Quy Luật Điểm đạo 7 dành cho đệ tử (RI)

📘 Sách: Bình Giảng 14 Quy Luật Điểm đạo Dành Cho Đệ tử – RI – Tác giả: Michael D. Robbins

Click số trang trong ngoặc [ ] để đi đến bình giảng

RULE SEVEN (133-147)

QUY LUẬT BẢY (133-147)

The Rule which is our theme for consideration at this time is one of deep significance and esoteric interest; it is concerned with the life of Shamballa and with the purposes of the Great Council. This rule is also one of rare beauty and extraordinary implications, and it offers me the opportunity to enlarge upon a subject little known or understood by any esotericist in the average esoteric group. The [Page 133] reason for this is that it is only as the new cycle draws closer—as it is drawing today—that the new and fuller teaching, the greatly extended horizon and the tremendously enhanced perception of the spiritual observer and worker become possible and apparent. Much, very much, has been given out during the past one hundred years anent the Masters, and (as we are considering the subject of initiation and of preparation for that great transitional experience) it is necessary to understand somewhat the nature of Those with Whom the disciple has to associate, and the kind of world and of consciousness in which They live and move and have Their being. The fact of the Hierarchy is to many thinkers an established fact; the hypothesis that there may be a Hierarchy is a widespread recognition. Information concerning its grades, its modes of working and its objectives are now common property; much has been accepted and much proved by those who believe this teaching.

Quy luật là chủ đề chúng ta xét đến vào lúc này có thâm nghĩa sâu xa và mối quan tâm huyền bí; nó liên quan đến sự sống của Shamballa và các mục đích của Đại Hội Đồng. Quy luật này cũng có vẻ đẹp hiếm có và những hàm ý phi thường, và nó cho tôi cơ hội mở rộng về một chủ đề mà bất cứ nhà bí truyền học nào trong nhóm huyền bí trung bình cũng ít biết hoặc ít thấu hiểu. [Page 133] Lý do là chỉ khi chu kỳ mới đến gần hơn — như hiện nay nó đang đến gần — thì giáo huấn mới mẻ và đầy đủ hơn, chân trời được mở rộng lớn lao, cùng nhận thức được tăng cường mãnh liệt của nhà quan sát và người hoạt động tinh thần mới trở nên khả hữu và hiển nhiên. Rất nhiều, thật rất nhiều, đã được đưa ra trong một trăm năm qua về các Chân sư, và vì chúng ta đang xét đến chủ đề điểm đạo và sự chuẩn bị cho trải nghiệm chuyển tiếp vĩ đại ấy, cần thấu hiểu phần nào bản chất của Các Ngài mà người đệ tử phải liên hệ, cũng như loại thế giới và loại tâm thức trong đó Các Ngài sống, vận hành và hiện tồn. Đối với nhiều nhà tư tưởng, sự kiện về Thánh Đoàn là một sự kiện đã được xác lập; giả thuyết rằng có thể có một Thánh Đoàn đã được công nhận rộng rãi. Thông tin về các cấp bậc, phương thức hoạt động và các mục tiêu của Thánh Đoàn hiện nay đã trở thành tài sản chung; nhiều điều đã được chấp nhận và nhiều điều đã được chứng minh bởi những người tin vào giáo huấn này.

Before proceeding to a discussion of Rule VII, however, I would like to spend a moment studying some of the effects of this steadily growing fund of knowledge. It has become the possession of the many and not only of the rare and discreet esotericist and occult student; this teaching has now seeped down into the consciousness of the masses and is there producing curiosity, relief and hope, speculation and cynical laughter, conscious spiritual effort or sustained ridicule—according to the type of mind, the sensitivity to truth or the crass credulity of the recipient. But the knowledge, belief and hope in the existence of a planetary Hierarchy has today leavened the entire mass of human thinking in a far wider and deeper manner than perhaps the most optimistic suspect; herein lies the hope of the world, and here is to be found also a fertile field for spiritual work during the coming decades. For this all disciples must prepare.

Tuy nhiên, trước khi đi vào bàn luận về Quy luật VII, tôi muốn dành một khoảnh khắc để nghiên cứu một vài hiệu quả của kho tri thức đang tăng trưởng đều đặn này. Nó đã trở thành sở hữu của nhiều người, chứ không chỉ của nhà bí truyền học và môn sinh huyền bí hiếm có, kín đáo; giáo huấn này hiện nay đã thấm xuống tâm thức của quần chúng và đang tạo ra nơi đó sự tò mò, nhẹ nhõm và hy vọng, suy đoán và tiếng cười hoài nghi, nỗ lực tinh thần có ý thức hoặc sự chế giễu dai dẳng — tùy theo loại trí tuệ, độ nhạy cảm với chân lý hoặc sự cả tin thô thiển của người tiếp nhận. Nhưng tri thức, niềm tin và hy vọng vào sự hiện hữu của một Thánh Đoàn hành tinh ngày nay đã làm dậy men toàn thể khối tư tưởng nhân loại theo một cách rộng lớn và sâu xa hơn nhiều so với điều mà có lẽ người lạc quan nhất cũng ngờ tới; chính trong đó có niềm hy vọng của thế giới, và ở đây cũng có một cánh đồng màu mỡ cho công việc tinh thần trong những thập niên sắp đến. Vì điều này, mọi đệ tử phải chuẩn bị.

The rules whereby the Hierarchy may be reached are already well known to the aspirants of the world; they must become equally well known to the average person; the objectives of the hierarchical work must be emphasized and [Page 134] the nature of the divine Plan unfolded so that purpose and goal may be presented to humanity; the synthesis of the chain of hierarchical Existences—from the smallest atom of matter up to and including the Lord of Life Himself—must be unfolded; the essential and spiritual interdependence of all and the interrelation of every unit of divine life must be proved. This will eventually lead to that established unity of effort which will express itself in the merging of the fourth and the fifth kingdoms in nature, and to the establishment of that brotherhood which will constitute the germ or the seed of the coming manifestation of the Hierarchy as the Heart of God (directly related to the Heart of the Sun) in physical expression. This is necessarily an ambiguous phrase; but is as close an expression, in words, of hierarchical purpose as I find it possible to make.

Những quy luật nhờ đó có thể đạt đến Thánh Đoàn đã được những người chí nguyện của thế giới biết rõ; chúng cũng phải trở nên quen thuộc như thế đối với người bình thường; các mục tiêu của công việc thuộc Thánh Đoàn phải được nhấn mạnh và [Page 134] bản chất của Thiên Cơ phải được khai mở, để mục đích và cứu cánh có thể được trình bày cho nhân loại; sự tổng hợp của chuỗi các Hữu Thể thuộc Thánh Đoàn — từ nguyên tử nhỏ nhất của vật chất cho đến chính Chúa Tể Sự Sống — phải được khai mở; sự tương thuộc cốt yếu và tinh thần của tất cả, cùng mối liên hệ qua lại của mỗi đơn vị sự sống thiêng liêng, phải được chứng minh. Điều này rốt cuộc sẽ dẫn đến sự thống nhất nỗ lực đã được xác lập, vốn sẽ tự biểu lộ trong sự hòa nhập của giới thứ tư và giới thứ năm trong thiên nhiên, và trong việc thiết lập tình huynh đệ vốn sẽ tạo thành mầm mống hay hạt giống của sự biểu hiện sắp đến của Thánh Đoàn như Trái Tim của Thượng đế, liên hệ trực tiếp với Trái Tim của Mặt Trời, trong sự biểu hiện hồng trần. Cụm từ này tất yếu có phần hàm hồ; nhưng đó là cách diễn đạt bằng lời gần nhất về mục đích của Thánh Đoàn mà tôi có thể thực hiện.

The entire field of the world—meaning by that phrase all the kingdoms in nature in united inner and outer relationship—will be the medium of recognized spiritual experience and also the field of expression of certain divine qualities and aspects which have hitherto been in quiescent abeyance. What these qualities are, what divine aspects are awaiting precipitation, and which divine purposes are latent in that field of waiting expectancy, I cannot yet reveal or even indicate. The times are not yet ripe.

Toàn bộ lĩnh vực của thế giới — qua cụm từ ấy, tôi muốn nói tất cả các giới trong thiên nhiên trong mối liên hệ bên trong và bên ngoài đã hợp nhất — sẽ là phương tiện của trải nghiệm tinh thần được công nhận, đồng thời là lĩnh vực biểu hiện của một số phẩm tính và phương diện thiêng liêng nào đó vốn cho đến nay vẫn còn ở trong trạng thái tiềm phục yên lặng. Những phẩm tính ấy là gì, những phương diện thiêng liêng nào đang chờ ngưng tụ, và những mục đích thiêng liêng nào còn tiềm tàng trong lĩnh vực đầy mong chờ ấy, tôi chưa thể mặc khải hay thậm chí chỉ ra. Thời điểm vẫn chưa chín muồi.

A great upheaval in all the kingdoms in nature has characterized this day and generation; a stupendous destruction of all forms of divine life and in every kingdom has been the outstanding note of this upheaval. Our modern civilization has received a death blow from which it will never recover, but which will be recognized some day as the “blow of release” and as the signal for that which is better, new and more suitable for the evolving spirit, to make its appearance. Great and penetrating energies and their evoked forces have met in a conflict which has, figuratively speaking, elevated the mineral kingdom into the skies and which has brought down fire from heaven. I am talking to you factually and not just symbolically. The bodies of men, women and children, as well as of animals, have been [Page 135] destroyed; the forms of the vegetable kingdom and the potencies of the mineral kingdom have been disintegrated, distributed and devastated. The coherent life of all the planetary forms has been temporarily rendered incoherent. As an ancient prophecy has put it: “No true united Sound goes out from form to form, from life to life. Only a cry of pain, a demand for restitution and an invocation for relief from agony, despair and fruitless effort goes out from here to There.”

Một cuộc biến động lớn trong tất cả các giới trong thiên nhiên đã đặc trưng cho ngày nay và thế hệ này; một sự hủy diệt ghê gớm mọi hình tướng của sự sống thiêng liêng và trong mọi giới đã là âm điệu nổi bật của cuộc biến động này. Nền văn minh hiện đại của chúng ta đã nhận một đòn chí tử mà từ đó nó sẽ không bao giờ phục hồi, nhưng một ngày kia đòn ấy sẽ được nhận ra là “đòn giải thoát” và là tín hiệu để điều tốt đẹp hơn, mới mẻ hơn và thích hợp hơn với tinh thần đang tiến hoá xuất hiện. Những năng lượng lớn lao và xuyên thấu, cùng các mãnh lực được chúng gợi lên, đã gặp nhau trong một cuộc xung đột mà, nói theo nghĩa bóng, đã nâng giới kim thạch lên bầu trời và đã kéo lửa từ thiên đường xuống. Tôi đang nói với các bạn một cách thực tế chứ không chỉ theo biểu tượng. Thân thể của những người nam và nữ cùng trẻ em, cũng như của các loài vật, đã bị [Page 135] hủy diệt; các hình tướng của giới thực vật và các quyền năng của giới kim thạch đã bị phân rã, phân tán và tàn phá. Sự sống cố kết của mọi hình tướng hành tinh đã tạm thời bị làm cho mất cố kết. Như một lời tiên tri cổ xưa đã nói: “Không có Âm Thanh hợp nhất chân thực nào vang ra từ hình tướng đến hình tướng, từ sự sống đến sự sống. Chỉ có một tiếng kêu đau đớn, một đòi hỏi hoàn nguyên và một lời khẩn cầu được giải thoát khỏi thống khổ, tuyệt vọng và nỗ lực vô ích vang ra từ đây đến Đó.”

All this upheaval of the “soil” of the world—spiritual, psychological and physical—all this disruption of the forms and of the familiar contours of our planetary life had to take place before there could come the emergence of the Hierarchy into the public consciousness; all this had to do its work upon the souls of men before the New Age could come in, bringing with it the Restoration of the Mysteries, and the rehabilitation of the peoples of the earth. The two go together. This is one of the major points which I am seeking to make. The disruption, disintegration and the completely chaotic conditions existing for the past five hundred years within all the kingdoms of nature have at last worked their way out into paralleling physical conditions. This is good and desirable; it marks the prelude to a better building of a better world, the construction of more adequate forms of life and of more correct human attitudes, plus a sounder orientation to reality. The best is yet to be.

Tất cả cuộc xáo trộn này của “mảnh đất” thế giới — tinh thần, tâm lý và hồng trần — tất cả sự phá vỡ này của các hình tướng và những đường nét quen thuộc của sự sống hành tinh chúng ta đã phải diễn ra trước khi Thánh Đoàn có thể xuất hiện trong tâm thức công chúng; tất cả những điều này đã phải tác động lên linh hồn của con người trước khi Kỷ Nguyên Mới có thể đi vào, mang theo Sự Phục Hồi các Bí Nhiệm và sự phục hồi các dân tộc trên Trái Đất. Hai điều này đi đôi với nhau. Đây là một trong những điểm chính mà tôi đang tìm cách nêu rõ. Sự phá vỡ, phân rã và các tình trạng hoàn toàn hỗn loạn đã tồn tại trong năm trăm năm qua bên trong tất cả các giới của thiên nhiên, cuối cùng đã tự biểu lộ thành những tình trạng hồng trần tương ứng. Điều này là tốt và đáng mong muốn; nó đánh dấu khúc dạo đầu cho việc kiến tạo tốt đẹp hơn một thế giới tốt đẹp hơn, xây dựng những hình tướng sự sống thích đáng hơn và những thái độ nhân loại đúng đắn hơn, cộng thêm một sự định hướng vững chắc hơn về thực tại. Điều tốt đẹp nhất vẫn còn ở phía trước.

Everything is being rapidly brought to the surface—the good and the bad, the desirable and the undesirable, the past and the future (for the two are one); the plow of God has nearly accomplished its work; the sword of the spirit has severed an evil past from the radiant future, and both are seen as contributory in the Eye of God; our material civilization will be seen as giving place rapidly to a more spiritual culture; our church organizations, with their limiting and confusing theologies, will soon give place to the Hierarchy, with its emerging teaching—clear, factual, intuitive and non-dogmatic.

Mọi sự đang nhanh chóng được đưa lên bề mặt — điều tốt và điều xấu, điều đáng mong muốn và điều không đáng mong muốn, quá khứ và tương lai, vì cả hai là một; lưỡi cày của Thượng đế gần như đã hoàn tất công việc của nó; thanh gươm của tinh thần đã cắt lìa một quá khứ tà ác khỏi tương lai rạng rỡ, và cả hai đều được thấy là góp phần trong Mắt của Thượng đế; nền văn minh vật chất của chúng ta sẽ được thấy là đang nhanh chóng nhường chỗ cho một nền văn hóa tinh thần hơn; các tổ chức giáo hội của chúng ta, với các nền thần học giới hạn và gây rối của chúng, sẽ sớm nhường chỗ cho Thánh Đoàn, với giáo huấn đang xuất hiện của Thánh Đoàn — rõ ràng, thực tế, trực giác và không giáo điều.

The Hierarchy has been invoked and its Members are [Page 136] ready for a great “act of evocation,” of response to the invoking sound of humanity and of a definite (though relatively temporary) “act of orientation.” This will force the Hierarchy, of its own free will, to turn towards a new and more intimate type of relation with humanity. That period of orientation will end when a powerful, earthly Hierarchy will factually, externally and in reality hold sway on earth, working in all the kingdoms of nature and thus bringing about (in truth) the expression of the divine Plan. This plan is implemented through the medium of the senior Members of the Hierarchy, Who invoke the “Lights which carry out the Will of God”; They are Themselves invoked by the Light-Bearers, the Masters; They again, in Their turn, are invoked by the aspirants and disciples of the world. Thus is the chain of Hierarchy only a life line, along which travel the love and life of God, from Him to us and from us to Him.

Thánh Đoàn đã được khẩn cầu và các Thành viên của Thánh Đoàn [Page 136] sẵn sàng cho một “hành động gợi lên” lớn lao, đáp ứng lại âm thanh khẩn cầu của nhân loại và thực hiện một “hành động định hướng” rõ rệt, dù tương đối tạm thời. Điều này sẽ thúc đẩy Thánh Đoàn, bằng ý chí tự do của chính mình, quay về một kiểu liên hệ mới mẻ và mật thiết hơn với nhân loại. Thời kỳ định hướng ấy sẽ chấm dứt khi một Thánh Đoàn mạnh mẽ trên địa cầu sẽ thực sự, bên ngoài và trong thực tại, nắm quyền trên Trái Đất, hoạt động trong tất cả các giới của thiên nhiên và như thế thật sự đem lại sự biểu hiện của Thiên Cơ. Thiên Cơ này được thực hiện thông qua các Thành viên cao cấp của Thánh Đoàn, Các Ngài khẩn cầu “những Ánh Sáng thực thi Ý Chí của Thượng Đế”; chính Các Ngài lại được khẩn cầu bởi các Đấng Mang Ánh Sáng, tức các Chân sư; đến lượt các Chân sư lại được những người chí nguyện và đệ tử của thế giới khẩn cầu. Như vậy, chuỗi Thánh Đoàn chỉ là một đường dây sự sống, dọc theo đó tình thương và sự sống của Thượng đế đi từ Ngài đến chúng ta và từ chúng ta đến Ngài.

This dual thought of the relationship between humanity and the Hierarchy, and between the Hierarchy and the highest Center, Shamballa, is completely covered in Rule VII in its two forms—for applicants, and for disciples and initiates.

Tư tưởng kép này về mối liên hệ giữa nhân loại và Thánh Đoàn, cùng giữa Thánh Đoàn và Trung tâm cao nhất, Shamballa, được bao hàm trọn vẹn trong Quy luật VII dưới hai hình thức của nó — dành cho những người dự tuyển, và dành cho các đệ tử cùng điểm đạo đồ.

Rule VII

Quy luật VII

For Applicants: Let the disciple turn his attention to the enunciating of those sounds which echo in the hall where walks the Master. Let him not sound the lesser notes which awaken vibration within the halls of Maya.

Dành cho Những Người Dự Tuyển: Hãy để người đệ tử hướng sự chú tâm của y đến việc phát âm những âm thanh vang vọng trong đại sảnh nơi Chân sư bước đi. Hãy để y không xướng những âm điệu thấp hơn vốn đánh thức rung động trong các đại sảnh của ảo lực.

For Disciples and Initiates: (1) Let the group life emit the Word of invocation and thus evoke response within those distant Ashrams where move the Chohans of the race of men. They are no longer men as are the Masters, but, having passed beyond that lesser stage, have linked Themselves with the Great Council in the highest Secret Place. Let the group sound a dual chord, reverberating in the halls where move the Masters but finding pause and prolongation within those radiant halls where move the “Lights which carry out the Will of God.” [Page 137] _______ _______ _______ _______

Dành cho Các Đệ Tử và Điểm Đạo Đồ: (1) Hãy để sự sống nhóm phát ra Linh từ khẩn cầu và như thế gợi lên đáp ứng bên trong những ashram xa xôi, nơi các Chohan của nhân loại vận hành. Các Ngài không còn là người như các Chân sư vẫn là người nữa, mà sau khi đã vượt qua giai đoạn thấp hơn ấy, Các Ngài đã liên kết chính mình với Đại Hội Đồng trong Nơi Bí Mật cao nhất. Hãy để nhóm xướng một hợp âm kép, vang dội trong các đại sảnh nơi các Chân sư vận hành, nhưng tìm được điểm dừng và sự kéo dài bên trong những đại sảnh rạng rỡ nơi các “Ánh Sáng thực thi Ý Chí của Thượng Đế” vận hành. [Page 137]

Of real importance, though relatively small, are two contrasts. These emerge with clarity if you compare the instructions given to applicants for discipleship and those given to initiates. The applicant (or young disciple) is addressed as an individual and is told to give forth “those sounds” which will be heard by the Master in His Ashram—for that is the true significance of the words. The initiate functions in a group (always in a group) and has developed or is rapidly developing group consciousness; in unison with his group and as an integral conscious part of it, the Word must be enunciated; this is not a medley of sounds, but is one clear Word of invocation. You need to remember that the disciple is occupied in resolving the many sounds into the Word; when he has done this, his individual approach to reality terminates, and he begins to act with his group where all activity is concerned. This is a point of major importance for the newer type of disciple to grasp. In the past, the emphasis has been on what the individual initiate had to do in order to fit himself to take initiation, and so become a Master of the Wisdom and a member of the planetary Hierarchy. In the coming new cycle the emphasis will be upon group work and activity, upon group initiation and group approach to the Center of Life. The required mode of life and the needed individual eliminations and adjustments are now so well known (theoretically, at least) that they should have dropped below the threshold of consciousness and should consequently be automatic in their effects. This should also provide a steady inducement to thought which will make the initiate what he ought to be, because his conscious mind is free for group functioning. This is a concept which must be increasingly cultivated; “As a man thinketh in his heart, so he is.” The lower mind should be the organ of heart expression and be as unconscious in its functioning as is the rhythm of the heart itself—the physical heart. The higher mind is intended to become increasingly the field of the initiate’s effort, and hence the constant need for him to build the antahkarana.

Hai điểm tương phản, tuy tương đối nhỏ, lại có tầm quan trọng thực sự. Những điểm này hiện ra rõ ràng nếu các bạn so sánh những huấn thị được trao cho những người xin bước vào địa vị đệ tử với những huấn thị được trao cho các điểm đạo đồ. Người xin bước vào, hay đệ tử trẻ, được nói với tư cách một cá nhân và được bảo hãy phát ra “những âm thanh ấy” để Chân sư trong ashram của Ngài nghe được—vì đó là thâm nghĩa chân thực của các lời này. Điểm đạo đồ hoạt động trong một nhóm, luôn luôn trong một nhóm, và đã phát triển hoặc đang nhanh chóng phát triển tâm thức nhóm; trong sự hòa hợp với nhóm của mình và như một phần hữu thức, toàn vẹn của nhóm ấy, Linh từ phải được xướng lên; đây không phải là một mớ âm thanh pha tạp, mà là một Linh từ khẩn cầu rõ ràng duy nhất. Các bạn cần nhớ rằng đệ tử đang bận rộn với việc quy tụ nhiều âm thanh vào trong Linh từ; khi y đã làm xong điều này, cách tiếp cận thực tại với tư cách cá nhân của y chấm dứt, và y bắt đầu hành động cùng nhóm của mình trong mọi hoạt động. Đây là một điểm có tầm quan trọng lớn mà kiểu đệ tử mới hơn cần nắm bắt. Trong quá khứ, sự nhấn mạnh đặt vào điều mà điểm đạo đồ cá nhân phải làm để khiến mình thích hợp thọ điểm đạo, và nhờ đó trở thành một Chân sư Minh Triết và một thành viên của Thánh Đoàn hành tinh. Trong chu kỳ mới sắp đến, sự nhấn mạnh sẽ đặt vào công việc và hoạt động nhóm, vào điểm đạo nhóm và cách tiếp cận nhóm đối với Trung Tâm Sự Sống. Phương thức sống cần có và những loại bỏ cùng điều chỉnh cá nhân cần thiết nay đã được biết rõ đến mức, ít nhất là về mặt lý thuyết, lẽ ra chúng phải rơi xuống dưới ngưỡng tâm thức và do đó trở nên tự động trong tác dụng của chúng. Điều này cũng phải tạo nên một động lực bền vững cho tư tưởng, khiến điểm đạo đồ trở thành đúng như y phải là, bởi vì trí hữu thức của y được tự do cho hoạt động nhóm. Đây là một quan niệm cần được ngày càng vun bồi; “Con người nghĩ trong lòng thế nào, y là như vậy.” Hạ trí phải là cơ quan biểu lộ của tâm, và trong hoạt động của nó phải vô thức như chính nhịp điệu của quả tim—quả tim hồng trần. Thượng trí được dự định sẽ ngày càng trở thành lĩnh vực nỗ lực của điểm đạo đồ, và vì thế y luôn luôn cần xây dựng antahkarana.

In this Rule we are therefore dealing with the work [Page 138] to be done by a group of pledged disciples and initiates; they are learning together to make an approach to Shamballa (involving the Will element); this is as much a goal of the Hierarchy as approach to the Hierarchy is the goal of advanced humanity. It concerns the interrelation of great centers of force. This is a point which esoteric students should attempt to grasp for it completes the planetary chain of Hierarchy and throws a light upon the Way of the Higher Evolution.

Trong quy luật này, do đó, chúng ta đang đề cập đến công việc [Page 138] phải được thực hiện bởi một nhóm đệ tử và điểm đạo đồ đã cam kết; họ đang học cùng nhau để tiếp cận Shamballa, điều này bao hàm yếu tố Ý Chí; đây cũng là mục tiêu của Thánh Đoàn, cũng như việc tiếp cận Thánh Đoàn là mục tiêu của nhân loại tiến bộ. Điều này liên quan đến mối tương quan giữa các trung tâm mãnh lực lớn. Đây là một điểm mà các đạo sinh nội môn phải cố gắng nắm bắt, vì nó hoàn tất chuỗi Thánh Đoàn hành tinh và rọi ánh sáng lên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.

Great movements and progressions have always taken place upon the subjective side of life; it is these subjective activities which have made it hard for disciples to grasp the truth and arrive at some true realization of the subjective situation which ever exists between the Hierarchy and Shamballa. The energies concerned are so subtle, and the Beings involved are so advanced and so highly developed (even from the angle of the initiate of the third degree), that it is well-nigh impossible for the teachings (which I seek to give) to be worded in such a manner that they become comprehensible. All that I can do is to make certain statements which (from the standpoint of those I teach) are not verifiable; they have to be accepted on trust and with the reservation that time and the point of view of the individual disciple will later prove their truth—or their non-truth.

Những chuyển động và bước tiến lớn lao luôn luôn diễn ra ở phương diện nội tại của sự sống; chính các hoạt động nội tại này đã khiến đệ tử khó nắm bắt chân lý và đạt đến một nhận biết chân thực nào đó về tình thế nội tại vốn luôn tồn tại giữa Thánh Đoàn và Shamballa. Các năng lượng liên hệ quá tinh vi, và các Đấng liên quan quá tiến bộ, quá phát triển cao, ngay cả xét từ góc độ của điểm đạo đồ bậc ba, đến nỗi gần như không thể diễn đạt các giáo huấn mà tôi tìm cách trao truyền theo một cách khiến chúng trở nên dễ hiểu. Tất cả những gì tôi có thể làm là đưa ra một số phát biểu mà, theo quan điểm của những người tôi dạy, là điều không thể kiểm chứng; chúng phải được chấp nhận bằng niềm tin, kèm theo sự dè dặt rằng thời gian và quan điểm của từng đệ tử về sau sẽ chứng minh chân lý—hoặc sự không đúng—của chúng.

The objective of all training given to the disciple is to shift his conscious awareness from the point where he is to levels which are higher than those in the three worlds of definitely human evolution; the intention is to teach him to function on those planes of conscious contact which are as yet so subjective that he only accepts them as existent in theory. The trained initiate knows that they have to become his natural habitat, and that eventually he has to relegate the ordinary and normal human experience to the three worlds of daily expression. These become eventually the worlds that exist below the threshold of consciousness; they are relegated to the realm of the subconscious—recoverable consciously, if necessary for right service of humanity, [Page 139] but as much below the threshold of consciousness as are the ordinary emotional reactions of the average man. These are always recoverable (as modern psychoanalysis has demonstrated) and can become capable of expression and of formulation into conditioning concepts—thus actuating mental perception if deemed of adequate importance. However, it should be borne in mind that the greater part of the emotional life of the disciple must become increasingly subconscious, just as the physical plane life of the normal, healthy human being is entirely automatic and thus subconscious. When the disciple has striven to expand his consciousness, when he has learnt to stabilize his consciousness in the Spiritual Triad, then he becomes part of a great and constant hierarchical effort which strives upwards towards the “Place of Clear Electric Light,” to which the clear cold light of the reason is the first key to the first door.

Mục tiêu của mọi huấn luyện trao cho đệ tử là chuyển dịch nhận thức hữu thức của y từ điểm y đang đứng đến những cấp độ cao hơn các cấp độ trong ba cõi giới của tiến hóa rõ rệt thuộc nhân loại; chủ đích là dạy y hoạt động trên những cõi tiếp xúc hữu thức hiện vẫn còn nội tại đến mức y chỉ chấp nhận sự tồn tại của chúng trên lý thuyết. Điểm đạo đồ đã được huấn luyện biết rằng chúng phải trở thành môi trường sống tự nhiên của y, và cuối cùng y phải đưa kinh nghiệm nhân loại thông thường và bình thường xuống ba cõi giới của sự biểu lộ hằng ngày. Rốt cuộc, những cõi này trở thành các thế giới tồn tại dưới ngưỡng tâm thức; chúng được đưa vào cõi của tiềm thức—có thể được phục hồi một cách hữu thức nếu cần cho việc phụng sự đúng đắn nhân loại, [Page 139] nhưng vẫn ở dưới ngưỡng tâm thức cũng như các phản ứng cảm xúc thông thường của người trung bình. Những phản ứng này luôn luôn có thể được phục hồi, như phân tâm học hiện đại đã chứng minh, và có thể trở nên có khả năng biểu lộ cũng như được công thức hóa thành những quan niệm có sức định hình—nhờ đó tác động đến nhận thức trí tuệ nếu được xem là đủ quan trọng. Tuy nhiên, cần ghi nhớ rằng phần lớn đời sống cảm xúc của đệ tử phải ngày càng trở nên thuộc tiềm thức, cũng như đời sống cõi hồng trần của một con người bình thường, lành mạnh thì hoàn toàn tự động và do đó thuộc tiềm thức. Khi đệ tử đã nỗ lực mở rộng tâm thức của mình, khi y đã học cách ổn định tâm thức trong Tam Nguyên Tinh Thần, bấy giờ y trở thành một phần của nỗ lực Thánh Đoàn lớn lao và liên tục, vốn vươn lên hướng về “Nơi của Ánh Sáng Điện Quang Trong Suốt”, mà ánh sáng lạnh trong trẻo của lý trí là chìa khóa thứ nhất mở cánh cửa thứ nhất.

There are three doors into Shamballa, speaking figuratively:

Nói theo nghĩa biểu tượng, có ba cánh cửa đi vào Shamballa:

1. There is the door of the reason, of pure perception of truth. Christ gave the clue to this teaching when He said “I am the Way, the Truth and the Life.” Of that Way we know much, because upon the Way a vast body of teaching has been given, and that teaching, if followed, brings a man into the Hierarchy. He then becomes a factual part of the hierarchical membership. Of that Truth, we know (as aspirants) relatively very little. Truth—as we understand it during the early treading of the Path of Discipleship—is concerned with great verities which are (from the insight of the Enlightened Ones) only the ABC of life. These truths are:

1. Có cánh cửa của lý trí, của tri giác thuần khiết về chân lý. Đức Christ đã trao chìa khóa cho giáo huấn này khi Ngài nói: “Tôi là Con Đường, Chân Lý và Sự Sống.” Về Con Đường ấy chúng ta biết nhiều, bởi vì trên Con Đường ấy đã có một khối lượng giáo huấn rất lớn được trao truyền, và nếu được noi theo, giáo huấn ấy đưa con người vào Thánh Đoàn. Khi đó y trở thành một phần thực sự của hàng ngũ Thánh Đoàn. Về Chân Lý ấy, chúng ta, với tư cách những người chí nguyện, biết tương đối rất ít. Chân lý—như chúng ta hiểu trong những bước đầu đi trên Con Đường Đệ Tử—liên quan đến những sự thật lớn lao mà, theo tuệ kiến của Các Đấng Giác Ngộ, chỉ là những điều vỡ lòng của sự sống. Những chân lý ấy là:

– The manifestation of divinity on the physical plane.

– Sự biểu hiện của thiên tính trên cõi hồng trần.

– The doctrine of Avatars. This religious history reveals.

– Giáo lý về các Đấng Hoá Thân. Lịch sử tôn giáo mặc khải điều này.

– The nature of consciousness, through the development of psychology.

– Bản chất của tâm thức, thông qua sự phát triển của tâm lý học.

– The doctrine of the Trinity, as it expresses itself through the aspects and the attributes.

– Giáo lý về Ba Ngôi, khi giáo lý ấy biểu lộ qua các phương diện và các thuộc tính.

These four expressions of truth will be found to convey all the knowledge with which the initiate must stand equipped [Page 140] when he climbs the Mount of Transfiguration at the time of the third initiation. They have given him a spiritual perception of the Plan.

Bốn biểu hiện này của chân lý sẽ được thấy là truyền đạt toàn bộ tri thức mà điểm đạo đồ phải được trang bị [Page 140] khi y leo lên Núi Biến Hình vào thời điểm lần điểm đạo thứ ba. Chúng đã trao cho y một tri giác tinh thần về Thiên Cơ.

Of that Life, we know nothing whatsoever. The contemplation of its significance belongs to Those Who can move at will within the “precincts of the Lord of Life”—in Shamballa itself. All we can know about it is its lowest step. This enables us to study the impulse or instinct which enables all forms of life to function, which embodies the principles of responsiveness to contacts and to environment, and which embodies itself in the breath of life; this is also related to the air in some mysterious manner, and also to fire. More anent this subject it would be useless for me to say.

Về Sự Sống ấy, chúng ta hoàn toàn không biết gì. Việc chiêm ngưỡng thâm nghĩa của nó thuộc về Các Đấng có thể tùy ý di chuyển trong “phạm vi của Chúa Tể Sự Sống”—ngay trong Shamballa. Tất cả những gì chúng ta có thể biết về nó là nấc thấp nhất của nó. Điều này cho phép chúng ta nghiên cứu xung lực hay bản năng giúp mọi hình tướng sự sống hoạt động, vốn thể hiện các nguyên khí của khả năng đáp ứng với các tiếp xúc và với môi trường, và tự biểu hiện trong hơi thở của sự sống; điều này cũng liên hệ với khí theo một cách huyền nhiệm nào đó, và cũng liên hệ với lửa. Tôi nói thêm về chủ đề này sẽ là vô ích.

2. There is also the door of the will. This is a penetrating power which relates Plan to Purpose and which has in it the faculty of coherent persistence. The reason for this persistence is that it is not dependent upon the content of the form—whether it is the form of an atom, of a man or of a planet—but upon a vital dynamic and immutable purpose, latent in the consciousness of the planetary Being Who, “having pervaded this entire universe with a fragment” of Himself, Remains—greater, more inscrutable and “firmer in intent” than any of His creations, even the most advanced and the closest to Him. Only those have clear perception of His divine purpose who do not belong to our earth humanity at all; these are the Lives who came with Him to this planet when He came, and Who remain with Him as “the prisoners of loving intention” until the last weary pilgrim has found his way home.”

2. Cũng có cánh cửa của ý chí. Đây là một quyền năng xuyên thấu, liên kết Thiên Cơ với Thiên Ý và mang trong nó năng lực kiên trì nhất quán. Lý do của sự kiên trì này là vì nó không tùy thuộc vào nội dung của hình tướng—dù đó là hình tướng của một nguyên tử, của một con người hay của một hành tinh—mà tùy thuộc vào một thiên ý sống động, năng động và bất biến, tiềm tàng trong tâm thức của Thực Thể hành tinh, Đấng, “sau khi đã thấm nhuần toàn thể vũ trụ này bằng một mảnh” của Chính Ngài, Vẫn Còn—lớn lao hơn, khó dò hơn và “kiên định hơn trong ý định” so với bất cứ tạo vật nào của Ngài, ngay cả tạo vật tiến bộ nhất và gần Ngài nhất. Chỉ những Vị hoàn toàn không thuộc nhân loại địa cầu chúng ta mới có tri giác rõ ràng về Thiên Ý của Ngài; những Vị ấy là các Sự Sống đã đến với hành tinh này cùng Ngài khi Ngài đến, và vẫn ở cùng Ngài như “những tù nhân của ý định bác ái” cho đến khi người hành hương mỏi mệt cuối cùng tìm được đường về nhà.”

This spiritual will is something of which humanity knows nothing; it is hidden and veiled by the self-will of the individual and the group will of the soul. Through both of these experiences the human being moves until his individual will is developed and grounded, focused and reoriented, and his group will is unfolded so that it includes and swallows up the dedicated, conscious, individual will. When this fusion has taken place (at the third initiation) a [Page 141] great revelation unfolds itself, and for the first time the initiate senses and then contacts the universal will; from that moment the initiate says, “Father, not my will but Thine be done.” Just a little of what that will includes may emerge as we study this seventh rule and some of the succeeding rules.

Ý chí tinh thần này là điều nhân loại không biết gì; nó bị che khuất và phủ màn bởi ý chí riêng của cá nhân và ý chí nhóm của linh hồn. Con người đi qua cả hai kinh nghiệm này cho đến khi ý chí cá nhân của y được phát triển và đặt nền, được tập trung và tái định hướng, còn ý chí nhóm của y được khai mở đến mức nó bao gồm và nuốt trọn ý chí cá nhân đã tận hiến và hữu thức. Khi sự dung hợp này đã diễn ra, tại lần điểm đạo thứ ba, một [Page 141] sự mặc khải lớn lao tự khai mở, và lần đầu tiên điểm đạo đồ cảm nhận rồi tiếp xúc với ý chí phổ quát; từ khoảnh khắc ấy, điểm đạo đồ nói: “Cha, không phải ý con, mà ý Cha được thành tựu.” Một chút ít về những gì ý chí ấy bao hàm có thể hiện ra khi chúng ta nghiên cứu quy luật thứ bảy này và một vài quy luật kế tiếp.

3. I can find no words to express the nature of the third door. Let us, in default of a better term, call it the door of the monadic sense of essential duality. Body and life, soul and personality, the Spiritual Triad and its expression, the Christ in incarnation—all these dualities have played their part. Man has passed from one expansion of consciousness to another. Now he comes to the final duality of spirit and matter, prior to their resolution into something to which the terms “isolated unity” and “universal synthesis” give only faint and inadequate clues. To the development of this system of identification the initiate of the degree of Master of the Wisdom, and also (on a higher turn of the spiral) of the degree of the Christ, are focusing all Their efforts. Up to the fourth initiation, the term “system of expansions” would seem illuminating; after that great initiation, the term “system of identification” would appear more appropriate.

3. Tôi không tìm được lời nào để diễn tả bản chất của cánh cửa thứ ba. Do thiếu một thuật ngữ tốt hơn, chúng ta hãy gọi nó là cánh cửa của cảm thức chân thần về nhị nguyên cốt yếu. Thể và sự sống, linh hồn và phàm ngã, Tam Nguyên Tinh Thần và sự biểu hiện của nó, Đức Christ đang lâm phàm—tất cả những nhị nguyên này đều đã đóng phần của chúng. Con người đã đi từ một sự mở rộng tâm thức này sang một sự mở rộng tâm thức khác. Giờ đây y đi đến nhị nguyên cuối cùng của tinh thần và vật chất, trước khi chúng được hóa giải thành một điều mà các thuật ngữ “Hợp Nhất Cô Lập” và “tổng hợp phổ quát” chỉ đem lại những gợi ý mờ nhạt và không đầy đủ. Điểm đạo đồ ở cấp độ Chân sư Minh Triết, và cũng vậy, trên một vòng xoắn cao hơn của đường xoắn ốc, ở cấp độ của Đức Christ, đang tập trung mọi nỗ lực của Các Ngài vào việc phát triển hệ thống đồng hóa này. Cho đến lần điểm đạo thứ tư, thuật ngữ “hệ thống các sự mở rộng” có vẻ soi sáng; sau cuộc điểm đạo lớn lao ấy, thuật ngữ “hệ thống đồng hóa” có vẻ thích hợp hơn.

When the initiate has passed through the three doors, symbolically speaking, he then faces all life, all events, all predeterminations, all wisdom, all activity and all that the future may hold of service and progress from the angle of the pure reason (infallible and immutable), of true spiritual will (completely identified with the purpose of the planetary Logos), and of the highest possible focused relation. The mystery of relationship becomes revealed to him. Then the entire scheme of evolution and of the intention of the One in Whom he lives and moves and has his being becomes clear to him; he has no more to learn within this planetary scheme; he has become universal in his attitude to all forms of life, and is also identified with the “isolated unity” of Sanat Kumara. Few of the great Lives Who form the inner group of the Council Chamber at Shamballa are now of [Page 142] greater advancement than he; the “Supernal Three,” the “Radiant Seven,” the “Lives embodying the forty-nine Fires,” the “Buddhas of Activity,” and certain “Eternal Spirits” from such centers of dynamic spiritual life as Sirius, or from the constellation which at any one time forms a triangle with our Sun and Sirius, and a Representative from Venus are of greater—far greater—advancement. Otherwise, all initiates of the sixth degree, and a few of the Masters Who have undergone specialized training because They are upon the first Ray of Will or Power (the ray conditioning Shamballa itself), form part of the Great Council. Many Masters and Chohans, however, after serving upon the planet in various capacities, working with the Law of Evolution, pass out of our planetary life altogether.

Khi điểm đạo đồ đã đi qua ba cánh cửa, nói theo biểu tượng, bấy giờ y đối diện với toàn bộ sự sống, mọi biến cố, mọi sự tiền định, mọi minh triết, mọi hoạt động và tất cả những gì tương lai có thể chứa đựng về phụng sự và tiến bộ, từ góc độ của lý trí thuần khiết (không thể sai lầm và bất biến), của ý chí tinh thần chân chính (hoàn toàn đồng hóa với mục đích của Hành Tinh Thượng đế), và của mối liên hệ tập trung cao nhất có thể. Huyền nhiệm của mối liên hệ được mặc khải cho y. Bấy giờ toàn bộ hệ đồ tiến hóa và ý định của Đấng mà trong Ngài y sống, vận hành và hiện tồn trở nên rõ ràng đối với y; y không còn điều gì phải học trong hệ hành tinh này nữa; y đã trở nên phổ quát trong thái độ của mình đối với mọi hình tướng sự sống, và cũng đồng hóa với “Hợp Nhất Cô Lập” của Đức Sanat Kumara. Chỉ một số ít trong các Sự Sống vĩ đại, vốn hợp thành nhóm bên trong của Phòng Hội Đồng tại Shamballa, hiện nay có mức [Page 142] tiến bộ cao hơn y; “Ba Đấng Thiên Thượng,” “Bảy Đấng Rạng Ngời,” “Các Sự Sống hiện thân cho bốn mươi chín Lửa,” “Các Đức Phật Hoạt Động,” và một số “Tinh Thần Vĩnh Cửu” từ những trung tâm của đời sống tinh thần năng động như Sirius, hoặc từ chòm sao vào bất cứ thời điểm nào tạo thành một tam giác với Mặt Trời của chúng ta và Sirius, cùng một Vị Đại Diện từ Sao Kim, đều có mức tiến bộ cao hơn—cao hơn rất nhiều. Ngoài ra, tất cả các điểm đạo đồ cấp sáu, và một vài Chân sư đã trải qua sự huấn luyện chuyên biệt vì Các Ngài thuộc cung một của Ý Chí hay Quyền Năng (cung đang tác động lên chính Shamballa), đều hợp thành một phần của Đại Hội Đồng. Tuy nhiên, nhiều Chân sư và Chohan, sau khi phụng sự trên hành tinh trong nhiều năng lực khác nhau, làm việc với Định luật Tiến hóa, đã rời hẳn đời sống hành tinh của chúng ta.

All the above information concerning the Lives which are far in advance of the disciples of the world contains little of moment for you, except in so far as it falls into a diagrammatic pattern of our planetary life and purpose, and enabling you, therefore, to get a faint glimpse of a synthetic theme and purpose to which all evolving lives must and will eventually conform.

Tất cả thông tin trên đây liên quan đến các Sự Sống vượt xa các đệ tử của thế gian không chứa đựng nhiều điều quan trọng đối với các bạn, ngoại trừ trong chừng mực nó đi vào một mô hình sơ đồ của đời sống và mục đích hành tinh chúng ta, và do đó giúp các bạn có được một thoáng nhìn mờ nhạt về một chủ đề và mục đích tổng hợp mà mọi sự sống đang tiến hóa cuối cùng đều phải và sẽ thuận theo.

It must ever be borne in mind that the great theme of Light underlies our entire planetary purpose. The full expression of perfect Light, occultly understood, is the engrossing life-purpose of our planetary Logos. Light is the great and obsessing enterprise in the three worlds of human evolution; everywhere men rate the light of the sun as essential to healthy living; some idea of the human urge to light can be grasped if you consider the brilliance of the physically engendered light in which we live when night arrives, and compare it with the mode of lighting the streets and homes of the world prior to the discovery of gas, and later of electricity. The light of knowledge, as the reward of educational processes, is the incentive behind all our great schools of learning in every country in the world and is the goal of much of our world organization; the terminology of light controls even our computation of time. The mystery of electricity is unfolding gradually before our rapt [Page 143] eyes and the electrical nature of man is being slowly proven and will later demonstrate that, throughout the human structure and form, man is composed primarily of light atoms, and that the light in the head (so familiar to esotericist) is no fiction or figment of wishful thinking or of a hallucinated imagination, but is definitely brought about by the junction or fusion of the light inherent in substance itself and the light of the soul.

Cần luôn ghi nhớ rằng chủ đề vĩ đại về Ánh sáng nằm dưới toàn bộ mục đích hành tinh của chúng ta. Sự biểu lộ trọn vẹn của Ánh sáng hoàn hảo, hiểu theo huyền bí học, là mục đích sống chi phối trọn vẹn của Hành Tinh Thượng đế chúng ta. Ánh sáng là công trình vĩ đại và ám ảnh trong ba cõi giới của tiến hóa nhân loại; ở khắp nơi, con người xem ánh sáng mặt trời là thiết yếu cho đời sống lành mạnh; có thể nắm bắt phần nào thôi thúc của nhân loại hướng về ánh sáng nếu các bạn suy xét độ rực rỡ của ánh sáng được tạo ra trên phương diện hồng trần mà chúng ta đang sống trong đó khi đêm xuống, rồi so sánh nó với cách thắp sáng đường phố và nhà cửa của thế giới trước khi khí đốt được phát hiện, và sau đó là điện. Ánh sáng của tri thức, như phần thưởng của các tiến trình giáo dục, là động lực đằng sau tất cả những trường học lớn của chúng ta tại mọi quốc gia trên thế giới, và là mục tiêu của phần lớn tổ chức thế giới của chúng ta; thuật ngữ về ánh sáng còn chi phối cả cách chúng ta tính thời gian. Huyền nhiệm của điện đang dần mở ra trước đôi mắt say mê [Page 143] của chúng ta, và bản chất điện của con người đang chậm rãi được chứng minh, rồi về sau sẽ cho thấy rằng, trong toàn bộ cấu trúc và hình tướng nhân loại, con người chủ yếu được cấu thành bằng các nguyên tử ánh sáng, và rằng ánh sáng trong đầu (rất quen thuộc với nhà bí truyền học) không phải là điều hư cấu hay sản phẩm của lối suy nghĩ mong cầu, hoặc của sự tưởng tượng bị ảo giác, mà nhất định được tạo nên bởi sự nối kết hay sự dung hợp của ánh sáng nội tại trong chính chất liệu và ánh sáng của linh hồn.

It will be found that this will be capable of scientific proof. It will also be shown that the soul itself is light, and that the entire Hierarchy is a great center of light, causing the symbology of light to govern our thinking, our approach to God, and enabling us to understand somewhat the meaning of the words of Christ “I am the Light of the world.” These words carry meaning to all true disciples and present them with an analogous goal which they define to themselves as that of finding the light, appropriating the light, and themselves becoming light-bearers. The theme of light runs through all the world Scriptures; the idea of enlightenment conditions all the training given to the youth of the world (limited though the application of this idea may be), and the thought of more light governs all the inchoate yearnings of the human spirit.

Người ta sẽ thấy rằng điều này có thể được chứng minh bằng khoa học. Người ta cũng sẽ cho thấy rằng chính linh hồn là ánh sáng, và toàn thể Thánh đoàn là một trung tâm ánh sáng vĩ đại, khiến hệ biểu tượng của ánh sáng chi phối tư tưởng của chúng ta, cách chúng ta tiếp cận Thượng đế, và giúp chúng ta phần nào thấu hiểu ý nghĩa của lời Đức Christ: “Tôi là Ánh sáng của thế gian.” Những lời này mang ý nghĩa đối với mọi đệ tử chân chính, và trao cho họ một mục tiêu tương ứng mà họ tự xác định là tìm thấy ánh sáng, tiếp nhận ánh sáng, và chính họ trở thành những người mang ánh sáng. Chủ đề ánh sáng xuyên suốt mọi Kinh điển thế giới; ý tưởng về giác ngộ định hình toàn bộ sự huấn luyện dành cho thanh niên thế giới (dù sự áp dụng ý tưởng này còn hạn hẹp), và tư tưởng về nhiều ánh sáng hơn chi phối mọi khát vọng còn chưa thành hình của tinh thần nhân loại.

We have not yet carried the concept up to the Center of Life where dwells the Ancient of Days, the Eternal Youth, the Lord of the World, Sanat Kumara, Melchizedek—God. Yet from that Center streams what has been called the Light of Life, the Light Supernal. These are empty words as yet until we know, as trained initiates, that light is a symptom and an expression of Life, and that essentially, occultly and in a most mysterious way the terms, Light and Life, are interchangeable within the limits of the planetary ring-pass-not. Beyond those limits—who knows? Light can be regarded as a symptom, a reaction to the meeting and consequent fusion of spirit and matter.

Chúng ta vẫn chưa đưa khái niệm này lên đến Trung tâm Sự Sống, nơi cư ngụ của Đấng Thái Cổ, Tuổi Trẻ Vĩnh Cửu, Đức Chúa Tể Thế Giới, Đức Sanat Kumara, Melchizedek—Thượng đế. Tuy nhiên, từ Trung tâm ấy tuôn chảy điều đã được gọi là Ánh sáng của Sự Sống, Ánh Sáng Thiên Thượng. Những lời này cho đến nay vẫn còn rỗng nghĩa, cho đến khi chúng ta, với tư cách các điểm đạo đồ được huấn luyện, biết rằng ánh sáng là một dấu hiệu và một biểu lộ của Sự Sống, và rằng về căn bản, theo huyền bí học và theo một cách hết sức huyền nhiệm, các thuật ngữ Ánh sáng và Sự Sống có thể hoán đổi cho nhau trong phạm vi vòng-giới-hạn hành tinh. Vượt ngoài những giới hạn ấy—ai biết được? Ánh sáng có thể được xem là một dấu hiệu, một phản ứng trước sự gặp gỡ và sự dung hợp hệ quả của tinh thần và vật chất.

Therefore, where that great point of fusion and of solar crisis (for that is what it is, even when producing a planetary crisis) appears in time and space, light also immediately [Page 144] appears and of such intensity that only those who know the light of the soul, and who can bear the hierarchical light can be trained to enter into and form part of the light of Shamballa and walk in those “radiant halls where move the Lights which carry out the Will of God.”

Do đó, ở nơi nào điểm dung hợp vĩ đại ấy và cuộc khủng hoảng thái dương ấy (vì đó chính là bản chất của nó, ngay cả khi nó tạo ra một cuộc khủng hoảng hành tinh) xuất hiện trong thời gian và không gian, ánh sáng cũng lập tức [Page 144] xuất hiện với cường độ đến mức chỉ những ai biết ánh sáng của linh hồn, và có thể chịu đựng ánh sáng của Thánh đoàn, mới có thể được huấn luyện để bước vào và hợp thành một phần của ánh sáng Shamballa, và bước đi trong những “đại sảnh rạng ngời, nơi các Ánh Sáng thực thi Ý Chí của Thượng Đế vận hành.”

To carry the concept a little nearer home: only when the will of the personality and the will of the soul come together—evoked by love—does the light of the soul dominate the material light of the personality. This is a statement of importance. Only when the will of the Monad and the will of the Hierarchy of souls meet and blend in the “upper brackets” (if I may use such a modern business phrase) can the radiant light of Life dominate the blended lights of Humanity and of the Hierarchy. Faintly this group fusion and junction can be seen to be taking place.

Để đưa khái niệm này đến gần hơn một chút: chỉ khi ý chí của phàm ngã và ý chí của linh hồn gặp nhau—được gợi lên bởi tình thương—thì ánh sáng của linh hồn mới chế ngự ánh sáng vật chất của phàm ngã. Đây là một phát biểu quan trọng. Chỉ khi ý chí của chân thần và ý chí của Thánh đoàn các linh hồn gặp gỡ và hòa nhập trong “những khung bậc cao hơn” (nếu tôi có thể dùng một cụm từ thương mại hiện đại như thế) thì ánh sáng rạng ngời của Sự Sống mới có thể chế ngự những ánh sáng đã hòa nhập của Nhân loại và của Thánh đoàn. Có thể lờ mờ thấy rằng sự dung hợp và nối kết tập thể này đang diễn ra.

It is also the first touch of the radiance of Shamballa which is bringing the universal revelation of evil, a radiance which is now producing the world unrest and which has brought about the lining up of good and evil; this touch of radiance is the conditioning factor behind what is called postwar planning and the ideas of reconstruction and of world rebuilding which are dominating the best human thinking at this time.

Chính sự chạm đầu tiên của ánh huy Shamballa cũng đang đem lại sự mặc khải phổ quát về cái ác, một ánh huy hiện đang tạo ra tình trạng bất ổn thế giới và đã đưa đến sự phân tuyến giữa thiện và ác; sự chạm của ánh huy này là yếu tố định hình đằng sau điều được gọi là kế hoạch hậu chiến, cùng các ý tưởng về tái thiết và xây dựng lại thế giới đang chi phối tư tưởng nhân loại ưu tú nhất vào lúc này.

It should be carefully borne in mind that evil (cosmic evil or the source of planetary evil) is much closer to Shamballa than it is to Humanity. The Great Lives there move entirely free from glamor; Their vision is one of extreme simplicity; They are concerned only with the great and simple duality of spirit and matter, and not with the many forms which the fusion of these two brings into being. The domination of spirit (and its reflection, soul) by matter is what constitutes evil and this is true whether the statement is applied to the development of the individual or of the group. The “Lights which carry out the will of God” move free from the spell of evil. The Light in which They move safeguards Them, and Their Own innate and inherent radiance repels evil. But They “move alongside the evil to which all lesser forms are prone”; They are part of a great [Page 145] observing Group which “moves forward in time and space”; its members watch the great war and conflict proceed on Earth between the Forces of Light and the Forces of Evil. They have let loose upon Earth the Forces of Light, whilst the Forces of Evil are inherent in substance itself—of which all the many forms of life are constructed.

Cần cẩn trọng ghi nhớ rằng cái ác (tà ác vũ trụ hay nguồn gốc của tà ác hành tinh) ở gần Shamballa hơn rất nhiều so với Nhân loại. Các Sự Sống Vĩ Đại nơi đó vận hành hoàn toàn tự do khỏi ảo cảm; tầm nhìn của Các Ngài là tầm nhìn của sự giản dị tột cùng; Các Ngài chỉ quan tâm đến nhị nguyên vĩ đại và đơn giản của tinh thần và vật chất, chứ không đến vô số hình tướng mà sự dung hợp của hai điều này đưa vào hiện tồn. Việc vật chất thống trị tinh thần (và phản ánh của tinh thần là linh hồn) chính là điều cấu thành cái ác và điều này đúng dù phát biểu ấy được áp dụng cho sự phát triển của cá nhân hay của tập thể. “Các Ánh Sáng thực thi Ý Chí của Thượng Đế” vận hành tự do khỏi ma lực của cái ác. Ánh sáng trong đó Các Ngài vận hành bảo vệ Các Ngài, và chính ánh huy tự hữu, nội tại của Các Ngài đẩy lùi cái ác. Nhưng Các Ngài “vận hành bên cạnh cái ác mà mọi hình tướng thấp kém hơn đều dễ sa vào”; Các Ngài là một phần của Nhóm quan sát vĩ đại đang “tiến tới trong thời gian và không gian”; các thành viên của nhóm này dõi theo cuộc đại chiến và xung đột đang diễn ra trên Trái Đất giữa các Mãnh Lực Ánh Sáng và các Mãnh Lực Tà Ác. Các Ngài đã phóng thích các Mãnh Lực Ánh Sáng xuống Trái Đất, trong khi các Mãnh Lực Tà Ác vốn nội tại trong chính chất liệu—chất liệu mà từ đó tất cả vô số hình tướng sự sống được kiến tạo.

At this time, the work of the Great Council at Shamballa, ‘Working until now through the Hierarchy, is with the life within the form; They have to proceed with the utmost caution as They thus work, because these Lights know that the danger of premature direct contact with humanity, and of consequent over-stimulation, is great. One of the causes of the present cataclysm is the fact that humanity was deemed capable of taking and receiving a “touch from Shamballa,” without stepping it down via the Hierarchy, as has hitherto been the custom. The determination to apply this touch (which is in the nature of a great experiment) was made in 1825, when the Great Council had its usual centennial meeting. The results you know; they are working out before your eyes. The industrial movement began to take shape one hundred years ago and received a great impetus from this touch. The evil in nations—aggression, greed, intolerance and hate—was aroused as never before, and two world wars occurred, one of which is still raging (written October 1943). Paralleling this was an uprising of good, again in response to the divine “touch,” resulting in the growth of understanding, the spread of idealism, the purification of our educational systems and the inauguration of reforms in every department of human life. All has been speeded up and little such growth was seen on a worldwide scale prior to 1825. The knowledge of the Hierarchy is also spreading over the earth; the facts anent discipleship and initiation are becoming common property; humanity has consequently moved onward into a greater measure of light. Good and evil stand out in clearer focus; light and dark are in a more brilliant juxtaposition; issues of right and wrong are appearing with cleared definition, and humanity as a whole sees the great problems of righteousness [Page 146] and love, of sin and separateness upon a worldwide scale.

Vào lúc này, công việc của Đại Hội Đồng tại Shamballa, vốn cho đến nay vẫn được tiến hành thông qua Thánh đoàn, là với sự sống bên trong hình tướng; Các Ngài phải tiến hành với sự thận trọng tối đa khi làm việc như thế, vì các Ánh Sáng này biết rằng nguy cơ của sự tiếp xúc trực tiếp quá sớm với nhân loại, và sự kích thích quá mức theo sau đó, là rất lớn. Một trong các nguyên nhân của cơn đại biến hiện tại là sự kiện nhân loại đã được xem là có khả năng tiếp nhận một “sự chạm từ Shamballa,” mà không cần giảm cấp nó xuống thông qua Thánh đoàn như từ trước đến nay vẫn là thông lệ. Quyết định áp dụng sự chạm này (vốn mang bản chất của một cuộc thử nghiệm lớn) được đưa ra vào năm 1825, khi Đại Hội Đồng có cuộc họp bách niên thường lệ. Các bạn biết kết quả; chúng đang diễn ra trước mắt các bạn. Phong trào công nghiệp bắt đầu định hình một trăm năm trước và nhận được một động lực mạnh mẽ từ sự chạm này. Cái ác trong các quốc gia—xâm lược, tham lam, không khoan dung và thù hận—đã bị khơi dậy hơn bao giờ hết, và hai cuộc chiến tranh thế giới đã xảy ra, một trong số đó vẫn còn đang ác liệt (viết tháng mười năm 1943). Song song với điều này là sự trỗi dậy của thiện, cũng để đáp ứng với “sự chạm” thiêng liêng, đưa đến sự tăng trưởng của thấu hiểu, sự lan rộng của chủ nghĩa lý tưởng, sự thanh lọc các hệ thống giáo dục của chúng ta và sự khởi xướng các cải cách trong mọi lĩnh vực của đời sống nhân loại. Mọi sự đã được gia tốc, và trước năm 1825 hiếm thấy sự tăng trưởng như thế trên quy mô toàn cầu. Tri thức về Thánh đoàn cũng đang lan rộng khắp Trái Đất; các sự kiện liên quan đến địa vị đệ tử và điểm đạo đang trở thành hiểu biết chung; do đó nhân loại đã tiến lên một mức độ ánh sáng lớn hơn. Thiện và ác nổi bật trong tiêu điểm rõ ràng hơn; ánh sáng và bóng tối ở trong thế đặt cạnh nhau rực rỡ hơn; các vấn đề đúng và sai đang xuất hiện với đường nét rõ ràng hơn, và nhân loại nói chung nhìn thấy những vấn đề lớn lao của sự chính trực [Page 146] và tình thương, của tội lỗi và sự chia rẽ trên quy mô toàn cầu.

The old age and the coming new age, old rhythms of thought and new approaches to truth and consequent new and better ways of life are presented with clarity to the minds of men. The guarantee of the success of the experiment started more than a century ago is the fact that (in spite of much that is undesirable) so many nations have ranged themselves upon the side of right, and only two definitely and altogether upon the side of evil. The evil is more concentrated, and therefore more powerful temporarily upon the physical plane; the good is more diffused and not so pure in its concentrated essence being colored by many undesirable aspects; the good, however, is concentrating rapidly and will triumph. The “Lights that carry out the will of God” now wait to give another touch which will enable the reconstruction work to move forward along right lines, but They wait for the invocative cry of humanity and for the dust of battle and of conflict to die down.

Thời đại cũ và thời đại mới đang đến, những nhịp điệu tư tưởng cũ và những cách tiếp cận mới đối với chân lý, cùng những lối sống mới hơn và tốt đẹp hơn phát sinh từ đó, đang được trình bày rõ ràng trước thể trí của con người. Sự bảo đảm cho thành công của cuộc thí nghiệm đã khởi sự hơn một thế kỷ trước là sự kiện rằng, bất chấp nhiều điều không đáng mong muốn, rất nhiều quốc gia đã đứng về phía chính nghĩa, và chỉ có hai quốc gia dứt khoát và hoàn toàn đứng về phía tà ác. Tà ác được tập trung hơn, và do đó tạm thời mạnh mẽ hơn trên cõi hồng trần; thiện thì phân tán hơn và không thật tinh thuần trong tinh chất tập trung của nó, vì bị nhuốm màu bởi nhiều phương diện không đáng mong muốn; tuy nhiên, thiện đang nhanh chóng tập trung lại và sẽ chiến thắng. “Những Ánh Sáng thực thi Ý Chí của Thượng Đế” hiện đang chờ để tạo thêm một tác động nữa, giúp công cuộc tái thiết tiến tới theo những đường lối đúng đắn, nhưng Các Ngài chờ tiếng kêu khẩn cầu của nhân loại và chờ bụi mù của chiến trận và xung đột lắng xuống.

The next two rules will reveal the issues still more clearly and will outline for you when better understood, explained and amplified, the processes and methods of hierarchical work, carried on in conjunction with the Great Council of Shamballa. To this must be added the cooperation—as far as may be—of all enlightened men, working under the Light-bearers, the Masters, and under the inspiration of the Lights which carry out the will of God.

Hai quy luật kế tiếp sẽ mặc khải các vấn đề còn rõ ràng hơn nữa, và khi được thấu hiểu, giải thích và khai triển đầy đủ hơn, sẽ phác họa cho các bạn những tiến trình và phương pháp của công việc Thánh Đoàn, được thực hiện trong sự phối hợp với Đại Hội đồng Shamballa. Vào đó phải thêm sự hợp tác—trong chừng mực có thể—của tất cả những người đã giác ngộ, làm việc dưới sự dẫn dắt của các Đấng Mang Ánh Sáng, các Chân sư, và dưới cảm hứng của những Ánh Sáng thực thi ý chí của Thượng đế.

In the foregoing I have endeavored to give some faint idea of the relation existing between the Hierarchy and Shamballa. I did this in order that you might grasp some measure of the synthesis underlying the entire planetary life; in order also that this rule for initiates could be interpreted as intended, as far as is possible, to the uninitiated consciousness; and finally, in order that the entire concept of Shamballa and its immense reservoir of energy, which we call the will or the life of God, may take its rightful place in the occult presentation of truth. The will of God and the life of God are esoterically synonymous terms, and when the life aspect of an individual and his spiritual, selfless will [Page 147] are completely synchronized, then you have—in a human being—the full expression of divinity or what has been called esoterically, “Shamballa is consummated in him.”

Trong phần trên, Tôi đã cố gắng đưa ra một ý niệm mờ nhạt nào đó về mối liên hệ hiện hữu giữa Thánh Đoàn và Shamballa. Tôi làm điều này để các bạn có thể phần nào nắm bắt sự tổng hợp làm nền tảng cho toàn bộ sự sống hành tinh; cũng để quy luật này dành cho các điểm đạo đồ có thể được diễn giải đúng như dự định, trong mức có thể, cho tâm thức chưa được điểm đạo; và sau cùng, để toàn bộ quan niệm về Shamballa và kho năng lượng bao la của nó, điều mà chúng ta gọi là ý chí hay sự sống của Thượng đế, có thể giữ đúng vị trí của nó trong sự trình bày huyền bí về chân lý. Ý chí của Thượng đế và sự sống của Thượng đế là những thuật ngữ đồng nghĩa một cách huyền bí, và khi phương diện sự sống của một cá nhân cùng ý chí tinh thần, vị tha của y [Page 147] được đồng bộ hoàn toàn, bấy giờ các bạn có—trong một con người—sự biểu hiện trọn vẹn của thiên tính, hay điều đã được gọi một cách huyền bí là: “Shamballa được viên thành nơi y.”

This again is, of course, only relative but the expression of this relationship may elucidate the problem somewhat, and the aspirant or disciple needs to remember that it is only through the analogies existing in the microcosm to the Macrocosm that enlightenment can come. And how, I ask you, will he understand the relation existing between the three great planetary centers (Shamballa, the Hierarchy and Humanity) when as yet he scarcely knows himself as a human being? How can he grasp these fundamental and advanced truths when he is only just beginning to learn the nature of the hierarchical quality of love and when his spiritual will (which links him to Shamballa) is as yet totally unawakened? And I mean, totally. But the dim outlines of the general picture must be grasped, and each decade in the future will see the aspirant and the disciple more capable of grasping it.

Điều này, dĩ nhiên, lại cũng chỉ là tương đối, nhưng sự biểu hiện của mối liên hệ này có thể phần nào làm sáng tỏ vấn đề, và người chí nguyện hay đệ tử cần nhớ rằng chỉ qua những tương đồng hiện hữu trong Tiểu thiên địa đối với Đại thiên địa thì sự giác ngộ mới có thể đến. Và Tôi hỏi các bạn, làm sao y sẽ thấu hiểu mối liên hệ hiện hữu giữa ba trung tâm hành tinh vĩ đại, Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân loại, khi cho đến nay y hầu như chưa biết chính mình với tư cách một con người? Làm sao y có thể nắm bắt những chân lý căn bản và cao siêu này khi y chỉ mới bắt đầu học biết bản chất của phẩm tính bác ái thuộc Thánh Đoàn, và khi ý chí tinh thần của y, vốn liên kết y với Shamballa, cho đến nay vẫn hoàn toàn chưa thức tỉnh? Và Tôi muốn nói: hoàn toàn. Tuy nhiên, những nét phác mờ nhạt của bức tranh tổng quát phải được nắm bắt, và mỗi thập niên trong tương lai sẽ chứng kiến người chí nguyện và đệ tử ngày càng có khả năng nắm bắt nó hơn.

Leave a Comment

Scroll to Top