhập vào ý chí lớn hơn của toàn thể. Mục đích cá nhân phải được đồng nhất với mục đích nhóm, vốn là phần trong mục đích của Toàn Thể hay Sự Sống Duy Nhất mà sự sống nhỏ bé có thể nắm bắt tại bất kỳ điểm nào trong thời gian [Page 108] và không gian. Chính theo nghĩa này, được thấu hiểu một cách huyền bí, thời gian là một biến cố—điều mà triết học hiện nay đang chỉ ra, khi dò dẫm hướng tới một cách diễn đạt tâm thức điểm đạo đồ.

In the long run, literally when the path of evolution is trodden to its end, what remains will be the divine purpose and the all-enveloping Life as it materializes the plan in time and space. This is the result of the turning of the greater Wheel of life, causing all the lesser wheels—in time and space—also to turn. In the meantime, the human being is first of all driven by desire, then by aspiration towards some visioned goal, then by his selfish will, which reveals to him the nature of the will: persistent application to some purpose, seen as desirable and to which every power is bent. Having exhausted all tangible goals, the inner life forces the man on towards the intangible, and the quality of his will begins to change. He discovers a larger will than his own and begins slowly to identify himself with it, proceeding stage by stage from one realized purpose to another higher one, each step removing him further from his own so-called will and bringing him nearer to an appreciation of the significance of the divine will or purpose.

Về lâu dài, theo nghĩa đen là khi con đường tiến hoá đã được đi đến tận cùng, điều còn lại sẽ là Thiên Ý và Sự Sống bao trùm tất cả khi Sự Sống ấy hiện hình Thiên Cơ trong thời gian và không gian. Đây là kết quả của sự chuyển động của Bánh Xe lớn của sự sống, khiến mọi bánh xe nhỏ hơn—trong thời gian và không gian—cũng chuyển động. Trong khi đó, con người trước hết bị thúc đẩy bởi dục vọng, rồi bởi khát vọng hướng tới một mục tiêu được linh thị, rồi bởi ý chí ích kỷ của y, vốn mặc khải cho y bản chất của ý chí: sự áp dụng bền bỉ vào một mục đích nào đó, được xem là đáng mong muốn và mọi quyền năng đều hướng về đó. Sau khi đã cạn kiệt mọi mục tiêu hữu hình, sự sống bên trong thúc đẩy con người tiến tới điều vô hình, và phẩm tính ý chí của y bắt đầu thay đổi. Y khám phá ra một ý chí lớn hơn ý chí của chính mình và dần dần bắt đầu đồng hoá mình với ý chí ấy, tiến từng giai đoạn từ một mục đích đã nhận thức sang một mục đích khác cao hơn, mỗi bước đưa y xa hơn ý chí được gọi là của riêng mình và đưa y đến gần hơn với sự cảm nhận thâm nghĩa của Ý Chí thiêng liêng hay Thiên Ý.

It might be stated, in an effort to clarify the method whereby this is done, that by the carrying out of the plan the disciple learns the nature of the purpose, but that the purpose itself can only be grasped by one who is developing monadic consciousness. Monadic consciousness is not consciousness as human beings understand it, but is that state of apprehension which is not consciousness or realization, as the mystic feels it, or identification, as the occultist terms it, but something that appears when all of these three are appreciated and registered in a moment of time within the orbit of space.

Có thể nói, trong nỗ lực làm sáng tỏ phương pháp nhờ đó điều này được thực hiện, rằng qua việc thực hiện Thiên Cơ, đệ tử học biết bản chất của Mục Đích, nhưng chính Mục Đích chỉ có thể được nắm bắt bởi người đang phát triển tâm thức chân thần. Tâm thức chân thần không phải là tâm thức như con người hiểu, mà là trạng thái lĩnh hội vốn không phải là tâm thức hay chứng nghiệm như nhà thần bí cảm nhận, cũng không phải là sự đồng hoá như nhà huyền bí học gọi tên, mà là một điều gì đó xuất hiện khi cả ba điều này được cảm nhận và ghi nhận trong một khoảnh khắc thời gian, bên trong quỹ đạo của không gian.

Now, having said this, I would ask you if you are much the wiser, or of what profit it is for me to write these words if you understand them not? For two reasons I write. One of my functions and duties (as a Master of the Wisdom) is to anchor ideas in the mind of man and carry down into the realm of words certain emerging concepts so that they may [Page 109] begin to influence the higher level of thinkers. These latter are responsible for precipitating the ideas deep into the human consciousness. Secondly, I write for the generation which will come into active thought expression at the end of this century; they will, inaugurate the framework, structure and fabric of the New Age which will start with certain premises which today are the dream of the more exalted dreamers and which will develop the civilization of the Aquarian Age. This coming age will be as predominantly the age of group interplay, group idealism and group consciousness as the Piscean Age has been one of personality unfoldment and emphasis, personality focus and personality consciousness. Selfishness, as we now understand it, will gradually disappear, for the will of the individual will voluntarily be blended into the group will. It will be obvious to you, therefore, that this could well bring about a still more dangerous situation, because a group would be a combination of focused energies, and unless these energies are directed towards the fulfilment of the Plan (which coordinates and makes possible the divine purpose) we shall have the gradual consolidation of the forces of evil or of materialism on Earth. I am not speaking lightly, but am endeavoring to show the necessity for the steadfast consecration of the spiritually minded to the task of developing the will-to-good on Earth and the absolute importance of fostering goodwill among the masses. If this is not done after the terrific global housecleaning that has gone on, the last state will be worse than the first. We shall have individual selfishness superseded by group selfishness, which will be consequently still more potent in its evil dedication, focus and results. The little wheels can continue to revolve in time and space, hindering the onward progress of the great Wheel which—again in time and space—is the wheel of humanity. The Heavenly Man and the human being upon that Wheel are developing divine qualities and attributes.

Giờ đây, sau khi đã nói điều này, Tôi muốn hỏi các bạn liệu các bạn có thật sự sáng suốt hơn bao nhiêu không, hay việc Tôi viết những lời này có ích gì nếu các bạn không thấu hiểu chúng? Tôi viết vì hai lý do. Một trong các chức năng và bổn phận của Tôi, với tư cách một Chân sư Minh Triết, là neo giữ các ý tưởng trong thể trí con người và đưa xuống cõi giới của ngôn từ một số khái niệm đang xuất hiện, để chúng có thể [Page 109] bắt đầu ảnh hưởng đến tầng lớp cao hơn của những người tư duy. Chính những người này chịu trách nhiệm ngưng tụ các ý tưởng sâu vào trong tâm thức nhân loại. Thứ hai, Tôi viết cho thế hệ sẽ bước vào sự biểu đạt tư tưởng tích cực vào cuối thế kỷ này; họ sẽ khai mở khuôn khổ, cấu trúc và chất liệu của Kỷ Nguyên Mới, vốn sẽ khởi đầu với một số tiền đề mà ngày nay là giấc mơ của những người mộng tưởng cao cả hơn, và sẽ phát triển nền văn minh của Kỷ nguyên Bảo Bình. Kỷ nguyên sắp đến này sẽ nổi bật là kỷ nguyên của sự tương tác nhóm, chủ nghĩa lý tưởng nhóm và tâm thức nhóm, cũng như Kỷ nguyên Song Ngư đã là kỷ nguyên của sự khai mở và nhấn mạnh phàm ngã, sự tập trung vào phàm ngã và tâm thức phàm ngã. Tính ích kỷ, như hiện nay chúng ta hiểu, sẽ dần dần biến mất, vì ý chí của cá nhân sẽ tự nguyện hòa nhập vào ý chí nhóm. Do đó, các bạn sẽ thấy rõ rằng điều này rất có thể đem lại một tình huống còn nguy hiểm hơn, bởi vì một nhóm sẽ là sự kết hợp của các năng lượng được tập trung, và nếu các năng lượng này không được hướng về việc hoàn thành Thiên Cơ, vốn phối hợp và làm cho Thiên Ý trở nên khả hữu, thì chúng ta sẽ có sự củng cố dần dần của các mãnh lực tà ác hay của chủ nghĩa duy vật trên Trái Đất. Tôi không nói nhẹ nhàng, mà đang cố gắng chỉ ra sự cần thiết của việc những người có trí hướng tinh thần phải thánh hiến kiên định cho nhiệm vụ phát triển Ý Chí-hướng Thiện trên Trái Đất, và tầm quan trọng tuyệt đối của việc nuôi dưỡng thiện chí trong quần chúng. Nếu điều này không được thực hiện sau cuộc thanh lọc toàn cầu dữ dội đã diễn ra, thì tình trạng sau cùng sẽ tệ hơn tình trạng đầu tiên. Chúng ta sẽ thấy tính ích kỷ cá nhân bị thay thế bởi tính ích kỷ nhóm, vốn do đó sẽ còn mạnh mẽ hơn trong sự hiến dâng tà ác, sự tập trung và các kết quả của nó. Những bánh xe nhỏ có thể tiếp tục quay trong thời gian và không gian, cản trở bước tiến của Bánh Xe lớn—một lần nữa trong thời gian và không gian—là bánh xe của nhân loại. Đấng Thiên Nhân và con người trên Bánh Xe ấy đang phát triển các phẩm tính và thuộc tính thiêng liêng.

The will aspect of divinity can find expression only through humanity, for the fourth kingdom in nature is intended to be the agent of the will to the three subhuman [Page 110] kingdoms. It was therefore essential that the spirit of inclusiveness and the tendency to spiritual identification should be developed in humanity as a step preparatory to the development of response to divine purpose. It is absolutely essential that the will-to-good be unfolded by the disciples of the world so that goodwill can be expressed by the rank and file of mankind. The will-to-good of the world knowers is the magnetic seed of the future. The will-to-good is the Father aspect, whilst goodwill is the Mother aspect, and from the relation of these two the new civilization, based on sound spiritual (but utterly different) lines, can be founded. I would commend this thought to your consciousness, for it means that two aspects of spiritual work must be nurtured in the immediate future, for on them the more distant hope of happiness and of world peace depends. The New Group of World Servers must be reached and the will-to-good developed in them, and the masses simultaneously must be reached with the message of goodwill. The will-to-good is dynamic, powerful and effective; it is based on realization of the plan and on reaction to the purpose as sensed by those who are either initiate, and consciously in touch with Shamballa, or disciples who are likewise a part of the Hierarchy but are not yet able to contact the central Purpose or Life. Not yet having taken the third initiation, the monadic vibration is to them largely unknown. It would be just as dangerous for them to be able to reach Shamballa (prior to the third initiation when all personality tendencies are obliterated) as it would be to teach the masses of men today techniques of will which would render their still selfish will effective. The main difficulty would be that the disciples would destroy themselves, whilst the ordinary man would damage himself.

Phương diện ý chí của thiên tính chỉ có thể tìm thấy sự biểu đạt qua nhân loại, vì giới thứ tư trong thiên nhiên được định là tác nhân của ý chí đối với ba giới dưới nhân loại [Page 110]. Vì vậy, điều thiết yếu là tinh thần bao gồm và khuynh hướng đồng hoá tinh thần phải được phát triển trong nhân loại như một bước chuẩn bị cho sự phát triển đáp ứng với Thiên Ý. Điều tuyệt đối thiết yếu là Ý Chí-hướng Thiện phải được các đệ tử của thế gian khai mở, để thiện chí có thể được biểu đạt bởi đại đa số nhân loại. Ý Chí-hướng Thiện của các thức giả thế gian là hạt giống từ tính của tương lai. Ý Chí-hướng Thiện là phương diện Cha, trong khi thiện chí là phương diện Mẹ, và từ mối liên hệ giữa hai phương diện này, nền văn minh mới, dựa trên những đường hướng tinh thần lành mạnh nhưng hoàn toàn khác biệt, có thể được thiết lập. Tôi muốn gợi tư tưởng này vào tâm thức các bạn, vì nó có nghĩa là trong tương lai gần, hai phương diện của công việc tinh thần phải được nuôi dưỡng, bởi hy vọng xa hơn về hạnh phúc và hoà bình thế giới tùy thuộc vào chúng. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian phải được tiếp cận và Ý Chí-hướng Thiện phải được phát triển nơi họ, đồng thời quần chúng cũng phải được tiếp cận bằng thông điệp thiện chí. Ý Chí-hướng Thiện có tính năng động, mạnh mẽ và hiệu quả; nó dựa trên sự nhận biết Thiên Cơ và trên sự đáp ứng với Mục Đích như được cảm nhận bởi những ai hoặc là điểm đạo đồ, và tiếp xúc có ý thức với Shamballa, hoặc là các đệ tử cũng thuộc về Thánh Đoàn nhưng chưa thể tiếp xúc với Mục Đích hay Sự Sống trung tâm. Vì chưa trải qua lần điểm đạo thứ ba, rung động chân thần đối với họ phần lớn vẫn chưa được biết đến. Đối với họ, việc có thể tiếp cận Shamballa trước lần điểm đạo thứ ba, khi mọi khuynh hướng phàm ngã đã bị xoá sạch, cũng nguy hiểm y như việc dạy cho quần chúng nhân loại ngày nay những kỹ thuật về ý chí có thể khiến ý chí vẫn còn ích kỷ của họ trở nên hiệu quả. Khó khăn chính sẽ là các đệ tử sẽ tự huỷ diệt mình, trong khi người bình thường sẽ làm tổn hại chính mình.

This exegesis of Rule IV is necessarily brief because it is of such deep significance that it requires careful study, sentence by sentence, and even so it is very largely beyond the grasp of the majority of readers. It will, however, be useful for disciples to reflect upon the various meanings (there are several) and upon the esoteric implications. [Page 111]

Luận giải này về Quy luật IV tất yếu phải ngắn gọn, bởi nó có thâm nghĩa sâu xa đến mức đòi hỏi phải được nghiên cứu cẩn trọng từng câu một; và dù vậy, phần lớn nó vẫn vượt ngoài tầm nắm bắt của đa số độc giả. Tuy nhiên, điều này sẽ hữu ích cho các đệ tử khi suy ngẫm về các ý nghĩa khác nhau, vốn có nhiều, và về các hàm ý huyền bí. [Page 111]



[1] làm đồng vị ngữ

[2] chống đỡ, làm cho vững chắc thêm

[3] Vĩnh viễn

[4] vội, nhanh, lướt qua

Leave a Comment

Scroll to Top