Bình Giảng Quy Luật Điểm đạo 8 dành cho đệ tử (RI)

📘 Sách: Bình Giảng 14 Quy Luật Điểm đạo Dành Cho Đệ tử – RI – Tác giả: Michael D. Robbins

Click vào số trang trong ngoặc [ ] để đến phần văn bản liên quan. Click Tóm Tắt để xem tóm tắt của bình giảng.

COMMENTARY ON RULE VIII

BÌNH GIẢI VỀ QUY LUẬT VIII

Part I of V

Phần I trong V

Focus for the Second Month of Study on Rule(s) VIII

Trọng tâm cho Tháng Thứ Hai Nghiên Cứu về Quy Luật VIII

(Underlining, Bolding and Highlighting by MDR. Additional quotations in Violet)

(Gạch dưới, in đậm và tô sáng bởi MDR. Các trích dẫn bổ sung bằng màu tím)

RULE EIGHT

QUY LUẬT TÁM

Rule VIII now comes up for consideration. The previous seven rules have been of a wide and general connotation.

Quy Luật VIII giờ đây được đưa ra để xem xét. Bảy quy luật trước mang ý nghĩa rộng và tổng quát.

1. For our purposes, however, they have contained many specificities.

1. Tuy nhiên, đối với mục đích của chúng ta, chúng chứa đựng nhiều điều chuyên biệt.

2. The breadth of material covered in any of these Rules is well beyond the normal human consideration.

2. Tầm rộng của chất liệu được bao quát trong bất kỳ Quy Luật nào trong số này đều vượt xa sự xem xét thông thường của con người.

They have been largely postulates, emphasising group life, group planetary relationships, and the fundamental Science of Invocation and Evocation which underlies all world processes, which is the inspiring energy behind all evolutionary unfoldment, and which creates the medium or channel of related communication between the great centres in our planet, through which the life of our Logos flows and His purposes are worked out.

Chúng phần lớn là những định đề, nhấn mạnh đời sống nhóm, các mối liên hệ hành tinh của nhóm, và Khoa học nền tảng về Khẩn Cầu và Gợi Lên, vốn nằm bên dưới mọi tiến trình thế giới, là năng lượng truyền cảm hứng phía sau mọi sự khai mở thăng thượng tiến hoá, và tạo nên môi trường hay kênh giao tiếp liên hệ giữa các trung tâm lớn trên hành tinh chúng ta, qua đó sự sống của Thượng đế chúng ta tuôn chảy và các mục đích của Ngài được thực hiện.

3. DK summarizes the general content of the first seven Rules as follows:

3. Chân sư DK tóm lược nội dung tổng quát của bảy Quy Luật đầu như sau:

a. They have emphasized group life

a. Chúng đã nhấn mạnh đời sống nhóm

b. They have emphasized group planetary relationships

b. Chúng đã nhấn mạnh các mối liên hệ hành tinh của nhóm

c. They have emphasized the fundamental Science of Invocation and Evocation which underlies all world processes

c. Chúng đã nhấn mạnh Khoa học nền tảng về Khẩn Cầu và Gợi Lên, vốn nằm bên dưới mọi tiến trình thế giới

4. Of the Science of Invocation and Evocation He tells us:

4. Về Khoa học Khẩn Cầu và Gợi Lên, Ngài cho chúng ta biết:

a. It underlies all world processes

a. Nó nằm bên dưới mọi tiến trình thế giới

b. It is the inspiring energy behind all evolutionary unfoldment

b. Nó là năng lượng truyền cảm hứng phía sau mọi sự khai mở thăng thượng tiến hoá

c. It creates the medium or channel of related communication between the great centres in our planet

c. Nó tạo nên môi trường hay kênh giao tiếp liên hệ giữa các trung tâm lớn trên hành tinh chúng ta

I would remind you that the creative process was initiated by Sound, and in that Sound the Logos both invoked and evoked. He issued the call and He engineered and implemented the response and thus the “Army of the Voice” (as The Secret Doctrine calls it) came into being.

Tôi muốn nhắc các bạn rằng tiến trình sáng tạo được khởi phát bằng Âm Thanh, và trong Âm Thanh ấy, Thượng đế vừa khẩn cầu vừa gợi lên. Ngài phát ra lời kêu gọi, rồi Ngài thiết kế và thực hiện sự đáp ứng; và như thế “Đạo Quân của Âm Thanh” (như Giáo Lý Bí Nhiệm gọi) đi vào hiện hữu.

5. One may invoke ‘below’ as well as ‘above’, though usually we think of invocation as relating to energy sources ‘above’ the invoking agent.

5. Người ta có thể khẩn cầu “bên dưới” cũng như “bên trên”, dù thông thường chúng ta nghĩ về sự khẩn cầu như liên hệ đến các nguồn năng lượng “bên trên” tác nhân khẩn cầu.

6. When that which has been invoked responds, that response can be called an evocation.

6. Khi điều đã được khẩn cầu đáp ứng, sự đáp ứng ấy có thể được gọi là sự gợi lên.

7. The Army of the Voice responds to sound, and sound as presented in TCF, correlates with the third aspect of divinity and the third ray.

7. Đạo Quân của Âm Thanh đáp ứng với âm thanh, và âm thanh như được trình bày trong Luận về Lửa Vũ Trụ tương ứng với phương diện thứ ba của thiên tính và cung ba.

8. Could there also be an ‘Army of the Eye’, for the Eye also is a great directing agent.

8. Liệu cũng có thể có một “Đạo Quân của Con Mắt” chăng, vì Con Mắt cũng là một tác nhân định hướng lớn lao.

9. At one high point of development the “Army of the Voice” is no more to be heard. Generally, this group of devas are considered to be of a lower order and blindly responsive.

9. Ở một điểm phát triển cao, “Đạo Quân của Âm Thanh” không còn được nghe thấy nữa. Nói chung, nhóm thiên thần này được xem là thuộc một cấp thấp hơn và đáp ứng một cách mù quáng.

10. We may say the following of sound:

10. Chúng ta có thể nói những điều sau đây về âm thanh:

a. Sound is an organizing potency. A statement with respect to function of sound is—sound configures.

a. Âm thanh là một quyền năng tổ chức. Một phát biểu liên quan đến chức năng của âm thanh là—âm thanh định hình.

b. It is also true that sound geometrizes.

b. Cũng đúng rằng âm thanh hình học hoá.

c. As well, sound situates.

c. Hơn nữa, âm thanh an vị.

d. The members of the Army of the Voice ‘take their places’ according to sound—to which they are ever responsive.

d. Các thành viên của Đạo Quân của Âm Thanh “nhận vị trí của mình” theo âm thanh—điều mà họ luôn đáp ứng.

e. We, too, configure ourselves according to the sounds to which we respond. For instance, we come and go in groups according the sounds (words) which are emanated by those who stand in the center of groups and according to the general sounds emitted by the entirety of the groups.

e. Chúng ta cũng vậy, tự định hình mình theo các âm thanh mà chúng ta đáp ứng. Chẳng hạn, chúng ta đến và đi trong các nhóm theo những âm thanh (linh từ) được phát ra bởi những vị đứng ở trung tâm các nhóm và theo các âm thanh tổng quát do toàn thể các nhóm phát ra.

f. Are we not, all of us, configuring ourselves according the sounds/words thought and uttered by the Tibetan?

f. Chẳng phải tất cả chúng ta đang tự định hình mình theo những âm thanh/linh từ được Chân sư Tây Tạng suy tưởng và thốt ra hay sao?

g. The third and the seventh rays are involved in throat center functioning—Earth and Saturn and, then, Uranus (in the later stages of disciplic development)

g. Cung ba và cung bảy liên hệ đến hoạt động của trung tâm cổ họng—Trái Đất và Sao Thổ, rồi đến Sao Thiên Vương (trong các giai đoạn về sau của sự phát triển địa vị đệ tử)

h. The Army of the Voice is highly regulated according to the sounds they ‘hear’.

h. Đạo Quân của Âm Thanh được điều chỉnh rất cao theo các âm thanh mà họ “nghe”.

i. In a way, they are ruled by Virgo and the sixth house. They are unconscious servants and have no free will. They must respond according to the pattern imposed upon them by sound. They are regimented (a military term) by sound.

i. Theo một cách nào đó, họ chịu sự cai quản của Xử Nữ và nhà sáu. Họ là những người phụng sự vô thức và không có ý chí tự do. Họ phải đáp ứng theo mô hình do âm thanh áp đặt lên họ. Họ bị quân kỷ hoá (một thuật ngữ quân sự) bởi âm thanh.

[Page 148]

[Page 148]

The Head (the idea), the Heart (the ideal) and the Throat (the creative agent of the resulting idol, the temporary and fleeting expression of the ideal, inspired by the idea) came into being; three great Centres emerged in time and space and—at this point in the evolutionary cycle—we call them Shamballa, the Hierarchy and Humanity.

Đầu (ý tưởng), Tim (lý tưởng) và Cổ Họng (tác nhân sáng tạo của thần tượng phát sinh, biểu hiện tạm thời và thoáng qua của lý tưởng, được truyền cảm hứng bởi ý tưởng) đi vào hiện hữu; ba Trung Tâm lớn xuất hiện trong thời gian và không gian, và—ở điểm này trong chu kỳ thăng thượng tiến hoá—chúng ta gọi chúng là Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân Loại.

11. The three terms “idea”, “ideal” and “idol” correspond to Life, Quality and Appearance in occult terminology. They also correspond to Monad, Soul and Personality as well as numerous other triplicities.

11. Ba thuật ngữ “ý tưởng”, “lý tưởng” và “thần tượng” tương ứng với Sự Sống, Phẩm Tính và Sắc Tướng trong thuật ngữ huyền bí học. Chúng cũng tương ứng với chân thần, linh hồn và phàm ngã, cũng như nhiều bộ ba khác.

12. These three terms give insight into the nature of the creative process.

12. Ba thuật ngữ này đem lại sự thấu hiểu về bản chất của tiến trình sáng tạo.

13. In contemplating the head (idea) the heart (ideal) and the throat (idol), note that idealism is associated with the heart.

13. Khi chiêm ngưỡng đầu (ý tưởng), tim (lý tưởng) và cổ họng (thần tượng), hãy lưu ý rằng chủ nghĩa lý tưởng được liên kết với tim.

14. Sometimes idealism is relegated entirely to the province of the sixth ray, but the soul itself is a source of idealism. All E/entities have their ideals—that yearning within them that reaches ‘beyond’.

14. Đôi khi chủ nghĩa lý tưởng bị quy hoàn toàn về phạm vi của cung sáu, nhưng chính linh hồn cũng là một nguồn của chủ nghĩa lý tưởng. Mọi Thực Thể/thực thể đều có các lý tưởng của mình—niềm khao khát bên trong chúng vươn tới “bên kia”.

15. Whoever contacts an archetype (and the soul is the archetype for personality living) and thereafter loves or desires to manifest that archetype, has entered the realm of the ideal.

15. Bất cứ ai tiếp xúc với một nguyên mẫu (và linh hồn là nguyên mẫu cho đời sống phàm ngã), rồi sau đó yêu thương hoặc mong muốn biểu hiện nguyên mẫu ấy, đều đã bước vào cõi giới của lý tưởng.

16. The reason I bring this up is that the term “ideal” has almost taken on a pejorative[1] meaning because of its association with the sixth ray (now moving into temporary obscuration—with respect to the lower worlds, at least). We must re-value the terms “ideal” and “idealism”.

16. Lý do tôi nêu điều này là vì thuật ngữ “lý tưởng” hầu như đã mang một ý nghĩa chê bai do sự liên hệ của nó với cung sáu (hiện đang đi vào sự che khuất tạm thời—ít nhất đối với ba cõi thấp). Chúng ta phải tái định giá các thuật ngữ “lý tưởng” và “chủ nghĩa lý tưởng”.

17. The “idea” is an aspect of the “Fixed Design” and is the source of inspiration. The “idea” is that which endows with life and vitality. It is what might be called a ‘heavenly configuration’ which, at length, must become manifest.

17. “Ý tưởng” là một phương diện của “Thiết Kế Cố Định” và là nguồn của cảm hứng. “Ý tưởng” là điều ban cho sự sốngsinh lực. Nó là điều có thể được gọi là một “cấu hình thiên thượng”, cuối cùng phải trở nên biểu hiện.

18. A magnetized “idea” becomes an “ideal”. Emotional/aspirational energy gravitates towards an “ideal” and, conversely, an ideal inspires emotional/aspirational energy. An “ideal”, however, never contains the “idea” in its entirety. An “ideal” also has less appeal to the mind and intellect that does the “idea”.

18. Một “ý tưởng” đã được từ hoá trở thành một “lý tưởng”. Năng lượng cảm xúc/khát vọng bị hút về phía một “lý tưởng”, và ngược lại, một lý tưởng truyền cảm hứng cho năng lượng cảm xúc/khát vọng. Tuy nhiên, một “lý tưởng” không bao giờ chứa đựng trọn vẹn “ý tưởng”. Một “lý tưởng” cũng ít hấp dẫn đối với thể trí và trí năng hơn “ý tưởng”.

19. The “idol” is a material expression of the “ideal”.

19. “Thần tượng” là một biểu hiện vật chất của “lý tưởng”.

20. The “idol” (a product of the third aspect of divinity) is created by the Army of the Voice.

20. “Thần tượng” (một sản phẩm của phương diện thứ ba của thiên tính) được Đạo Quân của Âm Thanh tạo ra.

21. Common understanding of the term “idol” reveals that it can only dimly express the archetype of which it is the shadow, whereas the “ideal” is the reflection of the “idea”.

21. Sự hiểu biết thông thường về thuật ngữ “thần tượng” cho thấy nó chỉ có thể biểu hiện một cách mờ nhạt nguyên mẫu mà nó là cái bóng, trong khi “lý tưởng” là phản ảnh của “ý tưởng”.

22. We could ask ourselves—“Do we work primarily with ideas, ideals or idols?” Perhaps we have transcended idolatry in its most blatant forms, but I suggest we would have to examine carefully whether we have made the transition from “ideals” to “ideas”.

22. Chúng ta có thể tự hỏi—“Chúng ta chủ yếu làm việc với các ý tưởng, các lý tưởng hay các thần tượng?” Có lẽ chúng ta đã vượt qua sự sùng bái thần tượng trong những hình thức lộ liễu nhất của nó, nhưng tôi gợi ý rằng chúng ta sẽ phải xem xét cẩn thận liệu chúng ta đã thực hiện sự chuyển tiếp từ “các lý tưởng” sang “các ý tưởng” hay chưa.

With these fundamental factors the first seven rules have been occupied, and I have tried to help you to see their significance somewhat, from the angle of the initiate-consciousness.

Bảy quy luật đầu đã đề cập đến các yếu tố nền tảng này, và tôi đã cố gắng giúp các bạn phần nào thấy thâm nghĩa của chúng, từ góc độ của tâm thức điểm đạo đồ.

23. We are always reminded of the level on which this particular book is written. Like A Treatise on Cosmic Fire, it, too, evades complete understanding by those who are not possessed of the initiate consciousness. This means that the vast majority of readers (including ourselves) are only trying to understand.

23. Chúng ta luôn được nhắc nhở về cấp độ mà quyển sách đặc biệt này được viết ra. Giống như Luận về Lửa Vũ Trụ, nó cũng vượt khỏi sự thấu hiểu trọn vẹn của những ai không có tâm thức điểm đạo đồ. Điều này có nghĩa là đại đa số độc giả (kể cả chúng ta) chỉ đang cố gắng thấu hiểu.

24. This is the eighth Rule. The number eight marks the beginning and end of a cycle. Note that the first and eighth signs of the zodiac are ruled by initiating Mars—the planet under whose influence we break into new areas of experience.

24. Đây là Quy Luật thứ tám. Con số tám đánh dấu sự khởi đầu và kết thúc của một chu kỳ. Hãy lưu ý rằng dấu hiệu thứ nhất và thứ tám của hoàng đạo chịu sự cai quản của Sao Hỏa có tính khai mở—hành tinh dưới ảnh hưởng của nó chúng ta đột nhập vào những lĩnh vực kinh nghiệm mới.

We come now to a close consideration of this Rule VIII, where it might be said that the specific rules for the training of initiates begin. These remaining seven rules must be studied most carefully from that angle.

Giờ đây chúng ta đi đến sự xem xét kỹ Quy Luật VIII này, nơi có thể nói rằng các quy luật chuyên biệt cho việc huấn luyện các điểm đạo đồ bắt đầu. Bảy quy luật còn lại này phải được nghiên cứu hết sức cẩn thận từ góc độ ấy.

25. These statements should place us on alert, for, in a way, a new and still more serious phase of our work is beginning.

25. Những phát biểu này nên đặt chúng ta trong trạng thái cảnh giác, vì theo một cách nào đó, một giai đoạn mới và còn nghiêm trọng hơn của công việc chúng ta đang bắt đầu.

26. The specificities given in these Rules may not be blatant[2]; it will be for us to extract them.

26. Những điều chuyên biệt được đưa ra trong các Quy Luật này có thể không lộ liễu; chúng ta phải rút chúng ra.

They are not susceptible of casual and superficial analysis.

Chúng không dễ chịu sự phân tích hời hợt và nông cạn.

27. The concrete mind alone will not suffice, and even the abstract mind must offer itself to intuitive downflow.

27. Chỉ trí cụ thể thôi sẽ không đủ, và ngay cả trí trừu tượng cũng phải tự hiến mình cho dòng tuôn xuống của trực giác.

I realise that only those who have taken initiation will be in a position to grasp the esoteric significance of the words I use and of much that I may say, but it is for them I write; their numbers are even today more than are suspected, and their ranks will be steadily increased in the post-war period, both through the strenuous effort of disciples in training to “make the grade,” and through the coming into incarnation of initiates of all degrees—some of whom are the children of today.

Tôi nhận biết rằng chỉ những ai đã trải qua điểm đạo mới ở trong vị thế nắm bắt được thâm nghĩa huyền bí học của các lời tôi dùng và của nhiều điều tôi có thể nói, nhưng chính cho họ mà tôi viết; số lượng của họ ngay cả ngày nay cũng nhiều hơn người ta ngờ, và hàng ngũ của họ sẽ gia tăng đều đặn trong thời kỳ hậu chiến, vừa nhờ nỗ lực gian khổ của các đệ tử đang được huấn luyện để “đạt chuẩn”, vừa nhờ sự đi vào lâm phàm của các điểm đạo đồ thuộc mọi cấp độ—một số trong họ là trẻ em ngày nay.

28. “Initiates of all degrees” came into incarnation following the war. Presumably this includes those about to take the fourth degree or who had recently taken it. When the term “initiate” is used in this context, it probably does not mean “Master”

28. “Các điểm đạo đồ thuộc mọi cấp độ” đã đi vào lâm phàm sau chiến tranh. Có lẽ điều này bao gồm những người sắp nhận lần điểm đạo thứ tư hoặc vừa mới nhận nó. Khi thuật ngữ “điểm đạo đồ” được dùng trong ngữ cảnh này, có lẽ nó không có nghĩa là “Chân sư”

29. We see that DK, even though training the New Seed Group of twenty-four members when writing these instructions, had to think in much wider terms. He had to meet their needs (indeed, they had already been given more than they could even use, and definitely more than they were using) and, yet, meet the wider needs of those more advanced souls coming afterwards.

29. Chúng ta thấy rằng Chân sư DK, dù đang huấn luyện Nhóm Hạt Giống Mới gồm hai mươi bốn thành viên khi viết các huấn thị này, vẫn phải suy nghĩ theo những phạm vi rộng lớn hơn nhiều. Ngài phải đáp ứng nhu cầu của họ (thật vậy, họ đã được ban cho nhiều hơn mức họ thậm chí có thể sử dụng, và chắc chắn nhiều hơn mức họ đang sử dụng), nhưng đồng thời cũng phải đáp ứng nhu cầu rộng lớn hơn của những linh hồn tiến bộ hơn sẽ đến sau.

30. The Tibetan tells us that many are making strenuous efforts to “make the grade” or, shall we say, to “measure up”. This terminology refers to a vibratory standard achieved. It is part of the general ‘keying up’ of the ‘pitch’ of our various vehicles and the harmonizing of the notes they sound. There is no acceleration of frequency without strenuous effort. In that strenuous effort we are now all engaged. We are, in fact, ‘changing our notes’.

30. Chân sư Tây Tạng cho chúng ta biết rằng nhiều người đang nỗ lực gian khổ để “đạt chuẩn”, hay chúng ta có thể nói là “đạt mức”. Thuật ngữ này chỉ một chuẩn mực rung động đã đạt được. Nó là một phần của sự “nâng âm” tổng quát đối với “cao độ” của các hiện thể khác nhau của chúng ta và sự hài hoà hoá các âm điệu mà chúng xướng lên. Không có sự gia tốc tần số nào mà không có nỗ lực gian khổ. Tất cả chúng ta hiện nay đều đang dấn mình vào nỗ lực gian khổ ấy. Thực ra, chúng ta đang “thay đổi các âm điệu của mình”.

Rule VIII.

Quy Luật VIII.

For Applicants: When the disciple nears the Portal, the greater seven must awaken and bring forth response from the lesser seven upon the double circle.

Dành cho Ứng viên: Khi đệ tử đến gần Cổng, bảy lớn hơn phải thức tỉnh và khơi dậy sự đáp ứng từ bảy nhỏ hơn trên vòng tròn kép.

31. It would be worth group time to attempt to locate the greater seven. With the lesser seven we are familiar. A question arises: are the greater seven separate from the higher three? This is a general philosophical question involving the seven, the three and the ten. When a ten is formed, are the higher three repeated in the lower seven? The higher three would be in this case, the crown center the ajna center and the alta major center. It is my opinion that these higher three should be considered separately from the greater seven (found, I think, within the head and in relation to the ventricles of the brain).

31. Sẽ đáng để nhóm dành thời gian cố gắng định vị bảy lớn hơn. Với bảy nhỏ hơn chúng ta đã quen thuộc. Một câu hỏi nảy sinh: liệu bảy lớn hơn có tách biệt với ba cao hơn không? Đây là một câu hỏi triết học tổng quát liên quan đến số bảy, số ba và số mười. Khi một bộ mười được hình thành, liệu ba cao hơn có được lặp lại trong bảy thấp hơn không? Trong trường hợp này, ba cao hơn sẽ là trung tâm đỉnh đầu, trung tâm ajna và trung tâm alta major. Theo ý tôi, ba cao hơn này nên được xem xét riêng biệt với bảy lớn hơn (theo tôi, được tìm thấy bên trong đầu và liên hệ đến các não thất của bộ não).

32. Yet a discrepancy seems to arise. It is unlikely that a center within the head would be a master control center of the entire head center itself. Probably, for this question of greater seven and the lesser seven to be resolved, we would have to know more about the structure of the crown chakra (and its several tiers).

32. Tuy nhiên, dường như có một sự bất nhất phát sinh. Không có khả năng một trung tâm bên trong đầu lại là trung tâm kiểm soát chủ đạo của toàn bộ chính trung tâm đầu. Có lẽ, để giải quyết câu hỏi về bảy lớn hơn và bảy nhỏ hơn này, chúng ta sẽ phải biết nhiều hơn về cấu trúc của luân xa đỉnh đầu (và nhiều tầng của nó).

33. Lately, there has been much speculation in the World Wide Group about the question of the seven head centers and their relation to the centers as usually considered.

33. Gần đây, đã có nhiều suy đoán trong Nhóm Toàn Cầu về câu hỏi liên quan đến bảy trung tâm đầu và mối liên hệ của chúng với các trung tâm như thường được xem xét.

34. Commentaries from TCF emerging in the FCF Program also deal with these matters.

34. Các bình giải từ Luận về Lửa Vũ Trụ xuất hiện trong Chương Trình Lửa Vũ Trụ cũng đề cập đến những vấn đề này.

35. The alta major center is said to synthesize four of the head centers (presumably the centers within the head). There are also, it seems, three others of a superior kind.

35. Trung tâm alta major được nói là tổng hợp bốn trong các trung tâm đầu (có lẽ là các trung tâm bên trong đầu). Cũng có, dường như, ba trung tâm khác thuộc loại cao hơn.

36. When thinking of the seven head centers one should study the normal chakras and their distribution on the four etheric subplanes of the systemic physical plane. We note that there are four chakras found on the etheric level, and one each (the higher three) found on the super-etheric, the sub-atomic and atomic levels. This is repeated on the astral plane and, partially, on the mental plane.

36. Khi nghĩ về bảy trung tâm đầu, người ta nên nghiên cứu các luân xa thông thường và sự phân bố của chúng trên bốn cõi phụ dĩ thái của cõi hồng trần hệ thống. Chúng ta lưu ý rằng có bốn luân xa được tìm thấy trên cấp độ dĩ thái, và mỗi cấp độ một luân xa (ba cao hơn) được tìm thấy trên các cấp độ siêu dĩ thái, cận nguyên tử và nguyên tử. Điều này được lặp lại trên cõi cảm dục và, một phần, trên cõi trí.

37. It is an inference that the complete awakening of these three higher centers of the seven head centers would correlate to the developmental process occurring from the time of the first initiation to the third, and that the full activation of these three higher intra-head centers would correlate with the unfoldment of the three sacrifice petals of the egoic lotus.

37. Đây là một suy luận rằng sự thức tỉnh trọn vẹn của ba trung tâm cao hơn này trong bảy trung tâm đầu sẽ tương ứng với tiến trình phát triển diễn ra từ thời điểm lần điểm đạo thứ nhất đến lần thứ ba, và rằng sự hoạt hoá đầy đủ ba trung tâm nội đầu cao hơn này sẽ tương ứng với sự khai mở của ba cánh hoa hi sinh của Hoa Sen Chân Ngã.

For Disciples and Initiates: Let the group and within itself response to the greater seven groups which carry out the hierarchical will with love and understanding. The group contains all seven, the perfect group. The lesser seven, the greater seven and the planetary seven form one great whole, and these the group must know. When this is realised and the Law of the Supplementary Seven is understood, let the group understand the Three and then the ONE. This they can do with the united breath and the unified rhythm.

Dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ: Hãy để nhóm và bên trong chính nó đáp ứng với bảy nhóm lớn hơn, vốn thực hiện ý chí thánh đoàn bằng tình thương và sự thấu hiểu. Nhóm chứa đựng cả bảy, nhóm hoàn hảo. Bảy nhỏ hơn, bảy lớn hơn và bảy hành tinh hợp thành một toàn thể lớn, và nhóm phải biết những điều này. Khi điều này được nhận ra và Định luật của Bảy Bổ Sung được thấu hiểu, hãy để nhóm thấu hiểu Ba và rồi ĐẤNG DUY NHẤT. Họ có thể làm điều này bằng hơi thở hợp nhất và nhịp điệu thống nhất.

38. The main thrust of this Rule will be treated in the following pages.

38. Trọng tâm chính của Quy Luật này sẽ được bàn đến trong các trang sau.

39. The group which must find response is, of course, the group of disciples who are becoming an ‘initiate group’. They now definitely stand on the periphery of some Ashram and even in a more interior position.

39. Nhóm phải tìm được sự đáp ứng, dĩ nhiên, là nhóm các đệ tử đang trở thành một “nhóm điểm đạo đồ”. Giờ đây họ chắc chắn đứng trên ngoại vi của một ashram nào đó, và thậm chí ở một vị trí nội tại hơn.

40. This group is seeking to find ever more adequate response to the Ashram which is meant to serve as its inspiration.

40. Nhóm này đang tìm cách đạt được sự đáp ứng ngày càng đầy đủ hơn đối với ashram vốn được dự định làm nguồn cảm hứng cho nó.

41. On a higher turn of the spiral, the group could be considered as an Ashram which is seeking to find response to the entirety of Hierarchy and its great Leaders.

41. Trên một vòng xoắn cao hơn, nhóm có thể được xem như một ashram đang tìm cách đạt được sự đáp ứng đối với toàn thể Thánh Đoàn và các Đấng Lãnh Đạo vĩ đại của Thánh Đoàn.

42. Seven is the number of perfection, though, a relative perfection. Ten is the truly perfect number.

42. Bảy là con số của sự hoàn hảo, dù là một sự hoàn hảo tương đối. Mười mới là con số thực sự hoàn hảo.

43. We are dealing with an integration of sevens. The number twenty-one is suggested by the integrations given. If the “Supplementary Seven” is added, the number is twenty-eight. If the three and then the One are added the number is thirty-two. Add the Wholeness and the master number thirty-three is achieved.

43. Chúng ta đang đề cập đến một sự tích hợp của các bộ bảy. Con số hai mươi mốt được gợi ra bởi các sự tích hợp đã cho. Nếu “Bảy Bổ Sung” được thêm vào, con số là hai mươi tám. Nếu Ba và rồi Đấng Duy Nhất được thêm vào, con số là ba mươi hai. Thêm Tính Toàn Vẹn vào, và con số chủ đạo ba mươi ba được đạt tới.

44. We see that very much is expected of the applying group. They have to rise very high if this Rule is to be fulfilled. Full ashramic responsiveness is expected and even the ability to rise in understanding towards the Three and the ONE (both of which can be variously interpreted, but which certainly suggest, on one level, the three Buddhas of Activity and Sanat Kumara—or the Planetary Logos). [Page Note that on p. 148 of R&I, the term is mistakenly written “united rhythm”. It should be “unified rhythm”].

44. Chúng ta thấy rằng nhóm ứng viên được kỳ vọng rất nhiều. Họ phải vươn lên rất cao nếu Quy Luật này được hoàn thành. Sự đáp ứng ashram đầy đủ được kỳ vọng, và thậm chí cả khả năng vươn lên trong sự thấu hiểu hướng về Ba và ĐẤNG DUY NHẤT (cả hai có thể được diễn giải theo nhiều cách khác nhau, nhưng chắc chắn gợi ý, trên một cấp độ, ba Đức Phật Hoạt Động và Đức Sanat Kumara—hoặc Đức Hành Tinh Thượng Đế). [Page Lưu ý rằng ở trang 148 của Điểm Đạo và Cung, thuật ngữ bị viết nhầm là “nhịp điệu hợp nhất”. Đúng ra phải là “nhịp điệu thống nhất”].

On the surface, this rules appears to be one of surprising [Page 149] complexity and immense difficulty. It deals with so many groups and septenates and this seems to complicate understanding considerably.

Nhìn bề ngoài, quy luật này dường như là một quy luật có [Page 149] độ phức tạp đáng kinh ngạc và khó khăn vô cùng. Nó đề cập đến rất nhiều nhóm và các bộ bảy, và điều này dường như làm cho sự thấu hiểu trở nên phức tạp đáng kể.

45. We can easily agree with this assessment. Even after many years of study it seems to evade[3] solid understanding.

45. Chúng ta có thể dễ dàng đồng ý với đánh giá này. Ngay cả sau nhiều năm nghiên cứu, nó dường như vẫn né tránh sự thấu hiểu vững chắc.

Yet every person in the world is dealing with the multiplicity of units and combinations of forces which make up his entire daily life and which create his environment and his life circumstances. Life would be simple indeed if the average man had only seven factors to consider, with which to conform, to work with and to use.

Tuy nhiên, mỗi người trên thế giới đều đang xử lý tính đa tạp của các đơn vị và những tổ hợp mãnh lực tạo nên toàn bộ đời sống hằng ngày của y, cũng như tạo ra môi trường và hoàn cảnh sống của y. Đời sống quả thật sẽ đơn giản nếu người bình thường chỉ có bảy yếu tố để xem xét, để thích ứng, để làm việc với và để sử dụng.

46. This reminds of DK’s challenge to readers of His Esoteric Astrology—that, really, mastering the book is really no more difficult than mastering a textbook on physics or chemistry.

46. Điều này nhắc đến thách thức của Chân sư DK đối với độc giả của bộ Chiêm Tinh Học Nội Môn—rằng, thật ra, việc làm chủ quyển sách ấy thực sự không khó hơn việc làm chủ một giáo trình vật lý hay hoá học.

And yet, is it any more complicated to the beginner than a textbook on physics or chemistry? I think not. What does complicate the problem is your feeling of doubt and questioning as to the truth and the verifiability of the statements made. Yet the beginner in chemistry has to accept the statements of the expert who has written his textbook, and does so accept them until the time comes when he can verify them himself through experiment. (EA 133)

Và tuy vậy, đối với người mới bắt đầu, liệu nó có phức tạp hơn một giáo trình vật lý hay hoá học không? Tôi nghĩ là không. Điều làm vấn đề trở nên phức tạp chính là cảm giác nghi ngờ và chất vấn của các bạn về tính chân thật và khả năng kiểm chứng của các phát biểu được đưa ra. Tuy nhiên, người mới học hoá học phải chấp nhận các phát biểu của chuyên gia đã viết giáo trình của mình, và y chấp nhận chúng cho đến khi đến lúc y có thể tự mình kiểm chứng chúng qua thí nghiệm. (Chiêm Tinh Học Nội Môn 133)

47. Students of occultism must remember what Master DK says here about complexity. The initiate consciousness is a simplified consciousness but the initiate has earned his simplified understanding by mastering an extraordinary complexity.

47. Các môn sinh huyền bí học phải nhớ điều Chân sư DK nói ở đây về sự phức tạp. Tâm thức điểm đạo đồ là một tâm thức được giản lược, nhưng điểm đạo đồ đã đạt được sự thấu hiểu giản lược của mình bằng cách làm chủ một sự phức tạp phi thường.

48. There is no way we are going to save ourselves from complexity; it must be faced and resolved, eventually, into archetypal simplicity.

48. Không có cách nào để chúng ta tự cứu mình khỏi sự phức tạp; cuối cùng, nó phải được đối diện và giải quyết thành sự giản đơn nguyên mẫu.

Advance into the world of spiritual values and into the realm of triadal existence (in which the initiate moves) is definitely an advance into simplicity. It is an advance from the complications of the multiplication table and its resultant arithmetic into the simplicity of the symbolic formulas as used in the higher mathematics;

Tiến vào thế giới của các giá trị tinh thần và vào lĩnh vực hiện tồn của Tam Nguyên Tinh Thần, nơi điểm đạo đồ vận hành, chắc chắn là một bước tiến vào sự giản dị. Đó là một bước tiến từ những phức tạp của bảng cửu chương và phép số học phát sinh từ đó vào sự giản dị của các công thức biểu tượng như được dùng trong toán học cao cấp;

49. Here are given certain hints about a way of distinguishing the processes of the abstract mind from those of the concrete level of mind.

49. Ở đây có đưa ra một vài gợi ý về cách phân biệt các tiến trình của Trí trừu tượng với các tiến trình thuộc cấp độ trí cụ thể.

50. Upon the abstract mental plane the thinker has achieved a much greater mental leverage and can move and manipulate many mental items through the use of powerful symbols.

50. Trên cõi trí trừu tượng, chủ thể tư tưởng đã đạt được một đòn bẩy trí tuệ lớn hơn nhiều và có thể chuyển động cũng như điều khiển nhiều yếu tố trí tuệ nhờ sử dụng các biểu tượng đầy quyền năng.

it is a moving out of the world of kaleidoscopic figures in constant movement, into the world of meaning;

đó là sự bước ra khỏi thế giới của những hình thể kính vạn hoa luôn chuyển động, để đi vào Thế giới của ý nghĩa;

51. Presumably there are stable structures (like standing waves) in the World of Meaning.

51. Có lẽ trong Thế giới của ý nghĩa có những cấu trúc ổn định, giống như các sóng đứng.

it is a process of getting behind the world of effects into the world of causes, realising that one simple cause or directed movement of energy can set in motion a myriad of effects.

đó là một tiến trình đi ra phía sau thế giới của các kết quả để vào thế giới của các nguyên nhân, nhận ra rằng một nguyên nhân đơn giản hay một chuyển động năng lượng được định hướng có thể khởi động vô số kết quả.

52. The one who become a master in the World of Causes can manipulate the many with the few and then with the one.

52. Người đạt quyền làm chủ trong Thế giới của Nguyên nhân có thể điều khiển số nhiều bằng số ít, rồi sau đó bằng cái một.

The way of the initiate is not a complicated one, once he has grasped the fact that he must release himself from the world of seeming and of illusion and stand free in the world of light, where all stand clearly revealed.

Con đường của điểm đạo đồ không phải là một con đường phức tạp, một khi y đã nắm được sự kiện rằng y phải giải thoát chính mình khỏi thế giới của vẻ ngoài và của ảo tưởng, và đứng tự do trong thế giới ánh sáng, nơi tất cả đều hiển lộ rõ ràng.

53. A perceived complexity is often the result of unclear perception. Even in complexity there can be structural clarity.

53. Một sự phức tạp được nhận thấy thường là kết quả của tri giác không rõ ràng. Ngay cả trong phức tạp cũng có thể có sự rõ ràng về cấu trúc.

Then he can begin to face the lessons and take the training which will enable him to handle energy—having released himself from the control of forces—and begin to direct energy in conformity with the great Plan.

Bấy giờ y có thể bắt đầu đối diện với các bài học và tiếp nhận sự huấn luyện vốn sẽ giúp y xử lý năng lượng—sau khi đã giải thoát chính mình khỏi sự kiểm soát của các mãnh lực—và bắt đầu định hướng năng lượng phù hợp với Thiên Cơ vĩ đại.

54. We see that a movement into simplicity is a movement into the ability to wield energy rather than only force alone.

54. Chúng ta thấy rằng một chuyển động hướng vào sự giản dị là một chuyển động hướng vào năng lực vận dụng năng lượng, thay vì chỉ vận dụng riêng mãnh lực.

55. The one who has achieved a spiritual simplicity of vision is qualified to wield energy. The consciousness burdened by incompletely understood complexities cannot do so.

55. Người đã đạt được sự giản dị tinh thần trong tầm nhìn thì đủ tư cách vận dụng năng lượng. Tâm thức bị đè nặng bởi những phức tạp chưa được thấu hiểu trọn vẹn thì không thể làm như vậy.

56. Simplicity can only be achieved by having traversed complexity. The resolution of complexity into simplicity demands a knowledge of the root of all factors. Complexity is burdensome because at first it seems chaotic. But when the proper placement and relations of any factor within a complex matrix are immediately and infallibly known through intuition then complexity is instantly resolved. The number of factors remains the same, but was complex, heretofore, is now simple because it can be so quickly understood and handled.

56. Sự giản dị chỉ có thể đạt được bằng cách đã đi xuyên qua phức tạp. Việc phân giải phức tạp thành giản dị đòi hỏi sự hiểu biết về căn nguyên của mọi yếu tố. Phức tạp là gánh nặng vì lúc đầu nó có vẻ hỗn loạn. Nhưng khi vị trí đúng đắn và các quan hệ của bất kỳ yếu tố nào trong một ma trận phức hợp được biết ngay lập tức và không sai lầm nhờ trực giác thì phức tạp lập tức được phân giải. Số lượng các yếu tố vẫn như cũ, nhưng điều trước đây là phức tạp nay trở nên giản dị, vì nó có thể được thấu hiểu và xử lý nhanh chóng như thế.

57. To develop simplicity one must have developed a capacity for detecting the root of a sequence of causation. Intuition immediately isolates that which is salient. This comes however, only having passed through the “forest of error”.

57. Để phát triển sự giản dị, người ta phải phát triển năng lực phát hiện căn nguyên của một chuỗi nhân quả. Trực giác lập tức cô lập điều nổi bật. Tuy nhiên, điều này chỉ đến sau khi đã đi qua “khu rừng sai lầm”.

58. The “many” are all derivative of the “One” and relatively valueless when compared to the “One”. But if we cared only for the One, there would be no reason to have a universe.

58. “Số nhiều” đều phát sinh từ “Đấng Duy Nhất” và tương đối vô giá trị khi so với “Đấng Duy Nhất”. Nhưng nếu chúng ta chỉ quan tâm đến Đấng Duy Nhất, thì sẽ không có lý do gì để có một vũ trụ.

The complexity lies in the thinking of the neophyte. The initiate knows it not.

Sự phức tạp nằm trong tư tưởng của người sơ cơ. Điểm đạo đồ không biết đến nó.

59. We must be able to notice those moments of wandering, rather lost, in the byways and nooks and crannies of the mind. The burden of complexity descends when impelling causes have not been detected. The wise one has detected causes, and can make complex issues seem simple because, to him, they appear simple. The World of Effects is complex, and as the Tibetan suggests, one cause can eventuate in many effects. The World of Causes is relatively simple. The form of the pyramid suggests how we proceed from complexity to simplicity. At the top of the pyramid is that which is most simple, and yet the emanative cause of all below.

59. Chúng ta phải có khả năng nhận ra những khoảnh khắc lang thang, khá lạc lối, trong các lối rẽ, góc khuất và khe ngách của thể trí. Gánh nặng của phức tạp giáng xuống khi các nguyên nhân thúc đẩy chưa được phát hiện. Người minh triết đã phát hiện các nguyên nhân, và có thể làm cho các vấn đề phức tạp dường như trở nên giản dị vì đối với y, chúng có vẻ giản dị. Thế giới của Hậu quả thì phức tạp, và như Chân sư Tây Tạng gợi ý, một nguyên nhân có thể đưa đến nhiều kết quả. Thế giới của Nguyên nhân tương đối giản dị. Hình thể kim tự tháp gợi ý cách chúng ta tiến từ phức tạp đến giản dị. Ở đỉnh kim tự tháp là điều giản dị nhất, nhưng cũng là nguyên nhân xuất lộ của tất cả những gì ở bên dưới.

First let us clearly define the various septenates referred to in this rule. I will first tabulate them in the order of their appearance

Trước hết chúng ta hãy xác định rõ các bộ bảy khác nhau được nói đến trong quy luật này. Trước tiên, tôi sẽ lập bảng chúng theo thứ tự xuất hiện của chúng

60. This is an interesting statement. Can it be said that Hierarchy appeared before Shamballa?

60. Đây là một phát biểu thú vị. Có thể nói rằng Thánh Đoàn đã xuất hiện trước Shamballa chăng?

and define them, and then I will enlarge upon them in order to point out where the training enters in, where the rule applies, and how the embodied rule is in the nature of a Law which the initiate may not evade.

và định nghĩa chúng, rồi sau đó tôi sẽ khai triển thêm về chúng nhằm chỉ ra nơi sự huấn luyện đi vào, nơi quy luật được áp dụng, và cách quy luật được hiện thân mang bản chất của một Định luật mà điểm đạo đồ không thể né tránh.

61. There is a practical purpose in DK’s approach. He will enlarge upon the Rule to point out:

61. Có một mục đích thực tiễn trong cách tiếp cận của Chân sư DK. Ngài sẽ khai triển Quy luật để chỉ ra:

a. Where the training enters in (for let us remember that with this Rule specific training for initiates begins)

a. Nơi sự huấn luyện đi vào, vì chúng ta hãy nhớ rằng với Quy luật này, sự huấn luyện chuyên biệt dành cho các điểm đạo đồ bắt đầu

b. Where the Rule applies

b. Nơi Quy luật được áp dụng

c. How the embodied Rule is in the nature of a Law which the initiate may not evade

c. Cách Quy luật được hiện thân mang bản chất của một Định luật mà điểm đạo đồ không thể né tránh

62. Earlier in the text DK distinguished clearly between Laws (as great, inevitable principles) and Rules (as the wise counsel of the ages which could be obeyed or not according to the will of those exposed to them). Here he seems to say that the Rule (at least for the initiate) must be considered as a Law which may not be evaded. May we say that a disciple may obey or not obey a Rule according to his will, but that a true initiate must obey a Rule as if it were a Law? Such is the initiate consciousness.

62. Trước đó trong văn bản, Chân sư DK đã phân biệt rõ giữa các Định luật, như những nguyên khí vĩ đại và tất yếu, và các Quy luật, như lời khuyên minh triết của các thời đại, vốn có thể được tuân theo hoặc không tùy theo ý chí của những người tiếp xúc với chúng. Ở đây, dường như Ngài nói rằng Quy luật, ít nhất đối với điểm đạo đồ, phải được xem như một Định luật không thể né tránh. Chúng ta có thể nói rằng một đệ tử có thể tuân theo hoặc không tuân theo một Quy luật tùy theo ý chí của y, nhưng một điểm đạo đồ chân chính phải tuân theo một Quy luật như thể đó là một Định luật chăng? Tâm thức điểm đạo đồ là như vậy.

I would ask you here to refer to what I earlier said anent rules, laws and orders when starting with you this particular study.

Ở đây, tôi xin các bạn tham khảo điều tôi đã nói trước kia về các quy luật, định luật và mệnh lệnh khi bắt đầu với các bạn phần nghiên cứu đặc biệt này.

63. Here is the major statement on this subject:

63. Đây là phát biểu chính yếu về đề tài này:

We now begin our study of the fourteen rules for those who are seeking initiation, in one or other of its degrees. In Initiation, Human and Solar I gave the rules for those proposing to enter the grades of discipleship. I would like for a minute to deal with the significance of the word “Rule” and give you some idea of its occult meaning. There is much difference between a Law, an Order or Command, and a Rule, and these distinctions should be pondered with care. The Laws of the universe are simply the modes of expression, the life impulses and the way of existence or activity of the One in Whom we live and move and have our being. There is no avoiding these laws in the last analysis, and there is no denying them, for we are eternally swept into activity by them and they govern and control (from the angle of the Eternal Now) all that happens in time and space. Orders and commands are the feeble interpretations which men give to what they understand by law. In time and space, and at any given moment and in any given location, these commands are issued by those who are in a position of authority or who seem to dominate or are in a position to enforce their wishes. Laws are occult and basic. Orders are indicative of human frailty and limitation.

Giờ đây chúng ta bắt đầu nghiên cứu mười bốn quy luật dành cho những ai đang tìm kiếm điểm đạo, ở một cấp độ này hay cấp độ khác của nó. Trong Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương, tôi đã đưa ra các quy luật dành cho những người dự định bước vào các cấp bậc của địa vị đệ tử. Tôi muốn trong chốc lát đề cập đến thâm nghĩa của từ “Quy luật” và cho các bạn một ý niệm nào đó về ý nghĩa huyền bí của nó. Có nhiều khác biệt giữa một Định luật, một Mệnh lệnh hay Sắc lệnh, và một Quy luật, và các phân biệt này cần được suy ngẫm cẩn thận. Các Định luật của vũ trụ chỉ đơn giản là các phương thức biểu lộ, các xung lực sự sống và cách hiện tồn hay hoạt động của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và có hiện hữu của mình. Rốt ráo mà nói, không thể tránh né các định luật này, và cũng không thể phủ nhận chúng, vì chúng ta vĩnh viễn bị chúng cuốn vào hoạt động và chúng cai quản, kiểm soát, xét từ góc độ của Hiện Tại Vĩnh Cửu, tất cả những gì xảy ra trong thời gian và không gian. Các sắc lệnh và mệnh lệnh là những diễn giải yếu ớt mà con người đưa ra về điều họ hiểu là định luật. Trong thời gian và không gian, vào bất kỳ khoảnh khắc nào và tại bất kỳ địa điểm nào, các mệnh lệnh này được ban ra bởi những người ở vị trí có thẩm quyền, hoặc dường như thống trị, hoặc ở vị thế có thể cưỡng hành ý muốn của họ. Các Định luật là huyền bí và căn bản. Các mệnh lệnh biểu thị sự yếu đuối và giới hạn của con người.

Rules are, however, different. They are the result of tried experience and of age-long undertakings and—assuming neither the form of laws nor the limitations of a command—they are recognised by those for whom they exist and hence evoke from them a prompt intuitive response. They need no enforcement but are voluntarily accepted, and are put to trial in the belief that the witness of the past and the testimony of the ages warrant the effort required for the expressed requirements. (R&I 25)

Tuy nhiên, các Quy luật thì khác. Chúng là kết quả của kinh nghiệm đã được thử thách và của những nỗ lực kéo dài qua nhiều thời đại, và—vì không mang hình thức của các Định luật cũng không mang những giới hạn của một mệnh lệnh—những người mà chúng dành cho đều nhận biết chúng và vì thế chúng khơi dậy nơi họ một đáp ứng trực giác mau lẹ. Chúng không cần sự cưỡng hành mà được tự nguyện chấp nhận, và được đem ra thử nghiệm trong niềm tin rằng chứng tích của quá khứ và lời chứng của các thời đại bảo đảm cho nỗ lực cần thiết đối với những yêu cầu đã được nêu ra. (Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo; 25)

[Page 150]

[Page 150]

1. The seven greater groups…The seven groups or Ashrams within the Hierarchy.

1. Bảy nhóm lớn hơn…Bảy nhóm hay Ashram trong Thánh Đoàn.

64. In occultism generalities are used to denote specific items and groupings. Without DK to tell us the meaning of “lesser seven” and “greater seven”, etc., confusion could easily arise. Thus is the work protected!

64. Trong huyền bí học, những khái quát được dùng để chỉ các yếu tố và nhóm cụ thể. Nếu không có Chân sư DK cho chúng ta biết ý nghĩa của “bảy nhỏ hơn” và “bảy lớn hơn”, v.v., sự lẫn lộn rất dễ phát sinh. Công việc được bảo vệ như thế đó!

THE HIERARCHY

THÁNH ĐOÀN

These carry out the hierarchical will, which is love.

Các nhóm này thực hiện ý chí của Thánh Đoàn, vốn là tình thương.

65. This is an important idea: the will of the Hierarchy is always, essentially, love.

65. Đây là một ý tưởng quan trọng: ý chí của Thánh Đoàn luôn luôn, về bản chất, là tình thương.

They work through love and understanding.

Các Ngài hoạt động qua tình thương và sự thấu hiểu.

66. No matter what may be the ray of any particular Ashram, its foundational energy, because it is hierarchical energy, is love and understanding. With complete understanding love appears.

66. Bất kể cung của bất kỳ Ashram đặc thù nào là gì, năng lượng nền tảng của nó, vì là năng lượng của Thánh Đoàn, vẫn là tình thương và sự thấu hiểu. Với sự thấu hiểu trọn vẹn, tình thương xuất hiện.

Each is presided over by a Chohan and a group is called an Ashram.

Mỗi nhóm do một Chohan chủ trì và được gọi là một Ashram.

67. A Chohan is the leader of many subsidiary Ashrams.

67. Một Chohan là vị lãnh đạo của nhiều Ashram phụ thuộc.

These major Ashrams have many affiliated Ashrams, presided over by a Master on the same ray as the Chohan, and are capable at any moment of being absorbed into the primary Ashram.

Các Ashram chính yếu này có nhiều Ashram liên kết, do một Chân sư thuộc cùng cung với Chohan chủ trì, và vào bất kỳ lúc nào cũng có thể được hấp thu vào Ashram nguyên thủy.

68. One presumes that this ray is the soul ray. It has not been thoroughly established, however, whether the monadic ray of a Master of a particular Ashram can differ from the monadic ray of the Chohan (which presumably, for the Rays of Aspect) is the same as the major ray associated with the Ashram. In other words, the Chohan of the second ray Ashram would have a second ray monad. It remains to be established whether all Masters in the second ray Ashram would, necessarily, have a second ray monad.

68. Người ta phỏng đoán rằng cung này là cung linh hồn. Tuy nhiên, vẫn chưa được xác lập thấu đáo liệu cung chân thần của một Chân sư thuộc một Ashram đặc thù có thể khác với cung chân thần của Chohan hay không, vốn có lẽ, đối với Các Cung Trạng Thái, là cùng một cung chính yếu liên hệ với Ashram. Nói cách khác, Chohan của Ashram cung hai sẽ có chân thần cung hai. Vẫn còn phải xác lập liệu tất cả các Chân sư trong Ashram cung hai có nhất thiết có chân thần cung hai hay không.

69. When considering the monadic ray of the Chohans of the fourth, fifth, sixth and seventh ray Ashrams, it can be inferred that their monadic ray would necessarily have a subray which was the same as the ray associated with their Ashram (a monadic fourth subray for the fourth ray Ashram, a fifth subray for the fifth, etc.,) but the major monadic ray, since it can be only the first, second or third could not be the same as the ray of the Ashram.

69. Khi xem xét cung chân thần của các Chohan thuộc các Ashram cung bốn, cung năm, cung sáu và cung bảy, có thể suy ra rằng cung chân thần của Các Ngài nhất thiết sẽ có một cung phụ trùng với cung liên hệ với Ashram của Các Ngài, tức cung phụ chân thần thứ tư đối với Ashram cung bốn, cung phụ thứ năm đối với cung năm, v.v.; nhưng cung chân thần chính yếu, vì chỉ có thể là cung một, cung hai hoặc cung ba, nên không thể trùng với cung của Ashram.

70. We note that absorption into the Greater Ashram can occur at any moment, presumably by an occult act—of thought, of presence of sound, etc.

70. Chúng ta lưu ý rằng sự hấp thu vào Ashram Lớn hơn có thể xảy ra vào bất kỳ lúc nào, có lẽ bằng một hành động huyền bí—của tư tưởng, của sự hiện diện của âm thanh, v.v.

71. In pondering the following, “These major Ashrams have many affiliated Ashrams, presided over by a Master on the same ray as the Chohan, and are capable at any moment of being absorbed into the primary Ashram,” one wonders just how many. Is many seven? One is used to thinking in terms of one major Ashram with seven subsidiary Ashrams, but the truth may not be quite so neat, just as in a solar system we have Sun with seven major planets, but many more lesser planets.

71. Khi suy ngẫm câu sau, “Các Ashram chính yếu này có nhiều Ashram liên kết, do một Chân sư thuộc cùng cung với Chohan chủ trì, và vào bất kỳ lúc nào cũng có thể được hấp thu vào Ashram nguyên thủy,” người ta tự hỏi chính xác là bao nhiêu. Nhiều có phải là bảy không? Người ta quen suy nghĩ theo kiểu một Ashram chính yếu với bảy Ashram phụ thuộc, nhưng sự thật có thể không gọn gàng như vậy, cũng như trong một hệ mặt trời chúng ta có Mặt Trời với bảy hành tinh chính, nhưng còn nhiều hành tinh nhỏ hơn nữa.

72. The manner by which a lesser Ashram is absorbed into a greater Ashram is interesting to consider. Any lesser Ashram has its own characteristic note; all the time, meanwhile, the note of the Greater Ashram is sounding in the background. Such notes embody the quality of the Ashram from which they emanate. If absorption into the Greater Ashram is required, the Chohan of that Ashram will simply increase the amplitude of the note of His Greater Ashram, which, represented as it is, in and through all the derivative Ashrams, will instantly dominate the lower Ashramic notes.

72. Cách thức một Ashram nhỏ hơn được hấp thu vào một Ashram lớn hơn là điều đáng suy xét. Bất kỳ Ashram nhỏ hơn nào cũng có âm điệu đặc trưng riêng; trong khi đó, âm điệu của Ashram Lớn hơn luôn luôn vang lên ở hậu cảnh. Những âm điệu như vậy hiện thân phẩm tính của Ashram mà từ đó chúng xuất lộ. Nếu cần có sự hấp thu vào Ashram Lớn hơn, Chohan của Ashram đó sẽ chỉ đơn giản gia tăng biên độ âm điệu của Ashram Lớn hơn của Ngài; âm điệu ấy, vì được biểu hiện trong và qua tất cả các Ashram phát sinh, sẽ lập tức chế ngự các âm điệu Ashram thấp hơn.

73. Another (reflected) way of looking at this is that the Master’s consciousness always hovers in the background of the consciousness of his disciples. A filament of the Master’s consciousness is always present in potential. The Master has only to reassert His presence and the lesser consciousnesses are immediately made part of His own consciousness. Such dynamics function according to subtle psychic laws.

73. Một cách nhìn khác, theo phản chiếu, là tâm thức của Chân sư luôn lơ lửng ở hậu cảnh tâm thức của các đệ tử Ngài. Một sợi tơ của tâm thức Chân sư luôn hiện diện trong tiềm năng. Chân sư chỉ cần tái khẳng định sự hiện diện của Ngài và các tâm thức nhỏ hơn lập tức trở thành một phần trong chính tâm thức của Ngài. Những động lực như vậy vận hành theo các định luật thông linh vi tế.

74. We are considering here how to ‘appear’ or ‘disappear’ without the usual constraints of time and space. These appearances and disappearances are engineered through the intensified or de-intensified sounding of notes.

74. Ở đây chúng ta đang xem xét cách “xuất hiện” hoặc “biến mất” mà không chịu những ràng buộc thông thường của thời gian và không gian. Những sự xuất hiện và biến mất này được tạo tác thông qua việc xướng các âm điệu với cường độ tăng lên hoặc giảm xuống.

The perfect or complete group is the Hierarchy itself, containing all the seven major Ashrams and their affiliates.

Nhóm hoàn hảo hay trọn vẹn chính là Thánh Đoàn, bao gồm tất cả bảy Ashram chính yếu và các Ashram liên kết của chúng.

75. It bears pondering that the perfect or complete group is the Hierarchy itself. Many of us think in terms of the subsidiary Ashrams, but the real Ashram, the complete Ashram, is Hierarchy.

75. Điều đáng suy ngẫm là nhóm hoàn hảo hay trọn vẹn chính là Thánh Đoàn. Nhiều người trong chúng ta suy nghĩ theo các Ashram phụ thuộc, nhưng Ashram đích thực, Ashram trọn vẹn, chính là Thánh Đoàn.

2. The Planetary seven groups…the seven rays, the central septenate of energy.

2. Bảy nhóm Hành tinh…bảy cung, bộ bảy năng lượng trung tâm.

76. This is the central planetary septenate of energy.

76. Đây là bộ bảy năng lượng hành tinh trung tâm.

77. It appears that all the septenates treated in Rule VIII are intra-planetary.

77. Có vẻ như tất cả các bộ bảy được bàn đến trong Quy luật VIII đều là nội-hành tinh.

78. One could think of the “Planetary seven” as the seven major Planetary Logoi, but this would be to skip a step, for each of those Planetary Logoi has a representative within Shamballa, and it is to seven such representatives (planetary Ray Lords) that the “Planetary Seven” refers.

78. Người ta có thể nghĩ đến “Bảy Hành tinh” như là bảy Đức Hành Tinh Thượng Đế chính yếu, nhưng như thế là bỏ qua một bước, vì mỗi Đức Hành Tinh Thượng Đế ấy đều có một đại diện trong Shamballa, và “Bảy Hành tinh” ám chỉ bảy vị đại diện như vậy, tức các Đấng Chúa Tể Cung hành tinh.

79. We hold in mind that we are speaking of occult groupings within our planet and of the great lives who supervise them.

79. Chúng ta giữ trong trí rằng mình đang nói về các nhóm huyền bí bên trong hành tinh của chúng ta và về các Sự Sống vĩ đại trông coi chúng.

SHAMBALLA

SHAMBALLA

These embody the will of Shamballa, which is divine purpose.

Các Ngài hiện thân ý chí của Shamballa, vốn là Thiên Ý.

80. Divine Purpose comes in many forms, but for our purposes, it is sufficient to limit it to the Will of our highest planetary Center, Shamballa.

80. Thiên Ý đến dưới nhiều hình thức, nhưng đối với mục đích của chúng ta, chỉ cần giới hạn nó vào Ý Chí của Trung tâm hành tinh cao nhất của chúng ta, Shamballa.

81. If we look at diagrams of the cosmic monadic plane (TCF 344) we shall note that there are, on that high plane, seven groupings of lives. We can analogize downwards and infer that there are seven groups of monadic lives on the systemic monadic plane.

81. Nếu chúng ta nhìn vào các sơ đồ của cõi chân thần vũ trụ trong Luận về Lửa Vũ Trụ, 344, chúng ta sẽ lưu ý rằng trên cõi cao ấy có bảy nhóm sự sống. Chúng ta có thể suy tương xuống dưới và suy ra rằng có bảy nhóm sự sống chân thần trên cõi chân thần hệ thống.

82. The master chart on TCF 344 also shows that while there are seven triangles on the second systemic plane, there are three triangles on the systemic logoic plane. Thus, on the highest plane of our system, it can be reasonably inferred that the seven monadic groupings become three major monadic groups.

82. Biểu đồ chính trong Luận về Lửa Vũ Trụ, 344, cũng cho thấy rằng trong khi có bảy tam giác trên cõi hệ thống thứ hai, thì có ba tam giác trên cõi Thượng đế hệ thống. Vì vậy, trên cõi cao nhất của hệ thống chúng ta, có thể suy ra một cách hợp lý rằng bảy nhóm chân thần trở thành ba nhóm chân thần chính yếu.

They work as life energy, as quality, and produce appearance.

Các Ngài hoạt động như năng lượng sự sống, như phẩm tính, và tạo ra sắc tướng.

83. It is interesting that these seven work with both life and quality. If indeed they are planetary Ray Lords, their relationship to quality is explicit.

83. Điều thú vị là bảy vị này hoạt động với cả sự sống lẫn phẩm tính. Nếu quả thật Các Ngài là các Đấng Chúa Tể Cung hành tinh, thì mối liên hệ của Các Ngài với phẩm tính là rõ ràng.

Each is presided over by one of the seven Spirits before the Throne; by one of the seven Ray Lords.

Mỗi nhóm do một trong Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai chủ trì; bởi một trong bảy Đấng Chúa Tể Cung.

84. This means that each of the seven monadic groups is presided over by a Ray Lord, another name for which is a “Spirit before the Throne”.

84. Điều này có nghĩa là mỗi một trong bảy nhóm chân thần đều do một Đấng Chúa Tể Cung chủ trì, một danh xưng khác của Ngài là “Thánh Linh trước Thánh Ngai”.

Each of these rays has its seven subrays which relate it to all the other rays.

Mỗi cung trong các cung này có bảy cung phụ, vốn liên hệ nó với tất cả các cung khác.

85. This is a most important statement. No matter what ray we may be considering (whether of aspect or attribute), the ray is subsidiarily sevenfold.

85. Đây là một phát biểu vô cùng quan trọng. Bất kể chúng ta đang xem xét cung nào, dù là cung trạng thái hay cung thuộc tính, cung ấy về mặt phụ thuộc vẫn có tính thất phân.

These seven rays can, under divine purpose, be re-absorbed into the Three and then into the One.

Bảy cung này, dưới Thiên Ý, có thể được tái hấp thu vào Tam Vị rồi vào Đấng Duy Nhất.

86. The scheme to hold in mind is ‘7→3→1’, and it holds good on all levels of the universe of which we may be aware (through the teaching).

86. Mô hình cần giữ trong trí là “7→3→1”, và mô hình ấy đúng trên mọi cấp độ của vũ trụ mà chúng ta có thể biết được qua giáo huấn.

87. We have stated that that “Planetary Seven” are intra-planetary and not extra-planetary. The “planetary seven” are greater than the “greater seven”. The “planetary seven” may reasonably be considered monadic groupings presided over by one of the Seven Spirits before the (Planetary) Throne. These Spirits are, essentially, the Ray Lords about whom there has been so much discussion. They are Shamballic Lives, each in resonance with a certain sacred planet, and perhaps (though faintly) with one of six Solar Lords Who are the companions of our Solar Logos (all making the Seven Suns).

87. Chúng ta đã nêu rằng “Bảy Hành tinh” là nội-hành tinh chứ không phải ngoại-hành tinh. “Bảy Hành tinh” lớn hơn “bảy lớn hơn”. “Bảy Hành tinh” có thể được xem một cách hợp lý là các nhóm chân thần do một trong Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai Hành tinh chủ trì. Về bản chất, các Thánh Linh này là các Đấng Chúa Tể Cung mà đã có rất nhiều thảo luận xoay quanh Các Ngài. Các Ngài là các Sự Sống Shamballa, mỗi vị cộng hưởng với một hành tinh thiêng liêng nhất định, và có lẽ, dù mờ nhạt, với một trong sáu Đấng Chúa Tể Thái Dương là bạn đồng hành của Thái dương Thượng đế của chúng ta, tất cả hợp thành Bảy Mặt Trời.

88. These seven Ray Lords are analogous (on the planetary level) to the greater “Seven Spirits before the Throne” (i.e., the sacred planets, before the throne of the Solar Logos). Just as the Solar Logos works through seven great Planetary Spirits and is surrounded by three still greater entities (cf. TCF 1238), the analogy may apply to the planetary set up—with seven Spirits before the Throne of Sanat Kumara, Who stands in the middle of a triangle comprised of the Three Buddhas of Activity (though there appear to be still higher triplicities of Buddhas in our planetary scheme).

88. Bảy Đấng Chúa Tể Cung này tương đồng, trên cấp độ hành tinh, với “Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai” lớn hơn, tức các hành tinh thiêng liêng trước Thánh Ngai của Thái dương Thượng đế. Cũng như Thái dương Thượng đế hoạt động qua bảy Chân Linh Hành Tinh vĩ đại và được bao quanh bởi ba thực thể còn vĩ đại hơn, xem Luận về Lửa Vũ Trụ, 1238, sự tương đồng có thể áp dụng cho cơ cấu hành tinh—với bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai của Đức Sanat Kumara, Đấng đứng giữa một tam giác gồm Ba Đức Phật Hoạt Động, dù dường như còn có những bộ ba Phật cao hơn nữa trong hệ hành tinh của chúng ta.

89. As for the three Esoteric Kumaras, it is difficult to know how to place them. They are not “on the map”, nor are the higher solar systemic counterparts to these Kumaras, “on the map” in relation to the Solar Logos. However, when one adds up Seven Spirits and Seven Kumaras, the number fourteen emerges. It is tempting to think that the seven of the Great Bear and the seven of the Little Bear are involved in this fourteen.

89. Về ba Kumara Nội Môn, thật khó biết phải đặt Các Ngài vào đâu. Các Ngài không “nằm trên bản đồ”, cũng như các đối phần hệ thống thái dương cao hơn của các Kumara này cũng không “nằm trên bản đồ” trong tương quan với Thái dương Thượng đế. Tuy nhiên, khi cộng Bảy Thánh Linh và Bảy Kumara lại, con số mười bốn hiện ra. Thật hấp dẫn khi nghĩ rằng bảy của Đại Hùng Tinh và bảy của Tiểu Hùng Tinh có liên hệ trong con số mười bốn này.

90. Note that each ray has seven sub-rays creating forty-nine possibilities. Note that this forty-nine (analogizing from TCF 344) is occurring within Shamballa and can be seen as the prototype of the forty-nine Ashrams within Hierarchy.

90. Hãy lưu ý rằng mỗi cung có bảy cung phụ, tạo nên bốn mươi chín khả năng. Hãy lưu ý rằng con số bốn mươi chín này, khi suy tương từ Luận về Lửa Vũ Trụ, 344, đang diễn ra bên trong Shamballa và có thể được xem như nguyên mẫu của bốn mươi chín Ashram trong Thánh Đoàn.

91. That the Seven Spirits are distinct from the Kumaras is attested[4] by the following from EXH, 158:

91. Việc Bảy Thánh Linh khác biệt với các Kumara được xác nhận qua đoạn sau từ Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn, 158:

“These Forces include the Lord of the World and the Representatives of the seven sacred planets Who are spoken of in the Christian Bible as the “seven Spirits before the Throne of God.” They include also the three Agents of the Divine Triplicity Who are known, esoterically and in the East as the three Kumaras, or the three Buddhas of Activity.”

“Các Mãnh lực này bao gồm Đức Chúa Tể Thế Giới và các Đại diện của bảy hành tinh thiêng liêng, những vị được nói đến trong Kinh Thánh Cơ Đốc như là “bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai của Thượng đế”. Chúng cũng bao gồm ba Tác nhân của Bộ Ba Thiêng Liêng, những vị được biết đến một cách huyền bí và ở phương Đông như là ba Kumara, hay Ba Đức Phật Hoạt Động.”

92. It stands to reason that if the “Forces” of Shamballa include the three Kumaras in addition to the “seven Spirits”; the Kumaras are different from the Spirits. Then, of course, there are the three Esoteric Kumaras. Seven plus seven.

92. Điều hợp lý là nếu các “Mãnh lực” của Shamballa bao gồm ba Kumara ngoài “Bảy Thánh Linh”, thì các Kumara khác với các Thánh Linh. Rồi dĩ nhiên, còn có ba Kumara Nội Môn. Bảy cộng bảy.

93. The term “Seven Spirits” has two usual levels of interpretation—one intra-planetary and one extra-planetary. The extra-planetary Spirits are of a higher order than the intra-planetary Spirits.

93. Thuật ngữ “Bảy Thánh Linh” có hai cấp độ diễn giải thông thường—một cấp độ nội-hành tinh và một cấp độ ngoại-hành tinh. Các Thánh Linh ngoại-hành tinh thuộc một trật tự cao hơn các Thánh Linh nội-hành tinh.

94. The following from TEV, 161,

94. Đoạn sau từ Viễn Cảm và Vận Cụ Dĩ Thái, 161,

“The rays are the seven emanations from the ‘seven Spirits before the throne of God’; Their emanations come from the monadic level of awareness or from the second cosmic etheric plane”,

“Các cung là bảy xuất lộ từ ‘Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai của Thượng đế’; các xuất lộ của Các Ngài đến từ cấp độ nhận thức chân thần hay từ cõi dĩ thái vũ trụ thứ hai”,

makes it seem that these Seven Spirits have their major point of emanation/expression is upon the monadic plane, just as Sanat Kumara expresses/emanates most focally upon and from the logoic plane. Naturally, the higher extensions of Their energy systems are located outside/‘above’ the cosmic physical plane altogether. While the Christ has attained the systemic logoic plane, it is doubtful that His major arena of expression is that high though an aspect of energy must necessarily emanate from that level.

khiến điều này dường như hàm ý rằng Bảy Thánh Linh này có điểm xuất lộ/biểu hiện chính yếu của Các Ngài trên cõi chân thần, cũng như Đức Sanat Kumara biểu hiện/xuất lộ một cách tập trung nhất trên và từ cõi Thượng đế. Dĩ nhiên, các phần mở rộng cao hơn của hệ thống năng lượng của Các Ngài nằm hoàn toàn bên ngoài/‘bên trên’ cõi hồng trần vũ trụ. Dù Đức Christ đã đạt đến cõi Thượng đế của hệ thống, vẫn còn đáng ngờ rằng trường biểu hiện chính yếu của Ngài lại cao đến mức ấy, mặc dù một phương diện năng lượng tất yếu phải xuất lộ từ cấp độ đó.

95. It is necessary, actually, for us to discriminate between emanation and expression. If we want to get specific, the source of emanation will be higher than the focus of expression.

95. Thật ra, chúng ta cần phân biện giữa xuất lộ và biểu hiện. Nếu muốn nói cho chính xác, nguồn xuất lộ sẽ cao hơn tiêu điểm biểu hiện.

96. We have been discussing the seven or forty-nine “Spirits before the Throne”. The following from TCF gives us a solar systemic picture which must, under the law of analogy, be reflected within our planetary system:

96. Chúng ta đã bàn về bảy hay bốn mươi chín “Thánh Linh trước Thánh Ngai”. Đoạn sau đây từ Luận về Lửa Vũ Trụ cho chúng ta một bức tranh thuộc hệ mặt trời, vốn theo định luật tương đồng phải được phản chiếu trong hệ hành tinh của chúng ta:

Sevenfold electric fire. The seven types of spiritual existences, or the seven Spirits before the Throne in Their essential essence; the dynamic force or will lying back of all manifestation. They form on their own plane in a peculiar sense the logoic “Jewel in the Lotus,” and [Page 629] hence are inconceivable to our intelligence in this solar system, as They are not revealed until the “Son be made perfect,” or the logoic consciousness is fully awakened. They are esoterically the “Spirits of Darkness.”

Lửa điện thất phân. Bảy loại hiện hữu tinh thần, hay Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai trong tinh chất thiết yếu của Các Ngài; mãnh lực năng động hay ý chí nằm phía sau mọi biểu hiện. Trên cõi riêng của Các Ngài, theo một ý nghĩa đặc biệt, Các Ngài tạo thành “Viên Ngọc trong Hoa Sen” của Thượng đế, và [Trang 629] vì thế trí tuệ của chúng ta trong hệ mặt trời này không thể quan niệm được Các Ngài, bởi Các Ngài không được mặc khải cho đến khi “Người Con được làm cho hoàn thiện”, hay tâm thức Thượng đế được đánh thức trọn vẹn. Về mặt huyền bí, Các Ngài là “Các Thánh Linh của Bóng Tối”.

97. The matter is complicated and really beyond us, but if, on the planetary level, we discriminate between Kumaras and “Spirits before the Throne”, we may also do so on a solar systemic level, with the seven sacred planets as “Seven Spirits before the Throne” analogous to the seven “Spirits” before the planetary Throne of Sanat Kumara, and the Seven Kumaras of our planet (including the three Esoteric Kumaras) being analogous to Seven Greater Kumaras, three hidden or esoteric. These Seven Solar Kumaras are not the same as the Seven Planetary Logoi (who sometimes are also called Kumaras).

97. Vấn đề phức tạp và thật sự vượt ngoài chúng ta, nhưng nếu, trên cấp độ hành tinh, chúng ta phân biện giữa các Kumara và “Các Thánh Linh trước Thánh Ngai”, thì chúng ta cũng có thể làm như vậy trên cấp độ hệ mặt trời, với bảy hành tinh thiêng liêng là “Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai”, tương đồng với bảy “Thánh Linh” trước Thánh Ngai hành tinh của Đức Sanat Kumara, và Bảy Kumara của hành tinh chúng ta, gồm cả ba Kumara nội môn, tương đồng với Bảy Kumara Lớn Hơn, trong đó ba vị ẩn tàng hay nội môn. Bảy Kumara Thái dương này không đồng nhất với Bảy Hành Tinh Thượng đế, những Đấng đôi khi cũng được gọi là Kumara.

98. The matter may appear a little confusing, but basically we would have (if this inference is correct) two sets of double septenates: fourteen for the planetary level and fourteen for the solar level.

98. Vấn đề có thể có vẻ hơi rối, nhưng về căn bản chúng ta sẽ có, nếu suy luận này đúng, hai bộ thất phân kép: mười bốn cho cấp độ hành tinh và mười bốn cho cấp độ thái dương.

99. In each case the Great Bear and Little Bear could be considered higher sources of inspiration, since the two Bears represent a double septenate, with one of the septenates higher than the other and more representative of Will, while the lesser septenate is representative of quality.

99. Trong mỗi trường hợp, Đại Hùng và Tiểu Hùng có thể được xem là những nguồn cảm hứng cao hơn, vì hai Chòm Gấu tượng trưng cho một thất phân kép, với một trong các thất phân cao hơn thất phân kia và tiêu biểu hơn cho Ý Chí, trong khi thất phân nhỏ hơn tiêu biểu cho phẩm tính.

Sevenfold solar fire. The seven Heavenly Men, the sumtotal of Light, the seven Rays of manifestation of the Spiritual Sun. In time and space these seven Rays of Light become the nine (the major three, with the third demonstrating as seven) and are thus esoterically the nine petals of the logoic Ego as He manifests in His physical vehicle. They are esoterically the “Sons of Light.”

Lửa Thái dương thất phân. Bảy Đấng Thiên Nhân, tổng thể của Ánh sáng, bảy Cung biểu hiện của Mặt trời Tinh thần. Trong thời gian và không gian, bảy Cung Ánh sáng này trở thành chín, tức ba cung chính yếu, với cung thứ ba biểu lộ thành bảy, và như vậy về mặt huyền bí là chín cánh hoa của Chân ngã Thượng đế khi Ngài biểu hiện trong vận cụ hồng trần của Ngài. Về mặt huyền bí, Các Ngài là “Các Con của Ánh sáng”.

100. Note that the “logoic Ego” also has nine petals, just as has the human egoic lotus (if the three interior petals are not counted).

100. Hãy lưu ý rằng “Chân ngã Thượng đế” cũng có chín cánh hoa, giống như hoa sen chân ngã của con người, nếu ba cánh hoa bên trong không được tính.

Sevenfold fire by friction. The seven brothers of Fohat. The seven manifestations of electricity, or of electrical phenomena. These are the seven Raja-Lords or Devas of the seven planes; they are the seven Fires, or those seven states of activity through which consciousness is expressing itself. They are the vehicles of consciousness and the seven vibrations. They are esoterically the “Brothers of energy.”

Lửa ma sát thất phân. Bảy huynh đệ của Fohat. Bảy biểu hiện của điện lực, hay của các hiện tượng điện. Đây là bảy Chúa Tể Raja hay các thiên thần của bảy cõi; các Ngài là bảy Lửa, hay bảy trạng thái hoạt động mà qua đó tâm thức đang biểu hiện chính nó. Các Ngài là các vận cụ của tâm thức và bảy rung động. Về mặt huyền bí, Các Ngài là “Các Huynh Đệ của năng lượng”.

Therefore it will be apparent that the sumtotal of logoic manifestation as it can be seen in existence in time and space is:

Vì vậy, điều sẽ trở nên hiển nhiên là tổng thể biểu hiện của Thượng đế, như có thể thấy trong hiện hữu nơi thời gian và không gian, là:

Seven Spirits……………sevenfold will.

Bảy Thánh Linh……………ý chí thất phân.

Seven Rays……………..sevenfold quality or psyche.

Bảy Cung……………..phẩm tính hay tâm hồn thất phân.

Seven Deva Lords……sevenfold form.

Bảy Chúa Tể Thiên Thần……hình tướng thất phân.

The latter are literally the seven spirillae, or force vibrations within the logoic physical permanent atom. This needs to be carefully borne in mind and pondered upon.

Những Đấng sau, theo nghĩa đen, là bảy loa tuyến, hay các rung động mãnh lực trong nguyên tử trường tồn hồng trần của Thượng đế. Điều này cần được ghi nhớ cẩn thận và suy ngẫm.

101. Which we shall do at our leisure when we take up this subject in the Commentaries on A Treatise on Cosmic Fire in the FCF Group.

101. Chúng ta sẽ làm điều đó khi thuận tiện, khi tiếp cận chủ đề này trong các Bình Giải về Luận về Lửa Vũ Trụ trong Nhóm Luận về Lửa Vũ Trụ.

The seven Rays are the sumtotal of the psychic nature of the Logos, as it radiates through His physical form—His seven qualities, the aggregate of the expression of His desire, or love nature. The seven Spirits are the sumtotal of His Will-to-be aspect, the synthetic Life of His total manifestation, that which causes the persistence [Page 630] of the form, and its evolution for as long as the logoic Ego seeks physical existence.

Bảy Cung là tổng thể bản chất tâm hồn của Thượng đế, khi nó tỏa chiếu qua hình tướng hồng trần của Ngài—bảy phẩm tính của Ngài, tổng hợp biểu hiện của bản chất dục vọng, hay bản chất bác ái, của Ngài. Bảy Thánh Linh là tổng thể phương diện Ý Chí-hiện hữu của Ngài, Sự Sống tổng hợp trong toàn bộ biểu hiện của Ngài, điều tạo nên sự bền tồn [Trang 630] của hình tướng và sự tiến hoá của nó bao lâu Chân ngã Thượng đế còn tìm kiếm sự hiện hữu hồng trần.

102. It becomes apparent that in relation to the three divine aspects, we are dealing with three septenates. The higher prototypes of these septenates include the Ursa Major, Ursa Minor and (many would say) Sirius, but I would like to propose the septenate represented by Orion which is by far a greater Being in our local cosmosystem than Sirius could ever be.

102. Điều trở nên hiển nhiên là, trong liên hệ với ba phương diện thiêng liêng, chúng ta đang bàn đến ba thất phân. Các nguyên mẫu cao hơn của những thất phân này bao gồm Đại Hùng Tinh, Tiểu Hùng Tinh và, như nhiều người sẽ nói, Sao Thiên Lang; nhưng tôi muốn đề xuất thất phân được tượng trưng bởi Chòm Lạp Hộ, vốn là một Hữu Thể lớn lao hơn rất nhiều trong hệ vũ trụ địa phương của chúng ta so với Sao Thiên Lang.

To carry the simile, or analogy, even further back and thus bear in mind the resemblance between microcosmic and macrocosmic development we have:

Để đưa phép so sánh, hay sự tương đồng, lùi xa hơn nữa, và nhờ đó ghi nhớ sự tương tự giữa phát triển tiểu thiên địa và đại thiên địa, chúng ta có:

1. The seven Spirits who find Their originating incentive on:

1. Bảy Thánh Linh tìm thấy động lực khởi nguyên của Các Ngài trên:

a. The cosmic lower mental levels.

a. Các cấp độ cõi hạ trí vũ trụ.

b. The logoic “Jewel in the Lotus.”

b. “Viên Ngọc trong Hoa Sen” của Thượng đế.

c. The cosmic atmic plane.

c. Cõi atma vũ trụ.

103. Because it can be reasonably inferred that the stars of the Great Bear are associated with the cosmic atmic plane (cf. 1162), it takes no great stretch of thought to associate the “Seven Spirits” with the Great Bear, since these Spirits also have a close association with the cosmic atmic plane—as given immediately above.

103. Vì có thể suy luận một cách hợp lý rằng các sao của Đại Hùng Tinh liên hệ với cõi atma vũ trụ, nên không cần phải kéo căng tư tưởng quá mức để liên kết “Bảy Thánh Linh” với Đại Hùng Tinh, bởi các Thánh Linh này cũng có mối liên hệ mật thiết với cõi atma vũ trụ—như vừa được nêu ngay trên.

2. The seven Heavenly Men are in the line of force from:

2. Bảy Đấng Thiên Nhân nằm trong tuyến mãnh lực từ:

a. The cosmic astral plane.

a. Cõi cảm dục vũ trụ.

b. The logoic nine-petalled lotus.

b. Hoa sen chín cánh của Thượng đế.

c. The cosmic buddhic plane (the seven Rishis of the Great Bear).

c. Cõi Bồ đề vũ trụ, tức bảy Hiền Triết của Đại Hùng Tinh.

104. This is a potentially misleading statement, as it would seem that these “Rishis” work through the Pleiades who do have a definite place on the cosmic buddhic plane. (cf. TCF 904)

104. Đây là một phát biểu có khả năng gây hiểu lầm, vì có vẻ như các “Hiền Triết” này làm việc qua Chòm Sao Thất Nữ, là nơi thật sự có một vị trí xác định trên cõi Bồ đề vũ trụ. Xem Luận về Lửa Vũ Trụ, trang 904.

3. The seven Sons of Fohat find their vital force emanating from:

3. Bảy Con của Fohat tìm thấy sinh lực của mình xuất lộ từ:

a. The cosmic physical plane.

a. Cõi hồng trần vũ trụ.

b. The logoic permanent atoms (within the causal body).

b. Các nguyên tử trường tồn của Thượng đế, bên trong thể nguyên nhân.

c. The cosmic higher mental levels. (TCF 628-630)

c. Các cấp độ cõi thượng trí vũ trụ. Luận về Lửa Vũ Trụ, trang 628-630.

105. These references tell of extremely important alignments which, if understood, will clarify much of the structure of our local One About Whom Naught May Be Said.

105. Những tham chiếu này nói về các chỉnh hợp cực kỳ quan trọng, vốn nếu được thấu hiểu sẽ làm sáng tỏ phần lớn cấu trúc của Đấng Bất Khả Tư Nghị địa phương của chúng ta.

Yet these three are but the expressions of One Existence, for behind the Logos in physical incarnation is to be found the logoic Monad, expressing Itself through the logoic Ego, and its reflection, the logoic Personality.

Tuy nhiên, ba điều này chỉ là các biểu hiện của Một Hiện Hữu, vì phía sau Thượng đế trong sự lâm phàm hồng trần là Chân thần Thượng đế, biểu hiện chính Mình qua Chân ngã Thượng đế, và phản chiếu của nó là Phàm ngã Thượng đế.

106. When we think of Shamballa and the septenates there contained, it is impossible to leave out the planetary correspondences of the Seven Brothers of Fohat and the Seven Spirits of Darkness.

106. Khi nghĩ về Shamballa và các thất phân chứa đựng trong đó, không thể bỏ qua các tương ứng hành tinh của Bảy Huynh Đệ của Fohat và Bảy Thánh Linh của Bóng Tối.

We have 7 (or 49) + 7 (or 49) + 7 (or 49). There are thus twenty-one major Shamballic Lives, which, through emanation, become 147. Of the three major sevens, however, perhaps only two groups (those relating to the Rays and to Fohat) are effectively active. The Spirits of Darkness relate to electric fire and the first ray, and it may be that their time for assertion has not come. Still, it would seem that they must be represented in Shamballa.

Chúng ta có 7, hay 49, cộng 7, hay 49, cộng 7, hay 49. Như vậy có hai mươi mốt Sự Sống Shamballa chính yếu, vốn qua xuất lộ trở thành 147. Tuy nhiên, trong ba bộ bảy chính yếu, có lẽ chỉ hai nhóm, những nhóm liên hệ với các Cung và với Fohat, là hoạt động hữu hiệu. Các Thánh Linh của Bóng Tối liên hệ với Lửa Điện và cung một, và có thể thời điểm để các Ngài tự khẳng định vẫn chưa đến. Dầu vậy, dường như các Ngài phải được đại diện trong Shamballa.

3. The lesser seven…the seven types of men and also the seven root races.

3. Bảy nhỏ hơn…bảy loại người và cũng là bảy giống dân gốc.

107. The meaning of the “lesser seven” is twofold—the seven ray divisions of men and also the seven root races which are each apportioned to one of the seven rays.

107. Ý nghĩa của “bảy nhỏ hơn” là nhị phân—bảy phân bộ cung của con người và cũng là bảy giống dân gốc, mỗi giống dân được phân bổ cho một trong bảy cung.

HUMANITY

NHÂN LOẠI

These embody the intelligence of the Logos as it expresses itself through creativity.

Những điều này thể hiện trí tuệ của Thượng đế khi nó biểu hiện chính mình qua sự sáng tạo.

108. Humanity’s connection with the third ray and the third, or creativity, aspect is obvious.

108. Mối liên hệ của nhân loại với cung ba và với phương diện thứ ba, hay phương diện sáng tạo, là hiển nhiên.

They are learning to work intelligently with matter in order to develop love in response to divine purpose—which is will or life.

Họ đang học cách làm việc một cách thông minh với vật chất để phát triển tình thương trong sự đáp ứng với Thiên Ý—vốn là ý chí hay sự sống.

109. The implication is that the correct way to respond to divine purpose (will or life) is through love.

109. Hàm ý là cách đúng đắn để đáp ứng với Thiên Ý, tức ý chí hay sự sống, là qua tình thương.

Each of the seven types, responsive to one or [Page 151] other of the seven rays, is conditioned or ruled by its prototype, the soul on its own plane.

Mỗi loại trong bảy loại, đáp ứng với một hay [Trang 151] một cung nào khác trong bảy cung, đều được tác động hay cai quản bởi nguyên mẫu của nó, tức linh hồn trên cõi riêng của mình.

110. The soul according to its ray is considered a prototype of one of the types of men.

110. Linh hồn, tùy theo cung của nó, được xem là một nguyên mẫu của một trong các loại người.

111. The inference is that each rootrace also has its ray-conditioned soul.

111. Suy luận ở đây là mỗi giống dân gốc cũng có linh hồn được tác động bởi cung riêng của nó.

These major types or races of men have many subraces and subsidiary types, developed during the evolutionary process; all will eventually demonstrate the seven major types.

Những loại chính yếu hay các giống dân chính yếu này của con người có nhiều giống dân phụ và các loại phụ thuộc, được phát triển trong tiến trình tiến hoá; tất cả cuối cùng sẽ biểu lộ bảy loại chính yếu.

112. Each of the rootraces, subraces, branch-races etc., is actually a ray demonstration.

112. Mỗi giống dân gốc, giống dân phụ, giống dân nhánh, v.v., thật ra là một biểu lộ của cung.

113. We are considering with this statement the fact that the second ray is the synthesis of all seven, including a second subray.

113. Với phát biểu này, chúng ta đang xem xét sự kiện rằng cung hai là sự tổng hợp của cả bảy cung, bao gồm cả một cung phụ thứ hai.

114. Returning specifically to Rule VIII, and after discussing the “greater seven” and the “planetary seven” we come to “the lesser seven…the seven types of men and also the seven root races.” I have put (in red italics) the important conjunction which reveals that this discussion of the “lesser seven” included two categories: the seven root races and the seven ray types of men.

114. Trở lại một cách cụ thể với Quy luật VIII, và sau khi bàn về “bảy lớn hơn” và “bảy hành tinh”, chúng ta đi đến “bảy nhỏ hơn…bảy loại người và cũng bảy giống dân gốc.” Tôi đã đặt, bằng chữ nghiêng màu đỏ, liên từ quan trọng cho thấy cuộc bàn luận này về “bảy nhỏ hơn” bao gồm hai hạng mục: bảy giống dân gốc bảy loại người theo cung.

115. It is important to realize that the seven rootraces do not manifest simultaneously, but the seven types of men (presumably, ray types) do manifest simultaneously (at least once human evolution has progressed to a certain developmental stage). If this distinction is not kept clear, then, many enigmas will appear in this section.

115. Điều quan trọng là nhận ra rằng bảy giống dân gốc không biểu hiện đồng thời, nhưng bảy loại người, có lẽ là các loại cung, thì có biểu hiện đồng thời, ít nhất khi sự tiến hoá của nhân loại đã tiến đến một giai đoạn phát triển nhất định. Nếu sự phân biệt này không được giữ rõ, thì nhiều điều bí ẩn sẽ xuất hiện trong phần này.

116. We are, nevertheless, presented with an enigmatical sentence: “all (all what) will eventually demonstrate the seven major types.”

116. Tuy nhiên, chúng ta được đặt trước một câu khó hiểu: “tất cả (tất cả cái gì) cuối cùng sẽ biểu lộ bảy loại chính yếu.”

117. The section seems to say that each one of the seven types of men has a prototypical soul. It seems that through every soul type, all of the other six types will manifest as subsidiary types. I do not see how the Tibetan can be talking about rootraces and still use the word “eventually” for some rootraces are gone never to return.

117. Phần này dường như nói rằng mỗi một trong bảy loại người đều có một linh hồn nguyên mẫu. Dường như qua mỗi loại linh hồn, tất cả sáu loại kia sẽ biểu hiện như các loại phụ thuộc. Tôi không thấy làm thế nào Chân sư Tây Tạng có thể đang nói về các giống dân gốc mà vẫn dùng chữ “cuối cùng”, vì một số giống dân gốc đã qua đi và sẽ không bao giờ trở lại.

118. For practical purposes, I think we should consider the seven types of men as soul ray groupings, with their full complement of subrays relating to all the other soul ray groupings.

118. Vì mục đích thực tiễn, tôi nghĩ chúng ta nên xem bảy loại người như các nhóm theo cung linh hồn, với đầy đủ các cung phụ của chúng liên hệ với tất cả những nhóm theo cung linh hồn khác.

119. We are not so much considering the soul on its own plane (which relates more to the “greater seven” as we are the soul-in-incarnation, or soul expressing itself through matter form.

119. Chúng ta không hẳn đang xem xét linh hồn trên cõi riêng của nó, vốn liên hệ nhiều hơn với “bảy lớn hơn”, cho bằng linh hồn đang nhập thể, hay linh hồn biểu hiện chính mình qua hình tướng vật chất.

120. Still it is not correct, I think, to imagine that humanity should be grouped only according to personality ray. Such personality groupings would be fleeting, evanescent–no abiding groupings. Human beings are much better aggregated according to soul ray than according to personality ray.

120. Tuy vậy, tôi nghĩ sẽ không đúng khi hình dung rằng nhân loại chỉ nên được nhóm lại theo cung phàm ngã. Những nhóm phàm ngã như vậy sẽ thoáng qua, phù du—không phải những nhóm bền vững. Con người được quy tụ theo cung linh hồn thì thích hợp hơn nhiều so với theo cung phàm ngã.

121. As we study this section, what we want to have in mind is all the septenates through which energy transmission must make its way.

121. Khi nghiên cứu phần này, điều chúng ta muốn ghi nhớ là tất cả các thất phân mà qua đó sự truyền năng lượng phải tìm đường đi.

The perfect type is the Christ, the Heavenly Man, Who expresses all the major types and Who is the “pattern of things as they are.”

Loại hình hoàn hảo là Đức Christ, Đấng Thiên Nhân, Đấng biểu hiện tất cả các loại chính yếu và là “mô hình của vạn vật đúng như chúng hiện hữu”.

122. Notice that the Christ here is equated with the Heavenly Man. The term “Heavenly Man” (when used in a specialized way) often refers to the Christ aspect or soul aspect of a Planetary Logos. The second ray is, in our system, the synthetic ray, and includes all the other types, just as the color indigo subsumes all the other colors.

122. Hãy lưu ý rằng ở đây Đức Christ được đồng nhất với Đấng Thiên Nhân. Thuật ngữ “Đấng Thiên Nhân”, khi được dùng theo nghĩa chuyên biệt, thường chỉ phương diện Christ hay phương diện linh hồn của một Hành Tinh Thượng đế. Trong hệ của chúng ta, cung hai là cung tổng hợp, và bao gồm tất cả các loại khác, cũng như màu chàm bao hàm tất cả các màu khác.

123. The Christ is the summation of all the ray types of men and of all the rootrace types which humanity has produced. He is completed and perfected. He has become the Archetypal Man.

123. Đức Christ là sự tổng kết của tất cả các loại người theo cung và của tất cả các loại giống dân gốc mà nhân loại đã sản sinh. Ngài đã được hoàn tất và hoàn thiện. Ngài đã trở thành Con Người Nguyên Mẫu.

4. The supplementary seven…the seven centres of energy in the individual man.

4. Bảy bổ sung…bảy trung tâm năng lượng trong con người cá biệt.

124. We now deal with the chakric system of the individual man.

124. Giờ đây chúng ta bàn đến hệ thống luân xa của con người cá biệt.

HUMANITY

NHÂN LOẠI

125. We note that this fourth description also pertains to humanity, just as did the third.

125. Chúng ta lưu ý rằng mô tả thứ tư này cũng liên quan đến nhân loại, cũng như mô tả thứ ba.

These together embody the combined forces of the planetary life as registered by the perfected individual. They will eventually enable the man to achieve perfection.

Những điều này cùng nhau thể hiện các mãnh lực phối hợp của sự sống hành tinh như được ghi nhận bởi cá nhân đã hoàn thiện. Cuối cùng chúng sẽ giúp con người đạt đến sự hoàn thiện.

126. When the chakric system is perfected the man is perfected. The chakras are doorways to higher dimensions on which a man must learn to function in order to reach what, from the human angle, is considered perfection.

126. Khi hệ thống luân xa được hoàn thiện, con người được hoàn thiện. Các luân xa là những cửa ngõ dẫn đến các chiều kích cao hơn, nơi con người phải học cách hoạt động để đạt tới điều mà, từ góc độ nhân loại, được xem là sự hoàn thiện.

They enable the individual to respond to material forces, to soul energy and spiritual life, and they constitute a complete response apparatus to the planetary life, purpose, intent and form.

Chúng giúp cá nhân đáp ứng với các mãnh lực vật chất, với năng lượng linh hồn và sự sống tinh thần, và chúng cấu thành một bộ máy đáp ứng hoàn chỉnh đối với sự sống, mục đích, ý định và hình tướng hành tinh.

127. Through the chakras, all planetary domains can be reached.

127. Qua các luân xa, mọi lĩnh vực hành tinh đều có thể được tiếp cận.

Each of the seven centres is responsive to one or other of the seven rays and their qualities under the conditioning energy of the soul ray and the forces, emanating from the environment.

Mỗi một trong bảy trung tâm đều đáp ứng với một hay một cung nào khác trong bảy cung và các phẩm tính của chúng, dưới năng lượng tác động của cung linh hồn và các mãnh lực xuất lộ từ môi trường.

128. We are told that in the future each chakra will “eventually express in some measure the seven types of ray energy.” This will occur, presumably, when the human being is fully developed. For now, each chakra responds to three influences; 1) one or other of the seven rays, 2) the soul ray of the individual, and 3) the forces emanating from the environment.

128. Chúng ta được cho biết rằng trong tương lai mỗi luân xa sẽ “cuối cùng biểu hiện ở một mức độ nào đó bảy loại năng lượng cung.” Điều này có lẽ sẽ xảy ra khi con người đã được phát triển đầy đủ. Hiện nay, mỗi luân xa đáp ứng với ba ảnh hưởng: 1) một hay một cung nào khác trong bảy cung, 2) cung linh hồn của cá nhân, và 3) các mãnh lực xuất lộ từ môi trường.

129. We must also remember that each chakras is threefold, reflective of the three aspects of divinity.

129. Chúng ta cũng phải nhớ rằng mỗi luân xa là tam phân, phản ánh ba phương diện của thiên tính.

These centres develop progressively and under the impact of circumstances and the Law of the Supplementary Seven, but all will eventually express in some measure the seven types of ray energy.

Các trung tâm này phát triển dần dần và dưới tác động của hoàn cảnh cùng Định luật về Bảy Bổ Sung, nhưng cuối cùng tất cả sẽ biểu hiện ở một mức độ nào đó bảy loại năng lượng cung.

130. This Law of the Supplementary Seven must necessarily carry developmental energy into the chakras from high places. We shall find it directly associated with the will aspect.

130. Định luật về Bảy Bổ Sung này tất yếu phải đưa năng lượng phát triển vào các luân xa từ những nơi cao. Chúng ta sẽ thấy nó liên hệ trực tiếp với phương diện ý chí.

131. If the chakras all are to express each and all of the seven types of ray energy, they will also necessarily express some aspect of the planetary Deities allied with the seven ray energies.

131. Nếu tất cả các luân xa đều phải biểu hiện từng loại và toàn bộ bảy loại năng lượng cung, thì chúng cũng tất yếu sẽ biểu hiện một phương diện nào đó của các Thượng đế Hành Tinh liên kết với bảy năng lượng cung.

132. We note the important qualifier related to the expression of ray energy—“in some measure”. Each chakra is principally the expression of one ray energy, but the factor of subrays is most interesting and must be taken into account to have a truer picture of the functioning of the chakra in question.

132. Chúng ta lưu ý yếu tố định tính quan trọng liên quan đến sự biểu hiện của năng lượng cung—“ở một mức độ nào đó”. Mỗi luân xa chủ yếu là sự biểu hiện của một năng lượng cung, nhưng yếu tố các cung phụ thì rất thú vị và phải được xét đến để có một bức tranh chân thật hơn về hoạt động của luân xa đang được bàn đến.

Part II of V

Phần II trong Năm Phần

Focus for the Third Month of Study on Rule(s) VIII

Trọng tâm cho Tháng Nghiên Cứu Thứ Ba về Quy luật VIII

(Underlining, Bolding and Highlighting, MDR)

Gạch dưới, in đậm và tô sáng, theo MDR

The Law of the Supplementary Seven can be worded as follows:

Định luật về Bảy Bổ Sung có thể được diễn đạt như sau:

1. The arcane words below will be fully developed as we proceed.

1. Những lời huyền nhiệm dưới đây sẽ được khai triển đầy đủ khi chúng ta tiếp tục.

“The Law demands the entrance of that which can effect a change.

“Định luật đòi hỏi sự đi vào của điều có thể tạo nên một sự thay đổi.

The Law demands that right direction should then guide the entering forces.

Định luật đòi hỏi rằng khi ấy hướng đi đúng phải dẫn dắt các mãnh lực đang đi vào.

The Law demands that the changes thus effected remove the form, bring quality to light and lay the emphasis upon life.

Định luật đòi hỏi rằng những thay đổi được tạo ra như vậy phải loại bỏ hình tướng, đưa phẩm tính ra ánh sáng và đặt trọng tâm lên sự sống.

[Page 152]

[Trang 152]

The Law demands that this is brought about by the One, working through the Three, energising the Seven and creating the straight line from there to here, and ending in a point which ignores the Three.”

Định luật đòi hỏi rằng điều này được thực hiện bởi Đấng Duy Nhất, làm việc qua Ba, truyền năng lượng cho Bảy và tạo ra đường thẳng từ đó đến đây, kết thúc ở một điểm vốn không để ý đến Ba.”

2. The Law of the Supplementary Seven is here given, though not yet interpreted. In essence it might be said that this law deals with the abstraction of the seven into the One, and, conversely, with the use of the seven by the One.

2. Định luật về Bảy Bổ Sung được đưa ra ở đây, dù chưa được giải thích. Về bản chất, có thể nói rằng định luật này đề cập đến sự rút trừ bảy vào trong Một, và ngược lại, đến việc Một sử dụng bảy.

3. Let us, however, allow these four phrases to percolate into our consciousness as we read what Master DK has to say about a number of preliminary matters.

3. Tuy nhiên, chúng ta hãy để bốn cụm từ này thấm dần vào tâm thức mình khi đọc những điều Chân sư DK nói về một số vấn đề sơ khởi.

4. In fact, He does not enter into a direct interpretation of these four phrases until the very end of the chapter on Rule VIII, so we shall have to discuss a number of other things first.

4. Thật ra, Ngài không đi vào việc giải thích trực tiếp bốn cụm từ này cho đến tận cuối chương về Quy luật VIII, vì vậy trước hết chúng ta sẽ phải bàn đến một số điều khác.

When, the rule goes on, this is understood and applied, then four things happen:

Khi, quy luật tiếp tục, điều này được thấu hiểu và áp dụng, bấy giờ bốn điều xảy ra:

5. Immediately below are listed four happenings or consequences (really requirements) which follow once it is realized that the three septenates (the lesser seven, the greater seven and the planetary seven) are realized as “one great whole” and the Law of the Supplementary Seven is understood (and, presumably, somewhat applied).

5. Ngay dưới đây là bốn biến cố hay hệ quả, thật ra là những yêu cầu, xảy đến một khi nhận ra rằng ba bộ bảy, tức bảy nhỏ hơn, bảy lớn hơn và bảy hành tinh, được nhận biết như “một toàn thể vĩ đại”, và Định luật của Bảy Bổ Sung được thấu hiểu, và có lẽ cũng được áp dụng phần nào.

1. The group must understand the nature of the Three.

1. Nhóm phải thấu hiểu bản chất của Ba.

2. The nature of the One must be grasped and comprehended.

2. Bản chất của Đấng Duy Nhất phải được nắm bắt và thấu hiểu.

3. The group must work through the medium of the united breath.

3. Nhóm phải hoạt động qua trung gian của hơi thở hợp nhất.

4. The group must attain a unified rhythm.

4. Nhóm phải đạt được một nhịp điệu thống nhất.

6. For immediate clarification of these four happenings or developments, please reference R&I 161.

6. Để làm sáng tỏ ngay bốn biến cố hay phát triển này, xin tham khảo R&I 161.

7. We are given a fourfold Rule which has four developments or consequences which follow upon group understanding of the Law of the Supplementary Seven and the realization of the wholeness of the three septenates. DK does not yet discuss the meaning of His four preliminary statements on the Rule itself. The four happenings or consequences (immediately above) are perhaps easier to understand.

7. Chúng ta được trao cho một Quy luật tứ phân, có bốn phát triển hay hệ quả theo sau sự thấu hiểu của nhóm về Định luật của Bảy Bổ Sung và sự nhận biết tính toàn vẹn của ba bộ bảy. Chân sư DK chưa bàn đến ý nghĩa của bốn phát biểu sơ bộ của Ngài về chính Quy luật ấy. Bốn biến cố hay hệ quả vừa nêu ở trên có lẽ dễ thấu hiểu hơn.

8. These four happenings or consequences of understanding the law will be discussed before a direct analysis of the four statements by means of which DK ‘worded’ the Law of the Supplementary Seven.

8. Bốn biến cố hay hệ quả của việc thấu hiểu định luật này sẽ được bàn đến trước khi phân tích trực tiếp bốn phát biểu mà qua đó Chân sư DK đã “diễn đạt” Định luật của Bảy Bổ Sung.

9. These four results are directly related to the following sentences found in the Rule itself: “When this is realized and the Law of the Supplementary Seven is understood, let the group understand the Three and then the ONE. This they can do with the united breath and unified rhythm.”

9. Bốn kết quả này liên hệ trực tiếp với những câu sau đây trong chính Quy luật: “Khi điều này được nhận ra và Định luật của Bảy Bổ Sung được thấu hiểu, hãy để nhóm thấu hiểu Ba và rồi Đấng Duy Nhất. Họ có thể làm điều này bằng hơi thở hợp nhất và nhịp điệu thống nhất.”

Here you have a relatively simple analysis (on the face of it, though not in reality) of a complex rule which the initiate has to apply to himself once he has grasped the significance of the seven basic postulates.

Ở đây các bạn có một phân tích tương đối đơn giản, xét bề ngoài chứ không phải trong thực tế, về một quy luật phức tạp mà điểm đạo đồ phải áp dụng cho chính mình một khi y đã nắm bắt được thâm nghĩa của bảy định đề căn bản.

10. DK is simplifying for us. The four initial statements embodying the Law of the Supplementary Seven are very occult and abstruse; the four happenings or consequences given are a relatively simple analysis.

10. Chân sư DK đang giản lược cho chúng ta. Bốn phát biểu mở đầu, vốn hàm chứa Định luật của Bảy Bổ Sung, rất huyền bí và khó hiểu; bốn biến cố hay hệ quả được đưa ra là một phân tích tương đối đơn giản.

11. The Tibetan speaks of “seven basic postulates” which are, it would seem, related to the first seven Rules.

11. Chân sư Tây Tạng nói đến “bảy định đề căn bản”, dường như liên hệ với bảy Quy luật đầu tiên.

The first seven rules provide the framework within which his work has to be done. The last seven rules concern various significant matters which, step by step, are revealed to the initiate as his consciousness is expanded.

Bảy quy luật đầu tiên cung cấp khuôn khổ trong đó công việc của y phải được thực hiện. Bảy quy luật sau cùng liên quan đến nhiều vấn đề quan trọng khác nhau, từng bước một, được mặc khải cho điểm đạo đồ khi tâm thức của y được mở rộng.

12. Another distinction is given between the first seven and last seven Rules.

12. Một sự phân biệt khác được nêu ra giữa bảy Quy luật đầu tiên và bảy Quy luật sau cùng.

13. The first seven Rules provide the framework for all the work.

13. Bảy Quy luật đầu tiên cung cấp khuôn khổ cho toàn bộ công việc.

14. The last seven Rules concern significant revelations which come to the initiate as his consciousness is expanded.

14. Bảy Quy luật sau cùng liên quan đến những mặc khải quan trọng đến với điểm đạo đồ khi tâm thức của y được mở rộng.

15. At the very outset of this section in the chapter on Rule VIII, DK has given us many factors to consider:

15. Ngay từ khởi đầu của phần này trong chương về Quy luật VIII, Chân sư DK đã trao cho chúng ta nhiều yếu tố để xem xét:

a. Four statements to present the nature of the Law of the Supplementary Seven.

a. Bốn phát biểu trình bày bản chất của Định luật của Bảy Bổ Sung.

b. Four sentences stating group requirements which are fulfilled as the group comes to understand the Law of the Supplementary Seven.

b. Bốn câu nêu rõ các yêu cầu của nhóm, được hoàn thành khi nhóm đi đến chỗ thấu hiểu Định luật của Bảy Bổ Sung.

c. A review of the first seven Rules considering them as a framework within which work has to be done.

c. Một sự ôn xét bảy Quy luật đầu tiên, xem chúng như một khuôn khổ trong đó công việc phải được thực hiện.

d. An allusion to the last seven Rules considering them in terms of revelation.

d. Một ám chỉ đến bảy Quy luật sau cùng, xét chúng theo phương diện mặc khải.

e. That makes twenty-two factors which have been referenced at the outset.

e. Như vậy có hai mươi hai yếu tố đã được viện dẫn ngay từ đầu.

16. We can see that in this Rules we shall begin to make a significant synthesis of related Rules, requirements and results.

16. Chúng ta có thể thấy rằng trong Quy luật này, chúng ta sẽ bắt đầu tạo nên một sự tổng hợp quan trọng giữa các Quy luật, các yêu cầu và các kết quả có liên hệ với nhau.

They relate to:

Chúng liên hệ đến:

17. DK tells us something about the nature of the revelations experienced by the initiate as the last seven Rules are studied and lived.

17. Chân sư DK nói cho chúng ta điều gì đó về bản chất của những mặc khải mà điểm đạo đồ trải nghiệm khi bảy Quy luật sau cùng được nghiên cứu và sống theo.

1. The work which the initiate must accomplish within himself.

1. Công việc mà điểm đạo đồ phải hoàn tất bên trong chính mình.

18. Every initiate is a great worker—firstly, upon himself, in order to perfect the instrument through which he seeks to serve the world.

18. Mỗi điểm đạo đồ là một người hoạt động vĩ đại — trước hết là trên chính mình, nhằm hoàn thiện khí cụ qua đó y tìm cách phụng sự thế gian.

2. The group relations of the initiate and his absolute need to work with his group and as an integrated and conscious part of it.

2. Các mối quan hệ nhóm của điểm đạo đồ và nhu cầu tuyệt đối của y phải làm việc với nhóm của mình, và như một phần tích hợp, có ý thức của nhóm ấy.

19. Initiates of the Great White Lodge are group conscious; they are souls and the soul is always group conscious.

19. Các điểm đạo đồ của Thánh đoàn có tâm thức nhóm; họ là những linh hồn, và linh hồn thì luôn có tâm thức nhóm.

3. The place which invocation and evocation must take as instruments in his pledged intelligent service.

3. Vị trí mà Khẩn Cầu và Gợi Lên phải đảm nhận như những khí cụ trong sự phụng sự thông minh đã cam kết của y.

20. Here is described the initiate’s means of access to the higher worlds, and the means of his effectiveness in applying those energies to the lower worlds.

20. Ở đây mô tả phương tiện giúp điểm đạo đồ tiếp cận các thế giới cao hơn, và phương tiện giúp y hữu hiệu trong việc áp dụng những năng lượng ấy vào các thế giới thấp hơn.

4. The blending of the four lessons which the applicant has to master and the four lessons which the initiate has to complete in order that a complete fusion of personality and Monad can be brought about.

4. Sự hòa trộn của bốn bài học mà ứng viên phải làm chủ và bốn bài học mà điểm đạo đồ phải hoàn tất, để có thể đem lại một sự dung hợp trọn vẹn giữa phàm ngã và chân thần.

21. This is an abstruse subject into which we will attempt to enter—somewhat.

21. Đây là một chủ đề khó hiểu mà chúng ta sẽ cố gắng đi vào, phần nào.

5. The significance of resurrection and ascension, particularly the latter, because little has been given out to date anent ascension.

5. Thâm nghĩa của phục sinh và thăng thiên, đặc biệt là thăng thiên, vì cho đến nay rất ít điều đã được công bố về thăng thiên.

22. DK is here speaking of the sixth initiation—the true Ascension.

22. Ở đây Chân sư DK đang nói về lần điểm đạo thứ sáu — cuộc Thăng Thiên đích thực.

23. We begin by focussing on page 152. We are going to relate some ‘fours’. There are two references on this page which involve the four. The first reference is to four things that happen once the union of the three septenates (the lesser seven, the greater seven and the planetary seven) as “one great whole” is realized and the Law of the Supplementary Seven is understood: Namely—

23. Chúng ta bắt đầu bằng cách tập trung vào trang 152. Chúng ta sẽ liên hệ một số “bộ bốn”. Trên trang này có hai chỗ tham chiếu liên quan đến bốn. Chỗ tham chiếu thứ nhất nói đến bốn điều xảy ra một khi sự hợp nhất của ba bộ bảy, tức bảy nhỏ hơn, bảy lớn hơn và bảy hành tinh, như “một toàn thể vĩ đại”, được nhận ra, và Định luật của Bảy Bổ Sung được thấu hiểu: tức là—

1. The group must understand the nature of the Three.

1. Nhóm phải thấu hiểu bản chất của Ba.

2. The nature of the One must be grasped and comprehended.

2. Bản chất của Đấng Duy Nhất phải được nắm bắt và thấu hiểu.

3. The group must work through the medium of the united breath.

3. Nhóm phải hoạt động qua trung gian của hơi thở hợp nhất.

4. The group must attain a unified rhythm.

4. Nhóm phải đạt được một nhịp điệu thống nhất.

24. The second reference to four found on this page is to

24. Chỗ tham chiếu thứ hai đến bốn được thấy trên trang này là

“The blending of the four lessons which the applicant has to master and the four lessons which the initiate has to complete in order that a complete fusion of personality and Monad can be brought about.”

“Sự hòa trộn của bốn bài học mà ứng viên phải làm chủ và bốn bài học mà điểm đạo đồ phải hoàn tất, để có thể đem lại một sự dung hợp trọn vẹn giữa phàm ngã và chân thần.”

25. The main references to these four lessons are to be found in Rule XIII for both Applicants the Disciples/Initiates.

25. Những tham chiếu chính đến bốn bài học này được tìm thấy trong Quy luật XIII, cho cả các Ứng viên lẫn các Đệ tử/Điểm đạo đồ.

26. As a general comment before getting into more detail, this Eighth Rule is complex and difficult, abstruse to say the least. The Tibetan at one point says that it is difficult for him to explain it to those who have not the initiate consciousness—presumably the third degree or, better, beyond. So we must do the best we can with what we have.

26. Như một nhận xét tổng quát trước khi đi vào chi tiết hơn, Quy luật thứ Tám này phức tạp và khó khăn, nói nhẹ nhất là khó hiểu. Chân sư Tây Tạng có lúc nói rằng Ngài khó giải thích nó cho những ai chưa có tâm thức điểm đạo đồ — có lẽ là lần điểm đạo thứ ba, hoặc tốt hơn là vượt hơn nữa. Vì vậy, chúng ta phải làm hết sức có thể với những gì mình có.

A. Elaboration on the Four Lessons

A. Khai triển về Bốn Bài học

25. A fivefold description of the revelation pertaining to the last seven Rules is listed on p. 152. The list is not arranged in such a way as there is one point per Rule. As a matter of fact, the first point, in my estimation, covers four rules

25. Một mô tả ngũ phân về sự mặc khải liên quan đến bảy Quy luật sau cùng được liệt kê ở trang 152. Danh sách này không được sắp xếp theo cách mỗi điểm ứng với một Quy luật. Thật ra, theo nhận định của tôi, điểm thứ nhất bao quát bốn quy luật

a. (Rules 8, 9, 10, 11) The work which the initiate must accomplish within himself.

a. (Quy luật 8, 9, 10, 11) Công việc mà điểm đạo đồ phải hoàn tất bên trong chính mình.

b. (Rules 8, 9 10, 11 and 12) The group relations of the initiate and his absolute need to work with his group and as an integrated and conscious part of it.

b. (Quy luật 8, 9, 10, 11 và 12) Các mối quan hệ nhóm của điểm đạo đồ và nhu cầu tuyệt đối của y phải làm việc với nhóm của mình, và như một phần tích hợp, có ý thức của nhóm ấy.

c. (Rule 12 The place which invocation and evocation must take as instruments in his pledged intelligent service.

c. (Quy luật 12 Vị trí mà Khẩn Cầu và Gợi Lên phải đảm nhận như những khí cụ trong sự phụng sự thông minh đã cam kết của y.

d. (Rule 13) The blending of the four lessons which the applicant has to master and the four lessons which the initiate has to complete in order that a complete fusion of personality and Monad can be brought about.

d. (Quy luật 13) Sự hòa trộn của bốn bài học mà ứng viên phải làm chủ và bốn bài học mà điểm đạo đồ phải hoàn tất, để có thể đem lại một sự dung hợp trọn vẹn giữa phàm ngã và chân thần.

e. (Rule 14) The significance of resurrection and ascension, particularly the latter, because little has been given out to date anent ascension.

e. (Quy luật 14) Thâm nghĩa của phục sinh và thăng thiên, đặc biệt là thăng thiên, vì cho đến nay rất ít điều đã được công bố về thăng thiên.

26. If we get into these five points, we will be entering the study of the last seven Rules, which is, I think, premature. Still, it does not hurt to touch upon a few of these points.

26. Nếu đi vào năm điểm này, chúng ta sẽ bước vào việc nghiên cứu bảy Quy luật sau cùng, điều mà tôi nghĩ là còn quá sớm. Tuy vậy, cũng không hại gì khi chạm đến một vài điểm trong số đó.

27. In some ways there are overlaps, as there are lessons within Rules VIII, IX, X, and XI which do pertain to the “group relations of the initiate”.

27. Theo một vài phương diện có những chỗ trùng lặp, vì trong các Quy luật VIII, IX, X và XI có những bài học quả thật liên quan đến “các mối quan hệ nhóm của điểm đạo đồ”.

28. The understanding and following of Rule VIII helps the initiate relate his supplementary sevenfold chakric system to the ashramic septenate (the “greater seven”), the planetary septenate (“the planetary seven” who are the Seven Spirits before the Throne—i.e., our planetary Ray Lords), the three great centers (Shamballa, Hierarchy and Humanity) and the “One” (Sanat Kumara, on a lower level and, ideally and later, the One Who synthesizes our Planetary Logoi and two other such Logoi) but this is not possible except to “high initiates”—i.e., those above the fifth degree).

28. Việc thấu hiểu và tuân theo Quy luật VIII giúp điểm đạo đồ liên hệ hệ thống luân xa thất phân bổ sung của mình với bộ bảy ashram, tức “bảy lớn hơn”, bộ bảy hành tinh, tức “bảy hành tinh”, là Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai — nghĩa là các Đấng Chúa Tể Cung hành tinh của chúng ta — ba trung tâm lớn, là Shamballa, Thánh đoàn và Nhân loại, và “Đấng Duy Nhất”, tức Đức Sanat Kumara ở một cấp độ thấp hơn, và về mặt lý tưởng cũng như về sau, Đấng tổng hợp Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta cùng hai Thượng đế tương tự khác; nhưng điều này chỉ có thể đối với “các điểm đạo đồ cao cấp”, nghĩa là những vị trên lần điểm đạo thứ năm.

29. The Tibetan gives the harvest of Rule VIII on p. 226 calling it: “The stage of responding to the higher aspects of the seven Ray Lives and establishing contact with the Three and the ONE. This is done under the Law of the Supplementary Seven.”

29. Chân sư Tây Tạng nêu thành quả của Quy luật VIII ở trang 226, gọi đó là: “Giai đoạn đáp ứng với các phương diện cao hơn của bảy Sự Sống Cung và thiết lập tiếp xúc với Ba và Đấng Duy Nhất. Điều này được thực hiện dưới Định luật của Bảy Bổ Sung.”

30. The understanding and following of Rule IX helps the initiate to negate differentiation and form (“hiding all difference, blotting out all form”). The advanced illusions of color perception and even the perception of light are significantly overcome. The initiate comes into “face to face” contact with the One Initiator (presumably at the fifth degree, to which point the significance of this Rule extends).

30. Việc thấu hiểu và tuân theo Quy luật IX giúp điểm đạo đồ phủ định sự biến phân và hình tướng, “che giấu mọi khác biệt, xóa mờ mọi hình tướng”. Những ảo tưởng cao cấp về nhận thức màu sắc, và ngay cả nhận thức về ánh sáng, được vượt qua một cách đáng kể. Điểm đạo đồ đi vào tiếp xúc “mặt đối mặt” với Đấng Điểm Đạo Duy Nhất, có lẽ ở lần điểm đạo thứ năm, là điểm mà thâm nghĩa của Quy luật này vươn tới.

31. The Tibetan gives the harvest of Rule IX on p. 226 calling it: “The stage of spiritual negation, as it is called. This establishes a new affirmative attitude and results in a recognition of the true nature of the One Initiator.”

31. Chân sư Tây Tạng nêu thành quả của Quy luật IX ở trang 226, gọi đó là: “Giai đoạn của sự phủ định tinh thần, như nó được gọi. Điều này thiết lập một thái độ khẳng định mới và đưa đến sự nhận biết bản chất đích thực của Đấng Điểm Đạo Duy Nhất.”

32. The understanding and following of Rule X helps the initiate become an effective worker in the destruction of the World Maya. These are advanced magical techniques which are important weapons in the conflict with the Black Lodge.

32. Việc thấu hiểu và tuân theo Quy luật X giúp điểm đạo đồ trở thành một người hoạt động hữu hiệu trong việc phá hủy Ảo lực Thế Giới. Đây là những kỹ thuật huyền thuật cao cấp, là các vũ khí quan trọng trong cuộc xung đột với Hắc đoàn.

33. The Tibetan gives the harvest of Rule X on p. 226 calling it: “The stage of the dissipation of all veils and the establishing of the power to work with light energy, thus earning the reward of new utilised ability, i.e., the ability to work with the consciousness aspect in all forms.”

33. Chân sư Tây Tạng nêu thành quả của Quy luật X ở trang 226, gọi đó là: “Giai đoạn làm tiêu tan mọi bức màn và thiết lập quyền năng làm việc với năng lượng ánh sáng, nhờ đó đạt phần thưởng là một năng lực mới được sử dụng, tức là năng lực làm việc với phương diện tâm thức trong mọi hình tướng.”

34. The understanding and following of Rule XI helps the initiate and the initiate group to shatter the individual and group causal body. The group becomes more than peripheral to the Ashram. In a way, such a group becomes a ‘sub-ashram’.

34. Việc thấu hiểu và tuân theo Quy luật XI giúp điểm đạo đồ và nhóm điểm đạo đồ phá vỡ thể nguyên nhân cá nhân và thể nguyên nhân nhóm. Nhóm trở thành hơn cả một yếu tố ở ngoại vi của Ashram. Theo một cách nào đó, một nhóm như thế trở thành một “tiểu ashram”.

35. The Tibetan gives the harvest of Rule XI on p. 226-227 calling it: “The stage where the potencies of the death aspect of divine purpose can be used to carry out divine purpose, plus the establishing of complete identification (as a group) with the divine will. This marks the period of the Great Renunciation and prefaces the complete transition out of the Fourth Creative Hierarchy, the human kingdom.”

35. Chân sư Tây Tạng nêu thành quả của Quy luật XI ở trang 226-227, gọi đó là: “Giai đoạn trong đó các tiềm lực của phương diện sự chết thuộc Thiên Ý có thể được sử dụng để thực hiện Thiên Ý, cộng với việc thiết lập sự đồng hóa trọn vẹn, với tư cách một nhóm, với Ý Chí thiêng liêng. Điều này đánh dấu thời kỳ của Đại Từ Bỏ và mở đầu cho sự chuyển tiếp hoàn toàn ra khỏi Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, tức giới nhân loại.”

36. Although the first of the five sentences (point “a.”) refers to work which the initiate must accomplish within himself, it is clear that the Fourteen Rules for Disciples and Initiates are all Rules for group accomplishment. Throughout Rules VIII, IX, X, and XI, that which the group must do is constantly referenced. The initiate may become individually equipped through carrying out these Rules (in the company of his group), but, as I see it, the group implications remain stronger than the individual implications.

36. Mặc dù câu thứ nhất trong năm câu, điểm “a.”, nói đến công việc mà điểm đạo đồ phải hoàn tất bên trong chính mình, rõ ràng Mười Bốn Quy luật dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ đều là những Quy luật dành cho thành tựu nhóm. Suốt các Quy luật VIII, IX, X và XI, điều mà nhóm phải làm luôn được nhắc đến. Điểm đạo đồ có thể được trang bị cá nhân qua việc thực hiện các Quy luật này, trong sự đồng hành với nhóm của y, nhưng theo tôi thấy, các hàm ý nhóm vẫn mạnh hơn các hàm ý cá nhân.

37. When we arrive at Rule XII, we are entirely within the realm of group relations. The group that is functioning is an Ashram or very nearly so. An Ashram could, indeed, utilize this Rule. Only an Ashram can really serve “as Aquarius indicates”, and let us remember that the sign which preeminently rules the Hierarchy is Aquarius.

37. Khi đến Quy luật XII, chúng ta hoàn toàn ở trong lĩnh vực các mối quan hệ nhóm. Nhóm đang vận hành là một Ashram, hoặc gần như vậy. Quả thật, một Ashram có thể sử dụng Quy luật này. Chỉ một Ashram mới thật sự có thể phụng sự “như Bảo Bình chỉ ra”, và chúng ta hãy nhớ rằng dấu hiệu chi phối Thánh đoàn một cách nổi bật nhất là Bảo Bình.

38. In Rules XII the Ashram is ascending along its antahkarana towards Shamballa. The Buddha (Who is symbolically Mercury—a planet named “Buddha” in Sanskrit—EA 659) is the intermediary between Shamballa and Hierarchy, so when it is said, “let Mercury speed the group upon the upward way” that upward way leads to Shamballa.

38. Trong Quy luật XII, Ashram đang đi lên dọc theo antahkarana của nó hướng về Shamballa. Đức Phật, Đấng về mặt biểu tượng là Sao Thủy — một hành tinh được gọi là “Phật” trong tiếng Phạn — EA 659, là trung gian giữa Shamballa và Thánh đoàn; vì vậy, khi nói “hãy để Sao Thủy thúc đẩy nhóm trên con đường đi lên”, con đường đi lên ấy dẫn đến Shamballa.

“Mercury is called the first of the celestial Gods, the God Hermes… to which God is attributed the invention of and the first initiation of men into Magic….Mercury is Budh, Wisdom, Enlightenment or `reawakening’ in the divine science.” (I. 513.) (EA 662-663)

“Sao Thủy được gọi là vị thứ nhất trong các vị Thần thiên giới, Thần Hermes… vị Thần được quy cho việc phát minh và lần điểm đạo đầu tiên của con người vào Huyền thuật…. Sao Thủy là Bồ đề, Minh triết, Giác ngộ hay ‘tái thức tỉnh’ trong khoa học thiêng liêng.” (I. 513.) (EA 662-663)

39. Rule XII is also closely related to invocation and evocation. Sentence three (of the five, i.e., point “c.”) speaks of “The place which invocation and evocation must take as instruments in his pledged intelligent service. “The ashramic group is invoking great planetary and constellational potencies and is applying these in order to ascend towards its next vibratory objective and to descend in service.

39. Quy luật XII cũng liên hệ mật thiết với Khẩn Cầu và Gợi Lên. Câu thứ ba, trong năm câu, tức điểm “c.”, nói về “Vị trí mà Khẩn Cầu và Gợi Lên phải đảm nhận như những khí cụ trong sự phụng sự thông minh đã cam kết của y. “Nhóm ashram đang khẩn cầu các tiềm lực hành tinh và chòm sao vĩ đại, và đang áp dụng chúng để đi lên hướng đến mục tiêu rung động kế tiếp của mình, rồi đi xuống trong phụng sự.

40. In Rule XII we have three constellational potencies representing Hierarchy (Aquarius), the New Group of World Servers (Taurus) and Humanity (Pisces) and Mercury to help establishing reciprocal relations between the three.

40. Trong Quy luật XII, chúng ta có ba tiềm lực chòm sao đại diện cho Thánh đoàn, là Bảo Bình, Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, là Kim Ngưu, và Nhân loại, là Song Ngư, cùng với Sao Thủy để giúp thiết lập các mối quan hệ tương hỗ giữa ba.

41. From another perspective, when we are told “and let Taurus bring illumination and the attainment of the Vision”, we must remember that not only is Taurus related to the New Group of World Servers, but to Shamballa as well—Wesak (in Taurus) being the high point of the spiritual year, when it is most possible for Hierarchy and affiliated groups to contact Shamballa together.

41. Từ một viễn cảnh khác, khi chúng ta được bảo rằng “hãy để Kim Ngưu đem lại sự soi sáng và sự đạt được Tầm Nhìn”, chúng ta phải nhớ rằng Kim Ngưu không chỉ liên hệ với Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, mà còn với Shamballa nữa — Wesak, trong Kim Ngưu, là đỉnh cao của năm tinh thần, khi Thánh đoàn và các nhóm liên kết có khả năng tiếp xúc Shamballa cùng nhau nhiều nhất.

42. Rule XII is necessarily numerologically correlated to the twelfth sign Pisces, and indeed, Pisces is mentioned. This Rule gives instructions for a ‘saving group’ (toiling under Pisces). Without too much stretch of the imagination, one can see Pisces related not only to Humanity (in need of redemption) but to the compassionate Hierarchy of Love and to Shamballa (with the Great Sacrifice {again Pisces} standing at the center of its Council Chamber).

42. Quy luật XII tất yếu tương ứng về số học với dấu hiệu thứ mười hai là Song Ngư, và quả thật, Song Ngư được nhắc đến. Quy luật này đưa ra những chỉ dẫn cho một “nhóm cứu độ”, lao tác dưới Song Ngư. Không cần vận dụng sự tưởng tượng quá xa, người ta có thể thấy Song Ngư không chỉ liên hệ với Nhân loại, đang cần được cứu chuộc, mà còn với Thánh đoàn từ bi của Bác ái và với Shamballa, nơi Đấng Đại Hy Sinh, một lần nữa là Song Ngư, đứng ở trung tâm Phòng Hội Đồng của Ngài.

43. Rule XIII is profound and we shall have to study it in depth. Sentence four speaks of “The blending of the four lessons which the applicant has to master and the four lessons which the initiate has to complete in order that a complete fusion of personality and Monad can be brought about.”

43. Quy luật XIII rất sâu sắc, và chúng ta sẽ phải nghiên cứu nó thật kỹ. Câu thứ tư nói về “Sự hòa trộn của bốn bài học mà ứng viên phải làm chủ và bốn bài học mà điểm đạo đồ phải hoàn tất, để có thể đem lại một sự dung hợp trọn vẹn giữa phàm ngã và chân thần.”

44. The four lessons are clearly articulated in Rule XIII for applicants. “Four things the disciple must learn and comprehend before he can be shown the inmost mystery”

44. Bốn bài học được trình bày rõ ràng trong Quy luật XIII dành cho các ứng viên. “Bốn điều đệ tử phải học và thấu hiểu trước khi y có thể được chỉ cho thấy bí nhiệm thâm sâu nhất”

a. “First the laws of that which radiates”. In my estimation, when radiation and magnetism are paired, radiation should be related to the assertive first ray and magnetism to the ingathering second ray. (That magnetism is to be related to the first ray, as elsewhere stated, is another consideration—cf. R&I 375).

a. “Trước hết là các định luật của điều phát xạ”. Theo nhận định của tôi, khi bức xạ và từ điện được ghép đôi, bức xạ nên được liên hệ với cung một khẳng định, và từ điện với cung hai quy tụ. Việc từ điện phải được liên hệ với cung một, như đã nêu ở nơi khác, là một vấn đề khác — xem R&I 375.

i. That which radiates is, I believe, the Monad. The entire pilgrimage of the human being descending and ascending through the five planes of human and super-human evolution is the result of monadic radiation.

i. Tôi tin rằng điều phát xạ chính là chân thần. Toàn bộ cuộc hành hương của con người, đi xuống và đi lên qua năm cõi của tiến hóa nhân loại và siêu nhân loại, là kết quả của bức xạ chân thần.

ii. The Law of Sacrifice would be one law of the Monad—a “Lord of persevering and ceaseless devotion” (EP I 48). Note that the Law of Sacrifice is considered the first Law of the Soul. In any series of laws, the first in the series has resonance with the Monad.

ii. Định luật Hy Sinh sẽ là một định luật của chân thần — một “Chúa Tể của lòng sùng tín kiên trì và không ngừng” (EP I 48). Hãy lưu ý rằng Định luật Hy Sinh được xem là Định luật thứ nhất của Linh hồn. Trong bất kỳ chuỗi định luật nào, định luật đầu tiên trong chuỗi đều cộng hưởng với chân thần.

iii. The Law of Synthesis would be another law of the Monad—really the paramount law of the Monad, and involved in “the forward progressive movement of the evolving Jiva.” (TCF 49) This law is the first of three cosmic laws including the Law of Attraction and the Law of Economy.

iii. Định luật Tổng Hợp sẽ là một định luật khác của chân thần — thật ra là định luật tối thượng của chân thần, và liên quan đến “chuyển động tiến tới, tiệm tiến của sinh linh đang tiến hóa.” (TCF 49) Định luật này là định luật thứ nhất trong ba định luật vũ trụ, bao gồm Định luật Hấp Dẫn và Định luật Tiết Kiệm.

iv. The Law of Vibration is the first of the Seven Systemic Laws. The Monad sets all into vibration according to its own pitch or measure. The monadic keynote (a vibratory phenomenon) resounds through all its projections and creations.

iv. Định luật Rung Động là định luật thứ nhất trong Bảy Định luật Hệ Thống. Chân thần đưa tất cả vào rung động theo cao độ hay thước đo riêng của nó. Chủ âm chân thần, một hiện tượng rung động, vang vọng qua mọi phóng chiếu và tạo tác của nó.

v. It is also reasonable to conclude that all the first four Systemic Laws have a monadic relation, for Shamballa can be understood as embodying the four cosmic ethers of the logoic, monadic, atmic and buddhi planes. The Ashrams of the majority of Masters are found upon the buddhic plane and are thus upon the periphery of Shamballa—for the outer fourth is the rind to the more essential three, just as the physical body, which is the fourth is the rind to mental, astral and etheric bodies.

v. Cũng hợp lý khi kết luận rằng tất cả bốn Định luật Hệ Thống đầu tiên đều có một liên hệ chân thần, vì Shamballa có thể được hiểu là hiện thân của bốn dĩ thái vũ trụ thuộc các cõi Thượng đế, chân thần, atma và Bồ đề. Các Ashram của đa số các Chân sư được tìm thấy trên cõi Bồ đề, và do đó ở trên ngoại vi của Shamballa — vì lớp thứ tư bên ngoài là vỏ của ba lớp thiết yếu hơn, cũng như thể xác, vốn là thể thứ tư, là lớp vỏ của các thể trí, thể cảm dục và thể dĩ thái.

vi. Thus, not only the Law of Vibration, but the Law of Cohesion (for the Monad is resident upon the plane of archetypal forms and is, itself, a Jupiterian or cohering factor); the Law of Disintegration (which frees the Monad of all sheaths from the atmic down); and the Law of Magnetic Control (which effects “the juncture of astro-animal man, and the descending Monad, using the spark of mind as the method of at-one-ment.” (TCF, 584)—all of these are important in the life of the Monad (understood as “that which radiates”).

vi. Như vậy, không chỉ Định luật Rung động, mà cả Định luật Cố Kết (vì chân thần trú ngụ trên cõi của các hình tướng nguyên mẫu và tự nó là một yếu tố thuộc Sao Mộc hay yếu tố cố kết); Định luật Phân rã (giải thoát chân thần khỏi mọi lớp vỏ từ cõi atma trở xuống); và Định luật Kiểm soát Từ tính (tạo nên “sự nối kết giữa người cảm dục-thú và chân thần đang giáng xuống, dùng tia lửa của trí tuệ làm phương pháp hợp nhất”). (TCF, 584)—tất cả những định luật này đều quan trọng trong đời sống của chân thần, được hiểu như “cái đang phát xạ”.

vii. Then, there is the “Law of Monadic Return” (TCF 1046-1054). This law is ultra-profound, and a consideration of it would lead us far away from Rule VIII. It is worthy of an entire presentation.’

vii. Kế đó, có “Định luật Trở Về của Chân Thần” (TCF 1046-1054). Định luật này vô cùng sâu xa, và việc xem xét nó sẽ đưa chúng ta đi rất xa khỏi Quy luật VIII. Nó xứng đáng có cả một phần trình bày riêng.

b. “The five meanings of magnetisation make the second”—i.e., the second lesson.

b. “Năm ý nghĩa của sự từ hóa tạo nên bài học thứ hai”—tức là bài học thứ hai.

i. We now move from the “Laws of that which radiates” (the Monad) into the realm of the soul.

i. Giờ đây chúng ta chuyển từ “Các Định luật của cái đang phát xạ” (chân thần) vào lĩnh vực của linh hồn.

ii. The soul is intimately connected with the number five, and, as we know, is found upon the fifth of the systemic planes.

ii. Linh hồn liên hệ mật thiết với con số năm, và, như chúng ta biết, được tìm thấy trên cõi thứ năm trong các cõi của hệ thống.

iii. The energy of magnetism, or that which draws all things into coherency, is intimate to soul life.

iii. Năng lượng của từ điện, hay cái lôi cuốn mọi sự vào trạng thái cố kết, rất mật thiết với đời sống linh hồn.

iv. I do not know enough new developments in physics to speculate here, but perhaps a review of the various forces which relate to the internal structure of the atom would correspond in some measure to these five. As I recall, however, there are only four such forces.

iv. Tôi không biết đủ về những phát triển mới trong vật lý học để suy đoán ở đây, nhưng có lẽ việc xem lại các mãnh lực khác nhau liên hệ đến cấu trúc nội tại của nguyên tử sẽ tương ứng phần nào với năm điều này. Tuy nhiên, theo tôi nhớ, chỉ có bốn mãnh lực như vậy.

v. Of interest in this regard is the fact that the Egoic Lotus (from certain perspectives of enumeration) can be considered fivefold.

v. Điều đáng quan tâm trong phương diện này là sự kiện Hoa Sen Chân Ngã, từ một vài góc độ liệt kê nhất định, có thể được xem là ngũ phân.

– One method of counting to five gives us, the knowledge tier of petals, the love tier, the sacrifice tier, the synthesis tier, and the jewel in the lotus, considered independently from the synthesis tier.

– Một phương pháp đếm đến năm cho chúng ta: tầng cánh hoa tri thức, tầng bác ái, tầng hi sinh, tầng tổng hợp, và viên ngọc trong hoa sen, được xét độc lập với tầng tổng hợp.

– Another mode of counting to five gives us the two lower permanent atoms plus the mental unit, the knowledge tier, the love tier, the sacrifice tier, and the synthesis tier and jewel considered as a unit (the point within the triangle)

– Một cách đếm khác đến năm cho chúng ta hai nguyên tử trường tồn thấp cộng với đơn vị hạ trí, tầng tri thức, tầng bác ái, tầng hi sinh, và tầng tổng hợp cùng viên ngọc được xem như một đơn vị, tức điểm bên trong tam giác.

– The five meanings of magnetization relate geometrically to the fivefold pyramid. Thus, to understand the personality and its four vehicles (splitting the etheric from the physical); or the soul and its four vehicles (personality, mind, sentient nature and etheric physical nature) is yet another pentad.

– Năm ý nghĩa của sự từ hóa liên hệ về mặt hình học với kim tự tháp ngũ phân. Do đó, việc thấu hiểu phàm ngã và bốn vận cụ của nó, tách thể dĩ thái khỏi thể xác; hoặc linh hồn và bốn vận cụ của nó, gồm phàm ngã, thể trí, bản chất cảm thọ và bản chất dĩ thái-hồng trần, lại là một bộ năm khác.

vi. I do believe that the “five meanings of magnetization” must relate to five spheres of manifestation in which the Law of Magnetism is operative. For the purposes of this Rule, it seems to me wisest to concentrate upon the sphere of the Egoic Lotus, and the kinds of energies which it magnetically holds in coherency.

vi. Tôi thật sự tin rằng “năm ý nghĩa của sự từ hóa” phải liên hệ đến năm khối cầu biểu hiện trong đó Định luật Từ Điện hoạt động. Đối với mục đích của Quy luật này, dường như điều khôn ngoan nhất là tập trung vào khối cầu của Hoa Sen Chân Ngã, và các loại năng lượng mà nó giữ lại trong trạng thái cố kết bằng từ lực.

vii. As the spiritual triad is considered the true soul, the five planes of human and superhuman evolution could be considered five spheres to which the five meanings of magnetization would relate. The potencies of the triad (anchored in its highest aspect on the fifth or atmic plane) could influence all the five Brahmic planes—atmic, buddhic, manasic, astral, etheric-physical.

vii. Vì Tam Nguyên Tinh Thần được xem là linh hồn chân thật, nên năm cõi của sự tiến hóa nhân loại và siêu nhân loại có thể được xem là năm khối cầu mà năm ý nghĩa của sự từ hóa liên hệ đến. Các quyền năng của Tam nguyên, được neo giữ ở phương diện cao nhất của nó trên cõi thứ năm hay cõi atma, có thể ảnh hưởng đến tất cả năm cõi Brahma—atma, Bồ đề, manas, cảm dục, dĩ thái-hồng trần.

c. “The third is transmutation of the secret lost of alchemy” (the third lesson)

c. “Bài học thứ ba là sự chuyển hoá bí mật đã thất truyền của thuật luyện kim”

i. We have now moved into the third aspect, and are addressing the life of the personality, whereas the first lesson referenced the Monad and the second lesson, the soul.

i. Giờ đây chúng ta đã chuyển vào phương diện thứ ba, và đang đề cập đến đời sống của phàm ngã, trong khi bài học thứ nhất quy chiếu đến chân thần và bài học thứ hai đến linh hồn.

ii. The personality, considered globally, is the “matter aspect” of the three periodical vehicles (Monad, Soul, Personality).

ii. Phàm ngã, xét một cách toàn thể, là “phương diện vật chất” của ba vận cụ chu kỳ: chân thần, linh hồn, phàm ngã.

iii. We might think of transmutation as the ‘vibratory upgrading’ of the various types of matter within the personality vehicles. It is one function of the alchemical work to raise the pitch of the various personality vehicles until they can vibrate in resonance with the higher energy centers (Soul and Monad) of the human energy system.

iii. Chúng ta có thể nghĩ về sự chuyển hoá như việc “nâng cấp rung động” của các loại vật chất khác nhau trong các vận cụ của phàm ngã. Một chức năng của công việc luyện kim là nâng cao âm vực của các vận cụ phàm ngã khác nhau cho đến khi chúng có thể rung động cộng hưởng với các trung tâm năng lượng cao hơn, tức linh hồn và chân thần, trong hệ thống năng lượng của con người.

d. “And lastly, the first letter of the Word which has been imparted, or the hidden name Egoic”

d. “Và sau cùng, mẫu tự đầu tiên của Linh từ đã được truyền đạt, hay danh xưng ẩn tàng của Chân Ngã”

i. Four things are required before the disciple can be shown the inmost mystery.

i. Bốn điều được đòi hỏi trước khi đệ tử có thể được chỉ cho thấy huyền nhiệm thâm sâu nhất.

ii. The inmost mystery relates not only to the Monad, but to that which lies at the heart of the Monad, and has reference to Sanat Kumara and the Planetary Logos—the “One in Whom we live and move and have our being”.

ii. Huyền nhiệm thâm sâu nhất không chỉ liên hệ đến chân thần, mà còn đến cái nằm ở tâm điểm của chân thần, và có liên quan đến Đức Sanat Kumara và Đức Hành Tinh Thượng Đế—“Đấng trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu”.

iii. Although compared to a personality ‘name’ the Egoic Name seems a very interior factor, it is, nevertheless, an ‘outer’ name. Nevertheless, coming to terms with Egoic Identity is certainly a prerequisite for going still more deeply into the nature of Spirit and its relation to Sanat Kumara and the Planetary Logos.

iii. Dù so với một “danh xưng” phàm ngã, Danh Xưng Chân Ngã dường như là một yếu tố rất nội tại, tuy nhiên nó vẫn là một danh xưng “bên ngoài”. Dẫu vậy, việc thấu hiểu Bản Sắc Chân Ngã chắc chắn là điều kiện tiên quyết để đi sâu hơn nữa vào bản chất của Tinh thần và mối liên hệ của nó với Đức Sanat Kumara và Đức Hành Tinh Thượng Đế.

45. As you can see, looking at the four lessons—Radiation, Magnetisation, Transmutation and Impartation, takes us right into Rule XIII. When it comes time to deal with these matters, they are found from pp. 261-264. If, to whet the appetite one wants to read these pages, that is possible. However, all in good time!

45. Như các bạn có thể thấy, khi nhìn vào bốn bài học—Phát xạ, Từ hóa, Chuyển hoá và Truyền đạt, chúng ta đi thẳng vào Quy luật XIII. Khi đến lúc đề cập đến những vấn đề này, chúng được tìm thấy từ trang 261 đến 264. Nếu muốn khơi dậy hứng thú mà đọc các trang này, điều đó là có thể. Tuy nhiên, mọi sự đều đúng thời của nó!

46. For the sake of completeness, the last of the fifth sentences which describe the content of the last seven Rules runs as follows: “The significance of resurrection and ascension, particularly the latter, because little has been given out to date anent ascension.” Rule XIV deals extensively with these abstruse matters, and we should wait.

46. Để đầy đủ, câu thứ năm cuối cùng mô tả nội dung của bảy Quy luật cuối cùng được viết như sau: “Thâm nghĩa của sự phục sinh và thăng thiên, đặc biệt là điều sau, vì cho đến nay rất ít điều đã được đưa ra liên quan đến thăng thiên.” Quy luật XIV bàn rộng về những vấn đề thâm áo này, và chúng ta nên chờ đợi.

There are certain major frameworks (if I may continue to use this phrase) within which the initiate has to learn [Page 153] consciously to work, recognising them for what they are; once he has learnt to master that which lies within some particular framework, he finds that it is only a part, a small fraction, of a still greater whole, within which he must also learn to function and play his part.

Có một số khuôn khổ chính yếu nhất định, nếu tôi có thể tiếp tục dùng cụm từ này, trong đó điểm đạo đồ phải học [Page 153] cách làm việc một cách có ý thức, nhận ra chúng đúng như bản chất của chúng; một khi y đã học cách làm chủ điều nằm trong một khuôn khổ đặc thù nào đó, y nhận thấy rằng đó chỉ là một phần, một phân đoạn nhỏ, của một toàn thể còn lớn hơn nữa, trong đó y cũng phải học cách hoạt động và đóng vai trò của mình.

47. The initiate is learning that each framework within which he is learning to work, no matter how vast it may seem to him, is but a fractional part of a still greater framework.

47. Điểm đạo đồ đang học rằng mỗi khuôn khổ trong đó y đang học cách làm việc, dù đối với y có vẻ rộng lớn đến đâu, cũng chỉ là một phần nhỏ của một khuôn khổ còn lớn hơn nữa.

48. We are dealing here with the idea of constantly expanding ring-pass-nots.

48. Ở đây chúng ta đang đề cập đến ý tưởng về các vòng-giới-hạn không ngừng mở rộng.

49. The major paragraph on 153 (below), gives the sequence of development within various ever expanding frameworks—all the way from the beginning of real discipleship to liberation at the fourth initiation.

49. Đoạn chính ở trang 153 dưới đây đưa ra trình tự phát triển trong các khuôn khổ khác nhau luôn mở rộng—từ khởi đầu của địa vị đệ tử chân chính cho đến sự giải thoát ở lần điểm đạo thứ tư.

First he, as a disciple, has to learn to work within the framework of his blending soul-personality. This task at first takes the form of character building and disciplining (whilst upon the Probationary Path), of a struggle to see, of an endeavour to make a continuity of his soul contact. Finally, this leads to the beginning of the stage of soul and personality merging and at this point he steps upon the Path of Discipleship, technically understood.

Trước hết, với tư cách là một đệ tử, y phải học làm việc trong khuôn khổ của linh hồn-phàm ngã đang hòa quyện của mình. Lúc đầu, nhiệm vụ này mang hình thức lập hạnh và kỷ luật, khi còn trên Con Đường Dự Bị, một cuộc đấu tranh để thấy, một nỗ lực tạo nên sự liên tục trong tiếp xúc với linh hồn của y. Cuối cùng, điều này dẫn đến khởi đầu của giai đoạn linh hồn và phàm ngã hòa nhập, và tại điểm này y bước lên Con Đường Đệ Tử, hiểu theo nghĩa chuyên môn.

50. A very important definition of discipleship is then given: “Finally, this leads to the beginning of the stage of soul and personality merging and at this point he steps upon the Path of Discipleship, technically understood.” Technically, discipleship is the beginning of the state of soul and personality merging. The Path of Aspiration sees the soul recognized as a factor, but not yet the beginning of the process of merging. Interestingly, all initiates of the first, second and third initiations are called “soul-infused personalities”, although the degree of infusion is different in each case. These persons, though initiates (initiates of the first and second degree are “probationary initiates”, really), are still disciples, engaged in the process of “soul and personality merging”

50. Kế đó, một định nghĩa rất quan trọng về địa vị đệ tử được đưa ra: “Cuối cùng, điều này dẫn đến khởi đầu của giai đoạn linh hồn và phàm ngã hòa nhập, và tại điểm này y bước lên Con Đường Đệ Tử, hiểu theo nghĩa chuyên môn.” Về mặt chuyên môn, địa vị đệ tử là khởi đầu của trạng thái linh hồn và phàm ngã hòa nhập. Con Đường Khát Vọng chứng kiến linh hồn được nhận biết như một yếu tố, nhưng chưa phải là khởi đầu của tiến trình hòa nhập. Điều thú vị là tất cả các điểm đạo đồ của lần điểm đạo thứ nhất, thứ hai và thứ ba đều được gọi là “những phàm ngã được linh hồn thấm nhuần”, mặc dù mức độ thấm nhuần khác nhau trong từng trường hợp. Những người này, dù là điểm đạo đồ, thật ra các điểm đạo đồ bậc một và bậc hai là “điểm đạo đồ dự bị”, vẫn là các đệ tử, đang tham gia vào tiến trình “linh hồn và phàm ngã hòa nhập”.

51. Merging is all about “being with you”. “Lo, I am with you even unto the end of the Age”. When soul merges with personality, it is “with us”—a presence, often undetected, but a definitely new factor which changes and re-conditions the trend of personality expression. It is that “something far more deeply interfused”. It is the subtle within the gross.

51. Sự hòa nhập hoàn toàn liên quan đến việc “ở cùng các bạn”. “Này, Ta ở cùng các con cho đến tận cùng Thời Đại”. Khi linh hồn hòa nhập với phàm ngã, nó “ở cùng chúng ta”—một sự hiện diện, thường không được phát hiện, nhưng chắc chắn là một yếu tố mới làm thay đổi và tái định hình khuynh hướng biểu hiện của phàm ngã. Đó là “một điều gì đó được thấm nhuần sâu xa hơn nhiều”. Đó là cái vi tế trong cái thô trược.

From then on his problem is to know himself as he truly is, to direct energy to the needed centres which are awaiting scientific attention, to superintend consciously the fitting of himself, as a personality, to act as the instrument of the soul and later of the Hierarchy, to learn to contact energy, to handle and direct it.

Từ đó trở đi, vấn đề của y là biết chính mình đúng như y thật sự là, điều khiển năng lượng đến các trung tâm cần thiết đang chờ sự chú tâm khoa học, giám sát một cách có ý thức việc tự làm cho mình, với tư cách là một phàm ngã, thích hợp để hành động như khí cụ của linh hồn và về sau của Thánh Đoàn, học cách tiếp xúc với năng lượng, xử lý và điều khiển nó.

52. On the Path of Advanced Discipleship and of Initiation, the work with the centers proceeds in a scientific manner.

52. Trên Con Đường Đệ Tử Cao Cấp và Điểm Đạo, công việc với các trung tâm tiến hành theo một cách khoa học.

53. At this stage in the developmental process the work of the ajna center becomes important in a new way, as a representative of the higher will, for the ajna center is the director of energy.

53. Ở giai đoạn này trong tiến trình phát triển, công việc của trung tâm ajna trở nên quan trọng theo một cách mới, như đại diện của ý chí cao hơn, vì trung tâm ajna là cơ quan điều khiển năng lượng.

54. The initiate becomes the instrument of the soul, but eventually, and more importantly, an instrument of Hierarchy.

54. Điểm đạo đồ trở thành khí cụ của linh hồn, nhưng cuối cùng, và quan trọng hơn, là khí cụ của Thánh Đoàn.

This entails a comprehension of the mechanism within himself—the seven centres within the vital body—through which the contacted energy must flow under soul direction, and it also means the perfecting of the response apparatus and the newly constructed spiritual mechanism which exoterically enables him to contact the outside world, and esoterically enables him to contact the world of souls.

Điều này bao hàm sự thấu hiểu bộ máy bên trong chính y—bảy trung tâm trong thể sinh lực—qua đó năng lượng đã được tiếp xúc phải tuôn chảy dưới sự điều khiển của linh hồn, và nó cũng có nghĩa là việc hoàn thiện bộ máy đáp ứng cùng bộ máy tinh thần mới được kiến tạo, xét theo ngoại môn, cho phép y tiếp xúc với thế giới bên ngoài, và xét một cách huyền bí, cho phép y tiếp xúc với thế giới của các linh hồn.

55. As disciples we know something of this apparatus but, truly, our knowledge is vague compared with what it will some day become.

55. Là các đệ tử, chúng ta biết đôi điều về bộ máy này, nhưng thật ra tri thức của chúng ta còn mơ hồ so với điều mà một ngày kia nó sẽ trở thành.

56. We are discussing the construction of a “spiritual mechanism” to assist in living the dual life of discipleship. This mechanism has always been embryonic, but at the state of initiate unfoldment we are discussing, it has to become active and useful.

56. Chúng ta đang thảo luận về việc kiến tạo một “bộ máy tinh thần” để hỗ trợ việc sống đời sống kép của địa vị đệ tử. Bộ máy này luôn ở trạng thái phôi thai, nhưng ở trạng thái khai mở của điểm đạo đồ mà chúng ta đang bàn đến, nó phải trở nên hoạt động và hữu dụng.

It implies a steady process of interior perfecting until nothing further remains to be done within that individual framework. The bulk of this work has been covered by the time the fourth initiation has been taken, and has been completely covered when the fifth initiation is undergone.

Điều này hàm ý một tiến trình hoàn thiện nội tâm đều đặn cho đến khi không còn gì phải làm thêm trong khuôn khổ cá nhân ấy. Phần lớn công việc này đã được hoàn tất vào lúc lần điểm đạo thứ tư được tiếp nhận, và đã được hoàn tất trọn vẹn khi lần điểm đạo thứ năm được trải qua.

57. The Tibetan speaks of a “steady process of interior perfecting” which continues until the fourth initiation. It is interesting that the number four is, in some respects, the number of perfection, and that the atmic siddhi found upon the fourth subplane of the atmic plane is “Perfection”. (TCF 188) The fourth ray, as well, is the “Corrector of the Form” which suggests an aspect of the process of perfecting. But only the “bulk” of the work is completed by the time the fourth initiation is undergone. Completion requires the fifth degree, just as the final dispersion of the atoms of the destroyed causal body is not completed until the fifth initiation.

57. Chân sư Tây Tạng nói về một “tiến trình hoàn thiện nội tâm đều đặn” tiếp tục cho đến lần điểm đạo thứ tư. Điều thú vị là con số bốn, theo một vài phương diện, là con số của sự hoàn thiện, và siddhi atma được tìm thấy trên cõi phụ thứ tư của cõi atma là “Sự Hoàn Thiện”. (TCF 188) Cung bốn cũng là “Đấng Chỉnh Sửa Hình Tướng”, điều này gợi ý một phương diện của tiến trình hoàn thiện. Nhưng chỉ “phần lớn” công việc được hoàn tất vào lúc lần điểm đạo thứ tư được trải qua. Sự hoàn tất đòi hỏi bậc thứ năm, cũng như sự phân tán cuối cùng của các nguyên tử thuộc thể nguyên nhân đã bị phá hủy chưa hoàn tất cho đến lần điểm đạo thứ năm.

58. So the first stage of development is work within the “framework” of the “lesser seven” (Humanity), and is consummated at the fifth initiation, when work within the greater framework of the Hierarchy (consisting of the “greater seven”—the seven Ashrams) can begin in fullness.

58. Vậy giai đoạn phát triển thứ nhất là công việc trong “khuôn khổ” của “bảy nhỏ hơn”, tức Nhân loại, và được viên mãn ở lần điểm đạo thứ năm, khi công việc trong khuôn khổ lớn hơn của Thánh Đoàn, gồm “bảy lớn hơn”—bảy ashram—có thể bắt đầu một cách trọn vẹn.

59. The transition point between these two frameworks comes at the third initiation. At that point the initiate-disciple can take his place upon the periphery of some Ashram, and although he is still very much within the human framework, he is learning to respond to the laws, energies and forces of the coming framework—that of Hierarchy.

59. Điểm chuyển tiếp giữa hai khuôn khổ này đến ở lần điểm đạo thứ ba. Ở điểm đó, điểm đạo đồ-đệ tử có thể đảm nhận vị trí của mình trên chu vi của một ashram nào đó, và mặc dù y vẫn còn ở rất nhiều trong khuôn khổ nhân loại, y đang học cách đáp ứng với các định luật, năng lượng và mãnh lực của khuôn khổ sắp đến—khuôn khổ của Thánh Đoàn.

This all takes much time, but when a certain measure of success has been achieved, when the initiate’s understanding is somewhat enlightened and his energy-use and his power of direction are becoming intelligently applied, he can then begin to work within the framework of the greater seven groups, that is, within the Hierarchy.

Tất cả điều này cần nhiều thời gian, nhưng khi một mức độ thành công nhất định đã đạt được, khi sự thấu hiểu của điểm đạo đồ phần nào được soi sáng và việc sử dụng năng lượng cùng quyền năng điều khiển của y đang trở nên được áp dụng một cách thông minh, bấy giờ y có thể bắt đầu làm việc trong khuôn khổ của bảy nhóm lớn hơn, tức là trong Thánh Đoàn.

60. We are discussing a transition between two frameworks: the first is humanity and the next and succeeding framework is Hierarchy.

60. Chúng ta đang thảo luận về một sự chuyển tiếp giữa hai khuôn khổ: khuôn khổ thứ nhất là nhân loại và khuôn khổ kế tiếp, nối tiếp sau đó, là Thánh Đoàn.

61. The initiate of the third degree is a member of the first framework, on his way into the second—that of the “greater seven groups”—Hierarchy.

61. Điểm đạo đồ bậc ba là một thành viên của khuôn khổ thứ nhất, đang trên đường đi vào khuôn khổ thứ hai—khuôn khổ của “bảy nhóm lớn hơn”—Thánh Đoàn.

This he does first upon the periphery of the hierarchical aura and later as a conscious, accepted and pledged worker in some [Page 154] Ashram—the Ashram being dependent upon his ray type.

Y làm điều này trước hết trên chu vi của hào quang Thánh Đoàn và về sau như một người hoạt động có ý thức, được chấp nhận và đã thệ nguyện trong một [Page 154] ashram nào đó—ashram ấy tùy thuộc vào loại cung của y.

62. We learn something of importance here. During the stage of accepted discipleship, the pledged disciple stands with his brothers on the periphery of the hierarchical aura. This is the position characteristic of DK’s New Seed Group in training.

62. Ở đây chúng ta học được một điều quan trọng. Trong giai đoạn địa vị đệ tử được chấp nhận, đệ tử đã thệ nguyện đứng cùng các huynh đệ của y trên chu vi của hào quang Thánh Đoàn. Đây là vị trí đặc trưng của Nhóm Hạt Giống Mới của Chân sư DK đang được huấn luyện.

63. When the pledged and accepted disciple become an initiate, he is an “accepted and pledged worker in some Ashram”; this is a stage in advance of being a pledged and accepted disciple on the periphery of some Ashram, for the initiate has actually entered the Ashram and can there be found upholding a function integral to the Ashram’s work.

63. Khi đệ tử đã thệ nguyện và được chấp nhận trở thành một điểm đạo đồ, y là một “người hoạt động được chấp nhận và đã thệ nguyện trong một ashram nào đó”; đây là một giai đoạn tiến xa hơn việc là một đệ tử đã thệ nguyện và được chấp nhận trên chu vi của một ashram nào đó, vì điểm đạo đồ đã thật sự bước vào ashram và có thể được tìm thấy tại đó, đang duy trì một chức năng không thể tách rời khỏi công việc của ashram.

He then is in a position to discover the close interlocking that exists between the supplementary seven (his own seven centres) and the seven great groups within the Hierarchy;

Bấy giờ y ở vào vị thế khám phá sự đan kết chặt chẽ hiện hữu giữa bảy bổ sung, tức bảy trung tâm của chính y, và bảy nhóm lớn trong Thánh Đoàn;

64. The chakric system of the normal human being or even aspirant or disciple is not yet well attuned to the energy flows emanating from the “seven great groups”.

64. Hệ thống luân xa của con người bình thường, hoặc ngay cả của người chí nguyện hay đệ tử, vẫn chưa được điều hợp tốt với các dòng năng lượng phát ra từ “bảy nhóm lớn”.

65. As we study this Rule we are learning how to render our chakric system an effective instrument for the Ashram with which we may be affiliated, and later for the Hierarchy.

65. Khi nghiên cứu Quy luật này, chúng ta đang học cách làm cho hệ thống luân xa của mình trở thành một khí cụ hữu hiệu cho ashram mà chúng ta có thể liên kết, và về sau cho Thánh Đoàn.

66. To what energy flows does our chakric system now respond?

66. Hệ thống luân xa của chúng ta hiện nay đáp ứng với những dòng năng lượng nào?

he comes to realise that only when his centres are somewhat awakened and attuned is it possible for him to work within the larger framework of the Hierarchy, and this because the quality of the greater groups and the life expression of the seven planetary groups, the seven rays, are being slowly developed by him under the influence of hierarchical supervision through the medium of his own seven centres—the supplementary seven.

y bắt đầu nhận ra rằng chỉ khi các trung tâm của y phần nào được đánh thức và điều hợp thì y mới có thể làm việc trong khuôn khổ rộng lớn hơn của Thánh Đoàn, và điều này là vì phẩm tính của các nhóm lớn hơn cùng biểu hiện sự sống của bảy nhóm hành tinh, tức bảy cung, đang được y chậm rãi phát triển dưới ảnh hưởng của sự giám sát thuộc Thánh Đoàn, thông qua phương tiện là chính bảy trung tâm của y—bảy bổ sung.

67. We see how important is the etheric body and its seven centers. If the centers are not in a certain effective condition, it is not possible to work within the Hierarchy. The Divine Circulatory Flow would be cut off, and the seven centers could not be a receiver of planetary (shamballic), hierarchical and human-kingdom energy—balanced and synthesized. We are told that Christ has the only perfected endocrine system. This perfection must reflect a perfected chakric system. If we want to become both a factual and conscious part of the larger system in which we live and move and have our being, the attunement of our chakras to each other and to that system is the way to proceed.

67. Chúng ta thấy thể dĩ thái và bảy trung tâm của nó quan trọng đến mức nào. Nếu các trung tâm không ở trong một trạng thái hiệu quả nhất định, thì không thể làm việc trong Thánh Đoàn. Dòng Tuần Hoàn Thiêng Liêng sẽ bị cắt đứt, và bảy trung tâm không thể là bộ phận tiếp nhận năng lượng hành tinh (thuộc Shamballa), năng lượng Thánh Đoàn và năng lượng giới nhân loại—được cân bằng và tổng hợp. Chúng ta được cho biết rằng Đức Christ có hệ nội tiết duy nhất đã hoàn thiện. Sự hoàn thiện này phải phản ánh một hệ thống luân xa đã hoàn thiện. Nếu chúng ta muốn trở thành một phần vừa thực sự vừa có ý thức của hệ thống lớn hơn trong đó chúng ta sống, vận động và hiện hữu, thì việc điều hợp các luân xa của chúng ta với nhau và với hệ thống ấy là con đường phải theo.

Thus, from a new angle which is practical and not simply theoretical, it begins to dawn on him that he is an inalienable part of a group whole and that this incontrovertible fact involves responsibilities and duties.

Do đó, từ một góc độ mới mang tính thực tiễn chứ không chỉ lý thuyết, y bắt đầu nhận ra rằng y là một phần bất khả phân ly của một toàn thể nhóm và sự kiện không thể phủ nhận này bao hàm các trách nhiệm và bổn phận.

67. The initiate discovers the factual nature of energy exchanges between the group (i.e., the Ashram) and himself, and amongst all members of the Ashram.

67. Điểm đạo đồ khám phá bản chất thực sự của các trao đổi năng lượng giữa nhóm, tức ashram, và chính y, cũng như giữa mọi thành viên của ashram.

68. With the study of this Rule we are entering a new level of practicality—turning expansive theory into practice and potency.

68. Với việc nghiên cứu Quy luật này, chúng ta đang bước vào một cấp độ thực tiễn mới—chuyển lý thuyết mở rộng thành thực hành và quyền năng.

He discovers that his major responsibility—spiritually speaking—is to permit no hindrance, on the part of the supplementary seven, to the free flow of love from the greater seven, and later the free flow of life (inspired by purpose) from the planetary seven.

Y khám phá rằng trách nhiệm chính yếu của mình, nói theo nghĩa tinh thần, là không cho phép bất cứ sự cản trở nào, về phía bảy bổ sung, đối với dòng chảy tự do của bác ái từ bảy lớn hơn, và về sau là dòng chảy tự do của sự sống, được cảm hứng bởi thiên ý, từ bảy hành tinh.

69. This sentence concerning the initiate’s major responsibility is very clear. Do we monitor our own chakric system in the manner here suggested?

69. Câu này liên quan đến trách nhiệm chính yếu của điểm đạo đồ rất rõ ràng. Chúng ta có giám sát hệ thống luân xa của chính mình theo cách được gợi ý ở đây không?

70. “Free flow” is an important concept. We have to learn to get “out of the way” of the greater energies which wait (long ages) for the possibility of transmission through matter and form. One can see how transmutation and transformation play an important roles of permitting “no hindrance”. One can also see how bringing selfishness and egotism to a close is a major step in “getting out of the way”. The lower ego, as usually manifesting, is a great obstruction to the greater life.

70. “Dòng chảy tự do” là một khái niệm quan trọng. Chúng ta phải học cách “tránh sang một bên” trước các năng lượng lớn hơn vốn chờ đợi, qua những thời đại dài lâu, khả năng được truyền dẫn qua vật chất và hình tướng. Người ta có thể thấy sự chuyển hoá và chuyển đổi đóng vai trò quan trọng như thế nào trong việc không cho phép “bất cứ sự cản trở nào”. Người ta cũng có thể thấy việc chấm dứt tính ích kỷ và chủ nghĩa vị ngã là một bước chính yếu trong việc “tránh sang một bên”. Phàm ngã, như thường biểu hiện, là một chướng ngại lớn đối với sự sống lớn hơn.

He knows now that all form a great interlocking directorate[5] through which the will of God is working out. He now knows himself to be a minute part of that great interlocking Whole, a responsible conscious atom within its periphery.

Giờ đây y biết rằng tất cả tạo thành một cơ cấu điều hành đan kết vĩ đại, qua đó Ý Chí của Thượng Đế đang được thực hiện. Giờ đây y biết mình là một phần rất nhỏ của Toàn Thể đan kết vĩ đại ấy, một nguyên tử có ý thức và có trách nhiệm trong chu vi của nó.

71. This is an amazing realization of the interdependence (and, in fact, unity) of the One and the Many.

71. Đây là một chứng nghiệm đáng kinh ngạc về sự tương thuộc, và thật ra là sự hợp nhất, của Đấng Duy Nhất và số nhiều.

72. The term “interlocking directorate” sounds the note of purpose and suggests an apparatus in which the highest will can lovingly and intelligently make its way through the network of interdependent energies and forces.

72. Thuật ngữ “cơ cấu điều hành đan kết” xướng lên âm điệu của thiên ý và gợi ý một bộ máy trong đó ý chí cao nhất có thể mở đường một cách đầy bác ái và thông minh xuyên qua mạng lưới các năng lượng và mãnh lực tương thuộc.

Then as he goes on and learns to submit to the Law of the Supplementary Seven, he finds that from the life angle and through his own conscious direction, gradually developed, all the potencies of divinity are his to use, once he can be trusted, as the advanced initiate can ever be trusted.

Rồi khi y tiếp tục tiến bước và học cách quy phục Định luật của Bảy Bổ Sung, y nhận thấy rằng, từ góc độ sự sống và thông qua sự điều khiển có ý thức của chính y, được phát triển dần dần, mọi quyền năng của thiên tính đều thuộc về y để sử dụng, một khi y có thể được tin cậy, như điểm đạo đồ cao cấp luôn có thể được tin cậy.

73. An “advanced initiate” is an initiate of the fourth degree. Can we say that as one is on the point of relinquishing the causal body, it is to the watching Hierarchy a strong indication that one is trustworthy?

73. Một “điểm đạo đồ cao cấp” là điểm đạo đồ bậc bốn. Chúng ta có thể nói rằng khi một người đang ở điểm sắp từ bỏ thể nguyên nhân, thì đối với Thánh Đoàn đang quan sát, đó là một dấu hiệu mạnh mẽ cho thấy người ấy đáng được tin cậy không?

74. There is an earlier point of demonstrated trustworthiness between the second and third initiations, but even initiates of the third degree can have attitudes which short-circuit the Divine Circulatory Flow.

74. Có một điểm sớm hơn của sự đáng tin cậy đã được chứng tỏ, nằm giữa lần điểm đạo thứ hai và thứ ba, nhưng ngay cả các điểm đạo đồ cấp ba vẫn có thể có những thái độ làm đoản mạch Luồng Tuần Hoàn Thiêng Liêng.

He is then set free for complete cooperation with the purpose lying behind the Plan.

Bấy giờ y được giải phóng để hợp tác trọn vẹn với mục đích nằm sau Thiên Cơ.

75. This marks a high stage of development, for we know that Purpose is normally relatively inaccessible to those who have not unfolded the expression of the Spirit aspect.

75. Điều này đánh dấu một giai đoạn phát triển cao, vì chúng ta biết rằng Mục Đích thường tương đối khó tiếp cận đối với những ai chưa khai mở sự biểu lộ của phương diện Tinh Thần.

He has passed out of the human kingdom into the Hierarchy;

Y đã vượt ra khỏi giới nhân loại để đi vào Thánh đoàn;

76. This is what the initiate has done, or is in process of doing. A Master is a full member of the Kingdom of Souls, but the passing out begins even at the first degree and arrives at a point declarative of the process at the third degree.

76. Đây là điều điểm đạo đồ đã làm, hoặc đang trong tiến trình thực hiện. Một Chân sư là thành viên trọn vẹn của Thiên Giới, nhưng sự vượt ra khỏi ấy bắt đầu ngay từ cấp độ thứ nhất và đạt đến một điểm tuyên bố rõ tiến trình này ở cấp độ thứ ba.

later he will pass out of the hierarchical group into Shamballa, or out of our planetary life altogether, and either here or there will begin a greater and more extended service.

về sau y sẽ vượt ra khỏi nhóm thuộc Thánh đoàn để đi vào Shamballa, hoặc hoàn toàn ra khỏi sự sống hành tinh của chúng ta, và dù ở đây hay ở đó, y sẽ bắt đầu một sự phụng sự lớn lao hơn và rộng mở hơn.

77. This entire matter of “passing out” of lesser groups and into greater ones can be understood as a process of aligning and harmonizing lesser septenates with greater ones.

77. Toàn bộ vấn đề “vượt ra khỏi” các nhóm nhỏ hơn để đi vào các nhóm lớn hơn có thể được thấu hiểu như một tiến trình chỉnh hợp và hòa điệu các bộ bảy nhỏ hơn với các bộ bảy lớn hơn.

78. It becomes clear that if one understands and can wield this “Law of the Supplementary Seven”, one begins, factually, to know his place within the Divine Plan. This is not a vague, mystical apprehension of being part of the Oneness, but a precise sense of where one is situated within the ‘planetary flow chart’.

78. Rõ ràng là nếu một người thấu hiểu và có thể vận dụng “Định luật Bảy Bổ Sung” này, y bắt đầu, một cách thực sự, biết vị trí của mình trong Thiên Cơ. Đây không phải là một nhận thức mơ hồ, thần bí về việc mình là một phần của Nhất Thể, mà là một ý thức chính xác về nơi mình tọa lạc trong “sơ đồ luồng hành tinh”.

79. We can see again the value of mastering the technicalities of occultism, for they offer a predictable and secure means of ascent.

79. Chúng ta lại có thể thấy giá trị của việc làm chủ các chi tiết kỹ thuật của huyền bí học, vì chúng đem lại một phương tiện thăng tiến có thể tiên liệu và an toàn.

80. “Abundant life” comes to us via the “Divine Circulatory Flow”, and Rule VIII gives us the “map” of this flow. This is a Rule concerning ‘energy access’ and how (and from whence) to receive what is accessible to those who are truly occultly trained.

80. “Sự sống dồi dào” đến với chúng ta qua “Luồng Tuần Hoàn Thiêng Liêng”, và Quy luật VIII trao cho chúng ta “bản đồ” của luồng này. Đây là một Quy luật liên quan đến “sự tiếp cận năng lượng” và cách thức, cũng như từ đâu, để tiếp nhận điều có thể tiếp cận đối với những ai thật sự được huấn luyện huyền bí.

Coming down to the immediate practical issues, the initiate is confronted with the problem of work within the individual framework, for I am not here dealing with the [Page 155] requirements for the initiations above or beyond the third.

Khi đi xuống các vấn đề thực tiễn trước mắt, điểm đạo đồ đối diện với vấn đề công việc trong khuôn khổ cá nhân, vì ở đây tôi không bàn đến các [Page 155] yêu cầu dành cho những cuộc điểm đạo trên hoặc vượt quá lần thứ ba.

81. The Tibetan gets very practical, stating that He is dealing with those who are still working within the “individual framework” (the lesser seven).

81. Chân sư Tây Tạng trở nên rất thực tiễn, khi nói rằng Ngài đang bàn đến những người vẫn còn làm việc trong “khuôn khổ cá nhân” tức là bộ bảy nhỏ hơn.

82. The Tibetan is, however, dealing with requirements of the third initiation, while occasionally alluding to requirements that go beyond this point.

82. Tuy nhiên, Chân sư Tây Tạng đang bàn đến các yêu cầu của lần điểm đạo thứ ba, đồng thời thỉnh thoảng ám chỉ những yêu cầu vượt quá điểm này.

Here the initiate has reached the point where he grasps the significant fact that the way into the innermost Centre is most securely guarded;

Ở đây điểm đạo đồ đã đạt đến điểm mà y nắm bắt sự kiện trọng yếu rằng con đường đi vào Trung Tâm thâm sâu nhất được canh giữ hết sức nghiêm mật;

83. Let us take this statement to heart. As we progress we shall be increasingly impressed by this fact.

83. Chúng ta hãy ghi khắc lời phát biểu này vào lòng. Khi tiến bước, chúng ta sẽ ngày càng bị sự kiện này gây ấn tượng mạnh.

no one can pass onward and take those more advanced steps which admit into the higher worlds of being and of unparalleled potency until he has demonstrated within the framework of his own life a definite control of energy (and this the black adept also possesses), purity of motive (which the black adept can likewise have, if by purity of motive you mean single-hearted and one-pointed intent), deep love of humanity (which the black adept never has), selflessness, willingness to follow the light wherever it may lead, ability to begin work within the larger framework the moment such an attempt becomes possible, clear vision and spiritual insight, a developed intuition, and an undeviating intention and strong faith in the future. When these qualities begin to show themselves, it then becomes possible to admit the initiate to further advancement upon the Way.

không ai có thể tiếp tục tiến tới và thực hiện những bước cao hơn vốn cho phép đi vào các thế giới bản thể cao siêu hơn và có quyền năng vô song cho đến khi y đã chứng tỏ, trong khuôn khổ đời sống của chính mình, một sự kiểm soát năng lượng rõ rệt, và điều này nhà hắc thuật cũng có; sự thanh khiết trong động cơ, điều mà nhà hắc thuật cũng có thể có, nếu qua sự thanh khiết trong động cơ bạn muốn nói đến ý định nhất tâm và toàn tâm; tình thương sâu xa đối với nhân loại, điều mà nhà hắc thuật không bao giờ có; tính vô ngã, sự sẵn lòng đi theo ánh sáng bất cứ nơi nào ánh sáng dẫn dắt, khả năng bắt đầu công việc trong khuôn khổ lớn hơn ngay khi một nỗ lực như thế trở nên khả thi, tầm nhìn rõ ràng và tuệ giác tinh thần, trực giác đã phát triển, cùng một ý định không lệch hướng và niềm tin mạnh mẽ vào tương lai. Khi những phẩm tính này bắt đầu biểu lộ, bấy giờ mới có thể cho phép điểm đạo đồ tiến xa hơn trên Con Đường.

84. We see that we are tested in smaller frameworks before we are allowed to pass into those that are greater. We must “make good” in an arena of small scope before it is safe to allow us into the next and greater ring-pass-not.

84. Chúng ta thấy rằng mình được thử thách trong những khuôn khổ nhỏ hơn trước khi được phép đi vào những khuôn khổ lớn hơn. Chúng ta phải “làm cho xứng đáng” trong một đấu trường có phạm vi nhỏ trước khi có thể an toàn cho phép chúng ta bước vào vòng-giới-hạn kế tiếp và lớn hơn.

85. In this paragraph, the “parting of the ways” between the Brothers of Form and the Brothers of Light is suggested.

85. Trong đoạn này, “sự phân rẽ các nẻo đường” giữa các Huynh đệ của Hình Tướng và các Huynh đệ của Ánh Sáng được gợi ý.

86. It should be clearly understood that we share certain attainments with those who become black adepts: namely, a definite control of energy, and a purity of motive (which works out as single-hearted and one-pointed intent). If one examines the lives of those men who engineered the Second World War (and who were in deep complicity with the Black Lodge) one will see these qualities.

86. Cần thấu hiểu rõ rằng chúng ta chia sẻ một số thành tựu với những người trở thành các chân sư hắc đạo, đó là: một sự kiểm soát năng lượng rõ rệt, và một sự thanh khiết trong động cơ vốn biểu hiện thành ý định toàn tâm và nhất tâm. Nếu khảo sát đời sống của những người đã tổ chức Thế Chiến thứ Hai, và những người đã đồng lõa sâu xa với Hắc đoàn, người ta sẽ thấy những phẩm tính này.

87. May it be that the energy-control and idealism of one who will verge to the left are not so very different from the energy-control and idealism of one who will later choose the right, until a certain decisive point has been reached, determining whether the probationary initiate will actually move towards the greater Love and Light?

87. Có thể nào sự kiểm soát năng lượng và chủ nghĩa lý tưởng của người sẽ ngả sang bên trái không khác nhiều lắm với sự kiểm soát năng lượng và chủ nghĩa lý tưởng của người về sau sẽ chọn bên phải, cho đến khi một điểm quyết định nào đó đã đạt tới, điểm ấy xác định liệu điểm đạo đồ dự bị có thật sự tiến về Tình Thương và Ánh Sáng lớn hơn hay không?

88. “A deep love of humanity” is the important, initial discriminator. Notice that a “strong faith in the future” is also required. Initiates may be “knowers” of some kind, but they still require faith—for always there will be those things which are “unseen” and “hoped for”, no matter what the grade of the advancing entity.

88. “Một tình thương sâu xa đối với nhân loại” là yếu tố phân biện ban đầu và quan trọng. Hãy lưu ý rằng một “niềm tin mạnh mẽ vào tương lai” cũng được đòi hỏi. Các điểm đạo đồ có thể là những “thức giả” thuộc một loại nào đó, nhưng họ vẫn cần đức tin, vì luôn luôn sẽ có những điều “không thấy được” và “được hy vọng”, bất kể cấp bậc của thực thể đang tiến lên là gì.

89. Let us tabulate the tendencies of the one who will eventually become a White Brother:

89. Chúng ta hãy lập bảng các khuynh hướng của người cuối cùng sẽ trở thành một Huynh đệ Chánh đạo:

a. A deep love of humanity

a. Một tình thương sâu xa đối với nhân loại

b. Selflessness

b. Tính vô ngã

c. Willingness to follow the light wherever it may lead

c. Sự sẵn lòng đi theo ánh sáng bất cứ nơi nào ánh sáng dẫn dắt

d. Ability to begin work within the larger framework the moment such an attempt becomes possible

d. Khả năng bắt đầu công việc trong khuôn khổ lớn hơn ngay khi một nỗ lực như thế trở nên khả thi

e. Clear vision

e. Tầm nhìn rõ ràng

f. Spiritual insight

f. Tuệ giác tinh thần

g. A developed intuition

g. Một trực giác đã phát triển

h. An undeviating intention

h. Một ý định không lệch hướng

i. A strong faith in the future

i. Một niềm tin mạnh mẽ vào tương lai

90. A careful examination of these qualities will demonstrate that the candidate for the black path simply does not have them. He is the victim of major distortions and blindness, and he certainly has no faith in the future, as he wishes to revert to conditions prevalent in the first solar system in which he held a privileged position.

90. Một sự khảo sát cẩn thận các phẩm tính này sẽ chứng tỏ rằng ứng viên cho con đường hắc đạo đơn giản là không có chúng. Y là nạn nhân của những sự méo mó lớn lao và sự mù lòa, và chắc chắn y không có niềm tin vào tương lai, vì y muốn quay lại những điều kiện thịnh hành trong hệ mặt trời thứ nhất, nơi y từng nắm giữ một vị trí đặc quyền.

91. The section above is one of the best to reveal the similarities and differences between the brothers of the right and left hand paths.

91. Phần trên là một trong những phần hay nhất để bộc lộ những điểm tương đồng và khác biệt giữa các huynh đệ của chánh đạo và tả đạo.

It is believed to be safe for him now to move on a few more steps into greater light, and then—having reached his next point of testing—he must there again demonstrate the rightness of his work within the individual framework and his ability to work within the greater framework in group formation.

Người ta tin rằng giờ đây y đã đủ an toàn để tiến thêm vài bước nữa vào ánh sáng lớn hơn, rồi khi đã đạt đến điểm thử thách kế tiếp của mình, y lại phải chứng tỏ ở đó tính đúng đắn của công việc của mình trong khuôn khổ cá nhân và khả năng làm việc trong khuôn khổ lớn hơn dưới hình thức nhóm.

92. One cannot go very far without being tested. All proceeds under Saturn, the “Tester” and, within our solar system, the greatest of the Lord of Karma.

92. Một người không thể đi xa lắm mà không bị thử thách. Tất cả đều tiến hành dưới Thổ Tinh, “Đấng Thử Thách”, và trong hệ mặt trời của chúng ta, là vị vĩ đại nhất trong các Chúa Tể Nghiệp Quả.

93. Do we note how in this discussion of Rule VIII there is much discussion concerning tests and trials? This makes sense as the number eight correlates with Scorpio, the sign in which the major tests of discipleship (and even those tests concerning the third initiation) are applied.

93. Chúng ta có ghi nhận rằng trong phần bàn luận về Quy luật VIII này có rất nhiều bàn luận liên quan đến các thử thách và khảo nghiệm không? Điều này hợp lý vì số tám tương ứng với Hổ Cáp, dấu hiệu trong đó các thử thách lớn của địa vị đệ tử, và ngay cả những thử thách liên quan đến lần điểm đạo thứ ba, được áp dụng.

He must appreciate the fact that as he passes upon the upward way he may not safely so do without the safeguards which protect the Way from him until he knows more;

Y phải trân trọng sự kiện rằng khi y tiến trên con đường đi lên, y không thể làm như thế một cách an toàn nếu không có những biện pháp bảo vệ vốn bảo vệ Con Đường khỏi y cho đến khi y biết nhiều hơn;

94. Why must the Way be protected from him? Well, clearly, the Way is for all, and the liabilities of the individual cannot be allowed to damage the group. The part cannot be allowed to impede the progress of the greater whole.

94. Tại sao Con Đường phải được bảo vệ khỏi y? Rõ ràng, Con Đường dành cho tất cả, và những nguy cơ của cá nhân không thể được phép gây tổn hại cho nhóm. Phần không thể được phép cản trở sự tiến bộ của toàn thể lớn hơn.

he must learn also that the group protects him and that only with the group can he proceed with security; he begins to realise that the group is not only a protection but also his chosen and destined field of service.

y cũng phải học rằng nhóm bảo vệ y và rằng chỉ cùng với nhóm y mới có thể tiến bước trong an toàn; y bắt đầu nhận ra rằng nhóm không chỉ là một sự bảo vệ mà còn là lĩnh vực phụng sự đã được y chọn lựa và định mệnh dành cho y.

95. In our own little lives, have we ever noticed that the reflection of the greater Way which lies around us has been, on occasion, protected from us by the intervention of our group brothers? I have seen it happen a number of times, and have on occasion suspected that this has happened on my own behalf.

95. Trong những đời sống nhỏ bé của chính chúng ta, có bao giờ chúng ta nhận thấy rằng phản ảnh của Con Đường lớn hơn nằm quanh ta, đôi khi, đã được bảo vệ khỏi chúng ta nhờ sự can thiệp của các huynh đệ trong nhóm của mình chưa? Tôi đã thấy điều đó xảy ra nhiều lần, và đôi khi đã nghi rằng điều ấy đã xảy ra vì chính tôi.

96. As for security which the group provides, it all has to do with the balancing of energy. The group prevents excessive concentrations of energy within the individual. It also supplies substance in the case of dearth[6]. We might say that the group when healthy (conditioned as it is by the second ray) militates against extremes.

96. Về sự an toàn mà nhóm cung cấp, tất cả đều liên quan đến việc quân bình năng lượng. Nhóm ngăn ngừa những sự tập trung năng lượng quá mức trong cá nhân. Nhóm cũng cung cấp chất liệu trong trường hợp thiếu hụt. Chúng ta có thể nói rằng khi lành mạnh, nhóm, vốn chịu tác động của cung hai, chống lại các cực đoan.

He begins to learn with his group the meaning of the “united breath” referred to in the rule, and also to work with the group in “unified rhythm.”

Y bắt đầu học cùng nhóm của mình ý nghĩa của “hơi thở hợp nhất” được nhắc đến trong quy luật, và cũng học cách làm việc với nhóm trong “nhịp điệu hợp nhất”.

97. To me, (and somewhat obviously, as there are deeper meanings) the “united breath” suggests united group approach to the sources of inspiration. This is an ability to meditate effectively and invocatively together.

97. Đối với tôi, và điều này khá hiển nhiên, vì thật sự những ý nghĩa sâu hơn, “hơi thở hợp nhất” gợi lên cách tiếp cận nhóm hợp nhất đối với các nguồn cảm hứng. Đây là khả năng cùng nhau tham thiền một cách hiệu quả và mang tính khẩn cầu.

98. As for the “unified rhythm”, the idea of “group ritual” is suggested—the ability to move together, harmoniously and in synchronization, upon the physical, emotional and mental levels. The power of the group is only released when its energy is not dissipated in chaotic and irregular activity.

98. Về “nhịp điệu hợp nhất”, ý tưởng về “nghi thức nhóm” được gợi lên, tức là khả năng cùng nhau chuyển động, hài hòa và đồng bộ, trên các cấp độ hồng trần, cảm xúc và trí tuệ. Quyền năng của nhóm chỉ được phóng thích khi năng lượng của nhóm không bị làm tiêu tan trong hoạt động hỗn loạn và bất thường.

Thus he goes from strength to strength. All the time the Hierarchy is aiding in his development and at the same time protecting the Way from him until such time as glamour cannot reach him.

Như thế y đi từ sức mạnh này đến sức mạnh khác. Suốt thời gian đó, Thánh đoàn trợ giúp trong sự phát triển của y và đồng thời bảo vệ Con Đường khỏi y cho đến khi ảo cảm không còn có thể chạm đến y.

99. We find that glamor, ever delusive, is a great enemy to those who would reach their goal.

99. Chúng ta thấy rằng ảo cảm, vốn luôn lừa dối, là một kẻ thù lớn đối với những ai muốn đạt đến mục tiêu của mình.

100. It is glamor that prevents one from seeing the “Greater Light” and may contribute to a verging towards the left hand path.

100. Chính ảo cảm ngăn cản người ta thấy “Ánh Sáng Lớn Hơn” và có thể góp phần vào sự ngả về tả đạo.

This individual security of his [Page 156] is only reached between the time of taking the second initiation and the third. Prior to that, he is still regarded as a potential hazard and as unstable.

Sự an toàn cá nhân này của y [Page 156] chỉ đạt được trong khoảng thời gian giữa lần điểm đạo thứ hai và thứ ba. Trước đó, y vẫn được xem là một mối nguy tiềm tàng và là người chưa ổn định.

101. This is one of the most important sentences relating to the developmental process of modern disciples.

101. Đây là một trong những câu quan trọng nhất liên quan đến tiến trình phát triển của các đệ tử hiện đại.

102. If we are frank about this, it means that the majority of aspirants and disciples we know (including, very likely, ourselves) are considered to be potential hazards[7] and unstable. This should be a sobering thought.

102. Nếu chúng ta thành thật về điều này, nó có nghĩa là đa số những người chí nguyện và đệ tử mà chúng ta biết, rất có thể bao gồm cả chính chúng ta, được xem là những mối nguy tiềm tàng và chưa ổn định. Đây là một tư tưởng khiến ta phải tỉnh thức.

103. We know what it means to work with unstable, undependable people. Think, then, of the perspective of Hierarchy as it settles its gaze upon us!

103. Chúng ta biết làm việc với những người không ổn định, không đáng tin cậy nghĩa là gì. Vậy hãy nghĩ đến viễn cảnh của Thánh đoàn khi Thánh đoàn đặt ánh nhìn lên chúng ta!

After that, he may suffer from illusion, but there is then no fear of his permanently turning back and reaching the left-hand path and so perhaps, in rare cases, finding his way into the Black Lodge. The major liability of the average initiate is sloth[8] or lack of speed. Ponder on that.

Sau đó, y có thể chịu ảnh hưởng của ảo tưởng, nhưng bấy giờ không còn nỗi sợ rằng y sẽ vĩnh viễn quay lưng và đi vào tả đạo, rồi có lẽ, trong những trường hợp hiếm hoi, tìm được đường vào Hắc đoàn. Trách nhiệm nguy hiểm chính của điểm đạo đồ trung bình là sự lười biếng hay thiếu tốc độ. Hãy suy ngẫm về điều đó.

104. This section includes the possibility that the one who has been judged as stable and no longer a hazard may indeed turn back—but not permanently!

104. Phần này bao gồm khả năng rằng người đã được xét là ổn định và không còn là một mối nguy quả thật có thể quay lưng, nhưng không phải vĩnh viễn!

105. Even those who reach the left-hand path may not find their way into the Black Lodge—this due to the extraordinarily triumphant work of the Great White Lodge.

105. Ngay cả những người đi vào tả đạo cũng có thể không tìm được đường vào Hắc đoàn, điều này là nhờ công việc chiến thắng phi thường của Thánh đoàn.

106. One might wonder why it is that the Tibetan, at this point, begins to speak of “sloth or lack of speed”. Perhaps He is telling us something about ourselves. Further, maybe He is advising us on the best way to obviate the danger of turning back: “get on with it!”

106. Người ta có thể tự hỏi tại sao Chân sư Tây Tạng, ở điểm này, bắt đầu nói về “sự lười biếng hay thiếu tốc độ”. Có lẽ Ngài đang nói với chúng ta điều gì đó về chính mình. Hơn nữa, có lẽ Ngài đang khuyên chúng ta về cách tốt nhất để ngăn ngừa nguy cơ quay lưng: “hãy bắt tay vào làm!”

107. Probationary initiates have many liabilities[9], but DK calls sloth or lack of speed their “major liability”. Under the influence of this liability, the probationary initiate will fail to take advantage of many opportunities which could bring him safely into the domain of Hierarchy.

107. Các điểm đạo đồ dự bị có nhiều trách nhiệm nguy hiểm, nhưng Chân sư DK gọi sự lười biếng hay thiếu tốc độ là “trách nhiệm nguy hiểm chính” của họ. Dưới ảnh hưởng của trách nhiệm nguy hiểm này, điểm đạo đồ dự bị sẽ không tận dụng được nhiều cơ hội có thể đưa y một cách an toàn vào phạm vi của Thánh đoàn.

I would have you grasp clearly the highly condensed presentation I have given you.

Tôi muốn các bạn nắm bắt rõ ràng phần trình bày hết sức cô đọng mà tôi đã trao cho các bạn.

108. The Tibetan speaks of the highly condensed presentation He is offering. These few pages tell much in little about the progress which the advancing initiate must make.

108. Chân sư Tây Tạng nói về phần trình bày hết sức cô đọng mà Ngài đang đưa ra. Vài trang này nói nhiều trong ít về sự tiến bộ mà điểm đạo đồ đang tiến lên phải thực hiện.

Some of it you know already but it is the synthetic presentation which I would have you appreciate and appropriate.

Một phần trong đó các bạn đã biết rồi, nhưng chính phần trình bày tổng hợp là điều tôi muốn các bạn trân trọng và tiếp nhận.

109. The initiate is rapidly moving towards simplification. DK would see us capable of it. We, too, have to learn to say much in little. We, too, have to deliver complexity in simple terms.

109. Điểm đạo đồ đang nhanh chóng tiến tới sự giản dị hóa. Chân sư DK muốn thấy chúng ta có khả năng làm điều đó. Chúng ta cũng phải học cách nói nhiều trong ít. Chúng ta cũng phải biết truyền đạt sự phức tạp bằng những thuật ngữ giản dị.

We can then take up the work to be done within the individual framework by the initiate; I will endeavour to help you to understand somewhat more clearly what the initiate-consciousness would read into the Law of the Supplementary Seven.

Bấy giờ chúng ta có thể đảm nhiệm công việc cần được điểm đạo đồ thực hiện trong khuôn khổ cá nhân; tôi sẽ cố gắng giúp các bạn thấu hiểu rõ hơn đôi chút điều mà tâm thức điểm đạo đồ sẽ đọc thấy trong Định luật Bảy Bổ Sung.

110. There is specific work to be done within the individual framework and we must be clear about it.

110. Có một công việc cụ thể cần được thực hiện trong khuôn khổ cá nhân và chúng ta phải rõ ràng về điều đó.

111. The majority of those for whom Master DK writes cannot enter initiate-consciousness unaided.

111. Đa số những người mà Chân sư DK viết cho không thể tự mình đi vào tâm thức điểm đạo đồ nếu không được trợ giúp.

Beginning with this eighth rule which we are now studying, we enter upon the consideration of certain major unfoldments, major spiritual happenings and a series of major awakenings in consciousness which are in the nature of events.

Bắt đầu với quy luật thứ tám này mà chúng ta đang nghiên cứu, chúng ta đi vào việc xem xét một số sự khai mở lớn, những biến cố tinh thần lớn và một chuỗi những thức tỉnh lớn trong tâm thức vốn có bản chất của các sự kiện.

112. Shall we distinguish “events” from “episodes”?

112. Chúng ta có nên phân biệt “sự kiện” với “giai đoạn” chăng?

113. The term “major” tells us that we are in no way speaking of initiations of the threshold. That term almost always indicates processes related to the third initiation or beyond.

113. Thuật ngữ “lớn” cho chúng ta biết rằng chúng ta tuyệt nhiên không nói về các cuộc điểm đạo nơi ngưỡng cửa. Thuật ngữ ấy hầu như luôn luôn chỉ các tiến trình liên quan đến lần điểm đạo thứ ba hoặc vượt quá.

These involve likewise certain major recognitions and appreciations which will affect the initiate increasingly and bring about his eventual attainment.

Những điều này cũng bao gồm một số nhận thức lớn và sự trân trọng lớn, vốn sẽ ngày càng tác động đến điểm đạo đồ và đem lại thành tựu sau cùng của y.

114. Let us tabulate the kind of experiences into which DK is seeking to lead us or, at least, of which He seeks to make us aware:

114. Chúng ta hãy lập bảng loại kinh nghiệm mà Chân sư DK đang tìm cách dẫn chúng ta vào, hoặc ít nhất, những điều mà Ngài tìm cách làm cho chúng ta ý thức được:

a. Certain major unfoldments

a. Một số sự khai mở lớn

b. Major spiritual happenings

b. Những biến cố tinh thần lớn

c. A series of major awakenings

c. Một chuỗi những thức tỉnh lớn

d. Certain major recognitions

d. Một số nhận thức lớn

e. Certain major appreciations.

e. Một số sự trân trọng lớn.

115. We are certainly speaking of access to the intuition and of expansions of consciousness—the realm of Mercury, Jupiter and Neptune—all of them having a strong connection with the buddhic experience.

115. Chắc chắn chúng ta đang nói về sự tiếp cận trực giác và những mở rộng tâm thức, tức là lĩnh vực của Sao Thủy, Sao Mộc và Sao Hải Vương, tất cả đều có một mối liên hệ mạnh mẽ với kinh nghiệm Bồ đề.

These are the factors which condition the date of his achievement and not the character undertakings and the soul contacts which are so necessary upon the Path of Probation and upon the Path of Discipleship.

Đây là những yếu tố tác động đến thời điểm thành tựu của y, chứ không phải các công cuộc lập hạnh và những tiếp xúc linh hồn vốn rất cần thiết trên Con Đường Dự Bị và trên Con Đường Đệ Tử.

116. A great distinction is being made concerning what will open the door to major expansions, and, on the other hand, those lesser spiritual achievements of the Path of Probation (and even on the Path of Discipleship) based upon the improvement of character and soul contacts.

116. Một sự phân biệt lớn đang được nêu ra liên quan đến điều sẽ mở cánh cửa đi vào các mở rộng lớn, và mặt khác, những thành tựu tinh thần nhỏ hơn của Con Đường Dự Bị, và thậm chí trên Con Đường Đệ Tử, dựa trên sự cải thiện tính cách và các tiếp xúc linh hồn.

117. It is clear over and again that in this Rule we are speaking of the Path of Initiation.

117. Rõ ràng hết lần này đến lần khác rằng trong Quy luật này chúng ta đang nói về Con Đường Điểm Đạo.

We are principally concerned at this point with the interpretation of the Law of the Supplementary Seven. It must be remembered that the Laws of Nature are imposed upon the mass of men, and cannot be avoided. If these laws are broken, infringed or evaded, they carry their own penalty within themselves, and this also cannot be avoided.

Ở điểm này, chúng ta chủ yếu quan tâm đến việc diễn giải Định luật Bảy Bổ Sung. Cần nhớ rằng các Định luật Tự Nhiên được áp đặt lên đại chúng nhân loại, và không thể tránh được. Nếu các định luật này bị phá vỡ, vi phạm hoặc lẩn tránh, chúng mang sẵn hình phạt của chính mình trong bản thân chúng, và điều này cũng không thể tránh được.

118. These Laws of Nature are operative under the Law of Economy, and come under the third ray and Saturn.

118. Các Định luật Tự Nhiên này hoạt động dưới Định luật Tiết Kiệm, và thuộc cung ba cùng Thổ Tinh.

119. Saturn imposes the law in the early days of evolution. It is the preeminent Lord of Karma in this regard.

119. Thổ Tinh áp đặt định luật trong những ngày đầu của tiến hoá. Về phương diện này, đó là Chúa Tể Nghiệp Quả tối thượng.

120. The mass of men is ruled by Cancer and the four lunar vehicles over which Cancer presides; Saturn in relation to Cancer has especially to do with the penalties of incarnated life.

120. Đại chúng nhân loại được Cự Giải và bốn vận cụ thái âm mà Cự Giải chủ trì cai quản; Thổ Tinh trong liên hệ với Cự Giải đặc biệt liên quan đến những hình phạt của đời sống nhập thể.

121. DK is telling us that the Law of the Supplementary Seven belongs to another category of laws than the Laws of Nature.

121. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng Định luật Bảy Bổ Sung thuộc về một loại định luật khác với các Định luật Tự Nhiên.

These great protective laws are intended to guard the personalities through which the soul incarnates and eventually to cement and further all the great and possible relationships.

Những định luật bảo hộ vĩ đại này nhằm gìn giữ các phàm ngã mà qua đó linh hồn nhập thể, và cuối cùng nhằm củng cố cũng như thúc đẩy mọi mối quan hệ vĩ đại và khả hữu.

122. Saturn is the ‘Guardian through Law’. The form must be of a certain quality and in a certain functioning order if consciousness is successfully to develop through its use.

122. Sao Thổ là “Đấng Hộ Trì qua Định luật”. Hình tướng phải có một phẩm tính nhất định và ở trong một trật tự vận hành nhất định, nếu tâm thức muốn phát triển thành công nhờ việc sử dụng nó.

The man passes from the stage of antagonism (as an individual) to the control of these natural though divine [Page 157] laws, to a recognition of their inevitability and of their wisdom. They automatically then control him.

Con người chuyển từ giai đoạn đối kháng với tư cách một cá nhân sang sự kiểm soát của các định luật tự nhiên nhưng thiêng liêng này [Page 157], sang sự nhận biết tính tất yếu và minh triết của chúng. Khi đó, chúng tự động kiểm soát y.

123. We note, and should remember that the Laws of Nature, though natural, are nevertheless, divine. They are a kind of ‘divine parental control’ needed during the earlier stages of evolution.

123. Chúng ta ghi nhận, và nên nhớ rằng các Định luật Tự nhiên, tuy là tự nhiên, nhưng vẫn là thiêng liêng. Chúng là một loại “sự kiểm soát phụ mẫu thiêng liêng” cần thiết trong các giai đoạn đầu của tiến hoá.

124. Though these Laws of Nature come under the rulership of Saturn, it is well to remember that, to a degree, all law (within our solar system) is the province of Saturn.

124. Dù các Định luật Tự nhiên này thuộc quyền cai quản của Sao Thổ, cũng nên nhớ rằng, ở một mức độ nào đó, mọi định luật trong hệ mặt trời của chúng ta đều thuộc phạm vi của Sao Thổ.

125. Dane Rudhyar put forward the idea that personality as a whole is ruled by Saturn whereas the soul or Higher Self is under the rulership of expansive Jupiter.

125. Dane Rudhyar đã đưa ra ý tưởng rằng toàn bộ phàm ngã do Sao Thổ cai quản, trong khi linh hồn hay Bản Ngã Cao Siêu nằm dưới quyền cai quản của Sao Mộc mở rộng.

126. The antagonism to the Laws of Nature evidenced by the undeveloped man are induced by the Martian response within himself. Mars is ever the rebel, and must be subdued by the lawfulness of Saturn.

126. Sự đối kháng với các Định luật Tự nhiên nơi con người chưa phát triển là do đáp ứng Hỏa Tinh bên trong chính y gây ra. Sao Hỏa luôn là kẻ nổi loạn, và phải được tính hợp luật của Sao Thổ chế phục.

127. Notice how the Laws of Nature are related to the idea of concretion, and how the word “cement” is used when discussing their purpose. They obvious create the “foundation” and are related to Saturn, the Third Ray Lord, one of Whose names is “The Builder of the Foundation”.

127. Hãy lưu ý các Định luật Tự nhiên liên hệ với ý tưởng về sự cụ thể hoá như thế nào, và từ “củng cố” được dùng ra sao khi bàn về mục đích của chúng. Rõ ràng chúng tạo nên “nền móng” và liên hệ với Sao Thổ, Đấng Chúa Tể Cung ba, một trong các danh xưng của Ngài là “Đấng Kiến Tạo Nền Móng”.

128. We may say that the Laws of Nature are of the following type (which we could with profit enlarge upon):

128. Chúng ta có thể nói rằng các Định luật Tự nhiên thuộc loại sau đây, mà chúng ta có thể hữu ích mở rộng thêm:

a. The Law of Gravity

a. Định luật Trọng lực

b. The Law of Equilibrium (“for every action there is an opposite and equal reaction”—Newton, an extension of which is the Law of Karma)

b. Định luật Cân bằng “với mỗi hành động đều có một phản ứng đối lập và ngang bằng” — Newton; một phần mở rộng của định luật này là Định luật Nghiệp quả

c. The Law of the Conservation of Energy

c. Định luật Bảo toàn Năng lượng

d. The Law of Entropy

d. Định luật Entropy

e. In general, the Law of Economy

e. Nói chung, Định luật Tiết Kiệm

f. The Law of Evolution

f. Định luật Tiến hoá

g. What we might call the ‘Law of Impermanent Aggregation’—‘all aggregates disintegrate’ What is born shall die (and what dies shall be re-born).

g. Điều chúng ta có thể gọi là “Định luật Kết tập Không Thường tồn” — “mọi kết tập đều tan rã”. Cái gì được sinh ra sẽ chết đi, và cái gì chết đi sẽ được tái sinh.

h. There are probably other laws that we can add to this list.

h. Có lẽ còn những định luật khác mà chúng ta có thể thêm vào danh sách này.

129. Notice how one cannot even be an aspirant unless he conforms for the Laws of Nature. This stage represents a reorientation of Mars under the training of Saturn. Mars no longer is strictly desirous, but becomes aspirational. We now have what might be called ‘rising fire’ instead of merely downward-tending or horizontal fire.

129. Hãy lưu ý rằng người ta thậm chí không thể là một người chí nguyện nếu y không tuân theo các Định luật Tự nhiên. Giai đoạn này biểu thị một sự tái định hướng của Sao Hỏa dưới sự huấn luyện của Sao Thổ. Sao Hỏa không còn đơn thuần ham muốn nữa, mà trở nên khát vọng. Bấy giờ chúng ta có điều có thể gọi là “lửa hướng thượng” thay vì chỉ là lửa có khuynh hướng đi xuống hay nằm ngang.

When this control by the Laws of Nature has become complete, the man becomes an aspirant and begins to come under the Laws of the Soul, which are laws concerned primarily with the establishing of the great Fellowship of the Universe.

Khi sự kiểm soát bởi các Định luật Tự nhiên này đã trở nên hoàn toàn, con người trở thành người chí nguyện và bắt đầu thuộc về các Định luật của Linh hồn, vốn là những định luật chủ yếu liên quan đến việc thiết lập Tình Huynh Đệ vĩ đại của Vũ Trụ.

130. During the phase of man’s early development, the influence of Saturn prevails. This period precedes that in which the higher influence of Venus and Jupiter can supervene.

130. Trong giai đoạn phát triển ban đầu của con người, ảnh hưởng của Sao Thổ chiếm ưu thế. Thời kỳ này đi trước thời kỳ trong đó ảnh hưởng cao hơn của Sao Kim và Sao Mộc có thể chen vào.

131. There is a steady progression; one who has not fulfilled the Laws of Nature is in no position to attempt to express the Laws of the Soul (which are of a different and higher order).

131. Có một tiến trình đều đặn; người nào chưa hoàn thành các Định luật Tự nhiên thì chưa ở vị thế để cố gắng biểu lộ các Định luật của Linh hồn, vốn thuộc một trật tự khác và cao hơn.

132. Is not the “Fellowship of the Universe” a beautiful phrase? It emphasizes Brotherhood, and the cohesive, harmonious relationships induced by the second ray. One thinks of St. Francis in this regard; he seemed to appreciate brotherhood on both a horizontal and vertical level: “Brother Sun; Sister Moon”. “Brother wolf.”

132. Chẳng phải “Tình Huynh Đệ của Vũ Trụ” là một cụm từ đẹp sao? Nó nhấn mạnh Huynh Đệ Tính, và những mối quan hệ cố kết, hài hoà do cung hai khơi dậy. Về phương diện này, người ta nghĩ đến Thánh Francis; ông dường như đã trân trọng tình huynh đệ trên cả cấp độ ngang lẫn dọc: “Anh Mặt Trời; Chị Mặt Trăng”. “Anh Sói”.

There has been much confusion among esotericists upon these points. They confuse the discipline to which the personality has to submit when coming under soul influence, with the Laws of the Soul which have naught to do with the petty little affairs of the personality—unimportant and unnoticed by the soul on its own plane—but with the growing recognition of right group relations;

Đã có nhiều sự lẫn lộn giữa các nhà bí truyền học về những điểm này. Họ lẫn lộn kỷ luật mà phàm ngã phải quy phục khi chịu ảnh hưởng của linh hồn với các Định luật của Linh hồn, vốn chẳng liên quan gì đến những việc nhỏ nhặt vụn vặt của phàm ngã — không quan trọng và không được linh hồn trên cõi riêng của nó chú ý — mà liên quan đến sự nhận biết ngày càng tăng về các mối quan hệ nhóm đúng đắn;

133. We are given a most clarifying distinction. The Laws of the Soul operate on the level of group relations and have nothing to do with the necessary imposition of discipline upon the personality as it attempts to fit itself to respond to the Laws of the Soul.

133. Chúng ta được trao cho một sự phân biệt hết sức sáng tỏ. Các Định luật của Linh hồn vận hành trên cấp độ các mối quan hệ nhóm, và không liên quan gì đến việc áp đặt kỷ luật cần thiết lên phàm ngã khi nó cố gắng tự thích nghi để đáp ứng với các Định luật của Linh hồn.

134. As one begins to appreciate and live in accordance with these soul’s laws, there will, however, be increasing pressure upon the personality to discipline itself. Such self-discipline, however, will by no means be the main focus of consciousness as it is when treading the Path of Probation.

134. Tuy nhiên, khi một người bắt đầu trân trọng và sống phù hợp với các định luật này của linh hồn, sẽ có áp lực ngày càng tăng lên phàm ngã để nó tự kỷ luật. Tuy vậy, sự tự kỷ luật ấy tuyệt nhiên sẽ không phải là tiêu điểm chính của tâm thức như khi đang bước trên Con Đường Dự Bị.

135. We should be reminded that the “petty little affairs of the personality” are “unimportant and unnoticed by the soul on its own plane”. There are some responsibilities which are simply left to us—the soul in incarnation—and are no concern of the higher spiritual sources which supervise our overall progress and to which we make appeal. Knowledge of this kind tends to the proper allocation of responsibility.

135. Chúng ta nên được nhắc rằng “những việc nhỏ nhặt vụn vặt của phàm ngã” là “không quan trọng và không được linh hồn trên cõi riêng của nó chú ý”. Có một số trách nhiệm đơn giản là để lại cho chúng ta — linh hồn đang nhập thể — và không phải là mối bận tâm của những nguồn tinh thần cao hơn đang giám sát tiến bộ tổng thể của chúng ta và là nơi chúng ta hướng lời thỉnh cầu. Tri thức thuộc loại này giúp phân bổ trách nhiệm một cách thích đáng.

these are based upon a growing understanding of the hierarchical mode of work and of inter-hierarchical relationships. The Laws of Nature, therefore, concern the activities of the soul in form and are mandatory and accepted by the form nature.

những điều này dựa trên sự thấu hiểu ngày càng tăng về phương thức làm việc của Thánh đoàn và về các mối quan hệ liên cấp trong Thánh đoàn. Vì vậy, các Định luật Tự nhiên liên quan đến các hoạt động của linh hồn trong hình tướng, có tính bắt buộc và được bản chất hình tướng chấp nhận.

136. We can see that as human beings become spiritualized they are learning to live in accordance with the Laws of the Soul. These are laws to which the Hierarchy naturally conforms, determining as they do “inter-hierarchical relationships”.

136. Chúng ta có thể thấy rằng khi con người trở nên tinh thần hoá, họ đang học cách sống phù hợp với các Định luật của Linh hồn. Đây là những định luật mà Thánh đoàn tự nhiên tuân theo, vì chúng quyết định “các mối quan hệ liên cấp trong Thánh đoàn”.

137. From this discussion we notice how the lower laws are imposed, until their value is seen. Then comes the possibility of voluntary acceptance. In the beginning there is not sufficient self-conscious will to make voluntary acceptance possible. With regard to the Laws of the Soul, they can only be expressed by integrated, self-conscious personalities, possessed of individual will. They are not imposed. These soul laws come under the second ray, and it is not the nature of the second ray to impose itself. One is, as it were, ‘invited’ and ‘persuaded’ (over much time and through expanding awareness) to follow the Laws of the Soul.

137. Từ cuộc bàn luận này, chúng ta nhận thấy các định luật thấp hơn được áp đặt như thế nào, cho đến khi giá trị của chúng được nhận ra. Khi ấy xuất hiện khả năng tự nguyện chấp nhận. Ban đầu chưa có đủ ý chí ngã thức để khiến sự chấp nhận tự nguyện trở nên khả hữu. Đối với các Định luật của Linh hồn, chúng chỉ có thể được biểu lộ bởi các phàm ngã tích hợp, có ngã thức và sở hữu ý chí cá nhân. Chúng không bị áp đặt. Các định luật linh hồn này thuộc cung hai, và bản chất của cung hai không phải là tự áp đặt. Có thể nói, người ta được “mời gọi” và “thuyết phục” qua rất nhiều thời gian và nhờ sự mở rộng nhận thức để đi theo các Định luật của Linh hồn.

138. A review of the Laws of the Soul, in Esoteric Psychology II, would be in order. They are simply given below without elaboration.

138. Việc ôn lại các Định luật của Linh hồn trong Tâm Lý Học Nội Môn II là điều thích hợp. Dưới đây, chúng chỉ được nêu ra mà không diễn giải.

a. The Law of Sacrifice

a. Định luật Hi sinh

b. The Law of Magnetic Impulse (or Polar Union—its esoteric name)

b. Định luật Xung Động Từ Tính, hay Hợp Nhất Phân Cực — danh xưng huyền bí của nó

c. The Law of Service

c. Định luật Phụng sự

d. The Law of Repulse

d. Định luật Đẩy Lùi

e. The Law of Group Progress (or Elevation—its esoteric name)

e. Định luật Tiến Bộ Nhóm, hay Sự Nâng Cao — danh xưng huyền bí của nó

f. The Law of Expansive Response

f. Định luật Đáp Ứng Mở Rộng

g. The Law of the Lower Four

g. Định luật của Bốn Thấp

56. The Tibetan makes the important point that the Law of the Supplementary Seven is a Law of Spirit, a Law of Life (first aspect)

56. Chân sư Tây Tạng nêu điểm quan trọng rằng Định luật Bảy Bổ Sung là một Định luật của Tinh thần, một Định luật của Sự Sống, tức phương diện thứ nhất

57. Other Laws of Spirit might be expressed as follows:

57. Các Định luật khác của Tinh thần có thể được diễn đạt như sau:

a. The Law of Freedom

a. Định luật Tự do

b. The Law of ‘Eternal Persistence’

b. Định luật “Kiên Trì Vĩnh Cửu”

c. The Law of Synthesis (or of ‘Indivisible Oneness’)

c. Định luật Tổng hợp, hay “Nhất Tính Bất Khả Phân”

d. The ‘Law of Three in One’

d. “Định luật Ba trong Một”

The Laws of the Soul concern the life of the soul upon its own plane, and the relation which the blending soul and personality learn to establish with other souls and with the Hierarchy. These are consciously and voluntarily obeyed, and are not just accepted as mandatory and as forced upon the man by force of circumstances, experience and evolution. They tend to bring about increasing relation between the Hierarchy of Souls and Humanity as a whole, between the great planetary centre which is the custodian of the principle of love and the planetary centre, humanity, which nurtures and distributes the energy of mind.

Các Định luật của Linh hồn liên quan đến sự sống của linh hồn trên cõi riêng của nó, và đến mối quan hệ mà linh hồn và phàm ngã đang hoà nhập học cách thiết lập với các linh hồn khác và với Thánh đoàn. Những định luật này được tuân phục một cách có ý thức và tự nguyện, chứ không chỉ được chấp nhận như những điều bắt buộc và như bị cưỡng ép lên con người bởi sức mạnh của hoàn cảnh, kinh nghiệm và tiến hoá. Chúng có khuynh hướng tạo nên mối liên hệ ngày càng tăng giữa Thánh đoàn các Linh hồn và Nhân loại như một toàn thể, giữa trung tâm hành tinh vĩ đại là nơi gìn giữ nguyên khí tình thương và trung tâm hành tinh là nhân loại, nơi nuôi dưỡng và phân phối năng lượng của trí tuệ.

139. Let us tabulate a few factors concerning the Laws of the Soul:

139. Chúng ta hãy lập bảng một vài yếu tố liên quan đến các Định luật của Linh hồn:

a. They concern the life of the soul upon its own plane

a. Chúng liên quan đến sự sống của linh hồn trên cõi riêng của nó

b. They concern the relation which the blending soul and personality learn to establish with other souls

b. Chúng liên quan đến mối quan hệ mà linh hồn và phàm ngã đang hoà nhập học cách thiết lập với các linh hồn khác

c. The concern the relation which the blending soul and personality learn to establish with the Hierarchy

c. Chúng liên quan đến mối quan hệ mà linh hồn và phàm ngã đang hoà nhập học cách thiết lập với Thánh đoàn

d. They are consciously and voluntarily obeyed

d. Chúng được tuân phục một cách có ý thức và tự nguyện

e. They tend to bring about increasing relation between the Hierarchy of Souls and Humanity as a whole

e. Chúng có khuynh hướng tạo nên mối liên hệ ngày càng tăng giữa Thánh đoàn các Linh hồn và Nhân loại như một toàn thể

f. They tend to relate love and mind

f. Chúng có khuynh hướng liên kết tình thương và trí tuệ

140. If the Laws of the Soul concern the life of the soul on its own plane, and the relation which the blending soul and personality learn to establish with other souls and with the Hierarchy, then these Laws must be related to the sacred planets, and the non-sacred planets (in general) to the Laws of Nature. If there are seven Laws of the Soul, one should be able to assign them to the seven sacred planets.

140. Nếu các Định luật của Linh hồn liên quan đến sự sống của linh hồn trên cõi riêng của nó, và đến mối quan hệ mà linh hồn và phàm ngã đang hoà nhập học cách thiết lập với các linh hồn khác và với Thánh đoàn, thì các Định luật này phải liên hệ với các hành tinh thiêng liêng, còn các hành tinh không thiêng liêng nói chung liên hệ với các Định luật Tự nhiên. Nếu có bảy Định luật của Linh hồn, người ta hẳn có thể quy chúng cho bảy hành tinh thiêng liêng.

141. At least there is some human application to the Laws of the Soul, because the term “blending soul and personality” pretty well describes the necessary spiritual work for the majority of aspirants and disciples. It seems that the Solar Angel conforms to these Laws and is teaching its human projection how to do so. This can only happen when some degree of soul consciousness is established within the personality mind.

141. Ít nhất cũng có một phần ứng dụng nhân loại đối với các Định luật của Linh hồn, bởi vì thuật ngữ “linh hồn và phàm ngã đang hoà nhập” mô tả khá đúng công việc tinh thần cần thiết cho đa số người chí nguyện và đệ tử. Dường như Thái dương Thiên Thần tuân theo các Định luật này và đang dạy hình chiếu nhân loại của mình cách làm như vậy. Điều này chỉ có thể xảy ra khi một mức độ nào đó của tâm thức linh hồn đã được thiết lập trong thể trí phàm ngã.

142. Master DK emphasizes that we misunderstand these Laws, and apply them on too low a level. So often the Tibetan is at pains to emphasize how little of our personality life is noticed either by the soul or by the Master.

142. Chân sư DK nhấn mạnh rằng chúng ta hiểu sai các Định luật này và áp dụng chúng ở một cấp độ quá thấp. Chân sư Tây Tạng rất thường cố công nhấn mạnh rằng đời sống phàm ngã của chúng ta được linh hồn hay Chân sư chú ý ít biết bao.

The Law of the Supplementary Seven is the great synthetic Law of Life or of Spirit and is the law with which the initiate works; it is this law he wields. From acceptance of the laws of nature and obedience to the laws of the soul, he passes into the positive phase of understanding and wielding the Law of Life. Because this is a governing law for all initiates, and because we know that the nature of life-energy or of spirit cannot be grasped until after the third initiation, it is exceedingly difficult for me to write in explanation of this law. You have not yet the initiate consciousness. [Page 158] I have therefore had to express this law in terms of form, whereas the initiate understands it from its formless angle.

Định luật Bảy Bổ Sung là Định luật tổng hợp vĩ đại của Sự Sống hay của Tinh thần, và là định luật mà điểm đạo đồ làm việc với; chính định luật này y vận dụng. Từ việc chấp nhận các định luật tự nhiên và tuân phục các định luật của linh hồn, y bước vào giai đoạn tích cực của sự thấu hiểu và vận dụng Định luật của Sự Sống. Vì đây là một định luật chi phối mọi điểm đạo đồ, và vì chúng ta biết rằng bản chất của năng lượng-sự sống hay của tinh thần không thể được nắm bắt cho đến sau lần điểm đạo thứ ba, nên đối với tôi, việc viết để giải thích định luật này là hết sức khó khăn. Các bạn chưa có tâm thức điểm đạo đồ. [Page 158] Vì vậy tôi đã phải diễn đạt định luật này bằng những thuật ngữ của hình tướng, trong khi điểm đạo đồ thấu hiểu nó từ góc độ vô hình tướng.

143. It is important to know to which divine aspect a law or series of laws is related.

143. Điều quan trọng là biết một định luật hay một loạt định luật liên hệ với phương diện thiêng liêng nào.

144. The Law of the Supplementary Seven is clearly related to the Law of Synthesis (related to the first ray). DK calls the Law of the Supplementary Seven “the great Synthetic Law of Life or of Spirit”. Perhaps this is why we find it difficult to understand.

144. Định luật Bảy Bổ Sung rõ ràng liên hệ với Định luật Tổng hợp, vốn liên hệ với cung một. Chân sư DK gọi Định luật Bảy Bổ Sung là “Định luật tổng hợp vĩ đại của Sự Sống hay của Tinh thần”. Có lẽ đây là lý do khiến chúng ta khó thấu hiểu nó.

145. The initiate works with this law and wields it. He has worked his way through the laws of nature, then to and through the laws of the soul, into the Law of Life.

145. Điểm đạo đồ làm việc với định luật này và vận dụng nó. Y đã đi xuyên qua các định luật tự nhiên, rồi đến và xuyên qua các định luật của linh hồn, để bước vào Định luật của Sự Sống.

146. We are coming to understand why the Law of the Supplementary Seven cannot easily be grasped. We tend to interpret in terms of form whereas the initiate understands this law from the formless angle.

146. Chúng ta đang bắt đầu thấu hiểu vì sao Định luật Bảy Bổ Sung không dễ nắm bắt. Chúng ta có khuynh hướng diễn giải theo những thuật ngữ của hình tướng, trong khi điểm đạo đồ thấu hiểu định luật này từ góc độ vô hình tướng.

147. Our difficulties are based upon the fact that “the nature of life-energy or of spirit cannot be grasped until after the third initiation”.

147. Những khó khăn của chúng ta dựa trên sự kiện rằng “bản chất của năng lượng-sự sống hay của tinh thần không thể được nắm bắt cho đến sau lần điểm đạo thứ ba”.

148. At the beginning of this chapter, little was said in description of the Law of the Supplementary Seven. Now some very important descriptive statements are being made: it is a Law of the spirit and concerned with the wielding of energy in the world of the spiritual triad, which is the world in which the initiate focusses.

148. Ở đầu chương này, rất ít điều được nói để mô tả Định luật Bảy Bổ Sung. Giờ đây, một số phát biểu mô tả rất quan trọng đang được đưa ra: đó là một Định luật của tinh thần và liên quan đến việc vận dụng năng lượng trong thế giới của Tam Nguyên Tinh Thần, là thế giới trong đó điểm đạo đồ tập trung.

This law is concerned with the wielding of energy in the world of the Spiritual Triad and not with the distribution or the transmission of this energy to the three worlds in which average humanity habitually dwells.

Định luật này liên quan đến việc vận dụng năng lượng trong thế giới của Tam Nguyên Tinh Thần chứ không liên quan đến việc phân phối hay truyền dẫn năng lượng này đến ba cõi thấp, nơi nhân loại trung bình thường cư trú.

149. Our task in building and utilizing the antahkarana is to access the energies of the spiritual triad and express, distribute and transmit them in the three lower worlds. This is a sufficiently difficult task.

149. Nhiệm vụ của chúng ta trong việc xây dựng và sử dụng antahkarana là tiếp cận các năng lượng của Tam Nguyên Tinh Thần, rồi biểu lộ, phân phối và truyền dẫn chúng trong ba cõi thấp. Đây là một nhiệm vụ đủ khó khăn.

150. The Law of the Supplementary Seven, however, concerns a much higher task—the “wielding of energy in the world of the Spiritual Triad” (Italics MDR). Only those who are initiate (and especially advanced initiates and Masters) can do this.

150. Tuy nhiên, Định luật Bảy Bổ Sung liên quan đến một nhiệm vụ cao hơn nhiều — “việc vận dụng năng lượng trong thế giới của Tam Nguyên Tinh Thần” chữ nghiêng của MDR. Chỉ những ai là điểm đạo đồ, và đặc biệt là các điểm đạo đồ cao cấp cùng các Chân sư, mới có thể làm điều này.

Right wielding of this law (controlling energy in the initiatory world of causes) automatically brings about activity, movement, force expression, and right distribution of these forces in the lower three worlds.

Việc vận dụng đúng đắn định luật này, tức kiểm soát năng lượng trong thế giới điểm đạo của các nguyên nhân, tự động tạo nên hoạt động, chuyển động, sự biểu lộ mãnh lực và sự phân phối đúng đắn các mãnh lực này trong ba cõi thấp.

151. This is such an important statement. The manner in which we distribute soul and triadal energies in the lower worlds is not yet skillful or efficient. Were we able to rightly wield the Law of the Supplementary Seven (thus controlling energy in the initiatory world of causes) we would find that right distribution of triadal forces in the lower worlds would automatically occur.

151. Đây là một phát biểu hết sức quan trọng. Cách chúng ta phân phối các năng lượng linh hồn và tam nguyên trong các cõi thấp vẫn chưa khéo léo hay hiệu quả. Nếu chúng ta có thể vận dụng đúng đắn Định luật Bảy Bổ Sung, nhờ đó kiểm soát năng lượng trong thế giới điểm đạo của các nguyên nhân, chúng ta sẽ thấy rằng sự phân phối đúng đắn các mãnh lực tam nguyên trong các cõi thấp sẽ tự động diễn ra.

152. We cannot yet do this, but through a study of this law and a growing ability to make it a reality in our lives, we will approach the possibility of such accomplishment.

152. Chúng ta chưa thể làm điều này, nhưng qua việc nghiên cứu định luật này và qua năng lực ngày càng tăng để biến nó thành một thực tại trong đời sống của mình, chúng ta sẽ tiến gần đến khả năng thành tựu ấy.

These are, under the evolutionary law, direct reflections of the three higher worlds of the triadal light and life.

Theo định luật tiến hoá, những điều này là các phản chiếu trực tiếp của ba thế giới cao hơn thuộc ánh sáng và sự sống tam nguyên.

153. The world of the personality reflects the world of the spiritual triad. The higher ethers (the four higher systemic planes) are reflected in the lower ethers of the physical plane. The right orientation to the triadal worlds and right entry into these worlds will have a beneficent reflection in the lower worlds which are customarily the focus of our consciousness.

153. Thế giới của phàm ngã phản chiếu thế giới của Tam Nguyên Tinh Thần. Các dĩ thái cao, tức bốn cõi hệ thống cao hơn, được phản chiếu trong các dĩ thái thấp của cõi hồng trần. Sự định hướng đúng đắn về các thế giới tam nguyên và sự nhập vào đúng đắn trong các thế giới này sẽ có một phản chiếu hữu ích trong các cõi thấp, vốn thường là tiêu điểm của tâm thức chúng ta.

154. We are immediately alerted to the abstruse nature of this law when we are told that it concerns the “wielding of energy in the world of the Spiritual Triad”. As we are not polarized within the spiritual triad (but must merely, though correct orientation, hope to receive its energy) the full scope of the Law of the Supplementary Seven cannot be encompassed by us.

154. Chúng ta lập tức được cảnh giác về bản chất thâm áo của định luật này khi được cho biết rằng nó liên quan đến “việc vận dụng năng lượng trong thế giới của Tam Nguyên Tinh Thần”. Vì chúng ta chưa phân cực trong Tam Nguyên Tinh Thần, mà chỉ phải hy vọng nhận năng lượng của nó qua sự định hướng đúng đắn, nên chúng ta không thể bao quát trọn vẹn phạm vi của Định luật Bảy Bổ Sung.

155. Who is polarized in the world of the spiritual triad? The Arhat and the Master, and to some small and initial extent, the initiate of the third degree.

155. Ai được phân cực trong thế giới của Tam Nguyên Tinh Thần? Đó là vị A La Hán và Chân sư, và ở một mức nhỏ bé, sơ khởi nào đó, là điểm đạo đồ bậc ba.

Motivation, the use of the eye of vision (turned this time by the initiate functioning in the world of causes upon the worlds of human living), and the correct direction of force in cooperation with the hierarchical Plan condition all the activities of the initiate working with this law. Clearer than this I cannot be.

Động cơ, việc sử dụng con mắt của tầm nhìn — lần này do điểm đạo đồ đang hoạt động trong thế giới của các nguyên nhân hướng vào các thế giới của đời sống nhân loại — và sự điều hướng đúng đắn mãnh lực trong sự hợp tác với Thiên Cơ của Thánh đoàn, tất cả đều tác động lên mọi hoạt động của điểm đạo đồ làm việc với định luật này. Tôi không thể nói rõ hơn thế.

156. We are being given another essentialization of the nature of the Law of the Supplementary Seven.

156. Chúng ta đang được trao thêm một sự tinh yếu hoá về bản chất của Định luật Bảy Bổ Sung.

157. We note that the “eye of vision” sees the lower worlds from the perspective of the “world of causes”. For the one who wields this law, the eye of vision has opened. These thoughts must be taken in conjunction with the Formula One given in DINA II.

157. Chúng ta ghi nhận rằng “con mắt của tầm nhìn” nhìn thấy các cõi thấp từ viễn cảnh của “thế giới của các nguyên nhân”. Đối với người vận dụng định luật này, con mắt của tầm nhìn đã mở ra. Những tư tưởng này phải được xem xét cùng với Công Thức Một được đưa ra trong Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới II.

158. The initiate functioning under this law can perform in the threefold manner indicated in this section. He is rightly motivated; he can “see” from the world of causes, and he can direct force correctly in cooperation with the hierarchical Plan.

158. Điểm đạo đồ hoạt động dưới định luật này có thể thực hiện theo cách tam phân được chỉ ra trong phần này. Y có động cơ đúng đắn; y có thể “thấy” từ thế giới của các nguyên nhân, và y có thể điều hướng mãnh lực một cách đúng đắn trong sự hợp tác với Thiên Cơ của Thánh đoàn.

159. The three aspects are here given. The Motivation is Love inspired by Purpose. The “eye of vision” sees with infallible correctness because buddhi reveals the truth. The mind is at one with the Mind of God and can thus direct force in line with the hierarchical Plan.

159. Ba phương diện được nêu ra ở đây. Động cơ là Tình thương được Thiên Ý truyền cảm hứng. “Con mắt của tầm nhìn” thấy với sự đúng đắn không thể sai lầm, vì Bồ đề mặc khải chân lý. Thể trí hợp nhất với Trí của Thượng đế, và vì vậy có thể điều hướng mãnh lực phù hợp với Thiên Cơ của Thánh đoàn.

This Law of the Supplementary Seven is concerned with the inflow of energy from the seven planetary centres to the seven groups or types of men, via the seven groups within the Hierarchy. In this work of transmission the seven centres of the initiate are used as agencies;

Định luật Bảy Bổ Sung này liên quan đến dòng năng lượng tuôn vào từ bảy trung tâm hành tinh đến bảy nhóm hay loại người, thông qua bảy nhóm trong Thánh đoàn. Trong công việc truyền dẫn này, bảy trung tâm của điểm đạo đồ được sử dụng như các cơ quan;

160. In the section immediately above we are told of the interlocking of four septenates.

160. Trong phần ngay bên trên, chúng ta được cho biết về sự đan kết của bốn bộ bảy.

161. In this uniting we have a thorough union of Shamballa with microcosmic man.

161. Trong sự hợp nhất này, chúng ta có một sự hợp nhất toàn diện giữa Shamballa và con người tiểu thiên địa.

their work, therefore, is not the interrelated work of right transmission of energy within the septenary constitution of the etheric body of the individual initiate, implementing his life expression, but is the task of being responsive to the seven types of planetary energy which are received in a pure state.

do đó, công việc của chúng không phải là công việc liên hệ hỗ tương nhằm truyền dẫn năng lượng đúng đắn trong cấu tạo thất phân của thể dĩ thái nơi điểm đạo đồ cá nhân, để thực thi sự biểu lộ sự sống của y, mà là nhiệm vụ đáp ứng với bảy loại năng lượng hành tinh được tiếp nhận trong trạng thái tinh khiết.

162. It becomes clear that we are dealing with a great impersonal law. The energy system of man becomes purely instrumental to the carrying out of planetary purposes.

162. Rõ ràng chúng ta đang đề cập đến một định luật vĩ đại phi cá nhân. Hệ thống năng lượng của con người trở thành khí cụ thuần tuý để thực hiện các mục đích hành tinh.

It is then channeled through the seven centres in the initiate’s etheric vehicle and out into the world of men as regenerative and constructive forces. These living spiritual energies—transmitted by the individual initiate from the planetary centres—are handled by him under a great uniform plan and are the means whereby salvation (to use an old familiar word) can come to the aid of humanity. This is the “saving force” in its various aspects, of which the Great Invocation speaks: “The hour of service of the Saving Force has now arrived”. (The Externalisation of the Hierarchy, page 249.)

Bấy giờ, nó được dẫn truyền qua bảy trung tâm trong hiện thể dĩ thái của điểm đạo đồ và tuôn ra thế giới nhân loại như những mãnh lực tái sinh và xây dựng. Các năng lượng tinh thần sống động này—do điểm đạo đồ cá nhân truyền dẫn từ các trung tâm hành tinh—được y xử lý theo một Thiên Cơ thống nhất rộng lớn và là phương tiện nhờ đó sự cứu độ, dùng một từ xưa quen thuộc, có thể đến trợ giúp nhân loại. Đây là “Mãnh Lực Cứu Rỗi” trong các phương diện khác nhau của nó, mà Đại Khấn Nguyện đã nói đến: “Giờ phụng sự của Mãnh Lực Cứu Rỗi nay đã đến”. (Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn, trang 249.)

163. The Law of the Supplementary Seven is concerned with the use of the great interlocking directorate for purposes of planetary service and salvation. It is not about the correct flow of energy within the sevenfold energy system of the initiate. It is about transmission of the “Saving Force” to a world in need.

163. Định luật về Bảy Bổ Sung liên quan đến việc sử dụng ban điều hành liên kết vĩ đại cho các mục đích phụng sự và cứu độ hành tinh. Nó không bàn về dòng chảy đúng đắn của năng lượng bên trong hệ thống năng lượng thất phân của điểm đạo đồ. Nó bàn về việc truyền dẫn “Mãnh Lực Cứu Rỗi” đến một thế giới đang cần đến nó.

164. If we think carefully, we will see that the Law of the Supplementary Seven is about creating a mutual and reciprocal exchange of energies between Shamballa, Hierarchy and Humanity. It therefore has much relevance in these days when Shamballa is impacting Humanity directly, and when so many members of the human race are “making application” to the Kingdom of Souls. The technical means by which responsiveness between these various centers can be established is given in this Law.

164. Nếu suy nghĩ cẩn thận, chúng ta sẽ thấy rằng Định luật về Bảy Bổ Sung liên quan đến việc tạo ra một sự trao đổi năng lượng hỗ tương và tương hỗ giữa Shamballa, Thánh đoàn và Nhân loại. Do đó, nó có nhiều liên quan trong những ngày này, khi Shamballa đang trực tiếp tác động lên Nhân loại, và khi rất nhiều thành viên của nhân loại đang “nộp đơn xin gia nhập” Thiên Giới. Phương tiện kỹ thuật nhờ đó sự đáp ứng giữa các trung tâm khác nhau này có thể được thiết lập được đưa ra trong Định luật này.

165. Through the Law of the Supplementary Seven we intelligently and systematically open to the higher centers of energy upon our planet. In short, our energy system (once so individual) becomes planetary in function.

165. Thông qua Định luật về Bảy Bổ Sung, chúng ta mở ra một cách thông minh và có hệ thống với các trung tâm năng lượng cao hơn trên hành tinh chúng ta. Nói ngắn gọn, hệ thống năng lượng của chúng ta, vốn từng rất cá nhân, trở thành có chức năng hành tinh.

166. If the “Saving Force” is to do its work (and, indeed, the “hour of service of the Saving Force has now arrived”—as the second stanza of the Great Invocation tells us) then the mode of right transmission depends upon the Law of the Supplementary Seven.

166. Nếu “Mãnh Lực Cứu Rỗi” phải thực hiện công việc của nó, và quả thật “giờ phụng sự của Mãnh Lực Cứu Rỗi nay đã đến”, như bài kệ thứ hai của Đại Khấn Nguyện cho chúng ta biết, thì phương thức truyền dẫn đúng đắn tùy thuộc vào Định luật về Bảy Bổ Sung.

[Page 159] The high Initiates (Those above the rank of Master) work with the energies coming from the seven planets of the solar system at this time active; these feed or implement the seven planetary centres.

[Page 159] Các điểm đạo đồ cao cấp, tức Những Đấng ở trên cấp bậc Chân sư, làm việc với các năng lượng đến từ bảy hành tinh của hệ mặt trời hiện đang hoạt động vào thời này; các năng lượng này nuôi dưỡng hay triển khai bảy trung tâm hành tinh.

167. The “planetary seven” are not the “extra-planetary seven”. The sacred planets themselves, can only be accessed by Chohans! Thus much for those who think they can contact not only planets but our Sun and constellations directly!

167. “Bảy hành tinh” không phải là “bảy ngoại hành tinh”. Chính các hành tinh thiêng liêng chỉ có thể được các Chohan tiếp cận! Nói bấy nhiêu là đủ cho những ai nghĩ rằng họ có thể tiếp xúc không chỉ với các hành tinh mà còn với Mặt Trời của chúng ta và các chòm sao một cách trực tiếp!

168. If we wish to think of the interlocking septenates which have some relevance to man and the planet, the following may be considered:

168. Nếu chúng ta muốn nghĩ đến các bộ bảy đan kết nhau có phần liên quan đến con người và hành tinh, có thể xem xét những điều sau đây:

a. The seven constellational centers within the One About Whom Naught May Be Said

a. Bảy trung tâm chòm sao bên trong Đấng Bất Khả Tư Nghị

b. The seven Suns of which ours is one

b. Bảy Mặt Trời mà Mặt Trời của chúng ta là một trong số đó

c. The seven sacred planets who are the “Seven Spirits before the Throne” considered in from a solar-systemic perspective.

c. Bảy hành tinh thiêng liêng, vốn là “Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai” khi được xét từ viễn cảnh thuộc hệ mặt trời.

d. The “Seven Spirits before the Throne” considered as intra-planetary correspondences to the seven sacred planets.

d. “Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai” được xét như những tương ứng nội-hành tinh với bảy hành tinh thiêng liêng.

e. The seven Ashrams in Hierarchy

e. Bảy ashram trong Thánh đoàn

f. The seven types of men

f. Bảy loại người

g. The seven chakras within the human energy system

g. Bảy chakra trong hệ thống năng lượng của con người

But the Law of the Supplementary Seven is applied by initiates below the rank of Master, and they are therefore working solely with the seven centres within the Form of the One in Whom we live and move and have our being.

Nhưng Định luật về Bảy Bổ Sung được áp dụng bởi các điểm đạo đồ dưới cấp bậc Chân sư, và do đó họ chỉ làm việc với bảy trung tâm bên trong Hình Tướng của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện tồn.

169. Can Masters, as well as initiates below the rank of Master, apply this law? It would seem so, as the Laws of the Soul are characteristic of Hierarchy (the Kingdom of Souls), and the Hierarchy is composed primarily of Masters.

169. Các Chân sư, cũng như các điểm đạo đồ dưới cấp bậc Chân sư, có thể áp dụng định luật này chăng? Dường như là có, vì các Định luật của Linh hồn là đặc trưng của Thánh đoàn, tức Thiên Giới, và Thánh đoàn chủ yếu gồm các Chân sư.

170. Since the Law of the Supplementary Seven is a Law of the Spirit and, therefore, higher than the Laws of the Soul (which the Masters wield) it would seem that Masters also wield the Law of the Supplementary Seven.

170. Vì Định luật về Bảy Bổ Sung là một Định luật của Tinh thần và do đó cao hơn các Định luật của Linh hồn, những định luật mà các Chân sư vận dụng, nên dường như các Chân sư cũng vận dụng Định luật về Bảy Bổ Sung.

171. The Tibetan is speaking of the manner in which initiates below the rank of Master apply this law. For the Master, the chakra system (i.e., the “supplementary seven”) has disappeared/dematerialized (though it may be evoked by magical means according to purpose.). Supplementation from these centers is normally no longer needed.

171. Chân sư Tây Tạng đang nói về cách thức các điểm đạo đồ dưới cấp bậc Chân sư áp dụng định luật này. Đối với Chân sư, hệ thống chakra, tức “bảy bổ sung”, đã biến mất hay phi vật chất hóa, dù nó có thể được gợi lên bằng các phương tiện huyền thuật tùy theo mục đích. Sự bổ sung từ các trung tâm này thường không còn cần thiết nữa.

172. We have to establish the exact meaning of “the seven centres within the Form of the One in Whom we live and move and have our being”. This phrase does not seem limited to the individual human chakric system.

172. Chúng ta phải xác lập ý nghĩa chính xác của “bảy trung tâm bên trong Hình Tướng của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện tồn”. Cụm từ này dường như không giới hạn vào hệ thống chakra cá nhân của con người.

One of their first tasks is to bring about a free flow and right energy relations between the three major centres in our planet which correspond to the head, heart and throat centres in man. They are occupied with the circulation of energy between Shamballa, the Hierarchy and Humanity.

Một trong những nhiệm vụ đầu tiên của họ là tạo ra một dòng chảy tự do và những quan hệ năng lượng đúng đắn giữa ba trung tâm chính trên hành tinh chúng ta, tương ứng với các trung tâm đầu, tim và cổ họng nơi con người. Họ bận tâm đến sự lưu chuyển năng lượng giữa Shamballa, Thánh đoàn và Nhân loại.

173. The figure below shows the type of circulation discussed.

173. Hình dưới đây cho thấy loại lưu chuyển đang được bàn đến.

http://makara.us/04mdr/02comment/28rules/rule_8di_2_files/image002.jpg @url:https://minhtrietmoi.com/wp-content/uploads/pictures/image1-2.jpeg

This circulation, which for the first time in planetary history includes the highest centre, Shamballa, is not yet completely established. Shamballa has been in touch with the centre called Humanity by impact several times in the history of the race.

Sự lưu chuyển này, lần đầu tiên trong lịch sử hành tinh bao gồm trung tâm cao nhất là Shamballa, vẫn chưa được thiết lập hoàn toàn. Shamballa đã từng tiếp xúc bằng tác động với trung tâm gọi là Nhân loại nhiều lần trong lịch sử nhân loại.

174. In ancient Lemuria; in the great Atlantean destruction; in 1825; in 1975; in 2000.

174. Trong Lemuria cổ xưa; trong cuộc hủy diệt lớn của Atlantis; vào năm 1825; năm 1975; năm 2000.

175. Depending upon interpretation, another impact early in the 20th century is hypothesized by some.

175. Tùy theo cách diễn giải, một số người giả thuyết rằng còn có một tác động khác vào đầu thế kỷ 20.

But there has been no reciprocal action and no free flow. Humanity has taken the impact of energy and this impact has wrought changes in the activity of the centre, but there has been no “responsive return,” as it is esoterically called, and hence no circulation.

Nhưng đã không có hành động tương hỗ và không có dòng chảy tự do. Nhân loại đã nhận tác động của năng lượng, và tác động này đã tạo ra những thay đổi trong hoạt động của trung tâm, nhưng đã không có “sự hồi đáp đáp ứng”, như cách gọi huyền bí, và vì thế không có sự lưu chuyển.

176. We see from the diagram above that “responsive return” has truly begun.

176. Từ sơ đồ trên, chúng ta thấy rằng “sự hồi đáp đáp ứng” thật sự đã bắt đầu.

The Shamballa force has hitherto been transmitted via the Hierarchy. For the first time, and in this century there has been direct impact. The diagram on page 160 may make this clearer. [Page See diagram above]

Từ trước đến nay, mãnh lực Shamballa đã được truyền dẫn qua Thánh đoàn. Lần đầu tiên, và trong thế kỷ này, đã có tác động trực tiếp. Sơ đồ ở trang 160 có thể làm điều này rõ hơn. [Page See diagram above]

177. It is therefore suggested that the impacts in Lemuria and Atlantis (which had such catastrophic results) were not direct impacts!

177. Do đó, có ý kiến cho rằng các tác động trong Lemuria và Atlantis, vốn có những kết quả thảm khốc như thế, không phải là các tác động trực tiếp!

178. Developments in our century, therefore, are unique with respect to Shamballa and its influence upon humanity.

178. Vì vậy, những phát triển trong thế kỷ của chúng ta là độc nhất xét theo Shamballa và ảnh hưởng của nó đối với nhân loại.

178. If we count, we can see that this Rule (at least in its extensions and associations) discusses principally the interrelationship between five septenates.

178. Nếu đếm, chúng ta có thể thấy rằng Quy luật này, ít nhất trong các phần mở rộng và liên hệ của nó, bàn chủ yếu về mối tương quan giữa năm bộ bảy.

a. The sevenfold chakra system—the “supplementary seven”

a. Hệ thống chakra thất phân—“bảy bổ sung”

b. The seven groups of soul types or the seven rootraces—the “lesser seven”. (Technically, these are distinct, and so one might be justified in viewing each of them as an independent septenate.)

b. Bảy nhóm loại linh hồn hay bảy giống dân gốc—“bảy nhỏ hơn”. Về mặt kỹ thuật, chúng khác nhau, và vì thế người ta có thể có lý khi xem mỗi nhóm như một bộ bảy độc lập.

c. The seven Ashrams of Hierarchy—the “greater seven”

c. Bảy ashram của Thánh đoàn—“bảy lớn hơn”

d. The Seven Spirits before the Throne and associated monadic groupings—the “[Page intra]planetary seven”.

d. Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai và các nhóm chân thần liên hệ—“[Page intra]bảy hành tinh”.

e. The seven Planetary Kumaras—the ‘extra-planetary seven’.

e. Bảy Kumaras Hành Tinh—“bảy ngoại hành tinh”.

179. If the septenates were to be completed (as indicated above though in different terminology) there would be two more:

179. Nếu các bộ bảy được hoàn tất, như đã chỉ ra ở trên dù bằng thuật ngữ khác, thì sẽ có thêm hai bộ nữa:

a. The seven local suns—the ‘extra-systemic seven’, comprising what is called in our literature, the “Seven Solar Systems of Which Ours Is One—‘SSSOWOIO’.

a. Bảy mặt trời địa phương—“bảy ngoại hệ”, bao gồm điều được gọi trong văn liệu của chúng ta là “Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ của Chúng Ta là Một trong Số Đó”—“SSSOWOIO”.

b. The seven major constellations in the OAWNMBS—the ‘cosmic seven’. (cf. TCF 293)

b. Bảy chòm sao chính trong Đấng Bất Khả Tư Nghị—“bảy vũ trụ”. (xem TCF 293)

180. Within these major sevens are, naturally, subsidiary septenates—perhaps seven in each, for every significant source of energy has seven subdivisions. Importantly, these subdivisions occur on the same plane as the entity to be subdivided and are not only related to the seven subdivisions emanating from the entity in question.

180. Bên trong các bộ bảy chính này, tự nhiên có những bộ bảy phụ thuộc—có lẽ bảy trong mỗi bộ, vì mọi nguồn năng lượng quan trọng đều có bảy phân chi. Điều quan trọng là các phân chi này xuất hiện trên cùng cõi với thực thể được phân chia và không chỉ liên hệ với bảy phân chi xuất lộ từ thực thể đang được nói đến.

181. Another way of saying this is that every Monad has seven subrays found on its own plane, just as every soul as seven subrays found on its own plane, etc.

181. Một cách nói khác là mỗi chân thần có bảy cung phụ được tìm thấy trên chính cõi của nó, cũng như mỗi linh hồn có bảy cung phụ được tìm thấy trên chính cõi của nó, v.v.

182. As the Law of the Supplementary Seven is applied principally to those below the rank of Master, is has, principally, a planetary meaning.

182. Vì Định luật về Bảy Bổ Sung được áp dụng chủ yếu cho những vị ở dưới cấp bậc Chân sư, nên nó chủ yếu có một ý nghĩa hành tinh.

183. It is interesting that initiates are responsible for producing flow. Thinking about initiatic life, it is filled with the idea of communication, relationship and flow. These are all Aquarian concepts.

183. Điều thú vị là các điểm đạo đồ chịu trách nhiệm tạo ra dòng chảy. Khi suy nghĩ về đời sống điểm đạo, ta thấy nó đầy ắp ý tưởng về giao tiếp, quan hệ và dòng chảy. Tất cả đều là những khái niệm của Bảo Bình.

184. I think we can begin to see why the Law of the Supplementary Seven should be so important in the Aquarian Age, which is largely based upon circulation and distribution. It is also to be an Age of universality and registered synthesis, both of which ideas can easily be related to the functioning of the Law of the Supplementary Seven.

184. Tôi nghĩ chúng ta có thể bắt đầu thấy vì sao Định luật về Bảy Bổ Sung lại quan trọng đến thế trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, vốn phần lớn dựa trên sự lưu chuyển và phân phối. Nó cũng sẽ là một Kỷ Nguyên của tính phổ quát và sự tổng hợp được ghi nhận, cả hai ý tưởng này đều có thể dễ dàng liên hệ với sự vận hành của Định luật về Bảy Bổ Sung.

185. Within our own chakra system right interplay between the seven is not yet completed. When the higher triangle of centers has the circulation of energies between them rightly established, the Triangle will evoke the Square, and the three and four shall be made into the completed seven.

185. Bên trong chính hệ thống chakra của chúng ta, sự tương tác đúng đắn giữa bảy trung tâm vẫn chưa hoàn tất. Khi tam giác cao hơn của các trung tâm có sự lưu chuyển năng lượng giữa chúng được thiết lập đúng đắn, Tam Giác sẽ gợi lên Hình Vuông, và ba cùng bốn sẽ được làm thành bảy hoàn tất.

186. This Law, however, deals with the ending of the seven into the Three and then the One.

186. Tuy nhiên, Định luật này xử lý việc kết thúc của bảy vào trong Ba và rồi vào trong Một.

Part III of V

Phần III trong V

Focus for the Fourth Month of Study on Rule(s) VIII

Trọng tâm cho Tháng Thứ Tư Nghiên Cứu về Quy luật VIII

(Underlining, Bolding and Highlighting, MDR)

(Gạch dưới, In đậm và Tô sáng, MDR)

We shall eventually have a free circulation and a veritable vortex of force set up between the three centres;

Cuối cùng chúng ta sẽ có một sự lưu chuyển tự do và một xoáy lực thật sự được thiết lập giữa ba trung tâm;

1. These three centers, as we will recall from the previous commentary, are Shamballa, Hierarchy and Humanity.

1. Ba trung tâm này, như chúng ta sẽ nhớ từ phần bình luận trước, là Shamballa, Thánh đoàn và Nhân loại.

it will be of such an increasing radiatory activity that—moving in both directions around the three centres—it will eventually contact the radiations emanating from the other four centres of the planetary Life, thus completing the interplay and the interrelation between all seven.

nó sẽ có một hoạt động bức xạ ngày càng tăng mạnh đến mức—chuyển động theo cả hai chiều quanh ba trung tâm—cuối cùng nó sẽ tiếp xúc với các bức xạ xuất lộ từ bốn trung tâm khác của Sự sống hành tinh, nhờ đó hoàn tất sự tương tác và mối tương quan giữa cả bảy trung tâm.

2. The circulating forces of the Triangle will contact those of the Square.

2. Các mãnh lực lưu chuyển của Tam Giác sẽ tiếp xúc với các mãnh lực của Hình Vuông.

3. In a certain respect we shall have the “wheel tuning upon itself” for there will be circulation in both directions, as the double arrows in the third triangle in the diagram below suggest.

3. Theo một phương diện nào đó, chúng ta sẽ có “bánh xe xoay trên chính nó”, vì sẽ có sự lưu chuyển theo cả hai chiều, như các mũi tên kép trong tam giác thứ ba ở sơ đồ bên dưới gợi ý.

4. This type of circulation is reminiscent of the circulation (on a tiny level) of the fire between the permanent atoms and mental unit in the lower atomic triangle immediately before the destruction of the causal body.

4. Loại lưu chuyển này gợi nhớ đến sự lưu chuyển, ở một cấp độ rất nhỏ, của lửa giữa các nguyên tử trường tồn và đơn vị hạ trí trong tam giác nguyên tử thấp ngay trước khi thể nguyên nhân bị hủy diệt.

5. On a slightly higher level, it evokes the image of the fiery circulation to occur within the major chakric triangle in the head—head center, ajna center and alta major center.

5. Ở một cấp độ hơi cao hơn, nó gợi lên hình ảnh về sự lưu chuyển bằng lửa sẽ xảy ra bên trong tam giác chakra chính trong đầu—trung tâm đầu, trung tâm ajna và trung tâm alta major.

These four include the three lower kingdoms of nature and a certain basic centre (corresponding to the centre at the base of the spine in man) about which nothing is as yet known nor will be known for ages to come.

Bốn trung tâm này bao gồm ba giới thấp của thiên nhiên và một trung tâm nền tảng nào đó, tương ứng với trung tâm ở đáy cột sống nơi con người, mà cho đến nay chưa biết gì về nó và cũng sẽ không được biết đến trong nhiều thời đại sắp tới.

6. The three lower kingdoms of nature are the animal, vegetable and mineral kingdoms.

6. Ba giới thấp của thiên nhiên là giới động vật, giới thực vật và giới kim thạch.

7. Tabulating all the kingdoms listed here we have:

7. Lập bảng tất cả các giới được liệt kê ở đây, chúng ta có:

a. Shamballa

a. Shamballa

b. Hierarchy

b. Thánh đoàn

c. Humanity

c. Nhân loại

d. Animal Kingdom

d. Giới động vật

e. Vegetable Kingdom

e. Giới thực vật

f. Mineral Kingdom

f. Giới kim thạch

g. A “certain basic centre”. Some information about this planetary basic center is hinted in A Treatise on Cosmic Fire, and may involve a central cavern within the planet.

g. Một “trung tâm nền tảng nào đó”. Một vài thông tin về trung tâm nền tảng hành tinh này được ám chỉ trong Luận về Lửa Vũ Trụ, và có thể liên quan đến một hang động trung tâm bên trong hành tinh.

h. 8. It is understandable why nothing should yet be given about that “certain basic centre” which corresponds to the centre at the base of the spine in man. Such a center would be activated only in the vary latter days of the evolutionary process, just as is the case for the human being (in relation to whom its final activation occurs at the time of the fifth initiation) (cf. R&I 340)

h. 8. Có thể hiểu được vì sao chưa nên đưa ra điều gì về “trung tâm nền tảng nào đó” tương ứng với trung tâm ở đáy cột sống nơi con người. Một trung tâm như thế chỉ được kích hoạt trong những ngày rất cuối của tiến trình tiến hoá, cũng như trường hợp của con người, nơi sự kích hoạt cuối cùng của nó xảy ra vào thời điểm lần điểm đạo thứ năm. (xem R&I 340)

[Page 160]

[Page 160]

Three Triangles—Humanity, Hierarchy, Shamballa

Ba Tam Giác—Nhân loại, Thánh đoàn, Shamballa

http://makara.us/04mdr/02comment/28rules/rule_8di_3_files/image001.gif @url:https://minhtrietmoi.com/wp-content/uploads/pictures/image1-2.jpeg

9. It is interesting to realize, following an examination of the second triangle, that even Hierarchy still has much to accomplish, for it has not entirely ‘reached’ Shamballa, and the return reciprocal flow has not yet been evoked. The arrow presently arising from Hierarchy and moving towards Shamballa is clearly the result of the arrow that reached Hierarchy from Shamballa in earlier times.

9. Điều thú vị là nhận ra, sau khi khảo sát tam giác thứ hai, rằng ngay cả Thánh đoàn vẫn còn nhiều điều phải hoàn thành, vì Thánh đoàn chưa hoàn toàn “vươn tới” Shamballa, và dòng chảy tương hỗ hồi đáp vẫn chưa được gợi lên. Mũi tên hiện nay phát sinh từ Thánh đoàn và hướng về Shamballa rõ ràng là kết quả của mũi tên đã vươn tới Thánh đoàn từ Shamballa trong các thời kỳ trước.

The importance, therefore, of the centre which we call Humanity will be apparent. The Secret Doctrine has ever taught that mankind has a special function in saving and regenerating nature.

Do đó, tầm quan trọng của trung tâm mà chúng ta gọi là Nhân loại sẽ trở nên rõ ràng. Giáo Lý Bí Nhiệm luôn dạy rằng nhân loại có một chức năng đặc biệt trong việc cứu độ và tái sinh thiên nhiên.

10. To realize this will contribute to the restoration of the true dignity of man. Today the place of man within the scheme of things is often exaggerated (by those who know nothing of occultism) or minimized (by materialists). An understanding of man’s true position in the Cosmic Design is the gift of occultism to the human mind.

10. Nhận ra điều này sẽ góp phần phục hồi phẩm giá chân thật của con người. Ngày nay, vị trí của con người trong hệ thống sự vật thường bị phóng đại bởi những người không biết gì về huyền bí học, hoặc bị xem nhẹ bởi những người duy vật. Sự thấu hiểu vị trí đích thực của con người trong Thiết Kế Vũ Trụ là món quà của huyền bí học dành cho thể trí nhân loại.

The “saving force“—a circulatory combination of the three major energies—is radiated by humanity as a group-creative impulse, and this gradually sweeps all forms of life into the field of its magnetic potency, thus relating them (or rather the soul of each kingdom) to the Hierarchy and to Shamballa. This involves a great mystery which is closely tied up—little as you may realise it—with the doctrine of Avatars or of World Saviours.

Mãnh Lực Cứu Rỗi”—một tổ hợp lưu chuyển của ba năng lượng chính—được nhân loại bức xạ như một xung lực sáng tạo tập thể, và điều này dần dần cuốn mọi hình tướng sự sống vào trường của quyền năng từ tính của nó, nhờ đó liên kết chúng, hay đúng hơn là linh hồn của mỗi giới, với Thánh đoàn và với Shamballa. Điều này bao hàm một huyền nhiệm lớn, gắn bó mật thiết—dù các bạn có thể ít nhận ra điều đó—với giáo lý về các Đấng Hóa Thân hay các Đấng Cứu Thế.

11. A section on the “saving force” may here be interpolated with profit:

11. Ở đây, có thể xen vào một đoạn về “Mãnh Lực Cứu Rỗi” một cách hữu ích:

Thus Shamballa, the Hierarchy and Humanity will stand consciously related and dynamically in touch with each other. The Will of God, the Love of God and the Intelligence of God will thus fuse and blend on Earth and in relation to human problems. Conditions will consequently be brought about and energies will be set in motion which will end the rule of evil and bring war to an end through the victory of the Forces of Light, recognised and aided by Humanity.

Như vậy, Shamballa, Thánh đoàn và Nhân loại sẽ đứng trong mối liên hệ hữu thức và tiếp xúc năng động với nhau. Ý Chí của Thượng Đế, Tình thương của Thượng Đế và Trí Tuệ của Thượng Đế nhờ đó sẽ dung hợp và hòa quyện trên Trái Đất và trong tương quan với các vấn đề của nhân loại. Do đó, các điều kiện sẽ được tạo ra và các năng lượng sẽ được khởi động, chấm dứt sự cai trị của tà ác và kết thúc chiến tranh thông qua chiến thắng của các Mãnh Lực Ánh Sáng, được Nhân loại nhận biết và trợ giúp.

This synthesis of the three energies, evoked through invocation and the response of certain divine Potencies, is esoterically given the name of “the saving Force.” Of its exact nature and intended effects we know practically nothing. It has never before appeared in action on the physical plane, though it has been for some time active upon the mental plane. Though it is a blend of the energies of the three centres referred to above, it is primarily the energy of the divine Will, which will be its outstanding characteristic. (EXH 275)

Sự tổng hợp của ba năng lượng này, được gợi lên thông qua khẩn cầu và sự đáp ứng của một số Quyền Năng thiêng liêng, được gọi một cách huyền bí là “Mãnh Lực Cứu Rỗi”. Về bản chất chính xác và các hiệu quả dự định của nó, thực tế chúng ta không biết gì. Nó chưa từng xuất hiện trong hành động trên cõi hồng trần trước đây, dù đã hoạt động một thời gian trên cõi trí. Dù nó là sự hòa quyện các năng lượng của ba trung tâm được nói đến ở trên, nó chủ yếu là năng lượng của Ý Chí thiêng liêng, và đó sẽ là đặc tính nổi bật của nó. (EXH 275)

12. The “saving force” is triple—“a circulatory combination of three major energies”. To it, Shamballa, Hierarchy and Humanity must all make their contribution.

12. “Mãnh Lực Cứu Rỗi” có tính tam phân—“một tổ hợp lưu chuyển của ba năng lượng chính”. Shamballa, Thánh đoàn và Nhân loại đều phải đóng góp phần của mình vào đó.

13. We can see that Humanity is destined to become a planetary saviour, through the radiation of the “Saving Force”, This will be instrumental in the redemption of the lower kingdoms through the soul aspect of those kingdoms. This soul connection must be emphasized.

13. Chúng ta có thể thấy rằng Nhân loại được định sẵn để trở thành một đấng cứu rỗi hành tinh, thông qua sự phóng xạ của “Mãnh Lực Cứu Rỗi”. Điều này sẽ là phương tiện trong sự cứu chuộc các giới thấp thông qua phương diện linh hồn của các giới ấy. Mối liên hệ linh hồn này phải được nhấn mạnh.

14. One day humanity will be seized by a “group creative impulse” and humanity as a whole will, creatively undertake this planetary redemption through the purposeful wielding of the Saving Force.

14. Một ngày kia, nhân loại sẽ được một “xung lực sáng tạo tập thể” chiếm lĩnh, và toàn thể nhân loại sẽ một cách sáng tạo đảm nhận sự cứu chuộc hành tinh này thông qua việc sử dụng Mãnh Lực Cứu Rỗi một cách có chủ đích.

15. We are told in the second stanza of the threefold Great Invocation that “the hour of service of the saving force has now arrived”. We are also told here that the “saving force” is related to the “doctrine of Avatars or World Saviours”. The World Saviour is now preparing to reappear. All these ideas must be taken together. His reappearance and the emergence into increasing potency of the “saving force” are to occur together. We may infer that the Reappearance of the Christ will go far towards making the “circulatory combination of three major energies” a reality.

15. Chúng ta được cho biết trong bài kệ thứ hai của Đại Khấn Nguyện tam phân rằng “giờ phụng sự của mãnh lực cứu rỗi nay đã đến”. Ở đây chúng ta cũng được cho biết rằng “mãnh lực cứu rỗi” có liên hệ với “giáo lý về các Đấng Hoá Thân hay các Đấng Cứu Thế”. Đấng Cứu Thế hiện đang chuẩn bị tái lâm. Tất cả những ý tưởng này phải được xét chung với nhau. Sự tái lâm của Ngài và sự xuất hiện với quyền năng ngày càng tăng của “mãnh lực cứu rỗi” sẽ xảy ra đồng thời. Chúng ta có thể suy ra rằng Sự Tái Lâm của Đức Christ sẽ góp phần rất lớn vào việc biến “sự phối hợp tuần hoàn của ba năng lượng chính” thành hiện thực.

It is in this connection that the words I gave you previously are pertinent:

Chính trong mối liên hệ này mà những lời tôi đã trao cho các bạn trước đây trở nên thích đáng:

16. DK now offers an interpretation of two of the four happenings or consequences arising from the understanding of the Law of the Supplementary Seven.

16. Chân sư DK giờ đây đưa ra một cách diễn giải về hai trong bốn biến cố hay hệ quả phát sinh từ sự thấu hiểu Định luật của Bảy Bổ Sung.

[Page 161]

[Page 161]

“The group must understand the nature of the Three.” This will be seen to refer to the three major centres and the nature of their relationship, and not specifically to the Trinity.

“Nhóm phải thấu hiểu bản chất của Ba.” Điều này sẽ được thấy là ám chỉ ba trung tâm chính và bản chất mối liên hệ của chúng, chứ không đặc biệt ám chỉ Ba Ngôi.

17. Once the group realizes that the three septenates (the lesser seven, the greater seven and the planetary seven) form “one great whole” and Law of the Supplementary Seven is understood, the group must come to an understanding of the Three (Shamballa, Hierarchy and Humanity, in their present and future circulatory relationship).

17. Một khi nhóm nhận ra rằng ba nhóm bảy, tức bảy nhỏ, bảy lớn và bảy hành tinh, hợp thành “một toàn thể vĩ đại”, và Định luật của Bảy Bổ Sung được thấu hiểu, nhóm phải đạt đến sự thấu hiểu về Ba, tức Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân loại, trong mối liên hệ tuần hoàn hiện tại và tương lai của các Ngài.

18. Various trinities (such as the Buddhas of Activity) may also be interpreted as related to this Three. We note that the Tibetan uses the qualifier “specifically” when saying that the “Three” are “not specifically” related “to the Trinity”, but the connection is obviously there.

18. Những bộ ba khác nhau, chẳng hạn như các Đức Phật Hoạt Động, cũng có thể được diễn giải là liên hệ với Ba này. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư Tây Tạng dùng từ hạn định “đặc biệt” khi nói rằng “Ba” “không đặc biệt” liên hệ “với Ba Ngôi”, nhưng mối liên hệ ấy hiển nhiên vẫn có.

19. The “One”, in such a case, could be interpreted as Sanat Kumara. There are also more extended interpretations suggested below.

19. “Đấng Duy Nhất”, trong trường hợp như vậy, có thể được diễn giải là Đức Sanat Kumara. Cũng có những cách diễn giải rộng hơn được gợi ý dưới đây.

“The nature of the One must be grasped and comprehended.” This has reference to the fact that our planetary Life is Itself a centre within a still greater Life, and is today one of the three planetary centres (even if not yet one of the seven sacred planets) which are the custodians of the force, in process of transmission, which will be to the greater Life what Shamballa, the Hierarchy and Humanity are to Our planetary Logos.

“Bản chất của Đấng Duy Nhất phải được nắm bắt và thấu hiểu.” Điều này liên quan đến sự kiện rằng Sự Sống hành tinh của chúng ta tự thân là một trung tâm bên trong một Sự Sống còn vĩ đại hơn, và ngày nay là một trong ba trung tâm hành tinh, dù chưa phải là một trong bảy hành tinh thiêng liêng, vốn là những đấng gìn giữ mãnh lực đang trong tiến trình truyền dẫn; mãnh lực ấy sẽ đối với Sự Sống lớn hơn giống như Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân loại đối với Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta.

20. Here the thoughts become very abstruse and there is no certainty that we can interpret correctly what is here said. Close examination shows a clear interpretation to be almost maddeningly[10] elusive[11] and therefore, closely guarded. Still we can explore some thoughts in relation to the analogy.

20. Ở đây các tư tưởng trở nên rất thâm áo, và không có gì chắc chắn rằng chúng ta có thể diễn giải chính xác điều được nói ở đây. Sự khảo sát kỹ lưỡng cho thấy một cách diễn giải rõ ràng gần như đến mức gây bực bội là khó nắm bắt, và do đó được canh giữ chặt chẽ. Tuy vậy, chúng ta vẫn có thể khảo sát một vài tư tưởng liên hệ với phép tương đồng.

a. There are perhaps two levels upon which the Three and the One can be understood. The Tibetan gives the higher of these levels.

a. Có lẽ có hai cấp độ trên đó Ba và Đấng Duy Nhất có thể được thấu hiểu. Chân sư Tây Tạng đưa ra cấp độ cao hơn trong hai cấp độ này.

b. First let us mention an interpretation which the Tibetan does not emphasize.

b. Trước hết, chúng ta hãy nêu một cách diễn giải mà Chân sư Tây Tạng không nhấn mạnh.

c. [Page 1] In such an interpretation, the Three Buddhas of Activity would be “the Three” and Sanat Kumara “the One”.

c. [Page 1] Trong cách diễn giải như vậy, Ba Đức Phật Hoạt Động sẽ là “Ba” và Đức Sanat Kumara là “Đấng Duy Nhất”.

d. In justification of this interpretation, it would make sense that after attempting to understand the “lesser seven”, the “greater seven” and the “planetary seven” (the “Seven Ray Lords of our planet”), we should ascend higher in sequence to the Three Kumaras (the Buddhas of Activity, who are greater than these Ray Lords) and thence to the “One” they surround, i.e., Sanat Kumara, Who is greater still.

d. Để biện minh cho cách diễn giải này, sẽ hợp lý khi sau khi cố gắng thấu hiểu “bảy nhỏ”, “bảy lớn” và “bảy hành tinh”, tức “Bảy Đấng Chúa Tể Cung của hành tinh chúng ta”, chúng ta nên thăng lên cao hơn theo trình tự đến Ba Đức Kumara, tức các Đức Phật Hoạt Động, là các Đấng lớn hơn những Đấng Chúa Tể Cung này, và từ đó đến “Đấng Duy Nhất” mà các Ngài bao quanh, tức Đức Sanat Kumara, Đấng còn vĩ đại hơn nữa.

e. But the Tibetan takes us directly to our Planetary Life (presumably our Planetary Logos considered as a Monad), and beyond. Our Planetary Logos, we are told, is one of three planetary centers which, together, will be to a “still greater Life” what Shamballa, Hierarchy and Humanity are to the Planetary Logos.

e. Nhưng Chân sư Tây Tạng đưa chúng ta trực tiếp đến Sự Sống Hành Tinh của chúng ta, có lẽ là Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta được xét như một chân thần, và vượt xa hơn. Chúng ta được cho biết rằng Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta là một trong ba trung tâm hành tinh, cùng nhau, sẽ đối với một “Sự Sống còn vĩ đại hơn” giống như Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân loại đối với Đức Hành Tinh Thượng Đế.

f. An important question arises: are the “three planetary centers” the sole custodians of the “force”, or are there other planetary custodians?

f. Một câu hỏi quan trọng phát sinh: liệu “ba trung tâm hành tinh” có phải là những đấng gìn giữ duy nhất của “mãnh lực”, hay còn có những đấng gìn giữ hành tinh khác?

21. It is hard to know what the two other planets are. We could with reason say they are Saturn and Mars which, with which Earth, make up a great third ray Triangle. In this case, we might be tempted to say that Saturn, Mars and Earth would be three planetary centers which stand in relation to the Solar Logos? as Shamballa, the Hierarchy and Humanity stand to “Our planetary Logos”.

21. Thật khó biết hai hành tinh kia là những hành tinh nào. Chúng ta có thể có lý khi nói đó là Sao Thổ và Sao Hỏa, vốn cùng với Trái Đất tạo thành một Tam Giác cung ba vĩ đại. Trong trường hợp này, chúng ta có thể bị cám dỗ để nói rằng Sao Thổ, Sao Hỏa và Trái Đất sẽ là ba trung tâm hành tinh đứng trong mối liên hệ với Thái dương Thượng đế chăng? giống như Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân loại đứng trong mối liên hệ với “Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta”.

22. But one step may be missing and that “still greater Life” might not be the Solar Logos at all!

22. Nhưng có thể còn thiếu một bước, và “Sự Sống còn vĩ đại hơn” ấy hoàn toàn có thể không phải là Thái dương Thượng đế!

23. That “greater Life” might be one step short of the Solar Logos. It would find its symbolic representation in TCF, p. 1238, as one of three circles that lie just below the circle representing the Solar Logos. These three circles represent the members of what is called the “Solar Trinity”.

23. “Sự Sống vĩ đại hơn” ấy có thể chỉ còn cách Thái dương Thượng đế một bước. Nó sẽ tìm thấy biểu tượng của mình trong TCF, tr. 1238, như một trong ba vòng tròn nằm ngay bên dưới vòng tròn tượng trưng cho Thái dương Thượng đế. Ba vòng tròn này tượng trưng cho các thành viên của điều được gọi là “Tam Vị Thái Dương”.

Diagram, schematic



Description automatically generated @url:https://minhtrietmoi.com/wp-content/uploads/pictures/image-2.png

24. Then Saturn, Earth and Mars would stand to that “greater Life” (the one on the left, which we might call ‘Solar Brahma”) as Shamballa, Hierarchy and Humanity stand to the planetary Logos of Earth.

24. Khi ấy, Sao Thổ, Trái Đất và Sao Hỏa sẽ đứng đối với “Sự Sống vĩ đại hơn” ấy, Đấng ở bên trái mà chúng ta có thể gọi là “Brahma Thái Dương”, giống như Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân loại đứng đối với Đức Hành Tinh Thượng Đế của Trái Đất.

25. We should think this out. The analogy may not be exact, and in order to make it more exact, we would have to expand the scope of Shamballa, Hierarchy and Humanity to embrace the planetary scheme and not just one of its globes. For indeed, just as Humanity is found on more globes and chains than our Earth-globe within the Earth-chain, so are Shamballa and Hierarchy terms representing vaster processes within our planetary scheme than usually considered.

25. Chúng ta nên suy nghĩ kỹ điều này. Phép tương đồng có thể không chính xác, và để làm cho nó chính xác hơn, chúng ta sẽ phải mở rộng phạm vi của Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân loại để bao gồm hệ hành tinh, chứ không chỉ một trong các bầu hành tinh của nó. Quả thật, cũng như Nhân loại hiện diện trên nhiều bầu hành tinh và nhiều dãy hơn là chỉ bầu Trái Đất của chúng ta trong Dãy Địa Cầu, thì Shamballa và Thánh Đoàn cũng là những thuật ngữ biểu thị các tiến trình rộng lớn hơn bên trong hệ hành tinh của chúng ta so với cách thường được xem xét.

26. If we are ignorant of the structure of our planetary scheme (and we are all more ignorant on this matter than enlightened) we will not catch these subtleties.

26. Nếu chúng ta không biết gì về cấu trúc của hệ hành tinh chúng ta, và về vấn đề này tất cả chúng ta đều còn vô minh nhiều hơn là được soi sáng, chúng ta sẽ không nắm bắt được những vi tế này.

27. If we wish to take the analogy further and bring the Solar Logos into consideration, then, it could be that Earth, Mars and Saturn together, would represent to the Solar Logos what Humanity (on a scheme level) represents to the Planetary Logos. Then Venus, Jupiter and Uranus would represent to the Solar Logos what Hierarchy (on a scheme level) represents to the Planetary Logos. And three other planets (thus far unspecified by the Tibetan) would represent to the Solar Logos what Shamballa (on a scheme level) now represents to the Planetary Logos. Among those three other planets may well be Vulcan and Pluto which are already implicated in Shamballic demonstration. (cf. EP II 99 and map on TCF 1238, specifically three circles seen surrounding the Solar Logos).

27. Nếu chúng ta muốn đưa phép tương đồng đi xa hơn và đưa Thái dương Thượng đế vào sự xem xét, thì có thể Trái Đất, Sao Hỏa và Sao Thổ cùng nhau, sẽ tượng trưng đối với Thái dương Thượng đế cho điều mà Nhân loại, trên cấp độ hệ hành tinh, tượng trưng đối với Đức Hành Tinh Thượng Đế. Khi ấy Sao Kim, Sao Mộc và Sao Thiên Vương sẽ tượng trưng đối với Thái dương Thượng đế cho điều mà Thánh Đoàn, trên cấp độ hệ hành tinh, tượng trưng đối với Đức Hành Tinh Thượng Đế. Và ba hành tinh khác, cho đến nay Chân sư Tây Tạng chưa chỉ rõ, sẽ tượng trưng đối với Thái dương Thượng đế cho điều mà Shamballa, trên cấp độ hệ hành tinh, nay tượng trưng đối với Đức Hành Tinh Thượng Đế. Trong ba hành tinh khác ấy rất có thể có Vulcan và Sao Diêm Vương, vốn đã dính líu trong sự biểu hiện Shamballa. (xem EP II 99 và bản đồ trong TCF 1238, đặc biệt là ba vòng tròn được thấy bao quanh Thái dương Thượng đế).

28. If we think of Shamballa, Hierarchy and Humanity only in relation to our little globe which is (apparently) but one seventh of our Earth-chain (though it could be but one tenth), which is but one seventh of our Earth-scheme (or one tenth), we shall run into a ‘level-mismatch’.

28. Nếu chúng ta nghĩ về Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân loại chỉ trong liên hệ với bầu hành tinh nhỏ bé của chúng ta, vốn dường như chỉ là một phần bảy của Dãy Địa Cầu, dù có thể chỉ là một phần mười, và dãy ấy chỉ là một phần bảy của hệ Địa Cầu, hoặc một phần mười, chúng ta sẽ rơi vào một “sự không tương thích cấp độ”.

29. One has to read Master DK so carefully in some of these references. If DK meant the Solar Logos, why did He not simply say so—as He often does? We have to ask ourselves if He was hinting at a great but unnamed “Life” (one of the members of the “Solar Trinity”). It is usually entirely overlooked that there are three great Lives who function in contiguity[12] with the Solar Logos even as the three Buddhas of Activity surround Sanat Kumara (Who is often considered the Planetary Logos, Himself—depending upon the reference).

29. Người ta phải đọc Chân sư DK hết sức cẩn thận trong một số tham chiếu như thế này. Nếu Chân sư DK muốn nói Thái dương Thượng đế, tại sao Ngài không nói thẳng như vậy, như Ngài vẫn thường làm? Chúng ta phải tự hỏi liệu Ngài có đang ám chỉ một “Sự Sống” vĩ đại nhưng không được nêu tên, một trong các thành viên của “Tam Vị Thái Dương”, hay không. Thường người ta hoàn toàn bỏ qua rằng có ba Sự Sống vĩ đại hoạt động trong sự cận kề với Thái dương Thượng đế, cũng như ba Đức Phật Hoạt Động bao quanh Đức Sanat Kumara, Đấng thường được xem là chính Đức Hành Tinh Thượng Đế, tùy theo tham chiếu.

30. There is a difference however. Whereas the “Solar Trinity” is placed in the diagram somewhat below the Solar Logos, the Three Buddhas of Activity seem to overlap and surround Sanat Kumara.

30. Tuy nhiên, có một khác biệt. Trong khi “Tam Vị Thái Dương” được đặt trong sơ đồ hơi bên dưới Thái dương Thượng đế, thì Ba Đức Phật Hoạt Động dường như chồng lên và bao quanh Đức Sanat Kumara.

31. But THEN, the Planetary Logos, per se, is not shown on the diagram, and if it were, then the three circles which overlap the Sanat Kumara circle, would probably be seen below the circle representing the Planetary Logos.

31. Nhưng KHI ẤY, chính Đức Hành Tinh Thượng Đế, xét tự thân, không được thể hiện trên sơ đồ, và nếu Ngài được thể hiện, thì ba vòng tròn chồng lên vòng tròn Đức Sanat Kumara có lẽ sẽ được thấy ở bên dưới vòng tròn tượng trưng cho Đức Hành Tinh Thượng Đế.

32. In any case, without some awareness of these three great Beings, the members of the Solar Trinity (‘Solar Brahma, Vishnu and Shiva’, represented by three large circles in TCF 1238) we may not be capable of interpreting this passage with any degree of correctness.

32. Dù sao đi nữa, nếu không có một mức độ nhận thức nào đó về ba Đấng Vĩ Đại này, tức các thành viên của Tam Vị Thái Dương, “Brahma, Vishnu và Shiva Thái Dương”, được tượng trưng bằng ba vòng tròn lớn trong TCF 1238, chúng ta có thể không đủ khả năng diễn giải đoạn văn này với bất kỳ mức độ chính xác nào.

33. Putting one analogy more formally: Our Planetary Logos/Scheme-wide Shamballa, Hierarchy, Humanity = ‘Solar Brahma’/Saturn, Mars, Earth

33. Diễn đạt một phép tương đồng theo cách trang trọng hơn: Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta/Shamballa, Thánh Đoàn, Nhân loại trên phạm vi hệ hành tinh = “Brahma Thái Dương”/Sao Thổ, Sao Hỏa, Trái Đất

34. One other point must be offered that could lead to yet another interpretation. We note the emphasis on the word “force”. We know that our Planetary Logos is (or will be) the custodian of solar systemic kundalini because it is to the Solar Logos what the base of the spine center is to man. It may be that there are two other Planetary Logoi who share this custodianship and that the three of them together represent the kundalini “force” of our Solar Logos. Could these other two be Mars and Pluto, both of them related to the eighth sign, Scorpio, and bearing in mind that we are studying Rule VIII?

34. Một điểm khác cần được nêu ra, có thể dẫn đến một cách diễn giải nữa. Chúng ta lưu ý sự nhấn mạnh vào từ “mãnh lực”. Chúng ta biết rằng Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta là, hoặc sẽ là, đấng gìn giữ kundalini của hệ mặt trời, vì Ngài đối với Thái dương Thượng đế giống như trung tâm đáy cột sống đối với con người. Có thể có hai Đức Hành Tinh Thượng Đế khác cùng chia sẻ sự gìn giữ này, và ba Ngài cùng nhau tượng trưng cho “mãnh lực” kundalini của Thái dương Thượng đế chúng ta. Hai Đấng kia có thể là Sao Hỏa và Sao Diêm Vương chăng, cả hai đều liên hệ với dấu hiệu thứ tám, Hổ Cáp, và hãy nhớ rằng chúng ta đang nghiên cứu Quy luật VIII?

35. Were this the case, those three planets would be related to the third person of the Solar Trinity, for kundalini is a relatively material force.

35. Nếu đúng như vậy, ba hành tinh ấy sẽ liên hệ với ngôi thứ ba của Tam Vị Thái Dương, vì kundalini là một mãnh lực tương đối vật chất.

36. Suppose we took the Shamballa, Hierarchy and Humanity of our little globe (a kind of base of the spine for our planetary-chain) and considered them in relation to the Planetary Logos as a whole. This triplicity could then represent the three channels for planetary kundalini.

36. Giả sử chúng ta lấy Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân loại của bầu hành tinh nhỏ bé chúng ta, một loại đáy cột sống cho dãy hành tinh của chúng ta, và xem xét chúng trong liên hệ với toàn thể Đức Hành Tinh Thượng Đế. Khi ấy bộ ba này có thể tượng trưng cho ba kênh dẫn của kundalini hành tinh.

37. Three planets (Earth, Mars and Pluto—all non-sacred) could then be conceived in relation to solar logoic kundalini.

37. Khi ấy ba hành tinh, Trái Đất, Sao Hỏa và Sao Diêm Vương, tất cả đều không thiêng liêng, có thể được quan niệm trong liên hệ với kundalini của Thái dương Thượng đế.

38. This is another line of thought worth pursuing whether or not it fits exactly with the analogy presented in the Tibetan’s statement.

38. Đây là một dòng tư tưởng khác đáng theo đuổi, dù nó có khớp chính xác với phép tương đồng được trình bày trong phát biểu của Chân sư Tây Tạng hay không.

39. The implications of this alternate line of interpretation are subtle, intricate, remarkable and full of technical detail. Unfortunately, this is not the place to go into this matter exhaustively.

39. Những hàm ý của dòng diễn giải thay thế này vi tế, phức tạp, đáng chú ý và đầy chi tiết kỹ thuật. Tiếc thay, đây không phải là nơi để đi sâu vào vấn đề này một cách cạn kiệt.

40. Suffice it to say that the veils thrown over planetary lore are not easily penetrated.

40. Chỉ cần nói rằng những bức màn phủ lên tri thức hành tinh không dễ gì xuyên thấu.

41. Putting these complex considerations aside, what is the “ONE” which the group must come to understand? Shall we, at this point, say it is the Planetary Logos, our Planetary Life (expressed through Sanat Kumara)?

41. Gác những suy xét phức tạp này sang một bên, “ĐẤNG DUY NHẤT” mà nhóm phải đạt đến sự thấu hiểu là gì? Ở điểm này, chúng ta có nên nói đó là Đức Hành Tinh Thượng Đế, Sự Sống Hành Tinh của chúng ta, được biểu hiện qua Đức Sanat Kumara, chăng?

42. The Tibetan describes the nature of the “Three” which we must understand—the interactive union of Shamballa, Hierarchy and Humanity, but is not explicit about the exact nature of the “ONE”. Yet this inference that the “ONE” is the Planetary Logos is reasonable.

42. Chân sư Tây Tạng mô tả bản chất của “Ba” mà chúng ta phải thấu hiểu, tức sự hợp nhất tương tác của Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân loại, nhưng Ngài không nói rõ về bản chất chính xác của “ĐẤNG DUY NHẤT”. Tuy vậy, suy luận rằng “ĐẤNG DUY NHẤT” là Đức Hành Tinh Thượng Đế là hợp lý.

43. Beyond the “ONE” is the Solar Logos, Himself, the ‘understanding’ of Whom, in the most initial phases of that understanding, is the work of the initiate of the seventh degree.

43. Vượt ngoài “ĐẤNG DUY NHẤT” là chính Thái dương Thượng đế, Đấng mà sự “thấu hiểu” về Ngài, trong những giai đoạn sơ khởi nhất của sự thấu hiểu ấy, là công việc của điểm đạo đồ cấp bảy.

“The group must work through the medium of the united breath.” This deals with the processes of circulation, for the breath is the life and pours through all the centres.

“Nhóm phải làm việc thông qua phương tiện của hơi thở hợp nhất.” Điều này đề cập đến các tiến trình tuần hoàn, vì hơi thở là sự sống và tuôn chảy qua tất cả các trung tâm.

44. Here the Tibetan relates the “united breath” to circulation. Well, it would seem that all the air signs would be involved, for air is, analogically, the medium of breath. A group must learn to breathe together, to divinely conspire together. Through the breath, energy can be moved from one point of focus to another—whether within the group or to points external to the group.

44. Ở đây Chân sư Tây Tạng liên hệ “hơi thở hợp nhất” với sự tuần hoàn. Có vẻ như tất cả các dấu hiệu hành khí đều sẽ tham dự, vì theo phép tương đồng, khí là phương tiện của hơi thở. Một nhóm phải học cách thở cùng nhau, cùng nhau mưu hợp một cách thiêng liêng. Thông qua hơi thở, năng lượng có thể được chuyển từ một điểm tập trung này sang một điểm khác, dù bên trong nhóm hay đến những điểm ở bên ngoài nhóm.

45. Gemini is specifically the astrological sign related to the breath; Aquarius to circulation; and Libra to the balance and equilibrizing of the process.

45. Song Tử đặc biệt là dấu hiệu chiêm tinh liên hệ với hơi thở; Bảo Bình liên hệ với sự tuần hoàn; và Thiên Bình liên hệ với sự cân bằng và điều hòa của tiến trình.

46. Just as there are centers in the individual, so the group has its centers; the group must learn to circulate energy through those group centers (the composite of the centers of the individuals comprising the group) correctly.

46. Cũng như có các trung tâm trong cá nhân, nhóm cũng có các trung tâm của mình; nhóm phải học cách luân chuyển năng lượng một cách đúng đắn qua các trung tâm nhóm ấy, là tổng hợp các trung tâm của những cá nhân cấu thành nhóm.

“The group must attain a unified rhythm.” This has no reference in reality to the work of a group of disciples, but to a group of centres of life, such as the three major centres or the entire group of seven centres.

“Nhóm phải đạt đến một nhịp điệu hợp nhất.” Thực ra điều này không liên quan đến công việc của một nhóm đệ tử, mà liên quan đến một nhóm các trung tâm sự sống, chẳng hạn như ba trung tâm chính hoặc toàn bộ nhóm bảy trung tâm.

47. The Tibetan expands the idea of the “unified rhythm”. For Him it is not an intra-group matter, but relates to other and greater centers. Perhaps it has something to do with a knowledge of the cycles of those greater centers, and with the group’s ability to respond to those cycles.

47. Chân sư Tây Tạng mở rộng ý tưởng về “nhịp điệu hợp nhất”. Đối với Ngài, đó không phải là vấn đề nội bộ của nhóm, mà liên hệ với những trung tâm khác và lớn hơn. Có lẽ nó có liên quan đến một tri thức về các chu kỳ của những trung tâm lớn hơn ấy, và với khả năng của nhóm trong việc đáp ứng các chu kỳ ấy.

48. Hierarchy certainly works with a “unified rhythm” and Hierarchy knows the cycles and right timing for reception and distribution/application.

48. Thánh Đoàn chắc chắn làm việc với một “nhịp điệu hợp nhất”, và Thánh Đoàn biết các chu kỳ cùng thời điểm đúng đắn cho việc tiếp nhận và phân phối/ứng dụng.

A study of these ideas may carry illumination, but I would again remind you that I write for initiates, living at a later period in this century and in the next.

Một sự nghiên cứu những ý tưởng này có thể mang lại sự soi sáng, nhưng tôi một lần nữa nhắc các bạn rằng tôi viết cho các điểm đạo đồ, sống vào một thời kỳ muộn hơn trong thế kỷ này và trong thế kỷ kế tiếp.

49. DK is always cautioning us that we should not get carried away with our ability to fathom this Rule, and all the advanced Rules. Always, the obvious interpretation, though perhaps indicative, is not the correct one.

49. Chân sư DK luôn cảnh báo chúng ta rằng không nên quá say mê với khả năng dò thấu Quy luật này, và tất cả các Quy luật cao cấp. Bao giờ cũng vậy, cách diễn giải hiển nhiên, dù có thể mang tính chỉ dẫn, không phải là cách diễn giải đúng.

50. DK does not tell us that a close study of the four ideas presented will carry illumination—only that it “may”. I think we can see why.

50. Chân sư DK không nói với chúng ta rằng một sự nghiên cứu kỹ lưỡng bốn ý tưởng được trình bày sẽ mang lại sự soi sáng, mà chỉ nói rằng nó “có thể”. Tôi nghĩ chúng ta có thể thấy lý do vì sao.

In considering this Law of the Supplementary Seven, I would like to point out that the word “supplementary” is of real significance. It brings in a factor of great interest, from the angle of initiation.

Khi xem xét Định luật của Bảy Bổ Sung này, tôi muốn chỉ ra rằng từ “bổ sung” có thâm nghĩa thực sự. Nó đưa vào một yếu tố rất đáng quan tâm, từ góc độ điểm đạo.

51. That which is “supplementary” is supportive and needed at certain stages of a process, but not necessarily needed at later stages. That which is supplementary holds a secondary position in any process.

51. Điều gì mang tính “bổ sung” thì có tính hỗ trợ và cần thiết ở một số giai đoạn nhất định của một tiến trình, nhưng không nhất thiết cần thiết ở các giai đoạn về sau. Điều gì mang tính bổ sung thì giữ vị trí thứ yếu trong bất kỳ tiến trình nào.

You must bear in mind that when the antahkarana is constructed and in use, there is consequently a free play of energy in a direct line between the Spiritual Triad and the personality; i.e., between the Monad and its “earthly anchor.”

Các bạn phải ghi nhớ rằng khi antahkarana được kiến tạo và được sử dụng, do đó có một sự vận hành tự do của năng lượng theo một đường trực tiếp giữa Tam Nguyên Tinh Thần và phàm ngã; nghĩa là giữa chân thần và “neo trụ trần gian” của nó.

52. Note that the personality is called the “earthly anchor” of the Monad. Monad and personality have much in common, as previously suggested. Both, from a certain perspective, are based upon the number one, whereas soul is based upon relationship. It can be seen how the figure of the diamond could emerge when tracing lines from the personality to soul to Monad.

52. Hãy lưu ý rằng phàm ngã được gọi là “neo trụ trần gian” của chân thần. Chân thần và phàm ngã có nhiều điểm chung, như đã được gợi ý trước đây. Cả hai, từ một viễn tượng nào đó, đều đặt nền trên con số một, trong khi linh hồn đặt nền trên mối liên hệ. Có thể thấy hình kim cương có thể xuất hiện như thế nào khi vạch các đường từ phàm ngã đến linh hồn rồi đến chân thần.

You will also remember that the soul body, the form on the higher levels of the mental plane which has “shrouded” the soul, eventually disappears. This, as you know, takes place at the fourth initiation and is one of the best recognised facts in the occult teaching. In the three worlds, the correspondence to this disappearance of the form of the second divine aspect, the soul, is the dissolution of the astral body—the second aspect [Page 162] of the personality. Then the personality stands free from its control. Sensitivity and reaction to contact in the three worlds has been perfectly developed, but it no longer holds the disciple a prisoner.

Các bạn cũng sẽ nhớ rằng thể linh hồn, hình tướng trên các cấp độ cao của cõi trí vốn đã “che phủ” linh hồn, cuối cùng biến mất. Như các bạn biết, điều này diễn ra ở lần điểm đạo thứ tư và là một trong những sự kiện được nhận biết rõ nhất trong giáo huấn huyền bí học. Trong ba cõi thấp, tương ứng với sự biến mất này của hình tướng thuộc phương diện thiêng liêng thứ hai, tức linh hồn, là sự tan rã của thể cảm dục, phương diện thứ hai [Page 162] của phàm ngã. Khi ấy phàm ngã đứng tự do khỏi sự kiểm soát của nó. Sự nhạy cảm và phản ứng đối với tiếp xúc trong ba cõi thấp đã được phát triển hoàn hảo, nhưng nó không còn giam giữ đệ tử như một tù nhân nữa.

53. It is in this section that we gather the notion that the causal body shrouds the true soul. If we consider the causal body as a ‘burial shroud’ we will perhaps be more eager to get rid of it at the right time.

53. Chính trong phần này mà chúng ta thu nhận ý niệm rằng thể nguyên nhân che phủ linh hồn chân thật. Nếu chúng ta xem thể nguyên nhân như một “tấm vải liệm”, có lẽ chúng ta sẽ càng thiết tha hơn trong việc loại bỏ nó vào đúng thời điểm.

54. We are speaking of the disappearance of veils and of intermediaries between spirit and matter. The Seven Rays are particularly related to the second aspect of divinity and are, in some mysterious manners, veils over monadic life and definitely intermediaries between spirit and matter. It may be that rays, too, will have their time of disappearance. This would be an abstruse consideration.

54. Chúng ta đang nói về sự biến mất của các bức màn và của những trung gian giữa tinh thần và vật chất. Bảy Cung đặc biệt liên hệ với phương diện thứ hai của thiên tính và, theo những cách huyền nhiệm nào đó, là các bức màn che phủ sự sống chân thần và rõ ràng là những trung gian giữa tinh thần và vật chất. Có thể rằng các cung cũng sẽ có thời điểm biến mất của chúng. Đây sẽ là một suy xét thâm áo.

55. We are here discussing the ‘supplementarity’ of the second aspect of divinity. The casual body and the astral body are both representatives of the second aspect. The causal body is supplementary (to reality) and so is the astral body. However, it is not that the qualities and capacities of these two temporary centers of force are unneeded. Far from it. Those qualities are absorbed by the lower vehicle, so that such qualities become virtually instinctive, automatic, ever-ready to respond—for, surely the sensitivity of the second aspect is needed in the ‘Divine Demonstration’.

55. Ở đây chúng ta đang bàn về tính ‘bổ sung’ của phương diện thứ hai của thiên tính. Thể nguyên nhân và thể cảm dục đều là những đại diện của phương diện thứ hai. Thể nguyên nhân là bổ sung cho thực tại, và thể cảm dục cũng vậy. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là các phẩm tính và năng lực của hai trung tâm mãnh lực tạm thời này là không cần thiết. Hoàn toàn không phải vậy. Những phẩm tính ấy được hấp thụ vào vận cụ thấp, để các phẩm tính ấy hầu như trở thành bản năng, tự động, luôn sẵn sàng đáp ứng—vì chắc chắn tính nhạy cảm của phương diện thứ hai là cần thiết trong “Sự Biểu Hiện Thiêng Liêng”.

56. There is a hint here that the second aspect can be imprisoning before it becomes “perfectly developed”. The second aspect is related to the Law of Attraction, and thus, on a lower turn of the spiral, to the magnetism which binds. The second aspect has, eventually, to go if we (or any life in form) are to be free of attachment.

56. Ở đây có một gợi ý rằng phương diện thứ hai có thể trở thành sự giam hãm trước khi nó trở nên “phát triển hoàn hảo”. Phương diện thứ hai liên hệ với Định luật Hấp Dẫn, và do đó, trên một vòng thấp hơn của vòng xoắn ốc, liên hệ với từ điện vốn ràng buộc. Rốt cuộc, phương diện thứ hai phải ra đi nếu chúng ta, hay bất kỳ sự sống nào trong hình tướng, muốn thoát khỏi sự bám chấp.

Then, at a later stage upon the Path of Initiation, the causal body also disappears and the initiate stands free in the three worlds. The astral body and the causal or soul body are—in the language of esotericism—supplementary to reality. They have had a temporary reality during the evolutionary process, but (having served their purpose and having endowed man with certain required assets—consciousness, feeling, sensitivity, the ability to establish and register contact) they pass away and the initiate remains, possessed of power over form and a fully awakened consciousness. He is a soul and the fusion is complete.

Rồi, ở một giai đoạn về sau trên Con Đường Điểm Đạo, thể nguyên nhân cũng biến mất và điểm đạo đồ đứng tự do trong ba cõi thấp. Thể cảm dục và thể nguyên nhân, hay thể linh hồn, theo ngôn ngữ của huyền bí học, là bổ sung cho thực tại. Chúng đã có một thực tại tạm thời trong tiến trình tiến hoá, nhưng sau khi đã phụng sự mục đích của mình và đã ban cho con người những tài sản cần thiết nhất định—tâm thức, cảm giác, tính nhạy cảm, khả năng thiết lập và ghi nhận sự tiếp xúc—chúng qua đi, và điểm đạo đồ còn lại, sở hữu quyền năng trên hình tướng và một tâm thức đã hoàn toàn thức tỉnh. Y là một linh hồn và sự dung hợp đã hoàn tất.

57. The sections we are now considering go a long way toward explaining the meaning of the word “supplementary”, so foundational to an understanding of Rule VIII, based as it is on the Law of the Supplementary Seven.

57. Các phần mà chúng ta hiện đang xem xét góp phần rất lớn vào việc giải thích ý nghĩa của từ “bổ sung”, vốn nền tảng đối với sự thấu hiểu Quy luật VIII, vì quy luật này đặt trên Định luật Bảy Phần Bổ Sung.

58. The true initiate is the Monad. On the way to becoming the fully conscious Monad in expression, he becomes the fully conscious soul. This law engineers the freedom of the initiate from certain supplemental instruments.

58. Điểm đạo đồ chân chính là chân thần. Trên đường trở thành chân thần có tâm thức trọn vẹn trong biểu hiện, y trở thành linh hồn có tâm thức trọn vẹn. Định luật này tạo nên sự giải thoát của điểm đạo đồ khỏi một số công cụ bổ sung.

59. The second aspect gives or endows.

59. Phương diện thứ hai ban cho hay phú bẩm.

60. Man needs the endowments (the “required assets”) of the second aspect here listed as—

60. Con người cần những phú bẩm, tức “những tài sản cần thiết”, của phương diện thứ hai được liệt kê ở đây là—

a. Consciousness

a. Tâm thức

b. Feeling

b. Cảm giác

c. Sensitivity

c. Tính nhạy cảm

d. The ability to establish and register contact

d. Khả năng thiết lập và ghi nhận sự tiếp xúc

61. Having given, once its endowments are absorbed by that to which it has given, it disappears. Then Spirit and matter can relate in complete freedom.

61. Sau khi đã ban cho, một khi các phú bẩm của nó được hấp thụ bởi cái mà nó đã ban cho, nó biến mất. Khi ấy Tinh thần và vật chất có thể liên hệ trong sự tự do trọn vẹn.

62. In the study of this Rule we identify that which must eventually be relinquished, and in so doing, make the preparation for relinquishment easier.

62. Trong việc nghiên cứu Quy luật này, chúng ta nhận diện điều rốt cuộc phải được buông bỏ, và nhờ làm như vậy, sự chuẩn bị cho việc buông bỏ trở nên dễ dàng hơn.

What is true of the individual is true too of the Heavenly Man, the planetary Logos. In the long period of a world cycle there comes a time when the Hierarchy itself, as a body organised and functioning in order to implement certain evolutionary ends, is no longer needed.

Điều đúng với cá nhân cũng đúng với Đấng Thiên Nhân, Hành Tinh Thượng đế. Trong thời kỳ dài của một chu kỳ thế giới, đến một lúc chính Thánh Đoàn, với tư cách là một thể được tổ chức và vận hành nhằm thực hiện một số mục đích thăng thượng tiến hoá, không còn cần thiết nữa.

63. Hierarchy is to the Planetary Logos (considered as the Planetary Monad) as the causal body is to the man considered as the human Monad.

63. Thánh Đoàn đối với Hành Tinh Thượng đế, khi được xét như Chân Thần Hành Tinh, cũng như thể nguyên nhân đối với con người, khi được xét như chân thần nhân loại.

It is then regarded as “supplementary,” and under the Law its life, its potency and its entire consciousness are absorbed into the planetary head centre, Shamballa. A great process of abstraction or of withdrawal takes place, covering necessarily a long period of time, and which is consummated only when evolution—as we know it—comes to an end and the planetary Life (again as we know it) also comes to an end.

Khi ấy Thánh Đoàn được xem là “bổ sung”, và theo Định luật, sự sống, quyền năng và toàn bộ tâm thức của nó được hấp thụ vào trung tâm đầu hành tinh, Shamballa. Một tiến trình vĩ đại của sự trừu xuất hay rút lui diễn ra, tất yếu bao trùm một thời kỳ dài, và chỉ hoàn tất khi tiến hoá—như chúng ta biết—đi đến chỗ kết thúc, và Sự Sống Hành Tinh, một lần nữa như chúng ta biết, cũng đi đến chỗ kết thúc.

64. We see how the Law of the Supplementary Seven is intimately related to the first aspect which magnetically absorbs the other aspects of divinity at the conclusion of the evolutionary process.

64. Chúng ta thấy Định luật Bảy Phần Bổ Sung liên hệ mật thiết như thế nào với phương diện thứ nhất, phương diện hấp thụ một cách từ tính các phương diện khác của thiên tính vào lúc kết thúc tiến trình tiến hoá.

65. The Law of the Supplementary Seven is a Law about abstraction and absorption—which can be understood as ‘return to essence’. Hierarchy as well, we are told, one day becomes supplementary—“supplementary to reality” (an interesting concept).

65. Định luật Bảy Phần Bổ Sung là một Định luật về sự trừu xuất và hấp thụ—có thể được hiểu là “trở về tinh túy”. Chúng ta được cho biết rằng một ngày kia Thánh Đoàn cũng trở thành bổ sung—“bổ sung cho thực tại”, một khái niệm thú vị.

66. This great law is, in a way, about the retraction of that which has been emanated. “Life”, which is the source of all, creates supplementary vehicles for its expression. When the intended task is accomplished, the emanated life which supported those supplementary vehicles is retracted into its emanating source.

66. Định luật vĩ đại này, theo một cách nào đó, nói về sự rút lại điều đã được xuất lộ. “Sự Sống”, nguồn cội của tất cả, tạo nên các vận cụ bổ sung cho sự biểu hiện của nó. Khi nhiệm vụ đã định được hoàn thành, sự sống xuất lộ vốn nâng đỡ các vận cụ bổ sung ấy được rút lại vào nguồn xuất lộ của chính nó.

67. Note how the Tibetan says that one day “Planetary Life (as we know it) also comes to an end”. Abstraction (except for the ‘Final Universal Abstraction’) is not disappearance, but simply a refocussing on a dimension inaccessible to ordinary means of perception.

67. Hãy lưu ý Chân sư Tây Tạng nói rằng một ngày kia “Sự Sống Hành Tinh, như chúng ta biết, cũng đi đến chỗ kết thúc”. Sự trừu xuất, ngoại trừ “Sự Trừu Xuất Vũ Trụ Tối Hậu”, không phải là sự biến mất, mà chỉ đơn giản là một sự tái tập trung vào một chiều kích không thể tiếp cận bằng các phương tiện tri nhận thông thường.

68. We must focus on the phrase “as we know it” to realize that the Planetary Life continues in a manner unfathomable to us.

68. Chúng ta phải tập trung vào cụm từ “như chúng ta biết” để nhận ra rằng Sự Sống Hành Tinh vẫn tiếp tục theo một cách mà chúng ta không thể dò thấu.

69. We note that we are dealing with the eighth Rule. The number eight is associated with death and liberation; this is actually the theme of our discussion—the withdrawal of life essence from that which is supplemental to life essence.

69. Chúng ta lưu ý rằng mình đang đề cập đến Quy luật thứ tám. Con số tám gắn liền với cái chết và sự giải thoát; đây thực sự là chủ đề của cuộc bàn luận của chúng ta—sự rút lui của tinh chất sự sống khỏi điều bổ sung cho tinh chất sự sống.

This process of abstraction is always going on. Men become disciples and then initiates. Some stay as hierarchical workers, choosing to work with the planetary forces of evolution. Others pass on into the great Council Chamber of the Lord of the World, and still others pass out of our planetary ring-pass-not altogether.

Tiến trình trừu xuất này luôn luôn đang diễn ra. Con người trở thành đệ tử rồi thành điểm đạo đồ. Một số ở lại như những người hoạt động trong Thánh Đoàn, chọn làm việc với các mãnh lực hành tinh của tiến hoá. Những người khác tiến vào Đại Phòng Hội Đồng của Đức Chúa Tể Thế Giới, và những người khác nữa hoàn toàn vượt ra khỏi vòng-giới-hạn hành tinh của chúng ta.

70. All of this “moving on” to more advanced levels of expression, all this “passing on” and “passing out” is part of the process of abstraction. Greater magnets attract lesser ones; greater Lives attract lesser lives. That which is supplementary is relinquished once it has served its purpose.

70. Tất cả việc “tiến onward” này đến những cấp độ biểu hiện cao hơn, tất cả sự “tiếp tục đi tới” và “vượt ra ngoài” này đều là một phần của tiến trình trừu xuất. Những nam châm lớn hơn thu hút những nam châm nhỏ hơn; những Sự Sống lớn hơn thu hút những sự sống nhỏ hơn. Điều bổ sung được buông bỏ một khi nó đã phụng sự mục đích của mình.

Thus the Law of the Supplementary Seven is ever in force. It functions in the processes going on in the seven centres of the individual man, gathering energy from one centre into another until all are centred, controlled and directed in the head.

Vì vậy Định luật Bảy Phần Bổ Sung luôn luôn tác động. Nó vận hành trong các tiến trình đang diễn ra trong bảy trung tâm của con người cá nhân, thu gom năng lượng từ trung tâm này sang trung tâm khác cho đến khi tất cả được quy tụ, kiểm soát và điều hướng trong đầu.

71. In this sense the Law of the Supplementary Seven might be called the ‘Law of Elevation’ as well as the ‘Law of Abstraction’.

71. Theo nghĩa này, Định luật Bảy Phần Bổ Sung cũng có thể được gọi là “Định luật Nâng Cao” cũng như “Định luật Trừu Xuất”.

72. The law is not about the creation of a supplementary seven; rather, it is about the dissolution of all supplementary sevens and the withdrawal of the life essence therefrom.

72. Định luật này không nói về sự sáng tạo một bộ bảy bổ sung; đúng hơn, nó nói về sự tan rã của mọi bộ bảy bổ sung và sự rút lui của tinh chất sự sống khỏi đó.

In the stage of what the Hindus call [Page 163] “samadhi” the vital energies from all the centres are concentrated in the highest head centre in the etheric body, in the area just above the physical head. Thus the analogy is complete.

Trong giai đoạn mà người Ấn giáo gọi là [Page 163] “đại định”, các năng lượng sinh lực từ mọi trung tâm được tập trung trong trung tâm đầu cao nhất nơi thể dĩ thái, tại vùng ngay phía trên đầu hồng trần. Như vậy, sự tương đồng đã trọn vẹn.

73. One can see that when the discipline of Samadhi is correctly practiced, one is working with the Law of the Supplementary Seven, proving (for the duration of the Samadhi) that the lower six are supplementary to the highest one, and later, that even that one is supplementary to the higher soul center which will abstract the life from it when the death of the form really comes.

73. Có thể thấy rằng khi kỷ luật đại định được thực hành đúng đắn, người ta đang làm việc với Định luật Bảy Phần Bổ Sung, chứng minh, trong thời gian đại định, rằng sáu trung tâm thấp là bổ sung cho một trung tâm cao nhất, và về sau, rằng ngay cả một trung tâm ấy cũng là bổ sung cho trung tâm linh hồn cao hơn, trung tâm sẽ trừu xuất sự sống khỏi nó khi cái chết của hình tướng thực sự đến.

74. The practice of “Pratyahara”, one of the Eight Means of Yoga, is directly related to this law.

74. Việc thực hành “thu nhiếp giác quan”, một trong Tám Phương Tiện của Du Già, liên hệ trực tiếp với định luật này.

75. Through the Law of the Supplementary Seven, the Many (traveling through many emanatory septenates) return to the One.

75. Thông qua Định luật Bảy Phần Bổ Sung, Cái Nhiều, khi đi qua nhiều bộ bảy xuất lộ, trở về với Đấng Duy Nhất.

76. We have arrived at a fundamental principle concerning the Law of the Supplementary Seven (no matter to what level it may apply). Through the instrumentality of this Law, sevens are ever being abstracted into a one. This leads to bliss, as in the case of Samadhi, wherein the energy of the seven human centers is all elevated and centered in the higher head center—the crown chakra immediately above the head.

76. Chúng ta đã đi đến một nguyên lý nền tảng liên quan đến Định luật Bảy Phần Bổ Sung, bất kể nó có thể áp dụng ở cấp độ nào. Thông qua công cụ của Định luật này, các bộ bảy luôn luôn được trừu xuất vào một cái một. Điều này dẫn đến chí phúc, như trong trường hợp đại định, trong đó năng lượng của bảy trung tâm nơi con người đều được nâng cao và quy tụ trong trung tâm đầu cao hơn—luân xa vương miện ngay phía trên đầu.

The processes of abstraction are (as you may thus see) connected with the life aspect, are set in motion by an act of the spiritual will, and constitute the “resurrection principle which lies hidden in the work of the Destroyer,” as an old esoteric saying expresses it. The lowest manifestation of this principle is to be seen in the process of what we call Death—which is in reality a means of abstracting the life principle, informed by consciousness, from the form or the bodies in the three worlds.

Các tiến trình trừu xuất, như các bạn có thể thấy, liên hệ với phương diện sự sống, được khởi động bởi một hành vi của Ý Chí tinh thần, và cấu thành “nguyên lý phục sinh ẩn tàng trong công việc của Đấng Hủy Diệt”, như một câu nói huyền bí cổ xưa diễn đạt. Biểu hiện thấp nhất của nguyên lý này được thấy trong tiến trình mà chúng ta gọi là Cái Chết—thực ra là một phương tiện trừu xuất nguyên khí sự sống, được tâm thức thấm nhuần, khỏi hình tướng hay các thể trong ba cõi thấp.

77. The Tibetan tells us that “the processes of abstraction are (as you may thus see) connected with the life aspect, are set in motion by an act of the spiritual will, and constitute the ‘resurrection principle which lies hidden in the work of the Destroyer,’. This is a synthetic statement, relating certain great concepts and energy movements—abstraction, spiritual will, resurrection, and destruction.

77. Chân sư Tây Tạng cho chúng ta biết rằng “các tiến trình trừu xuất, như các bạn có thể thấy, liên hệ với phương diện sự sống, được khởi động bởi một hành vi của Ý Chí tinh thần, và cấu thành ‘nguyên lý phục sinh ẩn tàng trong công việc của Đấng Hủy Diệt,’. Đây là một phát biểu tổng hợp, liên hệ một số khái niệm và chuyển động năng lượng vĩ đại—sự trừu xuất, Ý Chí tinh thần, sự phục sinh và sự hủy diệt.

78. It is important to realize that the processes of abstraction are not related to the ‘death aspect’ but to the “life aspect” and that the spiritual will sets these processes in motion.

78. Điều quan trọng là nhận ra rằng các tiến trình trừu xuất không liên hệ với “phương diện sự chết” mà với “phương diện sự sống”, và rằng Ý Chí tinh thần khởi động các tiến trình này.

79. The implication is that, until we have developed the spiritual will, we cannot abstract from supplementation at will.

79. Hàm ý là, cho đến khi chúng ta đã phát triển Ý Chí tinh thần, chúng ta không thể tùy ý trừu xuất khỏi sự bổ sung.

80. We can see that we are dealing here with a ‘technique of resurrection’, and that there is a deep occult science behind the methods of resurrection.

80. Chúng ta có thể thấy rằng ở đây chúng ta đang đề cập đến một “kỹ thuật phục sinh”, và rằng có một khoa học huyền bí sâu xa đằng sau các phương pháp phục sinh.

81. It is beautiful to think that the “resurrection principle…lies hidden in the work of the Destroyer”. Without resurrection and the Destroyer there would be no way ‘Home’.

81. Thật đẹp khi nghĩ rằng “nguyên lý phục sinh… ẩn tàng trong công việc của Đấng Hủy Diệt”. Nếu không có sự phục sinh và Đấng Hủy Diệt, sẽ không có con đường nào “Trở Về Nhà”.

82. While “Death” is the lowest manifestation of the “resurrection principle”, its true purpose can be given as ‘the restoration of life to Life’.

82. Trong khi “Cái Chết” là biểu hiện thấp nhất của “nguyên lý phục sinh”, mục đích chân thực của nó có thể được nêu là “sự hoàn trả sự sống về với Sự Sống”.

Thus, the great synthesis emerges, and destruction, death, and dissolution are in reality naught but life processes. Abstraction is indicative of process, progress and development.

Như vậy, sự tổng hợp vĩ đại xuất hiện, và sự hủy diệt, cái chết cùng sự tan rã thực ra không là gì khác hơn các tiến trình sự sống. Sự trừu xuất biểu thị tiến trình, sự tiến bộ và sự phát triển.

83. So a great justification for abstraction emerges. The first ray is shows in its most beautiful light.

83. Vì vậy, một sự biện minh vĩ đại cho sự trừu xuất xuất hiện. Cung một hiện ra trong ánh sáng đẹp đẽ nhất của nó.

84. Destruction, death and dissolution are revealed to be the servants to Life.

84. Sự hủy diệt, cái chết và sự tan rã được mặc khải là những người phụng sự Sự Sống.

85. The motion of the first ray is “progress onward”. We can see that abstraction serves this progressive process since “abstraction is indicative of process, progress and development”.

85. Chuyển động của cung một là “tiến tới”. Chúng ta có thể thấy rằng sự trừu xuất phụng sự tiến trình tiến bộ này, vì “sự trừu xuất biểu thị tiến trình, sự tiến bộ và sự phát triển”.

86. We might call the “Law of the Supplementary Seven”, the ‘Law of the Termination of Supplementation’.

86. Chúng ta có thể gọi “Định luật Bảy Phần Bổ Sung” là “Định luật Chấm Dứt Sự Bổ Sung”.

It is this aspect of the Law of Life (or the Law of Synthesis as it is called in certain larger connotations) with which the initiate specifically deals when wielding the Law of the Supplementary Seven.

Chính phương diện này của Định luật Sự Sống, hay Định luật Tổng Hợp như nó được gọi trong một số hàm nghĩa rộng lớn hơn, là điều mà điểm đạo đồ đặc biệt đề cập khi vận dụng Định luật Bảy Phần Bổ Sung.

87. We are given a relationship between three great laws arranged hierarchically. The Law of Synthesis contains the Law of Life which contains the Law of the Supplementary Seven.

87. Chúng ta được trao cho một mối liên hệ giữa ba định luật lớn được sắp xếp theo trật tự thánh đoàn. Định luật Tổng Hợp chứa Định luật Sự Sống, và Định luật Sự Sống chứa Định luật Bảy Phần Bổ Sung.

The group angle of the matter can be seen if you remember that the individual initiate, when wielding this law, draws upon the united energy of the Will as the group is expressing it in “unified rhythm.” It is by the use of the “united breath” of the entire group (as much of it as his individual will can assimilate, focus, use and direct) that he augments his own will and its directed force.

Góc độ nhóm của vấn đề có thể được thấy nếu các bạn nhớ rằng điểm đạo đồ cá nhân, khi vận dụng định luật này, rút lấy năng lượng hợp nhất của Ý Chí như nhóm đang biểu hiện nó trong “nhịp điệu hợp nhất”. Chính nhờ việc sử dụng “hơi thở hợp nhất” của toàn thể nhóm, trong mức độ mà ý chí cá nhân của y có thể đồng hoá, tập trung, sử dụng và điều hướng, mà y gia tăng ý chí của chính mình và mãnh lực được điều hướng của nó.

83. The “group angle” on the Law of the Supplementary Seven relates Rule VIII to Rule IV.

83. “Góc độ nhóm” đối với Định luật Bảy Phần Bổ Sung liên hệ Quy luật VIII với Quy luật IV.

“The group angle of the matter can be seen if you remember that the individual initiate, when wielding this law, draws upon the united energy of the Will as the group is expressing it in ‘unified rhythm’.”

“Góc độ nhóm của vấn đề có thể được thấy nếu các bạn nhớ rằng điểm đạo đồ cá nhân, khi vận dụng định luật này, rút lấy năng lượng hợp nhất của Ý Chí như nhóm đang biểu hiện nó trong ‘nhịp điệu hợp nhất’.”

Let us remember part of Rule IV: “Let the group see that all the eighteen fires die down and that the lesser lives return unto the reservoir of life. This they must bring about through the evocation of the Will”.

Chúng ta hãy nhớ một phần của Quy luật IV: “Hãy để nhóm thấy rằng tất cả mười tám ngọn lửa lắng xuống và các sự sống nhỏ bé trở về kho chứa sự sống. Họ phải làm điều này thông qua sự gợi lên Ý Chí”.

84. An important principle emerges: the “united breath” augments the will of the individual and strengthens the directed force of that will.

84. Một nguyên lý quan trọng xuất hiện: “hơi thở hợp nhất” gia tăng ý chí của cá nhân và củng cố mãnh lực được điều hướng của ý chí ấy.

85. There can also be no doubt that through the “united breath”, the group will is strengthened and its direction of energy led to accomplishment.

85. Cũng không thể nghi ngờ rằng thông qua “hơi thở hợp nhất”, ý chí nhóm được củng cố và sự điều hướng năng lượng của nó được đưa đến thành tựu.

86. There is a willful group-focussing and group-circulation of energy through the united breath. The mode of circulation pays careful attention to the cycles and rhythms of the seven planetary centers through which circulation must occur (especially to the cycles and rhythms of the higher three centers—Shamballa, Hierarchy and Humanity).

86. Có một sự tập trung nhóm và sự tuần hoàn năng lượng trong nhóm, đầy ý chí, thông qua hơi thở hợp nhất. Phương thức tuần hoàn chú ý cẩn thận đến các chu kỳ và nhịp điệu của bảy trung tâm hành tinh mà qua đó sự tuần hoàn phải diễn ra, đặc biệt là các chu kỳ và nhịp điệu của ba trung tâm cao hơn—Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân Loại.

87. The united energy and rhythm of the group assist in the process of liberation. Group Will liberates.

87. Năng lượng hợp nhất và nhịp điệu của nhóm trợ giúp trong tiến trình giải thoát. Ý Chí Nhóm giải thoát.

The breath, as we well know, is the life; this Law is the one wielded by the living or risen Christ, in perfect harmony with the will of Shamballa.

Như chúng ta biết rõ, hơi thở là sự sống; Định luật này là định luật được Đức Christ sống động hay phục sinh vận dụng, trong sự hài hòa hoàn hảo với ý chí của Shamballa.

88. This is an amazing statement relating the “risen Christ” to this great law.

88. Đây là một phát biểu đáng kinh ngạc, liên hệ “Đức Christ phục sinh” với định luật vĩ đại này.

89. We know that the Christ is coming to bring the rite of initiation to humanity and on a broad scale. May we think that He will wield the Law of the Supplementary Seven in the raising of humanity through the initiatory process?

89. Chúng ta biết rằng Đức Christ đang đến để đem nghi lễ điểm đạo đến cho nhân loại trên một quy mô rộng lớn. Liệu chúng ta có thể nghĩ rằng Ngài sẽ vận dụng Định luật Bảy Phần Bổ Sung trong việc nâng cao nhân loại thông qua tiến trình điểm đạo chăng?

Herein lies one of the mysteries of the resurrection initiation about which so little has been told, and it is the very heart of the mystery of the ascension initiation. In this latter initiation the living risen Christ withdraws or abstracts Himself and enters consciously and permanently into the great centre, Shamballa.

Chính trong đây có một trong những bí nhiệm của cuộc điểm đạo phục sinh mà rất ít điều đã được nói ra, và đó là chính tâm điểm của bí nhiệm về cuộc điểm đạo thăng thiên. Trong cuộc điểm đạo sau này, Đức Christ sống động phục sinh rút lui hay trừu xuất chính Ngài và đi vào một cách hữu thức và vĩnh viễn trung tâm vĩ đại, Shamballa.

90. The “ascension initiation” is the sixth, and leads to Shamballa on the sixth or monadic plane.

90. “Cuộc điểm đạo thăng thiên” là lần thứ sáu, và dẫn đến Shamballa trên cõi thứ sáu hay cõi chân thần.

The resurrection and the ascension are the results of the death or destruction of the causal body. It can be seen, therefore, how true the Gospel story is to the purposes of Shamballa.

Sự phục sinh và sự thăng thiên là kết quả của cái chết hay sự hủy diệt thể nguyên nhân. Do đó, có thể thấy câu chuyện Phúc Âm chân thực như thế nào đối với các mục đích của Shamballa.

88. We can see the immense range of Rule VIII. It takes us all the way to the sixth initiation (the “Ascension”) if properly understood and fulfilled.

88. Chúng ta có thể thấy phạm vi bao la của Quy luật VIII. Nếu được thấu hiểu và hoàn thành đúng đắn, nó đưa chúng ta đi suốt đến lần điểm đạo thứ sáu, tức “Sự Thăng Thiên”.

89. The Initiation of Resurrection is here discussed, but it is doubtful whether DK is referencing the true Resurrection—the seventh initiation. Rather, I think the word is applied more conventionally to that which humanity has usually judged to be the Resurrection—namely, the process of “rising from the dead” which followed the crucifixion of the Master Jesus.

89. Cuộc Điểm Đạo Phục Sinh được bàn đến ở đây, nhưng còn đáng ngờ liệu Chân sư DK có đang nói đến Sự Phục Sinh chân thực—lần điểm đạo thứ bảy—hay không. Đúng hơn, tôi nghĩ từ này được áp dụng theo cách thông thường hơn cho điều mà nhân loại thường xem là Sự Phục Sinh—tức tiến trình “sống lại từ cõi chết” theo sau sự đóng đinh của Chân sư Jesus.

90. A point of confirmation: since the “ascension initiation” is called “this latter initiation” the resurrection here referenced cannot be the true Resurrection Initiation which follows the Ascension.

90. Một điểm xác nhận: vì “cuộc điểm đạo thăng thiên” được gọi là “cuộc điểm đạo sau này”, nên sự phục sinh được nói đến ở đây không thể là Cuộc Điểm Đạo Phục Sinh chân thực, vốn theo sau Sự Thăng Thiên.

91. There is a hint here that in the processes of abstraction (or when more advanced, of “Resurrection”), the processes of the breath are implicated. Surely in the achievement of Samadhi, the breath must be utilized scientifically. It sounds as if one breathes one’s way into the Resurrection—and that Christ knew how to do this. By this is not meant conventional breathing, but the willful, rhythmic control of high energy currents.

91. Ở đây có một gợi ý rằng trong các tiến trình trừu xuất, hay khi tiến xa hơn, trong “Sự Phục Sinh”, các tiến trình của hơi thở có liên can. Chắc chắn trong việc đạt được đại định, hơi thở phải được sử dụng một cách khoa học. Nghe như thể người ta thở để đi vào Sự Phục Sinh—và Đức Christ đã biết cách làm điều này. Điều này không có nghĩa là hơi thở theo quy ước, mà là sự kiểm soát nhịp điệu, đầy ý chí, đối với các dòng năng lượng cao.

92. We see that the Christ wields the Law of Life, (an aspect of the Law of Synthesis) and, in the producing of Resurrection, the Law of the Supplementary Seven also. This Law of the Supplementary Seven must relate, as well, to the coming upliftment of Humanity which will result from His “Second Coming”.

92. Chúng ta thấy rằng Đức Christ vận dụng Định luật Sự Sống, một phương diện của Định luật Tổng Hợp, và trong việc tạo nên Sự Phục Sinh, Ngài cũng vận dụng Định luật Bảy Phần Bổ Sung. Định luật Bảy Phần Bổ Sung này hẳn cũng liên hệ với sự nâng cao sắp đến của Nhân Loại, vốn sẽ là kết quả từ “Lần Đến Thứ Hai” của Ngài.

93. We are entering the Age of the Seventh Ray (as this ray cycle coincides with the Aquarian Age). From what we have learned about the Law of the Supplementary Seven, it would seem that the Aquarian Age will provide opportunity for release from supplemental septenates and the for the resolution of the seven into “the Three” and then “the ONE”.

93. Chúng ta đang bước vào Kỷ Nguyên Cung Bảy, vì chu kỳ cung này trùng với Kỷ Nguyên Bảo Bình. Từ những gì chúng ta đã học về Định luật Bảy Phần Bổ Sung, dường như Kỷ Nguyên Bảo Bình sẽ đem lại cơ hội giải thoát khỏi các bộ bảy bổ sung, và cho sự quy giải bảy vào “Ba”, rồi vào “Đấng Duy Nhất”.

Part IV of V

Phần bốn trong năm

Focus for the Fifth Month of Study on Rule(s) VIII

Trọng tâm cho tháng học thứ năm về Quy luật VIII

(Underlining, Bolding and Highlighting, MDR)

Gạch chân, in đậm và tô sáng, MDR

Let us now briefly interpret or rather paraphrase the [Page 164] four sentences by means of which I have sought to embody this law, or as much of it as it is possible to put into words, for the enlightenment of the initiates of the future.

Giờ đây, chúng ta hãy diễn giải ngắn gọn, hay đúng hơn là diễn ý [Page 164] bốn câu mà nhờ đó Tôi đã tìm cách hàm chứa định luật này, hay phần nào của định luật ấy có thể đưa vào ngôn từ, nhằm soi sáng cho các điểm đạo đồ của tương lai.

1. Finally, at the end of the chapter on Rule VIII, we come to an interpretation of the four sentences by means of which Master DK (at the beginning of the chapter) sought to embody the Law of the Supplementary Seven. We recognize, realistically, that He wrote these four sentences “for the enlightenment of the initiates of the future”. Some of the ones for whom He wrote are in incarnation at this time.

1. Sau cùng, ở cuối chương về Quy luật VIII, chúng ta đi đến phần diễn giải bốn câu mà nhờ đó Chân sư DK, ở đầu chương, đã tìm cách hàm chứa Định luật Bảy Bổ Sung. Chúng ta thực tế nhận ra rằng Ngài đã viết bốn câu này “nhằm soi sáng cho các điểm đạo đồ của tương lai”. Một số những người mà Ngài viết cho hiện đang lâm phàm vào lúc này.

2. In many ways, the Law of the Supplementary Seven is a Law concerning death, and, of course, Life. We are dealing with the eighth Rule, naturally correlated to Scorpio. Scorpio per se has rulership over the death processes and, through one of its rulers, Pluto, is related to the processes of death and abstraction.

2. Theo nhiều cách, Định luật Bảy Bổ Sung là một Định luật liên quan đến cái chết, và dĩ nhiên, đến Sự Sống. Chúng ta đang bàn đến Quy luật thứ tám, vốn tự nhiên tương ứng với Hổ Cáp. Chính Hổ Cáp cai quản các tiến trình tử vong, và qua một trong các chủ tinh của nó, Sao Diêm Vương, nó liên hệ với các tiến trình của cái chết và sự trừu xuất.

3. The number eight is also related to the antahkarana, and in the lines of connection between the various septenates, we are dealing with the individual antahkarana, the group antahkarana and its extensions—into Hierarchy, and even, into Shamballa.

3. Con số tám cũng liên hệ với antahkarana, và trong các đường nối kết giữa những thất nguyên khác nhau, chúng ta đang bàn đến antahkarana cá nhân, antahkarana nhóm và các phần mở rộng của nó—vào Thánh Đoàn, và thậm chí vào Shamballa.

4. The lines of transmission between septenates come under the province of Mercury, the hierarchical ruler of Scorpio. Mercury rules all antahkaranic processes.

4. Các đường truyền dẫn giữa những thất nguyên thuộc phạm vi của Sao Thủy, chủ tinh Huyền Giai của Hổ Cáp. Sao Thủy cai quản mọi tiến trình thuộc antahkarana.

5. Beginning with Rule VIII, we deepen our occultism, and enter into the technicalities of the higher initiatory process.

5. Bắt đầu với Quy luật VIII, chúng ta đào sâu huyền bí học của mình, và bước vào những chi tiết kỹ thuật của tiến trình điểm đạo cao hơn.

1. The Law demands the entrance of that which can effect a change.

1. Định luật đòi hỏi sự đi vào của điều có thể tạo nên một biến đổi.

Bearing in mind what I have elsewhere given, it is obvious that that which must find entrance is that vital concentrated will which, when set in motion in an individual, in a group, in a nation, in a kingdom of nature (a planetary centre), and in the planet as a whole, i.e., in all the planetary centres simultaneously, will cause a stirring, a changed measure, a new movement and momentum, an uprising and a consequent abstraction.

Khi ghi nhớ điều Tôi đã đưa ra ở nơi khác, rõ ràng rằng điều phải tìm được lối vào là ý chí tập trung sống động ấy mà, khi được khởi động trong một cá nhân, trong một nhóm, trong một quốc gia, trong một giới của thiên nhiên, tức một trung tâm hành tinh, và trong toàn bộ hành tinh, nghĩa là trong tất cả các trung tâm hành tinh cùng một lúc, sẽ gây nên một sự khuấy động, một thước đo đã đổi khác, một chuyển động mới và một đà lực mới, một sự trỗi dậy và một sự trừu xuất tiếp theo.

6. The Law demands an entrance of the first aspect of divinity in the form “vital concentrated will”. Note, that because this will is “vital”, it is a “living” will.

6. Định luật đòi hỏi sự đi vào của phương diện thứ nhất của thiên tính dưới hình thức “ý chí tập trung sống động”. Hãy lưu ý rằng vì ý chí này “sống động”, nên nó là một ý chí “đang sống”.

7. Let us tabulate the effects of that vital concentrated will, once it enters:

7. Chúng ta hãy lập bảng các hiệu quả của ý chí tập trung sống động ấy, một khi nó đi vào:

a. A stirring

a. Một sự khuấy động

b. A changed measure

b. Một thước đo đã đổi khác

c. A new movement

c. Một chuyển động mới

d. A new momentum

d. Một đà lực mới

e. An uprising

e. Một sự trỗi dậy

f. A consequent abstraction

f. Một sự trừu xuất tiếp theo

8. It matters not into what kind of group that will gains entrance; the final result will be an abstraction

8. Không quan trọng ý chí ấy đi vào loại nhóm nào; kết quả cuối cùng sẽ là một sự trừu xuất

The changes wrought in the centres when the death of the physical body is taking place have never yet been observed or recorded; they are, however, definitely present to the eye of the initiate and prove most interesting and informative.

Những biến đổi diễn ra trong các trung tâm khi cái chết của thể xác đang xảy ra cho đến nay vẫn chưa từng được quan sát hay ghi nhận; tuy nhiên, chúng hiện diện rõ ràng trước mắt điểm đạo đồ và tỏ ra vô cùng lý thú, đồng thời rất giàu thông tin.

9. DK speaks of the changes which can be observed in the human chakras as the death processes are occurring.

9. Chân sư DK nói về những biến đổi có thể được quan sát trong các luân xa của con người khi các tiến trình tử vong đang diễn ra.

It is the recognition of the condition of the centres which enables the initiate to know—when in process of bestowing healing—whether the physical healing of the body is permissible or not. He can see whether the will principle of abstraction to which I have been referring is actively present or not.

Chính sự nhận biết tình trạng của các trung tâm giúp điểm đạo đồ biết—khi đang trong tiến trình ban truyền sự chữa lành—liệu việc chữa lành hồng trần cho thể xác có được phép hay không. Ngài có thể thấy liệu nguyên khí ý chí trừu xuất mà Tôi đang đề cập có đang hiện diện một cách tích cực hay không.

10. These are important statements for healers. If the “will principle of abstraction” is present in the one seeking healing, it is not permissible to work against it.

10. Đây là những phát biểu quan trọng đối với những người chữa lành. Nếu “nguyên khí ý chí trừu xuất” hiện diện nơi người đang tìm kiếm sự chữa lành, thì không được phép làm việc chống lại nó.

11. For every healer the principle, “Not my will but Thine be done”, is indispensable.

11. Đối với mọi người chữa lành, nguyên tắc “Không phải ý chí của con, mà ý chí của Ngài được thực hiện” là điều không thể thiếu.

The same process can be seen taking place in organisations and in civilisations in which the form aspect is being destroyed in order that the life may be abstracted and later again rebuild for itself a more adequate form.

Cũng tiến trình ấy có thể được thấy đang diễn ra trong các tổ chức và các nền văn minh, nơi phương diện hình tướng đang bị phá hủy để sự sống có thể được trừu xuất và về sau lại tự xây dựng cho mình một hình tướng thích đáng hơn.

12. Under this Law, the destruction of the form is always purposeful and serves, at length, the greater expression of life.

12. Dưới Định luật này, sự phá hủy hình tướng luôn luôn có mục đích và rốt cuộc phụng sự cho sự biểu lộ lớn lao hơn của sự sống.

13. We remember that the Law of the Supplementary Seven is a Law of Life, (a lesser aspect of the Law of Synthesis) and is related to abstraction, destruction and the rendering supplementary of a septenate no longer needed.

13. Chúng ta nhớ rằng Định luật Bảy Bổ Sung là một Định luật của Sự Sống, một phương diện nhỏ hơn của Định luật Tổng Hợp, và liên hệ với sự trừu xuất, sự phá hủy và việc khiến một thất nguyên không còn cần thiết trở thành bổ sung.

14. When the vital will enters, it initiates a process of abstraction. This Law is inseparable from the concept of abstraction.

14. Khi ý chí sống động đi vào, nó khởi phát một tiến trình trừu xuất. Định luật này không thể tách rời khỏi khái niệm trừu xuất.

15. It is as if Life calls to a lesser life, and the lesser life responds to the greater. The life has been immersed in form, and the impact of the will signals that the time has come for the liberation of the confined life aspect. This again, as we can see, relates to Scorpio and the dynamics of death.

15. Như thể Sự Sống kêu gọi một sự sống nhỏ hơn, và sự sống nhỏ hơn đáp ứng với sự sống lớn hơn. Sự sống đã chìm ngập trong hình tướng, và tác động của ý chí báo hiệu rằng thời điểm đã đến để giải phóng phương diện sự sống đang bị giam hãm. Điều này, như chúng ta có thể thấy, lại liên hệ với Hổ Cáp và động lực của cái chết.

16. The “uprising” caused by the impact of the will is related to Pluto (the symbol of which is the upward-pointing “arrow of death”). Scorpio definitely represents an ending and a beginning.

16. “Sự trỗi dậy” do tác động của ý chí gây ra liên hệ với Sao Diêm Vương, biểu tượng của nó là “mũi tên tử thần” chỉ lên trên. Hổ Cáp rõ ràng tượng trưng cho một kết thúc và một khởi đầu.

17. It is important to realize that the processes of death and the kundalinic processes are closely related.

17. Điều quan trọng là nhận ra rằng các tiến trình tử vong và các tiến trình hỏa xà có liên hệ mật thiết với nhau.

18. Interestingly, all the planets ruling or strongly associated with Scorpio are related to kundalini and the base of the spine.

18. Điều thú vị là tất cả các hành tinh cai quản hoặc có liên hệ mạnh mẽ với Hổ Cáp đều liên quan đến hỏa xà và đáy cột sống.

a. Mars is related to “kundalini latent”

a. Sao Hỏa liên hệ với “hỏa xà tiềm tàng”

b. Mercury to “kundalini active”

b. Sao Thủy liên hệ với “hỏa xà hoạt động”

c. Pluto, definitely, to the base of the spine center.

c. Sao Diêm Vương rõ ràng liên hệ với trung tâm đáy cột sống.

d. Uranus (exalted) wields the seventh ray and is thus related to the seventh center, the base of the spine. From a certain perspective, the Sun can be seen as the ruler of the entire crown chakra and Uranus the ruler (for advanced man) of the base of the spine, from which a major kundalinic transformation is initiated. Uprisings and overthrows are also within the province of Uranus, as is the revolutionary move for greater life and freedom.

d. Sao Thiên Vương, khi được tôn vinh, vận dụng cung bảy và do đó liên hệ với trung tâm thứ bảy, đáy cột sống. Từ một góc nhìn nào đó, Mặt Trời có thể được xem là chủ tinh của toàn bộ luân xa đỉnh đầu, còn Sao Thiên Vương là chủ tinh, đối với con người tiến hóa, của đáy cột sống, nơi khởi phát một sự chuyển đổi hỏa xà chủ yếu. Những cuộc trỗi dậy và lật đổ cũng thuộc phạm vi của Sao Thiên Vương, cũng như chuyển động cách mạng hướng tới sự sống và tự do lớn lao hơn.

It is the same under the great processes of initiation, which are not only processes of expanding the consciousness but are rooted in the death or the abstraction process, leading to resurrection and ascension.

Điều này cũng đúng dưới các tiến trình điểm đạo vĩ đại, vốn không chỉ là những tiến trình mở rộng tâm thức mà còn bắt rễ trong tiến trình tử vong hay trừu xuất, dẫn đến phục sinh và thăng thiên.

19. This is a deep thought to be pondered—that the great processes of initiation are “rooted in the death or abstraction process”. We may relate this to the fact that Shiva (Lord of Life and Death) is the great ascetic and guide of those upon the yogic path.

19. Đây là một tư tưởng sâu xa cần được suy ngẫm—rằng các tiến trình điểm đạo vĩ đại “bắt rễ trong tiến trình tử vong hay trừu xuất”. Chúng ta có thể liên hệ điều này với sự kiện Shiva, Chúa Tể của Sự Sống và Cái Chết, là vị khổ hạnh vĩ đại và là người hướng đạo của những ai trên con đường du già.

20. Initiation, especially the higher initiations, are not just about the expansion of consciousness; they are about the freedom and liberation of the Spirit. Scorpio/death/the quality of the eight/Uranus/Pluto—all these bring freedom.

20. Điểm đạo, đặc biệt là các cuộc điểm đạo cao hơn, không chỉ liên quan đến sự mở rộng tâm thức; chúng liên quan đến tự do và giải thoát của Tinh thần. Hổ Cáp/cái chết/phẩm tính của số tám/Sao Thiên Vương/Sao Diêm Vương—tất cả những điều này đều đem lại tự do.

21. This vital point is not usually appreciated.

21. Điểm thiết yếu này thường không được đánh giá đúng mức.

That which effects a change is a discharge (to use a totally inadequate phrase) of directed and focussed will-energy. This is so magnetic in quality that it draws to itself the life of the centres, bringing about the dissolution of the form and the release of the life. Death comes to the individual man, in the ordinary sense of the term, when the will-to-live in a physical body goes and the will-to-abstract [Page 165] takes its place. This we call death.

Điều tạo nên một biến đổi là một sự phóng xả, dùng một cụm từ hoàn toàn không thích đáng, của năng lượng-ý chí được định hướng và tập trung. Nó có phẩm tính từ tính mạnh đến nỗi nó hút về chính nó sự sống của các trung tâm, đem lại sự tan rã của hình tướng và sự giải phóng của sự sống. Cái chết đến với con người cá nhân, theo nghĩa thông thường của thuật ngữ này, khi ý chí-muốn-sống trong một thể xác ra đi và ý chí-muốn-trừu xuất [Page 165] thay thế nó. Chúng ta gọi điều này là cái chết.

22. The word “discharge” (though the Tibetan finds it inadequate) suggests a sudden, dynamic release and impact. There appears to be nothing gradual in it. In the case of individual death it emanates from the will aspect of the soul, and is accompanied by a “word”. In the case of initiatic life (a greater than normal ‘death’ is intended) and it would seem to be a monadic discharge.

22. Từ “phóng xả”, dù Chân sư Tây Tạng thấy nó không thích đáng, gợi ý một sự giải phóng và tác động đột ngột, năng động. Dường như không có điều gì tiệm tiến trong đó. Trong trường hợp cái chết cá nhân, nó xuất phát từ phương diện ý chí của linh hồn, và đi kèm với một “linh từ”. Trong trường hợp đời sống điểm đạo, tức một “cái chết” lớn hơn mức bình thường, dường như đó là một sự phóng xả chân thần.

Respond, O Rising One, to the call which comes within the sphere of obligation; recognise the call emerging from the Ashram or from the Council Chamber where waits the Lord of Life Himself. The Sound goes forth. Both soul and form together must renounce the principle of life and thus permit the Monad to stand free. The soul responds. The form then shatters the connection. Life is now liberated, owning the quality of conscious knowledge and the fruit of all experience. These are the gifts of soul and form combined. (EH 535-536)

Hỡi Đấng Đang Vươn Lên, hãy đáp ứng lời kêu gọi đến trong phạm vi của bổn phận; hãy nhận ra lời kêu gọi phát ra từ ashram hoặc từ Phòng Hội Đồng nơi chính Chúa Tể Sự Sống đang chờ đợi. Âm thanh phát ra. Cả linh hồn và hình tướng cùng nhau phải từ bỏ nguyên khí sự sống và như thế cho phép Chân thần đứng tự do. Linh hồn đáp ứng. Khi ấy hình tướng phá vỡ mối liên kết. Sự sống giờ đây được giải phóng, sở hữu phẩm tính của tri thức hữu thức và hoa trái của mọi kinh nghiệm. Đây là các tặng phẩm của linh hồn và hình tướng khi kết hợp. (Trị Liệu Huyền Môn 535-536)

23. This discharge is magnetic; it involves the magnetic aspect of the first ray. In the realm of Spirit, “like seeks like”; Spirit seeks Spirit. The sudden presence of dynamic Spirit within the personality life causes the imprisoned Spirit to arise.

23. Sự phóng xả này có tính từ tính; nó bao hàm phương diện từ tính của cung một. Trong cõi giới của Tinh thần, “đồng loại tìm đến đồng loại”; Tinh thần tìm kiếm Tinh thần. Sự hiện diện đột ngột của Tinh thần năng động trong đời sống phàm ngã khiến Tinh thần bị giam hãm trỗi dậy.

In cases of death in war, for instance, it is not then a case of the individual will-to-withdraw, but an enforced participation in a great group abstraction.

Chẳng hạn, trong các trường hợp tử trận, khi ấy không phải là trường hợp ý chí-muốn-rút-lui của cá nhân, mà là sự tham dự bị cưỡng bách vào một cuộc trừu xuất nhóm vĩ đại.

24. This “group abstraction” may have little or nothing to do with individual karma. This may be hard to fathom. It may be presumed that such ‘interruptions’ in the individual karmic process will be recompensed.

24. “Sự trừu xuất nhóm” này có thể ít hoặc không liên quan gì đến nghiệp quả cá nhân. Điều này có thể khó thấu hiểu. Có thể giả định rằng những “gián đoạn” như thế trong tiến trình nghiệp quả cá nhân sẽ được bù đắp.

From its own place, the soul of the individual man recognises the end of a cycle of incarnation and recalls its life. This it does through a discharge of the will-energy that is strong enough to bring about the change.

Từ chính vị trí của mình, linh hồn của con người cá nhân nhận ra sự kết thúc của một chu kỳ nhập thể và triệu hồi sự sống của mình. Linh hồn làm điều này qua một sự phóng xả năng lượng-ý chí đủ mạnh để tạo nên sự biến đổi.

25. The major point to be grasped is that death in its various forms is caused by a “discharge” of will energy.

25. Điểm chính cần nắm bắt là cái chết, trong nhiều hình thức khác nhau của nó, được gây ra bởi một “sự phóng xả” năng lượng ý chí.

26. Perhaps this need not be involuntary, and one can will one’s own abstraction by identifying with soul or Monad and willing one’s own release.

26. Có lẽ điều này không nhất thiết phải là vô thức, và người ta có thể muốn sự trừu xuất của chính mình bằng cách đồng hoá với linh hồn hay Chân thần và muốn sự giải phóng của chính mình.

27. These discharges come, I would suspect, as “Words of Power”. Sound carries the discharge of will.

27. Tôi ngờ rằng những sự phóng xả này đến như “các Quyền năng từ”. Âm thanh mang theo sự phóng xả của ý chí.

“Hearken o Disciple to the call which comes from the Son to the Mother and then obey. The Word goes forth that form has served its purpose. The principle of mind then organizes itself and then repeats that word. The waiting form responds and drops away. The soul stands free.” (Law X of Healing)

“Hỡi đệ tử, hãy lắng nghe lời kêu gọi đến từ Người Con tới Người Mẹ rồi hãy vâng theo. Linh từ phát ra rằng hình tướng đã phục vụ mục đích của nó. Khi ấy nguyên khí trí tuệ tự tổ chức và rồi lặp lại linh từ ấy. Hình tướng đang chờ đợi đáp ứng và rơi rụng. Linh hồn đứng tự do.” (Định luật X về Chữa Lành)

2. The Law demands that right direction should then guide the entering forces.

2. Định luật đòi hỏi rằng sự định hướng đúng khi ấy phải dẫn dắt các mãnh lực đang đi vào.

The entering forces, working under this law, are directed first of all to the head centre, from thence to the ajna centre and then to that centre which has been the governing and most active centre during the incarnation of the life principle.

Các mãnh lực đang đi vào, hoạt động dưới định luật này, trước hết được hướng đến trung tâm đầu, từ đó đến trung tâm ajna, rồi đến trung tâm đã từng là trung tâm cai quản và hoạt động mạnh nhất trong thời gian nguyên khí sự sống nhập thể.

28. We notice that as the will-force enters, a triangle is created. From the head center to the ajna center, and thence to that center which has been most governing and active during the incarnation. This could be, again, the ajna or head center. In any case a sequence is preserved, even if only two centers are involved.

28. Chúng ta lưu ý rằng khi mãnh lực ý chí đi vào, một tam giác được tạo lập. Từ trung tâm đầu đến trung tâm ajna, và từ đó đến trung tâm đã từng cai quản và hoạt động mạnh nhất trong suốt thời kỳ nhập thể. Đây có thể là, một lần nữa, trung tâm ajna hoặc trung tâm đầu. Dù thế nào, một trình tự vẫn được duy trì, ngay cả khi chỉ có hai trung tâm liên quan.

29. Probably, for the ajna center or head center to be most active, the individual would be rather advanced. One wonders whether, under such circumstances, the Technique of Duality (which succeeds the Fusion Formulas in Esoteric Psychology II) would be in effect.

29. Có lẽ để trung tâm ajna hay trung tâm đầu trở nên hoạt động mạnh nhất, cá nhân ấy phải khá tiến hóa. Người ta tự hỏi liệu, trong những hoàn cảnh như vậy, Kỹ Thuật Nhị Nguyên, vốn tiếp nối Các Công Thức Dung Hợp trong Tâm Lý Học Nội Môn II, có đang có hiệu lực hay không.

30. It must be borne in mind that for the highly advanced individual, the ajna center or head center could be the very center which has been the governing and most active during the life.

30. Cần ghi nhớ rằng đối với cá nhân tiến hóa cao, trung tâm ajna hay trung tâm đầu có thể chính là trung tâm đã từng cai quản và hoạt động mạnh nhất trong đời sống.

This varies according to the point reached upon the ladder of evolution, and according to the personality ray, with later the soul ray bringing about a major conditioning and change.

Điều này thay đổi tùy theo điểm đạt được trên nấc thang tiến hoá, và tùy theo cung phàm ngã, về sau cung linh hồn đem lại một sự tác động và biến đổi chủ yếu.

31. We are told that this “most active center” varies according to the point in evolution. Presumably, as evolution proceeds, the higher centers would be most active—with the exception of the base of the spine which is fully activated only at a very advanced level of human evolution (the fifth initiation). Perhaps the evolutionary order would be base, sacral, solar plexus, throat, ajna, heart, ajna, base, head—with the ajna and base of spine appearing more than once.

31. Chúng ta được cho biết rằng “trung tâm hoạt động mạnh nhất” này thay đổi tùy theo điểm tiến hoá. Có lẽ, khi tiến hoá diễn tiến, các trung tâm cao hơn sẽ hoạt động mạnh nhất—ngoại trừ đáy cột sống, vốn chỉ được kích hoạt đầy đủ ở một cấp độ rất tiến hóa của nhân loại, tức lần điểm đạo thứ năm. Có lẽ trật tự tiến hóa sẽ là đáy cột sống, xương cùng, tùng thái dương, cổ họng, ajna, tim, ajna, đáy cột sống, đầu—trong đó ajna và đáy cột sống xuất hiện hơn một lần.

32. The question is not simple, because first the personality ray and, later, the soul ray enter as variables along with the stage in evolution reached.

32. Vấn đề không đơn giản, bởi trước hết cung phàm ngã, và về sau cung linh hồn, đi vào như những biến số cùng với giai đoạn tiến hoá đã đạt được.

In the work of the initiate who is consciously wielding this law, the principle of abstraction (when entering the body) is held focussed in the head and is of such a magnetic potency that the energy of the remaining centres is rapidly gathered up and withdrawn.

Trong công việc của điểm đạo đồ đang hữu thức vận dụng định luật này, nguyên khí trừu xuất, khi đi vào thể, được giữ tập trung trong đầu và có một uy lực từ tính đến nỗi năng lượng của các trung tâm còn lại nhanh chóng được gom lại và rút đi.

33. The true initiate is always majorly focussed within the crowning head center.

33. Điểm đạo đồ chân chính luôn luôn tập trung chủ yếu trong trung tâm đầu đội vương miện.

34. The center above the head exerts an irresistibly magnetic force on all lesser centers. They are “gathered up” or synthesized into the crown center.

34. Trung tâm ở trên đầu tác động một mãnh lực từ tính không thể cưỡng lại lên tất cả các trung tâm thấp hơn. Chúng được “gom lại” hay tổng hợp vào trung tâm đỉnh đầu.

35. The centers activated according to ray would be (only generally—since every center can eventually respond to every ray) sacral/7, solar plexus/6, ajna/5, ajna/4, throat/3, heart/2, head/1, base of spine 1 or 7.

35. Các trung tâm được kích hoạt tùy theo cung sẽ là, chỉ nói chung thôi, vì cuối cùng mọi trung tâm đều có thể đáp ứng với mọi cung: xương cùng/cung bảy, tùng thái dương/cung sáu, ajna/cung năm, ajna/cung bốn, cổ họng/cung ba, tim/cung hai, đầu/cung một, đáy cột sống/cung một hoặc cung bảy.

36. For those within whom the soul and personality are contesting, the centers affiliated with the ray of each might also be in contest.

36. Đối với những người mà linh hồn và phàm ngã đang tranh đấu trong họ, các trung tâm liên hệ với cung của mỗi bên cũng có thể đang ở trong tình trạng tranh đấu.

37. The true initiate is a conscious abstractor. He can, as it were, ‘die at will’, entering the blissful state of Samadhi which is closely related to death.

37. Điểm đạo đồ chân chính là một người trừu xuất hữu thức. Y có thể, như thể, “chết theo ý muốn”, đi vào trạng thái đại định chí phúc vốn liên hệ mật thiết với cái chết.

What is true of the individual process of abstracting the life principle, under the Law of the Supplementary Seven, is equally true of the process in all forms and in all groups of forms. Christ referred to this work of abstraction, as regards the third great planetary centre, Humanity, when He said (and He was speaking as the Representative of the Hierarchy, the second planetary centre into which all human beings achieving initiation are “withdrawn” esoterically), “I, if I be lifted up will draw all men unto me.”

Điều đúng với tiến trình cá nhân trừu xuất nguyên khí sự sống, dưới Định luật Bảy Bổ Sung, cũng đúng như thế đối với tiến trình trong mọi hình tướng và trong mọi nhóm hình tướng. Đức Christ đã đề cập đến công việc trừu xuất này, liên quan đến trung tâm hành tinh vĩ đại thứ ba là Nhân loại, khi Ngài nói, và Ngài nói với tư cách là Đại Diện của Thánh Đoàn, trung tâm hành tinh thứ hai mà tất cả những con người đạt được điểm đạo đều được “rút vào” một cách huyền bí: “Nếu Tôi được nâng lên, Tôi sẽ kéo mọi người đến với Tôi.”

38. We are given yet another way of understanding the Law of the Supplementary Seven: this Law can be related to Christ’s great statement concerning abstraction: “I, if I be lifted up, will draw all men unto me”.

38. Chúng ta được trao thêm một cách nữa để thấu hiểu Định luật Bảy Bổ Sung: định luật này có thể được liên hệ với lời tuyên bố vĩ đại của Đức Christ về sự trừu xuất: “Nếu Tôi được nâng lên, Tôi sẽ kéo mọi người đến với Tôi”.

39. The one achieving initiation is being occultly “lifted up”. It is a process involving both the life and death.

39. Người đạt được điểm đạo đang được “nâng lên” một cách huyền bí. Đó là một tiến trình bao hàm cả sự sống lẫn cái chết.

40. The great planetary project occurring at present involves abstraction from the third planetary center (Humanity) into the second (Hierarchy), or, viewed another way, from the fourth kingdom of nature into the fifth.

40. Dự án hành tinh vĩ đại đang diễn ra hiện nay bao hàm sự trừu xuất từ trung tâm hành tinh thứ ba, tức Nhân loại, vào trung tâm thứ hai, tức Thánh Đoàn, hoặc nhìn theo cách khác, từ giới thứ tư của thiên nhiên vào giới thứ năm.

41. The group which can consciously abstract is rare, though presumably it is among the skills possessed by that that kind of group called an Ashram.

41. Nhóm có thể trừu xuất một cách hữu thức là hiếm, dù có lẽ đó là một trong những kỹ năng mà loại nhóm được gọi là ashram sở hữu.

42. It would be an interesting experiment for a group to focus together in one center after another for a sufficient amount of time to feel the changes in group energy.

42. Sẽ là một thí nghiệm thú vị nếu một nhóm cùng nhau tập trung vào hết trung tâm này đến trung tâm khác trong một khoảng thời gian đủ dài để cảm nhận những biến đổi trong năng lượng nhóm.

43. Just as it is possible for the initiate to abstract in such a way as to enter the Ashram at will (for what is the Ashram but a state of spiritual tension?), it would be possible for a sufficiently advanced group, together, to enter the Ashram at will.

43. Cũng như điểm đạo đồ có thể trừu xuất theo cách để đi vào ashram theo ý muốn, vì ashram là gì nếu không phải là một trạng thái tập trung tinh thần nhất tâm, thì một nhóm đủ tiến hóa cũng có thể cùng nhau đi vào ashram theo ý muốn.

44. Always the greater center exerts a magnetic pull upon the lesser center, ‘feeding’, as it were, upon the energy of the lesser center; thus abstraction occurs. “To them that have, more shall be given; to them that have not, even that which they have shall be taken away.” This “hard saying” seems to refer to the Law of Abstraction, and the dynamics of obscuration.

44. Luôn luôn trung tâm lớn hơn tác động một lực hút từ tính lên trung tâm nhỏ hơn, như thể “nuôi sống” chính nó bằng năng lượng của trung tâm nhỏ hơn; như vậy sự trừu xuất xảy ra. “Ai đã có thì sẽ được cho thêm; ai không có thì ngay cả điều y đang có cũng sẽ bị lấy đi.” “Lời khó nghe” này dường như nói đến Định luật Trừu Xuất và động lực của sự che khuất.

A different word to this word of His will be spoken at the end of the age when the Lord of the World will speak from Shamballa, will abstract the life principle from the Hierarchy, and all life and consciousness will then be focussed in the planetary head centre—the great Council Chamber at Shamballa.

Một linh từ khác với linh từ này của Ngài sẽ được xướng lên vào cuối thời đại, khi Đức Chúa Tể Thế Giới sẽ phán từ Shamballa, sẽ trừu xuất nguyên khí sự sống khỏi Thánh Đoàn, và khi ấy mọi sự sống cùng tâm thức sẽ được tập trung trong trung tâm đầu của hành tinh—Phòng Hội Đồng vĩ đại tại Shamballa.

45. One day, we see, Humanity will be abstracted into Hierarchy (probably when its soul ray is the second and its personality ray the fourth); later, at the planetary “Day Be with Us”, the Hierarchy itself will be abstracted into Shamballa. The motion is the opposite of emanation—it could be called ‘emanative withdrawal’.

45. Một ngày kia, chúng ta thấy, Nhân loại sẽ được trừu xuất vào Thánh Đoàn, có lẽ khi cung linh hồn của nó là cung hai và cung phàm ngã của nó là cung bốn; về sau, vào “Ngày Hãy Ở Cùng Chúng Ta” của hành tinh, chính Thánh Đoàn sẽ được trừu xuất vào Shamballa. Chuyển động này trái ngược với sự xuất lộ—có thể gọi là “sự rút lui theo lối xuất lộ”.

46. Again, this abstraction will occur in response to a “Word”, this time uttered by the Lord of the World.

46. Một lần nữa, sự trừu xuất này sẽ xảy ra để đáp ứng với một “Linh từ”, lần này do Đức Chúa Tể Thế Giới xướng lên.

47. From what is said here, it seems that Sanat Kumara will stay with our planet until it has no more need of a Spiritual Hierarchy.

47. Từ những điều được nói ở đây, dường như Đức Sanat Kumara sẽ ở lại với hành tinh chúng ta cho đến khi nó không còn cần đến một Huyền Giai Tinh Thần nữa.

48. We can wonder if this final abstraction will occur during the seventh root race of our round, or in the next or fifth round. These are the mysteries we cannot at this time penetrate.

48. Chúng ta có thể tự hỏi liệu sự trừu xuất cuối cùng này sẽ xảy ra trong giống dân gốc thứ bảy của cuộc tuần hoàn chúng ta, hay trong cuộc tuần hoàn kế tiếp, tức cuộc tuần hoàn thứ năm. Đây là những huyền nhiệm mà vào lúc này chúng ta chưa thể thâm nhập.

49. In all these acts of abstraction, there is nothing lost. When the causal body is consumed in flames, the essence is abstracted into the spiritual triad. There is no loss. “Let there be no recollection and yet let memory rule”. (Rule II for Disciples and Initiates)

49. Trong tất cả các hành vi trừu xuất này, không có gì bị mất đi. Khi thể nguyên nhân bị thiêu rụi trong lửa, tinh chất được trừu xuất vào Tam Nguyên Tinh Thần. Không có sự mất mát. “Hãy để không còn sự hồi tưởng, song hãy để ký ức cai quản”. (Quy luật II dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ)

50. We can understand, if we follow the description of possible and coming abstractions, that one day planetary life will end in bliss.

50. Chúng ta có thể thấu hiểu, nếu theo dõi phần mô tả về những sự trừu xuất khả hữu và sắp đến, rằng một ngày kia sự sống hành tinh sẽ kết thúc trong chí phúc.

3. The Law demands that the changes thus effected remove the form, bring quality to light, and lay the emphasis upon life.

3. Định luật đòi hỏi rằng những thay đổi được tạo ra như thế phải loại bỏ hình tướng, đưa phẩm tính ra ánh sáng, và đặt trọng tâm vào sự sống.

[Page 166]

[Page 166]

Here the three great aspects—form, quality and life—are brought into relation and the point of the evolutionary objective is seen in its true light—LIFE. Note this phrasing.

Ở đây ba phương diện lớn—hình tướng, phẩm tính và sự sống—được đưa vào liên hệ với nhau, và điểm mục tiêu của tiến hoá được thấy trong ánh sáng chân thực của nó—SỰ SỐNG. Hãy lưu ý cách diễn đạt này.

51. The idea is simple and exalted: LIFE is the evolutionary objective, and to the achievement of this objective, the Law of the Supplementary Seven leads.

51. Ý tưởng này đơn giản và cao cả: SỰ SỐNG là mục tiêu tiến hoá, và Định luật Bảy Bổ Sung dẫn đến việc thành tựu mục tiêu này.

52. The word “LIFE” (all in upper case) suggests conscious entry into a greater Being (or state of being) via monadic awareness.

52. Từ “SỰ SỐNG” gợi ý sự đi vào có ý thức trong một Bản Thể lớn hơn, hay một trạng thái hiện tồn lớn hơn, thông qua nhận thức chân thần.

Form or appearance, having served its purpose, disappears. Death of the form takes place.

Hình tướng hay sắc tướng, sau khi đã phụng sự mục đích của nó, sẽ biến mất. Cái chết của hình tướng diễn ra.

53. The Law of the Supplementary Seven brings about the death of form and the emergence into greater consciousness of the quality aspect of divinity.

53. Định luật Bảy Bổ Sung tạo ra cái chết của hình tướng và sự xuất hiện vào tâm thức lớn hơn của phương diện phẩm tính của thiên tính.

Quality, the major divine attribute being developed in this planet, becomes dominant and is “conscious of itself “—as the ancient writings put it. It is identified and individual but has no implementing form, except that of the greater whole in which it finds its place. Neither form nor quality (body nor consciousness) are paramount in the new state of Being, but only the life aspect, the spirit on its own plane, becomes the dominating factor.

Phẩm tính, thuộc tính thiêng liêng chủ yếu đang được phát triển trên hành tinh này, trở nên chi phối và “có ý thức về chính nó”—như các trước tác cổ diễn đạt. Nó được đồng hoá và mang tính cá thể, nhưng không có hình tướng thực thi nào, ngoại trừ hình tướng của toàn thể lớn hơn trong đó nó tìm thấy vị trí của mình. Trong trạng thái Bản Thể mới, cả hình tướng lẫn phẩm tính, tức cả thể lẫn tâm thức, đều không còn là điều tối thượng; chỉ phương diện sự sống, tinh thần trên cõi riêng của nó, trở thành yếu tố chi phối.

54. The movement is from the third aspect into the second aspect. Quality usually needs form through which to express, but at the time this Law is called into play, the period of expression through limited form is over.

54. Sự chuyển động là từ phương diện thứ ba vào phương diện thứ hai. Phẩm tính thường cần hình tướng để qua đó biểu lộ, nhưng vào thời điểm Định luật này được vận dụng, giai đoạn biểu lộ qua hình tướng giới hạn đã chấm dứt.

55. An “implementing form” does however remain, but it is not so localized a form. It is the form of the greater group or even of the whole, through which quality can now flow in an unimpeded manner.

55. Tuy nhiên, một “hình tướng thực thi” quả thật vẫn còn, nhưng đó không phải là một hình tướng được định vị quá hạn hẹp. Đó là hình tướng của nhóm lớn hơn, hoặc thậm chí của toàn thể, qua đó phẩm tính giờ đây có thể lưu chuyển một cách không bị cản trở.

56. Many of the members of Hierarchy, for instance, have no form in the three worlds, but are very effective in working through various individual and group forms within the three worlds—forms not “their own” in the personal sense.

56. Chẳng hạn, nhiều thành viên của Thánh đoàn không có hình tướng trong ba cõi thấp, nhưng rất hữu hiệu khi hoạt động qua các hình tướng cá nhân và nhóm khác nhau trong ba cõi thấp—những hình tướng không phải “của riêng Các Ngài” theo nghĩa cá nhân.

57. It is a mystery how “quality can become conscious of itself”. This kind of consciousness has been explored by Franklin Merrill Wolfe in his book, “The Philosophy of Consciousness without an Object”.

57. Việc “phẩm tính có thể trở nên có ý thức về chính nó” là một huyền nhiệm. Loại tâm thức này đã được Franklin Merrill Wolfe khảo sát trong cuốn sách của ông, “Triết Học về Tâm Thức Không Có Đối Tượng”.

58. Whether or not it is, strictly speaking, “quality conscious of itself” is often a subject of debate among thinkers. A more reasonable explanation is that consciousness becomes focussed in the quality aspect and withdrawn from the aspect of what we usually call form. But since we are on the cosmic physical plane, even quality is a kind of form, with which consciousness becomes totally preoccupied. There are certain meditative states in which even the individual immersed in form can become conscious of quality almost exclusively.

58. Liệu điều đó, nói một cách nghiêm ngặt, có phải là “phẩm tính có ý thức về chính nó” hay không, thường là một đề tài tranh luận giữa các nhà tư tưởng. Một giải thích hợp lý hơn là tâm thức trở nên tập trung trong phương diện phẩm tính và rút khỏi phương diện mà chúng ta thường gọi là hình tướng. Nhưng vì chúng ta đang ở trên cõi hồng trần vũ trụ, nên ngay cả phẩm tính cũng là một loại hình tướng, mà tâm thức trở nên hoàn toàn bận tâm với nó. Có những trạng thái tham thiền trong đó ngay cả cá nhân đang chìm trong hình tướng cũng có thể trở nên hầu như chỉ ý thức về phẩm tính.

59. An even more advanced level of abstraction witnesses Spirit conscious of itself—or perhaps we might say, ‘fully being itself’ (because, at that level of ‘elevation’, consciousness as we know it has been transcended).

59. Một cấp độ trừu xuất còn tiến xa hơn chứng kiến Tinh thần có ý thức về chính nó—hoặc có lẽ chúng ta có thể nói, ‘hoàn toàn chính nó’, bởi vì ở cấp độ ‘nâng cao’ ấy, tâm thức như chúng ta biết đã được siêu vượt.

Some faint dim light on the significance of this may come if you bear in mind that our seven planes are only the seven subplanes of the cosmic physical plane. The process of developing sensitivity in this sevenfold evolution has been undergone in order to enable the initiate to function upon the cosmic astral plane, when withdrawn or abstracted after the higher initiations. He is abstracted from our planetary life altogether.

Một chút ánh sáng mờ nhạt nào đó về thâm nghĩa của điều này có thể đến nếu bạn ghi nhớ rằng bảy cõi của chúng ta chỉ là bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ. Tiến trình phát triển sự nhạy bén trong cuộc tiến hoá thất phân này đã được trải qua nhằm giúp điểm đạo đồ có thể hoạt động trên cõi cảm dục vũ trụ, khi y được rút lui hay trừu xuất sau các cuộc điểm đạo cao hơn. Y được trừu xuất hoàn toàn khỏi sự sống hành tinh của chúng ta.

60. There are seven systemic planes in the cosmic physical plane. A kind of abstraction onto the cosmic astral plane is here discussed—this is an eighth step, corresponding to death (death with respect to the cosmic physical plane). Always this eighth Rule is associated with death.

60. Có bảy cõi hệ thống trong cõi hồng trần vũ trụ. Ở đây đang bàn đến một loại trừu xuất lên cõi cảm dục vũ trụ—đây là một bước thứ tám, tương ứng với cái chết, tức cái chết đối với cõi hồng trần vũ trụ. Quy luật thứ tám này luôn luôn liên hệ với cái chết.

61. A quite extraordinary reason is given for the development of sensitivity in the sevenfold evolution of the cosmic physical plane: it takes place so that the initiate is able to function upon the cosmic astral plane when abstracted from our planetary life altogether after the higher initiations. All stages in the evolutionary process have their higher objectives.

61. Một lý do hết sức phi thường được đưa ra cho sự phát triển tính nhạy bén trong cuộc tiến hoá thất phân của cõi hồng trần vũ trụ: điều đó diễn ra để điểm đạo đồ có thể hoạt động trên cõi cảm dục vũ trụ khi được trừu xuất hoàn toàn khỏi sự sống hành tinh của chúng ta sau các cuộc điểm đạo cao hơn. Mọi giai đoạn trong tiến trình tiến hoá đều có những mục tiêu cao hơn của chúng.

Only one factor could prevent this, and that might be his pledge to serve temporarily within the planetary ring-pass-not.

Chỉ có một yếu tố có thể ngăn cản điều này, và đó có thể là lời nguyện của y phụng sự tạm thời trong vòng-giới-hạn hành tinh.

62. Gradual abstraction is a natural process, and eventually the cosmic astral plane becomes an attainable ‘destination’. This attainment, we are told, can be delayed if for reasons of service the entity capable of such abstraction decides to ‘remain below’ for service purposes—choosing in this connection the Path of Earth Service.

62. Sự trừu xuất dần dần là một tiến trình tự nhiên, và cuối cùng cõi cảm dục vũ trụ trở thành một ‘đích đến’ có thể đạt được. Chúng ta được cho biết rằng sự thành đạt này có thể bị trì hoãn nếu, vì lý do phụng sự, thực thể có khả năng thực hiện sự trừu xuất ấy quyết định ‘ở lại bên dưới’ cho các mục đích phụng sự—trong mối liên hệ này chọn Con Đường Phụng Sự Trái Đất.

Such Members of the Hierarchy Who pledge Themselves to this work are stated to have the Buddhic consciousness, and the line of Their descent (occultly understood) is from the Eternal Pilgrim, the Lord of the World, then the Buddha, and then the Christ.

Những Thành viên như thế của Thánh đoàn, Các Ngài tự nguyện đảm nhận công việc này, được nói là có tâm thức Bồ đề, và đường giáng hạ của Các Ngài, hiểu theo huyền bí học, là từ Người Hành Hương Vĩnh Cửu, Đức Chúa Tể Thế Giới, rồi Đức Phật, và rồi Đức Christ.

63. The sacrifice of these Saviors is to remain identified with the consciousness aspect rather than giving themselves fully to the blissful Spirit aspect. They are Bodhisattvas and remain, like the Lord of the World, “prisoners of loving intention”.

63. Sự hy sinh của các Đấng Cứu Thế này là vẫn đồng hoá với phương diện tâm thức thay vì hiến mình trọn vẹn cho phương diện Tinh thần đầy chí phúc. Các Ngài là các Bồ Tát và vẫn ở lại, giống như Đức Chúa Tể Thế Giới, như “những tù nhân của ý định yêu thương”.

64. The line of descent of these exponents of the buddhic consciousness is noteworthy:

64. Đường giáng hạ của những vị tiêu biểu cho tâm thức Bồ đề này thật đáng lưu ý:

a. The “Eternal Pilgrim, the Lord of the World” [Page I think it is correct to equate them]

a. “Người Hành Hương Vĩnh Cửu, Đức Chúa Tể Thế Giới” [Page Tôi nghĩ việc đồng nhất hai danh xưng này là đúng]

b. The Buddha

b. Đức Phật

c. The Christ

c. Đức Christ

65. Above and beyond the Eternal Pilgrim and inspiring this flow of buddhi energy, will be found our Solar Logos, Sirius, the Pleiades and the Dragon (both these last two are source of cosmic buddhi)

65. Ở trên và vượt ngoài Người Hành Hương Vĩnh Cửu, đồng thời truyền cảm hứng cho dòng năng lượng Bồ đề này, sẽ thấy có Thái dương Thượng đế của chúng ta, Sirius, Pleiades và Rồng; hai nguồn sau cùng này đều là nguồn của Bồ đề vũ trụ.

They remain identified through the free choice with the “quality seen within the light,” and for the term of Their freely rendered service They work with the consciousness aspect in order to lay the emphasis later upon the life aspect.

Các Ngài vẫn đồng hoá, qua sự tự do lựa chọn, với “phẩm tính được thấy trong ánh sáng”, và trong thời hạn phụng sự được hiến dâng tự do của Các Ngài, Các Ngài làm việc với phương diện tâm thức để về sau đặt trọng tâm vào phương diện sự sống.

66. Since these Saviors remain identified with “quality seen within the light,”, They do not give themselves fully to the implications of Rule IX, which says, “Let the group know there is no colour, only Light, and then let darkness take the place of light, hiding all difference, blotting out all form”.

66. Vì các Đấng Cứu Thế này vẫn đồng hoá với “phẩm tính được thấy trong ánh sáng”, Các Ngài không hiến mình trọn vẹn cho những hàm ý của Quy luật IX, vốn nói rằng: “Hãy để nhóm biết rằng không có màu sắc, chỉ có Ánh sáng, và rồi hãy để bóng tối thay thế ánh sáng, che giấu mọi dị biệt, xoá sạch mọi hình tướng”.

67. It is reasonable to think that those possessed of the second ray Monad will be found serving in this way. The Buddha, interestingly, does not have a second ray Monad, and, we are told, that the choice of the Path of Earth Service was, for Him, an incorrect choice.

67. Có lý khi nghĩ rằng những vị có chân thần cung hai sẽ phụng sự theo cách này. Điều thú vị là Đức Phật không có chân thần cung hai, và chúng ta được cho biết rằng việc chọn Con Đường Phụng Sự Trái Đất, đối với Ngài, là một lựa chọn không đúng.

68. There is reason to suspect that Sanat Kumara is a second ray being at a very high level of His energy system.

68. Có lý do để nghi ngờ rằng Đức Sanat Kumara là một thực thể cung hai ở một cấp độ rất cao trong hệ thống năng lượng của Ngài.

69. Cosmic Buddhi, the Dragon, the Pleiades, and the second ray (resonant to the second ray soul of this planet) are all factors in choosing to delay abstraction, as we learn by studying the Path of Earth Service. “Lo, I am with you even unto the end of the….what shall we call it?—‘Age’, the ‘Platonic Age’, a ‘World Period’, a planetary manifestation…?” The various types of Saviours abide with the sphere to be waved for various periods of time. The Christ will abide (so the inference runs) until the end (or very nearly the end) of the Aquarian Age.

69. Bồ đề vũ trụ, Rồng, Pleiades, và cung hai, vốn cộng hưởng với cung linh hồn thứ hai của hành tinh này, đều là những yếu tố trong việc chọn trì hoãn sự trừu xuất, như chúng ta học được khi nghiên cứu Con Đường Phụng Sự Trái Đất. “Này, Ta ở cùng các con cho đến tận cùng của… chúng ta nên gọi đó là gì?—‘Kỷ nguyên’, ‘Kỷ nguyên Platon’, một ‘Thời kỳ Thế giới’, một biểu hiện hành tinh…?” Các loại Đấng Cứu Thế khác nhau lưu lại với khối cầu cần được cứu độ trong những khoảng thời gian khác nhau. Đức Christ sẽ lưu lại, theo suy luận này, cho đến cuối, hoặc rất gần cuối, của Kỷ nguyên Bảo Bình.

70. Since all entities are limited, there is eventually and necessarily, in this gradual ascent through abstraction, a “losing touch” with the dimension from which abstraction occurs. There is necessarily a “moving on” (by drawing the seven into the One), unless…the choice is to delay because of Divine Love and Compassion.

70. Vì mọi thực thể đều bị giới hạn, nên cuối cùng và tất yếu, trong sự thăng lên dần dần này qua trừu xuất, sẽ có một sự “mất tiếp xúc” với chiều kích mà từ đó sự trừu xuất diễn ra. Tất yếu có một sự “tiếp tục tiến lên”, bằng cách thu hút bảy vào Đấng Duy Nhất, trừ khi… lựa chọn là trì hoãn vì Tình thương và Lòng Từ Bi thiêng liêng.

4. The Law demands that this is brought about by the One, working through the Three, energising the Seven and creating the straight line from there to here, and ending in a point which ignores the Three.

4. Định luật đòi hỏi rằng điều này được tạo ra bởi Đấng Duy Nhất, hoạt động qua Ba, tiếp sinh lực cho Bảy và tạo nên đường thẳng từ đó đến đây, rồi kết thúc trong một điểm không đoái hoài đến Ba.

Let me paraphrase this, for detailed comment is not possible or permissible. The One directed will (of the individual, [Page 167] of humanity, of the Hierarchy) and the great Lords of Shamballa, working through the three major centres (head, heart and throat; Humanity, the Hierarchy and Shamballa), thereby energise all the seven centres (to the point of abstraction), using the straight line of the antahkarana from above downwards (from the centre of power, the head or Shamballa), and gather all upwards into a point which is neither of the Three (Shamballa, the Hierarchy and Humanity) and ignores them, for they must no longer limit the life. This point lies outside manifestation altogether. Abstraction is complete.

Hãy để tôi diễn giải lại điều này, vì việc bình luận chi tiết là điều không thể hoặc không được phép. Ý chí được định hướng của Đấng Duy Nhất, của cá nhân, [Page 167] của nhân loại, của Thánh đoàn, và các Đấng Chúa Tể vĩ đại của Shamballa, hoạt động qua ba trung tâm chính, tức đầu, tim và cổ họng; Nhân loại, Thánh đoàn và Shamballa, nhờ đó tiếp sinh lực cho tất cả bảy trung tâm đến mức trừu xuất, sử dụng đường thẳng của antahkarana từ trên xuống dưới, từ trung tâm quyền năng, tức đầu hay Shamballa, và gom tất cả hướng thượng vào một điểm không thuộc về Ba, tức Shamballa, Thánh đoàn và Nhân loại, và không đoái hoài đến các trung tâm ấy, vì chúng không còn được phép giới hạn sự sống nữa. Điểm này nằm hoàn toàn bên ngoài biểu hiện. Sự trừu xuất đã hoàn tất.

71. The Tibetan closes with a glorious synthetic statement—as difficult to interpret as it is glorious.

71. Chân sư Tây Tạng kết thúc bằng một phát biểu tổng hợp huy hoàng—khó diễn giải bao nhiêu thì huy hoàng bấy nhiêu.

72. He simultaneously references three possible spheres of activity (or more) in relation to which the abstraction process is occurring.

72. Ngài đồng thời đề cập đến ba, hoặc nhiều hơn, khối cầu hoạt động khả hữu mà tiến trình trừu xuất đang diễn ra trong liên hệ với chúng.

73. Note that the number four is half of number eight. The theme of Rule IV is closely related to the theme of Rule VIII, but occurring on a lower turn of the spiral—more in relation to the fourth initiation, where Rule VIII deals with themes active even at the ninth initiation.

73. Hãy lưu ý rằng con số bốn là một nửa của con số tám. Chủ đề của Quy luật IV liên hệ mật thiết với chủ đề của Quy luật VIII, nhưng diễn ra trên một vòng thấp hơn của đường xoắn ốc—liên hệ nhiều hơn với lần điểm đạo thứ tư, trong khi Quy luật VIII đề cập đến các chủ đề hoạt động ngay cả ở lần điểm đạo thứ chín.

74. When considering the tetrahedron, the point elevated about the trinity, represents the point of abstraction. This point “changes geometrical plane”, just as the point of abstraction on the cosmic astral plane, changes ‘dimensional plane’.

74. Khi xem xét tứ diện, điểm được nâng lên trên bộ ba biểu thị điểm trừu xuất. Điểm này “thay đổi mặt phẳng hình học”, giống như điểm trừu xuất trên cõi cảm dục vũ trụ thay đổi ‘mặt phẳng chiều kích’.

75. The point of abstraction which lies outside of manifestation altogether may be interpreted as lying on the cosmic astral plane.

75. Điểm trừu xuất nằm hoàn toàn bên ngoài biểu hiện có thể được diễn giải là nằm trên cõi cảm dục vũ trụ.

76. It is clear, is it not, that there is a numerical, rayological, astrological code in relation to these Rules, and to the subject matter which is discussed under any particular Rule. I have been amazed to see how important is the number eight in relation to the major themes brought forward in Rule VIII.

76. Rõ ràng, phải vậy không, rằng có một mã số học, cung học và chiêm tinh học liên hệ với các Quy luật này, cũng như với nội dung được bàn dưới bất kỳ Quy luật đặc thù nào. Tôi đã kinh ngạc khi thấy con số tám quan trọng biết bao trong liên hệ với các chủ đề chính được nêu ra trong Quy luật VIII.

77. How interesting that in making a given septenate supplementary, the number eight is needed to complete the abstraction process, for withdrawal into the seventh center, though climactic, is not ultimate.

77. Thật thú vị biết bao khi, để làm cho một bộ bảy nhất định trở nên bổ sung, con số tám là cần thiết để hoàn tất tiến trình trừu xuất, vì việc rút lui vào trung tâm thứ bảy, dù là cao điểm, vẫn chưa phải là tối hậu.

78. In terms of the initiatory abstraction process of human being, withdrawal into the head center to achieve samadhi would not be the final withdrawal, for the head center corresponds only to seven. A point of abstraction ‘above’ would correspond to the number eight.

78. Xét theo tiến trình trừu xuất điểm đạo của con người, việc rút lui vào trung tâm đầu để đạt đại định sẽ không phải là sự rút lui cuối cùng, vì trung tâm đầu chỉ tương ứng với bảy. Một điểm trừu xuất ở ‘bên trên’ sẽ tương ứng với con số tám.

79. Note as well that the eighth Creative Hierarchy is the one that begins to have something to do with the Cosmic Astral Plane. It is ruled by Neptune (certainly a planet of abstraction). Perhaps the Law of the Supplementary Seven is related to the functioning of this eighth Hierarchy—veiling the Christ, Whose number is eight.

79. Cũng hãy lưu ý rằng Huyền Giai Sáng Tạo thứ tám là Huyền Giai bắt đầu có liên hệ nào đó với Cõi Cảm Dục Vũ Trụ. Nó do Sao Hải Vương cai quản, chắc chắn là một hành tinh của sự trừu xuất. Có lẽ Định luật Bảy Bổ Sung liên hệ với hoạt động của Huyền Giai thứ tám này—che phủ Đức Christ, Đấng có con số là tám.

80. This entire Rule is about the power of the monadic aspect (the monadic aspect of whatever type of elevated being) to bring blissful release from imprisoning supplementarity and a merging with the next sphere of LIFE.

80. Toàn bộ Quy luật này nói về quyền năng của phương diện chân thần, tức phương diện chân thần của bất kỳ loại thực thể cao cả nào, nhằm đem lại sự giải thoát đầy chí phúc khỏi tính bổ sung giam hãm và sự hoà nhập với khối cầu SỰ SỐNG kế tiếp.

Ponder, therefore, upon this doctrine of abstraction. It covers all life processes, and will convey to you the eternally lovely secret of Death, which is entrance into life.

Vì vậy, hãy suy ngẫm về giáo lý trừu xuất này. Nó bao trùm mọi tiến trình sự sống, và sẽ truyền đạt cho bạn bí mật vĩnh viễn đẹp đẽ của Cái Chết, vốn là lối vào sự sống.

81. Master DK ends this study of Rule VIII with one of His most beautiful statements—a most memorable statement which contravenes entirely the usual human conceptions regarding death.

81. Chân sư DK kết thúc phần nghiên cứu Quy luật VIII này bằng một trong những phát biểu đẹp nhất của Ngài—một phát biểu hết sức đáng nhớ, hoàn toàn đi ngược lại các quan niệm thông thường của con người về cái chết.

82. We have no doubt that this Rule has concerned itself with the secrets of life and death.

82. Chúng ta không nghi ngờ rằng Quy luật này đã quan tâm đến những bí mật của sự sống và cái chết.

83. It would seem that one would have to be a Master to offer this closing statement with such a blend of poetry and conviction.

83. Dường như người ta phải là một Chân sư mới có thể đưa ra phát biểu kết thúc này với một sự hoà quyện giữa thi ca và xác tín như thế.

Brief Commentary on an Overview of These Rules

Bình Luận Ngắn Gọn về Tổng Quan của Các Quy Luật Này

We now come to a brief the synthesis of two deep and abstruse Rules which deals primarily with the first aspect of divinity. The purpose of these syntheses, as always, is to help us live the Rule more successfully according to the measure of possibility within us or within our groups.

Giờ đây chúng ta đi đến một tổng hợp ngắn gọn về hai Quy luật sâu xa và khó hiểu, chủ yếu đề cập đến phương diện thứ nhất của thiên tính. Mục đích của những tổng hợp này, như luôn luôn, là giúp chúng ta sống theo Quy luật một cách thành công hơn, tuỳ theo mức độ khả hữu trong chúng ta hoặc trong các nhóm của chúng ta.

Rule VIII.

Quy luật VIII.

For Applicants: When the disciple nears the Portal, the greater seven must awaken and bring forth response from the lesser seven upon the double circle.

Dành cho Người Thỉnh Nguyện: Khi đệ tử đến gần Cổng, bảy lớn hơn phải thức tỉnh và khơi dậy đáp ứng từ bảy nhỏ hơn trên vòng tròn kép.

1. The greater seven (the seven major centers associated with the head—whether within the head or outside and above the head) must awaken, but what shall we do to awaken them and render them increasingly evocative of the lesser seven? The awakening of the lower and more normally considered chakras should be an automatic response to the awakening of the higher.

1. Bảy lớn hơn, tức bảy trung tâm chính liên hệ với đầu—dù ở trong đầu hay ở bên ngoài và bên trên đầu—phải thức tỉnh; nhưng chúng ta phải làm gì để đánh thức chúng và khiến chúng ngày càng gợi lên được bảy nhỏ hơn? Sự thức tỉnh của các luân xa thấp hơn và thường được xem xét hơn nên là một đáp ứng tự động trước sự thức tỉnh của các trung tâm cao hơn.

2. Since we are dealing with the awakening of the head centers we have entered the realm of purpose. From the psycho-spiritual perspective a good strategy with which to promote this awakening is simply to live purposefully.

2. Vì chúng ta đang bàn đến sự thức tỉnh của các trung tâm đầu, chúng ta đã bước vào lĩnh vực của mục đích. Từ viễn cảnh tâm lý-tinh thần, một chiến lược tốt để thúc đẩy sự thức tỉnh này chỉ đơn giản là sống có mục đích.

3. The occultist lives “in the head” (considering the head as inclusive of the more normally considered chakras.) We are, therefore, not speaking of living without heart, for instance, but of living so purposefully that all volitional life processes are directed towards a chosen objective in line with Divine Plan and (to the extent possible) Divine Purpose.

3. Nhà huyền bí học sống “trong đầu”, nếu xem đầu như bao gồm cả các luân xa thường được xét đến hơn. Do đó, chúng ta không nói đến việc sống mà không có tim, chẳng hạn, mà nói đến việc sống có mục đích đến mức mọi tiến trình sự sống thuộc ý chí đều được hướng về một mục tiêu đã chọn, phù hợp với Thiên Cơ và, trong mức độ có thể, với Thiên Ý.

4. If we meditate persistently and enduringly (Vulcan) upon the Divine Will and attempt, regardless of distraction and temptation to carry out the indications we have received, the seven head centers will surely awaken.

4. Nếu chúng ta tham thiền một cách bền bỉ và chịu đựng lâu dài, theo Vulcan, về Ý Chí thiêng liêng, và cố gắng, bất kể xao lãng và cám dỗ, thực hiện những chỉ dẫn mà chúng ta đã nhận được, bảy trung tâm đầu chắc chắn sẽ thức tỉnh.

5. There are a number of head centers extending from the ajna center to the crown of the head. It is surely possible to meditate ‘within’ every one of them with varying results, but they are most powerful centers (the powers of which are not easily understood or accessible to us presently).

5. Có một số trung tâm đầu trải dài từ trung tâm ajna đến đỉnh đầu. Chắc chắn có thể tham thiền ‘bên trong’ từng trung tâm trong số đó với các kết quả khác nhau, nhưng chúng là những trung tâm hết sức mạnh mẽ, mà các quyền năng của chúng hiện nay không dễ được chúng ta thấu hiểu hay tiếp cận.

6. Since, however, a number of these centers are triadally and even monadically related, every attempt to build the antahkarana and to access the energies of the spiritual triad and Monad will lead to their correct stimulation in a manner which is timely for the individual (or group) concerned.

6. Tuy nhiên, vì một số trung tâm này liên hệ với Tam Nguyên và thậm chí với chân thần, nên mọi nỗ lực xây dựng antahkarana và tiếp cận các năng lượng của Tam Nguyên Tinh Thần và chân thần sẽ dẫn đến sự kích thích đúng đắn của chúng, theo cách đúng thời điểm đối với cá nhân hay nhóm liên quan.

7. Those who take occult meditation seriously have experienced the awakening, to some detectable extent, of the highest head center. Since that center is a ‘surmounting’ center, the seven head centers (and, perhaps, there are more, depending upon the enumeration we choose) will also awaken to an extent during the normal pursuit of occult meditation.

7. Những ai nghiêm túc thực hành tham thiền huyền bí đã trải nghiệm sự thức tỉnh, ở một mức độ có thể nhận biết nào đó, của trung tâm đầu cao nhất. Vì trung tâm ấy là một trung tâm ‘vượt lên trên’, nên bảy trung tâm đầu, và có lẽ còn nhiều hơn nữa, tuỳ theo cách liệt kê mà chúng ta chọn, cũng sẽ thức tỉnh đến một mức độ nào đó trong quá trình theo đuổi tham thiền huyền bí bình thường.

8. Even the lesser chakras upon the double circle have associated with them capacities and powers rarely awakened in the normal students of occult meditation. How much more so will this be the case for the seven head centers and the crown center!

8. Ngay cả các luân xa nhỏ hơn trên vòng tròn kép cũng gắn liền với những năng lực và quyền năng hiếm khi được đánh thức nơi các đạo sinh tham thiền huyền bí thông thường. Điều này còn đúng hơn biết bao đối với bảy trung tâm đầu và trung tâm đỉnh đầu!

9. It is wise for us to be attentive to the process but refuse the temptation to force or meddle—too little is presently known, though methods of finding out are available.

9. Điều khôn ngoan là chúng ta chú tâm đến tiến trình này nhưng từ chối cám dỗ cưỡng ép hay can thiệp—hiện nay người ta biết quá ít, dù các phương pháp để tìm hiểu vẫn có sẵn.

For Disciples and Initiates: Let the group find within itself response to the greater seven groups which carry out the hierarchical will with love and understanding.

Dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ: Hãy để nhóm tìm thấy trong chính mình sự đáp ứng với bảy nhóm lớn hơn, những nhóm thực hiện ý chí của Thánh đoàn bằng tình thương và sự thấu hiểu.

10. When the focus is transferred to an awareness of the seven Ashrams instead of the seven head centers, the individual must be functioning as an integrated group member in a group focally responsive to the Will of Hierarchy.

10. Khi trọng tâm được chuyển sang nhận thức về bảy ashram thay vì bảy trung tâm đầu, cá nhân phải hoạt động như một thành viên nhóm được tích hợp trong một nhóm đáp ứng một cách tập trung với Ý Chí của Thánh đoàn.

11. The implication is that each ashramically aligned group must, in some measure, find within itself response to all of the seven Ashrams, even though it will naturally be most aligned with one of them.

11. Hàm ý là mỗi nhóm được chỉnh hợp theo ashram, ở một mức độ nào đó, phải tìm thấy trong chính mình sự đáp ứng với tất cả bảy ashram, dù tự nhiên nhóm ấy sẽ được chỉnh hợp nhiều nhất với một trong số đó.

12. Another way of saying this is that all the seven ray qualities must awaken at least some response within the group.

12. Một cách nói khác là tất cả bảy phẩm tính cung phải khơi dậy ít nhất một sự đáp ứng nào đó trong nhóm.

13. Let the groups in which we function become increasingly ashramically aware. Let their preoccupation be the will and purpose of the major Ashram (Hierarchy) and the minor Ashram with which they are most affiliated.

13. Hãy để các nhóm trong đó chúng ta hoạt động ngày càng có ý thức về ashram. Hãy để mối bận tâm của họ là ý chí và mục đích của ashram chính yếu, tức Thánh Đoàn, và của ashram thứ yếu mà họ liên kết mật thiết nhất.

14. Of such a discipleship group it must be said—“its mind and heart are full of the work to be done”.

14. Về một nhóm địa vị đệ tử như thế, phải nói rằng—“thể trí và trái tim của nhóm ấy tràn đầy công việc cần được thực hiện”.

15. Then the group will be learning to work as a “miniature Hierarchy” and the newer modes of group work will characterize its processes.

15. Khi đó, nhóm sẽ học cách hoạt động như một “Thánh Đoàn thu nhỏ”, và những phương thức mới hơn của công việc nhóm sẽ biểu thị các tiến trình của nhóm ấy.

16. Clearly, much group meditation upon the Ashram with which the group is affiliated will be required, and much searching discussion amongst the group members (who will not have the same kind of unanimity as that possessed by Ashrams when they meditate upon the Divine Plan and Purpose).

16. Rõ ràng, cần có nhiều tham thiền nhóm về ashram mà nhóm liên kết, và nhiều cuộc thảo luận tìm tòi giữa các thành viên trong nhóm, những người sẽ không có cùng loại nhất trí như các ashram có được khi các Ngài tham thiền về Thiên Cơ và Thiên Ý.

The group contains all seven, the perfect group.

Nhóm chứa đựng cả bảy, nhóm hoàn hảo.

17. Every complete group is sevenfold and must represent to some reasonable extent all the seven rays.

17. Mỗi nhóm trọn vẹn đều thất phân và phải đại diện, ở một mức độ hợp lý nào đó, cho cả bảy cung.

18. This little sentence may also refer to the fact that the Ashram of Sanat Kumara (the Spiritual Hierarchy of our planet) is the “perfect group”, containing (at least eventually) seven complete yet subsidiary Ashrams each with its distinctive role and purpose.

18. Câu ngắn này cũng có thể nói đến sự kiện rằng ashram của Đức Sanat Kumara, tức Huyền Giai Tinh Thần của hành tinh chúng ta, là “nhóm hoàn hảo”, chứa đựng, ít nhất cuối cùng là như vậy, bảy ashram trọn vẹn nhưng phụ thuộc, mỗi ashram có vai trò và mục đích riêng biệt của mình.

19. When we think of our group life, we should assess the extent to which it is representing all seven ray tendencies. All are needed and if any ray tendency is missing, the group will suffer.

19. Khi nghĩ về đời sống nhóm của mình, chúng ta nên đánh giá mức độ mà đời sống ấy đang đại diện cho tất cả bảy khuynh hướng cung. Tất cả đều cần thiết, và nếu thiếu bất cứ khuynh hướng cung nào, nhóm sẽ chịu thiệt hại.

The lesser seven, [Page 22] the greater seven and the planetary seven form one great whole, and these the group must know.

Bảy nhỏ, [Page 22] bảy lớn và bảy hành tinh tạo thành một toàn thể vĩ đại, và nhóm phải biết những điều này.

20. Group members need to be aware of the synthesis between the seven ray-types of human beings (the “lesser seven”), the seven Ashrams (the “greater seven”) and the seven Kumaras or Ray Lords (the “planetary seven”).

20. Các thành viên nhóm cần ý thức về sự tổng hợp giữa bảy kiểu cung của con người, tức “bảy nhỏ”, bảy ashram, tức “bảy lớn”, và bảy Kumara hay các Chúa Tể Cung, tức “bảy hành tinh”.

21. This synthesis is relatively, so large, that we probably give it but little thought.

21. Sự tổng hợp này tương đối quá rộng lớn đến nỗi có lẽ chúng ta chỉ ít khi suy nghĩ về nó.

22. The synthesis must be both intellectually understood and intuitively ‘felt’.

22. Sự tổng hợp ấy phải vừa được thấu hiểu bằng trí tuệ vừa được trực giác “cảm nhận”.

23. What does it mean to live in the felt awareness of these sevens? At the very least, the three sevenfold structures must be held in mind and one must ‘feel’ out towards them with one’s heart and with what we might call the ‘feeling capacity’ of the heart in the head.

23. Sống trong nhận thức được cảm nhận về các bộ bảy này có nghĩa là gì? Ít nhất, ba cấu trúc thất phân phải được giữ trong trí, và người ta phải “cảm” hướng về chúng bằng trái tim của mình, cùng với điều chúng ta có thể gọi là “năng lực cảm nhận” của trái tim trong đầu.

24. How often do we think of the seven Ashrams and their personnel? How often of the Seven Ray Lords—for us, remote Shamballic Beings?

24. Chúng ta thường nghĩ đến bảy ashram và nhân sự của các ashram ấy đến mức nào? Chúng ta thường nghĩ đến Bảy Chúa Tể Cung, đối với chúng ta là những Đấng Shamballa xa xăm, đến mức nào?

25. When we think of humanity, we may think of it in its entirety, but we may also think of the seven ray groupings of human beings and their various qualities and objectives.

25. Khi nghĩ về nhân loại, chúng ta có thể nghĩ về y trong toàn thể, nhưng cũng có thể nghĩ về bảy nhóm cung của con người cùng những phẩm tính và mục tiêu khác nhau của họ.

26. When we think of the Ashrams, we may, of course, think of all of them (and this is useful), but of course, we will think most focally of that particular Ashram which claims our allegiance. An alignment with the Ashram of which we may know ourselves to be a member or towards which we are striving is indispensable every day.

26. Khi nghĩ về các ashram, dĩ nhiên chúng ta có thể nghĩ về tất cả các ashram ấy, và điều này hữu ích, nhưng dĩ nhiên chúng ta sẽ nghĩ tập trung nhất đến ashram đặc thù vốn đòi hỏi lòng trung thành của chúng ta. Mỗi ngày, việc chỉnh hợp với ashram mà chúng ta có thể biết mình là một thành viên, hoặc ashram mà chúng ta đang nỗ lực hướng tới, là điều không thể thiếu.

27. When we think of the Seven Ray Lords (the Seven Spirits Before the Throne—planetarily considered), we will have no true or faithful image, but we may at least think of the seven rays in their entirety (i.e., as a synthesis of seven qualities) and of the purpose, mission, color and note of the particular ray upon which we seek most focally to function—namely, for most of us, our soul ray.

27. Khi nghĩ về Bảy Chúa Tể Cung, tức Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai xét theo phương diện hành tinh, chúng ta sẽ không có hình ảnh chân thực hay trung thành nào; nhưng ít nhất chúng ta có thể nghĩ về bảy cung trong toàn thể của chúng, tức như một sự tổng hợp của bảy phẩm tính, và về mục đích, sứ mệnh, màu sắc và âm điệu của cung đặc thù mà trên đó chúng ta tìm cách hoạt động một cách tập trung nhất, cụ thể, đối với đa số chúng ta, là cung linh hồn của mình.

When this is realised and the Law of the Supplementary Seven is understood let the group understand the Three and then the ONE.

Khi điều này được chứng nghiệm và Định luật của Bảy Bổ Sung được thấu hiểu, hãy để nhóm thấu hiểu Ba rồi đến Đấng Duy Nhất.

28. We are in no position to understand the Law of the Supplementary Seven in completeness. A simply intellectual understanding will not do, however necessary it may be.

28. Chúng ta chưa ở vị thế có thể thấu hiểu trọn vẹn Định luật của Bảy Bổ Sung. Tuy nhiên, một sự thấu hiểu thuần túy trí tuệ sẽ không đủ, dù nó cần thiết đến đâu.

29. A full understanding of the Law of the Supplementary Seven would necessitate the capacity to withdraw (in full consciousness) into the state of Samadhi. Thus, certain powers of abstraction, which by far the majority of us have not yet mastered, would have to be fully in demonstration.

29. Một sự thấu hiểu đầy đủ về Định luật của Bảy Bổ Sung sẽ đòi hỏi năng lực rút lui, trong tâm thức trọn vẹn, vào trạng thái đại định. Do đó, một số quyền năng trừu xuất, vốn phần lớn chúng ta còn lâu mới làm chủ được, sẽ phải hoàn toàn ở trong sự biểu hiện

30. We can, at least, learn various preliminary means of abstraction and dis-identification and note the corresponding changes in our energy system and consciousness.

30. Ít nhất, chúng ta có thể học nhiều phương tiện sơ khởi khác nhau của sự trừu xuất và giải đồng hóa, đồng thời ghi nhận những thay đổi tương ứng trong hệ thống năng lượng và tâm thức của mình.

31. As for a growing understanding of Humanity, Hierarchy and Shamballa (i.e., “the Three”), towards such an understanding we consistently strive, but cannot be expected to achieve a great deal for some lives to come. Who can truly understand Shamballa with intuitive accuracy except an initiate of the sixth degree—one who is a Monad in conscious identification and expression? And shall we understand the Hierarchy (even in a preliminary manner) unless we are in an initiate of the third degree?

31. Về sự thấu hiểu ngày càng tăng đối với Nhân loại, Thánh Đoàn và Shamballa, tức “Ba”, chúng ta kiên trì nỗ lực hướng tới sự thấu hiểu ấy, nhưng không thể kỳ vọng đạt được nhiều trong một vài kiếp sắp tới. Ai có thể thật sự thấu hiểu Shamballa với sự chính xác trực giác, ngoại trừ một điểm đạo đồ bậc sáu, một người là Chân thần trong sự đồng hóa và biểu lộ có ý thức? Và liệu chúng ta có thấu hiểu được Thánh Đoàn, dù chỉ theo cách sơ khởi, trừ khi chúng ta đã là điểm đạo đồ bậc ba?

32. Nevertheless, towards these deep understandings we move with deliberation, knowing that the day will also come when an understanding of even the Planetary Logos (from one perspective, the “One”) will be within our grasp.

32. Tuy nhiên, chúng ta tiến tới những sự thấu hiểu sâu xa này một cách có chủ định, biết rằng ngày ấy cũng sẽ đến khi ngay cả sự thấu hiểu về Hành Tinh Thượng đế, từ một góc nhìn là “Đấng Duy Nhất”, sẽ nằm trong tầm nắm bắt của chúng ta.

33. The problem with the type of understanding required is that it necessitates a deeper familiarity with the first aspect of divinity than most of us have. But as we seek to understand and apply the spiritual will (as a reflection of the planetary logoic Plan and Purpose), a deeper understanding of the Three and the One will inevitably dawn.

33. Vấn đề với loại thấu hiểu được đòi hỏi là nó cần một sự quen thuộc sâu hơn với phương diện thứ nhất của thiên tính hơn mức phần lớn chúng ta hiện có. Nhưng khi chúng ta tìm cách thấu hiểu và áp dụng ý chí tinh thần, như một phản chiếu của Thiên Cơ và Thiên Ý thuộc Hành Tinh Thượng đế, một sự thấu hiểu sâu hơn về Ba và Đấng Duy Nhất chắc chắn sẽ bừng sáng.

This they can do with the united breath and the unified rhythm.

Họ có thể làm điều này bằng hơi thở hợp nhất và nhịp điệu thống nhất.

34. I always think of this sentence as indicating the capacity to conspire together spiritually. This involves a deeply shared intention, the execution of which is rhythmically pursued.

34. Tôi luôn nghĩ câu này như chỉ ra năng lực cùng chung hơi thở về mặt tinh thần. Điều này bao hàm một chủ ý được chia sẻ sâu xa, mà sự thực hiện của nó được theo đuổi một cách nhịp nhàng.

35. We must also remember that “the breath is the Life”, and so to function with the united breath is to function together in response to the life aspect of divinity—i.e., in response to the Divine Will.

35. Chúng ta cũng phải nhớ rằng “hơi thở là Sự Sống”, và vì vậy, hoạt động với hơi thở hợp nhất là cùng nhau hoạt động để đáp ứng với phương diện sự sống của thiên tính, tức đáp ứng với Ý Chí thiêng liêng.

36. From a practical perspective, we can understand the “united breath” as the capacity, in group formation, to act wisely and in a disciplined manner according to available cycles. Group members must know the proper times and seasons for the objectives which they all share, and together act at the right time. This will be an important step towards scientific group work.

36. Từ một góc nhìn thực tiễn, chúng ta có thể hiểu “hơi thở hợp nhất” là năng lực, trong đội hình nhóm, để hành động một cách minh triết và có kỷ luật theo các chu kỳ sẵn có. Các thành viên nhóm phải biết những thời điểm và mùa kỳ thích hợp cho các mục tiêu mà tất cả họ cùng chia sẻ, và cùng nhau hành động đúng lúc. Đây sẽ là một bước quan trọng hướng tới công việc nhóm khoa học.

37. Lately we have been dealing with the cycle of seven years created by a great Capricornian impulse and received, especially, by the New Group of World Servers. We have also become more aware of the three years cycles of the NGWS (which began, for practical purposes, in 1933) and the nine year hierarchical cycles which entered the consciousness of the NGWS in a new way also in 1933.

37. Gần đây, chúng ta đã bàn đến chu kỳ bảy năm do một xung lực Ma Kết lớn tạo ra và được tiếp nhận, đặc biệt, bởi Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Chúng ta cũng đã ý thức rõ hơn về các chu kỳ ba năm của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, vốn bắt đầu, xét theo mục đích thực tiễn, vào năm 1933, và về các chu kỳ Thánh Đoàn chín năm đã đi vào tâm thức của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian theo một cách mới cũng vào năm 1933.

38. Simply knowing that these cycles exist and what they may indicate for members of the NGWS and for those affiliated with one or other of the Ashrams, presents a useful method of achieving a united breath and a unified rhythm.

38. Chỉ cần biết rằng các chu kỳ này hiện hữu và chúng có thể chỉ ra điều gì cho các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian cũng như cho những người liên kết với một hay một ashram khác, đã trình bày một phương pháp hữu ích để đạt tới hơi thở hợp nhất và nhịp điệu thống nhất.

39. There are, of course, other cycles—planetary cycles indicated by astrology, and ray cycles determined from certain points of reckoning given to us in EP I, p. 26.

39. Dĩ nhiên, còn có những chu kỳ khác, các chu kỳ hành tinh được chiêm tinh học chỉ ra, và các chu kỳ cung được xác định từ một số điểm tính toán đã được trao cho chúng ta trong Tâm Lý Học Nội Môn I, tr. 26.

40. We have enough in our possession to begin a cycle of group living characterized by greater scientific accuracy and, hence, greater effectiveness.

40. Chúng ta có đủ trong tay để khởi đầu một chu kỳ sống nhóm được biểu thị bởi độ chính xác khoa học lớn hơn, và do đó, hiệu quả lớn hơn.

As a general note, we find ourselves studying Rules that are clearly meant to convey illumination to the initiate consciousness. Even members of the Spiritual Hierarchy of our planet can study them with profit and, during the Aquarian Age, will do so. We have no present way to absorb all that is intended, but in our current studies, we are preparing for a time when we can. It must be clear to every thinking person that these Rules will be studied and applied for hundreds of years. The Great Lord does not yet walk visibly among us and the Hierarchy of Masters has not yet externalized. Before the true new esoteric schools manifest and utilize these Rules as their major curriculum, it may be that a number of centuries must pass. Nevertheless, a sound foundation of understanding can now be laid.

Như một ghi chú tổng quát, chúng ta thấy mình đang nghiên cứu các Quy luật rõ ràng nhằm truyền đạt sự soi sáng cho tâm thức điểm đạo đồ. Ngay cả các thành viên của Huyền Giai Tinh Thần trên hành tinh chúng ta cũng có thể nghiên cứu chúng một cách hữu ích và, trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, sẽ làm như vậy. Hiện nay, chúng ta chưa có cách nào hấp thu tất cả những gì được hàm ý, nhưng trong các nghiên cứu hiện tại, chúng ta đang chuẩn bị cho một thời điểm khi chúng ta có thể làm được điều đó. Đối với mọi người biết suy nghĩ, hẳn phải rõ rằng các Quy luật này sẽ được nghiên cứu và áp dụng trong hàng trăm năm. Đấng Chúa Tể Vĩ Đại vẫn chưa bước đi hữu hình giữa chúng ta, và Thánh đoàn các Chân sư vẫn chưa ngoại hiện. Trước khi các trường phái nội môn mới đích thực biểu hiện và sử dụng các Quy luật này làm giáo trình chính yếu của mình, có thể nhiều thế kỷ nữa sẽ phải trôi qua. Tuy nhiên, một nền tảng thấu hiểu vững chắc hiện nay có thể được đặt xuống.



[1] có nghĩa xấu (từ)

[2] 2. rành rành, hiển nhiên

[3] 1. tránh, tránh khỏi

[4] 1. chứng nhận, nhận thực, chứng thực;

[5] ban giám đốc; ban quản trị

[6] 1. sự thiếu, sự khan hiếm

[7] 2. mối nguy

[8] 1. sự lười biếng, sự uể oải; 2. sự chậm chạp, sự chậm trễ

[9] 4. cái gây khó khăn trở ngại; cái của nợ, cái nợ đời

[10] một cách đáng bực mình

[11] 2. khó nắm (ý nghĩa…)

[12] 1. sự kề nhau, sự gần nhau, sự tiếp giáp

Leave a Comment

Scroll to Top