Quy Luật Điểm đạo 5 dành cho đệ tử (RI)

📘 Sách: Bình Giảng 14 Quy Luật Điểm đạo Dành Cho Đệ tử – RI – Tác giả: Michael D. Robbins

Click số trang giữa ngoặc [ ] để đi đến phần bình giảng.

RULE FIVE (112-124)

QUY LUẬT NĂM (112-124)

Rule V, which we are now purposing to consider, is one of great interest and practicality. I would remind you that one of the new things which the coming era of spiritual expansion will see is the inauguration of something entirely new: Group Initiation. Hitherto, one by one, units of the human family have found their way through the Door of Initiation. If this system is to persist, and considering the vast numbers of souls in and out of incarnation who must eventually achieve the goal—two-thirds of the total in this world cycle—even the greater cycles which include many world cycles would prove too short a time. The space-time schedule of the planetary Logos Himself would be upset, for He has such a schedule for the cycle of His present incarnation. There is a term set for the appearance of His body of manifestation, our planet, just as there is for the human body. He therefore has to work out His plans within a certain time limit, and this factor conditions the experience of all the lives that move within the radius of His expression, including the human kingdom.

Quy luật V, mà chúng ta hiện đang chủ định xem xét, là một quy luật rất đáng quan tâm và thực tiễn. Tôi muốn nhắc các bạn rằng một trong những điều mới mẻ mà kỷ nguyên sắp đến của sự mở rộng tinh thần sẽ chứng kiến là việc khai mở một điều hoàn toàn mới: Điểm Đạo Nhóm. Từ trước đến nay, từng đơn vị một của gia đình nhân loại đã tìm được con đường của mình đi qua Cánh Cửa Điểm Đạo. Nếu hệ thống này vẫn tiếp tục, và xét đến số lượng vô cùng lớn các linh hồn đang lâm phàm cũng như không lâm phàm cuối cùng phải đạt đến mục tiêu—hai phần ba tổng số trong chu kỳ thế giới này—thì ngay cả những chu kỳ lớn hơn, bao gồm nhiều chu kỳ thế giới, cũng sẽ tỏ ra là một khoảng thời gian quá ngắn. Thời biểu không-thời gian của chính Đức Hành Tinh Thượng Đế sẽ bị đảo lộn, vì Ngài một thời biểu như thế cho chu kỳ lâm phàm hiện tại của Ngài. Có một kỳ hạn được ấn định cho sự xuất hiện của thể biểu hiện của Ngài, hành tinh của chúng ta, cũng như có một kỳ hạn cho thể xác con người. Vì vậy, Ngài phải thực hiện các kế hoạch của Ngài trong một giới hạn thời gian nhất định, và yếu tố này tác động lên kinh nghiệm của tất cả các sự sống chuyển động trong phạm vi biểu đạt của Ngài, kể cả giới nhân loại.

It must be remembered also that as humanity develops and more and more people begin to function as souls, the nature of the soul (which is relationship) begins to have an effect; men become larger in their outlook and their vision. The outlook of the separated self vanishes, and group relationship and group interest supersede that intense personal and interior relationship and interest which have made evolving man what he is: first of all an integrated personality, and then a disciple—a candidate for initiation. As more and more disciples come into group realization it will become increasingly possible for the Hierarchy to admit such disciples in group formation. That is one reason necessitating the re-establishing of the Ancient Mysteries on Earth. That group relation has to be demonstrated in the three worlds and expressed by disciples in their group life upon the physical plane. Hence the new experiment being undertaken by the Hierarchy of externalizing Their Ashrams. This process [Page 112] involves immense difficulty, owing to the astralism, the ambitions and the growing personality influence of so many people. Many groups, under self-seeking leaders, will react to this experiment and will proclaim themselves as Masters with Ashrams and as occupied with training people for initiation. Signs of this can already be seen.

Cũng cần nhớ rằng khi nhân loại phát triển và ngày càng nhiều người bắt đầu hoạt động như những linh hồn, bản chất của linh hồn, vốn là mối liên hệ, bắt đầu tạo ảnh hưởng; con người trở nên rộng lớn hơn trong quan điểm và tầm nhìn của mình. Quan điểm của cái ngã biệt lập biến mất, và mối liên hệ nhóm cùng lợi ích nhóm thay thế cho mối liên hệ và lợi ích cá nhân, nội tại, mãnh liệt vốn đã làm cho con người đang tiến hoá trở thành điều y là: trước hết là một Phàm ngã tích hợp, rồi sau đó là một đệ tử—một ứng viên cho điểm đạo. Khi ngày càng nhiều đệ tử đi vào sự chứng nghiệm nhóm, Thánh Đoàn sẽ ngày càng có thể thu nhận các đệ tử như thế trong đội hình nhóm. Đó là một lý do khiến việc tái lập các Bí Nhiệm Cổ Xưa trên Trái Đất trở nên cần thiết. Mối liên hệ nhóm ấy phải được minh chứng trong ba cõi thấp và được các đệ tử biểu đạt trong đời sống nhóm của họ trên cõi hồng trần. Do đó có cuộc thử nghiệm mới mà Thánh Đoàn đang tiến hành: ngoại hiện các ashram của Các Ngài. Tiến trình này [Trang 112] bao hàm khó khăn vô cùng lớn, do tính cảm dục, các tham vọng và ảnh hưởng phàm ngã đang gia tăng của rất nhiều người. Nhiều nhóm, dưới quyền các lãnh đạo vị kỷ, sẽ phản ứng trước cuộc thử nghiệm này và sẽ tự tuyên bố mình là các Chân sư có ashram, và đang bận rộn huấn luyện con người cho điểm đạo. Những dấu hiệu của điều này đã có thể được thấy rồi.

The Hierarchy has been confronted with definite difficulty in this matter, for on the one hand the Masters were faced with the glamor-making tendency and astralism of the majority of people and, secondly, with the rapid advance of the human consciousness into the realm of group relationship, group life, group reactions and group activity. This has brought about the intention of the Hierarchy to train such ready minds and hearts for a united moving forward through the Door of Light onto the Lighted Way. That externalization has not yet taken place. Tentative experiments are being made with some success and some discouragement.

Thánh Đoàn đã phải đối diện với một khó khăn rõ rệt trong vấn đề này, vì một mặt các Chân sư phải đương đầu với khuynh hướng tạo ảo cảm và tính cảm dục của đa số con người, và mặt khác, với sự tiến bộ nhanh chóng của tâm thức nhân loại vào lĩnh vực của mối liên hệ nhóm, đời sống nhóm, các phản ứng nhóm và hoạt động nhóm. Điều này đã đưa đến ý định của Thánh Đoàn là huấn luyện những trí tuệ và trái tim sẵn sàng như thế để cùng nhau tiến bước qua Cánh Cửa Ánh Sáng vào Con Đường được Soi Sáng. Sự ngoại hiện ấy vẫn chưa diễn ra. Những cuộc thử nghiệm sơ bộ đang được thực hiện, với một số thành công và một số điều gây nản lòng.

Two things have therefore been decided upon by the Masters as They face the future of humanity and prepare to take the required steps to meet man’s advancing aspiration. I have chosen these two words with care. These two requirements have been demanded of the Hierarchy by Shamballa in order to safeguard the Mysteries and prevent a too premature precipitation of the hierarchical life upon the Earth. Both these requirements are expressed in this fifth Rule.

Do đó, hai điều đã được các Chân sư quyết định khi Các Ngài đối diện với tương lai của nhân loại và chuẩn bị thực hiện những bước cần thiết để đáp ứng khát vọng đang tiến tới của con người. Tôi đã chọn hai từ này một cách cẩn trọng. Hai yêu cầu này đã được Shamballa đặt ra cho Thánh Đoàn nhằm bảo vệ các Bí Nhiệm và ngăn chặn sự ngưng tụ quá sớm của đời sống Thánh Đoàn trên Trái Đất. Cả hai yêu cầu này đều được diễn đạt trong Quy luật thứ năm này.

Rule V

Quy luật V

(1) In unison let the group perceive the Triad shining forth, dimming the light of the soul and blotting out the light of form. (2) The macrocosmic Whole is all there is. Let the group perceive that Whole and then no longer use the thought, “My soul and thine.” –————

(1) Trong sự hợp nhất, hãy để nhóm nhận thấy Tam Nguyên Tinh Thần đang chiếu rạng, làm lu mờ ánh sáng của linh hồn và xoá khuất ánh sáng của hình tướng. (2) Toàn Thể đại thiên địa là tất cả những gì hiện hữu. Hãy để nhóm nhận thấy Toàn Thể ấy, rồi từ đó không còn dùng ý nghĩ: “Linh hồn của tôi và của bạn.” –————

The first demand made by Shamballa is that the groups being prepared for initiation should consist only of those who are in process of building the antahkarana, the bridge between the Triad and the personality; second demand is that those being prepared should show some signs of the sense of synthesis. [Page 113]

Đòi hỏi đầu tiên do Shamballa đưa ra là các nhóm đang được chuẩn bị cho điểm đạo phải chỉ gồm những người đang trong tiến trình xây dựng antahkarana, cây cầu giữa Tam Nguyên Tinh Thần và phàm ngã; đòi hỏi thứ hai là những người đang được chuẩn bị phải biểu lộ một vài dấu hiệu của ý thức tổng hợp. [Trang 113]

You will note, therefore, some of the factors that have controlled the presentation of the truth which I have sought to give, down the years. The teaching on the Antahkarana (briefly hinted at by H.P.B.) has been expanded by me in the book, Education in the New Age and in this fifth volume of A Treatise on the Seven Rays (Part II), and has already been given to a number of senior aspirants, in the hope that they would profit thereby; the need for synthesis has also been emphasized by me, and is closely related to the will-aspect, the first divine aspect. In the past, during the cycle of mysticism through which all aspirants very properly pass, they were taught to “see the vision”—a vision of the goal, of the beauty to be sought, of the loved one to be known, of liberation to be achieved, of spiritual satisfaction and an opened door to greater wonders. In the occult age which has now definitely dawned, the neophyte will be taught to see the picture whole, to think in the larger terms, to emerge out of the normal separate consciousness into the broad state of awareness that “sees no difference.” The goal, or rather the result of the mystic and occult way, is the merging of the vertical way of life with the horizontal way of service, and it is this merging which Shamballa demands should condition the attempt now in process of training those who will together seek initiation, will together pass through the Portal on to the Way, and who can together be presented to the One Initiator as a “unit of Light.” This sense of synthesis (which must be increasingly demonstrated as each initiation is taken in group formation) is possible only to those who have bridged the gap between the concrete lower mind and the higher mind or—to word it technically and in the language of academic occult science—between the mental unit and the manasic permanent atom.

Vì vậy, các bạn sẽ ghi nhận một vài yếu tố đã chi phối cách trình bày chân lý mà tôi đã tìm cách trao truyền qua nhiều năm. Giáo huấn về antahkarana, vốn đã được H. P. B. gợi ý vắn tắt, đã được tôi khai triển trong quyển Giáo Dục Trong Kỷ Nguyên Mới và trong tập thứ năm này của Khảo Luận về Bảy Cung (Phần II), và đã được trao cho một số người chí nguyện cao cấp, với hy vọng rằng họ sẽ nhờ đó mà được lợi ích; nhu cầu về sự tổng hợp cũng đã được tôi nhấn mạnh, và có liên hệ mật thiết với phương diện ý chí, phương diện thiêng liêng thứ nhất. Trong quá khứ, trong chu kỳ Thần bí học mà mọi người chí nguyện đều đi qua một cách rất đúng đắn, họ đã được dạy “hãy thấy linh ảnh”—một linh ảnh về mục tiêu, về vẻ đẹp cần được tìm kiếm, về Đấng được yêu thương cần được nhận biết, về sự giải thoát cần đạt được, về sự thoả mãn tinh thần và một cánh cửa mở vào những điều kỳ diệu lớn lao hơn. Trong thời đại huyền bí học hiện nay đã thực sự khai mở, người sơ cơ sẽ được dạy nhìn thấy toàn bộ bức tranh, suy nghĩ bằng những phạm vi rộng lớn hơn, thoát ra khỏi tâm thức biệt lập thông thường để đi vào trạng thái nhận biết bao la vốn “không thấy sự khác biệt.” Mục tiêu, hay đúng hơn là kết quả của con đường thần bí và huyền bí, là sự hòa nhập của con đường sống thẳng đứng với con đường phụng sự nằm ngang, và chính sự hòa nhập này là điều Shamballa đòi hỏi phải tác động lên nỗ lực hiện đang diễn ra nhằm huấn luyện những người sẽ cùng nhau tìm kiếm điểm đạo, sẽ cùng nhau đi qua Cổng vào Con Đường, và có thể cùng nhau được trình diện trước Đấng Điểm Đạo Duy Nhất như một “đơn vị Ánh Sáng.” Ý thức tổng hợp này, vốn phải ngày càng được minh chứng khi mỗi cuộc điểm đạo được thực hiện trong đội hình nhóm, chỉ có thể có đối với những ai đã bắc cầu qua khoảng cách giữa trí cụ thể hạ trí và thượng trí, hay—nói một cách chuyên môn và bằng ngôn ngữ của khoa học huyền bí kinh viện—giữa đơn vị hạ trí và nguyên tử trường tồn manas.

The goal of the Probationary Path is made beautifully clear in the fifth Rule as given earlier in Initiation, Human and Solar. It says:

Mục tiêu của Con Đường Dự Bị được làm sáng tỏ một cách đẹp đẽ trong Quy luật thứ năm như đã được đưa ra trước đây trong Điểm Đạo Nhân Loại và Thái Dương. Quy luật ấy nói rằng:

Let the applicant see to it that the solar Angel dims the light of the lunar angels, remaining the sole luminary in the microcosmic sky. [Page 114]

Người thỉnh nguyện hãy lo sao cho Thái dương Thiên Thần làm lu mờ ánh sáng của các thiên thần thái âm, và vẫn là nguồn sáng duy nhất trên bầu trời tiểu thiên địa. [Trang 114]

The soul must be seen by the probationer as the sun of the life. All lesser lights must be put out by the light of the central luminary; all little fires must be obliterated by solar fire. The solar Angel controls the personality life and its forces. This, in the New Age, is the goal of the probationary path and of the applicant for discipleship. Hitherto it has been the goal of all the teaching given anent the Path of Discipleship, but the higher rate of intelligence of the modern applicant warrants a change, and as time goes on the present requirements for disciples, up to and including the second initiation, will be the requirements for the Probationary Path.

Người dự bị phải thấy linh hồn như mặt trời của sự sống. Mọi ánh sáng nhỏ hơn phải bị ánh sáng của nguồn sáng trung tâm làm tắt đi; mọi ngọn lửa nhỏ phải bị Lửa Thái dương xóa sạch. Thái dương Thiên Thần điều khiển đời sống phàm ngã và các mãnh lực của nó. Trong Kỷ Nguyên Mới, đây là mục tiêu của con đường dự bị và của người xin bước vào địa vị đệ tử. Cho đến nay, đó vẫn là mục tiêu của mọi giáo huấn được ban về Con Đường Đệ Tử, nhưng mức độ trí tuệ cao hơn của người thỉnh nguyện hiện đại đòi hỏi một sự thay đổi, và khi thời gian trôi qua, những yêu cầu hiện nay đối với các đệ tử, cho đến và bao gồm lần điểm đạo thứ hai, sẽ trở thành những yêu cầu dành cho Con Đường Dự Bị.

This will necessitate a clearer understanding of the Path of Discipleship. On that path, the major teaching given in the future will concern:

Điều này sẽ đòi hỏi một sự thấu hiểu rõ ràng hơn về Con Đường Đệ Tử. Trên con đường ấy, giáo huấn chính được ban trong tương lai sẽ liên quan đến:

1. The building of the rainbow bridge, the antahkarana.

1. Việc xây dựng Cây cầu vồng, antahkarana.

2. The nature of the intuition and its development, as it supersedes the mind in its two aspects: concrete and abstract, lower and higher.

2. Bản chất của trực giác và sự phát triển của nó, khi nó thay thế thể trí trong hai phương diện của thể trí: cụ thể và trừu tượng, hạ và thượng.

The nature of life as the Monad expresses it.

Bản chất của sự sống như Chân thần biểu lộ nó.

In these three approaches to truth the new revelation lies hid; it will take the place of the teaching upon the soul for the neophytes and disciples of the world, and the emphasis will be laid—for them—on the life aspect and not so much on the love aspect. The reason for this is that more and more people will be living as souls and therefore expressing love, and for them the nature of life and of monadic experience will constitute the normal next revelation—one that is, however, possible only to those who do attempt to live as souls, who cultivate love or the sense of non-separateness, and who are at least dwelling upon the periphery of the hierarchical world. It would therefore be inevitable that—to those so dwelling or treading the Path of Discipleship—the factors which inspire all hierarchical effort would begin to be dimly apparent and that, slowly, these factors would also assume for them the outlines of a dim and distant goal. [Page 115]

Trong ba cách tiếp cận chân lý này, sự mặc khải mới được ẩn giấu; nó sẽ thay thế giáo huấn về linh hồn dành cho những người sơ cơ và các đệ tử của thế giới, và trọng tâm—đối với họ—sẽ được đặt vào phương diện sự sống, chứ không quá nhiều vào phương diện bác ái. Lý do là vì ngày càng có nhiều người sẽ sống như những linh hồn và do đó biểu lộ bác ái; đối với họ, bản chất của sự sống và của kinh nghiệm chân thần sẽ tạo thành sự mặc khải kế tiếp bình thường—một sự mặc khải, tuy nhiên, chỉ có thể dành cho những ai thật sự cố gắng sống như những linh hồn, vun trồng bác ái hay ý thức về sự không phân ly, và ít nhất đang cư ngụ trên chu vi của thế giới Thánh Đoàn. Do đó, điều tất yếu là—đối với những ai cư ngụ như thế hoặc đang bước trên Con Đường Đệ Tử—những yếu tố truyền cảm hứng cho mọi nỗ lực của Thánh Đoàn sẽ bắt đầu hiện ra lờ mờ, và dần dần, những yếu tố này cũng sẽ mang lấy đối với họ đường nét của một mục tiêu mờ xa. [Trang 115]

The two parts of this rule are consequently expressive of the new demands for disciples—not applicants. This becomes apparent when you study the two rules: one for applicants and one for disciples. The applicant is referred to the microcosm. The Macrocosm is held before the vision of the disciple.

Do đó, hai phần của quy luật này biểu đạt những yêu cầu mới đối với các đệ tử—chứ không phải những người thỉnh nguyện. Điều này trở nên rõ ràng khi bạn nghiên cứu hai quy luật: một dành cho những người thỉnh nguyện và một dành cho các đệ tử. Người thỉnh nguyện được quy chiếu về Tiểu thiên địa. Đại thiên địa được đặt trước tầm nhìn của đệ tử.

The two demands are expressed in Rule V as follows:

Hai yêu cầu ấy được diễn đạt trong Quy luật V như sau:

1. In unison let the group perceive the Triad shining forth, dimming the light of the soul and blotting out the light of form.

1. Trong sự hòa hợp, hãy để nhóm nhận biết Tam nguyên tinh thần đang tỏa sáng, làm lu mờ ánh sáng của linh hồn và xóa nhòa ánh sáng của hình tướng.

This is the demand for the building of the antahkarana which relates the disciple in his personality to the Triad.

Đây là yêu cầu về việc xây dựng antahkarana, vốn liên kết đệ tử trong phàm ngã của y với Tam nguyên tinh thần.

2. The macrocosmic Whole is all there is. Let the group perceive that Whole and then no longer use the thought, “My soul and thine.”

2. Toàn Thể đại thiên địa là tất cả những gì hiện hữu. Hãy để nhóm nhận biết Toàn Thể ấy, rồi không còn dùng tư tưởng: “Linh hồn tôi và linh hồn bạn.”

This is the demand for a sense of synthesis which is occult vision and not mystic vision. These two demands will be the two basic requirements for the new schools of occultism.

Đây là yêu cầu về ý thức tổng hợp, vốn là tầm nhìn huyền bí học chứ không phải tầm nhìn thần bí. Hai yêu cầu này sẽ là hai điều kiện căn bản cho các trường phái huyền bí học mới.

In view of all the instructions given earlier in this volume, and in view also of the clarity of the statement made above, there is little that it will be necessary for me to say anent this first demand. The word “demand” which has been used perhaps requires explanation. In considering this subject it should be remembered that admittance to Shamballa and a divine expression in life and service of the first great divine aspect, the will aspect, is the goal held before the members of the Hierarchy. They too are on the way of evolution, and Their goal is to pass through the “eye of the needle,” on Their way to the higher evolution. This higher evolution is that which opens up before a Master of the Wisdom. The use of this esoteric term by Christ in The New Testament story gives us a hint as to the nature of the exalted consciousness which He expressed. Faced by the rich young man who possessed so much, Christ indicated that he needed to prepare himself for a great negation and for a step forward. The true significance of this has never [Page 116] been grasped and lies in the fact that the phrase “rich young man” is in reality a technical term which is frequently applied to an initiate of the third degree, just as the words “little ones” or “little child” apply to an initiate of the first or second degree. This rich young man was rich in his range of awareness, rich in his personality equipment, rich in his aspiration and in his recognition; he was rich as the result of agelong experience and evolutionary development. He is told by the Christ that he must now prepare himself for what is called in Rule V “the Triad shining forth”; he must now prepare for the unfoldment of the monadic consciousness and for the fourth initiation. In that initiation, the causal body, the body wherein the soul experiences and reaps the fruit of experience, must be and will be destroyed. This has to take place before the initiate can enter into the Council Chamber of the Most High and express the will-to-good and the will of God in fulfilment of the purposes of God. The will of this particular “rich young man,” initiate though he was, was not yet adequate to the requirements, so he went sadly away; he had to prepare himself for the fourth initiation, the Great Renunciation, the Crucifixion, and thus fit himself to pass through the needle’s eye.

Xét đến mọi lời chỉ dẫn đã được ban trước đó trong quyển này, và xét đến cả sự rõ ràng của phát biểu nêu trên, sẽ không có nhiều điều mà Tôi cần nói về yêu cầu thứ nhất này. Từ “yêu cầu” đã được dùng có lẽ cần được giải thích. Khi xem xét đề tài này, cần nhớ rằng việc được nhận vào Shamballa và sự biểu lộ thiêng liêng trong đời sống và phụng sự của phương diện thiêng liêng vĩ đại thứ nhất, phương diện ý chí, là mục tiêu được đặt trước các thành viên của Thánh Đoàn. Các Ngài cũng đang ở trên con đường tiến hóa, và mục tiêu của Các Ngài là đi qua “lỗ kim”, trên đường tiến vào cuộc tiến hóa cao siêu. Cuộc tiến hóa cao siêu này là điều mở ra trước một Chân sư Minh triết. Việc Đức Christ dùng thuật ngữ huyền bí này trong câu chuyện Tân Ước cho chúng ta một gợi ý về bản chất của tâm thức cao cả mà Ngài đã biểu lộ. Đứng trước người thanh niên giàu có, kẻ sở hữu rất nhiều, Đức Christ chỉ ra rằng y cần chuẩn bị cho một sự phủ định lớn lao và cho một bước tiến về phía trước. Thâm nghĩa đích thực của điều này chưa bao giờ [Trang 116] được nắm bắt, và nằm ở sự kiện rằng cụm từ “người thanh niên giàu có” thực ra là một thuật ngữ chuyên môn thường được áp dụng cho một điểm đạo đồ cấp độ thứ ba, cũng như các từ “những kẻ bé nhỏ” hay “đứa trẻ nhỏ” được áp dụng cho một điểm đạo đồ cấp độ thứ nhất hoặc thứ hai. Người thanh niên giàu có này giàu có trong phạm vi nhận thức của y, giàu có trong trang bị phàm ngã của y, giàu có trong khát vọng và trong sự nhận biết của y; y giàu có nhờ kết quả của kinh nghiệm qua các thời đại và sự phát triển tiến hóa. Đức Christ bảo y rằng giờ đây y phải chuẩn bị cho điều được gọi trong Quy luật V là “Tam nguyên tinh thần đang tỏa sáng”; giờ đây y phải chuẩn bị cho sự khai mở của tâm thức chân thần và cho lần điểm đạo thứ tư. Trong lần điểm đạo ấy, thể nguyên nhân, thể trong đó linh hồn trải nghiệm và gặt hái thành quả của kinh nghiệm, tất yếu phải và sẽ tan rã. Điều này phải diễn ra trước khi điểm đạo đồ có thể bước vào Phòng Hội Đồng của Đấng Tối Cao và biểu lộ Ý Chí-hướng Thiện cùng Ý Chí của Thượng Đế trong việc hoàn thành các mục đích của Thượng đế. Ý chí của “người thanh niên giàu có” đặc biệt này, dù y là một điểm đạo đồ, vẫn chưa đáp ứng đủ các yêu cầu, nên y buồn bã bỏ đi; y phải chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ tư, cuộc Đại Từ Bỏ, cuộc Đóng Đinh, và nhờ đó làm cho mình thích hợp để đi qua lỗ kim.

There is a symbolic utterance in the Old Commentary which throws light upon the great opportunities which are found in the critical moments in the life of the soul as it experiences incarnation and becomes enriched thereby:

Có một lời phát biểu biểu tượng trong Cổ Luận soi sáng những cơ hội lớn lao được tìm thấy trong các khoảnh khắc quyết định của đời sống linh hồn, khi nó trải nghiệm nhập thể và nhờ đó trở nên phong phú:

“Within the womb of time and circumscribed by space and limited by darkness—though sustained always by warmth—the life evolves. It develops faculty. It becomes in miniature that which it is. It takes on form and knows the divinity of separation. Such is its goal. Reflect. Knowledge will come.”

“Trong lòng thời gian, bị bao quanh bởi không gian và bị giới hạn bởi bóng tối—dù luôn được nâng đỡ bởi hơi ấm—sự sống tiến hóa. Nó phát triển năng lực. Nó trở thành, trong dạng thu nhỏ, chính cái mà nó là. Nó khoác lấy hình tướng và biết thiên tính của sự phân ly. Mục tiêu của nó là như thế. Hãy suy ngẫm. Tri thức sẽ đến.”

“Beyond the door is greater light and life. It knows itself for what it is. It suffices not unto itself and knows that it is That—part of the Whole, divinely one with others. Reflect. Union will come.”

“Bên kia cánh cửa là ánh sáng và sự sống lớn lao hơn. Nó biết chính nó là gì. Nó không tự đủ cho chính mình và biết rằng nó là Cái Đó—một phần của Toàn Thể, hợp nhất thiêng liêng với những hữu thể khác. Hãy suy ngẫm. Sự hợp nhất sẽ đến.”

“Before the rampart of the place of God Himself, [Page 117] a Son of God comes forth. He stands before the needle’s eye and seeks to pass the hindering wall. He is not circumscribed by time or space, but light and life are his. He realizes beauty and he knows that That exists. Instead of time and space and all the rich inducements of the form, he knows himself as rich in love, in knowledge, wisdom, insight, and all the panoply of God (as he can grasp it), except one thing. Reflect. Purpose will reveal itself; the Whole will stand revealed and then the soul—loaded with riches and the fruits of labor long—will vanish as the mist and only God, the living One, be left.”

“Trước thành lũy của nơi ngự của Chính Thượng đế, [Page 117] một Con của Thượng đế tiến ra. Y đứng trước lỗ kim và tìm cách vượt qua bức tường cản trở. Y không bị giới hạn bởi thời gian hay không gian, nhưng ánh sáng và sự sống là của y. Y nhận ra vẻ đẹp và y biết rằng Điều Ấy hiện hữu. Thay cho thời gian và không gian cùng mọi sức quyến rũ phong phú của hình tướng, y biết mình giàu có trong tình thương, trong tri thức, minh triết, tuệ giác, và toàn bộ khí giới huy hoàng của Thượng đế, theo mức y có thể nắm bắt, ngoại trừ một điều. Hãy suy ngẫm. Thiên Ý sẽ tự mặc khải; Toàn Thể sẽ được hiển lộ, và khi ấy linh hồn—trĩu nặng những của báu và hoa trái của công lao lâu dài—sẽ tan biến như sương mù, và chỉ còn lại Thượng đế, Đấng Sống Động.”

There is still another set of phrases dealing with that through which the perfected Sons of God in Their high place must pass when Their work is done on Earth and a greater glory reveals itself ahead. But this I give not. I give only three symbols, which are:

Vẫn còn một bộ cụm từ khác đề cập đến điều mà các Con của Thượng đế đã hoàn thiện, ở địa vị cao cả của Các Ngài, phải đi qua khi công việc của Các Ngài trên Trái Đất đã hoàn tất và một vinh quang lớn hơn tự mặc khải phía trước. Nhưng điều này Tôi không trao. Tôi chỉ trao ba biểu tượng, đó là:

The womb…individualization…separation.

Cung lòng…biệt ngã hóa…chia tách.

– Leading to personality integration and self-realization.

– Dẫn đến sự tích hợp phàm ngã và sự tự nhận thức.

– Climaxing on the Path of Initiation…the birth of the Christ.

– Đạt đến cao điểm trên Con Đường Điểm Đạo…sự giáng sinh của Đức Christ.

– Producing intelligent activity.

– Tạo ra hoạt động thông tuệ.

– Initiation.

– Điểm đạo.

The two-leaved door…initiation…group consciousness.

Cánh cửa hai cánh…điểm đạo…tâm thức tập thể.

– Leading to soul expression.

– Dẫn đến sự biểu lộ của linh hồn.

– Climaxing in the third initiation.

– Đạt đến cao điểm trong lần điểm đạo thứ ba.

– Producing loving living.

– Tạo ra đời sống đầy tình thương.

– The third initiation.

– Lần điểm đạo thứ ba.

The eye of the needle…higher evolution…monadic consciousness.

Lỗ của kim…sự tiến hóa cao siêu…tâm thức chân thần.

– Leading to life expression.

– Dẫn đến sự biểu lộ của sự sống.

– Climaxing in the fifth initiation.

– Đạt đến cao điểm trong lần điểm đạo thứ năm.

– Producing purposeful life.

– Tạo ra đời sống có mục đích.

– Consummation.

– Sự viên mãn.

Such are the three points of entrance to the three planetary centers: Humanity, Hierarchy and Shamballa.

Đó là ba điểm nhập vào ba trung tâm hành tinh: Nhân loại, Thánh Đoàn và Shamballa.

This first demand is, curiously enough, the first expression of recognition—directly accorded—that the Great [Page 118] Lives at Shamballa are now in direct relation with humanity. Hitherto that contact has not been direct, and They have not been in touch with current developments. Hitherto, all contacts and spiritual impulses from this highest center have reached humanity via the Hierarchy, and vice versa. This demand concerns the negation, the obliteration, the absorption, the putting out or the synthesis of the lesser lights by the greater. All the words which I have employed are efforts to express the truth and all are entirely inadequate.

Điều đòi hỏi đầu tiên này, kỳ lạ thay, là biểu hiện đầu tiên của sự thừa nhận—được trực tiếp trao cho—rằng các Sự Sống Vĩ Đại [Page 118] tại Shamballa hiện nay đang ở trong liên hệ trực tiếp với nhân loại. Cho đến nay, sự tiếp xúc ấy chưa từng trực tiếp, và Các Ngài chưa từng liên lạc với những phát triển hiện thời. Cho đến nay, mọi tiếp xúc và xung lực tinh thần từ trung tâm tối cao này đã đến với nhân loại qua Thánh Đoàn, và ngược lại. Điều đòi hỏi này liên quan đến sự phủ định, sự xóa bỏ, sự hấp thu, sự dập tắt hoặc sự tổng hợp các ánh sáng nhỏ hơn bởi ánh sáng lớn hơn. Tất cả những từ Tôi đã dùng đều là những nỗ lực nhằm diễn đạt chân lý, và tất cả đều hoàn toàn bất cập.

The result of seeing the Light of the Spiritual Triad

Kết quả của việc thấy Ánh sáng của Tam Nguyên Tinh Thần

The moment the initiate or the disciple sees, even dimly, the light of the Spiritual Triad which veils and hides the Central Spiritual Sun, he realizes that all other lights—that of the atom of matter, that of the form and that of the soul itself—must inevitably fade out in the stupendous glory and brilliance which emanate from God Himself and which he senses as in process of revelation. He becomes absorbedintellectually, intuitively, spiritually and finally factually—in that Light. Here I would remind you that just as the light of the soul revealed to the struggling aspirant a new vision, set for him new goals, enhanced all qualities present in his equipment, and revealed the past, the present and the future of the individual, so this still greater light reveals to the initiate a horizon so vast that it has hitherto escaped his capacity and is yet but possible to vision by an initiate of the third degree, endows him with an occult perception hitherto not realized as existing—a perception which permits him to penetrate increasingly and to cooperate understandingly in the purpose of the Lord of the World. It enables him later to develop the equipment—qualities and gifts of a divine nature—which will eventually enable him to take his place in the Council Chamber at Shamballa and work in full unanimity[1] with the Lords of Karma.

Khoảnh khắc điểm đạo đồ hay đệ tử thấy, dù chỉ lờ mờ, ánh sáng của Tam Nguyên Tinh Thần vốn che phủ và ẩn giấu Mặt trời Tinh thần Trung Ương, y nhận ra rằng mọi ánh sáng khác—ánh sáng của nguyên tử vật chất, của hình tướng và của chính linh hồn—tất yếu phải mờ tắt trong vinh quang và vẻ rực rỡ phi thường phát xuất từ Chính Thượng đế và y cảm nhận điều ấy như đang trong tiến trình mặc khải. Y trở nên được hấp thuvề mặt trí tuệ, trực giác, tinh thần và cuối cùng là thực tại—vào trong Ánh sáng ấy. Ở đây Tôi muốn nhắc các bạn rằng giống như ánh sáng của linh hồn đã mặc khải cho người chí nguyện đang phấn đấu một tầm nhìn mới, đặt ra cho y những mục tiêu mới, tăng cường mọi phẩm tính hiện có trong trang bị của y, và mặc khải quá khứ, hiện tại và tương lai của cá nhân, thì ánh sáng còn lớn lao hơn này mặc khải cho điểm đạo đồ một chân trời rộng lớn đến nỗi trước đây nó đã vượt ngoài năng lực của y, và tuy vậy chỉ có thể được hình dung bởi một điểm đạo đồ cấp ba, ban cho y một nhận thức huyền bí mà trước đây y chưa nhận biết là đang hiện hữu—một nhận thức cho phép y ngày càng thâm nhập sâu hơn và hợp tác một cách thấu hiểu trong mục đích của Đức Chúa Tể Thế Giới. Về sau, nó giúp y phát triển trang bị—những phẩm tính và thiên phú có bản chất thiêng liêng—mà cuối cùng sẽ cho phép y đảm nhiệm vị trí của mình trong Phòng Hội Đồng tại Shamballa và làm việc trong sự nhất trí trọn vẹn với các Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả.

These qualities and gifts concern divine attributes and capacities for which we have as yet no words as they lie beyond the scope of human consciousness, being utterly unknown even to advanced human beings. They only begin to manifest as tendencies between the second and the third [Page 119] initiations, in the same way as the instincts in a small child are, in reality, the germs of later intellectual attitudes and activities. It is needless, therefore, for me to enlarge upon them; unless you are an initiate of the third degree, my words would be meaningless to you and would convey naught. The clue lies for you in understanding the three words—Happiness, Joy, Bliss. Do you, as you speak of bliss, understand wherein it differs from happiness and joy? Bliss is associated with complete Being; it concerns the interior attitude of the Whole.

Những phẩm tính và thiên phú này liên quan đến các thuộc tính và năng lực thiêng liêng mà hiện nay chúng ta chưa có từ ngữ để diễn đạt, vì chúng nằm ngoài phạm vi tâm thức nhân loại, hoàn toàn chưa được biết đến ngay cả đối với những con người tiến hóa cao. Chúng chỉ bắt đầu biểu hiện như những khuynh hướng giữa lần điểm đạo thứ hai và lần điểm đạo thứ ba, giống như các bản năng nơi một đứa trẻ nhỏ, trong thực tế, là những mầm mống của các thái độ và hoạt động trí tuệ về sau. Vì vậy, Tôi không cần mở rộng về chúng; trừ phi bạn là một điểm đạo đồ cấp ba, lời của Tôi sẽ vô nghĩa đối với bạn và sẽ không truyền đạt được gì. Manh mối dành cho bạn nằm trong việc thấu hiểu ba từ—Hạnh phúc, Hoan hỉ, Chí phúc. Khi bạn nói về chí phúc, bạn có hiểu nó khác với hạnh phúc và hoan hỉ ở điểm nào không? Chí phúc gắn liền với Bản Thể trọn vẹn; nó liên quan đến thái độ nội tại của Toàn Thể.

As the individual disciple builds the rainbow bridge, the antahkarana, and as a group of disciples build the group antahkarana, they make possible the “Triadal perception” referred to above. When the disciple has flung one strand of living light (through the power of magnetic love) across the space separating the Triad and the personality, he discovers that he is a part of a group. This group recognition—faulty and unintelligently expressed at first—is the factor which enables him to pass, along the anchored thread, into the Ashram of a Master.

Khi từng đệ tử xây dựng Cây cầu vồng, antahkarana, và khi một nhóm đệ tử xây dựng antahkarana của nhóm, họ làm cho “nhận thức Tam nguyên” đã được đề cập ở trên trở nên khả hữu. Khi đệ tử đã phóng một sợi ánh sáng sống động, nhờ quyền năng của bác ái từ tính, bắc qua khoảng không phân cách Tam nguyên tinh thần và phàm ngã, y khám phá rằng mình là một phần của một nhóm. Sự thừa nhận nhóm này—ban đầu còn sai lệch và được diễn đạt thiếu thông tuệ—là yếu tố giúp y đi theo sợi dây đã được neo giữ để vào ashram của một Chân sư.

From the angle of the old teaching, the Ashram of the Master and the focus of the Hierarchy were on the higher levels of the mental plane. Today, that is not so. They are on the plane of spiritual love, of the intuition and of buddhi. The Hierarchy is both retreating towards the higher center of Shamballa, and at the same time advancing towards the lower center, Humanity. Both these activities have been made possible by man himself; the growing intuitive perception of humanity, in its higher brackets, enables him to function upon the Path of Discipleship and on higher levels than ever before. This the Hierarchy recognizes. The growing aspiration of the masses is also drawing the Masters closer to humanity than ever before. This is an instance of the ability of the initiate consciousness to function on initiate levels and also in the three worlds simultaneously. Of this the dual activity of the mind is a symbol, acting as it does as the common sense and so dealing with all matters in the three worlds, and as the spiritual [Page 120] mind at the same time, dealing with all matters connected with the soul, with light and illumination.

Theo góc nhìn của giáo huấn xưa, ashram của Chân sư và tiêu điểm của Thánh Đoàn ở trên các cấp độ cao của cõi trí. Ngày nay, điều đó không còn như vậy. Chúng ở trên cõi của tình thương tinh thần, của trực giác và của Bồ đề. Thánh Đoàn vừa rút lui về phía trung tâm cao hơn là Shamballa, vừa đồng thời tiến gần đến trung tâm thấp hơn là Nhân loại. Cả hai hoạt động này đều do chính con người làm cho khả hữu; nhận thức trực giác ngày càng tăng của nhân loại, nơi các tầng lớp cao hơn của nó, cho phép nhân loại hoạt động trên Con Đường Đệ Tử và trên những cấp độ cao hơn bao giờ hết. Điều này, Thánh Đoàn nhận biết. Khát vọng ngày càng tăng của quần chúng cũng đang kéo các Chân sư đến gần nhân loại hơn bao giờ hết. Đây là một ví dụ về khả năng của tâm thức điểm đạo đồ hoạt động trên các cấp độ điểm đạo, đồng thời cũng trong ba cõi giới. Hoạt động kép của trí tuệ là biểu tượng của điều này, khi nó vừa hoạt động như lương tri và do đó xử lý mọi vấn đề trong ba cõi giới, vừa đồng thời như trí tuệ [Page 120] tinh thần, xử lý mọi vấn đề liên hệ với linh hồn, với ánh sáng và sự soi sáng.

The second demand, that the sense of synthesis should be the goal of the training given to applicants in the New Age, is a direct evidence of the new Shamballa contact, because synthesis is an attribute of the divine will and the outstanding quality of Deity. It was inevitable that intelligence and love should be evolutionary objectives on the planet and the first two divine aspects to be developed, for they are qualities of the will; they make the manifestation of the divine will possible; they guarantee its intelligent application and its magnetic power to draw to itself all that is needed for the expression or the manifestation of the divine envisaged purpose, visualized synthetically, and motivated, implemented, engineered and made possible by the dynamic aspect of the same will.

Đòi hỏi thứ hai, rằng ý thức tổng hợp phải là mục tiêu của sự huấn luyện dành cho những người thỉnh cầu trong Kỷ Nguyên Mới, là một bằng chứng trực tiếp của sự tiếp xúc mới với Shamballa, bởi vì tổng hợp là một thuộc tính của ý chí thiêng liêng và là phẩm tính nổi bật của Thượng đế. Điều tất yếu là trí thông minh và tình thương phải là các mục tiêu thăng thượng tiến hoá trên hành tinh và là hai phương diện thiêng liêng đầu tiên được phát triển, vì chúng là các phẩm tính của ý chí; chúng làm cho sự biểu lộ của ý chí thiêng liêng trở nên khả hữu; chúng bảo đảm sự ứng dụng sáng suốt của ý chí ấy và quyền năng từ tính của nó để thu hút về chính nó tất cả những gì cần thiết cho sự biểu đạt hay biểu lộ của mục đích thiêng liêng đã được hình dung, được hình dung một cách tổng hợp, và được thúc đẩy, thực thi, sắp đặt và làm cho khả hữu bởi phương diện năng động của cùng một ý chí ấy.

It is interesting to note that there is every evidence in the world today that the Shamballa energy is directly impinging upon the human consciousness and directly producing results. The destroyer aspect of the first Ray of Will or Power is producing worldwide destruction through the use of the first kingdom in nature, the mineral kingdom. That which is made of metals and chemicals is bringing catastrophe and destruction on earth, primarily in the human kingdom. At the same time the second attribute of the will, synthesis, is evoking an equally widespread response. This sense of synthesis has a mass effect earlier than it has an individual effect, and this is a thing of interest and importance to note at this time. Later, the dynamism inherent in the will, wielded by the New Group of World Servers and by the disciples and initiates of the world, will turn that instinctive mass response into factual experience and produce the “appearance” on earth of the new, developed “quality” which “life” seeks in the New Age to demonstrate. In the first volume of this Treatise, I called attention to the three divine aspects: Life, Quality and Appearance. They are now in process of making their appearance in final form for this particular cycle. [Page 121]

Điều đáng chú ý là ngày nay trong thế giới có mọi bằng chứng cho thấy năng lượng Shamballa đang tác động trực tiếp lên tâm thức nhân loại và trực tiếp tạo ra các kết quả. Phương diện hủy diệt của cung một, cung Ý Chí hay Quyền Năng, đang tạo ra sự hủy phá trên toàn thế giới qua việc sử dụng giới thứ nhất trong thiên nhiên, giới kim thạch. Những gì được làm bằng kim loại và hóa chất đang đem lại tai họa và hủy diệt trên Trái Đất, chủ yếu trong giới nhân loại. Đồng thời, thuộc tính thứ hai của ý chí, tức tổng hợp, đang gợi lên một sự đáp ứng cũng rộng khắp như vậy. Ý thức tổng hợp này có tác động đại chúng sớm hơn tác động cá nhân, và đây là một điều đáng quan tâm và quan trọng cần lưu ý vào lúc này. Về sau, tính năng động vốn có trong ý chí, được Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian cùng các đệ tử và điểm đạo đồ của thế giới vận dụng, sẽ biến sự đáp ứng đại chúng theo bản năng ấy thành kinh nghiệm thực tế và tạo ra “sắc tướng” trên Trái Đất của “phẩm tính” mới, đã phát triển, mà “sự sống” tìm cách biểu lộ trong Kỷ Nguyên Mới. Trong tập đầu của Khảo luận này, Tôi đã lưu ý đến ba phương diện thiêng liêng: Sự Sống, Phẩm Tính và Sắc Tướng. Hiện nay chúng đang trong tiến trình xuất hiện dưới hình thức cuối cùng cho chu kỳ đặc biệt này. [Page 121]

Synthesis dictates the trend of all the evolutionary processes today; all is working towards larger unified blocs, towards amalgamations, international relationships, global planning, brotherhood, economic fusion, the free flow of commodities everywhere, interdependence, fellowship of faiths, movements based upon the welfare of humanity as a whole, and ideological concepts which deal with wholes and which militate against division, separation and isolation.

Tổng hợp chi phối xu hướng của mọi tiến trình thăng thượng tiến hoá ngày nay; tất cả đang hướng tới những khối thống nhất lớn hơn, tới các sự hợp nhất, các quan hệ quốc tế, hoạch định toàn cầu, tình huynh đệ, sự dung hợp kinh tế, sự lưu thông tự do của hàng hóa khắp nơi, sự tương thuộc, tình thân hữu giữa các tín ngưỡng, các phong trào đặt nền trên phúc lợi của toàn thể nhân loại, và các quan niệm hệ tư tưởng đề cập đến những toàn thể và chống lại sự chia rẽ, phân cách và cô lập.

Little as people realize it, these concepts are relatively new factors in the human consciousness, and the fact that they are the result of a new and direct relation between Those Who implement the will of God and humanity everywhere is the guarantee of the inevitability of their expression in the future. It is only in the immediate interim—a period of one hundred fifty years—that delay may seem the rule. Such, however, will not really be the case. The forms through which these new and impending ideas must take shape and manifest have yet to be created, and that takes time, for they are built by the power of thought and due process of educating the public consciousness until that consciousness becomes confirmed conviction and demonstrates as an immovable public opinion.

Dù con người ít nhận ra điều đó, các quan niệm này là những yếu tố tương đối mới trong tâm thức nhân loại, và sự kiện chúng là kết quả của một mối liên hệ mới và trực tiếp giữa Các Đấng thực thi Ý Chí của Thượng Đế với nhân loại khắp nơi chính là sự bảo đảm cho tính tất yếu của sự biểu đạt của chúng trong tương lai. Chỉ trong giai đoạn chuyển tiếp trước mắt—một thời kỳ một trăm năm mươi năm—sự trì hoãn mới có thể dường như là quy luật. Tuy nhiên, thật ra không phải như vậy. Những hình tướng qua đó các ý tưởng mới và sắp đến này phải thành hình và biểu lộ vẫn còn phải được tạo ra, và điều đó cần thời gian, vì chúng được xây dựng bằng quyền năng của tư tưởng và bằng tiến trình thích đáng của việc giáo dục tâm thức công chúng cho đến khi tâm thức ấy trở thành niềm xác tín vững chắc và biểu lộ như một công luận bất lay chuyển.

This sense of synthesis is one of the things which the new esoteric schools will develop in their students and neophytes, for it will be the people trained interiorly in these schools who will be the builders of the new world and the trainers of future public opinion. The labels and the names whereby these schools may call themselves mean but little. Many will proclaim themselves as esoteric schools and will communicate nothing of a truly esoteric nature. They will but attract to themselves the gullible and the foolish. There are many such functioning in this manner today. Others may refrain from all outer indication of esoteric and occult training, and yet convey the needed teaching. They will seek to relate the One, the Monad, to the personality, and to evoke in their students a true sense of synthesis.

Ý thức tổng hợp này là một trong những điều mà các trường nội môn mới sẽ phát triển nơi các đạo sinh và người sơ cơ của mình, vì chính những người được đào luyện nội tâm trong các trường này sẽ là những đấng kiến tạo của thế giới mới và là những người huấn luyện công luận tương lai. Các nhãn hiệu và tên gọi mà những trường này có thể dùng để tự xưng không có bao nhiêu ý nghĩa. Nhiều trường sẽ tự tuyên bố là các trường nội môn nhưng sẽ không truyền đạt điều gì có bản chất thật sự nội môn. Chúng chỉ thu hút về mình những người cả tin và dại dột. Ngày nay có nhiều trường như thế đang hoạt động theo cách này. Những trường khác có thể tránh mọi dấu hiệu bên ngoài về sự đào luyện nội môn và huyền bí, tuy nhiên vẫn truyền đạt giáo huấn cần thiết. Chúng sẽ tìm cách liên hệ Đấng Duy Nhất, chân thần, với phàm ngã, và khơi dậy nơi các đạo sinh của mình một ý thức tổng hợp chân thật.

It is the sense of synthesis, putting it very simply, which will be the goal of all the educational movements, once the [Page 122] New Age idealism is firmly established. Physical coordination, personal integrity (which involves primarily the control and later the negation of the astral body), and personality integration will be the essential first steps. To this will succeed processes whereby the fusion of the personality with the soul, of the lower self with the higher Self, and of form with the divine Dweller in the form will follow next. Then the truly esoteric phase of the educational process will be attempted when the earlier steps or stages have been satisfactorily grasped and there is indication of some measure of real success. By that time the school of the Mysteries and the Halls of preparation for initiation will be generally recognized by the thinking people and believed in by the expectant masses.

Nói thật đơn giản, chính ý thức tổng hợp sẽ là mục tiêu của mọi phong trào giáo dục, một khi chủ nghĩa lý tưởng [Page 122] Kỷ Nguyên Mới được thiết lập vững chắc. Sự phối hợp thể xác, sự liêm chính cá nhân, vốn chủ yếu bao hàm việc kiểm soát và về sau là phủ định thể cảm dục, và sự tích hợp của phàm nhân sẽ là những bước đầu thiết yếu. Tiếp theo đó sẽ là các tiến trình nhờ đó sự dung hợp của phàm nhân với linh hồn, của phàm ngã với Bản Ngã Cao Siêu, và của hình tướng với Đấng Nội Ngự thiêng liêng trong hình tướng sẽ diễn ra. Khi các bước hay giai đoạn trước đã được nắm vững một cách thỏa đáng và có dấu hiệu của một mức độ thành công thật sự nào đó, bấy giờ giai đoạn thực sự nội môn của tiến trình giáo dục sẽ được thử nghiệm. Đến lúc ấy, trường Bí Nhiệm và các Phòng chuẩn bị cho điểm đạo sẽ được những người biết suy nghĩ nhìn nhận rộng rãi và được quần chúng đang trông đợi tin tưởng.

In those schools, those who are beginning to function as souls will be led on to take their next step. Their developed soul nature will be expressing itself through intelligent love and a sense of group fellowship; these two divine qualities will form a basis or foundation from which the next unfoldment can emerge and on which a more spiritual superstructure can be built. The Science of Meditation and the conscious building of the antahkarana will be the first two preliminary stages in the esoteric curriculum. Today, the true teaching of meditation and the construction of the bridge of light between the Triad and the personality are the most advanced teaching given anywhere.

Trong các trường ấy, những ai đang bắt đầu hoạt động như các linh hồn sẽ được dẫn dắt để thực hiện bước kế tiếp của mình. Bản chất linh hồn đã phát triển của họ sẽ tự biểu đạt qua tình thương sáng suốt và ý thức thân hữu nhóm; hai phẩm tính thiêng liêng này sẽ tạo thành một nền tảng hay cơ sở từ đó sự khai mở kế tiếp có thể xuất hiện và trên đó một kiến trúc thượng tầng tinh thần hơn có thể được xây dựng. Khoa Học Tham Thiền và sự kiến tạo có ý thức antahkarana sẽ là hai giai đoạn sơ bộ đầu tiên trong chương trình học nội môn. Ngày nay, giáo huấn chân thật về tham thiền và việc xây dựng cây cầu ánh sáng giữa Tam nguyên tinh thần và phàm ngã là giáo huấn cao cấp nhất hiện được truyền dạy ở bất cứ nơi nào.

Humanity is, however, ready for exceedingly rapid development and this readiness will demonstrate increasingly in the postwar period, and for it the disciples of the world must make ready. Two factors will bring this about: [Page 1] the first is the tremendous stimulation which the war, its demands and its consequences have given to the human consciousness and, [Page 2] secondly, the coming in of very advanced souls ever since the year 1925. These souls will be ready to give the needed training and instruction when the right time comes, having brought it over with them when they came into incarnation, and knowing normally and naturally [Page 123] what the modern esoteric student is struggling to grasp and understand.

Tuy nhiên, nhân loại đã sẵn sàng cho một sự phát triển cực kỳ nhanh chóng, và sự sẵn sàng này sẽ ngày càng biểu lộ trong thời kỳ hậu chiến; các đệ tử của thế giới phải chuẩn bị cho điều đó. Hai yếu tố sẽ khiến điều này xảy ra: [Page 1] thứ nhất là sự kích thích mãnh liệt mà chiến tranh, những đòi hỏi và hậu quả của nó đã đem lại cho tâm thức nhân loại và, [Page 2] thứ hai, sự nhập thế của những linh hồn rất tiến bộ kể từ năm 1925. Những linh hồn này sẽ sẵn sàng trao truyền sự huấn luyện và giáo huấn cần thiết khi thời điểm đúng đến, vì họ đã mang theo điều đó khi đi vào nhập thể, và họ biết một cách bình thường, tự nhiên [Page 123] điều mà đạo sinh nội môn hiện đại đang nỗ lực nắm bắt và thấu hiểu.

A study of what I have here outlined as basic requirements will show that the esoteric schools about which I wrote in Letters on Occult Meditation lie far ahead in the distant future. The work of the preparatory schools must come first, and their work will proceed until such time that the work of the Ashrams of the Masters is recognized as forming part of an outer hierarchical activity. This in due time will lead to the giving of the first initiation publicly, as a part of the great service ritual of the then prevalent universal religion. The race of men will then—in its most advanced brackets and groups in every country in the world—be normally clairvoyant, and will therefore see for themselves the light within the candidates; they will know then that the first initiation is justifiably undergone, and they will also see the same light in thousands who in previous incarnations have taken that initiation.

Việc nghiên cứu những gì Tôi đã phác thảo ở đây như các yêu cầu căn bản sẽ cho thấy rằng các trường nội môn mà Tôi đã viết trong Các Thư về Tham Thiền Huyền Môn còn nằm rất xa trong tương lai xa xôi. Công việc của các trường dự bị phải diễn ra trước tiên, và công việc của họ sẽ tiếp tục cho đến khi công việc của các ashram của các Chân sư được công nhận là một phần của hoạt động bên ngoài thuộc Thánh Đoàn. Đến đúng thời, điều này sẽ dẫn tới việc ban lần điểm đạo thứ nhất một cách công khai, như một phần của nghi lễ phụng sự vĩ đại thuộc tôn giáo phổ quát thịnh hành khi ấy. Bấy giờ nhân loại—trong các tầng lớp và nhóm tiến bộ nhất của mình ở mọi quốc gia trên thế giới—sẽ thông nhãn một cách bình thường, và vì vậy sẽ tự mình thấy ánh sáng bên trong các ứng viên; khi ấy họ sẽ biết rằng lần điểm đạo thứ nhất được trải qua một cách chính đáng, và họ cũng sẽ thấy cùng ánh sáng ấy nơi hàng ngàn người đã nhận lần điểm đạo đó trong các kiếp trước.

One thing only will I add to the above and to the elucidation of the significance of Rule V. The clue to all this esoteric work demanded by Shamballa is to be found in the development of the Art of Visualization. Through visualization, three expressions of the human consciousness will become possible:

Tôi chỉ thêm một điều vào những gì đã nói ở trên và vào việc làm sáng tỏ thâm nghĩa của Quy luật V. Manh mối của toàn bộ công việc nội môn này, do Shamballa đòi hỏi, nằm trong sự phát triển Nghệ Thuật Hình Dung. Thông qua sự hình dung, ba biểu hiện của tâm thức nhân loại sẽ trở nên khả hữu:

1. The antahkarana can be built and the shining of the Triad be definitely seen. Such will be the new vision—an outcome of the development of the sense of vision.

1. Antahkarana có thể được xây dựng và ánh rực rỡ của Tam nguyên tinh thần có thể được nhìn thấy rõ ràng. Đó sẽ là tầm nhìn mới—một kết quả của sự phát triển giác quan về tầm nhìn.

2. Groups, large wholes and major syntheses will also be visualized, and this will lead to a definite expansion of consciousness. Thus the sense of synthesis will be unfolded.

2. Các nhóm, những tổng thể lớn và các tổng hợp chủ yếu cũng sẽ được hình dung, và điều này sẽ dẫn tới một sự mở rộng rõ rệt của tâm thức. Như vậy, giác quan về tổng hợp sẽ được khai mở.

3. All creative art will be fostered by this training, and the new art of the future in all departments of creativity will be rapidly developed as the training proceeds. The unfoldment of the sense of vision and of the sense of synthesis, through visualization, will lead to a sense of livingness in
form. [Page 124]

3. Mọi nghệ thuật sáng tạo sẽ được nuôi dưỡng bởi sự huấn luyện này, và nghệ thuật mới của tương lai trong mọi lĩnh vực sáng tạo sẽ phát triển nhanh chóng khi sự huấn luyện tiến triển. Sự khai mở của giác quan về tầm nhìn và giác quan về tổng hợp, thông qua sự hình dung, sẽ dẫn tới một cảm thức về sự sống động trong hình tướng. [Page 124]



[1] sự nhất trí; sự đồng ý hoàn toàn, sự thống nhất hoàn toàn

Leave a Comment

Scroll to Top