COMMENTARY ON RULE VI |
BÌNH GIẢI VỀ QUY LUẬT VI |
|
Part I of V |
Phần I trong V |
|
We might choose as theme for our meditation |
Chúng ta có thể chọn làm chủ đề cho bài tham thiền của mình |
|
a. Either Rule Six for Applicants and Rule Six for Disciples and Initiates: |
a. Hoặc Quy Luật Sáu dành cho Ứng viên và Quy Luật Sáu dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ: |
|
“Rules Six for Applicants: The purificatory fires burn dim and low when the third is sacrificed to the fourth. Therefore let the disciple refrain from taking life, and let him nourish that which is lowest with the produce of the second.” (IHS, p. 196) |
“Quy Luật Sáu dành cho Ứng viên: Những ngọn lửa thanh luyện cháy mờ và thấp khi cái thứ ba được hi sinh cho cái thứ tư. Vì vậy, hãy để đệ tử kiềm chế việc sát sinh, và hãy để y nuôi dưỡng cái thấp nhất bằng sản phẩm của cái thứ hai.” (IHS, tr. 196) |
|
“Rule Six for Disciples and Initiates: Let the group know that life is one and naught can ever take or touch that life. Let the group know the vivid, flaming, drenching life that floods the fourth when the fifth is known. The fifth feeds on the fourth. Let then the group—merged in the fifth—be nourished by the sixth and seventh, and realise that all the lesser rules are rules in time and space and cannot hold the group. It onward moves in life.” (RI, p. 124-127) |
“Quy Luật Sáu dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ: Hãy để nhóm biết rằng sự sống là một và không gì có thể lấy đi hay chạm đến sự sống ấy. Hãy để nhóm biết sự sống sống động, rực cháy, thấm đẫm, tuôn ngập cái thứ tư khi cái thứ năm được nhận biết. Cái thứ năm nuôi dưỡng bằng cái thứ tư. Vậy hãy để nhóm—đã hòa nhập vào cái thứ năm—được nuôi dưỡng bởi cái thứ sáu và thứ bảy, và nhận ra rằng mọi quy luật thấp hơn đều là các quy luật trong thời gian và không gian, và không thể ràng buộc nhóm. Nhóm tiến tới trong sự sống.” (RI, tr. 124-127) |
|
b. Or sub-themes, to which DK refers in His commentary to the Rule (RI, p. 124-127), such as: |
b. Hoặc các chủ đề phụ, mà Chân sư DK đề cập trong phần bình giải của Ngài về Quy Luật này (RI, tr. 124-127), chẳng hạn như: |
|
1. The universality of Life. (cf. RI, p. 124) |
1. Tính phổ quát của Sự Sống. (xem RI, tr. 124) |
|
2. The basic fact of hylozoism. (cf. RI, p. 124) |
2. Sự kiện căn bản của vật hoạt luận. (xem RI, tr. 124) |
|
3. The idea of the One Life. (cf. RI, p. 124) |
3. Ý tưởng về Sự Sống Duy Nhất. (xem RI, tr. 124) |
|
4. The whole story of life is: purpose, divine will, and absolute determination. (cf. RI, p. 124) |
4. Toàn bộ câu chuyện về sự sống là: mục đích, Ý Chí thiêng liêng, và quyết tâm tuyệt đối. (xem RI, tr. 124) |
|
5. The eternal planning of the Lord of the World so hard of comprehension that there exist as yet no words in any language of any nation. (cf. RI, p. 124) |
5. Thiên Cơ vĩnh cửu của Đức Chúa Tể Thế Giới khó thấu hiểu đến mức hiện nay chưa có ngôn từ nào trong bất kỳ ngôn ngữ nào của bất kỳ quốc gia nào. (xem RI, tr. 124) |
|
6. Life IS. Life cannot be taken. (cf. RI, p. 125) |
6. Sự Sống LÀ. Sự sống không thể bị lấy đi. (xem RI, tr. 125) |
|
7. One of the techniques of the Masters is to permit a fallacy to remain uncorrected, because it is originated by the disciple himself and must be dissipated by him also. (cf. RI, p. 126) |
7. Một trong các kỹ thuật của các Chân sư là cho phép một ngộ nhận vẫn chưa được sửa chữa, vì nó do chính đệ tử tạo ra và cũng phải do chính y làm tiêu tan. (xem RI, tr. 126) |
|
8. Life cannot be taken in the spiritual sense. (cf. RI, p. 126) |
8. Sự sống không thể bị lấy đi theo ý nghĩa tinh thần. (xem RI, tr. 126) |
|
9. With Rule Six for Applicants the probationary disciple does succeed in ending the grip or potency of the physical nature. (cf. RI, p. 126) |
9. Với Quy Luật Sáu dành cho Ứng viên, người đệ tử dự bị quả thật thành công trong việc chấm dứt sự kìm giữ hay quyền năng của bản chất hồng trần. (xem RI, tr. 126) |
|
10. Life is impregnable; it cannot be taken or destroyed but ‘passes on’ from form to form, from experience to experience, until the perfect will of God is expressed through life. (cf. RI, p. 126) |
10. Sự sống là bất khả xâm phạm; nó không thể bị lấy đi hay bị hủy diệt mà “tiếp tục đi tới” từ hình tướng này sang hình tướng khác, từ kinh nghiệm này sang kinh nghiệm khác, cho đến khi Ý Chí hoàn hảo của Thượng Đế được biểu lộ qua sự sống. (xem RI, tr. 126) |
|
11. No one is accepted into the circle of the Ashram whose physical appetites are in any danger of controlling him. This applies specifically to those preparing for the first initiation. (cf. RI, p. 126-127) |
11. Không ai được chấp nhận vào vòng tròn của ashram nếu những ham muốn hồng trần của y có bất kỳ nguy cơ nào chi phối y. Điều này áp dụng đặc biệt cho những người đang chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ nhất. (xem RI, tr. 126-127) |
|
12. Those preparing for the second initiation have to demonstrate their freedom from the slavery of ideas, from a fanatical reaction of any truth or spiritual leader, and from the control of their aspiration which – through the intensity of its application – would sacrifice time, people and life itself to the call of the Initiator – or rather, the be correct, to what they believe to be His call. (cf. RI, p. 127) |
12. Những người đang chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ hai phải chứng minh sự tự do của mình khỏi ách nô lệ của các ý tưởng, khỏi phản ứng cuồng tín đối với bất kỳ chân lý hay vị lãnh đạo tinh thần nào, và khỏi sự chi phối của khát vọng của họ, vốn—do cường độ áp dụng của nó—sẽ hi sinh thời gian, con người và chính sự sống cho tiếng gọi của Đấng Điểm đạo—hay đúng hơn, nói cho đúng, cho điều mà họ tin là tiếng gọi của Ngài. (xem RI, tr. 127) |
|
13. The third initiation is approached from a level of tableland of experience and of consciousness, and not from the heights of aspiration, or from fanatical sacrifice, or from the standpoint of a devotion which handicaps the service of the devotee and of the Master he seeks to serve. (cf. RI, p. 127) |
13. Lần điểm đạo thứ ba được tiếp cận từ một cấp độ cao nguyên của kinh nghiệm và tâm thức, chứ không phải từ những đỉnh cao của khát vọng, hay từ sự hi sinh cuồng tín, hay từ lập trường của một lòng sùng tín làm cản trở sự phụng sự của người sùng tín và của Chân sư mà y tìm cách phụng sự. (xem RI, tr. 127) |
|
Rule VI: Paragraphs for the Second Month: (pp. 124 —127) |
Quy Luật VI: Các đoạn cho Tháng Thứ Hai: (tr. 124—127) |
|
Paragraph 1 |
Đoạn 1 |
|
Rule VI. |
Quy Luật VI. |
|
A. A superficial reading of Rule VI would give the impression that it is a simple statement as to the universality of Life, and also that it embodies an enunciation of the basic fact of hylozoism. The Rule runs as follows: |
A. Một cách đọc hời hợt Quy Luật VI sẽ tạo ấn tượng rằng đó là một phát biểu đơn giản về tính phổ quát của Sự Sống, và cũng rằng nó hàm chứa một sự tuyên ngôn về sự kiện căn bản của vật hoạt luận. Quy Luật diễn ra như sau: |
|
Let the group know that life is one and naught can ever take or touch that life. Let the group know the vivid, flaming, drenching life that floods the fourth when the fifth is known. The fifth feeds on the fourth. Let then the group—merged in the fifth—be nourished by the sixth and seventh, and realise that all the lesser rules are rules in time and space and cannot hold the group. It onward moves in life. |
Hãy để nhóm biết rằng sự sống là một và không gì có thể lấy đi hay chạm đến sự sống ấy. Hãy để nhóm biết sự sống sống động, rực cháy, thấm đẫm, tuôn ngập cái thứ tư khi cái thứ năm được nhận biết. Cái thứ năm nuôi dưỡng bằng cái thứ tư. Vậy hãy để nhóm—đã hòa nhập vào cái thứ năm—được nuôi dưỡng bởi cái thứ sáu và thứ bảy, và nhận ra rằng mọi quy luật thấp hơn đều là các quy luật trong thời gian và không gian, và không thể ràng buộc nhóm. Nhóm tiến tới trong sự sống. |
|
Points to Consider in Relation to the Above Section |
Những điểm cần xem xét liên quan đến phần trên |
|
1. Although Rule VI for Disciples and Initiates does reflect the hylozoistic philosophy (that only One Great Life is expressing through the universe, that all things in the universe are essentially alive and that there is nothing-in-universe that is “inorganic”) there are also many specifics of importance that take our thought beyond hylozoistic generalities. |
1. Mặc dù Quy Luật VI dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ quả có phản ánh triết học vật hoạt luận rằng chỉ có Một Sự Sống Vĩ Đại đang biểu lộ qua vũ trụ, rằng mọi sự trong vũ trụ về bản chất đều sống động và rằng không có gì-trong-vũ-trụ là “vô cơ”, vẫn có nhiều điểm đặc thù quan trọng đưa tư tưởng của chúng ta vượt ra ngoài những khái quát của vật hoạt luận. |
|
2. In order not to read superficially, one must ponder ever sentence, as we have been doing, for its deeper implications. |
2. Để không đọc một cách hời hợt, người ta phải suy ngẫm từng câu, như chúng ta vẫn đang làm, về những hàm ý sâu xa hơn của nó. |
|
3. A few preliminary comments on Rule VI for Disciples and Initiates may be in order: |
3. Một vài nhận xét sơ khởi về Quy Luật VI dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ có thể là thích hợp: |
|
a. The perception of or identification with the One Life is not a strictly individual perception or identification. |
a. Sự tri nhận về, hay sự đồng hóa với, Sự Sống Duy Nhất không phải là một tri nhận hay đồng hóa hoàn toàn cá nhân. |
|
b. When consciousness is fortified by a deep identification with fellow group members, then the oneness of the One Life comes more readily into view. This is another way of saying that established group consciousness is a doorway toward universal consciousness (i.e., to the perception of and identification with the One Life). |
b. Khi tâm thức được củng cố bởi sự đồng hóa sâu xa với các thành viên đồng nhóm, thì tính duy nhất của Sự Sống Duy Nhất dễ dàng hiện ra hơn. Đây là một cách khác để nói rằng tâm thức nhóm đã được thiết lập là một cánh cửa dẫn tới tâm thức phổ quát, tức là tới sự tri nhận về và sự đồng hóa với Sự Sống Duy Nhất. |
|
c. Of course, we, as individuals, and even we in group formation, cannot achieve universal consciousness. Where are the limits of universal consciousness? Certainly far beyond our solar system and even local cosmo system. We cannot even achieve an embracing planetary consciousness (i.e., inclusive perception of and identification within the ring-pass-not of our Planetary Logos). |
c. Dĩ nhiên, chúng ta, với tư cách cá nhân, và ngay cả chúng ta trong đội hình nhóm, không thể đạt tới tâm thức phổ quát. Các giới hạn của tâm thức phổ quát ở đâu? Chắc chắn là vượt xa hệ mặt trời của chúng ta và thậm chí cả hệ vũ trụ cục bộ. Chúng ta thậm chí cũng không thể đạt tới một tâm thức hành tinh bao trùm, tức là sự tri nhận bao gồm về và sự đồng hóa trong vòng-giới-hạn của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta. |
|
d. The fact is, however, that when merged in consciousness with our group, ever-wider vistas do appear. |
d. Tuy nhiên, sự thật là khi hòa nhập trong tâm thức với nhóm của mình, những chân trời ngày càng rộng lớn hơn quả thật xuất hiện. |
|
e. The knowledge gained within the context of the group as it seeks somehow to ‘touch’ the One Life is intuitive knowledge. It is “straight knowledge”, real knowing. |
e. Tri thức đạt được trong bối cảnh của nhóm khi nhóm bằng cách nào đó tìm cách “chạm” đến Sự Sống Duy Nhất là tri thức trực giác. Đó là “tri thức trực tiếp”, sự biết thực sự. |
|
f. Such group perception/identification must ‘see through’ all differentiation to that homogeneous “something” which not only underlies the whole but, mysteriously, is the whole with all its apparent diversity. |
f. Sự tri nhận/đồng hóa nhóm như thế phải “nhìn xuyên qua” mọi biến phân để tới “cái gì đó” đồng nhất, vốn không chỉ làm nền cho toàn thể mà, một cách huyền nhiệm, là toàn thể với tất cả sự đa dạng bề ngoài của nó. |
|
g. If the meditating disciple ensures that his group perception/identification is solidly established, that perception/identification will become more astute than were he to function as an apparently isolated unit of consciousness. |
g. Nếu người đệ tử tham thiền bảo đảm rằng sự tri nhận/đồng hóa nhóm của y được thiết lập vững chắc, thì sự tri nhận/đồng hóa ấy sẽ trở nên sắc bén hơn so với khi y hoạt động như một đơn vị tâm thức dường như cô lập. |
|
h. In such group-impulsed perception/identification a great confidence in the immortal reality of the One Life is acquired—for the group is to know “that naught can ever take or touch that life”. |
h. Trong sự tri nhận/đồng hóa do nhóm thúc đẩy như thế, một niềm tin tưởng lớn lao vào thực tại bất tử của Sự Sống Duy Nhất được đạt tới—vì nhóm phải biết rằng “không gì có thể lấy đi hay chạm đến sự sống ấy”. |
|
i. We can see how important it will be to discriminate between “form” and “life” for, indeed, forms, per se, can be both taken and touched. |
i. Chúng ta có thể thấy việc phân biện giữa “hình tướng” và “sự sống” sẽ quan trọng đến mức nào, vì quả thật, chính các hình tướng, có thể vừa bị lấy đi vừa bị chạm đến. |
|
j. The group, then, is asked to appreciate the meaning of “Lead us from death to immortality”. |
j. Vậy nhóm được yêu cầu thấu hiểu ý nghĩa của câu “Dẫn chúng con từ cái chết đến sự bất tử”. |
|
k. As well, the group is asked to perceive/identify with great subtlety, for whatever life is, it is very elusive and cannot objectively known. |
k. Đồng thời, nhóm được yêu cầu tri nhận/đồng hóa với sự tinh tế lớn lao, vì bất cứ sự sống là gì, nó cũng rất khó nắm bắt và không thể được biết một cách khách quan. |
|
l. Once life is cognized, its ever-abiding nature must be intuited. Life is immortal. |
l. Một khi sự sống được nhận biết, bản chất hằng tồn của nó phải được trực giác. Sự sống là bất tử. |
|
m. The cognition of life does not occur, however, through consciousness per se, because consciousness functions in relation to a subject/object dualism. |
m. Tuy nhiên, sự nhận biết về sự sống không xảy ra qua chính tâm thức, bởi vì tâm thức hoạt động trong tương quan với một nhị nguyên chủ thể/đối tượng. |
|
n. If naught can ever “touch” that life, there can be no dualistic approach (the kind of approach made by consciousness, per se) for in such an approach there would necessarily have to be the ‘one touching’ and the ‘one touched’. “Life” however, cannot be “touched”. |
n. Nếu không gì có thể “chạm” đến sự sống ấy, thì không thể có cách tiếp cận nhị nguyên, loại tiếp cận do chính tâm thức thực hiện, vì trong một cách tiếp cận như thế tất yếu phải có “kẻ chạm” và “cái được chạm”. Tuy nhiên, “sự sống” không thể bị “chạm đến”. |
|
o. The main distinction to have in mind is the following: one can be the life, but one cannot touch the life. |
o. Sự phân biệt chính cần ghi nhớ là như sau: người ta có thể là sự sống, nhưng người ta không thể chạm đến sự sống. |
|
p. One, then, has to approach this ‘awareness’ of life (what else shall we call it?) not through the Doctrine of the Eye but through the Doctrine of the Heart through which synthesis can be registered. |
p. Vậy người ta phải tiếp cận “nhận thức” này về sự sống, còn gọi nó là gì khác được nữa, không qua nhãn pháp mà qua tâm pháp, nhờ đó sự tổng hợp có thể được ghi nhận. |
|
4. The group is to “know the vivid flaming, drenching life which floods the fourth when the fifth is known.” |
4. Nhóm phải “biết sự sống sống động, rực cháy, thấm đẫm, tuôn ngập cái thứ tư khi cái thứ năm được nhận biết”. |
|
a. Immediately we are asked to distinguish between the fourth kingdom of nature (the human) and the fifth kingdom (the Kingdom of Souls) |
a. Ngay lập tức, chúng ta được yêu cầu phân biệt giữa giới thứ tư của thiên nhiên, tức giới nhân loại, và giới thứ năm, tức Giới Linh Hồn. |
|
b. A still deeper level of discrimination requires that we distinguish between the Fourth Creative Hierarchy (of human monads) and the Fifth Creative Hierarchy (of Solar Angels or Agnishvattas). |
b. Một cấp độ phân biện còn sâu hơn đòi hỏi chúng ta phân biệt giữa Huyền Giai Sáng Tạo thứ Tư, gồm các chân thần nhân loại, và Huyền Giai Sáng Tạo thứ Năm, gồm các Thái dương Thiên Thần hay các Agnishvatta. |
|
c. Probably, it would be most practical to interpret the “fourth”, “fifth”, “sixth” and “seventh” in terms of kingdoms rather than Creative Hierarchies, as to the Sixth and Seventh Creative Hierarchies (numbering from below) we have no real conscious access, though to the Fifth Creative Hierarchy of Solar Angels we do, to some extent. |
c. Có lẽ thực tế nhất là diễn giải “cái thứ tư”, “cái thứ năm”, “cái thứ sáu” và “cái thứ bảy” theo nghĩa các giới hơn là các Huyền Giai Sáng Tạo, bởi vì đối với các Huyền Giai Sáng Tạo thứ Sáu và thứ Bảy, tính từ dưới lên, chúng ta không có sự tiếp cận có ý thức thực sự, dù đối với Huyền Giai Sáng Tạo thứ Năm của các Thái dương Thiên Thần, chúng ta có tiếp cận được phần nào. |
|
5. The consciousness of humanity is to be elevated by intimate contact with the energy of the fifth kingdom of nature, the Kingdom of Souls. This kingdom, of course, is ‘fed’, at least in part, by an energy which emanates from the Fifth Creative Hierarchy. |
5. Tâm thức của nhân loại phải được nâng cao nhờ sự tiếp xúc mật thiết với năng lượng của giới thứ năm trong thiên nhiên, Giới Linh Hồn. Dĩ nhiên, giới này được “nuôi dưỡng”, ít nhất một phần, bởi một năng lượng xuất lộ từ Huyền Giai Sáng Tạo thứ Năm. |
|
a. When, at the first initiation, we begin our entry into the Kingdom of Souls we come increasingly in touch with the buddhic energy, which, by the fourth initiation, reaches a relative consummation. |
a. Khi, ở lần điểm đạo thứ nhất, chúng ta bắt đầu bước vào Giới Linh Hồn, chúng ta ngày càng tiếp xúc với năng lượng Bồ đề, vốn đạt tới một sự viên mãn tương đối ở lần điểm đạo thứ tư. |
|
b. Buddhic love is “vivid” with light, love and radiance. As it is all-pervasive and pervading, it is “drenching”. Buddhi energy is alive because it emanates from the ‘planes of life’—the four highest levels of our cosmic physical plane., i.e., the cosmic ethers. |
b. Bác ái Bồ đề “sống động” với ánh sáng, tình thương và sự rạng rỡ. Vì nó thấm khắp và bao trùm, nên nó “thấm đẫm”. Năng lượng Bồ đề là sống động vì nó xuất lộ từ “các cõi của sự sống”—bốn cấp độ cao nhất của cõi hồng trần vũ trụ của chúng ta, tức các dĩ thái vũ trụ. |
|
c. Our first access to the Kingdom of Souls (and to the Spiritual Hierarchy which is the embodiment of this kingdom) is through the Solar Angels. |
c. Sự tiếp cận đầu tiên của chúng ta với Giới Linh Hồn, và với Huyền Giai Tinh Thần là hiện thân của giới này, là thông qua các Thái dương Thiên Thần. |
|
d. Until we have contacted our ‘own’ soul (Solar Angel) and are in communion with it, we cannot talk meaningfully about contacting and communicating with the members of the Spiritual Hierarchy—on Their own terms. |
d. Cho đến khi chúng ta đã tiếp xúc với linh hồn “của chính mình”, tức Thái dương Thiên Thần, và đang hiệp thông với Ngài, chúng ta không thể nói một cách có ý nghĩa về việc tiếp xúc và giao tiếp với các thành viên của Huyền Giai Tinh Thần—trên chính các điều kiện của Các Ngài. |
|
e. Thus, the Solar Angels are our ‘doorway’ into the Kingdom of Souls. To enter the Fifth Creative Hierarchy is utterly beyond our present potential; we would have to be transferred to Sirius for extensive ‘education’ before this could be possible. |
e. Như vậy, các Thái dương Thiên Thần là “cánh cửa” của chúng ta vào Giới Linh Hồn. Việc đi vào Huyền Giai Sáng Tạo thứ Năm hoàn toàn vượt quá tiềm năng hiện tại của chúng ta; chúng ta sẽ phải được chuyển dịch đến Sirius để được “giáo dục” sâu rộng trước khi điều này có thể thành khả hữu. |
|
f. Entry into the Kingdom of Souls is altogether more accessible and, in fact, demanded of us. |
f. Việc đi vào Giới Linh Hồn thì hoàn toàn dễ tiếp cận hơn và, thật ra, được đòi hỏi nơi chúng ta. |
|
g. The life of that kingdom “floods” the fourth kingdom when true communion with the Solar Angel has been established. |
g. Sự sống của giới ấy “tuôn ngập” giới thứ tư khi sự hiệp thông đích thực với Thái dương Thiên Thần đã được thiết lập. |
|
h. ‘Liquid fire’ descends from ‘heaven’ and welds all perceptions into a unity. The vivification of the perception of/experience of unity is the result of this ‘flooding’. |
h. “Lửa lỏng” giáng xuống từ “thiên giới” và hàn gắn mọi tri nhận thành một nhất thể. Sự tiếp sinh lực cho tri nhận/kinh nghiệm về nhất thể là kết quả của sự “tuôn ngập” này. |
|
6. How may the “fifth” feed “on the fourth”? |
6. Làm thế nào “cái thứ năm” có thể nuôi dưỡng “bằng cái thứ tư”? |
|
a. All the best that the fourth has to offer is ‘taken’ by the fifth and used to promote planetary harmony, unity and oneness. |
a. Tất cả những gì tốt đẹp nhất mà cái thứ tư có thể dâng hiến đều được cái thứ năm “tiếp nhận” và sử dụng để thúc đẩy sự hài hòa, hợp nhất và tính nhất như của hành tinh. |
|
b. The vehicle of expression pertaining to the initial layers of the fifth kingdom of nature is the causal body. (Some higher members of the fifth kingdom have already destroyed Their causal body.) That body is built or ‘fed’ from ‘below’—from the harvest of earthly experience in the three lower worlds. |
b. Vận cụ biểu lộ thuộc về các tầng khởi đầu của giới thứ năm trong thiên nhiên là thể nguyên nhân. (Một số thành viên cao hơn của giới thứ năm đã hủy diệt thể nguyên nhân của Các Ngài.) Thể ấy được xây dựng hay “nuôi dưỡng” từ “bên dưới”—từ mùa gặt của kinh nghiệm trần gian trong ba cõi thấp. |
|
c. The members of the fifth kingdom of nature turn towards humanity and are ever alert to the ‘rising good’, which is like ‘nourishment’ for the creation of beauty, harmony, unity and oneness which They supervise. |
c. Các thành viên của giới thứ năm trong thiên nhiên quay về phía nhân loại và luôn tỉnh thức trước “điều thiện đang vươn lên”, vốn giống như “dưỡng chất” cho việc tạo dựng vẻ đẹp, sự hài hòa, hợp nhất và tính nhất như mà Các Ngài giám quản. |
|
d. Of course, every kingdom is nourished not only from ‘below’ but from ‘above’ as well. There is a constant and necessary interchange of substances. |
d. Dĩ nhiên, mọi giới đều được nuôi dưỡng không chỉ từ “bên dưới” mà còn từ “bên trên”. Có một sự trao đổi chất liệu liên tục và cần thiết. |
|
e. Do the members of the Fifth Creative Hierarchy of Solar Angels need to be ‘fed’ or sustained from ‘below’? Probably not. They are very high forms of life. But they are alert to the ‘rising good’ so that they can build higher energy patterns for humanity on planes higher than those of the three lower worlds. |
e. Các thành viên của Huyền Giai Sáng Tạo thứ Năm gồm các Thái dương Thiên Thần có cần được “nuôi dưỡng” hay duy trì từ “bên dưới” không? Có lẽ không. Các Ngài là những hình thái sự sống rất cao. Nhưng Các Ngài tỉnh thức trước “điều thiện đang vươn lên” để có thể xây dựng các mô hình năng lượng cao hơn cho nhân loại trên những cõi cao hơn ba cõi thấp. |
|
7. The “fourth” is to be merged with the “fifth”. Humanity is to become a soul-infused kingdom. Then, in this new and inspired stated, humanity is to be nourished by the “sixth and seventh”—kingdoms. The Sixth and Seventh Creative Hierarchies (number from below upwards) may also be understood to have some remote role in the process, for there is a relation between the sixth and seventh planetary kingdoms and the Sixth and Seventh Creative Hierarchies. These Hierarchies, however, are much ‘higher’ than the corresponding kingdoms. |
7. “Cái thứ tư” phải được hòa nhập với “cái thứ năm”. Nhân loại phải trở thành một giới được linh hồn thấm nhuần. Khi ấy, trong trạng thái mới và được cảm hứng này, nhân loại phải được nuôi dưỡng bởi “cái thứ sáu và thứ bảy”—các giới. Các Huyền Giai Sáng Tạo thứ Sáu và thứ Bảy, tính từ dưới lên trên, cũng có thể được hiểu là có một vai trò xa xôi nào đó trong tiến trình này, vì có một mối liên hệ giữa các giới hành tinh thứ sáu và thứ bảy với các Huyền Giai Sáng Tạo thứ Sáu và thứ Bảy. Tuy nhiên, các Huyền Giai này “cao” hơn nhiều so với các giới tương ứng. |
|
8. What type of “nourishment” are we discussing? |
8. Chúng ta đang bàn đến loại “dưỡng chất” nào? |
|
a. Soul-infused humanity (“merged in the fifth”) is to be nourished by the “sixth” and “seventh”—i.e., by the members of the sixth kingdom of nature (the Planetary Lives, whose lowest members are Chohans and Nirmanakayas of the sixth degree) and the seventh kingdom of nature (the Solar Lives) Who are the higher ‘residents’ of Shamballa and, perhaps, lives who focus beyond the planetary ring-pass-not. We can think of Sanat Kumara and the Three Buddhas of Activity as “Solar Lives”. |
a. Nhân loại được linh hồn thấm nhuần, tức “đã hòa nhập vào cái thứ năm”, phải được nuôi dưỡng bởi “cái thứ sáu” và “cái thứ bảy”—tức là bởi các thành viên của giới thứ sáu trong thiên nhiên, Các Sự Sống Hành tinh, mà các thành viên thấp nhất là các Chohan và các Hóa thân thuộc cấp độ thứ sáu, và bởi giới thứ bảy trong thiên nhiên, Các Sự sống Thái Dương, là những “cư dân” cao hơn của Shamballa và, có lẽ, là những sự sống tập trung vượt ngoài vòng-giới-hạn của hành tinh. Chúng ta có thể nghĩ đến Đức Sanat Kumara và Ba Đức Phật Hoạt Động như là “Các Sự Sống Thái Dương”. |
|
b. The fifth kingdom of nature nourishes humanity with love, with the perception and experience of harmony and unity. |
b. Giới thứ năm trong thiên nhiên nuôi dưỡng nhân loại bằng tình thương, bằng sự tri nhận và kinh nghiệm về hài hòa và hợp nhất. |
|
c. The ‘nourishment’ ‘descending’ from the sixth kingdom is much higher and the perceptions and identifications offered far more vast. Under such nourishment, it becomes possible for humanity to begin thinking in terms of Planetary Purpose and the Divine Will emanating from Shamballa. Man can, under these nourishing streams, know himself as a planetary being, a monadic aspect of the Planetary Logos. Admittedly, it will be the rare human being for whom such perceptions and identifications are meaningful. However, we are talking now in terms of the group, for it is the group which is “merged in the fifth” and “nourished by the sixth and seventh”. We are hypothesizing that the necessary perceptions and identifications are more available to the group than to the individual. |
c. “Dưỡng chất” “giáng xuống” từ giới thứ sáu cao hơn nhiều, và các tri nhận cũng như các đồng hóa được ban cho thì rộng lớn hơn rất nhiều. Dưới sự nuôi dưỡng như thế, nhân loại có thể bắt đầu tư duy theo Thiên Ý Hành Tinh và Ý Chí thiêng liêng xuất lộ từ Shamballa. Con người có thể, dưới các dòng nuôi dưỡng này, biết chính mình như một hữu thể hành tinh, một phương diện chân thần của Hành Tinh Thượng đế. Phải thừa nhận rằng chỉ những người hiếm hoi mới thấy các tri nhận và đồng hóa như thế có ý nghĩa. Tuy nhiên, giờ đây chúng ta đang nói theo nghĩa của nhóm, vì chính nhóm là cái “đã hòa nhập vào cái thứ năm” và “được nuôi dưỡng bởi cái thứ sáu và thứ bảy”. Chúng ta giả định rằng các tri nhận và đồng hóa cần thiết sẵn có cho nhóm nhiều hơn là cho cá nhân. |
|
d. The ‘nourishment’ from the seventh kingdom of nature brings an intimation of solar living. Such beings as the Christ and Buddha understand this type of nourishment. For rising groups of the kind which are cultivated through study and application of the Fourteen Rules for Disciples and Initiates, the merest hint of that Shamballic and post-Shamballic life is all that is possible. |
d. “Dưỡng chất” từ giới thứ bảy trong thiên nhiên mang đến một thoáng báo hiệu về đời sống thái dương. Những Đấng như Đức Christ và Đức Phật thấu hiểu loại dưỡng chất này. Đối với các nhóm đang vươn lên, thuộc loại được vun trồng qua việc nghiên cứu và áp dụng Mười Bốn Quy Luật dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ, chỉ có thể có một gợi ý nhỏ nhất về sự sống Shamballa và hậu Shamballa ấy. |
|
e. Yet the nourishment from this highest Source still proceeds for we all are, eventually, on our way back to the “Sun”, wherein we have a ‘home’ more real than our present planetary home. |
e. Tuy vậy, dưỡng chất từ Cội Nguồn cao nhất này vẫn tiếp tục tuôn chảy, vì cuối cùng tất cả chúng ta đều đang trên đường trở về “Mặt Trời”, nơi chúng ta có một “quê nhà” thực hơn quê nhà hành tinh hiện tại của mình. |
|
f. By means of such nourishment, the group comes, slightly, to know its place within the solar system, and the Solar Logos (not the Planetary Logos) is considered the great Center of Reference. We must remember that, in a way, Shamballa is not only the highest planetary center but that it is an outpost of the consciousness and being of the Solar Logos—on our planet. |
f. Nhờ dưỡng chất như thế, nhóm phần nào biết được vị trí của mình trong hệ mặt trời, và Thái dương Thượng đế, chứ không phải Hành Tinh Thượng đế, được xem là Trung Tâm Tham Chiếu vĩ đại. Chúng ta phải nhớ rằng, theo một cách nào đó, Shamballa không chỉ là trung tâm hành tinh cao nhất, mà còn là một tiền đồn của tâm thức và bản thể của Thái dương Thượng đế—trên hành tinh của chúng ta. |
|
9. For practical purposes, perhaps it would be enough for the group simply to be “merged in the fifth”—to be truly soul-infused. Such a group, fulfilling this requirement, would be a third degree group. |
9. Vì các mục đích thực tiễn, có lẽ chỉ cần nhóm đơn giản “hòa nhập vào cái thứ năm”—thực sự được linh hồn thấm nhuần—là đủ. Một nhóm như thế, khi hoàn thành yêu cầu này, sẽ là một nhóm bậc ba. |
|
10. The group is to “realise that all the lesser rules are rules in time and space and cannot hold the group”. |
10. Nhóm phải “nhận ra rằng mọi quy luật thấp hơn đều là các quy luật trong thời gian và không gian, và không thể ràng buộc nhóm”. |
|
a. This requires that the group members will have fulfilled the lesser Rules. Only then will they be qualified to think in terms of fulfilling the higher. |
a. Điều này đòi hỏi rằng các thành viên của nhóm sẽ phải hoàn thành các Quy Luật thấp hơn. Chỉ khi đó họ mới đủ tư cách để tư duy theo hướng hoàn thành những quy luật cao hơn. |
|
b. When the group is “merged in the fifth” and drawing nourishment from the “sixth” and “seventh”, the group has already largely transcended normal time/space perceptions. |
b. Khi nhóm “hòa nhập vào cái thứ năm” và rút dưỡng chất từ “cái thứ sáu” và “cái thứ bảy”, nhóm đã phần lớn siêu vượt các tri nhận thời gian/không gian thông thường. |
|
c. Time and space have been ‘converted by esoteric perception’ into something far different than they originally seemed. The ‘home’ (locus of consciousness) of the group is no longer in time and space, per se. The factors of Omnipresence, Omniscience and Omnipotence are become at least meaningful, even though the group has far to go before these states become (for the group) actual. |
c. Thời gian và không gian đã được “chuyển hóa bởi tri nhận huyền bí” thành một điều gì đó rất khác với vẻ ban đầu của chúng. “Quê nhà”, tức điểm trú của tâm thức, của nhóm không còn ở trong chính thời gian và không gian. Các yếu tố Toàn Hiện, Toàn Tri và Toàn Năng ít nhất đã trở nên có ý nghĩa, dù nhóm còn phải đi rất xa trước khi các trạng thái này trở thành hiện thực đối với nhóm. |
|
11. Where is the group ‘going’? |
11. Nhóm đang “đi” đâu? |
|
a. “It onward moves in life”. What does this really mean? |
a. “Nhóm tiến tới trong sự sống”. Điều này thật sự có nghĩa là gì? |
|
b. One way to think of this is as an intensification of identification with and as life. The group is not interested, per se, in focusing its attention on the acquisition of knowledge or on the harmonization and unification of the inner and outer environments. It wants to prove that all things are life. |
b. Một cách để nghĩ về điều này là xem nó như sự tăng cường đồng hóa với và như sự sống. Chính nhóm không quan tâm đến việc tập trung sự chú ý của mình vào việc đạt được tri thức hay vào việc làm hài hòa và hợp nhất các môi trường bên trong và bên ngoài. Nhóm muốn chứng minh rằng mọi sự đều là sự sống. |
|
c. Life can exist at all degrees of intensity. To “onward move in life” is to intensify the Presence, to the degree that it becomes the overwhelming and most real factor in all presentations-to-consciousness. |
c. Sự sống có thể tồn tại ở mọi mức độ cường độ. “Tiến tới trong sự sống” là tăng cường Sự Hiện Diện, đến mức nó trở thành yếu tố áp đảo và chân thực nhất trong mọi biểu hiện-trước-tâm-thức. |
|
d. The group is then identifying with the higher reaches of its identity. That part of its consciousness which is immersed in time and space is no longer seen to be the most real part. Time and space perceptions are seen to be illusory limitations. The group seeks not to be held within such limiting perceptions. |
d. Khi ấy nhóm đang đồng hóa với những tầm mức cao hơn của bản sắc mình. Phần tâm thức của nhóm đang chìm trong thời gian và không gian không còn được xem là phần chân thực nhất. Các tri nhận về thời gian và không gian được thấy là những giới hạn ảo tưởng. Nhóm tìm cách không bị ràng buộc trong những tri nhận giới hạn như thế. |
|
12. Rule VI calls us to a far deeper appreciation of the meaning of and experience of life. We are used to understanding life as life-in-form, but life is essentially independent of form. Life is the Presence which sustains all form, and it is to this Presence that we, in group formation, must relate, at ever heightening degrees of intensity. |
12. Quy luật VI kêu gọi chúng ta đi đến một sự trân trọng sâu xa hơn nhiều về ý nghĩa và kinh nghiệm của sự sống. Chúng ta quen thấu hiểu sự sống như sự sống-trong-hình tướng, nhưng tự bản chất, sự sống độc lập với hình tướng. Sự sống là Sự Hiện Diện nâng đỡ mọi hình tướng, và chính với Sự Hiện Diện này mà chúng ta, trong đội hình nhóm, phải liên hệ, ở những mức độ cường độ ngày càng cao hơn. |
|
13. As we proceed with the analysis of this Rule, we will try to deepen our understanding of life and form. |
13. Khi tiến hành phân tích Quy luật này, chúng ta sẽ cố gắng đào sâu sự thấu hiểu của mình về sự sống và hình tướng. |
|
Paragraph 2 |
Đoạn 2 |
|
B. I find it extremely difficult to express the significance of this Rule in such a way that it will convey meaning to you, and this for two reasons: First, the idea of the One Life is so prevalent, and so customary and trite an unrealised truth, that it registers on ears with very little effect. Secondly, the whole story of life—which is purpose, divine will, and absolute determination—and the eternal planning of the Lord of the World is so hard of comprehension that we have as yet no words in the language of any nation which can express it. |
B. Tôi thấy vô cùng khó diễn đạt thâm nghĩa của Quy luật này theo cách có thể truyền đạt ý nghĩa cho các bạn, và điều này vì hai lý do: Thứ nhất, ý tưởng về Sự Sống Duy Nhất quá phổ biến, quá quen thuộc và quá sáo mòn như một chân lý chưa được chứng nghiệm, đến nỗi nó ghi nhận vào tai với rất ít hiệu quả. Thứ hai, toàn bộ câu chuyện về sự sống—vốn là mục đích, Ý Chí thiêng liêng và quyết tâm tuyệt đối—cùng sự hoạch định vĩnh cửu của Đức Chúa Tể Thế Giới thì khó thấu hiểu đến mức hiện nay chúng ta chưa có những từ ngữ trong ngôn ngữ của bất cứ quốc gia nào có thể diễn đạt được nó. |
|
Points to Consider in Relation to the Above Section |
Những điểm cần xem xét liên quan đến phần trên |
|
1. The Tibetan finds himself hampered by our very limiting human words. |
1. Chân sư Tây Tạng thấy mình bị cản trở bởi chính những từ ngữ nhân loại rất giới hạn của chúng ta. |
|
2. One problem is the very familiarity of the concept of the “One Life”. It is “prevalent”, “customary” and “trite”. |
2. Một vấn đề là sự quá quen thuộc của khái niệm “Sự Sống Duy Nhất”. Nó “phổ biến”, “quen thuộc” và “sáo mòn”. |
|
3. We are all aware of the fact that excessive familiarity dulls perception. |
3. Tất cả chúng ta đều ý thức được sự kiện rằng sự quá quen thuộc làm cùn nhụt tri giác. |
|
4. The Tibetan calls the concept so “trite an unrealised truth”. The point is that this great idea is unrealised. The formulation, “the One Life” has become simply a sound and form of words to many people. The realization and experience of the meaning is generally inaccessible. |
4. Chân sư Tây Tạng gọi khái niệm này là một “chân lý chưa được chứng nghiệm quá sáo mòn”. Điểm chính là ý tưởng vĩ đại này vẫn chưa được chứng nghiệm. Công thức “Sự Sống Duy Nhất” đối với nhiều người đã chỉ trở thành một âm thanh và một hình thức ngôn từ. Việc chứng nghiệm và kinh nghiệm ý nghĩa của nó nói chung vẫn ngoài tầm với. |
|
5. The second difficulty which the Tibetan encounters when He attempts to speak of Rule VI is the obscurity (to the human mind) of the deep purposes, plans and processes of the Lord of the World. |
5. Khó khăn thứ hai mà Chân sư Tây Tạng gặp phải khi Ngài cố gắng nói về Quy luật VI là tính tối nghĩa, đối với thể trí con người, của các mục đích, kế hoạch và tiến trình sâu xa của Đức Chúa Tể Thế Giới. |
|
6. Our normal level of perception is far too low to appreciate the purposes, plans and processes of this Great Being, and of the even greater Being, the Planetary Logos. |
6. Cấp độ tri giác bình thường của chúng ta quá thấp để có thể trân trọng các mục đích, kế hoạch và tiến trình của Đấng Vĩ Đại này, cũng như của Đấng còn vĩ đại hơn nữa, Đức Hành Tinh Thượng đế. |
|
7. Yet, since we are dealing with Rule VI, we know, numerologically, that we shall have to consider desire, will, plan and purpose. |
7. Tuy nhiên, vì chúng ta đang bàn đến Quy luật VI, xét theo số học, chúng ta biết rằng mình sẽ phải xem xét dục vọng, ý chí, kế hoạch và mục đích. |
|
8. Master DK says the Lord of the World is possessed of “absolute determination”. It would seem that His purposes cannot be altered in any way, that they are firm and intended facts in His consciousness. There is no way that the many planetary lesser lives can resist the imposition of these purposes. |
8. Chân sư DK nói Đức Chúa Tể Thế Giới có “quyết tâm tuyệt đối”. Dường như các mục đích của Ngài không thể bị thay đổi theo bất cứ cách nào; chúng là những sự kiện vững chắc và đã được định ý trong tâm thức của Ngài. Không có cách nào để nhiều sự sống hành tinh nhỏ hơn có thể chống lại sự áp đặt của các mục đích này. |
|
9. Our human language is totally inadequate to express these deeper factors. Might the Tibetan be suggesting that there are languages which could express some of these factors—languages such as Sensar? |
9. Ngôn ngữ nhân loại của chúng ta hoàn toàn không đủ để diễn đạt các yếu tố sâu xa hơn này. Phải chăng Chân sư Tây Tạng đang gợi ý rằng có những ngôn ngữ có thể diễn đạt một vài yếu tố ấy—chẳng hạn như một ngôn ngữ bí truyền cổ? |
|
10. We also read of the “eternal planning of the Lord of the World”. This is an arresting phrase. The word “eternal” cannot mean “forever”, because of the limited duration of our planet and the limited association of Sanat Kumara with our planet. |
10. Chúng ta cũng đọc thấy cụm từ “sự hoạch định vĩnh cửu của Đức Chúa Tể Thế Giới”. Đây là một cụm từ gây chú ý. Từ “vĩnh cửu” không thể có nghĩa là “mãi mãi”, bởi vì hành tinh của chúng ta có thời hạn hữu hạn, và sự liên hệ của Đức Sanat Kumara với hành tinh chúng ta cũng có giới hạn. |
|
11. Rather, “eternal” must suggest a profound awareness of planetary, systemic and cosmic cycles sustained over a great period of time. Sanat Kumara does not relent in His planning for planetary redemption, and over an immense period of time (immense to us) takes (without let up) all relevant factors into consideration so that His purposes may be fulfilled. |
11. Đúng hơn, “vĩnh cửu” phải gợi lên một nhận thức sâu xa về các chu kỳ hành tinh, hệ thống và vũ trụ được duy trì qua một thời kỳ rất dài. Đức Sanat Kumara không hề lơi lỏng trong việc hoạch định cho sự cứu chuộc hành tinh, và qua một khoảng thời gian mênh mông, mênh mông đối với chúng ta, Ngài liên tục xét đến mọi yếu tố liên quan để các mục đích của Ngài có thể được hoàn thành. |
|
12. An understanding of such factors is that towards which the Masters are straining Their consciousness. As human beings within human groups, we cannot expect to do much more than understand that these factors exist. |
12. Việc thấu hiểu các yếu tố như thế là điều mà các Chân sư đang căng tâm thức của Các Ngài để hướng tới. Là những con người trong các nhóm nhân loại, chúng ta không thể kỳ vọng làm được nhiều hơn ngoài việc thấu hiểu rằng các yếu tố này hiện hữu. |
|
Paragraph 3 |
Đoạn 3 |
|
C. What I am now writing is a series of instructions for disciples in process of training for initiation. I did not say in training for the higher initiations, for these are given in a different manner and the teaching is imparted in the inner Ashram. Therefore, as you have not taken the third initiation, monadic comprehension lies far beyond you; and only this highest state of understanding suffices for the clear perception of the fundamental divine intent lying behind all world phenomena, all evolutionary development, all unfoldment within the capacity of the four kingdoms in nature, and all preparatory extensions and expansions of consciousness. |
C. Điều tôi đang viết hiện nay là một loạt huấn thị dành cho các đệ tử đang trong tiến trình huấn luyện để được điểm đạo. Tôi không nói là đang được huấn luyện cho các cuộc điểm đạo cao hơn, vì các cuộc điểm đạo này được ban theo một cách khác và giáo huấn được truyền đạt trong ashram bên trong. Do đó, vì các bạn chưa trải qua lần điểm đạo thứ ba, sự thấu hiểu chân thần còn nằm rất xa ngoài tầm của các bạn; và chỉ trạng thái thấu hiểu cao nhất này mới đủ cho tri giác rõ ràng về ý định thiêng liêng căn bản nằm sau mọi hiện tượng thế gian, mọi phát triển thăng thượng tiến hoá, mọi sự khai mở trong khả năng của bốn giới trong tự nhiên, và mọi sự mở rộng cùng bành trướng chuẩn bị của tâm thức. |
|
Points to Consider in Relation to the Above Section |
Những điểm cần xem xét liên quan đến phần trên |
|
1. We have reached Rule VI and the Tibetan seems to be suggesting that His present discussions are definitely for those in training for initiation. |
1. Chúng ta đã đến Quy luật VI và Chân sư Tây Tạng dường như đang gợi ý rằng các cuộc luận giải hiện tại của Ngài chắc chắn dành cho những ai đang được huấn luyện để điểm đạo. |
|
2. Even the earlier Rules (I through V) offered highly elevated considerations, but the instruction offered in relation to Rule VI, is, apparently, still more elevated. |
2. Ngay cả các Quy luật trước, từ I đến V, cũng đã đưa ra những điều suy xét rất cao, nhưng huấn thị được đưa ra liên quan đến Quy luật VI, rõ ràng, còn cao hơn nữa. |
|
3. DK speaks here of the “higher initiations”, stating that training for such initiations is not being offered in the present group instructions. What are these higher initiations? I would say that we can begin numbering from the fourth initiation. The third initiation, though for most it is a “higher” initiation, is somewhat pivotal and transitional. |
3. Ở đây, Chân sư DK nói về “các cuộc điểm đạo cao hơn”, nêu rõ rằng việc huấn luyện cho những cuộc điểm đạo như thế không được đưa ra trong các huấn thị nhóm hiện tại. Các cuộc điểm đạo cao hơn này là gì? Tôi cho rằng chúng ta có thể bắt đầu đánh số từ lần điểm đạo thứ tư. Lần điểm đạo thứ ba, dù đối với phần lớn là một cuộc điểm đạo “cao hơn”, vẫn có phần then chốt và chuyển tiếp. |
|
4. These instructions are written mostly for those who have not taken the third initiation, but who may aspire thereto. |
4. Những huấn thị này phần lớn được viết cho những ai chưa trải qua lần điểm đạo thứ ba, nhưng có thể khát vọng hướng đến điều đó. |
|
5. In The Rays and the Initiations much is given on the spiritual triad and the monad. The information lies beyond the comprehension of most readers, but is, at least, conceivable, and some training in that direction can be offered. There was an occasion when DK did say, however, that He was not presently training people for the third degree. In another place, however, He said that He and some other junior Masters were, in fact, undertaking such training. |
5. Trong Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo có nhiều điều được đưa ra về Tam Nguyên Tinh Thần và chân thần. Thông tin ấy nằm ngoài sự thấu hiểu của phần lớn độc giả, nhưng ít nhất vẫn có thể quan niệm được, và một số huấn luyện theo hướng đó có thể được đưa ra. Tuy nhiên, đã có một dịp Chân sư DK nói rằng hiện thời Ngài không huấn luyện người ta cho cấp độ thứ ba. Tuy vậy, ở một nơi khác, Ngài nói rằng thật ra Ngài và một số Chân sư cấp thấp hơn đang đảm nhận việc huấn luyện như thế. |
|
“initiation may be taken in the interim period between incarnations, or else immediately upon return to physical plane life. This latter is the most probable for those who are not taking initiations higher than the third; and, at present, for that initiation I am not preparing disciples.” (DINA II 70) |
“điểm đạo có thể được thực hiện trong giai đoạn trung gian giữa các lần lâm phàm, hoặc ngay khi trở lại đời sống cõi hồng trần. Trường hợp sau là khả dĩ nhất đối với những ai không nhận các cuộc điểm đạo cao hơn lần thứ ba; và hiện nay, tôi không chuẩn bị các đệ tử cho cuộc điểm đạo ấy.” (ĐĐTKM II 70) |
|
“Certain of the Masters (usually Masters like myself who have only lately passed through the fifth initiation) have been chosen to train and instruct aspirants on all the rays until after the third Initiation of Transfiguration.” (DINA II 383) |
“Một số Chân sư, thường là những Chân sư như tôi, những vị chỉ mới gần đây vượt qua lần điểm đạo thứ năm, đã được chọn để huấn luyện và chỉ dạy những người chí nguyện trên mọi cung cho đến sau lần Điểm Đạo Biến Hình thứ ba.” (ĐĐTKM II 383) |
|
6. If we are to appreciate Sanat Kumara’s “divine intent” we must be possessed of “monadic comprehension”. This cannot be achieved before the third initiation, which marks the real beginning of such comprehension. It may be, however, that a close study of what is given in this book will lead the earnest student closer to that comprehension. |
6. Nếu chúng ta muốn trân trọng “ý định thiêng liêng” của Đức Sanat Kumara, chúng ta phải có “sự thấu hiểu chân thần”. Điều này không thể đạt được trước lần điểm đạo thứ ba, vốn đánh dấu sự khởi đầu thật sự của sự thấu hiểu ấy. Tuy nhiên, có thể việc nghiên cứu kỹ lưỡng những gì được đưa ra trong quyển sách này sẽ đưa đạo sinh nghiêm túc đến gần hơn với sự thấu hiểu đó. |
|
7. What we are coming to realize is that there are mysterious, directive factors underlying all the more obvious perceptions. These guiding, directive factors are inaccessible to all except those who can be significantly influenced by the highest aspect of their nature—the monad. |
7. Điều chúng ta đang dần nhận ra là có những yếu tố huyền nhiệm, có tính chỉ đạo, nằm bên dưới mọi tri giác hiển nhiên hơn. Những yếu tố hướng dẫn và chỉ đạo này không thể tiếp cận được đối với tất cả, ngoại trừ những ai có thể chịu ảnh hưởng đáng kể từ phương diện cao nhất của bản chất mình—chân thần. |
|
Paragraph 4 |
Đoạn 4 |
|
D. All I can therefore do is to touch upon the inner significance [Page 125] of the obvious and seek to express certain ideas which will strain your mental perception, evoke your intuition and institute that process of recognition and registration which leads eventually to the initiate-consciousness. |
D. Vì vậy, tất cả những gì tôi có thể làm là chạm đến thâm nghĩa bên trong [Trang 125] của điều hiển nhiên và tìm cách diễn đạt một vài ý tưởng sẽ căng mở tri giác trí tuệ của các bạn, gợi lên trực giác của các bạn, và thiết lập tiến trình nhận biết cùng ghi nhận, điều cuối cùng dẫn đến tâm thức điểm đạo đồ. |
|
Points to Consider in Relation to the Above Section |
Những điểm cần xem xét liên quan đến phần trên |
|
1. DK promises that He will now “strain” our “mental perception”. |
1. Chân sư DK hứa rằng giờ đây Ngài sẽ “căng mở” “tri giác trí tuệ” của chúng ta. |
|
2. We are accustomed to register the “obvious”; that is no problem, but it is a problem to accurately register “the inner significance of the obvious”. Points regarding this “inner significance” are what He will now offer. |
2. Chúng ta quen ghi nhận điều “hiển nhiên”; điều đó không phải là vấn đề, nhưng việc ghi nhận chính xác “thâm nghĩa bên trong của điều hiển nhiên” mới là vấn đề. Những điểm liên quan đến “thâm nghĩa bên trong” này là điều Ngài sẽ đưa ra lúc này. |
|
3. We see that in such a presentation, DK is seeking to instil in us “the initiate consciousness”. The achievement of this consciousness certainly requires the exercise and stretching of our faculties far beyond their customary extensions. |
3. Chúng ta thấy rằng trong một trình bày như thế, Chân sư DK đang tìm cách gieo truyền vào chúng ta “tâm thức điểm đạo đồ”. Việc đạt được tâm thức này chắc chắn đòi hỏi vận dụng và kéo giãn các năng lực của chúng ta vượt xa những phạm vi quen thuộc của chúng. |
|
4. We are to be ready for a deepening of “mental perception”, for the “evocation of intuition” and for the possibility of “recognition and registration” of factors hitherto unknown. |
4. Chúng ta phải sẵn sàng cho sự đào sâu “tri giác trí tuệ”, cho “việc gợi lên trực giác”, và cho khả năng “nhận biết và ghi nhận” những yếu tố cho đến nay vẫn chưa được biết. |
|
5. We customarily formulate future possibilities in terms of what is already known. In doing so, it is easy to fall into error. That which lies ahead is, in many ways, totally unlike that with which we are familiar. |
5. Chúng ta thường hình thành các khả năng tương lai theo những gì đã được biết. Khi làm như vậy, rất dễ rơi vào sai lầm. Điều nằm phía trước, theo nhiều phương diện, hoàn toàn không giống với những gì chúng ta quen thuộc. |
|
6. We see that Master DK is faced with the prospect of leading us, individually and in group consciousness, into unfamiliar realms. If we are to help him do so, we must suspend our attachment to the familiar. |
6. Chúng ta thấy rằng Chân sư DK đang đối diện với viễn cảnh dẫn dắt chúng ta, cả cá nhân lẫn trong tâm thức nhóm, vào những cõi giới xa lạ. Nếu muốn giúp Ngài làm điều đó, chúng ta phải tạm gác sự bám chấp của mình vào điều quen thuộc. |
|
Paragraph 5 |
Đoạn 5 |
|
E. This sixth Rule is the polar opposite of the rule as it was given to applicants. There, if you will refer to my exegesis upon that rule in Initiation, Human and Solar, you will find that the objective of that rule was physical purification with the emphasis upon the need for a vegetarian diet at a certain stage of the preparatory process. The reasons for such a discipline were two in number: purification and the necessity for the applicant (at that stage) to refrain from sharing in the benefits incident to the so-called “taking of life.” But, can one take life? I think not. Life IS. Naught in heaven or on earth can touch or affect it. This is a point oft forgotten. The rule as given to applicants consequently concerns their ability to accept and adhere to a self-imposed discipline. Through the means of that discipline, the control of the physical and astral natures are demonstrated by the applicant to himself, and the effect of the discipline is to reveal to him certain inevitable and basic weaknesses, such as control of the animal nature, the powerful imposition of desire, a sense of superiority, of pride and separativeness. His ability to sustain the discipline and his appreciation of himself for so doing, plus a sense of superiority to those who are not so disciplined, are all indicative of essential weaknesses. His fanaticism, latent or expressed, emerges in his consciousness with clarity, and—when he is sincere—he is conscious of having brought about a measure of physical purity; but at the same time, he is left with the awareness that he perhaps may be starting with the outer and the obvious when he should be beginning with the inner and with that which is not so easily contacted or expressed. This is a great and most important lesson. |
E. Quy luật thứ sáu này là đối cực của quy luật như đã được ban cho các ứng viên. Ở đó, nếu các bạn tham khảo phần giải nghĩa của tôi về quy luật ấy trong Điểm Đạo: Nhân Loại và Thái Dương, các bạn sẽ thấy rằng mục tiêu của quy luật đó là sự thanh lọc thể xác, với sự nhấn mạnh vào nhu cầu về một chế độ ăn chay ở một giai đoạn nhất định của tiến trình chuẩn bị. Lý do của kỷ luật như thế có hai: sự thanh lọc và nhu cầu để ứng viên, ở giai đoạn ấy, kiêng không dự phần vào những lợi ích gắn liền với điều gọi là “tước đoạt sự sống.” Nhưng liệu người ta có thể tước đoạt sự sống không? Tôi nghĩ là không. Sự sống HIỆN HỮU. Không điều gì trên trời hay dưới đất có thể chạm đến hoặc ảnh hưởng đến nó. Đây là một điểm thường bị quên lãng. Vì thế, quy luật được ban cho các ứng viên liên quan đến khả năng của họ trong việc chấp nhận và tuân giữ một kỷ luật tự áp đặt. Nhờ phương tiện của kỷ luật ấy, ứng viên chứng minh cho chính mình thấy sự kiểm soát các bản chất hồng trần và cảm dục, và hiệu quả của kỷ luật là mặc khải cho y một số yếu kém tất yếu và căn bản, như việc kiểm soát bản chất thú tính, sự áp đặt mạnh mẽ của dục vọng, cảm thức ưu việt, kiêu hãnh và chia rẽ. Khả năng của y trong việc duy trì kỷ luật, sự tự đánh giá cao bản thân vì làm được như vậy, cộng với cảm thức ưu việt so với những ai không có kỷ luật như thế, tất cả đều cho thấy những yếu kém cốt lõi. Sự cuồng tín của y, tiềm ẩn hay đã bộc lộ, hiện ra rõ ràng trong tâm thức y, và—khi y chân thành—y ý thức rằng mình đã tạo nên một mức độ thanh khiết hồng trần nào đó; nhưng đồng thời, y vẫn còn nhận thức rằng có lẽ mình đang bắt đầu với điều bên ngoài và hiển nhiên, trong khi lẽ ra phải bắt đầu với điều bên trong và với điều không dễ tiếp xúc hay diễn đạt như vậy. Đây là một bài học lớn lao và vô cùng quan trọng. |
|
Points to Consider in Relation to the Above Section |
Những điểm cần xem xét liên quan đến phần trên |
|
1. We are immediately faced with an apparent contradiction. Rule VI for Disciples and Initiates, written approximately twenty years later than Rule VI for Applicants in Initiation: Human and Solar, is the “polar opposite” of the earlier Rule. |
1. Chúng ta lập tức đối diện với một mâu thuẫn có vẻ hiển nhiên. Quy luật VI dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ, được viết muộn hơn khoảng hai mươi năm so với Quy luật VI dành cho Ứng viên trong Điểm Đạo: Nhân Loại và Thái Dương, là “đối cực” của Quy luật trước đó. |
|
2. We cannot deny that physical purity is vitally important for those who wish to tread the Path of Discipleship successfully. |
2. Chúng ta không thể phủ nhận rằng sự thanh khiết hồng trần có tầm quan trọng thiết yếu đối với những ai muốn tiến bước thành công trên Con Đường Đệ Tử. |
|
3. We learn, however, that Master DK had other and deeper objectives in mind when insisting that disciples follow Rule VI for Applicants. Basically, through earnest engagement in the physical disciplines, and the many revelations which arise naturally through such engagement, DK is hoping His disciples will learn to think in wider, deeper terms. |
3. Tuy nhiên, chúng ta học được rằng Chân sư DK đã có những mục tiêu khác và sâu xa hơn trong tâm trí khi Ngài nhấn mạnh rằng các đệ tử phải tuân theo Quy luật VI dành cho Ứng viên. Về căn bản, thông qua việc dấn thân nghiêm túc vào các kỷ luật hồng trần, và nhiều sự mặc khải tự nhiên phát sinh qua sự dấn thân ấy, Chân sư DK hy vọng các đệ tử của Ngài sẽ học cách suy nghĩ theo những chiều hướng rộng hơn và sâu hơn. |
|
4. Rule VI for applicants applies very much to correct procedure within form. As previously stated, life in form is not life, per se. Those who imagine that they are “taking life” when they use animal food are correct, in a sense, but fundamentally and philosophically incorrect. “Life”, per se, cannot be taken. “Life IS. Naught in heaven or on earth can touch or affect it.” By the attempt to adhere to physical disciplines, the disciple learns what life is and what it is not. |
4. Quy luật VI dành cho các ứng viên áp dụng rất nhiều vào phương thức đúng đắn bên trong hình tướng. Như đã nói trước đây, sự sống trong hình tướng không phải là chính sự sống. Những ai tưởng rằng họ đang “tước đoạt sự sống” khi dùng thức ăn động vật thì đúng theo một nghĩa nào đó, nhưng xét về căn bản và về mặt triết học thì không đúng. “Sự sống”, xét như chính nó, không thể bị tước đoạt. “Sự sống HIỆN HỮU. Không điều gì trên trời hay dưới đất có thể chạm đến hoặc ảnh hưởng đến nó.” Qua nỗ lực tuân giữ các kỷ luật hồng trần, đệ tử học được sự sống là gì và nó không là gì. |
|
5. The attempt to adhere to the suggested physical disciplines reveals many things to the disciples—among them the power and rebelliousness of his animal nature, not easily subdued. Should he manage to subdue this nature, then pride of accomplishment may emerge and a subtle and separative criticism of those who do not succeed. DK wants His disciples to understand these often experienced stages and to see their limitation. |
5. Nỗ lực tuân giữ các kỷ luật hồng trần được gợi ý mặc khải nhiều điều cho các đệ tử—trong đó có quyền năng và sự phản kháng của bản chất thú tính nơi y, vốn không dễ bị khuất phục. Nếu y có thể khuất phục bản chất này, thì niềm kiêu hãnh về thành tựu có thể xuất hiện, cùng một sự phê phán tinh tế và chia rẽ đối với những người không thành công. Chân sư DK muốn các đệ tử của Ngài thấu hiểu những giai đoạn thường được kinh nghiệm này và thấy giới hạn của chúng. |
|
6. Indeed, the animal form must be mastered, and many high souls retain their vegetarian habits even while engaged with disciplines far more inward and essential. |
6. Thật vậy, hình tướng động vật phải được làm chủ, và nhiều linh hồn cao vẫn giữ thói quen ăn chay ngay cả khi đang dấn thân vào những kỷ luật nội tại và cốt yếu hơn nhiều. |
|
7. DK trusts that a deeper sense of values will emerge within the consciousness of the disciple and discipleship group by the attempt to adhere with persistence to the proposed physical disciplines. They will gain in vehicular purity, yes, but also in an understanding of the contrast between the outer and the inner, the non-essential and the essential, the not-Self and the Self. |
7. Chân sư DK tin rằng một ý thức sâu hơn về các giá trị sẽ xuất hiện trong tâm thức của đệ tử và của nhóm đệ tử qua nỗ lực kiên trì tuân giữ các kỷ luật hồng trần được đề xuất. Họ sẽ đạt được sự thanh khiết của các hiện thể, đúng vậy, nhưng cũng đạt được sự thấu hiểu về sự tương phản giữa bên ngoài và bên trong, giữa điều không cốt yếu và điều cốt yếu, giữa phi-ngã và Chân Ngã. |
|
8. Every achievement is but the prelude to deeper potential achievements. If the disciple remains fixated upon physical disciplines, he will miss the opportunity to mover closer to the center of life. If the fixation remains, he will be demonstrating a definite need for a broadened and deepened perspective on spiritual training and the spiritual path. |
8. Mọi thành tựu chỉ là khúc dạo đầu cho những thành tựu tiềm tàng sâu xa hơn. Nếu đệ tử vẫn bị cố định vào các kỷ luật hồng trần, y sẽ bỏ lỡ cơ hội tiến gần hơn đến trung tâm của sự sống. Nếu sự cố định ấy vẫn còn, y sẽ chứng tỏ một nhu cầu rõ rệt cần có một viễn cảnh được mở rộng và đào sâu hơn về sự huấn luyện tinh thần và con đường tinh thần. |
|
Paragraph 6 |
Đoạn 6 |
|
F. It is also an interesting illustration of the technique of the Masters, whereby They permit a fallacy to remain uncorrected (because it is originated by the disciple himself [Page 126] and must be dissipated by him also) and the use of language which conveys a wrong impression. By so doing, the user of the language discovers eventually his erroneous approach to truth. Life cannot be taken in the spiritual sense. This error or mistake in the approach of truth enables men and women upon the Probationary Path to demonstrate the earnestness and sincerity of their aspiration by the discipline of substituting the produce “of the second,” and to refrain from sustaining life on the produce “of the third.” By sacrificing the life of the second kingdom in nature (to use the applicant’s own misstatements) and by nourishing the physical body thereby, the probationary disciple does succeed in ending the grip or potency of the physical nature, and that is always helpful. He as yet does not know that he is adhering to lesser “rules in time and space,” and that once he has demonstrated to himself that he can hold them and obey them, he is then freed from them and needs them no more. The disciple and the candidate for initiation knows that life is one, whether it takes form in the second kingdom or in the third or the fourth; he knows that the life in him is one with the life in the first kingdom, the mineral; he learns too that life is impregnable; that it cannot be taken or destroyed but “passes on” from form to form, from experience to experience, until the perfect will of God is expressed through life. |
F. Đó cũng là một minh họa thú vị về kỹ thuật của các Chân sư, nhờ đó Các Ngài cho phép một ngụy kiến vẫn chưa được sửa chữa, vì nó do chính đệ tử [Trang 126] khởi sinh và cũng phải do chính y làm tiêu tan, và cho phép việc dùng thứ ngôn ngữ truyền đạt một ấn tượng sai lầm. Bằng cách ấy, cuối cùng người sử dụng ngôn ngữ sẽ khám phá ra cách tiếp cận chân lý sai lầm của mình. Sự sống không thể bị tước đoạt theo nghĩa tinh thần. Sai lầm hay lầm lẫn này trong cách tiếp cận chân lý giúp những người nam và nữ trên Con Đường Dự Bị chứng minh sự nghiêm túc và chân thành trong khát vọng của họ bằng kỷ luật thay thế bằng sản vật “của giới thứ hai”, và kiêng không nuôi dưỡng sự sống bằng sản vật “của giới thứ ba”. Bằng cách hy sinh sự sống của giới thứ hai trong tự nhiên, dùng chính những phát biểu sai lầm của ứng viên, và nhờ đó nuôi dưỡng thể xác, đệ tử dự bị quả thật thành công trong việc chấm dứt sự kìm giữ hay uy lực của bản chất hồng trần, và điều đó luôn hữu ích. Y vẫn chưa biết rằng mình đang tuân giữ những “quy luật trong thời gian và không gian” thấp hơn, và một khi y đã chứng minh cho chính mình rằng y có thể giữ và tuân phục chúng, bấy giờ y được giải thoát khỏi chúng và không còn cần đến chúng nữa. Đệ tử và ứng viên điểm đạo biết rằng sự sống là một, dù nó mang hình tướng trong giới thứ hai, giới thứ ba hay giới thứ tư; y biết rằng sự sống trong y là một với sự sống trong giới thứ nhất, giới kim thạch; y cũng học được rằng sự sống là bất khả xâm phạm; rằng nó không thể bị tước đoạt hay hủy diệt mà chỉ “đi tiếp” từ hình tướng này sang hình tướng khác, từ kinh nghiệm này sang kinh nghiệm khác, cho đến khi Ý Chí hoàn hảo của Thượng Đế được biểu lộ qua sự sống. |
|
Points to Consider in Relation to the Above Section |
Những điểm cần xem xét liên quan đến phần trên |
|
1. DK discusses an interesting technique utilized by the Masters—that of permitting a fallacy to remain uncorrected, and, also, permitting the continued use of language which conveys the wrong impression. |
1. Chân sư DK thảo luận một kỹ thuật thú vị được các Chân sư sử dụng—đó là cho phép một ngụy kiến vẫn chưa được sửa chữa, và cũng cho phép việc tiếp tục dùng thứ ngôn ngữ truyền đạt ấn tượng sai lầm. |
|
2. This policy of the Masters is a pedagogical technique. They could, of course, immediately correct every error in thought which They perceive as occurring within the mind of the disciple. The disciple, however, would learn much less, and moreover, become too dependent upon the Master’s correctional intervention. As disciples, we must become self-correcting. The Master seeks to create Masters. A Master, we must realize, is Self-reliant to a degree we can hardly conceive. |
2. Chính sách này của các Chân sư là một kỹ thuật sư phạm. Dĩ nhiên, Các Ngài có thể lập tức sửa chữa mọi sai lầm trong tư tưởng mà Các Ngài nhận thấy đang xảy ra trong thể trí của đệ tử. Tuy nhiên, đệ tử sẽ học được ít hơn nhiều, và hơn nữa, sẽ trở nên quá lệ thuộc vào sự can thiệp sửa sai của Chân sư. Là các đệ tử, chúng ta phải trở nên tự sửa mình. Chân sư tìm cách tạo nên các Chân sư. Chúng ta phải nhận ra rằng một Chân sư tự lực đến một mức độ mà chúng ta khó có thể quan niệm. |
|
3. What we see is that it is not possible to work on all necessary stages of the Path simultaneously. Those who tread the Path are subject to what might be called ‘The Law of Sequence’. The various steps on the ladder of evolution, and the various sections of the Path are graded approaches to greater knowledge, love and power. If, at the beginning, our minds are focussed on issues too lofty for our comprehension, we shall fail to take the first steps successfully. |
3. Điều chúng ta thấy là không thể đồng thời làm việc trên tất cả các giai đoạn cần thiết của Đường Đạo. Những ai bước trên Đường Đạo chịu chi phối của điều có thể gọi là “Định luật Trình Tự”. Các bước khác nhau trên chiếc thang tiến hoá, và các đoạn khác nhau của Đường Đạo, là những cách tiếp cận được phân cấp đến tri thức, tình thương và quyền năng lớn hơn. Nếu ngay từ đầu, thể trí chúng ta tập trung vào những vấn đề quá cao đối với sự thấu hiểu của mình, chúng ta sẽ không thể thực hiện thành công những bước đầu tiên. |
|
4. We are here confronting the need for “occult blindness”—imposed by the Solar Angel, and also, in a way, abetted by the Master as a pedagogical technique. Under the beneficent regime of “occult blindness” important lessons are truly and deeply learned and superficial, unstable progress is avoided. |
4. Ở đây chúng ta đang đối diện với nhu cầu về “sự mù lòa huyền bí”—do Thái dương Thiên Thần áp đặt, và theo một cách nào đó, cũng được Chân sư hỗ trợ như một kỹ thuật sư phạm. Dưới chế độ từ ái của “sự mù lòa huyền bí”, những bài học quan trọng được học một cách thật sự và sâu sắc, còn sự tiến bộ hời hợt, thiếu ổn định thì được tránh khỏi. |
|
5. It cannot be denied that there are many advantages to nourishing that which is lowest with the produce of the second rather than with that which is made available through the sacrifice of the third. A number of higher psychic capacities (necessary during higher demonstrations of spirituality) are thereby facilitated. But siddhis and powers are also secondary in the long run, and it is possible to become fixated upon their expression (just as it is possible to become fixated upon the performance of certain physical disciplines). Any form of fixation persisted in beyond its useful term is detrimental to spiritual progress. |
5. Không thể phủ nhận rằng có nhiều lợi ích trong việc nuôi dưỡng phần thấp nhất bằng sản vật của giới thứ hai hơn là bằng những gì có được nhờ sự hy sinh của giới thứ ba. Nhờ đó, một số năng lực thông linh cao hơn, cần thiết trong những biểu hiện cao hơn của tinh thần, được tạo thuận lợi. Nhưng các quyền năng thần thông và các quyền năng nói chung rốt cuộc cũng chỉ là thứ yếu, và người ta có thể bị cố định vào sự biểu lộ của chúng, cũng như có thể bị cố định vào việc thực hành một số kỷ luật hồng trần. Bất cứ hình thức cố định nào kéo dài vượt quá thời hạn hữu ích của nó đều gây hại cho sự tiến bộ tinh thần. |
|
6. What, then, are our fixations? To what are we attached in such a way that we put second things first and first things second? |
6. Vậy thì, những sự cố định của chúng ta là gì? Chúng ta đang bám chấp vào điều gì theo cách khiến chúng ta đặt những điều thứ yếu lên trước và những điều hàng đầu xuống sau? |
|
7. We conclude that the physical disciplines are useful but not of ultimate importance. When we develop “an adjusted sense of right proportion” we shall see the relative value of the various kinds of disciplinary processes to which we subject ourselves. |
7. Chúng ta kết luận rằng các kỷ luật hồng trần hữu ích nhưng không có tầm quan trọng tối hậu. Khi chúng ta phát triển “một ý thức đúng đắn và điều chỉnh về tỉ lệ”, chúng ta sẽ thấy giá trị tương đối của các loại tiến trình kỷ luật khác nhau mà chúng ta tự đặt mình vào. |
|
8. Rule VI demands that a human being grow in realization, and put first things first. |
8. Quy luật VI đòi hỏi con người tăng trưởng trong sự chứng nghiệm, và đặt những điều hàng đầu lên trước. |
|
9. We must be careful in our consideration of this more advanced Rule to avoid thinking that because Rule VI for Disciples and Initiates offers a truer perspective on life that Rule VI for Applicants is unnecessary. If we have not fulfilled Rule VI for Applicants we are not ready to move on to the fulfilment of Rule VI for Disciples and Initiates. There are a number of disciples who, reading about the secondary value of the earlier Rule, seek to dispense with it altogether, before having proved to themselves that they can abide by it, and thus subdue their animal nature. Only if we can hold to the earlier Rule and obey it are we freed from it. In a way, this applies to all the earlier Rules in relation to the later Rules. That is why we study the twenty-eight Rules and not alone the fourteen more advanced Rules. |
9. Chúng ta phải thận trọng khi xem xét Quy luật tiến bộ hơn này để tránh nghĩ rằng vì Quy luật VI dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ đưa ra một viễn cảnh đúng hơn về sự sống nên Quy luật VI dành cho Ứng viên là không cần thiết. Nếu chúng ta chưa hoàn thành Quy luật VI dành cho Ứng viên, chúng ta chưa sẵn sàng tiến tới việc hoàn thành Quy luật VI dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ. Có một số đệ tử, khi đọc về giá trị thứ yếu của Quy luật trước đó, tìm cách hoàn toàn bỏ qua nó trước khi đã chứng minh cho chính mình rằng họ có thể tuân giữ nó, và nhờ đó khuất phục bản chất thú tính của mình. Chỉ nếu chúng ta có thể giữ và tuân phục Quy luật trước đó thì chúng ta mới được giải thoát khỏi nó. Theo một cách nào đó, điều này áp dụng cho tất cả các Quy luật trước trong tương quan với các Quy luật sau. Đó là lý do tại sao chúng ta học hai mươi tám Quy luật chứ không chỉ riêng mười bốn Quy luật tiến bộ hơn. |
|
10. Our task in studying this Rule is to come to a deeper understanding of what life really is. It is one; it is “impregnable”; it “passes on” from form to form and from “experience to experience until the perfect will of God is expressed through life”. These are great and solemn thoughts. |
10. Nhiệm vụ của chúng ta khi nghiên cứu Quy luật này là đi đến một sự thấu hiểu sâu xa hơn về điều mà sự sống thật sự là. Nó là một; nó “bất khả xâm phạm”; nó “tiếp tục đi tới” từ hình tướng này sang hình tướng khác và từ “kinh nghiệm này sang kinh nghiệm khác cho đến khi Ý Chí hoàn hảo của Thượng đế được biểu lộ qua sự sống”. Đây là những tư tưởng lớn lao và trang nghiêm. |
|
11. How many of us contemplate with regularity the nature of “life”? This is for each to answer. Such contemplation is a task offered to all sincere students of Rule VI. |
11. Có bao nhiêu người trong chúng ta thường xuyên chiêm ngưỡng bản chất của “sự sống”? Mỗi người phải tự trả lời điều này. Sự chiêm ngưỡng như thế là một nhiệm vụ được trao cho tất cả các đạo sinh chân thành của Quy luật VI. |
|
12. Life is a great abstraction. It is difficult to ‘grasp’, In fact, it cannot be grasped. It can only be intuited as a prelude to the possibility of merging with it, of identifying with it. |
12. Sự sống là một điều trừu tượng lớn lao. Nó khó “nắm bắt”; thật ra, nó không thể được nắm bắt. Nó chỉ có thể được trực nhận như một khúc dạo đầu cho khả năng hòa nhập với nó, đồng hóa với nó. |
|
13. The approach to the understanding of “life” is a great curriculum which must be pursued before it becomes possible for the group to “onward move in life”. |
13. Cách tiếp cận để thấu hiểu “sự sống” là một chương trình học tập lớn lao, phải được theo đuổi trước khi nhóm có thể “tiến tới trong sự sống”. |
|
Paragraph 7 |
Đoạn 7 |
|
G. The true disciple does not need vegetarianism or any of the physical disciplines, for the reason that none of the fleshly appetites have any control over him. His problem lies elsewhere, and it is a waste of his time and energy to keep his eye focussed on “doing the right things physically,” because he does them automatically and his spiritual habits offset all the lower physical tendencies; automatically these developed habits enable him to surmount the appeal of those desires which work out in the fulfillment of lower desire. No one is accepted into the circle of the Ashram (which is the technical name given to the status of those who are on the eve of initiation or who are being prepared for initiation) whose physical appetites are in any danger [Page 127] of controlling him. This is a statement of fact. This applies particularly and specifically to those preparing for the first initiation. Those preparing for the second initiation have to demonstrate their freedom from the slavery of ideas, from a fanatical reaction to any truth or spiritual leader, and from the control of their aspiration which—through the intensity of its application—would sacrifice time, people and life itself to the call of the Initiator—or rather, to be correct, to what they believe to be His call. |
G. Người đệ tử chân chính không cần chế độ ăn chay hay bất cứ kỷ luật thể xác nào, vì không một thèm muốn xác thịt nào còn có quyền kiểm soát y. Vấn đề của y nằm ở nơi khác, và việc cứ chăm chú vào “làm những điều đúng đắn về mặt thể xác” là một sự lãng phí thời gian và năng lượng, bởi y làm những điều ấy một cách tự động, và các thói quen tinh thần của y hóa giải mọi khuynh hướng thấp của thể xác; một cách tự động, những thói quen đã được phát triển này giúp y vượt qua sức hấp dẫn của những ham muốn vốn biểu lộ qua việc thỏa mãn dục vọng thấp. Không ai được chấp nhận vào vòng của Ashram, tức tên gọi kỹ thuật dành cho địa vị của những người đang ở ngưỡng điểm đạo hoặc đang được chuẩn bị cho điểm đạo, nếu các thèm muốn thể xác của y có bất cứ nguy cơ nào [Page 127] kiểm soát y. Đây là một tuyên bố về sự kiện. Điều này đặc biệt và cụ thể áp dụng cho những người đang chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ nhất. Những người đang chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ hai phải chứng minh sự tự do của mình khỏi ách nô lệ của các ý tưởng, khỏi phản ứng cuồng tín đối với bất cứ chân lý hay vị lãnh đạo tinh thần nào, và khỏi sự kiểm soát của khát vọng nơi họ, thứ mà — do cường độ ứng dụng của nó — có thể hy sinh thời gian, con người và chính sự sống cho tiếng gọi của Đấng Điểm đạo; hay đúng hơn, nói cho chính xác, cho điều mà họ tin là tiếng gọi của Ngài. |
|
Points to Consider in Relation to the Above Section |
Những Điểm Cần Suy Xét Liên Quan đến Phần Trên |
|
1. Each of us is to assess our standing with respect to the first sentence; do any of the “fleshly appetites have any control” over us? |
1. Mỗi người chúng ta phải tự đánh giá vị thế của mình đối với câu đầu tiên; liệu có bất cứ “thèm muốn xác thịt nào còn có quyền kiểm soát” chúng ta không? |
|
2. What is a “waste of time” for us and what is not? This will require close scrutiny of our way of life within the personality. |
2. Điều gì là “lãng phí thời gian” đối với chúng ta và điều gì thì không? Điều này đòi hỏi sự xem xét kỹ lưỡng lối sống của chúng ta trong phạm vi phàm ngã. |
|
3. We are to do the right thing physically, automatically, and not because our eyes are forever focussed on the correct performance of physical things. So then, we question ourselves; “What spiritual habits have we developed to assist us in this task?” |
3. Chúng ta phải làm điều đúng đắn về mặt thể xác, một cách tự động, chứ không phải vì mắt chúng ta mãi mãi tập trung vào việc thực hiện đúng đắn các điều thuộc thể xác. Vậy thì, chúng ta tự hỏi mình: “Chúng ta đã phát triển những thói quen tinh thần nào để trợ giúp mình trong nhiệm vụ này?” |
|
4. Our studies concern the Ashram and acceptance into the Ashram as “accepted disciples”. |
4. Các nghiên cứu của chúng ta liên quan đến Ashram và sự chấp nhận vào Ashram với tư cách là “các đệ tử được chấp nhận”. |
|
5. To be accepted into the “circle of the Ashram” signals the achievement of “the status of those who are on the eve of initiation or who are being prepared for initiation.” A statement of fact is given: if our physical appetites are in danger of controlling us, we cannot, and will not, be “accepted into the circle of the Ashram”. We cannot and will not be prepared for initiation or brought before the Initiator. |
5. Được chấp nhận vào “vòng của Ashram” báo hiệu việc đạt đến “địa vị của những người đang ở ngưỡng điểm đạo hoặc đang được chuẩn bị cho điểm đạo.” Một tuyên bố về sự kiện được đưa ra: nếu các thèm muốn thể xác của chúng ta có nguy cơ kiểm soát chúng ta, chúng ta không thể và sẽ không được “chấp nhận vào vòng của Ashram”. Chúng ta không thể và sẽ không được chuẩn bị cho điểm đạo hay được đưa đến trước Đấng Điểm đạo. |
|
6. While the conquest of physical appetites concerns mainly the first initiation (at which time the importance of physical disciplines is emphasized) this conquest remains important in relation to subsequent initiations also. This is sometimes forgotten. |
6. Trong khi việc chinh phục các thèm muốn thể xác chủ yếu liên quan đến lần điểm đạo thứ nhất, lúc ấy tầm quan trọng của các kỷ luật thể xác được nhấn mạnh, thì sự chinh phục này vẫn quan trọng đối với các lần điểm đạo tiếp theo. Điều này đôi khi bị quên lãng. |
|
7. The controls necessitated for the second initiation are still harder to accomplish and occur quite a number of lifetimes after the more physical controls are mastered. |
7. Những sự kiểm soát cần thiết cho lần điểm đạo thứ hai còn khó hoàn thành hơn nữa, và diễn ra sau khá nhiều kiếp sống kể từ khi các kiểm soát thuộc thể xác hơn đã được làm chủ. |
|
8. We can see that at the second initiation (ruled by the sixth ray) the candidate’s problem concerns idealism. Great ideals are presented, recognized, and to them adherence is given. The believer or advocate is then controlled by those ideals and becomes their slave. He does not think them through nor see them in relation to a wider context. The ideals become all powerful and more important than the humanity they are meant to serve. |
8. Chúng ta có thể thấy rằng ở lần điểm đạo thứ hai, do cung sáu cai quản, vấn đề của ứng viên liên quan đến chủ nghĩa lý tưởng. Những lý tưởng lớn lao được trình bày, được nhận ra, và người ta gắn bó với chúng. Khi ấy, người tin theo hay người bênh vực bị các lý tưởng ấy kiểm soát và trở thành nô lệ của chúng. Y không suy xét chúng cho đến cùng, cũng không nhìn chúng trong tương quan với một bối cảnh rộng lớn hơn. Các lý tưởng trở nên toàn năng và quan trọng hơn cả nhân loại mà chúng vốn nhằm phụng sự. |
|
9. Many disciples today find themselves in this condition. They aspire, they envision, they adhere and are devoted, but their vision is relatively narrow and their sense of values is not adjusted. They sacrifice others to their ideals rather than themselves for the sake of others. This is a difficult stage to transcend because the ideals to which adherence is given are often so ‘high’ and beautiful. |
9. Ngày nay, nhiều đệ tử thấy mình ở trong tình trạng này. Họ khát vọng, họ hình dung, họ gắn bó và tận hiến, nhưng tầm nhìn của họ tương đối hẹp và ý thức giá trị của họ chưa được điều chỉnh. Họ hy sinh người khác cho các lý tưởng của mình, thay vì hy sinh chính mình vì lợi ích của người khác. Đây là một giai đoạn khó vượt qua, bởi các lý tưởng mà họ gắn bó thường rất “cao cả” và đẹp đẽ. |
|
10. Those who aspire to the second degree think they hear the “call of the Initiator”. The truth is that their spiritual selfishness has not been overcome. They want to ‘rise’ towards the initiator through intensity of aspiration rather than through selfless service and the Way of the Heart. This rising can only be accomplished to a degree, and much remains to be done before real initiation is possible. |
10. Những người khát vọng đến cấp độ thứ hai nghĩ rằng họ nghe thấy “tiếng gọi của Đấng Điểm đạo”. Sự thật là tính ích kỷ tinh thần của họ chưa được vượt qua. Họ muốn “vươn lên” hướng đến Đấng Điểm đạo bằng cường độ khát vọng hơn là bằng sự phụng sự vô ngã và Con Đường của Tâm. Sự vươn lên này chỉ có thể được hoàn thành đến một mức độ nào đó, và còn rất nhiều việc phải làm trước khi thực sự có thể điểm đạo. |
|
11. We can see that the initiate is one who is in control of his lunar nature and is not one who is controlled by any aspect of it. The great illusions of the mental plane will seek to control the would-be initiate of the third degree, and over these, such a prospective initiate must assert his control. |
11. Chúng ta có thể thấy rằng điểm đạo đồ là người kiểm soát bản chất thái âm của mình, chứ không phải là người bị bất cứ phương diện nào của nó kiểm soát. Những ảo tưởng lớn lao của cõi trí sẽ tìm cách kiểm soát người muốn trở thành điểm đạo đồ cấp ba, và đối với những ảo tưởng ấy, vị điểm đạo đồ tương lai như thế phải khẳng định sự kiểm soát của mình. |
|
12. DK is calling our attention to the more real disciplines which focus on the Laws of the Soul and not the Laws of Form. The personality, after all, is only an instrument and one must not become engrossed with the instrument. |
12. Chân sư DK đang kêu gọi sự chú ý của chúng ta đến những kỷ luật thực hơn, vốn tập trung vào các Định luật của Linh hồn chứ không phải các Định luật của Hình tướng. Rốt cuộc, phàm ngã chỉ là một khí cụ, và người ta không được để mình bị cuốn hút vào khí cụ ấy. |
|
13. The instrument is a ‘creature’ of time and space and the Rules that apply to it relate to time and space. The soul, to a large extent (and the spiritual triad and spirit far more so) has transcended time and space. |
13. Khí cụ là một “tạo vật” của thời gian và không gian, và các Quy luật áp dụng cho nó liên quan đến thời gian và không gian. Linh hồn, ở mức độ lớn, còn Tam Nguyên Tinh Thần và tinh thần thì hơn thế rất nhiều, đã vượt qua thời gian và không gian. |
|
14. Some time for this higher focus must be apportioned daily. The higher worlds are, in many ways, strange worlds. They do not conform to the laws with which we are most familiar. Yet, we are rapidly entering those worlds and, to do so, must overcome our preoccupation with lesser things, at the same time recognizing the foundational value of those lesser things. |
14. Mỗi ngày cần phân bổ một khoảng thời gian cho sự tập trung cao hơn này. Các thế giới cao hơn, theo nhiều cách, là những thế giới xa lạ. Chúng không tuân theo các định luật mà chúng ta quen thuộc nhất. Tuy nhiên, chúng ta đang nhanh chóng bước vào các thế giới ấy, và để làm được như vậy, phải vượt qua sự bận tâm của mình với những điều thấp kém hơn, đồng thời nhận ra giá trị nền tảng của chính những điều thấp kém ấy. |
|
With Love and Many Blessings to all, |
Với Tình thương và Nhiều Phúc lành đến tất cả, |
|
Michael (and Stefan) |
Michael và Stefan |
|
Part II of V |
Phần II trong V |
|
Focus for the Fourth Month of Study on Rule VI |
Trọng tâm cho Tháng Thứ Tư Nghiên Cứu Quy luật VI |
|
2. For the third month we will focus upon the first sentence of Rule Six for Disciples and Initiates (from August 31st to September 28th 2004) |
2. Trong tháng thứ ba, chúng ta sẽ tập trung vào câu đầu tiên của Quy luật Sáu dành cho các Đệ tử và Điểm đạo đồ, từ ngày 31 tháng Tám đến ngày 28 tháng Chín năm 2004 |
|
We might choose as theme for our meditation |
Chúng ta có thể chọn làm chủ đề cho tham thiền của mình |
|
a. Either the first sentence of the Rule: |
a. Hoặc câu đầu tiên của Quy luật: |
|
“Let the group know that life is one and naught can ever take or touch that life.” (RI, p. 127-128) |
“Hãy để nhóm biết rằng sự sống là một và không gì có thể lấy đi hay chạm đến sự sống ấy.” (RI, tr. 127-128) |
|
b. Or sub-themes, DK is referring to in His commentary to the first sentence of the Rule (RI, p. 127-128), such as: |
b. Hoặc các chủ đề phụ mà Chân sư DK đề cập trong phần bình giảng của Ngài về câu đầu tiên của Quy luật (RI, tr. 127-128), chẳng hạn như: |
|
1) Temperance in all things, the wise use of all sustaining forms and self-forgetfulness are the hallmark of the disciple, but not of the beginner. (cf. RI, p. 127) |
1) Tiết độ trong mọi sự, sử dụng khôn ngoan mọi hình tướng nâng đỡ, và quên mình là dấu hiệu của người đệ tử, nhưng không phải của người mới bắt đầu. (xem RI, tr. 127) |
|
2) The type of consciousness which distinguishes the Hierarchy is characterised by the words: They onward move in life. (cf. RI, p. 128) |
2) Loại tâm thức phân biệt Thánh Đoàn được mô tả bằng những lời: Các Ngài tiến tới trong sự sống. (xem RI, tr. 128) |
|
3) Workers in the ranks of the Hierarchy are divided into two main groups: Those who are working with the unfoldment of the initiate consciousness in the disciples of the world, and those of a more advanced degree who are working with the life aspect and its expression in the lives of the world initiates. (cf. RI, p. 128) |
3) Những người hoạt động trong hàng ngũ Thánh Đoàn được chia thành hai nhóm chính: Những người đang làm việc với sự khai mở tâm thức điểm đạo trong các đệ tử của thế gian, và những vị ở cấp độ tiến bộ hơn đang làm việc với phương diện sự sống và sự biểu lộ của nó trong đời sống của các điểm đạo đồ thế gian. (xem RI, tr. 128) |
|
4) Working disciples (who are working in cooperation with the Hierarchy) are also working in two major divisions: Those who are dealing with applicants and are seeking to see the imposition of the physical disciplines, and with the impartation of certain minor values so that beginners may grasp the point that they have reached. There are those also who are working to substitute understanding and service for physical discipline and the earlier, inevitable, selfish ends. (cf. RI, p. 128) |
4) Các đệ tử hoạt động, tức những người đang làm việc trong sự hợp tác với Thánh Đoàn, cũng đang làm việc trong hai phân bộ lớn: Những người đề cập đến các ứng viên và đang tìm cách thấy sự áp dụng các kỷ luật thể xác, cùng với việc truyền đạt một số giá trị nhỏ để những người mới bắt đầu có thể nắm bắt điểm mà họ đã đạt đến. Cũng có những người đang làm việc để thay thế kỷ luật thể xác và các mục đích ích kỷ ban đầu, tất yếu, bằng sự thấu hiểu và phụng sự. (xem RI, tr. 128) |
|
5) The physical disciplines are of value in the beginning stage and impart a sense of proportion and an awareness of defects and of limitations. (cf. RI, p. 128) |
5) Các kỷ luật thể xác có giá trị trong giai đoạn đầu và truyền đạt Ý thức về tỉ lệ cùng nhận thức về các khuyết điểm và giới hạn. (xem RI, tr. 128) |
|
6) Once the world of the soul is entered, the disciple uses all forms wisely, with understanding of their purpose and with freedom from excess; he is not preoccupied with them or fundamentally interested in them. His eyes are off himself and are fixed on the world of true values. He has no sense of self-interest, because a group awareness is rapidly superseding his individual consciousness. (cf. RI, p. 128) |
6) Một khi bước vào thế giới của linh hồn, người đệ tử sử dụng mọi hình tướng một cách khôn ngoan, với sự thấu hiểu mục đích của chúng và với sự tự do khỏi thái quá; y không bận tâm đến chúng hay quan tâm căn bản đến chúng. Mắt y rời khỏi chính mình và được cố định vào thế giới của các giá trị chân thực. Y không có ý thức tư lợi, bởi một nhận thức nhóm đang nhanh chóng thay thế tâm thức cá nhân của y. (xem RI, tr. 128) |
|
Rule VI: Paragraphs for the Third Month: (pp. 127 top—128) |
Quy luật VI: Các đoạn dành cho Tháng Thứ Ba: (tr. 127 đầu trang—128) |
|
Paragraph 1 |
Đoạn 1 |
|
A. I would point out that the third initiation is approached from a level tableland of experience and of consciousness, and not from the heights of aspiration, or from fanatical sacrifice, or from the standpoint of a devotion which handicaps the service of the devotee and of the Master he seeks to serve. He knows, as a candidate for initiation, that: |
A. Tôi muốn chỉ ra rằng lần điểm đạo thứ ba được tiếp cận từ một bình nguyên bằng phẳng của kinh nghiệm và tâm thức, chứ không phải từ các đỉnh cao của khát vọng, hay từ sự hy sinh cuồng tín, hay từ lập trường của một lòng sùng tín gây trở ngại cho sự phụng sự của người sùng tín và của Chân sư mà y tìm cách phụng sự. Với tư cách là một ứng viên cho điểm đạo, y biết rằng: |
|
1. Life is one and naught can ever take or touch that life |
1. Sự sống là một và không gì có thể lấy đi hay chạm đến sự sống ấy |
|
Points to Consider in Relation to the Above Section |
Những Điểm Cần Suy Xét Liên Quan đến Phần Trên |
|
1. The Tibetan is attempting to help us distinguish between the approach to the third initiation and the approach to the second. |
1. Chân sư Tây Tạng đang cố gắng giúp chúng ta phân biệt giữa cách tiếp cận lần điểm đạo thứ ba và cách tiếp cận lần điểm đạo thứ hai. |
|
2. The third degree is closely associated with the fifth ray and the second with the sixth. The devotee, per se, is not the candidate for the third degree. Of course, if the soul ray is the sixth, this general statement will be modified, because devotion always stimulates the progress of sixth ray souls no matter what the degree of intended attainment. |
2. Cấp độ thứ ba liên hệ mật thiết với cung năm, còn cấp độ thứ hai với cung sáu. Chính người sùng tín, tự nó, không phải là ứng viên cho cấp độ thứ ba. Dĩ nhiên, nếu cung linh hồn là cung sáu, tuyên bố tổng quát này sẽ được điều chỉnh, bởi lòng sùng tín luôn kích thích sự tiến bộ của các linh hồn cung sáu, bất kể cấp độ thành tựu dự định là gì. |
|
3. When moving towards the second degree, an approach from the “heights of aspiration”, an attitude of “fanatical sacrifice” and an orientation of “devotion” may all be methods of achievement, but they cannot be carried too far or the candidate will not overcome his “slavery to ideas” or his “fanatical reaction to any truth or spiritual leader”. Extremism at the time of the second degree is not unusual, but is also one of the behaviors which must be overcome if that initiation is to be achieved. |
3. Khi tiến về cấp độ thứ hai, cách tiếp cận từ “các đỉnh cao của khát vọng”, thái độ “hy sinh cuồng tín” và định hướng “sùng tín” đều có thể là các phương pháp thành tựu, nhưng chúng không thể bị đẩy đi quá xa, nếu không ứng viên sẽ không vượt qua được “ách nô lệ đối với các ý tưởng” hay “phản ứng cuồng tín đối với bất cứ chân lý hay vị lãnh đạo tinh thần nào”. Sự cực đoan vào thời điểm cấp độ thứ hai không phải là điều hiếm, nhưng cũng là một trong những hành vi phải được vượt qua nếu muốn đạt được lần điểm đạo ấy. |
|
4. This sixth ray approach is said to be hampering, not only of the devotee and his service, but of the Master whom the devotee seeks to serve. Devotion may be so intense that it impresses itself upon consciousness as justified. A deeper understanding of the Ashram, however, and its needs, will reveal the inadvisability of extreme aspiration and devotion. We have to appreciate the Master’s problem from an energetic standpoint, and if we do so, we will realize that intense devotional currents may disturb the Ashram. We are told, in this regard, that there are those within the Ashram whose task it is to protect the Master and the Ashram from such currents. Mayhap, they are the very ones who in earlier times directed such currents into the Ashram and towards the Master. Thus does karma work. |
4. Cách tiếp cận cung sáu này được nói là gây cản trở, không chỉ cho người sùng tín và sự phụng sự của y, mà còn cho Chân sư mà người sùng tín ấy tìm cách phụng sự. Lòng sùng tín có thể mãnh liệt đến mức nó in dấu lên tâm thức như một điều chính đáng. Tuy nhiên, một sự thấu hiểu sâu hơn về Ashram và các nhu cầu của Ashram sẽ mặc khải sự không thích đáng của khát vọng và lòng sùng tín cực đoan. Chúng ta phải hiểu vấn đề của Chân sư từ lập trường năng lượng, và nếu làm như vậy, chúng ta sẽ nhận ra rằng các dòng sùng tín mãnh liệt có thể làm xáo động Ashram. Về phương diện này, chúng ta được cho biết rằng trong Ashram có những vị có nhiệm vụ bảo vệ Chân sư và Ashram khỏi các dòng như thế. Có lẽ, chính các vị ấy trước kia đã hướng những dòng như thế vào Ashram và về phía Chân sư. Nghiệp quả vận hành như vậy. |
|
5. Thus, we are encouraged to develop a more balanced point of view—one guided by soul-light in the mind and not alone by the fires of aspiration. |
5. Do đó, chúng ta được khuyến khích phát triển một quan điểm quân bình hơn — một quan điểm được dẫn dắt bởi ánh sáng linh hồn trong thể trí, chứ không chỉ bởi các ngọn lửa của khát vọng. |
|
6. The fifth ray is altogether more balanced than the sixth, and the consciousness under its influence is not so likely to be swayed by the fluctuations of the pairs of opposites. |
6. Cung năm hoàn toàn quân bình hơn cung sáu, và tâm thức dưới ảnh hưởng của nó không dễ bị dao động bởi những biến thiên của các cặp đối cực. |
|
7. In the last Commentary (Part I of V) we discussed the thought that “Life is one and naught can ever take or touch that life.” The candidate for the third initiation knows that this is the case; it is not a question of feeling the reality of the One Life (though this, too, is important). It is the mind of the candidate that has revealed the oneness of life, after careful analysis and much thorough thinking. As well, the luminous fifth ray mind may efficiently invoke the intuition which adds its testimony to an illumined understanding of the oneness of life. |
7. Trong Bài Bình Giảng trước, Phần I trong V, chúng ta đã thảo luận tư tưởng rằng “Sự sống là một và không gì có thể lấy đi hay chạm đến sự sống ấy.” Ứng viên cho lần điểm đạo thứ ba biết rằng điều này là như vậy; đây không phải là vấn đề cảm nhận thực tại của Sự Sống Duy Nhất, dù điều này cũng quan trọng. Chính thể trí của ứng viên đã mặc khải tính duy nhất của sự sống, sau sự phân tích cẩn thận và nhiều suy tư thấu đáo. Đồng thời, thể trí cung năm sáng rỡ có thể khẩn cầu trực giác một cách hữu hiệu, và trực giác này thêm lời chứng của nó vào sự thấu hiểu được soi sáng về tính duy nhất của sự sống. |
|
8. Let us think—how does the luminous mind reveal oneness? It is not a revelation conferred upon an elevated sentiency. Rather, the oneness is ‘seen’, perceived and the reason for oneness is understood. |
8. Chúng ta hãy suy nghĩ — thể trí sáng rỡ mặc khải tính duy nhất như thế nào? Đó không phải là một sự mặc khải được ban cho một cảm năng được nâng cao. Đúng hơn, tính duy nhất được “thấy”, được nhận biết, và lý do của tính duy nhất được thấu hiểu. |
|
9. Let each of us through the power of our minds see if we can give what, in philosophy is called ’sufficient reason’ for the oneness of life. It will be a discipline. We may ask ourselves, “How do we know that life is one?” Can we, mentally, reduce multiplicity to oneness? Can we trace the manifestation of any part to the whole? |
9. Mỗi người chúng ta hãy dùng quyền năng của thể trí mình để xem liệu chúng ta có thể đưa ra điều mà trong triết học gọi là “lý do đầy đủ” cho tính duy nhất của sự sống hay không. Đó sẽ là một kỷ luật. Chúng ta có thể tự hỏi: “Làm sao chúng ta biết rằng sự sống là một?” Liệu về mặt trí tuệ, chúng ta có thể quy đa tạp về nhất thể không? Liệu chúng ta có thể truy nguyên sự biểu hiện của bất cứ phần nào về toàn thể không? |
|
10. Cognitively (and, also sentiently) we are to be anchored in the certainty of the reality of the one life. That life is one, should be known for at least a few moments every day. By this method, a customarily trite platitude is changed to a realize fact-in-consciousness, and the consciousness of the perceiver is anchored in reality. |
10. Về mặt nhận thức, và cả về mặt cảm năng, chúng ta phải được neo vững trong sự chắc chắn về thực tại của sự sống duy nhất. Sự sống ấy là một, và điều đó cần được biết ít nhất trong vài khoảnh khắc mỗi ngày. Bằng phương pháp này, một lời sáo rỗng quen thuộc được chuyển thành một sự kiện-được-chứng-nghiệm-trong-tâm-thức, và tâm thức của người nhận biết được neo vững trong thực tại. |
|
Paragraph 2 |
Đoạn 2 |
|
B. His sense of proportion as to form becomes adjusted. He is forward-looking towards the soul, and not backward-looking towards the form nature. Some very sincere devotees and promising applicants are so preoccupied with form and its disciplining that they have no real time to give to soul expansion. They are so interested in their reactions to their self-imposed discipline or to their capacity to conform or their failure to accept the discipline, that the spiritual truths—seeking entrance into their hearts—fail to make such an entrance. Temperance in all things, the wise use of all sustaining forms and self-forgetfulness are the hallmark of the disciple, but not of the beginner. Many disciples today who should be functioning in the Hall of Wisdom are still fanatically working in the Hall of Knowledge and are still so earnest over the physical disciplines that the disciplines of the soul are ignored. I would ask you to reflect on this. Applicants have to learn the significance of the words of Rule VI for disciples, “the lesser rules are rules in time and space and cannot hold the group.” |
B. Ý thức về tỉ lệ của y đối với hình tướng trở nên được điều chỉnh. Y hướng về phía trước, về linh hồn, chứ không nhìn lùi lại về bản chất hình tướng. Một số người sùng tín rất chân thành và những ứng viên đầy hứa hẹn lại quá bận tâm đến hình tướng và việc kỷ luật nó đến nỗi họ không có thời gian thực sự dành cho sự mở rộng linh hồn. Họ quá quan tâm đến các phản ứng của mình đối với kỷ luật tự áp đặt, hoặc đối với khả năng tuân theo của mình, hoặc đối với sự thất bại của mình trong việc chấp nhận kỷ luật, đến nỗi các chân lý tinh thần — vốn đang tìm cách đi vào tâm họ — lại không thể đi vào như thế. Tiết độ trong mọi sự, sử dụng khôn ngoan mọi hình tướng nâng đỡ, và quên mình là dấu hiệu của người đệ tử, nhưng không phải của người mới bắt đầu. Nhiều đệ tử ngày nay lẽ ra phải đang hoạt động trong Phòng Minh triết, nhưng vẫn còn đang làm việc một cách cuồng tín trong Phòng Hiểu Biết, và vẫn quá nghiêm trọng đối với các kỷ luật thể xác đến nỗi các kỷ luật của linh hồn bị bỏ qua. Tôi muốn các bạn suy ngẫm về điều này. Các ứng viên phải học thâm nghĩa của những lời trong Quy luật VI dành cho các đệ tử: “các quy luật thấp hơn là những quy luật trong thời gian và không gian, và không thể giữ được nhóm.” |
|
Points to Consider in Relation to the Above Section |
Những Điểm Cần Suy Xét Liên Quan đến Phần Trên |
|
1. Master DK speaks of the need for an adjusted sense of proportion. One may think, in this regard, of the signs Gemini and Libra both ruled by Venus (a planet of the fifth ray). When we think of the “level table land” from which the third initiation is approached, we naturally think of the sign Libra, with its capacity to bring balance to the psyche in both its emotional and mental aspects. |
1. Chân sư DK nói về nhu cầu có một Ý thức về tỉ lệ đã được điều chỉnh. Về phương diện này, người ta có thể nghĩ đến các dấu hiệu Song Tử và Thiên Bình, cả hai đều do Sao Kim cai quản, một hành tinh của cung năm. Khi nghĩ đến “bình nguyên bằng phẳng” từ đó lần điểm đạo thứ ba được tiếp cận, chúng ta tự nhiên nghĩ đến dấu hiệu Thiên Bình, với khả năng đem lại sự quân bình cho tâm lý trong cả hai phương diện cảm xúc và trí tuệ của nó. |
|
2. The sense of direction here suggested is clear: the soul and its experience lie ‘ahead’; the form and all its processes lie ‘behind’. One of the most important considerations for those who are treading the Path is whether they are actually moving forward. There are many preoccupations which may arise along the Way, and many of them are backward looking. |
2. Ý thức về phương hướng được gợi ý ở đây rất rõ ràng: linh hồn và kinh nghiệm của nó nằm “phía trước”; hình tướng và mọi tiến trình của nó nằm “phía sau”. Một trong những suy xét quan trọng nhất đối với những người đang bước trên Đường Đạo là liệu họ có thật sự tiến về phía trước hay không. Có nhiều bận tâm có thể nảy sinh dọc theo Con Đường, và nhiều trong số đó là những bận tâm nhìn về phía sau. |
|
3. What is essential? What is a waste of time and what is not? Time is a finite something, and we have only so much of it. How we will ‘spend’ that time is of the greatest importance. “Time” we have been taught, “is of the essence”—a statement with a number of levels of meaning. |
3. Điều gì là thiết yếu? Điều gì là lãng phí thời gian và điều gì thì không? Thời gian là một điều hữu hạn, và chúng ta chỉ có một lượng nhất định của nó. Chúng ta sẽ “tiêu dùng” thời gian ấy như thế nào là điều có tầm quan trọng lớn nhất. Chúng ta đã được dạy rằng “Thời gian là cốt yếu” — một tuyên bố có nhiều cấp độ ý nghĩa. |
|
4. If we are excessively focussed upon the personality, its successes and apparent failures, we are preoccupying ourselves with the familiar and, therefore, the new has no true occasion to enter. In this discussion, we are dealing really with two distinct dimensions—the dimension of personality and the dimension of soul. Of the former we know much, practically. Of the latter, we know much theoretically. The accumulation of many words concerning the soul, and the ability to wield those words, is far from the same as the ability to be impressed by and wield soul energies. |
4. Nếu chúng ta tập trung quá mức vào phàm ngã, vào những thành công và những thất bại bề ngoài của nó, chúng ta đang khiến mình bận tâm với điều quen thuộc, và vì thế, cái mới không có cơ hội thực sự để đi vào. Trong cuộc thảo luận này, thật ra chúng ta đang đề cập đến hai chiều kích khác biệt — chiều kích của phàm ngã và chiều kích của linh hồn. Về chiều kích trước, chúng ta biết nhiều, một cách thực tiễn. Về chiều kích sau, chúng ta biết nhiều một cách lý thuyết. Việc tích lũy nhiều lời nói về linh hồn, và khả năng sử dụng những lời ấy, còn rất xa mới giống với khả năng được ấn tượng bởi các năng lượng linh hồn và sử dụng chúng. |
|
5. DK speaks here of some apparently very ordinary virtues that may fail to excite the interest of the earnest disciple. “Temperance in all things, the wise use of all sustaining forms and self-forgetfulness”—these are the hallmarks of the true disciple. As simple as they may seem, they are not the hallmarks of the beginner. We do not want to remain beginners, do we? |
5. Ở đây, Chân sư DK nói về một số đức tính có vẻ rất bình thường, có thể không khơi dậy được sự quan tâm của người đệ tử nhiệt thành. “Tiết độ trong mọi sự, sử dụng khôn ngoan mọi hình tướng nâng đỡ, và quên mình” — đây là các dấu hiệu của người đệ tử chân chính. Dù có vẻ đơn giản, chúng không phải là dấu hiệu của người mới bắt đầu. Chúng ta không muốn cứ mãi là người mới bắt đầu, phải không? |
|
6. The signs Libra and Sagittarius are both suggested, for they are signs of temperance and balance. As for self-forgetfulness, it depends upon disidentification from the personality nature, upon realizing that we are, in fact, the soul and not the form nature. This distinction may take a number of lives to firmly clarify. |
6. Cả hai dấu hiệu Thiên Bình và Nhân Mã đều được gợi ý, vì chúng là các dấu hiệu của tiết độ và quân bình. Còn về sự quên mình, nó tùy thuộc vào việc thôi đồng hóa với bản chất phàm ngã, vào việc nhận ra rằng thật ra chúng ta là linh hồn chứ không phải bản chất hình tướng. Sự phân biệt này có thể cần nhiều kiếp sống để được làm sáng tỏ vững chắc. |
|
7. The Path is long (relatively to any one life). Bursts of intense enthusiasm do not last and they render the enthusiastic one, at length, tired. High hopes for quick achievement fade and the steady push is seen to be much more reliable than plunging ahead without the consideration of all factors involved. |
7. Đường Đạo thì dài tương đối với bất cứ một kiếp sống nào. Những bùng phát nhiệt tình mãnh liệt không kéo dài, và rốt cuộc chúng khiến người nhiệt tình trở nên mệt mỏi. Những hy vọng cao về thành tựu nhanh chóng phai nhạt, và sức thúc đẩy đều đặn được thấy là đáng tin cậy hơn nhiều so với việc lao tới mà không xét đến mọi yếu tố liên quan. |
|
8. Form is not the essence but it is necessary. An overly-intense approach to the Path damages the very forms which are so needed as a sustainment to consciousness in the three worlds. |
8. Hình tướng không phải là bản chất cốt yếu, nhưng nó cần thiết. Một cách tiếp cận Đường Đạo quá mãnh liệt làm tổn hại chính những hình tướng vốn rất cần thiết như một sự nâng đỡ cho tâm thức trong ba cõi giới. |
|
9. We have to be able to discriminate between types of behavior—the behavior of a beginner and the behavior of a seasoned disciple. When we assess our own behavior, in which category do we ‘fit’, or do we find ourselves somewhere between? |
9. Chúng ta phải có khả năng phân biện giữa các loại hành vi — hành vi của người mới bắt đầu và hành vi của một đệ tử lão luyện. Khi đánh giá hành vi của chính mình, chúng ta “thuộc” loại nào, hay chúng ta thấy mình ở đâu đó ở giữa? |
|
10. DK discriminates between the labors of the Hall of Wisdom and those of the Hall of Knowledge (the Hall of Learning). Work within the Hall of Wisdom begins, to some small extent, at the first initiation. Work within that Hall is of much shorter duration that work within the Hall of Knowledge/Learning, just as experience upon the Fixed Cross is of much shorter duration that the aeonial labors upon the Mutable Cross. |
10. Chân sư DK phân biện giữa những công phu của Phòng Minh triết và những công phu của Phòng Hiểu Biết, tức Phòng Học Tập. Công việc trong Phòng Minh triết bắt đầu, ở một mức độ nhỏ nào đó, vào lần điểm đạo thứ nhất. Công việc trong Phòng ấy có thời lượng ngắn hơn nhiều so với công việc trong Phòng Hiểu Biết/Học Tập, cũng như kinh nghiệm trên Thập Giá Cố Định có thời lượng ngắn hơn nhiều so với những công phu kéo dài qua các đại kiếp trên Thập Giá Biến đổi. |
|
11. The point the Master is trying to make is “Move on!” Why remain where we need no longer be, simply because we have not learned to change our approach. |
11. Điểm mà Chân sư đang cố nêu ra là: “Hãy tiến lên!” Tại sao lại ở lại nơi chúng ta không còn cần ở nữa, chỉ vì chúng ta chưa học cách thay đổi phương pháp tiếp cận của mình? |
|
12. If there is to be a great change of consciousness within the human race, it must evidence itself in the lives of those who are to be at the forefront of that change—namely, in the lives of disciples of the Great White Lodge. |
12. Nếu cần có một sự thay đổi lớn lao về tâm thức trong nhân loại, thì điều đó phải tự chứng tỏ trong đời sống của những người sẽ đứng ở tuyến đầu của sự thay đổi ấy, tức là trong đời sống của các đệ tử thuộc Thánh đoàn. |
|
13. If we knew we were expending great effort upon secondary matters instead of attending to that which is primary, we would transfer our attention to the primary, would we not? And yet, so many of us fail to do so! |
13. Nếu chúng ta biết mình đang tiêu phí nỗ lực lớn lao vào những vấn đề thứ yếu thay vì chú tâm đến điều chủ yếu, hẳn chúng ta sẽ chuyển sự chú ý sang điều chủ yếu, phải không? Thế nhưng, rất nhiều người trong chúng ta lại không làm như vậy! |
|
14. What is lacking is a right sense of proportion and a broad perspective upon the nature of the Path. We still labor under the onus of limited vision. If we reflect properly and at length, perhaps that vision can change, and perhaps we can adjust our sense of values so that it come more in line with the hierarchical perspective. This would be the purpose of a steady program of occult meditation. |
14. Điều còn thiếu là một Ý thức về tỉ lệ đúng đắn và một viễn cảnh rộng lớn về bản chất của Đường Đạo. Chúng ta vẫn còn lao tác dưới gánh nặng của tầm nhìn hạn hẹp. Nếu chúng ta suy ngẫm đúng đắn và lâu dài, có lẽ tầm nhìn ấy có thể thay đổi, và có lẽ chúng ta có thể điều chỉnh ý thức về các giá trị của mình sao cho nó phù hợp hơn với viễn cảnh của Thánh đoàn. Đây chính là mục đích của một chương trình tham thiền huyền bí đều đặn. |
|
15. There are physical disciplines and disciplines of the soul. With the former we are long familiar. The latter will be revealed to us when we attempt to live according to the Laws of the Soul (as found in Esoteric Psychology, Vol. II). |
15. Có những kỷ luật hồng trần và những kỷ luật của linh hồn. Với loại trước, chúng ta đã quen thuộc từ lâu. Loại sau sẽ được mặc khải cho chúng ta khi chúng ta cố gắng sống theo Các Định luật của Linh hồn, như được trình bày trong Tâm Lý Học Nội Môn, Tập II. |
|
16. If we seek to know how to speed our way upon the Path, the first prerequisite is a broadened consciousness. Meditation and study serve that broadening. |
16. Nếu chúng ta tìm cách biết làm thế nào để thúc đẩy bước tiến của mình trên Đường Đạo, điều kiện tiên quyết đầu tiên là một tâm thức được mở rộng. Tham thiền và học hỏi phụng sự cho sự mở rộng ấy. |
|
17. Of course, we are required to deal time and space, but we do not want to be held by time and space and in slavery to time and space. |
17. Dĩ nhiên, chúng ta được đòi hỏi phải xử lý thời gian và không gian, nhưng chúng ta không muốn bị thời gian và không gian nắm giữ và làm nô lệ cho thời gian và không gian. |
|
18. One of the first requirements for release is to meditatively realize the illusory nature of time and space—although they are necessary illusions. |
18. Một trong những đòi hỏi đầu tiên để được giải thoát là chứng nghiệm bằng tham thiền bản chất ảo tưởng của thời gian và không gian, mặc dù chúng là những ảo tưởng cần thiết. |
|
19. The group is held by the focus of its consciousness. If its consciousness is liberated from material preoccupation, it is free to focus on matters closer to reality and it can begin to move within those realms which are more real. |
19. Nhóm bị nắm giữ bởi tiêu điểm tâm thức của chính nó. Nếu tâm thức của nhóm được giải phóng khỏi sự bận tâm vật chất, nó được tự do tập trung vào những vấn đề gần với thực tại hơn, và có thể bắt đầu chuyển động trong những cảnh giới chân thực hơn ấy. |
|
20. The Buddha taught us that we forge our own chains, that we bind ourselves by the nature of our desires and the focus of our minds. When a change of focus is needed, as here is suggested, we should be courageous enough to change. |
20. Đức Phật đã dạy chúng ta rằng chúng ta tự rèn nên xiềng xích của chính mình, rằng chúng ta tự trói buộc mình bằng bản chất của các dục vọng và tiêu điểm của các thể trí mình. Khi cần có một sự thay đổi tiêu điểm, như được gợi ý ở đây, chúng ta nên đủ can đảm để thay đổi. |
|
Paragraph 3 |
Đoạn 3 |
|
C. I wonder if you can grasp the type of consciousness which distinguishes the Hierarchy, even if you are only able [Page 128] to do so imaginatively and theoretically. They “onward move in life.” They work in the realm of life energy; the form seems to Them something which They have definitely left behind, and the consciousness of appeal or rejection of the form nature and hold is to Them only a memory of a distant battle ground where the victory then won has been forgotten and the gains of victory are so far behind that they lie well below the threshold of consciousness. Broadly and generally speaking, workers in the ranks of the Hierarchy (I did not say “with the Hierarchy”) are divided into two main groups: those who are working with the unfoldment of the initiate consciousness in the disciples of the world, and those of a more advanced degree who are working with the life aspect and its expression in the lives of the world initiates. Working disciples (who are working in cooperation with the Hierarchy) are also working in two major divisions: Those who are dealing with applicants and are seeking to see the imposition of the physical disciplines, and with the impartation of certain minor values so that beginners may grasp the point that they have reached. There are those also who are working to substitute understanding and service for physical discipline and the earlier, inevitable, selfish ends. |
C. Tôi tự hỏi liệu các bạn có thể nắm bắt loại tâm thức vốn phân biệt Thánh Đoàn hay không, dù các bạn chỉ có thể [Page 128] làm như vậy bằng tưởng tượng và trên phương diện lý thuyết. Các Ngài “tiến tới trong sự sống”. Các Ngài làm việc trong cảnh giới của năng lượng sự sống; hình tướng đối với Các Ngài dường như là điều Các Ngài đã dứt khoát bỏ lại phía sau, và tâm thức về sự thỉnh cầu hay bác bỏ bản chất và sự kìm giữ của hình tướng đối với Các Ngài chỉ còn là ký ức về một chiến trường xa xưa, nơi chiến thắng từng giành được nay đã bị quên lãng, và những thành quả của chiến thắng đã ở xa phía sau đến mức chúng nằm hẳn bên dưới ngưỡng tâm thức. Nói rộng rãi và tổng quát, những người hoạt động trong hàng ngũ của Thánh Đoàn, Tôi không nói “với Thánh Đoàn”, được chia thành hai nhóm chính: những người đang làm việc với sự khai mở tâm thức điểm đạo đồ nơi các đệ tử của thế gian, và những người ở cấp độ tiến bộ hơn đang làm việc với phương diện sự sống và sự biểu lộ của nó trong đời sống của các điểm đạo đồ thế gian. Các đệ tử đang hoạt động, tức những người làm việc trong sự hợp tác với Thánh Đoàn, cũng làm việc trong hai phân bộ chính: những người đang đề cập đến các ứng viên và đang tìm cách thấy sự áp đặt các kỷ luật hồng trần, cùng với việc truyền đạt một số giá trị thứ yếu để những người sơ cơ có thể nắm được điểm mà họ đã đạt tới. Cũng có những người đang làm việc để thay thế kỷ luật hồng trần và những mục tiêu ích kỷ ban đầu, tất yếu bằng sự thấu hiểu và phụng sự. |
|
Points to Consider in Relation to the Above Section |
Những điểm cần xem xét liên hệ với phần trên |
|
1. DK asks us to “grasp the type of consciousness which distinguishes Hierarchy”. Our grasp may be only imaginative and theoretical, but for the moment it will suffice. |
1. Chân sư DK yêu cầu chúng ta “nắm bắt loại tâm thức vốn phân biệt Thánh Đoàn”. Sự nắm bắt của chúng ta có thể chỉ mang tính tưởng tượng và lý thuyết, nhưng trong lúc này điều đó cũng đủ. |
|
2. We are emulating the members of the Spiritual Hierarchy. We wish to be as They are and do as they are able to do. |
2. Chúng ta đang noi theo các thành viên của Huyền Giai Tinh Thần. Chúng ta muốn hiện hữu như Các Ngài hiện hữu và làm như Các Ngài có thể làm. |
|
3. Hierarchy knows how to move onward in “life”. Form in the lower three worlds (so real to us) is not very real to Them. An amazing sense of proportion may arise if we ponder carefully what DK is saying here. The ancient battles with form are long over for the members of the Hierarchy. Even the gains of victory lie well below the threshold of Their consciousness. They live within the realm of life, i.e., within the spiritual triad and consciously under the influence of the monad. So the gulf between us (and our present attempts) and Their present focus is great indeed. Our present struggles are not only ancient struggles but ancient victories for Them. |
3. Thánh Đoàn biết cách tiến tới trong “sự sống”. Hình tướng trong ba cõi thấp, vốn rất thực đối với chúng ta, lại không thật lắm đối với Các Ngài. Một Ý thức về tỉ lệ kỳ diệu có thể nảy sinh nếu chúng ta suy ngẫm cẩn thận về điều Chân sư DK đang nói ở đây. Những trận chiến cổ xưa với hình tướng đã chấm dứt từ lâu đối với các thành viên của Thánh Đoàn. Ngay cả những thành quả của chiến thắng cũng nằm hẳn bên dưới ngưỡng tâm thức của Các Ngài. Các Ngài sống trong cảnh giới của sự sống, tức là trong Tam Nguyên Tinh Thần và một cách hữu thức dưới ảnh hưởng của chân thần. Vì vậy, khoảng cách giữa chúng ta, cùng những nỗ lực hiện tại của chúng ta, với tiêu điểm hiện tại của Các Ngài thật sự rất lớn. Những cuộc đấu tranh hiện nay của chúng ta không chỉ là những cuộc đấu tranh cổ xưa, mà còn là những chiến thắng cổ xưa đối với Các Ngài. |
|
4. DK discusses the work done by those who are found “in the ranks of the Hierarchy”. Some work with the consciousness aspect and seek to see it unfolded in the disciples of the world. One such, it would seem, has been Master DK. Others work with those who are already initiate, seeking to see the life aspect expressed in their lives. |
4. Chân sư DK bàn đến công việc do những người ở “trong hàng ngũ của Thánh Đoàn” thực hiện. Một số làm việc với phương diện tâm thức và tìm cách thấy nó được khai mở nơi các đệ tử của thế gian. Dường như một vị như vậy chính là Chân sư DK. Những vị khác làm việc với những người đã là điểm đạo đồ, tìm cách thấy phương diện sự sống được biểu lộ trong đời sống của họ. |
|
5. We are those in whom consciousness is not yet completely unfolded. Our grasp of the life aspect is theoretical at best. But since “no man commeth to the Father except through me”, the way to the life aspect is through consciousness, and we must put first things first, even while gaining a theoretical grasp of that which lies farther on ahead. |
5. Chúng ta là những người nơi đó tâm thức vẫn chưa hoàn toàn khai mở. Sự nắm bắt của chúng ta về phương diện sự sống, tốt nhất cũng chỉ là lý thuyết. Nhưng vì “không ai đến với Cha ngoại trừ qua Ta”, con đường đến phương diện sự sống là qua tâm thức, và chúng ta phải đặt điều quan trọng trước hết, ngay cả khi đang đạt được một sự nắm bắt lý thuyết về điều nằm xa hơn phía trước. |
|
6. The two grades of workers in Hierarchy have their reflections in two gradations of working disciples. Some disciples will work with applicants and beginners and will focus much on cultivating in them the physical disciplines and the disciplines of the personality. Others will work with the process of helping more advanced students to substitute understanding and service for the earlier physical disciplines. This is a less selfish way. When physical disciplines are the main preoccupation of the disciple’s consciousness, some form of selfishness or self-preoccupation will always be found. |
6. Hai cấp bậc người hoạt động trong Thánh Đoàn có các phản ánh của chúng trong hai cấp độ của các đệ tử đang hoạt động. Một số đệ tử sẽ làm việc với các ứng viên và người sơ cơ, và sẽ tập trung nhiều vào việc vun bồi nơi họ các kỷ luật hồng trần và các kỷ luật của phàm ngã. Những người khác sẽ làm việc với tiến trình giúp các môn sinh tiến bộ hơn thay thế các kỷ luật hồng trần ban đầu bằng sự thấu hiểu và phụng sự. Đây là một con đường ít ích kỷ hơn. Khi các kỷ luật hồng trần là mối bận tâm chính của tâm thức đệ tử, thì luôn luôn sẽ tìm thấy một hình thức ích kỷ hay tự bận tâm nào đó. |
|
7. According to what we, as disciples, have achieved, so will be our tendency to work with one group or another. It is obvious that in the study of the fourteen more advanced Rules the emphasis is upon understanding and service, and “doing the right thing physically” is assumed to be a spiritual habit. |
7. Tùy theo điều chúng ta, với tư cách là đệ tử, đã đạt được, khuynh hướng của chúng ta sẽ là làm việc với nhóm này hay nhóm kia. Rõ ràng rằng trong việc nghiên cứu mười bốn Quy Luật tiến bộ hơn, trọng tâm đặt vào sự thấu hiểu và phụng sự, còn “làm điều đúng đắn về mặt hồng trần” được xem như một thói quen tinh thần. |
|
8. The distinctions given here by DK are important. We want to know our proper ‘place’ and field of service. We want to know how and whom we are most qualified to serve. |
8. Những phân biệt được Chân sư DK đưa ra ở đây rất quan trọng. Chúng ta muốn biết ‘vị trí’ thích hợp và lĩnh vực phụng sự của mình. Chúng ta muốn biết cách thức và đối tượng mà chúng ta có đủ phẩm chất nhất để phụng sự. |
|
9. In giving the Fourteen Rules for Disciples and Initiates to humanity, DK was certainly prodding the world esoteric group, offering them something very new (at least, for them) and quite beyond their capacity to immediately fulfill. To receive such teaching is to participate in the “forcing process” of which Master DK has so frequently spoken. |
9. Khi trao Mười Bốn Quy Luật dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ cho nhân loại, Chân sư DK chắc chắn đang thúc đẩy nhóm huyền bí thế giới, trao cho họ một điều rất mới mẻ, ít nhất là đối với họ, và hoàn toàn vượt quá khả năng hoàn thành tức thời của họ. Tiếp nhận một giáo huấn như vậy là tham dự vào “tiến trình thúc ép” mà Chân sư DK đã thường xuyên nói đến. |
|
10. We can rejoice, however, in the thought that we are being challenged by that which lies beyond our immediate capacities. The present opportunity is very great and great strides can be made by those who are willing to make the necessary sacrifices. |
10. Tuy nhiên, chúng ta có thể hoan hỉ trong ý nghĩ rằng chúng ta đang được thách thức bởi điều nằm vượt ngoài các năng lực tức thời của mình. Cơ hội hiện tại rất lớn lao, và những bước tiến lớn có thể được thực hiện bởi những ai sẵn lòng thực hiện các hy sinh cần thiết. |
|
Paragraph 4 |
Đoạn 4 |
|
D. Let me repeat: the physical disciplines are of value in the beginning stage and impart a sense of proportion and an awareness of defects and of limitations. These have their place in time and space, and that is all. Once the world of the soul is entered, the disciple uses all forms wisely, with understanding of their purpose and with freedom from excess; he is not preoccupied with them or fundamentally interested in them. His eyes are off himself and are fixed on the world of true values. He has no sense of self-interest, because a group awareness is rapidly superseding his individual consciousness. |
D. Hãy để Tôi lặp lại: các kỷ luật hồng trần có giá trị trong giai đoạn khởi đầu, và truyền đạt một Ý thức về tỉ lệ cùng một nhận thức về các khiếm khuyết và giới hạn. Chúng có vị trí của chúng trong thời gian và không gian, và chỉ thế thôi. Một khi đã bước vào thế giới của linh hồn, đệ tử sử dụng mọi hình tướng một cách khôn ngoan, với sự thấu hiểu mục đích của chúng và với sự tự do khỏi thái quá; y không bận tâm về chúng hay quan tâm căn bản đến chúng. Mắt y rời khỏi chính mình và được cố định vào thế giới của các giá trị chân thực. Y không có ý thức về tư lợi, bởi vì một nhận thức nhóm đang nhanh chóng thay thế tâm thức cá nhân của y. |
|
Points to Consider in Relation to the Above Section |
Những điểm cần xem xét liên hệ với phần trên |
|
1. We find DK reaffirming the value of the physical disciplines. Yes, they are for beginners, at least as focal issues, but if pursued successfully “impart a sense of proportion and an awareness of defects and of limitations”. |
1. Chúng ta thấy Chân sư DK tái xác nhận giá trị của các kỷ luật hồng trần. Đúng vậy, chúng dành cho người sơ cơ, ít nhất là như các vấn đề trọng tâm, nhưng nếu được theo đuổi thành công, chúng “truyền đạt một Ý thức về tỉ lệ và một nhận thức về các khiếm khuyết và giới hạn”. |
|
2. To know our limitations is significant and necessary. Beginners to not really know themselves. Most of us are not beginners. Do we really know ourselves? |
2. Biết các giới hạn của mình là điều có ý nghĩa và cần thiết. Người sơ cơ thật sự không biết chính mình. Hầu hết chúng ta không phải là người sơ cơ. Chúng ta có thật sự biết chính mình không? |
|
3. Complete self-knowledge does not come suddenly. One unveils one’s hidden nature observation by observation, revelation by revelation. Long it takes to know the whole of our hidden history and our unexpected potentials. |
3. Sự tự tri hoàn toàn không đến một cách đột ngột. Người ta vén mở bản chất ẩn giấu của mình qua từng quan sát, từng mặc khải. Phải mất rất lâu để biết toàn bộ lịch sử ẩn tàng của chúng ta và các tiềm năng bất ngờ của chúng ta. |
|
4. So, the value of the physical disciplines relates to self-disclosure—the disclosing of the self (really the not-Self) to the Self. |
4. Vì vậy, giá trị của các kỷ luật hồng trần liên hệ đến sự tự bộc lộ, tức sự bộc lộ của cái ngã, thực ra là phi-Ngã, cho Chân Ngã. |
|
5. We are asked to move from preoccupation with form to its right use. We achieve freedom from excess, freedom from preoccupation. We discover that the form is simply a necessary instrument and that our major interest does not lie with form. |
5. Chúng ta được yêu cầu chuyển từ sự bận tâm với hình tướng sang việc sử dụng đúng đắn hình tướng. Chúng ta đạt được sự tự do khỏi thái quá, tự do khỏi sự bận tâm. Chúng ta khám phá rằng hình tướng chỉ đơn giản là một khí cụ cần thiết, và mối quan tâm chính yếu của chúng ta không nằm nơi hình tướng. |
|
6. Even though these instructions are for the advanced disciple, we find Master DK reiterating the fundamentals. The eyes are to be taken off the little self. It is the world of true values that claims the attention of the real disciple. |
6. Dù các chỉ huấn này dành cho đệ tử tiến bộ, chúng ta vẫn thấy Chân sư DK nhắc lại những điều căn bản. Đôi mắt phải được rút khỏi cái ngã nhỏ bé. Chính thế giới của các giá trị chân thực mới là điều thu hút sự chú ý của đệ tử chân chính. |
|
7. What is the “world of true values”? It is at least the realm of soul, and even more the realm of the spiritual triad to which the antahkarana gives access and which reveals the Divine Plan for our planet. That which reinforces the understanding and manifestation of the Divine Plan is truly valuable. |
7. “Thế giới của các giá trị chân thực” là gì? Ít nhất đó là cảnh giới của linh hồn, và còn hơn nữa là cảnh giới của Tam Nguyên Tinh Thần mà antahkarana mở lối vào, và là cảnh giới mặc khải Thiên Cơ cho hành tinh của chúng ta. Điều nào củng cố sự thấu hiểu và sự biểu hiện của Thiên Cơ thì thật sự có giá trị. |
|
8. Perhaps most importantly, in the true disciple, self-interest is rapidly fading. It is replaced by group interest and by a focus upon that which the group as a whole perceives. |
8. Có lẽ quan trọng nhất là, nơi đệ tử chân chính, tư lợi đang nhanh chóng phai nhạt. Nó được thay thế bằng mối quan tâm nhóm và bằng sự tập trung vào điều mà toàn thể nhóm tri nhận. |
|
9. Group awareness is much discussed, theoretically, but few of us as yet have a consciousness dominated by this higher-than-individual form of awareness. |
9. Nhận thức nhóm được bàn luận nhiều, trên phương diện lý thuyết, nhưng cho đến nay ít người trong chúng ta có một tâm thức được hình thức nhận thức cao hơn cá nhân này chi phối. |
|
10. Once group consciousness has become the objective of the disciple, the physical disciplines are relegated to their proper place and are simply seen as means to an end. If wisely pursued, without preoccupation, they can be useful to the group process, but really, the consciousness is focussed on other and ‘higher’ things which allow a real approach to Hierarchy and the world of living energies in which that Hierarchy lives and moves and has its being. |
10. Một khi tâm thức nhóm đã trở thành mục tiêu của đệ tử, các kỷ luật hồng trần được đặt về đúng vị trí của chúng và chỉ được nhìn nhận như phương tiện đưa đến một mục đích. Nếu được theo đuổi một cách khôn ngoan, không bận tâm, chúng có thể hữu ích cho tiến trình nhóm, nhưng thật ra, tâm thức tập trung vào những điều khác và ‘cao hơn’, những điều cho phép một sự tiếp cận thực sự với Thánh Đoàn và thế giới của các năng lượng sống động, nơi Thánh Đoàn ấy sống, chuyển động và hiện hữu. |
|
With Love and Many Blessings to all, |
Với Tình thương và nhiều Phúc lành gửi đến tất cả, |
|
Michael and Stefan |
Michael và Stefan |
|
Part III of V |
Phần III trong V |
|
Focus for the Fourth Month of Study on Rule VI |
Trọng tâm cho tháng nghiên cứu thứ tư về Quy Luật VI |
|
3. For the fourth month we will focus upon the second sentence of Rule Six for Disciples and Initiates (from September 29th to October 28th 2004) |
3. Trong tháng thứ tư, chúng ta sẽ tập trung vào câu thứ hai của Quy Luật Sáu dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ, từ ngày 29 tháng 9 đến ngày 28 tháng 10 năm 2004 |
|
We might choose as theme for our meditation |
Chúng ta có thể chọn làm chủ đề cho bài tham thiền của mình |
|
a. Either the second sentence of the Rule: |
a. Hoặc câu thứ hai của Quy Luật: |
|
“Let the group know the vivid, flaming, drenching life that floods the fourth when the fifth is known. The fifth feeds on the fourth.” (RI, p. 128-129) |
“Hãy để nhóm biết sự sống sống động, rực cháy, thấm đẫm đang tràn ngập giới thứ tư khi giới thứ năm được biết đến. Giới thứ năm nuôi dưỡng bằng giới thứ tư.” |
|
b. Or sub-themes, DK is referring to in His commentary to the Rule (RI, p. 128-129), such as: |
b. Hoặc các chủ đề phụ mà Chân sư DK đang đề cập đến trong lời bình giải của Ngài về Quy Luật, chẳng hạn như: |
|
i. The knowing of the fifth kingdom in nature through the medium of the consciousness of the fourth and the sacrifice of the fourth kingdom to the fifth, of the human being to the soul and of humanity to the kingdom of God, is the parallel (on a higher turn of the spiral) of the sacrifice of the third kingdom, the animal kingdom, to the fourth, the human kingdom. (cf. RI, p. 129) |
i. Việc biết giới thứ năm trong thiên nhiên thông qua phương tiện là tâm thức của giới thứ tư, và sự hy sinh của giới thứ tư cho giới thứ năm, của con người cho linh hồn và của nhân loại cho Thiên Giới, là sự tương ứng, trên một vòng xoắn cao hơn của đường xoắn ốc, với sự hy sinh của giới thứ ba, giới động vật, cho giới thứ tư, giới nhân loại. |
|
ii. Thus it proceeds down the scale—sacrifice always of the lower to the higher. (cf. RI, p. 129) |
ii. Như vậy, điều đó tiếp diễn xuống theo thang bậc, luôn luôn là sự hy sinh của cái thấp cho cái cao. |
|
iii. The individual disciple has to decide whether he regards himself as an applicant, and consequently to be controlled by the “rules in time and space,” or as a candidate for initiation who knows that life is one and that the form is of no material significance, except as a field of experience for the soul. (cf. RI, p. 129) |
iii. Đệ tử cá nhân phải quyết định liệu y xem mình là một ứng viên, và do đó phải chịu sự kiểm soát của “các quy luật trong thời gian và không gian”, hay là một ứng viên cho điểm đạo, người biết rằng sự sống là một và hình tướng không có ý nghĩa vật chất nào, ngoại trừ như một trường kinh nghiệm cho linh hồn. |
|
Rule VI: Paragraphs for the Fifth Month: (pp. 128—129) |
Quy Luật VI: Các đoạn cho tháng thứ năm: |
|
Paragraph 1 |
Đoạn 1 |
|
A. The words: |
A. Những lời sau: |
|
2. Let the group know the vivid, flaming, drenching life that floods the fourth when the fifth is known |
2. Hãy để nhóm biết sự sống sống động, rực cháy, thấm đẫm đang tràn ngập giới thứ tư khi giới thứ năm được biết đến |
|
are of prime importance to those who would and can profit [Page 129] by what I am seeking to convey, as I interpret—as far as may be—these Rules. The knowing of the fifth kingdom in nature through the medium of the consciousness of the fourth and the sacrifice of the fourth kingdom to the fifth, of the human being to the soul and of humanity to the kingdom of God, is the parallel (on a higher turn of the spiral) of the sacrifice of the third kingdom, the animal kingdom, to the fourth, the human kingdom. Thus it proceeds down the scale—sacrifice always of the lower to the higher. |
có tầm quan trọng hàng đầu đối với những ai muốn và có thể hưởng lợi [Page 129] từ điều Tôi đang tìm cách truyền đạt, khi Tôi diễn giải, trong chừng mực có thể, các Quy Luật này. Việc biết giới thứ năm trong thiên nhiên thông qua phương tiện là tâm thức của giới thứ tư, và sự hy sinh của giới thứ tư cho giới thứ năm, của con người cho linh hồn và của nhân loại cho Thiên Giới, là sự tương ứng, trên một vòng xoắn cao hơn của đường xoắn ốc, với sự hy sinh của giới thứ ba, giới động vật, cho giới thứ tư, giới nhân loại. Như vậy, điều đó tiếp diễn xuống theo thang bậc, luôn luôn là sự hy sinh của cái thấp cho cái cao. |
|
Points to Consider in Relation to the Above Section |
Những điểm cần xem xét liên hệ với phần trên |
|
1. Although sentence #2 is part of Rule VI, it seems to apply to an understanding of all the Rules for Disciples and Initiates. We can see why this would be the case, for all these rules focus upon creating a more living relationship between the Kingdom of Souls and the Human Kingdom. |
1. Mặc dù câu số 2 là một phần của Quy Luật VI, nó dường như áp dụng cho sự thấu hiểu tất cả các Quy Luật dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ. Chúng ta có thể thấy vì sao điều này là như vậy, bởi tất cả các quy luật này đều tập trung vào việc tạo nên một mối liên hệ sống động hơn giữa Giới Linh hồn và Giới Nhân loại. |
|
2. This is a remarkable sentence: we are speaking of the quality of life which emanates from the fifth kingdom of nature. That quality, compared to the qualities characteristic of the normal life of the fourth kingdom, is “vivid”, “flaming” and “drenching”—words which suggest a remarkable state of “enlivenment”. |
2. Đây là một câu đáng chú ý: chúng ta đang nói về phẩm tính của sự sống vốn xuất lộ từ giới thứ năm của thiên nhiên. Phẩm tính ấy, so với những phẩm tính đặc trưng cho đời sống bình thường của giới thứ tư, là “sống động”, “rực cháy” và “thấm đẫm”, những từ gợi lên một trạng thái “được làm cho sống động” đáng chú ý. |
|
3. No wonder, then, that we all seek to enter and live within the fifth kingdom of nature! Every unit of life innately ‘wishes’ to be ever more alive. Evolution proceeds from one stage of intensity to the next. The Path of Life is the path of intensification. For every universe there is a state of maximum intensity which is the essence of life for that particular universe. We proceed from intensification to intensification, heightening our vibration, learning, thus, to live to an ever increasing degree. For units of life of our kind, the ‘end’ is not in sight, but the principle of progression is understood. |
3. Vậy thì không có gì lạ khi tất cả chúng ta đều tìm cách bước vào và sống trong giới thứ năm của thiên nhiên! Mọi đơn vị sự sống đều bẩm sinh ‘muốn’ ngày càng sống động hơn. Tiến hoá đi từ một giai đoạn cường độ này sang giai đoạn kế tiếp. Con Đường Sự Sống là con đường của sự tăng cường cường độ. Đối với mỗi vũ trụ, có một trạng thái cường độ tối đa vốn là tinh túy của sự sống cho vũ trụ đặc thù ấy. Chúng ta đi từ sự tăng cường này đến sự tăng cường khác, nâng cao rung động của mình, và nhờ vậy học cách sống ở một mức độ ngày càng gia tăng. Đối với các đơn vị sự sống thuộc loại chúng ta, ‘đích đến’ vẫn chưa hiện ra trong tầm mắt, nhưng nguyên lý tiến triển thì đã được thấu hiểu. |
|
4. The term “knowing” is here associated with the fifth kingdom. The Kingdom of Souls is the kingdom of knowers. One who is capable of identifying as a soul becomes a knower. All subsequent kingdoms, of course, retain the capacity to know. |
4. Thuật ngữ “biết” ở đây được liên kết với giới thứ năm. Giới Linh hồn là giới của các thức giả. Người có khả năng đồng hoá với tư cách là một linh hồn trở thành một thức giả. Dĩ nhiên, tất cả các giới tiếp theo đều giữ lại năng lực biết. |
|
5. What is the “knowing of the fifth kingdom in nature through the medium of the consciousness of the fourth”? The normal human consciousness is not that of the true knower. It is the consciousness of the observer, the perceiver, the thinker, the reasoner—but not of the knower. |
5. “Việc biết giới thứ năm trong thiên nhiên thông qua phương tiện là tâm thức của giới thứ tư” là gì? Tâm thức bình thường của con người không phải là tâm thức của thức giả chân chính. Đó là tâm thức của người quan sát, người tri nhận, người tư duy, người lý luận, nhưng không phải của thức giả. |
|
6. Human consciousness can deepen greatly, however, when the human being begins its transition into the fifth kingdom of nature. When soul contact is established a new factor enters the human consciousness. Incipient knowing arises. |
6. Tuy nhiên, tâm thức con người có thể sâu sắc hơn rất nhiều khi con người bắt đầu sự chuyển tiếp của mình vào giới thứ năm của thiên nhiên. Khi sự tiếp xúc linh hồn được thiết lập, một yếu tố mới đi vào tâm thức con người. Sự biết sơ khởi nảy sinh. |
|
7. What is the difference between being a knower and a thinker? Thinking is the process and knowing is the result. Thinking moves towards light; knowing is the registration of the light. The fifth kingdom in nature sees; the fourth kingdom attempts to see. |
7. Sự khác biệt giữa việc là một thức giả và một người tư duy là gì? Tư duy là tiến trình và biết là kết quả. Tư duy tiến về phía ánh sáng; biết là sự ghi nhận ánh sáng. Giới thứ năm trong thiên nhiên thấy; giới thứ tư cố gắng thấy. |
|
8. Each kingdom permeates and pervades a lower kingdom; the higher is present within the lower kingdom. The greater interpenetrates the lesser, but the lesser does not interpenetrate the greater. |
8. Mỗi giới thấm nhập và lan tỏa qua một giới thấp hơn; cái cao hiện diện trong giới thấp. Cái lớn hơn thâm nhập vào cái nhỏ hơn, nhưng cái nhỏ hơn không thâm nhập vào cái lớn hơn. |
|
9. The Tibetan points to a parallelism we must ponder: “the sacrifice of the fourth kingdom to the fifth, of the human being to the soul and of humanity to the kingdom of God, is the parallel (on a higher turn of the spiral) of the sacrifice of the third kingdom, the animal kingdom, to the fourth, the human kingdom.” The lower is ever sacrificed to the higher; but as well, there is a reciprocal sacrifice, of the higher to the lower. There will always be an exchange of energy between associated units of life. |
9. Chân sư Tây Tạng chỉ ra một sự song hành mà chúng ta phải suy ngẫm: “sự hi sinh của giới thứ tư cho giới thứ năm, của con người cho linh hồn và của nhân loại cho Thiên Giới, là sự song hành, trên một vòng xoắn cao hơn của đường xoắn ốc, với sự hi sinh của giới thứ ba, giới động vật, cho giới thứ tư, giới nhân loại.” Cái thấp luôn luôn được hi sinh cho cái cao; nhưng đồng thời cũng có một sự hi sinh hỗ tương, của cái cao cho cái thấp. Sẽ luôn có một sự trao đổi năng lượng giữa các đơn vị sự sống có liên hệ với nhau. |
|
10. The group parallel to the individual human sacrifice of the fourth to the fifth, is the sacrifice of humanity as a whole to the Kingdom of God (the Spiritual Hierarchy of our planet). This great sacrifice is in process, but many individual sacrifices must first occur before the greater sacrifice becomes a true planetary event. |
10. Sự song hành ở cấp độ nhóm với sự hi sinh cá nhân của con người thuộc giới thứ tư cho giới thứ năm, chính là sự hi sinh của toàn thể nhân loại cho Thiên Giới, tức Thánh Đoàn Tinh Thần của hành tinh chúng ta. Sự hi sinh vĩ đại này đang diễn ra, nhưng trước hết phải có nhiều hi sinh cá nhân xảy ra trước khi sự hi sinh lớn lao hơn trở thành một biến cố hành tinh đích thực. |
|
11. It is fairly easy to understand the sacrifice of the third kingdom to the fourth, in terms of food, animal products, animal labor and, in general, the service which the animal kingdom renders the human kingdom. Lower expressions of life provide a foundation for those expressions that are higher. |
11. Khá dễ để thấu hiểu sự hi sinh của giới thứ ba cho giới thứ tư, xét theo phương diện thực phẩm, sản phẩm từ động vật, sức lao động của động vật và nói chung là sự phụng sự mà giới động vật dành cho giới nhân loại. Những biểu hiện thấp hơn của sự sống cung cấp một nền tảng cho những biểu hiện cao hơn. |
|
12. It is perhaps less easy for us to understand the sacrifice of the fourth kingdom of nature to the fifth. Let us ponder this matter. |
12. Có lẽ chúng ta khó thấu hiểu hơn sự hi sinh của giới thứ tư trong thiên nhiên cho giới thứ năm. Chúng ta hãy suy ngẫm về vấn đề này. |
|
a. The fifth kingdom ‘comes to birth’, as it were, ‘within’ the fourth kingdom—and especially within the consciousness of the fourth kingdom. In a way that kingdom always exists on its own plane (being a produce of ‘God’s emanation’), but its task is to link with the lower kingdoms and come to birth within them. |
a. Giới thứ năm, có thể nói, “được sinh ra” “bên trong” giới thứ tư — và đặc biệt bên trong tâm thức của giới thứ tư. Theo một cách nào đó, giới ấy luôn hiện hữu trên cõi riêng của nó, vì là một sản phẩm của “sự xuất lộ của Thượng đế”, nhưng nhiệm vụ của nó là liên kết với các giới thấp hơn và được sinh ra bên trong chúng. |
|
b. Each kingdom of nature has its objectives and, unless harmonized by Planetary Purpose, these objectives are at variance. |
b. Mỗi giới trong thiên nhiên đều có những mục tiêu của nó, và nếu không được Thiên Ý Hành Tinh điều hòa, các mục tiêu ấy sẽ xung khắc nhau. |
|
c. The objectives of a higher kingdom will always alter or modify the objectives of a lesser kingdom. That alteration or modification is initially experienced as a sacrifice by the lower kingdom (if the lower kingdom is self-conscious). If the lower kingdom is not self-conscious, then the alteration or modification is recognized as a sacrifice by those higher kingdoms which can see and understand the relationship between a given kingdom and the kingdom ‘above’ it. |
c. Các mục tiêu của một giới cao hơn sẽ luôn làm thay đổi hoặc điều chỉnh các mục tiêu của một giới thấp hơn. Sự thay đổi hay điều chỉnh ấy ban đầu được giới thấp hơn trải nghiệm như một sự hi sinh, nếu giới thấp hơn ấy có ngã thức. Nếu giới thấp hơn không có ngã thức, thì sự thay đổi hay điều chỉnh ấy được nhận biết như một sự hi sinh bởi những giới cao hơn có thể thấy và thấu hiểu mối liên hệ giữa một giới nhất định với giới ở “trên” nó. |
|
d. The fifth kingdom, the Kingdom of Souls, is obviously ‘above’ the fourth or human kingdom. |
d. Giới thứ năm, Giới Linh Hồn, hiển nhiên ở “trên” giới thứ tư hay giới nhân loại. |
|
e. As the consciousness belonging to the fifth kingdom begins to arise within human consciousness, the habitual tendencies of the fourth kingdom are seen to be detrimental to the realization of the desirable objectives revealed by fifth kingdom consciousness. |
e. Khi tâm thức thuộc về giới thứ năm bắt đầu phát sinh trong tâm thức nhân loại, những khuynh hướng quen thuộc của giới thứ tư được thấy là có hại cho việc nhận thức những mục tiêu đáng mong muốn do tâm thức giới thứ năm mặc khải. |
|
f. It comes to be understood by the disciplic consciousness (poised between fourth and fifth kingdom consciousness) that unless the tendencies of the fourth kingdom are modified so that they correspond to and harmonize with the objectives revealed by the nascent fifth kingdom consciousness, those higher objectives will not be fulfilled. An inherent conflict is revealed between fifth kingdom consciousness and fourth kingdom consciousness. |
f. Tâm thức đệ tử, vốn quân bình giữa tâm thức giới thứ tư và tâm thức giới thứ năm, dần thấu hiểu rằng nếu các khuynh hướng của giới thứ tư không được điều chỉnh để tương ứng và hài hòa với những mục tiêu do tâm thức giới thứ năm còn phôi thai mặc khải, thì các mục tiêu cao hơn ấy sẽ không được hoàn thành. Một xung đột nội tại được mặc khải giữa tâm thức giới thứ năm và tâm thức giới thứ tư. |
|
g. The lesser must always give way (or make sacrifice) to the greater, so that higher patterns may take the place of lower patterns. In the great Universal Hierarchy of Lives, the highest patterns available within any hierarchical ranking of lives must eventually dominate all lower patterns, forcing these lower patterns into conformity or harmony with the higher. |
g. Cái thấp hơn luôn phải nhường chỗ, hay thực hiện hi sinh, cho cái lớn lao hơn, để các mô hình cao hơn có thể thay thế các mô hình thấp hơn. Trong Huyền Giai Vũ Trụ vĩ đại của các Sự Sống, những mô hình cao nhất có sẵn trong bất kỳ cấp bậc huyền giai nào của các sự sống rốt cuộc phải chế ngự mọi mô hình thấp hơn, buộc các mô hình thấp hơn ấy phải phù hợp hoặc hài hòa với cái cao hơn. |
|
h. So it is in relation to the Kingdom of Souls and the Kingdom of Humanity.. |
h. Điều ấy cũng đúng trong mối liên hệ giữa Giới Linh Hồn và Giới Nhân Loại. |
|
i. Plants need minerals in order to flourish; animals feed upon plant life (and upon themselves); human being feed upon plants and animals (and only rarely upon themselves!). In these instances, the lower kingdoms are actually needed to sustain the life of the higher kingdoms. Does this pattern hold true when comparing the Kingdom of Souls to the Kingdom of Humanity. Do the members of the Kingdom of Souls actually need and ‘feed upon’ the substance of the fourth kingdom of nature? |
i. Cây cối cần khoáng chất để phát triển mạnh; động vật nuôi sống mình bằng đời sống thực vật, và bằng chính đồng loại của chúng; con người nuôi sống mình bằng thực vật và động vật, và chỉ rất hiếm khi bằng chính đồng loại mình! Trong những trường hợp này, các giới thấp hơn thật sự cần thiết để duy trì sự sống của các giới cao hơn. Mô hình này có còn đúng khi so sánh Giới Linh Hồn với Giới Nhân Loại không? Các thành viên của Giới Linh Hồn có thật sự cần và “nuôi sống mình bằng” chất liệu của giới thứ tư trong thiên nhiên không? |
|
j. We might say that the fifth kingdom of nature is temporarily in need of human forms through which to manifest the consciousness of the fifth kingdom. It is the objective of the fifth kingdom to redeem the lives of the lower four kingdoms (human, animal, vegetable, mineral). The human kingdom is the macrocosm of the three kingdoms below it. If the kingdom of souls is to be successful in its planetary mission, it needs not only to work through the forms of the fourth kingdom, but needs the best creative products of the fourth kingdom. In a way, the fifth kingdom of nature works through that which the fourth kingdom has created and infuses those creations with its consciousness. |
j. Chúng ta có thể nói rằng giới thứ năm trong thiên nhiên tạm thời cần các hình tướng con người để qua đó biểu hiện tâm thức của giới thứ năm. Mục tiêu của giới thứ năm là cứu chuộc các sự sống của bốn giới thấp hơn, tức nhân loại, động vật, thực vật và kim thạch. Giới nhân loại là đại thiên địa của ba giới ở dưới nó. Nếu giới linh hồn muốn thành công trong sứ mệnh hành tinh của mình, nó không chỉ cần hoạt động thông qua các hình tướng của giới thứ tư, mà còn cần những sản phẩm sáng tạo tốt đẹp nhất của giới thứ tư. Theo một cách nào đó, giới thứ năm trong thiên nhiên hoạt động thông qua những gì giới thứ tư đã tạo ra và thấm nhuần những sáng tạo ấy bằng tâm thức của mình. |
|
k. Usually, there is a change of form with every change of kingdom. Once, however, the relative perfection of the fourth kingdom has been reached (in this fourth scheme, fourth chain, fourth round and fourth globe), no further changes in form are needed to accompany changes in kingdom. This is why a Master or a Chohan will use a human form through which to manifest. |
k. Thông thường, có một sự thay đổi về hình tướng với mỗi sự thay đổi về giới. Tuy nhiên, một khi sự hoàn thiện tương đối của giới thứ tư đã đạt được, trong hệ hành tinh thứ tư, dãy thứ tư, cuộc tuần hoàn thứ tư và bầu hành tinh thứ tư này, thì không cần thêm những thay đổi nào về hình tướng để đi kèm các thay đổi về giới. Đó là lý do vì sao một Chân sư hay một Chohan sẽ dùng một hình tướng con người để qua đó biểu hiện. |
|
l. One of the sacrifices which the fourth kingdom provides for the fifth (and perhaps the sixth) is to provide the members of these kingdoms with human forms through which they can manifest. |
l. Một trong những hi sinh mà giới thứ tư cung cấp cho giới thứ năm, và có lẽ cho cả giới thứ sáu, là cung cấp cho các thành viên của những giới này các hình tướng con người để qua đó họ có thể biểu hiện. |
|
m. In a way, the energy and force patterns which have been built during the evolution of the fourth kingdom are made available for the utilization of the fifth. The members of the fifth kingdom take human forms and human creations and make them live. They pour through these forms and creations the “vivid, flaming, drenching life”, flooding the fourth with their energy. |
m. Theo một cách nào đó, các mô hình năng lượng và mãnh lực đã được xây dựng trong tiến trình tiến hoá của giới thứ tư được dành sẵn cho giới thứ năm sử dụng. Các thành viên của giới thứ năm nhận lấy các hình tướng con người và những sáng tạo của con người, rồi làm cho chúng sống động. Các Ngài tuôn đổ qua những hình tướng và sáng tạo ấy “sự sống rực rỡ, bừng cháy, thấm đẫm”, làm ngập tràn giới thứ tư bằng năng lượng của Các Ngài. |
|
n. We might say that members of the fifth (and perhaps sixth and seventh kingdoms) have no bodies (in the three lower worlds), per se, other than what is provided for them by the fourth kingdom. Once a unit of life is very solidly a member of the fifth kingdom, after the fourth initiation, incarnation is no longer a necessity, but if such a member wishes to manifest in the three lower worlds, a human form must either be ‘taken’ in the usual way, or ‘created’ via the power of Kriyashakti. |
n. Chúng ta có thể nói rằng các thành viên của giới thứ năm, và có lẽ cả giới thứ sáu và thứ bảy, chính họ không có các thể trong ba cõi thấp, ngoài những gì được giới thứ tư cung cấp cho họ. Một khi một đơn vị sự sống đã vững chắc là thành viên của giới thứ năm, sau lần điểm đạo thứ tư, việc lâm phàm không còn là một tất yếu nữa; nhưng nếu một thành viên như thế muốn biểu hiện trong ba cõi thấp, một hình tướng con người hoặc phải được “nhận lấy” theo cách thông thường, hoặc phải được “tạo ra” nhờ quyền năng tạo tác bằng ý chí. |
|
o. We see, then, that the sacrificial relationship between the fourth and fifth kingdoms is subtler and more psychological than the sacrificial relationship between the third and fourth, or second and third, etc. Bodily sacrifice may, indeed, be involved (as when a candidate for the fourth initiation gives up his life for the sake of manifesting fifth kingdom objectives), but often the sacrifice is one that occurs in consciousness more than in the realm of physicality. |
o. Vì vậy, chúng ta thấy rằng mối liên hệ hi sinh giữa giới thứ tư và giới thứ năm tinh tế hơn và mang tính tâm lý hơn so với mối liên hệ hi sinh giữa giới thứ ba và thứ tư, hoặc giữa giới thứ hai và thứ ba, v.v. Sự hi sinh thân xác quả thật có thể liên quan, như khi một ứng viên cho lần điểm đạo thứ tư từ bỏ mạng sống của mình vì mục đích biểu hiện các mục tiêu của giới thứ năm; nhưng thường thì sự hi sinh là điều xảy ra trong tâm thức nhiều hơn trong lĩnh vực hồng trần. |
|
13. The dynamic of sacrifice is difficult to understand. It must be approached with idea of planetary wholeness in mind. Although one kingdom seems to be sacrificed to the next higher kingdom, it is the creativity, welfare and purpose of the whole that is working out in these sacrifices. Through such sacrifices the entire system and all lives within it benefit. |
13. Động lực của hi sinh rất khó thấu hiểu. Cần tiếp cận nó với ý tưởng về tính toàn vẹn hành tinh trong tâm trí. Mặc dù một giới dường như được hi sinh cho giới kế tiếp cao hơn, nhưng chính sự sáng tạo, phúc lợi và mục đích của toàn thể đang được thể hiện qua những hi sinh này. Thông qua những hi sinh như thế, toàn bộ hệ thống và mọi sự sống trong đó đều được lợi ích. |
|
14. Once the ability to identify with the larger whole grows, the lesser sacrifices of forms and energy patterns associated with those forms are all seen as one great process by which Divine Purpose is working its way into manifestation. |
14. Một khi khả năng đồng hoá với toàn thể rộng lớn hơn tăng trưởng, các hi sinh nhỏ hơn của những hình tướng và các mô hình năng lượng gắn liền với những hình tướng ấy đều được thấy như một tiến trình vĩ đại duy nhất qua đó Thiên Ý đang mở đường đi vào biểu hiện. |
|
15. A fundamental revolution in the perception of identity will change our way of viewing sacrifice. It is not as if a kingdom higher than our own arbitrarily wills the sacrifice of ‘our’ kingdom to itself. Rather, we as the Will of the Whole, will that sacrifice. We have to rediscover that our own will lies behind all the apparent sacrifices in the larger system which includes us. |
15. Một cuộc cách mạng căn bản trong nhận thức về bản sắc sẽ thay đổi cách chúng ta nhìn về sự hi sinh. Không phải như thể một giới cao hơn giới của chúng ta tùy tiện muốn giới “của chúng ta” hi sinh cho chính nó. Đúng hơn, chúng ta, với tư cách là Ý Chí của Toàn Thể, muốn sự hi sinh ấy. Chúng ta phải khám phá lại rằng ý chí của chính chúng ta nằm đằng sau mọi hi sinh biểu kiến trong hệ thống rộng lớn hơn vốn bao gồm chúng ta. |
|
16. Once self-conscious units evolve to the point where they know that “Life is One”, the drama of sacrifice will be understood in an entirely new way, and much of the sense of pain and loss will disappear. |
16. Một khi các đơn vị có ngã thức tiến hoá đến mức họ biết rằng “Sự Sống là Một”, tấn kịch của hi sinh sẽ được thấu hiểu theo một cách hoàn toàn mới, và phần lớn cảm thức về đau đớn và mất mát sẽ biến mất. |
|
Paragraph 2 |
Đoạn 2 |
|
B. It therefore behooves the individual disciple to decide whether he is an applicant, and consequently to be controlled by the “rules in time and space,” or a candidate for initiation who knows that life is one and that the form is of no material significance, except as a field of experience for the soul. |
B. Vì vậy, người đệ tử cá nhân cần quyết định xem y là một người thỉnh nguyện, và do đó bị chi phối bởi “các quy luật trong thời gian và không gian”, hay là một ứng viên cho điểm đạo, người biết rằng sự sống là một và hình tướng không có ý nghĩa vật chất nào, ngoại trừ như một trường kinh nghiệm cho linh hồn. |
|
Points to Consider in Relation to the Above Section |
Những Điểm Cần Xem Xét Liên Quan Đến Phần Trên |
|
1. We are asked to make a decision regarding our ‘place’ within the initiatory process. |
1. Chúng ta được yêu cầu đưa ra một quyết định liên quan đến “vị trí” của mình trong tiến trình điểm đạo. |
|
2. Are we an “applicant” (presumably for either of the “initiations of the threshold”—the first and second initiations), or are we a “candidate for initiation” (initiation, in this context, meaning the third initiation which is the first true and major initiation)? |
2. Chúng ta là một “người thỉnh nguyện”, có lẽ cho một trong hai “lần điểm đạo ở ngưỡng cửa”, tức lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai, hay chúng ta là một “ứng viên cho điểm đạo”, trong đó điểm đạo, theo ngữ cảnh này, hàm ý lần điểm đạo thứ ba, vốn là lần điểm đạo chân thật và trọng yếu đầu tiên? |
|
3. In a way, we are what we are, but when an attempt is make to clarify our own minds regarding our ‘standing’, the very act of clarification may serve as an elevation. |
3. Theo một cách nào đó, chúng ta là chính điều chúng ta là, nhưng khi có nỗ lực làm sáng tỏ trong trí mình về “vị thế” của chính mình, chính hành động làm sáng tỏ ấy có thể đóng vai trò như một sự nâng cao. |
|
4. Time and space are inescapable actualities. I will not call them “realities”. As long as our work lies within the lower three worlds (whether for the sake of experience or of service) we will have to deal with time and space. In a way, Time and Space are universal factors and the very fact that a universe exists demands their existence. |
4. Thời gian và không gian là những thực kiện không thể tránh khỏi. Tôi sẽ không gọi chúng là “thực tại”. Chừng nào công việc của chúng ta còn nằm trong ba cõi thấp, dù vì mục đích kinh nghiệm hay phụng sự, chúng ta vẫn phải xử lý thời gian và không gian. Theo một cách nào đó, Thời Gian và Không Gian là những yếu tố phổ quát, và chính sự kiện một vũ trụ hiện hữu đòi hỏi sự hiện hữu của chúng. |
|
5. But although we may work within the field of time and space, are we controlled by the “rules in time and space”? About this we have a choice. |
5. Nhưng mặc dù chúng ta có thể làm việc trong trường thời gian và không gian, liệu chúng ta có bị chi phối bởi “các quy luật trong thời gian và không gian” không? Về điều này, chúng ta có quyền lựa chọn. |
|
6. The task presented to us is to see through time and space, to see beyond time and space. When our expanding consciousness invalidates the reality of time and space, we are ready to transcend them (at least as they are known in the three lower worlds) and can become a true candidate for initiation. |
6. Nhiệm vụ được đặt ra cho chúng ta là nhìn thấu thời gian và không gian, nhìn vượt khỏi thời gian và không gian. Khi tâm thức đang mở rộng của chúng ta phủ nhận thực tại của thời gian và không gian, chúng ta sẵn sàng siêu vượt chúng, ít nhất như chúng được biết trong ba cõi thấp, và có thể trở thành một ứng viên đích thực cho điểm đạo. |
|
7. It is at the third degree that the first real conquest of illusion begins. The most fundamental of all illusions is the idea that time and space are real. The third degree initiate knows that “life is one” and that form is merely an instrument through which soul can experience and express. |
7. Chính ở cấp độ thứ ba mà cuộc chinh phục ảo tưởng thật sự đầu tiên bắt đầu. Ảo tưởng căn bản nhất trong mọi ảo tưởng là ý tưởng cho rằng thời gian và không gian là có thật. Điểm đạo đồ cấp ba biết rằng “sự sống là một” và hình tướng chỉ là một khí cụ qua đó linh hồn có thể kinh nghiệm và biểu đạt. |
|
8. One who “lives in the eternal” and “knows the self as one” is rapidly overcoming the illusion of time and space. One who fulfills these two requirements is a third degree initiate. |
8. Người “sống trong vĩnh cửu” và “biết bản ngã là một” đang nhanh chóng vượt qua ảo tưởng về thời gian và không gian. Người đáp ứng hai điều kiện này là một điểm đạo đồ cấp ba. |
|
9. We do not want to get ahead of ourselves. We do not want our wishes to take the place of a sober assessment of reality. But we can control the degree of our imprisonment in time and space by thoughtfully penetrating its unreality. We can use our illumined minds to assure ourselves that the prison of illusion we have taken for granted for millions of years is fundamentally unreal. |
9. Chúng ta không muốn vượt trước chính mình. Chúng ta không muốn các ước muốn của mình thay thế cho một sự đánh giá tỉnh táo về thực tại. Nhưng chúng ta có thể kiểm soát mức độ bị giam hãm của mình trong thời gian và không gian bằng cách thâm nhập một cách suy tư vào tính phi thực của nó. Chúng ta có thể dùng thể trí được soi sáng của mình để tự xác tín rằng nhà tù ảo tưởng mà chúng ta đã mặc nhiên chấp nhận trong hàng triệu năm về căn bản là phi thực. |
|
10. Yes, we are faced with a decision about whether we are an “applicant” or a “candidate” but we are also faced with the possibility of choices and actions which can turn transform us from one to the other. |
10. Đúng vậy, chúng ta đang đối diện với một quyết định về việc mình là “người thỉnh nguyện” hay “ứng viên”, nhưng chúng ta cũng đang đối diện với khả năng có những lựa chọn và hành động có thể chuyển đổi chúng ta từ trạng thái này sang trạng thái kia. |
|
11. Let us be clear in determining the nature of our values and the degree of reality possessed by our perceptions. One is transformed from an “applicant” to a “candidate” by subtle inner processes. The transformation occurs in consciousness. That transformation depends upon the extent to which we can grasp reality. Those who see clearly can begin to count themselves as “candidates”. Those who do not see clearly, no matter how strenuously they labor within the veil of illusion, must still count themselves as “applicants” at best. |
11. Chúng ta hãy rõ ràng trong việc xác định bản chất các giá trị của mình và mức độ thực tại mà những nhận thức của mình sở hữu. Một người được chuyển đổi từ “người thỉnh nguyện” thành “ứng viên” nhờ các tiến trình nội tâm tinh tế. Sự chuyển đổi ấy xảy ra trong tâm thức. Sự chuyển đổi ấy tùy thuộc vào mức độ mà chúng ta có thể nắm bắt thực tại. Những ai thấy rõ có thể bắt đầu tự xem mình là “ứng viên”. Những ai không thấy rõ, dù họ lao nhọc mãnh liệt đến đâu trong bức màn ảo tưởng, tốt nhất vẫn phải tự xem mình là “người thỉnh nguyện”. |
|
The amount of text to be considered during this month has been relatively little. The import of the text, however, is considerable. The great theme of sacrifice between the kingdoms was brought forward for elucidation and the contrast between the “applicant” and the “candidate” were to be carefully considered. It is obvious that Master DK would have us become true “candidates”—those who have managed to leave behind any preoccupation with lesser disciplines in favor of the disciplines of soul and spirit. Discipline, per se, is inescapable. It is forced upon lives not yet self-conscious. It is also forced upon self-conscious lives, but these can acquiesce and intelligently cooperate with the enforcement or imposition. |
Lượng văn bản cần được xem xét trong tháng này tương đối ít. Tuy nhiên, ý nghĩa của văn bản lại rất đáng kể. Chủ đề lớn về sự hi sinh giữa các giới đã được đưa ra để làm sáng tỏ, và sự tương phản giữa “người thỉnh nguyện” và “ứng viên” cần được xem xét cẩn thận. Rõ ràng Chân sư DK muốn chúng ta trở thành những “ứng viên” đích thực — những người đã xoay xở để bỏ lại phía sau mọi bận tâm với các kỷ luật thấp hơn, nhằm ưu tiên các kỷ luật của linh hồn và tinh thần. Chính kỷ luật là điều không thể tránh khỏi. Nó được áp đặt lên những sự sống chưa có ngã thức. Nó cũng được áp đặt lên những sự sống có ngã thức, nhưng những sự sống này có thể chấp thuận và hợp tác một cách thông minh với sự cưỡng hành hay áp đặt ấy. |
|
If we are going to grow, a great change in consciousness is required. Form will only change when changes in consciousness precede changes in form. There is much internal work to be done. When done correctly, the outer world will reflect the inner transformation. The whole matter is extremely subtle, but such is the Way of the Occultist. May our growing “esoteric sense” reveal to us the necessary inner changes and guide us in making them! |
Nếu chúng ta muốn tăng trưởng, cần có một thay đổi lớn trong tâm thức. Hình tướng chỉ thay đổi khi những thay đổi trong tâm thức đi trước những thay đổi trong hình tướng. Có nhiều công việc nội tâm cần được thực hiện. Khi được thực hiện đúng đắn, thế giới bên ngoài sẽ phản chiếu sự chuyển đổi bên trong. Toàn bộ vấn đề này cực kỳ tinh tế, nhưng đó chính là Con Đường của nhà huyền bí học. Nguyện cho “giác quan bí truyền” đang tăng trưởng của chúng ta mặc khải cho chúng ta những thay đổi nội tâm cần thiết và hướng dẫn chúng ta thực hiện chúng! |
|
With Love and Many Blessings to all, |
Với tình thương và nhiều phước lành gửi đến tất cả, |
|
Michael and Stefan |
Michael và Stefan |
|
Part IV of V |
Phần IV trong V phần |
|
We might choose as theme for our meditation |
Chúng ta có thể chọn làm chủ đề cho tham thiền của mình |
|
a. Either the third sentence of the Rule: |
a. Hoặc câu thứ ba của Quy luật: |
|
“Let then the group—merged in the fifth—be nourished by the sixth and seventh, and realise that all the lesser rules are rules in time and space and cannot hold the group. It onward moves in life.” (RI, p. 129-132) |
“Bấy giờ, hãy để nhóm — đã hòa nhập vào giới thứ năm — được nuôi dưỡng bởi giới thứ sáu và thứ bảy, và nhận ra rằng mọi quy luật nhỏ hơn đều là các quy luật trong thời gian và không gian, không thể giữ nhóm lại. Nhóm tiến tới trong sự sống.” |
|
b. Or sub-themes, DK is referring to in His commentary to the Rule (RI, p. 129-132), such as: |
b. Hoặc các chủ đề phụ mà Chân sư DK đang đề cập đến trong phần bình luận của Ngài về Quy luật, chẳng hạn như: |
|
1. The third sentence can also be formulated as follows: “Then let the group—which is identified with the soul—find its sustenance and vitality by the inflow of the intuition and of the spiritual will, emanating from the Spiritual Triad.” (cf. RI, p. 129) |
1. Câu thứ ba cũng có thể được diễn đạt như sau: “Bấy giờ, hãy để nhóm — vốn đồng hoá với linh hồn — tìm thấy sự nuôi dưỡng và sinh lực của mình nhờ dòng tuôn nhập của trực giác và của ý chí tinh thần, xuất lộ từ Tam Nguyên Tinh Thần.” |
|
2. The sixth kingdom is that of the “overshadowing Triads”—that aggregation of liberated Lives of which the higher initiates in the Hierarchy are a part; They are to that spiritual group what the New Group of World Servers is to Humanity. (cf. RI, p. 129-130) |
2. Giới thứ sáu là giới của “các Tam Nguyên phủ bóng” — tập hợp những Sự Sống đã giải thoát mà các điểm đạo đồ cao cấp hơn trong Thánh Đoàn là một phần trong đó; Các Ngài đối với nhóm tinh thần ấy cũng như Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đối với Nhân Loại. |
|
3. The seventh kingdom in nature is that of the Lives Who participate in full capacity of understanding with the group of Beings Who are the nucleus of the Council at Shamballa. (cf. RI, p. 130) |
3. Giới thứ bảy trong thiên nhiên là giới của những Sự Sống tham dự với đầy đủ năng lực thấu hiểu cùng nhóm các Đấng vốn là hạt nhân của Hội Đồng tại Shamballa. |
|
4. The consciousness and state of being of members of the seventh kingdom is only dimly understood by the most advanced Members of the Hierarchy, and the relation of these Lives to the Lord of the World is similar, and yet fundamentally different, to the relation of the Members of the Hierarchy to the three Great Lords—the Christ, the Manu and the Mahachohan. (cf. RI, p. 130) |
4. Tâm thức và trạng thái hiện tồn của các thành viên giới thứ bảy chỉ được những Thành viên tiến bộ nhất của Thánh Đoàn hiểu một cách lờ mờ; và mối liên hệ của các Sự Sống này với Đức Chúa Tể Thế Giới thì tương tự, nhưng đồng thời khác biệt về căn bản, với mối liên hệ của các Thành viên Thánh Đoàn với ba Đấng Chúa Tể Cao Cả — Đức Christ, Đức Manu và Đức Mahachohan. |
|
5. Through the three Lords, the Christ, the Manu and the Mahachohan, pours the energy which streams from Shamballa, transmitting the purpose and motivating the plan of Sanat Kumara—His Life Plan. (cf. RI, p. 130) |
5. Qua ba Đấng Chúa Tể, Đức Christ, Đức Manu và Đức Mahachohan, tuôn đổ năng lượng phát xuất từ Shamballa, truyền đạt mục đích và thúc đẩy Thiên Cơ của Đức Sanat Kumara — Thiên Cơ Sự Sống của Ngài. |
|
6. The Plan is defined as the response of the Hierarchy to the inflaming purposeful will of the Lord of the World. (cf. RI, p. 130) |
6. Thiên Cơ được định nghĩa là sự đáp ứng của Thánh Đoàn trước ý chí có mục đích đang bừng cháy của Đức Chúa Tể Thế Giới. |
|
7. Through Sanat Kumara, the Ancient of Days, flows the unknown energy of which the three divine Aspects are the expression. (cf. RI, p. 130) |
7. Qua Đức Sanat Kumara, Đấng Thái Cổ, tuôn chảy năng lượng chưa được biết đến mà ba Phương diện thiêng liêng là sự biểu hiện của nó. |
|
8. Sanat Kumara is the Custodian of the will of the Great White Lodge on Sirius, and the burden of this “cosmic intention” is shared by the Buddhas of Activity and those Members of the Great Council Who are of so elevated a consciousness and vibration that only once a year (through Their emissary, the Buddha) is it safe for Them to contact the Hierarchy. (cf. RI; p. 130) |
8. Đức Sanat Kumara là Đấng Bảo Hộ ý chí của Thánh đoàn trên Sirius, và gánh nặng của “ý định vũ trụ” này được chia sẻ bởi các Đức Phật Hoạt Động và những Thành viên của Đại Hội Đồng, các Đấng có tâm thức và rung động cao cả đến mức chỉ mỗi năm một lần, qua sứ giả của Các Ngài là Đức Phật, việc Các Ngài tiếp xúc với Thánh Đoàn mới an toàn. |
|
9. By considering such a wider horizon than that usually registered by disciples our point of view expands. Thus our sense of synthesis, of purposeful planning and of planetary integrity is stimulated. (cf. RI, p. 130) |
9. Bằng cách xem xét một chân trời rộng lớn hơn chân trời thường được các đệ tử ghi nhận, quan điểm của chúng ta được mở rộng. Nhờ vậy, ý thức của chúng ta về tổng hợp, về hoạch định có mục đích và về tính toàn vẹn hành tinh được kích thích. |
|
10. This great spiritual structure of Being, of Life and of Direction is something that the disciples and initiates of the world need—at this time—in their effort to stand steady under the pressure of world events, and in their determination to cooperate unwaveringly with the moves and plans made by the world Directors, that “Society of illumined and organised “ which is known under the name of the Hierarchy. (cf. RI, p. 130-131) |
10. Cấu trúc tinh thần vĩ đại này của Bản Thể, của Sự Sống và của Định Hướng là điều mà các đệ tử và điểm đạo đồ của thế giới đang cần vào lúc này, trong nỗ lực đứng vững dưới áp lực của các biến cố thế giới, và trong quyết tâm hợp tác không lay chuyển với những động thái và kế hoạch do các Đấng Điều Hướng thế giới thực hiện, tức “Hội những vị được soi sáng và có tổ chức” được biết đến dưới danh xưng Thánh Đoàn. |
|
11. It is illumination and consequent organisation which is needed profoundly at this time. (cf. RI, p. 131) |
11. Chính sự soi sáng và tổ chức hệ quả là điều đang được cần đến sâu xa vào lúc này. |
|
12. Such is the significance of the teaching now being given out anent the building of the Antahkarana. (cf. RI, p. 131) |
12. Đó là thâm nghĩa của giáo huấn hiện đang được ban ra liên quan đến việc xây dựng antahkarana. |
|
13. It is only through the Antahkarana, that the disciple can mount on to that stage of the ladder of evolution which will lead him out of the three worlds, which will bring the personality into rapport with the Spiritual Triad, and which will finally lead the Members of the Hierarchy (when Their term of service is completed) on to the Path of the Higher Evolution. (cf. RI, p. 131) |
13. Chỉ thông qua antahkarana, đệ tử mới có thể bước lên nấc thang tiến hoá sẽ dẫn y ra khỏi ba cõi giới, đưa phàm ngã vào mối tương giao với Tam Nguyên Tinh Thần, và sau cùng dẫn các Thành viên của Thánh Đoàn, khi thời hạn phụng sự của Các Ngài hoàn tất, vào Con Đường Tiến Hóa Cao Siêu. |
|
14. The planetary Antahkarana is built by aspirants and disciples and initiates of the seven ray types, and is therefore a sevenfold woven thread. (cf. RI, p. 131) |
14. Antahkarana hành tinh được xây dựng bởi những người chí nguyện, đệ tử và điểm đạo đồ thuộc bảy loại cung, và do đó là một sợi dây dệt thất phân. |
|
15. The building of the Antahkarana constitutes the first stage of the Path of the Higher Evolution. It is to that Path what experience in the mineral kingdom of the Life of God is to that same Life when it reaches the fourth or human kingdom. (cf. RI, p. 131) |
15. Việc xây dựng antahkarana cấu thành giai đoạn đầu tiên của Con Đường Tiến Hóa Cao Siêu. Đối với Con Đường ấy, việc này giống như kinh nghiệm trong giới kim thạch của Sự Sống của Thượng đế đối với chính Sự Sống ấy khi đạt đến giới thứ tư hay giới nhân loại. |
|
16. The Law of Analogy, which is part of the Science of Comparison, is the key which unlocks the understanding. (cf. RI, p. 131) |
16. Định luật tương đồng, vốn là một phần của Khoa Học So Sánh, là chìa khóa mở ra sự thấu hiểu. |
|
17. Something of the quality and the revelatory power of the intuition is known by all disciples; it constitutes at times (from its very rarity) a major “spiritual excitement.” (cf. RI, p. 131) |
17. Mọi đệ tử đều biết phần nào phẩm tính và quyền năng mặc khải của trực giác; đôi khi, do chính sự hiếm hoi của nó, nó tạo thành một “sự hứng khởi tinh thần” lớn lao. |
|
18. The intuition produces effects and stimulation; it indicates future receptivity to dimly sensed truths and is allied—if you could but realise it—with the entire phenomena of prevision. (cf. RI, p. 131) |
18. Trực giác tạo ra các hiệu quả và sự kích thích; nó chỉ ra khả năng tiếp nhận trong tương lai đối với những chân lý còn được cảm nhận lờ mờ, và nếu các bạn có thể nhận ra, nó liên hệ với toàn bộ các hiện tượng tiên kiến. |
|
19. A registration of some aspect of intuitional understanding is an event of major importance in the life of the disciple who is beginning to tread the Path to the Hierarchy. It provides testimony, which he can recognise, of the existence of knowledges, wisdom and significances of which the intelligentsia of humanity are not yet aware; it guarantees to him the unfolding possibility of his own higher nature, a realisation of his divine connections and the possibility of his ultimate highest spiritual attainment. (cf. RI, p. 131) |
19. Việc ghi nhận một phương diện nào đó của sự thấu hiểu trực giác là một biến cố có tầm quan trọng lớn trong đời sống của người đệ tử đang bắt đầu bước trên Con Đường dẫn đến Thánh Đoàn. Nó cung cấp cho y chứng cứ mà y có thể nhận biết về sự hiện hữu của những tri thức, minh triết và thâm nghĩa mà giới trí thức của nhân loại chưa ý thức được; nó bảo đảm cho y khả năng đang khai mở của bản chất cao siêu nơi chính y, một sự nhận thức về các mối liên hệ thiêng liêng của y và khả năng đạt đến thành tựu tinh thần tối cao sau cùng của y. |
|
20. The intuition steadily supersedes soul knowledge, and the energy pouring in to his consciousness from the Spiritual Triad—particularly the energy of the sixth and seventh spheres of activity—is the specific and particular energy which finally brings about the destruction of the causal body, the annihilation of the Temple of Solomon, and the liberation of the Life. (cf. RI, p. 131-132) |
20. Trực giác dần dần thay thế tri thức của linh hồn, và năng lượng tuôn vào tâm thức của y từ Tam Nguyên Tinh Thần—đặc biệt là năng lượng của các khối cầu hoạt động thứ sáu và thứ bảy—chính là năng lượng riêng biệt và đặc thù cuối cùng tạo nên sự hủy diệt thể nguyên nhân, sự tiêu tan của Đền thờ Solomon, và sự giải thoát của Sự Sống. (xem Cung và Điểm Đạo, tr. 131-132) |
|
21. Then, when the causal body has been destroyed, that which in time and space has been termed the soul can “onward move in life.” Evolution as we now understand it ceases; yet evolutionary unfoldment proceeds along new lines which are based upon the past but which produce very different results to those sensed even by the advanced disciple in his highest moments. (cf. RI, p. 132) |
21. Khi ấy, sau khi thể nguyên nhân đã bị hủy diệt, điều mà trong thời gian và không gian đã được gọi là linh hồn có thể “tiến bước trong sự sống.” Sự tiến hoá như hiện nay chúng ta hiểu chấm dứt; tuy nhiên sự khai mở tiến hoá vẫn tiếp diễn theo những đường lối mới, vốn đặt nền trên quá khứ nhưng tạo ra những kết quả rất khác với những gì ngay cả đệ tử tiến bộ có thể cảm nhận trong các khoảnh khắc cao nhất của y. (xem Cung và Điểm Đạo, tr. 132) |
|
22. Then, when the causal body has been destroyed, a new life-expression appears which moves onward freed from all form yet subject still to limitations “within the circle of influence of the greater Life,” but not limited by life within the many forms which progress, surrounded by that circle, that divine ring-pass-not. (cf. RI, p. 132) |
22. Khi ấy, sau khi thể nguyên nhân đã bị hủy diệt, một biểu hiện sự sống mới xuất hiện, tiến bước tự do khỏi mọi hình tướng, nhưng vẫn còn chịu các giới hạn “trong vòng ảnh hưởng của Sự Sống lớn hơn,” song không bị giới hạn bởi sự sống trong nhiều hình tướng đang tiến triển, được bao quanh bởi vòng tròn ấy, vòng-giới-hạn thiêng liêng ấy. (xem Cung và Điểm Đạo, tr. 132) |
|
23. Then, when the causal body has been destroyed, there is still the broad confining sweep of the purpose and the life-intent of the planetary Logos, but within that periphery and sphere of activity the Triads move with perfect freedom. (cf. RI, p. 132) |
23. Khi ấy, sau khi thể nguyên nhân đã bị hủy diệt, vẫn còn tầm quét rộng lớn mang tính giới hạn của mục đích và ý định sự sống của Hành Tinh Thượng đế, nhưng trong chu vi và khối cầu hoạt động ấy, các Tam nguyên tinh thần chuyển động với tự do hoàn toàn. (xem Cung và Điểm Đạo, tr. 132) |
|
24. The Triads onward push towards the higher states of Being is carried out in conformity with the life urge of the One in Whom they live and move and have their being. (cf. RI, p. 132) |
24. Sự thúc đẩy tiến lên của các Tam nguyên tinh thần hướng về những trạng thái Bản Thể cao hơn được thực hiện phù hợp với xung lực sự sống của Đấng mà trong Ngài chúng sống, chuyển động và hiện tồn. (xem Cung và Điểm Đạo, tr. 132) |
|
25. Thus, after that stage when the causal body has been destroyed, one is dealing with life processes and not with form building or the experience in forms, as usually understood. (cf. RI, p. 132) |
25. Như vậy, sau giai đoạn thể nguyên nhân đã bị hủy diệt, người ta đang bàn đến các tiến trình sự sống chứ không phải việc kiến tạo hình tướng hay kinh nghiệm trong các hình tướng, như thường được hiểu. (xem Cung và Điểm Đạo, tr. 132) |
|
Rule VI (pp. 129—132) |
Quy luật VI (tr. 129—132) |
|
Paragraph 1 |
Đoạn 1 |
|
A. We now come to the most important part of this particular rule; it conveys the key to the immediate goal for those who have attained a certain measure of understanding. The words of importance are: |
A. Giờ đây chúng ta đi đến phần quan trọng nhất của quy luật đặc thù này; nó truyền đạt chìa khóa cho mục tiêu trước mắt dành cho những ai đã đạt được một mức độ thấu hiểu nào đó. Những lời quan trọng là: |
|
3. Let then the group—merged in the fifth—be nourished by the sixth and seventh. |
3. Vậy hãy để nhóm—đã hòa nhập trong giới thứ năm—nhận sự nuôi dưỡng từ giới thứ sáu và thứ bảy. |
|
1. The group is not only soul-responsive but is, in every sense of the word, the soul-infused group. |
1. Nhóm không chỉ đáp ứng với linh hồn mà, theo mọi nghĩa của từ này, còn là nhóm được linh hồn thấm nhuần. |
|
2. The group is equivalent to the individual third degree initiate. |
2. Nhóm tương đương với điểm đạo đồ cá nhân bậc ba. |
|
3. The “fifth” in this case, is the fifth kingdom of nature—the Kingdom of Souls. |
3. “Giới thứ năm” trong trường hợp này là giới thứ năm của thiên nhiên—Giới của các Linh hồn. |
|
4. But there is no question that those who are “merged in the fifth” kingdom are also deeply infused by that part of the Fifth Creative Hierarchy which has merged itself in man. |
4. Nhưng không còn nghi vấn rằng những ai “hòa nhập trong giới thứ năm” cũng được thấm nhuần sâu xa bởi phần ấy của Huyền Giai Sáng Tạo thứ Năm vốn đã hòa nhập chính mình vào con người. |
|
5. It must be understood that the entirety of the Solar Angel does not merge itself in the individual man which it has under aeonial supervision, nor does the entirety of the group Solar Angel merge itself in the group. “Having pervaded this entire universe with a fragment of myself, I remain.” |
5. Cần hiểu rằng toàn thể Thái dương Thiên Thần không hòa nhập chính mình vào con người cá nhân mà Ngài đã giám hộ qua nhiều đại kiếp, cũng như toàn thể Thái dương Thiên Thần của nhóm không hòa nhập chính mình vào nhóm. “Sau khi thấm nhập toàn thể vũ trụ này bằng một mảnh của chính ta, ta vẫn còn lại.” |
|
6. When there is a merging in the fifth, it is a merging in that which has grown out of the pervasive fragment (the emanated ‘fragmentary’ presence of the Solar Angel in the soul consciousness of man). The Solar Angel, per se, is much greater than the higher consciousness that a man or group of human beings can achieve before the time comes for the Solar Angel to wing its way back to the subjective aspects of the Solar Logos. |
6. Khi có sự hòa nhập trong giới thứ năm, đó là sự hòa nhập vào điều đã tăng trưởng từ mảnh thấm nhập ấy, tức sự hiện diện “phân mảnh” được xuất lộ của Thái dương Thiên Thần trong tâm thức linh hồn của con người. Chính Thái dương Thiên Thần thì lớn lao hơn rất nhiều so với tâm thức cao mà một người hay một nhóm người có thể đạt được trước khi đến lúc Thái dương Thiên Thần tung cánh trở về các phương diện chủ quan của Thái dương Thượng đế. |
|
7. One cannot be merged in the fifth kingdom without having undergone the most intense cultivation by the Solar Angels—the members of the Fifth Creative Hierarchy. |
7. Người ta không thể hòa nhập trong giới thứ năm nếu chưa trải qua sự vun trồng mãnh liệt nhất bởi các Thái dương Thiên Thần—những thành viên của Huyền Giai Sáng Tạo thứ Năm. |
|
8. By the time the group is merged in the fifth, the communion with what we might call the ‘group Solar Angel’, the composite of all attentive, supervisory Solar Angels associated with the individuals in the group, is intense. |
8. Đến khi nhóm đã hòa nhập trong giới thứ năm, sự hiệp thông với điều mà chúng ta có thể gọi là “Thái dương Thiên Thần của nhóm,” tức tổng hợp của tất cả các Thái dương Thiên Thần chăm chú và giám hộ liên hệ với các cá nhân trong nhóm, trở nên mãnh liệt. |
|
9. To be nourished by the sixth and seventh, relates also to the kingdoms of nature. |
9. Được nuôi dưỡng bởi giới thứ sáu và thứ bảy cũng liên hệ đến các giới của thiên nhiên. |
|
10. The sixth kingdom of Planetary Lives has close association with both the third and second Creative Hierarchies—the Lesser Builders and the Divine Builders respectively (cf. EA 35. |
10. Giới thứ sáu của Các Sự Sống Hành tinh có liên hệ mật thiết với cả Huyền Giai Sáng Tạo thứ ba lẫn thứ hai—tương ứng là Các Vị Tiểu Kiến Tạo và Các Đấng Kiến Tạo Thiêng Liêng (xem Chiêm Tinh Học Nội Môn 35. |
|
11. However, the members of the sixth kingdom of nature (the Chohans of the sixth and perhaps, seventh initiation) are not members of the second and third Creative Hierarchies. The lives in those Hierarchies are much older and higher than the Planetary Lives and were unfolded in much earlier cycles. |
11. Tuy nhiên, các thành viên của giới thứ sáu trong thiên nhiên, tức các Chohan của lần điểm đạo thứ sáu và có lẽ thứ bảy, không phải là thành viên của Huyền Giai Sáng Tạo thứ hai và thứ ba. Các sự sống trong những Huyền Giai ấy cổ xưa và cao hơn rất nhiều so với Các Sự Sống Hành tinh, và đã được khai mở trong những chu kỳ sớm hơn nhiều. |
|
12. The seventh kingdom (the Kingdom of Solar Lives) consist of certain of the Lives within Shamballa. |
12. Giới thứ bảy, tức Giới của Các Sự sống Thái Dương, gồm một số Sự Sống trong Shamballa. |
|
13. These Lives have a strong correlation with the First Manifested Creative Hierarchy (the Divine Flames). Note, we are not here talking about the unmanifested Creative Hierarchies focusing (or in one case just about to focus) on the cosmic astral plane. |
13. Những Sự Sống này có tương quan mạnh mẽ với Huyền Giai Sáng Tạo Biểu Hiện thứ Nhất, tức Các Ngọn Lửa Thiêng Liêng. Hãy lưu ý, ở đây chúng ta không nói về các Huyền Giai Sáng Tạo không biểu hiện đang tập trung, hoặc trong một trường hợp gần như sắp tập trung, trên cõi cảm dục vũ trụ. |
|
14. Again, the Divine Flames are older and greater than can be the Lives who are the ‘residents’ of Shamballa (as exalted as the Shamballic Lives may be from our perspective). |
14. Một lần nữa, Các Ngọn Lửa Thiêng Liêng cổ xưa và lớn lao hơn các Sự Sống là “cư dân” của Shamballa, dù các Sự Sống Shamballa có thể cao cả đến đâu theo nhãn quan của chúng ta. |
|
15. It is, however, not each to compare the spiritual status of such great Lives as our ‘cyclic measuring stick’ is insufficiently calibrated. |
15. Tuy nhiên, không dễ so sánh địa vị tinh thần của những Sự Sống vĩ đại như thế, vì “thước đo chu kỳ” của chúng ta chưa được hiệu chỉnh đủ mức. |
|
16. If the members of the Fifth (unmanifested) Creative Hierarchy are “returning Nirvanis from a previous Mahamanvantara”, and are members of the Council of the Solar Logos, we can only imagine the exalted rank of the members of the First (unmanifested) Creative Hierarchy (the Divine Flames). Such Lives would have reached Solar Angelic status many cycles ago, and are now much higher. |
16. Nếu các thành viên của Huyền Giai Sáng Tạo thứ Năm không biểu hiện là “các nirvani trở về từ một Đại giai kỳ sinh hóa trước,” và là thành viên của Hội Đồng của Thái dương Thượng đế, thì chúng ta chỉ có thể tưởng tượng phẩm trật cao cả của các thành viên thuộc Huyền Giai Sáng Tạo thứ Nhất không biểu hiện, tức Các Ngọn Lửa Thiêng Liêng. Những Sự Sống như thế đã đạt đến địa vị Thái dương Thiên Thần từ nhiều chu kỳ trước, và nay còn cao hơn rất nhiều. |
|
17. So little, relatively, is said of the Lives of the higher Creative Hierarchies that many gaps in knowledge necessarily remain. Therefore, it is not possible for us to fathom the nature of these great Lives Who express through the higher manifested Creative Hierarchies (namely those of the Fifth, Third, Second and First Creative Hierarchies) We can only gather some sense of their relationship to each other and to man (who belongs to the Fourth Creative Hierarchy). |
17. Tương đối mà nói, rất ít điều được nói về các Sự Sống của những Huyền Giai Sáng Tạo cao hơn, nên tất yếu vẫn còn nhiều khoảng trống trong tri thức. Do đó, chúng ta không thể thấu triệt bản chất của những Sự Sống vĩ đại này, các Ngài biểu lộ qua những Huyền Giai Sáng Tạo biểu hiện cao hơn, tức các Huyền Giai Sáng Tạo thứ Năm, thứ Ba, thứ Hai và thứ Nhất. Chúng ta chỉ có thể gom góp phần nào ý thức về mối quan hệ của các Ngài với nhau và với con người, vốn thuộc về Huyền Giai Sáng Tạo thứ Tư. |
|
18. If this is true of the higher manifested Creative Hierarchies it is even truer of the unmanifested Creative Hierarchies. Once we know something more definite of the great Science of Cycles and how it applies to the developmental process of such Lives within our solar system, we will be able to understand the status and development these Lives in a reasonable proportion. |
18. Nếu điều này đúng đối với các Huyền Giai Sáng Tạo biểu hiện cao hơn, thì lại càng đúng hơn đối với các Huyền Giai Sáng Tạo không biểu hiện. Một khi chúng ta biết điều gì đó xác định hơn về Khoa Học vĩ đại về các Chu Kỳ và cách nó áp dụng cho tiến trình phát triển của những Sự Sống như thế trong hệ mặt trời của chúng ta, chúng ta sẽ có thể hiểu địa vị và sự phát triển của các Sự Sống này theo một tỉ lệ hợp lý. |
|
19. We note that the Fifth Creative Hierarchy is, in a way, considered higher than the Fourth Creative Hierarchy—the human though its number is ‘lower’—the number six, for instance, is developmentally lower than the number five, and five is ‘lower’ than four. This, in itself, is a mystery based upon the principle of sacrifice. |
19. Chúng ta ghi nhận rằng Huyền Giai Sáng Tạo thứ Năm, theo một cách nào đó, được xem là cao hơn Huyền Giai Sáng Tạo thứ Tư—nhân loại—dù con số của nó “thấp hơn”; chẳng hạn, con số sáu, xét theo phát triển, thấp hơn con số năm, và năm thì “thấp hơn” bốn. Tự thân điều này là một huyền nhiệm đặt nền trên nguyên khí hy sinh. |
|
20. In an area of study so abstruse, and of which so little of a definite nature is known by those at our stage of development, and so little of the context of the subject is understood, the practical approach is the best approach for now. |
20. Trong một lĩnh vực nghiên cứu quá thâm áo như thế, nơi mà những người ở giai đoạn phát triển của chúng ta biết quá ít điều có tính xác định, và hiểu quá ít về bối cảnh của đề tài, thì hiện nay cách tiếp cận thực tiễn là cách tiếp cận tốt nhất. |
|
In other words: “Then let the group—which is identified with the soul—find its sustenance and vitality by the inflow of the intuition and of the spiritual will, emanating from the Spiritual Triad.” |
Nói cách khác: “Vậy hãy để nhóm—vốn đồng hoá với linh hồn—tìm thấy sự nuôi dưỡng và sinh lực của mình nhờ dòng tuôn vào của trực giác và của ý chí tinh thần, xuất lộ từ Tam Nguyên Tinh Thần.” |
|
21. DK offers a fairly understandable interpretation of the third sentence in Rule VI. |
21. Chân sư DK đưa ra một diễn giải khá dễ hiểu về câu thứ ba trong Quy luật VI. |
|
a. The group that is “merged in the fifth” is identified with and as soul—the soul-infused group. Solar fire pervades the members of such a group and the group as a whole. |
a. Nhóm “hòa nhập trong giới thứ năm” được đồng hoá với linh hồn và như linh hồn—nhóm được linh hồn thấm nhuần. Lửa Thái dương thấm nhập các thành viên của một nhóm như thế và toàn thể nhóm. |
|
b. The “sixth” in this case relates to the buddhic level of the spiritual triad, for buddhi is what is called the “sixth principle” of the seven principles of man. |
b. “Giới thứ sáu” trong trường hợp này liên hệ đến cấp độ Bồ đề của Tam nguyên tinh thần, vì Bồ đề là điều được gọi là “nguyên khí thứ sáu” trong bảy nguyên khí của con người. |
|
c. The “seventh”, in this case, relates to the atmic level of the spiritual triad, for atma (not the Atman) is the seventh principle. In one enumeration of principles, we call this principle “spiritual will”. |
c. “Giới thứ bảy,” trong trường hợp này, liên hệ đến cấp độ atma của Tam nguyên tinh thần, vì atma, không phải Atman, là nguyên khí thứ bảy. Trong một cách liệt kê các nguyên khí, chúng ta gọi nguyên khí này là “ý chí tinh thần.” |
|
d. The “Atman” is pure spirit (the essence of the monad) and is, in essence, infinitely higher than the principle of atma. |
d. “Atman” là tinh thần thuần túy, tức tinh túy của chân thần, và về bản chất, cao hơn vô hạn so với nguyên khí atma. |
|
e. There is often a confusion between atma and the “Atman”, and in some references they seem almost interchangeable, but philosophically they are not. Atma is a faculty of the “Atman”, as are all the other principles. |
e. Thường có sự lẫn lộn giữa atma và “Atman,” và trong một số tham chiếu, chúng dường như gần như có thể thay thế cho nhau, nhưng về mặt triết học thì không. Atma là một năng lực của “Atman,” cũng như tất cả các nguyên khí khác. |
|
22. How is one “nourished” by these higher kingdoms and the principles which relate to them? |
22. Người ta được “nuôi dưỡng” bởi các giới cao hơn này và bởi các nguyên khí liên hệ với chúng như thế nào? |
|
23. Nourishment is a form of sustainment which promotes the integrity of patterns found on the different levels of man’s constitution. A pattern which is not nourished disintegrates. So nourishment (to any system) is a sustaining, reinforcing and growth-promoting inflow of energy |
23. Sự nuôi dưỡng là một hình thức duy trì, thúc đẩy tính toàn vẹn của các mô hình được tìm thấy trên các cấp độ khác nhau trong cấu tạo của con người. Một mô hình không được nuôi dưỡng sẽ tan rã. Vì vậy, sự nuôi dưỡng, đối với bất kỳ hệ thống nào, là một dòng năng lượng tuôn vào có tác dụng duy trì, củng cố và thúc đẩy tăng trưởng. |
|
24. What happens when one is nourished by the intuition? |
24. Điều gì xảy ra khi người ta được nuôi dưỡng bởi trực giác? |
|
a. One increasingly knows the truth |
a. Người ta ngày càng biết chân lý |
|
b. One increasingly understands what is essential and what is peripheral |
b. Người ta ngày càng thấu hiểu điều gì là cốt yếu và điều gì là ngoại vi |
|
c. One stands in deep understanding and appreciation of Divine Harmony—a principle quality of the buddhic plane. |
c. Người ta đứng trong sự thấu hiểu sâu xa và sự trân quý Hài Hòa Thiêng Liêng—một phẩm tính nguyên khí của cõi Bồ đề. |
|
d. One senses archetypes, and especially the archetypes meant to precipitate as Plan during any particular ‘time in space’ or ‘space in time’. |
d. Người ta cảm nhận các nguyên mẫu, và đặc biệt là các nguyên mẫu được dự định sẽ ngưng tụ thành Thiên Cơ trong bất kỳ “thời điểm trong không gian” hay “không gian trong thời gian” đặc thù nào. |
|
e. One senses the necessarily impending future. |
e. Người ta cảm nhận tương lai nhất thiết đang đến gần. |
|
f. Etc.—every student can determine for himself/herself what could transpire when nourished by the intuition. |
f. Vân vân—mỗi đạo sinh có thể tự xác định điều gì có thể xảy ra khi được nuôi dưỡng bởi trực giác. |
|
25. What happens when one is nourished by the seventh kingdom and its vehicle of expression—spiritual will? |
25. Điều gì xảy ra khi người ta được nuôi dưỡng bởi giới thứ bảy và vận cụ biểu hiện của nó—ý chí tinh thần? |
|
a. One is beginning to understand the Plan and can somewhat apprehend the Planetary Purpose. |
a. Người ta bắt đầu thấu hiểu Thiên Cơ và có thể phần nào lãnh hội Thiên Ý Hành Tinh. |
|
b. One’s will is increasingly blended with the Divine Will |
b. Ý chí của người ta ngày càng hòa quyện với Ý Chí thiêng liêng |
|
c. One is asking nothing for the personal self because the level of identification has changed entirely. |
c. Người ta không đòi hỏi điều gì cho phàm ngã cá nhân, vì cấp độ đồng hoá đã hoàn toàn thay đổi. |
|
d. In fact, one has lost any sense of identification with the personality, is rapidly losing identification as an individual-in-form, and is beginning to identify with the Planetary Whole. Depending upon the type of will beginning to make its impact, the levels of identification will be ever greater. |
d. Thật ra, người ta đã mất mọi ý thức đồng hoá với phàm ngã, đang nhanh chóng mất sự đồng hoá như một cá nhân-trong-hình-tướng, và bắt đầu đồng hoá với Toàn Thể Hành Tinh. Tùy theo loại ý chí bắt đầu tạo ảnh hưởng, các cấp độ đồng hoá sẽ ngày càng lớn hơn. |
|
e. One is beginning to be a representative of the monad and of the “Life” aspect of divinity. |
e. Người ta bắt đầu trở thành một đại diện của chân thần và của phương diện “Sự Sống” của thiên tính. |
|
26. Everything that is predicated of the individual can be predicated of the group. Individuals who are merged in the fifth and nourished by the sixth and seventh are today more frequently to be found, however, than are groups which fulfill these requirements. |
26. Mọi điều được khẳng định về cá nhân cũng có thể được khẳng định về nhóm. Tuy nhiên, ngày nay những cá nhân đã hòa nhập trong giới thứ năm và được nuôi dưỡng bởi giới thứ sáu và thứ bảy được thấy thường xuyên hơn các nhóm đáp ứng những điều kiện này. |
|
27. A group which is merged in the fifth and nourished by the sixth and seventh is very much a part of the Spiritual Hierarchy of the Planet. The members of such a group know themselves to be living souls, and the group personality is dominated by its soul nature. A group that is merged in the fourth, is still a self-centered group, and, of course, the same is true of the individual human being. |
27. Một nhóm đã hòa nhập trong giới thứ năm và được nuôi dưỡng bởi giới thứ sáu và thứ bảy là một phần rất thực của Huyền Giai Tinh Thần của Hành Tinh. Các thành viên của một nhóm như thế biết mình là những linh hồn sống động, và phàm ngã của nhóm bị bản chất linh hồn của nó chế ngự. Một nhóm hòa nhập trong giới thứ tư, vẫn là một nhóm tập trung vào bản thân, và dĩ nhiên, điều tương tự cũng đúng với cá nhân con người. |
|
28. Such a group (because its members have {mostly} taken the first solar initiation—the third planetary initiation) is a tiny but significant factor in the life (not only of the Planetary Logos) but of the Solar Logos. |
28. Một nhóm như thế, vì các thành viên của nó phần lớn đã trải qua lần điểm đạo thái dương thứ nhất—lần điểm đạo thứ ba hành tinh—là một yếu tố nhỏ bé nhưng có ý nghĩa trong sự sống không chỉ của Hành Tinh Thượng đế mà còn của Thái dương Thượng đế. |
|
29. The Plans and Purposes to which such a group can begin to respond are not only planetary but pertain to the life of the Solar Logos. Have we realized that our spiritual development is essentially solar in nature? |
29. Các Thiên Cơ và Thiên Ý mà một nhóm như thế có thể bắt đầu đáp ứng không chỉ có tính hành tinh mà còn liên quan đến sự sống của Thái dương Thượng đế. Chúng ta đã nhận ra rằng sự phát triển tinh thần của mình về bản chất là thái dương chưa? |
|
30. Because the monad is something more than a word, Shamballa (which is both a planetary and solar center) is making its presence felt in such a group (through the seventh Kingdom). There is, therefore, some degree of attenuated responsiveness to the Kingdom of Solar Lives. |
30. Vì chân thần là điều gì đó hơn một từ ngữ, Shamballa, vốn vừa là một trung tâm hành tinh vừa là một trung tâm thái dương, đang làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận trong một nhóm như thế, qua Giới thứ bảy. Do đó, có một mức độ nào đó của sự đáp ứng đã được giảm nhẹ đối với Giới của Các Sự sống Thái Dương. |
|
31. Hierarchy and the Christ impact the group through the “sixth” and Shamballa and its Lives through the “seventh”. |
31. Thánh Đoàn và Đức Christ tác động lên nhóm qua “giới thứ sáu,” còn Shamballa và các Sự Sống của nó tác động qua “giới thứ bảy.” |
|
There are, of course, other meanings, but this is the most practical for disciples. |
Dĩ nhiên còn có những ý nghĩa khác, nhưng đây là ý nghĩa thực tiễn nhất cho các đệ tử. |
|
32. Some other and possibly higher meanings are suggested in this commentary, but our principal interest is in the microcosm (individual man) and its amalgamation into hierarchically inspired groups. From another perspective, the group can be considered as a microcosm of the Greater Group, the planetary whole. |
32. Một vài ý nghĩa khác và có thể cao hơn được gợi ra trong phần bình giải này, nhưng mối quan tâm chính của chúng ta là tiểu thiên địa, tức con người cá nhân, và sự hợp nhất của y vào các nhóm được Thánh đoàn truyền cảm hứng. Từ một nhãn quan khác, nhóm có thể được xem như một tiểu thiên địa của Nhóm Lớn hơn, tức toàn thể hành tinh. |
|
33. Before we can speak with any first-hand knowledge of the Hierarchy and of Shamballa, we must have direct experience of the levels of the spiritual triad via the antahkarana. First things first. |
33. Trước khi chúng ta có thể nói bằng bất kỳ tri thức trực tiếp nào về Thánh Đoàn và Shamballa, chúng ta phải có kinh nghiệm trực tiếp về các cấp độ của Tam nguyên tinh thần thông qua antahkarana. Việc trước hết phải làm trước hết. |
|
A larger but similar concept lies in the realisation that the human family, the fourth kingdom in nature, is absorbed by the fifth or by the kingdom of God and (when this is the case) can become increasingly en rapport with the sixth and seventh kingdoms. |
Một quan niệm lớn hơn nhưng tương tự nằm trong nhận thức rằng gia đình nhân loại, giới thứ tư trong thiên nhiên, được hấp thu bởi giới thứ năm hay bởi Thiên Giới, và khi điều này xảy ra, có thể ngày càng thiết lập tương giao với các giới thứ sáu và thứ bảy. |
|
34. A method of interpreting the principal sentenced in Rule VI in terms of some of the higher kingdoms of nature is suggested above. |
34. Một phương pháp diễn giải câu chủ yếu trong Quy luật VI theo một số giới cao hơn của thiên nhiên đã được gợi ra ở trên. |
|
35. What is true of man the microcosm, will one day be true of Humanity (which stands as a macrocosm to the individual—though, of course, not the only macrocosm). Every whole greater than a particular unit (be that unit an individual or a group) is as a macrocosm to that particular unit. |
35. Điều đúng với con người là tiểu thiên địa một ngày kia sẽ đúng với Nhân Loại, vốn đứng như một đại thiên địa đối với cá nhân—dù dĩ nhiên không phải là đại thiên địa duy nhất. Mỗi toàn thể lớn hơn một đơn vị đặc thù, dù đơn vị ấy là một cá nhân hay một nhóm, đều như một đại thiên địa đối với đơn vị đặc thù ấy. |
|
36. Humanity, per se, knows little of the sixth and seventh kingdoms of nature. It is only now (in its upper strata) beginning to understand something of the fifth kingdom, and this through its foremost teachers as they are recognized by the human race—such individuals as the Christ, the Buddha, Jesus, Confucius, Plato, Pythagoras, Akbar, etc.—all of them now standing at the rank of Master of the Wisdom or beyond. |
36. Chính Nhân Loại biết rất ít về các giới thứ sáu và thứ bảy của thiên nhiên. Chỉ hiện nay, trong các tầng lớp cao của nó, Nhân Loại mới bắt đầu thấu hiểu đôi điều về giới thứ năm, và điều này thông qua các huấn sư lỗi lạc nhất của nó như được nhân loại công nhận—những cá nhân như Đức Christ, Đức Phật, Đức Jesus, Khổng Tử, Plato, Pythagoras, Akbar, vân vân—tất cả các Ngài hiện nay đều đứng ở phẩm trật Chân sư Minh Triết hoặc cao hơn. |
|
37. The great thing happening on our planet at the present time is that many human beings are preparing to enter the fifth kingdom of nature. This will mean that humanity as a whole will be undergoing the first initiation (the Birth in Bethlehem), which does not mean that all human beings will individually be undergoing this initiation. |
37. Điều vĩ đại đang diễn ra trên hành tinh chúng ta vào thời điểm hiện tại là nhiều con người đang chuẩn bị bước vào giới thứ năm của thiên nhiên. Điều này sẽ có nghĩa là toàn thể nhân loại sẽ trải qua lần điểm đạo thứ nhất, tức Sự Giáng Sinh tại Bethlehem, điều này không có nghĩa rằng tất cả con người sẽ cá nhân trải qua cuộc điểm đạo này. |
|
38. There are higher and lower initiations. We are familiar with existence of the great “manasic initiations”—the Birth, the Baptism, the Transfiguration, etc.—but there are lower correspondences to these, and as a certain proportion of human beings pass through the manasic initiations, humanity as a whole will pass through the lower correspondences to these initiations. For humanity, this is a significant achievement. |
38. Có những cuộc điểm đạo cao hơn và thấp hơn. Chúng ta quen thuộc với sự hiện hữu của các “cuộc điểm đạo manas” vĩ đại—Sự Giáng Sinh, Phép Rửa, Biến hình, vân vân—nhưng có những tương ứng thấp hơn của các cuộc điểm đạo này, và khi một tỉ lệ nào đó trong nhân loại đi qua các cuộc điểm đạo manas, toàn thể nhân loại sẽ đi qua các tương ứng thấp hơn của những cuộc điểm đạo ấy. Đối với nhân loại, đây là một thành tựu có ý nghĩa. |
|
39. The following fascinating quotation from A Treatise on Cosmic Fire hints at these lesser initiations which are reflections of the greater and which may be significant for Humanity as a whole at this time of its first initiation: |
39. Đoạn trích dẫn hấp dẫn sau đây từ Luận về Lửa Vũ Trụ gợi ý về những cuộc điểm đạo nhỏ này, vốn là phản ảnh của những cuộc điểm đạo lớn hơn và có thể có ý nghĩa đối với toàn thể Nhân Loại vào lúc này của lần điểm đạo thứ nhất của nó: |
|
“Lesser Initiations: At the stage which we are considering (that of the organisation and unfoldment of the first tier of petals), the egoic influence felt at the beginning is but small, but when the three petals become sufficiently active and alive through the energy accumulated and stored up in the ego during the activities of the personal life, a form of initiation then takes place which is a reflection (on a lower plane) of the great manasic initiations. The energy in the outer circle of petals causes it to spring apart from the next circle, and to unfold. This threefold energy becomes interactive and a very definite stage is thus reached. This series of initiations is seldom recognised within the physical brain consciousness owing to the relatively inchoate stage of the bodies, and the unresponsiveness of the brain matter. Yet they are nevertheless initiations of a definite though less important character, and they involve primarily the display (within the personal life of the man) of an intelligent recognition of his group relationships on earth. This recognition is frequently selfish in character, as, for instance, that which the union worker displays, but it is indicative of group interplay. |
“Các cuộc điểm đạo nhỏ: Ở giai đoạn mà chúng ta đang xem xét, tức giai đoạn tổ chức và khai mở tầng cánh hoa thứ nhất, ảnh hưởng chân ngã được cảm nhận lúc ban đầu còn rất nhỏ; nhưng khi ba cánh hoa trở nên đủ hoạt động và sống động nhờ năng lượng được tích lũy và lưu trữ trong chân ngã trong các hoạt động của đời sống phàm ngã, khi ấy một hình thức điểm đạo diễn ra, vốn là sự phản ảnh, trên một cõi thấp hơn, của các cuộc điểm đạo manas vĩ đại. Năng lượng trong vòng ngoài của các cánh hoa khiến nó bật tách khỏi vòng kế tiếp và khai mở. Năng lượng tam phân này trở nên tương tác, và nhờ đó một giai đoạn rất xác định được đạt tới. Loạt điểm đạo này hiếm khi được nhận biết trong tâm thức bộ não hồng trần, do trạng thái tương đối còn phôi thai của các thể, và do chất liệu bộ não không đáp ứng. Tuy vậy, chúng vẫn là những cuộc điểm đạo có tính chất xác định, dù kém quan trọng hơn, và chúng chủ yếu liên quan đến sự biểu lộ, trong đời sống cá nhân của con người, của một sự công nhận thông minh về các quan hệ nhóm của y trên Trái Đất. Sự công nhận này thường mang tính ích kỷ, như chẳng hạn sự công nhận mà người công nhân công đoàn biểu lộ, nhưng nó cho thấy sự tương tác nhóm. |
|
A similar process takes place when the second circle of petals is organised and ready for unfoldment. This time the World Teacher, the Master and the Ego concerned are co-operating, for these smaller initiations deal with the love nature, with astral or emotional organisation, and with the recognition (by the man in his personal life) of some form of unselfish love, and of a love for some object, person or ideal which leads to altruistic endeavor. (TCF 869-870, bolding and underlining MDR) |
Một tiến trình tương tự diễn ra khi vòng cánh hoa thứ hai được tổ chức và sẵn sàng khai mở. Lần này Đức Chưởng Giáo, Chân sư và Chân ngã liên hệ đang hợp tác, vì các cuộc điểm đạo nhỏ hơn này đề cập đến bản chất bác ái, đến sự tổ chức cảm dục hay cảm xúc, và đến việc con người, trong đời sống cá nhân của y, nhận biết một hình thức nào đó của tình thương vị tha, cùng tình thương dành cho một đối tượng, một người hay một lý tưởng nào đó dẫn đến nỗ lực vị tha. (TCF 869-870, phần in đậm và gạch dưới của MDR) |
|
40. If humanity is to come en rapport with the fifth (as a prelude to a much later merging in the fifth) both love and wisdom must be released in its consciousness and active life. We know from a study of history and also of contemporary society, how difficult this is to achieve. Yet the Christ is coming and, with Him, the ‘Day of Achievement’ (the cycle known as the Aquarian Age). |
40. Nếu nhân loại phải đi vào mối liên giao với giới thứ năm, như khúc dạo đầu cho một sự hòa nhập vào giới thứ năm về sau rất xa, thì cả tình thương lẫn minh triết phải được giải phóng trong tâm thức và đời sống hoạt động của y. Qua việc nghiên cứu lịch sử cũng như xã hội đương đại, chúng ta biết điều này khó đạt được đến mức nào. Tuy nhiên, Đức Christ đang đến và, cùng với Ngài, là “Ngày Thành Tựu”, tức chu kỳ được gọi là Kỷ nguyên Bảo Bình. |
|
To these kingdoms no names have as yet been given, because the possibility of their existence is only now just beginning faintly to penetrate into the consciousness of the disciple and the initiate. |
Cho đến nay, chưa có danh xưng nào được trao cho các giới này, bởi khả thể tồn tại của chúng chỉ mới bắt đầu thâm nhập một cách mờ nhạt vào tâm thức của đệ tử và điểm đạo đồ. |
|
41. It is difficult to understand why the Master says that no names have been given to these kingdoms, when in a much earlier book (Esoteric Psychology I) He, Himself, gave such names: Planetary Lives for the sixth kingdom and Solar Lives for the Seventh Kingdom. (EP I 215) |
41. Thật khó hiểu vì sao Chân sư nói rằng chưa có danh xưng nào được trao cho các giới này, trong khi ở một quyển sách sớm hơn nhiều (Tâm Lý Học Nội Môn I), chính Ngài đã đưa ra những danh xưng như vậy: Các Sự Sống Hành tinh cho giới thứ sáu và Các Sự sống Thái Dương cho giới thứ bảy. (EP I 215) |
|
42. Probably there are many more names associated with the fifth kingdom and its membership, because the fifth kingdom is much closer to humanity than the succeeding two kingdoms. |
42. Có lẽ có nhiều danh xưng hơn nữa liên hệ với giới thứ năm và các thành viên của giới ấy, bởi giới thứ năm gần với nhân loại hơn nhiều so với hai giới kế tiếp. |
|
43. The day will come when these higher kingdoms and their members will also be familiar, but this is hardly yet the case. |
43. Rồi sẽ đến ngày các giới cao hơn này và các thành viên của chúng cũng trở nên quen thuộc, nhưng hiện nay hầu như chưa phải như vậy. |
|
44. The existence of such Lives is hinted in the esoteric literature of the world, but we are indebted to Master DK for a really cogent expression of Their nature and place within the greater scheme (even though the information released by Him—both through His works with AAB and HPB—would be considered by Him completely rudimentary). |
44. Sự hiện hữu của các Sự Sống như thế đã được gợi ý trong văn học huyền bí của thế giới, nhưng chúng ta mắc nợ Chân sư DK về một sự trình bày thật sự vững chắc về bản chất và vị trí của Các Ngài trong hệ hành tinh lớn hơn, dù những thông tin do Ngài đưa ra, cả qua các tác phẩm của Ngài với AAB và HPB, hẳn sẽ được chính Ngài xem là hoàn toàn sơ đẳng. |
|
45. We should ask ourselves what these higher kingdoms may mean to us, when most of us hardly know ’our’ Master or the senior initiates of His Ashram—one of whom probably is or recently has been, to us, a supervising chela on the inner planes. |
45. Chúng ta nên tự hỏi các giới cao hơn này có thể có ý nghĩa gì đối với chúng ta, khi phần lớn chúng ta hầu như chưa biết Chân sư “của mình” hay các điểm đạo đồ cao cấp trong ashram của Ngài, một trong các vị ấy có lẽ đang, hoặc gần đây đã, đối với chúng ta, là một đệ tử giám sát trên các cõi bên trong. |
|
46. Our knowledge of sixth and seventh degree Chohans, therefore, is minimal at best. |
46. Do đó, tri thức của chúng ta về các Chohan cấp sáu và cấp bảy, trong trường hợp tốt nhất, cũng rất tối thiểu. |
|
47. The rightly trained and developed group, however, can approach the “distant Ashrams” where dwell the “Chohans of the race of men”. In a way, all approach to these great Lives is group approach. |
47. Tuy nhiên, nhóm được huấn luyện và phát triển đúng cách có thể tiếp cận các “ashram xa xôi” nơi cư ngụ của “các Chohan thuộc nhân loại”. Theo một cách nào đó, mọi sự tiếp cận các Sự Sống vĩ đại này đều là sự tiếp cận theo nhóm. |
|
The sixth kingdom is that of the “overshadowing Triads”—that aggregation of liberated Lives of which the higher initiates in the Hierarchy [Page 130] are a part; They are to that spiritual group what the New Group of World Servers is to Humanity. I know not how else to express this truth to you. |
Giới thứ sáu là giới của “các Tam Nguyên Tinh Thần phủ bóng”, tức tập hợp những Sự Sống đã giải thoát mà các điểm đạo đồ cao cấp hơn trong Thánh Đoàn [Page 130] là một phần trong đó; Các Ngài đối với nhóm tinh thần ấy cũng như Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đối với Nhân loại. Tôi không biết diễn đạt chân lý này cho các bạn bằng cách nào khác. |
|
48. DK does say something here about the members of the sixth kingdom. They are the Chohans of the race of men—the “higher initiates of the Hierarchy”. |
48. Ở đây Chân sư DK quả có nói đôi điều về các thành viên của giới thứ sáu. Các Ngài là các Chohan thuộc nhân loại, tức “các điểm đạo đồ cao cấp hơn của Thánh Đoàn”. |
|
49. He is not speaking here of the Masters of the Wisdom, per se (i.e., fifth degree initiates). Masters are still members of the fifth kingdom—the Kingdom of Souls. |
49. Ở đây Ngài không nói về các Chân sư Minh triết chính các Ngài, tức các điểm đạo đồ cấp năm. Các Chân sư vẫn còn là thành viên của giới thứ năm, tức Giới của các Linh Hồn. |
|
50. It is very interesting to hear these Chohans called “overshadowing Triads”. One thinks, immediately of the Nirmanakayas (of the sixth initiation, at least) Who overshadow the Hierarchy in the exercise of Their capacity as “divine contemplatives”. |
50. Thật rất thú vị khi nghe các Chohan này được gọi là “các Tam Nguyên Tinh Thần phủ bóng”. Người ta lập tức nghĩ đến các Nirmanakaya, ít nhất là của lần điểm đạo thứ sáu, các Đấng phủ bóng Thánh Đoàn trong việc vận dụng năng lực của Các Ngài với tư cách là “những Đấng Chiêm Ngưỡng thiêng liêng”. |
|
51. The higher initiates of Hierarchy (Chohans) are called by the name “overshadowing Triads” because their consciousness is completely triadal, if not monadic. The sixth and seventh initiations have some association with the atmic plane, just as the fourth and fifth are associated with the buddhic plane. The various initiations are also, however, significantly associated with the plane which correlates numerically with the initiation. For instance, the seventh initiation also with the seventh plane (or first) the logoic. (cf. TCF 121 and 697 for contrasting views) |
51. Các điểm đạo đồ cao cấp hơn của Thánh Đoàn, tức các Chohan, được gọi bằng danh xưng “các Tam Nguyên Tinh Thần phủ bóng” bởi tâm thức của Các Ngài hoàn toàn mang tính tam nguyên tinh thần, nếu chưa phải là chân thần. Các lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy có một mối liên hệ nào đó với cõi atma, cũng như các lần thứ tư và thứ năm liên hệ với cõi Bồ đề. Tuy nhiên, các cuộc điểm đạo khác nhau cũng liên hệ một cách đáng kể với cõi tương ứng về mặt số học với cuộc điểm đạo ấy. Chẳng hạn, lần điểm đạo thứ bảy cũng liên hệ với cõi thứ bảy, hay cõi thứ nhất, tức cõi thượng đế. (xem TCF 121 và 697 để đối chiếu các quan điểm tương phản) |
|
52. They are not however the “Triadal Lives” called the “Triple Flowers”—members of the Third Creative Hierarchy. |
52. Tuy nhiên, Các Ngài không phải là “các Sự Sống Tam Nguyên Tinh Thần” được gọi là “các Bông Hoa Tam Phân”, tức các thành viên của Huyền Giai Sáng Tạo thứ ba. |
|
53. A very useful analogy is here proposed. The New Group of World Servers are to Humanity as the “overshadowing Triads” (or chohanic Lives) are to the Spiritual Hierarchy. |
53. Ở đây một phép tương đồng rất hữu ích được nêu ra. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đối với Nhân loại cũng như “các Tam Nguyên Tinh Thần phủ bóng”, hay các Sự Sống Chohan, đối với Huyền Giai Tinh Thần. |
|
54. In this respect, the sense of sight is very important. Just as the NGWS (ruled by Taurus—the “Mother of Illumination” and related to the “single eye”) helps Humanity see, so the Divine Contemplatives and Chohans of the sixth and seventh initiations receive impression from Shamballic Sources and, thus, help Hierarchy see and understand the Divine Purpose, as that Purpose is conceived in Shamballa (and more remotely in the consciousness of the Solar Logos). There are many strata of divine contemplatives. |
54. Về phương diện này, giác quan thị giác rất quan trọng. Cũng như Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, được Kim Ngưu cai quản, tức “Mẹ của sự Soi sáng” và liên hệ với “con mắt đơn nhất”, giúp Nhân loại thấy, thì các Đấng Chiêm Ngưỡng Thiêng Liêng và các Chohan của các lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy tiếp nhận ấn tượng từ các Nguồn Shamballa và, do đó, giúp Thánh Đoàn thấy và thấu hiểu Thiên Ý, như Thiên Ý ấy được quan niệm trong Shamballa, và xa hơn nữa trong tâm thức của Thái dương Thượng đế. Có nhiều tầng lớp những Đấng Chiêm Ngưỡng thiêng liêng. |
|
55. The NGWS serves a second aspect function to Humanity, which fulfills the role of the third aspect in this relationship. |
55. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian phụng sự Nhân loại bằng một chức năng thuộc phương diện thứ hai, vốn hoàn thành vai trò của phương diện thứ ba trong mối liên hệ này. |
|
56. The same is true when comparing the “overshadowing Triads”, the chohanic Lives, to the Hierarchy per se. In this case, Hierarchy, in this relationship, serves a third aspect function. |
56. Điều tương tự cũng đúng khi so sánh “các Tam Nguyên Tinh Thần phủ bóng”, tức các Sự Sống Chohan, với chính Thánh Đoàn. Trong trường hợp này, Thánh Đoàn, trong mối liên hệ này, phụng sự bằng một chức năng thuộc phương diện thứ ba. |
|
Paragraph 2 |
Đoạn 2 |
|
B. The seventh kingdom in nature is that of the Lives Who participate in full capacity of understanding with the group of Beings Who are the nucleus of the Council at Shamballa. |
B. Giới thứ bảy trong thiên nhiên là giới của các Sự Sống tham dự, với năng lực thấu hiểu trọn vẹn, cùng nhóm các Đấng vốn là hạt nhân của Hội đồng tại Shamballa. |
|
50. We must read carefully here to see how specific nature of the Tibetan’s remarks. |
50. Ở đây chúng ta phải đọc kỹ để thấy những nhận xét của Chân sư Tây Tạng chuyên biệt đến mức nào. |
|
51. There are a number of beings Who are junior members of Shamballa and Who are, yet, members of the sixth kingdom—such are the Manu, the Mahachohan, and, from a certain perspective, even the Christ. |
51. Có một số Đấng là thành viên thứ cấp của Shamballa và đồng thời vẫn là thành viên của giới thứ sáu; đó là Đức Manu, Đức Mahachohan, và, từ một góc nhìn nào đó, ngay cả Đức Christ. |
|
52. Only those Lives Who participate in Shamballa “in full capacity of understanding with the Lives Who are the nucleus of the Council at Shamballa” are members of the seventh kingdom. |
52. Chỉ những Sự Sống tham dự trong Shamballa “với năng lực thấu hiểu trọn vẹn cùng các Sự Sống vốn là hạt nhân của Hội đồng tại Shamballa” mới là thành viên của giới thứ bảy. |
|
53. We might reasonably say that seventh degree initiates participate such with such “full capacity of understanding” far more than can sixth degree initiates. |
53. Chúng ta có thể nói một cách hợp lý rằng các điểm đạo đồ cấp bảy tham dự với “năng lực thấu hiểu trọn vẹn” như thế nhiều hơn xa so với các điểm đạo đồ cấp sáu. |
|
54. Of the Humanity with which we are somewhat familiar, only the Christ and the Buddha are ranked as seventh degree initiates, and even They (may it reverently be said) are not fully so. They have yet to complete this initiation, we are told. |
54. Trong số Nhân loại mà chúng ta phần nào quen biết, chỉ Đức Christ và Đức Phật được xếp là các điểm đạo đồ cấp bảy, và ngay cả Các Ngài, xin được nói với lòng tôn kính, cũng chưa hoàn toàn như vậy. Chúng ta được cho biết rằng Các Ngài vẫn còn phải hoàn tất cuộc điểm đạo này. |
|
55. They come the closest (of those Masters Whose names have been given to us) to being members of this kingdom—the Kingdom of Solar Lives. Yet, even to the highest members of our Spiritual Hierarchy, the deeper purposes of the members of the nucleus of Shamballa, are not fully revealed. Even the Christ the Manu and the Chohans do not have full understanding of the purposes of that group of Beings Who are the nucleus of the Council at Shamballa. Though the Christ, the Manu and the Mahachohan certainly have the fullest understanding of these Purposes of any members of our Spiritual Hierarchy. |
55. Các Ngài đến gần nhất, trong số những Chân sư mà danh xưng đã được trao cho chúng ta, với việc trở thành thành viên của giới này, tức Giới của Các Sự Sống Thái Dương. Tuy nhiên, ngay cả đối với các thành viên cao nhất của Huyền Giai Tinh Thần của chúng ta, các mục đích sâu xa hơn của những thành viên thuộc hạt nhân Shamballa vẫn chưa được mặc khải trọn vẹn. Ngay cả Đức Christ, Đức Manu và các Chohan cũng không có sự thấu hiểu trọn vẹn về các mục đích của nhóm các Đấng vốn là hạt nhân của Hội đồng tại Shamballa. Dù Đức Christ, Đức Manu và Đức Mahachohan chắc chắn có sự thấu hiểu đầy đủ nhất về các Mục đích này trong số mọi thành viên của Huyền Giai Tinh Thần chúng ta. |
|
56. There are many Lives in Shamballa, and most of them remain unnamed (at least with respect to the consciousness of man). Such as these may be members of the seventh kingdom of nature, a kingdom, it would seem, more related to the Solar Logos than to the Planetary Logos (though holding very high office within the structure of the Planetary Logos) |
56. Có nhiều Sự Sống trong Shamballa, và phần lớn các Ngài vẫn không được nêu danh, ít nhất là xét theo tâm thức của con người. Những Đấng như thế có thể là thành viên của giới thứ bảy trong thiên nhiên, một giới dường như liên hệ với Thái dương Thượng đế nhiều hơn với Hành Tinh Thượng đế, dù vẫn giữ những chức vụ rất cao trong cấu trúc của Hành Tinh Thượng đế. |
|
57. One implication that might be gathered from the section above is that the members “nucleus of the Council at Shamballa” are beyond the seventh kingdom of nature. Yet from other perspectives, They seem necessarily to be members of this kingdom. |
57. Một hàm ý có thể rút ra từ phần trên là các thành viên của “hạt nhân Hội đồng tại Shamballa” ở bên kia giới thứ bảy trong thiên nhiên. Tuy nhiên, từ các góc nhìn khác, dường như Các Ngài tất yếu là thành viên của giới này. |
|
58. We might think of the Christ, the Manu and Mahachohan as training to become members of this seventh kingdom—standing, as it were, upon the periphery of this highest of kingdoms on our planet. |
58. Chúng ta có thể nghĩ về Đức Christ, Đức Manu và Đức Mahachohan như đang được huấn luyện để trở thành thành viên của giới thứ bảy này, như thể đang đứng trên chu vi của giới cao nhất này trên hành tinh chúng ta. |
|
59. It is not unreasonable to consider the seventh kingdom the “Kingdom of Solar Lives” (EP I 215) as the first kingdom. |
59. Không phải là vô lý khi xem giới thứ bảy, tức “Giới của Các Sự Sống Thái Dương” (EP I 215) là giới thứ nhất. |
|
60. When we read the section, we have to decide whether DK means that only those Lives who can cooperate in “full understanding” with the Shamballic Nucleus, are members of the seventh kingdom, or whether such Lives and the Shamballic Lives constitute the seventh kingdom. |
60. Khi đọc phần này, chúng ta phải quyết định liệu Chân sư DK muốn nói rằng chỉ những Sự Sống nào có thể hợp tác trong “sự thấu hiểu trọn vẹn” với Hạt nhân Shamballa mới là thành viên của giới thứ bảy, hay những Sự Sống như thế và các Sự Sống Shamballa hợp thành giới thứ bảy. |
|
61. (blank) |
61. (trống) |
|
Around the Lord of the World this group pivots; |
Quanh Đức Chúa Tể Thế Giới, nhóm này xoay làm trục; |
|
62. When one thinks of the word “pivot”, one may associate it with the brightest star in the Great Bear—Dubhe, the “Leo” star, knows as “Heaven’s Pivot”. It is the pointer visually closest to Polaris. |
62. Khi nghĩ đến từ “trục”, người ta có thể liên hệ nó với ngôi sao sáng nhất trong chòm Đại Hùng Tinh, Dubhe, ngôi sao “Sư Tử”, được biết đến như “Trục của Thiên Đàng”. Về mặt thị giác, đó là sao chỉ đường gần Sao Bắc Cực nhất. |
|
63. Indeed, the Lord of the World in Shamballa is the Leonian “King” of Shamballa. |
63. Thật vậy, Đức Chúa Tể Thế Giới trong Shamballa là “Vua” mang tính Sư Tử của Shamballa. |
|
Their consciousness and state of being is only dimly understood by the most advanced Members of the Hierarchy, and the relation of these Lives to the Lord of the World is similar, and yet fundamentally different, to the relation of the Members of the Hierarchy to the three Great Lords—the Christ, the Manu and the Mahachohan. |
Ngay cả các Thành viên tiến bộ nhất của Thánh Đoàn cũng chỉ hiểu lờ mờ tâm thức và trạng thái hiện tồn của Các Ngài; và mối liên hệ của các Sự Sống này với Đức Chúa Tể Thế Giới thì tương tự, song về căn bản lại khác, với mối liên hệ của các Thành viên Thánh Đoàn đối với ba Đại Chúa Tể, tức Đức Christ, Đức Manu và Đức Mahachohan. |
|
64. There is a great gap between the members of Sanat Kumara’s “Nucleus”, and even the most advanced Members of the Hierarchy, such as the “Three Great Lords”—the Christ, the Manu and the Mahachohan. |
64. Có một khoảng cách lớn giữa các thành viên của “Hạt nhân” thuộc Đức Sanat Kumara, và ngay cả các Thành viên tiến bộ nhất của Thánh Đoàn, chẳng hạn như “Ba Đại Chúa Tể”, tức Đức Christ, Đức Manu và Đức Mahachohan. |
|
65. Certainly the Christ is the most advanced member of the Hierarchy, and also, as an incipient initiate of the seventh degree, very reasonably at least a peripheral member of the seventh kingdom. |
65. Chắc chắn Đức Christ là thành viên tiến bộ nhất của Thánh Đoàn, và đồng thời, với tư cách là một điểm đạo đồ sơ khởi của cấp bảy, rất hợp lý khi ít nhất Ngài là một thành viên ở ngoại vi của giới thứ bảy. |
|
66. If (for argument’s sake) the Christ were considered a full member of the seventh kingdom, and given that the ‘developmental distance’ between the Christ and the ‘nucleic’ Lives of Shamballa is so great, it would be hard to think of these exalted Lives as members of the seventh kingdom. Yet when one considers this kingdom as the Kingdom of Solar Lives, it seems necessary to include Them, and to conclude that the Christ cannot be a full member of the Kingdom of Solar Lives. |
66. Nếu, để tiện tranh luận, Đức Christ được xem là một thành viên trọn vẹn của giới thứ bảy, và xét rằng “khoảng cách phát triển” giữa Đức Christ và các Sự Sống “thuộc hạt nhân” của Shamballa là quá lớn, thì thật khó nghĩ về các Sự Sống tôn quý này như là thành viên của giới thứ bảy. Tuy nhiên, khi xem xét giới này như Giới của các Sự Sống Thái Dương, dường như cần phải bao gồm Các Ngài, và kết luận rằng Đức Christ không thể là một thành viên trọn vẹn của Giới các Sự Sống Thái Dương. |
|
67. Another analogy is given in order to induce a sense of proportion. The group around the Lord of the World is considered related to the Lord of the World in a manner analogous to the relationship between the Hierarchy and the Three Great Lords Who guide that Hierarchy. |
67. Một phép tương đồng khác được đưa ra nhằm khơi dậy Ý thức về tỉ lệ. Nhóm quanh Đức Chúa Tể Thế Giới được xem là liên hệ với Đức Chúa Tể Thế Giới theo cách tương tự như mối liên hệ giữa Thánh Đoàn và Ba Đại Chúa Tể, các Đấng hướng dẫn Thánh Đoàn ấy. |
|
68. One can see immediately that this is only a suggestive analogy; even the numbers do not easily correspond. |
68. Người ta có thể thấy ngay rằng đây chỉ là một phép tương đồng gợi ý; ngay cả các con số cũng không dễ dàng tương ứng. |
|
69. We might say that just Sanat Kumara gives guidance to the three Buddhas of Activity and other nucleic Shamballic Lives, so the Three Great Lords offer guidance to the Spiritual Hierarchy as a Whole. |
69. Chúng ta có thể nói rằng cũng như Đức Sanat Kumara chỉ đạo ba Đức Phật Hoạt Động và các Sự Sống Shamballa thuộc hạt nhân khác, thì Ba Đại Chúa Tể cũng đưa ra sự hướng dẫn cho toàn thể Huyền Giai Tinh Thần. |
|
70. We might also conclude that the spiritual status of the members of Hierarchy is, at least, relatively close to that the Manu, the Christ and the Mahachohan (initiates of the sixth and seventh degrees—in the case of the Christ). Hierarchy is composed of fourth and fifth degree initiates (and even third degree initiates could be included). |
70. Chúng ta cũng có thể kết luận rằng địa vị tinh thần của các thành viên Thánh Đoàn, ít nhất, tương đối gần với địa vị của Đức Manu, Đức Christ và Đức Mahachohan, tức các điểm đạo đồ cấp sáu và cấp bảy, trong trường hợp của Đức Christ. Thánh Đoàn gồm các điểm đạo đồ cấp bốn và cấp năm, và thậm chí các điểm đạo đồ cấp ba cũng có thể được bao gồm. |
|
71. Similarly, the spiritual status of Sanat Kumara and the Three Buddhas of Activity is relatively close, though Sanat Kumara has now surpassed them because of His “Great Sacrifice”. They appear to have a karmic relationship dating from an earlier solar system. |
71. Tương tự, địa vị tinh thần của Đức Sanat Kumara và Ba Đức Phật Hoạt Động tương đối gần nhau, dù Đức Sanat Kumara nay đã vượt qua Các Ngài do “Đại Hy Sinh” của Ngài. Dường như Các Ngài có một mối liên hệ nghiệp quả bắt nguồn từ một hệ mặt trời trước đó. |
|
72. What we should understand is that even the highest members of the Spiritual Hierarchy (such as the Three Great Lords) have only a dim idea of the nature of Sanat Kumara, the Three Buddhas and other Shamballic Lives. The Three Great Lords are not about to become, by straightforward progression, what the nucleus of Shamballic Lives are now. That nucleus consists of those Who have recently been Planetary Logoi (in an earlier solar system). The Three Great Lords are nowhere near that possibility. Many Masters, it would seem, have yet to become Solar Angels (through training on Sirius), and many Solar Angels have yet to become Planetary Logoi (presumably through many graded levels of progression). So the Masters are far indeed from the status of such exalted lives as the Three Buddhas of Activity and Sanat Kumara. |
72. Điều chúng ta nên thấu hiểu là ngay cả các thành viên cao nhất của Huyền Giai Tinh Thần, chẳng hạn như Ba Đại Chúa Tể, cũng chỉ có một ý niệm mờ nhạt về bản chất của Đức Sanat Kumara, Ba Đức Phật và các Sự Sống Shamballa khác. Ba Đại Chúa Tể không sắp trở thành, bằng một tiến trình tiến bộ trực tiếp, những gì hạt nhân các Sự Sống Shamballa hiện đang là. Hạt nhân ấy gồm những Đấng gần đây đã là các Hành Tinh Thượng đế trong một hệ mặt trời trước đó. Ba Đại Chúa Tể còn rất xa khả thể ấy. Dường như nhiều Chân sư vẫn còn phải trở thành các Thái dương Thiên Thần, qua sự huấn luyện trên sao Thiên Lang, và nhiều Thái dương Thiên Thần vẫn còn phải trở thành các Hành Tinh Thượng đế, có lẽ qua nhiều cấp độ tiến bộ được phân bậc. Vì vậy, các Chân sư quả thật còn rất xa địa vị của những sự sống tôn quý như Ba Đức Phật Hoạt Động và Đức Sanat Kumara. |
|
73. Perhaps these comparisons help us understand that, though we may glibly speak of the Hierarchy and Shamballa, a great gulf separates the Lives Who represent these two planetary centers. Even the highest members of our Spiritual Hierarchy are the most lowly members of Shamballa (lowly when compared to Lives such as the Buddhas of Activity) Who in an earlier cycle have been Planetary Gods. |
73. Có lẽ những so sánh này giúp chúng ta thấu hiểu rằng, dù chúng ta có thể nói một cách trôi chảy về Thánh Đoàn và Shamballa, một vực thẳm lớn vẫn phân cách các Sự Sống đại diện cho hai trung tâm hành tinh này. Ngay cả các thành viên cao nhất của Huyền Giai Tinh Thần chúng ta cũng là những thành viên thấp nhất của Shamballa, thấp kém khi so với các Sự Sống như các Đức Phật Hoạt Động, các Đấng trong một chu kỳ trước đã từng là các Thượng đế Hành Tinh. |
|
74. As for Sanat Kumara, He is higher still. Perhaps even a speculative understanding of these inferences will correct certain patterns of thought and speech which arise out of a lack of co-measurement. |
74. Còn đối với Đức Sanat Kumara, Ngài còn cao hơn nữa. Có lẽ ngay cả một sự thấu hiểu mang tính suy đoán về các suy luận này cũng sẽ điều chỉnh một vài mô hình tư tưởng và ngôn ngữ phát sinh từ việc thiếu sự đo lường tương xứng. |
|
Through these three Lords pours the energy which streams from Shamballa, transmitting the purpose and motivating the plan of Sanat Kumara—His Life Plan. |
Qua ba Chúa Tể này tuôn đổ năng lượng phát xuất từ Shamballa, truyền đạt mục đích và thúc đẩy Thiên Cơ của Đức Sanat Kumara, tức Kế hoạch Sự sống của Ngài. |
|
75. We are given here, one of the functions of the Buddhas of Activity. |
75. Ở đây chúng ta được trao cho một trong các chức năng của các Đức Phật Hoạt Động. |
|
76. They are, in a sense, the personality expression of Sanat Kumara, and are to Him what the spiritual triad is to the monad of man. |
76. Theo một nghĩa nào đó, Các Ngài là biểu hiện phàm ngã của Đức Sanat Kumara, và đối với Ngài, Các Ngài giống như Tam Nguyên Tinh Thần đối với chân thần của con người. |
|
77. It is obvious that the Plan and Purpose of Sanat Kumara can be expressed in three modes. |
77. Rõ ràng rằng Thiên Cơ và Mục đích của Đức Sanat Kumara có thể được biểu lộ theo ba cách. |
|
78. We are given (beginning R&I 240) seven purposes of Sanat Kumara. These seven purposes flow through the Buddhas of Activity and the Seven Planetary Ray Lords. |
78. Chúng ta được trao cho (bắt đầu từ R&I 240) bảy mục đích của Đức Sanat Kumara. Bảy mục đích này tuôn chảy qua các Đức Phật Hoạt Động và Bảy Đấng Chúa Tể Cung Hành Tinh. |
|
79. The concept of “Plan” is associated with the number three, for the third method of inducing soul control is the “Urge to Formulate a Plan” (EP II 241). |
79. Khái niệm “Thiên Cơ” liên hệ với con số ba, vì phương pháp thứ ba để khơi dẫn sự kiểm soát của linh hồn là “Sự thôi thúc lập nên một Thiên Cơ” (EP II 241). |
|
80. Therefore it is fitting that the three Buddhas of Activity pour forth an energy which motivates the Plan of Sanat Kumara. In a way, They must be in charge of the time-space expression of His Purpose, manifesting as the ‘Plan-in-Time’. They can be considered (at least with respect to our planet) “Lord(s) of Space” and “Dispenser(s) of Time”, and would therefore be related to the third Ray Lord, two of Whose names have just been given. (EP I 68). |
80. Do đó, thật thích hợp khi ba Đức Phật Hoạt Động tuôn đổ một năng lượng thúc đẩy Thiên Cơ của Đức Sanat Kumara. Theo một cách nào đó, Các Ngài hẳn phải phụ trách biểu hiện thời gian-không gian của Mục đích Ngài, biểu lộ như “Thiên Cơ-trong-Thời Gian”. Các Ngài có thể được xem, ít nhất liên quan đến hành tinh chúng ta, là “Chúa Tể của Không Gian” và “Đấng Phân Phối Thời Gian”, và vì thế sẽ liên hệ với Đấng Chúa Tể Cung ba, hai trong các danh xưng của Ngài vừa được nêu ra. (EP I 68). |
|
What you call “the Plan” is the response of the Hierarchy to the inflaming purposeful will of the Lord of the World. |
Điều các bạn gọi là “Thiên Cơ” là sự đáp ứng của Thánh Đoàn đối với ý chí đầy mục đích, có sức làm bừng cháy, của Đức Chúa Tể Thế Giới. |
|
81. This is a brilliant and arresting sentence. |
81. Đây là một câu rực sáng và gây chấn động. |
|
82. It is again obvious that what we call the Plan is not the Plan at all. |
82. Một lần nữa, rõ ràng rằng điều chúng ta gọi là Thiên Cơ hoàn toàn không phải là Thiên Cơ. |
|
83. How shall we describe the will of the Lord of the World? It is “inflaming purposeful will”. May we say that it inflames the consciousness of those groups it touches with an aspect of the ‘solarly’-flaming will of the Solar Logos”. |
83. Chúng ta sẽ mô tả ý chí của Đức Chúa Tể Thế Giới như thế nào? Đó là “ý chí đầy mục đích, có sức làm bừng cháy”. Có thể chăng nói rằng nó làm bừng cháy tâm thức của những nhóm mà nó chạm đến bằng một phương diện của ý chí rực lửa theo tính thái dương của Thái dương Thượng đế. |
|
84. The Will of Sanat Kumara is fiery—but the fire must necessarily be a blend of planetary y “electric fire” and solar “solar fire”. The electric fire of Sanat Kumara is an aspect of a greater solar fire—the fire of the Solar Logos (of Whom Sanat Kumara is a direct Disciple). |
84. Ý Chí của Đức Sanat Kumara thì rực lửa—nhưng ngọn lửa ấy tất yếu phải là một sự pha trộn giữa “Lửa Điện” hành tinh và thái dương “Lửa Thái dương”. Lửa Điện của Đức Sanat Kumara là một phương diện của một Lửa Thái dương lớn hơn, tức lửa của Thái dương Thượng đế, Đấng mà Đức Sanat Kumara là một Đệ tử trực tiếp. |
|
Through Sanat Kumara, the Ancient of Days (as He is called in the Bible), flows the unknown energy of which the three divine Aspects are the expression. |
Qua Đức Sanat Kumara, Đấng Thái Cổ (như Ngài được gọi trong Kinh Thánh), tuôn chảy năng lượng chưa biết mà ba Phương diện thiêng liêng là sự biểu lộ của nó. |
|
85. There are three Cosmic Laws (of Synthesis, Attraction and Economy), and one synthesizing Law of Karma, emanating (for purposes of our Solar Logos and His solar system) from Sirius (or from the Sirian System, of which the star Sirius is hypothesize to be one part). |
85. Có ba Định luật Vũ trụ (Tổng hợp, Hấp dẫn và Tiết Kiệm), và một Định luật Nghiệp Quả có tính tổng hợp, xuất lộ (cho các mục đích của Thái dương Thượng đế chúng ta và hệ mặt trời của Ngài) từ Sirius (hay từ Hệ Sirius, mà ngôi sao Sirius được giả định là một phần). |
|
86. There is always a point at the center of an esoteric triangle, and Sanat Kumara (in relation to the triangle of Buddhas of Activity) represents that point just as the Sirian Law of Karma represents the point within the Triangle consisting of the three cosmic laws. |
86. Luôn luôn có một điểm ở trung tâm của một tam giác huyền bí, và Đức Sanat Kumara (trong liên hệ với tam giác của các Đức Phật Hoạt Động) đại diện cho điểm ấy, cũng như Định luật Nghiệp Quả Sirius đại diện cho điểm bên trong Tam Giác gồm ba định luật vũ trụ. |
|
He is the Custodian of the will of the Great White Lodge on Sirius, and the burden of this “cosmic intention” is shared by the Buddhas of Activity and those Members of the Great Council Who are of so elevated a consciousness and vibration that only once a year (through Their emissary, the Buddha) is it safe for Them to contact the Hierarchy. |
Ngài là Đấng Gìn Giữ ý chí của Thánh đoàn trên Sirius, và gánh nặng của “ý định vũ trụ” này được chia sẻ bởi các Đức Phật Hoạt Động và những Thành viên của Đại Hội Đồng, các Đấng có tâm thức và rung động cao siêu đến mức chỉ một lần mỗi năm (qua sứ giả của Các Ngài, Đức Phật) mới an toàn để Các Ngài tiếp xúc với Thánh đoàn. |
|
87. We are told that “Sanat Kumara is not on the Sirian line” (R&I 415) which probably refers to the line of development He is now pursuing—probably the Path of the Solar Logoi—but the Great Kumara of our planet has a close enough relation to Sirius to be the “Custodian of the will of the Great White Lodge on Sirius”. |
87. Chúng ta được cho biết rằng “Đức Sanat Kumara không thuộc tuyến Sirius” (R&I 415) điều này có lẽ ám chỉ tuyến phát triển mà Ngài hiện nay đang theo đuổi—có lẽ là Con Đường của các Thái dương Thượng đế—nhưng vị Đại Kumara của hành tinh chúng ta có mối liên hệ đủ gần với Sirius để là “Đấng Gìn Giữ ý chí của Thánh đoàn trên Sirius”. |
|
88. This may mean that Sanat Kumara was once on the Sirian line, and underwent the development necessary to be such a Custodian. |
88. Điều này có thể có nghĩa là Đức Sanat Kumara đã từng ở trên tuyến Sirius, và đã trải qua sự phát triển cần thiết để trở thành một Đấng Gìn Giữ như thế. |
|
89. Sirius is considered a “cosmic” source and the Logos of Sirius (or of the Sirian System) a “cosmic Logos”. |
89. Sirius được xem là một nguồn “vũ trụ”, và Thượng đế của Sirius (hay của Hệ Sirius) là một “Thượng đế vũ trụ”. |
|
90. Sanat Kumara is of sufficiently exalted rank to be under the impress of the “cosmic intention” from Sirius. The Buddhas of Activity share a responsiveness to the same cosmic intention, as do certain other unnamed Lives in Shamballa. |
90. Đức Sanat Kumara có cấp bậc đủ cao siêu để chịu ấn tượng của “ý định vũ trụ” từ Sirius. Các Đức Phật Hoạt Động cùng chia sẻ khả năng đáp ứng với cùng ý định vũ trụ ấy, cũng như một số Sự Sống vô danh khác trong Shamballa. |
|
91. We note with interest that the “cosmic intention” is a “burden”. On our own small level, when we respond to a will greater than our own individual will (especially when that will is much greater) we experience the impress of such a will as a burden. The analogy holds good even for beings as exalted as Sanat Kumara and the Three Buddhas. |
91. Chúng ta ghi nhận với sự quan tâm rằng “ý định vũ trụ” là một “gánh nặng”. Ở cấp độ nhỏ bé của chính mình, khi chúng ta đáp ứng với một ý chí lớn hơn ý chí cá nhân của chúng ta (đặc biệt khi ý chí ấy lớn hơn rất nhiều), chúng ta kinh nghiệm ấn tượng của một ý chí như thế như một gánh nặng. Sự tương đồng này vẫn đúng ngay cả đối với những hữu thể cao siêu như Đức Sanat Kumara và Ba Đức Phật. |
|
92. What that “cosmic intention” may be, we certainly have no idea. If the members of the nucleus of Shamballa are burdened by it, we must realize that it is beyond the understanding of even the higher members of the Spiritual Hierarchy. Sufficiently unfathomable for us are the Seven Purposes of Sanat Kumara. |
92. “Ý định vũ trụ” ấy có thể là gì, chắc chắn chúng ta không có ý niệm nào. Nếu các thành viên của hạt nhân Shamballa bị đè nặng bởi nó, chúng ta phải nhận ra rằng nó vượt ngoài sự thấu hiểu của ngay cả những thành viên cao cấp của Huyền Giai Tinh Thần. Đối với chúng ta, Bảy Mục Đích của Đức Sanat Kumara đã đủ không thể dò thấu rồi. |
|
93. There is a One ‘above’ the Three and a One ‘below’ the Three. |
93. Có một Đấng Duy Nhất ‘ở trên’ Ba Đấng và một Đấng Duy Nhất ‘ở dưới’ Ba Đấng. |
|
94. Sanat Kumara is in the midst of the Buddhas of Activity, and, in a way, stands ‘above’ them. |
94. Đức Sanat Kumara ở giữa các Đức Phật Hoạt Động, và, theo một cách nào đó, đứng ‘trên’ Các Ngài. |
|
95. The One we know as the Buddha stands ‘below’ the three, and is, in a sense aligned with Sanat Kumara, conveying in a yearly rhythm as much of His threefold/sevenfold Purpose as the Hierarchy can bear. |
95. Đấng Duy Nhất mà chúng ta biết là Đức Phật đứng ‘dưới’ ba Đấng, và, theo một nghĩa nào đó, được chỉnh hợp với Đức Sanat Kumara, truyền đạt theo một nhịp điệu hằng năm phần Mục Đích tam phân/thất phân của Ngài mà Thánh đoàn có thể chịu đựng được. |
|
96. It puts things into proportion to realize that the Lives within Shamballa are of so exalted a rank that it is unsafe for the members of Hierarchy to contact them except once a year, and then, indirectly, through Their emissary, the Buddha. |
96. Việc nhận ra rằng các Sự Sống trong Shamballa có cấp bậc cao siêu đến mức các thành viên của Thánh đoàn không an toàn khi tiếp xúc với Các Ngài, ngoại trừ mỗi năm một lần, và khi đó cũng chỉ gián tiếp, qua sứ giả của Các Ngài, Đức Phật, sẽ đặt mọi sự vào đúng tỉ lệ. |
|
97. We are understanding something important about the Buddha’s communicative function, and Who it is that He represents. |
97. Chúng ta đang thấu hiểu một điều quan trọng về chức năng truyền đạt của Đức Phật, và về Đấng mà Ngài đại diện. |
|
98. The Buddha represents a higher Quaternary (consisting essentially of Sanat Kumara and the Three Buddhas), and the Christ, a lower quaternary—Humanity. |
98. Đức Phật đại diện cho một Bộ Bốn cao hơn (về căn bản gồm Đức Sanat Kumara và Ba Đức Phật), còn Đức Christ đại diện cho một bộ bốn thấp hơn—Nhân loại. |
|
99. If more frequent, unprotected contact with Shamballa were possible to the Hierarchy, would the members of the Hierarchy become ‘overstimulated’? There must be an analogy to the danger of overstimulation experienced by the disciple, although it is hard for us to conceive how it might work out practically. |
99. Nếu Thánh đoàn có thể tiếp xúc với Shamballa thường xuyên hơn và không được bảo vệ, liệu các thành viên của Thánh đoàn có trở nên ‘bị kích thích quá mức’ không? Hẳn phải có một sự tương đồng với nguy cơ bị kích thích quá mức mà đệ tử kinh nghiệm, dù chúng ta khó hình dung nó sẽ diễn ra trong thực tế như thế nào. |
|
Paragraph 3 |
Đoạn 3 |
|
C. I am seeking only to point to a wider horizon than that usually registered by disciples and I use these broad analogies to expand your point of view. |
C. Tôi chỉ đang tìm cách chỉ ra một chân trời rộng lớn hơn chân trời thường được các đệ tử ghi nhận, và tôi dùng những tương đồng rộng lớn này để mở rộng quan điểm của các bạn. |
|
99. The Tibetan is certainly widening our horizon. How could we even think in such terms unless we were able to ‘stand on His shoulders’? |
99. Chân sư Tây Tạng chắc chắn đang mở rộng chân trời của chúng ta. Làm sao chúng ta thậm chí có thể suy nghĩ theo những thuật ngữ như thế, nếu không thể ‘đứng trên vai Ngài’? |
|
100. Some people think it impractical to consider such high subjects about which we can know so little at first hand. Apparently the Tibetan does not think it useless. It is part of the process by which consciousness expands. |
100. Một số người cho rằng việc xem xét những chủ đề cao siêu như thế, mà ban đầu chúng ta có thể biết rất ít trực tiếp, là không thực tế. Rõ ràng Chân sư Tây Tạng không nghĩ điều đó là vô ích. Nó là một phần của tiến trình nhờ đó tâm thức mở rộng. |
|
101. A synthetic grasp of the nature of things (even if necessarily vague) will help us act with greater intelligence and appropriateness with respect to the specific circumstances closer to our lives. |
101. Một sự nắm bắt tổng hợp về bản chất của sự vật (dù tất yếu còn mơ hồ) sẽ giúp chúng ta hành động với trí tuệ và sự thích đáng lớn hơn đối với những hoàn cảnh cụ thể gần gũi hơn với đời sống chúng ta. |
|
By so doing I can convey to the enlightened person a sense of synthesis, of purposeful planning and of planetary integrity. |
Bằng cách làm như vậy, tôi có thể truyền đạt cho người đã được soi sáng một ý thức về tổng hợp, về hoạch định có mục đích và về tính toàn vẹn hành tinh. |
|
102. DK gives the reason for His presentation to us of a “wider horizon”. If we are to benefit from what He is saying we must be, at least, somewhat enlightened. Otherwise His discussion of these abstruse matters will have no meaning to us at all. |
102. Chân sư DK đưa ra lý do cho việc Ngài trình bày với chúng ta một “chân trời rộng lớn hơn”. Nếu chúng ta muốn hưởng lợi từ điều Ngài đang nói, ít nhất chúng ta phải phần nào được soi sáng. Nếu không, cuộc bàn luận của Ngài về những vấn đề sâu kín này sẽ hoàn toàn không có ý nghĩa gì đối với chúng ta. |
|
103. If we study carefully and think under the impress of “pure reason”, we will emerge with a sense of synthesis. From a practical perspective, our planning will become more purposeful and our sense of the integrity of this planet, and where we fit within that integrated system, will become clearer. |
103. Nếu chúng ta học hỏi cẩn thận và suy nghĩ dưới ấn tượng của “lý trí thuần khiết”, chúng ta sẽ đạt được một ý thức về tổng hợp. Từ một viễn cảnh thực tiễn, sự hoạch định của chúng ta sẽ trở nên có mục đích hơn và ý thức của chúng ta về tính toàn vẹn của hành tinh này, cũng như vị trí của chúng ta trong hệ thống tích hợp ấy, sẽ trở nên rõ ràng hơn. |
|
104. Without a correct sense of proportion we will never develop humility, and without humility we will not be able to co-measure our actions; without co-measured actions we are of little use within the progressive planetary process—in fact, we would be part of the problem rather than an agent of service. |
104. Không có Ý thức về tỉ lệ đúng đắn, chúng ta sẽ không bao giờ phát triển được sự khiêm nhường; và không có sự khiêm nhường, chúng ta sẽ không thể đo lường tương xứng các hành động của mình; không có những hành động được đo lường tương xứng, chúng ta ít hữu dụng trong tiến trình hành tinh đang tiến triển—thật ra, chúng ta sẽ là một phần của vấn đề hơn là một tác nhân phụng sự. |
|
This great spiritual structure of Being, of Life and of Direction is something that the disciples and initiates of the world need—at this time—in their effort to stand steady under the pressure of world events, and in their determination to cooperate unwaveringly with the moves and plans made by the world Directors, that “Society of illumined and organised [Page 131] Minds” which is known under the name of the Hierarchy. It is illumination and consequent organisation which is needed profoundly at this time. |
Cấu trúc tinh thần vĩ đại này của Bản Thể, của Sự Sống và của Sự Định Hướng là điều mà các đệ tử và điểm đạo đồ của thế giới cần—vào lúc này—trong nỗ lực đứng vững dưới áp lực của các biến cố thế giới, và trong quyết tâm hợp tác không lay chuyển với các động thái và kế hoạch do các Đấng Điều Hướng thế giới thực hiện, tức “Hội của các Thể Trí được soi sáng và có tổ chức [Trang 131]” được biết đến dưới danh xưng Thánh đoàn. Chính sự soi sáng và tổ chức hệ quả là điều được cần đến sâu xa vào lúc này. |
|
105. DK’s motives for presenting us with the very big picture (at least the planetary big picture) is given most clearly. |
105. Động cơ của Chân sư DK khi trình bày cho chúng ta bức tranh rất lớn (ít nhất là bức tranh lớn hành tinh) được nêu ra rất rõ ràng. |
|
106. A sense of the “great spiritual structure” is our very great need at this time. Humanity needs this sense, in increasing measure, but those who would be conscious disciples certainly do. |
106. Một ý thức về “cấu trúc tinh thần vĩ đại” là nhu cầu rất lớn của chúng ta vào lúc này. Nhân loại cần ý thức này ngày càng nhiều hơn, nhưng những ai muốn trở thành đệ tử hữu thức thì chắc chắn cần. |
|
107. Being has a structure; Life has a structure; Direction is structured. |
107. Bản Thể có một cấu trúc; Sự Sống có một cấu trúc; Sự Định Hướng cũng được cấu trúc. |
|
108. The practical benefit is that this kind of knowledge (even if inferential and appealing largely to the reasoning mind), helps us “stand steady under the pressure of world events”. |
108. Lợi ích thực tiễn là loại tri thức này (dù có tính suy luận và chủ yếu hấp dẫn đối với thể trí lý luận), giúp chúng ta “đứng vững dưới áp lực của các biến cố thế giới”. |
|
109. When we know of these things (even though not knowing them directly) we become highly motivated to “cooperate unwaveringly with the moves and plans made by the world Directors”. |
109. Khi chúng ta biết về những điều này (dù chưa biết chúng một cách trực tiếp), chúng ta trở nên được thúc đẩy mạnh mẽ để “hợp tác không lay chuyển với các động thái và kế hoạch do các Đấng Điều Hướng thế giới thực hiện”. |
|
110. To be motivated to stand with Hierarchy, we must know something of the greatness of Hierarchy, and the still greater nature of the group which stands to Hierarchy as They stand to us. |
110. Để được thúc đẩy đứng cùng Thánh đoàn, chúng ta phải biết đôi điều về sự vĩ đại của Thánh đoàn, và về bản chất còn vĩ đại hơn của nhóm đứng đối với Thánh đoàn như Các Ngài đứng đối với chúng ta. |
|
111. The bottom line is that comprehensive knowledge promotes spiritual stability and reliability. This is most practical, is it not? |
111. Điểm cốt yếu là tri thức toàn diện thúc đẩy sự ổn định và đáng tin cậy về tinh thần. Điều này hết sức thực tiễn, phải không? |
|
112. One of the most arresting names for the Spiritual Hierarchy is given here: the “Society of illumined and organised Minds”. Here, it is the Hierarchy of Light that is emphasized and not so much the Hierarchy of Love (which it surely is as well, and really, predominately so). |
112. Một trong những danh xưng gây chú ý nhất dành cho Huyền Giai Tinh Thần được nêu ra ở đây: “Hội của các Thể Trí được soi sáng và có tổ chức”. Ở đây, chính Thánh đoàn của Ánh sáng được nhấn mạnh, chứ không hẳn là Thánh đoàn của Tình thương (mà chắc chắn Thánh đoàn cũng là như thế, và thật ra, là như thế một cách trội vượt). |
|
113. Master DK does nothing without useful purposes. He is not speaking casually of the sixth and seventh kingdoms. Discussing them in relation to the fifth and fourth kingdoms, gives what we might call an ‘illumined stability of consciousness’ and this leads to the capacity to organize one’s life so that it definitely serves the purposes of Hierarchy as Hierarchy attempts to serve Humanity. |
113. Chân sư DK không làm điều gì mà không có các mục đích hữu ích. Ngài không nói một cách ngẫu nhiên về giới thứ sáu và thứ bảy. Việc bàn về chúng trong liên hệ với giới thứ năm và thứ tư đem lại điều mà chúng ta có thể gọi là ‘sự ổn định được soi sáng của tâm thức’, và điều này dẫn đến khả năng tổ chức đời sống của một người sao cho nó thật sự phụng sự các mục đích của Thánh đoàn, cũng như Thánh đoàn cố gắng phụng sự Nhân loại. |
|
114. We cannot allow ourselves to be faulted for studying these deep and abstruse matters. The result is intended to be of the greatest value. |
114. Chúng ta không thể để mình bị khiển trách vì nghiên cứu những vấn đề sâu xa và khó hiểu này. Kết quả được dự định là có giá trị lớn lao nhất. |
|
115. Illumination and organization (qualities of the second and fifth, and third and seventh rays) are a very great need. Why? Hierarchy needs understanding cooperators. Such cooperators will not be assembled unless they understand much more of the ‘big picture’ than humanity presently does. |
115. Sự soi sáng và tổ chức (những phẩm tính của cung hai và cung năm, cũng như cung ba và cung bảy) là một nhu cầu rất lớn. Tại sao? Thánh đoàn cần những cộng tác viên có thấu hiểu. Những cộng tác viên như thế sẽ không được tập hợp lại trừ phi họ thấu hiểu bức tranh lớn nhiều hơn nhân loại hiện nay. |
|
Paragraph 4 |
Đoạn 4 |
|
D. You will see, therefore, the significance of the teaching now being given out anent the building of the antahkarana. It is only through this bridge, this thread, that the disciple can mount on to that stage of the ladder of evolution which will lead him out of the three worlds, which will bring the personality into rapport with the Spiritual Triad, and which will finally lead the Members of the Hierarchy (when Their term of service is completed) on to the Path of the Higher Evolution. |
D. Do đó, các bạn sẽ thấy thâm nghĩa của giáo huấn hiện đang được truyền ra về việc kiến tạo antahkarana. Chỉ qua cây cầu này, sợi dây này, đệ tử mới có thể leo lên bậc của thang tiến hóa sẽ dẫn y ra khỏi ba cõi thấp, đưa phàm ngã vào mối liên giao với Tam Nguyên Tinh Thần, và cuối cùng sẽ dẫn các Thành viên của Thánh đoàn (khi kỳ hạn phụng sự của Các Ngài hoàn tất) vào Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. |
|
115. Students of Master DK do much work with the antahkarana. DK stresses the importance of this inner building work in various ways. |
115. Các đạo sinh của Chân sư DK làm nhiều công việc với antahkarana. Chân sư DK nhấn mạnh tầm quan trọng của công việc kiến tạo bên trong này theo nhiều cách khác nhau. |
|
116. The present (but even more) the eventual purposes of the antahkarana are here suggested. |
116. Các mục đích hiện tại (nhưng còn hơn thế, sau cùng) của antahkarana được gợi ý ở đây. |
|
a. It brings the personality en rapport with the spiritual triad |
a. Nó đưa phàm ngã vào mối liên giao với Tam Nguyên Tinh Thần |
|
b. It provides a bridge of escape for the members of the Hierarchy also, for it allows them to place foot upon the Path of the Higher Evolution. |
b. Nó cũng cung cấp một cây cầu thoát ra cho các thành viên của Thánh đoàn, vì nó cho phép Các Ngài đặt chân lên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. |
|
c. Monadic destiny is found along the antahkarana. In building the “rainbow bridge”, we (as personalities) are building for a future we cannot conceive. |
c. Định mệnh chân thần được tìm thấy dọc theo antahkarana. Khi kiến tạo “Cây cầu vồng”, chúng ta (với tư cách các phàm ngã) đang kiến tạo cho một tương lai mà chúng ta không thể hình dung. |
|
d. In one respect the antahkarana ends at the fifth initiation, when Mercury (the antahkarana) and the Sun become one. |
d. Theo một phương diện, antahkarana kết thúc ở lần điểm đạo thứ năm, khi Sao Thủy (antahkarana) và Mặt Trời trở thành một. |
|
e. However, every integration is followed by the need for a further extension towards a still higher and more inclusive center. The way to that center (whatever it may be) is via an antahkarana of some kind. |
e. Tuy nhiên, mỗi sự tích hợp đều được tiếp nối bởi nhu cầu mở rộng xa hơn hướng tới một trung tâm còn cao hơn và bao gồm hơn. Con đường đến trung tâm ấy (bất kể nó là gì) là qua một loại antahkarana nào đó. |
|
f. The way back to the Universal Point from which all emanated and with which all are essentially identified is via an antahkarana. |
f. Con đường trở về Điểm Vũ Trụ mà từ đó tất cả đã xuất lộ và với Điểm ấy tất cả đều được đồng hóa về bản thể là qua một antahkarana. |
|
g. Sutratma underlies antahkarana. Life is always present and thus the “life thread” is an integral part of the ‘thread of returning consciousness’ which the antahkarana represents. |
g. Sutratma nằm bên dưới antahkarana. Sự Sống luôn luôn hiện diện, và do đó “sinh mệnh tuyến” là một phần không thể tách rời của ‘sợi dây tâm thức trở về’ mà antahkarana đại diện. |
|
h. All the way ‘up’ the ‘Universal Ladder’, Mercury and the Sun will have their higher correspondences. Mercury represents the two, and the deva kingdom (for Mercury has ‘wings’). The Sun, represents the One and the higher correspondences to the human kingdom (of which the Heavenly Men and the Grand Heavenly Men are examples). |
h. Suốt con đường ‘đi lên’ ‘Chiếc Thang Vũ Trụ’, Sao Thủy và Mặt Trời sẽ có những tương ứng cao hơn của chúng. Sao Thủy đại diện cho hai, và giới thiên thần (vì Sao Thủy có ‘cánh’). Mặt Trời đại diện cho Đấng Duy Nhất và những tương ứng cao hơn với giới nhân loại (trong đó các Đấng Thiên Nhân và các Đấng Đại Thiên Nhân là những ví dụ). |
|
The antahkarana is built by aspirants and disciples and initiates of the seven ray types, and is therefore a sevenfold woven thread; it constitutes the first stage of the Path of the Higher Evolution. |
Antahkarana được kiến tạo bởi những người chí nguyện, đệ tử và điểm đạo đồ thuộc bảy loại cung, và vì thế là một sợi dây dệt thất phân; nó cấu thành giai đoạn đầu của Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. |
|
116. The sevenfold nature of the antahkarana is here emphasized. |
116. Bản chất thất phân của antahkarana được nhấn mạnh ở đây. |
|
117. All antahkaranas are sevenfold, but one or two of the seven threads are principal in any ‘bridge of return’. |
117. Mọi antahkarana đều thất phân, nhưng một hoặc hai trong bảy sợi dây là chính yếu trong bất kỳ ‘cây cầu trở về’ nào. |
|
118. We can only imagine the meaning of the woven nature of the thread. It must have something to do with the ‘patterning of quality in space’. The antahkarana has its own occult geometry yet to be revealed to man. |
118. Chúng ta chỉ có thể tưởng tượng ý nghĩa của bản chất được dệt của sợi dây. Nó hẳn phải có liên quan đến ‘việc tạo mô hình phẩm tính trong không gian’. Antahkarana có hình học huyền bí riêng của nó, vẫn còn chưa được mặc khải cho con người. |
|
119. The ‘bridge of return’ for each initiate is distinct, and one must discover the energic nature of the bridge one (as a consciousness) is intended to ‘cross’. |
119. ‘Cây cầu trở về’ của mỗi điểm đạo đồ là riêng biệt, và người ta phải khám phá bản chất năng lượng của cây cầu mà y (với tư cách một tâm thức) được dự định phải ‘băng qua’. |
|
120. Seven Words of Power are given by DK to assist with the ‘crossing’ of the bridge. It may be that these Words of Power have continuing utility upon the farther reaches of the antahkarana. They are certainly capable of seemingly endless extension and application to higher vibratory domains. |
120. Bảy Quyền năng từ được Chân sư DK trao ra để hỗ trợ việc ‘băng qua’ cây cầu. Có thể những Quyền năng từ này có công dụng tiếp tục trên những tầm xa hơn của antahkarana. Chắc chắn chúng có khả năng mở rộng dường như vô tận và được áp dụng vào các lĩnh vực rung động cao hơn. |
|
121. It would be interesting to relate the seven Words of Power to the Seven Cosmic Paths. There is not a one-to-one relationship, as monads on all rays go to the various Paths (probably not equally so, however). |
121. Sẽ rất thú vị khi liên hệ bảy Quyền năng từ với Bảy Con Đường Vũ Trụ. Không có một mối quan hệ một-đối-một, vì các chân thần trên mọi cung đều đi đến các Con Đường khác nhau (tuy nhiên có lẽ không đồng đều). |
|
122. The correlation is very thought-provoking and potentially fruitful |
122. Sự tương quan này rất đáng suy ngẫm và có tiềm năng sinh hoa kết quả |
|
a. The seventh Path or Path of Absolute Sonship with “I Assert the Fact” |
a. Con Đường thứ bảy hay Con Đường của Tính Con Tuyệt Đối với “Tôi Khẳng Định Sự Thật” |
|
b. The sixth Path or Path of the Solar Logoi with “I See the Greatest Light” |
b. Con Đường thứ sáu hay Con Đường của các Thái dương Thượng đế với “Tôi Thấy Ánh Sáng Vĩ Đại Nhất” |
|
c. The fifth Path or Ray Path with “Purpose Itself am I” |
c. Con Đường thứ năm hay Con Đường Cung với “Chính Mục Đích là Tôi” |
|
d. The fourth Path or Path to Sirius with “Two Merge with One” |
d. Con Đường thứ tư hay Con Đường đến Sirius với “Hai Hòa Nhập với Một” |
|
e. The third path or Path of the Planetary Logoi with “Three Minds Unite” |
e. Con đường thứ ba hay Con Đường của các Hành Tinh Thượng đế với “Ba trí hợp nhất” |
|
f. The second path or “Path of Magnetic Work” with “The Highest Light Controls” |
f. Con đường thứ hai hay “Con Đường của Công Việc Từ Tính” với “Ánh Sáng Cao Nhất Kiểm Soát” |
|
g. The first Path or Path of Earth Service with “The Higher and the Lowest Meet” |
g. Con Đường thứ nhất hay Con Đường Phụng Sự Trái Đất với “Cao Nhất và Thấp Nhất Gặp Nhau” |
|
123. And there are certainly other significant correlations as well. |
123. Và chắc chắn còn có những tương quan có ý nghĩa khác nữa. |
|
124. Occasionally Master DK asks us to make such correlations, as, for instance, between the Eight Means to Yoga, the Noble Eightfold Paths, the Beatitudes, the Ten Commandments, etc. (cf. EP II 164) |
124. Thỉnh thoảng Chân sư DK yêu cầu chúng ta thiết lập những tương quan như thế, chẳng hạn giữa Tám Phương Tiện của Yoga, Bát Chánh Đạo, Các Mối Phúc, Mười Điều Răn, v.v. (xem EP II 164) |
|
125. Through such exercises of the mind, much light can come. |
125. Qua những bài tập như thế của thể trí, nhiều ánh sáng có thể đến. |
|
It is to that Path what experience in the mineral kingdom of the Life of God is to that same Life when it reaches the fourth or human kingdom. |
Nó đối với Con Đường ấy cũng như kinh nghiệm trong giới kim thạch của Sự Sống của Thượng đế đối với cùng Sự Sống ấy khi nó đạt đến giới thứ tư hay giới nhân loại. |
|
126. This is a fascinating analogy: the antahkarana is to the Path of Higher Evolution what the life of the mineral kingdom is to the life of the human kingdom (both types of life being one life in different phases of expression). |
126. Đây là một sự tương đồng hấp dẫn: antahkarana đối với Con đường Tiến Hóa Cao Siêu cũng như sự sống của giới kim thạch đối với sự sống của giới nhân loại (cả hai loại sự sống đều là một sự sống trong các giai đoạn biểu lộ khác nhau). |
|
127. The number four is very important in this analogy for the following reasons: |
127. Con số bốn rất quan trọng trong sự tương đồng này vì những lý do sau: |
|
a. The mineral kingdom is the fourth ‘below’ from the human. Four is, numerologically and foundationally, a number of manifestation, and the mineral kingdom is the foundation of manifestation. |
a. Giới kim thạch là giới thứ tư ‘ở dưới’ tính từ giới nhân loại. Bốn, xét theo số học và nền tảng, là con số của sự biểu hiện, và giới kim thạch là nền tảng của sự biểu hiện. |
|
b. The antahkarana is related to Mercury, the principal ray of which is the fourth. |
b. Antahkarana liên hệ với Sao Thủy, mà cung chính của Sao Thủy là cung bốn. |
|
c. The human kingdom is the fourth kingdom. |
c. Giới nhân loại là giới thứ tư. |
|
d. The Path to Sirius is like an antahkarana connecting our planet with that distant Source, and that Path is the fourth of the seven Paths (though there are now two others, we are told). |
d. Con Đường đến Sirius giống như một antahkarana nối hành tinh của chúng ta với Nguồn xa xôi ấy, và Con Đường đó là con đường thứ tư trong bảy Con Đường (dù nay chúng ta được cho biết là còn có hai con đường khác). |
|
128. The human kingdom is, in a way, four times more elevated than the mineral kingdom, or, is separated by four kingdoms from the mineral kingdom (if both the mineral kingdom and the human kingdom are counted). |
128. Giới nhân loại, theo một cách nào đó, cao hơn giới kim thạch bốn lần, hoặc được phân cách với giới kim thạch bởi bốn giới (nếu cả giới kim thạch và giới nhân loại đều được tính). |
|
129. The phase of unfoldment which we call the utilization of the ‘human’ antahkarana, is, perhaps, four times less elevated than the dimensions comprised in treading the Path of the Higher Evolution. |
129. Giai đoạn khai mở mà chúng ta gọi là việc sử dụng antahkarana ‘nhân loại’, có lẽ thấp hơn bốn lần so với các chiều kích bao hàm trong việc bước đi trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. |
|
130. One thinks particularly of the Fourth Path—to Sirius—and the three Paths which are numerologically ‘lower’ than the Sirian Path: the Path of Earth Service (the first Path), the Path of Magnetic Work (the second Path), the Path of the Planetary Logoi (the third Path. When using such an analogy, the stage of building and utilizing the human antahkarana can be related to Earth Service—the mineral stage. The vegetable stage would be related to Magnetic Work (which makes sense when thinking of Venus, the vegetable kingdom and magnetism). The animal stage would be related to the Path of the Planetary Logoi (which again makes sense when considering, animation, locomotion and the third ray). The Logoi (just as are the zodiacal Constellational Logoi of the zodiac) are ‘Divine Animals’. |
130. Người ta đặc biệt nghĩ đến Con Đường thứ Tư—đến Sirius—và ba Con Đường xét theo số học là ‘thấp hơn’ Con Đường Sirius: Con Đường Phụng Sự Trái Đất (Con Đường thứ nhất), Con Đường của Công Việc Từ Tính (Con Đường thứ hai), Con Đường của các Hành Tinh Thượng đế (Con Đường thứ ba). Khi dùng một sự tương đồng như thế, giai đoạn kiến tạo và sử dụng antahkarana của nhân loại có thể được liên hệ với Phụng Sự Trái Đất—giai đoạn kim thạch. Giai đoạn thực vật sẽ được liên hệ với Công Việc Từ Tính (điều này hợp lý khi nghĩ đến Sao Kim, giới thực vật và từ điện). Giai đoạn động vật sẽ được liên hệ với Con Đường của các Hành Tinh Thượng đế (điều này cũng hợp lý khi xét đến sự linh hoạt hóa, sự vận động và cung ba). Các Thượng đế (cũng như các Thượng đế Chòm Sao hoàng đạo của hoàng đạo) là những ‘Động Vật Thiêng Liêng’. |
|
131. Continuing the correlation, we would find a correlation between the Life of Sirius and the Life of Humanity. |
131. Tiếp tục sự tương quan này, chúng ta sẽ thấy một tương quan giữa Sự Sống của Sirius và Sự Sống của Nhân loại. |
|
132. Of course, there are many ways to interpret this analogy. Suffice it to say that the stage of building and utilizing the human antahkarana is, relatively, still very material stage, analogous to the life of God entrapped in mineral form. |
132. Dĩ nhiên, có nhiều cách để diễn giải phép tương đồng này. Chỉ cần nói rằng giai đoạn xây dựng và sử dụng antahkarana của con người, xét một cách tương đối, vẫn còn là một giai đoạn rất vật chất, tương tự như sự sống của Thượng đế bị giam giữ trong hình tướng kim thạch. |
|
133. Just a the development of the mineral kingdom tends towards humanity, whose true place of expression is the buddhic plane (the fourth), so the higher antahkarana upon the Way of Higher Evolution, leads to a number of cosmic planes, the highest of which is the cosmic buddhic plane (the fourth cosmic plane). |
133. Cũng như sự phát triển của giới kim thạch có khuynh hướng tiến về nhân loại, mà vị trí biểu lộ đích thực của nhân loại là cõi Bồ đề, cõi thứ tư, thì antahkarana cao hơn trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu cũng dẫn đến một số cõi vũ trụ, cõi cao nhất trong đó là cõi Bồ đề vũ trụ, cõi vũ trụ thứ tư. |
|
134. The ideas presented above are meant to be suggestive only. Upon pondering, the reader will develop his or her own ideas. |
134. Những ý tưởng được trình bày ở trên chỉ nhằm gợi mở. Khi suy ngẫm, độc giả sẽ phát triển những ý tưởng riêng của mình. |
|
You can see, therefore, how significant is the coming Science of Comparison; not yet has this science of comparative analysis been turned into a definitely recognised line of approach to truth. The Law of Analogy is the key which unlocks the understanding. |
Do đó, các bạn có thể thấy Khoa học So sánh sắp đến có ý nghĩa biết bao; khoa học phân tích so sánh này vẫn chưa được biến thành một đường lối tiếp cận chân lý được thừa nhận rõ rệt. Định luật tương đồng là chìa khóa mở ra sự thấu hiểu. |
|
135. DK speaks of a new and coming science—the “Science of Comparison”. |
135. Chân sư DK nói về một khoa học mới và sắp đến, “Khoa học So sánh”. |
|
136. Throughout this instruction He has been giving us a picture of life which invites us to compare the various strata of expressing lives, and ourselves within that hierarchy. |
136. Xuyên suốt huấn thị này, Ngài đã trao cho chúng ta một bức tranh về sự sống, mời gọi chúng ta so sánh các tầng lớp khác nhau của những sự sống đang biểu lộ, và chính chúng ta trong thang bậc ấy. |
|
137. We may often think that we are to arrive at truth strictly through observation and investigation, or through the powers of reason. These are fifth ray and third ray methods and both are useful. Every ray has its method of arriving at truth. |
137. Chúng ta thường có thể nghĩ rằng mình phải đạt đến chân lý nghiêm ngặt qua quan sát và khảo cứu, hoặc qua các quyền năng của lý trí. Đây là những phương pháp của cung năm và cung ba, và cả hai đều hữu ích. Mỗi cung đều có phương pháp riêng để đạt đến chân lý. |
|
138. But DK is right—we have not yet fully developed the “science of comparative analysis” as a means of ascertaining truth. Those who can access the buddhic faculty, related as it is to the second and fourth ray, will have facility in this science. Again, all the rays (in their own ways) can contribute to the development of this science. |
138. Nhưng Chân sư DK nói đúng — chúng ta vẫn chưa phát triển đầy đủ “khoa học phân tích so sánh” như một phương tiện để xác định chân lý. Những ai có thể tiếp cận năng lực Bồ đề, vốn liên hệ với cung hai và cung bốn, sẽ có sự thành thạo trong khoa học này. Một lần nữa, tất cả các cung, theo những cách riêng của chúng, đều có thể đóng góp vào sự phát triển của khoa học này. |
|
139. Have we thought that if we develop a real facility with analogical thought, we are well on our way to revelation? |
139. Chúng ta đã từng nghĩ rằng nếu phát triển được một sự thành thạo thật sự trong tư tưởng tương đồng, thì chúng ta đang tiến rất xa trên đường đến sự mặc khải chăng? |
|
140. Real understanding comes from (or at least begins from) the buddhic plane, and analogy is the golden key to that plane. Both the Law of Analogy and the buddhic plane resonate to the number four. |
140. Sự thấu hiểu thật sự đến từ, hoặc ít nhất bắt đầu từ, cõi Bồ đề, và phép tương đồng là chiếc chìa khóa vàng mở vào cõi ấy. Cả Định luật tương đồng lẫn cõi Bồ đề đều cộng hưởng với con số bốn. |
|
141. Analogies are sometimes considered interesting and sometimes amusing. However their value in revealing truth is seldom understood. Shall we learn to think in this way? |
141. Các phép tương đồng đôi khi được xem là thú vị và đôi khi là vui thích. Tuy nhiên, giá trị của chúng trong việc mặc khải chân lý hiếm khi được thấu hiểu. Chúng ta sẽ học cách tư duy theo lối này chăng? |
|
Paragraph 5 |
Đoạn 5 |
|
E. Something of the quality and the revelatory power of the intuition is known by all disciples; it constitutes at times (from its very rarity) a major “spiritual excitement.” It produces effects and stimulation; it indicates future receptivity to dimly sensed truths and is allied—if you could but realise it—with the entire phenomena of prevision. |
E. Một phần nào phẩm tính và quyền năng mặc khải của trực giác được tất cả các đệ tử biết đến; đôi khi nó tạo thành, do chính sự hiếm hoi của nó, một “niềm kích động tinh thần” lớn lao. Nó tạo ra các hiệu quả và sự kích thích; nó chỉ ra khả năng tiếp nhận trong tương lai đối với những chân lý được cảm nhận lờ mờ, và nếu các bạn có thể nhận ra, nó liên minh với toàn bộ hiện tượng tiên kiến. |
|
142. A true intuition is a rare occurrence. In the first few pages of Glamour: A World Problem, DK describes the real nature of intuition, including all the things that it is not. This is definitely worth pondering. If take the hint, we will use the word “intuition” far less frequently than we do. |
142. Một trực giác chân thực là một sự kiện hiếm hoi. Trong vài trang đầu của Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới, Chân sư DK mô tả bản chất thật của trực giác, bao gồm tất cả những điều mà nó không phải là. Điều này chắc chắn đáng để suy ngẫm. Nếu nắm lấy gợi ý ấy, chúng ta sẽ dùng từ “trực giác” ít thường xuyên hơn rất nhiều so với hiện nay. |
|
“Intuition is the synthetic understanding which is the prerogative of the soul and it only becomes possible when the soul, on its own level, is reaching in two directions: towards the Monad, and towards the integrated and, perhaps (even if only temporarily) coordinated and at-oned personality. It is the first indication of a deeply subjective unification which will find its consummation at the third initiation. |
“Trực giác là sự thấu hiểu tổng hợp, vốn là đặc quyền của linh hồn, và nó chỉ trở nên khả hữu khi linh hồn, trên cấp độ riêng của nó, đang vươn tới hai hướng: hướng về chân thần, và hướng về phàm ngã đã tích hợp và, có lẽ, dù chỉ tạm thời, đã được phối hợp và hợp nhất. Đó là chỉ dấu đầu tiên của một sự hợp nhất nội tại sâu xa, sẽ đạt đến viên mãn trong lần điểm đạo thứ ba. |
|
Intuition is a comprehensive grip of the principle of universality, and when it is functioning there is, momentarily at least, a complete loss of the sense of separateness. At its highest point, it is known as that Universal Love which has no relation to sentiment or to the affectional reaction but is, predominantly, in the nature of an identification with all beings. Then is true compassion known; then does criticism become impossible; then, only, is the divine germ seen as latent in all forms. |
Trực giác là sự nắm bắt toàn diện nguyên khí phổ quát, và khi nó hoạt động thì, ít nhất trong khoảnh khắc, có sự mất hẳn cảm thức chia rẽ. Ở điểm cao nhất của nó, nó được biết đến như Tình Thương Phổ Quát, vốn không liên quan đến tình cảm hay phản ứng ái cảm, mà chủ yếu thuộc bản chất của sự đồng hoá với mọi hữu thể. Khi ấy lòng từ bi chân thật được biết đến; khi ấy sự phê phán trở nên bất khả; và chỉ khi ấy, mầm thiêng liêng mới được thấy như đang tiềm tàng trong mọi hình tướng. |
|
Intuition is light itself, and when it is functioning, the world is seen as light and the light bodies of all forms become gradually apparent. This brings with it the ability to contact the light centre in all forms, and thus again an essential relationship is established and the sense of superiority and separateness recedes into the background.” (GWP 2-3) |
Trực giác chính là ánh sáng, và khi nó hoạt động, thế giới được thấy như ánh sáng, và các thể ánh sáng của mọi hình tướng dần dần trở nên hiển nhiên. Điều này đem theo khả năng tiếp xúc với trung tâm ánh sáng trong mọi hình tướng, và nhờ đó một lần nữa một mối liên hệ cốt yếu được thiết lập, còn cảm thức ưu việt và chia rẽ thì lùi vào hậu cảnh.” (Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới 2-3) |
|
143. Real or true intuition is a “major spiritual excitement”. It is so, because a real intuitive impact is rare. The shock it carries comes from the World of Ideas (the buddhic plane—which is the really the lowest of the Worlds of Ideas). The monadic plane is a higher World of Ideas. |
143. Trực giác thật sự hay chân thực là một “niềm kích động tinh thần lớn lao”. Nó là như vậy, vì một tác động trực giác thật sự thì hiếm hoi. Cú chấn động mà nó mang theo đến từ Thế giới của Ý tưởng, tức cõi Bồ đề, thật ra là cõi thấp nhất trong các Thế giới của Ý tưởng. Cõi chân thần là một Thế giới của Ý tưởng cao hơn. |
|
144. Probably, the lives of many of us are largely unstirred by very high spiritual currents. The life of the soul is high indeed compared to the ordinary state of personality consciousness, and even the soul fails to ‘get through’ continuously in the lives of many of us. (This is not the fault of the Solar Angel—obviously!) Thus, when the life of the spiritual triad intrudes itself into the relatively soul-infused personal consciousness, this beneficent intrusion represents a spiritual happening of unusual proportion. |
144. Có lẽ đời sống của nhiều người trong chúng ta phần lớn không được khuấy động bởi những dòng lưu tinh thần rất cao. Sự sống của linh hồn quả thật cao hơn nhiều so với trạng thái thông thường của tâm thức phàm ngã, và ngay cả linh hồn cũng không liên tục ‘xuyên thấu’ được vào đời sống của nhiều người trong chúng ta. Hiển nhiên, đây không phải là lỗi của Thái dương Thiên Thần! Vì vậy, khi sự sống của Tam Nguyên Tinh Thần xâm nhập vào tâm thức cá nhân tương đối được linh hồn thấm nhuần, thì sự xâm nhập lành thiện này biểu thị một biến cố tinh thần có tầm vóc khác thường. |
|
145. When intuition does strike, the following occurs, we are told: |
145. Khi trực giác thật sự giáng xuống, chúng ta được cho biết rằng những điều sau xảy ra: |
|
a. It produces effects of stimulation |
a. Nó tạo ra các hiệu quả kích thích |
|
b. It indicates future receptivity to dimly sensed truths |
b. Nó chỉ ra khả năng tiếp nhận trong tương lai đối với những chân lý được cảm nhận lờ mờ |
|
c. It represents an alliance with the “entire phenomenon of prevision” |
c. Nó biểu thị một sự liên minh với “toàn bộ hiện tượng tiên kiến” |
|
146. The intuition is both the key to the future and to an apprehension of the wholeness of the Whole. |
146. Trực giác vừa là chìa khóa mở vào tương lai, vừa là chìa khóa đưa đến sự lĩnh hội tính toàn vẹn của Toàn Thể. |
|
147. It must be clear that to pursue the Science of Analogy or the Science of Comparison is to cultivate the intuition. |
147. Hẳn phải rõ rằng theo đuổi Khoa học Tương đồng hay Khoa học So sánh chính là vun bồi trực giác. |
|
148. That which is ‘descending’, is that which exists archetypally and is “meant to be” is “on its way”. The intuition can apprehend the invisible and yet descending patterns. |
148. Điều đang ‘giáng xuống’ là điều hiện hữu theo nguyên mẫu và “được định là sẽ có”, đang “trên đường đến”. Trực giác có thể lĩnh hội những mô hình vô hình nhưng đang giáng xuống. |
|
149. We remember that the Eternal Now is perceived through buddhi, and the buddhic faculty entails the intuition. That which will be and that which has been is perceived by the intuition within the Now. Words will fail to describe this state of apprehension as words are based upon space/time concepts. Only a growing experience with the intuition will reveal the truth or falsity of such statements. |
149. Chúng ta nhớ rằng Hiện Tại Vĩnh Cửu được nhận thức qua Bồ đề, và năng lực Bồ đề bao hàm trực giác. Điều sẽ là và điều đã là đều được trực giác nhận thức trong Hiện Tại. Ngôn từ sẽ bất lực trong việc mô tả trạng thái lĩnh hội này, vì ngôn từ dựa trên các quan niệm không gian và thời gian. Chỉ kinh nghiệm ngày càng tăng với trực giác mới mặc khải được chân lý hay sự sai lầm của những phát biểu như thế. |
|
150. We want to know how to cultivate this intuition, because it represents the next spiritual step forward for many disciples. The true initiate is already initiated into a domain where the intuition prevails. |
150. Chúng ta muốn biết cách vun bồi trực giác này, vì nó biểu thị bước tiến tinh thần kế tiếp đối với nhiều đệ tử. Điểm đạo đồ chân chính đã được điểm đạo vào một lĩnh vực nơi trực giác chiếm ưu thế. |
|
A registration of some aspect of intuitional understanding is an event of major importance in the life of the disciple who is beginning to tread the Path to the Hierarchy. |
Sự ghi nhận một phương diện nào đó của sự thấu hiểu trực giác là một biến cố có tầm quan trọng lớn lao trong đời sống của đệ tử đang bắt đầu bước đi trên Đường Đạo hướng đến Thánh Đoàn. |
|
151. The intuition leads, as well, into Hierarchy, the major state of consciousness of which is buddhic. |
151. Trực giác cũng dẫn vào Thánh Đoàn, mà trạng thái tâm thức chủ yếu của Thánh Đoàn là Bồ đề. |
|
152. What is it that confirms that we are treading the correct path? Books alone will not offer confirmation. Neither will reasoning and mere belief. |
152. Điều gì xác nhận rằng chúng ta đang bước đi trên con đường đúng? Chỉ sách vở sẽ không đem lại sự xác nhận. Lý luận và niềm tin đơn thuần cũng vậy. |
|
153. True intuition speaks with certainty. There is no arguing with a true intuition. The usual mind is darkened by comparison, and reason, per se, a slow and relatively ineffective tool. |
153. Trực giác chân thật nói bằng sự chắc chắn. Không thể tranh luận với một trực giác chân thật. Thể trí thông thường trở nên tối mờ khi so sánh, và chính lý trí là một công cụ chậm chạp và tương đối kém hiệu quả. |
|
It provides testimony, which he can recognise, of the existence of knowledges, wisdom and significances of which the intelligentsia of humanity are not yet aware; |
Nó đem lại cho y chứng cứ mà y có thể nhận ra về sự hiện hữu của những tri thức, minh triết và thâm nghĩa mà giới trí thức của nhân loại vẫn chưa ý thức được; |
|
154. The “intelligentsia” depend upon the use of the mind—both concrete and relatively abstract. The true intuition is still largely sealed from them |
154. “Giới trí thức” dựa vào việc sử dụng thể trí, cả trí cụ thể lẫn trí tương đối trừu tượng. Trực giác chân thật phần lớn vẫn còn bị phong kín đối với họ |
|
155. Humanity in the Aryan race is developing the intelligence. |
155. Nhân loại trong giống dân Arya đang phát triển trí tuệ. |
|
156. Those who are cultivating the intuition are doing now what the next root race will do as a matter of course. True intuitives are ahead of their time. |
156. Những ai đang vun bồi trực giác thì hiện nay đang làm điều mà giống dân gốc kế tiếp sẽ làm như một điều đương nhiên. Những người trực giác chân thật đi trước thời đại của họ. |
|
157. The intelligence per se does not suspect certain “knowledges, wisdom and significances”. The intuition is revelatory and reveals the unsuspected. |
157. Chính trí tuệ không ngờ tới một số “tri thức, minh triết và thâm nghĩa” nhất định. Trực giác có tính mặc khải và mặc khải điều chưa từng được ngờ tới. |
|
it guarantees to him the unfolding possibility of his own higher nature, a realisation of his divine connections and the possibility of his ultimate highest spiritual attainment; |
nó bảo đảm cho y khả năng đang khai mở của bản chất cao siêu nơi chính y, sự chứng nghiệm về các mối liên hệ thiêng liêng của y và khả năng thành tựu tinh thần tối cao sau cùng của y; |
|
158. We can see how heartening will be a true stroke of the intuition! Man can lose faith along the ‘way’; but faith can summon the intuition and confirm the reality of that which was almost blindly followed. |
158. Chúng ta có thể thấy một cú chạm trực giác chân thật sẽ nâng đỡ tinh thần biết bao! Con người có thể đánh mất đức tin trên ‘đường’; nhưng đức tin có thể triệu gọi trực giác và xác nhận thực tại của điều đã được theo đuổi gần như trong mù lòa. |
|
159. We can see that the intuition is a linking function, ‘touching’ as it were the higher connections and the higher dimensions. |
159. Chúng ta có thể thấy rằng trực giác là một chức năng liên kết, như thể ‘chạm’ vào các mối liên hệ cao hơn và các chiều kích cao hơn. |
|
160. Intuition is proof, far more than marshaled reasons and arguments, which must always remain tentative though, perhaps, convincing. That which the intuition reveals is truly known. Doubt cannot assail a true intuition. Master M. calls this “straight knowledge”. |
160. Trực giác là bằng chứng, hơn xa các lý lẽ và lập luận được sắp đặt, vốn luôn phải còn tính tạm thời dù có thể thuyết phục. Điều mà trực giác mặc khải thì thật sự được biết. Sự hoài nghi không thể tấn công một trực giác chân thật. Chân sư M. gọi điều này là “tri thức trực tiếp”. |
|
it steadily supersedes soul knowledge, and the energy pouring in to his consciousness [Page 132] from the Spiritual Triad—particularly the energy of the sixth and seventh spheres of activity—is the specific and particular energy which finally brings about the destruction of the causal body, the annihilation of the Temple of Solomon, and the liberation of the Life. |
nó dần dần thay thế tri thức linh hồn, và năng lượng tuôn vào tâm thức của y [Page 132] từ Tam Nguyên Tinh Thần, đặc biệt là năng lượng của các khối cầu hoạt động thứ sáu và thứ bảy, là năng lượng đặc thù và riêng biệt cuối cùng đem lại sự hủy diệt thể nguyên nhân, sự tiêu hủy Đền Solomon, và sự giải thoát của Sự Sống. |
|
161. Soul knowledge is contrasted with the intuition. |
161. Tri thức linh hồn được đặt tương phản với trực giác. |
|
162. One type of soul knowledge is that which emanates from the causal body and is the sumtotal of ‘personal wisdom’ gathered through many lives. Such knowledge, though transpersonal, is still personally derived. |
162. Một loại tri thức linh hồn là tri thức phát xuất từ thể nguyên nhân và là tổng số của ‘minh triết cá nhân’ được thu thập qua nhiều kiếp sống. Tri thức như thế, dù siêu cá nhân, vẫn có nguồn gốc cá nhân. |
|
163. The spiritual triad consists of the fifth, sixth and seventh spheres of activity. We have been talking particularly of the sixth and seventh spheres, related to the sixth and seventh kingdoms. |
163. Tam Nguyên Tinh Thần gồm các khối cầu hoạt động thứ năm, thứ sáu và thứ bảy. Chúng ta đã đặc biệt nói về các khối cầu thứ sáu và thứ bảy, liên hệ với các giới thứ sáu và thứ bảy. |
|
164. The energy of these spheres is planetary, and impersonal. This is not the case with “soul knowledge” (considering such knowledge as emanating from man-as-soul). |
164. Năng lượng của các khối cầu này có tính hành tinh, và phi cá nhân. Điều này không đúng với “tri thức linh hồn”, nếu xem tri thức ấy như phát xuất từ con người với tư cách linh hồn. |
|
165. Of course the knowledge conveyed by the Solar Angel is not strictly speaking the knowledge of the causal body. It carries the energy of the spiritual triad and beyond. So we must discriminate carefully. The energy of the Fifth Creative Hierarchy comprises all that man can possibly be at this time, and is certainly not limited to the sphere of expression we call the higher mental plane. The Solar Angel is a transcendent being endowed with all those energies and states of consciousness that man will find in the highest dimensions of his own nature. |
165. Dĩ nhiên, tri thức do Thái dương Thiên Thần truyền đạt, nói một cách nghiêm ngặt, không phải là tri thức của thể nguyên nhân. Nó mang năng lượng của Tam Nguyên Tinh Thần và xa hơn nữa. Vì vậy chúng ta phải phân biện cẩn thận. Năng lượng của Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm bao hàm tất cả những gì con người có thể là vào lúc này, và chắc chắn không bị giới hạn trong khối cầu biểu lộ mà chúng ta gọi là Cõi thượng trí. Thái dương Thiên Thần là một hữu thể siêu việt, được phú cho tất cả những năng lượng và trạng thái tâm thức mà con người sẽ tìm thấy trong các chiều kích cao nhất của bản chất chính mình. |
|
166. Yet, when it comes to the Solar Angel’s supervision of the human being, the emphasis is definitely upon Love-Wisdom (for these solar beings are “Hearts of Fiery Love” regardless of the ray upon which they express). |
166. Tuy nhiên, khi nói đến sự giám sát của Thái dương Thiên Thần đối với con người, trọng tâm chắc chắn đặt trên Bác Ái – Minh Triết, vì các hữu thể thái dương này là “Những Trái Tim của Tình Thương Rực Lửa”, bất kể cung mà các Ngài biểu lộ trên đó. |
|
167. DK tells us that the energy of buddhi and of atma ultimately bring about the destruction of the causal body. In other words, nourishment by the “sixth” and “seventh” contribute to the release of consciousness from the shroud of the soul, and the liberation of human consciousness into the spiritual triad. |
167. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng năng lượng của Bồ đề và của atma rốt cuộc đem lại sự hủy diệt thể nguyên nhân. Nói cách khác, sự nuôi dưỡng bởi “thứ sáu” và “thứ bảy” góp phần giải phóng tâm thức khỏi tấm liệm của linh hồn, và giải thoát tâm thức con người vào Tam Nguyên Tinh Thần. |
|
168. We might say that the love aspect of the divine will is particularly related to the destruction of the causal body. Perhaps the destruction of the petals of the egoic lotus is closely related to the energy of buddhi, and the destruction of the jewel in the lotus to atma. The correspondences would be fitting. |
168. Chúng ta có thể nói rằng phương diện bác ái của Ý Chí thiêng liêng đặc biệt liên hệ với sự hủy diệt thể nguyên nhân. Có lẽ sự hủy diệt các cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã liên hệ mật thiết với năng lượng của Bồ đề, và sự hủy diệt viên ngọc trong hoa sen liên hệ với atma. Những tương ứng ấy sẽ rất thích hợp. |
|
169. The effect then, of the entry of the sixth and seventh “spheres” into activity and consciousness of the human being is the “liberation of Life”. The kingdoms corresponding to these spheres (the sixth and seventh) are kingdoms which promote to the final liberation of man-as-man. |
169. Vậy, hiệu quả của sự đi vào hoạt động và tâm thức của con người bởi các “khối cầu” thứ sáu và thứ bảy là “sự giải thoát của Sự Sống”. Các giới tương ứng với những khối cầu này, tức thứ sáu và thứ bảy, là những giới thúc đẩy sự giải thoát sau cùng của con người với tư cách con người. |
|
170. In this connection, let us think about how pure love and pure will (as pure as unliberated humanity can experience) can contribute to the destruction of the Temple of Solomon. |
170. Trong mối liên hệ này, chúng ta hãy suy nghĩ về cách tình thương thuần khiết và ý chí thuần khiết, thuần khiết đến mức nhân loại chưa giải thoát có thể kinh nghiệm, có thể góp phần vào sự hủy diệt Đền Solomon. |
|
171. We have only to think of the power of the Greater Love (the Intended Pattern of Pure Reason) to magnetically re-arrange the life of the individual. The pattern built over the ages is magnetically disassembled so that the Pattern in the Heavens (buddhic) may be. |
171. Chúng ta chỉ cần nghĩ đến quyền năng của Tình Thương Vĩ Đại, Mô Hình Được Dự Định của Lý Trí Thuần Khiết, trong việc tái sắp xếp đời sống của cá nhân bằng từ tính. Mô hình được xây dựng qua các thời đại được tháo rời bằng từ tính để Mô Hình trên các Cõi Trời, tức Bồ đề, có thể hiện hữu. |
|
172. As for spiritual will, we have only to think of the power to be wrought in the individual and group life by the mantram, “Not my will, Father, but thine be done”. If we followed this directive, our lives as we know them would dis-integrate and then reintegrate according to a pattern based on Divine Purpose. |
172. Về ý chí tinh thần, chúng ta chỉ cần nghĩ đến quyền năng sẽ được tạo tác trong đời sống cá nhân và đời sống nhóm bởi mantram: “Không phải ý chí của con, thưa Cha, mà là ý chí của Cha được thành tựu”. Nếu chúng ta noi theo chỉ thị này, đời sống của chúng ta như chúng ta biết sẽ tan rã rồi tái tích hợp theo một mô hình dựa trên Thiên Ý. |
|
Paragraph 6 |
Đoạn 6 |
|
E. Then that which in time and space has been termed the soul can “onward move in life.” Evolution as we now understand it ceases; yet evolutionary unfoldment proceeds along new lines which are based upon the past but which produce very different results to those sensed even by the advanced disciple in his highest moments. |
E. Bấy giờ, điều mà trong thời gian và không gian đã được gọi là linh hồn có thể “tiến tới trong sự sống.” Tiến hoá như hiện nay chúng ta thấu hiểu sẽ chấm dứt; tuy nhiên sự khai mở thăng thượng tiến hoá vẫn tiếp diễn theo những đường lối mới, dựa trên quá khứ nhưng tạo ra những kết quả rất khác với những gì ngay cả đệ tử tiến bộ cảm nhận được trong những khoảnh khắc cao nhất của y. |
|
170. The Tibetan is careful about defining the soul. He implies that that which we think of when we think of soul, is not soul as it really is, but is limited by our time-space conceptions. |
170. Chân sư Tây Tạng rất cẩn trọng khi định nghĩa linh hồn. Ngài hàm ý rằng điều chúng ta nghĩ đến khi nghĩ về linh hồn không phải là linh hồn như nó thật sự là, mà bị giới hạn bởi các quan niệm thời gian và không gian của chúng ta. |
|
171. Limited as we are by the brain and circumstance, we cannot entirely grasp the nature of the higher planes whereon the soul lives the life unshrouded. |
171. Bị giới hạn bởi bộ não và hoàn cảnh như chúng ta đang là, chúng ta không thể hoàn toàn nắm bắt bản chất của các cõi cao hơn, nơi linh hồn sống đời sống không còn bị che phủ. |
|
172. The unshrouded soul is triadal life—really an extension of the monad, unhampered by causal conditions—i.e., the conditions of the causal body. |
172. Linh hồn không còn bị che phủ là sự sống tam nguyên tinh thần, thật ra là một sự mở rộng của chân thần, không bị các điều kiện nguyên nhân cản trở, tức các điều kiện của thể nguyên nhân. |
|
173. When there occurs the destruction of the “Temple of Solomon” the unshrouded soul is ready to move onward “in life”. This means that the soul moves by means of intensification through identification. The soul (the relatively freed consciousness) intensifies its livingness through identifications with ever deeper levels of reality. |
173. Khi sự hủy diệt “Đền Solomon” xảy ra, linh hồn không còn bị che phủ đã sẵn sàng tiến tới “trong sự sống”. Điều này có nghĩa là linh hồn chuyển động bằng phương tiện tăng cường qua sự đồng hoá. Linh hồn, tức tâm thức tương đối được giải phóng, tăng cường sức sống của mình qua những sự đồng hoá với các cấp độ thực tại ngày càng sâu hơn. |
|
174. Even the “advanced disciple” cannot conceive this new type of progress, so different from the process of ordinary evolution—not even in his every highest moments. |
174. Ngay cả “đệ tử tiến bộ” cũng không thể hình dung loại tiến bộ mới này, rất khác với tiến trình tiến hoá thông thường, ngay cả trong những khoảnh khắc cao nhất của y. |
|
175. Who is the “advanced disciple”? Probably, in this case, the initiate of the second degree, not yet consciously in touch with the monad. Conscious monadic contact would confer the ability to sense the meaning of onward moving in life, for the monad is, essentially, life. |
175. “Đệ tử tiến bộ” là ai? Có lẽ, trong trường hợp này, đó là điểm đạo đồ cấp hai, chưa tiếp xúc một cách hữu thức với chân thần. Sự tiếp xúc chân thần hữu thức sẽ ban cho khả năng cảm nhận ý nghĩa của việc tiến tới trong sự sống, vì chân thần, về bản chất, là sự sống. |
|
A new life-expression appears which moves onward freed from all form yet subject still to limitations “within the circle of influence of the greater Life,” but not limited by life within the many forms which progress, surrounded by that circle, that divine ring-pass-not. |
Một biểu lộ-sự sống mới xuất hiện, tiến tới, được giải phóng khỏi mọi hình tướng, tuy vẫn còn chịu những giới hạn “trong vòng ảnh hưởng của Sự Sống lớn hơn”, nhưng không bị giới hạn bởi sự sống trong nhiều hình tướng đang tiến bộ, được bao quanh bởi vòng ấy, vòng-giới-hạn thiêng liêng ấy. |
|
176. The form of the causal body is not the only kind of limitation. Philosophically considered, the Universe, itself, is limitation. So while there is existence, limitation will never be transcended. |
176. Hình tướng của thể nguyên nhân không phải là loại giới hạn duy nhất. Xét theo triết học, chính Vũ trụ là giới hạn. Vì vậy, bao lâu còn có hiện hữu, giới hạn sẽ không bao giờ được vượt qua hoàn toàn. |
|
177. To the liberated, unshrouded soul, “a new life-expression appears”. That (i.e., the new expression) moves freely forward (relatively freely, at least). It is a freedom from all form, yet there are subtler forms, also, which we do not usually call form. |
177. Đối với linh hồn được giải thoát, không còn bị che phủ, “một biểu lộ-sự sống mới xuất hiện”. Điều đó, tức biểu lộ mới ấy, tiến về phía trước một cách tự do, ít nhất là tương đối tự do. Đó là sự tự do khỏi mọi hình tướng, tuy cũng có những hình tướng vi tế hơn mà chúng ta thường không gọi là hình tướng. |
|
178. A limitation still sensed by the liberated soul is the limitation of “the circle of influence of the greater Life”. In this case that “greater Life” is the Planetary Logos, for the initiate of the fourth degree cannot yet transcend the planetary sphere. |
178. Một giới hạn vẫn được linh hồn giải thoát cảm nhận là giới hạn của “vòng ảnh hưởng của Sự Sống lớn hơn”. Trong trường hợp này, “Sự Sống lớn hơn” ấy là Hành Tinh Thượng đế, vì điểm đạo đồ cấp bốn vẫn chưa thể vượt khỏi khối cầu hành tinh. |
|
179. The great ring-pass-not of the Planetary Logos is still a limitation, but the many lives which express through gross form, i.e., through the forms within the three worlds of evolution which so limit the average human being, do not pose a limitation to the newly liberated soul. |
179. Vòng-giới-hạn vĩ đại của Hành Tinh Thượng đế vẫn còn là một giới hạn, nhưng nhiều sự sống biểu lộ qua hình tướng thô trọng, tức qua các hình tướng trong ba cõi giới tiến hoá vốn giới hạn con người trung bình đến thế, lại không tạo thành giới hạn đối với linh hồn vừa được giải thoát. |
|
180. So the movement onward in life occurs through the process of intensification rather than strictly through expansion. However, if intensification of livingness occurs, it automatically comprises expansion. |
180. Vì vậy, sự chuyển động tiến tới trong sự sống diễn ra qua tiến trình tăng cường hơn là nghiêm ngặt qua mở rộng. Tuy nhiên, nếu sự tăng cường sức sống xảy ra, nó tự động bao hàm sự mở rộng. |
|
There is still the broad confining sweep of the purpose and the life-intent of the planetary Logos, but within that periphery and sphere of activity the Triads move with perfect freedom. |
Vẫn còn phạm vi bao quát rộng lớn nhưng giới hạn của mục đích và ý định-sự sống của Hành Tinh Thượng đế, nhưng bên trong chu vi và khối cầu hoạt động ấy, các Tam nguyên tinh thần chuyển động với sự tự do hoàn hảo. |
|
181. We note that the Tibetan calls liberated fourth degree initiates by the name, “Triads”. |
181. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư Tây Tạng gọi các điểm đạo đồ cấp bốn đã giải thoát bằng danh xưng “Các Tam nguyên tinh thần”. |
|
182. The fourth degree initiate is a member of the fifth kingdom, the Kingdom of Souls. |
182. Điểm đạo đồ bậc thứ tư là một thành viên của giới thứ năm, Giới Linh Hồn. |
|
183. Although such a being is a “Triad” (because focussed predominately upon the levels of the spiritual triad), it is not yet an “overshadowing Triad”—the name given to the members of the sixth kingdom of nature (Planetary Lives). |
183. Mặc dù một hữu thể như thế là một “Tam nguyên tinh thần” vì tập trung chủ yếu trên các cấp độ của Tam nguyên tinh thần, y chưa phải là một “Tam nguyên tinh thần phủ bóng”—danh xưng dành cho các thành viên của giới thứ sáu trong thiên nhiên, tức Các Sự Sống Hành tinh. |
|
184. The point to all this is that the destruction of the Temple of Solomon represents liberation from the strictly human kingdom, the fourth, and full entry into the fifth kingdom (and eventually the sixth and seventh). This destruction does not represent liberation from the Fourth Creative Hierarchy. This is an important distinction. |
184. Điểm cốt yếu của tất cả điều này là sự phá hủy Đền Solomon tượng trưng cho sự giải thoát khỏi giới nhân loại thuần túy, tức giới thứ tư, và sự bước vào trọn vẹn giới thứ năm, rồi cuối cùng là giới thứ sáu và thứ bảy. Sự phá hủy này không tượng trưng cho sự giải thoát khỏi Huyền Giai Sáng Tạo thứ Tư. Đây là một phân biệt quan trọng. |
|
Their onward push towards the higher states of Being is carried out in conformity with the life urge of the One in Whom they live and move and have their being. |
Sự thúc đẩy tiến lên của các Ngài hướng tới những trạng thái Bản Thể cao hơn được thực hiện phù hợp với thôi thúc sự sống của Đấng mà trong Ngài các Ngài sống, vận động và có sự hiện tồn của mình. |
|
185. That which “onward moves in life” is engaged in an “onward push towards the higher states of Being”. It is not a random and undirected push. It is still subject to the Will of the One in Whom the initiate lives and moves and has his being—the Planetary Logos. |
185. Điều “tiến lên trong sự sống” đang tham dự vào một “sự thúc đẩy tiến lên hướng tới những trạng thái Bản Thể cao hơn”. Đó không phải là một thúc đẩy ngẫu nhiên và vô định hướng. Nó vẫn chịu sự chi phối của Ý Chí của Đấng mà trong Ngài điểm đạo đồ sống, vận động và có sự hiện tồn của y—Đức Hành Tinh Thượng đế. |
|
186. Even the Master of the Wisdom must conform to Planetary Purpose, though the initiates of the sixth degree and beyond, may orient themselves towards still greater purposes. |
186. Ngay cả Chân sư Minh Triết cũng phải tuân theo Thiên Ý Hành Tinh, dù các điểm đạo đồ bậc sáu và cao hơn có thể định hướng chính mình về những mục đích còn lớn lao hơn nữa. |
|
You will note, therefore, that these words in reality cover or deal with life processes and not with form building or the experience in forms, as usually understood. |
Do đó, bạn sẽ lưu ý rằng những lời này thật ra bao hàm hoặc đề cập đến các tiến trình sự sống, chứ không phải việc kiến tạo hình tướng hay kinh nghiệm trong các hình tướng, như thường được hiểu. |
|
187. “Life processes” are distinguished from “form building” and “experiences in form”. We are dealing here with the abstract worlds of the spiritual triad with which most of us have very little experience if any. |
187. “Các tiến trình sự sống” được phân biệt với “việc kiến tạo hình tướng” và “các kinh nghiệm trong hình tướng”. Ở đây chúng ta đang đề cập đến các thế giới trừu tượng của Tam nguyên tinh thần, những thế giới mà hầu hết chúng ta có rất ít kinh nghiệm, nếu có. |
|
188. DK labors to have us understand the difference between life and form, between will and love, between the first ray and the second, between freedom and magnetic bondage. |
188. Chân sư DK nỗ lực giúp chúng ta thấu hiểu sự khác biệt giữa sự sống và hình tướng, giữa ý chí và tình thương, giữa cung một và cung hai, giữa tự do và sự ràng buộc từ tính. |
|
189. Throughout our human experience, we have been very much creatures of form. Even if liberated from the physical body, we have not necessarily been liberated from the worlds of form—astral and mental. |
189. Suốt kinh nghiệm nhân loại của mình, chúng ta đã phần lớn là những tạo vật của hình tướng. Ngay cả khi được giải thoát khỏi thể xác, chúng ta cũng chưa nhất thiết được giải thoát khỏi các thế giới của hình tướng—cảm dục và trí tuệ. |
|
190. The reach of this great book, The Rays and the Initiations, however, takes us far beyond the customary, and into realms which the will reveals. |
190. Tầm với của quyển sách vĩ đại này, Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo, tuy nhiên, đưa chúng ta vượt xa điều thông thường, và đi vào những cảnh giới mà ý chí mặc khải. |
|
A consideration of these at present inaccessible truths may serve to inspire your minds, evoke your intuition and give you vision and increased spiritual perception. |
Việc suy xét những chân lý hiện nay còn chưa thể tiếp cận này có thể giúp khơi nguồn cảm hứng cho thể trí của các bạn, gợi lên trực giác của các bạn, và ban cho các bạn tầm nhìn cùng sự tri giác tinh thần gia tăng. |
|
191. DK writes with purpose. |
191. Chân sư DK viết với mục đích. |
|
192. The truths presented are presently inaccessible to us, but will not always be so. The sooner we become inspired and act on that inspiration, the sooner will come the revelation of truth, and the formerly inaccessible will become the presently accessible. |
192. Những chân lý được trình bày hiện nay còn chưa thể tiếp cận đối với chúng ta, nhưng sẽ không mãi như vậy. Chúng ta càng sớm được khơi nguồn cảm hứng và hành động theo cảm hứng ấy, thì sự mặc khải chân lý càng sớm đến, và điều trước kia không thể tiếp cận sẽ trở thành điều hiện nay có thể tiếp cận. |
|
193. His purpose has been to |
193. Mục đích của Ngài là |
|
a. Inspire our minds |
a. Khơi nguồn cảm hứng cho thể trí của chúng ta |
|
b. To evoke our intuition |
b. Gợi lên trực giác của chúng ta |
|
c. To give us vision and increased spiritual perception |
c. Ban cho chúng ta tầm nhìn và sự tri giác tinh thần gia tăng |
|
194. Reading His words (and through participation in the energy of His thought), we may think of ourselves as, temporarily, merged in the fifth and nourished by the sixth and seventh which He either expresses or represents. |
194. Khi đọc lời của Ngài, và qua việc tham dự vào năng lượng tư tưởng của Ngài, chúng ta có thể nghĩ về chính mình như tạm thời được hòa nhập trong giới thứ năm và được nuôi dưỡng bởi giới thứ sáu và thứ bảy, là những gì Ngài hoặc biểu hiện hoặc đại diện. |
|
195. We are ever reaching beyond ourselves—not in some vain spiritual quest, but to bring the future into being. |
195. Chúng ta luôn vươn vượt khỏi chính mình—không phải trong một cuộc tìm kiếm tinh thần phù phiếm nào đó, mà để đưa tương lai vào hiện hữu. |
|
196. With inadequate equipment we reach into the unknown, knowing that our adequacy will increase and the truth will be ours if we but persist. |
196. Với trang bị chưa đầy đủ, chúng ta vươn vào điều chưa biết, vì biết rằng sự đầy đủ của mình sẽ gia tăng và chân lý sẽ thuộc về chúng ta nếu chúng ta chỉ cần kiên trì. |
|
197. If the Master should succeed in inspiring us, He has done much. |
197. Nếu Chân sư thành công trong việc khơi nguồn cảm hứng cho chúng ta, Ngài đã làm được nhiều điều. |
|
With Love and Many Blessings to all, |
Với Tình Thương và Nhiều Phúc Lành đến tất cả, |
|
Michael (and Stefan) |
Michael và Stefan |
|
Part V of V |
Phần V của V |
|
Focus for the Sixth Month of Study |
Trọng tâm cho Tháng Học Tập Thứ Sáu |
|
The two correlated Rules Six as a Whole |
Hai Quy luật Sáu tương ứng xét như một toàn thể |
|
Rule(s) VI |
Quy luật VI |
|
TWO Rules in Full: Synthetic Commentary |
HAI Quy luật đầy đủ: Bình luận Tổng hợp |
|
Dear Friends, |
Các bạn thân mến, |
|
As in past times, this synthetic commentary will have a slightly different tone—more in the line of counsels and directives. Much of what could be said along a more analytical and academic line has been said, therefore the possible value of this different, twice-yearly approach. |
Như những lần trước, bài bình luận tổng hợp này sẽ có một âm điệu hơi khác—thiên nhiều hơn về các lời khuyên và chỉ thị. Phần lớn những gì có thể được nói theo hướng phân tích và học thuật hơn đã được nói rồi, do đó có thể có giá trị trong cách tiếp cận khác biệt, mỗi năm hai lần này. |
|
Rule VI for Applicants |
Quy luật VI dành cho Ứng viên |
|
A. For Applicants: The purificatory fires burn dim and low when the third is sacrificed to the fourth. Therefore let the disciple refrain from taking life and let him nourish that which is lowest with the produce of the second. |
A. Dành cho Ứng viên: Các ngọn lửa thanh luyện cháy mờ và thấp khi giới thứ ba được hiến tế cho giới thứ tư. Do đó, hãy để đệ tử tránh sát sinh và hãy để y nuôi dưỡng điều thấp nhất bằng sản vật của giới thứ hai. |
|
Points to Consider in Relation to the Above Section |
Những điểm cần suy xét liên quan đến phần trên |
|
1. Purity means strength of contact with the higher energies, but we have to expand our conception of purity. It must apply to each of the personality vehicles and to the personality as a whole. |
1. Sự thanh khiết có nghĩa là sức mạnh tiếp xúc với các năng lượng cao hơn, nhưng chúng ta phải mở rộng quan niệm của mình về sự thanh khiết. Nó phải áp dụng cho từng vận cụ của phàm ngã và cho phàm ngã như một toàn thể. |
|
2. We are attempting to become truly living, vibratorily response beings. This means we must resonate to the vibratory levels of the higher worlds. |
2. Chúng ta đang nỗ lực trở thành những hữu thể thật sự sống động, đáp ứng về mặt rung động. Điều này có nghĩa là chúng ta phải cộng hưởng với các cấp độ rung động của những thế giới cao hơn. |
|
3. We are fire and we are that which burns. Probably, each of us has a choice about the intensity of the fire in which (and as which) we live. |
3. Chúng ta là lửa và chúng ta là điều đang cháy. Có lẽ mỗi người chúng ta đều có một lựa chọn về cường độ của ngọn lửa trong đó, và như chính nó, chúng ta sống. |
|
4. Some of us are quite content to do a “slow burn”, and, indeed, this is the safest way—if the ‘safety’ of the personality is being considered. It is far from ‘safest’ for the imprisoned spirit. |
4. Một số người trong chúng ta khá bằng lòng với việc “cháy chậm”, và thật vậy, đây là cách an toàn nhất—nếu đang xét đến sự “an toàn” của phàm ngã. Nhưng nó hoàn toàn không phải là “an toàn nhất” cho tinh thần bị giam cầm. |
|
5. Others of us may wish to force the issue, remembering that the process of initiation is a “forcing process”. |
5. Những người khác trong chúng ta có thể muốn thúc đẩy vấn đề đến chỗ quyết định, nhớ rằng tiến trình điểm đạo là một “tiến trình cưỡng bách”. |
|
6. Probably we hear those words quite often—”forcing process”, but we can become inured to them and they may come to trouble our conscience very little, as we continue pursue our lives habitually. But if we once awaken to what it really means, we will take ourselves in hand and, under Vulcan and Mars, get ourselves into shape. Our undoubtedly wise and loving second ray Master has used the following disagreeable words (disagreeable to some) |
6. Có lẽ chúng ta nghe những lời ấy khá thường xuyên—“tiến trình cưỡng bách”, nhưng chúng ta có thể trở nên quen lì với chúng, và chúng có thể chỉ còn gây rất ít xao động cho lương tâm chúng ta, khi chúng ta tiếp tục theo đuổi đời sống của mình theo thói quen. Nhưng nếu một lần chúng ta thức tỉnh trước ý nghĩa thật sự của điều đó, chúng ta sẽ tự xử lý chính mình và, dưới Vulcan và Sao Hỏa, đưa chính mình vào khuôn dạng. Chân sư cung hai chắc chắn minh triết và đầy tình thương của chúng ta đã dùng những lời khó chịu sau đây, khó chịu đối với một số người |
|
“They are those well meaning people whose mental understanding outruns the power of their personalities to practice. They are those who are in touch with forces which they are not yet able to handle and control. They have done a great deal of the needed work of inner contact, but have not yet whipped the lower nature into shape. They are, therefore, unable to express that which they inwardly understand and somewhat realise.” (EP II 13-Underlining MDR) |
“Họ là những người đầy thiện chí mà sự thấu hiểu trí tuệ vượt xa quyền năng của phàm ngã họ trong việc thực hành. Họ là những người tiếp xúc với các mãnh lực mà họ chưa thể xử lý và kiểm soát. Họ đã thực hiện rất nhiều công việc cần thiết về sự tiếp xúc bên trong, nhưng vẫn chưa rèn luyện bản chất thấp cho vào khuôn dạng. Do đó, họ không thể biểu hiện điều mà bên trong họ thấu hiểu và phần nào chứng nghiệm.” (EP II 13—gạch dưới MDR) |
|
7. Well, it all depends on the pressure to which we choose to subject ourselves—or rather, our not-selves. It comes down to the nature of our identification, does it not? If we think of ourselves as the personality, we will be little inclined to apply drastic purificatory measures (whipping ourselves into shape). If we are soul-identified, then we are simply dealing with the condition of our instrument which must be made fit for the task. |
7. Vâng, tất cả tùy thuộc vào áp lực mà chúng ta chọn đặt lên chính mình—hay đúng hơn, lên các phi-ngã của chúng ta. Rốt cuộc, điều đó quy về bản chất của sự đồng hóa của chúng ta, phải vậy không? Nếu chúng ta nghĩ mình là phàm ngã, chúng ta sẽ ít có khuynh hướng áp dụng các biện pháp thanh luyện quyết liệt, tức rèn mình vào khuôn dạng. Nếu chúng ta đồng hóa với linh hồn, thì chúng ta chỉ đơn giản đang xử lý tình trạng của khí cụ mình, vốn phải được làm cho thích hợp với nhiệm vụ. |
|
8. Probably, we are living in a time of what I would call ‘spirit rebellion’. This is stimulated by the recent series of Shamballa Impacts and by the time it is on our planet and in relation to still larger systemic and cosmic cycles. The spirit which suffers not has suffered long! Can this make sense to us? |
8. Có lẽ chúng ta đang sống trong một thời kỳ mà tôi gọi là “sự nổi dậy của tinh thần”. Điều này được kích thích bởi chuỗi Tác Động Shamballa gần đây và bởi thời điểm của nó trên hành tinh chúng ta, cũng như trong liên hệ với các chu kỳ hệ thống và vũ trụ còn lớn hơn. Tinh thần vốn không đau khổ đã đau khổ từ lâu! Điều này có thể có ý nghĩa đối với chúng ta chăng? |
|
9. In any case, the spirit is rising and insists on its right to express despite the disruption in comfort to the personality which this expression necessarily entails. |
9. Dù sao đi nữa, tinh thần đang trỗi dậy và khẳng định quyền được biểu hiện của nó, bất chấp sự xáo trộn về tiện nghi cho phàm ngã mà sự biểu hiện này tất yếu kéo theo. |
|
10. The “slow burn” and the “fast burn”—there are dangers in each. Probably it is well to strive for the “fast burn” yet watching the instrument closely as it does no good for the instrument to collapse under the pressure of an ambitious will. |
10. “Cháy chậm” và “cháy nhanh”—mỗi cách đều có những nguy hiểm. Có lẽ nên nỗ lực hướng tới “cháy nhanh”, nhưng vẫn phải quan sát khí cụ thật sát, vì khí cụ sụp đổ dưới áp lực của một ý chí đầy tham vọng thì chẳng ích lợi gì. |
|
11. The motive, really, cannot be ambition. Ambition is based upon identification as a personality. The motive must be higher and wider, resulting, ultimately, from a deep identification with and as humanity. When is the last time we tried successfully to identify as humanity? |
11. Thật ra, động cơ không thể là tham vọng. Tham vọng đặt nền trên sự đồng hóa như một phàm ngã. Động cơ phải cao hơn và rộng hơn, rốt cuộc phát sinh từ một sự đồng hóa sâu xa với nhân loại và như nhân loại. Lần cuối cùng chúng ta đã thành công trong việc đồng hóa như nhân loại là khi nào? |
|
12. We are as a world group facing a ‘crisis of will’. There seems to be no lack of will (however personally focussed) demonstrated by the representatives of the “forces of opposition”. The disciples of the world, however, are characterized far more by the second ray, which, almost habitually, responds “late in the day”. Witness the response of the Allied Forces in World Wars I and II—especially the American forces (as America is ruled by the second ray in the soul). The response came almost too late. |
12. Với tư cách một nhóm thế giới, chúng ta đang đối diện với một “khủng hoảng ý chí”. Dường như không thiếu ý chí, dù tập trung vào cá nhân đến đâu, được biểu lộ bởi những đại diện của “các mãnh lực đối lập”. Tuy nhiên, các đệ tử của thế giới lại được đặc trưng nhiều hơn bởi cung hai, vốn gần như theo thói quen, đáp ứng “vào cuối ngày”. Hãy chứng kiến sự đáp ứng của các Lực lượng Đồng minh trong Thế chiến I và II—đặc biệt là các lực lượng Hoa Kỳ, vì Hoa Kỳ được cung hai cai quản nơi linh hồn. Sự đáp ứng đến gần như quá muộn. |
|
13. Individually and in our groups, we must think of this lesson. It is time for individuals and groups to be mobilized in a manner to which they are not accustomed. The energy is that of the non-sacred planet Mars, which has its valuable uses in the life of discipleship. |
13. Với tư cách cá nhân và trong các nhóm của mình, chúng ta phải suy nghĩ về bài học này. Đã đến lúc các cá nhân và các nhóm phải được huy động theo một cách mà họ chưa quen. Năng lượng ấy là năng lượng của hành tinh không thiêng liêng Sao Hỏa, vốn có những công dụng giá trị trong đời sống địa vị đệ tử. |
|
14. It is that same energy which helps one resolve to submit himself to the fires of purification so that the channels may be cleaned and cleared and the vitalizing energy flow. |
14. Chính năng lượng ấy giúp người ta quyết tâm đặt mình dưới các ngọn lửa thanh luyện, để các vận hà có thể được tẩy sạch và khai thông, và năng lượng tiếp sinh lực có thể tuôn chảy. |
|
15. Purification is a serious matter on all levels. We remember that it is mentioned as the first of the three Shamballic qualities/energies—Purification, Destruction, Organization. |
15. Thanh luyện là một vấn đề nghiêm trọng trên mọi cấp độ. Chúng ta nhớ rằng nó được nêu như phẩm tính/năng lượng đầu tiên trong ba phẩm tính/năng lượng Shamballa—Thanh luyện, Hủy diệt, Tổ chức. |
|
16. We might say that purification is our obligation under the most recent Shamballa Impact. |
16. Chúng ta có thể nói rằng thanh luyện là bổn phận của chúng ta dưới Tác Động Shamballa gần đây nhất. |
|
17. The average disciple is physically tired, emotionally distressed, and perhaps, mentally clear—so the Tibetan tells us. So have we the strength to take purification seriously? |
17. Đệ tử trung bình thì mệt mỏi về thể xác, khổ sở về cảm xúc, và có lẽ minh mẫn về trí tuệ—Chân sư Tây Tạng nói với chúng ta như vậy. Vậy chúng ta có đủ sức mạnh để xem thanh luyện là điều nghiêm túc chăng? |
|
18. We are familiar with the idea that right diet and exercise and plenty of sunshine purify the physical etheric mechanism. But right thought and feeling are even greater purifiers. Love purifies the emotional vehicle, and illumined thought, the mental. |
18. Chúng ta quen thuộc với ý tưởng rằng chế độ ăn uống đúng, tập luyện và nhiều ánh sáng mặt trời thanh lọc bộ máy hồng trần-dĩ thái. Nhưng tư tưởng và cảm xúc đúng còn là những yếu tố thanh lọc lớn lao hơn nữa. Tình thương thanh lọc vận cụ cảm xúc, và tư tưởng được soi sáng thanh lọc vận cụ trí tuệ. |
|
19. I guess what I am saying is that we will not begin to really live unless we can carry out the necessary purifications of our lower vehicles. These days, perhaps not too many are focussed on strictly physical purifications, but they do have their place, and it is absolutely surprising how many well-meaning disciples are filling their lungs with smoke and their bodies with poisons—habitually and with frequency. As if the indulgence in these destructive habits did not matter! |
19. Tôi nghĩ điều tôi đang nói là chúng ta sẽ không bắt đầu thật sự sống nếu không thể thực hiện các thanh luyện cần thiết đối với các vận cụ thấp của mình. Ngày nay, có lẽ không quá nhiều người tập trung vào những thanh luyện thuần túy hồng trần, nhưng chúng vẫn có vị trí của chúng, và thật sự đáng kinh ngạc khi thấy biết bao đệ tử đầy thiện chí đang lấp đầy phổi mình bằng khói và thân thể mình bằng độc chất—một cách quen thói và thường xuyên. Như thể việc buông thả trong những thói quen hủy hoại này chẳng có gì quan trọng! |
|
20. But the real focus of concentration must be on the mind and emotions—where the real pollution occurs. |
20. Nhưng trọng tâm tập trung thật sự phải đặt vào thể trí và cảm xúc—nơi sự ô nhiễm thật sự xảy ra. |
|
21. Sometimes, disciples of the Tibetan’s Teaching (a great Teaching) have their “heads in the clouds”. The concepts offered are so inspiring and the higher vistas so attractive, the students are likely to overlook the obvious—the real condition of their instrument. Let us not be among those who do. The times are serious and real accomplishment is demanded—not simply the hope of expansion based upon theoretical knowledge. |
21. Đôi khi, các đệ tử của Giáo Huấn Chân sư Tây Tạng, một Giáo Huấn vĩ đại, có “đầu óc ở trên mây”. Các khái niệm được đưa ra thật truyền cảm hứng và những viễn cảnh cao hơn thật hấp dẫn, nên các đạo sinh có khuynh hướng bỏ qua điều hiển nhiên—tình trạng thật sự của khí cụ mình. Chúng ta đừng thuộc vào số những người như vậy. Thời gian này nghiêm trọng và đòi hỏi thành tựu thật sự—không chỉ là hy vọng về sự mở rộng dựa trên tri thức lý thuyết. |
|
22. I would suggest that when a disciple applies himself in earnest to purification, he will discover the nature and strength of his will. The lunar lords have their habits and they do not relinquish those habits without a fight. They are to be trained, and this requires sustained attention—especially to those one or two remaining habits in our nature which are really resistant. Each of us will know what they are, and really, they are no one’s business but our own. |
22. Tôi gợi ý rằng khi một đệ tử chuyên tâm nghiêm túc vào việc thanh luyện, y sẽ khám phá bản chất và sức mạnh của ý chí mình. Các nguyệt tinh quân có những thói quen của chúng, và chúng không từ bỏ những thói quen ấy nếu không có đấu tranh. Chúng phải được huấn luyện, và điều này đòi hỏi sự chú tâm bền bỉ—đặc biệt đối với một hoặc hai thói quen còn lại trong bản chất chúng ta vốn thật sự kháng cự. Mỗi người chúng ta sẽ biết chúng là gì, và thật ra, chúng không phải là việc của ai ngoài chính chúng ta. |
|
23. Will we take care of them—essentially by thinking or doing the opposite until the pattern is altered? That is up to us. The work is hardly glamorous and hardly expansive in the usual Jupiterian sense. It is quite Saturnian and mundane, but absolutely necessary. |
23. Chúng ta sẽ xử lý chúng chăng—chủ yếu bằng cách suy nghĩ hoặc làm điều đối nghịch cho đến khi mô hình được thay đổi? Điều đó tùy thuộc vào chúng ta. Công việc này hầu như không có gì quyến rũ và hầu như không mở rộng theo nghĩa Sao Mộc thông thường. Nó khá mang tính Sao Thổ và trần thế, nhưng tuyệt đối cần thiết. |
|
24. Probably it is some little thing that is holding us back from initiation. “The small lesson mastered (and many of you are finding it a hard lesson) leads inevitably to wider opportunity in Service.”(EP II 401) |
24. Có lẽ chính một điều nhỏ bé nào đó đang giữ chúng ta lại khỏi điểm đạo. “Bài học nhỏ được làm chủ, và nhiều người trong các bạn đang thấy đó là một bài học khó, tất yếu dẫn đến cơ hội rộng lớn hơn trong Phụng sự.” (EP II 401) |
|
25. Thus, real progress may come down to attending to a very small ‘space’—the actual condition of the personality—so easily overlooked. |
25. Như vậy, sự tiến bộ thật sự có thể quy về việc chú tâm đến một “khoảng không” rất nhỏ—tình trạng thực tế của phàm ngã—vốn rất dễ bị bỏ qua. |
|
26. Purification is, no doubt, a sacrifice—as the personality conceives it. One must use the power to envision the future to provide an incentive for this sacrifice. Love will provide an eve n greater incentive. |
26. Không nghi ngờ gì, thanh luyện là một sự hi sinh—như phàm ngã quan niệm. Người ta phải dùng quyền năng hình dung tương lai để tạo động lực cho sự hi sinh này. Tình thương sẽ đem lại một động lực còn lớn hơn nữa. |
|
27. If purification were complete, we would no longer be aspirants and disciples—we would be initiate. We stand in our own way when we fail to take the necessary purificatory steps. But the matter is subtle, and the physical purifications are the least of the matter. |
27. Nếu sự thanh luyện đã hoàn tất, chúng ta sẽ không còn là những người chí nguyện và đệ tử nữa—chúng ta sẽ là điểm đạo đồ. Chúng ta tự cản đường mình khi không thực hiện các bước thanh luyện cần thiết. Nhưng vấn đề rất tinh tế, và các thanh luyện hồng trần là phần ít quan trọng nhất của vấn đề. |
|
28. Let each of us plan how we might better apply light to the mind, love to the astral nature and spiritual will to the etheric physical mechanism. We will not be sorry. |
28. Mỗi người chúng ta hãy hoạch định cách có thể áp dụng ánh sáng tốt hơn cho thể trí, tình thương cho bản chất cảm dục, và ý chí tinh thần cho bộ máy dĩ thái-hồng trần. Chúng ta sẽ không hối tiếc. |
|
29. The need for true servers is, at this time, very great. A true server has been through many drastic purifications. No one will do this for us. Do we want to be true servers? |
29. Vào lúc này, nhu cầu về những người phụng sự chân chính rất lớn. Một người phụng sự chân chính đã trải qua nhiều thanh luyện quyết liệt. Không ai sẽ làm điều này thay cho chúng ta. Chúng ta có muốn trở thành những người phụng sự chân chính chăng? |
|
Rule VI for Disciples and Initiates |
Quy luật VI dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ |
|
B. For Disciples and Initiates: Let the group know that life is one and naught can ever take or touch that life. Let the group know the vivid, flaming, drenching Life that floods the fourth when the fifth is known. The fifth feeds on the fourth. Let then the group—merged in the fifth—be nourished by the sixth and seventh and realise that all the lesser rules are rules in time and space and cannot hold the group. It onward moves in life. |
B. Dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ: Hãy để nhóm biết rằng sự sống là một và không gì có thể từng lấy đi hay chạm đến sự sống ấy. Hãy để nhóm biết Sự Sống sống động, rực cháy, thấm đẫm tràn ngập giới thứ tư khi giới thứ năm được biết. Giới thứ năm nuôi dưỡng bằng giới thứ tư. Bấy giờ hãy để nhóm—hòa nhập trong giới thứ năm—được giới thứ sáu và thứ bảy nuôi dưỡng, và nhận ra rằng mọi quy luật thấp hơn đều là những quy luật trong thời gian và không gian, và không thể kềm giữ nhóm. Nhóm tiến lên trong sự sống. |
|
Points to Consider in Relation to the Above Section |
Những điểm cần suy xét liên quan đến phần trên |
|
1. Is the consciousness that “life is one” our habitual consciousness? Probably we fall from it rather frequently—so demanding are the immediate pressures and requirements. Perhaps, however, we can recover it quickly. |
1. Tâm thức rằng “sự sống là một” có phải là tâm thức thường hằng của chúng ta chăng? Có lẽ chúng ta rơi khỏi nó khá thường xuyên—vì các áp lực và yêu cầu tức thời quá đòi hỏi. Tuy nhiên, có lẽ chúng ta có thể nhanh chóng phục hồi nó. |
|
2. To know that “life is one” is far more than a thought; rather, it is a realization. And realizations involved the heart—not only the heart center but the heart within the head. |
2. Biết rằng “sự sống là một” còn hơn một tư tưởng rất nhiều; đúng hơn, đó là một chứng nghiệm. Và các chứng nghiệm liên quan đến trái tim—không chỉ trung tâm tim mà còn trái tim trong đầu. |
|
3. Our very first task in this more advanced Rule is actually to know that “life is one”. And not just to know this, but to realize the invulnerability of life—which should be a source of continuing joy. |
3. Nhiệm vụ đầu tiên của chúng ta trong Quy luật cao cấp hơn này thật ra là biết rằng “sự sống là một”. Và không chỉ biết điều này, mà còn chứng nghiệm tính bất khả xâm phạm của sự sống—điều đáng là một nguồn hoan hỉ liên tục. |
|
4. So let us find a way (no doubt an individual way) to establish ourselves in the One Life, as the One Life. If “Life is One” remains for us but a platitude, we have not gone far enough, nor should we rest content if it remains merely a thought. |
4. Vậy chúng ta hãy tìm một con đường, không nghi ngờ gì là một con đường cá nhân, để thiết lập chính mình trong Sự Sống Duy Nhất, như Sự Sống Duy Nhất. Nếu “Sự Sống là Một” đối với chúng ta vẫn chỉ là một sáo ngữ, thì chúng ta chưa đi đủ xa, và cũng không nên tự mãn nếu nó vẫn chỉ là một tư tưởng. |
|
5. What will it take to penetrate into realization? Each must find her or her own way. The esoteric prescriptions are general; when they are used, the ‘way in’ becomes specific to the user. |
5. Cần điều gì để xuyên nhập vào chứng nghiệm? Mỗi người phải tìm con đường riêng của mình. Các chỉ dẫn huyền bí thì tổng quát; khi được sử dụng, “con đường đi vào” trở nên riêng biệt đối với người sử dụng. |
|
6. Then, we are asked to know the fifth—in this case, the fifth kingdom of nature, the kingdom of souls. This is hardly possible, however, unless the Fifth Creative Hierarchy also means something real to us, and this requires that we commune with our Solar Angel. |
6. Rồi chúng ta được yêu cầu biết giới thứ năm—trong trường hợp này là giới thứ năm trong thiên nhiên, giới linh hồn. Tuy nhiên, điều này hầu như không thể nếu Huyền Giai Sáng Tạo thứ Năm cũng không có ý nghĩa thật sự nào đối với chúng ta, và điều này đòi hỏi chúng ta giao cảm với Thái dương Thiên Thần của mình. |
|
7. How do we conceive the Solar Angel? The Solar Angel is a member of the Fifth Creative Hierarchy, and a growing and intensifying communion with the energy streams emanating from this Angel conditions our consciousness sufficiently to enter the fifth kingdom. |
7. Chúng ta quan niệm Thái dương Thiên Thần như thế nào? Thái dương Thiên Thần là một thành viên của Huyền Giai Sáng Tạo thứ Năm, và sự giao cảm ngày càng tăng trưởng và mãnh liệt hơn với các dòng năng lượng phát xuất từ Thiên Thần này tác động lên tâm thức chúng ta đủ để bước vào giới thứ năm. |
|
8. In an act of gratitude and acquiescence, therefore, we should take the Solar Angel seriously, and make sure that some rapport with this great being is established daily. Then, we have an opportunity to be flooded by the “vivid, flaming, drenching life”. We can ask, “Are we flooded in this way?” “How often?” “Under what circumstances?” |
8. Do đó, trong một hành vi tri ân và thuận nhận, chúng ta nên xem Thái dương Thiên Thần là điều nghiêm túc, và bảo đảm rằng mỗi ngày đều thiết lập một sự hòa hợp nào đó với hữu thể vĩ đại này. Khi ấy, chúng ta có cơ hội được “sự sống sống động, rực cháy, thấm đẫm” tràn ngập. Chúng ta có thể hỏi: “Chúng ta có được tràn ngập theo cách này chăng?” “Bao lâu một lần?” “Trong những hoàn cảnh nào?” |
|
9. Perhaps in our moments of inspiration we experience the ‘fiery flood’. But how often are we inspired? I think we have to see to the level of our inspiration, which, of course, is related to the level of our purification. Inspiration cannot ‘flow down’ a clogged channel. |
9. Có lẽ trong những khoảnh khắc cảm hứng, chúng ta kinh nghiệm “trận lũ lửa”. Nhưng chúng ta được cảm hứng thường xuyên đến mức nào? Tôi nghĩ chúng ta phải lưu tâm đến cấp độ cảm hứng của mình, điều dĩ nhiên liên hệ với cấp độ thanh luyện của chúng ta. Cảm hứng không thể “tuôn xuống” qua một vận hà bị tắc nghẽn. |
|
10. I think it is clear that we are being called upon to demonstrate an entirely higher level of living than will be habitual for the average, non-aspiring individual. |
10. Tôi nghĩ rõ ràng là chúng ta đang được kêu gọi biểu lộ một cấp độ sống hoàn toàn cao hơn mức sẽ là thói quen đối với cá nhân trung bình, không chí nguyện. |
|
11. We are surely and soundly members of the fourth, but it is the fifth which must be on our minds and in our hearts. The fifth is never ‘far away’; we know the ‘modes of attunement’. Our task is not to forget the path into the fifth. Otherwise, how can we hope of any ‘nourishment’ by the sixth and seventh? |
11. Chúng ta chắc chắn và vững vàng là thành viên của giới thứ tư, nhưng chính giới thứ năm phải hiện diện trong trí và trong tim chúng ta. Giới thứ năm không bao giờ “xa xôi”; chúng ta biết các “phương thức hòa điệu”. Nhiệm vụ của chúng ta là không quên con đường đi vào giới thứ năm. Nếu không, làm sao chúng ta có thể hy vọng có được bất kỳ “sự nuôi dưỡng” nào bởi giới thứ sáu và thứ bảy? |
|
12. The reach of this Rule is very great. The fifth is a sufficient reach for most. Are we solidly established ‘residents’ of the fifth kingdom of nature? |
12. Tầm với của Quy luật này rất lớn. Giới thứ năm là một tầm với đủ cho phần đông. Chúng ta đã được thiết lập vững chắc như những “cư dân” của giới thứ năm trong thiên nhiên chăng? |
|
13. Perhaps, we will begin to gather some idea of our ‘relative spiritual infancy’. The mind outruns accomplishment and, surrounded ever by the glorious words, we may imagine we are accomplishing. But the reality is something else. |
13. Có lẽ chúng ta sẽ bắt đầu thu nhận đôi chút ý niệm về “sự ấu thơ tinh thần tương đối” của mình. Thể trí vượt trước thành tựu, và được bao quanh mãi bởi những lời huy hoàng, chúng ta có thể tưởng rằng mình đang thành tựu. Nhưng thực tại lại là điều khác. |
|
14. Let it then be before the minds of the group members that we are to be “merged in the fifth”, and let this become a practical goal requiring daily assessment. |
14. Vậy hãy để điều này ở trước thể trí của các thành viên trong nhóm: chúng ta phải được “hòa nhập trong giới thứ năm”, và hãy để điều ấy trở thành một mục tiêu thực tiễn đòi hỏi sự thẩm định hằng ngày. |
|
15. Theorization about the quality of the sixth and seventh kingdoms of nature is of course possible, but a firm basis of soul-infusion is required for these higher states to become even ‘hints of reality’. |
15. Dĩ nhiên có thể lý thuyết hóa về phẩm tính của giới thứ sáu và thứ bảy trong thiên nhiên, nhưng cần có một nền tảng vững chắc của sự được linh hồn thấm nhuần để những trạng thái cao hơn này thậm chí trở thành “những gợi ý của thực tại”. |
|
16. The nourishment ‘descends’ when the mechanism is pure. We can all see the relation between purity and nourishment, can we not? Interestingly, these two terms have a Virgo association (Virgo being the sixth sign and this Rule being also the sixth). |
16. Sự nuôi dưỡng “giáng xuống” khi bộ máy thanh khiết. Tất cả chúng ta đều có thể thấy mối liên hệ giữa sự thanh khiết và sự nuôi dưỡng, phải vậy không? Thú vị thay, hai thuật ngữ này có liên hệ với Xử Nữ, Xử Nữ là dấu hiệu thứ sáu và Quy luật này cũng là quy luật thứ sáu. |
|
17. It is interesting how much this advanced rule deals with the “life” aspect of divinity. Perhaps this should not be surprising, as the number six connects directly to the monad on the sixth systemic plane (counting from below). As well, on that plane, the sign Virgo rules, and we have already seen how this sign is connected to the Rule in question. |
17. Thật thú vị khi Quy luật cao cấp này đề cập nhiều đến phương diện “sự sống” của thiên tính. Có lẽ điều này không đáng ngạc nhiên, vì con số sáu nối trực tiếp với chân thần trên cõi hệ thống thứ sáu, nếu đếm từ dưới lên. Đồng thời, trên cõi ấy, dấu hiệu Xử Nữ cai quản, và chúng ta đã thấy dấu hiệu này liên hệ với Quy luật đang xét như thế nào. |
|
18. When one has a consciousness captivated by time and space, it is impossible to understand and apply a Rule meant for those who know something of the reality of the “life aspect”. |
18. Khi một người có tâm thức bị thời gian và không gian cuốn giữ, y không thể thấu hiểu và áp dụng một Quy luật dành cho những người biết đôi điều về thực tại của “phương diện sự sống”. |
|
19. How then shall we disabuse ourselves of the illusions of time and space? This is a huge question and requires lives of endeavor for success. I wonder how often we wake up in the morning and remind ourselves of the illusory nature of the time-space world. Yet the great yogis do this constantly. If they do not, illusion grows over the consciousness as algae grows over the pond (the allusion comes from the writings of the great sage, Shankara). |
19. Vậy làm thế nào chúng ta có thể tự giải thoát khỏi các ảo tưởng của thời gian và không gian? Đây là một câu hỏi lớn lao và đòi hỏi nhiều kiếp sống nỗ lực để thành công. Tôi tự hỏi chúng ta thường thức dậy vào buổi sáng và nhắc mình về bản chất ảo tưởng của thế giới thời gian-không gian đến mức nào. Thế nhưng các đạo sĩ vĩ đại làm điều này liên tục. Nếu họ không làm, ảo tưởng sẽ mọc phủ lên tâm thức như tảo mọc phủ lên ao, một ám chỉ lấy từ các trước tác của bậc hiền triết vĩ đại Shankara. |
|
20. Perhaps if we remind ourselves that all places are one place, and at the same time, no-place—we shall summon the necessary intuition to create a realization. |
20. Có lẽ nếu chúng ta nhắc mình rằng mọi nơi chốn đều là một nơi chốn, và đồng thời là không-nơi-chốn—chúng ta sẽ triệu gọi trực giác cần thiết để tạo nên một chứng nghiệm. |
|
21. Perhaps, if we remind ourselves that all times are one time, and yet are no-time, we shall do the same. |
21. Có lẽ, nếu chúng ta nhắc mình rằng mọi thời điểm đều là một thời điểm, và đồng thời là không-thời-gian, chúng ta cũng sẽ làm được như vậy. |
|
22. The initiate consciousness must collapse time and space to a point. That point is everywhere (and, yet, nowhere in particular) and is accessible only now. |
22. Tâm thức điểm đạo đồ phải thu gọn thời gian và không gian vào một điểm. Điểm ấy ở khắp nơi, và tuy vậy, không ở một nơi riêng biệt nào, và chỉ có thể tiếp cận ngay bây giờ. |
|
23. These are the fundamental metaphysical realizations that make the use of this more advanced rule possible. As long as we are trapped by time and space, the “lesser rules” are for us, and we should not fool ourselves into thinking otherwise. |
23. Đây là những chứng nghiệm siêu hình căn bản làm cho việc sử dụng Quy luật cao cấp hơn này trở nên khả hữu. Chừng nào chúng ta còn bị mắc kẹt bởi thời gian và không gian, thì “các quy luật thấp hơn” vẫn dành cho chúng ta, và chúng ta không nên tự lừa mình mà nghĩ khác đi. |
|
24. But if life begins to mean something real to us, because we have abstracted sufficiently to disidentify with time and space and objective reality, we can (with those who have done likewise) “onward move in life”. |
24. Nhưng nếu sự sống bắt đầu có ý nghĩa thật sự đối với chúng ta, bởi vì chúng ta đã trừu xuất đủ để không còn đồng hóa với thời gian, không gian và thực tại khách quan, thì chúng ta có thể, cùng với những người đã làm như vậy, “tiến lên trong sự sống”. |
|
25. This is our challenge—to make these metaphysical abstractions real, our “daily fare”. They cannot remain remote, abstruse thoughts, barely attainable. Realization must accompany the reading of the words, and this happens (for people of our kind) largely through persistent meditation, during which we remind ourselves of the importance of such thoughts. |
25. Đây là thách thức của chúng ta—làm cho những trừu tượng siêu hình này trở nên thật, trở thành “lương thực hằng ngày” của chúng ta. Chúng không thể vẫn là những tư tưởng xa xôi, huyền áo, hầu như không thể đạt tới. Chứng nghiệm phải đi cùng với việc đọc các lời ấy, và điều này xảy ra, đối với những người thuộc loại chúng ta, phần lớn qua tham thiền bền bỉ, trong đó chúng ta nhắc mình về tầm quan trọng của những tư tưởng như thế. |
|
26. We can see that the thoughts in this Rule and the others come, essentially, from the realm of the spiritual triad. They do not concern the personality. They are not written for personalities. |
26. Chúng ta có thể thấy rằng các tư tưởng trong Quy luật này và những Quy luật khác, về bản chất, đến từ cảnh giới của Tam nguyên tinh thần. Chúng không liên quan đến phàm ngã. Chúng không được viết cho các phàm ngã. |
|
27. The sooner we disidentify as personalities, the sooner we will be able to understand these Rules and use them as they should be used. |
27. Chúng ta càng sớm không còn đồng hóa như các phàm ngã, thì càng sớm có thể thấu hiểu các Quy luật này và sử dụng chúng như chúng phải được sử dụng. |
|
28. From time to time, we must remind ourselves that Master DK is writing for the soul-infused, triadally inspired consciousness. Only a rather liberated consciousness can understand what He is talking about. |
28. Thỉnh thoảng, chúng ta phải nhắc mình rằng Chân sư DK đang viết cho tâm thức được linh hồn thấm nhuần và được Tam nguyên tinh thần truyền cảm hứng. Chỉ một tâm thức khá giải thoát mới có thể thấu hiểu điều Ngài đang nói đến. |
|
29. It behooves us to bring ourselves to that state of relative liberation from concern with our fate in the lower three worlds. We attend to the lower worlds, of course, because we, like the Hierarchy, want to help the desperate situation which has developed in those worlds. |
29. Chúng ta cần đưa chính mình đến trạng thái tương đối giải thoát khỏi mối bận tâm về số phận của mình trong ba cõi thấp. Dĩ nhiên, chúng ta vẫn chú tâm đến các cõi thấp, vì chúng ta, giống như Thánh Đoàn, muốn trợ giúp tình trạng tuyệt vọng đã phát sinh trong các cõi ấy. |
|
30. But we know that our real identity has little to do with those worlds—that essentially, though “in” those worlds, we are not “of” them. |
30. Nhưng chúng ta biết rằng bản sắc thật của mình ít liên hệ với các cõi ấy — rằng về bản chất, tuy “ở trong” các cõi ấy, chúng ta không “thuộc về” chúng. |
|
31. I have been trying to present a ‘platform of requirements’ upon which one must stand if the higher Rules are to mean anything real. |
31. Tôi đã cố gắng trình bày một “nền tảng các yêu cầu” mà người ta phải đứng vững trên đó nếu các Quy luật cao hơn muốn mang một ý nghĩa thực sự. |
|
32. Theory enlivens only for a short time. When it is realized how far most theory is from practice, depression may ensure. It is realization that truly enlivens, and we know that realization is something of an atmic quality, ‘resident’ upon the fifth subplane of the atmic plane. |
32. Lý thuyết chỉ làm sinh động trong một thời gian ngắn. Khi nhận ra phần lớn lý thuyết còn xa thực hành đến mức nào, sự nản lòng có thể xảy ra. Chính sự chứng nghiệm mới thật sự làm sinh động, và chúng ta biết rằng sự chứng nghiệm phần nào là một phẩm tính atma, “trú ngụ” trên cõi phụ thứ năm của cõi atma. |
|
33. We are reminding ourselves of the great ‘reach’ of what we are doing. That reminder should make us humble and realistic, and yet, still full of hope for individual and group accomplishment. |
33. Chúng ta đang tự nhắc mình về tầm “vươn tới” lớn lao của điều mình đang làm. Sự nhắc nhớ ấy nên khiến chúng ta khiêm nhường và thực tế, nhưng đồng thời vẫn đầy hy vọng về thành tựu cá nhân và nhóm. |
|
34. One becomes, if it may be said, the ‘sober enthusiast’. The Path is full of paradoxes, and their reconciliation is only possible to the experienced disciple. |
34. Nếu có thể nói như vậy, người ta trở thành “người nhiệt thành tỉnh táo”. Đường Đạo đầy những nghịch lý, và việc dung hòa chúng chỉ có thể có đối với đệ tử giàu kinh nghiệm. |
|
Dear Friends, we are completing this round of study on Rule VI for Disciples and Initiates. Stefan and I have decided that we should take a month’s pause to review the first six Rules, at which time we can revisit Rule VI in relation to the five foregoing Rules. The astrological situation allows us to take this pause with ease. The lunar months are more than the solar months, and so we are ahead of ourselves—if we wish to maintain the Aquarius/Leo rhythm for endings and beginnings. In another two and a half years or so, we may do the same again—just before our final push towards ‘conclusion’—if one can speak of conclusion when studying the Rules which will be the main curriculum for the New Esoteric Schools in centuries to come. |
Các bạn thân mến, chúng ta đang hoàn tất vòng học tập này về Quy luật Sáu dành cho các Đệ tử và Điểm đạo đồ. Stefan và tôi đã quyết định rằng chúng ta nên tạm dừng một tháng để ôn lại sáu Quy luật đầu tiên; vào lúc đó, chúng ta có thể trở lại Quy luật Sáu trong tương quan với năm Quy luật trước đó. Tình hình chiêm tinh cho phép chúng ta tạm dừng một cách thuận lợi. Các tháng mặt trăng nhiều hơn các tháng mặt trời, và vì vậy chúng ta đang đi trước chính mình — nếu chúng ta muốn duy trì nhịp điệu Bảo Bình/Sư Tử cho các kết thúc và khởi đầu. Khoảng hai năm rưỡi nữa, chúng ta có thể lại làm như vậy — ngay trước nỗ lực cuối cùng hướng tới “kết luận” — nếu có thể nói đến kết luận khi nghiên cứu các Quy luật sẽ là chương trình học chính yếu cho các Trường Bí truyền Mới trong những thế kỷ sắp tới. |
|
Friends, let’s make these Rules as experientially real to us as possible. Application is the order of the day. Let us remind ourselves of the ‘spiritual height’ of our studies, and yet never become discouraged thereby; the possibility for significant application always exists. |
Các bạn, chúng ta hãy làm cho các Quy luật này trở nên thực sự sống động trong kinh nghiệm của mình đến mức tối đa có thể. Ứng dụng là yêu cầu của thời điểm này. Chúng ta hãy tự nhắc mình về “độ cao tinh thần” của những nghiên cứu của mình, nhưng đừng bao giờ vì thế mà nản lòng; khả năng ứng dụng có ý nghĩa luôn luôn hiện hữu. |
|
In Light Love and Power, |
Trong Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng, |
|
Michael (and Stefan) |
Michael (và Stefan) |