Click vào số trang trong ngoặc [ ] để đến phần văn bản liên quan. Click Tóm Tắt để xem tóm tắt của bình giảng.
|
COMMENTARY ON RULE IX |
LUẬN GIẢI VỀ QUY LUẬT IX |
|
Part I – R&I (167-171) |
Phần I – Cung và Điểm Đạo (167-171) |
|
(All Highlighting, Bolding and Underlining—MDR) |
(Mọi phần tô sáng, in đậm và gạch dưới—MDR) |
|
RULE NINE |
QUY LUẬT CHÍN |
|
As we proceed with the study of these rules the difficulty of interpreting and explaining them becomes increasingly great. We have arrived at a section of the rules which requires initiate-consciousness for right and true comprehension; we are studying ideas for which we have, as yet, no adequate language. Briefly, we have considered certain of the lower aspects of the Laws of Life as they appear to the initiate and are interpreted by him within the sphere of his normal consciousness—that of the Spiritual Triad. |
Khi chúng ta tiếp tục nghiên cứu các quy luật này, khó khăn trong việc diễn giải và giải thích chúng ngày càng trở nên lớn lao. Chúng ta đã đi đến một phần của các quy luật đòi hỏi tâm thức điểm đạo đồ để có sự lĩnh hội đúng đắn và chân thật; chúng ta đang nghiên cứu những ý tưởng mà cho đến nay chúng ta vẫn chưa có ngôn ngữ thích đáng để diễn đạt. Nói vắn tắt, chúng ta đã xem xét một vài phương diện thấp của các Định luật Sự Sống khi chúng hiện ra trước điểm đạo đồ và được y diễn giải trong phạm vi tâm thức bình thường của y—tức Tam Nguyên Tinh Thần. |
|
1. We shall have to read most sensitively, refusing to interpret (in any strictly concrete manner) the language used |
1. Chúng ta sẽ phải đọc với sự nhạy bén cao độ, từ chối diễn giải ngôn ngữ được dùng theo bất kỳ cách nào quá cụ thể |
|
2. Just as the normal sphere of consciousness for a human being is the personality, so the normal sphere of consciousness for an initiate is what we might call the ‘higher personality’ (the personality of the Monad), the spiritual triad. |
2. Cũng như phạm vi tâm thức bình thường đối với một con người là phàm ngã, thì phạm vi tâm thức bình thường đối với một điểm đạo đồ là điều mà chúng ta có thể gọi là “phàm ngã cao siêu” (phàm ngã của chân thần), tức Tam Nguyên Tinh Thần. |
|
3. We note that we are dealing with what the Tibetan calls the “Laws of Life”. These are the laws which pertain to the realm of being, and not to the realms of consciousness and of activity. |
3. Chúng ta lưu ý rằng mình đang đề cập đến điều Chân sư Tây Tạng gọi là “Các Định luật Sự Sống”. Đây là những định luật liên hệ đến cõi giới của bản thể, chứ không liên hệ đến các cõi giới của tâm thức và hoạt động. |
|
The presentation which I gave you had to be confined within the area of consciousness which we call “manasic awareness,” which is that of the abstract mind. Just in so far as that abstract mind is developed in you and the antahkarana tenuously constructed will be your understanding of my words. |
Sự trình bày mà Tôi đã trao cho các bạn phải được giới hạn trong phạm vi tâm thức mà chúng ta gọi là “nhận thức manas”, tức nhận thức của trí trừu tượng. Trí trừu tượng ấy phát triển nơi các bạn đến mức nào, và antahkarana được kiến tạo mong manh đến đâu, thì sự thấu hiểu của các bạn đối với lời Tôi cũng sẽ đến mức ấy. |
|
4. We note that Master DK is not writing for apprehension by the concrete mind of His students. The area of consciousness called the “abstract mind” still presents a limitation to the full impartation of the meaning He intends, but at least it is an aspect of the triadal realm, and is free from the limitations of the twenty lower subplanes (the two highest two of these twenty, pertaining to the causal body). |
4. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK không viết để trí cụ thể của các môn sinh của Ngài nắm bắt. Phạm vi tâm thức được gọi là “trí trừu tượng” vẫn còn là một giới hạn đối với việc truyền đạt trọn vẹn ý nghĩa mà Ngài dự định, nhưng ít nhất đó là một phương diện của lĩnh vực tam nguyên, và thoát khỏi những giới hạn của hai mươi cõi phụ thấp hơn (hai cõi phụ cao nhất trong hai mươi cõi này thuộc về thể nguyên nhân). |
|
5. Interestingly, we note that the term “manasic awareness” pertains only to very highest level of the mental plane. It excludes the four concrete subplanes as well as the third and second subplanes of the manasic plane. |
5. Điều đáng chú ý là thuật ngữ “nhận thức manas” chỉ liên hệ đến cấp độ cao nhất của cõi trí. Nó loại trừ bốn cõi phụ cụ thể cũng như cõi phụ thứ ba và thứ hai của cõi manas. |
|
6. What is “initiate consciousness”? This would be difficult to put into words, perhaps because such consciousness is free from the tyranny of words. A full volume could easily be written in the attempt to convey the nature of initiate consciousness, though it probably would not succeed in conveying to the reader the true nature of that consciousness. In this context we might say that initiate consciousness apprehends the nature of the “thing in itself” rather than the many ways of describing that thing. |
6. “Tâm thức điểm đạo đồ” là gì? Điều này sẽ khó diễn đạt bằng lời, có lẽ vì loại tâm thức ấy thoát khỏi sự chuyên chế của ngôn từ. Một bộ sách trọn vẹn cũng có thể dễ dàng được viết ra trong nỗ lực truyền đạt bản chất của tâm thức điểm đạo đồ, dù có lẽ nó vẫn không thành công trong việc truyền đạt cho độc giả bản chất chân thật của tâm thức ấy. Trong bối cảnh này, chúng ta có thể nói rằng tâm thức điểm đạo đồ nắm bắt bản chất của “sự vật tự thân” hơn là vô số cách mô tả sự vật ấy. |
|
7. We might say that initiate consciousness is, as it were, ‘seeing’ within a ‘greater seeing’. |
7. Chúng ta có thể nói rằng tâm thức điểm đạo đồ, như thể, là “sự thấy” bên trong một “sự thấy lớn lao hơn”. |
|
8. One of the qualities of initiate consciousness must be an accurate, wordless sensitivity to real subjective factors. This sensitivity comes through that synthetic organ, the heart, which places the initiate into identification with that which he contemplates. The heart, we may remember, is a chakra intimately related to the buddhic plane, just as the head center (with its central lotus of twelve petals) is related to the atmic plane. A fuller activation of these centers pertains to the initiate consciousness. |
8. Một trong những phẩm tính của tâm thức điểm đạo đồ phải là sự nhạy bén chính xác, không lời, đối với các yếu tố chủ quan thực sự. Sự nhạy bén này đến qua cơ quan tổng hợp ấy, tức trái tim, cơ quan đặt điểm đạo đồ vào sự đồng hoá với điều mà y chiêm ngưỡng. Chúng ta có thể nhớ rằng trái tim là một luân xa liên hệ mật thiết với cõi Bồ đề, cũng như trung tâm đầu (với hoa sen trung tâm gồm mười hai cánh) liên hệ với cõi atma. Sự hoạt hoá đầy đủ hơn của các trung tâm này thuộc về tâm thức điểm đạo đồ. |
|
9. If, when we start to think of something, the immediate impression is of words already formulated, then there is an inadequate ‘tuning in’ to that which is real, and lies behind words. |
9. Nếu khi chúng ta bắt đầu nghĩ về một điều gì đó, ấn tượng tức thì là những lời đã được hình thành sẵn, thì đó là sự “bắt sóng” chưa thích đáng với điều chân thực, điều nằm phía sau ngôn từ. |
|
10. Perhaps initiate consciousness (understanding, as it does, in wholes) automatically tunes in on meaning, but goes still deeper into cause and significance. |
10. Có lẽ tâm thức điểm đạo đồ (vì nó thấu hiểu trong những toàn thể) tự động bắt đúng vào ý nghĩa, nhưng còn đi sâu hơn nữa vào nguyên nhân và thâm nghĩa. |
|
11. There is a great art to creating an expression in language which will reflect or, in part, convey something the initiate consciousness. Not only must there be a great facility with words (secondary) but there must be an accurate attunement with that which is to be expressed (primary). In other words, one must be an initiate, really to convey the nature of initiate consciousness in words, and even then, he/she might not succeed. |
11. Có một nghệ thuật lớn lao trong việc tạo ra một biểu đạt bằng ngôn ngữ có thể phản ánh, hoặc phần nào truyền đạt, một điều gì đó của tâm thức điểm đạo đồ. Không những phải có khả năng rất lớn trong việc dùng lời (điều thứ yếu), mà còn phải có sự chỉnh điệu chính xác với điều cần được biểu đạt (điều chính yếu). Nói cách khác, người ta phải là một điểm đạo đồ, thật sự mới có thể truyền đạt bản chất của tâm thức điểm đạo đồ bằng lời, và ngay cả khi ấy, y cũng có thể không thành công. |
|
12. As a precursor to the development of this kind of consciousness, I would suggest attempting to apprehend first with the heart (as well as, later, with the heart in the head), getting a deeply intimate ‘feel’ for that which is to be described, and then try to express in poetic language what the heart(s) apprehend(s). |
12. Như một tiền thân cho sự phát triển loại tâm thức này, tôi đề nghị trước hết hãy cố gắng nắm bắt bằng trái tim (cũng như về sau bằng trái tim trong đầu), đạt được một “cảm thức” sâu xa và mật thiết về điều cần được mô tả, rồi sau đó cố gắng diễn đạt bằng ngôn ngữ thi ca điều mà trái tim hay các trái tim nắm bắt. |
|
13. I believe that in some of the world’s best poetry, aspects of the language of the initiate already exist. |
13. Tôi tin rằng trong một vài thi phẩm hay nhất của thế giới, các phương diện của ngôn ngữ điểm đạo đồ đã hiện hữu. |
|
14. It is not the task of the Master alone to evolve this mediating language of the initiate. The initiates and disciples of the world must help, and this they will do as they become more sensitive to the realm of being. |
14. Việc tiến hoá ngôn ngữ trung gian này của điểm đạo đồ không phải là nhiệm vụ của riêng Chân sư. Các điểm đạo đồ và đệ tử của thế giới phải trợ giúp, và họ sẽ làm điều này khi họ trở nên nhạy bén hơn với cõi giới của bản thể. |
|
15. Note that the normal sphere of consciousness of the initiate is the spiritual triad. This statement speaks volumes concerning the elevated nature of initiate consciousness. The initiate still looks like a normal human being (and, in a way, is), but his level of registration is altogether more elevated, because the antahkarana has been built, admitting his consciousness into dimensions about which the average disciple can only imagine. (Yet imagination is one the first steps leading to realization.) |
15. Hãy lưu ý rằng phạm vi tâm thức bình thường của điểm đạo đồ là Tam Nguyên Tinh Thần. Phát biểu này nói lên rất nhiều điều về bản chất cao siêu của tâm thức điểm đạo đồ. Điểm đạo đồ vẫn trông giống như một con người bình thường (và theo một cách nào đó, vẫn là như vậy), nhưng cấp độ ghi nhận của y hoàn toàn cao hơn, vì antahkarana đã được kiến tạo, cho phép tâm thức của y đi vào những chiều kích mà đệ tử trung bình chỉ có thể hình dung. (Tuy nhiên, Sự tưởng tượng là một trong những bước đầu tiên dẫn đến sự chứng nghiệm.) |
|
16. I think we can begin to realize how essentially sensitive is the initiate. Every effort we make to increase our sensitivity (which does not mean our thin-skinned, emotional ‘touchiness’), brings us closer to initiate consciousness. One can only imagine the sensitiveness of consciousness of some great initiates on various of the rays—of a Bach, a Leonardo, a Bacon, an Einstein. They simply ‘see’ and register what we do not. Whatever will refine our vehicles and render them more ‘impressionable’ to higher ‘areas of vibration’ is a step in the right direction. |
16. Tôi nghĩ chúng ta có thể bắt đầu nhận ra điểm đạo đồ về bản chất nhạy bén đến mức nào. Mọi nỗ lực chúng ta thực hiện để gia tăng sự nhạy bén của mình (điều này không có nghĩa là sự “dễ tự ái” mỏng manh, thuộc cảm xúc), đều đưa chúng ta đến gần hơn với tâm thức điểm đạo đồ. Người ta chỉ có thể hình dung sự nhạy bén của tâm thức nơi một vài điểm đạo đồ vĩ đại trên các cung khác nhau—như Bach, Leonardo, Bacon, Einstein. Họ đơn giản “thấy” và ghi nhận điều chúng ta không thấy. Bất cứ điều gì tinh luyện các vận cụ của chúng ta và khiến chúng dễ “tiếp nhận ấn tượng” hơn đối với những “vùng rung động” cao hơn đều là một bước đi đúng hướng. |
|
17. In the last sentences of this paragraph we learn that Master DK is speaking to our abstract mind. He is forced to do so because of our limitations. We have not the reliable buddhic consciousness—really, only an Arhat or Master does. It is almost inescapable (given the degree of development of the average disciple) that registrations of impression from the higher astral plane will be mistaken for buddhic registration. There is a resonance between the two, yes, but great differences exist as well. One must apprehend the difference between form and formlessness if there is to be any hope of understanding the gap which separates the two. |
17. Trong những câu cuối của đoạn này, chúng ta biết rằng Chân sư DK đang nói với trí trừu tượng của chúng ta. Ngài buộc phải làm như vậy vì những giới hạn của chúng ta. Chúng ta chưa có tâm thức Bồ đề đáng tin cậy—thật ra, chỉ một vị La Hán hay một Chân sư mới có. Hầu như không thể tránh khỏi (xét theo mức độ phát triển của đệ tử trung bình) rằng những ghi nhận ấn tượng từ cõi cảm dục cao sẽ bị lầm tưởng là sự ghi nhận Bồ đề. Giữa hai cõi ấy có một sự cộng hưởng, đúng vậy, nhưng cũng tồn tại những khác biệt lớn lao. Người ta phải nắm bắt sự khác biệt giữa hình tướng và vô hình tướng nếu còn có chút hy vọng nào để thấu hiểu khoảng cách phân chia hai bên. |
|
18. The abstract mind is not the complex mind. There is plenty of complexity in the world of concretion, and just because a thinker can handle (or get confused by) many mental objects, does not mean he is using the abstract mind. |
18. Trí trừu tượng không phải là thể trí phức tạp. Có rất nhiều sự phức tạp trong thế giới của sự cụ thể hoá, và chỉ vì một tư tưởng gia có thể xử lý (hoặc bị rối trí bởi) nhiều đối tượng trí tuệ, không có nghĩa là y đang sử dụng trí trừu tượng. |
|
19. The mind sees (according to the Law of Cause and Effect) the relations between things. |
19. Thể trí thấy (theo Định luật Nhân Quả) các mối liên hệ giữa sự vật. |
|
20. The astrologer Dane Rudhyar (comprehensive thinker with a well-developed abstract mind) has suggested that the abstract mind makes it possible to understand “relations between relations”. The relationships between great wholes of thought are comprehended. It is as if the simple formulas lying behind the generation of many concrete things are revealed. What might be called the ‘patterns of interrelated causes’ are clearly perceived when the abstract mind is functioning properly. |
20. Nhà chiêm tinh Dane Rudhyar (một tư tưởng gia bao quát với trí trừu tượng phát triển tốt) đã gợi ý rằng trí trừu tượng khiến việc thấu hiểu “các mối liên hệ giữa những mối liên hệ” trở nên khả hữu. Những mối liên hệ giữa các toàn thể tư tưởng lớn lao được nắm bắt. Như thể những công thức đơn giản nằm phía sau sự phát sinh của nhiều sự vật cụ thể được mặc khải. Điều có thể được gọi là “các mô hình của những nguyên nhân liên hệ với nhau” được tri nhận rõ ràng khi trí trừu tượng vận hành đúng đắn. |
|
21. In the abstract mind, the symbols ‘a, ‘b’ and ‘c’ each may signify each an entire domain of thought. The concrete mind would concern itself with the relations between the various items to be found within domains ‘a’, ‘b’ and ‘c’. The abstract mind is concerned with the more archetypal relations between ‘a’, ‘b’ and ‘c’ themselves. |
21. Trong trí trừu tượng, các ký hiệu “a”, “b” và “c” mỗi ký hiệu có thể biểu thị cả một lĩnh vực tư tưởng. Trí cụ thể sẽ quan tâm đến các mối liên hệ giữa những mục khác nhau được tìm thấy bên trong các lĩnh vực “a”, “b” và “c”. Trí trừu tượng quan tâm đến các mối liên hệ nguyên mẫu hơn giữa chính “a”, “b” và “c”. |
|
22. DK also seems to be saying that without building the antahkarana, it is not possible to think consciously in the abstract mind. |
22. Chân sư DK dường như cũng đang nói rằng nếu không kiến tạo antahkarana, thì không thể tư duy một cách có ý thức trong trí trừu tượng. |
|
23. By hard thinking over the ages, people actually have built the antahkarana without knowing they have done so. They did not have the occult techniques, but nature accomplishes in the long run what technique does in a far shorter time. |
23. Qua sự tư duy nỗ lực suốt các thời đại, con người thật sự đã kiến tạo antahkarana mà không biết rằng mình đã làm như vậy. Họ không có các kỹ thuật huyền bí, nhưng về lâu dài, thiên nhiên hoàn thành điều mà kỹ thuật thực hiện trong một thời gian ngắn hơn nhiều. |
|
24. Now, those who have over lifetimes built the hard way, have also the occult technique, which will only strengthen what they have built. |
24. Giờ đây, những ai qua nhiều kiếp sống đã kiến tạo theo con đường khó nhọc cũng có thêm kỹ thuật huyền bí, vốn sẽ chỉ làm mạnh thêm điều họ đã kiến tạo. |
|
25. From a practical perspective, regardless of whether or not one uses specific antahkarana techniques, the attempt to think abstractly (widely, reasonably and in larger wholes) will build the abstract mind. |
25. Từ một quan điểm thực tiễn, bất kể người ta có sử dụng các kỹ thuật antahkarana chuyên biệt hay không, nỗ lực tư duy trừu tượng (rộng rãi, hợp lý và trong những toàn thể lớn hơn) sẽ kiến tạo trí trừu tượng. |
|
The difficulty becomes still greater as we arrive at the study of Rule IX. It was of real difficulty when presented in its lower form to applicants. |
Khó khăn trở nên còn lớn hơn nữa khi chúng ta đi đến việc nghiên cứu Quy luật IX. Nó đã thật sự khó khăn khi được trình bày dưới hình thức thấp hơn cho các ứng viên. |
|
26. This should awaken a degree of humility, especially when we remember that these fourteen Rules for Applicants are soon to be considered simply rules for disciples. |
26. Điều này nên khơi dậy một mức độ khiêm tốn nào đó, đặc biệt khi chúng ta nhớ rằng mười bốn Quy luật dành cho Ứng viên này chẳng bao lâu nữa sẽ được xem đơn giản là các quy luật dành cho đệ tử. |
|
That rule, as you may remember, ran as follows: |
Quy luật ấy, như các bạn có thể nhớ, được trình bày như sau: |
|
[Page 168] |
|
|
Let the disciple merge himself within the circle of the other selves. Let but one colour blend them and their unity appear. Only when the group is known and sensed can energy be wisely emanated. |
Hãy để đệ tử hòa nhập chính mình vào trong vòng tròn của những bản ngã khác. Hãy để chỉ một màu sắc hòa trộn họ lại và làm cho sự hợp nhất của họ hiện ra. Chỉ khi nhóm được biết và được cảm nhận, năng lượng mới có thể được phát xuất một cách minh triết. |
|
Three major ideas appear in this easier rule: |
Ba ý tưởng chính xuất hiện trong quy luật dễ hơn này: |
|
1. The idea of complete identity with all other selves. |
1. Ý tưởng về sự đồng nhất hoàn toàn với tất cả những bản ngã khác. |
|
2. The idea of the uniformity of their spiritual presentation to the world when unity is established. |
2. Ý tưởng về sự đồng nhất trong cách họ trình hiện tinh thần trước thế giới khi sự hợp nhất được thiết lập. |
|
3. The idea that—as a result of the two above achievements—the group force, as a real and focussed energy, can then be used. |
3. Ý tưởng rằng—như kết quả của hai thành tựu trên—mãnh lực nhóm, như một năng lượng có thực và được tập trung, bấy giờ có thể được sử dụng. |
|
19. Note that DK does not say that the Rules for Applicants are easy. Let us be respectful of these apparently simple preliminary Rules—not so many have really fulfilled them. |
19. Hãy lưu ý rằng Chân sư DK không nói rằng các Quy luật dành cho Ứng viên là dễ. Chúng ta hãy tôn trọng các Quy luật sơ khởi có vẻ đơn giản này—không có nhiều người đã thật sự hoàn thành chúng. |
|
20. The three main ideas are clearly spelled out. |
20. Ba ý tưởng chính được nêu rõ ràng. |
|
21. Notice that group members are considered “other selves”, not other people. The figure of the circle is used, demonstrating unity and completion—the most perfect planar shape. |
21. Hãy lưu ý rằng các thành viên nhóm được xem là “những bản ngã khác”, chứ không phải những người khác. Hình ảnh vòng tròn được dùng, biểu thị sự hợp nhất và sự hoàn mãn—hình phẳng hoàn hảo nhất. |
|
22. Think how spiritually therapeutic it would be to consider other people as other selves. The Heresy of Separativeness would be immediately overcome—IF we were successful in doing so. |
22. Hãy nghĩ xem sẽ có tác dụng trị liệu tinh thần biết bao nếu xem những người khác là những bản ngã khác. Tà thuyết Chia Rẽ sẽ lập tức bị vượt qua—NẾU chúng ta thành công trong việc làm như vậy. |
|
23. To have “identity” one must recognize sameness. For Plato, there were two essential cognitions—“Same” and “Other”. |
23. Để có “sự đồng nhất”, người ta phải nhận ra sự giống nhau. Đối với Plato, có hai nhận thức thiết yếu—“Cùng” và “Khác”. |
|
24. The concrete mind (and even the abstract mind, to a degree) perceives very much in terms of difference and distinction. Identity-consciousness emphasizes sameness. From kinship (likeness), to unity, to sameness—this is the progression. |
24. Trí cụ thể (và ngay cả trí trừu tượng, ở một mức độ nào đó) tri nhận rất nhiều theo các khía cạnh khác biệt và phân biệt. Tâm thức đồng nhất nhấn mạnh sự giống nhau. Từ quan hệ thân thuộc (sự tương tự), đến hợp nhất, đến sự giống nhau—đây là tiến trình. |
|
25. The rays reflecting this progression are rays four, two and one, with the movement occurring from ray four, through ray two, to ray one. |
25. Các cung phản ánh tiến trình này là cung bốn, cung hai và cung một, với chuyển động xảy ra từ cung bốn, qua cung hai, đến cung một. |
|
26. There is an art to carrying sameness in the heart. It takes practice, and a reminder that the differences presented to the ordinary consciousness are illusory. |
26. Có một nghệ thuật trong việc mang giữ sự giống nhau trong trái tim. Điều này đòi hỏi thực hành, và một sự nhắc nhớ rằng những khác biệt trình hiện trước tâm thức thông thường đều là ảo tưởng. |
|
27. A “uniformity of spiritual presentation to the world” does not necessarily lack variety. A wide variety of personality types can be found working in relation to the same Ashram. However, one recognizable note sounds through the presentation of all individuals representing the Ashram or the well-aligned ashramically affiliated group. |
27. Một “sự đồng nhất trong cách trình hiện tinh thần trước thế giới” không nhất thiết thiếu sự đa dạng. Có thể tìm thấy rất nhiều loại phàm ngã khác nhau cùng làm việc trong liên hệ với cùng một ashram. Tuy nhiên, một âm điệu dễ nhận biết vang lên qua sự trình hiện của tất cả các cá nhân đại diện cho ashram hoặc cho nhóm liên hệ với ashram và được chỉnh hợp tốt.ashram affiliated group. |
|
28. It is clear, is it not, that the groups of which we are speaking have advanced to the point at which they have become ashramically affiliated. |
28. Rõ ràng, phải vậy không, rằng các nhóm mà chúng ta đang nói đến đã tiến tới mức mà họ trở nên liên hệ với ashram. |
|
29. The members of the group (together) must achieve a group note, and, at length, it must be a note easily recognized by others. |
29. Các thành viên của nhóm (cùng nhau) phải đạt được một âm điệu nhóm, và cuối cùng, đó phải là một âm điệu dễ dàng được người khác nhận ra. |
|
30. The last sentence, “Only when the group is known and sensed can energy be wisely emanated” tells us that confusion and division kill the sense of group unity as well as the potential for energically-unified presentations by the group. If we know who we are, we will be attracted to the right group, which must know “who or what it is”. This Self-knowledge and group Self-knowledge build group power, prevent energy waste, and thus make energy available for sharing (or unconscious sharing—emanation). Wisdom is brought into the picture. Emanation is always possible, but will it be wise? Wisdom (as Socrates and the Oracle of Delphi taught us) is based upon Self-knowledge. |
30. Câu cuối, “Chỉ khi nhóm được biết và được cảm nhận, năng lượng mới có thể được phát xuất một cách minh triết” cho chúng ta biết rằng sự hỗn loạn và chia rẽ giết chết cảm thức về sự hợp nhất nhóm cũng như tiềm năng cho những trình hiện được hợp nhất về năng lượng bởi nhóm. Nếu chúng ta biết mình là ai, chúng ta sẽ bị thu hút đến đúng nhóm, nhóm ấy phải biết “nó là ai hoặc là cái gì”. Sự tự tri này và sự tự tri nhóm xây dựng quyền năng nhóm, ngăn ngừa sự lãng phí năng lượng, và do đó làm cho năng lượng sẵn sàng để chia sẻ (hoặc chia sẻ vô thức—xuất lộ). Minh triết được đưa vào bức tranh. Sự xuất lộ luôn luôn có thể xảy ra, nhưng liệu nó có minh triết không? Minh triết (như Socrates và Thần dụ Delphi đã dạy chúng ta) đặt nền trên sự tự tri. |
|
Glibly the neophyte talks of identifying himself with others, and eagerly he endeavours to ascertain his group and merge with it; yet in so doing the constant concept of duality is ever present—himself and all other selves, himself and the group, himself and the group energy which he may now wield. Yet this is not so in reality. Where true identity is achieved, there is no sense of this and that; where the merging is complete, there is no recognition of individual activity within the group, because the will of the merged soul is identical with that of the group and automatic in its working; where true unity is present, the individual applicant becomes only a channel for the group will and activity, and this with no effort of his own but simply as a spontaneous reaction. |
Người sơ cơ nói một cách trơn tru về việc đồng hoá chính mình với người khác, và hăng hái cố gắng xác định nhóm của mình và hòa nhập với nhóm ấy; tuy nhiên, trong khi làm như vậy, quan niệm thường trực về Nhị nguyên vẫn luôn hiện diện—chính y và tất cả những bản ngã khác, chính y và nhóm, chính y và năng lượng nhóm mà giờ đây y có thể vận dụng. Tuy nhiên, trong thực tại điều này không phải như vậy. Nơi nào sự đồng nhất chân thật đạt được, nơi đó không có cảm thức về cái này và cái kia; nơi nào sự hòa nhập trọn vẹn, nơi đó không có sự nhận biết về hoạt động cá nhân trong nhóm, bởi vì ý chí của linh hồn đã hòa nhập đồng nhất với ý chí của nhóm và tự động trong sự vận hành của nó; nơi nào sự hợp nhất chân thật hiện diện, ứng viên cá nhân chỉ trở thành một kênh dẫn cho ý chí và hoạt động của nhóm, và điều này không do nỗ lực riêng của y mà chỉ như một phản ứng tự phát. |
|
29. Glib neophytes unite! The true “weight” of concepts and energies is not appreciated by the neophyte, and thus concepts can be thrown around easily—‘lightly’. An apparently intelligent superficiality prevails. |
29. Các người sơ cơ trơn tru, hãy hợp nhất! “Trọng lượng” chân thật của các khái niệm và năng lượng không được người sơ cơ đánh giá đúng, và vì thế các khái niệm có thể được tung ra dễ dàng—một cách “nhẹ bẫng”. Một sự hời hợt có vẻ thông minh chiếm ưu thế. |
|
30. The little ego is a “light weight”, and the concepts produced by such an ego have no real occult ‘ponderability’, no real ‘occult weight’. |
30. Cái chân ngã nhỏ bé là một “trọng lượng nhẹ”, và những khái niệm do một chân ngã như thế tạo ra không có “độ nặng” huyền bí thực sự, không có “trọng lượng huyền bí” thực sự. |
|
31. The neophyte is still dealing with “this and that”, instead of realizing that all of this is really That. But, of course, these words, too, are inadequate. |
31. Người sơ cơ vẫn còn đang xử lý “điều này và điều kia”, thay vì nhận ra rằng tất cả điều này thực ra là Điều Ấy. Nhưng, dĩ nhiên, những lời này cũng vẫn bất toàn. |
|
32. The consciousness is still egocentric, and the Heresy of Separateness still holds sway. |
32. Tâm thức vẫn còn lấy chân ngã làm trung tâm, và Tà thuyết về sự Chia Rẽ vẫn còn chi phối. |
|
33. Quite simply, for the neophyte, subject and object have not been unified. The separation between subject and object belong to the Doctrine of the Eye. The unification of subject and object belong to the Doctrine of the Heart. There are two eyes and one heart. |
33. Nói một cách đơn giản, đối với người sơ cơ, chủ thể và đối tượng chưa được hợp nhất. Sự phân cách giữa chủ thể và đối tượng thuộc về nhãn pháp. Sự hợp nhất của chủ thể và đối tượng thuộc về tâm pháp. Có hai mắt và một trái tim. |
|
34. One definition of Initiate Consciousness is a type of consciousness in which subject and object are seen/perceived/apperceived as unified. |
34. Một định nghĩa về Tâm thức của điểm đạo đồ là một loại tâm thức trong đó chủ thể và đối tượng được thấy, được tri nhận, được nhận thức như đã hợp nhất. |
|
35. The faculty of will holds one of the keys to the overcoming of the ‘this-and-that-consciousness’. The “merged soul” is different from the individual. The entity is the same in both cases, but the quality of Self-perception of the entity has changed. |
35. Năng lực của ý chí nắm giữ một trong những chìa khóa để vượt thắng ‘tâm thức điều-này-và-điều-kia’. “Linh hồn đã hòa nhập” khác với cá nhân. Thực thể là một trong cả hai trường hợp, nhưng phẩm tính của sự tự tri nhận của thực thể đã thay đổi. |
|
36. Is ‘my’ will the same as the group will? If one has to deliberate too long on this question, it is almost a guarantee that the fusion has not occurred. |
36. Ý chí ‘của tôi’ có giống với ý chí nhóm không? Nếu một người phải cân nhắc quá lâu về câu hỏi này, thì hầu như chắc chắn rằng sự dung hợp chưa xảy ra. |
|
37. When the merging has occurred, the resultant expression of group will and activity is spontaneous rather than deliberate. Deliberation takes time, is indicative of effort, and of a merging incompletely accomplished. |
37. Khi sự hòa nhập đã xảy ra, biểu hiện kết quả của ý chí và hoạt động nhóm là tự phát hơn là do cân nhắc. Sự cân nhắc cần thời gian, cho thấy có nỗ lực, và chỉ ra một sự hòa nhập chưa được hoàn thành trọn vẹn. |
|
38. Thus, am I an “individual” or am I a “merged soul”? Clearly, an “individual” is centralized in the lower sense; a “merged soul” is decentralized. |
38. Vậy, tôi là một “cá nhân” hay là một “linh hồn đã hòa nhập”? Rõ ràng, một “cá nhân” thì được tập trung theo nghĩa thấp; một “linh hồn đã hòa nhập” thì phi tập trung vào bản thân. |
|
39. It is as if the little ego or personality ring-pass-not has to be transcended or dissolved by the heart of the disciple/initiate. How many have practiced ‘dissolving boundaries with the heart’? It is one of the techniques on the way to unitive consciousness—the kind of consciousness the Tibetan is discussing in the paragraph above. |
39. Dường như vòng-giới-hạn của chân ngã nhỏ bé hay phàm ngã phải được vượt qua hoặc được làm tan rã bởi trái tim của đệ tử hay điểm đạo đồ. Có bao nhiêu người đã thực hành ‘làm tan ranh giới bằng trái tim’? Đó là một trong các kỹ thuật trên con đường dẫn đến tâm thức hợp nhất — loại tâm thức mà Chân sư Tây Tạng đang bàn đến trong đoạn trên. |
|
But, interestingly, Hierarchy does practice the principle of quarantine and different levels of hierarchical attainment are “hermetically sealed” from each other. |
Nhưng, điều thú vị là Thánh đoàn có thực hành nguyên lý cách ly và các cấp độ thành đạt khác nhau trong Thánh đoàn được “niêm kín” với nhau. |
|
40. If the disciple/initiate is a “merged soul”, the group with which the merging has occurred need not necessarily be an outer group. This fact should, however, not serve as an excuse or alibi for the disciple who finds it impossible (for personal reasons) ever to merge with an outer group, and who (to explain his inability) offers the excuse that his real merging is done with an inner group. |
40. Nếu đệ tử hay điểm đạo đồ là một “linh hồn đã hòa nhập”, thì nhóm mà sự hòa nhập đã xảy ra với nó không nhất thiết phải là một nhóm bên ngoài. Tuy nhiên, sự kiện này không nên được dùng như một cái cớ hay chứng cứ bào chữa cho đệ tử nào thấy mình không bao giờ có thể hòa nhập với một nhóm bên ngoài vì những lý do cá nhân, và để giải thích sự bất lực của mình, y đưa ra lý do rằng sự hòa nhập thật sự của y được thực hiện với một nhóm bên trong. |
|
41. The most important group with which to merge is, of course, the Ashram. There, indeed, “one colour [Page can] blend them and their unity appear”. |
41. Nhóm quan trọng nhất để hòa nhập, dĩ nhiên, là ashram. Thật vậy, ở đó, “một màu sắc [Page có thể] hòa trộn họ và sự hợp nhất của họ hiện ra”. |
|
42. One must carry one’s Ashram in one’s heart—both the heart center and the heart in the head, as well as within the soul. To think about one’s Ashram is not enough, because then, it is just a concept rather than a felt presence into which merging has occurred. |
42. Người ta phải mang ashram của mình trong trái tim — cả trung tâm tim lẫn trái tim trong đầu, cũng như bên trong linh hồn. Chỉ nghĩ về ashram của mình thì chưa đủ, bởi khi đó, nó chỉ là một khái niệm chứ không phải một Hiện Diện được cảm nhận mà trong đó sự hòa nhập đã xảy ra. |
|
43. It is important for the disciple to stop trying to be unified and simply recognize that, on the soul level, this unification is, already, a great and fundamental fact. |
43. Điều quan trọng đối với đệ tử là ngừng cố gắng để được hợp nhất và chỉ đơn giản nhận ra rằng, trên cấp độ linh hồn, sự hợp nhất này đã là một sự kiện lớn lao và nền tảng. |
|
44. We make the transition from “Who do we think we are?” to “Who do we know we are?” |
44. Chúng ta thực hiện sự chuyển tiếp từ “Chúng ta nghĩ mình là ai?” sang “Chúng ta biết mình là ai?” |
|
45. The “merged soul” has an individuality which is ‘out of the group’s way’. |
45. “Linh hồn đã hòa nhập” có một cá tính ‘không cản đường nhóm’. |
|
46. This state is not something that can be willed by the personal will. It can only be ‘grown towards’ until the realization comes that it is a fact. |
46. Trạng thái này không phải là điều có thể được ý chí hóa bởi ý chí phàm ngã. Người ta chỉ có thể ‘tăng trưởng hướng tới’ nó cho đến khi sự nhận biết đến rằng nó là một sự kiện. |
|
47. Surely, consciousness of unification, requires patience—one of the virtues of the heart and soul. |
47. Chắc chắn, tâm thức về sự hợp nhất đòi hỏi kiên nhẫn — một trong những đức tính của trái tim và linh hồn. |
|
48. The burden of the separately centralized self is heavy. Christ consciousness is the overcoming of this burden. “His yoke is easy and his burden light.” |
48. Gánh nặng của cái ngã tập trung tách biệt thì nặng nề. Tâm thức Đức Christ là sự vượt thắng gánh nặng này. “Ách của Ngài thì dễ chịu và gánh của Ngài thì nhẹ nhàng.” |
|
I have emphasised the above because in the rule for disciples and initiates, this will be found to be still more the case and the results are brought about by a conscious use of the will which is divine synthesis in action; also, the group referred to is not the Ashram of some particular Master, but that of all Ashrams as they in their entirety reflect the purpose of Shamballa and work out the Plan within the active sphere of the hierarchical consciousness. |
Tôi đã nhấn mạnh điều trên bởi vì trong quy luật dành cho các đệ tử và điểm đạo đồ, điều này sẽ còn được thấy là đúng hơn nữa, và các kết quả được tạo ra bởi việc sử dụng ý chí một cách có ý thức, vốn là sự tổng hợp thiêng liêng trong hành động; hơn nữa, nhóm được nói đến không phải là ashram của một Chân sư riêng biệt nào, mà là ashram của tất cả các ashram khi toàn thể các ashram ấy phản ánh mục đích của Shamballa và thực hiện Thiên Cơ trong phạm vi hoạt động của tâm thức Thánh đoàn. |
|
49. If unification is more difficult than it seems to the superficial mind, the achievement of synthesis is more difficult by far—and even more essential by far. Synthesis substands unification. |
49. Nếu sự hợp nhất khó hơn vẻ ngoài của nó đối với thể trí nông cạn, thì việc thành tựu sự tổng hợp còn khó hơn rất nhiều — và cũng thiết yếu hơn rất nhiều. Sự tổng hợp làm nền cho sự hợp nhất. |
|
50. A profound definition of will is given: “will which is divine synthesis in action”. |
50. Một định nghĩa sâu sắc về ý chí được đưa ra: “ý chí vốn là sự tổng hợp thiêng liêng trong hành động”. |
|
51. True will emanates from a synthesized state of awareness. The awareness of sameness is complete, form is “blotted out”. Note that it is “divine” synthesis in action, indicating that such an awareness is only achieved by the Spirit/Monad. The term “divine” as used by the Tibetan, almost always refers to the monadic level. |
51. Ý chí chân chính xuất lộ từ một trạng thái nhận biết đã được tổng hợp. Sự nhận biết về tính đồng nhất là trọn vẹn, hình tướng bị “xóa nhòa”. Hãy lưu ý rằng đó là sự tổng hợp “thiêng liêng” trong hành động, cho thấy rằng một nhận biết như thế chỉ được thành tựu bởi Tinh thần hay chân thần. Thuật ngữ “thiêng liêng” như Chân sư Tây Tạng dùng hầu như luôn luôn chỉ cấp độ chân thần. |
|
52. It may be suggested that the effect of true will promotes those changes which reveal the synthesis which is. Synthesis always is, but is realized? The average disciple will, if honest, say “no”. |
52. Có thể gợi ý rằng hiệu quả của ý chí chân chính thúc đẩy những thay đổi làm hiển lộ sự tổng hợp vốn hiện hữu. Sự tổng hợp luôn luôn hiện hữu, nhưng liệu nó có được nhận biết chăng? Nếu trung thực, đệ tử trung bình sẽ nói “không”. |
|
53. Every true act of will, therefore, brings the willing one close to the apprehension of synthesis, and also establishes (within the field upon which the will plays) those conditions conducive to a greater realization of synthesis. |
53. Do đó, mỗi hành vi ý chí chân chính đều đưa người vận dụng ý chí đến gần sự lãnh hội về tổng hợp, và cũng thiết lập, trong trường mà ý chí tác động, những điều kiện thuận lợi cho một sự nhận biết lớn hơn về tổng hợp. |
|
54. Beyond the realization of synthesis is the living of synthesis. |
54. Vượt ngoài sự nhận biết về tổng hợp là việc sống sự tổng hợp. |
|
55. The merging brought about by identification and unification of wills is not with a sub-Ashram or even with a ray-Ashram, but with the One Ashram (the Hierarchy) as that Ashram reflects Shamballa. |
55. Sự hòa nhập được tạo ra bởi sự đồng hóa và hợp nhất các ý chí không phải là với một tiểu ashram hay thậm chí với một ashram theo cung, mà là với Một ashram duy nhất, tức Thánh đoàn, khi ashram ấy phản ánh Shamballa. |
|
56. We begin to realize that when we talk about understanding and wielding true will, and identifying with it, we are talking about a curriculum which can only be mastered by a Master—a member of the Great Ashram, which is applying to an understanding of the Great Will which emanates from its prototype—Shamballa. |
56. Chúng ta bắt đầu nhận ra rằng khi nói về việc thấu hiểu và vận dụng ý chí chân chính, cũng như đồng hóa với nó, chúng ta đang nói về một chương trình học chỉ có thể được tinh thông bởi một Chân sư — một thành viên của Đại ashram, đang chuyên chú vào việc thấu hiểu Đại Ý Chí xuất lộ từ nguyên mẫu của nó — Shamballa. |
|
57. We are attempting to stand on the periphery of the “active sphere of hierarchical consciousness” through the progressive identification of our personal will with spiritual will and ultimately with the divine will—realizing all these wills as essentially identical and same. |
57. Chúng ta đang cố gắng đứng trên chu vi của “phạm vi hoạt động của tâm thức Thánh đoàn” thông qua sự đồng hóa tiến triển của ý chí phàm ngã chúng ta với ý chí tinh thần và cuối cùng với ý chí thiêng liêng — nhận ra tất cả các ý chí này về bản chất là đồng nhất và như nhau. |
|
58. Along the way, Hierarchy begins to ‘live’ ‘us’; ultimately, Shamballa ‘lives’ ‘us’. Who are we by the time this higher livingness supervenes? |
58. Trên đường đi, Thánh đoàn bắt đầu ‘sống’ ‘chúng ta’; sau cùng, Shamballa ‘sống’ ‘chúng ta’. Chúng ta là ai khi sức sống cao hơn này ngự trị? |
|
Ashrams of the Masters are to be found on every level of consciousness in the threefold world of the Spiritual Triad. Some Masters pre-eminently occupy themselves with the mind aspect within all forms, and therefore their Ashrams are conditioned by the manasic consciousness; they are [Page 169] the Ashrams of those initiates who have taken the fourth initiation but who are not yet Masters. They are largely adepts upon the third and fifth rays, and work with the manas or mind as it is developing in all forms. They do foundational work of great importance, but are little understood and their lives are consequently lives of great sacrifice and the term of their service in this particular connection is relatively short. Certain aspects of their developed consciousness have to be kept in abeyance and must remain temporarily unexpressed in order to permit them to work with substance and specifically with the consciousness of the atoms which constitute the forms in all the subhuman kingdoms of nature. They do very little work with humanity, except with certain advanced members of humanity who are on the scientific line, drawing to their Ashrams only those who are on the third and fifth rays and who can continue with the work, being trained along peculiar and special lines. |
Các ashram của các Chân sư có thể được tìm thấy trên mọi cấp độ tâm thức trong thế giới tam phân của Tam Nguyên Tinh Thần. Một số Chân sư đặc biệt chú tâm đến phương diện trí tuệ bên trong mọi hình tướng, và do đó các ashram của Các Ngài chịu ảnh hưởng của tâm thức manas; đó là [Page 169] các ashram của những điểm đạo đồ đã trải qua lần điểm đạo thứ tư nhưng chưa phải là các Chân sư. Phần lớn họ là các chân sư thuộc cung ba và cung năm, và làm việc với manas hay thể trí khi nó đang phát triển trong mọi hình tướng. Họ thực hiện công việc nền tảng có tầm quan trọng lớn lao, nhưng ít được thấu hiểu và do đó đời sống của họ là những đời sống hi sinh lớn lao, còn thời hạn phụng sự của họ trong mối liên hệ đặc biệt này thì tương đối ngắn. Một số phương diện trong tâm thức đã phát triển của họ phải được giữ trong trạng thái tạm ngưng và phải tạm thời chưa biểu lộ để cho phép họ làm việc với chất liệu và đặc biệt với tâm thức của các nguyên tử cấu thành các hình tướng trong mọi giới dưới nhân loại của tự nhiên. Họ làm rất ít việc với nhân loại, ngoại trừ với một số thành viên tiến bộ của nhân loại thuộc tuyến khoa học, chỉ thu hút vào các ashram của họ những người thuộc cung ba và cung năm và có thể tiếp tục công việc, được huấn luyện theo những đường lối đặc thù và chuyên biệt. |
|
59. Different kinds of Ashrams with directors of different status are discussed above. |
59. Ở trên đã bàn đến các loại ashram khác nhau với những vị hướng dẫn có địa vị khác nhau. |
|
60. The focus of this paragraph is upon Ashrams which are directed by Arhats and not Masters. |
60. Trọng tâm của đoạn này là các ashram do các A-la-hán chứ không phải các Chân sư hướng dẫn. |
|
61. We are told that such Ashrams do “foundational work of great importance”, and that their membership is very much along the lines of the third and fifth rays. From one perspective, the fifth ray can be considered a more concrete example of the third ray, just as the seventh ray is the most concrete example of the first. Thus, is would be, also, in relation to the sixth and second rays. |
61. Chúng ta được cho biết rằng các ashram như thế làm “công việc nền tảng có tầm quan trọng lớn lao”, và thành viên của chúng phần lớn đi theo các tuyến của cung ba và cung năm. Từ một góc nhìn, cung năm có thể được xem là một ví dụ cụ thể hơn của cung ba, cũng như cung bảy là ví dụ cụ thể nhất của cung một. Như vậy, điều này cũng đúng trong tương quan với cung sáu và cung hai. |
|
62. When thinking of this “foundational” work, it is well to remember that the third ray is called the “Builder of the Foundation”. The fifth ray participates in this. |
62. Khi nghĩ về công việc “nền tảng” này, nên nhớ rằng cung ba được gọi là “Đấng Kiến Tạo Nền Tảng”. Cung năm tham dự vào công việc này. |
|
63. A foundation is being created upon which the superstructure of love and will can be erected. |
63. Một nền tảng đang được tạo lập, trên đó thượng tầng của bác ái và ý chí có thể được dựng lên. |
|
64. Note that “Arhats” can be called “Adepts”. Often, however, the term “Adept” is reserved for an initiate of the fifth degree. |
64. Hãy lưu ý rằng các “A-la-hán” có thể được gọi là “chân sư”. Tuy nhiên, thường thì thuật ngữ “Chân sư” được dành cho một điểm đạo đồ cấp năm. |
|
65. Notice, too, that when an initiate is not understood, an element of sacrifice has entered—because the initiate is not nourished by a return flow from the human kingdom. Service rendered often supports the server. This is not so in any outer sense for such initiates as are here discussed. |
65. Cũng hãy lưu ý rằng khi một điểm đạo đồ không được thấu hiểu, một yếu tố hi sinh đã đi vào — bởi vì điểm đạo đồ không được nuôi dưỡng bởi một dòng chảy hồi đáp từ giới nhân loại. Sự phụng sự được thực hiện thường nâng đỡ người phụng sự. Điều này không đúng theo bất cứ nghĩa bên ngoài nào đối với những điểm đạo đồ như đang được bàn ở đây. |
|
66. Part of their sacrifice is that, when working with form and matter, their full consciousness cannot be expressed. This is a limitation, and limitation is directly related to sacrifice. Think of the Solar Angels and their sacrifice, as they limit an aspect of their consciousness to the supervision of a humble life-form called Man, for millions of years. Think of Sanat Kumara’s sacrifice as He limits Himself to expression through our most humble (relatively) planetary sphere. Sacrifice and limitation are companions. It makes one wonder to what limitations Saturn, the planet of limitation, has submitted Himself? |
66. Một phần sự hi sinh của họ là khi làm việc với hình tướng và vật chất, tâm thức trọn vẹn của họ không thể được biểu lộ. Đây là một giới hạn, và giới hạn liên hệ trực tiếp với hi sinh. Hãy nghĩ đến các Thái dương Thiên Thần và sự hi sinh của các Ngài, khi các Ngài giới hạn một phương diện tâm thức của mình vào việc giám sát một hình thái sự sống khiêm nhường được gọi là Con Người, trong hàng triệu năm. Hãy nghĩ đến sự hi sinh của Đức Sanat Kumara khi Ngài tự giới hạn mình để biểu lộ qua khối cầu hành tinh rất khiêm nhường của chúng ta, theo nghĩa tương đối. Hi sinh và giới hạn là bạn đồng hành. Điều này khiến người ta tự hỏi Sao Thổ, hành tinh của giới hạn, đã tự đặt mình dưới những giới hạn nào? |
|
67. There is much specialization in the work of these third and fifth ray Adepts. Perhaps the acutely specialized scientific server of the modern day is (probably unconsciously) working under their guidance. |
67. Có nhiều sự chuyên môn hóa trong công việc của các Chân sư cung ba và cung năm này. Có lẽ người phụng sự khoa học chuyên môn hóa cao độ của thời hiện đại đang làm việc dưới sự hướng dẫn của họ, có lẽ một cách vô thức. |
|
68. Hierarchy is far more complex than we can imagine. The few Masters with Whom we ‘think’ we are familiar, are a very few Servers compared with the entire hierarchical group. Obviously our conception of the scope of Hierarchy will increase as we merge into it as “merged souls”. |
68. Thánh đoàn phức tạp hơn rất nhiều so với điều chúng ta có thể hình dung. Một vài Chân sư mà chúng ta ‘nghĩ’ mình quen thuộc chỉ là rất ít Người Phụng Sự khi so với toàn thể nhóm Thánh đoàn. Hiển nhiên quan niệm của chúng ta về phạm vi của Thánh đoàn sẽ gia tăng khi chúng ta hòa nhập vào đó như những “linh hồn đã hòa nhập”. |
|
69. The fact that these third and fifth ray adepts do very little work with humanity tells us that humanity is basically focussed upon other tasks that have more to do with the growth of soul than with matter and form, per se. We, as humanity, are graduating from preoccupation with the third aspect into a growing appreciation of the second, though we need to understand the third if we are to ever successfully express the second through it. |
69. Sự kiện các chân sư cung ba và cung năm này làm rất ít việc với nhân loại cho chúng ta biết rằng nhân loại về căn bản đang tập trung vào những nhiệm vụ khác, liên quan nhiều hơn đến sự tăng trưởng của linh hồn hơn là với chính vật chất và hình tướng. Với tư cách nhân loại, chúng ta đang tốt nghiệp khỏi mối bận tâm với phương diện thứ ba để đi vào sự trân trọng ngày càng tăng đối với phương diện thứ hai, dù chúng ta cần thấu hiểu phương diện thứ ba nếu muốn từng biểu lộ thành công phương diện thứ hai thông qua nó. |
|
The Ashrams of the Masters (to be found on all the rays) Who work in particular with humanity, are mostly to be found upon the buddhic levels of the triadal consciousness. There the note of “loving understanding” predominates, but even these words must be interpreted esoterically and not according to their usual and obvious meaning. It is not a case of “I understand because I love,” or that “this,” with love, understands “that.” It is something far deeper, involving the idea of identification, of participation, and of synthetic realisation—lovely euphonious words, but meaning little to the non-initiates. |
Các ashram của các Chân sư, được tìm thấy trên mọi cung, những Đấng làm việc đặc biệt với nhân loại, phần lớn được tìm thấy trên các cấp độ Bồ đề của tâm thức Tam nguyên tinh thần. Ở đó, âm điệu của “sự thấu hiểu đầy bác ái” chiếm ưu thế, nhưng ngay cả những lời này cũng phải được diễn giải một cách huyền bí chứ không theo ý nghĩa thông thường và hiển nhiên của chúng. Đây không phải là trường hợp “tôi thấu hiểu bởi vì tôi thương yêu”, hay “điều này”, với tình thương, thấu hiểu “điều kia”. Đó là một điều sâu xa hơn rất nhiều, bao hàm ý tưởng về sự đồng hóa, về sự tham dự, và về sự chứng nghiệm tổng hợp — những lời đẹp đẽ, êm tai, nhưng ít có ý nghĩa đối với những người chưa được điểm đạo. |
|
70. Why should it be so that the Ashrams of the Masters Who work with humanity are found mostly on the buddhic levels—the levels of intuition? Numerical affinity certainly enters here. The human kingdom is the fourth kingdom and the buddhic plane is the fourth of our systemic planes. Further, humanity belongs to the Fourth Creative Hierarchy, whose major dimension of expression is upon the buddhic plane, the fourth. |
70. Tại sao lại như vậy, rằng các ashram của các Chân sư làm việc với nhân loại phần lớn được tìm thấy trên các cấp độ Bồ đề — các cấp độ của trực giác? Sự tương hợp số học chắc chắn có mặt ở đây. Giới nhân loại là giới thứ tư và cõi Bồ đề là cõi thứ tư trong các cõi thuộc hệ của chúng ta. Hơn nữa, nhân loại thuộc về Huyền Giai Sáng Tạo Thứ Tư, có chiều kích biểu lộ chính yếu trên cõi Bồ đề, cõi thứ tư. |
|
71. The human family which is the “Son of Mind” (and, therefore, the manasic Thinker), has a destiny which will, one day, focus it upon the buddhic/intuitional levels of awareness. |
71. Gia đình nhân loại, vốn là “Con của Trí Tuệ”, và do đó là Chủ Thể Tư Duy manas, có một vận mệnh mà một ngày kia sẽ tập trung nó trên các cấp độ nhận biết Bồ đề hay trực giác. |
|
72. This future focus is reflected in the rays of humanity which presently are a fourth ray soul and fifth ray personality. The fifth ray personality relates humanity to the mental plane; the fourth ray soul, to the buddhic. One day the rays of humanity will be the second ray soul and the fourth ray personality. Buddhic functioning will have been established as the foundation for further alignment oriented towards the second or monadic plane. |
72. Sự tập trung tương lai này được phản ánh trong các cung của nhân loại, hiện nay là linh hồn cung bốn và phàm ngã cung năm. Phàm ngã cung năm liên kết nhân loại với cõi trí; linh hồn cung bốn liên kết nhân loại với cõi Bồ đề. Một ngày kia, các cung của nhân loại sẽ là linh hồn cung hai và phàm ngã cung bốn. Sự vận hành Bồ đề sẽ được thiết lập như nền tảng cho sự chỉnh hợp xa hơn, hướng về cõi thứ hai hay cõi chân thần. |
|
73. Humanity is just reaching the point where the buddhic consciousness can become something meaningful and real. We are in the fifth root-race, but moving from the fifth division (i.e., subrace) of that race to the sixth division. The sixth subrace of the fifth rootrace will be numerically resonant with the sixth principle (of the seven principle of Man)—buddhi. One translation of the energy of buddhi is “loving understanding”. From another perspective, it can be considered the second principle of the seven. |
73. Nhân loại vừa đạt đến điểm mà tâm thức Bồ đề có thể trở thành một điều có ý nghĩa và có thực. Chúng ta đang ở trong giống dân gốc thứ năm, nhưng đang chuyển từ phân bộ thứ năm, tức giống dân phụ, của giống dân ấy sang phân bộ thứ sáu. Giống dân phụ thứ sáu của giống dân gốc thứ năm sẽ cộng hưởng về mặt số học với nguyên khí thứ sáu, trong bảy nguyên khí của Con Người — Bồ đề. Một cách chuyển dịch năng lượng Bồ đề là “sự thấu hiểu đầy bác ái”. Từ một góc nhìn khác, nó có thể được xem là nguyên khí thứ hai trong bảy nguyên khí. |
|
74. The Tibetan specifies that loving understanding is probably not what we think it is. Really, it has no fundamental relation to the worlds of form, though it can be applied there, just as Hierarchy (actuated by loving understanding) applies it to humanity. |
74. Chân sư Tây Tạng nêu rõ rằng sự thấu hiểu đầy bác ái có lẽ không phải là điều chúng ta nghĩ. Thật ra, nó không có mối liên hệ nền tảng nào với các thế giới hình tướng, dù nó có thể được áp dụng ở đó, cũng như Thánh Đoàn, được thúc đẩy bởi sự thấu hiểu đầy bác ái, áp dụng nó cho nhân loại. |
|
75. Note that it is a note of loving understanding that predominates in the buddhic Ashrams. Interestingly, the buddhic plane is the “plane of harmony” and the source of much musical inspiration is there found. It is a plane on which sounds and colors are harmonized in response to the archetypal pattern found upon the second or monadic plane. |
75. Hãy lưu ý rằng chính một âm điệu của sự thấu hiểu đầy bác ái đang chiếm ưu thế trong các ashram Bồ đề. Điều thú vị là cõi Bồ đề là “cõi hài hòa”, và nguồn của nhiều cảm hứng âm nhạc được tìm thấy ở đó. Đó là một cõi nơi âm thanh và màu sắc được hài hòa để đáp ứng với mô hình nguyên mẫu được tìm thấy trên cõi thứ hai hay cõi chân thần. |
|
76. Notice how the Tibetan tries to dismiss the usual interpretations of loving understanding based upon the relationship of an “I” to others, or of “this” to “that”. In loving understanding, the conventional dualities are merged and subject and object are united. |
76. Hãy chú ý cách Chân sư Tây Tạng cố gắng gạt bỏ những diễn giải thông thường về sự thấu hiểu đầy bác ái dựa trên mối quan hệ của một “cái tôi” với người khác, hay của “điều này” với “điều kia”. Trong sự thấu hiểu đầy bác ái, các nhị nguyên quy ước được hòa nhập, và chủ thể cùng đối tượng được hợp nhất. |
|
77. In loving understanding, the one who realizes himself as the other, lovingly pervades or ‘stands under’ that apparent other with the result that the nature of the apparent other is revealed fully and accurately in an unmediated manner. |
77. Trong sự thấu hiểu đầy bác ái, người chứng nghiệm chính mình là kẻ khác sẽ, bằng bác ái, thấm nhập hay “đứng bên dưới” kẻ khác bề ngoài ấy, với kết quả là bản chất của kẻ khác bề ngoài được mặc khải trọn vẹn và chính xác theo một cách trực tiếp. |
|
78. The “lovely euphonious words” He uses are “identification”, “participation” and “synthetic realization”. We begin to see that words, no matter how lovely, and suggestive of great scope, are hopelessly limited compared to that which they attempt to describe. The initiate who uses such words stands livingly within the state they describe, thus, to him, the words are full of meaning. We take these words, standing wherever we may stand, and attempt to increase our “standing” through their use. We attempt to rise through their means. Not until we are ‘there’ will we know their true meaning. |
78. Những “từ ngữ mỹ lệ, êm tai” mà Ngài dùng là “đồng hóa”, “tham dự” và “chứng nghiệm tổng hợp”. Chúng ta bắt đầu thấy rằng ngôn từ, dù mỹ lệ đến đâu và gợi ra một tầm vóc rộng lớn đến đâu, vẫn bị giới hạn một cách tuyệt vọng so với điều mà chúng cố gắng mô tả. Điểm đạo đồ sử dụng những từ ấy đứng một cách sống động trong trạng thái mà chúng mô tả; vì vậy, đối với y, những từ ấy đầy ý nghĩa. Chúng ta tiếp nhận những từ này, đứng ở bất cứ nơi nào chúng ta có thể đứng, và cố gắng gia tăng “chỗ đứng” của mình qua việc sử dụng chúng. Chúng ta cố gắng vươn lên nhờ phương tiện của chúng. Chỉ khi nào chúng ta “ở đó”, chúng ta mới biết được ý nghĩa chân thật của chúng. |
|
79. In the state of identification, all boundaries between identities are dissolved. It is a state of what we might call ‘merged identity’. |
79. Trong trạng thái đồng hóa, mọi ranh giới giữa các bản sắc đều được hòa tan. Đó là một trạng thái mà chúng ta có thể gọi là “bản sắc hòa nhập”. |
|
80. In the state of participation, one is fully active within an apparent other. If the other does it, one does it. |
80. Trong trạng thái tham dự, người ta hoàn toàn linh hoạt bên trong một kẻ khác bề ngoài. Nếu kẻ khác ấy làm điều đó, thì người ấy cũng làm điều đó. |
|
81. In the state of synthetic realization, all things perceived are perceived as they really are, because they are perceived within the grand synthesis—perceived as both identical though functionally distinct. |
81. Trong trạng thái chứng nghiệm tổng hợp, mọi sự được tri nhận đều được tri nhận như chúng thật sự là, bởi vì chúng được tri nhận trong tổng hợp vĩ đại — được tri nhận như vừa đồng nhất, dù khác biệt về chức năng. |
|
82. There are three “B’s” which are useful in orienting one’s understanding to the spiritual triad, or to the three periodical vehicles (if one takes a larger point of view). These words are “Being, Belonging and Becoming”. |
82. Có ba chữ “B” hữu ích trong việc định hướng sự thấu hiểu của một người về Tam Nguyên Tinh Thần, hay về ba hiện thể chu kỳ nếu nhìn từ một quan điểm rộng lớn hơn. Những từ ấy là “Hiện Tồn, Thuộc Về và Trở Thành”. |
|
83. Being pertains to the first aspect and Becoming to the third. Belonging pertains to the second aspect and embodies a quality of the buddhic plane. The words “identification”, “participation” and “synthetic realization” suggest a kind of ‘spiritual togetherness’ under the great Law of Attraction. We see that “participation” and “Belonging” are closely related. They suggest a taking part as a member of a cohesive whole in which all ‘parts’ are united with all other parts. I suggest that a true appreciation of the arts is one of the best ways to know what these abstract terms used to describe buddhic consciousness really mean. |
83. Hiện Tồn liên quan đến phương diện thứ nhất và Trở Thành liên quan đến phương diện thứ ba. Thuộc Về liên quan đến phương diện thứ hai và thể hiện một phẩm tính của cõi Bồ đề. Những từ “đồng hóa”, “tham dự” và “chứng nghiệm tổng hợp” gợi lên một kiểu “sự gắn bó tinh thần với nhau” dưới Định luật Hấp Dẫn vĩ đại. Chúng ta thấy rằng “tham dự” và “Thuộc Về” có liên hệ mật thiết. Chúng gợi ý một sự tham phần như một thành viên của một toàn thể cố kết, trong đó mọi “phần” đều hợp nhất với mọi phần khác. Tôi gợi ý rằng một sự trân trọng chân thật đối với nghệ thuật là một trong những cách tốt nhất để biết những thuật ngữ trừu tượng được dùng để mô tả tâm thức Bồ đề này thật sự có nghĩa gì. |
|
84. If I had to relate the lovely, euphonious words to the three aspects of the spiritual triad, I would relate “identification” to atma, “participation” to buddhi and “synthetic realization” to manas, though, essentially, they all refer to states which transcend the manasic. The factor of “realization” actually applies most to the atmic plane—its fifth level (counting from above). |
84. Nếu tôi phải liên hệ những từ ngữ mỹ lệ, êm tai ấy với ba phương diện của Tam Nguyên Tinh Thần, tôi sẽ liên hệ “đồng hóa” với atma, “tham dự” với Bồ đề và “chứng nghiệm tổng hợp” với manas, dù về bản chất, tất cả chúng đều chỉ những trạng thái vượt lên trên manas. Yếu tố “chứng nghiệm” thật ra áp dụng nhiều nhất cho cõi atma — cấp độ thứ năm của nó, tính từ trên xuống. |
|
85. Perhaps the point is that the next time we see the words “loving understanding” we shall search more deeply for their true meaning which, we know, lies beyond dualistic interpretation. It is only the “merged soul” which understands “loving understanding”. |
85. Có lẽ điểm chính là lần tới khi chúng ta thấy những từ “sự thấu hiểu đầy bác ái”, chúng ta sẽ tìm kiếm sâu hơn ý nghĩa chân thật của chúng, vốn, như chúng ta biết, nằm ngoài diễn giải nhị nguyên. Chỉ “linh hồn đã hòa nhập” mới thấu hiểu “sự thấu hiểu đầy bác ái”. |
|
86. When the Christ said “Lo, I am with you…” He was speaking in loving-understanding. The word “with” is the bridge, which unifies the “I” and the “you”. |
86. Khi Đức Christ nói “Này, Ta ở cùng các ngươi…”, Ngài đang nói trong sự thấu hiểu đầy bác ái. Từ “cùng” là cây cầu, hợp nhất “Ta” và “các ngươi”. |
|
87. The colloquial questions often heard during explanations, “Are you with me?”, may have a deeper meaning than we usually suspect. |
87. Những câu hỏi thông tục thường được nghe trong khi giải thích, “Bạn có theo kịp tôi không?”, có thể mang một ý nghĩa sâu xa hơn chúng ta thường ngờ. |
|
On atmic levels, the levels of the spiritual will, are to be found the Ashrams of those Masters Who are interpreting the will of Shamballa and to Whom is committed the task of transmitting the purpose and organising the plans whereby that purpose can be fulfilled. As on manasic levels the Ashrams as a whole are presided over by the Master R., the Lord of Civilisation, so on buddhic levels all Ashrams are supervised by the Master K.H., with the aid of myself (the Master D.K.) and three senior and initiated [Page 170] disciples; the objective is the unfoldment of group awareness and of loving understanding, in order that the forms prepared and conditioned under the supervision of the Master R. may be sensitised and become increasingly conscious of reality through the development of an inner mechanism of light which—in its turn—will condition and develop the outer mechanism of contact. Ashrams on atmic levels are under the control of the Master M., Who fosters the will aspect within the developed forms and Who (as the Old Commentary expresses it) “adds darkness unto light so that the stars appear, for in the light the stars shine not, but in the darkness light diffused is not, but only focussed points of radiance.” The symbolism will be obvious to you though not the full significance. |
Trên các cấp độ atma, các cấp độ của ý chí tinh thần, có thể tìm thấy các ashram của những Chân sư đang diễn giải ý chí của Shamballa và được giao phó nhiệm vụ truyền đạt thiên ý và tổ chức các kế hoạch nhờ đó thiên ý ấy có thể được hoàn thành. Cũng như trên các cấp độ manas, toàn thể các ashram được Chân sư R., Chúa Tể của Văn Minh, chủ trì, thì trên các cấp độ Bồ đề, mọi ashram đều được Chân sư K.H. giám sát, với sự trợ giúp của chính tôi, Chân sư D.K., và ba đệ tử cao cấp đã được điểm đạo [Page 170]; mục tiêu là sự khai mở nhận thức nhóm và sự thấu hiểu đầy bác ái, để các hình tướng đã được chuẩn bị và tác động dưới sự giám sát của Chân sư R. có thể được làm cho nhạy bén và ngày càng có ý thức hơn về thực tại thông qua sự phát triển của một bộ máy ánh sáng bên trong, bộ máy này — đến lượt nó — sẽ tác động và phát triển bộ máy tiếp xúc bên ngoài. Các ashram trên các cấp độ atma nằm dưới sự điều khiển của Chân sư M., Đấng nuôi dưỡng phương diện ý chí bên trong các hình tướng đã phát triển và Đấng, như Cổ Luận diễn tả, “thêm bóng tối vào ánh sáng để các vì sao xuất hiện, vì trong ánh sáng các vì sao không tỏa sáng, nhưng trong bóng tối, ánh sáng khuếch tán không còn nữa, mà chỉ còn những điểm rạng rỡ tập trung.” Biểu tượng này sẽ rõ ràng đối với các bạn, dù thâm nghĩa trọn vẹn thì không. |
|
88. The atmic Ashrams are not many, especially upon our second ray planet (i.e., second ray in its soul). They relate more to preparation for the coming solar system—the third by one way of counting (the fifth from another)—in which the principle of will will predominate. |
88. Các ashram atma không nhiều, đặc biệt trên hành tinh cung hai của chúng ta, tức là cung hai trong linh hồn của nó. Chúng liên hệ nhiều hơn đến sự chuẩn bị cho hệ mặt trời sắp tới — hệ thứ ba theo một cách đếm, và là hệ thứ năm theo một cách khác — trong đó nguyên khí ý chí sẽ chiếm ưu thế. |
|
89. Notice in the work of these first ray Masters, how the first, third and seventh rays are involved in Their work. The third ray Word of Power (seemingly relating the third to the first ray) “Purpose Itself am I” relates to Their work. |
89. Hãy lưu ý trong công việc của các Chân sư cung một này, cung một, cung ba và cung bảy đều tham dự vào công việc của Các Ngài như thế nào. Quyền năng từ của cung ba, dường như liên hệ cung ba với cung một, “Chính Thiên Ý là Tôi”, liên hệ với công việc của Các Ngài. |
|
90. The scope of Their awareness must be vast, indeed. Shamballa, we are told, is related to simplicity and simplification, but also to comprehensive breadth. |
90. Phạm vi nhận thức của Các Ngài hẳn thật sự bao la. Chúng ta được dạy rằng Shamballa liên hệ với tính đơn giản và sự giản lược, nhưng cũng liên hệ với tầm bao quát rộng lớn. |
|
91. The task of “interpreting the will of Shamballa” again suggests Mercury and the third ray. It is interesting to realize that the Will of Shamballa is not easy of apprehension even to a Master. It seems that Masters must heighten Their own point of tension to understand it. Then they have to find a way to relate it to the planetary kingdom which embodies the third aspect—namely, humanity. |
91. Nhiệm vụ “diễn giải ý chí của Shamballa” một lần nữa gợi đến Sao Thủy và cung ba. Thật thú vị khi nhận ra rằng Ý Chí của Shamballa không dễ nắm bắt ngay cả đối với một Chân sư. Dường như các Chân sư phải nâng cao điểm tập trung nhất tâm của chính Các Ngài để thấu hiểu nó. Rồi Các Ngài phải tìm một cách liên hệ nó với giới hành tinh thể hiện phương diện thứ ba — tức là nhân loại. |
|
92. Notice the relationship between the Masters Who supervise these three distinct types of Ashrams: Master Morya, Master Koot-Hoomi and Master Rakoczi (once a seventh ray Master and now the Mahachohan or “Lord of Civilization”, functioning, presumably, upon the third ray—the presumable ray of His Monad—as well). |
92. Hãy lưu ý mối liên hệ giữa các Chân sư giám sát ba loại ashram khác biệt này: Chân sư Morya, Chân sư Koot-Hoomi và Chân sư Rakoczi, trước kia là một Chân sư cung bảy và nay là Đức Mahachohan hay “Chúa Tể Văn Minh”, có lẽ cũng đang hoạt động trên cung ba — cung được cho là cung chân thần của Ngài. |
|
“When, for instance, the Master R. assumed the task of Mahachohan or Lord of Civilisation, His Ashram was shifted from the seventh Ray of Ceremonial Order to the third Ray of Active Intelligence; the majority of those who have taken the second and the third initiations were transferred with Him under what might be called a “special dispensation[1]“; the rest of the members of His Ashram remained for tuition and training in service under that Master Who took His place as the central point of the seventh ray Ashram.” (DINA II 383) |
“Chẳng hạn, khi Chân sư R. đảm nhận nhiệm vụ của Đức Mahachohan hay Chúa Tể của Văn Minh, ashram của Ngài được chuyển từ cung bảy của Trật Tự Nghi Lễ sang cung ba của Trí Tuệ Linh Hoạt; đa số những người đã nhận lần điểm đạo thứ hai và thứ ba được chuyển cùng với Ngài theo điều có thể gọi là một “sự chuẩn miễn đặc biệt”; phần còn lại của các thành viên trong ashram của Ngài ở lại để được giáo huấn và huấn luyện trong phụng sự dưới quyền Chân sư đã thay thế Ngài làm điểm trung tâm của ashram cung bảy.” (DINA II 383) |
|
93. All of these supervisors are, of course, Chohans, (minimally, initiates of the sixth degree). |
93. Tất cả những vị giám sát này, dĩ nhiên, đều là Chohan, tức tối thiểu là các điểm đạo đồ bậc sáu. |
|
94. The numbers related to the supervision of the second group are interesting. The main number is five: Master KH, Master DK (His disciple and assistant) and three senior and initiated disciples (almost certainly initiates of the fourth degree). |
94. Những con số liên hệ với sự giám sát của nhóm thứ hai rất thú vị. Con số chính là năm: Chân sư KH, Chân sư DK, đệ tử và phụ tá của Ngài, cùng ba đệ tử cao cấp đã được điểm đạo, gần như chắc chắn là các điểm đạo đồ bậc bốn. |
|
95. The number five is closely related to the second ray. This has been much emphasized in the work on cycles done by the astrologer Stephen Pugh. The Tibetan brings the five hundred year second ray cycle to our attention in the following: |
95. Con số năm có liên hệ mật thiết với cung hai. Điều này đã được nhấn mạnh nhiều trong công trình về các chu kỳ do nhà chiêm tinh Stephen Pugh thực hiện. Chân sư Tây Tạng đưa chu kỳ cung hai kéo dài năm trăm năm đến sự chú ý của chúng ta trong đoạn sau: |
|
“Ray two has a rapidly recurring cycle. This is due to its excessive potency. Being the major ray of our solar system (of which all the other rays are but aspects), it might be said that this ray is really never out of incarnation. There are nevertheless constant cycles of waxing and waning potency, produced by the interplay of the rays which produce what is called in the ancient archives ‘the intrusion of one or another of the seven Brothers Who block the door from whence the force emerges’, and “the disappearance of that radiant Brother Who passes on His way and leaves behind an open door through which another Brother can pass upon His mission preordained.” The symbolism is clear. The cycles of the second ray are dynamic and recur in a regular rhythm at this time and during the twenty-five thousand years of a zodiacal cycle in sequences of five hundred years.” (EP I, 349) |
“Cung hai có một chu kỳ tái diễn nhanh chóng. Điều này là do quyền năng quá mức của nó. Vì là cung chính của hệ mặt trời chúng ta, mà mọi cung khác chỉ là các phương diện của nó, có thể nói rằng cung này thật ra không bao giờ ra khỏi lâm phàm. Tuy nhiên, vẫn có những chu kỳ liên tục của quyền năng tăng trưởng và suy giảm, do sự tương tác của các cung tạo ra điều được gọi trong các văn khố cổ là ‘sự xâm nhập của một hay một Đấng Huynh Đệ khác trong số bảy Huynh Đệ, Những Đấng chặn cánh cửa từ nơi mãnh lực tuôn ra’, và “sự biến mất của Đấng Huynh Đệ rạng ngời ấy, Đấng đi trên đường của Ngài và để lại phía sau một cánh cửa mở, qua đó một Huynh Đệ khác có thể đi qua để thực hiện sứ mệnh đã được tiền định của Ngài.” Biểu tượng này rõ ràng. Các chu kỳ của cung hai có tính năng động và vào thời điểm này, cũng như trong suốt hai mươi lăm nghìn năm của một chu kỳ hoàng đạo, chúng tái diễn theo nhịp điệu đều đặn trong các chuỗi năm trăm năm.” (EP I, 349) |
|
96. It seems that the numbers two and five often occur together. The soul (representing the second aspect of deity) is focused on the fifth plane of mind. The principle rays of Sirius are two and five, as are the rays of the Solar Angels taken as a group. Thus, to see five initiates overseeing the work of the buddhic group of Ashrams is fitting. |
96. Dường như các con số hai và năm thường xuất hiện cùng nhau. Linh hồn, đại diện cho phương diện thứ hai của Thượng đế, được tập trung trên cõi thứ năm là cõi trí. Các cung chính của Sirius là hai và năm, cũng như các cung của các Thái dương Thiên Thần khi được xét như một nhóm. Vì vậy, việc thấy năm điểm đạo đồ giám sát công việc của nhóm ashram Bồ đề là điều thích hợp. |
|
97. The objective of this buddhic work is as follows: |
97. Mục tiêu của công việc Bồ đề này như sau: |
|
“…; the objective is the unfoldment of group awareness and of loving understanding, in order that the forms prepared and conditioned under the supervision of the Master R. may be sensitised and become increasingly conscious of reality through the development of an inner mechanism of light which—in its turn—will condition and develop the outer mechanism of contact.” |
“…; mục tiêu là sự khai mở nhận thức nhóm và sự thấu hiểu đầy bác ái, để các hình tướng đã được chuẩn bị và tác động dưới sự giám sát của Chân sư R. có thể được làm cho nhạy bén và ngày càng có ý thức hơn về thực tại thông qua sự phát triển của một bộ máy ánh sáng bên trong, bộ máy này — đến lượt nó — sẽ tác động và phát triển bộ máy tiếp xúc bên ngoài.” |
|
Under Master R.’s supervision, the forms are prepared and conditioned, but an “inner mechanism of light” must be instilled by the second ray group under K.H. This inner light mechanism reveals reality, which lies ‘within’ the world of form. Those under the second ray ever work with consciousness, which, in turn, has its sensitizing effect upon the form. Forms are refined from the “inside out”. The fourth ray (so closely related to buddhi) is the “Corrector of the Form”, and the second ray is the ultimate ‘Refiner of the Form’—related to Shamballic quality of purification. |
Dưới sự giám sát của Chân sư R., các hình tướng được chuẩn bị và tác động, nhưng nhóm cung hai dưới quyền Chân sư K.H. phải thấm nhuần vào đó một “bộ máy ánh sáng bên trong”. Bộ máy ánh sáng bên trong này mặc khải thực tại, vốn nằm “bên trong” thế giới hình tướng. Những vị thuộc cung hai luôn làm việc với tâm thức, và tâm thức này đến lượt nó có tác dụng làm cho hình tướng trở nên nhạy bén. Các hình tướng được tinh luyện từ “trong ra ngoài”. Cung bốn, vốn liên hệ rất mật thiết với Bồ đề, là “Đấng Chỉnh Sửa Hình Tướng”, và cung hai là “Đấng Tinh Luyện Hình Tướng” tối hậu — liên hệ với phẩm tính thanh luyện của Shamballa. |
|
98. Master M. fosters the will aspect within the form, which, fostered, brings the human unit into the synthesis which is. We might say that the work of Master M. leads to ‘establishment in Life’. |
98. Chân sư M. nuôi dưỡng phương diện ý chí bên trong hình tướng; khi được nuôi dưỡng như vậy, phương diện này đưa đơn vị nhân loại vào tổng hợp vốn hiện hữu. Chúng ta có thể nói rằng công việc của Chân sư M. dẫn đến “sự an lập trong Sự Sống”. |
|
99. The Old Commentary describes His work symbolically: it says He |
99. Cổ Luận mô tả công việc của Ngài bằng biểu tượng: sách nói rằng Ngài |
|
“adds darkness unto light so that the stars appear, for in the light the stars shine not, but in the darkness light diffused is not, but only focussed points of radiance.” |
“thêm bóng tối vào ánh sáng để các vì sao xuất hiện, vì trong ánh sáng các vì sao không tỏa sáng, nhưng trong bóng tối, ánh sáng khuếch tán không còn nữa, mà chỉ còn những điểm rạng rỡ tập trung.” |
|
The Tibetan invites us to interpret these words, but assures us we cannot be complete in our interpretation. |
Chân sư Tây Tạng mời chúng ta diễn giải những lời này, nhưng Ngài bảo đảm với chúng ta rằng sự diễn giải của chúng ta không thể trọn vẹn. |
|
100. The light is the light of the soul and the light of the illumined consciousness. But there is also the “dark light of Shamballa”, which Master M. introduces. The spherical diffusion of light ceases to be once the “darkness” is applied, and then the “stars” appear. What are these stars? Not the “stars of the heavens” although one can understand the literal accuracy of the symbolism by referring to the relationship between light of day and the starlight of night. |
100. Ánh sáng là ánh sáng của linh hồn và ánh sáng của tâm thức đã được soi sáng. Nhưng cũng có “ánh sáng tối của Shamballa”, mà Chân sư M. đưa vào. Sự khuếch tán hình cầu của ánh sáng không còn nữa một khi “bóng tối” được áp dụng, và khi ấy các “vì sao” xuất hiện. Những vì sao này là gì? Không phải là “các vì sao trên trời”, dù người ta có thể hiểu tính chính xác theo nghĩa đen của biểu tượng này khi liên hệ ánh sáng ban ngày với ánh sao ban đêm. |
|
101. Although Master M. frequently talks of the phenomenal appearance of inner stars when certain very high or low energies are present (and these Old Commentary words may relate somewhat to this), it may also be that the “great ideas” or archetypes which are part of the Divine Purpose, begin to appear when the black light of Shamballa has overcome the light of soul consciousness. Every star is really the embodiment of a great Idea, a point of specialized quality. The Ideas which pertain to our planetary evolution are assembled and arranged within Shamballa. These Ideas express Shamballic Purpose, which seeks to impose its pattern upon the lower worlds. |
101. Dù Chân sư M. thường nói về sự xuất hiện hiện tượng của các vì sao bên trong khi một số năng lượng rất cao hoặc rất thấp hiện diện, và những lời này của Cổ Luận có thể phần nào liên hệ đến điều đó, cũng có thể rằng các “ý tưởng vĩ đại” hay các nguyên mẫu vốn là một phần của Thiên Ý bắt đầu xuất hiện khi ánh sáng đen của Shamballa đã vượt thắng ánh sáng của tâm thức linh hồn. Mỗi vì sao thật ra là hiện thân của một Ý Tưởng vĩ đại, một điểm của phẩm tính chuyên biệt. Các Ý Tưởng liên quan đến tiến hoá hành tinh của chúng ta được tập hợp và sắp xếp trong Shamballa. Những Ý Tưởng này biểu lộ Thiên Ý Shamballa, vốn tìm cách áp đặt mô hình của nó lên các thế giới thấp hơn. |
|
So, in short, the dark light conferred by Master M, and the first ray Ashrams, reveals the great impersonal Purpose which holds evolution within its will-sustained pattern. |
Vì vậy, nói ngắn gọn, ánh sáng tối do Chân sư M. và các ashram cung một ban truyền mặc khải Thiên Ý phi cá nhân vĩ đại, vốn giữ tiến hoá trong mô hình được ý chí duy trì của nó. |
|
As well, a great sense of the cosmic wholeness or synthesis is revealed when we are no longer blinded by the immediacy of soul consciousness. The first ray gives the big picture and the star-studded heavens (in which our blazing Sun is but a tiny star—one among countless billions) is the symbol of the most immense picture we can conceive. Thus, within the vastness of the night sky all points are seen in relation to each other and our glorious Sun (to which we are so close) becomes “just another star”. Thus, we become decentralized in the largest possible way. Instead of being ‘solar-systemically conscious’ (an analogy to self-conscious), we start moving towards “cosmic consciousness”. We might say that Shamballa bestows the seed of cosmic consciousness—but let us remember that even our Solar Logos does not yet have cosmic consciousness. The universe is a big ‘place’—apparently. |
Đồng thời, một ý thức rộng lớn về tính toàn vẹn hay tổng hợp vũ trụ được mặc khải khi chúng ta không còn bị làm cho mù lòa bởi tính cận kề của tâm thức linh hồn. Cung một đem lại bức tranh toàn cảnh, và bầu trời đầy sao, trong đó Mặt Trời rực cháy của chúng ta chỉ là một ngôi sao nhỏ bé giữa vô số tỷ ngôi sao, là biểu tượng của bức tranh bao la nhất mà chúng ta có thể hình dung. Vì vậy, trong sự bao la của bầu trời đêm, mọi điểm đều được thấy trong mối liên hệ với nhau, và Mặt Trời huy hoàng của chúng ta, mà chúng ta ở rất gần, trở thành “chỉ là một ngôi sao khác”. Do đó, chúng ta trở nên phi tập trung vào bản thân theo cách rộng lớn nhất có thể. Thay vì “có tâm thức theo hệ mặt trời”, một tương đồng với ngã-thức, chúng ta bắt đầu tiến về phía “tâm thức vũ trụ”. Chúng ta có thể nói rằng Shamballa ban cho hạt giống của tâm thức vũ trụ — nhưng chúng ta hãy nhớ rằng ngay cả Thái dương Thượng đế của chúng ta cũng chưa có tâm thức vũ trụ. Vũ trụ là một “nơi” rộng lớn — dường như vậy. |
|
One further point of consideration: diffusion relates to the second ray. The action of a ray (in general) is diffusion. A ray represents the middle principle—neither Spirit nor Matter, and the entire Science of the Seven Rays is pursued along the second ray line; it is a second ray study. The Old Commentary is telling us of a movement from diffusion to intensest concentration/centralization—in short, a movement from the second ray to the first. It is this type of movement for which Master M. (in relation to our humanity) is responsible. |
Một điểm nữa để suy xét: sự khuếch tán liên hệ với cung hai. Tác động của một cung, nói chung, là sự khuếch tán. Một cung đại diện cho nguyên khí trung gian — không phải Tinh thần cũng không phải Vật chất, và toàn bộ Khoa Học về Bảy Cung được theo đuổi theo đường lối cung hai; đó là một nghiên cứu thuộc cung hai. Cổ Luận đang nói với chúng ta về một chuyển động từ khuếch tán đến sự tập trung mãnh liệt nhất hay sự quy tâm — nói ngắn gọn, một chuyển động từ cung hai sang cung một. Chính Chân sư M., trong liên hệ với nhân loại chúng ta, chịu trách nhiệm về loại chuyển động này. |
|
Embracing, fusing and unifying the endeavour of all these groups of Ashrams, stands the living Christ, the Head of all Ashrams and the Master of the Masters, the Mediator between Shamballa and the Hierarchy and between the Hierarchy and Humanity. Will you gain some insight into the all-pervading conditions if I state that His work of mediating between humanity and the Hierarchy was perfected by Him and carried to a conclusion when He was last on Earth, and that He is now achieving facility in the higher mediatorship which will bring about a closer relation of the Hierarchy with Shamballa at this time. This mediatory work, based on the blending of the spiritual will (which He has already developed) with the universal will (which He is developing), marks for Him a goal which will be consummated when He takes the ninth initiation. These are great mysteries and I only indicate them in order to convey to you a sense of the synthesis of the whole scheme and a recognition of the urge-to-good which pervades every aspect of the planetary Life from the smallest atom of substance, through all the intermediate living forms, on and up to the planetary Logos Himself. |
Bao trùm, dung hợp và hợp nhất nỗ lực của tất cả các nhóm ashram này là Đức Christ hằng sống, Đấng Đứng Đầu mọi ashram và là Chân sư của các Chân sư, Đấng Trung Gian giữa Shamballa và Thánh Đoàn, giữa Thánh Đoàn và Nhân Loại. Liệu các bạn có đạt được phần nào minh triết về những điều kiện thấm nhuần tất cả nếu tôi nói rằng công việc trung gian của Ngài giữa nhân loại và Thánh Đoàn đã được Ngài hoàn thiện và đưa đến kết thúc khi Ngài hiện diện lần cuối trên Trái Đất, và rằng hiện nay Ngài đang đạt được sự thành thạo trong vai trò trung gian cao hơn, điều sẽ đem lại một mối quan hệ gần gũi hơn giữa Thánh Đoàn và Shamballa vào lúc này. Công việc trung gian này, dựa trên sự hòa hợp giữa ý chí tinh thần mà Ngài đã phát triển với ý chí vũ trụ mà Ngài đang phát triển, đánh dấu cho Ngài một mục tiêu sẽ được hoàn tất khi Ngài nhận lần điểm đạo thứ chín. Đây là những huyền nhiệm lớn lao, và tôi chỉ nêu ra chúng nhằm truyền đạt cho các bạn một ý thức về sự tổng hợp của toàn bộ hệ hành tinh và một nhận biết về thôi thúc-hướng-thiện thấm nhuần mọi phương diện của Sự Sống hành tinh, từ nguyên tử chất liệu nhỏ bé nhất, qua mọi hình tướng sống trung gian, tiến lên mãi đến chính Hành Tinh Thượng đế. |
|
102. Note the term “living Christ”. In the use of the word “living” lies all the difference. Of course, it means ‘vibrantly alive’, but it also relates the Christ to the Life Aspect and to Shamballa, of which He is now very definitely a member. |
102. Hãy lưu ý thuật ngữ “Đức Christ hằng sống”. Trong việc dùng từ “hằng sống” có toàn bộ sự khác biệt. Dĩ nhiên, nó có nghĩa là “sống động mãnh liệt”, nhưng nó cũng liên hệ Đức Christ với Phương diện Sự Sống và với Shamballa, mà hiện nay Ngài rất rõ ràng là một thành viên. |
|
103. Further, the Christ being a seventh degree initiate (or at least He has taken the first part of that initiation, we are told) has begun to live in the solar systemic sense—for He has been related to the Solar Logos (and especially the solar logoic “Heart”) in a new a living way. He has attained Mastership in the sequence of solar initiations—the fifth solar initiation (which is the seventh planetary). This may mean that He is now related to the solar logoic Hierarchy, and not just the Spiritual Hierarchy of our little planet. Sanat Kumara is a member of this Solar Logoic Hierarchy, and the Christ is His student. Since the Christ is starting to come into rapport with the cosmic astral plane, He is truly starting to live beyond the stultifying ‘atmosphere’ of the cosmic physical plane. Though, this process of living beyond may not be completed until the ninth initiation. |
103. Hơn nữa, vì Đức Christ là một điểm đạo đồ bậc bảy, hay ít nhất, như chúng ta được cho biết, Ngài đã trải qua phần đầu của lần điểm đạo ấy, nên Ngài đã bắt đầu sống theo ý nghĩa thuộc hệ mặt trời, vì Ngài đã liên hệ với Thái dương Thượng đế, và đặc biệt với “Tâm” của Thái dương Thượng đế, theo một cách mới mẻ và sống động. Ngài đã đạt tới Quyền Chân sư trong chuỗi các lần điểm đạo thái dương, tức lần điểm đạo thái dương thứ năm, vốn là lần điểm đạo hành tinh thứ bảy. Điều này có thể hàm ý rằng hiện nay Ngài liên hệ với Thánh Đoàn của Thái dương Thượng đế, chứ không chỉ với Huyền Giai Tinh Thần của hành tinh nhỏ bé chúng ta. Đức Sanat Kumara là một thành viên của Thánh Đoàn Thái dương Thượng đế này, và Đức Christ là môn sinh của Ngài. Vì Đức Christ đang bắt đầu đi vào tương giao với cõi cảm dục vũ trụ, nên Ngài thực sự đang bắt đầu sống vượt khỏi “bầu khí quyển” làm tê liệt của cõi hồng trần vũ trụ. Tuy nhiên, tiến trình sống vượt khỏi này có thể chưa hoàn tất cho đến lần điểm đạo thứ chín. |
|
104. These, then, are some thoughts which one can ponder in relation to the term “living Christ”. |
104. Vậy, đây là một vài tư tưởng mà người ta có thể suy ngẫm liên quan đến thuật ngữ “Đức Christ hằng sống”. |
|
105. In case there was any doubt about the power of the energy of Love, it is precisely because the Christ is such a great exponent of the Ray of Love that He can be head of all the Ashrams and the “Master of the Masters”. He has advanced far beyond the specialization of the various Ashrams, except that He specializes in the Love which unites them all. |
105. Nếu từng có bất kỳ nghi ngờ nào về quyền năng của năng lượng Bác Ái, thì chính vì Đức Christ là một vị biểu đạt vĩ đại của Cung Bác Ái mà Ngài có thể là vị đứng đầu tất cả các ashram và là “Chân sư của các Chân sư”. Ngài đã tiến xa vượt khỏi sự chuyên biệt của các ashram khác nhau, ngoại trừ việc Ngài chuyên biệt trong Tình thương hiệp nhất tất cả các ashram ấy. |
|
106. The second ray is a ray of the mediator: the fourth ray shares in this mediating ability. Christ was the mediator between Hierarchy and humanity; now He mediates as well between Shamballa and Hierarchy. |
106. Cung hai là cung của đấng trung gian: cung bốn chia sẻ năng lực trung gian này. Đức Christ đã là đấng trung gian giữa Thánh Đoàn và nhân loại; nay Ngài cũng làm trung gian giữa Shamballa và Thánh Đoàn. |
|
107. Both Mercury and Venus are planets of mediation. The Buddha is, in a way, “Mercury” and His task has been, for an unspecified time, the mediation between Shamballa and Hierarchy. The Christ is, in a way, Venus, and He seems to be preparing to take over the Buddha’s task. Although both the Christ and Buddha are participating in the great transformations imminent in the New Age, the Christ, only perhaps, will be “with us” slightly longer than the Buddha (though both will complete the seventh initiation together—so we are told.) |
107. Cả Sao Thủy lẫn Sao Kim đều là các hành tinh của sự trung gian. Đức Phật, theo một cách nào đó, là “Sao Thủy”, và trong một thời gian không xác định, nhiệm vụ của Ngài là làm trung gian giữa Shamballa và Thánh Đoàn. Đức Christ, theo một cách nào đó, là Sao Kim, và dường như Ngài đang chuẩn bị đảm nhận nhiệm vụ của Đức Phật. Dù cả Đức Christ lẫn Đức Phật đều đang tham dự vào những chuyển đổi lớn lao sắp xảy ra trong Kỷ Nguyên Mới, có lẽ chỉ Đức Christ sẽ “ở với chúng ta” lâu hơn Đức Phật đôi chút, dù cả hai sẽ cùng hoàn tất lần điểm đạo thứ bảy, như chúng ta được cho biết. |
|
“Then the great seventh initiation, which is a dual one (love-wisdom in full manifestation motivated by power and will), will be consummated, and the Buddha and the Christ will together pass before the Lord of the World, together see the glory of the Lord, and together pass to higher service of a nature and calibre unknown to us.” (R&I 83-84) |
“Khi ấy, lần điểm đạo thứ bảy vĩ đại, vốn là một lần điểm đạo kép, Bác Ái – Minh Triết biểu hiện trọn vẹn được thúc đẩy bởi quyền năng và ý chí, sẽ được hoàn thành; Đức Phật và Đức Christ sẽ cùng nhau đi qua trước Đức Chúa Tể Thế Giới, cùng nhau chiêm ngưỡng vinh quang của Đức Chúa Tể, và cùng nhau bước vào một sự phụng sự cao hơn, có bản chất và tầm mức mà chúng ta chưa biết.” |
|
“Actually the work of the Buddha for humanity is nearly over, and His long alliance with the race of men has nearly come to an end. The moment that the appearance of the Christ is an accomplished fact, and the rule of right human relations is beginning definitely to condition human living, then the Buddha will pass to the work which awaits Him. One of the senior disciples of the Christ, ranking next to the Christ in hierarchical status, [Page 97] will take His place and carry on the work, connected with mankind. (Reappearance of the Christ 96-97) |
“Thực ra, công việc của Đức Phật đối với nhân loại gần như đã kết thúc, và mối liên minh lâu dài của Ngài với nhân loại cũng gần đi đến hồi kết. Ngay khi sự xuất hiện của Đức Christ trở thành một sự kiện đã hoàn tất, và quy luật về những mối quan hệ đúng đắn của nhân loại bắt đầu tác động một cách rõ rệt lên đời sống nhân loại, thì Đức Phật sẽ chuyển sang công việc đang chờ đợi Ngài. Một trong những đệ tử cao cấp của Đức Christ, đứng ngay sau Đức Christ về địa vị trong Thánh Đoàn, [Page 97] sẽ thay thế Ngài và tiếp tục công việc liên quan đến nhân loại. |
|
108. The Christ, we are told, has already developed the Spiritual Will. This means that He wields the energy of the atmic plane and of the Monad. Now He is developing the “universal will”. This does not mean the Will of the Universal Logos (i.e., the Logos of the entirety of the universe!); we have to remain in co-measurement, and such a presumption would violate every principle of proportion. |
108. Chúng ta được cho biết rằng Đức Christ đã phát triển Ý Chí Tinh Thần. Điều này có nghĩa là Ngài vận dụng năng lượng của cõi atma và của chân thần. Nay Ngài đang phát triển “ý chí vũ trụ”. Điều này không có nghĩa là Ý Chí của Thượng đế Vũ Trụ, tức Thượng đế của toàn thể vũ trụ! Chúng ta phải giữ trong sự tương xứng, và một giả định như thế sẽ vi phạm mọi nguyên tắc về tỉ lệ. |
|
109. We have to define “universe” differently than it is used by today’s cosmologists. Here it means our solar system, the unified whole in which we “live and move and have our being”. And the “universal will” is the Will of the Solar Logos of our solar system, to which Santa Kumara (an older ‘disciple’ than the Christ, and a direct disciple of the Solar Logos) is already responding. As the student of Sanat Kumara, the Christ, too, is beginning to respond to the Will to which His great Teacher responds. |
109. Chúng ta phải định nghĩa “vũ trụ” khác với cách các nhà vũ trụ học ngày nay sử dụng. Ở đây, nó có nghĩa là hệ mặt trời của chúng ta, tổng thể hợp nhất trong đó chúng ta “sống, vận động và hiện hữu”. Và “ý chí vũ trụ” là Ý Chí của Thái dương Thượng đế thuộc hệ mặt trời của chúng ta, mà Đức Sanat Kumara, một “đệ tử” lớn tuổi hơn Đức Christ và là đệ tử trực tiếp của Thái dương Thượng đế, đã đang đáp ứng. Là môn sinh của Đức Sanat Kumara, Đức Christ cũng đang bắt đầu đáp ứng với Ý Chí mà Vị Huấn sư vĩ đại của Ngài đáp ứng. |
|
110. The paragraph seems to suggest that the Christ will take the ninth initiation still within this solar system—perhaps upon this planet (which is said to be a profoundly difficult task, given the conditions of our planet). |
110. Đoạn văn dường như gợi ý rằng Đức Christ sẽ nhận lần điểm đạo thứ chín vẫn trong hệ mặt trời này, có lẽ trên chính hành tinh này, điều được nói là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn xét theo các điều kiện của hành tinh chúng ta. |
|
111. By the time the Christ reaches the ninth initiation, He will be adept in the expression of solar logoic Will (at least with respect to our planet—if He remains in touch with it), but will already be faintly responding to the Will of still greater Entities—perhaps the Logos of the seven solar systems; perhaps even the Will of the One About Whom Naught May Be Said—though necessarily, very faintly. This is merely speculation, with no possibility of human corroboration. There are ways, however, under the Law of Correspondences, to point to the reasonableness of such speculations. |
111. Vào lúc Đức Christ đạt đến lần điểm đạo thứ chín, Ngài sẽ là một chân sư trong việc biểu đạt Ý Chí của Thái dương Thượng đế, ít nhất đối với hành tinh chúng ta, nếu Ngài vẫn còn liên hệ với nó; nhưng Ngài cũng đã bắt đầu đáp ứng một cách mờ nhạt với Ý Chí của những Thực Thể còn vĩ đại hơn nữa, có lẽ là Thượng đế của bảy hệ mặt trời, thậm chí có lẽ là Ý Chí của Đấng Bất Khả Tư Nghị, dù tất yếu là rất mờ nhạt. Đây chỉ là suy đoán, không có khả năng được con người xác chứng. Tuy nhiên, dưới Định luật Tương Ứng, có những cách để chỉ ra tính hợp lý của các suy đoán như vậy. |
|
112. A principle emerges: to develop within oneself the will of a greater entity, one must be identified with that entity. I am not an exponent of the will of the soul, until I know myself, through identification, to be that soul. Thus for the Monad, and for Entities beyond. |
112. Một nguyên lý hiện ra: để phát triển trong chính mình ý chí của một thực thể lớn hơn, người ta phải đồng hoá với thực thể ấy. Tôi không phải là người biểu đạt ý chí của linh hồn cho đến khi tôi biết chính mình, qua sự đồng hoá, là chính linh hồn ấy. Cũng như vậy đối với chân thần, và đối với các Thực Thể vượt xa hơn nữa. |
|
113. “Who am I” has ever higher applications, and ever more profound answers. |
113. “Tôi là ai” có những ứng dụng ngày càng cao hơn, và những câu trả lời ngày càng sâu xa hơn. |
|
114. The Tibetan here speaks of the “urge to good” instead of the “will to good”, but means, essentially, the same thing. If it “pervades every aspect of the planetary Life from the smallest atom of substance, through all the intermediate living forms, on and up to the planetary Logos Himself”, its demonstration in unselfconscious forms is more an urge than a will. Will expresses as urge before self-consciousness is achieved. Yet, withal, it is the driving force towards Good. |
114. Ở đây Chân sư Tây Tạng nói đến “xung lực hướng thiện” thay vì “ý chí hướng thiện”, nhưng về căn bản Ngài muốn nói cùng một điều. Nếu nó “thấm nhuần mọi phương diện của Sự Sống Hành Tinh, từ nguyên tử nhỏ nhất của chất liệu, xuyên qua mọi hình tướng sống trung gian, rồi tiếp tục lên đến chính Hành Tinh Thượng đế”, thì sự biểu lộ của nó trong những hình tướng chưa có ngã thức là một xung lực hơn là một ý chí. Ý chí biểu hiện như xung lực trước khi ngã thức đạt được. Tuy nhiên, dù vậy, nó vẫn là mãnh lực thúc đẩy hướng về Thiện. |
|
115. The Tibetan is wonderful at presenting for us great syntheses, which unite all factors in our mental sphere, expand its horizon and inspire us with a vision of undreamt possibilities. |
115. Chân sư Tây Tạng thật kỳ diệu trong việc trình bày cho chúng ta những tổng hợp lớn lao, những tổng hợp hiệp nhất mọi yếu tố trong khối cầu trí tuệ của chúng ta, mở rộng chân trời của nó và truyền cảm hứng cho chúng ta bằng tầm nhìn về những khả thể chưa từng mơ tới. |
|
The will is too often regarded as a power by means of which things are done, activities are instituted and plans worked out. This general definition is the easiest for men [Page 171] to formulate because it is understood by them in terms of their own self-will, the will to individual self-betterment—selfish and misunderstood at first but tending eventually to selflessness as evolution carries out its beneficent task. Then the will is interpreted in terms of the hierarchical plan, and the effort of the individual man becomes that of negating his self-will and seeking to merge his will with that of the group, the group being itself an aspect of the hierarchical effort. This is a great step onward in orientation and will lead to a change in consciousness eventually. This last sentence is of importance. |
Ý chí quá thường bị xem là một quyền năng nhờ đó sự việc được thực hiện, các hoạt động được khởi xướng và các kế hoạch được triển khai. Định nghĩa tổng quát này là dễ nhất để con người [Page 171] hình thành, vì họ thấu hiểu nó theo ý chí cá nhân của chính họ, ý chí hướng đến sự tự hoàn thiện cá nhân, ban đầu ích kỷ và bị hiểu sai, nhưng cuối cùng có khuynh hướng tiến đến sự vô ngã khi tiến hoá hoàn thành nhiệm vụ từ ái của nó. Khi ấy, ý chí được diễn giải theo Thiên Cơ của Thánh Đoàn, và nỗ lực của cá nhân con người trở thành nỗ lực phủ định ý chí cá nhân của y và tìm cách hòa nhập ý chí của y với ý chí của nhóm, mà chính nhóm lại là một phương diện của nỗ lực Thánh Đoàn. Đây là một bước tiến lớn trong sự định hướng và cuối cùng sẽ dẫn đến một thay đổi trong tâm thức. Câu cuối này có tầm quan trọng. |
|
116. For practical purposes there is nothing wrong with the definition of will as here given. People could learn to be much more effective even in the expression of the lower aspect of will. It is a type of personal will/self-will which, in the life of the initiate, is assumed, and must be placed (as an instrument) at the disposal of the higher will. |
116. Xét về mục đích thực tiễn, không có gì sai trong định nghĩa về ý chí như được nêu ở đây. Con người có thể học để trở nên hữu hiệu hơn nhiều ngay cả trong việc biểu đạt phương diện thấp của ý chí. Đó là một loại ý chí cá nhân, hay ý riêng, mà trong đời sống của điểm đạo đồ được đảm nhận, và phải được đặt, như một khí cụ, dưới quyền sử dụng của ý chí cao hơn. |
|
117. The urge for individual self-betterment has its roots in the Spirit/Monad. It is that which drives, at first, away from the Father (involution) and then back to the Father (evolution). |
117. Xung lực hướng đến sự tự hoàn thiện cá nhân có cội rễ trong Tinh thần/chân thần. Chính nó lúc đầu thúc đẩy đi xa khỏi Cha, tức giáng hạ tiến hoá, rồi sau đó quay trở về với Cha, tức tiến hoá. |
|
118. Spirit can never rest in an imperfect, incomplete condition. By its own agreement, it has become subject to that part of itself which is matter. But this subjugation is never entirely tolerated, and always there is the “drive” or “driving forward” to be rid of the yoke of matter. |
118. Tinh thần không bao giờ có thể an nghỉ trong một trạng thái bất toàn, chưa hoàn tất. Theo sự thuận nhận của chính mình, nó đã trở nên lệ thuộc vào phần của chính nó vốn là vật chất. Nhưng sự lệ thuộc này không bao giờ được hoàn toàn chấp nhận, và luôn luôn có “sức thúc đẩy” hay “sự thúc đẩy tiến tới” để thoát khỏi ách của vật chất. |
|
119. Selfishness, we come to understand, is a necessary phase of development. It is part of the building of the instrument, the personality. That personality must, at first, be pitted against all opposition if its strength is to grow. Later, when it is strong, it is an error to continue an emphasis upon individualism, because the purpose of strengthening has been served. Then, the strong personality is to offer its strength to the guiding soul, which it does do—at length and after much struggle. |
119. Chúng ta dần thấu hiểu rằng ích kỷ là một giai đoạn cần thiết của sự phát triển. Nó là một phần trong việc xây dựng khí cụ, tức phàm ngã. Ban đầu, phàm ngã ấy phải được đặt vào thế đối đầu với mọi sự chống đối nếu sức mạnh của nó muốn tăng trưởng. Về sau, khi nó đã mạnh, việc tiếp tục nhấn mạnh vào chủ nghĩa cá nhân là một sai lầm, bởi mục đích của việc làm cho mạnh đã được hoàn thành. Khi ấy, phàm ngã mạnh mẽ phải dâng hiến sức mạnh của mình cho linh hồn hướng dẫn, và cuối cùng nó thực sự làm điều đó sau nhiều tranh đấu. |
|
120. How does selfish will become transformed into selfless will? For one thing, pain is a great transformer, a quick corrective which is liberally applied upon our planet of “releasing sorrow and purifying pain” (EA, 361) by the higher Agencies to produce liberation. |
120. Làm thế nào ý chí ích kỷ được chuyển đổi thành ý chí vô ngã? Một điều là đau khổ là một tác nhân chuyển đổi lớn lao, một phương thuốc chỉnh sửa nhanh chóng được các Cơ Quan cao siêu áp dụng rộng rãi trên hành tinh của chúng ta, hành tinh của “nỗi buồn giải thoát và đau đớn thanh lọc” (EA, 361) nhằm tạo ra sự giải thoát. |
|
121. Pain reflects the ‘distance’ between the actual and the perfect. Provided there is awareness of the facts, the greater the distance the greater the pain. |
121. Đau khổ phản ánh “khoảng cách” giữa điều hiện thực và điều hoàn hảo. Miễn là có sự nhận biết về các sự kiện, khoảng cách càng lớn thì đau khổ càng lớn. |
|
122. Another transformer of selfish into selfless will is the Spirit’s inherent abhorrence of limitation. Selfish will leads ever to limited, ultimately dissatisfying results. Selfless will, applied, expands the scope of the Spirit’s expressive possibilities. Man, by trial and error, learns this along the Way. |
122. Một tác nhân chuyển đổi khác từ ý chí ích kỷ sang ý chí vô ngã là sự ghê sợ giới hạn vốn có của Tinh thần. Ý chí ích kỷ luôn dẫn đến những kết quả giới hạn và rốt cuộc không thỏa mãn. Khi được áp dụng, ý chí vô ngã mở rộng phạm vi các khả thể biểu đạt của Tinh thần. Con người học được điều này dọc theo Đường Đạo, qua thử nghiệm và sai lầm. |
|
123. Another transformer is a Self-perceived change of identity. As the sense of “who I am” changes, the will changes in step with progressive new identities. |
123. Một tác nhân chuyển đổi khác là sự thay đổi căn tính do Bản Ngã tự nhận biết. Khi cảm thức về “tôi là ai” thay đổi, ý chí cũng thay đổi đồng nhịp với những căn tính mới đang tiến triển. |
|
124. In general, an expanding consciousness is a great transformer. Through an enlarged point of view, one simply outgrows the lower use of the will, which is seen to be counterproductive in the greater scheme of things—increasingly seen. |
124. Nói chung, một tâm thức mở rộng là một tác nhân chuyển đổi lớn lao. Thông qua một quan điểm được mở rộng, người ta đơn giản vượt lớn khỏi cách sử dụng thấp của ý chí, điều được thấy là phản tác dụng trong trật tự lớn lao hơn của sự vật, một trật tự ngày càng được nhìn thấy. |
|
125. The development of will progresses from selfish personal will into group will. As the Tibetan says, |
125. Sự phát triển của ý chí tiến từ ý chí cá nhân ích kỷ sang ý chí nhóm. Như Chân sư Tây Tạng nói, |
|
“the will is interpreted in terms of the hierarchical plan, and the effort of the individual man becomes that of negating his self-will and seeking to merge his will with that of the group, the group being itself an aspect of the hierarchical effort.” |
“ý chí được diễn giải theo Thiên Cơ của Thánh Đoàn, và nỗ lực của cá nhân con người trở thành nỗ lực phủ định ý chí cá nhân của y và tìm cách hòa nhập ý chí của y với ý chí của nhóm, mà chính nhóm lại là một phương diện của nỗ lực Thánh Đoàn.” |
|
Before asserting the individual will, such a person “takes others into consideration”. What do they want? What do they will? This consideration is based upon a growing love and respect of other group members. Because love is the motive, such a movement is increasingly aligned with the motive of Hierarchy, which is Love-Wisdom. |
Trước khi khẳng định ý chí cá nhân, một người như thế “xét đến những người khác”. Họ muốn gì? Họ có ý chí gì? Sự xét đến này đặt nền trên một tình thương và sự tôn trọng ngày càng tăng đối với các thành viên khác trong nhóm. Vì tình thương là động cơ, nên một chuyển động như thế ngày càng được chỉnh hợp với động cơ của Thánh Đoàn, vốn là Bác Ái – Minh Triết. |
|
126. There seems to be a sequence here. If one’s group is truly well-intended and hierarchically aligned, one must serve the will of one’s group first before it really is possible to serve Hierarchy. It is a variation on the idea that the one who loves God most is the one who serves his fellowmen. |
126. Dường như ở đây có một chuỗi trình tự. Nếu nhóm của một người thực sự có thiện chí và được chỉnh hợp với Thánh Đoàn, người ấy phải phụng sự ý chí của nhóm mình trước tiên trước khi thực sự có thể phụng sự Thánh Đoàn. Đó là một biến thể của ý tưởng rằng người yêu Thượng đế nhiều nhất là người phụng sự đồng loại của mình. |
|
127. The Tibetan gives us a sentence which He says is important: “This is a great step onward in orientation and will lead to a change in consciousness eventually.” Action (third aspect) and consciousness (second aspect) interact with each other and can form a ‘virtuous circle’. Does will increase consciousness or does an expanding consciousness develop the real will? Both are true. |
127. Chân sư Tây Tạng cho chúng ta một câu mà Ngài nói là quan trọng: “Đây là một bước tiến lớn trong sự định hướng và cuối cùng sẽ dẫn đến một thay đổi trong tâm thức.” Hành động, phương diện thứ ba, và tâm thức, phương diện thứ hai, tương tác với nhau và có thể tạo thành một “vòng tròn thiện lành”. Ý chí làm tăng tâm thức, hay một tâm thức đang mở rộng phát triển ý chí đích thực? Cả hai đều đúng. |
|
128. What we are looking for in our development is second aspect consciousness, instead of the third aspect consciousness we normally have. The group is a proving-ground, and aligning with its will makes the transition increasingly possible. To do so is truly a reorientation. It is related to the “reversal of the wheel” in esoteric astrology. One begins, slowly at first, to serve the soul. |
128. Điều chúng ta tìm kiếm trong sự phát triển của mình là tâm thức phương diện thứ hai, thay vì tâm thức phương diện thứ ba mà chúng ta thường có. Nhóm là một trường thử nghiệm, và việc chỉnh hợp với ý chí của nhóm khiến sự chuyển tiếp ngày càng khả hữu. Làm như vậy thực sự là một sự tái định hướng. Nó liên quan đến “sự đảo chiều của bánh xe” trong Chiêm Tinh Học Nội Môn. Người ta bắt đầu, lúc đầu chậm rãi, phụng sự linh hồn. |
|
129. A “merging soul” is merging his will with that of the group; one who is merging his will with that of the group is becoming a “merging soul”. |
129. Một “linh hồn đang hòa nhập” đang hòa nhập ý chí của mình với ý chí của nhóm; người đang hòa nhập ý chí của mình với ý chí của nhóm đang trở thành một “linh hồn đang hòa nhập”. |
|
130. The achieve ment of “Life more abundant” is inseparable from a change in the understanding and application of the will. |
130. Việc đạt được “Sự Sống phong phú hơn” không thể tách rời khỏi một thay đổi trong sự thấu hiểu và áp dụng ý chí. |
|
It is at this stage that most aspirants today find themselves. However, the will is in reality something very different to these expressions of it which exist in the human consciousness as men attempt to interpret the divine will in terms of their present point in evolution. The clue to understanding (the clue which will be the easiest for you to understand) is to be found in the words “blotting out all form.” When the lure of substance is overcome and desire dies, then the attractive power of the soul becomes dominant and the emphasis for so long laid upon individual form and individual living and activity gives place to group form and group purpose. Then the attractive power of the Hierarchy and of the Ashrams of the Masters supersedes the lower attractions and the lesser focal points of interest. When these, in their turn, assume their rightful place in consciousness then the dynamic “pull” of Shamballa can be felt, entirely unrelated to form or forms, to a group or groups. Only a group sense of “well-Being,” esoterically understood is realised, for it is comprehended as the will-to-good. No forms can then hold; no group or Ashram can then confine the consciousness of the initiate, and all differences of every kind disappear. This preamble is given in an effort to clarify your minds before we study Rule IX care-fully and arrive at its essential meaning. |
Chính ở giai đoạn này mà phần lớn những người chí nguyện ngày nay đang ở. Tuy nhiên, trong thực tại, ý chí là một điều rất khác với những biểu hiện của nó đang tồn tại trong tâm thức nhân loại khi con người cố gắng diễn giải ý chí thiêng liêng theo điểm tiến hoá hiện tại của mình. Chìa khóa để thấu hiểu, chìa khóa dễ nhất cho các bạn thấu hiểu, được tìm thấy trong những lời “xoá sạch mọi hình tướng”. Khi sức quyến dụ của chất liệu được vượt qua và dục vọng chết đi, khi ấy quyền năng thu hút của linh hồn trở nên thống trị, và sự nhấn mạnh đã đặt quá lâu trên hình tướng cá nhân, đời sống và hoạt động cá nhân, nhường chỗ cho hình tướng nhóm và mục đích nhóm. Khi ấy, quyền năng thu hút của Thánh Đoàn và của các ashram của các Chân sư thay thế những sức hấp dẫn thấp hơn và những tiêu điểm quan tâm nhỏ bé hơn. Khi đến lượt chúng đảm nhận vị trí đúng đắn của mình trong tâm thức, thì “sức kéo” năng động của Shamballa có thể được cảm nhận, hoàn toàn không liên quan đến hình tướng hay các hình tướng, đến nhóm hay các nhóm. Chỉ có một cảm thức nhóm về “sự an lành của Bản Thể”, được hiểu một cách huyền bí, là được chứng nghiệm, vì nó được lĩnh hội như Ý Chí-hướng Thiện. Bấy giờ không hình tướng nào có thể níu giữ; không nhóm hay ashram nào khi ấy có thể giam hãm tâm thức của điểm đạo đồ, và mọi dị biệt thuộc mọi loại đều biến mất. Phần mở đầu này được đưa ra trong nỗ lực làm sáng tỏ trí tuệ của các bạn trước khi chúng ta nghiên cứu Quy luật IX một cách cẩn trọng và đi đến ý nghĩa cốt yếu của nó. |
|
124. The Tibetan has ‘located’ the efforts of most aspirants—trying to blend their little, personal will with the group will. |
124. Chân sư Tây Tạng đã “định vị” những nỗ lực của phần lớn người chí nguyện, tức cố gắng hòa trộn ý chí nhỏ bé, cá nhân của họ với ý chí nhóm. |
|
125. Will is different from what we think, because we are always trying to interpret advanced states and energies in terms of our present consciousness. But what other choice do we have—except to be cautious when doing so? The limited sees the less limited in terms of its own limitation. Gradually, the limited wakes up to the errors in its approximation. The Tibetan expresses this in the following way: |
125. Ý chí khác với điều chúng ta nghĩ, bởi chúng ta luôn cố diễn giải những trạng thái và năng lượng tiến bộ theo tâm thức hiện tại của mình. Nhưng chúng ta còn lựa chọn nào khác, ngoài việc phải thận trọng khi làm như vậy? Cái hữu hạn nhìn cái ít hữu hạn hơn theo chính giới hạn của mình. Dần dần, cái hữu hạn thức tỉnh trước những sai lầm trong sự ước lượng gần đúng của nó. Chân sư Tây Tạng diễn đạt điều này theo cách sau: |
|
“The little evolved cannot comprehend completely the much evolved, and in a lesser degree, the advanced ego comprehends not an initiate. The greater can apprehend the lesser but the reverse is not the case.” (TWM, 113) |
“Cái tiến hoá ít không thể lĩnh hội trọn vẹn cái tiến hoá nhiều, và ở mức độ thấp hơn, chân ngã tiến bộ cũng không lĩnh hội được một điểm đạo đồ. Cái lớn hơn có thể hiểu cái nhỏ hơn, nhưng điều ngược lại thì không đúng.” (TWM, 113) |
|
126. The paragraph immediately above, describing the unfoldment of the true will, is comprehensive is its scope. |
126. Đoạn văn ngay phía trên, mô tả sự khai mở của ý chí chân thật, có phạm vi bao quát. |
|
127. “Blotting out all form” (here discussed), and, under Rule V, “blotting out the light of form”, require deep pondering. One could with profit take these sentences into contemplation for a year. |
127. “Xoá sạch mọi hình tướng”, được bàn ở đây, và dưới Quy luật V, “xoá sạch ánh sáng của hình tướng”, đòi hỏi sự suy ngẫm sâu xa. Người ta có thể hữu ích khi đưa những câu này vào chiêm ngưỡng trong suốt một năm. |
|
128. I will elaborate more upon its meaning when undertaking an analysis of the sentences in the Rule. For now, it should be said that form always remains and it not actually destroyed. To blot our all form is an act of consciousness stimulated by the growing realization of reality. |
128. Tôi sẽ triển khai thêm về ý nghĩa của nó khi tiến hành phân tích các câu trong Quy luật. Hiện giờ, cần nói rằng hình tướng luôn vẫn còn và thực ra không bị hủy diệt. Xoá sạch mọi hình tướng là một hành vi của tâm thức được kích thích bởi sự nhận thức ngày càng tăng về thực tại. |
|
129. Lure is overcome; desire dies; new attractions supersede. This is the ongoing story in the development of the will. |
129. Sức quyến dụ được vượt qua; dục vọng chết đi; những sức hấp dẫn mới thay thế. Đây là câu chuyện đang tiếp diễn trong sự phát triển của ý chí. |
|
130. Always there is a new “pull” from a higher energy center. On Earth we adjudicate between the relative values of contrary “pulls”. The lower pull or attraction is called a “lure” (and, as every fish knows, it is best not to bite). The higher pull or attraction could simply be called ‘spiritual magnetism’. |
130. Luôn luôn có một “sức kéo” mới từ một trung tâm năng lượng cao hơn. Trên Trái Đất, chúng ta phân xử giữa các giá trị tương đối của những “sức kéo” trái ngược. Sức kéo hay sức hấp dẫn thấp hơn được gọi là một “mồi nhử”, và như mọi con cá đều biết, tốt nhất là đừng cắn câu. Sức kéo hay sức hấp dẫn cao hơn có thể đơn giản được gọi là “từ điện tinh thần”. |
|
131. The word “dominant” is important in this context. During the struggle between lower and higher pulls, neither is dominant. What must be achieved, within our hierarchically constructed universe, is that the higher must dominate the lower. The “dominant” in music in relation to the “subdominant” and the “tonic”, reveal the structure by means of which the quality of will advances—from personality, to soul, to Monad. |
131. Từ “thống trị” quan trọng trong bối cảnh này. Trong cuộc tranh đấu giữa những sức kéo thấp và cao, không bên nào thống trị. Điều phải đạt được trong vũ trụ được cấu tạo theo thứ bậc của chúng ta là cái cao phải thống trị cái thấp. “Âm át” trong âm nhạc, trong tương quan với “âm hạ át” và “âm chủ”, mặc khải cấu trúc nhờ đó phẩm tính của ý chí tiến bước, từ phàm ngã, đến linh hồn, đến chân thần. |
|
132. Note the Tibetan’s use of the phrase, “assume their rightful place”. The lower is not ‘bad’, nor the higher, in itself, ‘good’. All things are ‘good in their rightful place’. We can see that the unfoldment of lower will into higher is related to a developing sense of proportion and perspective, which knows the value of every factor and where it is divinely intended to fit. |
132. Hãy lưu ý cách Chân sư Tây Tạng dùng cụm từ “đảm nhận vị trí chính đáng của chúng”. Cái thấp không phải là “xấu”, cũng như cái cao, tự nó, không phải là “tốt”. Mọi sự đều “tốt trong vị trí chính đáng của chúng”. Chúng ta có thể thấy rằng sự khai mở của ý chí thấp thành ý chí cao liên hệ với một Ý thức về tỉ lệ và viễn cảnh đang phát triển, vốn biết giá trị của mọi yếu tố và biết nó được dự định một cách thiêng liêng để khớp vào đâu. |
|
133. After personality and soul assume their rightful place, the Tibetan tells us that the “‘dynamic’ pull’ of Shamballa can be felt, entirely unrelated to form or forms, to a group or groups”. This must be pondered. Shamballa transcends the familiar. It produces a type of awareness in which form and groups are no longer significant factors. Something else takes their place. Perhaps an ‘awareness of an intense synthetic livingness’ which is all-pervading and, essentially, ‘content-less’. |
133. Sau khi phàm ngã và linh hồn đảm nhận vị trí chính đáng của chúng, Chân sư Tây Tạng cho chúng ta biết rằng “‘sức hút ‘năng động’ của Shamballa có thể được cảm nhận, hoàn toàn không liên hệ đến hình tướng hay các hình tướng, đến một nhóm hay các nhóm”. Điều này cần được suy ngẫm. Shamballa vượt lên trên cái quen thuộc. Nó tạo ra một kiểu nhận thức trong đó hình tướng và các nhóm không còn là những yếu tố có thâm nghĩa. Một điều gì khác thế chỗ chúng. Có lẽ đó là một “nhận thức về một sức sống tổng hợp mãnh liệt”, thấm khắp mọi nơi và, về bản chất, “không có nội dung”. |
|
134. Perhaps every day we should spend a few moments in a deliberately formless, ‘group-less’ state of awareness—doing our best to “blot out” or negate form. How would we do this? By attending to the intense, formless omnipresent Presence, which is more real that any form or aggregate of forms (i.e., group) that consciousness usually registers. |
134. Có lẽ mỗi ngày chúng ta nên dành vài khoảnh khắc trong một trạng thái nhận thức cố ý vô hình tướng, “không nhóm”—cố gắng hết sức để “xóa bỏ” hoặc phủ định hình tướng. Chúng ta sẽ làm điều này như thế nào? Bằng cách chú tâm vào Sự Hiện Diện mãnh liệt, vô hình tướng, hiện diện khắp nơi, vốn thực hơn bất cứ hình tướng nào hay tập hợp hình tướng nào, tức là nhóm, mà tâm thức thường ghi nhận. |
|
135. “No forms can then hold; no group or Ashram can then confine the consciousness of the initiate, and all differences of every kind disappear.” The Tibetan is describing an amazing state—amazing to the normal consciousness. The very states towards which we aspire—i.e., group consciousness and Ashramic consciousness—are seen to be limitations when considered in relation to the Shamballic consciousness. |
135. “Khi ấy không hình tướng nào có thể níu giữ; không nhóm hay ashram nào có thể giới hạn tâm thức của điểm đạo đồ, và mọi khác biệt thuộc mọi loại đều biến mất.” Chân sư Tây Tạng đang mô tả một trạng thái kỳ diệu—kỳ diệu đối với tâm thức bình thường. Chính những trạng thái mà chúng ta khát vọng hướng tới—tức là tâm thức nhóm và tâm thức ashram—được thấy là những giới hạn khi xét trong tương quan với tâm thức Shamballa. |
|
136. How is it, that in such a state of consciousness, “all differences of every kind disappear”? We might say that such a consciousness has the power to resolve the many into One. That “One” is essentially undifferentiated, regardless of the appearance of differentiation. It is not that the Shamballically-impressed initiate does not detect normal differences. It is simply that he detects a something far more real than those differences and delineations—a something which absorbs all difference into itself. One can, after all, register apparent difference and not be deluded by it. One can perhaps ‘see’ but certainly ‘be’ the ‘Great Common Denominator’ of all things. One can be so identified with Source, that Source overpowers differentiation, and forces (in consciousness) the differentiated units to resolve back into Source. One, thus, is in an intense Presence all the time. Within this Presence, no differentiation can abide unresolved into Essence. |
136. Làm sao trong một trạng thái tâm thức như thế, “mọi khác biệt thuộc mọi loại đều biến mất”? Chúng ta có thể nói rằng một tâm thức như vậy có quyền năng quy giải cái nhiều vào Đấng Duy Nhất. “Đấng Duy Nhất” ấy về bản chất là không biến phân, bất kể vẻ ngoài của sự biến phân. Không phải điểm đạo đồ chịu ấn tượng Shamballa không nhận ra những khác biệt bình thường. Chỉ đơn giản là y nhận ra một điều gì đó thực hơn rất nhiều so với những khác biệt và đường nét phân định ấy—một điều gì đó hấp thu mọi khác biệt vào chính nó. Sau cùng, người ta có thể ghi nhận khác biệt bề ngoài mà không bị nó đánh lừa. Người ta có thể có lẽ “thấy”, nhưng chắc chắn có thể “là” “Mẫu số chung vĩ đại” của mọi sự. Người ta có thể đồng hoá với Cội Nguồn đến mức Cội Nguồn chế ngự sự biến phân, và buộc các đơn vị đã biến phân, trong tâm thức, phải quy hồi về Cội Nguồn. Như vậy, người ta luôn luôn ở trong một Sự Hiện Diện mãnh liệt. Trong Sự Hiện Diện này, không sự biến phân nào có thể tồn tại mà không được quy giải vào Tinh Túy. |
|
Part II – R&I (172-174) |
Phần II – Cung và Điểm Đạo (172-174) |
|
(All Highlighting, Bolding and Underlining—MDR) |
(Tất cả phần tô sáng, in đậm và gạch dưới—MDR) |
|
Rule IX |
Quy luật IX |
|
Let the group know there are no other selves. Let the group know there is no colour, only light; and then let [Page 172] darkness take the place of light, hiding all difference, blotting out all form. Then—at the place of tension, and at that darkest point—let the group see a point of clear cold fire, and in the fire (right at its very heart) let the One Initiator appear Whose star shone forth when first the Door was passed. |
Hãy để nhóm biết rằng không có những bản ngã nào khác. Hãy để nhóm biết rằng không có màu sắc, chỉ có ánh sáng; và rồi hãy để [Page 172] bóng tối thế chỗ ánh sáng, che giấu mọi khác biệt, xóa bỏ mọi hình tướng. Khi ấy—tại điểm tập trung nhất tâm, và tại điểm tối tăm nhất ấy—hãy để nhóm thấy một điểm lửa trong trẻo lạnh lẽo, và trong ngọn lửa, ngay chính nơi tâm điểm của nó, hãy để Đấng Điểm Đạo Duy Nhất xuất hiện, Đấng mà ngôi sao của Ngài đã tỏa sáng khi Cánh Cửa lần đầu được vượt qua. |
|
1. The analysis of each of these sentences will come during the particular months of study during which each is the focus of group attention. |
1. Việc phân tích từng câu này sẽ diễn ra trong những tháng nghiên cứu đặc thù, khi mỗi câu trở thành trọng tâm chú ý của nhóm. |
|
2. As I ponder the substance of the commentary below, I am aware of how many great thoughts the Tibetan has included within this section. We could certainly expand our consideration of these jewels. |
2. Khi tôi suy ngẫm chất liệu của phần bình luận dưới đây, tôi nhận thức được Chân sư Tây Tạng đã đưa vào phần này biết bao tư tưởng lớn lao. Chúng ta chắc chắn có thể mở rộng sự xem xét của mình đối với những viên ngọc quý này. |
|
3. The entirety of the Rules suggests the initiation into being and monadic realization. There is reason to believe that the Rule can refer to the fifth initiation. |
3. Toàn thể các Quy luật gợi ý cuộc điểm đạo vào bản thể và sự chứng nghiệm chân thần. Có lý do để tin rằng Quy luật này có thể quy chiếu đến lần điểm đạo thứ năm. |
|
The greatest problem facing aspirants and disciples prior to the third initiation is that of comprehending the nature of identification. This concerns (in the first instance) the relation of the self to the Self and of all selves to the all-inclusive SELF. It involves the mystery of duality with which they are occupied, and the very moment that theory as to essential unity becomes definite realisation, then the realm of synthesis is entered. For that type of realisation, language as we now have it has no words, and it is therefore impossible to formulate concepts to interpret the consequent and resultant state of being. “Identification with” is the phrase which approaches the closest to the initial idea, and until man has grasped his identical at-one-ness with even one human being, it is not possible for him even to think about it in any truly constructive manner. The complete fusion of the negative and the positive aspects in marriage, at the moment that life is transmitted and transferred, is the only tangible though unsatisfactory symbol of this life-sharing process which takes place when an individual or a group knows actually and not simply theoretically that “there are no other selves.” |
Vấn đề lớn nhất mà những người chí nguyện và đệ tử phải đối diện trước lần điểm đạo thứ ba là việc thấu hiểu bản chất của sự đồng hoá. Điều này liên quan, trước hết, đến mối quan hệ của bản ngã với Bản Ngã, và của mọi bản ngã với ĐẠI NGÃ bao gồm tất cả. Nó bao hàm huyền nhiệm của Nhị nguyên mà họ đang bận tâm, và ngay khoảnh khắc lý thuyết về sự hợp nhất cốt yếu trở thành chứng nghiệm xác định, thì cõi giới của tổng hợp được bước vào. Đối với loại chứng nghiệm ấy, ngôn ngữ như chúng ta hiện có không có lời nào, và do đó không thể hình thành các quan niệm để diễn giải trạng thái bản thể phát sinh và hệ quả ấy. “Đồng hoá với” là cụm từ đến gần nhất với ý tưởng ban đầu, và cho đến khi con người nắm bắt được tính hợp nhất đồng nhất của mình với dù chỉ một con người khác, y thậm chí không thể suy nghĩ về điều đó theo bất cứ cách nào thật sự xây dựng. Sự dung hợp hoàn toàn của các phương diện âm và dương trong hôn nhân, vào khoảnh khắc sự sống được truyền và chuyển dịch, là biểu tượng hữu hình duy nhất, dù chưa thỏa đáng, của tiến trình chia sẻ sự sống này, vốn diễn ra khi một cá nhân hay một nhóm biết một cách thực sự chứ không chỉ trên lý thuyết rằng “không có những bản ngã nào khác”. |
|
4. Another profound paragraph. Notice how identification is a theme which engages the effort of the second degree initiate prior to the third initiation. “Mental illumination” is characteristic of the initiate of the second degree “whilst spiritual perception or intuitive instinct signifies preparedness for the Transfiguration, the third initiation.” (DINA II, 267) |
4. Lại là một đoạn văn sâu sắc khác. Hãy lưu ý rằng sự đồng hoá là một chủ đề cuốn hút nỗ lực của điểm đạo đồ cấp hai trước lần điểm đạo thứ ba. “Sự soi sáng trí tuệ” là đặc trưng của điểm đạo đồ cấp hai, “trong khi tri giác tinh thần hay bản năng trực giác biểu thị sự sẵn sàng cho cuộc Biến hình, lần điểm đạo thứ ba.” (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới II, 267) |
|
5. It is, therefore, possible to relate the growth in the power to identify with the development of “spiritual perception” and “intuitive instinct”—qualities associated with the third degree. The “illumined mind” and “spiritual intelligence”, necessary at the second degree, prepare the way for entry into the state of identification. |
5. Do đó, có thể liên hệ sự tăng trưởng trong quyền năng đồng hoá với sự phát triển của “tri giác tinh thần” và “bản năng trực giác”—những phẩm tính gắn liền với cấp ba. “Thể trí được soi sáng” và “trí tuệ tinh thần”, cần thiết ở cấp hai, chuẩn bị con đường để bước vào trạng thái đồng hoá. |
|
6. What is being said here is that the intuition reveals the truth of identification. Intuition is far more than a “psychic hunch[2]” (as the Tibetan has informed us). Intuition deals with whole and wholeness. Identification with the part leads, progressively, to identification with the whole. |
6. Điều đang được nói ở đây là trực giác mặc khải chân lý của sự đồng hoá. Trực giác vượt xa một “linh cảm thông linh” như Chân sư Tây Tạng đã cho chúng ta biết. Trực giác đề cập đến toàn thể và tính toàn vẹn. Sự đồng hoá với phần dần dần dẫn đến sự đồng hoá với toàn thể. |
|
7. We are told that identification “concerns (in the first instance) the relation of the self to the Self and of all selves to the all-inclusive SELF.” Three levels of selfhood are here referenced—the personal self, the self as soul, and the self as the one and only Universal Self—i.e., SELF (to which identification as the Monad gives entrée). |
7. Chúng ta được cho biết rằng sự đồng hoá “liên quan, trước hết, đến mối quan hệ của bản ngã với Bản Ngã, và của mọi bản ngã với ĐẠI NGÃ bao gồm tất cả.” Ở đây có ba cấp độ của bản ngã tính được quy chiếu—bản ngã cá nhân, bản ngã với tư cách linh hồn, và bản ngã với tư cách Bản Ngã Vũ Trụ duy nhất—tức là ĐẠI NGÃ, mà sự đồng hoá như chân thần mở lối đi vào. |
|
8. Realistically, this process of identifying with and as the SELF cannot be said to achieve its fullest intensity with the tiny human being. The great Logoi—planetary, solar, constellational, and super-constellational are all progressively identifying with the “Universal Self”, and Their capacity to do so is so much greater than that of the human being, that it is impossible for us to conceive what identification means for Them. |
8. Một cách thực tế, không thể nói rằng tiến trình đồng hoá với và như ĐẠI NGÃ này đạt tới cường độ trọn vẹn nhất nơi con người bé nhỏ. Các Thượng đế vĩ đại—hành tinh, thái dương, chòm sao và siêu chòm sao—tất cả đều đang dần dần đồng hoá với “Bản Ngã Vũ Trụ”, và năng lực của Các Ngài để làm như vậy lớn hơn năng lực của con người đến mức chúng ta không thể quan niệm sự đồng hoá có nghĩa gì đối với Các Ngài. |
|
9. Pause for a moment to consider the words, “with” and “as”. Identification “with” the Self or SELF still suggests duality—one thing linked to another. Identification as the Self or Self, eliminates the duality and suggests fusion and merging—the emergence of only one identity whereas before there were two. |
9. Hãy dừng lại một khoảnh khắc để xem xét các từ “với” và “như”. Sự đồng hoá “với” Bản Ngã hay ĐẠI NGÃ vẫn gợi ý nhị nguyên—một sự vật được nối kết với một sự vật khác. Sự đồng hoá như Bản Ngã hay ĐẠI NGÃ loại bỏ nhị nguyên và gợi ý sự dung hợp cùng hòa nhập—sự xuất hiện của chỉ một bản sắc, trong khi trước đó có hai. |
|
10. Why should duality be a “mystery”? Fundamentally, because the fact of unity contradicts appearance. In that World of Appearance all is dualistic. This deluding illusion must be solved by the inner consciousness, and how the solution comes is fundamentally mysterious. There is not a set formula for converting the illusion of duality into the realization of unity and oneness. |
10. Tại sao Nhị nguyên lại là một “huyền nhiệm”? Về căn bản, bởi vì sự kiện hợp nhất mâu thuẫn với vẻ ngoài. Trong Thế Giới của Sắc Tướng ấy, tất cả đều mang tính nhị nguyên. Ảo tưởng đánh lừa này phải được tâm thức bên trong giải quyết, và cách giải quyết xuất hiện ra sao, về căn bản, là huyền nhiệm. Không có một công thức cố định nào để chuyển hóa ảo tưởng của Nhị nguyên thành chứng nghiệm về sự hợp nhất và tính nhất như. |
|
11. Perhaps we might call the solution and gradual wearing away or dissolution of boundaries. |
11. Có lẽ chúng ta có thể gọi giải pháp ấy là sự hao mòn dần dần hay sự tan rã của các ranh giới. |
|
12. Mind, as ordinarily used, is not very good at dissolving boundaries, but the heart is very good. We can see how the combined potencies of Pisces, Neptune, Jupiter, the first and second rays all enter into the task—for these are the subtle energies which destroy, dissolve, wear away boundaries. We note that Neptune and Jupiter and both active at the second initiation after which the art and science of identification become important to the advancing disciple. |
12. Thể trí, như thường được sử dụng, không giỏi lắm trong việc làm tan rã các ranh giới, nhưng tâm thì rất giỏi. Chúng ta có thể thấy cách các quyền năng phối hợp của Song Ngư, Sao Hải Vương, Sao Mộc, cung một và cung hai đều tham gia vào nhiệm vụ này—vì đây là những năng lượng vi tế phá hủy, làm tan rã, bào mòn các ranh giới. Chúng ta lưu ý rằng Sao Hải Vương và Sao Mộc đều hoạt động tại lần điểm đạo thứ hai, sau đó nghệ thuật và khoa học về sự đồng hoá trở nên quan trọng đối với đệ tử đang tiến bước. |
|
13. At least one should know the instruments through which to create the state of identification (which, by the way, inwardly, already exists, because it is the natural state of awareness of Spirit). As well, one should know the energies with which one can work. The process itself is not strictly rational—i.e., it transcends reason, and in a way, it transcends even pure reason. We might say that the state of identification lies on the further side of pure reason. On the plane of atma it begins to be real. On the plane of the Monad, it is real. I am speaking here of identification that transcends the identification of personality with soul. |
13. Ít nhất người ta nên biết các khí cụ nhờ đó tạo ra trạng thái đồng hoá, mà nhân tiện, ở bên trong, trạng thái ấy đã hiện hữu, bởi vì đó là trạng thái nhận thức tự nhiên của Tinh thần. Đồng thời, người ta cũng nên biết các năng lượng mà mình có thể làm việc với. Chính tiến trình ấy không hoàn toàn thuộc lý trí—tức là nó vượt lên trên lý trí, và theo một cách nào đó, nó vượt lên trên cả lý trí thuần túy. Chúng ta có thể nói rằng trạng thái đồng hoá nằm ở phía bên kia của lý trí thuần túy. Trên cõi atma, nó bắt đầu trở nên thực. Trên cõi của chân thần, nó là thực. Ở đây tôi đang nói về sự đồng hoá vượt lên trên sự đồng hoá của phàm ngã với linh hồn. |
|
14. Almost every sentence in this paragraph is like a jewel of wisdom. DK says the following: “the very moment that theory as to essential unity becomes definite realisation, then the realm of synthesis is entered.” All of us must begin with theory; it is a first step. We seek a clear mental understanding of the state we would achieve. We learn the words related to this state, and thoughts about it begin to form. These thoughts grow ever clearer until we are able to describe the state with accuracy. We are, however, still not within the state to be achieved. We are as an accurate observer of outer evidence. Intimate participation in the state is still missing. Once, however, that the theory as to essential unity becomes a definite realization, there is a fundamental change. In a way we “own” the state; it becomes our own (although the dualism of the language just used is obvious). |
14. Hầu như mỗi câu trong đoạn văn này đều giống như một viên ngọc minh triết. Chân sư DK nói như sau: “ngay khoảnh khắc lý thuyết về sự hợp nhất cốt yếu trở thành chứng nghiệm xác định, thì cõi giới của tổng hợp được bước vào.” Tất cả chúng ta phải bắt đầu bằng lý thuyết; đó là bước đầu tiên. Chúng ta tìm kiếm một sự thấu hiểu trí tuệ rõ ràng về trạng thái mà mình muốn đạt tới. Chúng ta học các từ liên quan đến trạng thái này, và những tư tưởng về nó bắt đầu hình thành. Những tư tưởng này ngày càng trở nên rõ ràng hơn cho đến khi chúng ta có thể mô tả trạng thái ấy một cách chính xác. Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa ở trong trạng thái cần đạt tới. Chúng ta giống như một nhà quan sát chính xác của bằng chứng bên ngoài. Sự tham dự mật thiết vào trạng thái ấy vẫn còn thiếu. Tuy nhiên, một khi lý thuyết về sự hợp nhất cốt yếu trở thành một chứng nghiệm xác định, thì có một thay đổi căn bản. Theo một cách nào đó, chúng ta “sở hữu” trạng thái ấy; nó trở thành của chính chúng ta, mặc dù tính nhị nguyên của ngôn ngữ vừa dùng là điều hiển nhiên. |
|
15. The important thing to realize is that we cannot enter the realm of synthesis until definite realization is ours. We can talk about (third aspect) synthesis (first aspect), but we are not inside it. The second aspect (love) is much closer, and a more reliable door into synthesis than the third aspect. We can love our way into synthesis. This could be called the ‘Way of the Christ’. |
15. Điều quan trọng cần nhận ra là chúng ta không thể bước vào cõi giới của tổng hợp cho đến khi chứng nghiệm xác định là của chúng ta. Chúng ta có thể nói về tổng hợp thuộc phương diện thứ nhất bằng phương diện thứ ba, nhưng chúng ta không ở bên trong nó. Phương diện thứ hai, tức bác ái, gần hơn nhiều và là cánh cửa đáng tin cậy hơn để đi vào tổng hợp so với phương diện thứ ba. Chúng ta có thể yêu thương để đi vào tổng hợp. Điều này có thể được gọi là “Con Đường của Đức Christ”. |
|
16. Synthesis is the world’s most intimate experience. Love is more intimate than thought, and identification/synthesis is still more intimate. |
16. Tổng hợp là kinh nghiệm mật thiết nhất của thế giới. Tình thương mật thiết hơn tư tưởng, và sự đồng hoá/tổng hợp còn mật thiết hơn nữa. |
|
17. Although we have no language to describe the state of identification, the attempt to formulate such language will bring us closer to the realization of that state. |
17. Dù chúng ta không có ngôn ngữ để mô tả trạng thái đồng hoá, nỗ lực hình thành một ngôn ngữ như vậy sẽ đưa chúng ta đến gần hơn với sự chứng nghiệm trạng thái ấy. |
|
18. The Tibetan offers us an arresting thought: “until man has grasped his identical at-one-ness with even one human being, it is not possible for him even to think about it [Page identification] in any truly constructive manner.” Probably, when one is “in love”, one begins to think about oneness with the one whom one loves. This oneness certainly has to transcend the fusion of personalities (though that, too, may eventuate at times). One is reaching into the soul of another and discovering harmony, unity and, only then, identicalness. |
18. Chân sư Tây Tạng trao cho chúng ta một tư tưởng gây chú ý mạnh: “cho đến khi con người nắm bắt được tính hợp nhất đồng nhất của mình với dù chỉ một con người khác, y thậm chí không thể suy nghĩ về điều đó [Page identification] theo bất cứ cách nào thật sự xây dựng.” Có lẽ, khi người ta “đang yêu”, người ta bắt đầu suy nghĩ về sự nhất như với người mình yêu. Sự nhất như này chắc chắn phải vượt lên trên sự dung hợp của các phàm ngã, dù điều đó đôi khi cũng có thể xảy ra. Người ta đang vươn vào linh hồn của người khác và khám phá sự hài hòa, sự hợp nhất, và chỉ khi ấy mới là tính đồng nhất. |
|
19. But one need not be “in love” in any conventional sense to practice sensing oneness with individual others. One can generalize the “in love” experience to other human beings that one does not even know personally. When this can be done, one begins to wield love freely. |
19. Nhưng người ta không cần phải “đang yêu” theo bất cứ nghĩa thông thường nào để thực hành việc cảm nhận sự nhất như với từng người khác. Người ta có thể phổ quát hóa kinh nghiệm “đang yêu” sang những con người khác mà mình thậm chí không quen biết cá nhân. Khi điều này có thể được thực hiện, người ta bắt đầu vận dụng tình thương một cách tự do. |
|
20. No personal factor in another will be the trigger for sensed oneness. Something far more subtle—beyond any quality possessed by another—is required. The content-less aspect of oneself is reaching towards the content-less aspect of the other. Being loves being. Being is being. Spirit seeks and merges with Spirit—though, again, this is dualistic language, for how can that which already is another, merge with another? |
20. Không yếu tố cá nhân nào nơi người khác sẽ là tác nhân khơi lên sự nhất như được cảm nhận. Cần có một điều gì tinh tế hơn rất nhiều—vượt ngoài bất cứ phẩm tính nào mà người khác sở hữu—. Phương diện không có nội dung của chính mình đang vươn tới phương diện không có nội dung của người kia. Bản thể yêu bản thể. Bản thể là bản thể. Tinh thần tìm kiếm và hòa nhập với Tinh thần—dù, một lần nữa, đây là ngôn ngữ nhị nguyên, vì làm sao cái đã là người khác lại có thể hòa nhập với người khác? |
|
21. In the lower worlds opposites attract. In the world Spirit, ‘identicals’ attract. |
21. Trong các cõi thấp, các đối cực hút nhau. Trong thế giới Tinh thần, “những cái đồng nhất” hút nhau. |
|
22. He closes the paragraph with an amazing sentence: |
22. Ngài kết thúc đoạn văn bằng một câu kỳ diệu: |
|
“The complete fusion of the negative and the positive aspects in marriage, at the moment that life is transmitted and transferred, is the only tangible though unsatisfactory symbol of this life-sharing process which takes place when an individual or a group knows actually and not simply theoretically that ‘there are no other selves’.” |
“Sự dung hợp hoàn toàn của các phương diện âm và dương trong hôn nhân, vào khoảnh khắc sự sống được truyền và chuyển dịch, là biểu tượng hữu hình duy nhất, dù chưa thỏa đáng, của tiến trình chia sẻ sự sống này, vốn diễn ra khi một cá nhân hay một nhóm biết một cách thực sự chứ không chỉ trên lý thuyết rằng ‘không có những bản ngã nào khác’.” |
|
This sentence is written as if from a great distance—from triadal consciousness. It is a sentence which reflects Divine Law, for the word “marriage” is used. He is obviously talking about the consummation of the sex act, but putting it in terms of the life aspect. He gives us, in a simple sentence, the reason for the sex act (the “transfer of life”), and its function as a symbol of the highest unitive state of awareness. Thus, in this sentence “The Highest and the Lowest Meet”; physical sex and ‘Identification in Oneness’ are unforgettably related. |
Câu này được viết như thể từ một khoảng cách rất xa—từ tâm thức Tam Nguyên Tinh Thần. Đó là một câu phản ánh Định luật thiêng liêng, vì từ “hôn nhân” được dùng. Rõ ràng Ngài đang nói về sự viên mãn của hành vi tính dục, nhưng đặt nó trong các thuật ngữ của phương diện sự sống. Trong một câu đơn giản, Ngài trao cho chúng ta lý do của hành vi tính dục, tức “sự chuyển dịch sự sống”, và chức năng của nó như một biểu tượng của trạng thái nhận thức hợp nhất cao nhất. Như vậy, trong câu này “Cái Cao Nhất và Cái Thấp Nhất Gặp Nhau”; tính dục hồng trần và “Sự Đồng Hoá trong Nhất Như” được liên hệ với nhau một cách không thể quên. |
|
I do not think He is suggesting that in order to feel oneness with another it is necessary to engage is physical sex. Great souls like the Christ live in a state of oneness with all human beings, and, probably, with all aspects of Creation. |
Tôi không nghĩ Ngài đang gợi ý rằng để cảm nhận sự nhất như với người khác thì cần phải tham gia vào tính dục hồng trần. Những linh hồn vĩ đại như Đức Christ sống trong trạng thái nhất như với tất cả con người, và có lẽ với mọi phương diện của Sáng Tạo. |
|
23. Perhaps it is not such an easy matter to know that “there are no other selves” though many glibly speak of it. |
23. Có lẽ không dễ dàng đến thế để biết rằng “không có những bản ngã nào khác”, dù nhiều người nói về điều đó một cách trơn tru. |
|
24. The initiate of the third degree is to reveal oneness. The inner curriculum prior to the third degree provides the learning that makes this possible. |
24. Điểm đạo đồ cấp ba phải mặc khải sự nhất như. Chương trình học bên trong trước cấp ba cung cấp sự học hỏi khiến điều này trở nên khả hữu. |
|
Identification (to use the only word available for our purpose) is connected with dynamic life, with conscious enhancement, with completion and with creative sharing, plus process. It is a process of participation—consciously and constructively undertaken—in the life actions and reactions of the One in Whom we live and move and have our being; it is related to the network of life channels which keep the form aspect of the planetary Logos functioning as a “Divine Representation.” Note that wording. It is connected with the circulation of that “life more abundantly” to which the Christ referred when dealing with the true nature of His [Page 173] mission. It might be said that as He uttered this phrase this mission dawned on Him and He made a preliminary effort to serve Shamballa, instead of the Hierarchy of which He was even then the Head. Later, He enunciated as best He could the extent of this realisation, in the words so familiar to Christians, “I and the Father are One.” This He also attempted to elucidate in the seventeenth chapter of St. John’s Gospel. There is no other passage in the literature of the world which has exactly the same quality. Oneness, unity, synthesis and identification exist today as words related to consciousness and as expressing what is at present unattainable to the mass of men. This manifesto or declaration of the Christ constitutes the first attempt to convey reaction to contact with Shamballa, and can be correctly interpreted only by initiates of some standing and experience. A concept of unity, leading to cooperation, to impersonality, to group work and to realisation, plus a growing absorption in the Plan are some of the terms which can be used to express soul awareness in relation to the Hierarchy. These reactions to the united Ashrams which constitute the Hierarchy are steadily increasing and are beneficently conditioning the consciousness of the leading members of the forefront of the human wave at present in process of evolution. |
Sự đồng hóa (dùng từ duy nhất khả dụng cho mục đích của chúng ta) liên hệ với sự sống năng động, với sự tăng cường có ý thức, với sự hoàn tất và với sự chia sẻ sáng tạo, cộng với tiến trình. Đó là một tiến trình tham dự—được đảm nhận một cách có ý thức và xây dựng—vào các hành động và phản ứng sống của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu; nó liên hệ với mạng lưới các kênh sự sống duy trì phương diện hình tướng của Hành Tinh Thượng đế hoạt động như một “Sự Đại Diện Thiêng Liêng.” Hãy lưu ý cách diễn đạt ấy. Nó liên hệ với sự lưu chuyển của “sự sống dồi dào hơn” mà Đức Christ đã nhắc đến khi bàn về bản chất chân thật của sứ mệnh [Page 173] của Ngài. Có thể nói rằng khi Ngài thốt ra cụm từ này, sứ mệnh ấy đã ló rạng trong Ngài và Ngài đã thực hiện một nỗ lực sơ khởi để phụng sự Shamballa, thay vì Thánh Đoàn mà ngay cả lúc đó Ngài đã là Đầu. Về sau, Ngài đã diễn đạt hết mức có thể tầm mức của chứng nghiệm này, trong những lời rất quen thuộc với các tín hữu Cơ Đốc: “Ta và Cha là Một.” Ngài cũng đã cố gắng làm sáng tỏ điều này trong chương mười bảy của Phúc Âm theo Thánh Gioan. Không có đoạn văn nào khác trong văn học thế giới có đúng cùng phẩm tính như thế. Ngày nay, nhất như, hợp nhất, tổng hợp và đồng hóa tồn tại như những từ liên quan đến tâm thức và như những từ diễn tả điều hiện nay quần chúng nhân loại chưa thể đạt được. Tuyên ngôn hay lời tuyên bố này của Đức Christ cấu thành nỗ lực đầu tiên nhằm truyền đạt phản ứng trước sự tiếp xúc với Shamballa, và chỉ các điểm đạo đồ có phần nào địa vị và kinh nghiệm mới có thể diễn giải đúng đắn. Một quan niệm về hợp nhất, dẫn đến hợp tác, đến tính vô ngã, đến công việc nhóm và đến chứng nghiệm, cộng với sự hấp thu ngày càng tăng vào Thiên Cơ, là một vài thuật ngữ có thể được dùng để diễn tả nhận thức linh hồn trong tương quan với Thánh Đoàn. Những phản ứng này đối với các ashram hợp nhất cấu thành Thánh Đoàn đang gia tăng đều đặn và đang tác động một cách lành thiện lên tâm thức của các thành viên dẫn đầu nơi tiền tuyến của làn sóng nhân loại hiện đang trong tiến trình tiến hoá. |
|
25. One of the best definitions of “identification” follows. “Identification (to use the only word available for our purpose) is connected with dynamic life, with conscious enhancement, with completion and with creative sharing, plus process.” In the state of identification, the great, dynamic power of Life is sensed, overriding in its Presence any of its forms or qualities of expression; the consciousness (though in a way transcended) is sensitized, “enhanced”; the sense of consummation, and completed wholeness emerges in that enhanced consciousness; the creative flow of life-augmenting energies is registered; and one participates in the process which engages the whole and not just the part. Well might we “ponder on this”! |
25. Sau đây là một trong những định nghĩa hay nhất về “sự đồng hóa”. “Sự đồng hóa (dùng từ duy nhất khả dụng cho mục đích của chúng ta) liên hệ với sự sống năng động, với sự tăng cường có ý thức, với sự hoàn tất và với sự chia sẻ sáng tạo, cộng với tiến trình.” Trong trạng thái đồng hóa, quyền năng vĩ đại, năng động của Sự Sống được cảm nhận, trong Sự Hiện Diện của nó vượt lên trên mọi hình tướng hay phẩm tính biểu hiện của nó; tâm thức (dù theo một cách nào đó đã được vượt qua) trở nên nhạy bén, được “tăng cường”; ý thức về sự viên mãn và tính toàn vẹn đã hoàn tất xuất hiện trong tâm thức được tăng cường ấy; dòng chảy sáng tạo của các năng lượng làm gia tăng sự sống được ghi nhận; và người ta tham dự vào tiến trình bao gồm toàn thể chứ không chỉ phần bộ. Quả thật, chúng ta rất nên “suy ngẫm về điều này”! |
|
26. Identification “is a process of participation—consciously and constructively undertaken—in the life actions and reactions of the One in Whom we live and move and have our being”. Who are we when we are in the state of identification? Just a tiny unit (in a way), but mysteriously the same as that which ‘contains’ us. We take part—not just a fragmentary part, but an organic and totally integrated part in the life processes of the whole in which we are included. We know exactly what we are doing, and we do it constructively—not just as our tiny selves, but as if the great ‘containing Being’ were acting through us. This “One in Whom…” can be the Planetary Logos or the Solar Logos, but always it will be a “Logos”—an ‘intelligent, loving, willing Entity Who is an authentic Pattern within the Divine Whole’. |
26. Sự đồng hóa “là một tiến trình tham dự—được đảm nhận một cách có ý thức và xây dựng—vào các hành động và phản ứng sống của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu”. Chúng ta là ai khi ở trong trạng thái đồng hóa? Theo một cách nào đó, chỉ là một đơn vị bé nhỏ, nhưng một cách huyền nhiệm lại là cùng một với Đấng ‘chứa đựng’ chúng ta. Chúng ta tham dự—không chỉ như một phần vụn vặt, mà như một phần hữu cơ và hoàn toàn tích hợp trong các tiến trình sống của toàn thể mà chúng ta được bao gồm trong đó. Chúng ta biết chính xác mình đang làm gì, và chúng ta làm điều đó một cách xây dựng—không chỉ như những bản ngã bé nhỏ của mình, mà như thể Đấng Vĩ Đại ‘chứa đựng’ ấy đang hành động thông qua chúng ta. “Đấng mà trong Ngài…” này có thể là Hành Tinh Thượng đế hoặc Thái dương Thượng đế, nhưng bao giờ cũng sẽ là một “Thượng đế”—một ‘Thực Thể thông tuệ, bác ái, có ý chí, là một Mô Hình đích thực bên trong Toàn Thể Thiêng Liêng’. |
|
27. Further, identification “is related to the network of life channels which keep the form aspect of the planetary Logos functioning as a ‘Divine Representation’.” This sentence tells us that the condition of the etheric body supports the state of identification. Identification is a state of synthetic realization. Synthesis prevails and archetypal flows of all kinds are unimpeded. Identification is, thus, an unobstructed, unfettered state. When the many parts within the whole are in unimpeded relation to each other, the sense of relation is transcended and the sense of identicalness supervenes. When energy flows between all parts are complete (as archetypally intended) then the Whole becomes more impressive and present to consciousness than the many ideally related parts. |
27. Hơn nữa, sự đồng hóa “liên hệ với mạng lưới các kênh sự sống duy trì phương diện hình tướng của Hành Tinh Thượng đế hoạt động như một ‘Sự Đại Diện Thiêng Liêng’.” Câu này cho chúng ta biết rằng tình trạng của thể dĩ thái nâng đỡ trạng thái đồng hóa. Sự đồng hóa là một trạng thái chứng nghiệm tổng hợp. Sự tổng hợp chiếm ưu thế và các dòng chảy nguyên mẫu đủ loại không bị cản trở. Vì vậy, sự đồng hóa là một trạng thái không bị ngăn ngại, không bị trói buộc. Khi nhiều phần trong toàn thể ở trong tương quan không bị cản trở với nhau, ý thức về tương quan được vượt qua và ý thức về sự đồng nhất xuất hiện. Khi các dòng năng lượng giữa mọi phần đều hoàn tất, đúng như ý định nguyên mẫu, thì Toàn Thể trở nên có sức gây ấn tượng mạnh hơn và hiện diện trong tâm thức hơn là nhiều phần được liên hệ với nhau một cách lý tưởng. |
|
28. A principle is here to be recognized. The only way to achieve liberation into the next higher state of realization, is to perfect the pattern of the lower state which serves as the foundation to the higher state. For instance, to enter triadal awareness fully, the state of soul awareness must be perfected—which it is at the fourth initiation. |
28. Ở đây cần nhận ra một nguyên lý. Cách duy nhất để đạt được sự giải thoát vào trạng thái chứng nghiệm cao hơn kế tiếp là hoàn thiện mô hình của trạng thái thấp hơn vốn làm nền tảng cho trạng thái cao hơn. Chẳng hạn, để đi vào trọn vẹn nhận thức Tam nguyên tinh thần, trạng thái nhận thức linh hồn phải được hoàn thiện—điều này xảy ra ở lần điểm đạo thứ tư. |
|
29. What is a “Divine Representation”? It is a faithful likeness, a true symbol of the higher state it represents. Etheric flows sustain the form aspect of the Planetary Logos. When flows are perfect, health is perfect, and the ‘Divine Representation’ is truly representative. When, however, there is blockage and obstruction, there is no true representation. |
29. “Sự Đại Diện Thiêng Liêng” là gì? Đó là một hình ảnh trung thành, một biểu tượng chân thật của trạng thái cao hơn mà nó đại diện. Các dòng chảy dĩ thái duy trì phương diện hình tướng của Hành Tinh Thượng đế. Khi các dòng chảy hoàn hảo, sức khỏe hoàn hảo, và ‘Sự Đại Diện Thiêng Liêng’ thật sự mang tính đại diện. Tuy nhiên, khi có tắc nghẽn và ngăn trở, thì không có sự đại diện chân thật. |
|
30. Note that the Tibetan is trying to do what He said could not be done—He is seeking to find language which will convey to us something of that intangible state of identification which anticipates the “Isolated Unity” of the Master. Is He succeeding with us, do you think? |
30. Hãy lưu ý rằng Chân sư Tây Tạng đang cố làm điều mà Ngài đã nói là không thể làm được—Ngài đang tìm ngôn ngữ có thể truyền đạt cho chúng ta đôi điều về trạng thái đồng hóa vô hình tướng ấy, trạng thái báo trước “Hợp Nhất Cô Lập” của Chân sư. Các bạn có nghĩ rằng Ngài đang thành công với chúng ta không? |
|
31. Further, identification “is connected with the circulation of that ‘life more abundantly’ to which the Christ referred when dealing with the true nature of His mission.” Identification is an experience of ‘great fulness’ and abundance. The sense of lack (Saturn) characterizes all lesser states of consciousness. But all that is lacking in lower states of realization is abundantly restored in the state of identification. The blockages to Shamballic Life are removed, and the abundance of Shamballa flows unimpeded through the energy conduits of all aspects of the human energy system. |
31. Hơn nữa, sự đồng hóa “liên hệ với sự lưu chuyển của ‘sự sống dồi dào hơn’ mà Đức Christ đã nhắc đến khi bàn về bản chất chân thật của sứ mệnh của Ngài.” Sự đồng hóa là một kinh nghiệm về ‘sự viên mãn lớn lao’ và sự dồi dào. Ý thức về thiếu thốn, Sao Thổ, đặc trưng cho mọi trạng thái tâm thức thấp hơn. Nhưng mọi điều còn thiếu trong các trạng thái chứng nghiệm thấp hơn đều được phục hồi dồi dào trong trạng thái đồng hóa. Những tắc nghẽn đối với Sự Sống Shamballa được loại bỏ, và sự dồi dào của Shamballa tuôn chảy không bị cản trở qua các ống dẫn năng lượng của mọi phương diện trong hệ thống năng lượng con người. |
|
32. We must be grateful to the Tibetan for presenting us with an understanding of the Christ’s mission which far transcends the usual story. The Tibetan is saying that when Christ said, “I am come that they may have Life more Abundantly”, He was realizing the nature of Shamballa and His relation to it. |
32. Chúng ta phải biết ơn Chân sư Tây Tạng vì đã trình bày cho chúng ta một sự thấu hiểu về sứ mệnh của Đức Christ vượt xa câu chuyện thông thường. Chân sư Tây Tạng nói rằng khi Đức Christ tuyên bố: “Ta đến để họ có thể có Sự Sống dồi dào hơn”, Ngài đang nhận ra bản chất của Shamballa và mối liên hệ của Ngài với nơi ấy. |
|
33. Human beings interpret the Christ’s mission in relation to themselves, but it is clear that as a candidate for the sixth initiation, the Christ was simultaneously approaching Shamballa, even as He was serving humanity in the most tangible ways. |
33. Con người diễn giải sứ mệnh của Đức Christ trong tương quan với chính họ, nhưng rõ ràng rằng, với tư cách một ứng viên cho lần điểm đạo thứ sáu, Đức Christ đồng thời đang tiến đến Shamballa, ngay cả khi Ngài phụng sự nhân loại theo những cách hữu hình nhất. |
|
34. Note that the Christ, even then, was Head of the Spiritual Hierarchy—a post which, in modern times, can only be taken by a Master of the Wisdom. Surely then, He was, in Palestine, a fifth degree initiate. It is likely that the Christ became a Master no later than the Enlightenment of the Buddha (when the Christ assumed the role of World Teacher). It may be (we cannot know with certainty) that the Christ passed through the fifth degree even before that Enlightenment. |
34. Hãy lưu ý rằng Đức Christ, ngay cả lúc đó, là Đầu của Huyền Giai Tinh Thần—một chức vị mà trong thời hiện đại chỉ một Chân sư Minh Triết mới có thể đảm nhiệm. Vậy chắc chắn, tại Palestine, Ngài là một điểm đạo đồ cấp năm. Có khả năng Đức Christ đã trở thành Chân sư không muộn hơn thời điểm Giác Ngộ của Đức Phật, khi Đức Christ đảm nhận vai trò Đức Chưởng Giáo. Có thể, dù chúng ta không thể biết chắc, rằng Đức Christ đã trải qua cấp độ thứ năm ngay cả trước sự Giác Ngộ ấy. |
|
35. The Christ has said “I and the Father are One”—expressing His developing identification with Shamballa and with Sanat Kumara |
35. Đức Christ đã nói: “Ta và Cha là Một”—diễn tả sự đồng hóa đang phát triển của Ngài với Shamballa và với Đức Sanat Kumara |
|
36. The statements on oneness recorded in the Gospel of St. John are, according to the Tibetan, unique. The Tibetan has something unusual to say about this passage: |
36. Theo Chân sư Tây Tạng, những phát biểu về nhất như được ghi lại trong Phúc Âm theo Thánh Gioan là độc nhất vô nhị. Chân sư Tây Tạng có một điều khác thường để nói về đoạn này: |
|
“I advise all disciples who seek to cooperate with the impending activity of the Hierarchy to study with care the seventeenth chapter of the Gospel of St. John; this was written by that disciple of love, under the influence of the energy emanating from the buddhic vehicle of the Christ, which is also—as you have been told—identical with the buddhic vehicle of the Buddha. The identity of the two vehicles is symbolic of the entire teaching anent “isolated unity” and divine participation, which the Masters in Their Ashrams are teaching Their disciples of all grades, these days, as the first step toward the externalisation of Their activities.” (EXH, 687) |
“Tôi khuyên tất cả các đệ tử đang tìm cách hợp tác với hoạt động sắp đến của Thánh Đoàn hãy nghiên cứu kỹ chương mười bảy của Phúc Âm theo Thánh Gioan; chương này được viết bởi vị đệ tử của tình thương ấy, dưới ảnh hưởng của năng lượng xuất lộ từ vận cụ Bồ đề của Đức Christ, vốn cũng—như các bạn đã được cho biết—đồng nhất với vận cụ Bồ đề của Đức Phật. Sự đồng nhất của hai vận cụ này là biểu tượng của toàn bộ giáo huấn liên quan đến “hợp nhất cô lập” và sự tham dự thiêng liêng, mà các Chân sư trong các ashram của Các Ngài đang giảng dạy cho các đệ tử thuộc mọi cấp độ trong những ngày này, như bước đầu hướng tới sự ngoại hiện các hoạt động của Các Ngài.” (Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn, 687) |
|
Is this not profound? An amazing occult process is here explained. The Buddha’s “vestures” have long been available to His Brother, the Christ. There is an effective fusion between these two great Brothers—a fusion so unsuspected by the majority of Their followers. |
Điều này chẳng sâu sắc sao? Một tiến trình huyền bí đáng kinh ngạc được giải thích ở đây. “Các y phục” của Đức Phật đã từ lâu sẵn có cho Huynh Đệ của Ngài, Đức Christ. Có một sự dung hợp hữu hiệu giữa hai Huynh Đệ vĩ đại này—một sự dung hợp mà đa số tín đồ của Các Ngài hoàn toàn không ngờ tới. |
|
Notice that the themes of “isolated unity” and “divine participation” with which we have been dealing are part of a very necessary teaching for the success of the process of externalization. |
Hãy lưu ý rằng các chủ đề “hợp nhất cô lập” và “tham dự thiêng liêng” mà chúng ta đã bàn đến là một phần của giáo huấn rất cần thiết cho sự thành công của tiến trình ngoại hiện. |
|
37. Although the fulness of identification (let us say, as the Christ experiences it) transcends the realizations of the buddhic plane), it was under the inspiration of the buddhic vehicle of the Christ that perhaps the major world statement on identification was written. It becomes clear that the Masters are attempting to instill something of buddhic realization in the consciousness of their disciples. Effectively, buddhic realization is Love-Wisdom. |
37. Dù sự viên mãn của đồng hóa, có thể nói như Đức Christ trải nghiệm, vượt lên trên các chứng nghiệm của cõi Bồ đề, có lẽ chính dưới cảm hứng của vận cụ Bồ đề của Đức Christ mà phát biểu lớn của thế giới về sự đồng hóa đã được viết ra. Rõ ràng các Chân sư đang cố gắng gieo vào tâm thức các đệ tử của Các Ngài một phần nào chứng nghiệm Bồ đề. Thực chất, chứng nghiệm Bồ đề là Bác Ái – Minh Triết. |
|
38. What we should register, I think, is that both the manifesto, “I and the Father are One” and the seventeenth chapter of the Gospel of St. John are Shamballic statements, in which the Christ was attempting to convey His contact with Shamballa. It is so simple a statement. We cannot fathom it, however, unless some measure of real monadic awareness is dawning in our consciousness. It is a profound seed thought for those who seek to enter into the state of identification, isolated unity, realization of oneness and synthesis. |
38. Điều chúng ta nên ghi nhận, tôi nghĩ, là cả tuyên ngôn “Ta và Cha là Một” lẫn chương mười bảy của Phúc Âm theo Thánh Gioan đều là những phát biểu thuộc Shamballa, trong đó Đức Christ cố gắng truyền đạt sự tiếp xúc của Ngài với Shamballa. Đó là một phát biểu thật giản dị. Tuy nhiên, chúng ta không thể thấu triệt nó, trừ phi một mức độ nào đó của nhận thức chân thần đích thực đang ló rạng trong tâm thức chúng ta. Đó là một tư tưởng hạt giống sâu xa cho những ai tìm cách bước vào trạng thái đồng hóa, hợp nhất cô lập, chứng nghiệm nhất như và tổng hợp. |
|
39. As well, if one seeks to know what the Divine Will really is, is this not an excellent seed thought? “I and my Father are One” and “Not my Will Father, but Thine be done” are companion mantrams. |
39. Cũng vậy, nếu một người tìm cách biết Ý Chí thiêng liêng thật sự là gì, chẳng phải đây là một tư tưởng hạt giống tuyệt hảo sao? “Ta và Cha Ta là Một” và “Không phải ý chí của con, thưa Cha, mà là Ý Chí của Cha được thực hiện” là những mantram song hành. |
|
40. In this paragraph we have contrasted the Way of Shamballa and the Way of the Hierarchy. “Unity, leading to cooperation, to impersonality, to group work and to realisation, plus a growing absorption in the Plan are some of the terms which can be used to express soul awareness in relation to the Hierarchy”. “Oneness, unity, synthesis and identification” are expressive of Shamballa. |
40. Trong đoạn này, chúng ta đã đối chiếu Con Đường của Shamballa và Con Đường của Thánh Đoàn. “Hợp nhất, dẫn đến hợp tác, đến tính vô ngã, đến công việc nhóm và đến chứng nghiệm, cộng với sự hấp thu ngày càng tăng vào Thiên Cơ, là một vài thuật ngữ có thể được dùng để diễn tả nhận thức linh hồn trong tương quan với Thánh Đoàn.” “Nhất như, hợp nhất, tổng hợp và đồng hóa” là những từ diễn tả Shamballa. |
|
41. To what degree then is our consciousness aligned with Hierarchy? To what degree is our awareness capable of impression from Shamballa? |
41. Vậy tâm thức chúng ta chỉnh hợp với Thánh Đoàn đến mức độ nào? Nhận thức của chúng ta có khả năng tiếp nhận ấn tượng từ Shamballa đến mức độ nào? |
|
Beyond this state of awareness there lies a state of being which is as far removed from the consciousness of Members of the Hierarchy as that is, in its turn, removed from the consciousness of the mass of men. Endeavour to grasp this, even if your brain and your power to formulate thought rejects the possibility of this exalted livingness. Be not discouraged at this inability to understand; remember that this state of being embraces the goal towards which the Masters strive, and which the Christ Himself is only now attaining. |
Vượt ngoài trạng thái nhận thức này còn có một trạng thái bản thể cách xa tâm thức của các Thành viên Thánh Đoàn cũng như tâm thức ấy, đến lượt nó, cách xa tâm thức của quần chúng nhân loại. Hãy cố gắng nắm bắt điều này, dù bộ não và năng lực hình thành tư tưởng của các bạn bác bỏ khả năng của sự sống cao cả ấy. Đừng nản lòng trước sự bất lực này trong việc thấu hiểu; hãy nhớ rằng trạng thái bản thể này bao hàm mục tiêu mà các Chân sư đang hướng tới, và chính Đức Christ chỉ hiện nay mới đang đạt đến. |
|
42. The state far removed the consciousness of Hierarchy is the Shamballic state of being. An analogy is given, showing that just as we strive towards the state of consciousness characteristic of the Hierarchy (a state which for us is both ideal and remote) so the members of Hierarchy, similarly, have a state of being which for Them is equally ideal and remote and towards which They strive. |
42. Trạng thái rất xa cách tâm thức của Thánh Đoàn là trạng thái bản thể Shamballa. Một phép tương đồng được đưa ra, cho thấy rằng cũng như chúng ta nỗ lực hướng tới trạng thái tâm thức đặc trưng của Thánh Đoàn, một trạng thái đối với chúng ta vừa lý tưởng vừa xa xôi, thì các thành viên của Thánh Đoàn cũng tương tự như vậy, có một trạng thái bản thể đối với Các Ngài cũng lý tưởng và xa xôi như thế, và Các Ngài nỗ lực hướng tới trạng thái ấy. |
|
43. The stage of attainment of the Christ is hinted; He is really just attaining Shamballic consciousness. In His incarnation in Palestine, He was reaching out towards it and endeavoring to express it. The Masters are striving towards Shamballa, attempting to make it a reality in Their awareness. We are just beginning to learn something about it, and can, in group form, under intense stimulation, and at high points of the spiritual year, receive, perhaps, just a mediated touch of this planetarily supreme energy. |
43. Giai đoạn thành tựu của Đức Christ được gợi ý; thật ra Ngài chỉ mới đang đạt tới tâm thức Shamballa. Trong lần nhập thể của Ngài tại Palestine, Ngài đang vươn tới nó và cố gắng diễn đạt nó. Các Chân sư đang nỗ lực hướng tới Shamballa, cố gắng làm cho nó trở thành một thực tại trong nhận thức của Các Ngài. Chúng ta chỉ mới bắt đầu học được đôi điều về nó, và có lẽ, trong hình thức nhóm, dưới sự kích thích mạnh mẽ, và vào những điểm cao của năm tinh thần, có thể nhận được chỉ một chạm đến gián tiếp của năng lượng tối thượng trên hành tinh này. |
|
44. We can see how the Tibetan’s work is producing a sense of proportion and co-measurement in the group mind of the esoteric community. It is so easy to measure wrongly—to overestimate or underestimate ourselves—but, mostly, overestimate. Of course we are eager to get on with the real reason for living, and we wish to have freedom over that which has enslaved us for ages. But added to this aspiration must be the keenest sense of humility and right proportion. Only thus can we avoid deluding ourselves and wasting precious (though illusory) time as a result. Though “time is an illusion”, time is also “of the essence”. |
44. Chúng ta có thể thấy công việc của Chân sư Tây Tạng đang tạo ra một Ý thức về tỉ lệ và sự đo lường tương ứng trong trí nhóm của cộng đồng huyền bí học. Rất dễ đo lường sai—đánh giá quá cao hoặc quá thấp chính mình—nhưng phần lớn là đánh giá quá cao. Dĩ nhiên chúng ta háo hức tiến tới lý do chân thật của sự sống, và chúng ta muốn có tự do khỏi điều đã nô dịch chúng ta qua nhiều thời đại. Nhưng thêm vào khát vọng này phải là ý thức khiêm nhường sâu sắc nhất và tỉ lệ đúng đắn. Chỉ như vậy chúng ta mới có thể tránh tự lừa dối mình và, do đó, lãng phí thời gian quý báu, dù là hư ảo. Dù “thời gian là một ảo tưởng”, thời gian cũng là “điều cốt yếu”. |
|
It is for this reason that the symbolism of light and darkness is used in the words: Let the group know there is no colour, only light; and then let darkness take the place of light. |
Chính vì lý do này mà biểu tượng về ánh sáng và bóng tối được dùng trong những lời: Hãy để nhóm biết rằng không có màu sắc, chỉ có ánh sáng; rồi hãy để bóng tối thay thế ánh sáng. |
|
Just as the individual has to pass through the stage wherein all “colour” goes out of life as he emerges out of [Page 174] the glamour which conditions the astral plane, so groups in preparation for initiation must go through the same devastating process. Glamour disappears, and for the first time the group (as is the case with the individual) walks in the light. As the group thus walks, unitedly its units learn a lesson (one clearly enunciated by modern science) that light and substance are synonymous terms; the true nature of substance as a field and medium of activity becomes clear to the initiate-members of the group. To this H.P.B. referred when he said that the true occultist works entirely in the field of forces and energies. |
Cũng như cá nhân phải đi qua giai đoạn trong đó mọi “màu sắc” rời khỏi đời sống khi y thoát ra khỏi [Page 174] ảo cảm đang chi phối cõi cảm dục, thì các nhóm đang chuẩn bị cho điểm đạo cũng phải trải qua cùng tiến trình gây chấn động ấy. Ảo cảm biến mất, và lần đầu tiên nhóm, cũng như trường hợp của cá nhân, bước đi trong ánh sáng. Khi nhóm bước đi như vậy, các đơn vị của nó học được trong sự hợp nhất một bài học, được khoa học hiện đại phát biểu rõ ràng, rằng ánh sáng và chất liệu là những thuật ngữ đồng nghĩa; bản chất chân thật của chất liệu như một trường và môi trường hoạt động trở nên rõ ràng đối với các thành viên điểm đạo đồ của nhóm. H.P.B. đã ám chỉ điều này khi bà nói rằng nhà huyền bí học chân chính làm việc hoàn toàn trong lĩnh vực của các mãnh lực và năng lượng. |
|
45. Perhaps we wish to live a “colorful” life, full of variety, interest and contrast. Perhaps, above all, we wish to live an illumined life, in which (color or no color!) we will to understand. Perhaps we wish to live a life in which the highest form of ‘spiritual darkness’ prevails. This would be the Shamballic life, but are we, temporarily at least, willing to relinquish color and light (as usually understood by students of spirituality)? |
45. Có lẽ chúng ta muốn sống một đời sống “đầy màu sắc”, phong phú về sự đa dạng, thú vị và tương phản. Có lẽ, trên hết, chúng ta muốn sống một đời sống được soi sáng, trong đó, dù có màu sắc hay không, chúng ta có ý chí thấu hiểu. Có lẽ chúng ta muốn sống một đời sống trong đó hình thức cao nhất của ‘bóng tối tinh thần’ chiếm ưu thế. Đó sẽ là đời sống Shamballa, nhưng liệu chúng ta, ít nhất tạm thời, có sẵn lòng từ bỏ màu sắc và ánh sáng, như các đạo sinh tinh thần thường hiểu, hay không? |
|
46. So there is an evolutionary progression—from color, to light, to darkness. |
46. Vậy có một tiến trình thăng thượng tiến hoá—từ màu sắc, đến ánh sáng, đến bóng tối. |
|
47. When we say, “Let the group know there is no color”, it is rather like saying, ‘let the group know there are no opposites, no contrasts’. Some are delighted by the colorful life full of change and contrast. Others find it destabilizing to the illumination of consciousness. Perhaps changes in color are related to changes within the astral body. Some seek to transcend such astral changes. But much depends upon the ray type. |
47. Khi chúng ta nói, “Hãy để nhóm biết rằng không có màu sắc”, điều đó khá giống như nói: ‘hãy để nhóm biết rằng không có các đối cực, không có các tương phản’. Một số người hoan hỉ trước đời sống đầy màu sắc, đầy biến đổi và tương phản. Những người khác lại thấy điều đó làm mất ổn định sự soi sáng của tâm thức. Có lẽ những thay đổi về màu sắc liên quan đến những thay đổi bên trong thể cảm dục. Một số người tìm cách vượt qua những thay đổi cảm dục như thế. Nhưng nhiều điều tùy thuộc vào loại cung. |
|
48. What is it like for all color to go out of life? It can indicate a developmental stage or it can indicate one who simply doesn’t know how to live. Some, due to ray type or conditioning, have become non-responsive to the beautiful variety of life. Either they just don’t care or are too inhibited due to bad experience or poor conditioning. Their appreciation for that which God has made is lacking. Venus (the planet of appreciation) does not function well—at least its influence is not well received and expressed. When one thinks that even the metaphysical construction of souls, planets, and stars is based upon the pattern of the flower, one has the sense that God not only loves Beauty but is Beauty. So the inability to appreciate color can indicate limitation of consciousness and even a pathological rejection of life’s possibilities. |
48. Sẽ như thế nào khi mọi màu sắc rời khỏi đời sống? Điều đó có thể chỉ một giai đoạn phát triển, hoặc có thể chỉ một người đơn giản là không biết cách sống. Một số người, do loại cung hoặc do tác động định hình, đã trở nên không đáp ứng với sự đa dạng đẹp đẽ của đời sống. Hoặc họ đơn giản không quan tâm, hoặc họ bị ức chế quá nhiều do kinh nghiệm xấu hay tác động định hình kém. Sự trân trọng của họ đối với những gì Thượng đế đã tạo nên còn thiếu vắng. Sao Kim, hành tinh của sự trân trọng, không vận hành tốt—ít nhất ảnh hưởng của nó không được tiếp nhận và biểu đạt tốt. Khi người ta nghĩ rằng ngay cả cấu trúc siêu hình của các linh hồn, hành tinh và ngôi sao cũng dựa trên mô hình của bông hoa, người ta có cảm thức rằng Thượng đế không chỉ yêu Cái Đẹp mà còn là Cái Đẹp. Vì vậy, sự bất lực trong việc trân trọng màu sắc có thể chỉ ra sự giới hạn của tâm thức, và thậm chí là sự chối bỏ bệnh lý đối với những khả thể của đời sống. |
|
49. If color temporarily goes out of life because of passage through a certain developmental phase, it is another matter. And it is temporary for, after all, Sanat Kumara is the Master Artist, Musician and Ritualist. His very being lives in Beauty, and all the rich color and sound upon and within the planet are generated and sustained by Him as He acts through His “Daily Ritual” |
49. Nếu màu sắc tạm thời rời khỏi đời sống do việc đi qua một giai đoạn phát triển nào đó, thì đó là một chuyện khác. Và điều đó chỉ là tạm thời, bởi rốt cuộc, Đức Sanat Kumara là Nghệ Sĩ, Nhạc Sĩ và Nhà Nghi Lễ Chân sư. Chính bản thể của Ngài sống trong Cái Đẹp, và mọi màu sắc cùng âm thanh phong phú trên và trong hành tinh đều do Ngài tạo sinh và duy trì khi Ngài hành động qua “Nghi Lễ Hằng Ngày” của Ngài. |
|
Yet there can be phases, governed by the fifth ray as it separates itself from the emotional volatility of the sixth, when the usual colorful responses and responses to color, must be superseded by the realization of increasing light. Thus variety is forsaken for the sake of clarity. |
Tuy nhiên, có thể có những giai đoạn, do cung năm chi phối khi nó tự tách khỏi tính dao động cảm xúc của cung sáu, trong đó các đáp ứng đầy màu sắc thông thường và các đáp ứng đối với màu sắc phải được thay thế bằng chứng nghiệm về ánh sáng gia tăng. Như vậy, sự đa dạng được từ bỏ vì sự sáng rõ. |
|
The astral body loves its spontaneous, unpredictable, colorful responses. These make life ‘interesting’ and never very quiet for long. This type of stimulation masquerades as the sense of “being alive”. |
Thể cảm dục yêu thích các đáp ứng tự phát, khó đoán, đầy màu sắc của nó. Những điều này làm cho đời sống trở nên ‘thú vị’ và không bao giờ yên tĩnh được lâu. Loại kích thích này giả dạng như ý thức về việc “đang sống”. |
|
Those who have retreated into the “attitude of the Observer” respond less and see more. They are disengaging from colorful volatility. They wish to know all and understand all, and so they quiet the enthusiasms of the astral nature, and focus exclusively in the mental nature—though eventually beyond. |
Những ai đã rút lui vào “thái độ của Người Quan Sát” đáp ứng ít hơn và thấy nhiều hơn. Họ đang tách mình khỏi tính biến động đầy màu sắc. Họ muốn biết tất cả và thấu hiểu tất cả, nên họ làm lắng dịu những nhiệt tình của bản chất cảm dục, và tập trung riêng vào bản chất trí tuệ—dù cuối cùng còn vượt xa hơn nữa. |
|
This focusing can, at first and at times, become dry and lifeless. The usual and lower ‘happinesses’ have been relinquished, and the higher joys have not taken their place. “How oft we sicken thing o’er with the pale cast of thought”. Life loses it vibrancy and the man loses his power to respond and to be spontaneous. Other say to him, “You think too much; live a little”. But it is too late. What other consider living, he now considers glamor. |
Sự tập trung này, lúc đầu và đôi khi, có thể trở nên khô khan và thiếu sức sống. Những “hạnh phúc” thông thường và thấp kém đã được từ bỏ, còn những niềm hoan hỉ cao hơn chưa đến thay thế. “Biết bao lần chúng ta làm sự vật nhuốm bệnh bởi sắc tái nhợt của tư tưởng”. Sự sống mất đi sức rung động của nó và con người mất quyền năng đáp ứng và tự phát. Những người khác nói với y: “Bạn suy nghĩ quá nhiều; hãy sống một chút đi”. Nhưng đã quá muộn. Điều mà người khác xem là sống, nay y xem là ảo cảm. |
|
The Tibetan calls the leaving behind of the astral body and its glamors a “devastating[3] process”. From the joys of sentiency one must transition to the joys of the illumined mind; but detachment comes first and illumination later. |
Chân sư Tây Tạng gọi việc bỏ lại thể cảm dục và các ảo cảm của nó là một “tiến trình tàn phá”. Từ những niềm vui của cảm giác, người ta phải chuyển tiếp sang những niềm hoan hỉ của thể trí được soi sáng; nhưng sự tách rời đến trước, còn sự soi sáng đến sau. |
|
50. The word, “colour” can mean “veil” as well as ‘qualitative contrast’. If colour is a veil, then light itself represents an unveiling. Colour is a limitation upon light. “Life, like a dome of many colored glass stains the white radiance of eternity.” (Shelley). |
50. Từ “màu sắc” có thể hàm nghĩa “bức màn che” cũng như “sự tương phản về phẩm tính”. Nếu màu sắc là một bức màn che, thì chính ánh sáng biểu trưng cho sự vén màn. Màu sắc là một giới hạn đặt lên ánh sáng. “Sự sống, như một mái vòm bằng kính muôn màu, làm vấy màu vầng rạng trắng của vĩnh cửu.” (Shelley). |
|
51. Thus, one comes closer to reality when one leaves colour for the sake of light. But somewhere in the transition is the sense of passing through a lifeless desert. |
51. Do đó, người ta đến gần thực tại hơn khi rời bỏ màu sắc vì ánh sáng. Nhưng ở đâu đó trong cuộc chuyển tiếp ấy có cảm giác như đang đi qua một sa mạc không sự sống. |
|
52. The lesson to be learned in light is “that light and substance are synonymous terms”. All quality is precipitated from the “Ocean of Light”. This, the individual initiate and the initiate group come to know. |
52. Bài học phải học trong ánh sáng là “ánh sáng và chất liệu là những thuật ngữ đồng nghĩa”. Mọi phẩm tính đều được ngưng tụ từ “Đại dương Ánh sáng”. Điều này, điểm đạo đồ cá nhân và nhóm điểm đạo đồ dần biết được. |
|
53. As they achieve initiate consciousness and begin to realize the equivalency of light/energy/substance/matter, the door is open to them to become creative in the world of differentiation and contrast—i.e., the world of colour. |
53. Khi họ đạt được tâm thức điểm đạo đồ và bắt đầu nhận ra sự tương đương của ánh sáng/năng lượng/chất liệu/vật chất, cánh cửa mở ra cho họ để trở nên sáng tạo trong thế giới của biến phân và tương phản—nghĩa là, thế giới của màu sắc. |
|
54. There is much the Master can create through the imaginative power of Kriyashakti from the world of light—His “mayavirupa” (or thought-created body) is one. Our planetary God is a creator with a powerful imagination and a control over light-substance: thus, our worlds come to be. |
54. Có nhiều điều Chân sư có thể sáng tạo thông qua quyền năng tưởng tượng của quyền năng sáng tạo bằng ý chí từ thế giới ánh sáng—“thể do tư tưởng tạo ra” của Ngài là một ví dụ. Thượng đế hành tinh của chúng ta là một đấng sáng tạo với sự tưởng tượng đầy quyền năng và sự kiểm soát đối với chất liệu ánh sáng: do đó, các thế giới của chúng ta thành hình. |
|
55. The Kabala tells us of the “boundless light” from which all matter and form are precipitated. “Bright space” is the son of “dark space” (SD, Stanza III, Sloka 7), and from it the universe (as we know it) is emanated. |
55. Truyền thống huyền bí Do Thái cho chúng ta biết về “ánh sáng vô biên” từ đó mọi vật chất và hình tướng được ngưng tụ. “Không gian sáng” là con của “không gian tối” (Giáo Lý Bí Nhiệm, Bài kệ III, Sloka 7), và từ đó vũ trụ, như chúng ta biết, được xuất lộ. |
|
56. The individual or group that temporarily leaves colour behind is stepping towards reality and the world of causation. Light is causative of colour. But “dark space” (intensively spiritual light) is causative of light. |
56. Cá nhân hay nhóm tạm thời bỏ lại màu sắc phía sau đang bước về phía thực tại và thế giới của nguyên nhân. Ánh sáng là nguyên nhân của màu sắc. Nhưng “không gian tối” (ánh sáng tinh thần cực kỳ mãnh liệt) là nguyên nhân của ánh sáng. |
|
57. The colorful world is rich, vibrant, “heated”, and engaging. The world of light can seem remote, cold and detached. The second ray is very much the ‘ray of light’. Some types upon the second ray can develop the following unfortunate characteristics: |
57. Thế giới đầy màu sắc thì phong phú, sống động, “nóng bỏng” và lôi cuốn. Thế giới ánh sáng có thể dường như xa xôi, lạnh lẽo và tách rời. Cung hai rất đúng là “cung của ánh sáng”. Một số kiểu người thuộc cung hai có thể phát triển những đặc điểm bất lợi sau đây: |
|
“This is called the ray of wisdom from its characteristic desire for pure knowledge and for absolute truth—cold and selfish, if without love, and inactive without power.” (EP I, 203) |
“Cung này được gọi là cung của minh triết do ước muốn đặc trưng của nó đối với tri thức thuần khiết và chân lý tuyệt đối—lạnh lẽo và ích kỷ nếu thiếu tình thương, và bất hoạt nếu thiếu quyền năng.” (Tâm Lý Học Nội Môn I, 203) |
|
There is a stage in the pursuit of light, when “warmth” has not yet been achieved. Have we met students of spirituality who seemed cold and illumined, distant and detached? I would say, “all the time”. It is phase which must be endured. |
Có một giai đoạn trong việc theo đuổi ánh sáng, khi “hơi ấm” vẫn chưa đạt được. Chúng ta đã từng gặp những đạo sinh về tinh thần dường như lạnh lẽo và được soi sáng, xa cách và tách rời chưa? Tôi sẽ nói: “luôn luôn”. Đó là một giai đoạn phải được chịu đựng. |
|
The sequence is as follows: colorful astral responsiveness; mental illumination (often cold and dry); buddhic livingness, intuitively reclaiming and harmonizing of color and sound. |
Trình tự như sau: sự đáp ứng cảm dục đầy màu sắc; sự soi sáng trí tuệ (thường lạnh lẽo và khô khan); sức sống Bồ đề, bằng trực giác thu hồi và hòa điệu màu sắc cùng âm thanh. |
|
58. But the lesson must be learned; the world is crystallized light, densified light. Light, in its purity, lies behind all the rich variety of form. |
58. Nhưng bài học phải được học; thế giới là ánh sáng kết tinh, ánh sáng được làm đậm đặc. Ánh sáng, trong sự thuần khiết của nó, nằm phía sau mọi sự đa dạng phong phú của hình tướng. |
|
59. This same transition of which we are speaking can be viewed as the transition from the mystical consciousness to the occult consciousness. We remember however that the true initiate is both occultist and mystic!—responsive and unresponsive, detached and engaged, “in the world yet not of the world”. These are some of the occult paradoxes, among which is the preservation of colour while abandoning it. It takes a while, however, before the ‘simultaneous containment of the opposites’ becomes possible, and along the way, the arid period ensues. |
59. Cũng cuộc chuyển tiếp mà chúng ta đang nói đến này có thể được nhìn như cuộc chuyển tiếp từ tâm thức thần bí sang tâm thức huyền bí. Tuy nhiên, chúng ta nhớ rằng điểm đạo đồ đích thực là cả nhà huyền bí học lẫn nhà thần bí!—vừa đáp ứng vừa không đáp ứng, vừa tách rời vừa dấn thân, “ở trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian”. Đây là một vài nghịch lý huyền bí, trong đó có việc bảo tồn màu sắc trong khi từ bỏ nó. Tuy nhiên, cần một thời gian trước khi “sự chứa đựng đồng thời các đối cực” trở nên khả hữu, và trên đường đi, giai đoạn khô hạn xảy ra. |
|
The next lesson which the group unitedly apprehends is the significance of the words that “darkness is pure spirit.” This recognition, realisation, apprehensive, comprehensive (call it what you will) is so overwhelming and all-embracing that distinctions and differences disappear. The disciple realises that they are only the result of the activity of substance in its form-making capacity and are consequently illusion and non-existent, from the angle of the spirit at rest in its own centre. The only realisation left is that of pure Being Itself. |
Bài học kế tiếp mà nhóm cùng nhau lĩnh hội là thâm nghĩa của những lời rằng “bóng tối là tinh thần thuần khiết”. Sự nhận biết, chứng nghiệm, lĩnh hội, bao quát này (bạn muốn gọi là gì cũng được) quá áp đảo và bao trùm đến nỗi mọi phân biệt và khác biệt đều biến mất. Đệ tử nhận ra rằng chúng chỉ là kết quả của hoạt động của chất liệu trong năng lực tạo hình tướng của nó và do đó là ảo tưởng và không hiện hữu, xét từ góc độ của tinh thần an nghỉ trong trung tâm riêng của nó. Sự chứng nghiệm duy nhất còn lại là về chính Bản Thể thuần khiết. |
|
60. Usually, “darkness” is considered empty, indicative of lack or of evil, and ‘darkening’ indicative of a reduction of vibration. But so limited is humanity’s range of registration, that whatever vibrations cannot make their impact upon the human mechanism of reception are relegated to the realm of darkness. As there are some sounds which are either too high or too low for the human ear to hear, they are relegated to the realm of silence (even though there is no real silence—within the Universe). Similarly, for the vibrations usually registered as light—those too high or too low are relegated to the realm of darkness (even though there is no absolute darkness—within the Universe). Organs of perception equipped to register those very high or low vibrations would register them as light of some kind. |
60. Thông thường, “bóng tối” được xem là trống rỗng, biểu thị sự thiếu vắng hay tà ác, và “sự tối đi” biểu thị sự giảm rung động. Nhưng phạm vi ghi nhận của nhân loại hạn hẹp đến mức bất cứ rung động nào không thể tạo tác động lên bộ máy tiếp nhận của con người đều bị quy về cõi giới của bóng tối. Cũng như có những âm thanh hoặc quá cao hoặc quá thấp để tai người nghe được, chúng bị quy về cõi giới của im lặng, dù không có sự im lặng thật sự nào trong Vũ trụ. Tương tự, đối với những rung động thường được ghi nhận là ánh sáng—những rung động quá cao hoặc quá thấp đều bị quy về cõi giới của bóng tối, dù không có bóng tối tuyệt đối nào trong Vũ trụ. Những cơ quan tri giác được trang bị để ghi nhận chính các rung động rất cao hoặc rất thấp ấy sẽ ghi nhận chúng như một loại ánh sáng nào đó. |
|
61. There is a principle here: that which exists is light of some kind. Absolute Darkness, Absolute Silence and Absolute Non-Being are equivalent. |
61. Ở đây có một nguyên lý: cái gì hiện hữu thì là ánh sáng thuộc một loại nào đó. Bóng Tối Tuyệt Đối, Im Lặng Tuyệt Đối và Phi Hữu Tuyệt Đối là tương đương. |
|
62. Is there “pure spirit” on the cosmic physical plane? We call it pure but, relatively, it is still veiled (just as every expression on the cosmic physical plane is veiled), and would be less veiled on each progressively ‘higher’ plane. |
62. Có “tinh thần thuần khiết” trên cõi hồng trần vũ trụ không? Chúng ta gọi nó là thuần khiết nhưng, một cách tương đối, nó vẫn còn bị che phủ, cũng như mọi biểu hiện trên cõi hồng trần vũ trụ đều bị che phủ, và sẽ ít bị che phủ hơn trên mỗi cõi ngày càng “cao” hơn. |
|
63. Nevertheless, such spirit is sufficiently “pure” to be so “overwhelming and all-embracing that distinction and differences disappear”—at least to the human consciousness. |
63. Tuy nhiên, tinh thần như thế đủ “thuần khiết” để “quá áp đảo và bao trùm đến nỗi mọi phân biệt và khác biệt đều biến mất”—ít nhất đối với tâm thức con người. |
|
64. Light is required to ‘see’ distinctions in fields of ‘lesser light’. When the light is too great however, it obliterates the distinctions which light of less intensity would reveal. We have all had the experience of coming from a relatively dark room into the bright sunlight and finding ourselves temporarily blinded (“overwhelmed” by greater light). Conversely, we have experienced coming from a brightly lit room into the relative darkness, and also being unable for a time, to see. I remember once long ago looking at a television, and suddenly seeing the image completely disappear; a photographer had turned on “flood lights” in the room in order to take moving pictures. The ‘greater light’ had completely obliterated the ‘lesser light’ (the television images), blotting out all form. As well, we remember that St. Paul was blinded for three days, when during one phase of the process of the third initiation he was impacted by the light of the Monad. |
64. Cần có ánh sáng để “thấy” các phân biệt trong những trường của “ánh sáng thấp hơn”. Tuy nhiên, khi ánh sáng quá lớn, nó xóa sạch những phân biệt mà ánh sáng có cường độ thấp hơn sẽ mặc khải. Tất cả chúng ta đều đã trải nghiệm việc đi từ một căn phòng tương đối tối ra ánh nắng rực rỡ và thấy mình tạm thời bị lóa mắt, “choáng ngợp” bởi ánh sáng lớn hơn. Ngược lại, chúng ta cũng đã trải nghiệm việc đi từ một căn phòng sáng rực vào bóng tối tương đối, và trong một thời gian cũng không thể thấy. Tôi nhớ một lần rất lâu trước đây, khi đang nhìn vào một chiếc truyền hình, và đột nhiên thấy hình ảnh hoàn toàn biến mất; một nhiếp ảnh gia đã bật “đèn pha” trong phòng để quay phim. “Ánh sáng lớn hơn” đã hoàn toàn xóa sạch “ánh sáng nhỏ hơn”, tức các hình ảnh truyền hình, làm mờ đi mọi hình tướng. Cũng vậy, chúng ta nhớ rằng Thánh Phaolô đã bị mù trong ba ngày, khi trong một giai đoạn của tiến trình lần điểm đạo thứ ba, ông chịu tác động bởi ánh sáng của chân thần. |
|
65. In these realizations connected with spirit, the reality of form is negated. Form is revealed as the illusory, impermanent effect of the activity of substance. |
65. Trong những chứng nghiệm liên quan đến tinh thần này, thực tại của hình tướng bị phủ định. Hình tướng hiển lộ như hiệu quả ảo tưởng, vô thường của hoạt động chất liệu. |
|
66. Therefore, does form exist or does it not? It exists in a way, just the way every perceived illusion exists in consciousness, but it does not really exist “from the angle of the spirit at rest in its own centre”. |
66. Vậy, hình tướng có hiện hữu hay không? Nó hiện hữu theo một cách nào đó, giống như mọi ảo tưởng được tri giác đều hiện hữu trong tâm thức, nhưng nó không thật sự hiện hữu “xét từ góc độ của tinh thần an nghỉ trong trung tâm riêng của nó”. |
|
67. In this case the word “exist” refers not to whether we perceive a thing or not: it relates to the essentiality of a thing, and its fundamental permanence or impermanence. The forms generated within the field of substance are so ‘insubstantial’ and fleeting that, relative, to “spirit at rest in its own center”, they are considered not to exist in any fundamental sense—even though they are registered. |
67. Trong trường hợp này, từ “hiện hữu” không chỉ nói đến việc chúng ta có tri giác một sự vật hay không: nó liên quan đến tính cốt yếu của một sự vật, và tính thường tồn hay vô thường căn bản của nó. Các hình tướng được tạo ra trong trường chất liệu thì quá “phi thực chất” và thoáng qua đến nỗi, so với “tinh thần an nghỉ trong trung tâm riêng của nó”, chúng được xem là không hiện hữu theo bất kỳ ý nghĩa căn bản nào—dù chúng vẫn được ghi nhận. |
|
68. A most suggestive phrase is “spirit at rest in its own centre”. In a way, that which moves is unreal. That which is still is real. “Be still and know that I am God”; movement conceals the essence of God. The phrase, “spirit at rest in its own centre” is suggestive of the first ray. |
68. Một cụm từ đầy gợi ý là “tinh thần an nghỉ trong trung tâm riêng của nó”. Theo một nghĩa nào đó, cái gì chuyển động thì không thật. Cái gì tĩnh lặng thì thật. “Hãy tĩnh lặng và biết rằng Ta là Thượng đế”; chuyển động che giấu tinh túy của Thượng đế. Cụm từ “tinh thần an nghỉ trong trung tâm riêng của nó” gợi ý đến cung một. |
|
69. Time, space and movement are the three aspects of the Great Illusion which is our manifested universe. When time, space and motion exist, there is no absolute rest or stillness. These are deep philosophical themes, but where one begins to talk about spirit as “darkness”, such themes must be brought forward if there is to be reasonably deep understanding. |
69. Thời gian, không gian và chuyển động là ba phương diện của Đại Ảo Tưởng, vốn là vũ trụ biểu hiện của chúng ta. Khi thời gian, không gian và chuyển động hiện hữu, không có sự an nghỉ hay tĩnh lặng tuyệt đối. Đây là những chủ đề triết học sâu xa, nhưng khi người ta bắt đầu nói về tinh thần như “bóng tối”, những chủ đề như thế phải được đưa ra nếu muốn có sự thấu hiểu tương đối sâu sắc. |
|
70. When all movement stops, “pure Being” is revealed. We may remember that this cessation of movement is exactly what the Yoga Sutras of Patanjali attempt to accomplish—the subduing and quieting of the chitta (mind-stuff) so that reality may be reflected in the chitta. |
70. Khi mọi chuyển động dừng lại, “Bản Thể thuần khiết” được mặc khải. Chúng ta có thể nhớ rằng sự chấm dứt chuyển động này chính là điều các Yoga Sutra của Patanjali tìm cách thực hiện—sự chế ngự và làm lắng yên chất liệu trí tuệ, để thực tại có thể được phản chiếu trong chất liệu ấy. |
|
71. From these ideas we can begin to generalize: motion is illusion. There is no vibration, light, sound, color without motion. All these are the fabric of illusion. When they cease, illusion ceases. Illusion, however, is relative, and does not cease until the universe ceases, which it periodically does—according to the Secret Doctrine. As for myself, I cannot remember when it last did. Can you? |
71. Từ những ý tưởng này, chúng ta có thể bắt đầu khái quát: chuyển động là ảo tưởng. Không có rung động, ánh sáng, âm thanh, màu sắc nào mà không có chuyển động. Tất cả những điều này là tấm vải dệt của ảo tưởng. Khi chúng chấm dứt, ảo tưởng chấm dứt. Tuy nhiên, ảo tưởng là tương đối, và không chấm dứt cho đến khi vũ trụ chấm dứt, điều mà nó làm theo chu kỳ—theo Giáo Lý Bí Nhiệm. Về phần tôi, tôi không thể nhớ lần gần nhất điều đó đã xảy ra. Các bạn có nhớ không? |
|
Part III – R&I (174 middle-176 top) |
Phần III – Các Cung và Điểm Đạo (từ giữa trang 174 đến đầu trang 176) |
|
(All Highlighting, Bolding and Underlining—MDR) |
(Tất cả phần tô sáng, in đậm và gạch dưới—MDR) |
|
This realisation necessarily comes to the disciple through the means of graded revelation and in balanced sequence; each contact with the Initiator leads the initiate closer to the centre of pure darkness—a darkness which is the very antithesis of darkness as the non-initiate and the unenlightened understand. It is a centre or point of such intense brilliance that everything fades out and at the place of tension, and at that darkest point, let the group see a point of clear cold fire. |
Sự chứng nghiệm này tất yếu đến với đệ tử thông qua phương tiện của sự mặc khải theo cấp độ và trong trình tự cân bằng; mỗi lần tiếp xúc với Đấng Điểm đạo đưa điểm đạo đồ đến gần hơn trung tâm của bóng tối thuần khiết—một bóng tối chính là phản đề hoàn toàn của bóng tối như người chưa được điểm đạo và người chưa giác ngộ thấu hiểu. Đó là một trung tâm hay điểm có độ chói sáng mãnh liệt đến mức mọi sự đều mờ đi và tại nơi tập trung nhất tâm, và tại điểm tối tăm nhất ấy, hãy để nhóm thấy một điểm lửa trong sáng, lạnh lẽo. |
|
1. The onset of a positive ‘spiritual darkness’ is gradual, just as is the entire initiatory process. Spiritual unfoldment proceeds slowly so that it may be stable and reliable. Revelations are “graded”, just the way the degrees in the ancient mystery schools are graded, and just as classes in our schools, colleges and universities are graded. If gradation is not observed, there can be no proper assimilation. Also, in the language of initiation, there is always the question of whether the candidate will “make the grade”. When building roads, a “grade” is a gradual ascent. “The road winds uphill all the way”. |
1. Sự khởi phát của một “bóng tối tinh thần” tích cực là dần dần, cũng như toàn bộ tiến trình điểm đạo. Sự khai mở tinh thần diễn tiến chậm rãi để nó có thể ổn định và đáng tin cậy. Các mặc khải được “phân cấp”, giống như các cấp độ trong những trường huyền nhiệm cổ xưa được phân cấp, và cũng như các lớp học trong trường phổ thông, cao đẳng và đại học của chúng ta được phân cấp. Nếu không tuân theo sự tiệm tiến, sẽ không thể có sự đồng hóa thích đáng. Ngoài ra, trong ngôn ngữ của điểm đạo, luôn có vấn đề liệu ứng viên có “đạt cấp” hay không. Khi xây đường, “độ dốc” là một sự đi lên dần dần. “Con đường quanh co lên dốc suốt cả hành trình”. |
|
2. The language of the Tibetan becomes both beautiful and paradoxical, but, by now, perhaps we have some flickering understanding of what He means. We are approaching a darkness which is “the very antithesis of darkness as the non-initiate and the unenlightened understand”. Contact with the Initiator (in this case Sanat Kumara, the Hierophant, Who confirms our entry into the World of Triad/Spirit) leads us progressively into this darkness which is really “intense brilliance”. |
2. Ngôn ngữ của Chân sư Tây Tạng trở nên vừa đẹp đẽ vừa nghịch lý, nhưng đến nay, có lẽ chúng ta đã có chút thấu hiểu le lói về điều Ngài muốn nói. Chúng ta đang tiến gần đến một bóng tối vốn là “phản đề hoàn toàn của bóng tối như người chưa được điểm đạo và người chưa giác ngộ thấu hiểu”. Sự tiếp xúc với Đấng Điểm đạo, trong trường hợp này là Đức Sanat Kumara, Đấng Chủ Lễ Điểm Đạo, Đấng xác nhận việc chúng ta bước vào Thế giới của Tam nguyên tinh thần/Tinh thần, dần dần dẫn chúng ta vào bóng tối này, vốn thật sự là “sự chói sáng mãnh liệt”. |
|
3. Unless we have experienced what DK is relating, it must remain in the realm of beautiful and evocative imagery, suggestive of a state which will one day be real to us. |
3. Trừ khi chúng ta đã trải nghiệm điều Chân sư DK đang thuật lại, nó hẳn vẫn ở trong cõi giới của hình ảnh đẹp đẽ và gợi mở, gợi ý về một trạng thái một ngày kia sẽ trở nên thực đối với chúng ta. |
|
4. Within the darkness of the initiation process is to be found a “center” or “point” of “pure darkness” which is really a center or point of overwhelmingly intense light and greatly heightened vibratory tension. There is a blinding light source and we are moving towards it. Our spiritual ‘eye’ has to become accustomed to it before we can ‘see’ anything. |
4. Bên trong bóng tối của tiến trình điểm đạo, người ta tìm thấy một “trung tâm” hay “điểm” của “bóng tối thuần khiết”, vốn thật ra là một trung tâm hay điểm của ánh sáng mãnh liệt đến choáng ngợp và trạng thái căng lực rung động được nâng cao rất lớn. Có một nguồn sáng làm lóa mắt, và chúng ta đang tiến về phía nó. “Con mắt” tinh thần của chúng ta phải trở nên quen với nó trước khi chúng ta có thể “thấy” bất cứ điều gì. |
|
5. A principle emerges: the familiar and customary lighted conditions in which we normally ‘see’ are as darkness compared to the destined, yet unfamiliar, far higher vibratory states in relation to which we are blinded and cannot yet ‘see’. When we can see, under normal conditions, we are really in darkness; when we cannot see in the apparent darkness of spirit, we are really in the light—a light of uncommon intensity. The light is darkness and darkness is light. We have to get used to handling these occult paradoxes. Another one such—familiar and demanding solution—is: life is death, and death is life. |
5. Một nguyên lý xuất hiện: những điều kiện được chiếu sáng quen thuộc và thông thường, trong đó chúng ta thường “thấy”, chỉ là bóng tối khi so với những trạng thái rung động cao hơn rất xa, đã được định sẵn nhưng còn xa lạ, mà đối với chúng, chúng ta bị lóa mắt và chưa thể “thấy”. Khi chúng ta có thể thấy, trong những điều kiện bình thường, chúng ta thật ra đang ở trong bóng tối; khi chúng ta không thể thấy trong bóng tối dường như của tinh thần, chúng ta thật ra đang ở trong ánh sáng—một ánh sáng có cường độ phi thường. Ánh sáng là bóng tối và bóng tối là ánh sáng. Chúng ta phải quen với việc xử lý những nghịch lý huyền bí này. Một nghịch lý khác như thế—quen thuộc và đòi hỏi lời giải—là: sự sống là sự chết, và sự chết là sự sống. |
|
6. The initiate has entered the state in all difference is hidden and all form is blotted out. Only the intense reality of the blinding Presence remains. |
6. Điểm đạo đồ đã bước vào trạng thái trong đó mọi khác biệt đều bị che khuất và mọi hình tướng đều bị xóa sạch. Chỉ còn lại thực tại mãnh liệt của Sự Hiện Diện làm lóa mắt. |
|
7. Within the center of pure darkness is a point still more intense. It is found “at the place of tension and at that darkest point”. A point of “clear, cold fire” appears. We are reminded of the “clear, cold light” of the buddhic plane but, instead, the term “fire” is used instead of light. |
7. Bên trong trung tâm của bóng tối thuần khiết có một điểm còn mãnh liệt hơn nữa. Nó được tìm thấy “tại nơi tập trung nhất tâm và tại điểm tối tăm nhất ấy”. Một điểm “lửa trong sáng, lạnh lẽo” xuất hiện. Chúng ta được nhắc nhớ đến “ánh sáng trong sáng, lạnh lẽo” của cõi Bồ đề, nhưng ở đây, thuật ngữ “lửa” được dùng thay vì ánh sáng. |
|
8. In these latter rules we have definitely entered the realm of the spiritual triad. While the clear, cold light pertains to the buddhic plane, it is reasonable to think of the clear, cold fire as pertaining to the atmic—the plane much correlated with the fifth initiation, to which Rule IX may be reasonably conceived as referring—at least in part. |
8. Trong những quy luật sau cùng này, chắc chắn chúng ta đã bước vào cõi giới của Tam Nguyên Tinh Thần. Trong khi ánh sáng trong sáng, lạnh lẽo thuộc về cõi Bồ đề, thì hợp lý khi nghĩ rằng lửa trong sáng, lạnh lẽo thuộc về cõi atma—cõi liên hệ rất nhiều với lần điểm đạo thứ năm, mà Quy luật IX có thể được xem một cách hợp lý là đang ám chỉ đến—ít nhất một phần. |
|
It is a tension and a point of attainment that is only possible in group formation. Even in the earlier initiations, and when the initiate has proved his right to be initiated, the process is still a group proceeding; it is undergone in the protective presence of initiates of the same standing and unfoldment. It is their united focus that enables the candidate for initiation to see the point of clear cold light and their united will that “brings him upright, [Page 175] standing, unafraid, with open eye before the One Who from the very first has conferred on him the gifts of life and light, and Who now—with lifted rod, surrounded by the fire, reveals to him the significance of life and the purpose of the light.” It is that of which the minds of men know naught, and which even the highest intellect is unable to grasp or even sense. |
Đó là một trạng thái căng thẳng và một điểm thành tựu chỉ có thể có trong đội hình nhóm. Ngay cả trong các lần điểm đạo sớm hơn, và khi điểm đạo đồ đã chứng tỏ quyền được điểm đạo của mình, tiến trình ấy vẫn là một diễn trình nhóm; nó diễn ra trong sự hiện diện bảo hộ của các điểm đạo đồ có cùng mức đứng và sự khai mở. Chính tiêu điểm hợp nhất của họ giúp ứng viên điểm đạo thấy được điểm ánh sáng trong trẻo, lạnh lẽo, và chính ý chí hợp nhất của họ “đưa y đứng thẳng, [Page 175] đứng vững, không sợ hãi, với mắt mở trước Đấng ngay từ ban đầu đã ban cho y các ân huệ của sự sống và ánh sáng, và giờ đây—với thần trượng giơ cao, được lửa bao quanh, mặc khải cho y thâm nghĩa của sự sống và mục đích của ánh sáng.” Đó là điều mà trí tuệ của con người không biết gì, và ngay cả trí năng cao nhất cũng không thể nắm bắt hay thậm chí cảm nhận. |
|
9. In this chapter, there is one astonishing paragraph after another. The secrets of initiation which may be revealed are being, to a degree, revealed |
9. Trong chương này, hết đoạn văn này đến đoạn văn khác đều gây kinh ngạc. Những bí nhiệm điểm đạo vốn có thể được tiết lộ thì, ở một mức độ nào đó, đang được tiết lộ |
|
10. The Tibetan is suggesting that all initiation is really group initiation. |
10. Chân sư Tây Tạng đang gợi ý rằng mọi điểm đạo thật ra đều là điểm đạo nhóm. |
|
11. The principle is that the spiritual tension sufficient for the initiatory process can only be generated by the group. All through his years of aspiration and discipline the candidate may think he is working on his own, however the subjective presence of the group of those who stand at a similar vibratory level or just beyond is feeding his capacity to achieve the necessary point of tension. |
11. Nguyên lý là: sự căng thẳng tinh thần đủ cho tiến trình điểm đạo chỉ có thể do nhóm tạo ra. Trong suốt những năm tháng khát vọng và kỷ luật của mình, ứng viên có thể nghĩ rằng y đang tự mình làm việc, tuy nhiên sự hiện diện chủ quan của nhóm những người đứng ở một cấp độ rung động tương tự hoặc chỉ cao hơn một chút đang nuôi dưỡng năng lực của y để đạt tới điểm tập trung nhất tâm cần thiết. |
|
12. The group strengthens the individual; the group protects the individual. |
12. Nhóm củng cố cá nhân; nhóm bảo vệ cá nhân. |
|
13. All of us have surely had the experience of feeling our concentration, focus and point of tension heightened in group meditations. A higher analogy of this effect as it pertains to the ceremony of initiation is here being discussed. The surrounding group of ‘brothers of like degree’ augments the candidates focus and strengthens his will. This strengthening is indicated by the words, “brings him upright…” |
13. Chắc chắn tất cả chúng ta đều đã có kinh nghiệm cảm thấy sự tập trung, tiêu điểm và điểm tập trung nhất tâm của mình được nâng cao trong các buổi tham thiền nhóm. Ở đây đang bàn đến một tương đồng cao hơn của hiệu quả này khi nó liên quan đến nghi lễ điểm đạo. Nhóm bao quanh gồm “các huynh đệ đồng cấp” làm tăng cường tiêu điểm của ứng viên và củng cố ý chí của y. Sự củng cố này được chỉ ra qua các lời: “đưa y đứng thẳng…” |
|
14. The candidate stands in “spiritual being”, upright, unafraid. Obviously, he is being stimulated by the first ray regardless of the ray of his soul. He is, after all, to stand in the Presence of the King—the great Exponent of the first ray upon our planet. |
14. Ứng viên đứng trong “hiện tồn tinh thần”, thẳng đứng, không sợ hãi. Hiển nhiên, y đang được kích thích bởi cung một, bất kể cung linh hồn của y là gì. Rốt cuộc, y phải đứng trong Sự Hiện Diện của Đức Vua—Đấng Diễn Giải vĩ đại của cung một trên hành tinh chúng ta. |
|
15. That the candidate is brought “upright” tells us something about his spiritual posture and the necessary alignment between his vehicles and centers which are about to receive the intense stimulation of the Rod of Initiation. |
15. Việc ứng viên được đưa “đứng thẳng” cho chúng ta biết điều gì đó về tư thế tinh thần của y và sự chỉnh hợp cần thiết giữa các hiện thể và các trung tâm của y, những thứ sắp tiếp nhận sự kích thích mãnh liệt của Thần Trượng Điểm đạo. |
|
16. The One Who from the very first has conferred on him the gift of life and light is the One Initiator. Though the candidate meets the Christ as the Initiator during the first two initiations, the One Initiator stands energetically behind the process. |
16. Đấng ngay từ ban đầu đã ban cho y ân huệ của sự sống và ánh sáng chính là Đấng Điểm Đạo Duy Nhất. Dù ứng viên gặp Đức Christ với tư cách Đấng Điểm Đạo trong hai lần điểm đạo đầu, Đấng Điểm Đạo Duy Nhất vẫn đứng phía sau tiến trình ấy về mặt năng lượng. |
|
17. It is the “one eye” that is open. The candidate is now, temporarily and within the specialized conditions of initiation, beyond the influence of duality—with its two eyes. |
17. Chính “một mắt” được mở. Giờ đây, tạm thời và trong những điều kiện chuyên biệt của điểm đạo, ứng viên vượt ngoài ảnh hưởng của Nhị nguyên—với hai mắt của nó. |
|
18. What follows is a beautiful sentence we should all ponder well. It is so evocative that perhaps some intimation of what is to come (or some memory of what has transpired) will dawn upon the contemplative reader. A sublime experience is indicated—beyond mind and intellect. It from such sentences as this that the individual and the group can gather inspiration for the persistent arduous training required if the scene described is ever to become an experienced reality. |
18. Điều tiếp theo là một câu đẹp đẽ mà tất cả chúng ta nên suy ngẫm kỹ. Nó gợi mở đến mức có lẽ một linh cảm nào đó về điều sắp đến, hoặc một ký ức nào đó về điều đã xảy ra, sẽ ló rạng nơi người đọc biết chiêm ngưỡng. Một kinh nghiệm siêu việt được chỉ ra—vượt ngoài thể trí và trí năng. Chính từ những câu như thế này mà cá nhân và nhóm có thể thu nhận cảm hứng cho sự rèn luyện bền bỉ và gian khổ cần thiết, nếu cảnh tượng được mô tả ấy có lúc trở thành một thực tại được kinh nghiệm. |
|
19. This Rule applies to advanced initiations—from the third and beyond. One does not see the One Initiator “face to face” until the fifth degree—Mastership. In this Rule, the One Initiator is appearing—not just as a star or an “eye”; thus the application of the Rule to the fifth initiation is clear. The following words describe the initiation process from the third through the fifth initiations: |
19. Quy luật này áp dụng cho các lần điểm đạo cao cấp—từ lần thứ ba trở đi. Người ta không thấy Đấng Điểm Đạo Duy Nhất “mặt đối mặt” cho đến cấp độ thứ năm—quả vị Chân sư. Trong Quy luật này, Đấng Điểm Đạo Duy Nhất đang xuất hiện—không chỉ như một ngôi sao hay một “con mắt”; vì vậy, việc áp dụng Quy luật này cho lần điểm đạo thứ năm là rõ ràng. Những lời sau đây mô tả tiến trình điểm đạo từ lần thứ ba đến lần thứ năm: |
|
“Even now, at this much later initiation, he cannot see ‘eye to eye’—as the phrase goes. He becomes aware of a growing point of light which, from a pin-point of intensest brilliance develops before him into a five-pointed star. At the fourth initiation, it is not a star which shines forth before him, but a triangle; and within that triangle he will perceive an eye regarding him, and for the first time he does see the Most High ‘eye to eye.’ At the fifth initiation no symbol or light substance separates or protects him, but he stands before the Initiator face to face, and the freedom of the City of God is his.” (R&I 176-177) |
“Ngay cả bây giờ, ở lần điểm đạo muộn hơn rất nhiều này, y vẫn chưa thể thấy ‘mắt đối mắt’—như cách nói thông thường. Y trở nên ý thức về một điểm ánh sáng đang lớn dần, từ một điểm nhỏ như đầu kim của ánh sáng rực rỡ cực độ phát triển trước mặt y thành một ngôi sao năm cánh. Ở lần điểm đạo thứ tư, không phải một ngôi sao tỏa sáng trước mặt y, mà là một tam giác; và bên trong tam giác ấy, y sẽ nhận thấy một con mắt đang nhìn y, và lần đầu tiên y thật sự thấy Đấng Chí Cao ‘mắt đối mắt’. Ở lần điểm đạo thứ năm, không biểu tượng hay chất liệu ánh sáng nào ngăn cách hay bảo vệ y, mà y đứng trước Đấng Điểm Đạo mặt đối mặt, và quyền tự do của Thành Thượng đế thuộc về y.” (R&I 176-177) |
|
20. We note that the One Initiator is surrounded by the fire. This statement offers us a picture of that which is seen by the initiate as he faces the Initiator—especially at the fifth initiation. |
20. Chúng ta lưu ý rằng Đấng Điểm Đạo Duy Nhất được lửa bao quanh. Phát biểu này đem đến cho chúng ta một hình ảnh về điều mà điểm đạo đồ thấy khi y đối diện Đấng Điểm Đạo—đặc biệt ở lần điểm đạo thứ năm. |
|
21. We remember that the candidate at the third and fourth initiations will see, respectively, only a star and an eye (beholding him). At the first and second initiations the candidate sees the Christ wielding the Rod of the Bodhisattva and at the fifth, the One Initiator “with lifted rod”. It may be asked whether the initiate (who does not behold Sanat Kumara at the third and fourth degrees) actually sees the Rod of Initiation as it performs its work. |
21. Chúng ta nhớ rằng ứng viên ở lần điểm đạo thứ ba và thứ tư sẽ lần lượt chỉ thấy một ngôi sao và một con mắt đang nhìn y. Ở lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai, ứng viên thấy Đức Christ sử dụng Thần Trượng của Đức Bồ Tát, và ở lần thứ năm, thấy Đấng Điểm Đạo Duy Nhất “với thần trượng giơ cao”. Có thể đặt câu hỏi liệu điểm đạo đồ, người không chiêm ngưỡng Đức Sanat Kumara ở cấp độ thứ ba và thứ tư, có thật sự thấy Thần Trượng Điểm đạo khi nó thực hiện công việc của mình hay không. |
|
22. Do we think we now know the “significance of life and the purpose of the light”? I think we do not. We can ponder with our minds and search with the faculty of intuition, but dim apprehensions are all that presently can be gathered. Yet in the utterly clarified consciousness bestowed by the One Initiator, the significance and purpose are revealed. |
22. Chúng ta có nghĩ rằng giờ đây mình biết “thâm nghĩa của sự sống và mục đích của ánh sáng” không? Tôi nghĩ là không. Chúng ta có thể suy ngẫm bằng thể trí và tìm kiếm bằng năng lực trực giác, nhưng những nhận biết mờ nhạt là tất cả những gì hiện nay có thể thu nhận. Tuy vậy, trong tâm thức hoàn toàn được làm sáng tỏ do Đấng Điểm Đạo Duy Nhất ban cho, thâm nghĩa và mục đích được mặc khải. |
|
23. Is it not reasonable to conclude that the in apprehending the significance of life and the purpose of the light, the power of atma is involved? The atmic plane is the first of the Brahmic planes and the third subplane of the cosmic physical plane. Hence the relation of atma to both life (one) and light (three). |
23. Chẳng phải là hợp lý khi kết luận rằng trong việc nắm bắt thâm nghĩa của sự sống và mục đích của ánh sáng, quyền năng của atma có liên quan đó sao? Cõi atma là cõi đầu tiên trong các cõi Brahma và là cõi phụ thứ ba của cõi hồng trần vũ trụ. Do đó có mối liên hệ của atma với cả sự sống, một, và ánh sáng, ba. |
|
24. The great majority of those who are equipped to study these more advanced Rules will already have experienced the first initiation (and, in some cases, the second) and the clarified conditions which exist in the presence of the Initiator (in the case of the first and second degrees, the Christ). But the normal conditions of the lower worlds cover the memory and it remains beneath the threshold of consciousness—forgotten in detail but present as a motivating force, driving the disciple forward towards the next initiatory opportunity. |
24. Đại đa số những người được trang bị để nghiên cứu các Quy luật cao cấp hơn này hẳn đã kinh nghiệm lần điểm đạo thứ nhất, và trong một số trường hợp, lần thứ hai, cùng những điều kiện sáng tỏ hiện hữu trong sự hiện diện của Đấng Điểm Đạo, trong trường hợp các cấp độ thứ nhất và thứ hai là Đức Christ. Nhưng các điều kiện bình thường của những cõi thấp che phủ ký ức ấy, và nó vẫn ở dưới ngưỡng tâm thức—bị quên lãng về chi tiết nhưng vẫn hiện diện như một mãnh lực thúc đẩy, đẩy đệ tử tiến tới cơ hội điểm đạo kế tiếp. |
|
25. DK is telling us that we must move beyond mind, per se, if we are to grasp that which is hinted in this excerpt. Atma-buddhi are required for apprehension. |
25. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng chúng ta phải vượt ra ngoài chính thể trí, nếu muốn nắm bắt điều được ám chỉ trong trích đoạn này. Atma-Bồ đề là cần thiết cho sự lĩnh hội. |
|
In the familiar words (familiar to all esotericists) which are so often said or chanted at moments of highest spiritual aspiration, the neophyte refers to the time when “we stand where the One Initiator is invoked, when we see His star shine forth.” Two ideas then stand forth: the idea of invocation and of the result of that invocation, which is the sudden and unexpected shining forth of the Star. This star is simply a point of vivid light. This invocation, though used as the affirmation of a fixed objective by the aspirant to initiation, is nevertheless a mantram definitely appropriate to the third initiation. It is only effective in its invocative appeal when used in conjunction with a Word of Power. This Word of Power is communicated to the candidate (ever an initiate of the second degree) by the Christ Who has initiated him in the first two initiations but Whose protective aura (in conjunction with the initiate’s Master and another Master or an adept of the fourth initiation) is required before the star can shine forth—the focussed light of the One Initiator. For the first time the expanded consciousness of the initiate can contact Shamballa and the One Who rules there, the Lord of the World. For the first time, the focussed purpose which brought Sanat Kumara into incarnation makes an impact upon the enlightened brain of the initiate, bringing something new and different into his equipment, into his nature and his consciousness. I know not how else to express these ideas. It is a blinding conviction of an unalterable will, carrying all before it, oblivious of time and space, aware only of intensity of direction, and carrying with it two major qualifications or basic recognitions to the initiate: a sense of essential being which obliterates all the actions and reactions of time and [Page 176] space, and a focussed will-to-good which is so dynamic in its effect that evil disappears. Evil is after all only an impelling sense of difference, leading inevitably to separative action. |
Trong những lời quen thuộc, quen thuộc với mọi nhà bí truyền học, vốn thường được nói hay tụng lên vào những khoảnh khắc khát vọng tinh thần cao nhất, người sơ cơ nói đến thời điểm khi “chúng ta đứng nơi Đấng Điểm Đạo Duy Nhất được khẩn cầu, khi chúng ta thấy ngôi sao của Ngài tỏa sáng.” Khi ấy hai ý tưởng nổi bật: ý tưởng về sự khẩn cầu và về kết quả của sự khẩn cầu ấy, tức là sự tỏa sáng đột ngột và bất ngờ của Ngôi Sao. Ngôi sao này chỉ đơn giản là một điểm ánh sáng sống động. Sự khẩn cầu này, dù được người chí nguyện hướng đến điểm đạo dùng như lời khẳng định về một mục tiêu cố định, tuy nhiên vẫn là một mantram chắc chắn thích hợp với lần điểm đạo thứ ba. Nó chỉ có hiệu quả trong lời khẩn cầu khi được dùng kết hợp với một Quyền năng từ. Quyền năng từ này được Đức Christ truyền đạt cho ứng viên, vốn luôn là một điểm đạo đồ bậc hai, Đấng đã điểm đạo y trong hai lần điểm đạo đầu nhưng hào quang bảo hộ của Ngài, kết hợp với Chân sư của điểm đạo đồ và một Chân sư khác hoặc một chân sư của lần điểm đạo thứ tư, là điều cần thiết trước khi ngôi sao có thể tỏa sáng—ánh sáng được tập trung nhất tâm của Đấng Điểm Đạo Duy Nhất. Lần đầu tiên, tâm thức mở rộng của điểm đạo đồ có thể tiếp xúc với Shamballa và với Đấng cai quản nơi đó, Đức Chúa Tể Thế Giới. Lần đầu tiên, mục đích được tập trung nhất tâm đã đưa Đức Sanat Kumara vào lâm phàm tạo một tác động lên bộ não đã giác ngộ của điểm đạo đồ, đem một điều gì mới mẻ và khác biệt vào trang bị của y, vào bản chất và tâm thức của y. Tôi không biết cách nào khác để diễn đạt những ý tưởng này. Đó là một niềm xác tín chói lòa về một ý chí bất biến, cuốn phăng mọi thứ trước nó, không màng thời gian và không gian, chỉ ý thức về cường độ của hướng đi, và mang theo với nó hai phẩm tính chính yếu hay hai nhận thức cơ bản cho điểm đạo đồ: một ý thức về hiện tồn cốt yếu xóa nhòa mọi hành động và phản ứng của thời gian và [Page 176] không gian, và một Ý Chí-hướng Thiện được tập trung nhất tâm, năng động đến mức trong hiệu quả của nó, tà ác biến mất. Suy cho cùng, tà ác chỉ là một cảm thức thúc bách về sự khác biệt, tất yếu dẫn đến hành động chia rẽ. |
|
26. The following words pertain especially to the third initiation: “we stand where the One Initiator is invoked, when we see His star shine forth.” The place “where” we stand is not a ‘place’ at all, but a point of tension—a vibratory condition sufficient to invoke the Presence of the Hierophant. |
26. Những lời sau đây đặc biệt liên quan đến lần điểm đạo thứ ba: “chúng ta đứng nơi Đấng Điểm Đạo Duy Nhất được khẩn cầu, khi chúng ta thấy ngôi sao của Ngài tỏa sáng.” “Nơi” chúng ta đứng hoàn toàn không phải là một nơi chốn, mà là một điểm tập trung nhất tâm—một điều kiện rung động đủ để khẩn cầu Sự Hiện Diện của Đấng Chủ Lễ Điểm Đạo. |
|
27. Notice that it is “we” who stand; this mantram suggests group initiation. Although it applies directly to the third initiation and beyond, it is useful, also, to the candidate for the earlier initiations. |
27. Hãy lưu ý rằng chính “chúng ta” là những người đứng; mantram này gợi ý điểm đạo nhóm. Dù nó áp dụng trực tiếp cho lần điểm đạo thứ ba và các lần sau đó, nó cũng hữu ích cho ứng viên của các lần điểm đạo sớm hơn. |
|
28. At the initiation of any candidate, the already initiated brothers of like degree contribute to the process of invoking the Initiator. |
28. Trong cuộc điểm đạo của bất kỳ ứng viên nào, các huynh đệ đồng cấp đã được điểm đạo góp phần vào tiến trình khẩn cầu Đấng Điểm Đạo. |
|
29. The Tibetan is acquainting us with the occult facts of the initiation process. The five-pointed star is (or begins with) a point of intense light. Elsewhere, He says that the figure of a star actually appears before the candidate—just as later an eye within a triangle appears, and at last, at the fifth degree, the ‘face’ of the one Initiator. (cf. R&I 176-177) |
29. Chân sư Tây Tạng đang giúp chúng ta làm quen với các sự kiện huyền bí của tiến trình điểm đạo. Ngôi sao năm cánh là, hoặc bắt đầu bằng, một điểm ánh sáng mãnh liệt. Ở nơi khác, Ngài nói rằng hình dạng của một ngôi sao thật sự xuất hiện trước ứng viên—cũng như về sau một con mắt bên trong một tam giác xuất hiện, và cuối cùng, ở cấp độ thứ năm, là “khuôn mặt” của Đấng Điểm Đạo Duy Nhất. (xem R&I 176-177) |
|
30. Note that the shining forth of the star is “sudden and unexpected”. These are two words which describe rather well the dynamics of the planet Uranus, which planet the Hierophant or One Initiator represents. Uranus is the “Heavenly One” and, in a way, the ‘living One’. The One Initiator is raising the candidate into life, which electrifying Uranus bestows. |
30. Hãy lưu ý rằng sự tỏa sáng của ngôi sao là “đột ngột và bất ngờ”. Đây là hai từ mô tả khá đúng các động lực của hành tinh Sao Thiên Vương, hành tinh mà Đấng Chủ Lễ Điểm Đạo hay Đấng Điểm Đạo Duy Nhất đại diện. Sao Thiên Vương là “Đấng Thiên Thượng” và, theo một cách nào đó, là Đấng sống động. Đấng Điểm Đạo Duy Nhất đang nâng ứng viên vào sự sống, điều mà Sao Thiên Vương đầy điện lực ban cho. |
|
31. Those who have passed through these degrees may describe that which occurs to those who have not, but at the moment the expected happenings will still have the aura of spontaneity and unexpectedness. Throughout life it is true that “you don’t believe it unless it happens to you”. |
31. Những ai đã đi qua các cấp độ này có thể mô tả điều xảy ra cho những người chưa đi qua, nhưng vào khoảnh khắc ấy, các biến cố được mong đợi vẫn sẽ mang hào quang của tính tự phát và bất ngờ. Trong suốt đời sống, điều đúng là: “bạn sẽ không tin điều đó trừ khi nó xảy ra với bạn”. |
|
32. If we carefully study the excerpt above we shall see that the Rule applies to all three initiations over which Sanat Kumara presides—the third, fourth and the fifth. It would be differently interpreted by each type of candidate. |
32. Nếu chúng ta nghiên cứu kỹ trích đoạn trên, chúng ta sẽ thấy rằng Quy luật này áp dụng cho cả ba lần điểm đạo mà Đức Sanat Kumara chủ trì—lần thứ ba, thứ tư và thứ năm. Mỗi loại ứng viên sẽ diễn giải nó theo cách khác nhau. |
|
33. Note that the mantram, “until we stand where the One Initiator is invoked, until we see His star shine forth”, is only invocatively effective if used with a Word of Power (in this case, communicated by the Christ to the candidate). |
33. Hãy lưu ý rằng mantram: “cho đến khi chúng ta đứng nơi Đấng Điểm Đạo Duy Nhất được khẩn cầu, cho đến khi chúng ta thấy ngôi sao của Ngài tỏa sáng”, chỉ có hiệu quả về mặt khẩn cầu nếu được dùng với một Quyền năng từ, trong trường hợp này do Đức Christ truyền đạt cho ứng viên. |
|
34. Sound is creative. Certain sounds inevitably have certain effects. There are magical words—certain sounds to which the various orders of builders necessarily respond. |
34. Âm thanh có tính sáng tạo. Một số âm thanh chắc chắn tạo ra một số hiệu quả nhất định. Thật sự có những linh từ huyền thuật—những âm thanh nhất định mà các cấp bậc khác nhau của các đấng kiến tạo nhất thiết phải đáp ứng. |
|
35. Words of Power create mathematically correct conditions in substance which allow the transmission of energies which were confined or unreleased before these words were pronounced. This is why these words are guarded with such care. Man cannot be trusted with the creative words until he can be trusted to create in line with the Plan and Purpose. Many of these words, we are told, were common property in Atlantean times; because of the unreadiness of man to handle them responsibly, havoc and destruction were the result. |
35. Các Quyền năng từ tạo ra những điều kiện chính xác về mặt toán học trong chất liệu, cho phép truyền dẫn các năng lượng vốn bị giam giữ hoặc chưa được giải phóng trước khi các linh từ ấy được phát âm. Đây là lý do các linh từ ấy được gìn giữ cẩn mật đến thế. Con người chưa thể được tin cậy giao phó các linh từ sáng tạo cho đến khi có thể được tin cậy để sáng tạo phù hợp với Thiên Cơ và Thiên Ý. Chúng ta được cho biết rằng nhiều linh từ trong số này từng là tài sản chung vào thời Atlantis; vì con người chưa sẵn sàng xử lý chúng một cách có trách nhiệm, hỗn loạn và hủy diệt đã là kết quả. |
|
36. We can see this principle at work in the cyber-world. Human intelligence has discovered and developed the process of electronic communication. There is a world wide web which signals the integration of the mental body of humanity. Yet, there are some who use this advanced knowledge maliciously, creating viruses to destroy the work of others simply for the malicious thrill of doing so. Always new gifts of power that have been conferred upon humanity are abused by those who are not morally ready to use them constructively. The need for caution in the realm of “magic” is very great. |
36. Chúng ta có thể thấy nguyên lý này vận hành trong thế giới mạng. Trí tuệ con người đã khám phá và phát triển tiến trình giao tiếp điện tử. Có một mạng lưới toàn cầu báo hiệu sự tích hợp của thể trí nhân loại. Tuy vậy, có những người dùng tri thức cao cấp này một cách ác ý, tạo ra vi-rút để phá hủy công việc của người khác chỉ vì khoái cảm ác ý khi làm như vậy. Luôn luôn, những ân huệ quyền năng mới được ban cho nhân loại đều bị lạm dụng bởi những người chưa sẵn sàng về mặt đạo đức để sử dụng chúng một cách xây dựng. Nhu cầu thận trọng trong lĩnh vực “huyền thuật” là rất lớn. |
|
37. Even in human discourse, the pronouncing of certain words invokes certain energies. Words of love are an invocation which evoke love; words of hate evoke hatred. In these years before the Spiritual Hierarchy truly externalizes, we are in a rehearsal period, preparing for the later use of real Words of Power. |
37. Ngay cả trong giao tiếp của con người, việc phát âm một số lời nhất định khẩn cầu một số năng lượng nhất định. Những lời yêu thương là một sự khẩn cầu gợi lên tình thương; những lời thù hận gợi lên hận thù. Trong những năm trước khi Huyền Giai Tinh Thần thật sự ngoại hiện, chúng ta đang ở trong một giai đoạn tập dượt, chuẩn bị cho việc sử dụng về sau các Quyền năng từ thật sự. |
|
38. The Words of Power which are conveyed to us in the Teaching, are not the real words, but they can be effective in preparing to receive and use the real words. Mantrams and Words of Power communicated in books feed correct understanding and produce right alignment, but something is withheld to keep them from being willfully applied—perhaps the exact pronunciation, the rhythm, the note on which they are to be intoned, or, more likely, the exact words themselves. The Teaching is guarded by Those Who are responsible for the safe-guarding of human evolution. |
38. Các Quyền năng từ được truyền đạt cho chúng ta trong Giáo Huấn không phải là những linh từ thật, nhưng chúng có thể hữu hiệu trong việc chuẩn bị để tiếp nhận và sử dụng những linh từ thật. Các mantram và Quyền năng từ được truyền đạt trong sách nuôi dưỡng sự thấu hiểu đúng đắn và tạo ra sự chỉnh hợp đúng, nhưng có điều gì đó được giữ lại để ngăn chúng khỏi bị áp dụng tùy tiện—có lẽ là cách phát âm chính xác, nhịp điệu, âm điệu mà chúng phải được ngâm xướng, hoặc nhiều khả năng hơn là chính các linh từ chính xác ấy. Giáo Huấn được Các Đấng có trách nhiệm bảo vệ an toàn cho sự tiến hóa nhân loại gìn giữ. |
|
39. Note the need at the third initiation for a triangular protective aura around the candidate. This is formed by the Christ, the candidate’s Master and another Master or an adept of the fourth initiation. Only in the presence of this protective triangle can the One Initiator be invoked and His star shine forth. The arrangement is based upon occult laws pertaining to the distribution of energy. The triangle is the symbol of balance. Note that Libra, the sign of balance, has a glyph or symbol which is triangular, and that the Libran Creative Hierarchy (cf. EA, 35) are called the “Triads” and relate particularly to the processes of life and consciousness within the spiritual triad. |
39. Hãy lưu ý nhu cầu ở lần điểm đạo thứ ba về một hào quang bảo hộ hình tam giác quanh ứng viên. Hào quang này được hình thành bởi Đức Christ, Chân sư của ứng viên và một Chân sư khác hoặc một chân sư của lần điểm đạo thứ tư. Chỉ trong sự hiện diện của tam giác bảo hộ này, Đấng Điểm Đạo Duy Nhất mới có thể được khẩn cầu và ngôi sao của Ngài mới có thể tỏa sáng. Sự sắp đặt này dựa trên các định luật huyền bí liên quan đến sự phân phối năng lượng. Tam giác là biểu tượng của sự cân bằng. Hãy lưu ý rằng Thiên Bình, dấu hiệu của sự cân bằng, có một hình tượng hay biểu tượng mang tính tam giác, và Huyền Giai Sáng Tạo Thiên Bình (xem EA, 35) được gọi là “Các Tam Nguyên” và đặc biệt liên hệ đến các tiến trình của sự sống và tâm thức bên trong Tam Nguyên Tinh Thần. |
|
40. In an interesting way, every candidate for initiation ‘standing’ within the triangle becomes an “eye within the triangle”. He is standing there for purposes of empowerment and revelation. He is about to ‘see’ that which hitherto he has not seen. His spiritual eye is to be opened (to some extent) by the special forces combined (on his behalf) during the initiation ceremony (whether outer or inner)—though it is predicted that, in the coming Age, only the first and second initiations will be given or performed exoterically. Perhaps some hint will come to us about the conditions in life necessary for the enhancement of vision; perhaps the balancing of forces plays a significant role in the invocation of revelation. This is certainly the case in relation to the etheric triangle surrounding the head (head center, ajna center and alta major center) the proper and vivid functioning of which evokes the functioning of the “third eye”. |
40. Theo một cách thú vị, mọi ứng viên cho điểm đạo đang “đứng” trong tam giác đều trở thành một “con mắt bên trong tam giác”. Y đứng đó nhằm mục đích được truyền quyền năng và mặc khải. Y sắp “thấy” điều mà cho đến nay y chưa từng thấy. Linh nhãn của y sẽ được mở ra, ở một mức độ nào đó, bởi các mãnh lực đặc biệt được phối hợp, vì lợi ích của y, trong nghi lễ điểm đạo, dù bên ngoài hay bên trong — mặc dù có tiên đoán rằng, trong Kỷ Nguyên sắp đến, chỉ lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai sẽ được trao truyền hoặc thực hiện một cách ngoại môn. Có lẽ một vài gợi ý sẽ đến với chúng ta về những điều kiện trong đời sống cần thiết cho việc gia tăng tầm nhìn; có lẽ sự quân bình các mãnh lực đóng một vai trò quan trọng trong việc khẩn cầu sự mặc khải. Điều này chắc chắn đúng đối với tam giác dĩ thái bao quanh đầu, gồm trung tâm đầu, trung tâm ajna và trung tâm alta major; sự vận hành đúng đắn và sống động của tam giác ấy gợi lên sự vận hành của “con mắt thứ ba”. |
|
41. We are told here, that the initiate is contacting Shamballa for the first time. Shamballa is only contacted in groups, but let us remember that at his initiation, candidates of like degree are in attendance and standing by, so the contact is actually taking place in group formation. |
41. Ở đây chúng ta được cho biết rằng điểm đạo đồ đang tiếp xúc với Shamballa lần đầu tiên. Shamballa chỉ được tiếp xúc trong nhóm, nhưng chúng ta hãy nhớ rằng trong cuộc điểm đạo của y, các ứng viên cùng cấp độ đều hiện diện và đứng kề bên, vì vậy sự tiếp xúc ấy thật sự đang diễn ra trong đội hình nhóm. |
|
42. As well, because the candidate/initiate is taking the third initiation (or those beyond), he has already entered into an awareness of group consciousness. |
42. Hơn nữa, vì ứng viên/điểm đạo đồ đang trải qua lần thứ ba điểm đạo, hoặc những lần cao hơn, y đã đi vào sự nhận biết về tâm thức nhóm. |
|
43. If we think carefully about what is stated, we shall see that Shamballa cannot be energetically experienced before the third degree. At each succeeding degree, the experience of Shamballa is intensified. |
43. Nếu chúng ta suy nghĩ cẩn thận về điều được nêu ra, chúng ta sẽ thấy rằng Shamballa không thể được kinh nghiệm về mặt năng lượng trước cấp độ thứ ba. Ở mỗi cấp độ kế tiếp, kinh nghiệm về Shamballa càng được tăng cường. |
|
44. We are told, |
44. Chúng ta được cho biết, |
|
“For the first time, the focussed purpose which brought Sanat Kumara into incarnation makes an impact upon the enlightened brain of the initiate, bringing something new and different into his equipment, into his nature and his consciousness.” |
“Lần đầu tiên, mục đích được tập trung vốn đã đưa Đức Sanat Kumara vào lâm phàm tạo một tác động lên bộ não đã được soi sáng của điểm đạo đồ, đem một điều gì mới mẻ và khác biệt vào trang bị của y, vào bản chất và tâm thức của y.” |
|
If the initiation is taking place within the causal body (which it is, if it is the third or fourth), how is the “enlightened brain” of the initiate involved? The impact of the energies conferred at initiation impresses the brain during the initiation (from the energetic perspective, for the human energy system is an organic unity) and especially after the moment of initiation from the consciousness perspective. The initiate at initiation is not standing in his etheric or physical brain consciousness; he is in causal consciousness and the limitations of the brain are left far ‘below’. But of course, that which impresses the consciousness during initiation is transferred to the brain shortly—even if the transference is not utterly complete. |
Nếu cuộc điểm đạo đang diễn ra trong thể nguyên nhân, mà quả thật là như vậy nếu đó là lần thứ ba hoặc thứ tư, thì “bộ não đã được soi sáng” của điểm đạo đồ liên hệ như thế nào? Tác động của các năng lượng được ban trong cuộc điểm đạo in dấu lên bộ não trong khi điểm đạo, xét từ viễn cảnh năng lượng, vì hệ thống năng lượng con người là một thể thống nhất hữu cơ, và đặc biệt là sau khoảnh khắc điểm đạo xét từ viễn cảnh tâm thức. Vào lúc điểm đạo, điểm đạo đồ không đứng trong tâm thức bộ não dĩ thái hay hồng trần của mình; y ở trong tâm thức nguyên nhân và những giới hạn của bộ não bị bỏ lại rất xa “bên dưới”. Nhưng dĩ nhiên, điều gì in dấu lên tâm thức trong lúc điểm đạo sẽ sớm được chuyển dịch đến bộ não — ngay cả khi sự chuyển dịch ấy không hoàn toàn trọn vẹn. |
|
Further, we can see that the candidate is, at last, contacting planetary purpose. He may have speculated upon this purpose prior to initiation, but now he is shown and, therefore, knows—at least he knows in the measure allowed by the degree through which he is passing. |
Hơn nữa, chúng ta có thể thấy rằng cuối cùng ứng viên đang tiếp xúc với mục đích hành tinh. Y có thể đã từng suy đoán về mục đích này trước khi điểm đạo, nhưng giờ đây y được chỉ cho thấy và, do đó, biết —ít nhất y biết trong mức độ mà cấp độ y đang trải qua cho phép. |
|
He also is coming to understand something about the nature of sacrifice (which he must demonstrate fully at the fourth degree). Sanat Kumara is the “Great Sacrifice”, and His purpose was from the first and still is sacrificial. It is interesting that before the third initiation can be taken, the so-called “sacrifice petals” of the initiate must be unfolded. |
Y cũng đang bắt đầu thấu hiểu đôi điều về bản chất của sự hi sinh, điều y phải biểu lộ trọn vẹn ở cấp độ thứ tư. Đức Sanat Kumara là “Đấng Hi Sinh Vĩ Đại”, và mục đích của Ngài ngay từ đầu đã là, và vẫn là, hi sinh. Thật thú vị rằng trước khi lần điểm đạo thứ ba có thể được nhận, những “cánh hoa hi sinh” được gọi như thế của điểm đạo đồ phải được khai mở. |
|
45. Something “new and different” is brought into the initiate’s equipment. Perhaps this is a responsiveness to an entirely higher order of life. The third initiation is the first solar initiation. It is interesting that until the disciple is an initiate of the third degree, he cannot respond consciously to the “fixed stars”. Of course, the stars are not really “fixed”—they only appear to be—but the stars are suns, and Sanat Kumara is a “Son” of the Solar Logos. So the responsiveness now possible at the third degree is to the solar factors within cosmos—to our Solar Logos, and increasingly (though initially) faintly, to the other Logoi associated with ours—whether within the system of Seven Suns, or in our local cosmos. |
45. Một điều gì “mới mẻ và khác biệt” được đưa vào trang bị của điểm đạo đồ. Có lẽ đó là năng lực đáp ứng với một trật tự sự sống hoàn toàn cao hơn. Lần điểm đạo thứ ba là lần điểm đạo thái dương đầu tiên. Thật thú vị rằng cho đến khi đệ tử là điểm đạo đồ cấp độ thứ ba, y không thể đáp ứng một cách có ý thức với “các sao cố định”. Dĩ nhiên, các sao không thật sự “cố định” — chúng chỉ có vẻ như vậy — nhưng các sao là những mặt trời, và Đức Sanat Kumara là một “Người Con” của Thái dương Thượng đế. Vì vậy, năng lực đáp ứng hiện có thể có ở cấp độ thứ ba là đối với các yếu tố thái dương trong vũ trụ — đối với Thái dương Thượng đế của chúng ta, và ngày càng nhiều hơn, dù ban đầu còn mờ nhạt, đối với các Thượng đế khác liên kết với Thượng đế của chúng ta — dù trong hệ thống Bảy Mặt Trời hay trong vũ trụ cục bộ của chúng ta. |
|
46. The initiate of the third degree is now impressed with Sanat Kumara’s Purpose and thus experiences: |
46. Điểm đạo đồ cấp độ thứ ba giờ đây được in dấu bởi Thiên Ý của Đức Sanat Kumara và do đó kinh nghiệm: |
|
“a blinding conviction of an unalterable will, carrying all before it, oblivious of time and space, aware only of intensity of direction, and carrying with it two major qualifications or basic recognitions to the initiate: a sense of essential being which obliterates all the actions and reactions of time and [Page 176] space, and a focussed will-to-good which is so dynamic in its effect that evil disappears.” |
“một xác tín chói lòa về một ý chí bất biến, cuốn phăng mọi sự trước nó, không bận tâm đến thời gian và không gian, chỉ nhận biết cường độ của phương hướng, và mang theo nó hai phẩm cách chính yếu hoặc hai nhận thức căn bản đối với điểm đạo đồ: một ý thức về bản thể cốt yếu vốn xóa nhòa mọi hành động và phản ứng của thời gian và [Page 176] không gian, và một Ý Chí-hướng Thiện được tập trung, có tác dụng năng động đến mức tà ác biến mất.” |
|
A little thought about these energies and qualities will show how “new and different” they really are. A “blinding” conviction is one which blinds the initiate to all that would interfere with that conviction. He is “blinded” to the possibility that this “unalterable will” does not exist; he is, in fact, certain that it does exist. He feels it within himself. He has entered, experientially, into the stream of the Will to Good. |
Một chút suy nghĩ về các năng lượng và phẩm tính này sẽ cho thấy chúng thật sự “mới mẻ và khác biệt” như thế nào. Một xác tín “chói lòa” là xác tín làm cho điểm đạo đồ mù đối với tất cả những gì có thể can thiệp vào xác tín ấy. Y “mù” trước khả năng rằng “ý chí bất biến” này không tồn tại; thật ra, y chắc chắn rằng nó có tồn tại. Y cảm thấy nó trong chính mình. Về mặt kinh nghiệm, y đã đi vào dòng chảy của Ý Chí-hướng Thiện. |
|
He knows within himself that nothing can alter or deviate this higher Will/Purpose, and so a tremendous sense of certainty and spiritual confidence infuses him. No factors in time and space can resist it. Thus, to the degree that he is taken by this greater Will/Purpose, time and space cannot again capture his attention as hitherto they have. |
Trong chính mình, y biết rằng không gì có thể biến đổi hay làm lệch hướng Ý Chí/Mục Đích cao siêu này, và vì thế một cảm thức vô cùng mạnh mẽ về sự chắc chắn và niềm tin tinh thần thấm nhuần y. Không yếu tố nào trong thời gian và không gian có thể chống lại nó. Vì vậy, trong mức độ y được Ý Chí/Mục Đích lớn lao này chiếm hữu, thời gian và không gian không thể lại thu hút sự chú ý của y như trước đây nữa. |
|
47. He has entered the world of pure being. It is important to realize that the apprehension of pure being obliterates the “actions and reactions of time and space”. This is hinted in the following stanza: |
47. Y đã bước vào thế giới của bản thể thuần khiết. Điều quan trọng là nhận ra rằng sự nắm bắt bản thể thuần khiết xóa nhòa “các hành động và phản ứng của thời gian và không gian”. Điều này được gợi ý trong bài kệ sau: |
|
“2. Time IS. Being descends to manifest. Creation is. Time then and form agree. Being and time do not agree.” (DINA II 284-285) |
“2. Thời gian HIỆN HỮU. Bản thể giáng xuống để biểu hiện. Sáng tạo hiện hữu. Khi ấy thời gian và hình tướng thuận hợp. Bản thể và thời gian không thuận hợp.” (DINA II 284-285) |
|
48. The initiate receives two major qualifications or recognitions. First, he is impressed by a “sense of essential being which obliterates all the actions and reactions of time and space”. The principle to bear in mind is that intensity of being obliterates time and space. The apparent reality of the actual world is now called into questions; it is revealed as part of the Great Illusion. The initiate is so taken by being, that his concern for time-space actualities is greatly reduced—even obliterated. Time and space are seen as phantasmagoria— “the result of the activity of substance in its form-making capacity…” (R&I 174); yet he continues to serve within that illusory world because, for those whose consciousness is still ensnared by it, it is ‘real’ enough. |
48. Điểm đạo đồ tiếp nhận hai phẩm cách chính yếu hoặc hai nhận thức. Thứ nhất, y được in dấu bởi một “ý thức về bản thể cốt yếu vốn xóa nhòa mọi hành động và phản ứng của thời gian và không gian”. Nguyên lý cần ghi nhớ là cường độ của bản thể xóa nhòa thời gian và không gian. Thực tại bề ngoài của thế giới hiện thực giờ đây bị đặt thành vấn đề; nó được mặc khải như một phần của Đại Ảo Tưởng. Điểm đạo đồ bị bản thể cuốn hút đến mức sự quan tâm của y đối với các hiện thực thời gian-không gian giảm đi rất nhiều — thậm chí bị xóa nhòa. Thời gian và không gian được thấy như những ảo ảnh biến hóa — “kết quả của hoạt động của chất liệu trong năng lực tạo hình tướng của nó…” (R&I 174); tuy vậy y vẫn tiếp tục phụng sự trong thế giới hư ảo ấy bởi vì, đối với những người mà tâm thức vẫn còn bị nó trói buộc, nó đủ “thật”. |
|
49. The second qualification or basic recognition is “a focussed will-to-good which is so dynamic in its effect that evil disappears”. Evil disappears in the intensified consciousness of the Good. It does not disappear from the illusory time-space world. The essential unreality of evil is understood, and the necessity of its certain defeat by the reality of the Good—the will to which is now greatly strengthened. It comes back to Socrates’ idea that if a man knows the Good, he will do it. Now (although relatively) the initiates knows the Good, and wills to do it. The hold of evil over him is greatly weakened, though not entirely so until the ninth degree when the illusion of the cosmic physical plane is dispelled. |
49. Phẩm cách thứ hai hoặc nhận thức căn bản thứ hai là “một Ý Chí-hướng Thiện được tập trung, có tác dụng năng động đến mức tà ác biến mất”. Tà ác biến mất trong tâm thức được tăng cường của Thiện. Nó không biến mất khỏi thế giới thời gian-không gian hư ảo. Người ta thấu hiểu tính phi thực cốt yếu của tà ác, và sự tất yếu rằng nó chắc chắn bị thực tại của Thiện đánh bại — ý chí hướng đến điều ấy giờ đây được tăng cường rất nhiều. Điều này quay trở lại với ý tưởng của Socrates rằng nếu một người biết Thiện, y sẽ thực hiện nó. Giờ đây, dù chỉ tương đối, các điểm đạo đồ biết Thiện, và có ý chí thực hiện Thiện. Sự khống chế của tà ác trên y đã suy yếu rất nhiều, dù chưa hoàn toàn như vậy cho đến cấp độ thứ chín, khi ảo tưởng của cõi hồng trần vũ trụ được xua tan. |
|
50. Then this revelatory sentence: “Evil is after all only an impelling sense of difference, leading inevitably to separative action”. Thus we see that evil is based upon illusion, for only in and under illusion is separation seen or thought to be a reality. The great Will and Purpose of Sanat Kumara (resulting in an ability to focus intensively within and as the Good) blot out all form and obliterate the sense of separation, thus obliterating that perception which is the mainspring of evil. |
50. Rồi đến câu mặc khải này: “Rốt cuộc, tà ác chỉ là một cảm thức thúc đẩy về sự khác biệt, tất yếu dẫn đến hành động chia rẽ”. Như vậy, chúng ta thấy rằng tà ác đặt nền trên ảo tưởng, vì chỉ trong và dưới ảo tưởng, sự chia rẽ mới được thấy hoặc được nghĩ là một thực tại. Ý Chí và Thiên Ý vĩ đại của Đức Sanat Kumara, dẫn đến khả năng tập trung mãnh liệt bên trong và như là Thiện, xóa mờ mọi hình tướng và xóa nhòa cảm thức chia rẽ, do đó xóa nhòa tri giác vốn là động lực chính của tà ác. |
|
51. We might say that those who realize themselves as the Good, see no difference and separation, and, therefore, have destroyed the seeds of evil within themselves. The conscious performance of evil begins with the misperception of reality. |
51. Chúng ta có thể nói rằng những ai chứng nghiệm chính mình như là Thiện, thì không thấy sự khác biệt và chia rẽ, và vì thế đã hủy diệt các hạt giống tà ác trong chính mình. Việc thực hiện tà ác một cách có ý thức bắt đầu bằng sự nhận thức sai lầm về thực tại. |
|
52. We might say that the Lords of Materialism cannot get over their sense of being isolated, distinct and different. This, they inherited from their advanced development in a previous solar system, and, for many of them, on the Moon Chain—ruled by the third aspect which rules them. It is the Christ-love (which they have strenuously rejected) which dissolves this sense of being separate and irreconcilably different—i.e., this sense of forever and only themselves. The bestowed energy and consciousness of Sanat Kumara (received at initiation) would reveal to them the fundamental illusion in which they stand, but they cannot experience initiation under the One Initiator because they have rejected love, and the “Triads” (the third Creative Hierarchy) and have, thus, committed themselves to another, dark, initiatory path. Thus, they are cut off from the “saving force” by deliberate choice. |
52. Chúng ta có thể nói rằng các Chúa Tể của Chủ Nghĩa Duy Vật không thể vượt qua cảm thức của các ngài về việc bị cô lập, tách biệt và khác biệt. Điều này các ngài thừa hưởng từ sự phát triển cao cấp của mình trong một hệ mặt trời trước, và, đối với nhiều vị trong số các ngài, trên Dãy Mặt Trăng — chịu sự cai quản của phương diện thứ ba, phương diện đang cai quản các ngài. Chính tình thương của Đức Christ, điều mà các ngài đã kịch liệt chối bỏ, làm tan biến cảm thức về sự tách biệt và khác biệt không thể hòa giải này — tức là cảm thức mãi mãi và chỉ là chính mình. Năng lượng và tâm thức được ban của Đức Sanat Kumara, được tiếp nhận trong điểm đạo, sẽ mặc khải cho các ngài ảo tưởng căn bản trong đó các ngài đang đứng, nhưng các ngài không thể kinh nghiệm điểm đạo dưới Đấng Điểm Đạo Duy Nhất, vì các ngài đã chối bỏ tình thương, và các “Tam nguyên tinh thần”, tức Huyền Giai Sáng Tạo thứ ba, và vì thế đã dấn mình vào một con đường điểm đạo khác, hắc ám. Như vậy, các ngài bị cắt lìa khỏi “Mãnh Lực Cứu Rỗi” do sự lựa chọn có chủ ý. |
|
53. We find these dark lords, therefore, motivated by a sense of isolated individuality which they cannot transcend. The Tibetan calls this an “impelling sense of difference” because it motivates them to separative action, which continues to reinforce their sense of being isolated, different and distinct. They seek the continual empowerment and enhancement of their individuality—forever separated (at least in consciousness) from the One Life in which even they “live and move and have their being”. Thus, they become what might be called ‘resistant, hardened atoms of isolation’ within a gradually integrating and fusing system. At length they are expelled from the system when it has reached a certain degree of cohesion. At some point within the cosmic process they are, however, necessarily redeemed, as the Universal Pralaya demands the reabsorption of all entities within the cosmic whole. All entities are, in fact, but One Entity. Nothing can be left outside a Universal Pralaya or the ABSOLUTE DEITY could not be “all-in-all”, to which state IT periodically (and paradoxically) returns. |
53. Do đó, chúng ta thấy các chúa tể hắc ám này được thúc đẩy bởi một cảm thức về Cá Thể Cô Lập mà các ngài không thể vượt qua. Chân sư Tây Tạng gọi đây là một “cảm thức thúc đẩy về sự khác biệt” vì nó thúc đẩy các ngài hành động chia rẽ, điều tiếp tục củng cố cảm thức của các ngài về việc bị cô lập, khác biệt và tách biệt. Các ngài tìm kiếm sự truyền quyền năng và sự gia tăng liên tục cho cá thể tính của mình — mãi mãi tách rời, ít nhất trong tâm thức, khỏi Sự Sống Duy Nhất trong đó ngay cả các ngài cũng “sống, chuyển động và có bản thể của mình”. Như vậy, các ngài trở thành điều có thể gọi là “những nguyên tử cô lập kháng cự và chai cứng” bên trong một hệ thống đang dần tích hợp và dung hợp. Cuối cùng các ngài bị trục xuất khỏi hệ thống khi hệ thống ấy đã đạt đến một mức độ cố kết nào đó. Tuy nhiên, ở một điểm nào đó trong tiến trình vũ trụ, các ngài tất yếu được cứu chuộc, vì Giai kỳ qui nguyên Vũ Trụ đòi hỏi sự tái hấp thu mọi thực thể vào trong toàn thể vũ trụ. Thật ra, mọi thực thể chỉ là Một Thực Thể. Không gì có thể bị bỏ lại bên ngoài một Giai kỳ qui nguyên Vũ Trụ, nếu không THƯỢNG ĐẾ TUYỆT ĐỐI không thể là “tất cả trong tất cả”, trạng thái mà ĐẤNG ẤY định kỳ, và nghịch lý thay, trở về. |
|
54. One clear way of thinking about the initiates of the Black Lodge, is that they are incapable of right relationship. Conversely, the theme of Shamballa is “right relationship”. |
54. Một cách rõ ràng để suy nghĩ về các điểm đạo đồ của Hắc đoàn là họ không có khả năng có mối tương quan đúng đắn. Ngược lại, chủ đề của Shamballa là “mối tương quan đúng đắn”. |
|
Part IV – R&I (176 top—178) |
Phần IV – R&I (176 đầu—178) |
|
(All Highlighting, Bolding and Underlining—MDR) |
(Mọi phần tô sáng, in đậm và gạch dưới—MDR) |
|
The dualities are then resolved in synthesis and, again for the first time, the initiate comprehends the meaning of the ancient words, so inappropriately translated “isolated unity.” To him, in the future, there is no light or dark, no good or evil, no difference or separation. The star that has shone forth, veiling and standing between him and the Lord of the World, the Ancient of Days, is seen as the entrance or doorway and as the admitting agency into something other and larger than simply the planetary life. In the earlier two initiations, the Angel of the Presence stood between the disciple-candidate and the Presence. At the later initiations, the Angel of the Presence is the Christ Himself, one with the soul of the candidate (the individual Angel of the Presence). Through the heart of Christ passes the dynamic power of the One Initiator, as a stream of light, stepped down or toned down by the Christ in order that the candidate can appropriate its potency without risk or danger. |
Khi ấy các nhị nguyên được giải quyết trong tổng hợp và, lại một lần nữa lần đầu tiên, điểm đạo đồ thấu hiểu ý nghĩa của những lời cổ xưa, vốn được dịch không thích hợp là “Hợp Nhất Cô Lập”. Đối với y, trong tương lai, không còn ánh sáng hay bóng tối, không còn thiện hay ác, không còn khác biệt hay chia rẽ. Ngôi sao đã tỏa sáng, che phủ và đứng giữa y với Đức Chúa Tể Thế Giới, Đấng Thái Cổ, được thấy như lối vào hay cửa ngõ, và như tác nhân cho phép đi vào một điều gì khác và lớn lao hơn chỉ đơn thuần sự sống hành tinh. Trong hai lần điểm đạo đầu, Thiên Thần của Hiện Diện đứng giữa đệ tử-ứng viên và Sự Hiện Diện. Ở những lần điểm đạo về sau, Thiên Thần của Hiện Diện chính là Đức Christ, hợp nhất với linh hồn của ứng viên, tức Thiên Thần của Hiện Diện cá nhân. Qua trái tim của Đức Christ tuôn chảy quyền năng năng động của Đấng Điểm Đạo Duy Nhất, như một dòng ánh sáng, được Đức Christ hạ mức hoặc làm dịu xuống để ứng viên có thể tiếp nhận quyền năng của nó mà không gặp nguy cơ hay hiểm họa. |
|
1. “Isolated unity” is an advanced initiatory theme for those upon the first ray. It is accessible to those upon other rays once that part of the Path is reached during which the first ray is being strengthened in the energy system. |
1. “Hợp Nhất Cô Lập” là một chủ đề điểm đạo cao cấp dành cho những ai thuộc cung một. Nó có thể tiếp cận được đối với những người thuộc các cung khác khi phần ấy của Đường Đạo được đạt tới, trong đó cung một đang được tăng cường trong hệ thống năng lượng. |
|
2. One wonders what more appropriate translation of the idea behind “isolated unity” the Tibetan would offer. |
2. Người ta tự hỏi Chân sư Tây Tạng sẽ đưa ra bản dịch nào thích hợp hơn cho ý tưởng đằng sau “Hợp Nhất Cô Lập”. |
|
3. The Tibetan seems to be saying that, ponder how we will upon “isolated unity” (and ponder we must), we will not understand it until the experience of the third initiation. |
3. Chân sư Tây Tạng dường như đang nói rằng, dù chúng ta suy ngẫm thế nào về “Hợp Nhất Cô Lập”, và chúng ta phải suy ngẫm, chúng ta cũng sẽ không thấu hiểu nó cho đến kinh nghiệm của lần điểm đạo thứ ba. |
|
4. Although the stage of isolated unity can be initially and somewhat understood by the initiate of the third degree, it really describes the state of awareness of the Master as indicated in the following: |
4. Mặc dù giai đoạn Hợp Nhất Cô Lập có thể được điểm đạo đồ cấp độ thứ ba hiểu phần nào và bước đầu, nó thật sự mô tả trạng thái nhận biết của Chân sư, như được chỉ ra trong đoạn sau: |
|
“Isolated unity describes the stage which the Master has reached; isolated individuality is that of the disciple; isolated identity (with the soul) is that of the disciple up to and including the third initiation.” (DINA I 717) |
“Hợp Nhất Cô Lập mô tả giai đoạn mà Chân sư đã đạt tới; Cá Thể Cô Lập là trạng thái của đệ tử; Bản Sắc Cô Lập, với linh hồn, là trạng thái của đệ tử cho đến và bao gồm lần điểm đạo thứ ba.” (DINA I 717) |
|
5. We can see that between the third and fifth initiation is a developmental stage involving the growth of the awareness of isolated unity. |
5. Chúng ta có thể thấy rằng giữa lần điểm đạo thứ ba và thứ năm có một giai đoạn phát triển liên quan đến sự tăng trưởng của nhận biết về Hợp Nhất Cô Lập. |
|
6. For the third degree initiate upon the White Path, the Path of Love, isolation is understood as illusory at the third degree. For comparable initiates upon the dark path, their isolation from humanity, and from the Divine Plan is confirmed. |
6. Đối với điểm đạo đồ cấp độ thứ ba trên Chánh Đạo, Con Đường Bác Ái, sự cô lập được hiểu là hư ảo ở cấp độ thứ ba. Đối với các điểm đạo đồ tương ứng trên con đường hắc ám, sự cô lập của họ khỏi nhân loại và khỏi Thiên Cơ được xác nhận. |
|
7. It is clear, it is not, that much pondering on the true nature of synthesis, and on the reconciliation and resolution of the opposites is preparation for the third degree. |
7. Rõ ràng, phải không, rằng nhiều suy ngẫm về bản chất đích thực của tổng hợp, và về sự hòa giải cũng như giải quyết các cặp đối lập, là sự chuẩn bị cho cấp độ thứ ba. |
|
8. When one reads the following sentence, “to him, in the future, there is no light or dark, no good or evil, no difference or separation”, one wonders if it is not the fifth degree (the solar third degree) which is being explained. |
8. Khi người ta đọc câu sau: “đối với y, trong tương lai, không còn ánh sáng hay bóng tối, không còn thiện hay ác, không còn khác biệt hay chia rẽ”, người ta tự hỏi liệu đó chẳng phải là cấp độ thứ năm, tức cấp độ thứ ba thái dương, đang được giải thích hay sao. |
|
9. The philosopher Nietzsche attempted to convey the idea of a state “Beyond Good and Evil”, but the exponent of such a state was still an individual, and had not fused with soul or Spirit. The result was that individuals claimed for themselves the prerogatives of gods, thus violating planetary Law. The “superman” is not an isolated individual, but a fused and blended spiritual-soul who is a member of the Spiritual Hierarchy of the planet. |
9. Triết gia Nietzsche đã cố gắng truyền đạt ý tưởng về một trạng thái “Vượt Ngoài Thiện và Ác”, nhưng người biểu đạt một trạng thái như thế vẫn còn là một cá nhân, và chưa dung hợp với linh hồn hay Tinh thần. Kết quả là các cá nhân tự nhận cho mình các đặc quyền của những vị thần, do đó vi phạm Định luật hành tinh. “Siêu nhân” không phải là một cá nhân cô lập, mà là một linh hồn-tinh thần đã dung hợp và hòa nhập, là thành viên của Huyền Giai Tinh Thần của hành tinh. |
|
10. The initiate of the third degree, at the moment of initiation, may see beyond light and dark, good and evil, and all forms of difference, but it may well be at the fifth degree that he finally brings these realizations into full expression upon the lowest planes utilizing the mechanism of the brain. |
10. Điểm đạo đồ cấp độ thứ ba, vào khoảnh khắc điểm đạo, có thể thấy vượt ngoài ánh sáng và bóng tối, thiện và ác, cùng mọi hình thức dị biệt; nhưng rất có thể phải đến cấp độ thứ năm, y mới rốt cuộc đưa những chứng nghiệm này vào sự biểu hiện trọn vẹn trên các cõi thấp nhất, nhờ sử dụng bộ máy của bộ não. |
|
11. We think often of the “door of initiation”. Here the interesting idea is brought forward that the “point of light”, the “star of initiation”, is in fact a “doorway” or a door leading to states of being that lie beyond the normal planetary life. The star, however, is not a thwarting door but an admitting door. Before a candidate has proved himself, the door of initiation is an obstruction. After proof has been rendered, the door becomes a portal of admission, opening to the candidate and allowing him to pass into new dimensions of potentiality. |
11. Chúng ta thường nghĩ đến “cánh cửa điểm đạo”. Ở đây, một ý tưởng thú vị được nêu ra: “điểm ánh sáng”, “ngôi sao điểm đạo”, thật ra là một “lối cửa” hay một cánh cửa dẫn đến những trạng thái hiện tồn nằm ngoài đời sống hành tinh bình thường. Tuy nhiên, ngôi sao ấy không phải là một cánh cửa ngăn trở, mà là một cánh cửa cho phép đi vào. Trước khi một ứng viên chứng tỏ được chính mình, cánh cửa điểm đạo là một chướng ngại. Sau khi sự chứng tỏ đã được thực hiện, cánh cửa trở thành một cổng thu nhận, mở ra cho ứng viên và cho phép y bước vào những chiều kích mới của tiềm năng. |
|
12. There follow some amazing technicalities concerning the personnel involved the initiation process. The Solar Angel (the Angel of the Presence), Who has supervised the developing human being for millions of years is involved and stands “between the disciple-candidate and the Presence” at the first two initiations. It is clear that some energy must shield the disciple-candidate from the Presence during the initiations of the threshold (the first and second) and even afterwards, when the Christ (merged with the Angel of the Presence) acts as the shielding, modulating factor, but does not stand between the disciple-candidate and the One Initiator. The Christ moderates the energy of Sanat Kumara so that it may reach the candidate without destroying him. |
12. Sau đây là một vài chi tiết kỹ thuật đáng kinh ngạc liên quan đến các nhân sự tham dự vào tiến trình điểm đạo. Thái dương Thiên Thần, tức Thiên Thần của Hiện Diện, Đấng đã giám hộ con người đang phát triển trong hàng triệu năm, có liên quan và đứng “giữa đệ tử-ứng viên và Sự Hiện Diện” trong hai lần điểm đạo đầu tiên. Rõ ràng, một năng lượng nào đó phải che chở đệ tử-ứng viên khỏi Sự Hiện Diện trong các lần điểm đạo ở ngưỡng cửa, tức lần thứ nhất và thứ hai; và ngay cả về sau, khi Đức Christ, hợp nhất với Thiên Thần của Hiện Diện, hành động như yếu tố che chở và điều hòa, nhưng không đứng giữa đệ tử-ứng viên và Đấng Điểm Đạo Duy Nhất. Đức Christ điều hòa năng lượng của Đức Sanat Kumara để nó có thể đến với ứng viên mà không hủy diệt y. |
|
13. A principle emerges: love must moderate will, if will is to be beneficially applied. |
13. Một nguyên lý hiện ra: tình thương phải điều hòa ý chí, nếu ý chí muốn được áp dụng một cách lợi ích. |
|
14. Thoughts arise as to the positioning of the sponsors (and the Solar Angel) during the processes of initiation. At the first two initiations, it appears that the Angel stands between the candidate and the Presence (whether before or behind the Christ, Who is the Hierophant, is not stated), buffering the candidate from excessive exposure to the highest energies. Though the Christ is the Hierophant at these first two initiation, Sanat Kumara (though not officiating) is present as the Presence, one with the Monad of the candidate and underlying the entire process |
14. Những suy nghĩ nảy sinh về vị trí của các vị bảo trợ, và của Thái dương Thiên Thần, trong các tiến trình điểm đạo. Trong hai lần điểm đạo đầu tiên, dường như Thiên Thần đứng giữa ứng viên và Sự Hiện Diện, dù đứng trước hay sau Đức Christ, Đấng Chủ Lễ Điểm Đạo, thì không được nói rõ; nhờ đó Ngài đệm đỡ ứng viên khỏi sự phơi lộ quá mức trước những năng lượng cao nhất. Dù Đức Christ là Đấng Chủ Lễ Điểm Đạo trong hai lần điểm đạo đầu tiên này, Đức Sanat Kumara, tuy không chủ lễ, vẫn hiện diện như Sự Hiện Diện, hợp nhất với chân thần của ứng viên và làm nền tảng cho toàn bộ tiến trình |
|
15. At the third degree, and perhaps beyond, it could appear that the Christ, Himself, stands between the candidate and the Presence, because “the Angel of the Presence is the Christ Himself, one with the soul of the candidate (the individual Angel of the Presence)”. If the Solar Angel stood between the candidate and the Presence, it could be inferred that Christ, taking the place of the Solar Angel, would do likewise. This is not explicitly stated, however, and probably for good reason. It is more probable that the Christ stands behind, though still acting as the protector. The next of the Tibetan’s paragraphs suggests this latter possibility. |
15. Ở cấp độ thứ ba, và có lẽ cả về sau, có thể dường như chính Đức Christ đứng giữa ứng viên và Sự Hiện Diện, bởi vì “Thiên Thần của Hiện Diện là chính Đức Christ, hợp nhất với linh hồn của ứng viên, tức Thiên Thần của Hiện Diện cá biệt”. Nếu Thái dương Thiên Thần đã đứng giữa ứng viên và Sự Hiện Diện, thì có thể suy ra rằng Đức Christ, khi thay thế vị trí của Thái dương Thiên Thần, cũng sẽ làm như vậy. Tuy nhiên, điều này không được nói rõ, và có lẽ có lý do chính đáng. Nhiều khả năng hơn là Đức Christ đứng phía sau, dù vẫn hành động như Đấng bảo hộ. Đoạn kế tiếp của Chân sư Tây Tạng gợi ý khả năng sau này. |
|
16. An important point to emerge is that the “heart of Christ” is involved at the third degree in protecting the initiate from direct impact from the energies the Hierophant, Sanat Kumara. |
16. Một điểm quan trọng hiện ra là “tâm của Đức Christ” có liên quan ở cấp độ thứ ba trong việc bảo vệ điểm đạo đồ khỏi tác động trực tiếp từ các năng lượng của Đấng Chủ Lễ Điểm Đạo, Đức Sanat Kumara. |
|
17. We see what extraordinary care is exerted to ensure that the candidate is not damaged by the very energies which are intended to bring spiritual benefit to him. |
17. Chúng ta thấy một sự chăm sóc phi thường được vận dụng để bảo đảm rằng ứng viên không bị tổn hại bởi chính những năng lượng vốn nhằm đem lại lợi ích tinh thần cho y. |
|
After the third initiation, the candidate must face the One Initiator alone, with no protective Individual standing between him and the eternal source of all-power. |
Sau lần điểm đạo thứ ba, ứng viên phải một mình đối diện Đấng Điểm Đạo Duy Nhất, không có Cá Thể bảo hộ nào đứng giữa y và nguồn vĩnh cửu của toàn năng. |
|
18. One rather enigmatic fact concerning the sentence above is the use of the word “after”. We will wonder why the word “at” is not used instead of “after”, for what follows is certainly a description of the third initiation (following by some interesting facts concerning the fourth and fifth). |
18. Một sự kiện khá bí ẩn liên quan đến câu trên là việc dùng từ “sau”. Chúng ta sẽ tự hỏi vì sao không dùng từ “tại” thay vì “sau”, bởi điều tiếp theo chắc chắn là một mô tả về lần điểm đạo thứ ba, tiếp sau đó là một vài sự kiện thú vị liên quan đến lần thứ tư và thứ năm. |
|
19. It would seem that an understanding of Rule IX can be applied to aspects of the third, fourth and fifth initiations. |
19. Dường như sự thấu hiểu Quy luật IX có thể được áp dụng cho các phương diện của lần điểm đạo thứ ba, thứ tư và thứ năm. |
|
The Christ is present, supporting and attentive. He stands directly behind the initiate so as to arrest and distribute the potency passing through the initiate’s body and centres; the candidate is also flanked on either side by a Master. Nevertheless, he faces the Initiator alone and unprotected. |
Đức Christ hiện diện, nâng đỡ và chăm chú. Ngài đứng ngay phía sau điểm đạo đồ để chặn lại và phân phối quyền năng đang đi xuyên qua thể và các trung tâm của điểm đạo đồ; ứng viên cũng được một Chân sư đứng kèm ở mỗi bên. Tuy vậy, y vẫn đối diện Đấng Điểm Đạo một mình và không được bảo vệ. |
|
20. Here is position of the Christ in the initiation process is clearly stated. |
20. Ở đây, vị trí của Đức Christ trong tiến trình điểm đạo được nói rõ. |
|
21. We must interpret carefully the phrase “he faces the Initiator alone and unprotected”. It is the word “faces” which is ambiguous, because when such a term is used, it usually means a “face to face” encounter. Further reading, however, reveals that this is not the case. |
21. Chúng ta phải diễn giải cẩn thận cụm từ “y đối diện Đấng Điểm Đạo một mình và không được bảo vệ”. Chính từ “đối diện” là mơ hồ, bởi khi một thuật ngữ như thế được dùng, nó thường hàm ý một cuộc gặp “mặt đối mặt”. Tuy nhiên, đọc tiếp sẽ cho thấy đây không phải là trường hợp đó. |
|
Even now, at this much later initiation, he cannot see “eye to eye”—as the phrase goes. |
Ngay cả lúc này, trong lần điểm đạo muộn hơn nhiều này, y vẫn chưa thể thấy “mắt đối mắt”, như cách nói thông thường. |
|
22. When the words “this much later initiation” are used, it is a clear reference to the fourth degree which occurs “much later”, certainly, than the first, though not necessarily much later than the second, which can be taken in the same life as the third. |
22. Khi các từ “lần điểm đạo muộn hơn nhiều này” được dùng, đó rõ ràng là một tham chiếu đến cấp độ thứ tư, vốn xảy ra “muộn hơn nhiều” so với lần thứ nhất, dù không nhất thiết muộn hơn nhiều so với lần thứ hai, vì lần thứ hai có thể được trải qua trong cùng một kiếp sống với lần thứ ba. |
|
He becomes aware of a growing point of light which, from a pin-point of intensest brilliance develops before him into a five-pointed star. |
Y trở nên nhận biết một điểm ánh sáng đang lớn dần, từ một điểm nhỏ như đầu kim với độ rực rỡ mãnh liệt nhất phát triển trước mặt y thành một ngôi sao năm cánh. |
|
23. In the previous commentary we read that “this star is simply a point of vivid light”. This statement seems to mask the importance of the actual star-like appearance of the light. |
23. Trong phần chú giải trước, chúng ta đọc rằng “ngôi sao này chỉ đơn giản là một điểm ánh sáng sống động”. Phát biểu này dường như che khuất tầm quan trọng của vẻ ngoài thật sự giống như ngôi sao của ánh sáng ấy. |
|
24. In the excerpt immediately above the manner, the star-like appearance follows the appearance of the “pin-point of intensest brilliance” |
24. Trong đoạn trích ngay trên, cách thức, tức vẻ ngoài giống như ngôi sao, theo sau sự xuất hiện của “điểm nhỏ như đầu kim với độ rực rỡ mãnh liệt nhất” |
|
At the fourth initiation, it is not a star which shines forth before him, but a triangle; and within that triangle he will perceive an eye regarding him, and for the first time he does see the Most High “eye to eye.” |
Ở lần điểm đạo thứ tư, không phải một ngôi sao tỏa sáng trước mặt y, mà là một tam giác; và bên trong tam giác ấy, y sẽ nhận ra một con mắt đang nhìn y, và lần đầu tiên y thật sự thấy Đấng Tối Cao “mắt đối mắt”. |
|
25. The “triangle” can be thought to symbolize the spiritual triad and the “eye”, the Monad within the triad. |
25. “Tam giác” có thể được xem là biểu tượng cho Tam Nguyên Tinh Thần, và “con mắt” là chân thần bên trong Tam nguyên ấy. |
|
At the fifth initiation no [Page 177] symbol or light substance separates or protects him, but he stands before the Initiator face to face, and the freedom of the City of God is his. He is not yet a Member of the Great Council, but he has the right of entrance into Shamballa, and from that point he passes on to a more intimate relation, if that is his chosen destiny. He may not even finally become a Member of the Great Council; that is reserved for relatively few and for Those Who can take even still higher initiations within the ring-pass-not of our planet—a task of profound difficulty. There are other and interesting alternatives, as I have elsewhere told you. The initiate may pass out of this planetary life altogether along one or other of the various Paths by means of which a Master can start upon the Path of the Higher Evolution and for which all that has transpired in the past will have prepared Him. Whichever Way He goes, the Master remains a part of the purpose; He knows forever the secret of the darkness which brings light, and the “inscrutable will of God” is no longer a mystery to Him. He comprehends the divine idea and can now cooperate with it; He has reached a point of realisation which enables Him to fathom what lies behind the Plan for which the Hierarchy has worked for aeons. |
Ở lần điểm đạo thứ năm, không [Page 177] biểu tượng hay chất liệu ánh sáng nào phân cách hoặc bảo vệ y nữa, mà y đứng trước Đấng Điểm Đạo mặt đối mặt, và quyền tự do ra vào Thành Đô của Thượng đế là của y. Y chưa phải là Thành viên của Đại Hội Đồng, nhưng y có quyền đi vào Shamballa, và từ điểm đó, y tiến tới một mối liên hệ mật thiết hơn, nếu đó là vận mệnh y đã chọn. Y thậm chí có thể rốt cuộc không trở thành Thành viên của Đại Hội Đồng; điều đó được dành cho tương đối ít vị và cho Những Đấng có thể nhận những lần điểm đạo còn cao hơn nữa bên trong vòng-giới-hạn của hành tinh chúng ta, một nhiệm vụ khó khăn sâu xa. Có những khả năng lựa chọn khác và thú vị, như Tôi đã nói với các bạn ở nơi khác. Điểm đạo đồ có thể hoàn toàn rời khỏi đời sống hành tinh này theo một hay một con đường khác trong các Con Đường khác nhau, nhờ đó một Chân sư có thể khởi sự trên Con Đường Tiến Hóa Cao Siêu, và mọi điều đã diễn ra trong quá khứ đều đã chuẩn bị Ngài cho điều ấy. Dù Ngài đi theo Con Đường nào, Chân sư vẫn là một phần của Thiên Ý; Ngài mãi mãi biết bí mật của bóng tối đem lại ánh sáng, và “ý chí khôn dò của Thượng đế” không còn là một huyền nhiệm đối với Ngài. Ngài thấu hiểu ý tưởng thiêng liêng và giờ đây có thể hợp tác với nó; Ngài đã đạt đến một điểm chứng nghiệm cho phép Ngài dò thấu điều nằm sau Thiên Cơ mà Thánh Đoàn đã phụng sự qua hằng bao đại kiếp. |
|
26. We see in this paragraph, that even though the Christ has taken the place of the Solar Angel, He stands in a position different to that of the Solar Angel at the first two initiations. He stands “behind” the candidate so that the candidate may face the One Initiator (or, rather, the star that represents Him) alone and directly. |
26. Trong đoạn này, chúng ta thấy rằng dù Đức Christ đã thay thế vị trí của Thái dương Thiên Thần, Ngài đứng ở một vị trí khác với vị trí của Thái dương Thiên Thần trong hai lần điểm đạo đầu tiên. Ngài đứng “phía sau” ứng viên để ứng viên có thể đối diện Đấng Điểm Đạo Duy Nhất, hay đúng hơn là ngôi sao đại diện cho Ngài, một mình và trực tiếp. |
|
27. A new point in the developmental process has been reached. During the first two initiations, understanding of and infusion by the soul is the main objective and, fittingly, Christ is the Hierophant. At the third degree, though soul infusion is not complete (and will not be complete until the fourth degree), the main objective is coming in touch with a still higher aspect of the human energy system, the Monad, and therefore, the Christ stands “supportive and attentive”. We might say that He stands in an attitude of loving-understanding. |
27. Một điểm mới trong tiến trình phát triển đã đạt được. Trong hai lần điểm đạo đầu tiên, sự thấu hiểu linh hồn và việc được linh hồn thấm nhuần là mục tiêu chính, và phù hợp thay, Đức Christ là Đấng Chủ Lễ Điểm Đạo. Ở cấp độ thứ ba, dù sự thấm nhuần của linh hồn chưa hoàn tất, và sẽ chưa hoàn tất cho đến cấp độ thứ tư, mục tiêu chính là tiếp xúc với một phương diện còn cao hơn của hệ thống năng lượng con người, tức chân thần; vì vậy, Đức Christ đứng trong tư thế “nâng đỡ và chăm chú”. Chúng ta có thể nói rằng Ngài đứng trong một thái độ thấu hiểu đầy tình thương. |
|
28. The Christ’s function is to “arrest and distribute” the initiatory potency of Sanat Kumara. It becomes clear that the Christ (in conjunction with Sanat Kumara) guides the initiatory energy to its correct destination within the inner bodies of the candidate. |
28. Chức năng của Đức Christ là “chặn lại và phân phối” quyền năng điểm đạo của Đức Sanat Kumara. Điều trở nên rõ ràng là Đức Christ, kết hợp với Đức Sanat Kumara, hướng dẫn năng lượng điểm đạo đến đúng đích của nó bên trong các thể nội tại của ứng viên. |
|
29. In many languages we have the expression, “seeing eye to eye”. It usually means that “we understand each other and we agree”. Or “we have the same perspective or point of view”. Now we see that this expression stems from a deep, internal initiatory happening. |
29. Trong nhiều ngôn ngữ, chúng ta có thành ngữ “thấy mắt đối mắt”. Thành ngữ ấy thường có nghĩa là “chúng ta thấu hiểu nhau và đồng ý với nhau”, hoặc “chúng ta có cùng viễn cảnh hay quan điểm”. Giờ đây, chúng ta thấy rằng thành ngữ này bắt nguồn từ một biến cố điểm đạo sâu xa bên trong. |
|
30. The “eye to eye” contact at the fourth degree certainly indicates a new level of comprehension by the initiate of Sanat Kumara and His Purpose. |
30. Sự tiếp xúc “mắt đối mắt” ở cấp độ thứ tư chắc chắn chỉ ra một cấp độ lĩnh hội mới của điểm đạo đồ về Đức Sanat Kumara và Thiên Ý của Ngài. |
|
31. The “eye of the Initiator” is reserved for the fourth degree. The point of light, transforming itself into a star in the consciousness of the candidate, is the instrument used by the Initiator at the third degree. The point of light and star represent the One Initiator but are still a veil upon His Full Presence (even as the “eye” is a veil). |
31. “Con mắt của Đấng Điểm Đạo” được dành cho cấp độ thứ tư. Điểm ánh sáng, tự chuyển đổi thành một ngôi sao trong tâm thức của ứng viên, là khí cụ được Đấng Điểm Đạo sử dụng ở cấp độ thứ ba. Điểm ánh sáng và ngôi sao đại diện cho Đấng Điểm Đạo Duy Nhất, nhưng vẫn là một bức màn che phủ Sự Hiện Diện Trọn Vẹn của Ngài, cũng như “con mắt” là một bức màn che. |
|
32. At the fourth degree the “eye in the triangle” appears and the contact with the Initiator is “eye to eye”. This is a buddhic initiation, involving the intuition. The eye sees that which is immediately before it “all at once” just as the intuition sees that which it perceives with simultaneity. The initiate is seen and completely understood by the Initiator. It is probable that the initiate also begins to see far more of what the “Eye of the Initiator” sees, and that the initiate’s intuition (or ability to see comprehensively, holistically and instantaneously) is greatly stimulated. The Doctrine of the Eye precedes the Doctrine of the Heart. It is reasonable to think that the Doctrine of the Eye has a special connection to the fourth degree whereas the Doctrine of the Heart is related, climactically, to the fifth degree. |
32. Ở cấp độ thứ tư, “con mắt trong tam giác” xuất hiện và sự tiếp xúc với Đấng Điểm Đạo là “mắt đối mắt”. Đây là một cuộc điểm đạo Bồ đề, liên quan đến trực giác. Con mắt thấy điều ở ngay trước nó “tất cả cùng một lúc”, cũng như trực giác thấy điều nó tri nhận trong tính đồng thời. Điểm đạo đồ được Đấng Điểm Đạo nhìn thấy và thấu hiểu hoàn toàn. Có khả năng điểm đạo đồ cũng bắt đầu thấy nhiều hơn rất nhiều những gì “Con Mắt của Đấng Điểm Đạo” thấy, và trực giác của điểm đạo đồ, tức khả năng thấy một cách bao quát, toàn thể và tức thời, được kích thích mạnh mẽ. Nhãn pháp đi trước tâm pháp. Có lý khi nghĩ rằng nhãn pháp có một liên hệ đặc biệt với cấp độ thứ tư, trong khi tâm pháp liên hệ, ở đỉnh điểm, với cấp độ thứ năm. |
|
33. Although the fourth initiation especially stimulates the heart, it is reasonable to think of the fifth degree as related to the heart as well (especially the heart in the head which is the major aspect of the thousand petalled lotus), for Leo, the fifth sign (numerically correlated to the fifth initiation) is the sign of the heart, and is connected to the “dome” of the head. This head center emphasis is completed at the seventh initiation. |
33. Mặc dù lần điểm đạo thứ tư đặc biệt kích thích trái tim, có lý khi xem cấp độ thứ năm cũng liên hệ với trái tim, đặc biệt là trái tim trong đầu, vốn là phương diện chính của hoa sen nghìn cánh; bởi Sư Tử, dấu hiệu thứ năm, tương ứng về số với lần điểm đạo thứ năm, là dấu hiệu của trái tim và có liên hệ với “vòm” của đầu. Sự nhấn mạnh vào trung tâm đầu này được hoàn tất ở lần điểm đạo thứ bảy. |
|
34. Note the nature of the protecting devices used at the third and fourth initiations. Light substance is protective but so is the symbol of the eye. Both are mediators. Even though the Christ stands by protectively, the energy of Sanat Kumara still must be mediated—through light and through symbol. When we attempt to decipher symbols, we must realize that they are veils preventing full access to the potency they conceal. A deciphered symbol admits to this potency—but not completely. |
34. Hãy lưu ý bản chất của các phương tiện bảo vệ được dùng ở lần điểm đạo thứ ba và thứ tư. Chất liệu ánh sáng có tính bảo vệ, nhưng biểu tượng con mắt cũng vậy. Cả hai đều là các tác nhân trung gian. Dù Đức Christ đứng bên cạnh trong vai trò bảo hộ, năng lượng của Đức Sanat Kumara vẫn phải được trung gian hóa, qua ánh sáng và qua biểu tượng. Khi cố gắng giải mã các biểu tượng, chúng ta phải nhận ra rằng chúng là những bức màn che ngăn cản sự tiếp cận trọn vẹn với quyền năng mà chúng che giấu. Một biểu tượng đã được giải mã mở lối vào quyền năng này, nhưng không hoàn toàn. |
|
35. At the fifth degree the initiate sees the One Initiator “face to face” It must be an awesome sight—in beauty and power. In this Leonian initiation, the face stands for the real Identity of the King. It is normally understood that the face of a human being reveals his identity. This must also be true for the Identity of Sanat Kumara—even if only partially so. Surely great revelations concerning the Plan and Purpose of the King must dawn at that time. This fifth initiation is called the “Revelation”. Yet, even the Masters do not know the “full name” of Sanat Kumara. |
35. Ở cấp độ thứ năm, điểm đạo đồ thấy Đấng Điểm Đạo Duy Nhất “mặt đối mặt”. Đó hẳn là một cảnh tượng đầy uy nghi, trong vẻ đẹp và quyền năng. Trong cuộc điểm đạo thuộc Sư Tử này, khuôn mặt tượng trưng cho Bản Sắc chân thực của Đức Vua. Người ta thường hiểu rằng khuôn mặt của một con người biểu lộ bản sắc của y. Điều này hẳn cũng đúng đối với Bản Sắc của Đức Sanat Kumara, dù chỉ đúng một phần. Chắc chắn những sự mặc khải lớn lao liên quan đến Thiên Cơ và Thiên Ý của Đức Vua phải bừng hiện vào lúc ấy. Lần điểm đạo thứ năm này được gọi là “Sự Mặc Khải”. Tuy vậy, ngay cả các Chân sư cũng không biết “danh xưng đầy đủ” của Đức Sanat Kumara. |
|
36. The newly made Master has the freedom of the City of God—Shamballa, though He is not yet a member of Shamballa. Put in terms of energy, it means that the Master can raise His own point of tension to the Shamballic level, and thus tune in on that which may there be known, but that this Master does not sustain His point of tension at that level, for He has other things to do, and is therefore not privy to all that transpires in the inmost Council Chamber (of which He probably will not be a member). |
36. Vị Chân sư vừa thành tựu có quyền tự do ra vào Thành Đô của Thượng đế, tức Shamballa, dù Ngài chưa phải là một thành viên của Shamballa. Diễn đạt theo năng lượng, điều đó có nghĩa là Chân sư có thể nâng điểm tập trung nhất tâm của chính Ngài lên cấp độ Shamballa, và nhờ đó bắt nhịp với những gì có thể được biết ở đó; nhưng Chân sư này không duy trì điểm tập trung nhất tâm của Ngài ở cấp độ ấy, vì Ngài còn những việc khác phải làm, và do đó không được biết tất cả những gì diễn ra trong Phòng Hội Đồng thâm sâu nhất, nơi có lẽ Ngài sẽ không phải là một thành viên. |
|
37. A Master dwells on the periphery of Shamballa, just as a third degree initiate takes his place on the periphery of Hierarchy. Greater intimacy with the Center is possible for both, but progress is gradual and must be earned. |
37. Một Chân sư cư ngụ ở ngoại vi của Shamballa, cũng như một điểm đạo đồ cấp độ thứ ba giữ vị trí của mình ở ngoại vi của Thánh Đoàn. Sự mật thiết lớn hơn với Trung Tâm là điều có thể đối với cả hai, nhưng tiến bộ thì dần dần và phải được xứng đáng đạt tới. |
|
38. We come to realize that the Master who has the “freedom of the City of God” may never become a Member of the Great Council within Shamballa. There are many other possible destinies, and only Those Whose chosen (and appointed) destiny it is, become full Members of the higher Center. If, however, He is admitted (through Sanat Kumara’s own need and the Master’s own choice) into membership, it means that He will become capable of taking still higher initiations than the fifth on our planet—a profoundly difficult task (we are told), especially beyond the sixth. Shamballa must be a Center of training for those Who are to take initiations beyond the sixth. Those Who remain with Shamballa after the sixth initiation are upon the Path of Earth Service—the first and humblest, and most sacrificial of the Seven Major Paths (now nine, probably since the focus of Hierarchy moved to the buddhic plane around the year 1925). |
38. Chúng ta đi đến nhận ra rằng Chân sư có “quyền tự do ra vào Thành Đô của Thượng đế” có thể không bao giờ trở thành Thành viên của Đại Hội Đồng trong Shamballa. Có nhiều vận mệnh khả hữu khác, và chỉ Những Đấng mà vận mệnh đã chọn, đồng thời được chỉ định, là như thế, mới trở thành những Thành viên trọn vẹn của Trung Tâm cao hơn. Tuy nhiên, nếu Ngài được thu nhận, do chính nhu cầu của Đức Sanat Kumara và sự lựa chọn của chính Chân sư, vào hàng thành viên, điều đó có nghĩa là Ngài sẽ trở nên có khả năng nhận những lần điểm đạo còn cao hơn lần thứ năm trên hành tinh chúng ta, một nhiệm vụ sâu xa khó khăn, như chúng ta được cho biết, đặc biệt là vượt quá lần thứ sáu. Shamballa hẳn là một Trung Tâm huấn luyện cho Những Đấng sẽ nhận các lần điểm đạo vượt quá lần thứ sáu. Những Đấng ở lại với Shamballa sau lần điểm đạo thứ sáu đang ở trên Con Đường Phụng Sự Trái Đất, con đường thứ nhất, khiêm nhường nhất và hy sinh nhất trong Bảy Con Đường Chính, nay có lẽ là chín, có lẽ từ khi tiêu điểm của Thánh Đoàn chuyển sang cõi Bồ đề vào khoảng năm 1925. |
|
39. The seven or nine Paths are simply the beginning of the Path of Higher Evolution. Virtually endless opportunity greets the aspiring Monad once it has completed its sojourn within the field of vibration we call Earth. |
39. Bảy hay chín Con Đường chỉ đơn giản là khởi đầu của Con Đường Tiến Hóa Cao Siêu. Cơ hội hầu như vô tận chào đón chân thần đang khát vọng khi nó đã hoàn tất cuộc lưu trú trong trường rung động mà chúng ta gọi là Trái Đất. |
|
40. At this point, we are not entering on a discussion of the Seven Paths. The point of importance is this: |
40. Ở điểm này, chúng ta không đi vào một cuộc bàn luận về Bảy Con Đường. Điểm quan trọng là điều này: |
|
“Whichever Way He goes, the Master remains a part of the purpose; He knows forever the secret of the darkness which brings light, and the ‘inscrutable will of God’ is no longer a mystery to Him”. |
“Dù Ngài đi theo Con Đường nào, Chân sư vẫn là một phần của Thiên Ý; Ngài mãi mãi biết bí mật của bóng tối đem lại ánh sáng, và ‘ý chí khôn dò của Thượng đế’ không còn là một huyền nhiệm đối với Ngài”. |
|
The Will of God is so luminous as to be invisible. We are by now familiar with the idea that “darkness” (in this context) is intensest light. The “inscrutable will of God” is no longer a mystery to the Chohan of the Sixth Degree, but what do we mean by “God”? We do not mean the ABSOLUTE DEITY; we do not even mean the Universal Logos, or various of the descending degrees of Logoi Who preside over families of galaxies, galaxies, and vast structures within galaxies, and even of constellations. We mean our Planetary Logos and, to a degree, our Solar Logos. |
Ý Chí của Thượng Đế sáng chói đến mức vô hình. Đến nay, chúng ta đã quen thuộc với ý tưởng rằng “bóng tối”, trong ngữ cảnh này, là ánh sáng mãnh liệt nhất. “Ý chí khôn dò của Thượng đế” không còn là một huyền nhiệm đối với Đấng Chưởng Quản cấp độ thứ sáu; nhưng chúng ta muốn nói gì khi nói “Thượng đế”? Chúng ta không muốn nói THƯỢNG ĐẾ TUYỆT ĐỐI; chúng ta thậm chí cũng không muốn nói Thượng đế Vũ Trụ, hay các cấp độ giáng hạ khác nhau của Các Thượng đế, Những Đấng chủ trì các họ thiên hà, các thiên hà, những cấu trúc bao la trong các thiên hà, và thậm chí cả các chòm sao. Chúng ta muốn nói Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta và, ở một mức độ nào đó, Đức Thái dương Thượng đế của chúng ta. |
|
41. As we progress, veil after veil is lifted, but inscrutability describes our relationship to that which lies ever on ahead. When we ‘re-become’ the Universal Logos, we are no longer inscrutable to our Self (our Universal Self), but then, the great and ABSOLUTE DARKNESS of ENDLESS INFINITUDE is forever inscrutable. The point: as long as Time and Space exist (which they do, periodically, for ever) there will always be mysteries. |
41. Khi chúng ta tiến bước, hết bức màn này đến bức màn khác được vén lên, nhưng tính bất khả thấu triệt mô tả mối quan hệ của chúng ta với điều luôn nằm phía trước. Khi chúng ta “trở thành lại” Thượng đế Vũ Trụ, chúng ta không còn bất khả thấu triệt đối với Bản Ngã của mình nữa (Bản Ngã Vũ Trụ của mình), nhưng khi ấy, BÓNG TỐI TUYỆT ĐỐI vĩ đại của VÔ TẬN VÔ BIÊN mãi mãi vẫn bất khả thấu triệt. Điểm chính là: chừng nào Thời gian và Không gian còn hiện hữu (và chúng có hiện hữu, theo chu kỳ, mãi mãi), thì sẽ luôn luôn có những huyền nhiệm. |
|
42. It takes a long time, doesn’t it, before we can become truly effective cooperators. Our sight (when subjected to form) is so dimmed, that we don’t know what is really and deeply happening and why. Suffice it to say that we are working our way into a state of usefulness for the “One in Whom we live and move and have our being”. |
42. Phải mất một thời gian dài, phải không, trước khi chúng ta có thể trở thành những người cộng tác thật sự hữu hiệu. Tầm nhìn của chúng ta (khi chịu sự chi phối của hình tướng) bị che mờ đến nỗi chúng ta không biết điều gì đang thật sự và sâu xa xảy ra, và vì sao. Chỉ cần nói rằng chúng ta đang tự mở đường vào một trạng thái hữu dụng cho “Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện tồn”. |
|
Just as the disciple enters the world of meaning and so can interpret events, just as the Hierarchy works in the world of mediation, applying the Plan which the world of meaning has revealed, so the higher initiate works consciously in the world of purpose which the Plan implements, the world of meaning interprets, and the world of events expresses in sequential order and under the evolutionary Law. |
Cũng như đệ tử bước vào Thế giới của ý nghĩa và nhờ đó có thể diễn giải các biến cố, cũng như Thánh Đoàn hoạt động trong thế giới trung gian, áp dụng Thiên Cơ mà Thế giới của ý nghĩa đã mặc khải, thì điểm đạo đồ cao cấp hơn hoạt động một cách có ý thức trong thế giới của Thiên Ý mà Thiên Cơ thực thi, Thế giới của ý nghĩa diễn giải, và thế giới của các biến cố biểu lộ theo trật tự tuần tự và dưới Định luật thăng thượng tiến hoá. |
|
43. The world of meaning is the field of illumination for the disciple and for the initiate up to and including the third degree. The initiate of the third and fourth degree works increasingly in the world of causes. The members of the Hierarchy, fourth and fifth degree initiates, work in the world of mediation (functioning as mediators between Shamballic Will and humanity). This might also be called the world of significance. Initiates of the sixth degree and beyond work in the world of purpose, and the Masters are learning so to work. |
43. Thế giới của ý nghĩa là trường soi sáng dành cho đệ tử và điểm đạo đồ cho đến và bao gồm cấp độ thứ ba. Điểm đạo đồ cấp độ thứ ba và thứ tư ngày càng hoạt động trong thế giới của các nguyên nhân. Các thành viên của Thánh Đoàn, các điểm đạo đồ cấp độ thứ tư và thứ năm, hoạt động trong thế giới trung gian (vận hành như những vị trung gian giữa Ý Chí Shamballa và nhân loại). Điều này cũng có thể được gọi là Thế giới của thâm nghĩa. Các điểm đạo đồ cấp độ thứ sáu trở lên hoạt động trong thế giới của Thiên Ý, và các Chân sư đang học cách hoạt động như thế. |
|
44. It is interesting to read that the world of meaning “interprets” the world of purpose implemented by the Plan. The idea of interpretation suggests the importance of Mercury to the world of meaning. Meaning arises when the correct relationship of the part to a perceived context is rightly understood and the correct relationship of the perceived context to the part is also rightly understood. An understanding of meaning depends upon discerning the nature of relationships correctly. |
44. Thật thú vị khi đọc rằng Thế giới của ý nghĩa “diễn giải” thế giới của Thiên Ý được Thiên Cơ thực thi. Ý tưởng về sự diễn giải gợi lên tầm quan trọng của Sao Thủy đối với Thế giới của ý nghĩa. Ý nghĩa phát sinh khi mối quan hệ đúng đắn của phần đối với một bối cảnh được tri nhận được thấu hiểu đúng, và mối quan hệ đúng đắn của bối cảnh được tri nhận đối với phần cũng được thấu hiểu đúng. Sự thấu hiểu về ý nghĩa tùy thuộc vào việc phân biện đúng bản chất của các mối quan hệ. |
|
45. It would be instructive to list some of the “worlds” suggested here and elsewhere and place them in order (a debatable proposition). There may be some overlap between indicated terms. |
45. Sẽ hữu ích nếu liệt kê một số “thế giới” được gợi ý ở đây và nơi khác, rồi đặt chúng theo thứ tự (một đề xuất còn có thể bàn cãi). Có thể có đôi phần chồng lấn giữa các thuật ngữ được nêu ra. |
|
a. World of being |
a. Thế Giới Bản Thể |
|
b. World of purpose |
b. Thế giới của Thiên Ý |
|
c. World of significance |
c. Thế giới của thâm nghĩa |
|
d. World of mediation |
d. Thế giới trung gian |
|
e. World of causes |
e. Thế giới của các nguyên nhân |
|
f. World of meaning |
f. Thế giới của ý nghĩa |
|
g. World of events |
g. Thế giới của các biến cố |
|
46. One might imagine that seven planes would be suggested in this enumeration, but it is difficult to find a place for the astral body. |
46. Người ta có thể hình dung rằng bảy cõi sẽ được gợi ý trong sự liệt kê này, nhưng thật khó tìm được một vị trí cho thể cảm dục. |
|
a. World of Being—logoic plane |
a. Thế Giới Bản Thể—cõi Thượng đế |
|
b. World of Purpose—monadic plane |
b. Thế giới của Thiên Ý—cõi chân thần |
|
c. World of Significance—atmic planet |
c. Thế giới của thâm nghĩa—cõi atma |
|
d. World of Mediation—buddhic plane |
d. Thế giới trung gian—cõi Bồ đề |
|
e. World of Causes—higher mental plane |
e. Thế giới của các nguyên nhân—Cõi thượng trí |
|
f. World of Meaning—concrete mental plane |
f. Thế giới của ý nghĩa—cõi trí cụ thể |
|
g. World of Events—etheric/physical plane |
g. Thế giới của các biến cố—cõi dĩ thái/hồng trần |
|
47. Purpose is an archetypal pattern or “Fixed Design” held in the mind of God, the Planetary Logos. Plan implements purpose in time and space. The “Fixed Design” must be intelligently applied, but this requires adaptation. The Masters are “adepts”, and they adapt the Purpose by means of Plan. The disciples and lesser initiates of the world are not so powerful or so effective in action, but they can at least understand, by means of interpretation and, to some measure, apply the implemented Purpose (called Plan) presented by Hierarchy. They bring the Plan down further into the immediate conditions of the eighteen lower subplanes, expressing this interpreted Plan in the world of events. |
47. Thiên Ý là một mô hình nguyên mẫu hay “Thiết Kế Cố Định” được giữ trong Trí của Thượng đế, Hành Tinh Thượng đế. Thiên Cơ thực thi Thiên Ý trong thời gian và không gian. “Thiết Kế Cố Định” phải được áp dụng một cách thông tuệ, nhưng điều này đòi hỏi sự thích ứng. Các Chân sư là những “chân sư”, và Các Ngài thích ứng Thiên Ý bằng phương tiện Thiên Cơ. Các đệ tử và những điểm đạo đồ thấp hơn của thế gian không mạnh mẽ hay hữu hiệu trong hành động đến mức ấy, nhưng ít nhất họ có thể thấu hiểu, nhờ sự diễn giải và, trong một mức độ nào đó, áp dụng Thiên Ý đã được thực thi (gọi là Thiên Cơ) do Thánh Đoàn trình bày. Họ đưa Thiên Cơ xuống xa hơn vào các điều kiện trực tiếp của mười tám cõi phụ thấp, biểu lộ Thiên Cơ đã được diễn giải này trong thế giới của các biến cố. |
|
48. From the highest to the lowest, all phases in the manifestation of God’s Purpose are meant to be intelligently and effectively related. |
48. Từ cao nhất đến thấp nhất, mọi giai đoạn trong sự biểu hiện Thiên Ý của Thượng đế đều được định là phải liên hệ với nhau một cách thông tuệ và hữu hiệu. |
|
The symbol which expresses the door of evolution is the crescent moon; that of the process of evolution—as it affects the material or substantial life of the man—is the waxing and the waning moon—the symbol of growing desire and of the dying out of desire. The symbol of the world of meaning is Light—the light which shines upon the ways of men, interpreting events and bestowing revelation. The [Page 178] symbol of the world of mediation is the revolving Cross, whilst the symbol of the world of purpose is a twofold one: the five-pointed star and then the radiant heart of the Sun. Remember that when we talk and think in symbols, we are placing something between ourselves and reality—something protective, interpretive and significant, but something nevertheless veiling and hiding. After the fifth initiation all veils are rent and naught stands between the initiate and Essential Being. |
Biểu tượng diễn tả cánh cửa tiến hoá là trăng lưỡi liềm; biểu tượng của tiến trình tiến hoá—khi nó tác động đến sự sống vật chất hay chất liệu của con người—là mặt trăng tròn dần và khuyết dần—biểu tượng của dục vọng đang tăng trưởng và của sự tàn lụi dục vọng. Biểu tượng của Thế giới của ý nghĩa là Ánh sáng—ánh sáng chiếu trên những nẻo đường của con người, diễn giải các biến cố và ban sự mặc khải. Biểu tượng [Page 178] của thế giới trung gian là Thập Giá xoay chuyển, trong khi biểu tượng của thế giới của Thiên Ý có hai mặt: ngôi sao năm cánh và rồi trái tim rạng rỡ của Mặt Trời. Hãy nhớ rằng khi chúng ta nói và suy nghĩ bằng biểu tượng, chúng ta đang đặt một điều gì đó giữa chính mình và thực tại—một điều gì đó bảo vệ, diễn giải và có thâm nghĩa, nhưng dẫu sao vẫn là điều gì đó che màn và ẩn giấu. Sau lần điểm đạo thứ năm, mọi bức màn đều bị xé toạc và không còn gì đứng giữa điểm đạo đồ và Bản Thể Cốt Yếu. |
|
49. For the sake of clarity, let us list these symbols: |
49. Để rõ ràng, chúng ta hãy liệt kê các biểu tượng này: |
|
a. Crescent moon—door of evolution |
a. Trăng lưỡi liềm—cánh cửa tiến hoá |
|
b. Waxing and waning moon—process of evolution |
b. Mặt trăng tròn dần và khuyết dần—tiến trình tiến hoá |
|
c. Light—world of meaning |
c. Ánh sáng—Thế giới của ý nghĩa |
|
d. Revolving Cross—world of meditation |
d. Thập Giá xoay chuyển—thế giới tham thiền |
|
e. Five pointed star and radiant Heart of the Sun—world of purpose |
e. Ngôi sao năm cánh và Tâm rạng rỡ của Mặt Trời—thế giới của Thiên Ý |
|
50. These symbols are interesting. The “crescent moon” is the symbol expressive of the “door of evolution”. The light of the crescent moon is dim, but there is hope of growth. The light involved is reflected light—not the original source. The crescent moon is also the symbol for receptivity leading to growth. The newly individualized human being is consciously entering the world of “lunar” substance (the eighteen lower subplanes) and, at first, that is all of which he is aware. |
50. Những biểu tượng này thật thú vị. “Trăng lưỡi liềm” là biểu tượng diễn tả “cánh cửa tiến hoá”. Ánh sáng của trăng lưỡi liềm thì mờ nhạt, nhưng có hy vọng về sự tăng trưởng. Ánh sáng liên quan là ánh sáng phản chiếu—không phải nguồn nguyên thủy. Trăng lưỡi liềm cũng là biểu tượng cho tính tiếp nhận dẫn đến tăng trưởng. Con người vừa được biệt ngã hóa đang có ý thức bước vào thế giới của chất liệu “nguyệt cầu” (mười tám cõi phụ thấp), và lúc đầu, đó là tất cả những gì y nhận biết. |
|
51. The symbol for the process of evolution is the waxing and waning moon. Desire grows, desire dies. This happens in tiny cycles, larger ones, throughout one incarnation, and, over all, over the course of all incarnations of a human being. The lunar nature craves fulfillment—the crescent moon gradually becoming fuller until the full moon is reached. The lunar satisfaction, represented by the full moon, is eventually found wanting, and desire gives way to the relinquishment of desire—often in preparation for still other desires (as many cycles are passed) but, eventually, relinquished desire leads to aspiration towards a life of a supra-lunar order—namely, a solar life. Thus the moon which once waxed full, wanes until its light is no more. This waning parallels the appearance at the start of the evolutionary process of a crescent moon. |
51. Biểu tượng cho tiến trình tiến hoá là mặt trăng tròn dần và khuyết dần. Dục vọng tăng trưởng, dục vọng chết đi. Điều này xảy ra trong những chu kỳ rất nhỏ, trong những chu kỳ lớn hơn, suốt một kiếp lâm phàm, và nói chung, trong suốt dòng diễn tiến của mọi kiếp lâm phàm của một con người. Bản chất nguyệt cầu khao khát sự thỏa mãn—trăng lưỡi liềm dần trở nên đầy hơn cho đến khi đạt đến trăng tròn. Sự thỏa mãn nguyệt cầu, được biểu trưng bởi trăng tròn, rốt cuộc bị nhận thấy là không đủ, và dục vọng nhường chỗ cho sự từ bỏ dục vọng—thường để chuẩn bị cho những dục vọng khác nữa (khi nhiều chu kỳ trôi qua), nhưng cuối cùng, dục vọng được từ bỏ dẫn đến khát vọng hướng tới một đời sống thuộc một trật tự siêu nguyệt cầu—nghĩa là, một đời sống thái dương. Như vậy, mặt trăng từng tròn đầy nay khuyết dần cho đến khi ánh sáng của nó không còn nữa. Sự khuyết dần này song hành với sự xuất hiện của trăng lưỡi liềm ở khởi đầu tiến trình tiến hoá. |
|
52. The symbol for the world of meaning is Light. This is easily understood. In the world of meaning we find out how all things are related to each other. Light reveals these relationships, and the relationships when revealed generate more light. One seeks illumination in the world of meaning. |
52. Biểu tượng cho Thế giới của ý nghĩa là Ánh sáng. Điều này dễ hiểu. Trong Thế giới của ý nghĩa, chúng ta khám phá cách mọi sự liên hệ với nhau. Ánh sáng mặc khải các mối quan hệ này, và khi các mối quan hệ được mặc khải, chúng tạo ra thêm ánh sáng. Người ta tìm kiếm sự soi sáng trong Thế giới của ý nghĩa. |
|
53. The world of mediation has for its symbol a revolving cross. We are not told in what direction the cross is revolving. There is the involutionary revolving cross (unfortunately chosen by the Nazis as their symbol), and also the clockwise revolving cross, with which the solar potentials are associated. Both types of revolving cross can be understood as positive. As the chakras reach fulfillment, they revolve in both directions (clockwise and counterclockwise) simultaneously, as “the wheel turns upon itself”. The members of Hierarchy (in the world of mediation) precipitate redemptive energy into humanity, and magnetically draw humanity’s energy upward towards Themselves. As the cross, the symbol of matter revolves, it creates the circle—the symbol of spiritual fulfillment. |
53. Thế giới trung gian có biểu tượng là một thập giá xoay chuyển. Chúng ta không được cho biết thập giá ấy xoay theo hướng nào. Có thập giá xoay chuyển theo chiều giáng hạ tiến hoá (đáng tiếc đã bị Đức Quốc Xã chọn làm biểu tượng của họ), và cũng có thập giá xoay chuyển theo chiều kim đồng hồ, gắn liền với các tiềm năng thái dương. Cả hai loại thập giá xoay chuyển đều có thể được thấu hiểu là tích cực. Khi các luân xa đạt đến sự thành tựu, chúng xoay đồng thời theo cả hai hướng (theo chiều kim đồng hồ và ngược chiều kim đồng hồ), như “bánh xe quay trên chính nó”. Các thành viên của Thánh Đoàn (trong thế giới trung gian) ngưng tụ năng lượng cứu chuộc vào nhân loại, và bằng từ tính kéo năng lượng của nhân loại hướng lên về phía Chính Các Ngài. Khi thập giá, biểu tượng của vật chất, xoay chuyển, nó tạo ra vòng tròn—biểu tượng của sự thành tựu tinh thần. |
|
54. If we relate the world of mediation to the buddhic plane the Cross (one meaning of which is relinquishment through love) is an appropriate symbol. The buddhic plane is the fourth and the Cross is fourfold. The revolving Cross is also a symbol of synthesis. In esoteric astrology initiates synthesize their experience on the three Crosses. |
54. Nếu chúng ta liên hệ thế giới trung gian với cõi Bồ đề, thì Thập Giá (một ý nghĩa của nó là sự từ bỏ thông qua tình thương) là một biểu tượng thích hợp. Cõi Bồ đề là cõi thứ tư và Thập Giá là tứ phân. Thập Giá xoay chuyển cũng là biểu tượng của sự tổng hợp. Trong Chiêm Tinh Học Nội Môn, các điểm đạo đồ tổng hợp kinh nghiệm của mình trên ba Thập Giá. |
|
55. The two symbols of the world of purpose are the five pointed star and the radiant heart of the Sun. It is the Master (the five pointed star) who begins to know the divine Purpose as it really is. He is fivefold Brahma completed—the consummation of the first solar system having taken, by some systems of reckoning, the first cosmic initiation. He is ready to begin in earnest the new program for our present solar system, which is based upon the “heart of the Sun” and not, alone, upon the external (Brahmic) Sun. Purpose, in our solar system, has more to do with the Heart of the Sun than with the physical sun or with the Central Spiritual Sun (which will guide the evolutionary process in the next solar system. |
55. Hai biểu tượng của thế giới của Thiên Ý là ngôi sao năm cánh và trái tim rạng rỡ của Mặt Trời. Chính Chân sư (ngôi sao năm cánh) là Đấng bắt đầu biết Thiên Ý như nó thật sự là. Ngài là Brahma ngũ phân đã hoàn tất—sự viên mãn của hệ mặt trời thứ nhất, theo một số hệ thống tính toán, đã trải qua lần điểm đạo vũ trụ thứ nhất. Ngài sẵn sàng bắt đầu một cách nghiêm túc chương trình mới cho hệ mặt trời hiện tại của chúng ta, vốn đặt nền trên “Tâm của Mặt Trời” chứ không chỉ trên Mặt Trời bên ngoài (Brahma). Trong hệ mặt trời của chúng ta, Thiên Ý liên quan nhiều hơn đến Tâm của Mặt Trời hơn là đến mặt trời hồng trần hay Mặt trời Tinh thần Trung Ương (vốn sẽ hướng dẫn tiến trình tiến hoá trong hệ mặt trời kế tiếp. |
|
56. As initiations proceed from the fifth to the seventh, the “Heart of the Sun” opens more and more to the advancing initiate. At the seventh initiation, he becomes a Master in the solar program of initiations, just as a ninth degree initiate can be considered a Master in the program of Sirian initiations (which began at the fifth). |
56. Khi các cuộc điểm đạo tiến từ lần thứ năm đến lần thứ bảy, “Tâm của Mặt Trời” mở ra ngày càng nhiều hơn cho điểm đạo đồ đang tiến tới. Ở lần điểm đạo thứ bảy, y trở thành một Chân sư trong chương trình điểm đạo thái dương, cũng như một điểm đạo đồ cấp độ thứ chín có thể được xem là một Chân sư trong chương trình điểm đạo của Sirius (vốn bắt đầu ở lần thứ năm). |
|
57. The learning which we should extract from all this is that God’s Purpose is Love. On our planet and in our solar system, it is impossible to separate Purpose from Love. One who attempts to do so is not respecting the second ray soul of our Planetary Logos and the second ray soul of the Solar Logos. |
57. Điều học hỏi mà chúng ta nên rút ra từ tất cả những điều này là Thiên Ý của Thượng đế là Bác ái. Trên hành tinh của chúng ta và trong hệ mặt trời của chúng ta, không thể tách rời Thiên Ý khỏi Bác ái. Ai cố gắng làm như vậy là không tôn trọng linh hồn cung hai của Hành Tinh Thượng đế chúng ta và linh hồn cung hai của Thái dương Thượng đế. |
|
58. We learn that the rending of the veils is completed at the fifth initiation. At the fourth, “the veil of the Temple is rent in twain”, but the debris of the rending process is not finally dissipated until the fifth. This correlates with the idea that the causal body is destroyed at the fourth initiation, but that the debris of that destruction is not entirely scattered and dispersed until the fifth—when the Sun shines forth, unobstructedly. |
58. Chúng ta học được rằng việc xé toạc các bức màn được hoàn tất ở lần điểm đạo thứ năm. Ở lần thứ tư, “bức màn của Đền Thờ bị xé làm đôi”, nhưng mảnh vụn của tiến trình xé rách ấy mãi đến lần thứ năm mới hoàn toàn tiêu tan. Điều này tương ứng với ý tưởng rằng thể nguyên nhân bị phá hủy ở lần điểm đạo thứ tư, nhưng mảnh vụn của sự phá hủy ấy chưa hoàn toàn bị phân tán và tan biến cho đến lần thứ năm—khi Mặt Trời chiếu rạng, không bị cản trở. |
|
59. The world of purpose (as here discussed), therefore, spans the fourth and fifth initiations: the Cross (fourth) and the Heart of the Sun (fifth). |
59. Do đó, thế giới của Thiên Ý (như được bàn ở đây) trải rộng qua lần điểm đạo thứ tư và thứ năm: Thập Giá (thứ tư) và Tâm của Mặt Trời (thứ năm). |
|
60. Interestingly, Master DK (when His identity was still undisclosed) said “I am an initiate into the mysteries of being”. Pondering His statement, we should understand that the world of purpose and the world of being overlap. |
60. Điều thú vị là Chân sư DK (khi danh tính của Ngài vẫn chưa được tiết lộ) đã nói: “Tôi là một điểm đạo đồ trong các huyền nhiệm của bản thể”. Khi suy ngẫm lời tuyên bố của Ngài, chúng ta nên thấu hiểu rằng thế giới của Thiên Ý và Thế Giới Bản Thể chồng lấn nhau. |
|
61. Although after the fifth initiation “naught stands between the initiate and Essential Being”, He, the Master, is not yet entirely merged in Essential Being, for the phase of monadic absorption still lies ahead of Him. |
61. Mặc dù sau lần điểm đạo thứ năm “không còn gì đứng giữa điểm đạo đồ và Bản Thể Cốt Yếu”, nhưng Ngài, vị Chân sư, vẫn chưa hoàn toàn hòa nhập vào Bản Thể Cốt Yếu, vì giai đoạn hấp thu chân thần vẫn còn nằm phía trước Ngài. |
|
62. For our purposes, the Monad is the repository of Essential Being, yet in a way, the Monad is still a limitation upon or encapsulation of Essential Being. The One Ray of the Absolute is Essential Being. That Ray abides, throughout cosmos, in various states of immersion in matter. Until the great “Day Be With Us” which concludes the manifestation of the one and only periodic Universe (composed of all parallel periodic ‘universes’), the real experience of Essential Being will elude us (we—the progressively retracted emanations on our way ‘Home’) |
62. Đối với mục đích của chúng ta, chân thần là kho chứa của Bản Thể Cốt Yếu, tuy theo một cách nào đó, chân thần vẫn là một giới hạn đối với Bản Thể Cốt Yếu, hoặc là sự bao bọc Bản Thể Cốt Yếu. Cung Duy Nhất của Tuyệt Đối là Bản Thể Cốt Yếu. Cung ấy an trú, khắp vũ trụ, trong nhiều trạng thái chìm ngập khác nhau trong vật chất. Cho đến “Ngày Hãy Ở Cùng Chúng Ta” vĩ đại, kết thúc sự biểu hiện của Vũ Trụ chu kỳ duy nhất và độc nhất (gồm tất cả các “vũ trụ” chu kỳ song song), kinh nghiệm thực sự về Bản Thể Cốt Yếu sẽ còn vượt khỏi chúng ta (chúng ta—những xuất lộ đang dần thu hồi trên đường “Trở Về Nhà”) |
|
Rule(s) IX—Overview |
Tổng quan về Quy luật 9 |
|
Brief Commentary on an Overview of These Rules |
Bình luận ngắn về một tổng quan của các Quy luật này |
|
Dear Friends, |
Các bạn thân mến, |
|
We have studied Rules IX exhaustively, but never enough, of course. I will share some short thoughts regarding these Rules, not so much in an academic sense (for that has been somewhat accomplished) but more in terms of possible directives to assist us in the carrying out of these Rules. |
Chúng ta đã nghiên cứu Quy luật 9 một cách cặn kẽ, nhưng dĩ nhiên là chưa bao giờ đủ. Tôi sẽ chia sẻ vài suy nghĩ ngắn về các Quy luật này, không quá theo nghĩa học thuật (vì điều đó phần nào đã được thực hiện), mà nhiều hơn theo nghĩa những chỉ dẫn khả hữu nhằm trợ giúp chúng ta trong việc thực hành các Quy luật này. |
|
Rule IX: For Applicants: Let the disciple merge himself within the circle of the other selves. Let but one colour blend them and their unity appear. Only when the group is known and sensed can energy be wisely emanated. |
Quy luật 9: Dành cho Ứng viên: Hãy để đệ tử hòa nhập chính mình vào trong vòng tròn của các bản ngã khác. Hãy để chỉ một màu sắc hòa quyện họ và làm cho sự hợp nhất của họ xuất hiện. Chỉ khi nhóm được nhận biết và cảm nhận thì năng lượng mới có thể được phát xạ một cách minh triết. |
|
Rule IX: For Disciples and Initiates: Let the group know there are no other selves. Let the group know there is no colour, only light; and then let darkness take the place of light, hiding all difference, blotting out all form. Then—at the place of tension, and at that darkest point—let the group see a point of clear cold fire, and in the fire (right at its very heart) let the One Initiator appear Whose star shone forth when the Door first was passed. |
Quy luật 9: Dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ: Hãy để nhóm biết rằng không có các bản ngã khác. Hãy để nhóm biết rằng không có màu sắc, chỉ có ánh sáng; và rồi hãy để bóng tối thay thế ánh sáng, che giấu mọi khác biệt, xóa mờ mọi hình tướng. Khi ấy—tại điểm tập trung nhất tâm, và tại điểm tối tăm nhất ấy—hãy để nhóm thấy một điểm lửa lạnh trong sáng, và trong ngọn lửa đó (ngay nơi chính trái tim của nó), hãy để Đấng Điểm đạo Duy Nhất xuất hiện, Đấng mà ngôi sao của Ngài đã chiếu rạng khi Cánh Cửa lần đầu được vượt qua. |
|
Rule IX for Applicants: |
Quy luật 9 dành cho Ứng viên: |
|
Let the disciple merge himself within the circle of the other selves. |
Hãy để đệ tử hòa nhập chính mình vào trong vòng tròn của các bản ngã khác. |
|
1. We are the other selves with whom we have gathered. |
1. Chúng ta là các bản ngã khác mà chúng ta đã quy tụ cùng. |
|
2. We are to live in the presence of those apparently ‘other’ selves, and revise our normal attitude towards ‘them’. |
2. Chúng ta phải sống trong sự hiện diện của những bản ngã có vẻ là “khác” ấy, và điều chỉnh lại thái độ bình thường của mình đối với “họ”. |
|
3. The circle is the circle of the Ashram, gathered around the Master as point of inspiration. |
3. Vòng tròn là vòng tròn của Ashram, được quy tụ quanh Chân sư như điểm cảm hứng. |
|
4. Imaginative ‘merging exercises’ are useful. Not a day should pass when we allow ourselves to remain in a state of ‘identificatory encapsulation’. Every day the ring-pass-not should be challenged. This is the only way to change our normal perceptions to those which are common to initiates who live as the One Soul. |
4. Các “bài tập hòa nhập” bằng sự tưởng tượng đều hữu ích. Không một ngày nào nên trôi qua mà chúng ta để mình ở lại trong trạng thái “đóng kín đồng hóa”. Mỗi ngày, vòng-giới-hạn phải được thách thức. Đây là cách duy nhất để chuyển đổi các tri giác thông thường của chúng ta thành những tri giác vốn quen thuộc với các điểm đạo đồ sống như Linh Hồn Duy Nhất. |
|
5. But we have to determine that part of the ‘other’ with which we can merge. It is not the outer form, or, really, anything qualitative. It is the essence of the individual, that within ‘another’ which is identical with the essence we are, or at the very least, the soul. The following from TWM makes this clear: |
5. Nhưng chúng ta phải xác định phần nào của “người khác” mà chúng ta có thể hòa nhập. Đó không phải là hình tướng bên ngoài, hay thật ra, cũng không phải bất cứ điều gì thuộc về phẩm tính. Đó là tinh túy của cá nhân, là điều bên trong “một người khác” vốn đồng nhất với tinh túy mà chúng ta là, hay ít nhất là linh hồn. Đoạn sau đây từ Luận về Chánh Thuật làm rõ điều này: |
|
“Rule III. Blend with thy brother’s soul and know him as he is. Only upon the plane of soul can this be done. Elsewhere the blending feeds the fuel of his lower life. Then focus on the plan. Thus will he see the part that he and you and all men play. Thus will he enter into life and know the work accomplished.” (TWM 320) |
“Quy Luật III. Hãy hòa nhập với linh hồn của huynh đệ ngươi và biết y như y là. Chỉ trên cõi linh hồn điều này mới có thể được thực hiện. Ở nơi khác, sự hòa nhập chỉ nuôi thêm nhiên liệu cho đời sống thấp của y. Rồi hãy tập trung vào Thiên Cơ. Như vậy, y sẽ thấy phần mà y, ngươi và mọi người đảm nhiệm. Như vậy, y sẽ bước vào sự sống và biết công việc đã hoàn tất.” (Luận về Chánh Thuật 320) |
|
Let but one colour blend them and their unity appear. |
Hãy để chỉ một màu hòa nhập họ và làm cho sự hợp nhất của họ xuất hiện. |
|
6. We have to know with whom we are to work. We can be on friendly terms with many, and yet they will not necessarily be our close co-workers (those with whom we share the same ashramic orientation, or Ashram, if such is known). |
6. Chúng ta phải biết mình sẽ làm việc với ai. Chúng ta có thể thân thiện với nhiều người, nhưng họ không nhất thiết là những cộng sự gần gũi của chúng ta, tức những người cùng chia sẻ một định hướng ashram, hay cùng một ashram, nếu điều đó được biết. |
|
7. Our relations with our fellow group members may be full of complementary variety, but, at root, we will share a recognition that a particular quality or colour is deeply related to our subjective nature. |
7. Các mối liên hệ của chúng ta với những thành viên đồng nhóm có thể đầy sự đa dạng bổ sung cho nhau, nhưng tận gốc rễ, chúng ta sẽ cùng chia sẻ một sự nhận biết rằng một phẩm tính hay màu sắc đặc thù có liên hệ sâu xa với bản chất chủ quan của chúng ta. |
|
8. It is hard to put into words, because we are not talking about a tangible color. It is more a sensed quality which all ashramic brothers recognize that they share. It is an often unspoken commonalty, but it blends all apparent differences and makes them subservient to a unity achieved within and by means of the one colour. |
8. Điều này khó diễn đạt bằng lời, vì chúng ta không nói về một màu sắc hữu hình. Đó đúng hơn là một phẩm tính được cảm nhận mà mọi huynh đệ ashram đều nhận ra rằng họ cùng chia sẻ. Đó là một điểm chung thường không được nói ra, nhưng nó hòa nhập mọi khác biệt bề ngoài và khiến chúng phụ thuộc vào một sự hợp nhất đạt được trong và nhờ một màu duy nhất ấy. |
|
9. In this ashramic relationship, there is complete freedom of expression (in alignment with purpose) and yet a palpable sense of unity. |
9. Trong mối liên hệ ashram này, có sự tự do biểu đạt hoàn toàn, trong sự chỉnh hợp với mục đích, nhưng đồng thời cũng có một cảm thức hợp nhất có thể cảm nhận rõ rệt. |
|
10. There are two kinds of unities. The first is “group unity” and it is buddhic in nature. The next, and greater, is “fundamental unity” which derives from monadic relations. The following quotation is useful in this regard: |
10. Có hai loại hợp nhất. Loại thứ nhất là “sự hợp nhất nhóm” và bản chất của nó là Bồ đề. Loại kế tiếp, và lớn lao hơn, là “sự hợp nhất căn bản”, phát sinh từ các mối liên hệ chân thần. Trích dẫn sau đây hữu ích về phương diện này: |
|
“In both the cosmic and solar physical planes, the plane of buddhi is ever the plane of at-one-ment, or the meeting ground of diversities, and of their blending—not into a fundamental unity—but into group unity.” (TCF 328) |
“Trên cả các cõi hồng trần vũ trụ và thái dương, cõi Bồ đề luôn là cõi của sự hiệp nhất, hay nơi gặp gỡ của các dị biệt và của sự hòa nhập chúng — không phải vào một sự hợp nhất căn bản — mà vào sự hợp nhất nhóm.” (Luận về Lửa Vũ Trụ 328) |
|
Only when the group is known and sensed can energy be wisely emanated. |
Chỉ khi nhóm được biết và được cảm nhận, năng lượng mới có thể được phát xạ một cách khôn ngoan. |
|
11. It is possible to inform many and learn from many, but real ashramic work occurs in the intimate presence of only a few—at least for us at our present stage of development. |
11. Có thể thấm nhuần cho nhiều người và học hỏi từ nhiều người, nhưng công việc ashram đích thực diễn ra trong sự hiện diện thân mật của chỉ một số ít người — ít nhất là đối với chúng ta ở giai đoạn phát triển hiện tại. |
|
12. What exactly is our essential colour? What is our fundamental soul note? Do we recognize this? |
12. Màu sắc cốt yếu của chúng ta chính xác là gì? Âm điệu linh hồn căn bản của chúng ta là gì? Chúng ta có nhận ra điều này không? |
|
13. A lot of smoke has to clear throughout the incarnational process before one’s essential quality is clearly ascertained—not just hypothesized but ascertained. |
13. Nhiều lớp khói phải tan đi trong suốt tiến trình nhập thể trước khi phẩm tính cốt yếu của một người được xác định chắc chắn — không chỉ được giả định, mà được xác định chắc chắn. |
|
14. Finding one’s group occurs not so much by going out to look for it. Knowledge of one’s group arises when one finds oneself deep in one’s pre-ordained soul service and then notices that there are others similarly engaged. These will be one’s soul brothers. They will discover each other in the field of service. |
14. Việc tìm thấy nhóm của mình không xảy ra nhiều nhờ đi ra ngoài để tìm kiếm nó. Sự hiểu biết về nhóm của mình nảy sinh khi một người thấy mình đang dấn sâu vào công cuộc phụng sự linh hồn đã được định trước của mình, rồi nhận thấy rằng có những người khác cũng đang tham gia tương tự. Những người ấy sẽ là các huynh đệ linh hồn của y. Họ sẽ nhận ra nhau trong lĩnh vực phụng sự. |
|
15. In cooperation with them no energy will be wasted on the need for interpersonal accommodation. Soul purpose is so deeply shared that such brothers can work with intimate understanding (even if through a variety of external methods). |
15. Trong sự hợp tác với họ, sẽ không có năng lượng nào bị lãng phí vào nhu cầu phải điều chỉnh thích nghi giữa cá nhân. Mục đích linh hồn được chia sẻ sâu xa đến mức những huynh đệ như thế có thể làm việc với sự thấu hiểu thân mật, dù thông qua nhiều phương pháp bên ngoài khác nhau. |
|
16. Then will come the opportunity to appreciate the rich diversity of ashramic life, and it can be a joyful experience. |
16. Khi ấy sẽ đến cơ hội trân trọng sự đa dạng phong phú của đời sống ashram, và đó có thể là một kinh nghiệm đầy hoan hỉ. |
|
17. Self-certainty, however, is initially required. The aspirant or probationary disciple who does not know himself, cannot really expect to blend and merge with an ashramic group. |
17. Tuy nhiên, ban đầu cần có sự chắc chắn về chính mình. Người chí nguyện hay đệ tử dự bị nào không biết chính mình, thì thật sự không thể mong hòa nhập và dung hòa với một nhóm ashram. |
|
Rule IX for Disciples and Initiates: |
Quy Luật IX dành cho các Đệ tử và Điểm đạo đồ: |
|
Let the group know there are no other selves. |
Hãy để nhóm biết rằng không có những bản ngã nào khác. |
|
18. This is the most fundamental of all spiritual recognitions. |
18. Đây là sự nhận biết tinh thần căn bản nhất trong tất cả. |
|
19. It is much quoted and people imagine they know what it means, but they do not often act as if they do. |
19. Điều này được trích dẫn rất nhiều, và người ta tưởng rằng họ biết nó có nghĩa gì, nhưng họ thường không hành động như thể họ thật sự biết. |
|
20. It is not the individual who knows there are no other selves, but rather the disciples who are together identified as a group. |
20. Không phải cá nhân biết rằng không có những bản ngã nào khác, mà đúng hơn là các đệ tử cùng nhau đồng hóa với tư cách một nhóm. |
|
21. From the position of “group unity” characteristic of buddhi, the “fundamental unity” characteristic of the Monad can be approached. |
21. Từ vị thế “hợp nhất nhóm” vốn đặc trưng cho Bồ đề, có thể tiến đến “sự hợp nhất căn bản” vốn đặc trưng cho chân thần. |
|
22. From the perception characteristic of the soul, we move to the perception characteristic of the Monad. |
22. Từ tri giác đặc trưng của linh hồn, chúng ta chuyển sang tri giác đặc trưng của chân thần. |
|
23. This type of perception is destructive of the illusion of individuality; it is even, eventually, destructive of the illusion of the individuality of groups. |
23. Loại tri giác này phá hủy ảo tưởng về cá thể tính; rốt cuộc, nó thậm chí còn phá hủy cả ảo tưởng về cá thể tính của các nhóm. |
|
24. Of course individuals and groups, on one level of perception, have their individuality. But such an individuality is not essential. It is transient and gives way to the perception of identicality—the perception that there are no other selves. |
24. Dĩ nhiên, trên một cấp độ tri giác, các cá nhân và các nhóm có cá thể tính của họ. Nhưng một cá thể tính như thế không phải là cốt yếu. Nó thoáng qua và nhường chỗ cho tri giác về sự đồng nhất — tri giác rằng không có những bản ngã nào khác. |
|
Let the group know there is no colour, only light; |
Hãy để nhóm biết rằng không có màu sắc, chỉ có ánh sáng; |
|
25. We are engaged in a retreat from quality into essence. |
25. Chúng ta đang tham gia vào một cuộc rút lui khỏi phẩm tính để đi vào tinh túy. |
|
26. Light is the essence of colour; darkness is the essence of light. |
26. Ánh sáng là tinh túy của màu sắc; bóng tối là tinh túy của ánh sáng. |
|
27. We are being asked to remove our attention from preoccupation with quality and distinction, and to become preoccupied, instead, with homogeneity—the ‘sea of sameness’ from which all quality emerges. |
27. Chúng ta đang được yêu cầu rút sự chú ý khỏi mối bận tâm với phẩm tính và sự phân biệt, để thay vào đó, trở nên chú tâm đến tính đồng nhất — “biển của sự giống nhau” mà từ đó mọi phẩm tính xuất hiện. |
|
28. So, in fact, we are being asked to abstract our consciousness from differentiation and settle it upon that which cannot be differentiated—however much it seems to be so. Reality is essentially indivisible. |
28. Vì vậy, thật ra, chúng ta đang được yêu cầu rút tâm thức khỏi sự biến phân và đặt nó trên cái không thể bị biến phân — dù nó dường như có vẻ là như thế đến đâu. Thực tại về bản chất là không thể phân chia. |
|
29. We are engaged, therefore, in a search for essence. |
29. Do đó, chúng ta đang tham gia vào một cuộc tìm kiếm tinh túy. |
|
and then let darkness take the place of light, hiding all difference, blotting out all form. |
và rồi hãy để bóng tối thay thế ánh sáng, che giấu mọi khác biệt, xóa nhòa mọi hình tướng. |
|
30. The third stage is the movement into the livingness of spiritual “darkness”. |
30. Giai đoạn thứ ba là sự chuyển động vào tính sống động của “bóng tối” tinh thần. |
|
31. It is an abstraction still greater than that which moved our consciousness from the perception of color to the registration of light. |
31. Đó là một sự trừu xuất còn lớn hơn sự trừu xuất đã chuyển tâm thức chúng ta từ tri giác về màu sắc sang sự ghi nhận ánh sáng. |
|
32. If we learn “pratyahara” (the stage of Abstraction as presented in the Yoga Sutras) we may yet learn to move towards an appreciation of and identification with essence. |
32. Nếu chúng ta học “sự thu nhiếp giác quan”, tức giai đoạn Trừu Xuất như được trình bày trong Kinh Yoga, thì chúng ta vẫn có thể học cách tiến tới sự trân trọng và đồng hóa với tinh túy. |
|
33. Perhaps there are not too many of us who focus with consistency on the perception of and identification with essence. Our lives are full in the qualitative realm, into which, at the very least, we have to introduce the factor of harmony. |
33. Có lẽ không có quá nhiều người trong chúng ta tập trung một cách nhất quán vào tri giác về và sự đồng hóa với tinh túy. Đời sống của chúng ta đầy ắp trong cõi giới phẩm tính, nơi mà ít nhất chúng ta phải đưa vào yếu tố hài hòa. |
|
34. The world of light is once removed from the domain of essence, which is a realm of ‘spiritual darkness’ (in the positive sense!). |
34. Thế giới ánh sáng đã cách miền của tinh túy một bậc, vốn là một cõi của “bóng tối tinh thần”, theo nghĩa tích cực. |
|
35. How can we define this “darkness”? Perhaps we can say that it is simply that which takes the place of light; that which hides all difference; that which blots out all form. It is the non-objectified Presence. |
35. Làm sao chúng ta có thể định nghĩa “bóng tối” này? Có lẽ chúng ta có thể nói rằng đó đơn giản là cái thay thế ánh sáng; cái che giấu mọi khác biệt; cái xóa nhòa mọi hình tướng. Đó là Sự Hiện Diện không bị đối tượng hóa. |
|
36. To find “darkness” is an act of ‘positive spiritual negation’ (if so contradictory a phrase can be considered meaningful). |
36. Tìm thấy “bóng tối” là một hành vi “phủ định tinh thần tích cực”, nếu một cụm từ mâu thuẫn như thế có thể được xem là có ý nghĩa. |
|
37. Through a temporary act of great disinterest in light and all the phenomena it reveals, we may penetrate to that which antecedes (and later follows) them both. |
37. Thông qua một hành vi tạm thời của sự không quan tâm sâu xa đến ánh sáng và mọi hiện tượng mà nó mặc khải, chúng ta có thể xuyên thấu đến cái có trước, và về sau tiếp nối, cả hai. |
|
38. An individual or group for whom darkness has taken the place of light is living in Spirit. Spirit has become the all-motivating Attractor. It is the Spirit within such an individual or group which is reaching out to the Spirit within all things. Spirit calls to Spirit, even though Spirit is indissolubly One. Such are the inevitable paradoxes in relation to Spirit. |
38. Một cá nhân hay nhóm mà đối với họ bóng tối đã thay thế ánh sáng thì đang sống trong Tinh thần. Tinh thần đã trở thành Đấng Thu Hút thúc đẩy tất cả. Chính Tinh thần trong một cá nhân hay nhóm như thế đang vươn tới Tinh thần trong mọi sự vật. Tinh thần kêu gọi Tinh thần, dù Tinh thần là Một không thể phân ly. Những nghịch lý như thế là điều không tránh khỏi trong quan hệ với Tinh thần. |
|
39. When this stage of evolution has been reached, “darkness” in the sense used here, begins to be meaningful. |
39. Khi giai đoạn tiến hoá này đã đạt tới, “bóng tối”, theo nghĩa được dùng ở đây, bắt đầu trở nên có ý nghĩa. |
|
Then—at the place of tension, and at that darkest point—let the group see a point of clear cold fire, |
Rồi — tại nơi của sự tập trung nhất tâm, và tại điểm tối tăm nhất ấy — hãy để nhóm thấy một điểm lửa trong lạnh và sáng rõ, |
|
40. Deep within the ‘spiritual darkness’ a point of tension emerges. |
40. Sâu trong “bóng tối tinh thần”, một điểm tập trung nhất tâm xuất hiện. |
|
41. Identification with such darkness is an invocation in itself, and that which is invoked is a “point of clear cold fire”—the Star of Initiation. |
41. Sự đồng hóa với bóng tối như thế tự nó là một sự khẩn cầu, và điều được khẩn cầu là một “điểm lửa trong lạnh và sáng rõ” — Ngôi Sao Điểm Đạo. |
|
42. The “darkest point” is the place of maximum “tension” within the darkness. |
42. “Điểm tối tăm nhất” là nơi của “sự tập trung nhất tâm” tối đa trong bóng tối. |
|
43. Again, it is not so much the individual who sees the point of clear cold fire, as it is the group (seeing as one)—as an Ashram learns to see. |
43. Một lần nữa, không phải cá nhân thấy điểm lửa trong lạnh và sáng rõ, mà đúng hơn là nhóm, thấy như một thực thể duy nhất, như một ashram học cách thấy. |
|
and in the fire (right at its very heart) let the One Initiator appear Whose star shone forth when the Door first was passed. |
và trong lửa, ngay tại chính trung tâm của nó, hãy để Đấng Điểm Đạo Duy Nhất xuất hiện, Đấng mà ngôi sao của Ngài đã tỏa sáng khi Cánh Cửa lần đầu được vượt qua. |
|
44. In the darkness, a point of clear cold fire emerges. |
44. Trong bóng tối, một điểm lửa trong lạnh và sáng rõ xuất hiện. |
|
45. Within the clear cold fire (at the most intense point of the fire—its very heart) the One Initiator emerges. |
45. Bên trong ngọn lửa trong lạnh và sáng rõ, tại điểm mãnh liệt nhất của lửa — chính trung tâm của nó — Đấng Điểm Đạo Duy Nhất xuất hiện. |
|
46. This is the part of the Rule which suggests the fifth initiation, for the One Initiator is not seen face to face until that time—if that is what the Rule is suggesting. |
46. Đây là phần của Quy Luật gợi ý lần điểm đạo thứ năm, vì Đấng Điểm Đạo Duy Nhất không được thấy mặt đối mặt cho đến thời điểm ấy — nếu đó là điều Quy Luật đang gợi ý. |
|
47. Given that these are Rules for group initiation, it cannot be the Christ Who appears, for He is the initiator at the first two initiations in relation to which the Rules of Applicants apply. |
47. Vì đây là các Quy Luật dành cho điểm đạo nhóm, nên Đấng xuất hiện không thể là Đức Christ, vì Ngài là Đấng Điểm Đạo ở hai lần điểm đạo đầu, liên hệ với các Quy Luật dành cho Ứng viên. |
|
48. The “Star of Initiation” is most associated with the third initiation, though a form of the star may also be associated with the first two degrees. |
48. “Ngôi Sao Điểm Đạo” liên hệ nhiều nhất với lần điểm đạo thứ ba, dù một hình thức của ngôi sao cũng có thể liên hệ với hai cấp độ đầu. |
|
49. If the One Initiator appears as He is, then the initiation here discussed is the fifth degree. If He appears in the form of a star or an eye, then the third and fourth initiations are referenced, respectively. |
49. Nếu Đấng Điểm Đạo Duy Nhất xuất hiện như chính Ngài là, thì cuộc điểm đạo được bàn đến ở đây là cấp độ thứ năm. Nếu Ngài xuất hiện dưới hình thức một ngôi sao hay một con mắt, thì lần điểm đạo thứ ba và thứ tư lần lượt được nhắc đến. |
|
50. All of these desirable attainments are based upon group love and purposeful, group cohesion. |
50. Tất cả những thành tựu đáng mong muốn này đều đặt nền trên tình thương nhóm và sự cố kết nhóm có mục đích. |
|
51. Do we find that we are related to ‘others’ in such a way that our very relationship is an invocation of these higher attainments? |
51. Chúng ta có thấy mình liên hệ với “những người khác” theo cách mà chính mối liên hệ của chúng ta là một sự khẩn cầu các thành tựu cao hơn này không? |
|
52. Probably, we must put first things first, and make sure that our group relations are pervaded by the energy of Love-Wisdom, before the kind of group attainments here discussed can have any realistic possibility of eventuating. |
52. Có lẽ chúng ta phải đặt điều trước hết lên trước hết, và bảo đảm rằng các mối liên hệ nhóm của chúng ta được thấm nhuần bởi năng lượng Bác Ái – Minh Triết, trước khi loại thành tựu nhóm được bàn đến ở đây có thể có bất cứ khả năng thực tế nào để thành tựu. |
|
53. Together, the group will one day penetrate into the certainty of group soul and the still more exalted certainty of the One Life, which all share and all are. |
53. Cùng nhau, một ngày nào đó nhóm sẽ xuyên nhập vào sự chắc chắn của linh hồn nhóm và sự chắc chắn còn cao cả hơn của Sự Sống Duy Nhất, mà tất cả cùng chia sẻ và tất cả đều là. |
|
54. We are very much in the stage of rehearsal. Where are the groups (except for definite ashramic groups) which have attained along these lines? They are a rarity, if any exist. |
54. Chúng ta phần lớn đang ở giai đoạn diễn tập. Đâu là những nhóm, ngoại trừ các nhóm ashram xác định, đã đạt được theo những đường hướng này? Họ rất hiếm, nếu quả thật có tồn tại. |
|
55. We are presented with instructions for advanced occult group work in the Aquarian Age, and so it should not be expected that achievement will be immediately rapid. |
55. Chúng ta được trao các huấn thị dành cho công việc nhóm huyền bí học cao cấp trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, vì vậy không nên kỳ vọng rằng sự thành tựu sẽ tức thời nhanh chóng. |
|
56. One of the first steps towards attainment is assuring ourselves that we know at least a little something about the Will. This is done through deep reflection upon the subject and an attempt to reach the highest point of tension which may be possible for us. A very great dissatisfaction for “things as they are” in the outer worlds must also be present. |
56. Một trong những bước đầu tiên hướng tới thành tựu là tự bảo đảm rằng chúng ta biết ít nhất đôi chút về Ý Chí. Điều này được thực hiện thông qua sự suy ngẫm sâu xa về chủ đề ấy và nỗ lực đạt tới điểm tập trung nhất tâm cao nhất có thể đối với chúng ta. Cũng phải có một sự bất mãn rất lớn đối với “sự vật như chúng đang là” trong các thế giới bên ngoài. |
|
57. Then, one will be sufficiently motivated to abstract from illusion in a manner which leads to spiritual results. |
57. Khi ấy, một người sẽ có đủ động lực để trừu xuất khỏi ảo tưởng theo một cách dẫn đến các kết quả tinh thần. |
|
58. How many are motivated towards this act of abstraction? Each will have to search the soul to determine how intensively he wishes to search for the Spirit. |
58. Có bao nhiêu người được thúc đẩy hướng tới hành vi trừu xuất này? Mỗi người sẽ phải tự vấn linh hồn để xác định y mong muốn tìm kiếm Tinh thần mãnh liệt đến mức nào. |
|
59. For many of us the achievements here indicated are not yet germane to our spiritual life. While not wishing to rush ourselves, this should change so that we being to press forward earnestly until in the Presence of the Overpowering Essence. |
59. Đối với nhiều người trong chúng ta, những thành tựu được chỉ ra ở đây vẫn chưa liên quan thiết thân đến đời sống tinh thần của chúng ta. Dù không muốn thúc ép chính mình, điều này cần thay đổi để chúng ta bắt đầu tiến tới một cách nghiêm túc cho đến khi đứng trong Sự Hiện Diện của Bản Chất Uy Lực. |
|
60. It is possible, if our approach to Spirit is intelligent and full of deep commitment. |
60. Điều đó có thể thực hiện được, nếu cách chúng ta tiếp cận Tinh thần là sáng suốt và đầy cam kết sâu xa. |
|
May the spirit of Synthetic-Understanding pervade our consciousness as we attempt to synthesize these Rules. |
Nguyện tinh thần của Sự Thấu Hiểu Tổng Hợp thấm nhuần tâm thức chúng ta khi chúng ta cố gắng tổng hợp các Quy luật này. |
|
Light, Love and Power, |
Ánh sáng, Bác ái và Quyền năng, |
|
Michael |
Michael |
[1] 1. sự phân phát, sự phân phối; 2. sự sắp đặt (của trời, tạo hóa); mệnh trời
[2] 1. (Mỹ) linh cảm 2. cái bướu (cũng hump); 3. miếng to, khúc to, khoanh to (bánh mì, bánh ngọt);
[3] 1. tàn phá, phá hủy, phá phách; nổi bật