Quy Luật Điểm đạo 11 dành cho đệ tử (RI)

📘 Sách: Bình Giảng 14 Quy Luật Điểm đạo Dành Cho Đệ tử – RI – Tác giả: Michael D. Robbins

Click số trang trong ngoặc [ ] để đi đến bình giảng

RULE ELEVEN [Page 209-225]

QUY LUẬT MƯỜI MỘT [Page 209-225]

I would like to speak, at this point in our discussion of the fourteen rules for initiates, upon the theme of group initiation; these rules are those to which groups that are seeking, in unison, a group expansion of consciousness, must learn to conform. It is for this reason that I have hitherto omitted to go into detail in relating these rules to the seven centers or, specifically, to the great seven solar initiations. Of these seven initiations only five concern average humanity. The remaining two initiations concern only those who are willing to meet certain unusual requirements and to produce that special effort which entitles them to the appellation, “Victors, through the clear pure will.”

Tôi muốn nói, ở điểm này trong cuộc thảo luận của chúng ta về mười bốn quy luật dành cho các điểm đạo đồ, về chủ đề điểm đạo nhóm; đây là những quy luật mà các nhóm đang cùng nhau tìm kiếm một sự mở rộng tâm thức của nhóm phải học cách tuân theo. Chính vì lý do này mà cho đến nay Tôi đã tránh đi vào chi tiết khi liên hệ các quy luật này với bảy trung tâm, hay nói cụ thể hơn, với bảy lần điểm đạo thái dương lớn lao. Trong bảy lần điểm đạo này, chỉ có năm lần liên quan đến nhân loại trung bình. Hai lần điểm đạo còn lại chỉ liên quan đến những ai sẵn sàng đáp ứng một số đòi hỏi khác thường và tạo nên nỗ lực đặc biệt khiến họ xứng đáng với danh xưng “Những Người Chiến Thắng, nhờ ý chí trong sáng và thuần khiết.”

Group initiation is no easy achievement, particularly as it is practically an untried experiment and constitutes essentially a pioneering effort. That such a development was inevitable, if the evolutionary growth of humanity proved in any way satisfactory, was early realized by the Hierarchy. However, it has taken millennia of years to make it seem—as an hypothetical effort—in any way possible, and only tentative experiments have as yet been attempted. The first objective of these experiments (going on quietly in various places all over the world) is to see if a group of disciples can work together in such a manner that an inner fusion can be seen—by the Masters—to be taking place. The results, hitherto, have not been encouraging. It has, for one thing, been difficult to find disciples who are approximately at the same point in evolution, whose rays are “shining through” adequately, and who can evidence some one quality, or some controlling theme (if I may use such a phrase) which they share in unison and which would suffice to hold them together and prove strong enough to offset personality differences, preferences and barriers. It has not been possible, as yet, to do this. Group after group has been tried and tested out by different Masters in various parts of the world, and hitherto all such attempts have proved failures. When I use the word “failure” I mean failure from [Page 209] the angle of the planned objective. From the angle of the individual growth of any particular disciple there has not necessarily been failure; from the angle of the unwitting, general public, the publication of Discipleship in the New Age will prove in years to come an epochal[1] success.

Điểm đạo nhóm không phải là một thành tựu dễ dàng, đặc biệt vì trên thực tế nó là một thử nghiệm hầu như chưa từng được tiến hành và về bản chất cấu thành một nỗ lực khai phá. Thánh Đoàn đã sớm nhận ra rằng một sự phát triển như thế là điều tất yếu, nếu sự tăng trưởng thăng thượng tiến hoá của nhân loại tỏ ra thỏa đáng theo bất cứ cách nào. Tuy nhiên, đã phải mất hàng thiên niên kỷ để làm cho điều ấy, như một nỗ lực giả định, có vẻ khả hữu theo một cách nào đó, và cho đến nay mới chỉ có những thử nghiệm dè dặt được thực hiện. Mục tiêu đầu tiên của các thử nghiệm này, đang diễn ra lặng lẽ ở nhiều nơi khác nhau trên khắp thế giới, là xem liệu một nhóm đệ tử có thể làm việc cùng nhau theo cách mà các Chân sư có thể thấy một sự dung hợp bên trong đang diễn ra hay không. Cho đến nay, các kết quả chưa đáng khích lệ. Trước hết, thật khó tìm được những đệ tử ở xấp xỉ cùng một điểm tiến hoá, có các cung đang “chiếu xuyên qua” một cách thích đáng, và có thể biểu lộ một phẩm tính nào đó, hay một chủ đề chi phối nào đó, nếu Tôi có thể dùng cụm từ như thế, mà họ cùng chia sẻ trong sự hợp nhất, và điều ấy đủ để giữ họ liên kết với nhau, đồng thời chứng tỏ đủ mạnh để hóa giải những khác biệt, sở thích và rào cản của phàm ngã. Cho đến nay, điều này vẫn chưa thể thực hiện được. Hết nhóm này đến nhóm khác đã được các Chân sư khác nhau thử nghiệm và kiểm chứng tại nhiều nơi trên thế giới, và cho đến nay mọi nỗ lực như thế đều đã chứng tỏ là thất bại. Khi dùng từ “thất bại”, Tôi muốn nói là thất bại xét từ [Page 209] góc độ của mục tiêu đã được hoạch định. Xét từ góc độ sự tăng trưởng cá nhân của bất kỳ đệ tử riêng biệt nào, không nhất thiết đã có thất bại; xét từ góc độ công chúng nói chung vốn không hay biết, việc xuất bản Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới sẽ chứng tỏ trong những năm tới là một thành công có tính thời đại.

What do group initiation involve?

Điểm đạo nhóm bao hàm điều gì?

It might be of value to consider briefly what group initiation involves, and to do this factually and not sentimentally and aspirationally.

Có lẽ sẽ hữu ích nếu xem xét vắn tắt điểm đạo nhóm bao hàm điều gì, và làm điều này một cách thực tế chứ không theo cảm tính hay theo khát vọng.

1. The elimination of sentiment

1. Việc loại bỏ cảm tính

One of the problems confronting the Hierarchy in this connection is the elimination of sentiment—that curious, emotional reaction and relationship which links all the members of a group together in the bonds of liking or disliking. Where there is liking, then too strong a personality relation is established, as far as the good of the group is concerned. The group equilibrium is disturbed. Where there is disliking, the inner faculty of rebuff[2] works constantly, and cleavages then occur. Is it not true, my brothers, that your relation to each other is frequently subjected to the impact of approval or of disapproval? When that attitude exists, the first steps towards group fusion are absent. This is what we mean by sentiment, and this emotional reaction must disappear as a preliminary stage. I speak not at this time anent impersonality. For some people, impersonality is simply an escape mechanism from responsibility; for others, it connotes suppression and entails such hard labor that the entire time of the disciple is given to the achievement of impersonality, thereby guaranteeing non-success. That at which you strenuously strive and which assumes undue place in your thinking, in due time becomes itself a prison and merits later destruction. Such is the occult law. Impersonality is possible only to the disciple who knows truly how to love, and to him who sees life and its phantasmagoria[3] (including all associated persons) in the light of the Spiritual Triad.

Một trong những vấn đề mà Thánh Đoàn phải đối diện trong liên hệ này là việc loại bỏ cảm tính—phản ứng và mối liên hệ cảm xúc kỳ lạ ấy liên kết tất cả các thành viên của một nhóm với nhau trong những ràng buộc của cảm tình hay ác cảm. Nơi nào có cảm tình, nơi đó một mối liên hệ phàm ngã quá mạnh được thiết lập, xét theo lợi ích của nhóm. Sự cân bằng của nhóm bị xáo trộn. Nơi nào có ác cảm, năng lực bên trong của sự khước từ hoạt động liên tục, và khi ấy những rạn nứt xảy ra. Các huynh đệ của Tôi, chẳng phải đúng là mối liên hệ của các bạn với nhau thường xuyên chịu tác động của sự tán thành hay không tán thành sao? Khi thái độ ấy hiện hữu, những bước đầu tiên hướng tới sự dung hợp nhóm đều vắng mặt. Đây là điều chúng ta muốn nói bằng cảm tính, và phản ứng cảm xúc này phải biến mất như một giai đoạn sơ khởi. Vào lúc này, Tôi không nói về tính phi cá nhân. Đối với một số người, tính phi cá nhân chỉ là một cơ chế thoát khỏi trách nhiệm; đối với những người khác, nó hàm ý sự đè nén và kéo theo một lao lực nặng nề đến mức toàn bộ thời gian của người đệ tử được dành cho việc đạt tới tính phi cá nhân, do đó bảo đảm sự không thành công. Điều mà các bạn nỗ lực phấn đấu một cách căng thẳng và chiếm một vị trí quá mức trong tư tưởng của các bạn, đến đúng thời sẽ tự nó trở thành một nhà tù và về sau đáng bị phá hủy. Đó là định luật huyền bí. Tính phi cá nhân chỉ có thể có nơi người đệ tử thật sự biết cách yêu thương, và nơi người thấy sự sống cùng cảnh huyễn ảo của nó bao gồm mọi người liên hệ, trong ánh sáng của Tam Nguyên Tinh Thần.

What constitute true group relationships?

Điều gì cấu thành các mối liên hệ nhóm đích thực?

It is to this that Rule XI primarily refers, and it will not be possible for you to comprehend the significance of this rule unless there is a measure of clarity in your minds anent true group relationships. Such relationships are not [Page 210] based upon personality or impersonality, or upon liking or disliking, or on criticism or non-criticism, but upon a real comprehension of “divine indifference,” spiritual detachment and deep, persistent, unchanging love. To many earnest aspirants the juxtaposition of these phrases will seem paradoxical; but an understanding of the occult paradoxes tends to liberation. In the comprehension of these basic attitudes lies the first lesson of the aspirant to participation in group initiation.

Chính điều này là điều Quy luật XI chủ yếu đề cập, và các bạn sẽ không thể thấu hiểu thâm nghĩa của quy luật này nếu trong trí tuệ của các bạn không có một mức độ sáng tỏ nào đó về các mối liên hệ nhóm đích thực. Những mối liên hệ như thế không [Page 210] dựa trên phàm ngã hay tính phi cá nhân, trên cảm tình hay ác cảm, trên phê phán hay không phê phán, mà dựa trên một sự thấu hiểu thật sự về “Điềm nhiên thiêng liêng,” sự tách rời tinh thần tình thương sâu xa, bền bỉ, không đổi thay. Đối với nhiều người chí nguyện chân thành, sự đặt cạnh nhau của các cụm từ này sẽ có vẻ nghịch lý; nhưng sự thấu hiểu các nghịch lý huyền bí có khuynh hướng đưa đến giải thoát. Chính trong sự thấu hiểu những thái độ căn bản này có bài học đầu tiên của người chí nguyện muốn tham dự vào điểm đạo nhóm.

2. The utilization of the force of destruction

2. Việc sử dụng mãnh lực hủy diệt

Summary:

Tóm lược:

Three steps of utilizing the force of destruction are:

Ba bước trong việc sử dụng mãnh lực hủy diệt là:

1. Kill out personal desires by attrition.

1. Triệt tiêu các ham muốn cá nhân bằng sự mài mòn.

2. The severing of all the ties which link the personalities of the group members. The relation between the group members must be on the basis of soul activity, joint pledge to the Master of the Ashram, and a united service given to humanity.

2. Cắt đứt mọi mối dây liên kết các phàm ngã của những thành viên trong nhóm. Mối liên hệ giữa các thành viên trong nhóm phải đặt trên nền tảng hoạt động của linh hồn, lời cam kết chung với Chân sư của ashram, và sự phụng sự hợp nhất dành cho nhân loại.

3. Obliterating all reaction towards recognition, whether that recognition is accorded by the world of men, by other disciples, or by the Master. The disciples are so absorbed in service that they exclude all recognitions, particularly those of a personal nature. When a group can arrive at a suitable point of united tension, non-essential reactions disappear and undesirable qualities are automatically removed.

3. Xóa bỏ mọi phản ứng đối với sự công nhận, dù sự công nhận ấy đến từ thế giới loài người, từ các đệ tử khác, hay từ Chân sư. Các đệ tử mải mê trong phụng sự đến mức họ loại trừ mọi sự công nhận, đặc biệt là những sự công nhận có bản chất cá nhân. Khi một nhóm có thể đạt tới một điểm tập trung nhất tâm thống nhất thích hợp, các phản ứng không thiết yếu sẽ biến mất và những phẩm tính không đáng mong muốn sẽ tự động bị loại bỏ.

[Page 2] The second point which the group thus striving has to grasp is the necessity for the utilization of the force of destruction.

[Page 2] Điểm thứ hai mà nhóm đang nỗ lực như thế phải nắm vững là sự cần thiết của việc sử dụng mãnh lực hủy diệt.

A group is brought together under karmic law, ashramic necessity and soul direction. Immediately there is presented to the watching Masters an opportunity for the very definite training of some willing aspirants, but also an equally definite point of tension, indicating real difficulty. There is little, in reality, to link these people except inclination, a joint aspiration and a goal seen and held in unison. The outstanding characteristic of such a group is spiritual selfishness. This statement may surprise you until a close scrutiny of your own heart is undergone, and then I venture to predict that you will discover that it is not divine love of humanity that has enabled you to find your way into the outer group of some Ashram but desire for development, for achievement and for liberation. The first step, therefore, is to recognize this and hence the injunction so oft misunderstood: Kill out desire. This has to be the first destructive activity of the disciple. It is not what the disciple seeks, or wants or desires which should condition him and drive him to what we might call “ashramic acquiescence,” but the all-impelling motive of world need. So the disciple begins to rid himself of desire by a process of attrition. He does not positively fight desire with a view to its elimination; he does not seek to transmute it (as should the probationary disciple), but he ceases to give it any recognition; he fails to provide it with the needed stimulation of attention, for as ever, energy follows thought; he is [Page 211] preoccupied with world need and with the service he can render, and—almost inadvertently, as it were—desire dies of attrition.

Một nhóm được quy tụ lại dưới định luật nghiệp quả, nhu cầu tất yếu của ashram và sự chỉ đạo của linh hồn. Ngay lập tức, trước các Chân sư đang quan sát, xuất hiện một cơ hội để huấn luyện rất xác định một số người chí nguyện sẵn lòng, nhưng đồng thời cũng là một điểm tập trung nhất tâm cũng xác định không kém, biểu thị khó khăn thật sự. Thực ra, có rất ít điều liên kết những người này, ngoại trừ khuynh hướng, một khát vọng chung và một mục tiêu được nhìn thấy và gìn giữ trong sự đồng nhất. Đặc điểm nổi bật của một nhóm như thế là sự ích kỷ tinh thần. Phát biểu này có thể làm bạn ngạc nhiên cho đến khi bạn trải qua một sự khảo sát kỹ lưỡng chính tâm mình, và khi ấy tôi dám tiên đoán rằng bạn sẽ khám phá ra rằng không phải tình thương thiêng liêng đối với nhân loại đã giúp bạn tìm được đường vào nhóm bên ngoài của một ashram nào đó, mà là dục vọng hướng đến phát triển, thành tựu và giải thoát. Bước đầu tiên, do đó, là nhận ra điều này và vì thế có huấn thị thường bị hiểu lầm: Hãy diệt trừ dục vọng. Điều này phải là hoạt động hủy diệt đầu tiên của đệ tử. Không phải điều đệ tử tìm kiếm, mong muốn hay khao khát mới nên chi phối y và thúc đẩy y đến điều mà chúng ta có thể gọi là “sự thuận phục với ashram,” mà phải là động cơ thôi thúc toàn diện của nhu cầu thế gian. Vì vậy đệ tử bắt đầu tự giải thoát mình khỏi dục vọng bằng một tiến trình hao mòn. Y không chủ động chiến đấu với dục vọng nhằm loại bỏ nó; y không tìm cách chuyển hoá nó như đệ tử dự bị nên làm, nhưng y thôi không thừa nhận nó dưới bất cứ hình thức nào; y không cung cấp cho nó sự kích thích cần thiết của chú ý, vì như luôn luôn, năng lượng theo sau tư tưởng; y [Page 211] đang bận tâm với nhu cầu thế gian và với sự phụng sự mà y có thể thực hiện, và—gần như vô tình, có thể nói như vậy—dục vọng chết dần do hao mòn.

It will be apparent to you, therefore, that it will take time for all the members of a group to achieve the destruction of individual desire, and that until some measure of this united liberating process is attained, the group cannot go forward together as a unit on the Way of Initiation.

Do đó, bạn sẽ thấy rõ rằng tất cả các thành viên của một nhóm sẽ cần thời gian để đạt được sự hủy diệt dục vọng cá nhân, và rằng cho đến khi đạt được một mức độ nào đó của tiến trình giải thoát hợp nhất này, nhóm không thể cùng nhau tiến tới như một đơn vị trên Con Đường Điểm Đạo.

The next step is the destruction of the ties which link the personalities of the group members. These must be severed, and the relation between the group members must be on the basis of soul activity, joint pledge to the Master of the Ashram, and a united service given to humanity. There comes a point of freedom in the group relation which will demonstrate in some definitely planned and united activity, carried forward in the outer world but enriching the life of the Ashram. Until this stage is reached, the activity of the group corresponds to that of the probationary disciple and not to that of the pledged disciple. The spontaneously emerging group work, engendered by the group consciousness and fusing the entire group of disciples at a point of tension in service, is the first indication that the group is ready for further teaching, for an intensification of its group potency and for a closer relation to the Master. This has all been brought about by the group itself, independently of any injunction of the Master, and as a result of the united soul life of the group effectively making its presence felt. These two spiritually destructive processes—the destruction of desire and the severing of all personality ties—are the first two and essential results of true group work.

Bước kế tiếp là sự hủy diệt các mối ràng buộc liên kết các phàm ngã của những thành viên trong nhóm. Những mối ràng buộc này phải được cắt đứt, và mối quan hệ giữa các thành viên trong nhóm phải đặt trên nền tảng của hoạt động của linh hồn, lời cam kết chung với Chân sư của ashram, và một sự phụng sự hợp nhất được hiến dâng cho nhân loại. Sẽ đến một điểm tự do trong mối quan hệ nhóm, điểm ấy sẽ biểu lộ qua một hoạt động hợp nhất và được hoạch định rõ ràng, tiến hành trong thế giới bên ngoài nhưng làm phong phú đời sống của ashram. Cho đến khi đạt tới giai đoạn này, hoạt động của nhóm tương ứng với hoạt động của đệ tử dự bị chứ không phải với hoạt động của đệ tử đã phát nguyện. Công việc nhóm tự phát xuất hiện, được sinh ra bởi tâm thức nhóm và dung hợp toàn thể nhóm đệ tử tại một điểm tập trung nhất tâm trong phụng sự, là dấu hiệu đầu tiên cho thấy nhóm đã sẵn sàng cho giáo huấn sâu hơn, cho sự tăng cường tiềm lực nhóm và cho một mối quan hệ gần gũi hơn với Chân sư. Tất cả điều này do chính nhóm tạo nên, độc lập với bất kỳ huấn thị nào của Chân sư, và là kết quả của đời sống linh hồn hợp nhất của nhóm đang làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận một cách hữu hiệu. Hai tiến trình hủy diệt về mặt tinh thần này—sự hủy diệt dục vọng và việc cắt đứt mọi ràng buộc phàm ngã—là hai kết quả đầu tiên và thiết yếu của công việc nhóm đích thực.

The third quality which must be utterly rooted out and destroyed is that of all reaction towards recognition, whether that recognition is accorded by the world of men, by other disciples, or by the Master. The ability to work without any token of recognition, to see others claim the reward of action taken, and even to be unaware that the results of the good initiated by the individual disciple or [Page 212] his group are claimed by others, are the hallmarks of the hierarchical worker. The Masters get no recognition for the work done by Their disciples, though They initiated the original impulse and have given both guidance and direction; the disciple carries out the Plan; he shoulders the responsibility; he pays the price, either good or bad, or the karmic results of instituted activity, and he is the one who gains the recognition of the crowd. But—until the disciple seeks no recognition, until he fails to think in terms of results and is unaware of the reaction of the world to his work as an individual disciple—he has yet far to go in order to gain the higher initiations. The entire problem becomes increasingly difficult when an entire ashramic group is concerned, for the recognition of the group service seems little to ask from the world which is served; nevertheless, such a demand and such an expectation delay the complete absorption of the group into the inner Ashram.

Phẩm tính thứ ba phải được nhổ tận gốc và hủy diệt hoàn toàn là mọi phản ứng hướng tới sự công nhận, dù sự công nhận ấy do thế giới con người, do các đệ tử khác, hay do Chân sư ban cho. Khả năng làm việc mà không cần bất kỳ dấu hiệu công nhận nào, thấy người khác nhận phần thưởng của hành động đã thực hiện, và thậm chí không hay biết rằng các kết quả của điều thiện do đệ tử cá nhân hoặc [Page 212] nhóm của y khởi xướng lại được người khác nhận lấy, là những dấu hiệu đặc trưng của người hoạt động thuộc Thánh Đoàn. Các Chân sư không nhận được sự công nhận nào cho công việc do các đệ tử của Các Ngài thực hiện, dù Các Ngài đã khởi phát xung lực ban đầu và đã ban cả sự hướng dẫn lẫn chỉ đạo; đệ tử thực thi Thiên Cơ; y gánh lấy trách nhiệm; y trả giá, dù tốt hay xấu, hay chịu các kết quả nghiệp quả của hoạt động đã thiết lập, và y là người nhận được sự công nhận của đám đông. Nhưng—cho đến khi đệ tử không tìm kiếm sự công nhận, cho đến khi y không còn suy nghĩ theo kết quả và không hay biết về phản ứng của thế giới đối với công việc của mình với tư cách một đệ tử cá nhân—y vẫn còn phải đi xa để đạt được các lần điểm đạo cao hơn. Toàn bộ vấn đề trở nên ngày càng khó khăn hơn khi liên quan đến cả một nhóm ashram, vì việc thế giới được phụng sự công nhận sự phụng sự của nhóm dường như không phải là điều đòi hỏi quá nhiều; tuy nhiên, một đòi hỏi như thế và một kỳ vọng như thế làm chậm lại sự hòa nhập hoàn toàn của nhóm vào ashram bên trong.

These are not, however, impossible objectives, or I would not waste your time or mine in their delineation. The group can measure up to the occult necessity if unitedly they recognize the scope of the endeavor and unitedly strive for complete absorption in service—an absorption so deep that it excludes all other recognitions, particularly those of a personal nature. We come back, therefore (as is continually the case), to the fact that when a group can arrive at a suitable point of united tension, non-essential reactions disappear and undesirable qualities are automatically removed.

Tuy nhiên, đây không phải là những mục tiêu bất khả đạt, nếu không tôi đã không lãng phí thời gian của bạn hay của tôi để phác họa chúng. Nhóm có thể đáp ứng được nhu cầu tất yếu huyền bí nếu một cách hợp nhất, họ nhận ra tầm vóc của nỗ lực và một cách hợp nhất phấn đấu cho sự hòa nhập hoàn toàn trong phụng sự—một sự hòa nhập sâu đến mức loại trừ mọi sự công nhận khác, đặc biệt là những sự công nhận có tính cá nhân. Do đó, chúng ta trở lại, như vẫn thường xuyên như vậy, với sự kiện rằng khi một nhóm có thể đạt đến một điểm tập trung nhất tâm thích hợp và hợp nhất, các phản ứng không thiết yếu biến mất và các phẩm tính không mong muốn tự động được loại bỏ.

These three types of work along the lines of destruction merit your careful consideration and—because they are along the line of the destroying aspect—it will be apparent to you that the method employed is that of the utilization of the group Will. It will be equally apparent that the group Will can only make its appearance under the Law of Occult Continuity when, and if, the group is functioning intelligently and demonstrating love adequately.

Ba loại công việc theo các đường lối hủy diệt này đáng để bạn cân nhắc kỹ lưỡng và—vì chúng thuộc đường lối của phương diện hủy diệt—bạn sẽ thấy rõ rằng phương pháp được dùng là việc sử dụng Ý chí của nhóm. Hiển nhiên không kém rằng Ý chí của nhóm chỉ có thể xuất hiện dưới Định luật Liên tục Huyền bí khi, và nếu, nhóm đang vận hành một cách thông minh và biểu lộ tình thương một cách đầy đủ.

3. Diversity in Unity

3. Đa dạng trong Thống nhất

We now come to the third factor which group initiation involves. This is diversity in unity, consciously recognized [Page 213] and utilized. A group is not composed of disciples all of whom are being prepared for the same initiation. This is oft a hard saying for group members to accept. The significance of my earlier statement, that a group is composed of men and women all of whom are at the same point in evolution, is a generalization and simply means that all of them have reached the point where they are pledged and unalterably committed to the work of the Ashram, under some particular Master.

Bây giờ chúng ta đi đến yếu tố thứ ba mà điểm đạo nhóm bao hàm. Đó là sự đa dạng trong hợp nhất, được nhận biết một cách có ý thức [Page 213] và được vận dụng. Một nhóm không gồm các đệ tử mà tất cả đều đang được chuẩn bị cho cùng một lần điểm đạo. Đây thường là một lời khó chấp nhận đối với các thành viên nhóm. Ý nghĩa của phát biểu trước đây của tôi, rằng một nhóm gồm những người nam và nữ mà tất cả đều ở cùng một điểm tiến hoá, là một sự khái quát hóachỉ đơn giản có nghĩa rằng tất cả họ đã đạt đến điểm mà ở đó họ đã thệ nguyện và dấn thân không đổi thay vào công việc của ashram, dưới sự hướng dẫn của một Chân sư đặc thù.

The work, however, requires a diversity of quality and of potencies in order to be effective in manifestation upon the outer plane. It needs those who are in close contact with the Master, and are therefore initiates of a certain standing; it needs also those who have facility of relationship with the inner Ashram and are therefore senior disciples, though not necessarily high initiates; it needs also those not so advanced upon the Path of Discipleship because they have, or can establish, a close connection with ordinary humanity in the life of everyday. A group of disciples such as this is consequently a miniature hierarchy, and a hierarchy exists in its various degrees in order to Permit of a wide range of effective relationships. Ponder on this statement. You can see now why there is necessity for the elimination of personality reactions, for only thus could the groups function as a coordinated unit with the various members recognizing each other’s status and yet not moved to jealousy or belittlement[4] thereby; the work is then carried forward on the basis of inspiration, coordination and practical application. The senior members of the group, and those with the most advanced status (whatever that may be), provide the incentive of the Plan as they receive it from the Master; the more experienced among the disciples then coordinate the Plan within the group, relating it to the Ashram and indicating its approach to the world of men; the neophytes—pledged and dedicated though yet without experience—carry out the Plan upon the physical plane. This entails, as you can see, smooth and effective coordination, a proper attention to the general picture, and an application of the detail of [Page 214] work to the immediate necessity. It is a hard task for a group of intensely individualistic disciples (and all disciples are individual) to begin to take the first steps towards these attitudes and the relationships which distinguish the Hierarchy as a whole.

Tuy nhiên, công việc đòi hỏi sự đa dạng về phẩm tính và về các tiềm lực để có hiệu quả trong sự biểu hiện trên cõi bên ngoài. Nó cần những người tiếp xúc mật thiết với Chân sư, và do đó là các điểm đạo đồ có một vị thế nhất định; nó cũng cần những người có khả năng dễ dàng thiết lập mối liên hệ với ashram bên trong, và do đó là các đệ tử kỳ cựu, dù không nhất thiết là các điểm đạo đồ cao cấp; nó cũng cần những người chưa tiến xa như thế trên Con Đường Đệ Tử, vì họ có, hoặc có thể thiết lập, một mối liên hệ gần gũi với nhân loại bình thường trong đời sống hằng ngày. Do đó, một nhóm đệ tử như thế là một hệ cấp bậc thu nhỏ, và một hệ cấp bậc tồn tại ở nhiều cấp độ khác nhau để cho phép có một phạm vi rộng lớn của các mối liên hệ hữu hiệu. Hãy suy ngẫm về phát biểu này. Bây giờ các bạn có thể thấy vì sao cần loại bỏ các phản ứng phàm ngã, vì chỉ nhờ vậy các nhóm mới có thể hoạt động như một đơn vị phối hợp, trong đó các thành viên khác nhau nhận biết vị thế của nhau mà vẫn không bị thúc đẩy đến ghen tị hay xem nhẹ bởi điều đó; khi ấy công việc được tiến hành trên nền tảng cảm hứng, sự phối hợp và ứng dụng thực tiễn. Các thành viên cao cấp của nhóm, và những người có vị thế tiến xa nhất, bất kể vị thế ấy là gì, đem lại động lực của Thiên Cơ khi họ tiếp nhận nó từ Chân sư; những người giàu kinh nghiệm hơn trong số các đệ tử khi ấy phối hợp Thiên Cơ trong nội bộ nhóm, liên kết nó với ashram và chỉ ra cách nó tiếp cận thế giới con người; những người sơ cơ—dù đã thệ nguyện và tận hiến nhưng còn chưa có kinh nghiệm—thực hiện Thiên Cơ trên cõi hồng trần. Như các bạn có thể thấy, điều này đòi hỏi sự phối hợp trôi chảy và hữu hiệu, sự chú tâm đúng mức đến bức tranh tổng quát, và việc áp dụng chi tiết của [Page 214] công việc vào nhu cầu trước mắt. Đó là một nhiệm vụ khó khăn đối với một nhóm các đệ tử có tính cá nhân mạnh mẽ, vì tất cả đệ tử đều là những cá thể riêng biệt, khi bắt đầu thực hiện những bước đầu tiên hướng tới các thái độ và các mối liên hệ vốn phân biệt Thánh Đoàn như một toàn thể.

4. Cultivation of silence

4. Trau dồi sự im lặng

Still another important factor in the group preparation for initiation is the cultivation of silence. How, we ask ourselves at times when the functioning of the Ashram is under discussion, can we train our disciples to realize that, essentially, silence is not refraining from speech. So many disciples seem to think that it is, and that they have to learn not to talk if they hope to take initiation. Some would do a great deal better if they talked more than they do—along right lines. The silence imposed in an Ashram is refraining from certain lines of thought, the elimination of reverie[5] and the unwholesome use of the creative imagination. Speech is consequently controlled at its source, because speech is the result of certain inner sources of ideas, of thought and of imagination; it is the precipitation (at a certain point of saturation, if I might so express it) of inner reservoirs which overflow on to the physical plane. The retention of speech and the suppression of words, if they are the result of a realization that what is to be said is wrong, or undesirable, or unwise, or wasteful of energy, will simply increase the inner banking up and will lead eventually to a still more violent display of words at a later date; it may also bring about serious and disastrous conditions within the astral body of the disciple. The silence of thought is to be cultivated and, my brothers, I do not mean silent thinking. I mean that certain lines of thought are refused admission; certain habits of thinking are eradicated[6] and certain approaches to ideas are not developed. This is done by a process of substitution, and not by a violent process of suppression. The initiate learns to keep his thought apparatus in a certain effective condition. His thoughts do not intermingle the one with the other, but are contained (if I may thus pictorially word it) in separate compartments or carefully filed for reference and later use. There are certain [Page 215] layers of thought (again speaking symbolically) which are held within the Ashram itself and are never permitted to enter the mind of the disciple or the initiate when not consciously working in the Ashram; others are related to the group and its work and are given free play within the group ring-pass-not; still others are of a more mundane nature and govern the daily life and relationships of the disciple with personalities and with the affairs of civilized living and physical plane events. These are only indications of what I mean, but will suffice to show (if you duly meditate) a little of what is meant by the silence of the initiate. Within the permitted levels of contact, speech is free and unimpeded; outside those levels, no indication is given that the other spheres of thought activity, with their conditioning speech, even exist. Such is the silence of the initiated disciple.

Vẫn còn một yếu tố quan trọng khác trong sự chuẩn bị của nhóm cho điểm đạo là việc trau dồi sự im lặng. Đôi khi, khi bàn về sự vận hành của ashram, chúng ta tự hỏi: làm thế nào chúng ta có thể huấn luyện các đệ tử của mình nhận ra rằng, về căn bản, sự im lặng không phải là sự kiềm chế lời nói. Rất nhiều đệ tử dường như nghĩ rằng đúng là như vậy, và rằng họ phải học cách không nói nếu họ hy vọng được điểm đạo. Một số người sẽ làm tốt hơn rất nhiều nếu họ nói nhiều hơn hiện nay—theo những đường hướng đúng đắn. Sự im lặng được áp đặt trong một ashram là sự kiềm chế đối với một số đường hướng tư tưởng, sự loại bỏ mơ tưởng và việc sử dụng không lành mạnh sự tưởng tượng sáng tạo. Do đó, lời nói được kiểm soát tại nguồn của nó, bởi vì lời nói là kết quả của một số nguồn nội tại của các ý tưởng, của tư tưởng và của sự tưởng tượng; nó là sự ngưng tụ, tại một điểm bão hòa nào đó nếu tôi có thể diễn đạt như vậy, của những kho chứa bên trong vốn tràn ra cõi hồng trần. Việc giữ lại lời nói và đè nén ngôn từ, nếu chúng là kết quả của nhận thức rằng điều sắp nói là sai, hoặc không đáng mong muốn, hoặc thiếu minh triết, hoặc lãng phí năng lượng, sẽ chỉ làm tăng sự dồn ứ bên trong và cuối cùng sẽ dẫn đến một sự bộc phát lời nói còn dữ dội hơn vào một thời điểm sau đó; nó cũng có thể tạo ra những tình trạng nghiêm trọng và tai hại trong thể cảm dục của đệ tử. Các huynh đệ của Tôi, cần trau dồi sự im lặng của tư tưởng, và tôi không có ý nói đến việc suy nghĩ trong im lặng. Ý tôi là một số đường hướng tư tưởng bị từ chối không cho vào; một số thói quen tư duy bị nhổ tận gốc và một số cách tiếp cận các ý tưởng không được phát triển. Điều này được thực hiện bằng một tiến trình thay thế, chứ không bằng một tiến trình đè nén dữ dội. Điểm đạo đồ học cách giữ bộ máy tư tưởng của y trong một tình trạng hữu hiệu nhất định. Các tư tưởng của y không hòa lẫn tư tưởng này với tư tưởng khác, mà được chứa, nếu tôi có thể diễn đạt bằng hình ảnh như vậy, trong các ngăn riêng biệt hoặc được sắp xếp cẩn thận để tham khảo và dùng về sau. Có một số [Page 215] lớp tư tưởng, lại nói theo nghĩa biểu tượng, được giữ trong chính ashram và không bao giờ được phép đi vào thể trí của đệ tử hay điểm đạo đồ khi y không làm việc một cách có ý thức trong ashram; những lớp khác liên quan đến nhóm và công việc của nhóm, và được tự do vận hành trong vòng-giới-hạn của nhóm; những lớp khác nữa có bản chất trần tục hơn và chi phối đời sống hằng ngày cùng các mối liên hệ của đệ tử với các phàm ngã, với các sự vụ của đời sống văn minh và các biến cố trên cõi hồng trần. Đây chỉ là những gợi ý về điều tôi muốn nói, nhưng sẽ đủ để cho thấy, nếu các bạn tham thiền đúng mức, một phần nào ý nghĩa của sự im lặng của điểm đạo đồ. Trong các cấp độ tiếp xúc được phép, lời nói tự do và không bị ngăn trở; bên ngoài các cấp độ ấy, không có dấu hiệu nào được đưa ra cho thấy các khối cầu khác của hoạt động tư tưởng, cùng lời nói chịu sự tác động của chúng, thậm chí có tồn tại. Đó là sự im lặng của người đệ tử đã được điểm đạo.

We have therefore considered briefly but suggestively four qualities which a group preparing for initiation needs to develop, to consider and unitedly to achieve. They are:

Do đó, chúng ta đã xem xét ngắn gọn nhưng gợi mở bốn phẩm tính mà một nhóm đang chuẩn bị cho điểm đạo cần phát triển, suy xét và cùng nhau thành tựu. Đó là:

1. The achieving of a non-sentimental group interrelation.

1. Thành tựu một mối tương quan nhóm không cảm tính.

2. Learning how to use the forces of destruction constructively.

2. Học cách sử dụng các mãnh lực phá hủy một cách xây dựng.

3. Attaining the power to work as a miniature Hierarchy, and as a group to exemplify unity in diversity.

3. Đạt được quyền năng hoạt động như một Thánh Đoàn thu nhỏ, và với tư cách một nhóm, nêu gương sự hợp nhất trong đa dạng.

4. Cultivating the potency of occult silence.

4. Nuôi dưỡng uy lực của sự im lặng huyền bí.

We now come, after these preliminary remarks, to a consideration of the next rule.

Sau những nhận xét sơ bộ này, giờ đây chúng ta đi đến việc xem xét quy luật kế tiếp.

Rule XI [Page 216-225]

Quy luật XI [Trang 216-225]

(1) Let the group together move the fire within the jewel in the Lotus into the Triad and (2) let them find the Word which will carry out that task. (3) Let them destroy by their dynamic Will that which has been created at the midway point. When the point of tension is reached by the brothers at the fourth great cycle of attainment, then will this work be done.

(1) Hãy để nhóm cùng nhau chuyển ngọn lửa bên trong viên ngọc trong Hoa sen vào Tam Nguyên Tinh Thần và (2) để họ tìm ra Linh từ sẽ thực hiện nhiệm vụ ấy. (3) Hãy để họ, bằng Ý Chí năng động của mình, phá hủy điều đã được tạo ra tại Điểm ở giữa. Khi các huynh đệ đạt đến điểm tập trung nhất tâm ở chu kỳ thành tựu lớn thứ tư, bấy giờ công việc này sẽ hoàn tất.

On first reading this rule it is obvious that it concerns the fourth initiation and the consequent destruction of the [Page 216] causal body—the vehicle through the means of which the Monad has created first of all the personality, and then an instrument for the expression of the second divine aspect. We are therefore dealing with one of the major initiations. I would here call to your recollection the fact that (from the angle of the Hierarchy) this initiation is the second major initiation, and not the fourth, as it is regarded from the human angle; the third initiation is technically regarded as the first major initiation. The major initiations are really possible only after the transfiguration of the personality.

Khi đọc quy luật này lần đầu, rõ ràng là nó liên quan đến lần điểm đạo thứ tư và sự hủy diệt theo sau của [Trang 216] thể nguyên nhân—hiện thể mà nhờ đó trước hết Chân thần đã tạo ra phàm ngã, rồi tạo nên một khí cụ để biểu lộ phương diện thiêng liêng thứ hai. Do đó, chúng ta đang đề cập đến một trong những cuộc điểm đạo chính yếu. Ở đây, tôi muốn nhắc các bạn nhớ rằng, xét theo góc độ của Thánh Đoàn, cuộc điểm đạo này là cuộc điểm đạo chính yếu thứ hai, chứ không phải thứ tư như được nhìn từ góc độ nhân loại; về mặt kỹ thuật, lần điểm đạo thứ ba được xem là cuộc điểm đạo chính yếu thứ nhất. Các cuộc điểm đạo chính yếu thật sự chỉ có thể xảy ra sau sự Biến hình của phàm ngã.

What, therefore, brings about the destruction of the soul body? The destroying agent is the second aspect of the Will. The third or lowest aspect of the Will, working through the mind or the manasic principle, was the sustaining factor in the long cycle of personality development; it was the principle of intelligent synthesis, holding the life principle intact and individualized through the long series of successive incarnations. During that cycle the will demonstrated first as the lower man; then it focused itself in the Son of Mind, the divine Agnishvatta, the soul, and became increasingly a factor of potency. Later, as the disciple builds the antahkarana and thus establishes a direct channel of communication between the Monad and the personality, the lower mind becomes fused with the abstract mind or higher mind (the manasic principle, sublimated and purified), and gradually the soul is—to use a peculiar but sensitively expressing word—by-passed. It has by now served its purpose. Love and light are in expression in the physical plane life. Neither the personality vehicle nor the soul body is required, as under the old conditions. Their place can now be taken by the Spiritual Triad and the Monad; the essential life of both the lower aspects (creative in nature and expressive of loving intent as to purpose) can now be withdrawn. Triplicity, from the angle of the three periodical vehicles—Monad, soul and personality—is resolved into duality, and the Monad (reflected in the Triad) can now work upon the lower planes through the medium of a definitely created personality or “point of tension” in the [Page 217] three worlds. It is to this that the rule applies when studied in terms of the individual initiate, whilst the life in which the soul is “by-passed” and its ring-pass-not is destroyed, is of such profound difficulty that it is called the life of crucifixion or of renunciation.

Vậy, điều gì đem lại sự hủy diệt thể linh hồn? Tác nhân hủy diệt là phương diện thứ hai của Ý Chí. Phương diện thứ ba, hay thấp nhất, của Ý Chí, hoạt động qua thể trí hay nguyên khí manas, là yếu tố duy trì trong chu kỳ dài phát triển phàm ngã; đó là nguyên khí của sự tổng hợp thông tuệ, giữ cho nguyên khí sự sống được nguyên vẹn và biệt ngã hóa qua chuỗi dài những lần lâm phàm kế tiếp. Trong chu kỳ ấy, Ý Chí trước hết biểu lộ như phàm nhân; rồi nó tập trung trong Con của Trí Tuệ, Agnishvatta thiêng liêng, tức linh hồn, và ngày càng trở thành một yếu tố quyền năng. Về sau, khi đệ tử xây dựng antahkarana và nhờ đó thiết lập một kênh giao tiếp trực tiếp giữa Chân thần và phàm ngã, hạ trí trở nên dung hợp với Trí trừu tượng hay thượng trí, tức nguyên khí manas đã được thăng hoa và thanh luyện, và dần dần linh hồn—dùng một từ đặc biệt nhưng diễn đạt tinh tế—bị vượt qua. đến lúc này đã hoàn thành mục đích của mình. Tình thương và ánh sáng được biểu lộ trong đời sống cõi hồng trần. Không còn cần đến hiện thể phàm ngã hay thể linh hồn như dưới những điều kiện cũ. Vị trí của chúng giờ đây có thể được thay thế bằng Tam Nguyên Tinh Thần và Chân thần; sự sống cốt yếu của cả hai phương diện thấp, vốn có bản chất sáng tạo và biểu lộ ý định đầy tình thương xét theo mục đích, giờ đây có thể được rút lui. Bộ ba, xét theo góc độ ba hiện thể chu kỳ—Chân thần, linh hồn và phàm ngã—được chuyển thành nhị nguyên, và Chân thần, được phản chiếu trong Tam Nguyên Tinh Thần, giờ đây có thể hoạt động trên các cõi thấp qua trung gian của một phàm ngã hay “điểm tập trung nhất tâm” đã được tạo lập rõ ràng trong [Trang 217] ba cõi giới. Chính vào điều này mà quy luật áp dụng khi được nghiên cứu theo phương diện điểm đạo đồ cá nhân, trong khi đời sống mà linh hồn bị “vượt qua” và vòng-giới-hạn của nó bị phá hủy thì khó khăn sâu xa đến mức nó được gọi là đời sống đóng đinh trên thập giá hay đời sống từ bỏ.

We are, however, concerned with the interpretation of the rule as it affects a group which is preparing for the joint initiation of its members. It is by adhering to the ancient dictum that “as it is with the Macrocosm so will it be with the microcosm,” and by the application, therefore, of the Law of Analogy, that we shall eventually arrive at understanding. I cannot hope to do more than indicate significances, but it will now be clear to you why I have dealt with the four qualities which a group must develop in unison prior to initiation. We shall find it useful to relate these qualities to the various phrases or injunctions in this Rule XI. We must consider each of them separately. Let us now look at the first sentence.

Tuy nhiên, chúng ta đang quan tâm đến việc diễn giải quy luật này khi nó tác động đến một nhóm đang chuẩn bị cho cuộc điểm đạo chung của các thành viên. Chính nhờ tuân theo châm ngôn cổ rằng “đối với Đại thiên địa thế nào thì đối với Tiểu thiên địa cũng sẽ như vậy,” và do đó nhờ áp dụng định luật tương đồng, cuối cùng chúng ta sẽ đạt đến sự thấu hiểu. Tôi không thể hy vọng làm gì hơn ngoài việc chỉ ra các thâm nghĩa, nhưng giờ đây các bạn sẽ thấy rõ vì sao tôi đã đề cập đến bốn phẩm tính mà một nhóm phải cùng nhau phát triển trước cuộc điểm đạo. Chúng ta sẽ thấy hữu ích khi liên hệ các phẩm tính này với những cụm từ hay huấn lệnh khác nhau trong Quy luật XI này. Chúng ta phải xem xét từng điều riêng biệt. Bây giờ, chúng ta hãy nhìn vào câu đầu tiên.

1. Let the group together move the fire within the jewel in the Lotus into the Triad.

1. Hãy để nhóm cùng nhau chuyển ngọn lửa bên trong viên ngọc trong Hoa sen vào Tam Nguyên Tinh Thần.

Let me first remind you that fire always connotes the first aspect and this, as you know, is the life aspect. To this let me add the well-known fact that “Our God is a consuming fire,” and call to your recollection that the first aspect is the destroyer aspect. You have immediately established a relation between the first two qualities with which we have been dealing {The first two qualities of the four relate to elimination and destruction—both of which correlate with the first aspect of divinity} and the work of the crucifixion as a symbolic expression of the fourth initiation. [Page 1] The achieving of a selfless and impersonal group interrelation was the first prerequisite, and the word “together” in this rule deals with the work of the group when—as a closely knit unit—it can move forward. This transference of the life or of the fire has to be the result of united action, taken by the group when full interior unity has been attained. It cannot take place prior to this, any more than an individual initiate can take this particular initiation until such time as complete fusion of the three bodies and the soul has been effectually [Page 218] brought about and divine indifference has been achieved to all lower reactions of the component parts of the fused and interrelated instrument. So must it be with the group.

Trước hết, hãy để tôi nhắc các bạn rằng Lửa luôn hàm ý phương diện thứ nhất, và như các bạn biết, đó là phương diện sự sống. Vào điều này, hãy để tôi thêm sự kiện quen thuộc rằng “Thượng đế của chúng ta là ngọn Lửa thiêu hủy,” và nhắc các bạn nhớ rằng phương diện thứ nhất là phương diện hủy diệt. Các bạn đã lập tức thiết lập được một mối liên hệ giữa hai phẩm tính đầu tiên mà chúng ta đã bàn đến {Hai phẩm tính đầu trong bốn phẩm tính liên quan đến sự loại trừ và hủy diệt—cả hai đều tương ứng với phương diện thứ nhất của thiên tính} và công việc đóng đinh trên thập giá như một biểu hiện biểu tượng của lần điểm đạo thứ tư. [Trang 1] Việc đạt được một mối tương quan nhóm vô ngã và phi cá nhân là điều kiện tiên quyết đầu tiên, và từ “cùng nhau” trong quy luật này đề cập đến công việc của nhóm khi—như một đơn vị được kết chặt—nhóm có thể tiến tới. Sự chuyển dịch sự sống hay Lửa này phải là kết quả của hành động hợp nhất, do nhóm thực hiện khi sự hợp nhất nội tại trọn vẹn đã đạt được. Điều đó không thể diễn ra trước thời điểm này, cũng như một điểm đạo đồ cá nhân không thể trải qua cuộc điểm đạo đặc biệt này cho đến khi sự dung hợp hoàn toàn của ba thể và linh hồn đã thật sự [Trang 218] được thực hiện và Điềm nhiên thiêng liêng đã đạt được đối với mọi phản ứng thấp của các phần cấu thành khí cụ đã dung hợp và liên hệ lẫn nhau. Nhóm cũng phải như vậy.

The group life must express itself upon the physical plane and in group formation. It will possess a sensitive feeling apparatus, corresponding to the astral body, and the group mind will be well organized and functioning rhythmically. Thus the group “personality” will be active, but divinely active, by the time this particular stage is reached. The group soul will also be in full flower as an expression of the inner Ashram, and at the very heart of the group life, veiled and hidden by its outer personality expression and by its vibrant loving soul, will be a point of living fire or life which—in due time and under right conditions—must be transferred into the inner Ashram, found on triadal levels. This may or may not mean the destruction of the group causal body and the establishing of a direct line of relationship between the pure Ashram and a group of disciples. It will undoubtedly mean, during the stages preliminary to that desirable attainment, a definite change of focus and the gradual establishing of a point of tension upon slowly realized higher levels, carried on until the transference is completed.

Đời sống nhóm phải tự biểu hiện trên cõi hồng trần và trong đội hình nhóm. Nó sẽ sở hữu một bộ máy cảm nhận nhạy bén, tương ứng với thể cảm dục, và thể trí của nhóm sẽ được tổ chức tốt đẹp và vận hành nhịp nhàng. Như vậy, “phàm ngã” nhóm sẽ hoạt động, nhưng hoạt động một cách thiêng liêng, khi giai đoạn đặc thù này được đạt tới. Hồn nhóm cũng sẽ nở rộ trọn vẹn như một biểu hiện của ashram bên trong, và ngay nơi tâm điểm của đời sống nhóm, được che phủ và ẩn giấu bởi biểu hiện phàm ngã bên ngoài của nó và bởi linh hồn yêu thương đầy rung động của nó, sẽ có một điểm lửa sống động hay sự sống, mà—đúng kỳ hạn và dưới những điều kiện đúng đắn—phải được chuyển dịch vào ashram bên trong, hiện hữu trên các cấp độ Tam nguyên tinh thần. Điều này có thể, hoặc không thể, hàm ý sự phá hủy thể nguyên nhân của nhóm và việc thiết lập một đường liên hệ trực tiếp giữa ashram thuần khiết và một nhóm đệ tử. Trong các giai đoạn sơ bộ dẫn tới thành tựu đáng mong muốn ấy, chắc chắn điều đó sẽ hàm ý một sự thay đổi trọng tâm rõ rệt và việc dần dần thiết lập một điểm tập trung nhất tâm trên các cấp độ cao hơn được nhận biết chậm rãi, được duy trì cho đến khi sự chuyển dịch hoàn tất.

All the time that this is taking place, the fire at the heart of the group life is becoming more and more vital, and consequently more and more spiritually destructive. [Page 2] The second quality which we considered, the constructive planned use of the forces of destruction, can now be seen as active. It is these forces which are often responsible for the upheavals, the cleavages, the dispersions[7] and the fatalities[8] which are so frequently the characteristics of the group life in its early stages. The fire is then working under the stimulation of the Spiritual Triad, but is not consciously being manipulated by the group itself. The group becomes esoterically “a burning ground,” and much time would be saved and much unnecessary distress and pain and suffering would be eliminated if the group members would realize [Page 219] what was happening to them and would simply stand steady until such time as the “purification so as by fire” has been completed and the life principle in the group heart can shine forth with both brilliance and radiance. It is this quality of patient endurance which is so sorely needed by the members of a group being prepared for initiation. Once, however, the purpose underlying all distressing events and disrupted personnel is grasped, rapid progress can be made—again by the simple practice of divine indifference. This divine indifference was the outstanding quality of the Master upon the Cross at Calvary. The seven words from the Cross were concerned with others, with His mission, with world need, and with relationship with the Father or with the Monad. But disciples and aspirants are so intensely preoccupied with themselves, their effect upon others, their endurances and pain, or with criticism of their brothers or of themselves! The goal and the main objective is not adequately emphasized in their consciousness. The group personality is often functioning with potency, but the fusing love of the soul is absent and the shattering inflow of the life at the heart of the jewel is not permitted full sway. It is blocked and intercepted by group conditions, and until there is at least some united will to take together what is needed in order to shift the life of the group to higher levels of awareness and into the Ashram on buddhic levels, the technique of transference will not be committed to the group by the Master. That is what is meant by the next sentence in the rule:

Trong suốt thời gian điều này đang diễn ra, ngọn lửa nơi tâm điểm của đời sống nhóm ngày càng trở nên sống động hơn, và do đó ngày càng có tính tinh thần hủy diệt hơn. [Page 2] Phẩm tính thứ hai mà chúng ta đã xem xét, tức việc sử dụng có kế hoạch và mang tính xây dựng các mãnh lực hủy diệt, giờ đây có thể được thấy là đang hoạt động. Chính các mãnh lực này thường chịu trách nhiệm cho những biến động, những chia rẽ, những phân tán và những tổn thất nghiêm trọng vốn rất thường là các đặc điểm của đời sống nhóm trong những giai đoạn đầu. Khi ấy, ngọn lửa đang hoạt động dưới sự kích thích của Tam Nguyên Tinh Thần, nhưng chính nhóm chưa điều khiển nó một cách hữu thức. Về mặt huyền bí, nhóm trở thành “một vùng đất cháy”, và sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian, đồng thời loại bỏ được nhiều đau khổ, ưu phiền và thống khổ không cần thiết nếu các thành viên trong nhóm nhận ra [Page 219] điều gì đang xảy ra cho họ và chỉ đơn giản đứng vững cho đến khi “sự thanh luyện như bằng lửa” đã hoàn tất và nguyên khí sự sống trong trái tim nhóm có thể tỏa sáng với cả vẻ rực rỡ lẫn hào quang. Chính phẩm tính chịu đựng kiên nhẫn này là điều hết sức cần thiết cho các thành viên của một nhóm đang được chuẩn bị cho điểm đạo. Tuy nhiên, một khi mục đích nằm sau mọi biến cố gây đau khổ và mọi xáo trộn nhân sự được nắm bắt, nhóm có thể đạt tiến bộ nhanh chóng—một lần nữa bằng việc thực hành đơn giản Điềm nhiên thiêng liêng. Điềm nhiên thiêng liêng này là phẩm tính nổi bật của Chân sư trên Thập giá tại Calvary. Bảy lời từ Thập giá liên quan đến người khác, đến sứ mệnh của Ngài, đến nhu cầu thế giới, và đến mối liên hệ với Cha hoặc với Chân thần. Nhưng các đệ tử và người chí nguyện lại quá mải bận tâm đến chính họ, đến ảnh hưởng của họ đối với người khác, đến những chịu đựng và đau đớn của họ, hoặc đến sự phê phán các huynh đệ của họ hay chính họ! Mục tiêu và chủ đích chính không được nhấn mạnh đầy đủ trong tâm thức của họ. Phàm ngã nhóm thường vận hành với sức mạnh, nhưng tình thương dung hợp của linh hồn lại vắng mặt, và luồng sống tuôn vào có sức phá vỡ nơi tâm điểm của viên ngọc không được phép phát huy trọn vẹn. Các tình trạng của nhóm chặn lại và ngăn trở nó, và cho đến khi ít nhất có một ý chí hợp nhất để cùng nhau tiếp nhận những gì cần thiết nhằm chuyển đời sống của nhóm lên các cấp độ nhận thức cao hơn và vào ashram trên các cấp độ Bồ đề, Chân sư sẽ không giao phó kỹ thuật chuyển dịch cho nhóm. Đó là ý nghĩa của câu kế tiếp trong quy luật:

2. Let them find the Word which will carry out that task.

2. Hãy để họ tìm ra Linh từ sẽ thực hiện nhiệm vụ đó.

The process of transference the fire within the jewel in the lotus into the Triad includes three stages:

Tiến trình chuyển dịch ngọn lửa bên trong viên ngọc trong hoa sen vào Tam nguyên tinh thần gồm ba giai đoạn:

1. The first stage of united tension or the attaining of such a focal point of planned and focused intent that the group is undeviatingly oriented to the immediate task to be done and is functioning from the angle of purpose as one individual.

1. Giai đoạn thứ nhất của sự tập trung nhất tâm hợp nhất, hay việc đạt tới một tiêu điểm của ý định được hoạch định và tập trung đến mức nhóm được định hướng không sai lệch vào nhiệm vụ trước mắt cần thực hiện, và vận hành từ góc độ mục đích như một cá thể duy nhất.

2. The stage of emerging of the Word as the result of the point of tension; it emerges from the silence and its first expression is simply the slowly rising tempo of the group “Sound” or note.

2. Giai đoạn Linh từ xuất hiện như kết quả của điểm tập trung nhất tâm; nó xuất hiện từ sự im lặng, và biểu hiện đầu tiên của nó chỉ đơn giản là nhịp độ đang chậm rãi gia tăng của “Âm” hay âm điệu của nhóm.

3. The stage of destruction of the mediating body.

3. Giai đoạn phá hủy thể trung gian.

What is this technique of transference? It falls into three stages, each one of which has to be arrived at by the group in unison. [Page 1] The first is the stage of united tension or the attaining of such a focal point of planned and focused intent that the group is undeviatingly oriented to the immediate task to be done and is functioning from the angle of purpose as one individual. This is perhaps the hardest stage, but it has to be mastered prior to the assistance of [Page 220] the Master in the inner Ashram; He is to the group what the Monad is to the disciple, ever seeking to bring about the esoteric “renunciation” of the causal vehicle. This point of tension has to be held in high vibratory activity all through the process of transference. I would remind you that the outstanding characteristic of Jesus of Nazareth, throughout the period prior to the crucifixion, was one of complete silence; here is where the efficacy of the fourth quality mentioned by me appears. The group, at this stage, is so preoccupied with the task ahead and so conscious of the need for preserving a united and uniform tension, that “the silence of the secret place” settles on it and the work can then proceed apace[9]. When this point has been attained, then the third quality manifests with power to work as a miniature hierarchy, and this becomes increasingly noticeable.

Kỹ thuật chuyển dịch này là gì? Nó gồm ba giai đoạn, mỗi giai đoạn đều phải được nhóm đồng lòng đạt tới. [Page 1] Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn của sự tập trung nhất tâm hợp nhất, hay việc đạt tới một tiêu điểm của ý định được hoạch định và tập trung đến mức nhóm được định hướng không sai lệch vào nhiệm vụ trước mắt cần thực hiện, và vận hành từ góc độ mục đích như một cá thể duy nhất. Đây có lẽ là giai đoạn khó khăn nhất, nhưng nó phải được làm chủ trước khi có sự trợ giúp của [Page 220] Chân sư trong ashram bên trong; Ngài đối với nhóm cũng như Chân thần đối với đệ tử, luôn tìm cách tạo nên sự “từ bỏ” huyền bí đối với hiện thể nguyên nhân. Điểm tập trung nhất tâm này phải được duy trì trong hoạt động rung động cao suốt toàn bộ tiến trình chuyển dịch. Tôi muốn nhắc các bạn rằng đặc điểm nổi bật của Đức Jesus người Na-da-rét, trong suốt thời kỳ trước cuộc đóng đinh, là sự im lặng hoàn toàn; chính ở đây hiệu lực của phẩm tính thứ tư mà tôi đã nêu ra xuất hiện. Ở giai đoạn này, nhóm quá chuyên tâm vào nhiệm vụ phía trước và quá ý thức về nhu cầu gìn giữ một sự tập trung nhất tâm hợp nhất và đồng đều, đến nỗi “sự im lặng của nơi bí mật” phủ xuống trên nhóm, và khi ấy công việc có thể tiến hành nhanh chóng. Khi điểm này đã được đạt tới, phẩm tính thứ ba sẽ biểu lộ với quyền năng để hoạt động như một Thánh đoàn thu nhỏ, và điều này ngày càng trở nên rõ rệt.

Now comes the result of all these preliminary stages, and it comes spontaneously and automatically. I want to emphasize that the group does not wait in expectancy for a Word to be given to it; it does not search and strive to discover a Word; it does not take some Word as may be suggested by a helpful disciple and then proceed to “empower it.” The Word is the result of the point of tension; it emerges from the silence and its first expression is simply the slowly rising tempo of the group “Sound” or note. As you know, every individual and every group of individuals have their own peculiar note or sound which is the creative agent of the focused group life.

Giờ đây xuất hiện kết quả của tất cả các giai đoạn sơ bộ này, và nó đến một cách tự phát, tự động. Tôi muốn nhấn mạnh rằng nhóm không chờ đợi trong kỳ vọng để được ban cho một Linh từ; nhóm không tìm kiếm và nỗ lực khám phá một Linh từ; nhóm không nhận lấy một Linh từ nào đó do một đệ tử hữu ích gợi ý rồi tiếp tục “truyền quyền năng cho nó.” Linh từ là kết quả của điểm tập trung nhất tâm; nó xuất hiện từ sự im lặng, và biểu hiện đầu tiên của nó chỉ đơn giản là nhịp độ đang chậm rãi gia tăng của “Âm” hay âm điệu của nhóm. Như các bạn biết, mỗi cá nhân và mỗi nhóm cá nhân đều có âm điệu hay âm thanh riêng biệt của mình, vốn là tác nhân sáng tạo của đời sống nhóm được tập trung.

At this point we again touch the fringe of the coming Science of Invocation. This group sound, rising as the tension increases and stabilizes, is invocatory in effect and draws forth response eventually from the inner Ashram, owing to its relation to the outer group. When the response of the Master is registered in the group consciousness and His potency is added to the potency of the group, the sound emitted by the group changes in quality, is amplified and diversified, is enriched and then precipitated outside the ring-pass-not of the group life; this precipitation takes the [Page 221] form of a Word. This Word, being the result of group activity, focus and tension, plus the aid of the Master, brings about three results:

Đến đây, chúng ta lại chạm đến rìa của Khoa học Khẩn Cầu sắp đến. Âm thanh nhóm này, dâng lên khi sự tập trung nhất tâm gia tăng và ổn định, có hiệu quả khẩn cầu và cuối cùng gợi ra đáp ứng từ ashram bên trong, do mối liên hệ của nó với nhóm bên ngoài. Khi đáp ứng của Chân sư được ghi nhận trong tâm thức nhóm và quyền năng của Ngài được thêm vào quyền năng của nhóm, âm thanh do nhóm phát ra thay đổi về phẩm tính, được khuếch đạiđa dạng hóa, được làm phong phú và rồi được ngưng tụ ra ngoài vòng-giới-hạn của đời sống nhóm; sự ngưng tụ này mang [Page 221] hình thức của một Linh từ. Linh từ này, vốn là kết quả của hoạt động, sự tập trung và sự nhất tâm của nhóm, cộng với sự trợ giúp của Chân sư, tạo ra ba kết quả:

1. It produces fusion between the outer group and the inner Ashram.

1. Nó tạo ra sự dung hợp giữa nhóm bên ngoài và ashram bên trong.

2. It enables the group life to be transferred along the group antahkarana and focuses it once and for all in the Master’s Ashram.

2. Nó khiến đời sống nhóm có thể được chuyển dịch dọc theo antahkarana của nhóm và tập trung đời sống ấy một lần dứt khoát trong ashram của Chân sư.

3. The result of this transference is twofold:

3. Kết quả của sự chuyển dịch này có tính nhị phân:

a. The outer group dies, occultly speaking.

a. Nhóm bên ngoài chết, nói theo huyền bí học.

b. The soul of the group, being now merged with the life aspect on levels higher than those on which the causal body exists, is no longer of major importance; the Great Renunciation takes place, and the causal body—having served its purpose—dies and is destroyed. So died, according to theological injunction, the Christ upon the Cross. Yet He died not, and still lives, and by His life are all souls saved.

b. Linh hồn của nhóm, vì nay đã hòa nhập với phương diện sự sống trên những cấp độ cao hơn các cấp độ mà thể nguyên nhân tồn tại, không còn có tầm quan trọng chủ yếu; Sự Từ Bỏ Vĩ Đại diễn ra, và thể nguyên nhân—sau khi đã phục vụ mục đích của nó—chết và bị hủy diệt. Theo huấn lệnh thần học, Đức Christ đã chết như thế trên thập giá. Tuy vậy Ngài không chết, mà vẫn sống, và nhờ sự sống của Ngài mà mọi linh hồn được cứu.

It is hard for esoteric students to realize that the emphasis of the coming Schools of Enlightenment will be upon the life aspect, and not upon contact with the soul. The goal will be transference and not union. Aspirants and disciples today are largely the result of the old order of teaching and are the flower of the processes to which humanity has been subjected. This is a vital transition period; disciples and aspirants in the world at this time are, figuratively speaking, at the same stage as the group which we are considering—the stage of the transference of the life from the outer form into the inner being. Hence the difficulty with which you are all faced, and the arduous task it is to comprehend realistically that which I am attempting to convey. The problem of soul contact is something which you can and do grasp, at least theoretically. The problem of life transference from the highest point of present attainment into some vague and mystical spiritual focus is not so easy to understand. Forget not, I am not looking for understanding for I write for those who will come after you, and [Page 222] for those who will be the reincarnated aspects of your present selves.

Đối với các đạo sinh huyền bí học, thật khó nhận ra rằng trọng tâm của các Trường Giác Ngộ sắp đến sẽ đặt vào phương diện sự sống, chứ không đặt vào sự tiếp xúc với linh hồn. Mục tiêu sẽ là sự chuyển dịch chứ không phải sự hợp nhất. Những người chí nguyện và các đệ tử ngày nay phần lớn là kết quả của trật tự giảng dạy cũ và là tinh hoa của những tiến trình mà nhân loại đã trải qua. Đây là một thời kỳ chuyển tiếp thiết yếu; vào lúc này, các đệ tử và người chí nguyện trên thế giới, nói theo nghĩa biểu tượng, đang ở cùng giai đoạn như nhóm mà chúng ta đang xem xét—giai đoạn chuyển dịch sự sống từ hình tướng bên ngoài vào bản thể bên trong. Do đó có khó khăn mà tất cả các bạn đang đối diện, và nhiệm vụ gian nan là thấu hiểu một cách thực tiễn điều Tôi đang cố gắng truyền đạt. Vấn đề tiếp xúc với linh hồn là điều các bạn có thể và thật sự nắm bắt, ít nhất về mặt lý thuyết. Vấn đề chuyển dịch sự sống từ điểm cao nhất của thành tựu hiện tại vào một tiêu điểm tinh thần thần bí và mơ hồ nào đó thì không dễ thấu hiểu như vậy. Đừng quên, Tôi không tìm kiếm sự thấu hiểu, vì Tôi viết cho những người sẽ đến sau các bạn, [Page 222] cho những người sẽ là các phương diện tái lâm phàm của chính các bạn hiện nay.

You will note, therefore, how the four qualities dealt with (page 215) have enabled the group to achieve the sounding of the Word. That Word, now emitted by them as a group under the inspiration of the Master (and I use the word “inspiration” advisedly), has gone forth; it has passed beyond the sphere of the immediate group influence; it has made its initial impact upon the soul of the group and has vitalized to a new potency the life aspect, the jewel in the Lotus of the soul.

Do đó, các bạn sẽ lưu ý bốn phẩm tính đã được đề cập (trang 215) đã giúp nhóm đạt được việc xướng Linh từ như thế nào. Linh từ ấy, nay do họ với tư cách một nhóm phát ra dưới cảm hứng của Chân sư (và Tôi dùng từ “cảm hứng” một cách có cân nhắc), đã vang đi; nó đã vượt ra ngoài khối cầu ảnh hưởng trực tiếp của nhóm; nó đã tạo tác động ban đầu lên linh hồn của nhóm và đã tiếp sinh lực cho phương diện sự sống—viên ngọc trong Hoa sen của linh hồn—khiến nó đạt một quyền năng mới.

Now comes the possibility of fulfiling the third great injunction contained in this rule:

Giờ đây xuất hiện khả năng hoàn thành huấn thị lớn thứ ba chứa trong quy luật này:

3. Let them destroy by their dynamic Will that which has been created at the midway point.

3. Hãy để họ phá hủy bằng Ý chí năng động của họ cái đã được tạo ra tại điểm ở giữa.

In the fulfilment of the requirement here enjoined[10], the group enters upon its major test in this work of transference. The group members have unitedly preserved the point of tension; unitedly they have created the antahkarana; unitedly they have invoked by the group sound the attention of the Master and of the Master’s Ashram; unitedly that sound has taken the form of a Word, and that Word has made an impact upon the life aspect of the group within the form of the group soul; it has energized it so that the destruction of the causal body is now in order. The tendency of the group would then be to relax, and this quite normally; the irretrievable Word has gone forth and all is well and safely accomplished. But it is not so in verity. By the power of their united love, the group has mastered personnel difficulties and has developed together the four qualities; it has also found the Word which can affect the soul—for the Word is ever related to the second aspect, and because of that it can reach and energize the soul, the second aspect per se.

Trong việc hoàn thành yêu cầu được ban huấn thị ở đây, nhóm bước vào cuộc thử thách lớn của mình trong công việc chuyển dịch này. Các thành viên của nhóm đã cùng nhau duy trì điểm tập trung nhất tâm; cùng nhau họ đã tạo ra antahkarana; cùng nhau họ đã khẩn cầu bằng âm thanh nhóm sự chú ý của Chân sư và của ashram của Chân sư; cùng nhau, âm thanh ấy đã mang hình thức của một Linh từ, và Linh từ ấy đã tác động lên phương diện sự sống của nhóm bên trong hình tướng của linh hồn nhóm; nó đã tiếp năng lượng cho phương diện ấy đến mức việc phá hủy thể nguyên nhân nay là điều đúng lúc. Khi ấy khuynh hướng của nhóm sẽ là buông lỏng, và điều này hoàn toàn bình thường; Linh từ không thể thu hồi đã phát ra và mọi sự đều tốt đẹp, được hoàn thành an toàn. Nhưng trong thực tính không phải như vậy. Bằng quyền năng của tình thương hợp nhất, nhóm đã làm chủ những khó khăn về nhân sự và đã cùng nhau phát triển bốn phẩm tính; nó cũng đã tìm thấy Linh từ có thể tác động đến linh hồn—vì Linh từ luôn liên hệ với phương diện thứ hai, và bởi điều đó nó có thể vươn tới và tiếp năng lượng cho linh hồn, chính phương diện thứ hai.

But now, in the final stages of the great work of transference, the group has to arrive at a new point of tension and of united attainment. It has to use the dynamic will, the energy of the first aspect, and so bring about the final [Page 223] destruction of the causal body. The life within the causal body has been stimulated and vitalized and is now seeking to break out of its confining form. The vehicle of the soul is being subjected to pressure from within but then—both in the case of the individual initiate and of the initiated group—the final blow has to be struck also from without, by an act of the united will; this corresponds to the great cry of the Christ upon the Cross when He exclaimed “It is finished.” With these words, we are told, the veil of the Temple was rent from the top to the bottom, and the life of the Christ ascended to the Father. Ponder upon the significances of these phrases. “That which has been created at the midway point” is no longer needed. No mediating principle or intermediary between man and the Father is any longer required; the Monad and the personality are in complete at-one-ment and have achieved perfected relationship; triplicity has given place to duality, and the Way of the Higher Evolution stands open before the initiate.

Nhưng nay, trong những giai đoạn cuối cùng của công trình chuyển dịch vĩ đại, nhóm phải đạt đến một điểm tập trung nhất tâm mới và một thành tựu hợp nhất. Nhóm phải sử dụng ý chí năng động, năng lượng của phương diện thứ nhất, và nhờ đó đem lại sự [Page 223] hủy diệt cuối cùng của thể nguyên nhân. Sự sống bên trong thể nguyên nhân đã được kích thích và tiếp sinh lực, và hiện đang tìm cách thoát ra khỏi hình tướng giam hãm nó. Hiện thể của linh hồn đang chịu áp lực từ bên trong, nhưng bấy giờ—cả trong trường hợp điểm đạo đồ cá nhân lẫn nhóm đã được điểm đạo—cú đánh cuối cùng cũng phải được giáng xuống từ bên ngoài, bằng một hành vi của ý chí hợp nhất; điều này tương ứng với tiếng kêu lớn của Đức Christ trên Thập Giá khi Ngài thốt lên: “Mọi sự đã hoàn tất.” Người ta nói với chúng ta rằng, với những lời ấy, bức màn của Đền Thờ đã bị xé từ trên xuống dưới, và sự sống của Đức Christ đã thăng lên cùng Cha. Hãy suy ngẫm về các thâm nghĩa của những cụm từ này. “Điều đã được tạo ra tại điểm ở giữa” không còn cần thiết nữa. Không còn cần bất kỳ nguyên khí trung gian hay thực thể trung gian nào giữa con người và Cha; chân thần và phàm ngã ở trong sự hợp nhất hoàn toàn và đã đạt được mối liên hệ hoàn hảo; bộ ba đã nhường chỗ cho nhị nguyên, và Con đường Tiến Hóa Cao Siêu mở ra trước điểm đạo đồ.

It will be obvious that this phase of group attainment can as yet be only a hope. It lies far ahead of the present day groups, just as the fourth initiation lies far ahead of the average aspirant or disciple. But groups must have their goals and must strive towards the vision, just as the individual must; I am laying the foundation for the phase of group living and united striving which will be so distinctive an aspect of the coming era. There are three further points which I seek to make:

Hiển nhiên rằng giai đoạn thành tựu nhóm này hiện nay vẫn chỉ có thể là một niềm hy vọng. Nó còn ở rất xa phía trước các nhóm ngày nay, cũng như lần điểm đạo thứ tư còn ở rất xa phía trước người chí nguyện hay đệ tử trung bình. Nhưng các nhóm phải có mục tiêu của mình và phải nỗ lực hướng tới tầm nhìn, cũng như cá nhân phải làm như vậy; Tôi đang đặt nền tảng cho giai đoạn sống nhóm và nỗ lực hợp nhất, vốn sẽ là một phương diện rất đặc trưng của thời đại sắp đến. Có thêm ba điểm mà Tôi muốn nêu ra:

[Page 1] First, the attainment of the ability to use the group will dynamically can be more easily understood if it is realized that it means the extension of the point of tension into realms which involve the superconsciousness of the disciple; also that the release of the life aspect from the confines of the causal body produces a new cycle of invocation and invocative activity. This brings about an inflow of the destroyer aspect of the divine Will, and consequently the complete destruction of the causal vehicle.

[Page 1] Thứ nhất, việc đạt được khả năng sử dụng ý chí nhóm một cách năng động có thể được thấu hiểu dễ dàng hơn nếu nhận ra rằng điều đó có nghĩa là mở rộng điểm tập trung nhất tâm vào các cảnh giới liên quan đến siêu thức của đệ tử; cũng như sự giải phóng phương diện sự sống khỏi những giới hạn của thể nguyên nhân tạo ra một chu kỳ mới của sự khẩn cầu và hoạt động khẩn cầu. Điều này đem lại một luồng tuôn vào của phương diện hủy diệt thuộc Ý Chí thiêng liêng, và do đó đưa đến sự hủy diệt hoàn toàn của hiện thể nguyên nhân.

[Page 2] Secondly, it is not to be inferred that all in the group must be disciples who are in process of taking the fourth [Page 224] initiation. A group can be composed of disciples and initiates of all degrees, though there must be among the group personnel at least one disciple who has taken the initiation of crucifixion. This necessity is symbolized for us in the close relation which existed between Jesus as He took this initiation and the Christ Who had taken it in an earlier state of life. The more diversified the group, the richer its life and possibilities. Forget this not. One hint I can give you upon this difficult subject. When the results of the first point of tension, prior to the emergence of the Word, have been reached, initiates of the fourth degree within the Ashram lend their aid and do much to make possible the attainment of the goal by the group.

[Page 2] Thứ hai, không nên suy luận rằng mọi người trong nhóm đều phải là các đệ tử đang trong tiến trình nhận lần [Page 224] điểm đạo thứ tư. Một nhóm có thể gồm các đệ tử và điểm đạo đồ thuộc mọi cấp độ, dù trong nhân sự của nhóm phải có ít nhất một đệ tử đã trải qua cuộc điểm đạo đóng đinh trên thập giá. Sự cần thiết này được biểu tượng hóa cho chúng ta trong mối liên hệ mật thiết đã tồn tại giữa Đức Jesus khi Ngài trải qua cuộc điểm đạo này và Đức Christ, Đấng đã trải qua nó trong một trạng thái sống trước đó. Nhóm càng đa dạng, đời sống và các khả năng của nhóm càng phong phú. Đừng quên điều này. Tôi có thể trao cho các bạn một gợi ý về chủ đề khó khăn này. Khi các kết quả của điểm tập trung nhất tâm thứ nhất, trước khi Linh từ xuất hiện, đã đạt được, các điểm đạo đồ bậc thứ tư trong ashram góp sức hỗ trợ và làm nhiều việc để giúp nhóm có thể đạt được mục tiêu.

[Page 3] Thirdly, I would have you note that I have given you much in a brief form and have added much of new information anent the fourth initiation. What I have said is applicable both to the individual aspirant and to a group seeking initiation. Read what I have said with attention, but remember that it is not yet possible for you to differentiate between what is symbolic and what may be factual. The secrets of initiation are thus guarded with care.

[Page 3] Thứ ba, Tôi muốn các bạn lưu ý rằng Tôi đã trao cho các bạn nhiều điều dưới hình thức ngắn gọn và đã bổ sung nhiều thông tin mới liên quan đến lần điểm đạo thứ tư. Những gì Tôi đã nói áp dụng cho cả người chí nguyện cá nhân lẫn một nhóm đang tìm kiếm điểm đạo. Hãy đọc những gì Tôi đã nói với sự chú tâm, nhưng hãy nhớ rằng hiện nay các bạn vẫn chưa thể phân biệt giữa điều mang tính biểu tượng và điều có thể là sự kiện thực tế. Theo cách ấy, các bí mật của điểm đạo được gìn giữ cẩn thận.

One simple rule towards comprehension and attainment ever holds good. The Great Renunciation becomes possible only when the practice of the little renunciations governs the life of a disciple and a group. The renouncing of ambition, of all personality ties, and the renunciation of all that hinders progress as it is revealed to the eye of the soul, lays a sound foundation for the final great transference, based upon the renunciation of that which for aeons has connoted beauty, truth and goodness, and which has seemed the ultimate goal of all aspirational effort. The endeavor to see that which lies ahead and beyond the apparent finality of soul fusion faces disciples, among them some of you, at this time; and that all of you may penetrate beyond the veil of the soul and eventually see that veil “rent from the top to the bottom,” and thus be enabled to say with those of like degree “It is finished” is my earnest hope. Then will open for you as for others, the Way of the [Page 225] Higher Evolution, and the glory of the Lord will be seen in a new light—a light which will dim and throw into the shade all previous goals and visions.

Một quy luật đơn giản hướng tới sự thấu hiểu và thành tựu luôn luôn đúng. Cuộc Từ Bỏ Lớn Lao chỉ trở nên khả hữu khi việc thực hành những sự từ bỏ nhỏ bé chi phối đời sống của một đệ tử và một nhóm. Việc từ bỏ tham vọng, mọi ràng buộc của phàm ngã, và từ bỏ tất cả những gì cản trở bước tiến khi nó được mặc khải trước con mắt của linh hồn, đặt một nền tảng vững chắc cho sự chuyển dịch vĩ đại cuối cùng, dựa trên sự từ bỏ điều mà trong nhiều đại kiếp đã hàm nghĩa vẻ đẹp, chân lý và thiện hảo, và dường như là mục tiêu tối hậu của mọi nỗ lực khát vọng. Nỗ lực nhìn thấy điều nằm phía trước và vượt ngoài tính chung cuộc có vẻ như tối hậu của sự dung hợp linh hồn đang đặt ra trước các đệ tử, trong số đó có một vài người trong các bạn, vào lúc này; và niềm hy vọng chân thành của Tôi là tất cả các bạn có thể xuyên thấu bên kia bức màn của linh hồn và cuối cùng thấy bức màn ấy “bị xé từ trên xuống dưới,” nhờ đó có thể nói cùng với những người đồng cấp độ: “Mọi sự đã hoàn tất.” Bấy giờ, cũng như đối với những người khác, Con đường [Page 225] Tiến Hóa Cao Siêu sẽ mở ra cho các bạn, và vinh quang của Chúa Tể sẽ được thấy trong một ánh sáng mới—một ánh sáng sẽ làm lu mờ và phủ bóng mọi mục tiêu và tầm nhìn trước đây.



[1] mở ra một kỷ nguyên, đánh dấu một thời kỳ; lịch sử

[2] 1. sự từ chối dứt khoát, sự cự tuyệt, sự khước từ; 2. sự thất bại bất ngờ

[3] ảo cảnh

[4] 2. làm giảm giá trị; 3. coi nhẹ, xem thường

[5] 2. (cổ) ảo tưởng, không tưởng, mộng tưởng

[6] 1. nhổ rễ; 2. trừ tiệt; thủ tiêu

[7] 1. (vật lý) sự tán sắc; độ tán sắc

[8] 2. sự bất hạnh, sự rủi ro, tai ương

[9] nhanh, nhanh chóng, mau lẹ

[10] 1. khiến, bắt phải, ra lệnh, chỉ thị

Leave a Comment

Scroll to Top