Quy Luật Điểm đạo 14 dành cho đệ tử (RI)

📘 Sách: Bình Giảng 14 Quy Luật Điểm đạo Dành Cho Đệ tử – RI – Tác giả: Michael D. Robbins

Click số trang trong ngoặc [ ] để đi đến bình giảng

RULE FOURTEEN (286-319)

QUY LUẬT MƯỜI BỐN (286-319)

In this final rule for disciples and initiates, a great summation is embodied. I would here point out again (as I have so frequently in the past) that the obvious meaning—no matter how elevated—is not that with which we shall deal. It is the significance behind the meaning which is ever the concern of the initiate mind. Students would do well to remember the following sequence of words, embodying ideas: Symbol, Meaning, Significance, Light, regarding light as the emanating creative energy—the organizer of the symbol, the revealer of the meaning, the potency of the significance.

Trong quy luật cuối cùng này dành cho các đệ tử và các điểm đạo đồ, có hàm chứa một tổng kết lớn lao. Ở đây, Tôi muốn chỉ ra một lần nữa, như Tôi đã thường làm trong quá khứ, rằng ý nghĩa hiển nhiên—dù cao siêu đến đâu—không phải là điều chúng ta sẽ bàn đến. Chính thâm nghĩa nằm sau ý nghĩa mới luôn là mối quan tâm của thể trí điểm đạo đồ. Các đạo sinh nên ghi nhớ chuỗi từ ngữ sau đây, vốn hàm chứa các ý tưởng: Biểu tượng, Ý nghĩa, Thâm nghĩa, Ánh sáng, khi xem ánh sáng như năng lượng sáng tạo phát xạ—đấng tổ chức biểu tượng, đấng mặc khải ý nghĩa, quyền năng của thâm nghĩa.

We have studied the rules and have penetrated deeply into the world of significances. Most of you have not, however, passed beyond the stage of groping in the world of [Page 286] meaning. The reason for this is that you have not yet taken the third initiation. I would ask you also to bear in mind that the world of symbols is that of the personal life, of the phenomenal world as that phrase covers the three worlds of human evolution; the world of meaning is the world in which the soul lives and moves with intention and understanding; the world of significance is the world of the Spiritual Triad, which only confers its freedom fully after the third initiation.

Chúng ta đã nghiên cứu các quy luật và đã thâm nhập sâu vào thế giới của các thâm nghĩa. Tuy nhiên, phần lớn các bạn chưa vượt qua giai đoạn dò dẫm trong thế giới của [Page 286] ý nghĩa. Lý do là vì các bạn chưa trải qua lần điểm đạo thứ ba. Tôi cũng xin các bạn ghi nhớ rằng thế giới của các biểu tượng là thế giới của đời sống phàm ngã, của thế giới hiện tượng, theo nghĩa cụm từ ấy bao gồm ba cõi giới của cuộc tiến hóa nhân loại; thế giới của ý nghĩa là thế giới trong đó linh hồn sống và vận hành với chủ ý và sự thấu hiểu; thế giới của thâm nghĩa là thế giới của Tam Nguyên Tinh Thần, vốn chỉ ban tự do trọn vẹn sau lần điểm đạo thứ ba.

The words dealt with in this Rule XIV are apparently so simple that they can be easily understood. I will attempt to show you that their real meaning is deep and esoteric to what you call the nth degree.

Những từ được bàn đến trong Quy Luật XIV này bề ngoài giản dị đến mức có thể dễ dàng thấu hiểu. Tôi sẽ cố gắng chỉ cho các bạn thấy rằng ý nghĩa đích thực của chúng sâu xa và huyền bí đến mức tột cùng.

Rule XIV

Quy Luật XIV

For Applicants: Listen. Touch. See. Apply. Know.

Dành cho các Ứng viên: Lắng nghe. Chạm đến. Thấy. Áp dụng. Biết.

For Disciples and Initiates: (1) Know. (2) Express. (3) Reveal. (4) Destroy. (5) Resurrect.

Dành cho các Đệ tử và các Điểm đạo đồ: (1) Biết. (2) Biểu lộ. (3) Mặc khải. (4) Hủy diệt. (5) Phục sinh.

The following relationships should be noted, for the first is the seed of the other.

Cần lưu ý các mối liên hệ sau đây, vì điều thứ nhất là hạt giống của điều kia.

APPLICANTS—INITIATES

CÁC ỨNG VIÊN—CÁC ĐIỂM ĐẠO ĐỒ

· Listen— Know

 Lắng nghe— Biết

· Touch— Express

 Chạm đến— Biểu lộ

· See — Reveal

 Thấy — Mặc khải

· Apply — Destroy

 Áp dụng — Hủy diệt

· Know — Resurrect

 Biết — Phục sinh

You will note that the applicant eventually arrives at knowledge and begins to know; the disciple or the initiate starts with knowing, and through his ability to express esoterically that which he knows is able to reveal the light, and by that light to destroy all illusion, glamor and maya; he brings about resurrection upon the physical plane—a resurrection from the death which physical plane life inevitably confers.

Các bạn sẽ lưu ý rằng cuối cùng ứng viên đạt đến tri thức và bắt đầu biết; đệ tử hay điểm đạo đồ khởi đầu bằng sự biết, và nhờ khả năng biểu lộ một cách huyền bí điều y biết, y có thể mặc khải ánh sáng, và nhờ ánh sáng ấy hủy diệt mọi ảo tưởng, ảo cảm và maya; y tạo nên sự phục sinh trên cõi hồng trần—một sự phục sinh khỏi cái chết mà đời sống cõi hồng trần tất yếu mang lại.

The five words as given to the applicant are indeed relatively simple. Most aspirants understand their meaning [Page 287] to a certain extent. They know that the listening mentioned has naught to do with the sense of physical hearing, and that the touch to be developed has reference to sensitivity and not the sensory perception of the physical vehicle. They know likewise that the sight to be cultivated is the power to see the beauty underlying form, to recognize the subjective divinity and to register also the love conveyed through the medium of symbols. The application of soul energy to the affairs of daily life and the establishing of those conditions which permit of soul knowledge are the elementary lessons of the aspirant. With these I need not deal, except in so far as they give the clue to the significance of the five words as given to the initiated disciple.

Năm từ được trao cho ứng viên quả thật tương đối giản dị. Phần lớn những người chí nguyện thấu hiểu ý nghĩa của chúng [Page 287] đến một mức độ nào đó. Họ biết rằng sự lắng nghe được nói đến không liên quan gì đến giác quan thính giác hồng trần, và sự chạm đến cần được phát triển là nói về tính nhạy cảm chứ không phải tri giác giác quan của vận cụ hồng trần. Họ cũng biết rằng cái thấy cần được vun bồi là quyền năng thấy được vẻ đẹp nằm dưới hình tướng, nhận ra thiên tính chủ quan và cũng ghi nhận tình thương được truyền đạt qua trung gian của các biểu tượng. Việc áp dụng năng lượng linh hồn vào các công việc của đời sống hằng ngày và việc thiết lập những điều kiện cho phép có tri thức của linh hồn là những bài học sơ đẳng của người chí nguyện. Tôi không cần bàn đến những điều này, ngoại trừ trong mức độ chúng cung cấp manh mối cho thâm nghĩa của năm từ như đã được trao cho đệ tử đã được điểm đạo.

Let us take each of these five words and seek to ascertain their significance. But first of all, I would like to point out that here we are concerned with monadic signatures, with that which synthesizes significances, and with that which contributes vital significance to the initiated life. I would have you, as you read my words, retreat within yourselves and seek to think, feel and perceive at your highest possible level of consciousness. The effort to do this will bear much fruit and bring rich reward to you. You will not grasp the full intention of these words, but your sense of awareness will begin to react to triadal impression. I know not how else to word this, limited as I am by the necessity of language. You may not register anything consciously, for the brain of the average disciple is as yet insensitive to monadic vibration. Even if the disciple is capable of some responsiveness, there are not the needed words in which to express the sensed idea or to clothe the concept. It is therefore impossible to put the divine ideas into their ideal form and then bring them down into the world of meaning, and from thence into the world of symbols. What I say will therefore have more significance towards the close of this century, when men will have recovered from the chaos and cruelty of war, and when the new and higher spiritual influences are being steadily poured out. I write, my brothers, for the future. [Page 288]

Chúng ta hãy lần lượt xem xét từng từ trong năm từ này và tìm cách xác định thâm nghĩa của chúng. Nhưng trước hết, Tôi muốn chỉ ra rằng ở đây chúng ta đang quan tâm đến các dấu ấn chân thần, đến điều tổng hợp các thâm nghĩa, và đến điều đóng góp thâm nghĩa sống động cho đời sống điểm đạo. Khi các bạn đọc lời Tôi, Tôi muốn các bạn rút vào bên trong chính mình và tìm cách suy nghĩ, cảm nhận và tri giác ở cấp độ tâm thức cao nhất có thể của mình. Nỗ lực làm điều này sẽ sinh nhiều hoa trái và mang lại phần thưởng phong phú cho các bạn. Các bạn sẽ không nắm bắt được trọn vẹn ý định của những lời này, nhưng ý thức nhận biết của các bạn sẽ bắt đầu phản ứng với ấn tượng từ Tam nguyên tinh thần. Tôi không biết diễn đạt điều này bằng lời nào khác, vì Tôi bị giới hạn bởi sự cần thiết của ngôn ngữ. Có thể các bạn sẽ không ghi nhận được điều gì một cách hữu thức, vì bộ não của đệ tử trung bình cho đến nay vẫn chưa nhạy cảm với rung động chân thần. Ngay cả nếu đệ tử có khả năng đáp ứng phần nào, cũng không có những từ ngữ cần thiết để biểu đạt ý tưởng đã được cảm nhận hay khoác hình cho khái niệm ấy. Vì vậy, không thể đặt các ý tưởng thiêng liêng vào hình thức lý tưởng của chúng rồi đưa chúng xuống thế giới của ý nghĩa, và từ đó vào thế giới của các biểu tượng. Vì thế, điều Tôi nói sẽ có nhiều thâm nghĩa hơn vào cuối thế kỷ này, khi con người đã hồi phục khỏi hỗn loạn và tàn bạo của chiến tranh, và khi những ảnh hưởng tinh thần mới mẻ và cao cả hơn đang được tuôn đổ đều đặn. Các huynh đệ của tôi, Tôi viết cho tương lai. [Page 288]

1. Know

1. Biết

What is the difference between the knowing of the aspirant and the knowledge of the initiated disciple? It is the difference which exists between two differing fields and areas of perception. The aspirant is told first of all to “know thyself”; he is then told to know the relation of form and soul, and the area covered by his knowledge is that of the three worlds, plus the level upon the mental plane on which his soul is focused. The initiated disciple knows the relation of the periphery to the center, of the One to the many, and of unity to diversity. The applicant is concerned with triplicity: himself as the knower, his field of knowledge, and that which is the agent of knowing, the mind. The initiated disciple is beyond registering triplicity and is occupied with the duality of manifestation, with life-energy as it affects or is related to matter-force, with spirit and substance. The knowledge of the initiate has naught to do with consciousness as the mind recognizes that factor in the evolutionary process; his knowledge is related to the faculty of the intuition and to that divine perception which sees all things as within itself. Perhaps the simplest way to express the knowledge of the initiate is to say that it is direct awareness of God, thus putting it into mystical terms; the knowledge of the aspirant is related to that aspect of divinity which we call the soul in form. Putting this in still another way, I might point out that the aspirant is concerned with the knowledge of soul and matter, whilst the initiate is concerned with soul and spirit.

Đâu là sự khác biệt giữa sự biết của người chí nguyện và tri thức của người đệ tử được điểm đạo? Đó là sự khác biệt hiện hữu giữa hai trường và hai lĩnh vực nhận thức khác nhau. Trước hết, người chí nguyện được dạy “hãy biết chính mình”; rồi y được dạy phải biết mối liên hệ giữa hình tướng và linh hồn, và lĩnh vực mà tri thức của y bao quát là lĩnh vực của ba cõi giới, cộng thêm cấp độ trên cõi trí nơi linh hồn của y được tập trung. Người đệ tử được điểm đạo biết mối liên hệ của chu vi với trung tâm, của Đấng Duy Nhất với số nhiều, và của tính hợp nhất với tính đa dạng. Người thỉnh nguyện bận tâm với bộ ba: chính y với tư cách là thức giả, trường tri thức của y, và tác nhân của sự biết, tức thể trí. Người đệ tử được điểm đạo đã vượt khỏi việc ghi nhận bộ ba và bận tâm với nhị nguyên của biểu hiện, với năng lượng-sự sống khi nó tác động đến hoặc liên hệ với mãnh lực-vật chất, với tinh thần và chất liệu. Tri thức của điểm đạo đồ không liên quan gì đến tâm thức như thể trí nhận ra yếu tố ấy trong tiến trình tiến hoá; tri thức của y liên hệ với năng lực trực giác và với nhận thức thiêng liêng vốn nhìn thấy mọi sự như ở trong chính nó. Có lẽ cách đơn giản nhất để diễn đạt tri thức của điểm đạo đồ là nói rằng đó là sự nhận biết trực tiếp về Thượng đế, như vậy đặt nó vào những thuật ngữ thần bí; tri thức của người chí nguyện liên hệ với phương diện của thiên tính mà chúng ta gọi là linh hồn trong hình tướng. Nói theo một cách khác nữa, Tôi có thể chỉ ra rằng người chí nguyện bận tâm với tri thức về linh hồn và vật chất, trong khi điểm đạo đồ bận tâm với linh hồn và tinh thần.

If I say to you, my brothers, that the knowledge of the initiate is concerned with that which is produced by Sound and not by the AUM or the, I shall have linked up these comments with much else given previously in the analysis of these fourteen rules. The “listening” of the aspirant has now been transformed into the effectual recognition of that which the Sound has created. I refer not here to the creation of the phenomenal world, or to the world of meaning which is essentially the Plan or the pattern underlying that phenomenal world, but to the intention or [Page 289] the Purpose which motivated the creative Sound; I am dealing with the impulsive energy which gives significance to activity and to the life-force which the Sound centralizes at Shamballa.

Các huynh đệ của tôi, nếu Tôi nói với các bạn rằng tri thức của điểm đạo đồ bận tâm với điều được tạo ra bởi Âm Thanh chứ không phải bởi AUM hay OM, Tôi sẽ nối kết những nhận xét này với nhiều điều khác đã được đưa ra trước đây trong phần phân tích mười bốn quy luật này. Sự “lắng nghe” của người chí nguyện nay đã được chuyển đổi thành sự nhận biết hữu hiệu về điều mà Âm Thanh đã sáng tạo. Ở đây Tôi không nói đến sự sáng tạo thế giới hiện tượng, hay đến Thế giới của ý nghĩa vốn, về bản chất, là Thiên Cơ hay mô hình nằm bên dưới thế giới hiện tượng ấy, mà là ý định hay [Page 289] Thiên Ý đã thúc đẩy Âm Thanh sáng tạo; Tôi đang đề cập đến năng lượng xung động vốn đem lại thâm nghĩa cho hoạt động và cho mãnh lực sự sống mà Âm Thanh tập trung tại Shamballa.

It is not the fault of humanity that it is only now possible for the significance of the divine purpose to emerge more clearly in the consciousness of the initiated disciple. It is a question of timing and of movement in space; it concerns the relation of the Hierarchy, working with the Plan, to Shamballa, the recipient (by means of the Sound) of the creative energy which it is the divine intention to expend in producing a perfect expression of the divine Idea. It is to the knowledge of this relationship and of its effects that the first word of Rule XIV refers.

Không phải lỗi của nhân loại khi chỉ đến nay thâm nghĩa của Thiên Ý mới có thể hiện ra rõ ràng hơn trong tâm thức của người đệ tử được điểm đạo. Đó là vấn đề thời điểm và sự vận động trong không gian; nó liên quan đến mối liên hệ của Thánh Đoàn, đang làm việc với Thiên Cơ, với Shamballa, nơi tiếp nhận, bằng phương tiện của Âm Thanh, năng lượng sáng tạo mà ý định thiêng liêng muốn sử dụng để tạo ra một biểu hiện hoàn hảo của Ý Tưởng thiêng liêng. Chính tri thức về mối liên hệ này và các hiệu quả của nó là điều mà từ đầu tiên của Quy luật XIV đề cập đến.

It was the dawning of this significance upon the consciousness of the Christ—a consciousness enlightened, purified and divinely focused—that forced Him to cry out: “Father, not my will but Thine be done.” He received a vision of the emerging divine intention for humanity and (through humanity) for the planet as a whole. In the hierarchical stage of development which Christ had attained and which made Him the Head of the Hierarchy—and the Master of all the Masters, His consciousness was entirely at one with the Plan; its application to life in the three worlds, and its goal of establishing the Kingdom of God on earth and the emergence of the fifth kingdom in nature, were now for Him simply the fulfiling of the law, and to that fulfilment His entire life was and had been geared. The Plan, its goal, its techniques and methods, its laws and their application, its phenomenal effects, the hindrances to be met, the energy (that of love) to be employed, and the close and growing relation and interplay between the Hierarchy and Humanity, between the heart center of the planetary Logos and the creative center, were known to Him and fully understood. At the highest point of this consummated knowledge, and at the moment of His complete surrender to the necessary sacrifice of His life to the fulfiling of the Plan, suddenly a great expansion of consciousness took place. [Page 290]

Chính sự ló rạng của thâm nghĩa này trong tâm thức của Đức Christ—một tâm thức đã được soi sáng, thanh luyện và tập trung một cách thiêng liêng—đã buộc Ngài phải kêu lên: “Lạy Cha, xin đừng theo ý con, mà theo ý Cha được thành tựu.” Ngài đã nhận được một linh ảnh về ý định thiêng liêng đang hiện ra cho nhân loại và, thông qua nhân loại, cho toàn thể hành tinh. Ở giai đoạn phát triển của Thánh Đoàn mà Đức Christ đã đạt tới, và vốn khiến Ngài trở thành Đấng Đứng Đầu Thánh Đoàn—Chân sư của tất cả các Chân sư, tâm thức của Ngài hoàn toàn hợp nhất với Thiên Cơ; việc áp dụng Thiên Cơ ấy vào sự sống trong ba cõi thấp, cùng mục tiêu thiết lập Thiên Giới trên Trái Đất và làm xuất hiện giới thứ năm trong thiên nhiên, đối với Ngài giờ đây chỉ đơn giản là sự hoàn thành định luật, và toàn bộ đời sống của Ngài đã và đang được định hướng vào sự hoàn thành ấy. Thiên Cơ, mục tiêu của nó, các kỹ thuật và phương pháp của nó, các định luật của nó và việc áp dụng chúng, các hiệu quả hiện tượng của nó, những trở ngại phải đối diện, năng lượng được sử dụng là năng lượng bác ái, và mối liên hệ cùng sự tương tác gần gũi và ngày càng tăng trưởng giữa Thánh Đoàn và Nhân Loại, giữa trung tâm tim của Hành Tinh Thượng đế và trung tâm sáng tạo, đều được Ngài biết và thấu hiểu trọn vẹn. Ở điểm cao nhất của tri thức đã viên mãn này, và vào khoảnh khắc Ngài hoàn toàn hiến mình cho sự hy sinh cần thiết đời sống của Ngài để hoàn thành Thiên Cơ, đột nhiên một sự mở rộng tâm thức lớn lao đã diễn ra. [Page 290]

The significance, the intention, the purpose of it all, and the extent of the divine Idea as it existed in the mind of the “Father,” dawned on His soul (not on His mind, but on His soul). He saw still further into the significance of divinity than had ever seemed possible; the world of meaning and the world of phenomena faded out and—esoterically speaking—He lost His All. These are words necessarily meaningless to you. For the time being, neither the energy of the creative mind nor the energy of love was left to Him. A new type of energy became available—the energy of life itself, imbued with purpose and actuated by intention. For the first time, the relation of the Will, which had hitherto expressed itself in His life through love and the creative work of inaugurating the new dispensation and the launching for all time of the Kingdom of God, became clear to Him. At that point He passed through the of renunciation.

Thâm nghĩa, ý định, Thiên Ý của tất cả những điều ấy, và tầm mức của Ý Tưởng thiêng liêng như nó hiện hữu trong trí của “Cha”, đã ló rạng trong linh hồn Ngài, không phải trong thể trí của Ngài, mà trong linh hồn Ngài. Ngài đã nhìn sâu hơn nữa vào thâm nghĩa của thiên tính hơn bất cứ điều gì từng có vẻ khả dĩ; thế giới của ý nghĩa và thế giới hiện tượng phai mờ đi và—nói một cách huyền bí—Ngài mất Tất Cả của Ngài. Đây là những lời tất yếu vô nghĩa đối với các bạn. Trong lúc ấy, cả năng lượng của trí sáng tạo lẫn năng lượng của bác ái đều không còn lại với Ngài. Một loại năng lượng mới trở nên khả dụng—năng lượng của chính sự sống, được thấm nhuần bằng Thiên Ý và được thúc động bởi ý định. Lần đầu tiên, mối liên hệ của Ý Chí, vốn cho đến lúc ấy đã biểu lộ trong đời sống của Ngài qua bác ái và công việc sáng tạo là khai mở một thời kỳ mới và thiết lập vĩnh viễn Thiên Giới, đã trở nên rõ ràng đối với Ngài. Vào thời điểm đó, Ngài đã trải qua Cuộc Điểm Đạo Từ Bỏ.

A hint lies here. This of attainment of the Christ—as related in the Gospel story—was reached in, and for a brief moment we are given an insight into an aspect or happening of the Sixth Initiation. It was this event and spiritual crisis in the life of the Christ (taking place as He over-shadowed His disciple, Jesus) which enabled Jesus on His own level of spiritual development to take the fourth initiation, that of the Crucifixion or the Great Renunciation. The numbers four and six are closely connected, and the lesser renunciation (great only from the human point of view) makes the higher renunciation possible eventually, and vice versa. Running through many parts of the Gospel story are two paralleling histories; the lesser world of discipleship profits by the achievements of those who take the higher initiations, and thus is demonstrated the close unity which forever exists within the Hierarchy and—focusing through the Christ—the synthesis which is beginning to be formed between the Hierarchy and Shamballa. This is taking place in this era for the first time in human history. The recognition of this emerging synthesis between Will and Love produced a definite effect in [Page 291] the consciousness of the Christ and led Him to know much that had hitherto been concealed from Him.

Ở đây có một gợi ý. Điểm thành tựu này của Đức Christ—như được thuật lại trong câu chuyện Phúc Âm—đã đạt được tại vườn Ghết-sê-ma-nê, và trong một khoảnh khắc ngắn ngủi chúng ta được ban cho một thoáng hiểu biết về một phương diện hay một biến cố của lần điểm đạo thứ sáu. Chính biến cố và cuộc khủng hoảng tinh thần này trong đời Đức Christ (diễn ra khi Ngài phủ bóng đệ tử của Ngài, Đức Jesus) đã giúp Đức Jesus, trên cấp độ phát triển tinh thần riêng của Ngài, trải qua lần điểm đạo thứ tư, tức cuộc Đóng Đinh hay Đại Từ Bỏ. Các con số bốn và sáu liên hệ mật thiết với nhau, và sự từ bỏ thấp hơn, chỉ lớn lao theo quan điểm nhân loại mà thôi, rốt cuộc làm cho sự từ bỏ cao hơn trở nên khả dĩ, và ngược lại. Xuyên suốt nhiều phần của câu chuyện Phúc Âm có hai lịch sử song hành; thế giới thấp hơn của địa vị đệ tử được hưởng lợi từ những thành tựu của các Đấng trải qua những lần điểm đạo cao hơn, và như thế chứng minh sự hợp nhất mật thiết vĩnh viễn hiện hữu trong Thánh Đoàn và—được tập trung qua Đức Christ—sự tổng hợp đang bắt đầu hình thành giữa Thánh Đoàn và Shamballa. Điều này đang diễn ra trong kỷ nguyên này lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Sự nhận biết về tổng hợp đang xuất hiện giữa Ý Chí và Bác Ái đã tạo ra một hiệu quả rõ rệt trong [Page 291] tâm thức của Đức Christ và dẫn Ngài đến việc biết nhiều điều trước đó còn bị che giấu đối với Ngài.

These are deep mysteries. Their value to the disciple in training lies in the recognized and considered relationships.

Đây là những huyền nhiệm sâu xa. Giá trị của chúng đối với người đệ tử đang được huấn luyện nằm trong các mối liên hệ được nhận biết và suy xét.

These rules are—as you know—the rules controlling group life; they constitute the key to the laws under which all planetary groups work. The hierarchical life, through its major aspect of Love, was a familiar area of consciousness and well-known to the Masters and to the Master of Them all, the Christ. But a further “knowing” lay ahead of even this “perfected Son of God”; the nature and the mind of that great Being, embodied in the Lord of the World at Shamballa, was now revealed to Him.

Như các bạn biết, các quy luật này là những quy luật kiểm soát đời sống nhóm; chúng cấu thành chìa khóa cho các định luật mà mọi nhóm hành tinh làm việc theo đó. Đời sống của Thánh Đoàn, thông qua phương diện chính yếu là Bác Ái, là một lĩnh vực tâm thức quen thuộc và được các Chân sư cũng như Chân sư của tất cả Các Ngài, Đức Christ, biết rõ. Nhưng một “sự biết” xa hơn còn nằm phía trước ngay cả đối với “Con của Thượng đế đã hoàn thiện” này; bản chất và trí của Đấng Cao Cả ấy, được thể hiện trong Đức Chúa Tể Thế Giới tại Shamballa, nay đã được mặc khải cho Ngài.

It is this living realization of Being and of identification with the planetary Logos upon the cosmic mental plane which constituted the unfolding awareness of the Christ upon the Way of the Higher Evolution. Therefore, experience, perception and Being are the keynotes of:

Chính sự chứng nghiệm sống động về Bản Thể và sự đồng nhất với Hành Tinh Thượng đế trên cõi trí vũ trụ đã cấu thành nhận thức đang khai mở của Đức Christ trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. Do đó, kinh nghiệm, nhận thức và Bản Thể là các chủ âm của:

1. The Path of Evolution.

1. Con Đường Tiến Hóa.

2. The mode of unfoldment upon the Path.

2. Phương thức khai mở trên Con Đường.

3. The state of divine focus upon the Way.

3. Trạng thái tập trung thiêng liêng trên Con Đường.

In other words, you have the states of Individualization, of Initiation, and of Identification.

Nói cách khác, các bạn có các trạng thái Biệt Ngã Hóa, Điểm Đạo và Đồng Nhất Hóa.

The relation between the listening of the aspirant and the knowledge of the initiated disciple has been expressed for us in a certain ancient writing as follows:

Mối liên hệ giữa sự lắng nghe của người chí nguyện và tri thức của đệ tử được điểm đạo đã được diễn đạt cho chúng ta trong một trước tác cổ xưa như sau:

“Dimly the one who seeks hears the faint whisper of the life of God; he sees the breathing of that whisper which disturbs the waters of his Spatial life. The whisper penetrates. It then becomes the Sound of many waters and the Word of many voices. Great is the confusion but still the listening must go on.

“Một cách lờ mờ, người tìm kiếm nghe được tiếng thì thầm yếu ớt của Sự sống của Thượng đế; y thấy hơi thở của tiếng thì thầm ấy làm xao động những dòng nước trong đời sống Không Gian của y. Tiếng thì thầm thấm vào. Rồi nó trở thành Âm Thanh của nhiều dòng nước và Linh từ của nhiều tiếng nói. Sự hỗn loạn thật lớn lao, nhưng sự lắng nghe vẫn phải tiếp tục.

Listening is the seed of obedience, O Chela on the Path.

Hỡi Đệ tử trên Đường Đạo, lắng nghe là hạt giống của sự vâng phục.

More loudly comes the voice; then suddenly the voices dim and listening now gives place to knowing—the [Page 292] knowledge of that which lies behind the outer form, the perception of that which must be done. Order is seen. The pattern clear emerges.

Tiếng nói vang lên lớn hơn; rồi đột nhiên các tiếng nói mờ dần, và giờ đây sự lắng nghe nhường chỗ cho tri thức—[Page 292] tri thức về điều nằm phía sau hình tướng bên ngoài, sự nhận biết điều phải được thực hiện. Trật tự được nhìn thấy. Mô hình hiện ra rõ ràng.

Knowing is the seed of conscious doing, O Chela on the Path.

Hỡi Đệ tử trên Đường Đạo, tri thức là hạt giống của hành động hữu thức.

Listening and knowledge also fade away and that which they produce can then be seen. Being emerges and union with the One. Identity is known—not on this plane but on that higher sphere where move and speak the greater Sons of Life. Being alone is left. The work is done.”

Sự lắng nghe và tri thức cũng phai mờ, và bấy giờ điều do chúng tạo ra có thể được nhìn thấy. Bản thể hiện ra, cùng với sự hợp nhất với Đấng Duy Nhất. Bản sắc được nhận biết—không phải trên cõi này, mà trên khối cầu cao hơn kia, nơi các Người Con vĩ đại hơn của Sự Sống vận động và phát ngôn. Chỉ còn lại Bản thể. Công việc đã hoàn tất.”

2. Express

2. Biểu đạt

We come now to the second word of the fourteenth rule for disciples and initiates—the word Express. This cannot be correctly understood apart from the earlier word imparted to applicants—the word Touch. I would have you note that all the words given to the neophyte refer basically to something he must do in reference to himself, some task he must undertake which will make him more fit for advancement, or some process of apprehension which will enable him to function in a better and more sensitive instrument. This might be called the “introverted stage” of training because it brings the would-be disciple to a better knowledge of himself; he grasps the fact that he himself, the microcosm, is the key to the Macrocosm; he is the clue to the future, and he holds within himself the revelation which must precede esoteric action. In contradistinction to this, the words for the disciple and the initiate mark the attainment of a capacity to work from a most deeply esoteric center in a pronouncedly occult way. By this I mean that the initiate, working as we have seen from a standpoint of knowledge, is at the same time no longer self-centered, but is now preoccupied with that in which he lives and moves and has his being. His interests are with the Whole and not with the part; his interests are those which will affect his environment (an aspect of that living vibrant Whole) and not himself; his task is the hierarchical one of the salvaging of others, and not his own salvation. [Page 293]

Giờ đây chúng ta đi đến từ thứ hai của quy luật thứ mười bốn dành cho các đệ tử và điểm đạo đồ—từ Biểu đạt. Từ này không thể được thấu hiểu đúng đắn nếu tách khỏi từ trước đó đã được truyền cho các ứng viên—từ Chạm. Tôi muốn các bạn lưu ý rằng tất cả những từ được trao cho người sơ cơ về căn bản đều liên quan đến điều gì đó y phải làm đối với chính mình, một nhiệm vụ nào đó y phải đảm nhận để trở nên thích hợp hơn cho bước tiến, hoặc một tiến trình lĩnh hội nào đó sẽ giúp y hoạt động trong một khí cụ tốt hơn và nhạy bén hơn. Điều này có thể được gọi là “giai đoạn hướng nội” của sự huấn luyện, vì nó đưa người muốn làm đệ tử đến sự hiểu biết tốt hơn về chính mình; y nắm bắt sự kiện rằng chính y, Tiểu thiên địa, là chìa khóa dẫn đến Đại thiên địa; y là manh mối của tương lai, và y giữ trong chính mình sự mặc khải phải đi trước hành động huyền bí. Trái lại, những từ dành cho đệ tử và điểm đạo đồ đánh dấu sự đạt được năng lực làm việc từ một trung tâm huyền bí sâu xa nhất, theo một cách huyền môn rõ rệt. Bằng điều này, tôi muốn nói rằng điểm đạo đồ, khi làm việc như chúng ta đã thấy từ lập trường của tri thức, đồng thời không còn tập trung vào bản thân nữa, mà giờ đây bận tâm đến Điều trong đó y sống, vận động và hiện hữu. Mối quan tâm của y là với Toàn Thể chứ không phải với phần; mối quan tâm của y là những điều sẽ ảnh hưởng đến môi trường của y (một phương diện của Toàn Thể sống động và rung động ấy), chứ không phải đến chính y; nhiệm vụ của y là nhiệm vụ thuộc Thánh Đoàn trong việc cứu vớt những người khác, chứ không phải sự cứu rỗi của chính y. [Page 293]

If you will note your own present attitudes and actions, you will discover that primarily (I might add almost necessarily) they center around yourselves, your own recognitions, your own grasp of truth, and your own progress upon the Path. But—as you achieve initiate status—self-interest declines until it disappears and, as an ancient Word has it, “only God is left”; only that remains in consciousness which is That, which is beauty, goodness and truth; which is not form but quality, which is that which lies behind the form and that which indicates destiny, soul, place, and status. Ponder on these words, for they convey to you where (as evolution goes on) you will later lay the emphasis.

Nếu các bạn lưu ý đến những thái độ và hành động hiện tại của chính mình, các bạn sẽ khám phá rằng chủ yếu (tôi có thể thêm rằng hầu như tất yếu) chúng xoay quanh chính các bạn, những nhận biết của chính các bạn, sự nắm bắt chân lý của chính các bạn, và bước tiến của chính các bạn trên Đường Đạo. Nhưng—khi các bạn đạt đến địa vị điểm đạo đồ—mối quan tâm đến bản thân suy giảm cho đến khi biến mất, và như một Linh từ cổ xưa đã nói, “chỉ còn lại Thượng đế”; chỉ còn lại trong tâm thức điều vốn là Cái Đó, vốn là vẻ đẹp, điều thiện và chân lý; vốn không phải là hình tướng mà là phẩm tính, là điều nằm phía sau hình tướng và là điều chỉ ra vận mệnh, linh hồn, vị trí và địa vị. Hãy suy ngẫm về những lời này, vì chúng truyền đạt cho các bạn biết nơi nào (khi tiến hoá tiếp diễn) về sau các bạn sẽ đặt trọng tâm.

In considering the word Express I can, I believe, make this distinction somewhat clearer. When the beginner on the Path ponders the significance of expression, he is occupied with his ability to express the truth which he theoretically recognizes but to which he cannot as yet give form. This is valuable because it feeds his aspiration, centers his attention upon himself and increases his naive self-interest. This, frequently, presents its own problems, such as a sense of failure or an undue registration of success, or it fails to develop a sense of proportion.

Khi xem xét từ Biểu đạt, tôi tin rằng mình có thể làm cho sự phân biệt này rõ ràng hơn phần nào. Khi người mới bắt đầu trên Đường Đạo suy ngẫm về thâm nghĩa của sự biểu đạt, y bận tâm đến khả năng của mình trong việc biểu đạt chân lý mà y thừa nhận trên lý thuyết nhưng y vẫn chưa thể trao cho nó hình tướng. Điều này có giá trị vì nó nuôi dưỡng khát vọng của y, tập trung sự chú ý của y vào chính mình và làm gia tăng mối quan tâm ngây thơ của y đối với bản thân. Điều này thường đưa ra những vấn đề riêng của nó, chẳng hạn như cảm thức thất bại hoặc sự ghi nhận thành công quá mức, hoặc nó không phát triển được Ý thức về tỉ lệ.

When, however, the initiate takes into his consciousness this injunction to express, it signifies to him not his own needs or requirements, but the need of others for those expressions of truth which will guide them on their way. This word, therefore, is to him an injunction to be creative. The initiate creates outside himself that which is his individual contribution to the totality of the creative forms whereby the Hierarchy is attempting to create “a new heaven and a new earth.” He is not occupied with what he himself expresses as a soul within a personality; he has developed the habit of right soul expression in the three worlds, and the appearance of his quality (to revert to the use of our original words—life, quality and appearance) is automatic and without any planning on his part. He is, however, occupied with the sequence of activities which I will list as follows: [Page 294]

Tuy nhiên, khi điểm đạo đồ đưa huấn thị phải biểu đạt này vào tâm thức của mình, đối với y, nó không biểu thị những nhu cầu hay đòi hỏi của riêng y, mà là nhu cầu của những người khác đối với các biểu đạt của chân lý vốn sẽ hướng dẫn họ trên đường đi của họ. Vì vậy, đối với y, từ này là một huấn thị phải sáng tạo. Điểm đạo đồ sáng tạo bên ngoài chính mình điều vốn là đóng góp cá nhân của y vào toàn thể các hình tướng sáng tạo, nhờ đó Thánh Đoàn đang cố gắng tạo ra “một trời mới và một đất mới.” Y không bận tâm đến điều chính y biểu đạt như một linh hồn ở trong một phàm ngã; y đã phát triển thói quen biểu đạt linh hồn đúng đắn trong ba cõi thấp, và sự xuất hiện của phẩm tính nơi y (để trở lại cách dùng những từ ban đầu của chúng ta—sự sống, phẩm tính và sắc tướng) là tự động và không do bất kỳ sự hoạch định nào từ phía y. Tuy nhiên, y bận tâm đến chuỗi các hoạt động mà tôi sẽ liệt kê như sau: [Page 294]

1. The preservation of hierarchical contact, of which direct, conscious soul contact is now an incident because it is now a habit.

1. Việc duy trì tiếp xúc với Thánh Đoàn, trong đó tiếp xúc trực tiếp và hữu thức với linh hồn giờ đây chỉ là một sự việc phụ, vì nó đã trở thành một thói quen.

2. An awareness, unbroken and consistent, of his ashramic place; I refer not to location but to status—a very different matter.

2. Một nhận thức không gián đoạn và nhất quán về vị trí ashram của y; tôi không nói đến địa điểm mà nói đến địa vị—một vấn đề rất khác.

3. Reflective concentration upon the hierarchical Plan as his particular Ashram has assumed responsibility for a measure of it; that responsibility he seeks to share intelligently and effectively.

3. Sự tập trung phản tư vào Thiên Cơ của Thánh Đoàn, trong chừng mực ashram riêng của y đã đảm nhận trách nhiệm đối với một phần của Thiên Cơ ấy; y tìm cách chia sẻ trách nhiệm đó một cách thông minh và hữu hiệu.

4. Recognition of the immediate contribution of the Ashram and his immediate contribution as an integral part of it. This does away with visionary mysticism and produces the practicing occultist.

4. Sự nhận biết đóng góp tức thời của ashram và đóng góp tức thời của chính y như một phần tích hợp của ashram ấy. Điều này loại bỏ Thần bí học mang tính linh ảnh và tạo nên nhà huyền bí học thực hành.

5. A study of the creative methods of his particular Ray and an imaginative visualization of that which will be expressed when the desired creative work has taken due form.

5. Sự nghiên cứu các phương pháp sáng tạo của Cung riêng của y và sự hình dung bằng tưởng tượng về điều sẽ được biểu đạt khi công việc sáng tạo mong muốn đã khoác lấy hình tướng thích đáng.

6. Conscious projection of his contribution onto the outer physical plane. A tangible creative project is undertaken and eventually produced.

6. Sự phóng chiếu hữu thức đóng góp của y lên cõi hồng trần bên ngoài. Một dự án sáng tạo hữu hình được đảm nhận và cuối cùng được tạo ra.

7. He thus plays his part in bringing into objectivity the creative undertaking of his Ashram.

7. Như vậy, y đóng phần của mình trong việc đưa công cuộc sáng tạo của ashram y vào sự hiện hữu khách quan.

The seed of this creative work is that which the Ashram has planned for the exact moment of humanity’s presented need, correct as to timing and placement. This may not be what humanity believes it needs; it is essentially what the Hierarchy recognizes as the needed factor, leading to the needed progress for the race at any specific moment in time. For instance, humanity believes today that its major need is peace and material comfort and is working vaguely for both; the Hierarchy knows that its major need is the recognition of the folly of past separateness and the cult of goodwill. Towards these ends, workers in the Ashrams are bending every effort. The creative task, therefore, of working disciples and initiates is to produce that presentation (appearance) of the necessitous truths in such a manner that the recognition of humanity may be so sound that right action can duly be [Page 295] taken. Hierarchical workers must therefore express the true need in form, appropriate to the registering capacity of humanity at this moment.

Hạt giống của công việc sáng tạo này là điều ashram đã hoạch định cho đúng thời điểm của nhu cầu mà nhân loại trình hiện, chính xác về thời gian và vị trí. Điều này có thể không phải là điều nhân loại tin rằng mình cần; về bản chất, đó là yếu tố cần thiết mà Thánh Đoàn nhận biết, dẫn đến bước tiến cần thiết cho nhân loại vào bất kỳ thời điểm đặc thù nào. Chẳng hạn, ngày nay nhân loại tin rằng nhu cầu chính yếu của mình là hòa bình và tiện nghi vật chất, và đang làm việc một cách mơ hồ cho cả hai; Thánh Đoàn biết rằng nhu cầu chính yếu của nhân loại là nhận ra sự điên rồ của tính chia rẽ trong quá khứ và sự tôn sùng thiện chí. Hướng về những mục tiêu này, những người hoạt động trong các ashram đang dồn mọi nỗ lực. Vì vậy, nhiệm vụ sáng tạo của các đệ tử và điểm đạo đồ đang hoạt động là tạo ra sự trình hiện (sắc tướng) của những chân lý thiết yếu theo một cách thức khiến sự nhận biết của nhân loại có thể vững chắc đến mức hành động đúng đắn có thể được [Page 295] thực hiện đúng lúc. Do đó, những người hoạt động của Thánh Đoàn phải biểu đạt nhu cầu chân thật trong hình tướng, thích hợp với khả năng ghi nhận của nhân loại vào lúc này.

The creative work of expression does not consequently concern the development and personal progress of the initiate. He has been taken into the Ashram because of his development and because of the contribution he should be able to make to the ashramic creative purpose. What, as a neophyte, he “touched” because of what he could gain spiritually for himself (and this with sound motive) has now become that which must be expressed in the field of service of the initiate, exacting from him all that he has and leaving him nothing for the separated self.

Do đó, công việc sáng tạo của sự biểu đạt không liên quan đến sự phát triển và bước tiến cá nhân của điểm đạo đồ. Y đã được nhận vào ashram sự phát triển của y và đóng góp mà y phải có khả năng thực hiện cho mục đích sáng tạo của ashram. Điều mà khi còn là người sơ cơ, y đã “chạm” đến vì những gì y có thể đạt được về mặt tinh thần cho chính mình (và điều này với động cơ đúng đắn), giờ đây đã trở thành điều phải được biểu đạt trong lĩnh vực phụng sự của điểm đạo đồ, đòi hỏi nơi y tất cả những gì y có và không để lại cho cái ngã biệt lập điều gì.

A great creative activity involving all Ashrams—major and minor—is now being planned in the hierarchical assembly, and the work of all waiting and attentive disciples is to make that creative plan successful through its full expression upon the physical plane. This they must do through their grouped and blended activities, which will embody the full expression of all that they have achieved and gained in the earlier stages of their individual unfoldment. Thus you will see that from God the Creator of all that Is, down to the humblest disciple in the hierarchical center, the theme of creativity dominates and is the expression (again occultly understood) of the divine intention. At present, what is called creative work by men is in reality an expression of themselves and of their appreciation of beauty as they see it, of truth as they grasp it, of psychology as they interpret it, of nature as they scientifically interpret it. According to their spiritual development and their intelligent perception, so will be the quality and the nature of their expression—but it will be theirs.

Một hoạt động sáng tạo lớn lao, liên quan đến mọi ashram—lớn và nhỏ—hiện đang được hoạch định trong hội đồng của Thánh Đoàn, và công việc của tất cả các đệ tử đang chờ đợi và chăm chú là làm cho kế hoạch sáng tạo ấy thành công, qua sự biểu lộ trọn vẹn của nó trên cõi hồng trần. Họ phải làm điều này bằng các hoạt động tập thể và hòa quyện của mình, những hoạt động sẽ thể hiện sự biểu lộ trọn vẹn của tất cả những gì họ đã thành tựu và đạt được trong các giai đoạn trước của sự khai mở cá nhân. Như vậy, các bạn sẽ thấy rằng từ Thượng đế, Đấng Sáng Tạo của tất cả những gì Hiện Tồn, cho đến người đệ tử khiêm tốn nhất trong trung tâm của Thánh Đoàn, chủ đề sáng tạo vẫn chi phối và là sự biểu lộ—một lần nữa, được hiểu theo nghĩa huyền bí—của ý định thiêng liêng. Hiện nay, điều mà con người gọi là công việc sáng tạo, trong thực tế, là sự biểu lộ của chính họ và của sự cảm nhận cái đẹp như họ thấy nó, của chân lý như họ nắm bắt nó, của tâm lý học như họ diễn giải nó, của thiên nhiên như họ diễn giải nó một cách khoa học. Tùy theo sự phát triển tinh thần và nhận thức thông minh của họ mà phẩm tính và bản chất của sự biểu lộ ấy sẽ như thế—nhưng nó sẽ là của họ.

In the case of hierarchical workers however, the situation is different. They work to express that which the Ashram, through its group of workers, is seeking to express; they seek to express the Plan, or as much of it as they can grasp; they are occupied with the expression of soul as that soul should be known in the culture and the civilization [Page 296] immediately to be developed. They can work entirely free from self-interest; that which they create is not claimed by them but is regarded as an expression of hierarchical activity; they are free from the spirit to identify themselves with that which they expressed, but—having created that which their ashramic impulse has indicated—they pass on to a fresh expression of the dynamic, ever-moving purpose. They are not occupied with form, but with life, with organism rather than organization, with ideas rather than ideals, and with essential truth rather than with carefully formulated theologies.

Tuy nhiên, trong trường hợp những người hoạt động của Thánh Đoàn, tình thế lại khác. Họ làm việc để biểu lộ điều mà ashram, thông qua nhóm người hoạt động của mình, đang tìm cách biểu lộ; họ tìm cách biểu lộ Thiên Cơ, hoặc phần nào của Thiên Cơ mà họ có thể nắm bắt; họ chuyên chú vào sự biểu lộ của linh hồn, như linh hồn ấy phải được biết đến trong nền văn hóa và nền văn minh [Page 296] sắp được phát triển ngay trước mắt. Họ có thể làm việc hoàn toàn thoát khỏi tư lợi; điều họ sáng tạo không được họ nhận là của riêng mình, mà được xem như một biểu lộ của hoạt động Thánh Đoàn; họ thoát khỏi khuynh hướng đồng hoá mình với điều họ đã biểu lộ, nhưng—sau khi đã sáng tạo điều mà xung lực ashram của họ đã chỉ ra—họ tiếp tục tiến tới một biểu lộ mới của mục đích năng động, luôn vận động. Họ không bận tâm đến hình tướng, mà đến sự sống; đến cơ thể sống hơn là tổ chức; đến các ý tưởng hơn là các lý tưởng; và đến chân lý cốt yếu hơn là các hệ thần học được diễn đạt cẩn trọng.

Christ expressed in Himself and refrained from putting it into form; He Himself was the truth, yet inevitably (because of its inherent life) that which He expressed took form and has greatly modified and colored human thinking and planning, and this will be increasingly so. As the essence of Christianity emerges into expression (and in so doing destroys Churchianity) you have again a striking illustration of the truth of what I am seeking to emphasize. In the Christian Church, men have expressed themselves, not the Christ; they have imposed their interpretations of truth on truth itself; they have created a massive organization in every land but a living organism is non-existent. In the new world religion which is on its way, Christianity will be expressed through the creative activity of the Christ spirit through the medium of the world disciples and initiates; we shall then see the full expression of hierarchical truth—of which the Christ today is the symbol and exponent.

Đức Christ đã biểu lộ điều đó trong chính Ngài và tránh đặt nó vào hình tướng; chính Ngài là chân lý, tuy nhiên, tất yếu—do sự sống nội tại của nó—điều Ngài biểu lộ đã mang lấy hình tướng, đã biến đổi và nhuộm màu sâu sắc tư tưởng cùng kế hoạch của nhân loại, và điều này sẽ ngày càng gia tăng. Khi tinh hoa của Kitô giáo xuất hiện thành biểu lộ—và khi làm như vậy, phá hủy chủ nghĩa giáo hội—các bạn lại có một minh họa nổi bật cho chân lý mà tôi đang tìm cách nhấn mạnh. Trong Giáo hội Kitô giáo, con người đã biểu lộ chính họ, chứ không phải Đức Christ; họ đã áp đặt các diễn giải của mình về chân lý lên chính chân lý; họ đã tạo ra một tổ chức đồ sộ tại mọi quốc gia, nhưng một cơ thể sống thì không hiện hữu. Trong tôn giáo thế giới mới đang trên đường xuất hiện, Kitô giáo sẽ được biểu lộ qua hoạt động sáng tạo của tinh thần Đức Christ, thông qua phương tiện là các đệ tử và điểm đạo đồ thế giới; khi ấy chúng ta sẽ thấy sự biểu lộ trọn vẹn của chân lý Thánh Đoàn—mà ngày nay Đức Christ là biểu tượng và vị diễn giải.

Neophytes and aspirants have “touched” that for which the Christ stood, and have then attempted to impose their comprehension of that which they contacted upon the rest of the world. Knowers, disciples and initiates express that which He represented (love-wisdom). This they do automatically and by force of habit, first in themselves and finally by a definitely planned creative activity in the outer world.

Những người sơ cơ và người chí nguyện đã “chạm đến” điều mà Đức Christ đại diện, rồi sau đó đã cố áp đặt sự hiểu biết của họ về điều họ tiếp xúc lên phần còn lại của thế giới. Các thức giả, đệ tử và điểm đạo đồ biểu lộ điều mà Ngài đã đại diện: Bác Ái – Minh Triết. Họ làm điều này một cách tự nhiên và theo sức mạnh của thói quen, trước hết trong chính họ và cuối cùng bằng một hoạt động sáng tạo được hoạch định rõ ràng trong thế giới bên ngoài.

Therefore, my brothers, there lies ahead of all true aspirants an intermediate stage of decentralization, of automatic spiritual living and of absorption into the Hierarchy [Page 297] through the medium of an Ashram; therein the Plan can be learnt. When this phase of development is completed the disciple can then begin to work creatively in line with hierarchical activity.

Các huynh đệ của tôi, do đó, trước mắt mọi người chí nguyện chân chính còn có một giai đoạn trung gian của sự phi tập trung vào bản thân, của đời sống tinh thần tự nhiên và của sự hấp thụ vào Thánh Đoàn [Page 297] thông qua phương tiện là một ashram; trong đó, Thiên Cơ có thể được học biết. Khi giai đoạn phát triển này hoàn tất, bấy giờ đệ tử có thể bắt đầu làm việc một cách sáng tạo theo đường lối hoạt động của Thánh Đoàn.

As we consider the next word on our list, we must hold in our minds what we have discussed anent the words Touch and Express. It might be said that the words which are given to aspirants and applicants are the seed or germ of the concepts indicated in the words for initiates and disciples. Until the earlier significances are mastered in the earlier phases of discipleship, the later illumined service—based upon the later words—is not possible. Always in the fresh attitude to the developing esoteric understanding of the initiate there is implicit the fact of transition from individual self-interest to a universal state of consciousness; this in time becomes the directing agent for individualized service—as rendered by the individual disciple upon the physical plane. The fusion of the two attitudes—inclusive realization and specialized service—renders the task of the initiate peculiarly difficult. He has to hold two attitudes simultaneously, whilst at the same time subjecting himself to the training required in order to enable him to take his next step forward upon the Path. It is only whilst this condition persists that the initiate has any sense of triplicity. This is an important point to note. Bear this in mind as we discuss our next two words: See and Reveal.

Khi chúng ta xem xét từ kế tiếp trong danh sách, chúng ta phải giữ trong trí những gì đã bàn đến liên quan đến các từ Chạm và Biểu Lộ. Có thể nói rằng những từ được trao cho người chí nguyện và người xin nhập môn là hạt giống hay mầm mống của các khái niệm được chỉ ra trong những từ dành cho điểm đạo đồ và đệ tử. Chừng nào các thâm nghĩa ban đầu còn chưa được làm chủ trong những giai đoạn đầu của địa vị đệ tử, thì việc phụng sự được soi sáng về sau—dựa trên các từ về sau—vẫn chưa thể có được. Trong thái độ mới mẻ đối với sự thấu hiểu huyền bí đang phát triển của điểm đạo đồ, luôn hàm chứa sự kiện chuyển tiếp từ tư lợi cá nhân sang một trạng thái tâm thức phổ quát; theo thời gian, điều này trở thành tác nhân chỉ đạo cho sự phụng sự đã được biệt ngã hóa—như đệ tử cá nhân thực hiện trên cõi hồng trần. Sự dung hợp của hai thái độ—sự chứng nghiệm bao gồm và sự phụng sự chuyên biệt—khiến nhiệm vụ của điểm đạo đồ trở nên đặc biệt khó khăn. Y phải giữ đồng thời hai thái độ, trong khi cùng lúc đặt mình dưới sự huấn luyện cần thiết để giúp y có thể bước bước kế tiếp trên Đường Đạo. Chỉ khi tình trạng này còn tiếp diễn thì điểm đạo đồ mới có bất cứ ý thức nào về bộ ba. Đây là một điểm quan trọng cần lưu ý. Hãy ghi nhớ điều này khi chúng ta bàn đến hai từ kế tiếp: Thấy và Mặc Khải.

3. Reveal

3. Mặc Khải

The objective of the strictly human evolution in this planetary cycle is sight, culminating in that spiritual perception which is the major gift of the soul to the personality when contact is made; this conveys the sense of attractive love, indicates the nature of things, reveals the world of meaning, and gives the great gift of light, knowledge and ultimate illumination. Such are the goals for the mystic, the aspirant and the pledged disciple. The greatest physical gift is that of sight, and it is the same upon a higher turn of the spiral within the world of the soul. When the disciple has achieved a measure of vision and is “in sight” of his goal, he [Page 298] can then be admitted to an Ashram wherein the nature of revelation can be made known to him. Men are apt to confuse vision and revelation, and I seek to clarify your minds somewhat on this matter; therefore, the preceding sentence is of major importance. Aspirants are prone to think that the goal towards which they move is that of soul contact, with a secondary goal of hierarchical position, and a third goal of service. This, however, is not correct.

Mục tiêu của cuộc tiến hoá thuần túy nhân loại trong chu kỳ hành tinh này là thị giác, đạt đến đỉnh điểm trong nhận thức tinh thần, vốn là món quà lớn lao của linh hồn dành cho phàm ngã khi sự tiếp xúc được thiết lập; điều này truyền đạt ý thức về tình thương hấp dẫn, chỉ ra bản chất của vạn vật, mặc khải Thế giới của ý nghĩa, và ban tặng món quà lớn lao của ánh sáng, tri thức và sự soi sáng tối hậu. Đó là các mục tiêu dành cho nhà thần bí, người chí nguyện và đệ tử đã phát nguyện. Món quà hồng trần lớn nhất là thị giác, và điều này cũng đúng trên một vòng xoắn cao hơn trong thế giới của linh hồn. Khi đệ tử đã đạt được một mức độ nào đó của tầm nhìn và đang “trông thấy” mục tiêu của mình, y [Page 298] bấy giờ có thể được thu nhận vào một ashram, nơi bản chất của sự mặc khải có thể được làm cho y biết đến. Con người thường dễ nhầm lẫn tầm nhìn với sự mặc khải, và tôi tìm cách làm sáng tỏ phần nào trí tuệ của các bạn về vấn đề này; do đó, câu trước có tầm quan trọng lớn. Những người chí nguyện thường có khuynh hướng nghĩ rằng mục tiêu mà họ hướng tới là sự tiếp xúc với linh hồn, với mục tiêu phụ là vị trí trong Thánh Đoàn, và mục tiêu thứ ba là phụng sự. Tuy nhiên, điều này không đúng.

The goal ahead of the aspirant is the consciousness of non-separateness and the recognition of a universal inclusiveness; the secondary goal is the ability to reveal the nature of that reality, Unity; the third goal is the ability to take those measures in the three worlds which will facilitate mankind’s apprehension of these fundamentals. You will note how this last definition of the goal removes inevitably the factor of self-interest in its entirety. It might therefore be said that revelation concerns Oneness and nothing else. The practical nature of this truth is only recognized when the disciple attempts to do two things: to realize it individually, and to bring the nature of planetary unity and of non-separateness to the minds and into the lives of men everywhere.

Mục tiêu trước mắt người chí nguyện là tâm thức về sự không chia rẽ và sự nhận biết về một tính bao gồm phổ quát; mục tiêu phụ là năng lực mặc khải bản chất của thực tại ấy, tức Nhất Tính; mục tiêu thứ ba là năng lực thực hiện những biện pháp trong ba cõi thấp, nhờ đó tạo thuận lợi cho nhân loại nắm bắt các nền tảng này. Các bạn sẽ lưu ý cách định nghĩa cuối cùng này về mục tiêu tất yếu loại bỏ hoàn toàn yếu tố tư lợi. Vì vậy, có thể nói rằng sự mặc khải liên quan đến Nhất Tính và không gì khác. Bản chất thực tiễn của chân lý này chỉ được nhận ra khi đệ tử cố gắng làm hai việc: chứng nghiệm nó một cách cá nhân, và đưa bản chất của sự hợp nhất hành tinh cùng sự không chia rẽ vào trí tuệ và đời sống của con người ở khắp nơi.

The work of the aspirant is to see the light; only when this has become a fact in his consciousness can he begin to grasp the hidden revelation which that contacted and utilized light can reveal. Here is another key sentence for your consideration.

Công việc của người chí nguyện là thấy ánh sáng; chỉ khi điều này đã trở thành một sự kiện trong tâm thức của y, y mới có thể bắt đầu nắm bắt sự mặc khải ẩn tàng mà ánh sáng đã được tiếp xúc và sử dụng ấy có thể hé lộ. Đây là một câu then chốt khác để các bạn suy ngẫm.

With the theme of light, of vision, and of illumination, I seek not here to deal. I have covered these subjects at length in the books which I have written, and they have also constituted the earnest search of the mystics of all time; and also the Scriptures and the literature of all nations give much information. It is the subject of revelation and the task of the initiate to reveal with which I am concerned. The disciple, who represents the Ashram, must reveal to humanity the essential unity underlying all creation. This he does, first of all, by acting like a clear sheet of glass through which all may see the reality of Oneness as it demonstrates [Page 299] in practicing operation. When he has, through his own life and words, demonstrated his conscious participation in this basic unity, he passes on to practice ashramic methods of making this fundamental truth still more apparent. You can here see why—as a hierarchical technique—we brought to the attention of the general public the fact of the existence of the New Group of World Servers. They offer a practical expression of an existent unity, based upon oneness of motive, of recognition, of orientation (towards the spiritual world and towards the service of humanity), of methods and of ideas; and all this in spite of the fact that the physical plane relationship is usually non-existent and outer organization and recognition lack. The unity is subjective, and for that reason is impervious to every taint of separateness.

Với chủ đề về ánh sáng, về tầm nhìn và về sự soi sáng, ở đây Tôi không tìm cách bàn đến. Tôi đã đề cập những chủ đề này rất dài trong các sách mà Tôi đã viết, và chúng cũng đã là cuộc tìm kiếm tha thiết của các nhà thần bí trong mọi thời đại; đồng thời, Thánh Kinh và văn học của mọi dân tộc cũng cung cấp nhiều thông tin. Điều Tôi quan tâm là chủ đề về sự mặc khải và nhiệm vụ mặc khải của điểm đạo đồ. Đệ tử, người đại diện cho ashram, phải mặc khải cho nhân loại sự hợp nhất cốt yếu nằm bên dưới toàn thể cuộc sáng tạo. Trước hết, y thực hiện điều này bằng cách hành động như một tấm kính trong suốt, qua đó tất cả có thể thấy thực tại của Nhất Thể khi nó biểu hiện [Page 299] trong hoạt động thực tiễn. Khi, qua chính đời sống và lời nói của mình, y đã chứng minh sự tham dự có ý thức của mình vào sự hợp nhất căn bản này, y chuyển sang thực hành các phương pháp ashram để làm cho chân lý nền tảng này càng trở nên hiển nhiên hơn. Ở đây các bạn có thể thấy vì sao—như một kỹ thuật của Thánh đoàn—chúng tôi đã đưa sự kiện về sự hiện hữu của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đến sự chú ý của công chúng rộng rãi. Họ đem lại một biểu hiện thực tiễn của một sự hợp nhất đang hiện hữu, đặt nền trên sự đồng nhất về động cơ, về sự nhận biết, về định hướng hướng tới thế giới tinh thần và hướng tới việc phụng sự nhân loại, về phương pháp và về ý tưởng; và tất cả điều này vẫn đúng mặc dù mối liên hệ trên cõi hồng trần thường không hiện hữu, còn tổ chức và sự thừa nhận bên ngoài thì thiếu vắng. Sự hợp nhất ấy có tính chủ quan, và vì lý do đó, không thấm nhiễm bất cứ vết nhơ nào của sự chia rẽ.

The inner organization, to which we have given the name of the New Group of World Servers for the sake of recognition and identification, cannot be broken or in any way diminished, for it is constructed around a major principle of evolutionary growth which—when attained—indicates a registered consciousness of unity; this is something which, once recorded and known, cannot be lost or disproved. Once seen and realized, it becomes as much a fact in its possessor’s consciousness as the recognition and utilization of his own physical body. This he knows to be a complex organism which constitutes a functioning unity through the medium of the life principle; it is an incontrovertible fact in the realization of the intelligent man.

Tổ chức bên trong, mà chúng tôi đã đặt tên là Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian nhằm mục đích nhận biết và nhận diện, không thể bị phá vỡ hay bị suy giảm theo bất cứ cách nào, vì nó được xây dựng quanh một nguyên lý lớn của sự tăng trưởng thăng thượng tiến hoá, nguyên lý mà—khi đạt được—cho thấy một tâm thức về sự hợp nhất đã được ghi nhận; đây là điều mà một khi đã được ghi lại và được biết đến thì không thể mất đi hay bị bác bỏ. Một khi đã được thấy và nhận ra, nó trở thành một sự kiện trong tâm thức của người sở hữu nó, cũng như sự nhận biết và sử dụng thể xác của chính y. Y biết thể xác ấy là một cơ cấu phức tạp tạo nên một sự hợp nhất đang vận hành qua trung gian của nguyên khí sự sống; đó là một sự kiện không thể tranh cãi trong sự nhận biết của con người thông minh.

When, therefore, sight has been attained and the light streams forth, revelation of the oneness of all life is a simple and immediate occurrence; it comes first of all to the disciple as a flash of wondrous informative and instinctive realization and then steadies down, as progress is made, into a constant apprehension and appreciation; it eventually produces the motivating impulse of all action.

Do đó, khi thị giác đã đạt được và ánh sáng tuôn trào, sự mặc khải về tính duy nhất của mọi sự sống là một sự kiện đơn giản và tức thời; trước hết nó đến với đệ tử như một tia chớp của sự nhận biết kỳ diệu, đầy thông tin và bản năng, rồi khi tiến bộ được thực hiện, nó ổn định thành một sự lĩnh hội và trân trọng thường hằng; cuối cùng nó tạo ra xung lực thúc đẩy mọi hành động.

What is the immediate revelation which the initiates and the disciples of the world are seeking to bring to humanity? What aspect of this essential unity are they [Page 300] endeavoring to make simple and apparent? One of the easiest things in the world to say (as has, for instance, Krishnamurti) is that life is one; that there is nothing but unity. That is a trite formulation of a very ancient truth, and one which is today an occult platitude. But life is not yet one in consciousness, however true it may be in fact. The reason for this is that life is loving synthesis in action, and of that there is little today in demonstration. We have life in activity but love, based on realized unity and leading to expressed synthesis, is still absent. The vision of it is, however, upon the horizon of many, for in these days many are attaining sight and light is pouring in. Revelation will come when the world disciples and initiates have perfected the art of revelation.

Sự mặc khải tức thời mà các điểm đạo đồ và các đệ tử của thế giới đang tìm cách đem đến cho nhân loại là gì? Phương diện nào của sự hợp nhất cốt yếu này mà họ [Page 300] đang nỗ lực làm cho trở nên đơn giản và hiển nhiên? Một trong những điều dễ nói nhất trên đời, như chẳng hạn Krishnamurti đã nói, là sự sống là một; rằng không có gì ngoài sự hợp nhất. Đó là một công thức sáo mòn của một chân lý rất cổ xưa, và ngày nay là một điều sáo mòn trong huyền bí học. Nhưng sự sống vẫn chưa là một trong tâm thức, dù trên thực tế điều ấy có thể đúng. Lý do là vì sự sống là sự tổng hợp thương yêu trong hành động, và ngày nay điều đó rất ít được biểu hiện. Chúng ta có sự sống trong hoạt động, nhưng tình thương, đặt nền trên sự hợp nhất đã được nhận ra và dẫn đến sự tổng hợp được biểu hiện, vẫn còn vắng bóng. Tuy nhiên, tầm nhìn về điều ấy đang hiện ra nơi chân trời của nhiều người, vì trong những ngày này nhiều người đang đạt được thị giác và ánh sáng đang tuôn vào. Sự mặc khải sẽ đến khi các đệ tử và điểm đạo đồ thế giới đã hoàn thiện nghệ thuật mặc khải.

The task ahead is simple. The important aspect, at this time, of the basic oneness underlying all forms, and which the workers of today must immediately emphasize, is the fact of the, of the planetary Hierarchy. The citizens of that kingdom and the members of that Hierarchy are gathered out of every nation, every political party, every social group, every religious cult or sect, and every organization—no matter what their expressed objectives—and the universality of the field from which these people emerge, demonstrates their underlying unity. When this unity assumes adequate proportions in the eyes of mankind, a real synthesis will follow.

Nhiệm vụ phía trước thì đơn giản. Phương diện quan trọng, vào lúc này, của sự duy nhất căn bản nằm bên dưới mọi hình tướng, và là điều mà những người hoạt động ngày nay phải lập tức nhấn mạnh, là sự kiện về Thiên Giới, về Thánh đoàn hành tinh. Các công dân của giới ấy và các thành viên của Thánh đoàn ấy được quy tụ từ mọi quốc gia, mọi đảng phái chính trị, mọi nhóm xã hội, mọi giáo phái hay tông phái tôn giáo, và mọi tổ chức—bất kể các mục tiêu được nêu ra của họ là gì—và tính phổ quát của trường vực mà từ đó những người này xuất hiện chứng minh sự hợp nhất nằm bên dưới họ. Khi sự hợp nhất này đạt đến những tỉ lệ thích đáng trong mắt nhân loại, một sự tổng hợp thật sự sẽ theo sau.

Therefore the call goes out at this time for hierarchical workers to reveal with greater emphasis the fact of the Hierarchy. This—if done on a large scale and through proper organization—will destroy on a large scale the present world structure in the field of religion, of economics, and of politics; it is already doing so. An increase of pressure on the part of all who recognize the factual nature of the inner subjective of God, will produce amazing results. This kingdom, through its major power (a quality of synthesis, could you but realize it), is gathering together into itself men and women out of every nation and out of all parts of the Earth. It is absorbing them into itself not [Page 301] because they are orthodox or religious in the generally accepted sense of the term, but because of their quality. Simultaneously, as their numbers increase, a reverse movement is taking place. Men are moving outward on to the physical plane, and doing this as a group in order to prove the factual nature of the world of unity into which they have succeeded in penetrating. They, therefore, are demonstrating oneness and synthesis in such a simple way that men everywhere can grasp it. The New Group of World Servers is the vanguard of the, the living proof of the existence of the world of spiritual Oneness.

Vì vậy, vào lúc này lời kêu gọi vang lên để những người hoạt động của Thánh đoàn mặc khải với sự nhấn mạnh lớn hơn về sự kiện của Thánh đoàn. Điều này—nếu được thực hiện trên quy mô lớn và qua tổ chức đúng đắn—sẽ phá hủy trên quy mô lớn cơ cấu thế giới hiện tại trong lĩnh vực tôn giáo, kinh tế và chính trị; nó đã và đang làm như thế. Sự gia tăng áp lực từ phía tất cả những ai nhận ra bản chất xác thực của Thiên Giới nội tâm chủ quan, sẽ tạo ra những kết quả đáng kinh ngạc. Giới này, nhờ quyền năng chủ yếu của nó, một phẩm tính của sự tổng hợp nếu các bạn có thể nhận ra, đang quy tụ vào chính nó những người nam và nữ từ mọi quốc gia và từ mọi phần của Trái Đất. Nó thu hút họ vào chính nó không [Page 301] phải vì họ chính thống hay có tính tôn giáo theo nghĩa thường được chấp nhận của thuật ngữ ấy, mà vì phẩm tính của họ. Đồng thời, khi số lượng của họ gia tăng, một chuyển động ngược chiều đang diễn ra. Con người đang tiến ra ngoài trên cõi hồng trần, và làm điều này như một nhóm để chứng minh bản chất xác thực của thế giới hợp nhất mà họ đã thành công thâm nhập. Do đó, họ đang chứng minh sự duy nhất và sự tổng hợp theo một cách đơn giản đến nỗi con người ở khắp nơi có thể nắm bắt được. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian là đội tiên phong của Thiên Giới, bằng chứng sống về sự hiện hữu của thế giới Nhất Thể tinh thần.

To all applicants the call has gone out to see the Christ as He is, in order (as The New Testament puts it) that “as He is, so should we be in the world.” To disciples and initiates the call goes out to reveal to the world the grouped formation of all spiritual workers, the nature of the Christ consciousness which knows no separation, which recognizes, all men everywhere as Sons of God in process of expression. This is all desired because of the need to emphasize the all-inclusive approach of divinity to humanity. These working disciples and initiates regard all as essentially one and as brothers, which repudiates all man-made theologies (religious, scientific, political or economic) and says to all men everywhere: “We are all the children of God; we are all equally divine; we are all on our way to the revelation of divinity, and this upon the physical plane of existence; it is what we reveal that is of importance; what is revealed to us is of lesser importance, though it has its due place in the process of training and perfecting.”

Đối với tất cả những người xin gia nhập, lời kêu gọi đã vang lên là hãy thấy Đức Christ như chính Ngài, để, như Tân Ước diễn đạt, “Ngài như thế nào, chúng ta cũng phải như thế ấy trong thế gian.” Đối với các đệ tử và điểm đạo đồ, lời kêu gọi vang lên là hãy mặc khải cho thế giới đội hình tập thể của tất cả những người hoạt động tinh thần, bản chất của tâm thức Đức Christ vốn không biết đến sự chia rẽ, vốn nhận ra mọi người ở khắp nơi là các Con của Thượng đế đang trong tiến trình biểu hiện. Tất cả điều này được mong muốn vì nhu cầu nhấn mạnh phương thức tiếp cận bao gồm tất cả của thiên tính đối với nhân loại. Những đệ tử và điểm đạo đồ đang hoạt động này xem tất cả về bản chất là một và là huynh đệ, điều ấy bác bỏ mọi thần học do con người tạo ra, dù là tôn giáo, khoa học, chính trị hay kinh tế, và nói với mọi người ở khắp nơi rằng: “Tất cả chúng ta đều là con cái của Thượng đế; tất cả chúng ta đều thiêng liêng như nhau; tất cả chúng ta đều đang trên đường đi đến sự mặc khải thiên tính, và điều này diễn ra trên cõi hồng trần của sự hiện tồn; điều chúng ta mặc khải mới là điều quan trọng; điều được mặc khải cho chúng ta thì ít quan trọng hơn, dù nó có vị trí thích đáng trong tiến trình rèn luyện và hoàn thiện.”

There is an old catechism which seeks to make clear to the neophyte upon the verge of acceptance the distinction and the difference between vision and revelation. It is falling somewhat into disuse, owing to the fact that the applicant today starts on a much higher turn of the spiral than he did at the time the “form of interrogation” was compiled. I would like, however, to quote one or two of the questions and answers for the instruction of present-day aspirants. [Page 302]

Có một bản vấn đáp giáo lý cổ tìm cách làm rõ cho người sơ cơ đang ở ngưỡng được chấp nhận sự phân biệt và sự khác nhau giữa tầm nhìn và sự mặc khải. Nó đang phần nào không còn được sử dụng, bởi vì ngày nay người xin gia nhập khởi đầu trên một vòng xoắn ốc cao hơn nhiều so với y vào thời “hình thức vấn đáp” ấy được biên soạn. Tuy nhiên, Tôi muốn trích dẫn một vài câu hỏi và trả lời để huấn thị những người chí nguyện ngày nay. [Page 302]

A Catechism

Một Bản Vấn Đáp Giáo Lý

What dost thou see, O disciple on the Path?

Con thấy gì, hỡi đệ tử trên Đường Đạo?

Naught but myself, O Master of my life.

Không gì ngoài chính con, bạch Chân sư của đời con.

Look closer at thyself and speak again. What seest thou?

Hãy nhìn chính con kỹ hơn và nói lại. Con thấy gì?

A point of light which waxes and which wanes and makes the darkness darker.

Một điểm sáng lúc lớn lúc nhỏ và làm cho bóng tối càng tối hơn.

Look with intense desire towards the dark and, when the light shines forth grasp opportunity. What now appears?

Hãy nhìn vào bóng tối với ước muốn mãnh liệt và, khi ánh sáng chiếu ra, hãy nắm lấy cơ hội. Giờ đây điều gì hiện ra?

A horrid sight, O Master of my life. I like it not. It is not true. I am not this or that. This evil selfish thing, it is not me. I am not this.

Một cảnh tượng kinh khiếp, bạch Chân sư của đời con. Con không thích nó. Nó không thật. Con không phải là cái này hay cái kia. Cái vật tà ác ích kỷ này, nó không phải là con. Con không phải là cái này.

Turn on the light with will and power and fierce desire, and then recount the vision that may come. What seest thou?

Hãy bật lên ánh sáng bằng ý chí, quyền năng và khát vọng mãnh liệt, rồi thuật lại linh ảnh có thể hiện đến. Bạn thấy gì?

Beyond the dark, revealed to me by means of light, I see a radiant form which beckons me. What is this Being, standing gracious in the dark and in the light? Is it and can it be my self?

Vượt ngoài bóng tối, được ánh sáng khai mở cho tôi, tôi thấy một hình tướng rạng ngời đang vẫy gọi tôi. Hữu Thể này là gì, đứng đầy ân sủng trong bóng tối và trong ánh sáng? Đó có phải, và có thể là, bản ngã của tôi chăng?

What dawns upon thy sight as thou standest on the Way, O worn and tired disciple, yet triumphant in the light?

Điều gì ló dạng trước tầm nhìn của bạn khi bạn đứng trên Con Đường, hỡi đệ tử mỏi mòn và mệt nhọc, nhưng vẫn khải thắng trong ánh sáng?

A radiant shining form which is my Self, my soul. A dark and somber figure, yet old and wise, experienced and sad. This is my self, my lower self, my ancient tried appearance upon the ways of earth. These two stand face to face and in between, the burning ground… They move and merge… The Path comes to an end. The Way stretches before. Sight is attained, and in the light reality appears.

Một hình tướng sáng rạng, chính là Bản Ngã của tôi, linh hồn của tôi. Một dáng hình tối tăm và u trầm, nhưng cổ xưa và minh triết, từng trải và buồn thương. Đây là bản ngã của tôi, phàm ngã của tôi, sắc tướng cổ xưa đã được thử luyện của tôi trên những nẻo đường trần thế. Hai hình tướng này đứng mặt đối mặt, và ở giữa là vùng đất cháy… Chúng chuyển động và hòa nhập… Đường Đạo đi đến chỗ kết thúc. Con Đường trải rộng phía trước. Nhãn quan được thành tựu, và trong ánh sáng, thực tại hiện ra.

What canst thou now reveal, O Server on the Way?

Giờ đây bạn có thể mặc khải điều gì, hỡi Người Phụng Sự trên Con Đường?

Revelation comes through me, O Lord of Life. I see it not.

Sự mặc khải đến qua tôi, hỡi Chúa Tể Sự Sống. Tôi không thấy nó.

Why canst thou see it not? What hinders apprehension?

Vì sao bạn không thể thấy nó? Điều gì ngăn trở sự lĩnh hội?

Naught hinders me. I seek not sight for I have seen. My task is revelation. I seek naught for myself.

Không gì ngăn trở tôi. Tôi không tìm kiếm tầm nhìn, vì tôi đã thấy. Nhiệm vụ của tôi là sự mặc khải. Tôi không tìm kiếm điều gì cho bản thân.

What comes thy way for revelation? What hast thou to reveal?

Điều gì đến trên đường bạn để được mặc khải? Bạn phải mặc khải điều gì?

Only that which has for aeons long existed and has for aye been here. The Oneness of the Presence; the area [Page 303] of love; the living, loving, wise, inclusive One, enfolding all and being all and leaving naught outside.

Chỉ điều đã hiện hữu từ bao đại kiếp lâu dài và vẫn hằng ở đây. Tính Duy Nhất của Sự Hiện Diện; vùng [Page 303] của tình thương; Đấng Duy Nhất sống động, yêu thương, minh triết, bao gồm, ôm trọn tất cả, là tất cả và không để điều gì ở bên ngoài.

To whom must come this revelation, O Server of the world of living things?

Sự mặc khải này phải đến với ai, hỡi Người Phụng Sự của thế giới các sinh vật sống?

To all enfolded in the living, loving Presence; to those who all unknown to them maintain that Presence and for ever shall endure—as doth that Presence.

Đến với tất cả những ai được ôm trọn trong Sự Hiện Diện sống động và yêu thương; đến với những người, dù hoàn toàn không biết, vẫn duy trì Sự Hiện Diện ấy và sẽ mãi trường tồn—như chính Sự Hiện Diện ấy.

And who are those who live within that Presence but know it not?

Và những ai sống trong Sự Hiện Diện ấy mà không biết điều đó?

They are myself and thou, and still they are myself and still are all I meet. It is the one in every form who think mayhap that form is all; who living thus in time and space, see not the light or life within the form, who hide within, behind the veils, between the four and five (the four kingdoms in nature and the kingdom of God. A.A.B.) and see naught else. To them I must reveal the truth.

Họ là chính tôi và bạn, và họ vẫn là chính tôi, và vẫn là tất cả những người tôi gặp. Đó là Đấng Duy Nhất trong mọi hình tướng, có lẽ tưởng rằng hình tướng ấy là tất cả; những người, khi sống như thế trong thời gian và không gian, không thấy ánh sáng hay sự sống bên trong hình tướng, những người ẩn bên trong, sau các bức màn, giữa bốn và năm (bốn giới trong thiên nhiên và Thiên Giới. A.A.B.) và không thấy gì khác. Với họ, tôi phải mặc khải chân lý.

How will you do this hardest of all tasks, O triumphing disciple?

Bạn sẽ thực hiện nhiệm vụ khó khăn nhất trong mọi nhiệm vụ này bằng cách nào, hỡi đệ tử đang khải thắng?

By letting it be seen I am myself the truth; by living as a fragment of that Presence and seeing all its parts. And thus is revelation brought into the four and by the fifth.

Bằng cách để cho người ta thấy rằng chính tôi là chân lý; bằng cách sống như một mảnh của Sự Hiện Diện ấy và nhìn thấy mọi phần của nó. Và như thế, sự mặc khải được đưa vào bốn giới và nhờ giới thứ năm.

This is all that I can give you at this time upon the word and the injunction given to the initiate: Reveal. I would point out that it is not his task to reveal the world of symbols. The five senses and the mind principle are adequate to bring that about. It is not his task to reveal the world of meaning. That, the disciple arrives at and interprets as he develops soul consciousness. His is the task to reveal the world of significances, the world of reality and of essential truth. Because of the success of the evolutionary process, this latter task is growing, and more and more initiated revealers will be needed during the period immediately ahead. Forget not that the invocative appeal of the mass of men, and the intelligent voicing of demand by those prepared intelligently to move forward, will inevitably [Page 304] call forth the needed response and the needed revealers of reality.

Đây là tất cả những gì tôi có thể trao cho các bạn vào lúc này về từ ngữ và huấn lệnh được trao cho điểm đạo đồ: Hãy Mặc Khải. Tôi muốn chỉ ra rằng nhiệm vụ của y không phải là mặc khải thế giới của các biểu tượng. Năm giác quan và nguyên khí trí tuệ đủ để làm điều đó. Nhiệm vụ của y không phải là mặc khải thế giới của ý nghĩa. Đệ tử đạt đến và diễn giải thế giới ấy khi y phát triển tâm thức linh hồn. Nhiệm vụ của y là mặc khải thế giới của các thâm nghĩa, thế giới của thực tại và của chân lý cốt yếu. Do sự thành công của tiến trình tiến hoá, nhiệm vụ sau này đang tăng trưởng, và trong thời kỳ ngay trước mắt sẽ cần ngày càng nhiều những người mặc khải đã được điểm đạo. Đừng quên rằng lời khẩn cầu của đại chúng nhân loại, và sự cất tiếng thỉnh cầu một cách thông minh của những người đã được chuẩn bị để tiến lên một cách thông minh, chắc chắn sẽ [Page 304] khơi gọi đáp ứng cần thiết và những người mặc khải thực tại cần thiết.

The next word which we are to consider is one of the most difficult for me to explain. The reason for my difficulty is that you are all imbued with the ordinary ideas anent these familiar words, and therefore it is well-nigh impossible for me to convey their significances to you from the angle of the initiate-consciousness. Identified as you are with the form aspect and with life in the three worlds, it is hard for you to comprehend the state of mind and the type of awareness which distinguishes those who are free from these all-compelling forces in the three worlds which condition human beings, thus bringing about erroneous orientation and preventing what is really meant by spiritual perception. The attitude of the average man, and even of the average disciple, is that of one who looks in from the periphery towards the center, of one who is preoccupied with the shell of life and is not conscious of Reality as is a member of the Hierarchy.

Từ kế tiếp mà chúng ta sẽ xem xét là một trong những từ khó nhất đối với tôi để giải thích. Lý do cho sự khó khăn của tôi là tất cả các bạn đều thấm nhuần những ý tưởng thông thường liên quan đến các từ quen thuộc này, và vì vậy hầu như không thể để tôi truyền đạt cho các bạn các thâm nghĩa của chúng từ góc độ tâm thức điểm đạo đồ. Vì các bạn đang đồng hoá với phương diện hình tướng và với đời sống trong ba cõi giới, nên thật khó cho các bạn thấu hiểu trạng thái trí tuệ và loại nhận thức phân biệt những người đã thoát khỏi các mãnh lực có sức cưỡng bức toàn diện trong ba cõi giới, vốn tác động lên con người, từ đó tạo nên định hướng sai lầm và ngăn trở điều thực sự được hàm ý bởi tri giác tinh thần. Thái độ của con người trung bình, và ngay cả của đệ tử trung bình, là thái độ của kẻ nhìn từ chu vi hướng vào trung tâm, của kẻ bận tâm với lớp vỏ của sự sống và không có ý thức về Thực Tại như một thành viên của Thánh Đoàn.

Therefore, when I tell you that these words for initiates which constitute what I have called Rule XIV have a connotation quite different from that to which you are accustomed, I am propounding for you a most difficult problem. The true understanding is, I realize, not possible for you but much can be gained by your effort to comprehend. What you mean when you speak of the abstract mind is not exactly true to the facts; the effort to think abstractly is really an effort to think as far as possible as an initiate thinks who has transcended the concrete mind and thinks, or rather is aware, in terms of life and not of form, of being and not that which anchors being on the physical plane—or even in terms of consciousness, as you understand it. Forget not that I have elsewhere told you that consciousness (as grasped by the personality and the soul) has little relation to that form of living awareness which distinguishes the initiate who is essentially an expression of the Monad through the medium of the three aspects of the Spiritual Triad. This is peculiarly so in connection with the two [Page 305] words which remain for us to consider: Destroy and Resurrect.

Vì vậy, khi tôi nói với các bạn rằng những từ dành cho điểm đạo đồ này, vốn cấu thành điều tôi đã gọi là Quy luật mười bốn, có một hàm nghĩa hoàn toàn khác với điều các bạn đã quen thuộc, tôi đang đặt ra cho các bạn một vấn đề hết sức khó khăn. Tôi nhận ra rằng sự thấu hiểu đích thực là điều chưa thể có đối với các bạn, nhưng có thể thu hoạch nhiều nhờ nỗ lực của các bạn để thấu hiểu. Điều các bạn muốn nói khi nói về Trí trừu tượng không hoàn toàn đúng với sự thật; nỗ lực suy tư một cách trừu tượng thực ra là nỗ lực suy tư, trong mức tối đa có thể, như một điểm đạo đồ suy tư—người đã vượt lên trên trí cụ thể và suy tư, hay đúng hơn là nhận thức, theo các phạm trù của sự sống chứ không phải của hình tướng, của bản thể chứ không phải của điều neo giữ bản thể trên cõi hồng trần—thậm chí cũng không theo các phạm trù của tâm thức như các bạn hiểu. Đừng quên rằng ở nơi khác tôi đã nói với các bạn rằng tâm thức (như phàm ngã và linh hồn nắm bắt) ít liên hệ với hình thức nhận thức sống động vốn phân biệt điểm đạo đồ, người về căn bản là một biểu hiện của chân thần qua trung gian của ba phương diện của Tam Nguyên Tinh Thần. Điều này đặc biệt đúng liên quan đến hai [Page 305] từ còn lại để chúng ta xem xét: Hủy Diệt và Phục Sinh.

4. Destroy

4. Hủy Diệt

What is this destruction which the disciple and the initiate (under instruction from this final rule) is asked to bring about? What is he required to destroy? Why is this destruction ordered?

Sự hủy diệt mà đệ tử và điểm đạo đồ (theo sự chỉ huấn của quy luật cuối cùng này) được yêu cầu tạo ra là gì? Y được đòi hỏi phải hủy diệt điều gì? Vì sao sự hủy diệt này được truyền lệnh?

Let me start with a basic statement: Destruction or the power and the wish to destroy which is characteristic of the undeveloped man, of the average man and of the probationary disciple is based upon the following impelling influences:

Hãy để tôi bắt đầu bằng một phát biểu căn bản: Sự hủy diệt, hay quyền năng và ý muốn hủy diệt vốn là đặc tính của con người chưa phát triển, của con người trung bình và của đệ tử dự bị, đặt nền trên các ảnh hưởng thúc đẩy sau đây:

1. Lack of self-control along some line.

1. Thiếu tự chủ trên một phương diện nào đó.

2. Desire to attain one’s wishes by the removal of all obstacles.

2. Mong muốn đạt được các ước muốn của mình bằng cách loại bỏ mọi chướng ngại.

3. Violent emotional reaction.

3. Phản ứng cảm xúc mãnh liệt.

4. Revenge, hate, acquisitiveness and similar faults, based on lack of spiritual unfoldment.

4. Trả thù, thù hận, tính chiếm hữu và các lỗi lầm tương tự, đặt nền trên sự thiếu khai mở tinh thần.

5. The effort to remove hindrances within oneself, such as those implied in the rule for probationary disciples: Kill out desire.

5. Nỗ lực loại bỏ các chướng ngại bên trong chính mình, như những điều được hàm ý trong quy luật dành cho các đệ tử dự bị: Hãy diệt trừ dục vọng.

6. The deliberate destruction of all that prevents contact with the soul.

6. Sự hủy diệt có chủ ý đối với tất cả những gì ngăn trở sự tiếp xúc với linh hồn.

7. The destroying of all links which hold the spiritual man in the three worlds.

7. Sự phá hủy mọi mối liên kết giữ con người tinh thần trong ba cõi giới.

These motives for destruction are all related to desire, to emotion and also to aspiration, implemented (towards the end of the cycle which leads to the treading of the Probationary Path) by the lower concrete mind. They cover a familiar case history and one which is well known to every sincere aspirant, or one which is realized for what they are at a lower level of life expression by the man who pays the penalties involved by this type of destruction. I feel no necessity to enlarge on this mode of destroying to students such as those who read this Treatise. This type of destruction is concerned mainly with form life in the three worlds, with individual aspiration and enterprise (from the lowest [Page 306] groping physical desire up to the aspiration for conscious soul life), and with experiment and experience upon the three planes of ordinary human living.

Những động cơ hủy diệt này đều liên quan đến dục vọng, đến cảm xúc và cũng đến khát vọng, được trí cụ thể thấp thực hiện vào cuối chu kỳ dẫn đến việc bước vào Con Đường Dự Bị. Chúng bao quát một lịch sử trường hợp quen thuộc, vốn được mọi người chí nguyện chân thành biết rõ, hoặc được nhận ra đúng như bản chất của chúng ở một cấp độ biểu hiện sự sống thấp hơn bởi người phải trả những hình phạt gắn liền với loại hủy diệt này. Tôi thấy không cần phải bàn rộng thêm về phương thức hủy diệt này cho các đạo sinh như những người đọc Khảo luận này. Loại hủy diệt này chủ yếu liên quan đến đời sống hình tướng trong ba cõi thấp, đến khát vọng và hoạt động cá nhân (từ dục vọng hồng trần mò mẫm thấp nhất [Page 306] cho đến khát vọng hướng tới đời sống linh hồn hữu thức),đến sự thử nghiệm và kinh nghiệm trên ba cõi của đời sống nhân loại thông thường.

But in this word “destroy” given (as an expressed command) for those who are members of the Hierarchy or who have moved or are moving from an affiliated relationship on the periphery of that Hierarchy toward the center of activity and into close contact with some Ashram, the significance is very different.

Nhưng trong linh từ “hủy diệt” này, được ban ra như một mệnh lệnh rõ ràng cho những ai là thành viên của Thánh Đoàn, hoặc những ai đã chuyển dịch, hay đang chuyển dịch, từ một quan hệ liên thuộc ở chu vi của Thánh Đoàn ấy hướng về trung tâm hoạt động và đi vào sự tiếp xúc gần gũi với một ashram nào đó, thâm nghĩa lại rất khác.

The type of destruction here dealt with is never the result of desire; it is an effort of the spiritual will and is essentially an activity of the Spiritual Triad; it involves the carrying out of those measures which will hinder obstruction to God’s will; it is the furthering of those conditions which will destroy those who are attempting to prevent divine purpose from materializing as the Plan—for which the Hierarchy is responsible. Therefore, it is connected primarily with the relation of Shamballa to the Hierarchy, and not with the relation of the Hierarchy to Humanity. This is a formidable esoteric statement and its implications must be considered most carefully. This type of destruction has only a secondary relation to the destruction of form life as you know it. When steps are taken to implement divine purpose, the resultant effect may be the destroying of forms in the three worlds, but that is an effect and only a secondary destruction; something else has been destroyed on a higher level and outside the three worlds. This, in due time, may produce a form-reaction to which we may give the name of death. But the death of that form was not a primary objective and was not even considered, because it was not within the range of awareness of the destroyer.

Loại hủy diệt được đề cập ở đây không bao giờ là kết quả của dục vọng; đó là một nỗ lực của ý chí tinh thần và về bản chất là một hoạt động của Tam Nguyên Tinh Thần; nó bao hàm việc thi hành những biện pháp sẽ ngăn chặn sự cản trở đối với Ý Chí của Thượng đế; đó là việc thúc đẩy những điều kiện sẽ hủy diệt những kẻ đang tìm cách ngăn cản Thiên Ý hiện hình thành Thiên Cơ—điều mà Thánh Đoàn chịu trách nhiệm. Vì vậy, nó chủ yếu liên hệ đến quan hệ của Shamballa với Thánh Đoàn, chứ không phải quan hệ của Thánh Đoàn với Nhân loại. Đây là một phát biểu huyền bí đáng gờm, và những hàm ý của nó phải được xem xét hết sức cẩn trọng. Loại hủy diệt này chỉ có liên hệ thứ yếu với sự hủy diệt đời sống hình tướng như các bạn biết. Khi các bước được tiến hành để thực hiện Thiên Ý, hiệu quả phát sinh có thể là sự hủy diệt các hình tướng trong ba cõi thấp, nhưng đó là một hiệu quả và chỉ là một sự hủy diệt thứ yếu; một điều gì khác đã bị hủy diệt trên một cấp độ cao hơn và ở ngoài ba cõi thấp. Điều này, đúng lúc, có thể tạo ra một phản ứng nơi hình tướng mà chúng ta có thể gọi là cái chết. Nhưng cái chết của hình tướng ấy không phải là mục tiêu chính yếu và thậm chí không được xét đến, vì nó không nằm trong phạm vi nhận biết của người hủy diệt.

The higher destruction which we are considering is related to the destruction of certain forms of consciousness which express themselves in great areas or extensive thought-forms; these may have, in turn, conditioned human thinking. Perhaps the simplest illustration I can give you of this type of destruction would be concerned with the major ideologies which down the ages have conditioned or may [Page 307] condition humanity. These ideologies produce potent effects in the three worlds. This type of destruction affects those civilizations which condition the human family for long periods of time, which concern climatic conditions that predispose the forms in the four kingdoms to certain characteristics in time and space, which produce effects in the great world religions, in world politics and all other “conditioning forms of thinking.” Does this convey much or little in connection with the concepts which I am attempting to make clear?

Sự hủy diệt cao hơn mà chúng ta đang xem xét liên quan đến sự hủy diệt một số hình tướng tâm thức vốn tự biểu lộ trong những khu vực rộng lớn hoặc những hình tư tưởng bao la; đến lượt mình, những điều này có thể đã định hình tư tưởng nhân loại. Có lẽ minh họa đơn giản nhất mà tôi có thể đưa ra cho các bạn về loại hủy diệt này sẽ liên quan đến những hệ tư tưởng lớn, vốn qua các thời đại đã định hình, hoặc có thể [Page 307] định hình, nhân loại. Những hệ tư tưởng này tạo ra các hiệu quả mạnh mẽ trong ba cõi thấp. Loại hủy diệt này ảnh hưởng đến các nền văn minh vốn định hình gia đình nhân loại trong những thời kỳ dài, liên quan đến các điều kiện khí hậu khiến các hình tướng trong bốn giới thiên về một số đặc tính nào đó trong thời gian và không gian, tạo ra các hiệu quả trong những tôn giáo lớn của thế giới, trong chính trị thế giới và trong mọi “hình thức tư duy có tính định hình” khác. Điều này truyền đạt được nhiều hay ít liên quan đến những quan niệm mà tôi đang cố gắng làm sáng tỏ?

That which is destroyed, therefore, are certain group forms and these upon a large scale, this requires an exercise of the spiritual will to bring about, and does not require simply the withdrawing of the attention of the soul, the decision to vacate the form and the failure of the basic desire to perpetuate, which is what we imply when we speak of death in the three worlds. The lack of the will-to-live of which we so glibly speak has little relation, in reality, to the will itself; it refers only to its faint or distorted reflection in the three worlds; this is much more closely related to desire and aspiration than to pure will, as spiritually comprehended.

Vì vậy, điều bị hủy diệt là một số hình tướng nhóm, và là những hình tướng trên quy mô lớn; để tạo ra điều này cần đến việc vận dụng ý chí tinh thần, chứ không chỉ cần sự rút lui chú ý của linh hồn, quyết định rời bỏ hình tướng, và sự suy yếu của dục vọng căn bản muốn tự duy trì—đó là điều chúng ta hàm ý khi nói đến cái chết trong ba cõi thấp. Sự thiếu ý chí sống mà chúng ta thường nói quá dễ dàng, trong thực tế, rất ít liên quan đến chính ý chí; nó chỉ nói đến phản chiếu mờ nhạt hoặc méo mó của ý chí ấy trong ba cõi thấp; điều này liên hệ mật thiết hơn nhiều với dục vọng và khát vọng hơn là với ý chí thuần khiết, như được hiểu theo nghĩa tinh thần.

The Purpose of God (to use a familiar phrase) is that which implements the Plan. This purpose is the motivating life behind all that emanates from Shamballa and it is that which impulses all the activities of the Hierarchy; the task of the Hierarchy is to formulate the Plan for all forms of life in the three worlds and the four kingdoms in nature. This Plan, in time and space, is not in any way concerned with individual man or with the life of any microcosmic entity in any of the kingdoms of nature, but with the wholes, the cycles of time, with those vast plans of livingness which man calls history, with nations and races, with world religions and great political ideologies and with social organizations which produce permanent changes in types, constitutions, planetary areas and cyclic manifestations. It will therefore be obvious to you that from the standpoint of man’s little mind, these plans are well-nigh impossible to [Page 308] grasp. From the standpoint of the vision of the initiate who has developed or is developing the wider grasp and who can see and think and vision (I care not what word you choose) in terms of the Eternal Now, the significance is clear; at times, the initiate creates and then anchors a germ of livingness; at times he builds that which can house his living idea with its conditioning qualities; at times, when these have served their purpose, he definitely and deliberately destroys. The reference is necessarily ever to form; with the initiate it is, however, to the “formless form” which is always the subjective aspect of the tangible world. It must be remembered that from the point of view of esotericism, all forms in the three worlds are tangible, in contradistinction to forms in the two higher worlds of the Spiritual Triad.

Thiên Ý của Thượng đế, dùng một cụm từ quen thuộc, là điều thực hiện Thiên Cơ. Thiên Ý này là sự sống thúc đẩy phía sau mọi điều xuất phát từ Shamballa, và chính nó xung động mọi hoạt động của Thánh Đoàn; nhiệm vụ của Thánh Đoàn là kiến lập Thiên Cơ cho mọi hình tướng sự sống trong ba cõi thấp và trong bốn giới của thiên nhiên. Thiên Cơ này, trong thời gian và không gian, hoàn toàn không liên quan đến cá nhân con người hay đến sự sống của bất kỳ thực thể tiểu thiên địa nào trong bất cứ giới nào của thiên nhiên, mà liên quan đến các tổng thể, đến các chu kỳ thời gian, đến những kế hoạch bao la của sự sống động mà con người gọi là lịch sử, đến các quốc gia và các nhân loại, đến các tôn giáo thế giới và những hệ tư tưởng chính trị lớn, cùng các tổ chức xã hội tạo ra những thay đổi lâu dài trong các loại hình, hiến chế, vùng hành tinh và các biểu hiện chu kỳ. Vì vậy, đối với các bạn, hẳn sẽ hiển nhiên rằng từ lập trường của thể trí nhỏ bé của con người, những kế hoạch này hầu như không thể [Page 308] nắm bắt được. Từ lập trường tầm nhìn của điểm đạo đồ đã phát triển, hoặc đang phát triển, sự nắm bắt rộng lớn hơn, và có thể thấy, nghĩ và hình dung—tôi không quan tâm các bạn chọn từ nào—theo những phạm trù của Hiện Tại Vĩnh Cửu, thâm nghĩa trở nên rõ ràng; đôi khi, điểm đạo đồ sáng tạo rồi neo giữ một mầm của sự sống động; đôi khi y xây dựng điều có thể chứa đựng ý tưởng sống động của y cùng các phẩm tính định hình của nó; đôi khi, khi những điều này đã phụng sự xong mục đích của chúng, y dứt khoát và có chủ ý hủy diệt. Sự quy chiếu tất yếu luôn luôn là về hình tướng; tuy nhiên, đối với điểm đạo đồ, đó là “hình tướng vô tướng”, vốn luôn là phương diện chủ quan của thế giới hữu hình. Cần nhớ rằng từ quan điểm của huyền bí học, mọi hình tướng trong ba cõi thấp đều là hữu hình, đối lập với các hình tướng trong hai cõi cao hơn của Tam Nguyên Tinh Thần.

The destruction considered is that of the formless structure on which the grosser structure is built. Some understanding of this will come if you consider the relation of the four subplanes of the physical plane, the four etheric levels, and the three subplanes which we call the dense physical planes. These constitute our physical plane in its two aspects. This is only a reflection of the three planes of the three worlds and the four planes from the buddhic plane up to the logoic, which constitute the cosmic physical plane. The destruction considered by the initiate is connected with the subjective worlds of the four higher planes and the three worlds of human living, and of other forms of life such as the three subhuman kingdoms.

Sự hủy diệt đang được xét đến là sự hủy diệt cấu trúc vô tướng mà trên đó cấu trúc thô trược hơn được xây dựng. Một mức độ thấu hiểu nào đó về điều này sẽ đến nếu các bạn xem xét mối liên hệ giữa bốn cõi phụ của cõi hồng trần, bốn cấp độ dĩ thái, và ba cõi phụ mà chúng ta gọi là các cõi hồng trần đậm đặc. Những điều này cấu thành cõi hồng trần của chúng ta trong hai phương diện của nó. Đây chỉ là một phản chiếu của ba cõi thuộc ba cõi thấp và bốn cõi từ cõi Bồ đề lên đến cõi Thượng đế, vốn cấu thành cõi hồng trần vũ trụ. Sự hủy diệt mà điểm đạo đồ xét đến liên hệ với các thế giới chủ quan của bốn cõi cao hơn và với ba cõi của đời sống nhân loại, cũng như với những hình tướng sự sống khác như ba giới dưới nhân loại.

In the human family, death supervenes when the soul withdraws its consciousness thread and its life thread; this process of death is contained, however, entirely within the three worlds. The soul has its station on the higher levels of the mental plane, as well you know. In connection with the forms of expression to which I have referred above—cycles, civilizations, cultures, races, kingdoms in nature and so forth—their destruction is brought about from still higher sources than the three worlds in which they manifest. This destruction takes place under the direction of Shamballa as it evokes the will of the Hierarchy or some particular [Page 309] Ashram or some member of the Hierarchy in order to produce a predetermined result in the three worlds in line with the purpose of God. It might be said (accurately to a certain esoteric extent) that the destruction brought about in obedience to this fourth word in Rule XIV is the destruction of some aspect of the plan as it has been functioning in the three worlds, and this under divine purpose and intent.

Trong gia đình nhân loại, cái chết xảy đến khi linh hồn rút Sợi dây Tâm thức/thức tuyến và Sợi dây Sự Sống/sinh mệnh tuyến của mình; tuy nhiên, tiến trình chết này hoàn toàn nằm trong ba cõi thấp. Linh hồn có vị trí của nó trên các cấp độ cao hơn của cõi trí, như các bạn đều biết. Liên quan đến các hình thức biểu đạt mà tôi đã nói đến ở trên—các chu kỳ, các nền văn minh, các nền văn hóa, các giống dân, các giới trong thiên nhiên, v.v.—sự hủy diệt của chúng được gây ra từ những nguồn còn cao hơn ba cõi thấp nơi chúng biểu hiện. Sự hủy diệt này diễn ra dưới sự điều hướng của Shamballa khi Shamballa gợi lên ý chí của Thánh Đoàn hoặc của một [Page 309] ashram đặc thù nào đó, hoặc của một thành viên nào đó trong Thánh Đoàn nhằm tạo ra một kết quả đã được định trước trong ba cõi thấp, phù hợp với mục đích của Thượng đế. Có thể nói rằng, một cách chính xác đến một mức độ huyền bí nào đó, sự hủy diệt được thực hiện do tuân theo linh từ thứ tư này trong Quy luật XIV là sự hủy diệt một phương diện nào đó của Thiên Cơ như nó đã vận hành trong ba cõi thấp, và điều này diễn ra dưới mục đích và ý định thiêng liêng.

This destruction is not outwardly so conclusive as is death—on the physical plane—of a man, though that is not essentially the rapidly consummated process as is usually surmised. The physical form may die and disappear, but an inner process of dying of the subtler bodies supervenes and the death process is not complete until the astral and mental bodies have disintegrated and the man stands free in his causal or soul body. So it is, on a much larger scale, with the death or destruction of phases of the divine Plan, engineered by the Hierarchy in conformity with the divine Purpose. There is an overlapping between the building process and the destroying process. Dying civilizations are present in their final forms whilst new civilizations are emerging; cycles come and go and in the going overlap; the same is also found to be true in the emerging and disappearing of rays and races. Death, in the last analysis and from the standpoint of the average human being, is simply disappearance from the physical plane—the plane of appearances.

Sự hủy diệt này, xét bề ngoài, không dứt khoát như cái chết—trên cõi hồng trần—của một con người, dù cái chết ấy về bản chất cũng không phải là tiến trình hoàn tất nhanh chóng như người ta thường phỏng đoán. Hình tướng hồng trần có thể chết và biến mất, nhưng một tiến trình chết bên trong của các thể vi tế hơn xảy đến, và tiến trình chết chưa hoàn tất cho đến khi thể cảm dục và thể trí đã tan rã, và con người đứng tự do trong thể nguyên nhân hay thể linh hồn của mình. Cũng vậy, trên một quy mô rộng lớn hơn nhiều, đối với cái chết hay sự hủy diệt các giai đoạn của Thiên Cơ, do Thánh Đoàn điều động phù hợp với Thiên Ý. Có một sự chồng lấn giữa tiến trình kiến tạo và tiến trình hủy diệt. Các nền văn minh đang hấp hối vẫn hiện diện trong những hình thức cuối cùng của chúng, trong khi các nền văn minh mới đang xuất hiện; các chu kỳ đến rồi đi, và trong khi ra đi chúng chồng lấn nhau; điều tương tự cũng đúng trong sự xuất hiện và biến mất của các cung và các giống dân. Xét đến cùng, và từ quan điểm của con người trung bình, cái chết chỉ đơn giản là sự biến mất khỏi cõi hồng trần—cõi của những vẻ ngoài.

The form of destruction we are considering however, is more concerned with the destruction of quality than with forms, though the disappearance of these qualities produces the death of the outer form. The withdrawing life of a great expression of the hierarchical plan absorbs the qualities and returns with them, as endowments, later in time and space and manifests anew through the medium of more adequate forms of expression. The soul, however, kills the forms in the three worlds; it is the life aspect (in this higher and more extensive type of destruction) which destroys the innate quality and consequently the form of a civilization, the type of an ideology and the character of a race or nation, [Page 310] preserving only the essentials but discarding the distortions.

Tuy nhiên, hình thức hủy diệt mà chúng ta đang xem xét liên quan nhiều hơn đến sự hủy diệt phẩm tính hơn là đến các hình tướng, dù sự biến mất của những phẩm tính này tạo ra cái chết của hình tướng bên ngoài. Sự sống đang rút lui của một biểu hiện vĩ đại thuộc Thiên Cơ của Thánh Đoàn hấp thu các phẩm tính và sau đó, trong thời gian và không gian, trở lại cùng với chúng như những thiên phú, rồi biểu hiện lại qua trung gian của những hình thức biểu đạt thích hợp hơn. Tuy nhiên, linh hồn giết chết các hình tướng trong ba cõi thấp; chính phương diện sự sống, trong kiểu hủy diệt cao hơn và rộng lớn hơn này, hủy diệt phẩm tính cố hữu và do đó hủy diệt hình tướng của một nền văn minh, loại hình của một hệ tư tưởng và tính cách của một giống dân hay quốc gia, [Page 310] chỉ giữ lại những yếu tính và loại bỏ các biến dạng.

This fourth word is closely related to the fourth initiation in which the causal body or soul vehicle on its own plane is destroyed—that beautiful, intangible, qualitative Identity which has motivated and implemented the man in the three worlds. Does this instance somewhat clarify the difficulty of this subject with which we are concerned? Ponder on this as an illustration of this form of destruction, and seek better understanding.

Linh từ thứ tư này liên hệ mật thiết với lần điểm đạo thứ tư, trong đó thể nguyên nhân hay vận cụ linh hồn trên cõi riêng của nó bị hủy diệt—Bản Sắc đẹp đẽ, vô hình, đầy phẩm tính ấy, vốn đã thúc đẩy và vận hành con người trong ba cõi thấp. Trường hợp này có phần nào làm sáng tỏ sự khó khăn của chủ đề mà chúng ta đang bàn đến không? Hãy suy ngẫm về điều này như một minh họa cho hình thức hủy diệt này, và hãy tìm kiếm sự thấu hiểu tốt hơn.

This higher form of destruction does not manifest under the activity or the non-activity of the Law of Attraction, as does the death which the soul brings about. It is definitely under the Law of Synthesis, a law of the monadic sphere of life, and one therefore most difficult for you to comprehend; it emanates from a point outside the five worlds of human and superhuman evolution, just as the destruction of form in the three worlds emanates from the soul functioning outside the three worlds of the lower, concrete mind, the astral world and the physical plane. This statement again may aid you in understanding.

Hình thức hủy diệt cao hơn này không biểu hiện dưới hoạt động hay sự bất hoạt động của Định luật Hấp Dẫn, như cái chết mà linh hồn gây ra. Nó chắc chắn nằm dưới Định luật Tổng Hợp, một định luật của khối cầu sự sống chân thần, và do đó là một định luật rất khó để các bạn lĩnh hội; nó xuất phát từ một điểm nằm bên ngoài năm cõi giới của tiến hóa nhân loại và siêu nhân loại, cũng như sự hủy diệt hình tướng trong ba cõi thấp xuất phát từ linh hồn đang vận hành bên ngoài ba cõi thấp của hạ trí cụ thể, cõi cảm dục và cõi hồng trần. Phát biểu này một lần nữa có thể giúp các bạn thấu hiểu.

If this is so, it will be apparent to you that only initiates who have taken the fifth initiation and higher initiations can wield effectively this particular form of death—for monadic potency only becomes available after the third initiation, and its first successful use is the destruction of the causal body of the initiate. It is the reward of Transfiguration.

Nếu điều này là đúng, các bạn sẽ thấy rõ rằng chỉ những điểm đạo đồ đã trải qua lần điểm đạo thứ năm và các lần điểm đạo cao hơn mới có thể vận dụng hữu hiệu hình thức chết đặc thù này—vì quyền năng chân thần chỉ trở nên khả dụng sau lần điểm đạo thứ ba, và việc sử dụng thành công đầu tiên của nó là sự hủy diệt thể nguyên nhân của điểm đạo đồ. Đó là phần thưởng của Biến hình.

In connection with the use by the initiate of what we might call pure will, it should be remembered that this pure will works into manifestation through one or other of the three aspects of the Spiritual Triad. This activity is determined by the major ray upon which the initiate finds himself, from the angle of his monadic ray. Every spiritual man is upon one or another of the three major rays, for the minor four rays of attribute are all eventually absorbed into the third Ray of Active Intelligence.

Liên quan đến việc điểm đạo đồ sử dụng điều mà chúng ta có thể gọi là ý chí thuần khiết, cần nhớ rằng ý chí thuần khiết này đi vào biểu hiện qua một trong ba phương diện của Tam Nguyên Tinh Thần. Hoạt động này được quyết định bởi cung chính mà điểm đạo đồ thuộc về, xét từ góc độ cung chân thần của y. Mỗi con người tinh thần đều thuộc một trong ba cung chính, vì bốn cung thuộc tính thứ yếu rốt cuộc đều được hấp thu vào Cung ba của Trí Tuệ Hoạt Động.

If the initiate is upon the first ray, and therefore working in the Department of the Manu, he will use and express [Page 311] the innate will aspect through the atmic nature or through the highest aspect of the Spiritual Triad, to which we give the inadequate name of “divine Will.” Students are apt to forget that the Spiritual Triad, related as it is to the Monad in much the same way as the threefold personality is related to the soul, expresses the three major aspects of Shamballic energy, which three are all of them expressions of the will of the planetary Logos and His essential Purpose. If the initiate is on the second ray, and therefore is working in the Department of the Christ, he will use the will through the medium of buddhi, the second aspect of the Spiritual Triad. If he is on the third ray and in the Department of the Mahachohan, the Lord of Civilization, he will work through the higher mind, the lowest aspect of the Spiritual Triad. Forget not, however, that none of these aspects can be regarded as higher or lower, for all are equally divine. Understanding of these ideas may come if, for instance, you realize that the expression of buddhi, or of the intuition, in the consciousness of the spiritual man will lead to the use of the will in working out the purposes of Shamballa in the field of religions, of education, and of salvaging or saving the life aspect in all forms in the three worlds, but it will have no relation to the individual and personal problems of the man himself. If the expression is that of the higher mind, the use of the will will be in connection with civilizations and cultures for which the third department is responsible, and there will be the carrying out of the will of God in the large and general plans. If it is the will as it expresses itself through the atmic aspect of the Triad, it will function in relation to races, nations, and the kingdoms in nature, and to great planetary arrangements at present unknown to man. The synthesis of this picture will be apparent if carefully studied.

Nếu điểm đạo đồ thuộc cung một, và do đó làm việc trong Ngành của Đức Manu, y sẽ sử dụng và biểu lộ [Page 311] phương diện ý chí cố hữu qua bản chất atma, hay qua phương diện cao nhất của Tam Nguyên Tinh Thần, mà chúng ta gọi bằng cái tên chưa đầy đủ là “Ý Chí thiêng liêng.” Các đạo sinh thường dễ quên rằng Tam Nguyên Tinh Thần, trong tương quan với chân thần gần giống như phàm ngã tam phân trong tương quan với linh hồn, biểu lộ ba phương diện chính của năng lượng Shamballa; cả ba phương diện này đều là những biểu lộ của ý chí Đức Hành Tinh Thượng Đế và Thiên Ý cốt yếu của Ngài. Nếu điểm đạo đồ thuộc cung hai, và do đó làm việc trong Ngành của Đức Christ, y sẽ sử dụng ý chí qua trung gian Bồ đề, phương diện thứ hai của Tam Nguyên Tinh Thần. Nếu y thuộc cung ba và ở trong Ngành của Đức Mahachohan, Chúa Tể của Văn Minh, y sẽ làm việc qua thượng trí, phương diện thấp nhất của Tam Nguyên Tinh Thần. Tuy nhiên, đừng quên rằng không một phương diện nào trong các phương diện này có thể được xem là cao hơn hay thấp hơn, vì tất cả đều thiêng liêng như nhau. Sự thấu hiểu những ý tưởng này có thể đến nếu, chẳng hạn, các bạn nhận ra rằng sự biểu hiện của Bồ đề, hay của trực giác, trong tâm thức của con người tinh thần sẽ dẫn đến việc sử dụng ý chí trong việc thực hiện các mục đích của Shamballa trong lĩnh vực tôn giáo, giáo dục, và cứu vớt hay cứu độ phương diện sự sống trong mọi hình tướng nơi ba cõi thấp; nhưng điều đó sẽ không liên quan gì đến các vấn đề cá nhân và riêng tư của chính con người ấy. Nếu sự biểu hiện là của thượng trí, việc sử dụng ý chí sẽ liên quan đến các nền văn minh và các nền văn hóa mà ngành thứ ba chịu trách nhiệm, và sẽ có việc thực thi Ý Chí của Thượng Đế trong những Thiên Cơ rộng lớn và tổng quát. Nếu đó là ý chí khi nó biểu lộ qua phương diện atma của Tam Nguyên, nó sẽ vận hành liên quan đến các giống dân, các quốc gia và các giới trong thiên nhiên, cũng như đến những sắp đặt hành tinh vĩ đại hiện nay con người chưa biết. Tính tổng hợp của bức tranh này sẽ trở nên rõ ràng nếu được nghiên cứu cẩn thận.

At the same time it must be borne in mind that the destroying aspect of this pure will, expressing through the Monad, implements the purpose of Shamballa and is one of the major manifestations of the Love nature of the One in Whom we live and move and have our being; it is also [Page 312] the guarantee of our ultimate and inevitable attainment, perfection, illumination and divine consummation.

Đồng thời, cần ghi nhớ rằng phương diện hủy diệt của ý chí thuần khiết này, biểu lộ qua chân thần, thực hiện mục đích của Shamballa và là một trong những biểu hiện chính yếu của bản chất Bác Ái nơi Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện tồn; đó cũng là [Page 312] sự bảo đảm cho thành tựu tối hậu và tất yếu của chúng ta, cho sự hoàn thiện, sự soi sáng và sự viên thành thiêng liêng.

This destruction wrought by the initiate is preparatory to his responsiveness to the fifth word which he receives at the fifth initiation and to which we give the inadequate name: Resurrect.

Sự hủy diệt do điểm đạo đồ thực hiện này chuẩn bị cho sự đáp ứng của y đối với linh từ thứ năm mà y nhận được ở lần điểm đạo thứ năm, và chúng ta gọi linh từ ấy bằng cái tên chưa đầy đủ: Phục Sinh.

Prior to considering that word, I would like to point out that these five words have a clear reference to each of the five initiations; they give the initiate the keynote to the work which he must carry forward between the various initiatory processes. The work indicated has nothing whatever to do with the training and the discipline to which he will (needless to say) subject his personality; they are related instead to the work which he has to render. This work concerns what I might call certain essential realities connected with the purpose of Shamballa and with his ability to react or respond to the will of the Monad. As you know, this ability does not become an established fact and functioning realization until after the third initiation; nevertheless, the preparatory sensitivity (if I may use this word in this connection) is slowly developing and paralleling the two other activities—Destroy and Resurrect—to which he is pledged:

Trước khi xem xét từ ấy, Tôi muốn chỉ ra rằng năm từ này có liên hệ rõ ràng với từng lần trong năm lần điểm đạo; chúng trao cho điểm đạo đồ chủ âm của công việc mà y phải tiến hành giữa các tiến trình điểm đạo khác nhau. Công việc được chỉ ra hoàn toàn không liên quan đến việc huấn luyện và kỷ luật mà y, tất nhiên, sẽ áp đặt lên phàm ngã của mình; thay vào đó, chúng liên quan đến công việc mà y phải thực hiện. Công việc này liên quan đến điều mà Tôi có thể gọi là một vài thực tại thiết yếu gắn với mục đích của Shamballa và với khả năng của y trong việc phản ứng hay đáp ứng với ý chí của chân thần. Như các bạn biết, khả năng này không trở thành một sự kiện đã được xác lập và một chứng nghiệm đang vận hành cho đến sau lần điểm đạo thứ ba; tuy nhiên, sự nhạy bén chuẩn bị, nếu Tôi có thể dùng từ này trong mối liên hệ này, đang chậm rãi phát triển song song với hai hoạt động kia—Hủy Diệt và Phục Sinh—mà y đã cam kết:

1. The disciplining of his lower nature so that the unfolding initiate-consciousness may find no hindrances and obstacles.

1. Việc rèn luyện bản chất thấp của y để tâm thức điểm đạo đồ đang khai mở không gặp trở ngại và chướng ngại nào.

2. Service to the Plan, under hierarchical impression.

2. Phụng sự Thiên Cơ, dưới ấn tượng của Thánh Đoàn.

3. The development of monadic sensitivity.

3. Sự phát triển nhạy bén chân thần.

It might be of interest at this point if, in view of this third development—responsiveness to pure will—we considered these five words in relation to the five initiations with which you are all so theoretically familiar.

Đến đây, có lẽ sẽ hữu ích nếu, xét theo sự phát triển thứ ba này—khả năng đáp ứng với ý chí thuần khiết—chúng ta xem xét năm từ này trong liên hệ với năm lần điểm đạo mà tất cả các bạn đều quen thuộc một cách lý thuyết.

The word Know, in relation to the initiate-consciousness, concerns the certainty of the initiate, and his profound conviction of the fact of the Christ in the heart; it is at the same time coupled with a reaction which emanates from the sacrifice petals in the egoic lotus—those petals which are composed of the will quality of the Monad and relate the soul to the emanating Monad. The first faint tremor of the [Page 313] impact of monadic “destiny” (I know not how else to express this concept) makes itself felt, but is registered only by the soul of the initiate and on the level of soul consciousness; it is never registered by the man on the physical plane who is taking the first initiation; his brain cannot respond to this high vibration. Theoretically, and as a result of the teaching of the Ageless Wisdom, the spiritual man (in incarnation) has known that he is essentially the indwelling Christ, and the attainment of the Christ consciousness has been and will be his goal; the knowledge here referred to concerns something higher still—the Self-identification of the soul on its own plane and the Self-recognition which relates that Self to the enveloping whole, the Monad. If I might word it symbolically, I would say that the soul, the Christ (after the first initiation), knows that the inevitable processes of Christ-expression on Earth have been started and that the attainment of “the full-grown man in Christ” cannot be arrested. The center of interest which has hitherto been directed to bringing this about now shifts and the soul on its own plane (not in the reflection of its consciousness on Earth) becomes determined to “go to the Father” or to demonstrate the highest aspect of divinity, the will aspect.

Linh từ Biết, trong liên hệ với tâm thức điểm đạo đồ, liên quan đến sự xác tín của điểm đạo đồ, và niềm tin sâu xa của y vào sự kiện Đức Christ trong tâm; đồng thời, nó đi kèm với một phản ứng phát xuất từ các cánh hoa hi sinh trong Hoa Sen Chân Ngã—những cánh hoa được cấu thành bằng phẩm tính ý chí của chân thần và liên kết linh hồn với chân thần đang phát xạ. Sự rung động mơ hồ đầu tiên của [Page 313] tác động từ “định mệnh” chân thần, Tôi không biết diễn đạt khái niệm này cách nào khác, bắt đầu được cảm thấy, nhưng điều này được ghi nhận chỉ nơi linh hồn của điểm đạo đồ và trên cấp độ tâm thức linh hồn; con người trên cõi hồng trần đang nhận lần điểm đạo thứ nhất không bao giờ ghi nhận điều đó; bộ não của y không thể đáp ứng với rung động cao này. Về mặt lý thuyết, và nhờ giáo huấn của Minh Triết Ngàn Đời, con người tinh thần đang lâm phàm đã biết rằng về bản chất y là Đức Christ nội tại, và việc đạt đến tâm thức Đức Christ đã, và sẽ, là mục tiêu của y; tri thức được nói đến ở đây liên quan đến một điều còn cao hơn nữa—sự tự đồng hoá của linh hồn trên chính cõi của nó và sự tự nhận biết liên kết Bản Ngã ấy với toàn thể bao bọc, tức chân thần. Nếu có thể diễn đạt điều này bằng biểu tượng, Tôi sẽ nói rằng linh hồn, Đức Christ, sau lần điểm đạo thứ nhất, biết rằng các tiến trình tất yếu của sự biểu lộ Đức Christ trên Trái Đất đã bắt đầu và rằng việc đạt tới “con người trưởng thành trọn vẹn trong Đức Christ” không thể bị ngăn lại. Trọng tâm quan tâm trước đây hướng vào việc đem điều này thành tựu, nay chuyển dịch, và linh hồn trên chính cõi của nó chứ không phải trong phản chiếu tâm thức của nó trên Trái Đất, trở nên quyết tâm “đi về cùng Cha” hay biểu lộ phương diện cao nhất của thiên tính, tức phương diện ý chí.

There are in the Gospel story four recorded moments in the life of the Christ wherein this process of development within His consciousness, this monadic centralization (I know not what other word to use, for we have not yet developed the terminology of the monad, the will aspect) begins to demonstrate and can be traced in a definitely unfolding process. In the past I have incidentally referred to these points, but I would like to gather all four of them together here for your illumination.

Trong câu chuyện Phúc Âm, có bốn khoảnh khắc được ghi lại trong đời sống của Đức Christ, trong đó tiến trình phát triển này bên trong tâm thức của Ngài, sự tập trung hóa chân thần này Tôi không biết dùng từ nào khác, vì chúng ta chưa phát triển thuật ngữ về chân thần, phương diện ý chí bắt đầu biểu lộ và có thể được lần theo trong một tiến trình khai mở rõ rệt. Trước đây, Tôi đã nhân tiện đề cập đến những điểm này, nhưng ở đây Tôi muốn gom cả bốn điểm lại để soi sáng cho các bạn.

1. His statement to His parents in the Temple, “Wist ye not that I must be about My Father’s business?” I would have you note that:

1. Lời Ngài nói với cha mẹ trong Đền thờ: “Cha mẹ không biết rằng con phải lo công việc của Cha con sao?” Tôi muốn các bạn lưu ý rằng:

a. He was twelve years old at the time, and therefore the work upon which He had been occupied as a soul was finished, for twelve is the number of completed [Page 314] labor. The symbolism of His twelve years is now replaced by that of the twelve Apostles.

a. Lúc ấy Ngài mười hai tuổi, và do đó công việc mà Ngài đã đảm trách với tư cách một linh hồn đã hoàn tất, vì mười hai là con số của công trình [Page 314] hoàn tất. Biểu tượng về mười hai năm của Ngài nay được thay thế bằng biểu tượng về mười hai Tông đồ.

b. He was in the Temple of Solomon, ever a symbol of the causal body of the soul, and He was therefore speaking on soul levels and not as the spiritual man on Earth.

b. Ngài ở trong Đền thờ Sa-lô-môn, vốn luôn là biểu tượng của thể nguyên nhân của linh hồn, và do đó Ngài đang nói trên các cấp độ linh hồn chứ không phải như con người tinh thần trên Trái Đất.

c. He was serving as a member of the Hierarchy, for He was found by His parents teaching the priests, the Pharisees and the Sadducees.

c. Ngài phụng sự với tư cách một thành viên của Thánh Đoàn, vì cha mẹ Ngài đã thấy Ngài đang giảng dạy cho các tư tế, người Pha-ri-siêu và người Sa-đu-sê.

d. He spoke as an expression of the substance aspect (He spoke to His mother) and also as a soul (He spoke to His father), but He was controlled by neither; He now functioned as the monad, above and beyond yet inclusive of both.

d. Ngài nói như một biểu hiện của phương diện chất liệu, khi Ngài nói với mẹ Ngài, và cũng như một linh hồn, khi Ngài nói với cha Ngài, nhưng Ngài không bị bên nào chi phối; bấy giờ Ngài vận hành như chân thần, ở trên và vượt khỏi nhưng vẫn bao gồm cả hai.

2. His statement to His disciples, “I must go up to Jerusalem,” after which we read that He steadfastly set His face to go there. This was an intimation that He had now a new objective. The only place of complete “peace” (the meaning of the word Jerusalem) is Shamballa; the Hierarchy is not a center of peace in the true meaning of the term, which has no relation to emotion but to the cessation of the type of activity with which we are familiar in the world of manifestation; the Hierarchy is a very vortex of activity and of energies coming from Shamballa and from Humanity. From the standpoint of true esotericism, Shamballa is a place of “serene determination and of poised, quiescent will” as the Old Commentary expresses it.

2. Lời Ngài nói với các đệ tử: “Ta phải đi lên Giê-ru-sa-lem,” sau đó chúng ta đọc thấy rằng Ngài kiên định hướng mặt đi đến đó. Đó là dấu hiệu cho thấy bấy giờ Ngài có một mục tiêu mới. Nơi duy nhất của “bình an” trọn vẹn, tức ý nghĩa của từ Giê-ru-sa-lem, là Shamballa; Thánh Đoàn không phải là một trung tâm bình an theo ý nghĩa đích thực của thuật ngữ này, vốn không liên quan đến cảm xúc mà liên quan đến sự chấm dứt loại hoạt động mà chúng ta quen biết trong thế giới biểu hiện; Thánh Đoàn là một xoáy lực mãnh liệt của hoạt động và của các năng lượng đến từ Shamballa và từ Nhân Loại. Theo quan điểm của huyền bí học chân chính, Shamballa là nơi của “quyết tâm tĩnh lặng và ý chí quân bình, tĩnh tại” như Cổ Luận diễn đạt.

3. The exclamation of the Christ, “Father, not my will, but Thine be done,” indicated His monadic and realized “destiny.” The meaning of these words is not as is so oft stated by Christian theologians and thinkers, a statement of acceptance of pain and of an unpleasant future. It is an exclamation evoked by the realization of monadic awareness and the focusing of the life aspect within the Whole. The soul, in this statement, is renounced, and the monad, as a point of centralization, is definitely and finally recognized. Students would do well to bear in mind that the Christ never underwent the Crucifixion subsequent to this episode, but [Page 315] that it was the Master Jesus Who was crucified. The Crucifixion lay behind Him in the experience of the Christ. The episode of renunciation was a high point in the life of the World Savior, but was no part of the experience of the Master Jesus.

3. Tiếng kêu của Đức Christ: “Lạy Cha, không phải ý chí của con, mà Ý Chí của Cha được thành tựu,” chỉ ra “định mệnh” chân thần đã được chứng nghiệm của Ngài. Ý nghĩa của những lời này không phải, như các nhà thần học và tư tưởng gia Kitô giáo thường nói, là một lời tuyên bố chấp nhận đau đớn và một tương lai không vui. Đó là tiếng kêu phát sinh từ sự chứng nghiệm nhận thức chân thần và sự tập trung phương diện sự sống bên trong Toàn Thể. Trong lời tuyên bố này, linh hồn được từ bỏ, và chân thần, như một điểm quy tâm, được nhận biết một cách xác định và chung cuộc. Các đạo sinh nên ghi nhớ rằng Đức Christ không hề trải qua Sự Đóng Đinh sau biến cố này, mà [Page 315] chính Chân sư Jesus mới là Đấng bị đóng đinh. Sự Đóng Đinh đã nằm lại phía sau Ngài trong kinh nghiệm của Đức Christ. Biến cố từ bỏ là một đỉnh cao trong đời sống của Đấng Cứu Thế của thế gian, nhưng không thuộc kinh nghiệm của Chân sư Jesus.

4. The final words of the Christ to His apostles, gathered together in the upper chamber (in the Hierarchy, symbolically) were, “Lo, I am with you all the days, even unto the end of the age,” or cycle. Here He was speaking as Head of the Hierarchy, which constitutes His Ashram, and also speaking as the Monad and expressing His divine Will to pervade or inform the world continuously and endlessly with His over-shadowing consciousness; He expressed universality and the ceaseless continuity and contact which is the characteristic of monadic life—of life itself. It was also a tremendous affirmation, sent forth on the energy of the will, and making all things new and all things possible.

4. Những lời cuối cùng của Đức Christ nói với các Tông đồ, khi họ tụ họp trong phòng trên, về mặt biểu tượng là trong Thánh Đoàn, là: “Này, Ta ở cùng các con mọi ngày, cho đến tận cuối thời đại,” hay chu kỳ. Ở đây, Ngài nói với tư cách Đấng Đứng Đầu Thánh Đoàn, vốn tạo thành ashram của Ngài, và cũng nói với tư cách chân thần, biểu lộ Ý Chí thiêng liêng của Ngài nhằm thấm nhập hoặc thấm nhuần thế gian một cách liên tục và vô tận bằng tâm thức phủ bóng của Ngài; Ngài biểu lộ tính phổ quát, sự liên tục và tiếp xúc không ngừng vốn là đặc trưng của sự sống chân thần—của chính sự sống. Đó cũng là một khẳng định vô cùng mạnh mẽ, được phóng phát trên năng lượng ý chí, khiến mọi sự trở nên mới và mọi sự trở nên khả hữu.

If you will carefully study these four statements you will see what is the knowledge referred to in this command given in Rule XIV to the initiate at the first initiation, the command to Know. It is the order to reorient the soul to the monad and not an order to reorient the personality to the soul, as is so oft believed.

Nếu các bạn nghiên cứu kỹ bốn mệnh đề này, các bạn sẽ thấy tri thức được nói đến trong mệnh lệnh này, được ban trong Quy luật mười bốn cho điểm đạo đồ ở lần điểm đạo thứ nhất, tức mệnh lệnh Biết. Đó là mệnh lệnh tái định hướng linh hồn về phía chân thần, chứ không phải mệnh lệnh tái định hướng phàm ngã về phía linh hồn, như người ta vẫn rất thường tin.

The word Express, in its deepest meaning and when given at the second initiation, does not mean the necessity to express the nature of the soul. It means (behind all other possible meanings) the command to express the will nature of the monad and to “feel after” and embody the Purpose which lies behind the Plan, as a result of the developed sensitivity. Obedience to the Plan brings revelation of the hidden Purpose, and this is a phrasing of the great objective which impulses the Hierarchy itself. As the initiate learns cooperation with the Plan and demonstrates this in his life of service, then within himself and paralleling this activity to which he is dedicated as a personality and soul, there is also an awakening realization of the Father aspect, of the nature of the will, of the existence and factual nature of [Page 316] Shamballa and of the universality and the livingness of whatever is meant by the word “Being.” He knows and is beginning to express that pure Being as pure will in activity.

Từ Biểu Lộ, trong ý nghĩa sâu xa nhất của nó và khi được ban ở lần điểm đạo thứ hai, không có nghĩa là nhu cầu phải biểu lộ bản chất của linh hồn. Nó có nghĩa là, đằng sau mọi ý nghĩa khả hữu khác, mệnh lệnh biểu lộ bản chất ý chí của chân thần, và “dò tìm bằng cảm nhận” cũng như thể hiện Thiên Ý nằm sau Thiên Cơ, như kết quả của sự nhạy bén đã phát triển. Sự tuân phục Thiên Cơ đem lại sự mặc khải về Thiên Ý ẩn tàng, và đây là một cách diễn đạt mục tiêu vĩ đại đang thúc đẩy chính Thánh Đoàn. Khi điểm đạo đồ học cách hợp tác với Thiên Cơ và chứng tỏ điều này trong đời sống phụng sự của y, thì bên trong chính y, song hành với hoạt động mà y đã hiến dâng với tư cách phàm ngã và linh hồn, cũng có một nhận thức đang thức tỉnh về phương diện Cha, về bản chất của ý chí, về sự hiện hữu và bản chất thực tại của [Page 316] Shamballa, cũng như về tính phổ quát và tính sống động của bất cứ điều gì được hàm ý bởi từ “Bản Thể.” Y biết và đang bắt đầu biểu lộ Bản Thể thuần khiết ấy như ý chí thuần khiết trong hoạt động.

When the third initiation is taken the initiate becomes aware, not only of the significance of the command to Know and of his innate ability to Express the will nature of the monad in carrying out the Purpose of Shamballa, but that (through his fused personality-soul) he is now in a position to “make revelation” to the Hierarchy that he is en rapport with the monadic source from which he originally came. He can now obey the command to Reveal, because the Transfiguration is consummated. He is not now revealing the soul only, but all the three aspects now meet in him and he can reveal the life aspect as will and not only the soul aspect as love or the matter aspect as intelligence. This is, as you know the first major initiation from the angle of the greater Lodge on Sirius, because it is the first initiation in which all the three aspects meet in the initiate. The first two initiations—oft regarded by humanity as major initiations—are in reality minor initiations from the Sirian point of view, because the relation of the man “under discipline and in training” is only a tendency; there is only a developing recognition of the Father and a slowly growing response to the monad, plus an unfolding sensitivity to the impact of the will aspect. But in the third initiation these developments are sufficiently present to merit the phrase, “revelation of the glory,” and the Transfiguration initiation takes place.

Khi lần điểm đạo thứ ba được nhận, điểm đạo đồ không chỉ nhận biết thâm nghĩa của mệnh lệnh Biết và năng lực bẩm sinh của y để Biểu Lộ bản chất ý chí của chân thần trong việc thực thi Thiên Ý của Shamballa, mà còn nhận biết rằng, qua phàm ngã-linh hồn đã dung hợp của y, y nay ở trong vị thế có thể “tạo sự mặc khải” cho Thánh Đoàn rằng y đang tương giao với nguồn chân thần mà từ đó y nguyên thủy phát xuất. Y nay có thể tuân theo mệnh lệnh Mặc Khải, vì cuộc Biến hình đã hoàn tất. Nay y không chỉ mặc khải linh hồn, mà cả ba phương diện đều hội tụ trong y, và y có thể mặc khải phương diện sự sống như ý chí, chứ không chỉ phương diện linh hồn như bác ái hay phương diện vật chất như trí tuệ. Như các bạn biết, đây là lần điểm đạo lớn đầu tiên xét từ góc độ của Đại Huyền Viện trên sao Thiên Lang, bởi vì đây là lần điểm đạo đầu tiên trong đó tất cả ba phương diện đều hội tụ trong điểm đạo đồ. Hai lần điểm đạo đầu tiên—thường được nhân loại xem là các lần điểm đạo lớn—trong thực tế là các lần điểm đạo nhỏ theo quan điểm của sao Thiên Lang, bởi vì mối liên hệ của con người “đang chịu kỷ luật và đang được huấn luyện” chỉ là một khuynh hướng; chỉ có một sự nhận biết đang phát triển về Cha, một đáp ứng đang tăng trưởng chậm rãi đối với chân thần, cộng với một sự nhạy bén đang khai mở trước tác động của phương diện ý chí. Nhưng trong lần điểm đạo thứ ba, các phát triển này hiện diện đủ để xứng đáng với cụm từ “sự mặc khải vinh quang,” và lần điểm đạo Biến hình diễn ra.

At the fourth initiation the destroying aspect of the will can begin to make its presence felt; the soul body, the causal body, the Temple of the Lord, is destroyed by an act of the will and because even the soul is recognized as a limitation by that which is neither the body nor the soul, but that which stands greater than either. The awareness of the perfected man is now focused in that of the monad. The road to has been trodden. This is a symbolical way of saying that the antahkarana has been constructed and [Page 317] the Way to the Higher Evolution—which confronts the higher initiates—has now opened up.

Ở lần điểm đạo thứ tư, phương diện hủy diệt của ý chí có thể bắt đầu làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận; thể linh hồn, thể nguyên nhân, Đền Thờ của Chúa, bị hủy diệt bằng một hành vi của ý chí, và bởi vì ngay cả linh hồn cũng được nhận ra là một giới hạn bởi cái không phải là thể cũng không phải là linh hồn, mà là cái đứng cao hơn cả hai. Tâm thức của con người hoàn thiện nay được tập trung trong tâm thức của chân thần. Con đường đã được bước qua. Đây là một cách nói biểu tượng rằng antahkarana đã được kiến tạo và [Page 317] Con đường dẫn đến Tiến Hóa Cao Siêu—đang đối diện các điểm đạo đồ cấp cao—nay đã mở ra.

The three aspects of the will, as focused in the Spiritual Triad, are now in full expression; the initiate is animated by Purpose, but faces still greater evolutionary developments; of these I do not need to speak, as they concern divine aspects as yet unknown and unregistered by man. The reason for this complete ignorance is that the vehicles of any man below the third initiation contain too much “impure matter” to record the impact of these divine qualities. Only the “created body” (the mayavirupa) of an initiate of the fourth initiation can begin to register these divine impacts; it is therefore waste of our time to consider even the possibility of their existence. Even I, a Master, and therefore an initiate of a relatively high degree, am only faintly sensing them, and that because I am learning to obey the fifth word which we will briefly, very briefly, now consider.

Ba phương diện của ý chí, khi được tập trung trong Tam Nguyên Tinh Thần, nay đang biểu lộ trọn vẹn; điểm đạo đồ được Thiên Ý làm cho sinh động, nhưng vẫn đối diện những phát triển tiến hóa còn lớn lao hơn; về những điều này, Tôi không cần nói đến, vì chúng liên quan đến các phương diện thiêng liêng mà con người cho đến nay vẫn chưa biết và chưa ghi nhận. Lý do của sự vô minh hoàn toàn này là các hiện thể của bất cứ người nào dưới lần điểm đạo thứ ba đều chứa quá nhiều “vật chất bất tịnh” nên không thể ghi nhận tác động của các phẩm tính thiêng liêng này. Chỉ “thể được tạo ra” (thể ảo lực) của một điểm đạo đồ thuộc lần điểm đạo thứ tư mới có thể bắt đầu ghi nhận các tác động thiêng liêng này; vì vậy, thật lãng phí thời gian của chúng ta nếu xem xét ngay cả khả thể hiện hữu của chúng. Ngay cả Tôi, một Chân sư, và do đó là một điểm đạo đồ thuộc cấp độ tương đối cao, cũng chỉ đang cảm nhận chúng một cách mơ hồ, và đó là vì Tôi đang học tuân theo từ thứ năm mà giờ đây chúng ta sẽ xem xét ngắn gọn, rất ngắn gọn.

5. Resurrect

5. Phục Sinh

One of the greatest of all distortions, and one of the most misleading of the theological teachings, has been the interpretation put upon the word “resurrection” in the Christian approach. This resurrection has been applied in many cases to the resurrection of the body; it is also applied to the fact (the selfishly motivated wish) of immortality; it is applied also to the physical resurrection of the Christ after he supposedly died upon the Cross. Resurrection teaches essentially the “lifting up” of matter into heaven; it does not teach the eternal persistence of the physical body of a man, as many Fundamentalists today suppose, looking for the reappearance of the discarded physical body; it does teach the “livingness of Life” and the state of “unalterable Being.” This unalterable Being constitutes the nature of the Monad, and it is to this condition of awareness that Christ attained when He functioned as a World Savior and thereby guaranteed, by the force of His achievement as a personality-soul, the same point of attainment for us, for we are equally and essentially sons of the Father or expressions of the Monad, [Page 318] the One. It does not, however, signify the resurrection of some personality in a particular vehicle used in a particular incarnation.

Một trong những sự xuyên tạc lớn nhất trong mọi sự xuyên tạc, và một trong những giáo huấn thần học gây sai lạc nhất, là cách diễn giải đã được áp đặt lên từ “phục sinh” trong lối tiếp cận Cơ Đốc giáo. Sự phục sinh này trong nhiều trường hợp đã được áp dụng cho sự phục sinh của thể xác; nó cũng được áp dụng cho sự kiện, hay đúng hơn là ước muốn có động cơ ích kỷ, về tính bất tử; nó cũng được áp dụng cho sự phục sinh hồng trần của Đức Christ sau khi Ngài được cho là đã chết trên thập giá. Về cốt yếu, phục sinh dạy sự “nâng lên” của vật chất vào cõi trời; nó không dạy sự tồn tại vĩnh viễn của thể xác con người, như nhiều người theo chủ nghĩa chính thống ngày nay giả định khi họ mong chờ sự tái xuất hiện của thể xác đã bị bỏ lại; nó dạy “tính sống động của Sự Sống” và trạng thái “Bản Thể bất biến.” Bản Thể bất biến này cấu thành bản chất của Chân thần, và chính trạng thái nhận thức này Đức Christ đã đạt đến khi Ngài hoạt động như Đấng Cứu Thế của Thế Gian, và nhờ đó, bằng mãnh lực thành tựu của Ngài với tư cách phàm ngã-linh hồn, bảo chứng cùng điểm thành đạt ấy cho chúng ta, vì về bản chất và một cách bình đẳng, chúng ta là những người con của Cha hay những biểu hiện của Chân thần, [Page 318] Đấng Duy Nhất. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là sự phục sinh của một phàm ngã nào đó trong một hiện thể đặc thù được dùng trong một lần lâm phàm đặc thù.

The whole concept of resurrection is the new and most important revelation which is coming to humanity, and which will lay the basis for the new world religion.

Toàn bộ quan niệm về sự phục sinh là sự mặc khải mới và quan trọng nhất đang đến với nhân loại, và sẽ đặt nền tảng cho tôn giáo thế giới mới.

In the immediate past, the keynote of the Christian religion has been death, symbolized for us in the death of the Christ, and much distorted for us by St. Paul in his effort to blend the new religion which Christ gave us with the old blood religion of the Jews. In the coming cycle, this distorted teaching on death will assume its rightful place and be known as the disciplining urge to relinquishment and to the ending by death of the hold by matter over the soul; the great goal of all religious teaching will be the resurrection of the spirit in man, and eventually in all forms of life, from the lowest point in evolution to the highest monadic experience. The emphasis in the future will be upon the “livingness of the Christ nature”—the proof of which will be the Risen Christ—and upon the use of the will invoking this “living display.” The glory and the radiance of the Transfiguration initiation will eventually be relegated to its destined place, and what is meant by the “display of life” will dimly be sensed in its unimaginable beauty.

Trong quá khứ gần đây, chủ âm của tôn giáo Cơ Đốc là cái chết, được biểu tượng hóa cho chúng ta trong cái chết của Đức Christ, và đã bị Thánh Phao-lô xuyên tạc nhiều trong nỗ lực của ông nhằm hòa trộn tôn giáo mới mà Đức Christ trao cho chúng ta với tôn giáo huyết tế cổ xưa của người Do Thái. Trong chu kỳ sắp tới, giáo huấn bị xuyên tạc này về cái chết sẽ đảm nhận vị trí chính đáng của nó và sẽ được biết đến như xung lực rèn luyện dẫn đến sự buông bỏ và đến việc, qua cái chết, chấm dứt sự kìm giữ của vật chất đối với linh hồn; mục tiêu lớn lao của mọi giáo huấn tôn giáo sẽ là sự phục sinh của tinh thần trong con người, và cuối cùng trong mọi hình tướng của sự sống, từ điểm thấp nhất trong tiến hóa đến chứng nghiệm chân thần cao nhất. Trọng tâm trong tương lai sẽ đặt trên “tính sống động của bản chất Christ”—bằng chứng của điều ấy sẽ là Đức Christ Phục Sinh—và trên việc sử dụng ý chí để khẩn cầu “sự hiển lộ sống động” này. Vinh quang và hào quang của lần điểm đạo Biến hình cuối cùng sẽ được đặt về đúng vị trí đã định của nó, và điều được hàm ý bởi “sự hiển lộ của sự sống” sẽ được cảm nhận lờ mờ trong vẻ đẹp không thể tưởng tượng của nó.

The line or the path or the Way of Resurrection is the “Radiant Way” to which we have given the cumbersome name of the Antahkarana; this Way leads straight and directly from one great planetary center to another—from Humanity to the Hierarchy and from the Hierarchy to Shamballa. This is the Way of Resurrection. It is a Way which is composed of the light of intelligent substance, of the radiant attractive substance of love, and the karmic way which is infused by the essence of inflexible will. Forget not that karma is essentially the conditioned will of the planetary Logos as He orders all things toward the ultimate goal of life itself through the process of livingness, of loving understanding, and of intelligent activity.

Tuyến, con đường hay Con Đường Phục Sinh là “Con Đường Rạng Rỡ” mà chúng ta đã đặt cho cái tên nặng nề là antahkarana; Con Đường này dẫn thẳng và trực tiếp từ một trung tâm hành tinh lớn đến một trung tâm khác—từ Nhân loại đến Thánh Đoàn, và từ Thánh Đoàn đến Shamballa. Đây là Con Đường Phục Sinh. Đó là một Con Đường được cấu thành bằng ánh sáng của chất liệu trí tuệ, bằng chất liệu hấp dẫn rạng rỡ của bác ái, và bằng con đường nghiệp quả được tinh túy của ý chí bất khuất thấm nhuần. Đừng quên rằng nghiệp quả về cốt yếu là ý chí chịu điều kiện của Hành Tinh Thượng đế khi Ngài sắp đặt mọi sự hướng đến mục tiêu tối hậu của chính sự sống, qua tiến trình sống động, thấu hiểu đầy bác ái và hoạt động trí tuệ.

Therefore, the order to resurrect, as understood by the [Page 319] initiate, concerns solely the application of the will nature and the aspect of Shamballa to the impulsing of hierarchical attraction and activity. It does not concern the individual life of the upward-moving aspirant or disciple, no matter what his degree, except incidentally and because major divine macrocosmic impulses must have lesser microcosmic effects. All these stupendous words with which we have been dealing relate to the cooperation of the initiate with the Will of Shamballa, and therefore, my brothers, are only dim hints to you.

Vì vậy, mệnh lệnh phục sinh, như được [Page 319] điểm đạo đồ thấu hiểu, chỉ liên quan đến việc áp dụng bản chất ý chí và phương diện Shamballa vào việc thúc đẩy sức thu hút và hoạt động của Thánh Đoàn. Nó không liên quan đến sự sống cá nhân của người chí nguyện hay đệ tử đang tiến lên, bất kể cấp độ của y là gì, ngoại trừ theo nghĩa phụ đới và vì các xung lực đại thiên địa thiêng liêng lớn lao tất yếu phải có những tác động tiểu thiên địa nhỏ hơn. Tất cả những linh từ kỳ vĩ này mà chúng ta đã bàn đến đều liên hệ đến sự hợp tác của điểm đạo đồ với Ý Chí của Shamballa, và vì vậy, các huynh đệ của tôi, đối với các bạn, chúng chỉ là những gợi ý mờ nhạt.

Leave a Comment

Scroll to Top