Click số trang giữa ngoặc [ ] để đi đến phần bình giảng.
RULE I (25-47) |
QUY LUẬT I (25-47) |
|
We now begin our study of the fourteen rules for those who are seeking initiation, in one or other of its degrees. In Initiation, Human and Solar I gave the rules for those proposing to enter the grades of discipleship. I would like for a minute to deal with the significance of the word “Rule” and give you some idea of its occult meaning. There is much difference between a Law, an Order or Command, and a Rule, and these distinctions should be pondered with care. The Laws of the universe are simply the modes of expression, the life impulses and the way of existence or activity of the One in Whom we live and move and have our being. There is no avoiding these laws in the last analysis, and there is no denying them, for we are eternally swept into activity by them and they govern and control (from the angle of the Eternal Now) all that happens in time and space. Orders and commands are the feeble interpretations which men give to what they understand by law. In time and space, and at any given moment and in any given location, these commands are issued by those who are in a position of authority or who seem to dominate or are in a position to enforce their wishes. Laws are occult and basic. Orders are indicative of human frailty and limitation. |
Giờ đây chúng ta bắt đầu nghiên cứu mười bốn quy luật dành cho những ai đang tìm kiếm điểm đạo, ở cấp độ này hay cấp độ khác. Trong Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương Tôi đã đưa ra các quy luật dành cho những ai dự định bước vào các cấp bậc của địa vị đệ tử. Tôi muốn trong giây lát đề cập đến thâm nghĩa của từ “Quy Luật” và cho các bạn một ý niệm nào đó về ý nghĩa huyền bí của nó. Có sự khác biệt lớn giữa một Định luật, một Mệnh lệnh hay Chỉ thị, và một Quy luật, và các phân biệt này cần được suy ngẫm cẩn trọng. Các Định luật của vũ trụ chỉ đơn giản là các phương thức biểu hiện, các xung lực sự sống và cách tồn tại hay hoạt động của Đấng Duy Nhất mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện tồn. Xét đến cùng, không thể tránh né các định luật này, và cũng không thể phủ nhận chúng, vì chúng ta vĩnh viễn bị chúng cuốn vào hoạt động, và chúng chi phối, kiểm soát mọi điều xảy ra trong thời gian và không gian, xét từ góc độ của Hiện Tại Vĩnh Cửu. Các mệnh lệnh và chỉ thị là những diễn giải yếu ớt mà con người gán cho điều họ hiểu là định luật. Trong thời gian và không gian, ở bất cứ thời điểm nào và tại bất cứ vị trí nào, các chỉ thị này được ban ra bởi những người ở địa vị có thẩm quyền, hoặc dường như đang thống trị, hoặc ở trong vị thế có thể cưỡng hành ý muốn của họ. Các Định luật thì huyền bí và cơ bản. Các mệnh lệnh cho thấy sự yếu đuối và giới hạn của con người. |
|
Rules are, however, different. They are the result of tried experience and of agelong undertakings and—assuming neither the form of laws nor the limitations of a command—they are recognized by those for whom they exist and hence evoke from them a prompt intuitive response. They need no enforcement but are voluntarily accepted, and are put to trial in the belief that the witness of the past and the testimony of the ages warrant the effort required for the expressed requirements. |
Tuy nhiên, các Quy luật thì khác. Chúng là kết quả của kinh nghiệm đã được thử thách và của những nỗ lực kéo dài qua nhiều thời đại; không mang hình thức của định luật, cũng không mang các giới hạn của một mệnh lệnh, chúng được những người mà chúng dành cho nhận biết, và do đó gợi lên nơi họ một đáp ứng trực giác tức thời. Chúng không cần sự cưỡng hành, mà được tự nguyện chấp nhận, và được đem ra thử nghiệm trong niềm tin rằng chứng tích của quá khứ và lời chứng của các thời đại bảo đảm cho nỗ lực cần thiết nhằm đáp ứng các yêu cầu đã được nêu ra. |
|
This is true of the fourteen Rules which we are now going to study. I would remind you that only the initiate consciousness will truly comprehend their significance, but [Page 26] also that your effort so to do will develop in you the beginning of that initiate consciousness, provided you seek to make practical and voluntary application of these rules in your daily lives. They are susceptible of three forms of application—physical, emotional and mental—and of a fourth application which is best designated by the words “the response of the integrated personality to soul interpretation and understanding.” |
Điều này đúng với mười bốn Quy luật mà giờ đây chúng ta sắp nghiên cứu. Tôi muốn nhắc các bạn rằng chỉ tâm thức điểm đạo đồ mới thật sự thấu hiểu thâm nghĩa của chúng, nhưng [Trang 26] cũng rằng nỗ lực của các bạn để làm như vậy sẽ phát triển trong các bạn khởi đầu của tâm thức điểm đạo đồ ấy, miễn là các bạn tìm cách áp dụng các quy luật này một cách thực tiễn và tự nguyện trong đời sống hằng ngày của mình. Chúng có thể được áp dụng theo ba hình thức—hồng trần, cảm xúc và trí tuệ—và theo một ứng dụng thứ tư, được gọi đúng nhất bằng các từ “sự đáp ứng của phàm ngã tích hợp trước sự diễn giải và thấu hiểu của linh hồn.” |
|
Another point which I would call to your attention, prior to interpreting this rule, is that your group endeavor must be to seek group application, group meaning and group light. I would emphatically emphasize the words “group light.” We are dealing, therefore, with something basically new in the field of occult teaching, and the difficulty of intelligent comprehension is consequently great. The true significances are not the simple ones which appear upon the surface. The words of these rules would seem to be almost tritely familiar. If they meant exactly what they appear to mean, there would be no need for me to be giving hints as to their underlying significances and ideas. But they are not so simple. |
Một điểm khác mà tôi muốn lưu ý các bạn, trước khi diễn giải quy luật này, là nỗ lực nhóm của các bạn phải là tìm kiếm sự áp dụng nhóm, ý nghĩa nhóm và ánh sáng nhóm. Tôi muốn nhấn mạnh một cách dứt khoát các từ “ánh sáng nhóm.” Do đó, chúng ta đang đề cập đến một điều về căn bản là mới trong lĩnh vực giáo huấn huyền bí, và vì thế, khó khăn trong việc thấu hiểu bằng trí tuệ là rất lớn. Các thâm nghĩa chân thật không phải là những ý nghĩa đơn giản hiện ra trên bề mặt. Các lời của những quy luật này dường như hầu như quen thuộc đến mức tầm thường. Nếu chúng có nghĩa đúng y như vẻ ngoài của chúng, thì không cần tôi phải đưa ra các gợi ý về những thâm nghĩa và ý tưởng nền tảng của chúng. Nhưng chúng không đơn giản như thế. |
|
To sum up, therefore: these Rules are to be read with the aid of a developing esoteric sense; they are related to group initiation in spite of their having individual application; they are not what they appear to be on the surface—trite truisms and spiritual platitudes; but they are rules for initiation which, if followed, will take the disciple and the group through a major spiritual experience; they embody the techniques of the New Age, which necessitate group activity, group procedure and united action. Earlier I said that these rules are the result of tried experience, and my use of the word “new” in this connotation is related to human knowledge but not to the initiatory procedure. That has always existed and always, at the great crises of initiation, disciples have moved forward in groups, even though they have not been aware of so doing. Now disciples can become so aware, and the various ray ashrams will not only present their groups (large or small) to the Initiator, but the personnel of [Page 27] these groups will now be aware of the fact of group presentation. They will also have to grasp the fact of the extent of their knowledge being dependent upon their decentralization. I would ask you to ponder and reflect upon this last statement. |
Vì vậy, để tóm lại: các Quy luật này phải được đọc với sự trợ giúp của một giác quan huyền bí đang phát triển; chúng liên hệ đến điểm đạo nhóm, dù chúng có sự áp dụng cá nhân; chúng không phải là những gì chúng có vẻ là trên bề mặt—những chân lý hiển nhiên tầm thường và những lời sáo rỗng tinh thần; nhưng chúng là các quy luật dành cho điểm đạo mà nếu được tuân theo, sẽ đưa đệ tử và nhóm đi qua một kinh nghiệm tinh thần lớn lao; chúng hàm chứa các kỹ thuật của Kỷ Nguyên Mới, vốn đòi hỏi hoạt động nhóm, tiến trình nhóm và hành động hợp nhất. Trước đây tôi đã nói rằng các quy luật này là kết quả của kinh nghiệm đã được thử thách, và việc tôi dùng từ “mới” trong hàm nghĩa này liên hệ đến tri thức nhân loại chứ không liên hệ đến tiến trình điểm đạo. Tiến trình ấy luôn luôn hiện hữu, và trong các cuộc khủng hoảng lớn của điểm đạo, các đệ tử đã tiến bước trong các nhóm, dù họ không ý thức rằng mình đang làm như thế. Giờ đây các đệ tử có thể trở nên ý thức như vậy, và các ashram thuộc những cung khác nhau sẽ không chỉ trình diện các nhóm của mình, lớn hay nhỏ, trước Đấng Điểm đạo, mà nhân sự của [Trang 27] các nhóm này giờ đây cũng sẽ ý thức về sự kiện trình diện theo nhóm. Họ cũng sẽ phải nắm bắt sự kiện rằng mức độ tri thức của họ tùy thuộc vào sự phi tập trung vào bản thân của họ. Tôi xin các bạn suy ngẫm và phản tư về phát biểu cuối cùng này. |
|
Let us now proceed to a consideration of Rule I. |
Giờ đây chúng ta hãy tiến đến việc xem xét Quy Luật I. |
|
Rule I—Quy Luật I |
Quy Luật I—Quy Luật I |
|
Within the fire of mind, focused within the head’s clear light, let the group stand. (1) The burning ground has done its work. (2) The clear cold light shines forth and cold it is and yet the heat—evoked by the group love—permits the warmth of energetic moving out. (3) Behind the group there stands the Door. Before them opens out the Way. (4) Together let the band of brothers onward move—out of the fire, into the cold, and toward a newer tension. (5) |
Trong lửa của trí tuệ, được tập trung trong ánh sáng trong trẻo của đầu, hãy để nhóm đứng vững. (1) Vùng đất cháy đã hoàn tất công việc của nó. (2) Ánh sáng trong trẻo, lạnh lẽo tỏa chiếu; nó lạnh, nhưng nhiệt—được gợi lên bởi tình thương của nhóm—cho phép hơi ấm của sự vươn ra đầy năng lực. (3) Phía sau nhóm, Cánh Cửa đứng đó. Trước mặt họ, Con Đường mở ra. (4) Cùng nhau, hãy để đoàn huynh đệ tiến bước—ra khỏi lửa, vào trong cái lạnh, và hướng tới một điểm tập trung nhất tâm mới mẻ hơn. (5) |
|
It will be profitable if we take this Rule I sentence by sentence and try to wrest from each its group significance. |
Sẽ hữu ích nếu chúng ta xét Quy Luật I này từng câu một và cố gắng rút ra từ mỗi câu thâm nghĩa nhóm của nó. |
|
1. Within the fire of the mind, focused within the head’s clear light, let the group stand. (←) |
1. Trong lửa của trí tuệ, được tập trung trong ánh sáng trong trẻo của đầu, hãy để nhóm đứng vững. (←) |
|
In this sentence, you have the idea of intellectual perception and of focused unity. Intellectual perception is not mental understanding, but is in reality the clear cold reason, the buddhic principle in action and the focused attitude of the Spiritual Triad in relation to the personality. I would call your attention to the following analogies: |
Trong câu này, các bạn có ý tưởng về tri nhận bằng trí năng và về sự hợp nhất tập trung. Tri nhận bằng trí năng không phải sự thấu hiểu trí tuệ, mà trong thực tại là lý trí trong trẻo, lạnh lẽo, nguyên khí Bồ đề đang hoạt động, và thái độ tập trung của Tam Nguyên Tinh Thần trong liên hệ với phàm ngã. Tôi muốn lưu ý các bạn đến các tương đồng sau đây: |
|
· Head—Monad—Atma—Purpose |
· Đầu—Chân thần—Atma—Thiên Ý |
|
· Heart—Soul—Buddhi—Pure reason |
· Tim—Linh hồn—Bồ đề—Lý trí thuần khiết |
|
· Base of spine—Personality—Manas—Spiritual activity |
· Đáy cột sống—Phàm ngã—Manas—Hoạt động tinh thần |
|
In these words you have, therefore, the position of the personality indicated as it stands at the penetrating point of the antahkarana as it contacts the manas or lower mind and is thus the agent of the purpose of the Monad, working through the Spiritual Triad which is—as you know—related to the personality by the antahkarana. |
Do đó, trong các từ này, các bạn có vị trí của phàm ngã được chỉ ra, khi nó đứng tại điểm xuyên thấu của antahkarana, khi nó tiếp xúc với manas hay hạ trí, và như vậy là tác nhân của Thiên Ý của Chân thần, hoạt động qua Tam Nguyên Tinh Thần, vốn—như các bạn biết—liên hệ với phàm ngã bằng antahkarana. |
|
The heart as an aspect of pure reason requires careful consideration. It is usually considered the organ of pure love [Page 28] but—from the angle of the esoteric sciences—love and reason are synonymous terms, and I would have you reflect upon why this should be. Love is essentially a word for the underlying motive of creation. Motive, however, presupposes purpose leading to action, and hence in the group-life task of the incarnating Monad there comes a time when motive (heart and soul) becomes spiritually obsolete because purpose has reached a point of fulfilment and the activity set in motion is such that purpose cannot be arrested or stopped. The disciple cannot then be deterred, and no hindrance or difficulty is hard enough to prevent his moving forward. Then we have eventual destruction of what Theosophists call the causal body and the establishing of a direct relation between the Monad and its tangible expression upon the physical plane. The head center and the center at the base of the spine will be in direct unimpeded relation; monadic will and personality will likewise will be in a similar unimpeded relation, via the antahkarana. I would have you remember that the will aspect is the final dominating principle. |
Tim như một phương diện của lý trí thuần khiết đòi hỏi sự xem xét cẩn thận. Nó thường được xem là cơ quan của tình thương thuần khiết [Trang 28] nhưng—từ góc độ của các khoa học huyền bí—tình thương và lý trí là những thuật ngữ đồng nghĩa, và tôi muốn các bạn suy ngẫm xem tại sao điều này lại như vậy. Tình thương về bản chất là một từ chỉ động cơ nền tảng của cuộc sáng tạo. Tuy nhiên, động cơ giả định có Thiên Ý dẫn đến hành động, và vì thế, trong nhiệm vụ đời sống nhóm của Chân thần đang nhập thể, đến một lúc động cơ, tức tim và linh hồn, trở nên lỗi thời về mặt tinh thần, bởi Thiên Ý đã đạt đến một điểm thành tựu, và hoạt động được khởi động có tính chất đến mức Thiên Ý không thể bị chặn lại hay dừng lại. Khi ấy đệ tử không thể bị ngăn trở, và không một trở ngại hay khó khăn nào đủ mạnh để ngăn y tiến bước. Khi đó, cuối cùng chúng ta có sự hủy diệt điều mà các nhà Thông Thiên Học gọi là thể nguyên nhân, và sự thiết lập một liên hệ trực tiếp giữa Chân thần và biểu hiện hữu hình của nó trên cõi hồng trần. Trung tâm đầu và trung tâm ở đáy cột sống sẽ ở trong liên hệ trực tiếp, không bị ngăn trở; ý chí chân thần và phàm ngã cũng sẽ ở trong một liên hệ không bị ngăn trở tương tự, thông qua antahkarana. Tôi muốn các bạn nhớ rằng phương diện ý chí là nguyên khí chi phối tối hậu. |
|
In the group application of these ideas the same basic and profound development must take place, and a group of disciples must be distinguished by pure reason, which will steadily supersede motive, merging eventually into the will aspect of the Monad—its major aspect. It is, technically speaking, Shamballa in direct relation with humanity. |
Trong sự áp dụng nhóm của các ý tưởng này, cùng một sự phát triển căn bản và sâu xa phải diễn ra, và một nhóm đệ tử phải được phân biệt bởi lý trí thuần khiết, vốn sẽ đều đặn thay thế động cơ, cuối cùng hòa nhập vào phương diện ý chí của Chân thần—phương diện chính yếu của nó. Nói theo kỹ thuật, đó là Shamballa trong liên hệ trực tiếp với nhân loại. |
|
What, therefore, is the group will in any ashram or Master’s group? Is it present in any form vital enough to condition the group relations and to unite its members into a band of brothers—moving forward into the light? Is the spiritual will of the individual personalities of such strength that it negates the personality relation and leads to spiritual recognition, spiritual interplay and spiritual relation? It is only in consideration of these fundamental effects of standing as a group in “the head’s clear light” that it is permissible for disciples to bring into the picture personal sensitivities and thought, and this only because of a group temporary limitation. [Page 29] |
Vậy, ý chí nhóm trong bất cứ ashram hay nhóm nào của Chân sư là gì? Nó có hiện diện dưới hình thức nào đủ sinh động để tác động lên các liên hệ nhóm và hợp nhất các thành viên thành một đoàn huynh đệ—đang tiến bước vào ánh sáng hay không? Ý chí tinh thần của các phàm ngã cá nhân có đủ mạnh đến mức phủ định liên hệ phàm ngã và dẫn đến sự nhận biết tinh thần, sự tương tác tinh thần và liên hệ tinh thần hay không? Chỉ khi xem xét các hiệu quả căn bản này của việc đứng như một nhóm trong “ánh sáng trong trẻo của đầu” thì các đệ tử mới được phép đưa các nhạy cảm và tư tưởng cá nhân vào bức tranh, và điều này chỉ bởi một giới hạn tạm thời của nhóm. [Trang 29] |
|
What is it, therefore, which prevents a disciple—as an individual—from having direct approach and direct contact with the Master without being dependent upon an intermediary? Let me illustrate: In the group I have under training (Discipleship in the New Age, Vol. I. and II.) two or three have direct approach; and others have it but know it not; still others are well intentioned and hard driving disciples, but never for a second do they forget themselves; one has had a problem of glamor but now is preoccupied with the problem of spiritual ambition—a spiritual ambition which is working through a very small personality; some could make rapid progress but are too prone to inertia—perhaps I could say that they do not care enough. Each of them (and every other disciple) can place himself. All of them desire to move forward and possess a strong inner spiritual life—hence my finding the time to work with them. But the group antahkarana is still incomplete and the aspect of pure reason and of the heart does not control. The evocative power of the Spiritual Triad is not, therefore, adequate to hold the personality steady and the invocative power of the personality is non-existent—speaking from the angle of the group personalities which make up the personality aspect of the ashram. This is a factor with which they oft feel I have not to deal. It can only become a potent factor if certain personality relations are adjusted and inertia is overcome. Then and only then can “the group stand.” |
Vậy, điều gì ngăn một đệ tử—với tư cách cá nhân—có sự tiếp cận trực tiếp và tiếp xúc trực tiếp với Chân sư mà không lệ thuộc vào một trung gian? Hãy để tôi minh họa: Trong nhóm mà tôi đang huấn luyện (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Quyển I. và II.) hai hay ba người có sự tiếp cận trực tiếp; và những người khác có điều đó nhưng không biết; vẫn còn những người khác là các đệ tử có thiện chí và nỗ lực mạnh mẽ, nhưng không một giây nào họ quên chính mình; một người đã từng có vấn đề về ảo cảm nhưng giờ đây lại bận tâm với vấn đề tham vọng tinh thần—một tham vọng tinh thần đang hoạt động qua một phàm ngã rất nhỏ bé; một số người có thể tiến bộ nhanh chóng nhưng lại quá dễ nghiêng về tính trì trệ—có lẽ tôi có thể nói rằng họ chưa đủ quan tâm. Mỗi người trong số họ, và mọi đệ tử khác, đều có thể tự định vị mình. Tất cả họ đều khao khát tiến bước và sở hữu một đời sống tinh thần bên trong mạnh mẽ—vì thế tôi mới dành thời gian để làm việc với họ. Nhưng antahkarana nhóm vẫn chưa hoàn chỉnh và phương diện của lý trí thuần khiết và của tim không hề kiểm soát. Do đó, quyền năng gợi lên của Tam Nguyên Tinh Thần không đủ để giữ phàm ngã vững vàng, và quyền năng khẩn cầu của phàm ngã thì không hiện hữu—nói từ góc độ các phàm ngã nhóm vốn cấu thành phương diện phàm ngã của ashram. Đây là một yếu tố mà họ thường cảm thấy tôi không cần phải xử lý. Nó chỉ có thể trở thành một yếu tố quyền năng nếu một số liên hệ phàm ngã được điều chỉnh và tính trì trệ được vượt qua. Khi đó, và chỉ khi đó, “nhóm mới có thể đứng vững.” |
|
2. Vùng đất cháy đã hoàn tất công việc của nó. (←) |
|
|
Here there is quite apt to be misunderstanding. To most people the burning ground stands for one of two things: |
Ở đây rất dễ có sự hiểu lầm. Đối với hầu hết mọi người, vùng đất cháy tượng trưng cho một trong hai điều: |
|
a. Either the fire of the mind, burning up those things in the lower nature of which it becomes increasingly aware. |
a. Hoặc là lửa của trí tuệ, thiêu rụi những điều trong bản chất thấp mà nó ngày càng nhận biết. |
|
b. Or the burning ground of sorrow, agony, horror and pain which is the characteristic quality of life in the three worlds, particularly at this time. |
b. Hoặc là vùng đất cháy của buồn đau, thống khổ, kinh hoàng và đau đớn vốn là phẩm tính đặc trưng của đời sống trong ba cõi giới, đặc biệt vào lúc này. |
|
But the burning ground referred to here is something [Page 30] very different. When the blazing light of the sun is correctly focused on or through a glass it can cause ignition. When the blazing light of the Monad is focused directly upon the personality, via the antahkarana and not specifically through the soul, it produces a blazing fire which burns up all hindrances in a steady, sequential process. Wording it otherwise, when the will aspect streams from the Monad and focuses through the personal will (as the mind can grasp and realize it) it destroys as by fire all elements of self-will. As the energy of Shamballa streams out and makes a direct contact with humanity (omitting the transmission via the Hierarchy, which has hitherto been customary), you have what has been seen in the world today, a destructive conflagration or a world burning ground. When the antahkarana of a group is rightly constructed, then the individualized group-will will disappear in the full consciousness of the monadic purpose or clear directed will. These are points which the disciple preparing for initiation has to consider as he prepares for the higher initiations, and these are the points which any group or ashram in preparation for initiation has also to consider. |
Nhưng vùng đất cháy được nói đến ở đây là một điều [Trang 30] rất khác. Khi ánh sáng rực cháy của mặt trời được tập trung đúng cách trên hoặc qua một thấu kính, nó có thể gây bốc cháy. Khi ánh sáng rực cháy của Chân thần được tập trung trực tiếp lên phàm ngã, thông qua antahkarana chứ không đặc biệt qua linh hồn, nó tạo ra một ngọn lửa rực cháy thiêu rụi mọi chướng ngại trong một tiến trình đều đặn, tuần tự. Nói cách khác, khi phương diện ý chí tuôn chảy từ Chân thần và tập trung qua ý chí cá nhân, theo mức thể trí có thể nắm bắt và nhận ra nó, nó hủy diệt như bằng lửa mọi yếu tố của ý chí cá nhân. Khi năng lượng của Shamballa tuôn ra và tạo sự tiếp xúc trực tiếp với nhân loại, bỏ qua sự truyền dẫn thông qua Thánh Đoàn vốn cho đến nay vẫn là thông lệ, các bạn có điều đã được thấy trong thế giới ngày nay: một đám cháy hủy diệt hay một vùng đất cháy của thế giới. Khi antahkarana của một nhóm được kiến tạo đúng đắn, khi đó ý chí nhóm đã biệt ngã hóa sẽ biến mất trong tâm thức trọn vẹn về Thiên Ý chân thần hay ý chí trong trẻo được định hướng. Đây là những điểm mà đệ tử chuẩn bị cho điểm đạo phải xem xét khi y chuẩn bị cho các lần điểm đạo cao hơn, và cũng là những điểm mà bất cứ nhóm hay ashram nào đang chuẩn bị cho điểm đạo cũng phải xem xét. |
|
The secret of the higher initiations lies in the trained use of the higher will. It does not lie in purification or in self-discipline or in any of the expedients which have acted in the past as interceptors of the truth. This whole problem of the Shamballic will is in process of revelation, and will eventually alter the entire approach of the disciple in the New Age to initiation. The theme of “the Way into Shamballa” requires reflective study and esoteric understanding. In this concept of the new and future section (if I may so call it) of the Way or Path with which the modern disciple is faced lies the secret of the coming revelation and of the spiritual dispensation which will emerge as humanity constructs the new world civilization and begins to formulate the new culture. The burning, purifying, destructive effects of the monadic will upon its distorted reflection, the individual will, deeply deserve consideration. |
Bí quyết của các lần điểm đạo cao hơn nằm trong việc sử dụng ý chí cao một cách được huấn luyện. Nó không nằm trong sự thanh luyện, hay trong kỷ luật tự thân, hay trong bất cứ phương tiện nào từng hoạt động trong quá khứ như những yếu tố chặn giữ chân lý. Toàn bộ vấn đề về ý chí Shamballa này đang trong tiến trình mặc khải, và cuối cùng sẽ thay đổi toàn bộ cách tiếp cận của đệ tử trong Kỷ Nguyên Mới đối với điểm đạo. Chủ đề “Con Đường vào Shamballa” đòi hỏi sự nghiên cứu phản tư và sự thấu hiểu huyền bí. Trong khái niệm về phần mới và tương lai này, nếu tôi có thể gọi như vậy, của Con Đường hay Đường Đạo mà đệ tử hiện đại đang đối diện, có bí quyết của sự mặc khải sắp đến và của thiên ân tinh thần sẽ xuất hiện khi nhân loại kiến tạo nền văn minh thế giới mới và bắt đầu định hình nền văn hóa mới. Các hiệu quả thiêu đốt, thanh luyện và hủy diệt của ý chí chân thần đối với phản chiếu méo mó của nó, tức ý chí cá nhân, rất đáng được suy xét sâu sắc. |
|
For long, aspirants have noted and have been taught the effect of the will upon the astral, or emotional body. It [Page 31] is one of the primary and most elementary of the initial tensions, and is taught upon the Probationary Path. It leads to the purifying and the reorganizing of the entire psychic and emotional life, as the result of its destructive action. “If you will only think,” “if you will only use a little will,” and “if you will only remember that you have a mind,” we say to the children of the race and to beginners upon the Path of conscious Return. Little by little, then, the focus and the orientation shift out of the astral life and from the emotional level of consciousness into the mental, and consequently into the reflection of the world of purpose, found in the three worlds. When that stage has been somewhat developed, then there follows, upon the Path of Discipleship and of preparation for initiation, an effort to grasp and understand the higher aspects of this mental process, and the will aspect of the egoic life begins to influence the disciple. The “petals of sacrifice” unfold and the sacred sacrificial aspect of life is revealed in its beauty, purity, simplicity and in its revolutionizing quality. |
Trong một thời gian dài, những người chí nguyện đã ghi nhận và đã được dạy về hiệu quả của ý chí lên thể cảm dục, hay thể cảm xúc. Nó [Trang 31] là một trong những điểm tập trung nhất tâm ban đầu, chính yếu và sơ đẳng nhất, và được dạy trên Con Đường Dự Bị. Nó dẫn đến sự thanh luyện và tái tổ chức toàn bộ đời sống thông linh và cảm xúc, như kết quả của tác động hủy diệt của nó. “Giá như bạn chỉ cần suy nghĩ,” “giá như bạn chỉ cần dùng một chút ý chí,” và “giá như bạn chỉ cần nhớ rằng bạn có một thể trí,” chúng ta nói như vậy với những đứa con của nhân loại và với những người sơ cơ trên Con Đường Trở Về có ý thức. Khi đó, từng chút một, trọng tâm và định hướng chuyển ra khỏi đời sống cảm dục và khỏi cấp độ tâm thức cảm xúc để vào trí tuệ, và do đó vào phản chiếu của thế giới của Thiên Ý, được tìm thấy trong ba cõi giới. Khi giai đoạn ấy đã phần nào phát triển, thì tiếp theo, trên Con Đường Đệ Tử và trong sự chuẩn bị cho điểm đạo, có một nỗ lực nhằm nắm bắt và thấu hiểu các phương diện cao hơn của tiến trình trí tuệ này, và phương diện ý chí của đời sống chân ngã bắt đầu ảnh hưởng đến đệ tử. Các “cánh hoa hi sinh” khai mở, và phương diện hi sinh thiêng liêng của đời sống được mặc khải trong vẻ đẹp, sự tinh khiết, sự đơn giản và phẩm tính cách mạng hóa của nó. |
|
Upon the Path of Initiation, the monadic will (of which the egoic will is the reflection and the individual self-will is the distortion) is gradually transmitted, via the antahkarana, direct to the man upon the physical plane. This produces the higher correspondence of those qualities so glibly spoken of by the well-trained but dense esotericist—transmutation and transformation. The result is the assimilation of the individual will and the egoic will into the purpose of the Monad which is the purpose undeviating and unalterable—of the One in Whom we live and move and have our being. This is the field of the true burning, for our “God is a consuming Fire.” This is the burning bush or the burning tree of life of Biblical symbolism. This highest of all the fires, this deeply spiritual and hitherto seldom recognized burning ground, has its effects summed up for us in the next phrase or sentence of Rule I. |
Trên Con Đường Điểm Đạo, ý chí chân thần, mà ý chí chân ngã là phản chiếu và ý chí cá nhân là sự méo mó, dần dần được truyền dẫn, thông qua antahkarana, trực tiếp đến con người trên cõi hồng trần. Điều này tạo ra tương ứng cao hơn của những phẩm tính mà nhà bí truyền học được huấn luyện kỹ nhưng đậm đặc thường nói một cách trơn tru—sự chuyển hoá và sự chuyển đổi. Kết quả là sự đồng hóa ý chí cá nhân và ý chí chân ngã vào Thiên Ý của Chân thần, vốn là Thiên Ý không lệch hướng và không thể biến đổi—của Đấng Duy Nhất mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện tồn. Đây là lĩnh vực của sự thiêu đốt chân thật, vì “Thượng đế của chúng ta là Lửa thiêu đốt.” Đây là bụi gai cháy hay cây sự sống đang cháy trong biểu tượng Thánh Kinh. Ngọn lửa cao nhất trong mọi ngọn lửa này, vùng đất cháy sâu sắc tinh thần và cho đến nay ít được nhận biết này, có các hiệu quả được tóm lược cho chúng ta trong cụm từ hay câu kế tiếp của Quy Luật I. |
|
3. The clear cold light shines forth and cold it is and yet the heat—evoked by the group love—permits the warmth of energetic moving out. [Page 32] (←) |
3. Ánh sáng trong trẻo, lạnh lẽo tỏa chiếu; nó lạnh, nhưng nhiệt—được gợi lên bởi tình thương của nhóm—cho phép hơi ấm của sự vươn ra đầy năng lực. [Trang 32] (←) |
|
In these words you have the key to group initiation. The light of the higher initiations can stream in when it is evoked by the group love. That light is clear and cold, but produces the needed “heat,” which is a symbolic word used in many of the world Scriptures to express living, spiritual energy. I said “spiritual energy” and not soul force, and herein lies a distinction which you will some day have to grasp. |
Trong các lời này, các bạn có chìa khóa của điểm đạo nhóm. Ánh sáng của các lần điểm đạo cao hơn có thể tuôn vào khi nó được gợi lên bởi tình thương của nhóm. Ánh sáng ấy trong trẻo và lạnh lẽo, nhưng tạo ra “nhiệt” cần thiết, vốn là một từ biểu tượng được dùng trong nhiều Thánh điển của thế giới để diễn tả năng lượng tinh thần sống động. Tôi đã nói “năng lượng tinh thần” chứ không phải mãnh lực linh hồn, và chính trong đây có một phân biệt mà một ngày nào đó các bạn sẽ phải nắm bắt. |
|
This group love is based upon the egoic aspect of the will to which we give the name “sacrificial love.” This does not connote happy relationships between individual members of the group. It might, presumably, lead to unhappy outer, superficial interplay, but basically it leads to an unalterably staunch loyalty, underlying the surface of the outer life. The Master’s influence, as He seeks to aid His disciple, always produces transitory turmoil—transitory from the angle of the soul, but frequently appalling from the angle of the personality. Similarly, the projection of the life and influence of any senior disciple into the periphery or aura of the aspirant or lesser disciple is—in its degree—likewise disturbing and upsetting; this is a point which should be carefully borne in mind, both as regards the disciple’s own reactions and training, and as regards any effect which he may call forth in the life of a probationary disciple or lesser disciple in his own sphere of influence. These intrusive influences and their consequent effects which are produced upon an individual or a group by a Master or a senior disciple are usually interpreted in personality terms, and are very little understood. They are nevertheless aspects of the higher will in some higher disciple and are beating upon the personality will and evoking the sacrificial will of the Ego, and hence lead to a period of temporary discomfort. This the aspirant and the inexperienced disciple resent and blame the evoking sources for their discomfort, instead of learning the needed lesson of receiving and handling force. |
Tình thương nhóm này đặt nền trên phương diện chân ngã của ý chí mà chúng ta gọi là “tình thương hi sinh.” Điều này không hàm ý các mối quan hệ vui vẻ giữa những thành viên cá nhân của nhóm. Có thể, theo giả định, nó dẫn đến sự tương tác bên ngoài, hời hợt và không vui vẻ, nhưng về căn bản nó dẫn đến một lòng trung thành kiên vững không thể thay đổi, nằm bên dưới bề mặt của đời sống bên ngoài. Ảnh hưởng của Chân sư, khi Ngài tìm cách trợ giúp đệ tử của Ngài, luôn tạo ra sự xáo trộn tạm thời—tạm thời từ góc độ của linh hồn, nhưng thường đáng kinh hãi từ góc độ của phàm ngã. Tương tự, sự phóng chiếu đời sống và ảnh hưởng của bất cứ đệ tử cao cấp nào vào chu vi hay hào quang của người chí nguyện hoặc đệ tử thấp hơn, trong mức độ của nó, cũng gây rối loạn và đảo lộn; đây là một điểm cần được ghi nhớ cẩn thận, cả liên quan đến các phản ứng và sự huấn luyện của chính đệ tử, lẫn liên quan đến bất cứ hiệu quả nào mà y có thể gợi lên trong đời sống của một đệ tử dự bị hay đệ tử thấp hơn trong phạm vi ảnh hưởng của chính y. Các ảnh hưởng xâm nhập này và những hiệu quả hệ quả của chúng, do một Chân sư hay một đệ tử cao cấp tạo ra trên một cá nhân hay một nhóm, thường được diễn giải theo các thuật ngữ phàm ngã, và rất ít được thấu hiểu. Tuy nhiên, chúng là các phương diện của ý chí cao hơn trong một đệ tử cao hơn nào đó, đang tác động lên ý chí phàm ngã và gợi lên ý chí hi sinh của Chân ngã, và vì thế dẫn đến một giai đoạn bất tiện tạm thời. Điều này người chí nguyện và đệ tử thiếu kinh nghiệm oán trách, và họ đổ lỗi cho các nguồn gợi lên về sự bất tiện của mình, thay vì học bài học cần thiết về việc tiếp nhận và xử lý mãnh lực. |
|
Where, however, real love exists, it will produce the lessening of the personality will, the evocation of the sacrificial egoic will, and a constantly growing capacity to identify [Page 33] the group with the will or purpose of the Monad. The progress of the group is, therefore, from one burning ground to another—each burning ground being colder and clearer than the preceding one but producing sequentially the burning fire, the clear cold lighted fire, and the consuming divine fire. |
Tuy nhiên, nơi nào tình thương chân thật hiện hữu, nó sẽ tạo ra sự giảm thiểu ý chí phàm ngã, sự gợi lên ý chí hi sinh của chân ngã, và một năng lực không ngừng tăng trưởng để đồng hoá [Trang 33] nhóm với ý chí hay Thiên Ý của Chân thần. Do đó, sự tiến bộ của nhóm là từ vùng đất cháy này đến vùng đất cháy khác—mỗi vùng đất cháy đều lạnh hơn và trong trẻo hơn vùng trước đó, nhưng tuần tự tạo ra lửa thiêu đốt, lửa sáng trong trẻo lạnh lẽo, và lửa thiêng liêng tiêu dung. |
|
Thus in parables the truth goes out, and gradually the initiate grasps the uses of heat, warmth, light and energy; he arrives at an understanding of self-will, sacrificial will and Shamballic purpose, and only Love (self-love, group love, and finally, divine love) can reveal the significance of these symbolic words and the occult paradoxes which confront the true aspirant as he attempts to tread the Way. |
Như vậy, chân lý được truyền ra trong các dụ ngôn, và dần dần điểm đạo đồ nắm bắt các công dụng của nhiệt, hơi ấm, ánh sáng và năng lượng; y đi đến sự thấu hiểu về ý chí cá nhân, ý chí hi sinh và Thiên Ý Shamballa, và chỉ Tình thương, tức tình thương bản thân, tình thương nhóm, và cuối cùng là tình thương thiêng liêng, mới có thể mặc khải thâm nghĩa của các từ biểu tượng này và các nghịch lý huyền bí đối diện với người chí nguyện chân thật khi y cố gắng bước trên Con Đường. |
|
As we continue our studies of the rules to be followed by those receiving initiate-training, I would remind you of certain things, some of them already touched upon but requiring re-emphasis. Any usefulness which these Rules may have for you will be dependent upon your grasping a few basic ideas and then proceeding to make them factual as far as in you lies. |
Khi chúng ta tiếp tục các nghiên cứu về những quy luật cần được tuân theo bởi những người đang nhận sự huấn luyện điểm đạo, tôi muốn nhắc các bạn về một số điều, vài điều trong số đó đã được đề cập nhưng cần được nhấn mạnh lại. Bất cứ sự hữu dụng nào mà các Quy luật này có thể có đối với các bạn sẽ tùy thuộc vào việc các bạn nắm bắt một vài ý tưởng căn bản, rồi tiến hành biến chúng thành sự kiện trong chừng mực khả năng của các bạn. |
|
First, I would call your attention to what should be the basic attitude of the would-be initiate: It should be one of purpose, governed by pure reason and working out in spiritual activity. That is a sentence easily written, but what specifically does it convey to you? Let me enlarge upon it somewhat. The attitude of the initiate-in-training should be one of right spiritual motive—the motive being the intelligent fulfilment of the will aspect of divinity, or of the Monad. This involves the merging of his personality self-will into that of the sacrificial will of the soul; and this, when accomplished, will lead to the revelation of the divine Will. Of this Will, no one who is not an initiate has any conception. It means, secondly, the release of the faculty of spiritual perception and of intuitive understanding, which involves the negation of the activity of the lower or concrete mind, of the lower personal self, and the subordination of the knowledge aspect of the soul to the clear pure light of the divine understanding. When these two factors are beginning to be [Page 34] active, you will have the emergence of true spiritual activity upon the physical plane, motivated from the high source of the Monad, and implemented by the pure reason of the intuition. |
Trước hết, tôi muốn lưu ý các bạn đến điều nên là thái độ căn bản của người muốn trở thành điểm đạo đồ: Đó phải là thái độ của Thiên Ý, được chi phối bởi lý trí thuần khiết và được biểu hiện trong hoạt động tinh thần. Đó là một câu dễ viết, nhưng cụ thể nó truyền đạt điều gì cho các bạn? Hãy để tôi mở rộng phần nào. Thái độ của điểm đạo đồ đang được huấn luyện phải là thái độ của động cơ tinh thần đúng đắn—động cơ ấy là sự hoàn thành thông minh phương diện ý chí của thiên tính, hay của Chân thần. Điều này liên quan đến việc hòa nhập ý chí cá nhân của phàm ngã y vào ý chí hi sinh của linh hồn; và điều này, khi được hoàn tất, sẽ dẫn đến sự mặc khải Ý Chí thiêng liêng. Về Ý Chí này, không ai không phải là điểm đạo đồ có bất cứ quan niệm nào. Thứ hai, nó có nghĩa là sự giải phóng năng lực tri nhận tinh thần và thấu hiểu trực giác, vốn liên quan đến sự phủ định hoạt động của hạ trí hay trí cụ thể, của phàm ngã thấp, và sự đặt phương diện tri thức của linh hồn dưới ánh sáng thuần khiết, trong trẻo của sự thấu hiểu thiêng liêng. Khi hai yếu tố này bắt đầu [Trang 34] hoạt động, các bạn sẽ có sự xuất hiện của hoạt động tinh thần chân thật trên cõi hồng trần, được thúc đẩy từ nguồn cao của Chân thần, và được thực hiện bởi lý trí thuần khiết của trực giác. |
|
It will be apparent to you, therefore, that these higher spiritual faculties can only be brought into play when the bridging antahkarana is beginning to play its part. Hence the teaching which I am giving on the construction of the rainbow bridge. |
Do đó, các bạn sẽ thấy rõ rằng các năng lực tinh thần cao hơn này chỉ có thể được đưa vào hoạt động khi antahkarana bắt cầu đang bắt đầu đóng vai trò của nó. Vì thế có giáo huấn mà tôi đang đưa ra về việc kiến tạo Cây cầu vồng. |
|
These Rules are in reality great Formulas of Approach, but they indicate approach to a specific section of the Path and not approach to the Initiator. I would have you reflect upon this distinction. The “Way of the Higher Evolution” lies open to the aspirant to the Greater Mysteries, but he is oft bewildered in the beginning and frequently questions in his mind the difference between the progress or evolution of the personality towards soul consciousness and the nature of the progress which lies ahead and which is essentially different to the unfoldment of pure consciousness. Had you grasped the fact that after the third initiation, the initiate is not concerned with consciousness at all, but with the fusion of his individual will with the divine will? He is not then occupied with increasing his sensitivity to contact, or with his conscious response to environing conditions, but is becoming increasingly aware of the dynamics of the Science of the Service of the Plan. This distinctive realization can only come when his fused and blended personality and soul expression of will has disappeared in the blazing light of the divine Purpose—a purpose which cannot be frustrated even if at times delayed, as it has been during the past fifty-five years. (Written in February, 1943.) |
Các Quy luật này trong thực tại là những Công thức Tiếp cận lớn lao, nhưng chúng chỉ ra sự tiếp cận đến một phần đặc thù của Đường Đạo, chứ không phải sự tiếp cận đến Đấng Điểm đạo. Tôi muốn các bạn suy ngẫm về sự phân biệt này. “Con đường Tiến Hóa Cao Siêu” mở ra cho người chí nguyện bước vào các Bí nhiệm Lớn, nhưng y thường bối rối lúc ban đầu và thường tự hỏi trong thể trí mình về sự khác biệt giữa sự tiến bộ hay tiến hoá của phàm ngã hướng đến tâm thức linh hồn và bản chất của sự tiến bộ nằm phía trước, vốn về bản chất khác với sự khai mở của tâm thức thuần khiết. Các bạn đã nắm bắt được sự kiện rằng sau lần điểm đạo thứ ba, điểm đạo đồ hoàn toàn không còn bận tâm đến tâm thức nữa, mà đến sự dung hợp ý chí cá nhân của y với Ý Chí thiêng liêng chưa? Khi đó y không còn bận rộn với việc gia tăng sự nhạy bén của mình đối với sự tiếp xúc, hay với sự đáp ứng có ý thức của mình trước các điều kiện chung quanh, mà ngày càng ý thức hơn về các động lực của Khoa học Phụng sự Thiên Cơ. Sự chứng nghiệm đặc thù này chỉ có thể đến khi biểu hiện ý chí của phàm ngã và linh hồn đã dung hợp và hòa trộn của y biến mất trong ánh sáng rực cháy của Thiên Ý thiêng liêng—một Thiên Ý không thể bị phá hỏng, dù đôi khi bị trì hoãn, như đã xảy ra trong năm mươi lăm năm qua. Được viết vào tháng Hai, năm một nghìn chín trăm bốn mươi ba. |
|
Much of what I have said above will seem meaningless to you because the finished contact between soul and personality has not been brought about and the will aspect in manifestation is not yet understood in its three phases: Personality, Egoic and Monadic. But, as I have earlier told you, I write for those disciples and initiates who are now coming into incarnation and who will be in the full flower of their [Page 35] consciousness and service at the latter end of this century. But the effort you make to understand will have its effect, even if the brain registers it not. |
Nhiều điều tôi đã nói ở trên sẽ có vẻ vô nghĩa đối với các bạn, bởi sự tiếp xúc hoàn chỉnh giữa linh hồn và phàm ngã chưa được tạo lập, và phương diện ý chí trong biểu hiện vẫn chưa được thấu hiểu trong ba giai đoạn của nó: Phàm ngã, Chân ngã và Chân thần. Nhưng, như tôi đã nói với các bạn trước đây, tôi viết cho những đệ tử và điểm đạo đồ hiện đang đi vào lâm phàm, và họ sẽ ở trong sự nở hoa trọn vẹn của [Trang 35] tâm thức và phụng sự của mình vào cuối thế kỷ này. Nhưng nỗ lực các bạn thực hiện để thấu hiểu sẽ có hiệu quả của nó, dù bộ não không ghi nhận điều ấy. |
|
In the last analysis, these Rules or Formulas of Approach are primarily concerned with the Shamballa or life aspect. They are the only Formulas or embodied techniques at present extant which have in them the quality which will enable the aspirant to understand and eventually express the significance of the words of Christ, “Life more abundantly.” These words relate to contact with Shamballa; the result will be the expression of the will aspect. The whole process of invocation and evocation is tied up with the idea. The lesser aspect is ever the invoking factor, and this constitutes an unalterable law lying behind the entire evolutionary process. It is necessarily a reciprocal process, but in time and space it might be broadly said that the lesser ever invokes the higher, and higher factors are then evoked and respond according to the measure of understanding and the dynamic tension displayed by the invoking element. This many fail to realize. You do not work at the evocative process. That word simply connotes the response of that which has been reached. The task of the lesser aspect or group is invocative, and the success of the invocative rite is called evocation. |
Xét đến cùng, các Quy luật hay Công thức Tiếp cận này chủ yếu liên quan đến Shamballa hay phương diện sự sống. Chúng là những Công thức hay kỹ thuật được thể hiện duy nhất hiện còn tồn tại mang trong mình phẩm tính sẽ giúp người chí nguyện thấu hiểu và cuối cùng biểu lộ thâm nghĩa của những lời Đức Christ: “Sự sống dồi dào hơn.” Những lời này liên quan đến sự tiếp xúc với Shamballa; kết quả sẽ là sự biểu lộ của phương diện ý chí. Toàn bộ tiến trình Khẩn Cầu và Gợi Lên gắn liền với ý tưởng. Phương diện thấp hơn luôn là yếu tố khẩn cầu, và điều này cấu thành một định luật bất biến nằm sau toàn bộ tiến trình tiến hoá. Tất yếu đó là một tiến trình hỗ tương, nhưng trong thời gian và không gian, có thể nói rộng rằng cái thấp hơn luôn khẩn cầu cái cao hơn, rồi các yếu tố cao hơn được gợi lên và đáp ứng tùy theo mức độ thấu hiểu và sức căng năng động mà yếu tố khẩn cầu biểu lộ. Nhiều người không nhận ra điều này. Các bạn không tác động vào tiến trình gợi lên. Từ ấy chỉ đơn giản hàm ý sự đáp ứng của điều đã được chạm tới. Nhiệm vụ của phương diện hay nhóm thấp hơn là khẩn cầu, và sự thành công của nghi thức khẩn cầu được gọi là sự gợi lên. |
|
When, therefore, your life is fundamentally invocative, then there will come the evocation of the will. It is only truly invocative when personality and soul are fused and functioning as a consciously blended and focused unit. |
Do đó, khi sự sống của các bạn về căn bản mang tính khẩn cầu, bấy giờ sẽ có sự gợi lên của ý chí. Nó chỉ thực sự mang tính khẩn cầu khi phàm ngã và linh hồn được dung hợp và hoạt động như một đơn vị được hòa quyện và tập trung một cách có ý thức. |
|
The next point which I seek to make is that these Formulas of Approach or Rules deal with the unfoldment of group consciousness, because it is only in group formation that, as yet, the Shamballa force of the will can be tapped. They are useless to the individual under the new initiatory dispensation. Only the group, under the proposed new mode of working and of group initiation, is capable of invoking Shamballa. That is why Hitler, the exponent of the reversed reaction to Shamballa (and consequently the evil reaction) had to gather around him a group of like-minded people or [Page 36] personalities. On the upper arc of the evocative cycle (Hitler being the expression of the invocative arc of the Shamballa force) it requires a group to bring about evocation. |
Điểm kế tiếp mà tôi muốn nêu rõ là các Công thức Tiếp cận hay Quy luật này đề cập đến sự khai mở tâm thức nhóm, bởi vì cho đến nay chỉ trong sự kết lập nhóm, mãnh lực Shamballa của ý chí mới có thể được khai thác. Chúng vô dụng đối với cá nhân dưới cơ chế điểm đạo mới. Chỉ nhóm, theo phương thức làm việc mới được đề xuất và theo điểm đạo nhóm, mới có khả năng khẩn cầu Shamballa. Đó là lý do Hitler, kẻ biểu thị phản ứng đảo ngược đối với Shamballa, và do đó là phản ứng tà ác, đã phải quy tụ quanh ông một nhóm những người hay [Page 36] phàm ngã đồng chí hướng. Trên cung tuyến cao của chu kỳ gợi lên, Hitler là biểu hiện của cung tuyến khẩn cầu của mãnh lực Shamballa, cần có một nhóm để tạo ra sự gợi lên. |
|
We now come to my third point in relation to the Rules or Formulas and their objective. They are concerned—above everything else—with group initiation. They have other applications, but for the present here lies their usefulness. What, you may ask, is group initiation? Does it involve the taking of initiation by every member in the group? Can one person have so extensive an influence that he can hold up or delay or even prevent (in time and space) the group initiation? The group need not necessarily contain members who have all taken the same initiation. By this I mean that the necessary initiation of all the members simultaneously into the same group development is not required. Basically, what I am endeavoring to say anent these Rules has relation to the third initiation—the initiation of the integrated personality. They necessarily, however, have a correspondence to the second initiation, and are consequently of more general interest, for it is that initiation which faces so many aspirants today—the demonstration of the control of the formidable emotional nature. |
Giờ đây chúng ta đến với điểm thứ ba của tôi liên quan đến các Quy luật hay Công thức và mục tiêu của chúng. Trên hết mọi sự, chúng liên quan đến điểm đạo nhóm. Chúng có những ứng dụng khác, nhưng hiện nay ích dụng của chúng nằm ở đây. Các bạn có thể hỏi: điểm đạo nhóm là gì? Nó có bao hàm việc mọi thành viên trong nhóm đều nhận điểm đạo không? Một người có thể có ảnh hưởng rộng lớn đến mức y có thể kìm hãm, trì hoãn, hay thậm chí ngăn cản, trong thời gian và không gian, điểm đạo nhóm không? Nhóm không nhất thiết phải gồm những thành viên đã cùng nhận một lần điểm đạo giống nhau. Qua điều này tôi muốn nói rằng việc tất cả các thành viên đồng thời được điểm đạo cần thiết vào cùng một sự phát triển nhóm là không bắt buộc. Về căn bản, điều tôi đang cố nói về các Quy luật này có liên hệ đến lần điểm đạo thứ ba—cuộc điểm đạo của Phàm ngã tích hợp. Tuy nhiên, tất yếu chúng có một tương ứng với lần điểm đạo thứ hai, và vì thế được quan tâm rộng rãi hơn, vì đó là lần điểm đạo mà rất nhiều người chí nguyện ngày nay đang đối diện—sự chứng minh khả năng kiểm soát bản chất cảm xúc đáng sợ. |
|
I would ask you to think much about this point which I have just made. Group initiation means that the bulk of the members are correctly oriented; that they are proposing to accept the discipline which will prepare them for the next great expansion of consciousness, and that none of them can possibly be deviated from their purpose (note that word with its first ray or Shamballic implications), no matter what is happening in their environment or their personal life. You need to reflect on this if you desire to make the needed progress. |
Tôi muốn các bạn suy nghĩ nhiều về điểm tôi vừa nêu. Điểm đạo nhóm có nghĩa là phần lớn các thành viên được định hướng đúng; rằng họ dự định chấp nhận kỷ luật sẽ chuẩn bị họ cho sự mở rộng tâm thức lớn lao kế tiếp, và rằng không ai trong số họ có thể bị làm lệch khỏi mục đích của mình, hãy lưu ý từ này với các hàm nghĩa cung một hay Shamballa của nó, bất kể điều gì đang xảy ra trong môi trường hay đời sống cá nhân của họ. Các bạn cần suy ngẫm về điều này nếu muốn đạt được sự tiến bộ cần thiết. |
|
In these short instructions, which aim only at a “tentative indication” (note that phrase), it is not necessary to enter into explicit details. In any case, if the Formulas or Rules are not intuitively clear to your minds, anything I could say would only hinder and frustrate my purpose. |
Trong những huấn thị ngắn này, vốn chỉ nhằm đưa ra một “chỉ dẫn thăm dò”, hãy lưu ý cụm từ ấy, không cần đi vào các chi tiết minh xác. Dù sao, nếu các Công thức hay Quy luật không trực giác sáng tỏ đối với thể trí các bạn, thì bất cứ điều gì tôi có thể nói cũng chỉ cản trở và làm thất bại mục đích của tôi. |
|
Finally, these Formulas or Rules are susceptible of [Page 37] three forms of application or interpretation and I would have you remember this, because you can thereby discover where your individual focus of attention is and if you are consequently functioning as an integrated personality. Remember always that only an integrated personality can achieve the needed soul focus. This is a fundamental requirement. These three forms of application are physical, emotional and mental in nature. But those words in their simplest connotation have true reference to the task of achieving one or other of the higher initiations. The only way their significance can truly appear is by grasping the following meanings: |
Cuối cùng, các Công thức hay Quy luật này có thể được [Page 37] áp dụng hay diễn giải theo ba hình thức, và tôi muốn các bạn nhớ điều này, vì nhờ đó các bạn có thể khám phá tiêu điểm chú ý cá nhân của mình nằm ở đâu, và do đó liệu các bạn có đang hoạt động như một phàm ngã tích hợp hay không. Hãy luôn nhớ rằng chỉ một phàm ngã tích hợp mới có thể đạt được tiêu điểm linh hồn cần thiết. Đây là một yêu cầu căn bản. Ba hình thức áp dụng này có bản chất hồng trần, cảm xúc và trí tuệ. Nhưng những từ ấy, trong hàm nghĩa đơn giản nhất của chúng, thật sự quy chiếu đến nhiệm vụ đạt được một trong các lần điểm đạo cao hơn. Cách duy nhất để thâm nghĩa của chúng có thể thật sự xuất hiện là nắm bắt những ý nghĩa sau đây: |
|
1. The physical application refers to the usage by the group of the given knowledge and intuitively perceived information in such a way that the needs of the larger group, of which the group itself is a part, are constructively served. The consummation of this ideal is to be found in the activity of the Hierarchy itself which, from progressive point to progressive point, finds itself in the position of intuitive interpreter and force transmitter between the center of Shamballa and Humanity. The individual initiate, on the way to one or other of the higher initiations, has in his lesser degree to achieve the same dual function and thereby fit himself for the wider cooperation. |
1. Sự áp dụng hồng trần quy chiếu đến việc nhóm sử dụng tri thức đã được ban và thông tin được trực giác nhận biết theo cách sao cho các nhu cầu của nhóm lớn hơn, mà chính nhóm là một phần trong đó, được phụng sự một cách xây dựng. Sự viên thành của lý tưởng này được tìm thấy trong hoạt động của chính Thánh Đoàn, vốn từ điểm tiến bộ này đến điểm tiến bộ khác, thấy mình ở vị trí của vị diễn giải trực giác và truyền dẫn mãnh lực giữa trung tâm Shamballa và Nhân loại. Điểm đạo đồ cá nhân, trên đường đi tới một trong các lần điểm đạo cao hơn, ở mức độ nhỏ hơn của mình, phải đạt được cùng chức năng kép ấy và nhờ đó làm cho mình thích hợp với sự hợp tác rộng lớn hơn. |
|
2. The emotional application has definite reference to the world of meaning, interpreted in a group sense. At present, well-meaning aspirants are satisfied if they are able to interpret their personality conditions, events and happenings in terms of their real meaning. But that still remains an individual reaction. The aspirant who is seeking to comprehend these Rules is more interested in seeing the situations which he contacts in terms of a world whole, and in searching for their meaning in terms of their group significance. This serves to decentralize him and to convey into his consciousness some aspect of that larger whole, and this in its turn contributes to the expansion of the consciousness of humanity as a whole. [Page 38] |
2. Sự áp dụng cảm xúc có quy chiếu xác định đến Thế giới của ý nghĩa, được diễn giải theo nghĩa nhóm. Hiện nay, những người chí nguyện thiện chí hài lòng nếu họ có thể diễn giải các tình trạng, biến cố và sự kiện của phàm ngã mình theo ý nghĩa thật của chúng. Nhưng điều đó vẫn chỉ là một phản ứng cá nhân. Người chí nguyện đang tìm cách lĩnh hội các Quy luật này quan tâm hơn đến việc nhìn các tình huống mà y tiếp xúc theo nghĩa một toàn thể thế giới, và tìm kiếm ý nghĩa của chúng theo thâm nghĩa nhóm. Điều này giúp y phi tập trung vào bản thân và đưa vào tâm thức y một phương diện nào đó của toàn thể lớn hơn ấy; và đến lượt nó, điều này góp phần vào sự mở rộng tâm thức của nhân loại như một toàn thể. [Page 38] |
|
3. The mental application has to be grasped and considered in terms of the “great light.” It must be remembered that the mind is the organ of illumination. Therefore it might be asked: Do the united mental processes of the group as a whole tend to throw light on human problems and situations? How much does the light of the individual group member aid in this process? How much light do you, as an individual, register and therefore contribute to the greater light? Is the group light a dim flicker or a blazing sun? |
3. Sự áp dụng trí tuệ phải được nắm bắt và xem xét theo nghĩa của “ánh sáng vĩ đại.” Cần nhớ rằng thể trí là cơ quan của sự soi sáng. Vì vậy có thể hỏi: Các tiến trình trí tuệ hợp nhất của nhóm như một toàn thể có khuynh hướng rọi sáng các vấn đề và tình huống của nhân loại không? Ánh sáng của từng thành viên trong nhóm trợ giúp tiến trình này đến mức nào? Là một cá nhân, các bạn ghi nhận bao nhiêu ánh sáng và do đó đóng góp bao nhiêu vào ánh sáng lớn hơn? Ánh sáng nhóm là một tia lập lòe mờ nhạt hay một mặt trời rực cháy? |
|
Such are some of the implications lying behind the use of these familiar words, and the careful consideration of their meaning might bring about a definite expansion of consciousness. This expansion normally follows certain clear and definite stages: |
Đó là một vài hàm nghĩa nằm sau việc sử dụng những từ quen thuộc này, và việc xem xét cẩn trọng ý nghĩa của chúng có thể đem lại một sự mở rộng tâm thức rõ rệt. Sự mở rộng này thông thường đi theo một số giai đoạn rõ ràng và xác định: |
|
1. A recognition of the goal. This goal is often expressed under the word “the door.” A door permits entrance into some place larger than the area covered by the standing room of the would-be initiate. This statement refers to the “door of incarnation” through which the incarnating soul enters into life—limited and restricted from the angle of the soul. The door of initiation admits “into a larger room” or sphere of extended expression. |
1. Sự nhận biết mục tiêu. Mục tiêu này thường được diễn đạt bằng từ “cánh cửa.” Một cánh cửa cho phép bước vào một nơi rộng lớn hơn khu vực chỗ đứng của người muốn được điểm đạo. Phát biểu này quy chiếu đến “cánh cửa nhập thể” mà qua đó linh hồn đang nhập thể đi vào sự sống—bị giới hạn và hạn chế xét từ góc độ linh hồn. Cánh cửa điểm đạo cho vào “một căn phòng rộng lớn hơn” hay một khối cầu biểu lộ mở rộng hơn. |
|
2. The approach, under regulated and imposed and well-tried rules, of the entering one towards a visioned goal. This involves conformity to that which has been tried, known and demonstrated by all previous initiates. |
2. Sự tiến gần, dưới những quy luật được điều chỉnh, được áp đặt và đã được thử nghiệm kỹ lưỡng, của kẻ đang bước vào hướng tới một mục tiêu đã được thấy trong tầm nhìn. Điều này bao hàm sự thuận theo điều đã được mọi điểm đạo đồ trước kia thử nghiệm, biết rõ và chứng minh. |
|
3. The arresting of the steps of the initiate before the door in order that he may “prove himself to be initiate” prior to entry. |
3. Sự dừng bước của điểm đạo đồ trước cánh cửa để y có thể “chứng tỏ mình là điểm đạo đồ” trước khi bước vào. |
|
4. The passing of certain tests in order to demonstrate fitness. |
4. Việc vượt qua một số thử thách để chứng minh sự thích hợp. |
|
5. Then comes the stage of entrance—under due and set rules and yet with full freedom of action. You will see, therefore, why ever the need for understanding is emphasized. |
5. Rồi đến giai đoạn bước vào—theo những quy luật đúng đắn và đã định, nhưng vẫn với sự tự do hành động trọn vẹn. Vì vậy các bạn sẽ thấy vì sao nhu cầu thấu hiểu luôn được nhấn mạnh. |
|
Before proceeding to study the final phrases of [Page 39] Rule One, I would call your attention to the fact that the initiate has faced two major tests, symbolically described as “the burning ground” and the “clear cold light.” Only after he has successfully passed these can he—or the group, when considering group initiation—move forward and outward into the wider reaches of the divine consciousness. These tests are applied when the soul grips the personality and the fire of divine love destroys the loves and desires of the integrated personality. Two factors tend to bring this about: the slow moving forward of the innate conscience into greater control, and the steady development of the “fiery aspiration” to which Patanjali (The Light of the Soul, Book II, Sutra I, Page 119) makes reference. These two factors, when brought into living activity, bring the disciple into the center of the burning ground which separates the Angel of the Presence from the Dweller on the Threshold. The burning ground is found upon the threshold of every new advance, until the third initiation has been taken. |
Trước khi tiếp tục nghiên cứu các câu cuối của [Page 39] Quy luật Một, tôi muốn lưu ý các bạn rằng điểm đạo đồ đã đối diện với hai thử thách lớn, được mô tả bằng biểu tượng là “vùng đất cháy” và “ánh sáng trong trẻo lạnh lùng.” Chỉ sau khi y đã vượt qua thành công những thử thách này, y—hay nhóm, khi xét đến điểm đạo nhóm—mới có thể tiến tới và đi ra vào những tầm mức rộng lớn hơn của tâm thức thiêng liêng. Những thử thách này được áp dụng khi linh hồn nắm chặt phàm ngã và ngọn lửa của Tình thương thiêng liêng hủy diệt những tình yêu và ham muốn của phàm ngã tích hợp. Hai yếu tố có khuynh hướng đưa điều này xảy ra: sự tiến tới chậm rãi của lương tri bẩm sinh vào quyền kiểm soát lớn hơn, và sự phát triển đều đặn của “khát vọng bừng lửa” mà Patanjali, trong Ánh Sáng của Linh Hồn, Quyển II, Kinh I, Trang 119, có đề cập. Khi được đưa vào hoạt động sống động, hai yếu tố này đưa đệ tử vào trung tâm của vùng đất cháy vốn phân cách Thiên Thần của Hiện Diện với Kẻ Chận Ngõ. Vùng đất cháy được tìm thấy nơi ngưỡng của mỗi bước tiến mới, cho đến khi lần điểm đạo thứ ba đã được nhận. |
|
The “clear cold light” is the light of pure reason, of infallible intuitive perception and its unremitting, intensive and revealing light constitutes a major test in its effects. The initiate discovers the depths of evil, and at the same time is enticed forward by the heights of a growing sense of divinity. The clear cold light reveals two things: |
“Ánh sáng trong trẻo lạnh lùng” là ánh sáng của lý trí thuần khiết, của tri giác trực giác không sai lầm; ánh sáng không ngừng, mãnh liệt và mặc khải của nó cấu thành một thử thách lớn trong các tác động của nó. Điểm đạo đồ khám phá các chiều sâu của tà ác, đồng thời được lôi cuốn tiến tới bởi các đỉnh cao của ý thức ngày càng tăng về thiên tính. Ánh sáng trong trẻo lạnh lùng mặc khải hai điều: |
|
A. The omnipresence of God throughout nature, and therefore throughout the entire personality life of the initiate or of the initiate group. The scales fall from the eyes, bringing about—paradoxically—the “dark night of the soul” and the sense of being alone and bereft of all help. This led (in the case of the Christ, for instance) to that appalling moment in the Garden of Gethsemane, and which was consummated on the Cross, when the will of personality-soul clashed with the divine will of the Monad. The revelation to the initiate of the ages of severance from the Central Reality, and of all its attendant implications, descends upon the one who is attempting to stand “in isolated Unity,” as Patanjali (to quote him a second time) calls the experience. (The Light of the Soul, Book IV, Sutras 24, Page 420 and Sutra 34, Page 428). [Page 40] |
A. Sự toàn hiện diện của Thượng đế trong toàn thể thiên nhiên, và do đó trong toàn bộ đời sống phàm ngã của điểm đạo đồ hay của nhóm điểm đạo đồ. Những lớp vảy rơi khỏi mắt, đem lại—một cách nghịch lý—“đêm tối của linh hồn” và cảm thức đơn độc, bị tước mất mọi trợ giúp. Điều này đã dẫn, chẳng hạn trong trường hợp Đức Christ, đến khoảnh khắc kinh hoàng trong Vườn Gethsemane, và được hoàn tất trên Thập Giá, khi ý chí của phàm ngã-linh hồn va chạm với Ý Chí thiêng liêng của chân thần. Sự mặc khải cho điểm đạo đồ về các thời đại chia lìa khỏi Thực Tại Trung Tâm, cùng mọi hàm nghĩa đi kèm, giáng xuống kẻ đang cố đứng “trong Hợp Nhất Cô Lập,” như Patanjali, trích dẫn ông lần thứ hai, gọi kinh nghiệm ấy. (Ánh Sáng của Linh Hồn, Quyển IV, Kinh 24, Trang 420 và Kinh 34, Trang 428). [Page 40] |
|
The omnipresence of divinity within all forms pours in upon the consciousness of the initiate, and the mystery of time, space and electricity stands revealed. The major effect of this revelation (prior to the third initiation) is to bring to the disciple a realization of the “great heresy of separateness,” as it focuses in him, the separated fully conscious individual—aware of his past, conscious now of his ray and its conditioning power, focused in his own aspiration, and yet part of the great whole of nature. From that moment onward he knows that divinity is all there is, and this he learns through the revelation of the inherent separativeness of the form life, through the processes of “the dark night of the soul” and its culminating lesson of the significance of isolation and the freeing process which brings about the merging into unity through the emission of the sound, the cry, the invocation, such as the cry of the Christ upon the Cross symbolized. His exact words have not been transmitted to us. They vary for each ray, but all bring about the recognition of divine merging, in which all separating veils are “rent from the top to the bottom” (as The New Testament expresses it). |
Sự toàn hiện diện của thiên tính trong mọi hình tướng tuôn tràn vào tâm thức của điểm đạo đồ, và bí nhiệm của thời gian, không gian và điện lực được mặc khải. Tác động chính của sự mặc khải này, trước lần điểm đạo thứ ba, là đem đến cho đệ tử một sự chứng nghiệm về “Đại Tà thuyết của sự chia rẽ,” khi nó tập trung trong y, cá nhân tách biệt hoàn toàn có ý thức—ý thức về quá khứ của mình, nay ý thức về cung của mình và quyền năng tác động của nó, tập trung trong khát vọng của chính mình, nhưng vẫn là một phần của toàn thể vĩ đại của thiên nhiên. Từ khoảnh khắc đó trở đi, y biết rằng thiên tính là tất cả những gì hiện hữu, và y học điều này qua sự mặc khải về tính chia rẽ cố hữu của sự sống hình tướng, qua các tiến trình của “đêm tối của linh hồn” và bài học tột đỉnh của nó về thâm nghĩa của cô lập cùng tiến trình giải thoát đem lại sự hòa nhập vào hợp nhất qua việc phát ra âm thanh, tiếng kêu, lời khẩn cầu, như tiếng kêu của Đức Christ trên Thập Giá đã biểu tượng. Những lời chính xác của Ngài đã không được truyền lại cho chúng ta. Chúng khác nhau theo từng cung, nhưng tất cả đều đem lại sự nhận biết về sự hòa nhập thiêng liêng, trong đó mọi bức màn phân cách đều “bị xé từ trên xuống dưới,” như Tân Ước diễn đạt. |
|
B. The omniscience of the divine Whole is also brought home to the initiate through the medium of the clear cold light, and the phases of “isolated experience,” as it is sometimes occultly called, is forever ended. I would have you realize what this can mean in so far as possible to your present consciousness. Up till the present, the initiate-disciple has been functioning as a duality and as a fusion of soul-energy and personality-force. Now these forms of life stand exposed to him for what they essentially are, and he knows that—as directing agencies and as transitory gods—they no longer have any hold over him. He is being gradually translated into another divine aspect, taking with him all that he has received during the ages of close relation and identification with the third aspect, form, and the second aspect, consciousness. A sense of being bereft, deserted and alone descends upon him as he realizes that the control of form and soul must also disappear. Here lies the agony [Page 41] of isolation and the overpowering sense of loneliness. But the truths revealed by the clear cold light of the divine reason leave him no choice. He must relinquish all that holds him away from the Central Reality; he must gain life and “life more abundantly.” This constitutes the supreme test in the life cycle of the incarnating Monad; and “when the very heart of this experience enters into the heart of the initiate, then he moves outward through that heart into full life expression.” Such is the way that the Old Commentary expresses this. I know no other way in which to bring the idea before you. The experience undergone is not related to form, nor is it connected with consciousness or with even the higher psychic sensitivity. It consists of pure identification with divine purpose. This is made possible because the self-will of the personality and the enlightened will of the soul have both equally been relinquished. |
B. Sự toàn tri của Toàn Thể thiêng liêng cũng được khắc sâu vào điểm đạo đồ qua trung gian của ánh sáng trong trẻo lạnh lùng, và các giai đoạn của “kinh nghiệm cô lập,” như đôi khi được gọi một cách huyền bí, chấm dứt mãi mãi. Tôi muốn các bạn nhận ra điều này có thể có ý nghĩa gì, trong chừng mực có thể, đối với tâm thức hiện tại của các bạn. Cho đến nay, đệ tử-điểm đạo đồ đã hoạt động như một nhị nguyên và như một sự dung hợp của năng lượng linh hồn và mãnh lực phàm ngã. Giờ đây, những hình thức sự sống này phơi bày trước y đúng như bản chất cốt yếu của chúng, và y biết rằng—với tư cách những cơ quan điều khiển và những vị thần tạm thời—chúng không còn nắm giữ được y nữa. Y đang dần dần được chuyển dịch vào một phương diện thiêng liêng khác, mang theo tất cả những gì y đã nhận được qua các thời đại liên hệ mật thiết và đồng hóa với phương diện thứ ba là hình tướng, và phương diện thứ hai là tâm thức. Một cảm thức bị tước mất, bị bỏ rơi và cô độc giáng xuống y khi y nhận ra rằng sự kiểm soát của hình tướng và linh hồn cũng phải biến mất. Chính ở đây có nỗi thống khổ [Page 41] của cô lập và cảm thức cô đơn áp đảo. Nhưng những chân lý được ánh sáng trong trẻo lạnh lùng của lý trí thiêng liêng mặc khải không để y có lựa chọn. Y phải từ bỏ tất cả những gì giữ y xa khỏi Thực Tại Trung Tâm; y phải đạt được sự sống và “sự sống dồi dào hơn.” Điều này cấu thành thử thách tối thượng trong chu kỳ sự sống của chân thần đang nhập thể; và “khi chính trái tim của kinh nghiệm này đi vào trái tim của điểm đạo đồ, bấy giờ y đi ra qua trái tim ấy vào sự biểu lộ sự sống trọn vẹn.” Cổ Luận diễn đạt điều này như thế. Tôi không biết cách nào khác để trình bày ý tưởng ấy trước các bạn. Kinh nghiệm đã trải qua không liên quan đến hình tướng, cũng không gắn với tâm thức hay thậm chí với sự nhạy cảm thông linh cao hơn. Nó gồm sự đồng hóa thuần khiết với Thiên Ý. Điều này trở nên khả hữu vì cả ý chí riêng của phàm ngã lẫn ý chí giác ngộ của linh hồn đều đã được từ bỏ như nhau. |
|
4. Behind the group there stands the Door. Before them opens out the Way. (←) |
4. Sau lưng nhóm có Cánh Cửa. Trước mặt họ mở ra Con Đường. (←) |
|
Note how this passage reverses the usual presentation. Hitherto, in the occult books, the Door of Initiation has been presented as ever moving forward ahead of the initiate. He passes through door after door into a wider experience and expansion of consciousness. But in the initiate consciousness, after the first two initiations, this is not the realization. It is simply the adhering to an old form of symbolism with the implied limitations of the truth. I would here remind you that the third initiation is regarded by the Hierarchy as the first major initiation, and that the first and second initiations are initiations of the Threshold. For the bulk of humanity, these first two initiations will for a very long time constitute major initiatory experiences, but in the life and realization of the initiate-soul, they are not. After the two initiations of the threshold have been undergone the attitude of the initiate changes and he sees possibilities and factors and revelations which have hitherto [Page 42] been totally unrealized and unknown, even to his consciousness at his highest moments. |
Hãy lưu ý đoạn này đảo ngược cách trình bày thông thường ra sao. Từ trước đến nay, trong các sách huyền bí, Cánh Cửa Điểm Đạo luôn được trình bày như đang tiến tới phía trước điểm đạo đồ. Y đi qua cánh cửa này đến cánh cửa khác để vào một kinh nghiệm rộng lớn hơn và một sự mở rộng tâm thức. Nhưng trong tâm thức điểm đạo đồ, sau hai lần điểm đạo đầu tiên, đây không phải là sự chứng nghiệm. Nó chỉ là sự bám giữ vào một hình thức biểu tượng cũ với những giới hạn hàm ẩn của chân lý. Ở đây tôi muốn nhắc các bạn rằng lần điểm đạo thứ ba được Thánh Đoàn xem là lần điểm đạo lớn đầu tiên, và rằng lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai là các cuộc điểm đạo của Ngưỡng Cửa. Đối với phần lớn nhân loại, trong một thời gian rất dài, hai lần điểm đạo đầu này sẽ cấu thành những kinh nghiệm điểm đạo lớn, nhưng trong đời sống và sự chứng nghiệm của linh hồn đã được điểm đạo thì không phải vậy. Sau khi hai lần điểm đạo của ngưỡng cửa đã được trải qua, thái độ của điểm đạo đồ thay đổi, và y thấy những khả năng, yếu tố và mặc khải mà trước đây [Page 42] hoàn toàn chưa từng được chứng nghiệm và chưa được biết đến, ngay cả đối với tâm thức của y trong những khoảnh khắc cao nhất. |
|
The door of initiation looms large in the consciousness of the neophyte; the higher Way is the determining factor in the life of the initiate of the third degree. It is the Transfiguration; and a new glory pours through the transfigured initiate who has been released from every type of grip by either the personality or the soul. For the first time, the goal of the higher Way and the attainment of Nirvana (as the Oriental calls it) appears before him, and he knows that no forms and no spiritual complexes and no pull by either soul or form, or by both united, can have any effect upon his attaining his final destination. |
Cánh cửa điểm đạo hiện ra lớn lao trong tâm thức của người sơ cơ; Con Đường cao hơn là yếu tố quyết định trong đời sống của điểm đạo đồ cấp độ thứ ba. Đó là Biến hình; và một vinh quang mới tuôn qua điểm đạo đồ đã được biến hình, người đã được giải thoát khỏi mọi kiểu kìm giữ của phàm ngã hay linh hồn. Lần đầu tiên, mục tiêu của Con Đường cao hơn và sự đạt tới Niết Bàn, như người phương Đông gọi, hiện ra trước y, và y biết rằng không hình tướng nào, không phức cảm tinh thần nào, không lực lôi kéo nào của linh hồn hay hình tướng, hoặc của cả hai khi hợp nhất, có thể tác động gì đến việc y đạt tới đích cuối cùng. |
|
I would like for a moment to refer here to the door symbology as the initiate begins to grasp the inner meaning of those simple words. For long the teaching, given in the clear cold light, anent the door and the emphasis put upon the presentation of the door lying ahead of the aspirant has been made familiar, but that has been working with the lower aspects of the symbolism, even if aspirants did not realize it; they have been taught the fact of the light in the head, which is the personality correspondence to the clear cold light to which I refer. At the very center of that light, as many aspirants know theoretically or factually by inconstant experience, is a center or point of dark indigo blue—midnight blue. Note the significance of this in view of what I have been saying anent the “dark night,” the hour, the zero hour in the life of the soul. That center is in reality an opening, a door leading somewhere, a way of escape, a place through which the soul imprisoned in the body can emerge and pass into higher states of consciousness, untrammeled by form limitations; it has also been called “the funnel or the channel for the sound”; it has been named the “trumpet through which the escaping AUM can pass.” The ability to use this door or channel is brought about by the practice of alignment; hence the emphasis laid upon this exercise in the attempt to train aspirants and disciples. |
Ở đây, tôi muốn trong chốc lát đề cập đến biểu tượng học về cánh cửa khi điểm đạo đồ bắt đầu nắm bắt ý nghĩa bên trong của những lời đơn giản ấy. Từ lâu, giáo huấn được ban trong ánh sáng trong trẻo lạnh lùng về cánh cửa, cùng sự nhấn mạnh đặt trên việc trình bày cánh cửa nằm phía trước người chí nguyện, đã trở nên quen thuộc; nhưng điều đó đã làm việc với các phương diện thấp hơn của biểu tượng, ngay cả khi những người chí nguyện không nhận ra điều đó; họ đã được dạy về sự kiện của ánh sáng trong đầu, vốn là tương ứng nơi phàm ngã với ánh sáng trong trẻo lạnh lùng mà tôi đang đề cập. Ngay tại trung tâm của ánh sáng ấy, như nhiều người chí nguyện biết về mặt lý thuyết hay thực sự qua kinh nghiệm không đều, có một trung tâm hay điểm màu chàm đậm tối—màu xanh nửa đêm. Hãy lưu ý thâm nghĩa của điều này xét theo những gì tôi đã nói về “đêm tối,” giờ phút, giờ số không trong đời sống của linh hồn. Trung tâm ấy thực ra là một lỗ mở, một cánh cửa dẫn đến một nơi nào đó, một con đường thoát ra, một nơi mà qua đó linh hồn bị giam trong thân thể có thể xuất hiện và đi vào các trạng thái tâm thức cao hơn, không bị trói buộc bởi các giới hạn hình tướng; nó cũng đã được gọi là “cái phễu hay kênh dẫn cho âm thanh”; nó đã được gọi là “chiếc kèn mà qua đó AUM thoát ra có thể đi qua.” Khả năng sử dụng cánh cửa hay kênh dẫn này được tạo ra nhờ việc thực hành chỉnh hợp; do đó có sự nhấn mạnh đặt trên bài tập này trong nỗ lực huấn luyện những người chí nguyện và đệ tử. |
|
Once alignment has been achieved, it will be realized [Page 43] (remembering the symbolism of the head, the light and the central opening) that many occasions arise in meditation when “behind the group there stands the door; before them opens out the Way.” This is the lower correspondence of the higher initiate-experience with which our rule is dealing. |
Một khi sự chỉnh hợp đã đạt được, người ta sẽ nhận ra [Page 43], khi nhớ đến biểu tượng của đầu, ánh sáng và lỗ mở trung tâm, rằng nhiều dịp nảy sinh trong tham thiền khi “sau lưng nhóm có cánh cửa; trước mặt họ mở ra Con Đường.” Đây là tương ứng thấp hơn của kinh nghiệm điểm đạo cao hơn mà quy luật của chúng ta đang đề cập. |
|
Again, this time in relation to the soul, comes the repetition of the discovery of the Door, its use and its appearance, finally, behind the initiate. This time the door must be found upon the mental plane, and not as earlier upon the etheric level; this is brought about by the aid of the soul and of the lower mind and through the revealing power of the clear cold light of the reason. When discovered, the “revelation of a terrible though beautiful experiment” faces the initiate. He finds that this time alignment is not his need, but the definite undertaking of a creative work—the building of a bridge between the door which lies behind and the door which lies ahead. This involves the construction of what is technically the antahkarana, the rainbow bridge. This is built by the disciple-in-training upon the basis of his past experience; it is anchored in the past and firmly grounded in the highest, rightly oriented aspect of the personality. As the disciple then creatively works, he finds that there is a reciprocal action on the part of the Presence, the Monad—the unity which stands behind the Door. He discovers that one span of the bridge (if I might so call it) is being built or pushed forward from the other side of the gulf separating him from experience in the life of the Spiritual Triad. This Spiritual Triad is essentially, to the initiate, what the threefold personality is to the man in physical incarnation. |
Một lần nữa, lần này liên quan đến linh hồn, lại có sự lặp lại của việc khám phá Cánh Cửa, việc sử dụng nó và cuối cùng sự xuất hiện của nó phía sau điểm đạo đồ. Lần này cánh cửa phải được tìm thấy trên cõi trí, chứ không như trước kia trên cấp độ dĩ thái; điều này được đem lại nhờ sự trợ giúp của linh hồn và hạ trí, cùng qua quyền năng mặc khải của ánh sáng trong trẻo lạnh lùng của lý trí. Khi được khám phá, “sự mặc khải về một thí nghiệm khủng khiếp nhưng đẹp đẽ” đối diện với điểm đạo đồ. Y thấy rằng lần này nhu cầu của y không phải là chỉnh hợp, mà là đảm nhận xác định một công việc sáng tạo—xây dựng một cây cầu giữa cánh cửa nằm phía sau và cánh cửa nằm phía trước. Điều này bao hàm việc kiến tạo cái được gọi một cách kỹ thuật là antahkarana, Cây cầu vồng. Cây cầu này được đệ tử đang được huấn luyện xây dựng trên nền tảng kinh nghiệm quá khứ của y; nó được neo trong quá khứ và được đặt nền vững chắc nơi phương diện cao nhất, được định hướng đúng của phàm ngã. Khi đệ tử hoạt động một cách sáng tạo, y thấy có một hành động hỗ tương về phía Sự Hiện Diện, chân thần—sự hợp nhất đứng sau Cánh Cửa. Y khám phá rằng một nhịp của cây cầu, nếu tôi có thể gọi như vậy, đang được xây dựng hay đẩy tới từ phía bên kia vực thẳm phân cách y với kinh nghiệm trong sự sống của Tam Nguyên Tinh Thần. Đối với điểm đạo đồ, Tam Nguyên Tinh Thần này về bản chất chính là điều mà phàm ngã tam phân là đối với con người trong sự nhập thể hồng trần. |
|
I wonder if I have succeeded in giving you at least a general idea of the possibilities lying ahead of the disciple, and incited you to definite conscious response to those possibilities. I cannot do other than speak in terms of consciousness, even though the life of the Triad—leading in its turn to identification with the Monad, as the personality life leads eventually to soul control and expression—has naught to do with consciousness or sensitivity as those terms are [Page 44] commonly understood. Yet remember how, in all my teachings upon occult unfoldment, I have used the word Identification. This is the only word I have found which can in any way convey the complete unity which is finally achieved by those who develop a sense of unity, and who refuse to accept isolation; separateness then fades out entirely. The isolated unity achieved is unity with the Whole, with Being in its totality (and this cannot as yet convey much to you). |
Tôi tự hỏi liệu tôi đã thành công trong việc trao cho các bạn ít nhất một ý tưởng tổng quát về các khả năng nằm phía trước đệ tử, và thúc giục các bạn đáp ứng một cách có ý thức và xác định với những khả năng ấy hay chưa. Tôi không thể làm gì khác hơn là nói theo các thuật ngữ của tâm thức, dù sự sống của Tam nguyên tinh thần—đến lượt nó dẫn tới sự đồng hóa với chân thần, cũng như đời sống phàm ngã cuối cùng dẫn tới sự kiểm soát và biểu lộ của linh hồn—không liên quan gì đến tâm thức hay tính nhạy cảm như các thuật ngữ ấy thường được [Page 44] thấu hiểu. Tuy vậy, hãy nhớ rằng trong tất cả các giáo huấn của tôi về sự khai mở huyền bí, tôi đã dùng từ Đồng hóa. Đây là từ duy nhất tôi tìm thấy có thể theo bất cứ cách nào truyền đạt sự hợp nhất trọn vẹn cuối cùng đạt được bởi những ai phát triển ý thức về hợp nhất và từ chối chấp nhận cô lập; khi ấy sự chia rẽ hoàn toàn phai tàn. Hợp Nhất Cô Lập đạt được là sự hợp nhất với Toàn Thể, với Bản Thể trong tính toàn vẹn của nó, và điều này hiện nay chưa thể truyền đạt nhiều cho các bạn. |
|
5. Together let the band of brothers onward move—out of the fire, into the cold, and toward a newer tension. (←) |
5. Cùng nhau, đoàn huynh đệ hãy tiến tới—ra khỏi lửa, vào trong lạnh, và hướng tới một trạng thái căng tập trung mới hơn. (←) |
|
Here, in very brief form, certain basic instructions are given. Each of them indicates the new attitudes imposed upon all who have taken initiation. They cannot be interpreted in terms of the Path of Discipleship or of Probation. The ordinary and easily-arrived-at significances mean little to the initiate mind. Let me briefly consider them so that clarity of concept, though not of detail, may prevail. |
Ở đây, dưới hình thức rất ngắn gọn, một số huấn thị căn bản được đưa ra. Mỗi huấn thị chỉ ra các thái độ mới được áp đặt lên tất cả những ai đã nhận điểm đạo. Chúng không thể được diễn giải theo nghĩa của Con Đường Đệ Tử hay Con Đường Dự Bị. Những ý nghĩa thông thường và dễ đạt tới có rất ít ý nghĩa đối với trí tuệ của điểm đạo đồ. Hãy để tôi xem xét vắn tắt chúng để sự sáng tỏ về khái niệm, dù không phải về chi tiết, có thể chiếm ưu thế. |
|
a. Out of the fire. This is a symbolic way of indicating that the personality life is definitely and finally left behind. It is this phrase which gives the clue to the initiation which is referred to in this Rule. Each of these Rules contains within itself the clue to the particular initiation to which reference is being made. The Rules are not placed in their right order, having sequential reference to the seven initiations. The intuition of the aspirant must be invoked if he is to arrive at right knowledge. I shall sometimes indicate the initiation involved, but not always, as it would profit not. The clue to the seventh initiation which lies ahead for such high Beings as the Christ would be of no service to you at all. The clue to the initiation of the Transfiguration can be of importance, as it involves the personality, and many of you in the not so distant future (from the angle of the aeonial life cycle of the soul) will face that. The secret of the third initiation is the demonstration of complete freedom from the claims and demands of the personality. It does not involve the achievement of [Page 45] a completely perfect expression of the spiritual life, but it does indicate that the service of the initiate and his life demonstration—regarded in a broad and general way, from the angle of the life-tendency and of entire dedication to humanity—remains untouched by the limitations, still existent, of the personal lower self. |
a. Ra khỏi lửa. Đây là một cách biểu tượng để chỉ rằng đời sống phàm ngã được bỏ lại phía sau một cách xác định và dứt khoát. Chính cụm từ này trao chìa khóa cho lần điểm đạo được đề cập trong Quy luật này. Mỗi Quy luật này đều chứa trong chính nó chìa khóa cho lần điểm đạo đặc thù đang được nói đến. Các Quy luật không được đặt theo đúng thứ tự của chúng, vốn liên hệ tuần tự với bảy lần điểm đạo. Trực giác của người chí nguyện phải được khẩn cầu nếu y muốn đạt đến tri thức đúng. Đôi khi tôi sẽ chỉ ra lần điểm đạo liên hệ, nhưng không phải luôn luôn, vì điều ấy sẽ không hữu ích. Chìa khóa cho lần điểm đạo thứ bảy nằm phía trước đối với những Đấng cao cả như Đức Christ sẽ hoàn toàn không có ích gì cho các bạn. Chìa khóa cho cuộc điểm đạo Biến hình có thể quan trọng, vì nó liên quan đến phàm ngã, và nhiều người trong các bạn trong tương lai không quá xa, xét từ góc độ chu kỳ sự sống đại kiếp của linh hồn, sẽ đối diện với điều đó. Bí mật của lần điểm đạo thứ ba là sự chứng minh tự do hoàn toàn khỏi các đòi hỏi và yêu sách của phàm ngã. Nó không bao hàm việc đạt được [Page 45] một sự biểu lộ hoàn toàn hoàn hảo của đời sống tinh thần, nhưng nó chỉ ra rằng sự phụng sự của điểm đạo đồ và sự biểu lộ đời sống của y—được xem theo nghĩa rộng và tổng quát, từ góc độ khuynh hướng sự sống và sự hiến dâng trọn vẹn cho nhân loại—vẫn không bị chạm đến bởi những giới hạn vẫn còn tồn tại của phàm ngã thấp cá nhân. |
|
b. Into the cold. This means that the focus of the life is now in the realm of clear truth and of pure reason. The life of the initiate is being rapidly transferred out of the egoic center, the soul vehicle, on to the level of the buddhic life or state of being. Note, I do not say “of consciousness.” This is formless, but preserves the fruitage of form experience. It is being oriented towards a realized unity and identification with the life aspect of divinity, and yet preserves its own recognized and achieved identity. On this level of pure impersonality and of right orientation the group stands, obedient to the rule which governs this particular stage of development. |
b. Vào trong lạnh. Điều này có nghĩa rằng tiêu điểm của sự sống nay ở trong cõi giới của chân lý trong trẻo và lý trí thuần khiết. Đời sống của điểm đạo đồ đang nhanh chóng được chuyển dịch ra khỏi trung tâm chân ngã, vận cụ linh hồn, lên cấp độ của sự sống Bồ đề hay trạng thái bản thể. Hãy lưu ý, tôi không nói “của tâm thức.” Điều này vô hình tướng, nhưng giữ lại thành quả của kinh nghiệm hình tướng. Nó đang được định hướng về một sự hợp nhất đã được chứng nghiệm và sự đồng hóa với phương diện sự sống của thiên tính, nhưng vẫn giữ lại bản sắc riêng đã được nhận biết và đạt thành. Trên cấp độ phi cá nhân tính thuần khiết và định hướng đúng này, nhóm đứng vững, vâng phục quy luật chi phối giai đoạn phát triển đặc thù này. |
|
c. Toward a newer tension. The interpretation of the phrase presents difficulty. This is owing to the false impression which the word “tension” conveys at this time. It is associated in the minds of the reading public with the thought of nerves, with points of crisis, with courage and with fatigue. Is this not so? But in reality tension, occultly understood, is not associated with these aspects of personality reaction at all. The esoteric significance of tension (as far as I can explain it by limiting words) is “focused immovable Will.” Right tension is the identification of brain and soul with the will aspect, and the preservation of that identification—unchanged and immovable—no matter what the circumstances and the difficulties. |
c. Hướng tới một trạng thái căng tập trung mới hơn. Việc diễn giải cụm từ này gây khó khăn. Điều này là do ấn tượng sai lầm mà từ “căng thẳng” truyền đạt vào lúc này. Trong tâm trí độc giả, nó gắn với ý nghĩ về thần kinh, với các điểm khủng hoảng, với lòng can đảm và với sự mệt mỏi. Có phải vậy không? Nhưng trong thực tại, trạng thái căng tập trung, khi được hiểu một cách huyền bí, hoàn toàn không liên hệ với những phương diện phản ứng phàm ngã này. Thâm nghĩa nội môn của trạng thái căng tập trung, trong chừng mực tôi có thể giải thích bằng những từ ngữ giới hạn, là “Ý Chí bất lay chuyển được tập trung.” Trạng thái căng tập trung đúng đắn là sự đồng hóa của bộ não và linh hồn với phương diện ý chí, và việc duy trì sự đồng hóa ấy—không thay đổi và bất lay chuyển—bất kể hoàn cảnh và khó khăn là gì. |
|
You can see, therefore, how far ahead of present attitudes and goals this teaching is. Identification with the soul and with the Hierarchy is dependent upon the ability of the disciple rightly to love. It is the emergence of the second divine aspect, for love is the expression of group life, and [Page 46] that is rare indeed to find in these days. Right tension indicates the emergence of the first aspect, of the will, and this is seldom to be found as yet, save among the more advanced disciples and initiate members of the Hierarchy. |
Do đó, các bạn có thể thấy giáo huấn này đi trước rất xa so với các thái độ và mục tiêu hiện nay. Sự đồng hóa với linh hồn và với Thánh Đoàn phụ thuộc vào khả năng yêu thương đúng đắn của đệ tử. Đó là sự xuất hiện của phương diện thiêng liêng thứ hai, vì tình thương là sự biểu lộ của sự sống nhóm, và [Page 46] điều đó quả thật hiếm thấy trong những ngày này. Trạng thái căng tập trung đúng đắn chỉ ra sự xuất hiện của phương diện thứ nhất, của ý chí, và điều này cho đến nay hiếm khi được tìm thấy, ngoại trừ trong số các đệ tử tiến hóa hơn và các thành viên điểm đạo đồ của Thánh Đoàn. |
|
– Love governs the Way into the life of the Hierarchy and is the foundation for all approach to, and appreciation and acceptance of truth. |
– Tình thương cai quản Con Đường đi vào sự sống của Thánh Đoàn và là nền tảng cho mọi sự tiếp cận, trân trọng và chấp nhận chân lý. |
|
– Will governs the Way into Shamballa and is the foundation for all approach to, appreciation of and identification with, Being. |
– Ý chí cai quản Con Đường đi vào Shamballa và là nền tảng cho mọi sự tiếp cận, trân trọng và đồng hóa với Bản Thể. |
|
This developed will expresses itself as tension, esoterically understood. It embodies the ideas of orientation, implacable determination, ability to wait and to preserve intention and orientation unmoved by aught which may occur. It also involves the determination to take the intended action (always of a creative nature and based on loving understanding) at the psychological moment (right timing), or that exact moment which the psyche or soul determines to be correct. Here you have one of the interesting transferences of meaning and of relationship which occur in the Ageless Wisdom. The Son or soul emerges into manifestation with the concurrence and aid of the Mother or of the matter aspect. This is to you a most familiar truth. In the next stage, that of initiate-development, the Son, in its turn, becomes the feminine or negative aspect and, demonstrating as the Psyche, enables the initiate to bring into expression another divine aspect—that of the will. Until the fourth initiation is undergone, it is the soul as a “focal point for descending light and for ascending radiance.” This dual activity reveals the nature of the will. Note how this phrase from an ancient writing describes the antahkarana. |
Ý chí đã phát triển này tự biểu lộ như sự căng lực, được hiểu một cách huyền bí. Nó bao hàm các ý tưởng về sự định hướng, quyết tâm không khoan nhượng, khả năng chờ đợi và giữ vững ý định cùng sự định hướng không bị lay chuyển bởi bất cứ điều gì có thể xảy ra. Nó cũng bao hàm quyết tâm thực hiện hành động đã định — luôn luôn có bản chất sáng tạo và dựa trên sự thấu hiểu đầy tình thương — vào khoảnh khắc tâm lý, tức thời điểm đúng, hay chính khoảnh khắc chính xác mà tâm hồn hay linh hồn xác định là đúng. Ở đây các bạn có một trong những sự chuyển dịch thú vị về ý nghĩa và tương quan xảy ra trong Minh Triết Ngàn Đời. Người Con hay linh hồn đi vào biểu hiện với sự đồng thuận và trợ giúp của Người Mẹ hay của phương diện vật chất. Đối với các bạn, đây là một chân lý rất quen thuộc. Ở giai đoạn kế tiếp, tức giai đoạn phát triển của điểm đạo đồ, Người Con, đến lượt mình, trở thành phương diện nữ tính hay âm, và khi biểu hiện như Tâm hồn, giúp điểm đạo đồ đưa vào biểu lộ một phương diện thiêng liêng khác — đó là phương diện ý chí. Cho đến khi trải qua lần điểm đạo thứ tư, linh hồn là “điểm tập trung cho ánh sáng giáng xuống và cho sự rạng rỡ thăng lên.” Hoạt động kép này mặc khải bản chất của ý chí. Hãy lưu ý cách cụm từ này trong một trước tác cổ mô tả antahkarana. |
|
It is not possible in these brief instructions to deal adequately with the will aspect of divinity, nor would it profit at this time. Aspirants have to learn the nature of the will by the power of inner illumination and by certain intelligent recognitions. They learn the nature of the self through the aid of the personality, the shadow or distortion of the divine will. They pass from the expression of the will which [Page 47] is purely selfish, self-sufficient and self-focused, to the grasp of the group will and to the effort to embody that group will. This group will is always concerned with that which is not the will of the separated self. |
Trong những huấn thị ngắn gọn này, không thể bàn đầy đủ về phương diện ý chí của thiên tính, và vào lúc này điều đó cũng không hữu ích. Những người chí nguyện phải học biết bản chất của ý chí bằng quyền năng của sự soi sáng nội tâm và bằng một số nhận biết trí tuệ nhất định. Họ học biết bản chất của bản ngã nhờ sự trợ giúp của phàm ngã, cái bóng hay sự bóp méo của Ý chí thiêng liêng. Họ chuyển từ sự biểu lộ của ý chí vốn [Page 47] thuần túy ích kỷ, tự đủ và tập trung vào chính mình, sang việc nắm bắt ý chí của nhóm và nỗ lực hiện thân ý chí ấy. Ý chí nhóm này luôn liên quan đến điều không phải là ý chí của bản ngã tách biệt. |
|
As this ability to be selflessly decentralized grows and develops, the aspirant reaches a point where the group life and the group good is seen as an integral part of a much greater Whole. This greater Whole is Being Itself, divorced from form but ever working through form whilst in manifestation, and working with planned purpose. The realization then grows that intelligence and love are not enough, but that they must be supplemented and implemented by will, which is active intelligent purpose, lovingly applied. |
Khi khả năng phi tập trung vào bản thân một cách vô ngã này tăng trưởng và phát triển, người chí nguyện đạt đến một điểm mà đời sống nhóm và thiện ích của nhóm được thấy như một phần không thể tách rời của một Tổng Thể lớn lao hơn nhiều. Tổng Thể lớn lao hơn này là Chính Bản Thể, tách rời khỏi hình tướng nhưng luôn hoạt động qua hình tướng khi ở trong biểu hiện, và hoạt động theo mục đích đã được hoạch định. Khi ấy, nhận thức tăng trưởng rằng trí tuệ và tình thương là chưa đủ, mà chúng phải được bổ sung và làm cho hiệu lực bởi ý chí, vốn là mục đích trí tuệ năng động, được áp dụng bằng tình thương. |
|
The difficulty of this subject is inherent in the fact that basically (no matter how strange this may seem) love is the line of least resistance for the developed human being. It is the governing principle of the present solar system. Will is the governing principle of the next or coming solar system, which will be brought into manifestation through the agency of those human beings who—in this solar system—arrive at the full expression of the will aspect. Then, in the coming consummating manifestation, love will be to the will aspect what intelligence is, in this solar system, to love. |
Khó khăn của chủ đề này vốn nằm trong sự kiện rằng, về căn bản, dù điều này có vẻ kỳ lạ đến đâu, tình thương là con đường ít trở ngại nhất đối với con người đã phát triển. Đó là nguyên khí chi phối của hệ mặt trời hiện tại. Ý chí là nguyên khí chi phối của hệ mặt trời kế tiếp hay sắp đến, hệ này sẽ được đưa vào biểu hiện qua trung gian của những con người mà — trong hệ mặt trời này — đạt đến sự biểu lộ trọn vẹn của phương diện ý chí. Khi ấy, trong biểu hiện hoàn tất sắp đến, tình thương sẽ đối với phương diện ý chí giống như trí tuệ, trong hệ mặt trời này, đối với tình thương. |