Bình Giảng Quy Luật Điểm đạo 12 dành cho đệ tử (RI)

📘 Sách: Bình Giảng 14 Quy Luật Điểm đạo Dành Cho Đệ tử – RI – Tác giả: Michael D. Robbins

Click vào số trang trong ngoặc [ ] để đến phần văn bản liên quan. Click Tóm Tắt để xem tóm tắt của bình giảng.

COMMENTARY ON RULE XII

BÌNH LUẬN VỀ QUY LUẬT MƯỜI HAI

R&I (225-227)

Cung và Điểm Đạo (225-227)

(All Highlighting, Bolding and Underlining—MDR)

(Mọi phần tô sáng, in đậm và gạch dưới — do người biên chú thực hiện)

Please read this Commentary with your book open or with reference to an electronic copy of the text. This will facilitate an appreciation of continuity.

Xin hãy đọc phần Bình luận này khi mở sách của bạn hoặc tham khảo một bản điện tử của văn bản. Điều này sẽ giúp bạn nhận thức rõ hơn tính liên tục.

RULE TWELVE

QUY LUẬT MƯỜI HAI

The Rule which we have now to consider carries us into realms of extra-planetary energy, into a world of a larger consciousness towards which the higher initiates strive

Quy luật mà giờ đây chúng ta phải xem xét đưa chúng ta vào những cõi giới của năng lượng ngoài hành tinh, vào một thế giới của tâm thức rộng lớn hơn mà các điểm đạo đồ cao cấp đang hướng tới

1. These are initiates of minimally the fourth degree and that towards which They strive is the “Way of Higher Evolution”.

1. Đây là các điểm đạo đồ ít nhất thuộc bậc thứ tư, và điều mà các Ngài hướng tới là “Con đường Tiến Hóa Cao Siêu”.

and which is related in a peculiar way to both the past and the future.

điều này liên hệ theo một cách đặc biệt với cả quá khứ lẫn tương lai.

2. We shall see how Master DK unfolds this idea.

2. Chúng ta sẽ thấy Chân sư DK khai mở ý tưởng này như thế nào.

This rule might also be called the formula controlling the work of the New Group of World Servers.

Quy luật này cũng có thể được gọi là công thức chi phối công việc của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

3. This is the twelfth Rule and the New Group of World Servers is a serving saving group. Pisces (the twelfth sign) is the sign of salvation. Taurus, which is the sign ruling the New Group is the twelfth sign proceeding in clockwise order.

3. Đây là Quy luật thứ mười hai, và Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian là một nhóm phụng sự cứu rỗi. Song Ngư, dấu hiệu thứ mười hai, là dấu hiệu của sự cứu rỗi. Kim Ngưu, dấu hiệu cai quản Đoàn Người Mới, là dấu hiệu thứ mười hai nếu đi theo chiều kim đồng hồ.

4. The second degree (which is the degree characteristic of the great majority of members of the New Group of World Servers) is a reflection of the fourth degree.

4. Bậc thứ hai, vốn là bậc đặc trưng của đại đa số thành viên Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, là phản ánh của bậc thứ tư.

The three remaining rules for initiates and disciples are concerned with the work of the New Age and the coming revelation which will make that work both new and possible. They are therefore of supreme importance to us.

Ba quy luật còn lại dành cho các điểm đạo đồ và đệ tử liên quan đến công việc của Kỷ Nguyên Mới và sự mặc khải sắp đến, điều sẽ làm cho công việc ấy vừa mới mẻ vừa khả thi. Vì vậy, chúng có tầm quan trọng tối thượng đối với chúng ta.

5. These are Rules for the future and concern the greater groups—the New Group of World Servers and especially, the Spiritual Hierarchy.

5. Đây là những Quy luật dành cho tương lai và liên quan đến các nhóm lớn hơn — Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và đặc biệt là Huyền Giai Tinh Thần.

Step by step, in the eleven rules already studied, we have seen the initiate or disciple carried from his position as an accepted disciple standing before the Angel of the Presence, to that point of attainment where the spiritual will is released in full service and with full comprehension at the time of the fourth initiation, where atma or pure spirit is in control, where the Spiritual Triad is expressing the nature of the Monad, where identification with the purpose of deity has transcended illumination of the mind, and has also transcended cooperation through pure love with the Plan.

Từng bước một, trong mười một quy luật đã được nghiên cứu, chúng ta đã thấy điểm đạo đồ hay đệ tử được đưa từ vị thế của y như một đệ tử được chấp nhận đang đứng trước Thiên Thần của Hiện Diện, đến điểm thành tựu nơi Ý chí tinh thần được giải phóng trong phụng sự trọn vẹn và với sự thấu hiểu trọn vẹn vào lúc lần điểm đạo thứ tư, nơi atma hay tinh thần thuần khiết nắm quyền kiểm soát, nơi Tam Nguyên Tinh Thần biểu lộ bản chất của chân thần, nơi sự đồng hoá với Thiên Ý đã vượt lên trên sự soi sáng của thể trí, và cũng vượt lên trên sự cộng tác thông qua bác ái thuần khiết với Thiên Cơ.

6. If we have wondered for whom the Rules apply and at what point of development and individual or group of individuals could begin using them, this question is clarified in this section of text. Those who can apply these Rules with some hope of success must begin the process as “accepted disciples”. Their spiritual status may change as they continue to learn about the Rules and succeed in applying some of the later ones, but they begin, minimally, as “accepted disciples”.

6. Nếu chúng ta từng tự hỏi các Quy luật này áp dụng cho ai, và ở điểm phát triển nào một cá nhân hay một nhóm cá nhân có thể bắt đầu sử dụng chúng, thì câu hỏi này được làm sáng tỏ trong đoạn văn này. Những ai có thể áp dụng các Quy luật này với đôi chút hy vọng thành công phải bắt đầu tiến trình như “các đệ tử được chấp nhận”. Địa vị tinh thần của họ có thể thay đổi khi họ tiếp tục học hỏi về các Quy luật và thành công trong việc áp dụng một số quy luật về sau, nhưng tối thiểu họ bắt đầu như “các đệ tử được chấp nhận”.

7. This does not mean that those who are not accepted disciples cannot benefit from meditation upon these Rules and their study, but the Rules are meant for those who, minimally, stand on the periphery of some Ashram as accepted disciples.

7. Điều này không có nghĩa là những ai chưa phải là đệ tử được chấp nhận thì không thể hưởng lợi từ việc tham thiền về các Quy luật này và nghiên cứu chúng, nhưng các Quy luật được dành cho những ai, tối thiểu, đang đứng ở chu vi của một ashram nào đó như các đệ tử được chấp nhận.

8. How far have we progressed in the study of eleven Rules?

8. Chúng ta đã tiến xa đến đâu trong việc nghiên cứu mười một Quy luật?

a. The spiritual will has been released in full service at the fourth initiation

a. Ý chí tinh thần đã được giải phóng trong phụng sự trọn vẹn ở lần điểm đạo thứ tư

b. The spiritual will has been released in full comprehension at the fourth initiation

b. Ý chí tinh thần đã được giải phóng trong sự thấu hiểu trọn vẹn ở lần điểm đạo thứ tư

c. Atma or pure spirit is in control

c. Atma hay tinh thần thuần khiết nắm quyền kiểm soát

d. The spiritual triad is expressing the nature of the Monad

d. Tam Nguyên Tinh Thần đang biểu lộ bản chất của chân thần

e. Identification with Deity has transcended illumination of the mind

e. Sự đồng hoá với Thượng đế đã vượt lên trên sự soi sáng của thể trí

f. Identification with Deity has transcended cooperation through pure love with the Plan

f. Sự đồng hoá với Thượng đế đã vượt lên trên sự cộng tác thông qua bác ái thuần khiết với Thiên Cơ

9. We can see that the Rules thus far have carried us far, very far, along the way—at least theoretically. There is no way that a student or group of students (unless considerably advanced) can attain in the manner described in just a few short years of meditation and study.

9. Chúng ta có thể thấy rằng các Quy luật cho đến nay đã đưa chúng ta đi xa, rất xa, trên Con Đường — ít nhất về mặt lý thuyết. Không có cách nào để một đạo sinh hay một nhóm đạo sinh, trừ khi đã tiến bộ đáng kể, có thể đạt tới theo cách được mô tả chỉ trong vài năm ngắn ngủi tham thiền và nghiên cứu.

These words are all attempts to indicate the path of progress which is—to the initiate consciousness—the necessary preparatory stage to treading the Path of the Higher Evolution, just as the Probationary Path is the necessary preparatory stage to being accepted into an Ashram.

Tất cả những lời này đều là những nỗ lực nhằm chỉ ra con đường tiến bộ, vốn — đối với tâm thức điểm đạo đồ — là giai đoạn chuẩn bị cần thiết để bước lên Con Đường Tiến Hóa Cao Siêu, cũng như Con Đường Dự Bị là giai đoạn chuẩn bị cần thiết để được chấp nhận vào một ashram.

10. The analogy holds, no matter what the level of spiritual attainment.

10. Sự tương đồng vẫn đúng, bất kể cấp độ thành tựu tinh thần là gì.

11. There is always a preparatory stage and a subsequent stage of achievement.

11. Luôn luôn có một giai đoạn chuẩn bị và một giai đoạn thành tựu tiếp theo.

12. The first eleven Rules represent a kind of “path of progress” which will prepare the advanced initiate to look ahead towards treading the Path of Higher Evolution.

12. Mười một Quy luật đầu tiên tượng trưng cho một loại “con đường tiến bộ” sẽ chuẩn bị cho điểm đạo đồ tiến bộ hướng nhìn về phía trước, tới việc bước lên Con Đường Tiến Hóa Cao Siêu.

13. We are reminded, further, that no disciple is accepted into an Ashram (as an accepted disciple) unless he has trodden the Probationary Path. There is always a process of testing.

13. Hơn nữa, chúng ta được nhắc nhở rằng không đệ tử nào được chấp nhận vào một ashram, với tư cách là đệ tử được chấp nhận, trừ khi y đã bước trên Con Đường Dự Bị. Luôn luôn có một tiến trình thử thách.

Briefly, the eleven rules already dealt with might be regarded as controlling the conscious activity of the initiate in the following stages and relationships.

Tóm lại, mười một quy luật đã được bàn đến có thể được xem như chi phối hoạt động có ý thức của điểm đạo đồ trong các giai đoạn và mối quan hệ sau đây.

14. This is an extremely important summary. It is easy to lose one’s way in these abstruse studies. Clear points of summarization are always helpful.

14. Đây là một phần tổng kết vô cùng quan trọng. Rất dễ lạc lối trong những nghiên cứu thâm áo này. Những điểm tổng kết rõ ràng luôn luôn hữu ích.

1. The stage of the burning ground and the establishment of illumined group relation. This is revealed by the mind, functioning as an aspect of the group mind.

1. Giai đoạn của vùng đất cháy và sự thiết lập mối liên hệ nhóm được soi sáng. Điều này được mặc khải bởi thể trí, vận hành như một phương diện của trí nhóm.

15. Within the fire of mind, focused within the head’s clear light, let the group stand. The burning ground has done its work. The clear cold light shines forth and cold it is and yet the heat—evoked by the group love—permits the warmth of energetic moving out. Behind the group there stands the Door. Before them opens out the Way. Together let the band of brothers onward move—out of the fire, into the cold, and toward a newer tension.

15. Trong lửa của trí tuệ, được tập trung trong ánh sáng trong trẻo của đầu, hãy để nhóm đứng vững. Vùng đất cháy đã hoàn tất công việc của nó. Ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo chiếu rạng, và nó lạnh; tuy nhiên sức nóng — được gợi lên bởi bác ái của nhóm — cho phép hơi ấm của sự tiến ra đầy năng lực. Phía sau nhóm có Cánh Cửa. Trước mặt họ Con Đường mở ra. Cùng nhau, hãy để đoàn huynh đệ tiến bước — ra khỏi lửa, vào trong cái lạnh, và hướng tới một điểm tập trung nhất tâm mới hơn.

16. The stage of individualism is overcome. The burning ground has created the possibility of a new level of group interplay. The individual mind represents the group mind, and the apparently individual soul represents the group soul. There is an illuminating interplay between all levels of the mind.

16. Giai đoạn của chủ nghĩa cá nhân đã được vượt qua. Vùng đất cháy đã tạo nên khả năng cho một cấp độ mới của sự tương tác nhóm. Thể trí cá nhân đại diện cho trí nhóm, và linh hồn có vẻ như cá nhân đại diện cho Hồn nhóm. Có một sự tương tác soi sáng giữa mọi cấp độ của thể trí.

17. Further, the group mind can now serve as the organ of the increasingly appreciated group soul.

17. Hơn nữa, trí nhóm giờ đây có thể phụng sự như cơ quan của Hồn nhóm ngày càng được nhận biết sâu sắc hơn.

[Page 226]

[Trang 226]

2. The stage of ashramic recognition and the establishing of a forward-moving group rhythm; these reciprocal activities produce a needed group tension.

2. Giai đoạn của sự nhận biết ashram và việc thiết lập một nhịp điệu nhóm tiến về phía trước; các hoạt động tương hỗ này tạo nên một điểm tập trung nhất tâm cần thiết của nhóm.

18. The Word has now gone forth from the great point of tension: Accepted as a group. Withdraw not now your application. You could not, if you would; but add to it three great demands and forward move. Let there be no recollection and yet let memory rule. Work from the point of all that is within the content of the group’s united life.

18. Linh từ giờ đây đã phát ra từ điểm tập trung nhất tâm vĩ đại: Được chấp nhận như một nhóm. Đừng rút lại sự thỉnh cầu của các bạn lúc này. Các bạn không thể, dù các bạn muốn; nhưng hãy thêm vào đó ba yêu cầu lớn và tiến tới. Đừng để có sự hồi tưởng, tuy nhiên hãy để ký ức cai quản. Hãy làm việc từ điểm của tất cả những gì nằm trong nội dung của sự sống hợp nhất của nhóm.

19. The Tibetan is describing the Rules in new ways giving different insights to the ones gathered when the Rules were fully elaborated.

19. Chân sư Tây Tạng đang mô tả các Quy luật theo những cách mới, đem lại những tuệ kiến khác với những gì đã được thu thập khi các Quy luật được khai triển đầy đủ.

20. The Rules have multiple levels interpretation and enactment. The second Rule can be applied to ashramic recognition and also to Shamballic recognition.

20. Các Quy luật có nhiều cấp độ diễn giải và thực hiện. Quy luật thứ hai có thể được áp dụng cho sự nhận biết ashram và cũng cho sự nhận biết thuộc Shamballa.

21. The group sustains the point of tension necessary to keep it en rapport with the Ashram (considering the Ashram as the Hierarchy). The group becomes a truly serving group and moves forward relying upon the entirety of its spiritual resources. Through ashramic recognition and a potent moving forward in service the group sustains the necessary point of tension which relates it closely to the Ashram.

21. Nhóm duy trì điểm tập trung nhất tâm cần thiết để giữ mình trong tương giao mật thiết với ashram, nếu xem ashram như Thánh Đoàn. Nhóm trở thành một nhóm phụng sự thật sự và tiến về phía trước, nương tựa vào toàn bộ các nguồn lực tinh thần của mình. Thông qua sự nhận biết ashram và một sự tiến tới mạnh mẽ trong phụng sự, nhóm duy trì điểm tập trung nhất tâm cần thiết, vốn liên hệ nhóm một cách mật thiết với ashram.

22. Eventually, the group relation will be to Shamballa. This is already hinted in Rule VII.

22. Cuối cùng, mối liên hệ của nhóm sẽ là với Shamballa. Điều này đã được gợi ý trong Quy luật bảy.

3. The stage of emitting the group sound and the establishing of the power to invoke divinity, followed by a united group realisation that “God is Fire.”

3. Giai đoạn phát ra âm thanh nhóm và thiết lập quyền năng khẩn cầu thiên tính, tiếp theo là một sự chứng nghiệm thống nhất của nhóm rằng “Thượng đế là Lửa”.

23. Dual the moving forward. The Door is left behind. That is a happening of the past. Let the cry of invocation issue forth from the deep centre of the group’s clear cold light. Let it evoke response from the bright centre, lying far ahead. When the demand and the response are lost in one great SOUND, move outward from the desert, leave the seas behind and know that God is Fire.

23. Sự tiến tới là kép. Cánh Cửa đã bị bỏ lại phía sau. Đó là một sự kiện của quá khứ. Hãy để tiếng kêu khẩn cầu phát ra từ trung tâm sâu thẳm của ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo của nhóm. Hãy để nó gợi lên đáp ứng từ trung tâm rực sáng nằm xa phía trước. Khi yêu cầu và đáp ứng tan hòa trong một ÂM THANH vĩ đại, hãy tiến ra khỏi sa mạc, bỏ lại các biển phía sau và biết rằng Thượng đế là Lửa.

24. The invocation of “divinity” signifies the invocation of the Spirit aspect. The group is moving more deeply into the spiritual triad and, coming in touch with the Will aspect, is coming to the realisation that “God is Fire”.

24. Sự khẩn cầu “thiên tính” biểu thị sự khẩn cầu phương diện Tinh thần. Nhóm đang tiến sâu hơn vào Tam Nguyên Tinh Thần và, khi tiếp xúc với phương diện Ý Chí, đang đi tới sự chứng nghiệm rằng “Thượng đế là Lửa”.

25. There is a measure of atmic realization here, which is fitting, as this is the third rule resonant to the third or atmic plane.

25. Ở đây có một mức độ chứng nghiệm atma, điều này thích hợp, vì đây là quy luật thứ ba, cộng hưởng với cõi thứ ba hay cõi atma.

26. The group sound emitted in the third Rule becomes the Word in Rule XI—the Word which, nurtured by the Master and the Ashram facilitates the destruction of the causal body by the group.

26. Âm thanh nhóm được phát ra trong Quy luật thứ ba trở thành Linh từ trong Quy luật mười một — Linh từ mà, được Chân sư và ashram nuôi dưỡng, tạo thuận lợi cho việc nhóm phá hủy thể nguyên nhân.

4. The stage of extinguishing the lesser fires through the means of the above realisation, and the establishing of a defined group reaction to the divine purpose or will; this results eventually in the negation of the Laws of Karma and Rebirth as they condition life in the three worlds.

4. Giai đoạn dập tắt các ngọn lửa thấp hơn bằng phương tiện của sự chứng nghiệm trên, và thiết lập một phản ứng nhóm xác định đối với Thiên Ý hay Ý Chí thiêng liêng; cuối cùng điều này dẫn đến sự phủ định các Định luật Nghiệp quả và Tái sinh khi chúng tác động lên sự sống trong ba cõi thấp.

27. Let the group see that all the eighteen fires die down and that the lesser lives return unto the reservoir of life. This they must bring about through the evocation of the Will. The lesser wheels must not for aye revolve in time and space. Only the greater Wheel must onward move and turn.

27. Hãy để nhóm thấy rằng tất cả mười tám ngọn lửa lắng xuống và các sự sống nhỏ bé trở về hồ chứa của sự sống. Họ phải thực hiện điều này thông qua sự gợi lên Ý Chí. Các bánh xe nhỏ hơn không được mãi mãi quay trong thời gian và không gian. Chỉ Bánh Xe lớn hơn phải tiến tới và xoay chuyển.

28. The realization that “God is Fire” extinguishes preoccupation with and expression of the lesser fires. The group begins to understand Divine Purpose and Will and attempts to live accordingly—gradually succeeding. This mode of living substitutes will/purpose for desire; karma in the three worlds is balanced. Freedom from the need to incarnate is achieved.

28. Sự chứng nghiệm rằng “Thượng đế là Lửa” dập tắt sự bận tâm với các ngọn lửa thấp hơn và sự biểu lộ của chúng. Nhóm bắt đầu thấu hiểu Thiên Ý và Ý Chí thiêng liêng, đồng thời cố gắng sống phù hợp với điều đó — và dần dần thành công. Lối sống này thay thế dục vọng bằng ý chí và mục đích; nghiệp quả trong ba cõi thấp được quân bình. Sự tự do khỏi nhu cầu lâm phàm được đạt tới.

29. We see that a number of factors resonant to the number four are suggested in this fourth Rule.

29. Chúng ta thấy rằng trong Quy luật thứ tư này có gợi ý đến một số yếu tố cộng hưởng với con số bốn.

5. The stage of triadal perception and the establishing of spiritual contact, thus negating both the life of form and the soul. Duality is no longer recognised.

5. Giai đoạn của nhận thức tam nguyên tinh thần và sự thiết lập tiếp xúc tinh thần, do đó phủ định cả sự sống của hình tướng lẫn linh hồn. Nhị nguyên không còn được công nhận.

30. In unison let the group perceive the Triad shining forth, dimming the light of the soul and blotting out the light of form. The macrocosmic Whole is all there is. Let the group perceive that Whole and then no longer use the thought “My soul and thine.”

30. Trong sự hòa hợp, hãy để nhóm nhận biết Tam Nguyên Tinh Thần đang chiếu rạng, làm lu mờ ánh sáng của linh hồn và xóa sạch ánh sáng của hình tướng. Tổng Thể đại thiên địa là tất cả những gì hiện hữu. Hãy để nhóm nhận biết Tổng Thể ấy, rồi không còn dùng ý nghĩ “linh hồn của tôi và linh hồn của bạn” nữa.

31. The spiritual triad is the true soul or Ego, and yet it is not. Polarization of consciousness within the spiritual triad negates the influence of form and soul and substitutes non-dual perception—the perception of one who lives within the revealed Oneness of the spiritual triad.

31. Tam Nguyên Tinh Thần là linh hồn hay Chân ngã đích thực, nhưng đồng thời cũng không phải như vậy. Sự phân cực tâm thức trong Tam Nguyên Tinh Thần phủ định ảnh hưởng của hình tướng và linh hồn, rồi thay thế bằng nhận thức phi nhị nguyên — nhận thức của người sống trong Nhất Thể được mặc khải của Tam Nguyên Tinh Thần.

32. The fifth Rule suggest the mode of perception which ‘un-shrouds’ the soul.

32. Quy luật thứ năm gợi ý phương thức nhận thức vốn “vén màn che” khỏi linh hồn.

6. The stage of identification with the life aspect and the establishing of complete divine integration into the greater Whole. The initiate then moves onward in life and not in consciousness—a concept and a truth which it is not possible for you to understand at this time.

6. Giai đoạn đồng hoá với phương diện sự sống và thiết lập sự tích hợp thiêng liêng trọn vẹn vào Tổng Thể lớn hơn. Khi ấy điểm đạo đồ tiến tới trong sự sống chứ không trong tâm thức — một quan niệm và một chân lý mà hiện nay các bạn chưa thể thấu hiểu.

33. Let the group know that life is one and naught can ever take or touch that life. Let the group know the vivid, flaming, drenching Life that floods the fourth when the fifth is known. The fifth feeds on the fourth. Let then the group—merged in the fifth—be nourished by the sixth and seventh and realise that all the lesser rules are rules in time and space and cannot hold the group. It onward moves in life.

33. Hãy để nhóm biết rằng sự sống là một và không điều gì có thể lấy đi hay chạm đến sự sống ấy. Hãy để nhóm biết Sự Sống sống động, rực lửa, thấm đẫm, vốn tràn ngập giới thứ tư khi giới thứ năm được biết đến. Giới thứ năm được nuôi dưỡng bởi giới thứ tư. Vậy hãy để nhóm — đã hòa nhập trong giới thứ năm — được nuôi dưỡng bởi giới thứ sáu và thứ bảy, và nhận biết rằng mọi quy luật thấp hơn đều là những quy luật trong thời gian và không gian, và không thể giữ nhóm lại. Nhóm tiến tới trong sự sống.

34. DK know for whom He is writing. It is expected that there will be groups which can understand the real meaning of Rule VI, but those groups do not yet exist.

34. Chân sư DK biết Ngài đang viết cho ai. Có thể kỳ vọng rằng sẽ có những nhóm có thể thấu hiểu ý nghĩa thật sự của Quy luật sáu, nhưng những nhóm ấy hiện chưa tồn tại.

35. Rule V took us the perception of the spiritual triad and an identification with triadal states of perception. Rule VI takes us even further. The group establishes an identification with life. Not only is the macrocosm perceived and recognized, but the group finds itself increasingly integrated into that macrocosm—in this case the life of the Planetary Logos. The group, onward moving in life, intensifies its participation in the Oneness it now experiences as factual. The experience of identification with and as the One intensifies.

35. Quy luật năm đã đưa chúng ta đến nhận thức về Tam Nguyên Tinh Thần và sự đồng hoá với các trạng thái nhận thức tam nguyên tinh thần. Quy luật sáu đưa chúng ta đi xa hơn nữa. Nhóm thiết lập sự đồng hoá với sự sống. Không chỉ đại thiên địa được nhận biết và công nhận, mà nhóm còn thấy chính mình ngày càng được tích hợp vào đại thiên địa ấy — trong trường hợp này là sự sống của Đức Hành Tinh Thượng Đế. Khi tiến tới trong sự sống, nhóm tăng cường sự tham dự của mình vào Nhất Thể mà giờ đây nhóm trải nghiệm như một sự kiện. Kinh nghiệm đồng hoá với Đấng Duy Nhất và như Đấng Duy Nhất trở nên mãnh liệt hơn.

36. Monadic realizations are precipitating into the group consciousness and the group begins to touch the life streams of the sixth and seventh kingdom of nature.

36. Các chứng nghiệm chân thần đang ngưng tụ vào tâm thức nhóm, và nhóm bắt đầu chạm tới các dòng sự sống của giới thứ sáu và thứ bảy trong thiên nhiên.

7. The stage of a group sounding-forth of the Word and establishing direct relation with Shamballa as an integral part of the Hierarchy. This means the enunciation of a dual chord.

7. Giai đoạn nhóm xướng phát Linh từ và thiết lập mối liên hệ trực tiếp với Shamballa như một bộ phận hợp nhất của Thánh Đoàn. Điều này hàm ý sự xướng lên một hợp âm kép.

37. Let the group life emit the Word of invocation and thus evoke response within those distant Ashrams where move the Chohans of the race of men. They are no longer men as are the Masters but having passed beyond that lesser stage, have linked Themselves with the Great Council in the highest Secret Place. Let the group sound a dual chord, reverberating in the halls where move the Masters but finding pause and prolongation within those radiant halls where move the Lights which carry out the Will of God.

37. Hãy để sự sống nhóm phát ra Linh từ khẩn cầu và nhờ đó gợi lên đáp ứng trong những ashram xa xôi, nơi các Chohan của nhân loại hoạt động. Các Ngài không còn là người như các Chân sư nữa, mà vì đã vượt qua giai đoạn thấp hơn ấy, Các Ngài đã liên kết chính mình với Đại Hội Đồng trong Nơi Bí Mật cao nhất. Hãy để nhóm xướng lên một hợp âm kép, vang vọng trong các điện nơi các Chân sư hoạt động, nhưng tìm thấy sự dừng lại và kéo dài trong những điện rực rỡ nơi các Ánh Sáng thực hiện Ý Chí của Thượng Đế hoạt động.

38. Hierarchy is an integral part of Shamballa and the group (now an accepted group) has become an integral part of Hierarchy. The group is living simultaneously a hierarchical life and a life reflective of Shamballa. The influence of the group extends (however slightly) to the Courts of Shamballa.

38. Thánh Đoàn là một bộ phận hợp nhất của Shamballa, và nhóm, giờ đây là một nhóm được chấp nhận, đã trở thành một bộ phận hợp nhất của Thánh Đoàn. Nhóm đang đồng thời sống một đời sống thuộc Thánh Đoàn và một đời sống phản ánh Shamballa. Ảnh hưởng của nhóm mở rộng, dù chỉ chút ít, tới các Đình viện của Shamballa.

39. The group is no longer living only the life of the soul (as high a life as that may be), the life of the Spirit is now influential. A dual chord (Spirit and soul) is sounded.

39. Nhóm không còn chỉ sống đời sống của linh hồn, dù đời sống ấy cao cả đến đâu; đời sống của Tinh thần giờ đây có ảnh hưởng. Một hợp âm kép, Tinh thần và linh hồn, được xướng lên.

8. The stage of responding to the higher aspects of the seven Ray Lives and establishing contact with the Three and the One. This is done under the Law of the Supplementary Seven.

8. Giai đoạn đáp ứng với các phương diện cao hơn của bảy Sự Sống Cung và thiết lập tiếp xúc với Ba và Một. Điều này được thực hiện theo Định luật của Bảy Bổ Trợ.

40. Let the group find within itself response to the greater seven groups which carry out the hierarchical will with love and understanding. The group contains all seven, the perfect group. The lesser seven, the greater seven and the planetary seven form one great whole, and these the group must know. When this is realised and the Law of the Supplementary Seven is understood let the group understand the Three and then the ONE. This they can do with the united breath and the unified rhythm.

40. Hãy để nhóm tìm thấy trong chính mình sự đáp ứng với bảy nhóm lớn hơn, vốn thực hiện ý chí của Thánh Đoàn bằng bác ái và sự thấu hiểu. Nhóm chứa đựng cả bảy, nhóm hoàn hảo. Bảy nhóm nhỏ hơn, bảy nhóm lớn hơn và bảy nhóm hành tinh tạo thành một tổng thể vĩ đại, và nhóm phải biết những điều này. Khi điều này được nhận biết và Định luật của Bảy Bổ Trợ được thấu hiểu, hãy để nhóm thấu hiểu Ba và rồi ĐẤNG DUY NHẤT. Họ có thể làm điều này bằng hơi thở hợp nhất và nhịp điệu thống nhất.

41. From an intra-planetary perspective, the higher aspects of the Ray Lives are focused in Shamballa, into which the group influence has penetrated. The group is in line to participate in the flow of life emanating from the great planetary Septenates. It is participating in the life of the Spirit for “the Law of the Supplementary Seven is the great synthetic Law of Life or of Spirit…” The group participates in the Divine Circulatory Flow connecting Shamballa, Hierarchical and Humanity. It reaches towards the understanding of one of the Great Logoi (one of the three Persons of the Solar Logoic Trinity) Who holds our planet and two other planets in the same relation to itself, as Shamballa, Hierarchical and Humanity are held in relation to our Planetary Logos.

41. Từ một viễn cảnh nội hành tinh, các phương diện cao hơn của các Sự Sống Cung được tập trung trong Shamballa, nơi ảnh hưởng của nhóm đã thâm nhập. Nhóm đang ở đúng tuyến để tham dự vào dòng chảy sự sống xuất lộ từ các bộ bảy hành tinh vĩ đại. Nhóm đang tham dự vào sự sống của Tinh thần, vì “Định luật của Bảy Bổ Trợ là Định luật tổng hợp vĩ đại của Sự Sống hay của Tinh thần…” Nhóm tham dự vào Dòng Tuần Hoàn Thiêng Liêng nối kết Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân loại. Nhóm vươn tới sự thấu hiểu về một trong các Đại Thượng đế, một trong ba Ngôi Vị của Tam Vị Thái dương Thượng đế, Đấng giữ hành tinh của chúng ta và hai hành tinh khác trong cùng mối liên hệ với chính Ngài, như Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân loại được giữ trong mối liên hệ với Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta.

42. In order to understand Rule VIII and the Rules following, one must be at least an initiate of the third degree and, even then, the understanding will not be complete.

42. Để thấu hiểu Quy luật tám và các Quy luật tiếp theo, một người ít nhất phải là điểm đạo đồ bậc thứ ba, và ngay cả khi ấy, sự thấu hiểu cũng sẽ không trọn vẹn.

9. The stage of spiritual negation, as it is called. This establishes a new affirmative attitude and results in a recognition of the true nature of the One Initiator.

9. Giai đoạn của sự phủ định tinh thần, như nó được gọi. Điều này thiết lập một thái độ khẳng định mới và dẫn đến sự nhận biết về bản chất đích thực của Đấng Điểm đạo Duy Nhất.

43. Let the group know there are no other selves. Let the group know there is no colour, only light; and then let darkness take the place of light, hiding all difference, blotting out all form. Then—at the place of tension, and at that darkest point—let the group see a point of clear cold fire, and in the fire (right at its very heart) let the One Initiator appear Whose star shone forth when the Door first was passed.

43. Hãy để nhóm biết rằng không có những bản ngã nào khác. Hãy để nhóm biết rằng không có màu sắc, chỉ có ánh sáng; rồi hãy để bóng tối thay thế ánh sáng, che giấu mọi khác biệt, xóa sạch mọi hình tướng. Khi ấy — tại nơi của điểm tập trung nhất tâm, và tại điểm tối tăm nhất ấy — hãy để nhóm thấy một điểm lửa trong trẻo lạnh lẽo, và trong ngọn lửa ấy, ngay tại chính trung tâm của nó, hãy để Đấng Điểm đạo Duy Nhất xuất hiện, Đấng mà ngôi sao của Ngài đã chiếu rạng khi Cánh Cửa lần đầu được vượt qua.

44. The group learns actually to negate form and soul and comes into a new relationship with the One Initiator as the Representative of Spirit. The One Initiator appears to the initiate, not merely as a “Star” or an “Eye”, but “face to face”. The higher reaches of this Rule take us to the fifth degree at which such an encounter becomes possible.

44. Nhóm thật sự học cách phủ định hình tướng và linh hồn, rồi bước vào một mối liên hệ mới với Đấng Điểm đạo Duy Nhất như Đại Diện của Tinh thần. Đấng Điểm đạo Duy Nhất hiện ra với điểm đạo đồ, không chỉ như một “Ngôi Sao” hay một “Con Mắt”, mà “diện đối diện”. Những tầm mức cao hơn của Quy luật này đưa chúng ta đến bậc thứ năm, nơi một cuộc gặp gỡ như thế trở nên khả hữu.

10. The stage of the dissipation of all veils and the establishing of the power to work with light energy, thus earning the reward of new utilised ability, i.e., the ability to work with the consciousness aspect in all forms.

10. Giai đoạn làm tiêu tan mọi màn che và thiết lập quyền năng làm việc với năng lượng ánh sáng, nhờ đó xứng đáng nhận phần thưởng là năng lực mới được vận dụng, tức là năng lực làm việc với phương diện tâm thức trong mọi hình tướng.

45. The rules for work within the veils of maya are known and have been used. Let the group widen all the rents within those veils and thus let in the light. Let the Army of the Voice be no more heard and let the brothers onward move within the Sound. Then let them know the meaning of the O.M. and let them hear that O.M. as it is sounded forth by Him Who stands and waits at the very centre of the Council Chamber of the Lord.

45. Các quy luật để làm việc bên trong những màn che của ảo lực đã được biết và đã được sử dụng. Hãy để nhóm mở rộng mọi vết rách trong các màn che ấy, và nhờ đó để ánh sáng đi vào. Hãy để Đạo Quân của Âm Thanh không còn được nghe nữa, và hãy để các huynh đệ tiến bước trong Âm Thanh. Khi ấy hãy để họ biết ý nghĩa của O.M. và hãy để họ nghe O.M. ấy khi nó được xướng phát bởi Ngài, Đấng đứng và chờ đợi ngay tại trung tâm của Phòng Hội Đồng của Đức Chúa Tể.

46. This ability to work within the systemic ethers comes to those who are polarizing themselves within the triadal worlds—i.e., within the cosmic ethers. The group, responsive to the Law of the Supplementary Seven becomes an effective agent in promoting the Divine Circulatory Flow. The group becomes an ‘Agent of the Light’ and can bring light to dark places thus enhancing the reach and quality of consciousness.

46. Năng lực làm việc trong các dĩ thái hệ thống này đến với những ai đang tự phân cực trong các thế giới tam nguyên tinh thần, tức là trong các dĩ thái vũ trụ. Nhóm, đáp ứng với Định luật của Bảy Bổ Trợ, trở thành một tác nhân hữu hiệu trong việc thúc đẩy Dòng Tuần Hoàn Thiêng Liêng. Nhóm trở thành một “Tác nhân của Ánh sáng” và có thể mang ánh sáng đến những nơi tối tăm, nhờ đó mở rộng tầm với và nâng cao phẩm tính của tâm thức.

47. The group (now wielding to some extent the Will and Power aspect of divinity) works as a beneficent, destroying force.

47. Nhóm, giờ đây ở một mức độ nào đó đang vận dụng phương diện Ý Chí và Quyền Năng của thiên tính, làm việc như một mãnh lực hủy diệt đầy thiện ích.

11. The stage where the potencies of the death aspect of divine purpose can be used to carry out divine purpose, plus the establishing of complete identification (as a group) with the divine will. This marks the period of the Great [Page 227] Renunciation and prefaces the complete transition out of the Fourth Creative Hierarchy, the human kingdom.

11. Giai đoạn trong đó các quyền năng của phương diện tử vong thuộc Thiên Ý có thể được sử dụng để thực hiện Thiên Ý, cùng với việc thiết lập sự đồng hoá trọn vẹn, với tư cách là một nhóm, với Ý Chí thiêng liêng. Điều này đánh dấu thời kỳ của Đại [Trang 227] Từ Bỏ và mở đầu cho sự chuyển tiếp hoàn toàn ra khỏi Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, tức giới nhân loại.

48. Let the group together move the fire within the Jewel in the Lotus into the Triad and let them find the Word which will carry out that task. Let them destroy by their dynamic Will that which has been created at the midway point. When the point of tension is reached by the brothers at the fourth great cycle of attainment, then will this work be done.

48. Hãy để nhóm cùng nhau chuyển ngọn lửa bên trong Viên Ngọc trong Hoa Sen vào Tam Nguyên Tinh Thần, và hãy để họ tìm thấy Linh từ sẽ thực hiện nhiệm vụ ấy. Hãy để họ phá hủy bằng Ý Chí năng động của mình điều đã được tạo ra tại Điểm ở giữa. Khi các huynh đệ đạt tới điểm tập trung nhất tâm ở chu kỳ thành tựu lớn thứ tư, bấy giờ công việc này sẽ được hoàn tất.

49. The group has been carrying out Divine Purpose to the best of its ability, but had not yet achieved the ability to work with the “potencies of the death aspect” to enhance its effectiveness. Now these powers are released to bring freedom from the “shroud of the soul” (i.e., the causal body) and to open the portal to a new area of established polarization—the spiritual triad.

49. Nhóm đã thực hiện Thiên Ý hết khả năng của mình, nhưng trước đó chưa đạt được năng lực làm việc với “các quyền năng của phương diện tử vong” để tăng cường hiệu quả của mình. Giờ đây các quyền năng này được giải phóng để mang lại tự do khỏi “tấm màn liệm của linh hồn”, tức thể nguyên nhân, và để mở cánh cổng vào một vùng phân cực đã được thiết lập mới — Tam Nguyên Tinh Thần.

50. This Rule can make of the group a truly liberated group, focused deeply within the Ashram.

50. Quy luật này có thể làm cho nhóm trở thành một nhóm thật sự được giải thoát, được tập trung sâu trong ashram.

This is a brief and inadequate summation of the more general and the more easily comprehended results of obedience to these rules.

Đây là một bản tóm lược ngắn gọn và chưa đầy đủ về những kết quả tổng quát hơn và dễ thấu hiểu hơn của việc tuân phục các quy luật này.

51. There are always deeper possibilities. These Rules are the study of a life-time—more than one life time.

51. Luôn luôn có những khả năng sâu xa hơn. Các Quy luật này là đối tượng nghiên cứu của cả một đời—hơn cả một đời.

52. Only those who, together apply the Rules (and successfully so) will understand even these more general results. As for the deeper results, their achievement will be a great group discipline.

52. Chỉ những ai, cùng nhau áp dụng các Quy luật, và áp dụng thành công, mới thấu hiểu ngay cả những kết quả tổng quát hơn này. Còn đối với các kết quả sâu xa hơn, việc đạt được chúng sẽ là một kỷ luật nhóm lớn lao.

53. Perhaps some of the possible results are rising above the horizon of consciousness—at least for theoretical consideration.

53. Có lẽ một vài kết quả khả hữu đang nhô lên trên chân trời của tâm thức—ít nhất là để xem xét về mặt lý thuyết.

The initiate stands free and becomes consequently a dynamic factor within the working Hierarchy.

Điểm đạo đồ đứng trong tự do và do đó trở thành một yếu tố  năng động trong Thánh Đoàn đang hoạt động.

54. The initiate is no longer simply a recipient of hierarchical impulses; he is one who generates them.

54. Điểm đạo đồ không còn chỉ đơn giản là người tiếp nhận các xung lực của Thánh Đoàn; y là người phát sinh chúng.

55. We have heard of the “working disciple”. It is also necessary to realize that one can never be an initiate unless one is a “working initiate” who is a member of the “working Hierarchy”.

55. Chúng ta đã nghe nói về “đệ tử hoạt động”. Cũng cần nhận ra rằng người ta không bao giờ có thể là một điểm đạo đồ trừ phi người ấy là một “điểm đạo đồ hoạt động”, thành viên của “Thánh Đoàn hoạt động”.

56. By “work” is meant the overcoming of present patterns and their reconfiguration through the expenditure of energy. Work, in this context, means change—change for the better.

56. “Hoạt động” ở đây hàm ý việc vượt thắng các mô hình hiện tại và tái cấu hình chúng bằng sự tiêu dùng năng lượng. Trong bối cảnh này, hoạt động có nghĩa là thay đổi—thay đổi để tốt đẹp hơn.

Rule XII now becomes clear to him, not only through the realisation induced by his illumined mind, but through the higher divine qualities which are related to the expression of the will and purpose of the planetary Logos.

Giờ đây Quy luật mười hai trở nên rõ ràng đối với y, không chỉ qua sự chứng nghiệm do thể trí được soi sáng của y khơi dậy, mà còn  qua các phẩm tính thiêng liêng cao hơn vốn liên hệ đến sự biểu lộ ý chí và mục đích của Hành Tinh Thượng đế.

57. Mental realization of the content of any Rule is a necessary preliminary stage.

57. Sự nhận thức bằng trí tuệ về nội dung của bất kỳ Quy luật nào cũng là một giai đoạn sơ khởi cần thiết.

58. Beyond illumination lies identification with the will and purpose of the Planetary Logos. Only in this manner can the group move onward in Life.

58. Vượt ngoài sự soi sáng là sự đồng hoá với ý chí và mục đích của Hành Tinh Thượng đế. Chỉ theo cách này nhóm mới có thể tiến bước trong Sự sống.

It will of course be obvious to you that only those who have reached the stages of work described in Rules X and XI will truly comprehend my meaning.

Dĩ nhiên, đối với các bạn, điều hiển nhiên là chỉ những ai đã đạt đến các giai đoạn hoạt động được mô tả trong Quy luật mười và mười một mới thật sự lĩnh hội ý nghĩa của tôi.

59. These are individuals and groups who are directly receptive to the spiritual triad and, later, polarized within that triad.

59. Đó là những cá nhân và nhóm trực tiếp tiếp nhận Tam Nguyên Tinh Thần và, về sau, được phân cực trong Tam Nguyên ấy.

I would warn you again that the obvious significance of the remaining three rules is not in reality the true spiritual significance because we are in these rules dealing with the planned work of the Hierarchy during the next great cycle, that of the Aquarian Age,

Tôi xin cảnh báo các bạn một lần nữa rằng thâm nghĩa hiển nhiên của ba quy luật còn lại thực ra không phải là thâm nghĩa tinh thần chân thật, bởi vì trong các quy luật này chúng ta đang  đề cập đến công việc đã được hoạch định của Thánh Đoàn trong chu kỳ lớn sắp tới, tức Kỷ Nguyên Bảo Bình,

60. In order to express the last three Rules one must actually be a Member of Hierarchy. The Rules (however ancient they may be) have to do with the development of group work during the Aquarian Age. This Rule, in particular, foretells the work of the Spiritual Hierarchy during the coming Age. One might wonder whether Rule XII also has a bearing upon the hierarchical work to be performed during the greater Age of Aquarius lasting some 25,000 years and beginning (though we cannot know the exact time) imminently.

60. Để diễn đạt ba Quy luật cuối cùng, người ta thật sự phải là một Thành viên của Thánh Đoàn. Các Quy luật này, dù cổ xưa đến đâu, đều liên quan đến sự phát triển của công việc nhóm trong Kỷ Nguyên Bảo Bình. Quy luật này, nói riêng, tiên báo công việc của Huyền Giai Tinh Thần trong Kỷ Nguyên sắp đến. Người ta có thể tự hỏi liệu Quy luật mười hai cũng có liên hệ đến công việc của Thánh Đoàn sẽ được thực hiện trong Kỷ Nguyên Bảo Bình lớn hơn, kéo dài khoảng 25.000 năm và sắp bắt đầu, dù chúng ta không thể biết thời điểm chính xác.

we shall therefore be considering those activities and plans which will usher in and mature that new culture and civilisation which will slowly come into being when the world has straightened itself out after the processes of the world war (1914-1945).

chúng ta vì vậy sẽ xem xét những hoạt động và kế hoạch sẽ mở đường và làm chín muồi nền văn hoá và văn minh mới ấy, vốn sẽ từ từ hiện hữu khi thế giới đã  tự chỉnh đốn lại sau các tiến trình của cuộc chiến tranh thế giới (1914-1945).

61. If the world “has straightened itself out” it will mean that it has come into effective alignment with energies which are far higher than the ones it is accustomed to receiving.

61. Nếu thế giới đã “tự chỉnh đốn lại”, điều đó có nghĩa là nó đã đi vào sự chỉnh hợp hữu hiệu với những năng lượng cao hơn rất nhiều so với những năng lượng mà nó quen tiếp nhận.

62. Has this really and effectively happened? Certainly an attempt has been made and many millions have benefited form the reception of down-flowing spiritual energies? Has the reception been sufficient to avert impending human and planetary disaster? Time will tell.

62. Điều này đã thật sự và hữu hiệu xảy ra chưa? Chắc chắn đã có một nỗ lực được thực hiện, và hàng triệu người đã được lợi ích từ việc tiếp nhận các năng lượng tinh thần tuôn xuống. Sự tiếp nhận ấy đã đủ để ngăn ngừa thảm hoạ nhân loại và hành tinh đang cận kề chưa? Thời gian sẽ trả lời.

Part II of V

Phần hai trong năm

R&I (227-234)

Các Cung và Điểm Đạo (227-234)

(All Highlighting, Bolding and Underlining—MDR)

(Tất cả phần tô sáng, in đậm và gạch dưới — người bình giảng)

Please read this Commentary with your book open or with reference to an electronic copy of the text. This will facilitate an appreciation of continuity.

Xin hãy đọc phần Bình giảng này khi sách của bạn đang mở, hoặc đối chiếu với một bản điện tử của văn bản. Điều này sẽ giúp bạn nhận ra tính liên tục.

The rule runs as follows:

Quy luật được trình bày như sau:

Rule XII.

Quy luật mười hai.

Let the group serve as Aquarius indicates; let Mercury speed the group upon the upward Way and let Taurus bring illumination and the attainment of the vision; let the mark of the Saviour, as the group toils in Pisces, be seen above the aura of the group.

Hãy để nhóm phụng sự như Bảo Bình chỉ ra; hãy để Sao Thủy thúc đẩy nhóm nhanh chóng trên Con Đường hướng thượng, và hãy để Kim Ngưu đem lại sự soi sáng cùng sự đạt được tầm nhìn; hãy để dấu ấn của Đấng Cứu Thế, khi nhóm lao tác trong Song Ngư, được thấy bên trên hào quang của nhóm.

1. This is clearly a Rule significantly related to astrology. Energies of the astrological constellations are being received and are governing the expression of different parts of the human family.

1. Đây rõ ràng là một Quy luật có liên hệ đáng kể với chiêm tinh học. Các năng lượng của những chòm sao chiêm tinh đang được tiếp nhận và đang chi phối sự biểu lộ của các phần khác nhau trong gia đình nhân loại.

2. Aquarius is a sign of futurity and “indicates” that which is to be. Aquarius is the sign which most conditions the Hierarchy of Light and Love—especially in the coming Age, but really, always.

2. Bảo Bình là một dấu hiệu của tương lai và “chỉ ra” điều sẽ đến. Bảo Bình là dấu hiệu tác động mạnh mẽ nhất lên Thánh Đoàn Ánh Sáng và Bác Ái—đặc biệt trong Kỷ Nguyên sắp đến, nhưng thật ra là luôn luôn như vậy.

3. The role of Mercury as the ‘ruler’ of the antahkarana is suggested. Mercury connects various dimensions and makes possible an interplay between the relatively high and the relatively low. Always relativity is involved in relation to this ‘Planet of Relationship’.

3. Vai trò của Sao Thủy như ‘chủ tinh’ của antahkarana được gợi ý. Sao Thủy nối kết nhiều chiều kích khác nhau và làm cho sự tương tác giữa cái tương đối cao và cái tương đối thấp trở nên khả hữu. Tính tương đối luôn luôn có liên quan đối với ‘Hành tinh của Mối Quan Hệ’ này.

4. We can conceive of the “upward way” as the “Way of Higher Evolution” which confronts a Chohan at and after the sixth initiation.

4. Chúng ta có thể quan niệm “con đường hướng thượng” là “Con đường Tiến Hóa Cao Siêu” vốn đối diện với một vị Đại Chân sư vào lúc và sau lần điểm đạo thứ sáu.

5. We should remember that Mercury is indeed a planet of “speed”. Mercury is swift Mercury and proper response to what it offers facilitates speedy achievement.

5. Chúng ta nên nhớ rằng Sao Thủy quả thật là một hành tinh của “tốc độ”. Sao Thủy là Sao Thủy nhanh lẹ, và sự đáp ứng đúng đắn với những gì nó hiến dâng sẽ tạo điều kiện cho thành tựu mau chóng.

6. Taurus is the sign of light and illumination. It is particularly related to that group of practical visionaries—the New Group of World Servers—who represent the ajna center of Sanat Kumara. Taurus is a sign directly connected with the brow and with the ajna center.

6. Kim Ngưu là dấu hiệu của ánh sáng và sự soi sáng. Nó đặc biệt liên hệ đến nhóm những người có tầm nhìn thực tiễn—Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian—những người đại diện cho trung tâm ajna của Đức Sanat Kumara. Kim Ngưu là một dấu hiệu trực tiếp liên kết với vùng trán và với trung tâm ajna.

7. What will the “vision” be? It will be a vision of the purpose of Sanat Kumara or of the Planetary Logos. With this the New Group will seek to align. Hierarchy is already aligned with this vision and purpose.

7. “Tầm nhìn” ấy sẽ là gì? Đó sẽ là tầm nhìn về mục đích của Đức Sanat Kumara hoặc của Hành Tinh Thượng đế. Đoàn Người Mới sẽ tìm cách chỉnh hợp với điều này. Thánh Đoàn đã chỉnh hợp với tầm nhìn và mục đích ấy rồi.

8. The “Mark of the Savior” is a real symbol to be seen above the aura of the New Group of World Servers or of any truly serving group.

8. “Dấu ấn của Đấng Cứu Thế” là một biểu tượng thật sự có thể được thấy bên trên hào quang của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian hoặc của bất kỳ nhóm nào thật sự phụng sự.

9. Pisces (the ‘Sign of Redemption’) represents the field of redemption. The ancient patterns inherited from the Moon-chain and from the previous solar system must be repatterned and those who are still victim to these patterns must be saved by being brought into alignment with the intended patterns of the second major solar system.

9. Song Ngư, “Dấu hiệu của Sự Cứu Chuộc”, biểu trưng cho trường cứu chuộc. Những mô hình cổ xưa được thừa hưởng từ Dãy Mặt Trăng và từ hệ mặt trời trước phải được tái lập mô hình, và những ai vẫn còn là nạn nhân của các mô hình này phải được cứu bằng cách đưa họ vào sự chỉnh hợp với các mô hình đã được dự định của hệ mặt trời chính yếu thứ hai.

10. Redemption means work—toilsome[1] labor. It is this type of labor in which the Hierarchy engages always.

10. Cứu chuộc có nghĩa là hoạt động—lao tác nhọc nhằn. Chính loại lao tác này là điều Thánh Đoàn luôn dấn thân thực hiện.

11. To toil in Pisces means to work with those who are still subservient to the energy of the past, and, thus, with those who are held by maya, glamour and illusion.

11. Lao tác trong Song Ngư có nghĩa là làm việc với những ai vẫn còn lệ thuộc vào năng lượng của quá khứ, và do đó, với những ai còn bị ảo lực, ảo cảm và ảo tưởng nắm giữ.

12. The Members of the Spiritual Hierarchy of our planet are mighty Toilers for the expression of the Purpose of the Planetary Logos and, even, of the Solar Logos. They see the “big picture” and are sure of the essentials of the process of planetary redemption. Ours is the task to emulate[2] Their labor.

12. Các Thành viên của Huyền Giai Tinh Thần trên hành tinh chúng ta là những Người Lao Tác hùng mạnh cho sự biểu lộ Mục đích của Hành Tinh Thượng đế và thậm chí của Thái dương Thượng đế. Các Ngài thấy “bức tranh lớn” và chắc chắn về những điều cốt yếu của tiến trình cứu chuộc hành tinh. Nhiệm vụ của chúng ta là noi theo lao tác của Các Ngài.

You will remember that the rule as given to applicants emphasised:

Các bạn sẽ nhớ rằng quy luật được trao cho những người thỉnh nguyện đã nhấn mạnh:

1. The use of the hands in service for healing, blessing and for invocation.

1. Việc sử dụng đôi tay trong phụng sự để chữa lành, ban phúc và khẩn cầu.

13. This points to methods of service which will be liberally employed during the Age of Aquarius. The coming Age will be an Age of healing and blessing and during it the Science of Invocation will rise to new heights.

13. Điều này chỉ đến các phương pháp phụng sự sẽ được sử dụng rộng rãi trong Kỷ Nguyên Bảo Bình. Kỷ Nguyên sắp đến sẽ là một Kỷ Nguyên của chữa lành và ban phúc, và trong thời kỳ ấy Khoa học Khẩn Cầu sẽ vươn lên những tầm cao mới.

2. The mark of the Messenger in the feet; this referred to the use of the intuition, which is governed by Mercury.

2. Dấu ấn của Sứ giả nơi đôi chân; điều này nói đến việc sử dụng trực giác, vốn do Sao Thủy cai quản.

14. We remember that the second decanate of the Age of Aquarius (some seven hundred and twenty years into that Age) will be ruled by Mercury. Will it be a period in which the intuition is strongly developed? Certainly it will be a period of manasic attainment. Perhaps it will be a period in which the fruits of manas will be placed at the disposal of a rapidly developing intuitive sense.

14. Chúng ta nhớ rằng thập độ thứ hai của Kỷ Nguyên Bảo Bình, khoảng bảy trăm hai mươi năm sau khi Kỷ Nguyên ấy bắt đầu, sẽ do Sao Thủy cai quản. Liệu đó có phải là một thời kỳ trong đó trực giác được phát triển mạnh mẽ không? Chắc chắn đó sẽ là một thời kỳ thành tựu manas. Có lẽ đó sẽ là một thời kỳ trong đó các hoa trái của manas được đặt dưới quyền sử dụng của một ý thức trực giác đang phát triển nhanh chóng.

15. This will not be the case for all human beings, but certainly will be so for advanced humanity.

15. Điều này sẽ không đúng với tất cả con người, nhưng chắc chắn sẽ đúng với nhân loại tiến bộ.

16. In a Rule meant for group assimilation and expression, it will be the group intuition that will be developed and expressed.

16. Trong một Quy luật dành cho sự đồng hoá và biểu lộ của nhóm, chính trực giác nhóm sẽ được phát triển và biểu lộ.

3. The use of the “eye.” This is not in reality the third eye (which is after all only a symbolic phrase), but the [Page 228] ability to use developed soul power.

3. Việc sử dụng “con mắt”. Thực ra đây không phải là con mắt thứ ba, vì rốt cuộc đó chỉ là một cụm từ thần bí, mà là [Page 228] khả năng sử dụng quyền năng linh hồn đã phát triển.

17. The “eye which looks out from between the two” is really the soul.

17. “Con mắt nhìn ra từ giữa hai con mắt” thật ra là linh hồn.

18. There are an abundance of soul powers of which we know very little. We may imagine that during the Aquarian Age these soul powers will be cultivated and expressed. May we think that during the next two thousand or so years the soul will be scientifically ‘discovered’?

18. Có rất nhiều quyền năng linh hồn mà chúng ta biết rất ít. Chúng ta có thể hình dung rằng trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, các quyền năng linh hồn này sẽ được vun trồng và biểu lộ. Liệu chúng ta có thể nghĩ rằng trong khoảng hai nghìn năm tới, linh hồn sẽ được ‘khám phá’ một cách khoa học không?

19. To use soul power will require the polarization of consciousness within the causal body—something which, at this time, more can talk about than achieve.

19. Để sử dụng quyền năng linh hồn, cần có sự phân cực của tâm thức trong thể nguyên nhân—một điều mà vào lúc này, nhiều người có thể nói đến hơn là đạt được.

20. Perhaps the truly gifted individual (the genius) in full tide of expression is (for the period of that expression, at least) polarized within the causal body.

20. Có lẽ cá nhân thật sự thiên phú, tức thiên tài, khi đang ở cao trào biểu lộ trọn vẹn, ít nhất trong thời kỳ biểu lộ ấy, được phân cực trong thể nguyên nhân.

This is that intermediate potency found between the power of the mind and the dynamic electric energy of pure will.

Đây là quyền năng trung gian được tìm thấy giữa quyền năng của thể trí và năng lượng điện năng động của ý chí thuần túy.

21. The “eye which looks out from between the two” is here localized. The soul is found between the lower mind and the will. It is the “one who stands between” and partakes of both natures—mind and will.

21. “Con mắt nhìn ra từ giữa hai con mắt” ở đây được định vị. Linh hồn được tìm thấy giữa hạ trí và ý chí. Nó là “kẻ đứng giữa” và dự phần vào cả hai bản chất—trí tuệ và ý chí.

22. We note that the this “eye” (the soul) is discussed as a “potency” (i.e., an energy) and no so much as a thing.

22. Chúng ta lưu ý rằng “con mắt” này, tức linh hồn, được bàn đến như một “quyền năng”, nghĩa là một năng lượng, hơn là như một vật thể.

For the initiate, this rule simply carries the same message but on an infinitely higher scale,

Đối với điểm đạo đồ, quy luật này chỉ đơn giản mang cùng một thông điệp nhưng trên một thang bậc cao hơn vô hạn,

23. One may question the use of the word “infinitely”, but certainly the idea is conveyed that the Rule for initiates is greatly in advance of the comparable Rule for the individual aspirant.

23. Người ta có thể chất vấn việc dùng từ “vô hạn”, nhưng chắc chắn ý tưởng được truyền đạt là Quy luật dành cho các điểm đạo đồ vượt rất xa Quy luật tương ứng dành cho cá nhân người chí nguyện.

and (if I may so express it) obedience to this rule calls in Aquarian energy, the reasoning power of Mercury, and the illumination of Taurus, in order to carry forward hierarchical work upon a planet and in a planetary cycle which have been conditioned by Pisces for more than two thousand years.

và, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy, sự tuân phục quy luật này triệu gọi năng lượng Bảo Bình, quyền năng lý luận của Sao Thủy, và sự soi sáng của Kim Ngưu, nhằm xúc tiến công việc của Thánh Đoàn trên một hành tinh và trong một chu kỳ hành tinh vốn đã chịu sự tác động của Song Ngư trong hơn hai nghìn năm.

24. Here is an excellent summary statement. If we attempt to serve as Aquarius “indicates”, Aquarian energy will be called in to facilitate the service.

24. Đây là một phát biểu tóm lược xuất sắc. Nếu chúng ta cố gắng phụng sự như Bảo Bình “chỉ ra”, năng lượng Bảo Bình sẽ được triệu gọi để tạo điều kiện cho sự phụng sự.

25. The same is true for the other powers—those of Taurus, Aquarius and, presumably, the higher energies of Pisces.

25. Điều tương tự cũng đúng đối với các quyền năng khác—của Kim Ngưu, Bảo Bình và, có lẽ, các năng lượng cao hơn của Song Ngư.

26. The “reasoning power of Mercury” is not only mental reasoning but is ‘intuitive pure reasoning’—a very different matter requiring the utilization of the “transcendental mind”.

26. “Quyền năng lý luận của Sao Thủy” không chỉ là lý luận trí tuệ, mà là ‘lý luận thuần túy bằng trực giác’—một vấn đề rất khác, đòi hỏi việc sử dụng “trí tuệ siêu việt”.

27. All these Rules are meant to be obeyed. To study is one thing; to obey, another. This will take great individual and group effort.

27. Tất cả các Quy luật này đều nhằm để được tuân phục. Nghiên cứu là một việc; tuân phục lại là việc khác. Điều này sẽ đòi hỏi nỗ lực lớn lao của cá nhân và của nhóm.

I would have you ponder on this, for in realisation you will here have the formula for the work of the Hierarchy as it reconstructs the world after the destruction wrought since 1900 A.D.

Tôi muốn các bạn suy ngẫm về điều này, vì trong sự chứng nghiệm, ở đây các bạn sẽ có công thức cho công việc của Thánh Đoàn khi Thánh Đoàn tái thiết thế giới sau sự tàn phá đã gây ra từ năm 1900 sau Công nguyên.

28. We note that the major discoveries the field of atomic energy occurred after 1900. Within these discoveries both the fifth and first rays were active.

28. Chúng ta lưu ý rằng những khám phá chính trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử đã xảy ra sau năm 1900. Trong các khám phá này, cả cung năm lẫn cung một đều hoạt động.

29. We might say that the period of reconstruction began after the end of the Great War (1914-1945). We might question whether the reconstruction has been adequate to avert a far greater destruction? DK told us that the results of the Shamballa Impact of the year 2000 might be less destructive than previous impacts, but there is danger that the opportunity to make it less destructive may have been squandered[3].

29. Chúng ta có thể nói rằng thời kỳ tái thiết bắt đầu sau khi Đại Chiến kết thúc (1914-1945). Chúng ta có thể tự hỏi liệu công cuộc tái thiết đã đủ để ngăn ngừa một sự tàn phá còn lớn hơn nhiều chưa? Chân sư DK đã nói với chúng ta rằng các kết quả của Tác Động từ Trung Tâm Ý Chí Thiêng Liêng vào năm 2000 có thể ít tàn phá hơn các tác động trước, nhưng có nguy cơ là cơ hội làm cho nó ít tàn phá hơn đã bị phung phí.

You have here also a great triangle of energies, functioning through the medium of Mercury, the reasonable, reasoning Messenger of the Gods:

Ở đây các bạn cũng có một tam giác năng lượng vĩ đại, vận hành qua trung gian của Sao Thủy, Sứ giả có lý trí và biết lý luận của các Đấng Thiêng Liêng:

Radar chart



Description automatically generated @url:https://minhtrietmoi.com/wp-content/uploads/pictures/image1-4.png

30. This description of Mercury (as the “reasonable, reasoning Messenger of the Gods”) is an excellent summation of the powers of this highly occult planet.

30. Mô tả này về Sao Thủy, như “Sứ giả có lý trí và biết lý luận của các Đấng Thiêng Liêng”, là một sự tổng kết xuất sắc về các quyền năng của hành tinh huyền bí cao độ này.

31. If we study the diagram we shall see that both Taurus and Pisces seem to be expressing directly through Mercury. Is this true for Aquarius as well? The dotted line which seems to indicate a connection between Aquarius and Mercury does not completely touch the point representing Aquarius.

31. Nếu chúng ta nghiên cứu sơ đồ, chúng ta sẽ thấy rằng cả Kim Ngưu lẫn Song Ngư dường như đang biểu lộ trực tiếp qua Sao Thủy. Điều này cũng đúng với Bảo Bình chăng? Đường chấm dường như chỉ một mối liên hệ giữa Bảo Bình và Sao Thủy lại không hoàn toàn chạm đến điểm tượng trưng cho Bảo Bình.

32. Perhaps a Mercurian invocation of Aquarian energies is in process and the full touching of that point is a development reserved for the future.

32. Có lẽ một sự khẩn cầu mang tính Sao Thủy đối với các năng lượng Bảo Bình đang diễn ra, và việc chạm trọn vẹn vào điểm ấy là một phát triển dành cho tương lai.

33. From another perspective, if we envision the triangle connecting Aquarius, Taurus and Pisces as horizontal and not vertical (and attempt to see the diagram as if it were drawn in three dimensions), then the dotted line to Mercury seems to arise out of the center of the major triangle.

33. Từ một góc nhìn khác, nếu chúng ta hình dung tam giác nối Bảo Bình, Kim Ngưu và Song Ngư là nằm ngang chứ không thẳng đứng, và cố gắng nhìn sơ đồ như thể nó được vẽ trong ba chiều, thì đường chấm đến Sao Thủy dường như phát sinh từ trung tâm của tam giác chính.

34. If we conceive the constellational triangle as horizontal, then Aquarius, Taurus and Pisces are seen to be of equal status—all “on the level”.

34. Nếu chúng ta quan niệm tam giác các chòm sao là nằm ngang, thì Bảo Bình, Kim Ngưu và Song Ngư được thấy là có địa vị ngang nhau—tất cả đều “cùng một cấp độ”.

35. If we interpret the triangle as vertical, then Aquarius represents the major energy and the planet Mercury has yet to convey the full expression of Aquarian energy.

35. Nếu chúng ta diễn giải tam giác ấy là thẳng đứng, thì Bảo Bình đại diện cho năng lượng chính yếu, và hành tinh Sao Thủy vẫn chưa truyền đạt trọn vẹn sự biểu lộ của năng lượng Bảo Bình.

36. We will remember that there exists a special relationship between Aquarius and Mercury, since Mercury is the ruler of Aquarius’ second decanate.

36. Chúng ta sẽ nhớ rằng có một mối liên hệ đặc biệt giữa Bảo Bình và Sao Thủy, vì Sao Thủy là chủ tinh của thập độ thứ hai của Bảo Bình.

The Hierarchy is, therefore, at this time, conditioned by three great constellations:

Do đó, vào lúc này, Thánh Đoàn chịu tác động của ba chòm sao lớn:

37. All three of these constellations condition the Hierarchy, but, perhaps, Aquarius most of all.

37. Cả ba chòm sao này đều tác động lên Thánh Đoàn, nhưng có lẽ Bảo Bình tác động mạnh nhất.

1. Aquarius—The Custodian of that “life more abundantly” of which the Christ spoke and which He can draw upon at this time in a new and dynamic manner in order to bring about the restoration needed. This energy is the “implementing force of universality.” It concerns the future.

1. Bảo Bình—Đấng Gìn Giữ “sự sống dồi dào hơn” mà Đức Christ đã nói đến và Ngài có thể vận dụng vào lúc này theo một cách mới mẻ và năng động để đem lại sự phục hồi cần thiết. Năng lượng này là “mãnh lực thực thi tính phổ quát”. Nó liên quan đến tương lai.

38. An amazing section of text! The Aquarian energy is particularly associated with “universality”. From a ‘local’ perspective, universality is directly related to our solar system as whole. The solar system is our local ‘universe’.

38. Một đoạn văn đáng kinh ngạc! Năng lượng Bảo Bình đặc biệt gắn liền với “tính phổ quát”. Từ một góc nhìn “địa phương”, tính phổ quát liên hệ trực tiếp đến toàn bộ hệ mặt trời của chúng ta. Hệ mặt trời là “vũ trụ” địa phương của chúng ta.

39. We gather that universality can be implemented, and that Aquarius is just the sign in which this can happen. Aquarius will be associated as we know, with the practical seventh ray and is already the emanating source of the concretizing fifth ray.

39. Chúng ta hiểu rằng tính phổ quát có thể được thực thi, và Bảo Bình chính là dấu hiệu trong đó điều này có thể xảy ra. Như chúng ta biết, Bảo Bình sẽ gắn liền với cung bảy thực tiễn và đã là nguồn xuất lộ của cung năm cụ thể hoá.

40. The “Forces of Restoration” are particularly associated with the energy of Aries, but we can see that they are related to Aquarius as well. The restoration of the archetype is a Uranian process, and both of these constellations are strongly influenced by Uranus (the orthodox ruler of Aquarius and the hierarchical ruler of Aries.

40. “Các Mãnh Lực Phục Hồi” đặc biệt gắn liền với năng lượng của Bạch Dương, nhưng chúng ta có thể thấy rằng chúng cũng liên hệ với Bảo Bình. Việc phục hồi nguyên mẫu là một tiến trình thuộc Sao Thiên Vương, và cả hai chòm sao này đều chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Sao Thiên Vương, là chủ tinh chính thống của Bảo Bình và chủ tinh Thánh Đoàn của Bạch Dương.

41. The “life more abundantly” of which Aquarius is the custodian suggests the planetary esoteric ruler, Jupiter— ‘planet of abundance’.

41. “Sự sống dồi dào hơn” mà Bảo Bình là Đấng Gìn Giữ gợi đến chủ tinh huyền bí hành tinh, Sao Mộc—“hành tinh của sự phong phú”.

42. In order to bring about restoration the energies of life will be required. The necessary energy source is well above the higher mental plane.

42. Để đem lại sự phục hồi, các năng lượng của sự sống sẽ được cần đến. Nguồn năng lượng cần thiết nằm rất cao trên Cõi thượng trí.

[Page 229]

[Page 229]

2. Taurus—The Revealer of the vision, the “eye of the Gods,” the donor of illumination. It is that which concerns the present.

2. Kim Ngưu—Đấng Mặc Khải tầm nhìn, “con mắt của các Đấng Thiêng Liêng”, đấng ban sự soi sáng. Đó là điều liên quan đến hiện tại.

43. If Aquarius represents the future, then Taurus represents the present.

43. Nếu Bảo Bình đại diện cho tương lai, thì Kim Ngưu đại diện cho hiện tại.

44. The vision being revealed points to the Purpose of our Planetary Logos.

44. Linh ảnh đang được mặc khải chỉ về Thiên Ý của Đức Hành Tinh Thượng Đế chúng ta.

45. Who are the “Gods” of Whom Taurus is the “eye”? It is as if through the powers of the constellation Taurus, the Planetary Logoi can better see and perhaps this is true of the Logoi of the other eleven zodiacal constellations.

45. Các “Thượng đế” mà Kim Ngưu là “con mắt” của Các Ngài là những Đấng nào? Dường như thông qua các quyền năng của chòm sao Kim Ngưu, các Hành Tinh Thượng đế có thể nhìn thấy rõ hơn và có lẽ điều này cũng đúng với các Thượng đế của mười một chòm sao hoàng đạo khác.

46. It is curious to read of Taurus as the “donor of illumination”. A “donor” gives selflessly, philanthropically. To give or donate light is, from one perspective, to increase vibration (so that current vibrations are elevated thus becoming new vibrations conveying new light). To donate light is also to give the power to register previously invisible vibrations.

46. Thật lạ khi đọc về Kim Ngưu như “đấng ban sự soi sáng”. Một “đấng ban tặng” thì cho đi một cách vô kỷ, vì lòng nhân ái. Ban ánh sáng, xét từ một phương diện, là làm tăng rung động, để các rung động hiện tại được nâng cao và do đó trở thành những rung động mới, truyền đạt ánh sáng mới. Ban ánh sáng cũng là trao năng lực ghi nhận những rung động trước kia còn vô hình.

47. All vibrations translate into light of some kind.

47. Mọi rung động đều chuyển thành một loại ánh sáng nào đó.

48. Taurus may reveal one kind of vision to the members of the New Group of World Servers, but quite another to the Planetary Logoi and still another (and greater) to Solar Logoi and, later, ‘constellational Logoi’).

48. Kim Ngưu có thể mặc khải một loại tầm nhìn cho các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, nhưng lại một loại hoàn toàn khác cho các Hành Tinh Thượng đế, và một loại khác nữa, lớn lao hơn, cho các Thái dương Thượng đế và, về sau, cho “các Thượng đế chòm sao”.

3. Pisces—The Inspiration of the World Saviour, and also the field of salvation. It is the field of force in which the two other forces must work. It has been produced by the past.

3. Song Ngư—Cảm hứng của Đấng Cứu Thế của Thế Gian, và cũng là lĩnh vực của sự cứu độ. Đó là trường mãnh lực trong đó hai mãnh lực kia phải hoạt động. Nó đã được quá khứ tạo ra.

49. Although Pisces represents the past in need of redemption, it is also the future in relation to our second ray solar system. Pisces is the greatest of the second ray constellations and is the prototype of the saving energy of Sanat Kumara and of the Christ.

49. Mặc dù Song Ngư tượng trưng cho quá khứ cần được cứu chuộc, nó cũng là tương lai trong liên hệ với hệ mặt trời cung hai của chúng ta. Song Ngư là chòm sao lớn nhất trong các chòm sao cung hai và là nguyên mẫu của năng lượng cứu rỗi của Đức Sanat Kumara và của Đức Christ.

50. From Pisces every great World Saviour receives His inspiration. Through Pisces the field in which redemption must be attempted is also indicated.

50. Từ Song Ngư, mọi Đấng Cứu Thế vĩ đại của Thế Gian đều nhận được cảm hứng của Ngài. Qua Song Ngư, lĩnh vực trong đó công cuộc cứu chuộc phải được thực hiện cũng được chỉ ra.

51. The past 2000 years or so have produced Piscean conditions within humanity and upon our globe. Yet Pisces also indicates the manner in which the redemptive work may be accomplished—selflessly. Add to this the abundance of Aquarius and the illumination of Taurus (as well as the linking intelligence of Mercury) and one begins to see how redemption can be facilitated.

51. Khoảng hai nghìn năm qua đã tạo ra các tình trạng Song Ngư trong nhân loại và trên bầu hành tinh của chúng ta. Tuy vậy, Song Ngư cũng chỉ ra cách thức mà công cuộc cứu chuộc có thể được hoàn thành—một cách vô kỷ. Thêm vào đó sự sung mãn của Bảo Bình và sự soi sáng của Kim Ngưu, cũng như trí tuệ liên kết của Sao Thủy, và người ta bắt đầu thấy công cuộc cứu chuộc có thể được tạo thuận lợi như thế nào.

As these three constellations pour their energies into the great Ashram of Sanat Kumara, the Hierarchy, they are there concentrated and retained until released under “the swift design of Mercury “into the field of the human consciousness.

Khi ba chòm sao này tuôn đổ năng lượng của chúng vào đại Ashram của Đức Sanat Kumara, tức Thánh Đoàn, chúng được tập trung và lưu giữ ở đó cho đến khi được phóng thích dưới “thiết kế mau lẹ của Sao Thủy “vào trong lĩnh vực tâm thức nhân loại.

52. Mercury is, par excellence, the ‘planet of humanity’. The entire Fourth Creative Hierarchy is ruled by Mercury and Scorpio (in which Mercury is the hierarchical ruler).

52. Sao Thủy, hơn hết, là “hành tinh của nhân loại”. Toàn thể Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư do Sao Thủy cai quản Hổ Cáp, trong đó Sao Thủy là chủ tinh huyền giai.

53. We may also recall the triangle: Capricorn—Mercury—Humanity.

53. Chúng ta cũng có thể nhớ lại tam giác: Ma Kết—Sao Thủy—Nhân loại.

54. Mercury engineers the intelligent implementation of the three constellational forces. Mercury is the conduit for the triple energies which, at this time, characterize Hierarchy.

54. Sao Thủy điều hành việc thực thi một cách thông minh ba mãnh lực chòm sao. Sao Thủy là ống dẫn cho các năng lượng tam phân vốn, vào lúc này, đặc trưng cho Thánh Đoàn.

55. We see that Mercury is not only a means of approach and invocation, but a means of transmission of higher energies into lower fields.

55. Chúng ta thấy rằng Sao Thủy không chỉ là một phương tiện tiếp cận và khẩn cầu, mà còn là một phương tiện truyền dẫn các năng lượng cao vào những lĩnh vực thấp hơn.

56. Mercury represents the antahkarana between Hierarchy and Shamballa. The Buddha Who comes forth from Shamballa towards Hierarchy and humanity for eight minutes every year (according to the well-known legend) is, symbolically, Mercury.

56. Sao Thủy tượng trưng cho antahkarana giữa Thánh Đoàn và Shamballa. Đức Phật, Đấng từ Shamballa đi ra hướng về Thánh Đoàn và nhân loại trong tám phút mỗi năm, theo truyền thuyết quen thuộc, về mặt biểu tượng chính là Sao Thủy.

57. Through Mercury the group reaches into Hierarchy and through Mercury the energy and quality of Hierarchy is guided (swiftly and according to the proper design) into human consciousness.

57. Thông qua Sao Thủy, nhóm vươn tới Thánh Đoàn; và thông qua Sao Thủy, năng lượng cùng phẩm tính của Thánh Đoàn được hướng dẫn, một cách mau lẹ và theo đúng thiết kế, vào tâm thức nhân loại.

The effect of this release is to awaken the intuition (governed as you know by Mercury), and to enlighten advanced humanity.

Hiệu quả của sự phóng thích này là đánh thức trực giác, vốn như các bạn biết do Sao Thủy cai quản, và soi sáng nhân loại tiến bộ.

58. As stated, the influence of Mercury (as presented in this Rule, at least) will be for the benefit of advanced humanity (those for whom the egoic lotus is located on the second sub-plane of the mental plane).

58. Như đã nói, ảnh hưởng của Sao Thủy, ít nhất như được trình bày trong Quy Luật này, sẽ nhằm lợi ích của nhân loại tiến bộ, tức những người có Hoa Sen Chân Ngã nằm trên cõi phụ thứ hai của cõi trí.

59. The intuition already exists, but it must be received in the consciousness of humanity. This requires the building of the antahkarana. We may imagine that during the second decanate of the Age of Aquarius, the process of building the antahkarana will be much discussed and practiced among the more educated kinds of human beings.

59. Trực giác đã hiện hữu, nhưng nó phải được tiếp nhận trong tâm thức nhân loại. Điều này đòi hỏi việc xây dựng antahkarana. Chúng ta có thể hình dung rằng trong thập độ thứ hai của Kỷ nguyên Bảo Bình, tiến trình xây dựng antahkarana sẽ được bàn luận và thực hành rộng rãi nơi những tầng lớp nhân loại có giáo dục hơn.

60. The intuition carries the light of pure reason. It is an enlightening force.

60. Trực giác mang ánh sáng của lý trí thuần túy. Nó là một mãnh lực soi sáng.

61. We realize that the Forces of Enlightenment are associated with the constellation Taurus. Thus, there is a very close connection between Taurus and the planet Mercury.

61. Chúng ta nhận ra rằng các Mãnh Lực Giác Ngộ có liên hệ với chòm sao Kim Ngưu. Do đó, có một mối liên hệ rất mật thiết giữa Kim Ngưu và hành tinh Sao Thủy.

62. This close connection is exemplified in the life of the Buddha Who was born in Taurus, received His enlightenment in Taurus and died in Taurus. In occultism, another name for the Buddha is “Mercury”, and in Sanskrit, Mercury is known as “Buddha”. The associations should be convincing.

62. Mối liên hệ mật thiết này được minh họa trong đời sống của Đức Phật, Đấng sinh ra trong Kim Ngưu, đạt giác ngộ trong Kim Ngưu và viên tịch trong Kim Ngưu. Trong huyền bí học, một danh xưng khác của Đức Phật là “Sao Thủy”, và trong tiếng Phạn, Sao Thủy được biết đến là “Phật”. Các mối liên hệ ấy hẳn phải đủ sức thuyết phục.

It is through intuitive human beings that knowledge of the Plan is given to humanity and the work of restoration can be carried forward.

Chính thông qua những con người trực giác mà tri thức về Thiên Cơ được trao cho nhân loại và công việc phục hồi có thể được tiến hành.

63. The Divine Plan sets for the pattern by means of which humanity may be restored to its intended position and function in the planetary energy system.

63. Thiên Cơ đặt ra mô hình nhờ đó nhân loại có thể được phục hồi về vị trí và chức năng đã được định sẵn của mình trong hệ thống năng lượng hành tinh.

64. It is important to realize that the Divine Plan is not accessible simply to the reasoning mind. It is the intuition which truly reveals the nature of the Divine Plan.

64. Điều quan trọng là nhận ra rằng Thiên Cơ không thể được tiếp cận chỉ bằng thể trí lý luận. Chính trực giác mới thật sự mặc khải bản chất của Thiên Cơ.

65. This means that there is no real accessing of the Divine Plan until the antahkarana has been built and the intuition, therefore, can be accessed.

65. Điều này có nghĩa là không có sự tiếp cận thực sự nào với Thiên Cơ cho đến khi antahkarana đã được xây dựng và do đó trực giác có thể được tiếp cận.

66. The Divine Plan hovers above human conscious. By means of the intuition it can be precipitated.

66. Thiên Cơ lơ lửng bên trên tâm thức con người. Nhờ trực giác, nó có thể được ngưng tụ.

67. The Hierarchy, under Aquarius, Taurus and Pisces, is Custodian of the Plan. The diagram above shows the role of Mercury in the precipitation of that which is held in custody.

67. Thánh Đoàn, dưới Bảo Bình, Kim Ngưu và Song Ngư, là Đấng Gìn Giữ Thiên Cơ. Biểu đồ ở trên cho thấy vai trò của Sao Thủy trong sự ngưng tụ điều đang được gìn giữ.

At this time and in a peculiar manner, the initiate-consciousness sees the Hierarchy as primarily energised by life, and by the energy of Aquarius, carrying a hitherto unknown aspect of the life energy of deity.

Vào lúc này và theo một cách đặc biệt, tâm thức điểm đạo đồ thấy Thánh Đoàn chủ yếu được tiếp năng lượng bởi sự sống, và bởi năng lượng của Bảo Bình, vốn mang một phương diện cho đến nay chưa từng được biết của năng lượng sự sống của Thượng đế.

68. We know that Aquarius is a sign much associated with electricity and, hence, with “electric fire”—the fire of life.

68. Chúng ta biết rằng Bảo Bình là một dấu hiệu liên hệ nhiều với điện lực và, do đó, với “Lửa Điện”—lửa của sự sống.

69. How other types of consciousness might view the Hierarchy we do not know, but the initiate-consciousness when viewing the Hierarchy sees it energized by “life” and by the energy of Aquarius.

69. Những loại tâm thức khác có thể nhìn Thánh Đoàn như thế nào thì chúng ta không biết, nhưng khi tâm thức điểm đạo đồ nhìn Thánh Đoàn, y thấy Thánh Đoàn được tiếp năng lượng bởi “sự sống” và bởi năng lượng của Bảo Bình.

70. The “life energy of deity” may be carried in a number of ways—perhaps in twelve ways, each way corresponding to the energy of one of the twelve zodiacal constellations. At this time, it is Aquarius which is intimately associated with the life energy of deity.

70. “Năng lượng sự sống của Thượng đế” có thể được truyền tải bằng nhiều cách—có lẽ theo mười hai cách, mỗi cách tương ứng với năng lượng của một trong mười hai chòm sao hoàng đạo. Vào lúc này, chính Bảo Bình liên hệ mật thiết với năng lượng sự sống của Thượng đế.

71. There have been previous Ages of Aquarius, but the aspect of life energy presently being conveyed by Aquarius is “hitherto unknown”. At least, we may presume that it is hitherto unknown by humanity as a whole.

71. Đã từng có những Kỷ nguyên Bảo Bình trước đây, nhưng phương diện của năng lượng sự sống hiện đang được Bảo Bình truyền đạt là “cho đến nay chưa từng được biết”. Ít nhất, chúng ta có thể giả định rằng cho đến nay nhân loại nói chung chưa từng biết đến nó.

This is of course difficult for you to comprehend and will only be understood as it truly is at the close of the Aquarian Age.

Dĩ nhiên, điều này khó cho các bạn lĩnh hội và sẽ chỉ được thấu hiểu đúng như thực tại vào cuối Kỷ nguyên Bảo Bình.

72. So we have some 2300 years to comprehend what is here said.

72. Vì vậy, chúng ta có khoảng hai nghìn ba trăm năm để lĩnh hội điều được nói ở đây.

The initiate sees

Điểm đạo đồ thấy

73. We are dealing with what initiate consciousness reveals, for it reveals things as they are.

73. Chúng ta đang đề cập đến điều mà tâm thức điểm đạo đồ mặc khải, vì nó mặc khải sự vật đúng như chúng là.

the New Group of World Servers brought under the illuminating power of Taurus, with the rest of humanity still under the influence of Pisces.

Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian được đặt dưới quyền năng soi sáng của Kim Ngưu, trong khi phần còn lại của nhân loại vẫn ở dưới ảnh hưởng của Song Ngư.

74. In terms of chakric rulership, we will have the New Group of World Servers focusing in the ajna center (representing the ajna center of Sanat Kumara) and the rest of humanity focusing in the throat center or in the solar plexus center. We can gather that Pisces (expressing a strong sixth ray) will stimulate the solar plexus center.

74. Xét theo sự cai quản của các luân xa, chúng ta sẽ có Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian tập trung nơi trung tâm ajna, tượng trưng cho trung tâm ajna của Đức Sanat Kumara, và phần còn lại của nhân loại tập trung nơi trung tâm cổ họng hoặc nơi trung tâm tùng thái dương. Chúng ta có thể suy ra rằng Song Ngư, biểu lộ mạnh cung sáu, sẽ kích thích trung tâm tùng thái dương.

You have, consequently, the “over-shadowing raincloud of knowable things” hovering over humanity, just as the Hierarchy overshadows the New Group and just as the soul overshadows the personality of man;

Do đó, các bạn có “đám mây mưa phủ bóng của những điều khả tri” lơ lửng trên nhân loại, cũng như Thánh Đoàn phủ bóng Đoàn Người Mới, và cũng như linh hồn phủ bóng phàm ngã của con người;

75. Here is a triple analogy: Hierarchy/New Group of World Servers = Raincloud/Humanity = Soul/Human Personality.

75. Ở đây có một tương đồng tam phân: Thánh Đoàn/Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian = Đám mây mưa/Nhân loại = Linh hồn/Phàm ngã con người.

76. Humanity has proven that it is beginning to access the “raincloud of knowable things”. The disciples of the world must also prove that they can begin to access that which the Hierarchy can offer if properly invoked.

76. Nhân loại đã chứng tỏ rằng họ đang bắt đầu tiếp cận “đám mây mưa của những điều khả tri”. Các đệ tử của thế gian cũng phải chứng tỏ rằng họ có thể bắt đầu tiếp cận điều Thánh Đoàn có thể ban cho nếu được khẩn cầu đúng cách.

77. It is up to every advancing individual to learn how to access the soul as the source of his enlightenment.

77. Mỗi cá nhân đang tiến lên đều có bổn phận học cách tiếp cận linh hồn như nguồn giác ngộ của y.

78. These three processes overlap each other.

78. Ba tiến trình này chồng lấn lên nhau.

you have all the needed illumination and light upon all the coming problems, waiting to precipitate itself through the New Group of World Servers under the influence of Taurus, the nurturer of all illumination,

các bạn có tất cả sự soi sáng và ánh sáng cần thiết trên mọi vấn đề sắp đến, đang chờ ngưng tụ qua Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian dưới ảnh hưởng của Kim Ngưu, đấng nuôi dưỡng mọi sự soi sáng,

79. Taurus has also been called the “Mother of Illumination” (EA 511). Of course, archetypally, the “mother” is the “nurturer”. We can see in this relationship the close connection between Taurus and Virgo (the “Mother” and “nurturer”).

79. Kim Ngưu cũng đã được gọi là “Mẹ của Sự Soi Sáng”. Dĩ nhiên, xét theo nguyên mẫu, “người mẹ” là “đấng nuôi dưỡng”. Chúng ta có thể thấy trong mối liên hệ này sự kết nối mật thiết giữa Kim Ngưu và Xử Nữ, tức “Người Mẹ” và “đấng nuôi dưỡng”.

80. We can see how Aquarius (the ‘Sign of Abundance’) and Taurus (the ‘Sign of Illumination’) are meant to work together. Taurus, also, suggests the abundance of the cornucopia[4].

80. Chúng ta có thể thấy Bảo Bình, “Dấu Hiệu của Sự Sung Mãn”, và Kim Ngưu, “Dấu Hiệu của Sự Soi Sáng”, được định để cùng hoạt động như thế nào. Kim Ngưu cũng gợi ý sự sung mãn của chiếc sừng phong nhiêu.

81. That which humanity needs in order to solve its problems waits to be precipitated. It is already present.

81. Điều nhân loại cần để giải quyết các vấn đề của mình đang chờ được ngưng tụ. Nó đã hiện diện rồi.

82. What does it mean to nurture illumination? Perhaps to disclose the undisclosed. Perhaps, to reveal the Light within light. Perhaps to make it possible for new vibrations to impinge on consciousness. Perhaps to reveal that which is present but unsuspected. Taurus—the ‘Revealer of immanent vibration’.

82. Nuôi dưỡng sự soi sáng có nghĩa là gì? Có lẽ là hiển lộ điều chưa được hiển lộ. Có lẽ là mặc khải Ánh sáng bên trong ánh sáng. Có lẽ là làm cho những rung động mới có thể tác động lên tâm thức. Có lẽ là mặc khải điều đang hiện diện nhưng chưa được ngờ tới. Kim Ngưu—“Đấng Mặc Khải rung động nội tại”.

and you have humanity, at the same time, conditioned and made sensitive by Piscean energy during the past two thousand years.

và đồng thời các bạn có nhân loại đã được năng lượng Song Ngư tác động và làm cho nhạy cảm trong hai nghìn năm qua.

83. Pisces has brought humanity into a more receptive state—often through much suffering. This was needed before humanity could receive the intended abundance of Aquarius.

83. Song Ngư đã đưa nhân loại vào một trạng thái dễ tiếp nhận hơn—thường là qua nhiều đau khổ. Điều này là cần thiết trước khi nhân loại có thể tiếp nhận sự sung mãn đã được định của Bảo Bình.

You have, therefore, a condition of great spiritual promise,

Do đó, các bạn có một tình trạng đầy hứa hẹn tinh thần lớn lao,

84. Different conditions appear at different times. Always the energies of various constellations can combine and give results specific to the combination.

84. Những tình trạng khác nhau xuất hiện vào những thời điểm khác nhau. Các năng lượng của những chòm sao khác nhau luôn có thể kết hợp và tạo ra các kết quả đặc thù cho sự kết hợp ấy.

85. Taurus characterized the Buddhas as did Pisces. Pisces characterized the Christ as will Aquarius. We have a combination of energies in which the dual influences of the Buddha and the Christ may combine most propitiously.

85. Kim Ngưu đã đặc trưng cho các Đức Phật, cũng như Song Ngư. Song Ngư đã đặc trưng cho Đức Christ, cũng như Bảo Bình sẽ làm. Chúng ta có một sự kết hợp các năng lượng trong đó những ảnh hưởng kép của Đức Phật và Đức Christ có thể phối hợp một cách hết sức thuận lợi.

and in this combination of [Page 230] energies you have present those forces which will implement the activities of the Hierarchy, condition its initiates, affect every Ashram, bring light into the present darkness, and—as can already be seen—stir into new understanding the present Piscean consciousness of mankind.

và trong sự kết hợp các năng lượng [Page 230] này, các bạn có hiện diện những mãnh lực sẽ thực thi các hoạt động của Thánh Đoàn, tác động lên các điểm đạo đồ của Thánh Đoàn, ảnh hưởng đến mọi Ashram, đưa ánh sáng vào bóng tối hiện tại, và—như đã có thể thấy—khơi dậy nơi tâm thức Song Ngư hiện nay của nhân loại một sự thấu hiểu mới.

86. Let us for the sake of impression tabulate the effects of this combination of Aquarian, Taurean and Piscean energies:

86. Để tạo ấn tượng, chúng ta hãy ghi thành bảng các hiệu quả của sự kết hợp các năng lượng Bảo Bình, Kim Ngưu và Song Ngư này:

a. They will implement the activities of Hierarchy. This means that the activities of Hierarchy will be rendered even more effective than in the past.

a. Chúng sẽ thực thi các hoạt động của Thánh Đoàn. Điều này có nghĩa là các hoạt động của Thánh Đoàn sẽ trở nên còn hiệu quả hơn trước kia.

b. They will condition the initiates of Hierarchy. The initiates of Hierarchy will be conditioned by a sign (Aquarius) which, archetypally, is very resonant with the nature of Hierarchy.

b. Chúng sẽ tác động lên các điểm đạo đồ của Thánh Đoàn. Các điểm đạo đồ của Thánh Đoàn sẽ chịu tác động của một dấu hiệu, Bảo Bình, vốn theo nguyên mẫu rất cộng hưởng với bản chất của Thánh Đoàn.

c. They will affect every Ashram. Each Ashram expresses different ray and astrological energies in combination, but the all-pervading energies will be these.

c. Chúng sẽ ảnh hưởng đến mọi Ashram. Mỗi Ashram biểu lộ những năng lượng cung và chiêm tinh khác nhau trong sự kết hợp, nhưng các năng lượng thấm nhập khắp nơi sẽ là những năng lượng này.

d. They will bring light into the present darkness. The three types of light involved are:

d. Chúng sẽ đưa ánh sáng vào bóng tối hiện tại. Ba loại ánh sáng liên hệ là:

i. Aquarius.—The Light that shines on Earth, across the sea. This is the light which ever shines within the dark and cleansing with its healing rays that which must be purified until the dark has gone.

i. Bảo Bình.—Ánh sáng chiếu rọi trên Trái Đất, băng qua biển cả. Đây là ánh sáng luôn chiếu trong bóng tối và, bằng những tia chữa lành của nó, thanh tẩy điều phải được tinh lọc cho đến khi bóng tối tan biến.

ii. Taurus.—The penetrating Light of the Path. This is a beam of light, streaming forth from the point in Aries, and revealing the area of light control.

ii. Kim Ngưu.—Ánh sáng xuyên thấu của Đường Đạo. Đây là một tia sáng, tuôn ra từ điểm trong Bạch Dương, và mặc khải khu vực kiểm soát bằng ánh sáng.

iii. Pisces—The Light of the World. This is the light, revealing the light of life itself. It ends for ever the darkness of matter. (EA 329)

iii. Song Ngư—Ánh sáng của Thế Gian. Đây là ánh sáng, mặc khải ánh sáng của chính sự sống. Nó chấm dứt mãi mãi bóng tối của vật chất. (Chiêm Tinh Học Nội Môn 329)

e. They will stir to new understanding the Piscean consciousness of man. It seems that every precessional Age will condition the consciousness of humanity with the energy of the sign which expresses during that Age.

e. Chúng sẽ khơi dậy nơi tâm thức Song Ngư của con người một sự thấu hiểu mới. Dường như mỗi Kỷ nguyên tuế sai sẽ tác động lên tâm thức nhân loại bằng năng lượng của dấu hiệu biểu lộ trong Kỷ nguyên ấy.

87. It is clear that there is great promise in this combination.

87. Rõ ràng có một lời hứa hẹn lớn lao trong sự kết hợp này.

88. Where do we as disciples and groups of disciples place ourselves with respect to these energies?

88. Là các đệ tử và các nhóm đệ tử, chúng ta đặt mình ở đâu trong liên hệ với những năng lượng này?

It is in the New Group of World Servers that the training of the needed disciples for the Ashrams of the Masters takes place at this time in world history.

Chính trong Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian mà việc huấn luyện các đệ tử cần thiết cho các Ashram của các Chân sư đang diễn ra vào lúc này trong lịch sử thế giới.

89. It would seem that truly to be a member of the New Group of World Servers, one must be at least an initiate of the second degree. This would make sense as Taurus is a sign (the second zodiacal sign) intimately related to the second initiation.

89. Dường như để thật sự là một thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, người ta ít nhất phải là một điểm đạo đồ bậc hai. Điều này hợp lý, vì Kim Ngưu là một dấu hiệu, dấu hiệu hoàng đạo thứ hai, liên hệ mật thiết với lần điểm đạo thứ hai.

90. Some members of the New Group of World Servers are initiates and some, perhaps, even initiates of the fourth degree, capable of giving the needed training.

90. Một số thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian là các điểm đạo đồ và một số, có lẽ, thậm chí là các điểm đạo đồ bậc bốn, có khả năng trao sự huấn luyện cần thiết.

This is a new hierarchical venture. In this group also accepted disciples learn to work in the same manner as does the Hierarchy.

Đây là một cuộc mạo hiểm mới của Thánh Đoàn. Trong nhóm này, các đệ tử được chấp nhận cũng học cách làm việc theo cùng một cách như Thánh Đoàn làm.

91. Their work is on a lower turn of the spiral but analogous.

91. Công việc của họ ở trên một vòng thấp hơn của đường xoắn ốc nhưng tương đồng.

92. In the New Group of World Servers, disciples are trained, and accepted disciples learn to work as the Hierarchy works.

92. Trong Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, các đệ tử được huấn luyện, và các đệ tử được chấp nhận học cách làm việc như Thánh Đoàn làm việc.

93. Hierarchy is ever adaptable and the formation of the New Group of World Servers is a spiritually adventurous adaptation to present world need.

93. Thánh Đoàn luôn thích nghi, và sự hình thành Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian là một sự thích nghi đầy tinh thần mạo hiểm trước nhu cầu hiện tại của thế giới.

The Hierarchy works within the field of the world of human living; the New Group provides a similar field for the new disciple.

Thánh Đoàn hoạt động trong lĩnh vực của thế giới đời sống nhân loại; Đoàn Người Mới cung cấp một lĩnh vực tương tự cho người đệ tử mới.

94. Hierarchy reaches both higher and lower than the disciple can.

94. Thánh Đoàn vươn tới cả cao hơn lẫn thấp hơn điều đệ tử có thể.

95. In any case, the New Group of World Servers provides a great field of service for the training and expression of new disciples and even well-established disciples (accepted disciples).

95. Dù sao, Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian cung cấp một lĩnh vực phụng sự rộng lớn cho việc huấn luyện và biểu lộ của các đệ tử mới, và cả những đệ tử đã được thiết lập vững vàng, tức các đệ tử được chấp nhận.

It is towards that group also that initiates in the various Ashrams converge at times, in order to study the calibre and quality of the disciples who are engaged in world salvage, for it is through these disciples that the Hierarchy carries out its plans.

Cũng chính về phía nhóm ấy mà các điểm đạo đồ trong những Ashram khác nhau đôi khi quy tụ, nhằm nghiên cứu tầm vóc và phẩm tính của các đệ tử đang dấn thân vào việc cứu vãn thế gian, vì chính thông qua các đệ tử này mà Thánh Đoàn thực hiện các thiên cơ của mình.

96. The members of the New Group of World Servers (themselves a kind of “eye” for humanity) are under the “Eye” of Hierarchy.

96. Các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, chính họ là một loại “con mắt” cho nhân loại, ở dưới “Con Mắt” của Thánh Đoàn.

97. “Hint I…. The changes brought about in the Hierarchy have been the result of the work of the disciples of the world.” (DINA II 387)

97. “Gợi ý thứ nhất…. Những thay đổi được tạo ra trong Thánh Đoàn là kết quả của công việc của các đệ tử thế giới.” (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, tập hai, trang 387)

98. Hint III…. Disciples in all Ashrams have a task of “modifying, qualifying and adapting the divine Plan” simultaneously. Why is this so? Why is the Plan not imposed? (DINA II 388)

98. Gợi ý thứ ba…. Các đệ tử trong mọi Ashram có nhiệm vụ “điều chỉnh, phẩm định và thích nghi Thiên Cơ” một cách đồng thời. Tại sao lại như vậy? Tại sao Thiên Cơ không được áp đặt? (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, tập hai, trang 388)

99. Disciples are instrumental in the carrying out of hierarchical purposes. As disciples, we are supervised and our quality judged. Energy is transmitted to us and through us on the basis of this evaluation.

99. Các đệ tử là công cụ trong việc thực hiện các thiên ý của Thánh Đoàn. Là các đệ tử, chúng ta được giám sát và phẩm tính của chúng ta được đánh giá. Năng lượng được truyền đến chúng ta và qua chúng ta trên cơ sở sự đánh giá này.

Initiates do their main work upon mental levels and from behind the scenes, and because of this their potency is great; this is particularly so with those who have taken the third initiation.

Các điểm đạo đồ thực hiện công việc chính của họ trên các cấp độ trí tuệ và từ phía sau hậu trường, và vì lý do này, uy lực của họ rất lớn; điều này đặc biệt đúng với những vị đã trải qua lần điểm đạo thứ ba.

100. Some initiates who have not taken the third initiation (i.e., probationary initiates) also work behind the scenes, but obviously with less power.

100. Một số điểm đạo đồ chưa trải qua lần điểm đạo thứ ba, tức các điểm đạo đồ dự bị, cũng làm việc phía sau hậu trường, nhưng hiển nhiên với quyền năng ít hơn.

101. It is fascinating to realize that work behind the scenes is equated with the possibility of greater potency.

101. Thật hấp dẫn khi nhận ra rằng công việc hậu trường được xem là tương đương với khả năng có quyền năng lớn hơn.

102. Apparently, to work behind the scenes, is to work in a manner relatively unencumbered[5].

102. Rõ ràng, làm việc hậu trường là làm việc theo một cách thức tương đối ít bị vướng mắc.

103. Those who have taken the third initiation can work with the souls of men. Lesser initiates must work with the minds of men.

103. Những ai đã trải qua lần điểm đạo thứ ba có thể làm việc với linh hồn của con người. Các điểm đạo đồ thấp hơn phải làm việc với thể trí của con người.

A certain percentage of them are, however, active out in the world of daily living.

Tuy nhiên, một tỉ lệ nhất định trong số họ đang hoạt động ngoài thế giới của đời sống hằng ngày.

104. Those who are thus active are making a considerable sacrifice. We can gather something of the intended sacrifice of the externalizing Masters. They will be much hampered by their direct subjection to physical plane circumstances, yet They are now in training so that They may cope as effectively as possible.

104. Những ai hoạt động như thế đang thực hiện một sự hi sinh đáng kể. Chúng ta có thể phần nào hiểu được sự hi sinh dự định của các Chân sư đang ngoại hiện. Các Ngài sẽ bị cản trở nhiều bởi việc trực tiếp chịu chi phối của những hoàn cảnh trên cõi hồng trần, tuy nhiên hiện nay Các Ngài đang được huấn luyện để có thể ứng phó hữu hiệu nhất có thể.

You need ever to remember that at this time the main technique of the Hierarchy is that of conveying inspiration.

Các bạn cần luôn nhớ rằng vào lúc này kỹ thuật chính của Thánh Đoàn là truyền đạt cảm hứng.

105. We cannot pass lightly over this statement. Inspiration is related to the will aspect, the life aspect. To what extent are any of us or our groups capable of conveying inspiration?

105. Chúng ta không thể lướt qua phát biểu này một cách hời hợt. Cảm hứng liên hệ với phương diện ý chí, phương diện sự sống. Đến mức nào bất kỳ ai trong chúng ta, hay các nhóm của chúng ta, có khả năng truyền đạt cảm hứng?

106. When inspiration is conveyed, it becomes easier to contact spiritual and even divine sources. The point of tension is heightened and reception of that which is ‘life-giving’ is enhanced.

106. Khi cảm hứng được truyền đạt, việc tiếp xúc với các nguồn tinh thần và thậm chí thiêng liêng trở nên dễ dàng hơn. Điểm tập trung nhất tâm được nâng cao và sự tiếp nhận điều “ban sự sống” được tăng cường.

The Masters are not openly lecturing or teaching in the great cities of the world;

Các Chân sư không công khai diễn thuyết hay giảng dạy trong các thành phố lớn của thế giới;

107. Despite what some misguided and overly eager individuals claim…

107. Bất chấp những gì một số cá nhân lầm lạc và quá nhiệt thành tuyên bố…

They work entirely through Their disciples and initiates.

Các Ngài hoàn toàn làm việc thông qua các đệ tử và điểm đạo đồ của Các Ngài.

108. They inspire but do not compel.

108. Các Ngài truyền cảm hứng nhưng không cưỡng bách.

It will, however, be possible for Them to appear increasingly among men and evoke recognition as the influence of Aquarius is more firmly established.

Tuy nhiên, Các Ngài sẽ có thể xuất hiện ngày càng nhiều giữa nhân loại và gợi lên sự nhận biết khi ảnh hưởng của Bảo Bình được thiết lập vững chắc hơn.

109. The Masters could not now appear. Their appearance would be premature, and would inadvertently strengthen the forces of retrogression.

109. Hiện nay các Chân sư không thể xuất hiện. Sự xuất hiện của Các Ngài sẽ là quá sớm, và sẽ vô tình củng cố các mãnh lực thoái bộ.

110. It is important for us to change our conception of what a Master is. If our image is faulty, we shall not know Who to look for; we will fail in recognition because we will be expecting individuals Who conform to our false image.

110. Điều quan trọng là chúng ta phải thay đổi quan niệm của mình về Chân sư là gì. Nếu hình ảnh của chúng ta sai lầm, chúng ta sẽ không biết phải tìm kiếm Ai; chúng ta sẽ thất bại trong việc nhận biết vì chúng ta sẽ mong đợi những cá nhân phù hợp với hình ảnh sai lầm của mình.

The Masters, in the meantime, must continue to work “within the silence of the universal Ashram,”

Trong khi đó, các Chân sư phải tiếp tục làm việc “trong sự im lặng của ashram phổ quát,”

111. The “universal Ashram” is the Hierarchy. The Aquarian quality of universality is suggested.

111. “Ashram phổ quát” là Thánh Đoàn. Phẩm tính phổ quát của Bảo Bình được gợi ý ở đây.

as it has been called, and from there They inspire Their workers, and these latter in their time and way, inspire the New Group of World Servers.

như đã được gọi, và từ đó Các Ngài truyền cảm hứng cho những người hoạt động của Các Ngài, và những người này, theo thời điểm và cách thức của mình, truyền cảm hứng cho Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

112. A kind of hierarchical arrangement is given: The Masters above “Their workers” (who are, no doubt, initiates) who, stand ‘above’ the New Group of World Servers.

112. Một kiểu sắp đặt theo trật tự thánh đoàn được đưa ra: các Chân sư ở trên “những người hoạt động của Các Ngài” vốn, không nghi ngờ gì, là các điểm đạo đồ, và những người này đứng “trên” Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

113. Always there will be continuity of energy-sharing and distribution.

113. Luôn luôn sẽ có sự liên tục trong việc chia sẻ và phân phối năng lượng.

You will note, therefore, that the effect of Aquarius upon the Hierarchy (as far as you, at your particular point in evolution can determine it) is to bring in the energy of Shamballa which is essentially the energy of life itself, implemented [Page 231] by the will.

Do đó, các bạn sẽ lưu ý rằng tác động của Bảo Bình đối với Thánh Đoàn, trong chừng mực các bạn, tại điểm tiến hoá riêng của mình, có thể xác định được, là đem vào năng lượng của Shamballa, vốn về bản chất là năng lượng của chính sự sống, được thực thi [Page 231] bởi ý chí.

114. Aquarius is a sign, we learn, closely associated not only with Hierarchy but with Shamballa.

114. Chúng ta học được rằng Bảo Bình là một dấu hiệu liên hệ mật thiết không chỉ với Thánh Đoàn mà còn với Shamballa.

115. Just as the constellation Scorpio can be associated with the transmission of the first ray, so can Aquarius.

115. Cũng như chòm sao Hổ Cáp có thể được liên hệ với việc truyền dẫn cung một, Bảo Bình cũng vậy.

116. If the energy of life is to be implemented (i.e., rendered practical and applied) it must be implemented by the will. Shamballa is responsible for this implementation and the energy of Aquarius assists.

116. Nếu năng lượng của sự sống phải được thực thi, tức là được làm cho thực tiễn và được áp dụng, thì nó phải được thực thi bởi ý chí. Shamballa chịu trách nhiệm cho sự thực thi này và năng lượng của Bảo Bình hỗ trợ cho điều đó.

This necessarily has created (and will increasingly create) major adjustments within the Hierarchy itself. The principal type of energy hitherto used by the Hierarchy is—as you well know—the energy of love. Now, to that must be added the energy of the life-giving will.

Điều này tất yếu đã tạo ra, và sẽ ngày càng tạo ra, những điều chỉnh lớn lao bên trong chính Thánh Đoàn. Loại năng lượng chính yếu cho đến nay được Thánh Đoàn sử dụng, như các bạn đều biết rõ, là năng lượng bác ái. Giờ đây, vào đó phải được thêm năng lượng của ý chí ban sự sống.

117. Hierarchy is ever adaptable. We may sometimes tend to think that only humanity is changing or required to change. This is not so. Even Shamballa adapts to planetary circumstance.

117. Thánh Đoàn luôn luôn có khả năng thích ứng. Đôi khi chúng ta có thể có khuynh hướng nghĩ rằng chỉ có nhân loại đang thay đổi hoặc được yêu cầu phải thay đổi. Không phải như vậy. Ngay cả Shamballa cũng thích ứng với hoàn cảnh hành tinh.

118. We note that the energy of the will is “life-giving”. This may tell us something about how to detect whether we are actually using this energy and what results we can expect from its use. It is never meant to suppress life though it may temporarily suppress the freedom of form when that freedom interferes with the freedom of life-expression.

118. Chúng ta lưu ý rằng năng lượng của ý chí là “ban sự sống”. Điều này có thể cho chúng ta biết điều gì đó về cách nhận ra liệu chúng ta có thật sự đang sử dụng năng lượng này hay không, và có thể mong đợi những kết quả nào từ việc sử dụng nó. Nó không bao giờ nhằm đàn áp sự sống, dù nó có thể tạm thời hạn chế tự do của hình tướng khi tự do ấy can thiệp vào tự do biểu lộ sự sống.

New methods, new approaches to the human problem and new modes of work will have to be tried; experiment with the incoming forces will necessarily be the order of the day, though they will be experiments based upon vast knowledge and implemented with wisdom and understanding.

Những phương pháp mới, những cách tiếp cận mới đối với vấn đề của nhân loại và những phương thức làm việc mới sẽ phải được thử nghiệm; việc thử nghiệm với các mãnh lực đang đi vào tất yếu sẽ là việc phải làm trong ngày, dù chúng sẽ là những thử nghiệm dựa trên tri thức bao la và được thực thi bằng minh triết cùng sự thấu hiểu.

119. Aquarius (with its potent fifth ray) is a sign of experimentation. The planet usually most associated with Aquarius, Uranus, is, among all the planets, the planet of experimentation.

119. Bảo Bình, với cung năm mạnh mẽ của nó, là một dấu hiệu của sự thử nghiệm. Hành tinh thường được liên hệ nhiều nhất với Bảo Bình, Sao Thiên Vương, trong tất cả các hành tinh, là hành tinh của sự thử nghiệm.

120. The experiments undertaken by Hierarchy will not be casual or full of unwarranted risk; vast knowledge, wisdom and understanding will be behind them.

120. Những thử nghiệm do Thánh Đoàn tiến hành sẽ không tùy tiện hay đầy rủi ro không chính đáng; phía sau chúng sẽ có tri thức bao la, minh triết và sự thấu hiểu.

121. We note the constant use of the word “new”—a work intimately related to both Aquarius and Uranus.

121. Chúng ta lưu ý việc sử dụng liên tục từ “mới”, một công việc có liên hệ mật thiết với cả Bảo Bình lẫn Sao Thiên Vương.

122. We can understand that even Hierarchy does not yet fully know how to handle the great incoming energies of the constellation Aquarius.

122. Chúng ta có thể hiểu rằng ngay cả Thánh Đoàn cũng chưa hoàn toàn biết cách xử lý các năng lượng lớn lao đang đi vào từ chòm sao Bảo Bình.

It is the reaction of modern man to the ancient forces which produces the need for care.

Chính phản ứng của con người hiện đại đối với các mãnh lực cổ xưa tạo nên nhu cầu phải thận trọng.

123. By the term “ancient forces” DK may not mean the energies of Aquarius (though they are cosmically ancient). He may well mean forces inherent in his physical nature once they are stimulated by the incoming Aquarian energies.

123. Bằng thuật ngữ “các mãnh lực cổ xưa”, Chân sư DK có thể không muốn nói đến các năng lượng của Bảo Bình, dù chúng cổ xưa về mặt vũ trụ. Rất có thể Ngài muốn nói đến các mãnh lực vốn có trong bản chất hồng trần của con người một khi chúng được kích thích bởi các năng lượng Bảo Bình đang đi vào.

Mankind is oft unpredictable, owing to the factor of free will. It is this which lies behind the training given to disciples, upon which I have already given you much instruction.

Nhân loại thường khó đoán, do yếu tố ý chí tự do. Chính điều này nằm phía sau việc huấn luyện được trao cho các đệ tử, điều mà Tôi đã từng chỉ dạy nhiều cho các bạn.

124. The Hierarchy is not allowed to compel, to force. In the training given to disciples by the Hierarchy compulsion, also, is not used.

124. Thánh Đoàn không được phép cưỡng bách, áp đặt. Trong việc huấn luyện mà Thánh Đoàn trao cho các đệ tử, sự cưỡng bách cũng không được dùng đến.

The new techniques and the changed approach from that of individual culture to united group progress will bring about many types of development.

Các kỹ thuật mới và cách tiếp cận đã thay đổi, từ sự tu dưỡng cá nhân sang sự tiến bộ nhóm hợp nhất, sẽ đem lại nhiều loại phát triển.

125. The Hierarchy is changing its methods from individual cultivation to group cultivation.

125. Thánh Đoàn đang thay đổi các phương pháp của mình từ sự vun trồng cá nhân sang sự vun trồng nhóm.

126. Not all the types of development to emerge may be foreseen in detail.

126. Không phải mọi loại phát triển sẽ xuất hiện đều có thể được thấy trước một cách chi tiết.

It is this different approach to the same basic problems which lies behind the new capacities which are emerging among disciples;

Chính cách tiếp cận khác này đối với cùng những vấn đề căn bản nằm phía sau các năng lực mới đang xuất hiện nơi các đệ tử;

127. To help solve the problems of humanity, disciples are to apply new techniques. They are equipped with newly emerging capacities which will help them do so.

127. Để giúp giải quyết các vấn đề của nhân loại, các đệ tử phải áp dụng những kỹ thuật mới. Họ được trang bị những năng lực mới đang xuất hiện, vốn sẽ giúp họ làm điều đó.

it is this which enables disciples of experience to work at high speed and with a life potency that is unusual.

chính điều này cho phép các đệ tử có kinh nghiệm làm việc với tốc độ cao và với một quyền năng sự sống khác thường.

128. This is one of the capacities which is emerging for the modern disciple—the capacity to work at high speed and with high potency. Such is the Aquarian stimulation.

128. Đây là một trong những năng lực đang xuất hiện cho người đệ tử hiện đại, năng lực làm việc với tốc độ cao và với quyền năng lớn. Đó là sự kích thích của Bảo Bình.

129. Aquarius is associated with the life aspect and with the etheric body. We can draw our own conclusions from this association.

129. Bảo Bình liên hệ với phương diện sự sống và với thể dĩ thái. Chúng ta có thể tự rút ra kết luận từ mối liên hệ này.

I would have all disciples begin to train themselves to respond to the Aquarian energy now pouring into the Hierarchy.

Tôi muốn tất cả các đệ tử bắt đầu tự huấn luyện để đáp ứng với năng lượng Bảo Bình hiện đang tuôn vào Thánh Đoàn.

130. Apparently, disciples are not yet fully trained to do so. It will take an act of will, and more, an act of group will.

130. Rõ ràng, các đệ tử vẫn chưa được huấn luyện đầy đủ để làm như vậy. Điều đó sẽ đòi hỏi một hành động của ý chí, và hơn nữa, một hành động của ý chí nhóm.

131. The Aquarian energies are pouring into Hierarchy even more than into humanity. Disciples must stand upon the periphery of the Ashram and use the antahkarana in order to respond in the manner DK suggests.

131. Các năng lượng Bảo Bình đang tuôn vào Thánh Đoàn còn nhiều hơn vào nhân loại. Các đệ tử phải đứng trên chu vi của ashram và sử dụng antahkarana để đáp ứng theo cách mà Chân sư DK gợi ý.

Some of you can do so as accepted disciples, and as members of my Ashram.

Một số các bạn có thể làm như vậy với tư cách là các đệ tử được chấp nhận, và là thành viên ashram của tôi.

132. This is surprising statement if DK was writing directly to those who were in His group (originally) of twenty-four. All of them were considered accepted disciples.

132. Đây là một phát biểu đáng ngạc nhiên nếu Chân sư DK đang viết trực tiếp cho những người thuộc nhóm hai mươi bốn người ban đầu của Ngài. Tất cả họ đều được xem là các đệ tử được chấp nhận.

133. Obviously, membership in an Ashram (as an accepted disciple or initiate) would facilitate the response to Aquarian energies.

133. Hiển nhiên, tư cách thành viên trong một ashram, với tư cách là đệ tử được chấp nhận hoặc điểm đạo đồ, sẽ tạo thuận lợi cho sự đáp ứng với các năng lượng Bảo Bình.

Take advantage, therefore, of the opportunity for re-energising that comes to all those who have established contact, via their souls, with the Hierarchy, or who are members of an Ashram, or who, as probationers, are upon the periphery of the great Ashram of Sanat Kumara, the Hierarchy.

Do đó, hãy tận dụng cơ hội được tái tiếp sinh lực đến với tất cả những ai đã thiết lập tiếp xúc, thông qua linh hồn của họ, với Thánh Đoàn, hoặc là thành viên của một ashram, hoặc, với tư cách là người dự bị, đang ở trên chu vi của đại ashram của Đức Sanat Kumara, tức Thánh Đoàn.

134. All these categories of individuals are able to be re-energized by the Ashram.

134. Tất cả các loại cá nhân này đều có thể được ashram tái tiếp sinh lực.

135. We note that it is not the personality which makes contact with the Hierarchy. Hierarchy can be reached via the soul.

135. Chúng ta lưu ý rằng không phải phàm ngã tiếp xúc với Thánh Đoàn. Có thể đạt đến Thánh Đoàn thông qua linh hồn.

136. The Hierarchy is presently greatly influenced by the Aquarian energy which is a life-giving energy. Those who contact Hierarchy as souls would normally be energized, but the presence of the Aquarian energy pouring through Hierarchy makes the opportunity for re-energizing even more potent.

136. Hiện nay Thánh Đoàn chịu ảnh hưởng rất lớn của năng lượng Bảo Bình, vốn là năng lượng ban sự sống. Những ai tiếp xúc với Thánh Đoàn với tư cách linh hồn thông thường sẽ được tiếp sinh lực, nhưng sự hiện diện của năng lượng Bảo Bình đang tuôn qua Thánh Đoàn làm cho cơ hội tái tiếp sinh lực càng mạnh mẽ hơn.

137. Hierarchy is a great source of Jupiterian supply for those who, as souls, know how to access it. DK is asking us to take advantage of this opportunity.

137. Thánh Đoàn là một nguồn cung ứng vĩ đại thuộc Sao Mộc cho những ai, với tư cách linh hồn, biết cách tiếp cận nó. Chân sư DK đang yêu cầu chúng ta tận dụng cơ hội này.

This Aquarian influence produces mainly the intensifying of the hierarchical relationship to Shamballa, and therefore affects every member of His Ashram, from the Christ down to the most newly accepted disciple.

Ảnh hưởng Bảo Bình này chủ yếu tạo ra sự tăng cường mối liên hệ của Thánh Đoàn với Shamballa, và do đó ảnh hưởng đến mọi thành viên trong ashram của Ngài, từ Đức Christ cho đến đệ tử được chấp nhận mới nhất.

138. As stated, we usually think that humanity will be the foremost recipient of Aquarian energy. The Hierarchy is even more so.

138. Như đã nói, chúng ta thường nghĩ rằng nhân loại sẽ là bên tiếp nhận hàng đầu năng lượng Bảo Bình. Thánh Đoàn còn như vậy hơn nữa.

139. Accepted disciples are members of an Ashram (even if peripheral members) and are therefore keenly affected by Aquarian energy as it brings the Hierarchy into closer relationship with Shamballa.

139. Các đệ tử được chấp nhận là thành viên của một ashram, dù chỉ là thành viên ngoại vi, và do đó chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của năng lượng Bảo Bình khi năng lượng ấy đưa Thánh Đoàn vào mối liên hệ gần gũi hơn với Shamballa.

140. Due to the great crisis facing humanity and the planet, disciples in the world need to work with added speed and potency. Fortunately, the energy necessary for these results is now available in abundance and will only increase as the energies of Aquarius increase in intensity.

140. Do cuộc khủng hoảng lớn lao đang đối diện nhân loại và hành tinh, các đệ tử trong thế gian cần làm việc với tốc độ và quyền năng gia tăng. May thay, năng lượng cần thiết cho những kết quả này hiện đang sẵn có dồi dào và sẽ chỉ tăng thêm khi các năng lượng của Bảo Bình gia tăng cường độ.

It is through the disciples that the New Group of World Servers are brought under the stepped-down Aquarian influences; this has to be an individual matter, largely dependent upon the point of evolution.

Chính thông qua các đệ tử mà Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian được đặt dưới những ảnh hưởng Bảo Bình đã được giảm cấp; điều này phải là một vấn đề cá nhân, phần lớn tùy thuộc vào điểm tiến hoá.

141. We are speaking of the disciples who are in a position sufficiently advanced to influence the rank and file members of the New Group of World Servers.

141. Chúng ta đang nói về những đệ tử ở vị trí đủ tiến bộ để ảnh hưởng đến các thành viên phổ thông trong Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

142. Sometimes it seems that one must be at least an initiate of the second degree to be a member of the New Group of World Servers but other references seem to set the standard lower.

142. Đôi khi dường như một người ít nhất phải là điểm đạo đồ cấp hai mới có thể là thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, nhưng các tham chiếu khác dường như đặt tiêu chuẩn thấp hơn.

143. We can imagine that the potent Aquarian influences must be stepped-down greatly if they are to be safely received by those who stand as disciples.

143. Chúng ta có thể hình dung rằng các ảnh hưởng Bảo Bình mạnh mẽ phải được giảm cấp rất nhiều nếu chúng được tiếp nhận an toàn bởi những người đứng trong cương vị đệ tử.

144. What we are learning is that body of souls who constitute the New Group of World Servers and, therefore, work under Taurus, are influenced by inpouring Aquarian energies from the Hierarchy.

144. Điều chúng ta đang học là nhóm linh hồn cấu thành Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, và do đó hoạt động dưới Kim Ngưu, chịu ảnh hưởng của các năng lượng Bảo Bình đang tuôn vào từ Thánh Đoàn.

Some members of [Page 232] the New Group of World Servers will not respond in any way; they cannot.

Một số thành viên của [Page 232] Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian sẽ không đáp ứng theo bất cứ cách nào; họ không thể.

145. This shows us that some members of the New Group of World Servers are not especially advanced disciples. Perhaps they are only men and women of goodwill. There are other references which suggest that members of the New Group of World Servers are to attempt to recognize initiates of the first and second degrees. If they did not stand at a relatively advanced level of discipleship, this recognition would not be possible for them.

145. Điều này cho chúng ta thấy rằng một số thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian không phải là những đệ tử đặc biệt tiến bộ. Có lẽ họ chỉ là những người nam và nữ thiện chí. Có những tham chiếu khác gợi ý rằng các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian phải cố gắng nhận ra các điểm đạo đồ cấp một và cấp hai. Nếu họ không đứng ở một cấp độ địa vị đệ tử tương đối tiến bộ, thì sự nhận ra này sẽ không thể có đối với họ.

Others will respond as fully as their spiritual status permits.

Những người khác sẽ đáp ứng trọn vẹn đến mức địa vị tinh thần của họ cho phép.

146. One cannot pour an ocean into a thimble[6]. Our capacity defines the limits of reception.

146. Người ta không thể đổ cả đại dương vào một cái đê. Năng lực của chúng ta xác định các giới hạn của sự tiếp nhận.

This inflow of Aquarian energy is one of the factors which will enable the Christ to complete His task as World Saviour and World Teacher;

Dòng năng lượng Bảo Bình tuôn vào này là một trong những yếu tố sẽ giúp Đức Christ hoàn tất nhiệm vụ của Ngài với tư cách Đấng Cứu Thế và Đức Chưởng Giáo;

147. The timing of His Reappearance is dependent on the assistance (albeit unconscious) of the Lord of the Constellation Aquarius.

147. Thời điểm Tái Lâm của Ngài tùy thuộc vào sự trợ giúp, dù vô thức, của Chúa Tể chòm sao Bảo Bình.

148. The Christ will obviously need a great infusion of the will and of the energy of life and “life more abundantly” to complete what He intends.

148. Hiển nhiên Đức Christ sẽ cần một sự truyền nhập lớn lao của ý chí và của năng lượng sự sống, cũng như “sự sống dồi dào hơn”, để hoàn tất điều Ngài dự định.

it will also enable Him to take the initiation which lies immediately ahead of Him and for which He has been preparing for close upon three thousand years—so exalted and peculiar an initiation it is.

điều đó cũng sẽ giúp Ngài trải qua cuộc điểm đạo đang nằm ngay trước Ngài và cho cuộc điểm đạo ấy Ngài đã chuẩn bị gần ba nghìn năm—một cuộc điểm đạo cao cả và đặc biệt đến như vậy.

149. This initiation seems to be the seventh, yet three thousand years ago, the Christ had not even taken the sixth initiation. In any case, we are told that, as things now stand, the Great Lord has not yet completed the seventh initiation.

149. Cuộc điểm đạo này dường như là cuộc điểm đạo thứ bảy, tuy nhiên ba nghìn năm trước, Đức Christ thậm chí còn chưa trải qua lần điểm đạo thứ sáu. Dù thế nào, chúng ta được cho biết rằng, theo tình hình hiện nay, vị Chúa Tể Vĩ Đại vẫn chưa hoàn tất lần điểm đạo thứ bảy.

150. Of course when we speak of such matters we are merely using words to denote something of which we can have no real comprehension.

150. Dĩ nhiên, khi nói về những vấn đề như thế, chúng ta chỉ đang dùng ngôn từ để chỉ một điều mà chúng ta không thể có sự thấu hiểu thật sự nào.

151. DK has described the nature of the seventh initiation (but perhaps He had not yet done so when He wrote this section of text). The word “peculiar” is interesting as it seems to indicate something unique about the initiation which the Christ is preparing to take.

151. Chân sư DK đã mô tả bản chất của lần điểm đạo thứ bảy, nhưng có lẽ Ngài chưa làm như vậy khi viết phần văn bản này. Từ “đặc biệt” rất đáng chú ý vì dường như nó chỉ ra điều gì đó độc đáo về cuộc điểm đạo mà Đức Christ đang chuẩn bị trải qua.

152. A preparation period of three thousand years would indicate that preparation for it had begun when the Christ was not yet the World Teacher (which He became, so we are told, some two thousand five hundred years ago).

152. Một thời kỳ chuẩn bị kéo dài ba nghìn năm cho thấy việc chuẩn bị cho nó đã bắt đầu khi Đức Christ chưa phải là Đức Chưởng Giáo, cương vị mà Ngài đã đảm nhận, như chúng ta được cho biết, khoảng hai nghìn năm trăm năm trước.

It is this influence also which has enabled the Master R. to assume the mantle of the Mahachohan and become the Lord of Civilisation—a civilisation which will be conditioned by the rhythm of the seventh ray.

Chính ảnh hưởng này cũng đã giúp Chân sư R. khoác lấy áo choàng của Đức Mahachohan và trở thành Chúa Tể của Nền Văn minh—một nền văn minh sẽ được định hình bởi nhịp điệu của cung bảy.

153. It may simply be a coincidence that when the Master R. was Lord Francis Bacon, His horoscope was intensely conditioned by the sign Aquarius. Perhaps then He appeared as the forerunner of the Aquarian Age—certainly in relation to the knowledge aspect of that Age.

153. Có thể chỉ là một sự trùng hợp rằng khi Chân sư R. là Ngài Francis Bacon, lá số chiêm tinh của Ngài chịu tác động mạnh mẽ của dấu hiệu Bảo Bình. Có lẽ khi ấy Ngài đã xuất hiện như vị tiền phong của Kỷ Nguyên Bảo Bình, chắc chắn là trong liên hệ với phương diện tri thức của Kỷ Nguyên ấy.

154. We have been told that only recently did the Master R. assume this mantle—perhaps at the time of the Centennial Conclave of 1925.

154. Chúng ta đã được cho biết rằng chỉ mới gần đây Chân sư R. mới khoác lấy áo choàng này, có lẽ vào thời điểm Mật Nghị Bách Niên năm 1925.

155. It would not be unreasonable to think that Master R. has a very deep resonance with the energies of the sign Aquarius and that, consequently, the Door opened to Him at a time when the energies of Aquarius were increasing in potency.

155. Sẽ không phải là vô lý khi nghĩ rằng Chân sư R. có một sự cộng hưởng rất sâu với các năng lượng của dấu hiệu Bảo Bình, và do đó, Cánh Cửa đã mở ra cho Ngài vào thời điểm các năng lượng của Bảo Bình đang gia tăng quyền năng.

Incidentally, it is this Aquarian influence which has given the adepts of the Black Lodge the power to bring universal death throughout the world.

Nhân tiện, chính ảnh hưởng Bảo Bình này đã trao cho các chân sư của Hắc đoàn quyền năng đem lại cái chết phổ quát khắp thế giới.

156. The energies of Aquarius are distributive. Both good and evil energies are shared.

156. Các năng lượng của Bảo Bình có tính phân phối. Cả năng lượng thiện lẫn ác đều được chia sẻ.

157. We have seen how the adepts of the Black Lodge attempted to do this during the Great War of 1914-1945. It would seem that they are not yet satisfied with their efforts.

157. Chúng ta đã thấy các chân sư của Hắc đoàn đã cố gắng làm điều này như thế nào trong Đại Chiến từ năm 1914 đến năm 1945. Dường như họ vẫn chưa hài lòng với các nỗ lực của mình.

These evil beings have responded to the will energy of Shamballa and to the life-giving vitality, but have used it in keeping with their own evil intentions and with the power conferred by their standing upon the cosmic ladder of evil. Hence the war.

Những thực thể tà ác này đã đáp ứng với năng lượng ý chí của Shamballa và với sinh lực ban sự sống, nhưng đã sử dụng nó phù hợp với những ý định tà ác của chính họ và với quyền năng được trao bởi vị thế của họ trên chiếc thang tà ác vũ trụ. Vì thế có chiến tranh.

158. Energy, we know, is neutral. The quality of the recipient form determines the manner (good or evil) in which the energy received will be expressed.

158. Chúng ta biết rằng năng lượng là trung tính. Phẩm tính của hình tướng tiếp nhận quyết định cách thức, thiện hay ác, mà năng lượng được tiếp nhận sẽ được biểu lộ.

159. We may gather that it is possible to rise quite ‘high’ along this “ladder of evil”. We cannot speculate where the ladder ends, but end it must, as that which relates to an old program of effort cannot be allowed to supplant the present program.

159. Chúng ta có thể hiểu rằng có thể vươn lên khá “cao” dọc theo “chiếc thang tà ác” này. Chúng ta không thể suy đoán chiếc thang ấy kết thúc ở đâu, nhưng nó phải có chỗ kết thúc, vì điều liên hệ đến một chương trình nỗ lực cũ không thể được phép thay thế chương trình hiện tại.

160. The Great War took place for many reasons, but without the prompting of the Black Lodge would not have occurred in a form so severe and so threatening to the future of humanity.

160. Đại Chiến đã xảy ra vì nhiều lý do, nhưng nếu không có sự thúc đẩy của Hắc đoàn, nó đã không xảy ra dưới một hình thức nghiêm trọng và đe dọa tương lai nhân loại đến như vậy.

I only mention this as a striking example of the oft misunderstood fact that the same energy or identical force will produce results within the consciousness of a Christ or within the consciousness of anti-Christ.

Tôi chỉ đề cập điều này như một ví dụ nổi bật về sự kiện thường bị hiểu lầm rằng cùng một năng lượng hay cùng một mãnh lực giống hệt sẽ tạo ra các kết quả trong tâm thức của một Đức Christ hoặc trong tâm thức của phản-Đức Christ.

161. Here it is implied that the energy of the Black Lodge is the energy of the “anti-Christ”.

161. Ở đây hàm ý rằng năng lượng của Hắc đoàn là năng lượng của “phản-Đức Christ”.

162. Elsewhere, this idea is given a modified treatment.

162. Ở nơi khác, ý tưởng này được trình bày theo một cách được điều chỉnh.

Christ and anti-Christ are the dualities of spirituality and materialism, both in the individual and in humanity as a whole. Or you can speak of God and the Devil with the same basic implications. For what is man himself but an expression of divinity (God) in a material form (the Devil), and what is matter but the medium through which divinity must eventually manifest in all its glory? But when that takes place, matter will no longer be a controlling factor but simply a medium of expression. (EXH 137)

Đức Christ và kẻ phản Đức Christ là các nhị nguyên của tinh thần và chủ nghĩa vật chất, cả nơi cá nhân lẫn trong toàn thể nhân loại. Hoặc các bạn có thể nói về Thượng đế và Ma vương với cùng những hàm ý căn bản ấy. Vì con người tự thân là gì nếu không phải là một biểu hiện của thiên tính trong một hình tướng vật chất, và vật chất là gì nếu không phải là môi trường qua đó thiên tính cuối cùng phải biểu lộ trong tất cả vinh quang của nó? Nhưng khi điều đó diễn ra, vật chất sẽ không còn là một yếu tố kiểm soát nữa, mà chỉ đơn giản là một môi trường biểu hiện. (EXH 137)

The second ray aspirant who builds his Dweller and permits its steady and increasing control becomes a “deluder of souls”. He is the true Anti-Christ, and through false teaching and the working of so-called miracles, through hypnotism and mass suggestion he draws a veil over the world and forces men to walk in the great illusion. It is interesting to note that the work of the Devil, the imprisoner of souls, is beginning to lose its power, for the race is on the verge of understanding that true death is immersion in form, and that matter is but a part of the divine whole. The thought form of this “Dweller on the Threshold” which humanity has built for millions of years is on the verge of destruction. But the work of Anti-Christ is only rising now to its height, and the delusion of riches, of possession, of false teaching will increasingly hold sway but the term of the delusion will be shorter than the term of destruction, for all these factors function under their own cycles and have their own ebb and flow. (TWM 240)

Người chí nguyện cung hai xây dựng Kẻ Chận Ngõ của mình và cho phép nó kiểm soát ngày càng vững chắc và gia tăng thì trở thành một “kẻ lừa dối các linh hồn”. Y là kẻ Phản Đức Christ đích thực, và qua giáo huấn sai lạc cùng việc thực hiện những điều gọi là phép lạ, qua thuật thôi miên và ám thị quần chúng, y phủ một bức màn lên thế gian và buộc con người bước đi trong đại ảo tưởng. Điều đáng chú ý là công việc của Ma vương, kẻ giam cầm các linh hồn, đang bắt đầu mất quyền năng, vì nhân loại đang ở ngưỡng thấu hiểu rằng cái chết đích thực là sự chìm đắm trong hình tướng, và vật chất chỉ là một phần của toàn thể thiêng liêng. Hình tư tưởng của “Kẻ Chận Ngõ” này, mà nhân loại đã xây dựng qua hàng triệu năm, đang ở ngưỡng bị hủy diệt. Nhưng công việc của kẻ Phản Đức Christ hiện chỉ mới đang vươn đến đỉnh cao, và sự mê hoặc của giàu sang, của sở hữu, của giáo huấn sai lạc sẽ ngày càng thống trị nhưng thời hạn của sự mê hoặc sẽ ngắn hơn thời hạn của sự hủy diệt, vì tất cả các yếu tố này vận hành theo chu kỳ riêng của chúng và có sự lên xuống riêng. (TWM 240)

I should like here to give a suggestion, for it is necessary that some of the methods of the Hierarchy should begin to be understood. The work of what in the West is called “the Christ Principle” is to build the forms for the expression of quality and life. That is the characteristic work of the second aspect of divinity. The work of the Antichrist is to destroy forms, and this is essentially the work of the first expression of divinity. But the work of the destroyer is not the work of black magic, and when ignorant humanity regards Antichrist as working on the black side, their error is great. His work is as beneficent as that of the building aspect, and it is but man’s [Page 75] hatred of the death of forms which makes him regard the work of the destroyer as “black,” as being against the divine will, and as subversive of the divine programme. The work of the representatives of that mysterious power which we call cosmic evil, and their responding representatives, is indeed worthy of the word “black”; but it is not applicable to the work of Antichrist. It might be added that the work of the black forces wells up from below, whilst the work of the destroyers is impelled from above. The symbols of these two ways are the sword and the cross. (EP I 74-75)

Ở đây tôi muốn đưa ra một gợi ý, vì điều cần thiết là một vài phương pháp của Thánh Đoàn phải bắt đầu được thấu hiểu. Công việc của điều mà ở phương Tây được gọi là “Nguyên lý Đức Christ” là xây dựng các hình tướng để biểu hiện phẩm tính và sự sống. Đó là công việc đặc trưng của phương diện thứ hai của thiên tính. Công việc của kẻ Phản Đức Christ là phá hủy các hình tướng, và về bản chất đây là công việc của biểu hiện thứ nhất của thiên tính. Nhưng công việc của kẻ hủy diệt không phải là công việc của hắc thuật, và khi nhân loại vô minh xem kẻ Phản Đức Christ như đang hoạt động về phía hắc ám, sai lầm của họ rất lớn.Công việc của y cũng thiện ích như công việc của phương diện xây dựng, và chỉ vì con người [Page 75] ghét cái chết của các hình tướng nên y xem công việc của kẻ hủy diệt là “hắc ám”, là chống lại Ý Chí thiêng liêng, và là phá hoại chương trình thiêng liêng. Công việc của các đại diện cho quyền năng huyền bí mà chúng ta gọi là tà ác vũ trụ, cùng các đại diện đáp ứng của họ, quả thật xứng với từ “hắc ám”; nhưng từ đó không áp dụng cho công việc của kẻ Phản Đức Christ. Có thể nói thêm rằng công việc của các mãnh lực hắc ám trào lên từ bên dưới, trong khi công việc của những kẻ hủy diệt được thúc đẩy từ bên trên. Biểu tượng của hai con đường này là thanh gươm và thập giá. (EP I 74-75)

It is the same energy, but the forms upon which it plays differ so vastly that in one case the will-to-good is intensified, and in the others the will-to-evil. Energy per se is entirely impersonal.

Đó là cùng một năng lượng, nhưng các hình tướng mà nó tác động lên khác nhau đến mức trong một trường hợp, Ý Chí-hướng Thiện được tăng cường, còn trong các trường hợp kia là Ý Chí-hướng Ác. Năng lượng tự nó hoàn toàn phi cá nhân.

163. This is the main point and upon it all who would become spiritual occultists must ponder.

163. Đây là điểm chính yếu, và tất cả những ai muốn trở thành các nhà huyền bí học tinh thần đều phải suy ngẫm về nó.

The group, therefore, which “serves as Aquarius indicates” is the Hierarchy;

Do đó, nhóm “phụng sự như Bảo Bình chỉ thị” chính là Thánh Đoàn;

164. For disciples, the Hierarchy is to be considered the archetypal Aquarian group.

164. Đối với các đệ tử, Thánh Đoàn phải được xem là nhóm Bảo Bình nguyên mẫu.

165. When we begin to form groups which can become consciously, ashramically responsive, we too can begin to “serve as Aquarius indicates”.

165. Khi chúng ta bắt đầu thành lập các nhóm có thể trở nên đáp ứng hữu thức theo lối ashram, chúng ta cũng có thể bắt đầu “phụng sự như Bảo Bình chỉ thị”.

the group which is “speeded upon the upward Way” is the New Group of World Servers. This group is ruled by Taurus, and to it that divine Taurean energy brings “illumination and the attainment of the vision.” This group is, figuratively speaking, the “bull, rushing forward upon a straight line with its one eye fixed upon the goal and beaming light.”

nhóm được “thúc nhanh trên Con Đường đi lên” là Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Nhóm này do Kim Ngưu cai quản, và đối với nhóm ấy, năng lượng Kim Ngưu thiêng liêng đem lại “sự soi sáng và sự đạt tới tầm nhìn.” Nói theo nghĩa biểu tượng, nhóm này là “con bò, lao tới trên một đường thẳng, với một mắt cố định vào mục tiêu và tỏa chiếu ánh sáng.”

166. This phrase from the Old Commentary is magnificently descriptive of Taurus.

166. Cụm từ này từ Cổ Luận mô tả Kim Ngưu một cách tuyệt diệu.

167. We may have noted that there is much to connect the nature and dynamics of the two signs Taurus and Sagittarius. The “straight line” here given is shared by both Sagittarius and Taurus.

167. Chúng ta có thể đã nhận thấy rằng có nhiều điều liên kết bản chất và động lực của hai dấu hiệu Kim Ngưu và Nhân Mã. “Đường thẳng” được nêu ở đây là điều cả Nhân Mã lẫn Kim Ngưu cùng chia sẻ.

168. The “rush” of the Bull is characteristic of descriptions of Taurus in occultism but not so much found in more exoteric descriptions.

168. “Sự lao tới” của Con Bò là nét đặc trưng trong các mô tả về Kim Ngưu trong huyền bí học, nhưng không thấy nhiều trong các mô tả ngoại môn hơn.

169. Given the Taurean rulership of the New Group of World Servers, we can imagine that Wesak is a time of special stimulation for this group.

169. Với quyền cai quản của Kim Ngưu đối với Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, chúng ta có thể hình dung rằng Wesak là thời điểm kích thích đặc biệt đối với nhóm này.

But what is that goal? It is not the goal of Self-illumination, for that lies far behind; it is the goal of providing a centre of light within the world of men and of holding up the vision to the sons of men.

Nhưng mục tiêu ấy là gì? Đó không phải là mục tiêu của sự tự-soi sáng, vì điều ấy nằm rất xa phía sau; đó là mục tiêu cung cấp một trung tâm ánh sáng trong thế giới của con người và nâng cao tầm nhìn trước những người con của nhân loại.

170. The New Group of World Servers is a selfless group. It is filled with those who have attained some degree of illumination, individually. Its objective is the illumination of humanity.

170. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian là một nhóm vô ngã. Nhóm này gồm những người, xét theo cá nhân, đã đạt được một mức độ soi sáng nào đó. Mục tiêu của nhóm là sự soi sáng của nhân loại.

171. Let us list the two specific objectives of the New Group of World Servers:

171. Chúng ta hãy liệt kê hai mục tiêu cụ thể của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian:

a. Providing a centre of light within the world of men

a. Cung cấp một trung tâm ánh sáng trong thế giới của con người

b. Holding up the vision to the sons of men

b. Nâng cao tầm nhìn trước những người con của nhân loại

172. If we suppose that we are members of this group, we have to ask ourselves to what extent we participate in the fulfillment of these objectives.

172. Nếu chúng ta giả định rằng mình là thành viên của nhóm này, chúng ta phải tự hỏi mình tham dự vào việc hoàn thành các mục tiêu này đến mức nào.

Let this never be forgotten, and let the New Group of [Page 233] World Servers realise its mission and recognise the demands of humanity upon it.

Đừng bao giờ quên điều này, và hãy để Đoàn Người Mới [Page 233] Phụng Sự Thế Gian nhận ra sứ mệnh của mình và nhận biết những đòi hỏi của nhân loại đối với mình.

173. Three great demands are added by the group to its “application”. These demands occur in Rule II for Disciples and Initiates. It is not out of place to correlate the substance of Rule II with the sign Taurus—a sign of the Word and of demand.

173. Ba đòi hỏi lớn được nhóm thêm vào “lời thỉnh cầu” của mình. Những đòi hỏi này xuất hiện trong Quy Luật II dành cho các Đệ tử và Điểm đạo đồ. Việc tương liên nội dung của Quy Luật II với dấu hiệu Kim Ngưu—một dấu hiệu của Linh từ và của đòi hỏi—là điều thích hợp.

174. Humanity makes its demands of the New Group of World Servers and the New Group makes its demands of the Higher Powers (of Hierarchy)—demands for triadal energy which is to be applied in the lower worlds.

174. Nhân loại đặt những đòi hỏi của mình lên Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, và Đoàn Người Mới đặt những đòi hỏi của mình lên các Quyền Năng Cao Siêu của Thánh Đoàn—những đòi hỏi về năng lượng Tam nguyên tinh thần phải được áp dụng trong các cõi thấp.

175. The fact that the highest form of “aspirational idealism” is found in Taurus has a definite relation to the nature and mission of the New Group of World Servers. The New Group can hold the vision of the ideal before the eyes of men and offer humanity an impelling spiritual incentive towards spiritual unfoldment.

175. Sự kiện rằng hình thức cao nhất của “chủ nghĩa lý tưởng khát vọng” được tìm thấy trong Kim Ngưu có một liên hệ rõ rệt với bản chất và sứ mệnh của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Đoàn Người Mới có thể giữ tầm nhìn về lý tưởng trước mắt con người và đem đến cho nhân loại một động lực tinh thần thúc đẩy hướng tới sự khai mở tinh thần.

What are these demands? Let me enumerate them, and then let me ask you to take them in all simplicity and act upon them.

Những đòi hỏi này là gì? Hãy để tôi liệt kê chúng, rồi xin các bạn tiếp nhận chúng trong tất cả sự giản dị và hành động theo chúng.

176. We are examining the practical demands which humanity places upon the New Group of World Servers.

176. Chúng ta đang xem xét những đòi hỏi thực tiễn mà nhân loại đặt lên Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

1. To receive and transmit illumination from the kingdom of souls.

1. Tiếp nhận và truyền chuyển sự soi sáng từ giới của các linh hồn.

177. The New Group of World Servers is to act as a ‘Light Bearer’ and a ‘Transmitter of Light’.

177. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian phải hoạt động như một “Người Mang Ánh Sáng” và một “Người Truyền Ánh Sáng”.

2. To receive inspiration from the Hierarchy and go forth, consequently, to inspire.

2. Tiếp nhận cảm hứng từ Thánh Đoàn và do đó, đi ra để truyền cảm hứng.

178. Inspiration can be ‘passed-down’ from Hierarchy to the New Group of World Servers. Human beings are deeply in need of the inspiring life energy. It makes all things possible. The members of the New Group of World Servers can receive this in some measure, according to their capacity.

178. Cảm hứng có thể được “truyền xuống” từ Thánh Đoàn đến Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Con người đang rất cần năng lượng sự sống đầy cảm hứng. Nó làm cho mọi sự trở nên khả hữu. Các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian có thể tiếp nhận điều này ở một mức độ nào đó, tùy theo khả năng của họ.

179. When inspiration pours in, it is answered by aspiration—the desire to move on and up. Humanity, so easily attached to unrealities, needs this.

179. Khi cảm hứng tuôn vào, nó được đáp lại bằng khát vọng—ước muốn tiến tới và đi lên. Nhân loại, vốn rất dễ bám chấp vào những điều không thực, cần điều này.

3. To hold the vision of the Plan before the eyes of men, for “where there is no vision, the people perish.”

3. Giữ tầm nhìn về Thiên Cơ trước mắt con người, vì “nơi nào không có tầm nhìn, dân chúng sẽ diệt vong.”

180. Thus to hold the vision is ‘life-giving’. Humanity must be offered an incentive—a spiritual incentive, even a divine incentive—to plan life in accordance with the Divine Plan.

180. Do đó, giữ tầm nhìn là điều “ban sự sống”. Nhân loại phải được trao cho một động lực—một động lực tinh thần, thậm chí một động lực thiêng liêng—để hoạch định đời sống phù hợp với Thiên Cơ.

181. To present an inspiring vision—this is a definite requirement.

181. Trình bày một tầm nhìn truyền cảm hứng—đây là một yêu cầu rõ ràng.

4. To act as an intermediate group between the Hierarchy and humanity, receiving light and power and then using both of these, under the inspiration of love, to build the new world of tomorrow.

4. Hoạt động như một nhóm trung gian giữa Thánh Đoàn và nhân loại, tiếp nhận ánh sáng và quyền năng, rồi sử dụng cả hai điều này, dưới cảm hứng của bác ái, để xây dựng thế giới mới của ngày mai.

182. The New Group of World Servers, under Taurus, is a building group.

182. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, dưới Kim Ngưu, là một nhóm xây dựng.

183. They are to convey all three energies—Light, Love and Power—to a needy humanity. To do this, the New Group must hold its position as ‘spiritual intermediary’. It is assisted in this role by the energy of the fourth ray which also characterizes its nature and expression.

183. Họ phải truyền đạt cả ba năng lượng—Ánh sáng, Bác ái và Quyền năng—đến một nhân loại đang cần. Để làm điều này, Đoàn Người Mới phải giữ vững vị thế của mình như “trung gian tinh thần”. Trong vai trò này, nhóm được năng lượng của cung bốn trợ giúp, năng lượng này cũng đặc trưng cho bản chất và sự biểu hiện của nhóm.

184. When we think of the theme of building for the future, we see the union of the energies of both Vulcan and Uranus (the first ruling Taurus and the second, Aquarius).

184. Khi chúng ta nghĩ về chủ đề xây dựng cho tương lai, chúng ta thấy sự hợp nhất của các năng lượng của cả Vulcan và Sao Thiên Vương, vị thứ nhất cai quản Kim Ngưu và vị thứ hai cai quản Bảo Bình.

185. From the chakric perspective, it is as if the ajna center is intermediate between the throat and the heart center. It is certainly so that the ajna is intermediate between the heart in the head and the throat center.

185. Từ viễn cảnh luân xa, dường như trung tâm ajna là trung gian giữa trung tâm cổ họng và trung tâm tim. Chắc chắn ajna là trung gian giữa trái tim trong đầu và trung tâm cổ họng.

5. To toil in Pisces, illumined by Taurus and responsive in degree to the Aquarian impulse coming from the Hierarchy.

5. Lao tác trong Song Ngư, được Kim Ngưu soi sáng và đáp ứng ở một mức độ nào đó với xung lực Bảo Bình đến từ Thánh Đoàn.

186. This the synthetic role of the New Group of World Servers—the “one, two three” of their intended work.

186. Đây là vai trò tổng hợp của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian—“một, hai, ba” của công việc dự định dành cho họ.

187. They can be at least somewhat responsive to the Aquarian impulse about which so much is said and so little understood.

187. Ít nhất họ có thể đáp ứng phần nào với xung lực Bảo Bình, điều đã được nói đến rất nhiều nhưng được thấu hiểu rất ít.

188. The Aquarian Age is by now a popularized ideal. For all that, its deeper aspects are hardly understood—even by disciples.

188. Kỷ nguyên Bảo Bình đến nay đã trở thành một lý tưởng được phổ biến rộng rãi. Dẫu vậy, các phương diện sâu xa hơn của nó hầu như chưa được thấu hiểu—ngay cả bởi các đệ tử.

These objectives are not only individual objectives, but the goal for the entire group.

Những mục tiêu này không chỉ là mục tiêu cá nhân, mà còn là mục tiêu cho toàn thể nhóm.

189. We might say that the listed objectives are especially the goal for entire groups.

189. Chúng ta có thể nói rằng các mục tiêu được liệt kê là mục tiêu đặc biệt dành cho toàn thể các nhóm.

190. No wonder the disciples of the world are to look to the Wesak Festival (under Taurus) as the highpoint of inspiration for the entire spiritual year.

190. Không có gì lạ khi các đệ tử của thế gian phải hướng về Lễ hội Wesak dưới Kim Ngưu như đỉnh cao của cảm hứng cho toàn bộ năm tinh thần.

All who respond to the life-giving force of Aquarius and to the light-giving force of Taurus can and will work in the New Group of World Servers, even though they have no occult knowledge and have never heard of their co-workers under that name. Forget this not.

Tất cả những ai đáp ứng với mãnh lực ban sự sống của Bảo Bình và với mãnh lực ban ánh sáng của Kim Ngưu đều có thể và sẽ hoạt động trong Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, cho dù họ không có tri thức huyền bí và chưa từng nghe nói về các cộng sự của mình dưới danh xưng ấy. Đừng quên điều này.

191. The New Group is a subjective group. The personnel need not know each other outwardly. Membership depends upon response to subtle energy and rightful use of that energy.

191. Đoàn Người Mới là một nhóm nội tại. Các thành viên không cần biết nhau ở bên ngoài. Tư cách thành viên tùy thuộc vào sự đáp ứng với năng lượng tinh tế và việc sử dụng đúng đắn năng lượng ấy.

192. In Aquarius we have life. In Taurus we have light. In Pisces we have love. Pisces is the major second ray sign in relation to our solar system.

192. Trong Bảo Bình, chúng ta có sự sống. Trong Kim Ngưu, chúng ta có ánh sáng. Trong Song Ngư, chúng ta có bác ái. Song Ngư là dấu hiệu cung hai chủ yếu trong tương quan với hệ mặt trời của chúng ta.

193. Students of occultism tend to become exclusive as they judge who might be in the New Group and who might not. Such lack of inclusivity only reveals their limitations.

193. Các đạo sinh huyền bí học có khuynh hướng trở nên loại trừ khi họ phán đoán ai có thể ở trong Đoàn Người Mới và ai không thể. Sự thiếu tính bao gồm như thế chỉ bộc lộ những giới hạn của họ.

Recognition of the successful work of the New Group of World Servers will be accorded by the Hierarchy, and the testimony of the recognition will be the appearing of a symbol in the aura of the group—of the entire group.

Sự công nhận đối với công việc thành công của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian sẽ được Thánh Đoàn ban cho, và chứng cứ của sự công nhận ấy sẽ là sự xuất hiện của một biểu tượng trong hào quang của nhóm—của toàn thể nhóm.

194. The Higher Powers have Their signatures. A symbol is not simply a designatory sign. It is a recipient and conveyer of power.

194. Các Quyền Năng Cao Siêu có dấu ký của Các Ngài. Một biểu tượng không chỉ đơn giản là một dấu hiệu định danh. Nó là vật tiếp nhận và truyền đạt quyền năng.

195. Obviously, we are in very early days. The New Group has only been in existence some seventy-five years perhaps. Its period of real effectiveness has not yet arrived.

195. Hiển nhiên, chúng ta đang ở những ngày rất sơ khởi. Đoàn Người Mới có lẽ chỉ mới tồn tại khoảng bảy mươi lăm năm. Thời kỳ hiệu quả thực sự của nhóm vẫn chưa đến.

This will be a symbol projected by the Hierarchy, specifically by the Christ. What that symbol will be it is not for me to say. It is not yet fully earned, and only its dim and uncertain outline can be seen from the level on which the Masters work, and not at all from the level on which the group itself works.

Đây sẽ là một biểu tượng do Thánh Đoàn phóng chiếu, cụ thể là do Đức Christ. Biểu tượng ấy sẽ là gì thì không phải việc của tôi để nói. Nó chưa hoàn toàn được xứng đáng đạt tới, và chỉ đường nét mờ nhạt, bất định của nó mới có thể được thấy từ cấp độ nơi các Chân sư làm việc, chứ hoàn toàn không từ cấp độ nơi chính nhóm làm việc.

196. When the symbol is projected or appears, it will represent an empowerment of the New Group. Its purpose is not simply identificatory.

196. Khi biểu tượng được phóng chiếu hoặc xuất hiện, nó sẽ tượng trưng cho một sự ban quyền năng cho Đoàn Người Mới. Mục đích của nó không chỉ đơn giản là để định danh.

197. We do note that the symbol has been somewhat earned, though far from fully so.

197. Chúng ta quả có lưu ý rằng biểu tượng ấy đã được xứng đáng đạt tới phần nào, dù còn xa mới hoàn toàn như vậy.

198. We see that it does not appear all at once even though it is projected by the Christ and His Hierarchy. Already, its dim outlines are somewhat visible.

198. Chúng ta thấy rằng nó không xuất hiện cùng một lúc, dù nó do Đức Christ và Thánh Đoàn của Ngài phóng chiếu. Những đường nét mờ nhạt của nó đã phần nào có thể thấy được.

199. The uncertainty of its outlines will disappear as the purpose of the New Group is better expressed.

199. Sự bất định của các đường nét ấy sẽ biến mất khi mục đích của Đoàn Người Mới được biểu hiện tốt hơn.

It is “the mark of a Saviour” and it will embody the mark or indication (the signature as medieval occultists used to call it) of a new type of salvation or salvage.

Đó là “dấu ấn của một Đấng Cứu Thế” và nó sẽ thể hiện dấu ấn hay chỉ dấu, tức dấu ký như các nhà huyền bí học thời trung cổ từng gọi, của một kiểu cứu rỗi hay cứu vớt mới.

200. Humanity (and the planet) must be “saved”; of this there is no doubt. But how will it be saved? Not by old Piscean methods.

200. Nhân loại và hành tinh phải được “cứu”; về điều này không có gì phải nghi ngờ. Nhưng nhân loại sẽ được cứu như thế nào? Không phải bằng những phương pháp Song Ngư cũ.

201. One element in this newer method of salvation is ‘group salvage’—the salvaging of groups of individuals by groups.

201. Một yếu tố trong phương pháp cứu rỗi mới hơn này là “cứu vớt theo nhóm”—việc các nhóm cứu vớt những nhóm cá nhân.

202. When the symbol appears a higher aspect of the Piscean energy will be available to this Taurean group. May we say that as the Buddha and the Christ make Their cooperative mission better known to humanity, the energies of Pisces and Taurus will combine and the symbol will appear with greater certitude?

202. Khi biểu tượng xuất hiện, một phương diện cao hơn của năng lượng Song Ngư sẽ sẵn có cho nhóm Kim Ngưu này. Chúng ta có thể nói chăng rằng khi Đức Phật và Đức Christ làm cho sứ mệnh hợp tác của Các Ngài được nhân loại biết rõ hơn, các năng lượng của Song Ngư và Kim Ngưu sẽ kết hợp, và biểu tượng sẽ xuất hiện với sự chắc chắn lớn hơn?

Up till now the mark of the Saviour has been the Cross, and the quality of the salvation offered has been freedom from substance [Page 234] or the lure of matter and from its hold—a freedom only to be achieved at a great cost.

Cho đến nay, dấu ấn của Đấng Cứu Thế là Thập Giá, và phẩm tính của sự cứu rỗi được trao ban là sự tự do khỏi chất liệu [Page 234] hay sự quyến rũ của vật chất và sự kìm giữ của nó—một tự do chỉ có thể đạt được với cái giá rất lớn.

203. This story of salvation is familiar to us. It is of fundamental importance but its days are numbered, due to the incoming of new energies.

203. Câu chuyện cứu rỗi này quen thuộc với chúng ta. Nó có tầm quan trọng nền tảng, nhưng những ngày của nó đã được đếm, do sự đi vào của các năng lượng mới.

204. This mode has been characterized by the interplay of the signs Pisces and Virgo—both related to the sixth and second rays and both involving Spirit-Matter.

204. Phương thức này được đặc trưng bởi sự tương tác của các dấu hiệu Song Ngư và Xử Nữ—cả hai đều liên hệ với cung sáu và cung hai, và cả hai đều liên quan đến Tinh Thần-Vật Chất.

The future holds within its silence other modes of saving humanity. The cup of sorrow and the agony of the Cross are well-nigh finished. Joy and strength will take their place. Instead of sorrow we shall have a joy which will work out in happiness and lead eventually to bliss. We shall have a strength which will know naught but victory and will not recognise disaster.

Tương lai giữ trong sự im lặng của nó những phương thức khác để cứu nhân loại. Chiếc chén sầu khổ và nỗi thống khổ của Thập Giá gần như đã kết thúc. Sự hoan hỉ và sức mạnh sẽ thay thế chúng. Thay vì sầu khổ, chúng ta sẽ có một sự hoan hỉ biểu hiện thành hạnh phúc và cuối cùng dẫn đến chí phúc. Chúng ta sẽ có một sức mạnh không biết gì ngoài chiến thắng và sẽ không nhận biết tai họa.

205. This is a marvellous prophecy! The sequence of happiness, joy, bliss is promising in the extreme. We certainly have not even achieved happiness.

205. Đây là một lời tiên tri kỳ diệu! Chuỗi hạnh phúc, hoan hỉ, chí phúc hứa hẹn đến tột độ. Chắc chắn chúng ta thậm chí còn chưa đạt được hạnh phúc.

206. What used to be called “disaster” may come, but it will not be recognized as disaster. There will be a fundamental detachment from the phantasmagoria of glamor and illusion.

206. Điều từng được gọi là “tai họa” có thể đến, nhưng nó sẽ không được nhận biết như tai họa. Sẽ có một sự tách rời nền tảng khỏi màn ảo tượng biến hóa của ảo cảm và ảo tưởng.

207. There is a hint that the joyful individual is strong. This tells us something about how energy may be accessed through a proper state of soul-fused mind.

207. Có một gợi ý rằng cá nhân hoan hỉ là người mạnh mẽ. Điều này cho chúng ta biết điều gì đó về cách năng lượng có thể được tiếp cận thông qua một trạng thái thích hợp của thể trí được linh hồn dung hợp.

Even the Black Lodge knew of this change in the mode of salvation, and hastily founded its groups of youths, banded together by the motto “joy through strength and strength through joy.

Ngay cả Hắc đoàn cũng biết về sự thay đổi này trong phương thức cứu rỗi, và vội vã lập nên các nhóm thanh niên của mình, được kết lại với nhau bằng khẩu hiệu “hoan hỉ qua sức mạnh và sức mạnh qua hoan hỉ.

208. A likely counterfeit and almost effective! It is being repeated today in a major country which has again turned towards non-democratic ways. The “youth” can be moulded to suit the objective of persuasive demagogues.

208. Một sự giả mạo có vẻ đúng và gần như hiệu quả! Điều này đang được lặp lại ngày nay tại một quốc gia lớn, nơi một lần nữa đã quay về những phương cách phi dân chủ. “Thanh niên” có thể được nắn đúc cho phù hợp với mục tiêu của những kẻ mị dân đầy sức thuyết phục.

209. This powerful motto utilized by the Black Lodge will only work towards the good if ego is conquered. However, the entire Black Lodge attack preceding and during the Second World War was based precisely on egoism and it’s still more dangerous equivalent, nationalism fueled by another kind of egoism, racism.

209. Khẩu hiệu mạnh mẽ này do Hắc đoàn sử dụng sẽ chỉ tác động hướng đến điều thiện nếu phàm ngã được chinh phục. Tuy nhiên, toàn bộ cuộc tấn công của Hắc đoàn trước và trong Thế chiến thứ hai đã đặt nền chính xác trên chủ nghĩa vị ngã và tương đương còn nguy hiểm hơn của nó, chủ nghĩa dân tộc được tiếp nhiên liệu bởi một loại chủ nghĩa vị ngã khác, chủ nghĩa chủng tộc.

It seems to be a law for group development to receive recognition from the side of evil, prior to that recognition coming from the good.

Dường như đó là một định luật cho sự phát triển nhóm: nhận được sự công nhận từ phía tà ác trước khi sự công nhận ấy đến từ phía thiện.

210. Is it a law or is it simply human ignorance which decides the trend?

210. Có phải đó là một định luật, hay chỉ đơn giản là sự vô minh của con người quyết định khuynh hướng ấy?

211. Those who respond to the Black Lodge are often upon the hard line rays—especially the first ray, upon which the majority of Black Lodge Masters can be found.

211. Những ai đáp ứng với Hắc đoàn thường thuộc các cung đường lối cứng rắn—đặc biệt là cung một, nơi có thể tìm thấy đa số các Chân sư của Hắc đoàn.

212. Those who respond to the White Lodge are more conditioned by the second ray which is slower to act.

212. Những ai đáp ứng với Chánh đoàn chịu ảnh hưởng nhiều hơn bởi cung hai, vốn tác động chậm hơn.

But “after weeping cometh joy, and that joy cometh in the morning.” Only the dawn is with us as yet—the dawn of the Aquarian Age. The full tide of light is inevitably moving upon its way towards us.

Nhưng “sau nước mắt là sự hoan hỉ, và sự hoan hỉ ấy đến vào buổi sáng.” Cho đến nay, chúng ta mới chỉ đang ở trong bình minh—bình minh của Kỷ Nguyên Bảo Bình. Triều lưu ánh sáng trọn vẹn đang tất yếu tiến về phía chúng ta.

213. We are still experiencing the dawn. Sunrise will occur (from the technical astronomical point of view) in the year 2117 (according to a letter from Master DK to His chela, Roberto Assagioli.

213. Chúng ta vẫn đang trải nghiệm bình minh. Mặt trời mọc sẽ xảy ra, theo quan điểm thiên văn kỹ thuật, vào năm 2117, theo một bức thư của Chân sư DK gửi đệ tử của Ngài, Roberto Assagioli.

214. This mantram is one of great heartening—”after weeping cometh joy, and that joy cometh in the morning.” It tells us something about the “Dark Night of the Soul” and its expected aftermath.

214. Mantram này là một mantram đem lại sự khích lệ lớn lao—“sau nước mắt là sự hoan hỉ, và sự hoan hỉ ấy đến vào buổi sáng.” Nó cho chúng ta biết điều gì đó về “Đêm Tối của Linh Hồn” và hậu quả được mong đợi của nó.

Part III of V

Phần III trong V

R&I (234-240)

Cung và Điểm Đạo (234-240)

(All Highlighting, Bolding and Underlining—MDR)

(Mọi phần tô sáng, in đậm và gạch dưới—MDR)

Please read this Commentary with your book open or with reference to an electronic copy of the text. This will facilitate an appreciation of continuity.

Vui lòng đọc phần Bình giảng này với sách mở sẵn, hoặc tham chiếu đến một bản điện tử của văn bản. Điều này sẽ giúp bạn cảm nhận được tính liên tục.

This Rule tells us that “the group toils in Pisces.” This simply means that the field wherein the New Group of World Servers works is that of mankind, conditioned and ruled for the past two thousand years by Piscean energy.

Quy luật này cho chúng ta biết rằng “nhóm lao tác trong Song Ngư.” Điều này chỉ đơn giản có nghĩa là lĩnh vực trong đó Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian hoạt động là lĩnh vực của nhân loại, vốn trong hai nghìn năm qua đã chịu ảnh hưởng và bị cai quản bởi năng lượng Song Ngư.

1. Presently, humanity is Pisces. We can see that every effort to change Piscean attitudes to those which are more in line with the energy of Aquarius is an aspect of the great and necessary labor.

1. Hiện nay, nhân loại Song Ngư. Chúng ta có thể thấy rằng mọi nỗ lực nhằm chuyển đổi các thái độ Song Ngư sang những thái độ phù hợp hơn với năng lượng Bảo Bình đều là một phương diện của lao tác lớn lao và cần thiết.

2. Obviously, it is a great labor, a toilsome labor. The Members of Hierarchy are ‘great spiritual toilers’. If one is afraid of hard work, one should turn from the Path of Occultism and choose a less arduous Way.

2. Hiển nhiên, đó là một lao tác lớn lao, một lao tác nhọc nhằn. Các Thành viên của Thánh Đoàn là “những người lao tác tinh thần vĩ đại”. Nếu một người sợ lao động gian khó, y nên rời khỏi Con Đường Huyền Bí Học và chọn một Con Đường ít gian nan hơn.

This is, as you know, the energy which produces mediation and which develops sensitivity in the individual. The work accomplished by and through this energy is so successfully accomplished that it has produced a mediating group of servers; this group acts as an intermediary between the Hierarchy and Humanity, and it has also developed the sensitive response of humanity to contacts, and to such a degree of sensitivity that the response to be accorded to the activities of the New Group of World Servers is very real and cannot be negated.

Như các bạn biết, đây là năng lượng tạo ra sự trung gian và phát triển tính nhạy bén nơi cá nhân. Công việc được hoàn thành bởi và thông qua năng lượng này đã thành tựu đến mức nó đã tạo ra một nhóm phụng sự mang tính trung gian; nhóm này hoạt động như một trung gian giữa Thánh Đoàn và Nhân Loại, đồng thời cũng đã phát triển đáp ứng nhạy bén của nhân loại đối với các tiếp xúc, và đến một mức độ nhạy bén khiến đáp ứng dành cho các hoạt động của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian là rất thực và không thể phủ nhận.

3. We see the good effects of the Piscean energy through two of its qualities— “meditation” and “sensitivity”. While the Pisces energy has left many residual states which must be purified and reconditioned, it has also done much good.

3. Chúng ta thấy các hiệu quả tốt đẹp của năng lượng Song Ngư qua hai phẩm tính của nó—“tham thiền” và “tính nhạy bén”. Dù năng lượng Song Ngư đã để lại nhiều trạng thái tồn dư cần được thanh lọc và tái định hình, nó cũng đã làm được nhiều điều tốt lành.

4. The New Group of World Servers is a mediating group. In this respect the possibility of its appearance was prepared by the energy of mediation characteristic of Pisces.

4. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian là một nhóm trung gian. Theo phương diện này, khả năng xuất hiện của nhóm đã được chuẩn bị bởi năng lượng trung gian đặc trưng của Song Ngư.

5. Humanity has been rendered more sensitive. This is of value. Now humanity can respond sensitively to this emerging, mediating group.

5. Nhân loại đã trở nên nhạy bén hơn. Điều này có giá trị. Giờ đây, nhân loại có thể đáp ứng một cách nhạy bén với nhóm trung gian đang xuất hiện này.

6. DK tells us that humanity is now so sensitive that it must respond to the New Group of World Servers.

6. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng nhân loại hiện nay nhạy bén đến mức y phải đáp ứng với Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

7. Each sign of the zodiac conditioning a precessional Age has an objective. It appears that the objective of the great Lord of the Constellation Pisces has been achieved. As for the negative residuals, the energy of the impending sign will correct them.

7. Mỗi dấu hiệu hoàng đạo tác động lên một Kỷ Nguyên tuế sai đều có một mục tiêu. Dường như mục tiêu của vị Chúa Tể vĩ đại của Chòm Sao Song Ngư đã được hoàn thành. Còn đối với các tồn dư tiêu cực, năng lượng của dấu hiệu sắp đến sẽ điều chỉnh chúng.

It should be remembered that the Piscean energy with which the group has to work is opposed to the incoming energies from the Hierarchy and the New Group of World Servers.

Cần nhớ rằng năng lượng Song Ngư mà nhóm phải làm việc với đang đối nghịch với các năng lượng đang đi vào từ Thánh Đoàn và Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

8. We have an unavoidable clash of energies. This may be translating itself into what has been called a “clash of civilizations”. This is a clash between those civilizations, cultures and nationalities which continue to allow themselves to be conditioned by the Piscean energy and those which seek the conditioning of the Aquarian energies.

8. Chúng ta có một sự va chạm năng lượng không thể tránh khỏi. Điều này có thể đang tự biểu hiện thành điều đã được gọi là “sự va chạm giữa các nền văn minh”. Đây là sự va chạm giữa những nền văn minh, văn hóa và quốc gia tiếp tục để mình chịu ảnh hưởng của năng lượng Song Ngư, và những nền văn minh, văn hóa, quốc gia tìm kiếm sự tác động của các năng lượng Bảo Bình.

This is owing to the fact that the energy of this constellation is passing out concurrently with the sixth ray energy, with which it peculiarly “coincided,” as it is esoterically [Page 235] called. Hence the present difficulties.

Điều này là do năng lượng của chòm sao này đang rút lui đồng thời với năng lượng cung sáu, mà nó đã “trùng hợp” một cách đặc biệt, như người ta gọi một cách huyền bí [Trang 235]. Do đó có những khó khăn hiện nay.

9. This is an important idea. It is not that every time that Pisces rules a precessional Age the sixth ray must accompany it. This time, it was the case. Nor is it so that when Aquarius governs a precessional Age the seventh ray must necessarily accompany it. It is simply so for this cycle.

9. Đây là một ý tưởng quan trọng. Không phải mỗi khi Song Ngư cai quản một Kỷ Nguyên tuế sai thì cung sáu nhất thiết phải đi kèm với nó. Lần này thì đúng là như vậy. Cũng không phải khi Bảo Bình cai quản một Kỷ Nguyên tuế sai thì cung bảy nhất thiết phải đi kèm với nó. Điều này chỉ đúng cho chu kỳ này.

10. We have a double battle on our hands—one between Aquarius and Pisces and the other between the seventh ray and the sixth.

10. Chúng ta đang có một cuộc chiến kép trong tay—một cuộc giữa Bảo Bình và Song Ngư, và cuộc kia giữa cung bảy và cung sáu.

The passing out of the influence of Pisces, the slow withdrawal of the sixth ray force, the incoming Aquarian energy, via the Hierarchy (affecting at this time mainly the Hierarchy itself and the mental and astral planes) are conditions to which we must look for the origin of all our present troubles.

Sự rút lui của ảnh hưởng Song Ngư, sự rút lui chậm chạp của mãnh lực cung sáu, năng lượng Bảo Bình đang đi vào qua Thánh Đoàn, hiện nay chủ yếu tác động đến chính Thánh Đoàn và đến cõi trí cùng cõi cảm dục, là những điều kiện mà chúng ta phải tìm nơi đó nguồn gốc của mọi rắc rối hiện tại của mình.

11. We note that Aquarian energy affects mainly the mental and astral planes. Aquarius is a highly mental sign related to the “universal mind”. It also has its emotional implications as the wave form of its glyph illustrates. Aquarius is naturally related to the element “water” and thus, to the astral plane.

11. Chúng ta lưu ý rằng năng lượng Bảo Bình chủ yếu tác động đến cõi trí và cõi cảm dục. Bảo Bình là một dấu hiệu có tính trí tuệ cao, liên hệ với “Vũ Trụ Trí”. Nó cũng có những hàm ý cảm xúc, như hình dạng sóng trong biểu tượng của nó minh họa. Bảo Bình tự nhiên liên hệ với nguyên tố “nước” và do đó với cõi cảm dục.

12. Eventually it will have a very powerful physical effect, since Aquarius is the ruler of the lowest and most material of the seven manifested Creative Hierarchies.

12. Cuối cùng, nó sẽ có một hiệu quả hồng trần rất mạnh mẽ, vì Bảo Bình là chủ tinh của Huyền Giai Sáng Tạo thấp nhất và vật chất nhất trong bảy Huyền Giai Sáng Tạo đã biểu hiện.

13. How slow is the withdrawal of the sixth ray force? It appears to have begun in the seventeenth century and will not be completed until after the Age of Aquarius has technically begun with the alignment of the vernal equinox with the constellation Aquarius.

13. Sự rút lui của mãnh lực cung sáu chậm đến mức nào? Dường như nó đã bắt đầu vào thế kỷ mười bảy và sẽ không hoàn tất cho đến sau khi Kỷ Nguyên Bảo Bình đã bắt đầu về mặt kỹ thuật, với sự chỉnh hợp của xuân phân với chòm sao Bảo Bình.

14. Ray cycles vary in duration and so do periods of ‘in-coming’ and withdrawal. From a larger perspective, the sixth ray has thousands of years remaining in its major cycle—perhaps 21,000 years. (cf. EP I 190)

14. Các chu kỳ cung khác nhau về thời lượng, và các thời kỳ “đi vào” cũng như rút lui cũng vậy. Từ một viễn cảnh rộng lớn hơn, cung sáu còn hàng nghìn năm trong chu kỳ chính của nó—có lẽ 21.000 năm. (xem Tâm Lý Học Nội Môn I, 190)

15. We can gather that troubles on Earth are reflective of heavenly processes. The high and low are directly interconnected.

15. Chúng ta có thể hiểu rằng những rắc rối trên Trái Đất là sự phản ánh của các tiến trình thiên giới. Cái cao và cái thấp liên kết trực tiếp với nhau.

16. It is important to realize that the incoming energy of Aquarius affects primarily Hierarchy itself and humanity only secondarily. Since aspirants and disciples are technically included with the circle of Hierarchy, they too are strongly affected.

16. Điều quan trọng là nhận ra rằng năng lượng Bảo Bình đang đi vào chủ yếu tác động đến chính Thánh Đoàn, và chỉ tác động đến nhân loại theo nghĩa thứ yếu. Vì người chí nguyện và đệ tử, về mặt kỹ thuật, được bao gồm trong vòng tròn của Thánh Đoàn, nên họ cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ.

In this involved situation, you have a planetary demonstration of the significance of inner causes, producing outer effects.

Trong tình huống phức tạp này, các bạn có một minh chứng hành tinh về thâm nghĩa của các nguyên nhân bên trong tạo ra các hiệu quả bên ngoài.

17. The Aquarian energy is likened to an inner cause. The planetary “trouble” is an outer effect.

17. Năng lượng Bảo Bình được ví như một nguyên nhân bên trong. “Rắc rối” hành tinh là một hiệu quả bên ngoài.

18. The occultist always looks for causes and is never satisfied merely with the registration of effects.

18. Nhà huyền bí học luôn tìm kiếm các nguyên nhân và không bao giờ chỉ hài lòng với việc ghi nhận các hiệu quả.

19. From one perspective, the World of Meaning is the world of the soul. From a higher perspective, the World of Causes finds its focus on the highest levels of Shamballa.

19. Từ một viễn cảnh, Thế giới của ý nghĩa là thế giới của linh hồn. Từ một viễn cảnh cao hơn, Thế Giới của Nguyên Nhân tìm thấy tiêu điểm của nó trên các cấp độ cao nhất của Shamballa.

Slowly, however, the Hierarchy is beginning to implement both the Shamballa energy and that of Aquarius;

Tuy nhiên, chậm rãi, Thánh Đoàn đang bắt đầu thực thi cả năng lượng Shamballa lẫn năng lượng Bảo Bình;

20. These two energies are distinct. The Aquarian energy is, however, the much greater. The Aquarian energy helps Shamballa with the implementation of the will.

20. Hai năng lượng này là khác biệt. Tuy nhiên, năng lượng Bảo Bình lớn lao hơn nhiều. Năng lượng Bảo Bình trợ giúp Shamballa trong việc thực thi ý chí.

the Masters Themselves have to learn how to use new incoming energies in the service of the Plan, just as the individual has to learn, in any particular incarnation, to work with and use the available astrological forces which make their impact upon one or other of his bodies or upon his entire personality;

chính các Chân sư cũng phải học cách sử dụng những năng lượng mới đang đi vào để phụng sự Thiên Cơ, cũng như cá nhân phải học, trong bất kỳ kiếp lâm phàm cụ thể nào, cách làm việc với và sử dụng các mãnh lực chiêm tinh sẵn có vốn tác động lên một trong các thể của y, hoặc lên toàn bộ phàm ngã của y;

21. The Masters, however, think in planetary, systemic and cosmic terms. The individual thinks largely in terms of the planetary adaptations of systemic and cosmic energies. Probably, he does not go even that far in his thinking.

21. Tuy nhiên, các Chân sư suy nghĩ theo các thuật ngữ hành tinh, hệ thống và vũ trụ. Cá nhân phần lớn suy nghĩ theo các thích nghi hành tinh của các năng lượng hệ thống và vũ trụ. Có lẽ y thậm chí cũng không đi xa đến mức ấy trong tư tưởng của mình.

22. Just as the individual has to adapt to a new set of energies—new for the particular incarnation in which he finds himself, so the Masters have to adapt to energies newly release by a ‘change of Age’. It is a learning process for both.

22. Cũng như cá nhân phải thích nghi với một tập hợp năng lượng mới—mới đối với kiếp lâm phàm cụ thể mà y đang ở trong đó—các Chân sư cũng phải thích nghi với những năng lượng mới được giải phóng bởi một “sự đổi Kỷ Nguyên”. Đó là một tiến trình học hỏi cho cả hai.

such energies, as you well know, can be turned to good uses or to bad. It is not possible for the Masters to turn energy to evil ends, but They necessarily have to master new techniques and the new methods of work called for by the new conditions;

như các bạn biết rõ, những năng lượng như thế có thể được chuyển sang các cách sử dụng tốt hoặc xấu. Các Chân sư không thể chuyển năng lượng sang những mục đích tà ác, nhưng tất yếu Các Ngài phải làm chủ những kỹ thuật mới và những phương pháp làm việc mới mà các điều kiện mới đòi hỏi;

23. What is being said is that even Masters can, over time, improve their skill-in-action in the handling of cosmic and systemic astrological and rayological energies.

23. Điều đang được nói là ngay cả các Chân sư, theo thời gian, cũng có thể cải thiện kỹ năng trong hành động của Các Ngài khi xử lý các năng lượng chiêm tinh vũ trụ, hệ thống và cung học.

24. The point is that the Masters are faced with “new conditions” and have to learn how best to deal with them.

24. Điểm chính là các Chân sư đang đối diện với “những điều kiện mới” và phải học cách tốt nhất để xử lý chúng.

25. As they learn, humanity is affected positively.

25. Khi Các Ngài học hỏi, nhân loại được ảnh hưởng một cách tích cực.

these can either affect the Hierarchy itself or will produce reactions in the fourth kingdom and in the other kingdoms, producing rapidly changing orientation and attitudes.

những điều này có thể hoặc tác động đến chính Thánh Đoàn, hoặc sẽ tạo ra các phản ứng trong giới thứ tư và trong các giới khác, tạo nên sự thay đổi nhanh chóng về định hướng và thái độ.

26. Both humanity and Hierarchy are rapidly adapting to unavoidable new conditions brought about the impact of a new set of energies.

26. Cả nhân loại lẫn Thánh Đoàn đều đang nhanh chóng thích nghi với những điều kiện mới không thể tránh khỏi, do tác động của một tập hợp năng lượng mới đem lại.

These forces and energies—from the zodiac or from one or other of the seven rays—have poured into and through our planetary Life for countless aeons.

Những mãnh lực và năng lượng này—từ hoàng đạo hoặc từ một trong bảy cung—đã tuôn vào và xuyên qua Sự Sống hành tinh của chúng ta trong vô số thời đại.

27. The combinations of these energies, however, change as do the personnel within the Hierarchy.

27. Tuy nhiên, các tổ hợp của những năng lượng này thay đổi, cũng như nhân sự trong Thánh Đoàn thay đổi.

Each time that they cyclically make their appearance, the forms and substance in the three worlds upon which they impinge and through which they pass are different in the degree of evolutionary response and of sensitive reaction to impact.

Mỗi lần chúng xuất hiện theo chu kỳ, các hình tướng và chất liệu trong ba cõi thấp mà chúng tác động lên và đi xuyên qua đều khác nhau về mức độ đáp ứng thăng thượng tiến hoá và phản ứng nhạy bén trước tác động.

28. The cosmic and systemic energies impinging upon the planet may not change all that much (though their combinations may). It is the forms to be found upon the planet that change, for the intervals between the appearances of the same combinations of heavenly energies may be lengthy and evolution will have done its necessary work in relation to those forms.

28. Các năng lượng vũ trụ và hệ thống tác động lên hành tinh có thể không thay đổi quá nhiều, dù các tổ hợp của chúng có thể thay đổi. Chính các hình tướng được tìm thấy trên hành tinh mới thay đổi, vì khoảng cách giữa những lần xuất hiện của cùng các tổ hợp năng lượng thiên giới có thể rất dài, và sự tiến hoá sẽ đã thực hiện công việc cần thiết của nó liên quan đến các hình tướng ấy.

29. Lemurian man receiving the same general impacts as Aryan man would respond very differently.

29. Con người Lemuria nhận cùng những tác động tổng quát như con người Arya sẽ đáp ứng rất khác.

The response and the reactions of the human family as a whole, or of the individual within that whole, will differ from that of the previous cycle; with these factors the Hierarchy has to contend, changing cyclically its technique and altering its modes of work in order to meet the changing need.

Đáp ứng và các phản ứng của toàn thể gia đình nhân loại, hoặc của cá nhân trong toàn thể ấy, sẽ khác với chu kỳ trước; Thánh Đoàn phải đối diện với những yếu tố này, thay đổi kỹ thuật của mình theo chu kỳđiều chỉnh các phương thức làm việc của mình để đáp ứng nhu cầu đang thay đổi.

30. Therefore, the Hierarchy must assess as exactly as possible the present condition of humanity and the planet. This is why periods of study and evaluation (during which the Hierarchy studies and evaluates the condition of humanity and the planet) are necessary from time to time.

30. Do đó, Thánh Đoàn phải đánh giá càng chính xác càng tốt tình trạng hiện tại của nhân loại và hành tinh. Đây là lý do vì sao thỉnh thoảng cần có những thời kỳ nghiên cứu và đánh giá, trong đó Thánh Đoàn nghiên cứu và đánh giá tình trạng của nhân loại và hành tinh.

31. We can see that the energy of acute intelligence is certainly needed by members of the Hierarchy as They seek to serve humanity and the planet in general.

31. Chúng ta có thể thấy rằng năng lượng của trí tuệ sắc bén chắc chắn cần thiết cho các thành viên của Thánh Đoàn khi Các Ngài tìm cách phụng sự nhân loại và hành tinh nói chung.

Bear this in mind. This has never been more evident to the Masters than today.

Hãy ghi nhớ điều này. Điều này chưa bao giờ hiển nhiên đối với các Chân sư hơn ngày nay.

32. There has always been a degree of changing need, but never more so than today.

32. Luôn luôn đã có một mức độ nhu cầu thay đổi, nhưng chưa bao giờ nhiều như ngày nay.

33. We often forget the high degree of intelligent adaptability required of the Masters of the Wisdom.

33. Chúng ta thường quên mức độ thích nghi thông minh cao mà các Chân sư Minh Triết cần có.

The war might be regarded as a revolt by the form side of nature against the old conditions, and [Page 236] against the new incoming conditioning factors on the part of the Black Lodge.

Cuộc chiến có thể được xem như một cuộc nổi dậy của phía hình tướng trong thiên nhiên chống lại các điều kiện cũ, và [Trang 236] chống lại các yếu tố tác động mới đang đi vào từ phía Hắc đoàn.

34. We are given two kinds of revolt as the cause of the Great War:

34. Chúng ta được cho biết hai loại nổi dậy là nguyên nhân của Đại Chiến:

a. The form side (sensing new possibilities?) revolted against the old conditions.

a. Phía hình tướng, có lẽ cảm nhận những khả năng mới, đã nổi dậy chống lại các điều kiện cũ.

b. The Black Lodge (seeking to preserve its ancient prerogatives) revolted against the new incoming conditioning factors.

b. Hắc đoàn, tìm cách bảo tồn các đặc quyền cổ xưa của mình, đã nổi dậy chống lại các yếu tố tác động mới đang đi vào.

Between the two forces—one sensitive, onward moving, ready for that which is new and better, and the other reactionary, static and determined to gain a strangle[7] hold upon the life within the form—the Hierarchy stands at the midway point:

Giữa hai mãnh lực—một bên nhạy bén, tiến tới, sẵn sàng cho điều mới mẻ và tốt đẹp hơn, và bên kia phản động, tĩnh tại và quyết tâm giành lấy một sự kìm siết nghẹt thở đối với sự sống bên trong hình tướng—Thánh Đoàn đứng ở Điểm ở giữa:

35. The term “strangle hold” suggests the signs Taurus and Scorpio, both of which are fourth ray signs and both of which were prominent in the horoscopes of those engaged negatively in the struggle. All the Axis Powers had as one of their major energies, the fourth ray!

35. Thuật ngữ “sự kìm siết nghẹt thở” gợi đến các dấu hiệu Kim Ngưu và Hổ Cáp, cả hai đều là các dấu hiệu cung bốn và cả hai đều nổi bật trong các lá số chiêm tinh của những người tham gia một cách tiêu cực vào cuộc đấu tranh. Tất cả các Cường quốc Trục đều có cung bốn là một trong các năng lượng chính của họ!

36. We can gather that in the war, the Hierarchy served as a mediating energy and also as a “Great Defending Wall” protecting progressive, sensitive life from the reactionary forces.

36. Chúng ta có thể hiểu rằng trong chiến tranh, Thánh Đoàn đã phụng sự như một năng lượng trung gian và cũng như một “Bức Tường Phòng Vệ Vĩ Đại”, bảo vệ sự sống tiến bộ, nhạy bén khỏi các mãnh lực phản động.

37. We can see that the inevitable karmic result for such reactionary forces will be their own retardation. Those who seek to retard others become retarded. Those who promote the progress of others find their own progress promoted. Such is the Good Law.

37. Chúng ta có thể thấy rằng kết quả nghiệp quả tất yếu đối với những mãnh lực phản động như thế sẽ là chính sự trì trệ của chúng. Những ai tìm cách làm chậm trễ người khác sẽ trở nên chậm trễ. Những ai thúc đẩy sự tiến bộ của người khác sẽ thấy sự tiến bộ của chính mình được thúc đẩy. Đó là Định Luật Thiện Lành.

a. Throwing all its weight on the side of that which is new, spiritual and desirable.

a. Dồn toàn bộ trọng lượng của mình về phía những gì mới mẻ, tinh thần và đáng mong muốn.

38. We have become aware that the Hierarchy took sides and threw all its weight upon the side of the Allies in WWII.

38. Chúng ta đã nhận biết rằng Thánh Đoàn đã chọn phe và dồn toàn bộ trọng lượng của mình về phía Đồng Minh trong Thế Chiến II.

39. Probably They took sides in WWI as well. This may be indicated by the fact that the Solar Logos almost intervened in the third year of that war. What that intervention might have been, it is almost impossible to imagine, but obviously there was some threat to the planet and its place in the solar systemic Plan.

39. Có lẽ Các Ngài cũng đã chọn phe trong Thế Chiến I. Điều này có thể được chỉ ra bởi sự kiện rằng Thái dương Thượng đế gần như đã can thiệp vào năm thứ ba của cuộc chiến ấy. Sự can thiệp đó có thể đã là gì thì hầu như không thể tưởng tượng, nhưng hiển nhiên đã có một mối đe dọa nào đó đối với hành tinh và vị trí của nó trong Thiên Cơ hệ thống thái dương.

b. Adapting itself simultaneously to new conditions and new emerging factors.

b. Đồng thời thích nghi với các điều kiện mới và các yếu tố mới đang xuất hiện.

40. The Hierarchy is characterized by adaptive intelligence. A Master of the Wisdom is called an “Adept”.

40. Thánh Đoàn được đặc trưng bởi trí tuệ thích nghi. Một Chân sư Minh Triết được gọi là một “Chân sư”.

c. Standing like a wall of steel, unshatterable and immovable between humanity and the forces of evil.

c. Đứng như một bức tường thép, không thể phá vỡ và bất lay chuyển giữa nhân loại và các mãnh lực tà ác.

41. This presents the image of Hierarchy as the “Great Defending Wall”.

41. Điều này trình bày hình ảnh Thánh Đoàn như “Bức Tường Phòng Vệ Vĩ Đại”.

42. How did Hierarchy do this? Is it not allowed to compel anyone, yet there is no doubt that it worked powerfully to protect humanity from dire consequences. Perhaps as we move more deeply into the Ashram we shall realize the methods.

42. Thánh Đoàn đã làm điều này như thế nào? Không phải Thánh Đoàn không được phép cưỡng ép bất cứ ai sao, thế nhưng không nghi ngờ gì rằng Thánh Đoàn đã hoạt động mạnh mẽ để bảo vệ nhân loại khỏi những hậu quả thảm khốc. Có lẽ khi chúng ta tiến sâu hơn vào Ashram, chúng ta sẽ nhận ra các phương pháp ấy.

This has been an epoch of crisis, and the great moment for which the Hierarchy has been preparing ever since it was founded upon the Earth.

Đây đã là một thời kỳ khủng hoảng, và là thời khắc vĩ đại mà Thánh Đoàn đã chuẩn bị cho nó kể từ khi được thành lập trên Trái Đất.

43. We have an extraordinary statement. Our era and the crises of the Great War have been the “great moment for which the Hierarchy has been preparing ever since it was founded upon the Earth”.

43. Chúng ta có một phát biểu phi thường. Thời đại của chúng ta và các cuộc khủng hoảng của Đại Chiến đã là “thời khắc vĩ đại mà Thánh Đoàn đã chuẩn bị cho nó kể từ khi được thành lập trên Trái Đất”.

44. An “epoch of crisis”—what is the duration of such an epoch? A century? A millennium? In any case, a small unit of time when compared to the millions of years during which humanity has lived (as humanity) on this planet.

44. Một “thời kỳ khủng hoảng”—thời lượng của một thời kỳ như thế là bao lâu? Một thế kỷ? Một thiên niên kỷ? Dù sao đi nữa, đó là một đơn vị thời gian nhỏ khi so với hàng triệu năm mà nhân loại đã sống, với tư cách là nhân loại, trên hành tinh này.

Slowly down the ages, men have been trained and prepared for initiation; they have been taught to develop the initiate-consciousness; they have taken then their place within the ranks of the Hierarchy and have—later—passed into the higher centre, Shamballa.

Chậm rãi qua các thời đại, con người đã được huấn luyện và chuẩn bị cho điểm đạo; họ đã được dạy phát triển tâm thức điểm đạo đồ; rồi họ đã đảm nhận vị trí của mình trong hàng ngũ Thánh Đoàn và về sau đã đi vào trung tâm cao hơn, Shamballa.

45. This is the story of the development of initiates—one by one, usually, and not in group formation.

45. Đây là câu chuyện về sự phát triển của các điểm đạo đồ—thường là từng người một, chứ không phải theo đội hình nhóm.

46. On our planet, men have not only passed into Hierarchy but into Shamballa. Hercules, we are told, was one such. The Buddha was another.

46. Trên hành tinh của chúng ta, con người không chỉ đi vào Thánh Đoàn mà còn đi vào Shamballa. Chúng ta được cho biết Hercules là một trường hợp như thế. Đức Phật là một trường hợp khác.

Paralleling this line of unfoldment of the individual, there has also been a great though slow expansion of the human consciousness and a gradual steady progress forward into light.

Song song với đường lối khai mở này của cá nhân, cũng đã có một sự mở rộng lớn lao dù chậm chạp của tâm thức nhân loại và một tiến bộ đều đặn, dần dần hướng tới ánh sáng.

47. The evolution of humanity has been steady—at times retarded—but overall, the trend has been upwards through the evolving root races.

47. Sự tiến hoá của nhân loại đã diễn ra đều đặn—đôi khi bị làm chậm lại—nhưng nhìn chung, khuynh hướng là đi lên qua các giống dân gốc đang tiến hoá.

It has now become possible to create the New Group of World Servers—men and women sensitive to the inner and newer vision and to the incoming forces and energies.

Giờ đây đã có thể tạo ra Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian—những người nam và nữ nhạy bén với tầm nhìn bên trong và mới mẻ hơn, cũng như với các mãnh lực và năng lượng đang đi vào.

48. The New Group of World Servers is being created from humanity itself. This signals the success of the human evolutionary process.

48. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đang được tạo ra từ chính nhân loại. Điều này báo hiệu sự thành công của tiến trình thăng thượng tiến hoá của nhân loại.

Each group, therefore, whether it is the Hierarchy, the New Group of World Servers, or mankind itself, is wrestling with its own interior problems of response, of recognition and of responsibility; each also is actuated by an outgoing movement in two directions:

Do đó, mỗi nhóm, dù là Thánh Đoàn, Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, hay chính nhân loại, đều đang vật lộn với những vấn đề nội tại của chính mình về đáp ứng, về nhận biết và về trách nhiệm; mỗi nhóm cũng được thúc đẩy bởi một chuyển động hướng ra ngoài theo hai hướng:

49. Every group is faced with its challenges.

49. Mỗi nhóm đều đối diện với những thách thức của mình.

50. The problems are described as those of response, recognition and responsibility. Each of us can give his own interpretation to these words in relation to Hierarchy, the New Group of World Servers or average humanity.

50. Các vấn đề được mô tả là những vấn đề về đáp ứng, nhận biết và trách nhiệm. Mỗi người trong chúng ta có thể đưa ra diễn giải riêng của mình về những từ này trong tương quan với Thánh Đoàn, Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian hay nhân loại bình thường.

towards that which is higher and which indicates a better and more spiritual future, with all that that implies, and also towards that which is rooted in and related to the past, which is crystallising, reactionary, blind in its selfishness and materiality, and which is implemented to retain the old things which should pass away and to fight that which is new.

hướng về điều cao hơn và chỉ ra một tương lai tốt đẹp hơn, tinh thần hơn, cùng tất cả những gì điều đó hàm ý, và cũng hướng về điều bắt rễ trong quá khứ và liên hệ với quá khứ, điều đang kết tinh, phản động, mù quáng trong tính ích kỷ và vật chất của nó, và được vận dụng để giữ lại những điều cũ kỹ vốn phải qua đi và để chống lại điều mới.

51. Each group necessarily stands at a midway point—different from that of every other group.

51. Mỗi nhóm tất yếu đứng tại một Điểm ở giữa—khác với Điểm ở giữa của mọi nhóm khác.

52. The inherent dualism of our cosmos makes this inevitable.

52. Tính nhị nguyên cố hữu của vũ trụ chúng ta khiến điều này trở nên không thể tránh khỏi.

53. Each of us has a shadow and each a possible future. First these two have to be clearly discriminated. Then the proper stance with respect to the two needs to be taken.

53. Mỗi người chúng ta đều có một bóng tối và mỗi người đều có một tương lai khả hữu. Trước hết, hai điều này phải được phân biện rõ ràng. Rồi cần có lập trường đúng đắn đối với cả hai.

As individual aspirants, you all know that this condition [Page 237] exists in the conflict waged interiorly and expressed exteriorly between the soul and the personality. The same conditioning factors can be seen also working in every group, organisation, world religion, and in every nation, as well as in the planet as a whole.

Là những người chí nguyện cá nhân, tất cả các bạn đều biết rằng tình trạng này [Page 237] tồn tại trong cuộc xung đột diễn ra bên trong và được biểu lộ ra bên ngoài giữa linh hồn và phàm ngã. Cũng có thể thấy các yếu tố tác động tương tự đang hoạt động trong mọi nhóm, tổ chức, tôn giáo thế giới, và trong mọi quốc gia, cũng như trong toàn thể hành tinh.

54. The analogy is exact. The individual is pulled in two directions and so is every group—large or small.

54. Sự tương đồng là chính xác. Cá nhân bị kéo theo hai hướng, và mọi nhóm—lớn hay nhỏ—cũng vậy.

Millions of years ago, the Hierarchy realised that such a time of crisis and of conflict was inevitable.

Hàng triệu năm trước, Thánh Đoàn đã nhận ra rằng một thời kỳ khủng hoảng và xung đột như thế là điều không thể tránh khỏi.

55. Think of the foresight involved in such a realization! But such is the nature of great intuitive minds actuated by pure reason. The gift of prophecy is Theirs.

55. Hãy nghĩ đến tầm nhìn xa hàm chứa trong một nhận thức như vậy! Nhưng đó là bản chất của những trí tuệ trực giác vĩ đại được thúc đẩy bởi lý trí thuần khiết. Ân huệ tiên tri thuộc về Các Ngài.

The easiest way to handle it would have been as lesser conflicts were dealt with in the past—by a process of final intervention. Shamballa and the Hierarchy could have unitedly ended this world crisis, but it would then have again arisen and have gone on arising until humanity itself ended it once and for all upon the physical plane.

Cách dễ nhất để xử lý điều đó hẳn là như những xung đột nhỏ hơn đã được xử lý trong quá khứ—bằng một tiến trình can thiệp dứt khoát. Shamballa và Thánh Đoàn đã có thể cùng nhau chấm dứt cuộc khủng hoảng thế giới này, nhưng khi ấy nó sẽ lại phát sinh và tiếp tục phát sinh cho đến khi chính nhân loại tự mình chấm dứt nó một lần cho mãi mãi trên cõi hồng trần.

56. We have a display of the planetarily ultimate form of ‘tough love’. The slower and more painful way is permitted because it will be the way of surety and will, in the long run, prevent even greater suffering.

56. Chúng ta có một biểu hiện của hình thức “tình thương nghiêm khắc” tối hậu trên hành tinh. Con đường chậm hơn và đau đớn hơn được cho phép vì đó sẽ là con đường của sự chắc chắn và, về lâu dài, sẽ ngăn ngừa một nỗi khổ đau còn lớn hơn.

57. People have to outgrow the negativity within them. A forceful suppression of that negativity from superior agencies does not cut at the root of negativity. Only an act of interior will can root out negativity. Each must do so for himself

57. Con người phải vượt qua tính tiêu cực bên trong họ. Việc trấn áp mạnh mẽ tính tiêu cực ấy từ các cơ quan cao hơn không cắt tận gốc rễ của tính tiêu cực. Chỉ một hành động của ý chí nội tâm mới có thể nhổ bật gốc tính tiêu cực. Mỗi người phải tự mình làm điều đó

Of this situation the determination of the United Nations to win and to enforce complete surrender upon the aggressor nations which are the agents of the Black Lodge is symbolic and also symptomatic of the progress of the human spirit. (Written in September 1944.)

Trong tình huống này, quyết tâm của Liên Hiệp Quốc giành chiến thắng và buộc các quốc gia xâm lược—vốn là các tác nhân của Hắc đoàn—phải đầu hàng hoàn toàn, vừa mang tính biểu tượng vừa là triệu chứng của sự tiến bộ của tinh thần con người. Viết vào tháng Chín năm 1944.

58. It would not do to compromise with the “aggressor nations”. To have refrained from forcing surrender would have allowed the same malignity to arise at a later time.

58. Không thể thỏa hiệp với “các quốc gia xâm lược”. Nếu đã không buộc họ đầu hàng, điều đó sẽ cho phép cùng một ác tính trỗi dậy vào một thời điểm sau này.

59. But the real ending of the malignity which afflicted the perpetrators of war could not be arranged by force alone. It would have to come from within. Still, it has not been accomplished. The malignity which causes wars against the light remains.

59. Nhưng sự chấm dứt thực sự của ác tính đã làm khổ những kẻ gây chiến không thể được sắp đặt chỉ bằng vũ lực. Nó phải đến từ bên trong. Tuy vậy, điều đó vẫn chưa được hoàn tất. Ác tính gây ra các cuộc chiến chống lại ánh sáng vẫn còn.

This time, the Hierarchy refrains from outer action, but simply inspires and transmits the needed energy, leaving mankind to find its own way into freedom,

Lần này, Thánh Đoàn kiềm chế không hành động bên ngoài, mà chỉ truyền cảm hứng và truyền dẫn năng lượng cần thiết, để mặc nhân loại tự tìm con đường của mình đi vào tự do,

60. So one of the functions of the “Great Defending Wall” is as a ‘Wall of Inspiration’. The forces fighting for the progress of humanity were inspired and thus strengthened.

60. Vì vậy, một trong những chức năng của “Bức Tường Phòng Vệ Vĩ Đại” là làm một “Bức Tường Cảm Hứng”. Các mãnh lực chiến đấu cho sự tiến bộ của nhân loại đã được truyền cảm hứng và nhờ đó được tăng cường.

and out of Pisces into the aura and the field of activity of Aquarius, guided by those who are responsive to the illumination which Taurus confers.

và ra khỏi Song Ngư để đi vào hào quang và lĩnh vực hoạt động của Bảo Bình, được hướng dẫn bởi những người đáp ứng với sự soi sáng mà Kim Ngưu ban cho.

61. The winning of the War by the Forces of Light should have resulted in the emergence of humanity out of Pisces and into “the field of activity of Aquarius”.

61. Chiến thắng trong Chiến tranh của các Mãnh Lực Ánh Sáng lẽ ra phải dẫn đến sự xuất hiện của nhân loại ra khỏi Song Ngư và đi vào “lĩnh vực hoạt động của Bảo Bình”.

62. To an extent this occurred. It will soon be determined whether it has occurred to a sufficient extent to avoid a war far worse.

62. Ở một mức độ nào đó, điều này đã xảy ra. Sắp tới sẽ được xác định liệu nó đã xảy ra đến mức đủ để tránh một cuộc chiến tệ hại hơn rất nhiều hay chưa.

See you not the beauty of this plan and its synthesising, culminating usefulness? See you not how the present crisis only indicates the success of the previous evolutionary cycles wherein humanity mastered certain lessons?

Các bạn không thấy vẻ đẹp của kế hoạch này và sự hữu dụng có tính tổng hợp, đạt đến đỉnh điểm của nó sao? Các bạn không thấy cuộc khủng hoảng hiện nay chỉ cho thấy sự thành công của các chu kỳ tiến hoá trước đây, trong đó nhân loại đã làm chủ được một số bài học sao?

63. The disciple realizes that not all crisis indicates disaster. It can indicate the purging of humanity—the destruction of ancient patterns of attachment which no longer serve the evolution of the race. The lack of crisis could indicate morbidity.

63. Đệ tử nhận ra rằng không phải mọi khủng hoảng đều chỉ ra tai họa. Nó có thể chỉ ra sự thanh lọc nhân loại—sự phá hủy những mô hình ràng buộc cổ xưa không còn phụng sự cho sự tiến hoá của nhân loại. Việc thiếu khủng hoảng có thể chỉ ra tình trạng bệnh hoạn.

All the post-war planning, the widespread reaction to ideals (in spite of all the efforts of the evil and reactionary forces), and the seething[8] turmoil reaching throughout all levels of the human consciousness, plus the inspiration of disaster and suffering, are blasting[9] open hitherto sealed areas in the minds of men, letting in illumination, sweeping away the bad old conditions.

Tất cả việc hoạch định hậu chiến, phản ứng rộng khắp đối với các lý tưởng, bất chấp mọi nỗ lực của các mãnh lực tà ác và phản động, cùng tình trạng xáo động sôi sục lan đến mọi cấp độ của tâm thức con người, cộng với cảm hứng của tai họa và khổ đau, đang phá tung mở ra những vùng cho đến nay vẫn bị niêm kín trong trí tuệ con người, để sự soi sáng đi vào, quét sạch những điều kiện cũ kỹ xấu xa.

64. The Tibetan is showing us how the first ray is assisting the approach of the New Age.

64. Chân sư Tây Tạng đang chỉ cho chúng ta thấy cung một đang trợ giúp sự tiếp cận của Kỷ Nguyên Mới như thế nào.

65. We note the phrase, “the inspiration of disaster and suffering”. It is a “hard saying” but true. Disaster and suffering allow the entry of the “Forces of Life”—the ‘Forces of Inspiration’.

65. Chúng ta lưu ý cụm từ “cảm hứng của tai họa và khổ đau”. Đó là một “lời khó nghe” nhưng đúng. Tai họa và khổ đau cho phép “Các Mãnh Lực của Sự Sống”—“Các Mãnh Lực của Cảm Hứng”—đi vào.

66. The power of Uranus and Pluto (planets responsible for many kinds of ‘blasts’) has been released.

66. Quyền năng của Sao Thiên Vương và Sao Diêm Vương, những hành tinh chịu trách nhiệm cho nhiều loại “vụ nổ”, đã được phóng thích.

67. We recall how Hercules cleansed the Augean Stables. His means were more ‘fluid’ but “bad old conditions” were swept away, just as in the late war. The process of “sweeping away” has been Aquarian in nature.

67. Chúng ta nhớ lại Hercules đã thanh tẩy Chuồng ngựa Augeas như thế nào. Phương tiện của y “linh động” hơn, nhưng “những điều kiện cũ kỹ xấu xa” đã bị quét sạch, cũng như trong cuộc chiến vừa qua. Tiến trình “quét sạch” này mang bản chất Bảo Bình.

This is symbolised for us in the destruction of ancient cities and by the intermixture of races through the processes of war; this also signifies progress and is preparatory to great expansions of consciousness.

Điều này được tượng trưng cho chúng ta qua sự hủy diệt các thành phố cổ xưa và qua sự hòa trộn các giống dân bởi các tiến trình chiến tranh; điều này cũng biểu thị sự tiến bộ và chuẩn bị cho những mở rộng lớn lao của tâm thức.

68. Old forms had to go as cherished as they were. Races had to realize their common bonds.

68. Những hình tướng cũ phải ra đi, dù chúng được nâng niu đến đâu. Các giống dân phải nhận ra những mối liên kết chung của họ.

69. When attachment to forms is negated, consciousness is free to expand.

69. Khi sự bám chấp vào hình tướng bị phủ định, tâm thức được tự do mở rộng.

These expansions in the human understanding will, in the next [Page 238] one hundred and fifty years, completely alter the manner of man’s thinking; they will change the techniques of religion; they will bring about comprehension and fusion.

Những mở rộng này trong sự thấu hiểu của con người, trong [Page 238] một trăm năm mươi năm tới, sẽ hoàn toàn thay đổi cách tư duy của con người; chúng sẽ thay đổi các kỹ thuật của tôn giáo; chúng sẽ đem lại sự lĩnh hội và sự dung hợp.

70. DK write during the middle 1940’s. He is looking towards the year 2100, shortly before we enter the Age of Aquarius (astronomically considered). Already (qualitatively) the Aquarian energy is with us—growing in intensity.

70. Chân sư DK viết vào giữa thập niên 1940. Ngài đang hướng nhìn về năm 2100, không lâu trước khi chúng ta bước vào Kỷ Nguyên Bảo Bình, xét theo thiên văn học. Về mặt phẩm tính, năng lượng Bảo Bình đã ở cùng chúng ta—và đang tăng cường độ.

71. We are very much in need of a change in the techniques of religion. The old techniques are a great threat in today’s volatile world.

71. Chúng ta rất cần một sự thay đổi trong các kỹ thuật của tôn giáo. Những kỹ thuật cũ là một mối đe dọa lớn trong thế giới đầy biến động ngày nay.

72. DK is speaking of a Jupiterian process. We remember that Jupiter is esoterically related to Aquarius and is responsible for much of the promised fulfillment which the Aquarian Age will bring to the human race.

72. Chân sư DK đang nói về một tiến trình thuộc Sao Mộc. Chúng ta nhớ rằng Sao Mộc có liên hệ huyền bí với Bảo Bình và chịu trách nhiệm cho phần lớn sự thành tựu đã được hứa hẹn mà Kỷ Nguyên Bảo Bình sẽ mang đến cho nhân loại.

73. Presently there is a recrudescence[10] of reactionary patterns, but this trend cannot long persist. It runs counter to the growing intensity of Aquarian energy.

73. Hiện nay có một sự tái bùng phát của các mô hình phản động, nhưng xu hướng này không thể kéo dài lâu. Nó đi ngược lại cường độ ngày càng tăng của năng lượng Bảo Bình.

When this work has been accomplished we shall record an era of world peace which will be symbolic of the state of the human spirit.

Khi công việc này đã được hoàn tất, chúng ta sẽ ghi nhận một kỷ nguyên hòa bình thế giới, vốn sẽ là biểu tượng cho trạng thái của tinh thần con người.

74. The state of the Spirit is that of peace— “peaceful silent will”. Shamballa is a greater center of peace.

74. Trạng thái của Tinh thần là trạng thái hòa bình— “ý chí thầm lặng, an hòa”. Shamballa là một trung tâm lớn hơn của hòa bình.

Men will then settle down to the great task which confronts all of us in the New Age—the task of dissipating glamour and of bringing about a clearer light upon the astral plane, in the same way that better physical conditions will have been brought about upon the physical plane.

Bấy giờ con người sẽ ổn định để bắt tay vào nhiệm vụ lớn lao đang đối diện tất cả chúng ta trong Kỷ Nguyên Mới—nhiệm vụ làm tiêu tan ảo cảm và đem lại một ánh sáng rõ ràng hơn trên cõi cảm dục, cũng giống như những điều kiện hồng trần tốt đẹp hơn sẽ đã được đem lại trên cõi hồng trần.

75. The betterment of conditions upon the physical plane must precede the improvement of conditions upon the astral plane.

75. Việc cải thiện các điều kiện trên cõi hồng trần phải đi trước việc cải thiện các điều kiện trên cõi cảm dục.

76. How long will we have to wait for the predicted concerted[11] attack upon world glamor. We know that the planets Mercury and Venus are potent in the dissipation of glamor. Mercury will rule the second decanate of Aquarius (some eight hundred years from now) and because the subruler of that decanate will be Gemini, Venus will enter esoterically. In the last decanate, Venus will again show itself, plus the transformative power of Uranus (as Libra will be the subruler of the last Aquarian decanate).

76. Chúng ta sẽ phải chờ bao lâu cho cuộc tấn công phối hợp đã được tiên liệu nhằm vào ảo cảm thế giới. Chúng ta biết rằng các hành tinh Sao Thủy và Sao Kim có uy lực trong việc làm tiêu tan ảo cảm. Sao Thủy sẽ cai quản thập độ thứ hai của Bảo Bình, khoảng tám trăm năm nữa, và vì chủ tinh phụ của thập độ ấy sẽ là Song Tử, Sao Kim sẽ đi vào một cách huyền bí. Trong thập độ cuối, Sao Kim sẽ lại tự biểu lộ, cộng thêm quyền năng chuyển đổi của Sao Thiên Vương, vì Thiên Bình sẽ là chủ tinh phụ của thập độ Bảo Bình cuối cùng.

77. The necessary energies for the necessary task will be available.

77. Những năng lượng cần thiết cho nhiệm vụ cần thiết sẽ sẵn có.

All is planned and ordered; the right energies and forces will be available, for the Hierarchy works ever under the Law of Cycles and of Cyclic Compensation.

Tất cả đều được hoạch định và sắp đặt; các năng lượng và mãnh lực đúng đắn sẽ sẵn có, vì Thánh Đoàn luôn làm việc dưới Định luật Chu kỳ và Bù trừ Chu kỳ.

78. What is energetically missing in one cycle will be made available in the next.

78. Điều còn thiếu về mặt năng lượng trong một chu kỳ sẽ được làm cho sẵn có trong chu kỳ kế tiếp.

79. The Hierarchy knows, in principle, what is coming and when. They gauge Their plans accordingly.

79. Về nguyên tắc, Thánh Đoàn biết điều gì đang đến và khi nào. Các Ngài điều chỉnh kế hoạch của mình cho phù hợp.

80. We disciples should more closely study the Science of Cycles if we wish our cooperation with Hierarchy to count for more.

80. Chúng ta, các đệ tử, nên nghiên cứu Khoa học về Chu kỳ kỹ lưỡng hơn nếu muốn sự hợp tác của mình với Thánh Đoàn có giá trị nhiều hơn.

The Masters know exactly that which must be done by right timing and by what has been called “the crisis of spatial extension.” They call this the interchangeableness of time and space—a meaningless phrase to you but one which is already being dimly sensed.

Các Chân sư biết chính xác điều gì phải được thực hiện bằng thời điểm đúng đắn và bằng điều đã được gọi là “cuộc khủng hoảng của sự mở rộng không gian.” Các Ngài gọi điều này là tính có thể hoán đổi giữa thời gian và không gian—một cụm từ vô nghĩa đối với các bạn nhưng là điều đã bắt đầu được cảm nhận một cách lờ mờ.

81. This interchangeability is clearly set forth in the “new physics”. Every space has its time, and every time its space. The two are completely interdependent. Can we conceive of a time without its space or a space without its time? Both time and space arise through acts of perception.

81. Tính có thể hoán đổi này được trình bày rõ ràng trong “vật lý mới”. Mỗi không gian có thời gian của nó, và mỗi thời gian có không gian của nó. Cả hai hoàn toàn phụ thuộc lẫn nhau. Chúng ta có thể hình dung một thời gian không có không gian của nó, hay một không gian không có thời gian của nó chăng? Cả thời gian lẫn không gian đều phát sinh qua các hành vi tri nhận.

82. Accomplishment requires both time and space. Humanity needs time to accomplish its goals and also the proper space or environment in which to do so. There are occasions then despite the limitations of space, an incredible achievement can arise through the intensification of the use of time. Also, if spatial conditions are propitious, much can be accomplished in a very short amount of time.

82. Sự hoàn thành đòi hỏi cả thời gian lẫn không gian. Nhân loại cần thời gian để hoàn thành các mục tiêu của mình, và cũng cần không gian hay môi trường thích hợp để làm như vậy. Vì thế có những dịp, bất chấp các giới hạn của không gian, một thành tựu phi thường có thể phát sinh nhờ sự tăng cường việc sử dụng thời gian. Cũng vậy, nếu các điều kiện không gian thuận lợi, nhiều điều có thể được hoàn thành trong một khoảng thời gian rất ngắn.

83. As the disciple matures both time and space are compressed. When space is lacking time must compensate; when time is lacking space must compensate. Hierarchically, time is superior to space, just as Saturn is preeminent when compared to Jupiter. There are probably a number of ways to interpret these occult ideas.

83. Khi đệ tử trưởng thành, cả thời gian lẫn không gian đều được nén lại. Khi thiếu không gian, thời gian phải bù trừ; khi thiếu thời gian, không gian phải bù trừ. Theo Thánh Đoàn, thời gian cao hơn không gian, cũng như Sao Thổ giữ vị thế ưu thắng khi so với Sao Mộc. Có lẽ có nhiều cách để diễn giải những ý tưởng huyền bí này.

84. We may relate “the crisis of spatial extension” to the interpenetration of vibratory spheres. Evolution tends to promote this interpenetration.

84. Chúng ta có thể liên hệ “cuộc khủng hoảng của sự mở rộng không gian” với sự xuyên thấu lẫn nhau của các khối cầu rung động. Tiến hoá có khuynh hướng thúc đẩy sự xuyên thấu lẫn nhau này.

85. Such interpenetration is closely related to the process of initiation.

85. Sự xuyên thấu lẫn nhau như thế liên hệ mật thiết với tiến trình điểm đạo.

86. Points of life are ever breaking into new spheres and, thus, functioning within new ring-pass-nots. What is the timing involved in such breakthroughs? The Masters know in principle.

86. Các điểm sự sống luôn phá vỡ để đi vào những khối cầu mới, và nhờ đó hoạt động bên trong những vòng-giới-hạn mới. Thời điểm nào liên quan đến những sự đột phá như thế? Về nguyên tắc, các Chân sư biết.

87. As the power and scope of perception expands new ‘spaces-in-consciousness” are created. Ring-pass-nots of consciousness expand and new ring-pass-nots take the place of old.

87. Khi quyền năng và phạm vi của tri nhận mở rộng, những “không gian-trong-tâm thức” mới được tạo ra. Các vòng-giới-hạn của tâm thức mở rộng, và những vòng-giới-hạn mới thay thế các vòng-giới-hạn cũ.

88. Consciousness, space and perception expand simultaneously, and each expansion entails a crisis of adjustment.

88. Tâm thức, không gian và tri nhận mở rộng đồng thời, và mỗi sự mở rộng đều kéo theo một cuộc khủng hoảng điều chỉnh.

The two Rules which remain for us to study concern the work of the Hierarchy in the Aquarian Age. Hence they are specifically for the more advanced disciples and for initiates.

Hai Quy Luật còn lại để chúng ta nghiên cứu liên quan đến công việc của Thánh Đoàn trong Kỷ Nguyên Bảo Bình. Vì vậy, chúng đặc biệt dành cho các đệ tử tiến xa hơn và cho các điểm đạo đồ.

89. We presume we may all study them, but that initiates of the third degree will begin truly to understand—at least the basics.

89. Chúng ta giả định rằng tất cả chúng ta đều có thể nghiên cứu chúng, nhưng các điểm đạo đồ cấp độ thứ ba sẽ bắt đầu thật sự thấu hiểu—ít nhất là những điều căn bản.

90. What is an advanced disciple? Perhaps a disciple of the second degree converging upon the third.

90. Một đệ tử tiến xa hơn là gì? Có lẽ là một đệ tử thuộc cấp độ thứ hai đang hội tụ về cấp độ thứ ba.

We have seen in many ways that—at this time—the Hierarchy, because it is the Ashram of Sanat Kumara Himself, is coming peculiarly and in a new sense under the influence of His will nature. This means that the Members of the Hierarchy, familiar as They may be with the Plan for the immediate cycle with which They and humanity are confronted, are being brought to a new and more “appropriate” conception of the divine Purpose which lies behind the Plan and which motivates it. The will of God is becoming plainer to Them. It is taking on more definite lines.

Chúng ta đã thấy theo nhiều cách rằng—vào lúc này—Thánh Đoàn, vì là Ashram của chính Đức Sanat Kumara, đang đi vào dưới ảnh hưởng của bản chất ý chí của Ngài theo một cách đặc biệt và theo một ý nghĩa mới. Điều này có nghĩa là các Thành viên của Thánh Đoàn, dù Các Ngài có thể quen thuộc với Thiên Cơ dành cho chu kỳ trước mắt mà Các Ngài và nhân loại đang đối diện, đang được đưa đến một quan niệm mới và “thích hợp” hơn về Thiên Ý nằm phía sau Thiên Cơ và thúc đẩy Thiên Cơ ấy. Ý Chí của Thượng Đế đang trở nên rõ ràng hơn đối với Các Ngài. Nó đang mang những đường nét xác định hơn.

91. The Members of the Spiritual Hierarchy are participating in a curriculum revealing to them the truer nature of will. For Them, Divine Purpose (planetary Purpose) is being revealed, and not alone the Divine Plan.

91. Các Thành viên của Huyền Giai Tinh Thần đang tham dự vào một chương trình học hé lộ cho Các Ngài bản chất chân thực hơn của ý chí. Đối với Các Ngài, Thiên Ý, tức Thiên Ý hành tinh, đang được mặc khải, chứ không chỉ riêng Thiên Cơ.

92. It is quite humbling to realize that the Members of Hierarchy are still uncertain regarding the entirety of the Divine Purpose for this planet. They are even uncertain regarding the Purpose of Sanat Kumara.

92. Thật khiêm nhường khi nhận ra rằng các Thành viên của Thánh Đoàn vẫn chưa chắc chắn về toàn thể Thiên Ý dành cho hành tinh này. Các Ngài thậm chí còn chưa chắc chắn về Thiên Ý của Đức Sanat Kumara.

93. We disciples are newly studying the nature of will because Hierarchy itself is being exposed to the Higher Will in a new way.

93. Chúng ta, các đệ tử, đang nghiên cứu mới mẻ về bản chất của ý chí vì chính Thánh Đoàn đang được đặt dưới ảnh hưởng của Ý Chí Cao Siêu theo một cách mới.

94. When we ponder Hierarchy’s greater appreciation of Divine Purpose we must remember that Purpose is inextricably related to pattern.

94. Khi suy ngẫm về sự lĩnh hội lớn hơn của Thánh Đoàn đối với Thiên Ý, chúng ta phải nhớ rằng Thiên Ý liên hệ không thể tách rời với mô hình.

As our planetary Logos nears the climaxing point of the initiation which He is now undergoing,

Khi Đức Hành Tinh Thượng đế của chúng ta tiến gần đến điểm cực đỉnh của cuộc điểm đạo mà Ngài hiện đang trải qua,

95. From what is given in the Teaching, this seems to be the fourth initiation taken through the fourth chain in our planetary chain.

95. Từ những gì được đưa ra trong Giáo Huấn, điều này dường như là lần điểm đạo thứ tư được thực hiện qua dãy thứ tư trong Dãy hành tinh của chúng ta.

96. From the human perspective, great initiatory processes move slowly and so we cannot be sure of the time when this fourth initiation process will climax. We are certainly living through times sufficiently intense and full of suffering to make us think the climactic time could be now or in the foreseeable future.

96. Từ viễn cảnh con người, các tiến trình điểm đạo lớn lao diễn ra chậm chạp, nên chúng ta không thể chắc chắn về thời điểm tiến trình lần điểm đạo thứ tư này sẽ đạt đến cực điểm. Chắc chắn chúng ta đang sống qua những thời kỳ đủ mãnh liệt và đầy khổ đau để khiến chúng ta nghĩ rằng thời điểm cực đỉnh ấy có thể là hiện nay hoặc trong tương lai có thể thấy trước.

97. We anticipate that this fourth initiation will occur upon the fourth chain (our chain) and within the fourth round—our present round.

97. Chúng ta dự đoán rằng lần điểm đạo thứ tư này sẽ xảy ra trên Dãy Thứ Tư, tức Dãy của chúng ta, và trong cuộc tuần hoàn thứ tư—cuộc tuần hoàn hiện tại của chúng ta.

His Ashram, the Hierarchy, must and does (as part of a normal development) feel the effect.

Ashram của Ngài, tức Thánh Đoàn, phải và thực sự, như một phần của sự phát triển bình thường, cảm nhận hiệu quả ấy.

98. Hierarchy is feeling the effect of the fourth initiation through which the Planetary Logos is passing. Humanity is also feeling the effect.

98. Thánh Đoàn đang cảm nhận hiệu quả của lần điểm đạo thứ tư mà Đức Hành Tinh Thượng đế đang trải qua. Nhân loại cũng đang cảm nhận hiệu quả ấy.

From the Christ down to the newest and latest accepted disciple, each in his own place, all are becoming increasingly responsive to the “will of God.”

Từ Đức Christ cho đến người đệ tử được chấp nhận mới nhất và gần đây nhất, mỗi vị ở vị trí riêng của mình, tất cả đang ngày càng đáp ứng hơn với “Ý Chí của Thượng Đế.”

99. Responsiveness to the Will of God is the curriculum for all of us who may be affiliated or affiliating with some Ashram.

99. Sự đáp ứng với Ý Chí của Thượng Đế là chương trình học dành cho tất cả chúng ta, những người có thể đang liên kết hoặc đang tiến tới liên kết với một Ashram nào đó.

100. Divine Will is the actuation of Divine Purpose—it is Purpose irresistibly applied.

100. Ý Chí thiêng liêng là sự thúc động của Thiên Ý—đó là Thiên Ý được áp dụng một cách không thể cưỡng lại.

This [Page 239] does not take place in a blind, acquiescing manner, but with understanding and “fortitude[12].”

Điều này [Page 239] không diễn ra theo cách mù quáng, thuận phục, mà với sự thấu hiểu và “dũng lực.”

101. DK is trying to help us understand the right attitude to the will. It is not blind acquiescence, but understanding (a second ray quality) and fortitude (an attitude of the first ray).

101. Chân sư DK đang cố gắng giúp chúng ta thấu hiểu thái độ đúng đắn đối với ý chí. Đó không phải là sự thuận phục mù quáng, mà là sự thấu hiểu, một phẩm tính cung hai, và dũng lực, một thái độ của cung một.

This receptive attitude on the part of the Hierarchy will bring about great, necessary and unexpected changes. Some of these, I have earlier hinted, may now be taking place; some will follow later. The following ideas may serve to clarify the whole concept in your minds:

Thái độ tiếp nhận này nơi Thánh Đoàn sẽ đem lại những thay đổi lớn lao, cần thiết và bất ngờ. Một số thay đổi này, như tôi đã gợi ý trước đây, có thể hiện đang diễn ra; một số sẽ theo sau về sau. Những ý tưởng sau đây có thể giúp làm sáng tỏ toàn bộ quan niệm trong trí tuệ các bạn:

102. So Hierarchy is the primary recipient of the Will of Sanat Kumara. Disciples and initiates are the secondary recipients. Nevertheless, everything about discipleship training is changing as a result of this reception.

102. Vì vậy, Thánh Đoàn là bên tiếp nhận chính yếu Ý Chí của Đức Sanat Kumara. Các đệ tử và điểm đạo đồ là những bên tiếp nhận thứ yếu. Tuy nhiên, mọi điều liên quan đến việc huấn luyện địa vị đệ tử đang thay đổi như kết quả của sự tiếp nhận này.

103. The following is a list of changes in hierarchical approach:

103. Sau đây là danh sách những thay đổi trong cách tiếp cận của Thánh Đoàn:

1. The entire technique of training disciples for initiation and of absorbing them into the various Ashrams which constitute the great Ashram of the Lord of the World has been altered.

1. Toàn bộ kỹ thuật huấn luyện đệ tử cho điểm đạo và thu nhận họ vào các ashram khác nhau, vốn hợp thành ashram vĩ đại của Đức Chúa Tể Thế Giới, đã được thay đổi.

104. This is a radical statement and we can only ignore it if we wish to misunderstand how Hierarchy approaches the development of the modern disciple.

104. Đây là một phát biểu căn bản, và chúng ta chỉ có thể bỏ qua nó nếu muốn hiểu sai cách Thánh Đoàn tiếp cận sự phát triển của người đệ tử hiện đại.

The Masters are no longer concerned with an individual, here or there, who endeavours to go forward on the Path, who evidences capacity and who is apparently ready for what has been called “the evocation of the initiate consciousness.”

Các Chân sư không còn bận tâm đến một cá nhân nào đó, ở đây hay ở kia, đang nỗ lực tiến bước trên Đường Đạo, biểu lộ năng lực và dường như sẵn sàng cho điều đã được gọi là “sự gợi lên tâm thức điểm đạo đồ.”

105. We notice how the initiate appears. The initiate is a ‘state of consciousness’. Hierarchical training results in the evocation of that consciousness.

105. Chúng ta nhận thấy điểm đạo đồ xuất hiện như thế nào. Điểm đạo đồ là một “trạng thái tâm thức”. Việc huấn luyện của Thánh Đoàn dẫn đến sự gợi lên tâm thức ấy.

106. In any case, Hierarchy is decreasingly interested in the elevation of isolated individuals.

106. Dù trong trường hợp nào, Thánh Đoàn ngày càng ít quan tâm đến việc nâng cao các cá nhân cô lập.

It is becoming obvious to the Hierarchy that with the arrival of the Aquarian Age, group preparation, group initiation and group acceptance must and will supersede the older methods.

Đối với Thánh Đoàn, điều đang trở nên hiển nhiên là với sự xuất hiện của Kỷ nguyên Bảo Bình, sự chuẩn bị nhóm, điểm đạo nhóm và sự chấp nhận nhóm phải thay thế, và sẽ thay thế, các phương pháp cũ hơn.

107. The order is interesting. Acceptance seems to follow initiation. Presumably, we are speaking of acceptance of a group into an Ashram following the initiation of that group.

107. Trình tự này thật thú vị. Sự chấp nhận dường như theo sau điểm đạo. Có lẽ chúng ta đang nói đến việc một nhóm được chấp nhận vào một ashram sau cuộc điểm đạo của nhóm ấy.

These older methods, built around the direct relationship between a Master and a disciple, reached their highest point of usefulness early in the Piscean Age.

Những phương pháp cũ hơn này, được xây dựng quanh mối quan hệ trực tiếp giữa một Chân sư và một đệ tử, đã đạt đến đỉnh cao hữu dụng của chúng vào đầu Kỷ nguyên Song Ngư.

108. By this we must mean in the early centuries of the Christian era.

108. Qua điều này, chúng ta phải hiểu là vào những thế kỷ đầu của kỷ nguyên Cơ Đốc.

109. It’s quite astonishing that the methods still very much in vogue[13] today reached their highest point of usefulness perhaps 1500 years ago!

109. Thật đáng kinh ngạc khi những phương pháp vẫn còn rất thịnh hành ngày nay lại đã đạt đến đỉnh cao hữu dụng của chúng có lẽ từ 1500 năm trước!

110. Does this tell us something about the adaptability of spiritually inclined students?!

110. Điều này có cho chúng ta biết gì về khả năng thích nghi của các đạo sinh có khuynh hướng tinh thần chăng?!

For nearly two thousand years these methods have proved so successful that the intensity of humanity’s response is such that hundreds are now ready “for absorption.”

Trong gần hai nghìn năm, các phương pháp này đã tỏ ra thành công đến mức cường độ đáp ứng của nhân loại khiến cho hiện nay hàng trăm người đã sẵn sàng “được thu nhận.”

111. We are speaking of absorption into the Ashram.

111. Chúng ta đang nói đến sự thu nhận vào ashram.

112. This was written in 1944. The number does not seem large, but it is quality that counts. Perhaps the number is many times as large today.

112. Điều này được viết vào năm 1944. Con số ấy có vẻ không lớn, nhưng phẩm tính mới là điều đáng kể. Có lẽ ngày nay con số ấy lớn hơn nhiều lần.

This readiness and success present a difficulty and pose a problem for the Masters, necessitating a reorganisation of Their plans and a readjustment of Their techniques.

Sự sẵn sàng và thành công này tạo ra một khó khăn và đặt ra một vấn đề cho các Chân sư, đòi hỏi một sự tái tổ chức các kế hoạch của Các Ngài và một sự điều chỉnh lại các kỹ thuật của Các Ngài.

113. It is being suggested that the number (even hundreds) is so large that only group absorption would make it possible to absorb those who are ready.

113. Điều đang được gợi ý là con số ấy, dù chỉ là hàng trăm, đã lớn đến mức chỉ có sự thu nhận theo nhóm mới khiến việc thu nhận những người đã sẵn sàng trở nên khả thi.

114. Another example of hierarchical adaptation relates to the manner in which ashramic processes are adjusted to accommodate the ‘in-take’ of new members of the Ashram. As students on the verge of being gathered within, we tend usually to view the process from our own point of view forgetting the difficulties incident to the process which must be faced by Masters.

114. Một ví dụ khác về sự thích nghi của Thánh Đoàn liên quan đến cách các tiến trình ashram được điều chỉnh để dung nạp “làn tiếp nhận” các thành viên mới của ashram. Là các đạo sinh đang ở ngưỡng được quy tụ vào bên trong, chúng ta thường có khuynh hướng nhìn tiến trình này từ quan điểm của chính mình, mà quên những khó khăn gắn liền với tiến trình ấy, vốn các Chân sư phải đối diện.

2. Not only has the individual approach to the Hierarchy been superseded by a group approach, but it is now found to be possible to make a certain measure of the training objective and exoteric. Hence the establishment of the New Group of World Servers.

2. Không những cách tiếp cận cá nhân đối với Thánh Đoàn đã được thay thế bằng cách tiếp cận nhóm, mà nay người ta còn thấy rằng có thể làm cho một mức độ nào đó của việc huấn luyện trở nên khách quan và ngoại môn. Do đó có việc thành lập Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

115. The rendering of certain aspects of occult training exoteric is all part of the Externalization of the Hierarchy.

115. Việc làm cho một số phương diện của sự huấn luyện huyền bí trở nên ngoại môn hoàn toàn là một phần của Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn.

116. The New Group of World Servers (though it is still a rather subjective group) is an externalization of an essentially esoteric group—a kind of objective extension of the inner Ashram.

116. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, dù vẫn còn là một nhóm khá nội tại, là sự ngoại hiện của một nhóm về bản chất là huyền bí—một loại phần mở rộng khách quan của ashram bên trong.

This is primarily a group which, while working on the outer plane of daily, physical living, yet preserves a close ashramic integration;

Đây chủ yếu là một nhóm, trong khi hoạt động trên cõi bên ngoài của đời sống hằng ngày nơi cõi hồng trần, vẫn duy trì một sự tích hợp ashram chặt chẽ;

117. This preservation has occurred even though members of the group may not realize that the Hierarchy actually exists!

117. Sự duy trì này đã diễn ra cho dù các thành viên của nhóm có thể không nhận ra rằng Thánh Đoàn thật sự hiện hữu!

it thus provides a field of service for accepted disciples who are seeking service-expression, and it also provides a rallying point for all determined aspirants where they can be tried out and where their motives and persistence can be tested, prior to direct acceptance.

do đó, nó cung cấp một lĩnh vực phụng sự cho các đệ tử được chấp nhận đang tìm kiếm sự biểu lộ qua phụng sự, và nó cũng cung cấp một điểm quy tụ cho tất cả những người chí nguyện kiên quyết, nơi họ có thể được thử thách và nơi động cơ cùng sự bền bỉ của họ có thể được kiểm nghiệm, trước khi được chấp nhận trực tiếp.

118. In this section of text the New Group of World Servers offers expression to accepted disciples but opportunity for those who are insufficiently tested to be called disciples—namely aspirants.

118. Trong phần văn bản này, Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đem lại sự biểu lộ cho các đệ tử được chấp nhận, nhưng cũng đem lại cơ hội cho những người chưa được thử thách đầy đủ để được gọi là đệ tử—tức là những người chí nguyện.

119. It is clear to us that the stage of aspirant precedes that of accepted disciple. Aspirants (as here named) are primarily probationary disciples. The term probation suggests testing.

119. Đối với chúng ta, rõ ràng giai đoạn người chí nguyện đi trước giai đoạn đệ tử được chấp nhận. Những người chí nguyện, như được gọi ở đây, chủ yếu là các đệ tử dự bị. Thuật ngữ dự bị gợi ý sự thử thách.

120. Therefore, we conclude that the New Group of World Servers is a testing and training ground for those who would become accepted disciples as well as a field in which accepted disciples can labor in service.

120. Vì vậy, chúng ta kết luận rằng Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian là một vùng đất thử thách và huấn luyện cho những ai sẽ trở thành đệ tử được chấp nhận, cũng như là một lĩnh vực trong đó các đệ tử được chấp nhận có thể lao tác trong phụng sự.

This is something new, for it [Page 240] shifts the responsibility of preparing aspirants for accepted discipleship onto the shoulders of the pledged disciple and away from the immediate attention of the accepting Master.

Đây là một điều mới, vì nó [Page 240] chuyển trách nhiệm chuẩn bị những người chí nguyện cho địa vị đệ tử được chấp nhận lên vai người đệ tử đã phát nguyện, và ra khỏi sự chú ý trực tiếp của Chân sư chấp nhận.

121. Now this is interesting. Usually the term “pledged disciple” suggests a phase which must occur before acceptance. Not so here.

121. Điều này thật thú vị. Thông thường, thuật ngữ “đệ tử đã phát nguyện” gợi ý một giai đoạn phải xảy ra trước sự chấp nhận. Ở đây thì không phải vậy.

122. DK seems to mean pledged disciples who are already accepted disciples. After all, the disciple does not relinquish his pledge once he becomes an accepted disciple.

122. Chân sư DK dường như muốn nói đến các đệ tử đã phát nguyện vốn đã là đệ tử được chấp nhận. Rốt cuộc, người đệ tử không từ bỏ lời phát nguyện của mình một khi y trở thành đệ tử được chấp nhận.

123. The work of the Arcane School secretarial group and other groups which train aspirants in similar ways is an example of the kind of work DK is discussing.

123. Công việc của nhóm thư ký Trường Arcane và những nhóm khác huấn luyện người chí nguyện theo những cách tương tự là một ví dụ về loại công việc mà Chân sư DK đang bàn đến.

He is thus freed for other fields of service. This, in itself, is one of the major indications of the success of the evolutionary process as applied to humanity.

Như vậy, Ngài được giải phóng cho các lĩnh vực phụng sự khác. Điều này, tự thân nó, là một trong những dấu hiệu chính yếu về sự thành công của tiến trình tiến hoá khi áp dụng cho nhân loại.

124. The accepted disciples and pledged disciples are taking some of the load off the shoulders of the Master. Because portions of humanity can now do this, it indicates evolutionary process in the human race.

124. Các đệ tử được chấp nhận và các đệ tử đã phát nguyện đang chia bớt một phần gánh nặng khỏi vai Chân sư. Vì hiện nay những bộ phận của nhân loại có thể làm điều này, nên nó cho thấy tiến trình tiến hoá trong nhân loại.

125. Our goal, similarly, is to train those who are rising towards our level of achievement to gradually and safely take some of our load upon themselves. By this means the one who assumes the additional burden is trained and grows, and we (at whatever level we may stand) are relieved to more fully assist someone further advanced than we.

125. Tương tự, mục tiêu của chúng ta là huấn luyện những người đang vươn lên đến cấp độ thành tựu của chúng ta để họ dần dần và an toàn đảm nhận một phần gánh nặng của chúng ta. Bằng phương tiện này, người đảm nhận gánh nặng bổ sung được huấn luyện và trưởng thành, còn chúng ta, ở bất cứ cấp độ nào mình đang đứng, được nhẹ bớt để có thể trợ giúp đầy đủ hơn một người nào đó tiến xa hơn chúng ta.

This “shift” was initiated by the Christ Himself; he worked with men very frequently through others, reaching humanity through the medium of His twelve Apostles, regarding Paul as substituting for Judas Iscariot.

Sự “chuyển dịch” này do chính Đức Christ khởi xướng; Ngài rất thường làm việc với con người thông qua những người khác, tiếp cận nhân loại qua phương tiện mười hai Tông đồ của Ngài, xem Paul là người thay thế cho Judas Iscariot.

126. The Christ was, we can see, an Expert at apportioning responsibility.

126. Chúng ta có thể thấy Đức Christ là một Bậc Chuyên Gia trong việc phân chia trách nhiệm.

127. This is interesting concerning Paul and Judas. Lately much effort has been made to redeem Judas as, perhaps, one who, in apparently betraying the Christ, only obeyed His orders so that Law might be fulfilled. Apparently the Tibetan does not see such a quality in Judas.

127. Điều này thú vị liên quan đến Paul và Judas. Gần đây, nhiều nỗ lực đã được thực hiện nhằm minh oan cho Judas như có lẽ là một người, khi dường như phản bội Đức Christ, chỉ tuân theo mệnh lệnh của Ngài để Định luật có thể được hoàn thành. Rõ ràng Chân sư Tây Tạng không thấy phẩm tính như vậy nơi Judas.

128. If we substitute Paul, completing by doing so the requisite twelve disciples, Judas becomes the ill-omened thirteenth disciple—the one who opposes the Master otherwise considered as the major thirteenth Member.

128. Nếu chúng ta thay thế bằng Paul, và nhờ đó hoàn tất con số mười hai đệ tử cần thiết, thì Judas trở thành người đệ tử thứ mười ba đầy điềm gở—người chống lại Chân sư, Đấng theo cách khác được xem là Thành viên chính yếu thứ mười ba.

129. If we include both Judas and Paul we have the number fourteen—twelve on the level, with an additional one elevated and yet another one submerged.

129. Nếu chúng ta bao gồm cả Judas và Paul, chúng ta có con số mười bốn—mười hai ở cùng một cấp độ, với một người bổ sung được nâng cao và một người khác bị chìm xuống.

The Buddha tried the same system, but the relation of His group was, in the first instance, to Him and not so much to the world of men.

Đức Phật đã thử cùng hệ thống ấy, nhưng mối quan hệ của nhóm Ngài, trước hết, là với Ngài chứ không nhiều lắm với thế giới con người.

130. The disciples and Arhats Who surrounded the Buddha did not face towards the world but, rather, towards their Teacher.

130. Các đệ tử và các vị A-la-hán vây quanh Đức Phật không hướng về thế giới mà, đúng hơn, hướng về Huấn sư của họ.

131. There are many today who persist in this orientation.

131. Ngày nay có nhiều người vẫn kiên trì trong định hướng này.

Christ sent His Apostles out into the world to feed the sheep, to seek, to guide and to become “fishers of men.” The relation of the disciples of the Christ was only secondarily to their Master, and primarily to a demanding world;

Đức Christ đã sai các Tông đồ của Ngài đi vào thế gian để nuôi dưỡng đàn chiên, để tìm kiếm, để hướng dẫn và để trở thành “những người đánh cá người”. Mối quan hệ của các đệ tử của Đức Christ chỉ là thứ yếu đối với Chân sư của họ, và chủ yếu đối với một thế giới đầy đòi hỏi;

132. This is the new attitude of service, and suggested the coming Aquarian Age of universal service.

132. Đây là thái độ mới của phụng sự, và gợi ý Kỷ nguyên Bảo Bình đang đến của phụng sự phổ quát.

133. Notice that the “sheep” relate to Aries the Ram/Lamb and the “fishers of men” suggest the sign Pisces. When Christ’s disciples were instructed to look for the man carrying the pot of water, the image of Aquarius the “Water Bearer” was brought into the Biblical narrative.

133. Hãy lưu ý rằng “đàn chiên” liên hệ với Bạch Dương, tức Cừu Đực hoặc Chiên Con, và “những người đánh cá người” gợi ý dấu hiệu Song Ngư. Khi các đệ tử của Đức Christ được chỉ thị tìm người mang bình nước, hình ảnh Bảo Bình, “Người Mang Nước”, đã được đưa vào câu chuyện Kinh Thánh.

that attitude still controls the Hierarchy, yet with no less of devotion to the Christ.

thái độ ấy vẫn chi phối Thánh Đoàn, tuy không hề giảm lòng sùng tín đối với Đức Christ.

134. The Hierarchy has learned to look in two directions simultaneously.

134. Thánh Đoàn đã học cách nhìn theo hai hướng đồng thời.

What the Buddha had instituted symbolically and in embryo became factual and existent under the demands of the Piscean Age.

Điều Đức Phật đã thiết lập một cách biểu tượng và trong mầm mống đã trở thành sự kiện và hiện hữu dưới những đòi hỏi của Kỷ nguyên Song Ngư.

135. Those demands were demands for redemption. Those who would redeem must look ‘outwards’ and especially ‘downwards’ for those in need of redemption.

135. Những đòi hỏi ấy là các đòi hỏi về sự cứu chuộc. Những ai muốn cứu chuộc phải nhìn “ra ngoài” và đặc biệt “xuống dưới” về phía những người cần được cứu chuộc.

136. The Buddha worked in the Age of Aries, and the emphasis was more upon the head.

136. Đức Phật hoạt động trong Kỷ nguyên Bạch Dương, và trọng tâm đặt nhiều hơn nơi đầu.

137. Still the Tibetan recognizes the continuity between what the Buddha instituted and what the Christ fulfilled—or rather began to fulfill, for the real fulfillment will come during the Aquarian Age.

137. Tuy vậy, Chân sư Tây Tạng nhận ra tính liên tục giữa điều Đức Phật đã thiết lập và điều Đức Christ đã hoàn thành—hay đúng hơn là đã bắt đầu hoàn thành, vì sự hoàn thành thật sự sẽ đến trong Kỷ nguyên Bảo Bình.

Part IV of V

Phần IV trong V

R&I (241-247)

Cung và Điểm Đạo (241-247)

(All Highlighting, Bolding and Underlining—MDR)

(Tất cả phần tô sáng, in đậm và gạch dưới—MDR)

Please read this Commentary with your book open or with reference to an electronic copy of the text. This will facilitate an appreciation of continuity.

Xin đọc phần Bình giải này với sách của bạn đang mở, hoặc tham chiếu một bản điện tử của văn bản. Điều này sẽ giúp dễ cảm nhận tính liên tục.

3. The third great change has been in the relation of the Hierarchy to Shamballa, and of this you can necessarily know and understand little. I could perhaps express the underlying significance to you in symbolic language. The energy, emanating from Shamballa, has been divided into two direct and distinctive streams. One stream, embodying the dynamic of purpose, is now pouring into the Hierarchy and into its seven major Ashrams; another stream, embodying the dynamic of determination or of enlightened enthusiastic will, is reaching humanity direct, via the New Group of World Servers.

3. Sự thay đổi lớn thứ ba nằm trong mối quan hệ của Thánh Đoàn với Shamballa, và về điều này các bạn tất yếu chỉ có thể biết và thấu hiểu rất ít. Có lẽ Tôi có thể diễn đạt thâm nghĩa nền tảng cho các bạn bằng ngôn ngữ biểu tượng. Năng lượng, xuất lộ từ Shamballa, đã được chia thành hai dòng trực tiếp và riêng biệt. Một dòng, hiện thân cho động lực của thiên ý, hiện đang tuôn đổ vào Thánh Đoàn và vào bảy ashram chính của Thánh Đoàn; một dòng khác, hiện thân cho động lực của quyết tâm hoặc của ý chí nhiệt thành đã được soi sáng, đang trực tiếp đến với nhân loại, qua Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

1. Discussion of Shamballa (in any practical sense) is something relatively new to the teaching of occultism in the West.

1. Việc bàn về Shamballa, theo bất cứ nghĩa thực tiễn nào, là một điều tương đối mới trong giáo huấn huyền bí học ở phương Tây.

2. We are given an important piece of occult information about two streams of energy emanating from Shamballa. One stimulates the Aquarian Group known as Hierarchy; the other stimulates the Taurean group known as the New Group of World Servers.

2. Chúng ta được trao một mẩu thông tin huyền bí quan trọng về hai dòng năng lượng xuất lộ từ Shamballa. Một dòng kích thích Nhóm Bảo Bình được biết đến là Thánh Đoàn; dòng kia kích thích nhóm Kim Ngưu được biết đến là Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.

3. Shamballa itself is experiencing much stimulation due to the new availability of Aquarian energies, but is, itself, very related to Taurus.

3. Chính Shamballa đang trải nghiệm nhiều sự kích thích do sự sẵn có mới của các năng lượng Bảo Bình, nhưng tự thân Shamballa lại rất liên hệ với Kim Ngưu.

4. The Wesak Festival is the time when Taurus is most powerful and it is at this time that humanity can make most direct contact with Shamballa. This may also be true of Hierarchy, though for Hierarchy there is also another time of impressive contact.

4. Lễ Wesak là thời điểm Kim Ngưu mạnh mẽ nhất, và chính vào thời điểm này nhân loại có thể tiếp xúc trực tiếp nhất với Shamballa. Điều này cũng có thể đúng với Thánh Đoàn, mặc dù đối với Thánh Đoàn còn có một thời điểm tiếp xúc đầy ấn tượng khác.

5. Let us look at the two qualities which are carried by these two streams.

5. Chúng ta hãy xem xét hai phẩm tính được hai dòng này mang theo.

6. Into Hierarchy pours “dynamic purpose”. This definitely provides inspiration for Hierarchy so They can pass that inspiration along to the disciples and initiates of the world.

6. Vào Thánh Đoàn tuôn đổ “thiên ý năng động”. Điều này chắc chắn cung cấp cảm hứng cho Thánh Đoàn để Các Ngài có thể truyền cảm hứng ấy đến các đệ tử và điểm đạo đồ của thế giới.

7. The stream which pours into the New Group of World Servers is interesting. It is comprised both of “determination” and “enlightened enthusiastic will”. Both of these are qualities related to Taurus. Determination is, perhaps, easier to understand. It suggests a resolute[14] fixity of purpose; that which is intended will be done.

7. Dòng tuôn đổ vào Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian thật thú vị. Nó gồm cả “quyết tâm” lẫn “ý chí nhiệt thành đã được soi sáng”. Cả hai phẩm tính này đều liên hệ với Kim Ngưu. Quyết tâm có lẽ dễ thấu hiểu hơn. Nó gợi ý một sự cố định kiên quyết của thiên ý; điều được dự định sẽ được thực hiện.

8. Enlightened enthusiastic will, seems a blend of the second, sixth and first rays—in that order. All these rays are related to Taurus—the second sign, ruled by Venus which planet conveys both the sixth and second rays (from various parts of its energy system) and the first ray coming through Vulcan which can be considered the major ruler of Taurus.

8. Ý chí nhiệt thành đã được soi sáng dường như là sự pha trộn của cung hai, cung sáu và cung một—theo thứ tự ấy. Tất cả các cung này đều liên hệ với Kim Ngưu—dấu hiệu thứ hai, do Sao Kim cai quản; hành tinh này truyền dẫn cả cung sáu lẫn cung hai, từ các phần khác nhau trong hệ thống năng lượng của nó, và cung một đến qua Vulcan, vốn có thể được xem là chủ tinh chính yếu của Kim Ngưu.

9. The true Taurean is inspired by the light and has thus become enthusiastic. But he not only desires but intends.

9. Người Kim Ngưu đích thực được cảm hứng bởi ánh sáng và do đó đã trở nên nhiệt thành. Nhưng y không chỉ ham muốn mà còn chủ định.

Hitherto a blended stream of Shamballa force has poured into the Hierarchy and has streamed, in its undifferentiated type and quality, into all the groups within the Hierarchy.

Cho đến nay, một dòng mãnh lực Shamballa pha trộn đã tuôn đổ vào Thánh Đoàn và đã tuôn chảy, trong kiểu loại và phẩm tính chưa biến phân của nó, vào tất cả các nhóm trong Thánh Đoàn.

10. The previous method was for Shamballa to stimulate through an undifferentiated stream of energy.

10. Phương pháp trước đây là để Shamballa kích thích thông qua một dòng năng lượng chưa biến phân.

Now the quality of determination, or of what the average person understands by the use of the word “Will,” is pouring into the New Group of World Servers, whilst the energy of dynamic purpose, differentiated into seven diverging streams, is pouring into [Page 241] each of the “seven points of reception,” the Masters’ Ashrams within the ring-pass-not of the Hierarchy.

Giờ đây, phẩm tính của quyết tâm, hay của điều mà người bình thường hiểu qua việc dùng từ “Ý Chí”, đang tuôn đổ vào Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, trong khi năng lượng của thiên ý năng động, được biến phân thành bảy dòng phân kỳ, đang tuôn đổ vào [Page 241] mỗi “bảy điểm tiếp nhận,” tức các ashram của các Chân sư trong vòng-giới-hạn của Thánh Đoàn.

11. Why the differentiation? Perhaps because will must now be studied and understood to be something other and higher than determination—something more related to purpose.

11. Vì sao có sự biến phân? Có lẽ vì ý chí giờ đây phải được nghiên cứu và thấu hiểu như một điều khác với, và cao hơn quyết tâm—một điều liên hệ nhiều hơn với thiên ý.

12. Shamballa is bringing a new expression of will into hierarchical life; therefore, the will must be understood more completely, not only by Hierarchy but by those who represent Hierarchy—the New Group of World Servers. From one perspective, the New Group of World Servers is included within the circle of hierarchical life.

12. Shamballa đang đưa một sự biểu lộ mới của ý chí vào đời sống Thánh Đoàn; vì vậy, ý chí phải được thấu hiểu đầy đủ hơn, không chỉ bởi Thánh Đoàn mà còn bởi những người đại diện cho Thánh Đoàn—Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Từ một góc nhìn, Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian được bao gồm trong vòng tròn của đời sống Thánh Đoàn.

13. Interestingly, the streaming forth is eightfold, for the stream which inspires Hierarchy divides into seven streams.

13. Điều thú vị là sự tuôn chảy ra ngoài này có tính bát phân, vì dòng truyền cảm hứng cho Thánh Đoàn chia thành bảy dòng.

14. This reminds one of the eightfold streaming forth of energy from the Jewel in the Lotus.

14. Điều này gợi nhớ đến sự tuôn chảy năng lượng bát phân từ Viên Ngọc trong Hoa Sen.

These seven types of purpose embody the seven energies which will reorganise and redefine the hierarchical undertakings, and thus inaugurate the New Age. These seven purposes might be called:

Bảy loại thiên ý này hiện thân cho bảy năng lượng sẽ tái tổ chức và định nghĩa lại các công cuộc của Thánh Đoàn, và nhờ đó khai mở Kỷ nguyên Mới. Bảy thiên ý này có thể được gọi là:

15. Purpose is considered sevenfold. These seven streams of purpose will “reorganise and redefine the hierarchical undertakings”. It is important that we attempt to understand them.

15. Thiên ý được xem là thất phân. Bảy dòng thiên ý này sẽ “tái tổ chức và định nghĩa lại các công cuộc của Thánh Đoàn”. Điều quan trọng là chúng ta cố gắng thấu hiểu chúng.

a. The unknown, unseen and unheard purpose of Sanat Kumara. It is the secret of life itself and is known only to Him alone.

a. Thiên ý chưa được biết, chưa được thấy và chưa được nghe của Đức Sanat Kumara. Đó là bí mật của chính sự sống và chỉ một mình Ngài biết.

16. This is the most powerful purpose and the most obscure. No other B/being in our planetary manifestation completely knows or understands this purpose. The Solar Logos must, however, know and understand it.

16. Đây là thiên ý mạnh mẽ nhất và cũng tối tăm nhất. Không một H/hữu thể nào khác trong biểu hiện hành tinh của chúng ta biết hoặc thấu hiểu trọn vẹn thiên ý này. Tuy nhiên, Thái dương Thượng đế hẳn phải biết và thấu hiểu nó.

17. DK has often told us that, for the human being, “life”, per se, is incomprehensible. He seems to equate “life” with “pure being”. Life or pure being are not will, soul or matter, but pervade and infuse all three. Life and pure being are not electric fire, solar fire or fire by friction—but pervade and infuse all three.

17. Chân sư DK thường nói với chúng ta rằng, đối với con người, chính “sự sống” là điều không thể hiểu được. Ngài dường như đồng nhất “sự sống” với “bản thể thuần tuý”. Sự sống hay bản thể thuần tuý không phải là ý chí, linh hồn hay vật chất, nhưng thấm khắp và thấm nhuần cả ba. Sự sống và bản thể thuần tuý không phải là Lửa Điện, Lửa Thái dương hay Lửa ma sát—nhưng thấm khắp và thấm nhuần cả ba.

18. The full Name of Sanat Kumara is unknown to the Masters. Maybe most of it is known to the Buddhas of Activity. Perhaps when the Name of Sanat Kumara is revealed and known, something of the unknown, unseen and unheard purpose will also be revealed and known.

18. Danh đầy đủ của Đức Sanat Kumara thì các Chân sư không biết. Có lẽ phần lớn danh ấy được các Đức Phật Hoạt Động biết. Có lẽ khi Danh của Đức Sanat Kumara được mặc khải và được biết đến, một điều gì đó về thiên ý chưa được biết, chưa được thấy và chưa được nghe cũng sẽ được mặc khải và được biết đến.

In its initial phase of this new expression, it works through the Manu and the Master Morya; it is that which veils the central mystery which all esoteric schools—if true to their inaugurating impulse—will eventually reveal. What that is we do not yet know but it is hinted at in Rule XIII.

Trong giai đoạn ban đầu của biểu hiện mới này, nó hoạt động thông qua Đức Manu và Chân sư Morya; chính nó là điều che phủ huyền nhiệm trung tâm mà mọi trường phái huyền bí—nếu trung thành với xung lực khai sáng của mình—cuối cùng sẽ mặc khải. Điều đó là gì thì chúng ta chưa biết, nhưng nó được gợi ý trong Quy luật XIII.

19. Usually, all school processes are related to the second ray, or perhaps to the third and fifth—rarely if at all to the first ray.

19. Thông thường, mọi tiến trình trường phái đều liên quan đến cung hai, hoặc có lẽ đến cung ba và cung năm—hiếm khi, nếu có, liên quan đến cung một.

20. But so it is when thinking of truly occult schools. The first ray is primarily the ray of occultism and the first ray initiate is the true occultist.

20. Nhưng sự việc là như thế khi nghĩ về các trường phái huyền bí chân chính. Cung một chủ yếu là cung của huyền bí học, và điểm đạo đồ cung một là nhà huyền bí học chân chính.

21. We may infer that the true esoteric school is meant to reveal the mystery of life. What the true esoteric school is to reveal lies far beyond knowledge.

21. Chúng ta có thể suy ra rằng trường phái bí truyền chân chính nhằm mặc khải huyền nhiệm của sự sống. Điều mà trường phái bí truyền chân chính phải mặc khải nằm vượt xa tri thức.

b. The purpose underlying revelation. This may be a somewhat new idea to you for you are apt to regard revelation as a goal in itself. You seldom consider it as an effect of the inner purpose of Sanat Kumara.

b. Mục đích nằm bên dưới sự mặc khải. Điều này có thể là một ý tưởng hơi mới đối với các bạn, vì các bạn thường có khuynh hướng xem sự mặc khải như một mục tiêu tự nó. Các bạn hiếm khi xem nó như một hiệu quả của mục đích bên trong của Đức Sanat Kumara.

22. It is true that revelation is often considered a goal in itself. We have not looked deeply enough.

22. Quả thật sự mặc khải thường được xem là một mục tiêu tự nó. Chúng ta chưa nhìn đủ sâu.

23. Revelation is the disclosure of Reality, but to what end? This disclosure makes cooperation in the implementation of Purpose through Plan a possibility. There is more to Creation than sight and light. Action is needed—taken in sight of the light.

23. Sự mặc khải là sự hé lộ Thực Tại, nhưng nhằm mục đích gì? Sự hé lộ này khiến cho việc hợp tác trong sự thực hiện Thiên Ý thông qua Thiên Cơ trở thành khả hữu. Trong Cuộc Sáng Tạo còn có nhiều điều hơn là tầm nhìn và ánh sáng. Cần có hành động—được thực hiện trong tầm nhìn của ánh sáng.

24. Obviously, revelation leads to some possibility which is rarely understood, if at all, by humanity.

24. Hiển nhiên, sự mặc khải dẫn đến một khả năng nào đó mà nhân loại hiếm khi thấu hiểu, nếu có.

The emphasis hitherto has been on the aspect of revelation, making it an effect of what the disciple has done with himself and by means of which he is enabled to be the recipient of revelation.

Từ trước đến nay, trọng tâm đã được đặt vào phương diện mặc khải, khiến nó thành một hiệu quả của những gì đệ tử đã làm với chính mình, và nhờ đó y có thể trở thành người tiếp nhận sự mặc khải.

25. This is the standard approach and is not altogether incorrect.

25. Đây là cách tiếp cận tiêu chuẩn và không hoàn toàn sai.

26. Yet all revelations are necessarily partial. Towards what do they tend? What does revelation, itself, reveal?

26. Tuy nhiên, mọi mặc khải tất yếu đều chỉ là từng phần. Chúng hướng về điều gì? Chính sự mặc khải mặc khải điều gì?

Yet behind all the successive revelations of divinity down the ages is to be found one significant purpose; all of them are and will prove themselves to be aspects of the Great Revelation.

Tuy nhiên, phía sau mọi mặc khải liên tiếp của thiên tính qua các thời đại, có thể tìm thấy một mục đích đầy thâm nghĩa; tất cả chúng đều là, và sẽ chứng tỏ mình là, các phương diện của Đại Mặc Khải.

27. What can this “Great Revelation” possibly be? Must not even it be relative?

27. “Đại Mặc Khải” này có thể là gì? Chẳng lẽ ngay cả nó cũng không phải là tương đối sao?

It is through the processes of revelation that divinity is slowly dawning upon the human consciousness. It is a sevenfold revelation; each of the seven kingdoms in nature reveals one aspect of it, and each of these seven reaches revelation in seven or fourteen lesser revelations or phases.

Chính qua các tiến trình mặc khải mà thiên tính từ từ ló rạng trong tâm thức con người. Đó là một sự mặc khải thất phân; mỗi một trong bảy giới của thiên nhiên đều mặc khải một phương diện của nó,mỗi một trong bảy giới này đạt đến sự mặc khải qua bảy hoặc mười bốn mặc khải hay giai đoạn nhỏ hơn.

28. There are seven kingdoms of nature and each of them reveals one aspect of the Great Revelation.

28. Có bảy giới của thiên nhiên, và mỗi giới mặc khải một phương diện của Đại Mặc Khải.

29. We might say that each kingdom has its secret which be revealed:

29. Chúng ta có thể nói rằng mỗi giới đều có bí mật riêng cần được mặc khải:

a. The Secret of the Mineral Kingdom

a. Bí Mật của giới kim thạch

b. The Secret of the Plant Kingdom

b. Bí Mật của giới thực vật

c. The Secret of the Animal Kingdom

c. Bí Mật của giới động vật

d. The Secret of the Human Kingdom

d. Bí Mật của giới nhân loại

e. The Secret of the Kingdom of Souls

e. Bí Mật của Giới Linh Hồn

f. The Secret of the Kingdom of Planetary Lives

f. Bí Mật của Giới Các Sự Sống Hành tinh

g. The Secret of the Solar Kingdom.

g. Bí Mật của Giới Thái Dương.

30. The divisions by seven or fourteen suggests the Manus Who work in relation to any planetary chain or scheme. There are two manus per globe and thus the number fourteen. There are probably two Manus per chain and, thus again, the number fourteen.

30. Các phân chia theo bảy hoặc mười bốn gợi đến các Đức Manu, Những Đấng hoạt động liên quan đến bất kỳ dãy hành tinh hay hệ hành tinh nào. Có hai Đức Manu cho mỗi bầu hành tinh, và do đó có con số mười bốn. Có lẽ có hai Đức Manu cho mỗi dãy, và vì thế, một lần nữa, có con số mười bốn.

Ponder on this and learn to distinguish between vision (which is as much of the divine current revelation as a disciple can grasp in time and space) and revelation which is the synthesis of the divine expressive purpose.

Hãy suy ngẫm về điều này và học cách phân biệt giữa tầm nhìn (vốn là phần của sự mặc khải thiêng liêng hiện thời mà một đệ tử có thể nắm bắt trong thời gian và không gian) sự mặc khải, vốn là sự tổng hợp của mục đích biểu lộ thiêng liêng.

31. There appear to be three phases in this process of revelation of the Purpose:

31. Dường như có ba giai đoạn trong tiến trình mặc khải Thiên Ý này:

a. Vision

a. Tầm nhìn

b. Revelation

b. Sự mặc khải

c. The Great Revelation

c. Đại Mặc Khải

32. Vision is distinctly a limitation upon the process of revelation.

32. Tầm nhìn rõ ràng là một giới hạn đối với tiến trình mặc khải.

33. The lesser revelations are only aspects of the great and encompassing Revelation.

33. Các mặc khải nhỏ hơn chỉ là những phương diện của Mặc Khải vĩ đại và bao trùm.

34. There is a “divine current revelation” which suggest that the revelation possible at any one time is only partial.

34. Có một “sự mặc khải thiêng liêng hiện thời”, điều này gợi ý rằng sự mặc khải khả hữu ở bất kỳ thời điểm nào cũng chỉ là từng phần.

35. There is a possible “synthesis of the divine expressive purpose”. Is it time-bound or complete? It seems that it is conditioned by time, though revelation is also possible in completeness and, as such, will be called the Great Revelation. The Great Revelation, it seems, will not be conditioned by the limitations of time and space.

35. Có một “sự tổng hợp của mục đích biểu lộ thiêng liêng” khả hữu. Nó bị ràng buộc bởi thời gian hay là trọn vẹn? Dường như nó chịu tác động của thời gian, mặc dù sự mặc khải cũng có thể hiện hữu trong tính trọn vẹn và, với tư cách ấy, sẽ được gọi là Đại Mặc Khải. Dường như Đại Mặc Khải sẽ không chịu tác động bởi các giới hạn của thời gian và không gian.

This is related to the will-to-good which is, in its turn, a complete expression of the love nature of Deity.

Điều này liên quan đến Ý Chí-hướng Thiện, đến lượt nó là một biểu hiện trọn vẹn của bản chất bác ái của Thượng đế.

36. Revelation as the synthesis of divine expressive purpose is related to the will-to-good which is a complete expression of the love nature of Deity.

36. Sự mặc khải, với tư cách là sự tổng hợp của mục đích biểu lộ thiêng liêng, liên quan đến Ý Chí-hướng Thiện, vốn là một biểu hiện trọn vẹn của bản chất bác ái của Thượng đế.

37. Let us carefully examine this sentence:

37. Chúng ta hãy khảo sát cẩn thận câu này:

a. Revelation is a synthesis of divine expressive purpose.

a. Sự mặc khải là một sự tổng hợp của mục đích biểu lộ thiêng liêng.

b. Divine expressive purpose is related to the will-to-good.

b. Mục đích biểu lộ thiêng liêng liên quan đến Ý Chí-hướng Thiện.

c. The will-to-good is a complete expression of the love nature of Deity.

c. Ý Chí-hướng Thiện là một biểu hiện trọn vẹn của bản chất bác ái của Thượng đế.

38. We come to the conclusion that revelation is intimately related to the love nature of Deity.

38. Chúng ta đi đến kết luận rằng sự mặc khải liên hệ mật thiết với bản chất bác ái của Thượng đế.

c. The (as yet) unrecognised purpose which evoked the creative activity of our Planetary Logos.

c. Mục đích chưa được nhận biết (cho đến nay) đã gợi lên hoạt động sáng tạo của Đức Hành Tinh Thượng Đế chúng ta.

39. The concept of “creativity” is related specifically to both the third and fourth rays.

39. Khái niệm “tính sáng tạo” liên quan đặc biệt đến cả cung ba lẫn cung bốn.

This brought the [Page 242] third aspect of the divine Trinity into play.

Điều này đã đưa [Page 242] phương diện thứ ba của Ba Ngôi thiêng liêng vào hoạt động.

40. Purpose brings into expression the various aspects of divinity. There is a parallel here to the manner in which the Monad brings the various principles into expression through the permanent atoms, the vehicles and the chakras.

40. Mục đích đưa các phương diện khác nhau của thiên tính vào biểu hiện. Ở đây có một tương đồng với cách chân thần đưa các nguyên khí khác nhau vào biểu hiện thông qua các nguyên tử trường tồn, các hiện thể và các luân xa.

The usual reasons brought forward by the finite mind of man to account for what is called by us “manifestation,” and to explain the dualism of all existence and the relation of spirit-matter, are by no means the real explanation of the divine purpose;

Những lý do thông thường do thể trí hữu hạn của con người đưa ra để giải thích điều mà chúng ta gọi là “biểu hiện”, và để giải thích tính nhị nguyên của mọi hiện hữu cùng mối liên hệ giữa tinh thần và vật chất, hoàn toàn không phải là lời giải thích thực sự về mục đích thiêng liêng;

41. Our human ideas are greatly limited. We entertain ourselves with inaccurate formulations of the truth and tend to search no further.

41. Các ý tưởng của con người chúng ta bị giới hạn rất nhiều. Chúng ta tự thỏa mãn với những công thức không chính xác về chân lý và có khuynh hướng không tìm kiếm xa hơn.

they are based on man’s own essential dualism;

chúng dựa trên tính nhị nguyên thiết yếu của chính con người;

42. Man’s essential dualism biases his formulations of the true cause of creativity. We project our dualism on Reality.

42. Tính nhị nguyên thiết yếu của con người làm lệch các công thức của y về nguyên nhân chân thật của tính sáng tạo. Chúng ta phóng chiếu tính nhị nguyên của mình lên Thực Tại.

they are the highest explanation of his own divine nature which he can achieve at this time. This is a point to be remembered.

chúng là lời giải thích cao nhất về bản chất thiêng liêng của chính y mà y có thể đạt được vào lúc này. Đây là một điểm cần ghi nhớ.

43. Man’s explanations of Reality are always limited by his equipment and his evolutionary status.

43. Những lời giải thích của con người về Thực Tại luôn bị giới hạn bởi trang bị của y và tình trạng tiến hoá của y.

They are his response to the second Ray of Mutual Attraction, which the Ray of Love-Wisdom is sometimes called. They are not an expression of his response to the Will of God, and only indicate the limitations of his definition of divine purpose.

Chúng là đáp ứng của y đối với cung hai của Sự Hấp Dẫn Hỗ Tương, như Cung Bác Ái – Minh Triết đôi khi được gọi. Chúng không phải là biểu hiện của đáp ứng của y đối với Ý Chí của Thượng Đế, và chỉ cho thấy các giới hạn trong định nghĩa của y về mục đích thiêng liêng.

44. Man does not yet understand the will. Being subservient to the second ray, he offers second ray explanations of first ray and third ray processes. Hence the inaccuracy.

44. Con người chưa thấu hiểu ý chí. Vì lệ thuộc vào cung hai, y đưa ra những lời giải thích thuộc cung hai cho các tiến trình thuộc cung một và cung ba. Do đó có sự không chính xác.

45. Under the second ray, man’s explanations will be dualistic.

45. Dưới cung hai, các lời giải thích của con người sẽ mang tính nhị nguyên.

46. We note one of the important names of the Ray of Love-Wisdom. It is called the “Ray of Mutual Attraction”.

46. Chúng ta ghi nhận một trong những danh xưng quan trọng của Cung Bác Ái – Minh Triết. Nó được gọi là “Cung của Sự Hấp Dẫn Hỗ Tương”.

As you will note, they really define nothing. Nor can I help you to recognise this third aspect and the eternal purpose of the Lord of the World. Just as a soul seeks incarnation in order to carry forward some fixed design and to take one of the higher initiations, so Sanat Kumara came into incarnation through the medium of this planet in order to carry forward His fixed designs (known to Him as a cosmic Soul on cosmic mental levels),

Như các bạn sẽ lưu ý, chúng thực sự chẳng định nghĩa điều gì. Tôi cũng không thể giúp các bạn nhận biết phương diện thứ ba này và mục đích vĩnh cửu của Đức Chúa Tể Thế Giới. Cũng như một linh hồn tìm kiếm sự nhập thể để tiến hành một thiết kế cố định nào đó và để nhận một trong các lần điểm đạo cao hơn, Đức Sanat Kumara cũng đã lâm phàm thông qua phương tiện của hành tinh này để tiến hành các thiết kế cố định của Ngài (được Ngài biết đến như một Linh Hồn vũ trụ trên các cấp độ trí tuệ vũ trụ),

47. Where does Sanat Kumara manifest as a soul? On the cosmic mental plane. We know that Planetary Logos also manifests on the cosmic mental plane, on its third level. Is Sanat Kumara the same as the Planetary Logos and is His (Sanat Kumara’s) place on the cosmic mental plane the same as that of the Planetary Logos?

47. Đức Sanat Kumara biểu hiện như một linh hồn ở đâu? Trên cõi trí vũ trụ. Chúng ta biết rằng Đức Hành Tinh Thượng Đế cũng biểu hiện trên cõi trí vũ trụ, ở cấp độ thứ ba của nó. Đức Sanat Kumara có phải là một với Đức Hành Tinh Thượng Đế không, và vị trí của Ngài trên cõi trí vũ trụ có giống với vị trí của Đức Hành Tinh Thượng Đế không?

48. Where is “fixed design” to be known? Apparently within the causal body. This would apply to a human being and to a Planetary Logos or Solar Logos.

48. “Thiết kế cố định” được biết ở đâu? Rõ ràng là trong thể nguyên nhân. Điều này sẽ áp dụng cho một con người, và cho một Đức Hành Tinh Thượng Đế hoặc Thái dương Thượng đế.

49. Creativity exists in order to carry forward a purpose, or “Fixed Design”.

49. Tính sáng tạo hiện hữu để tiến hành một mục đích, hay “Thiết Kế Cố Định”.

50. The Word of Power for the creative third ray enters here: “Purpose itself am I”. Every creative act is to be a purposeful act.

50. Quyền năng từ dành cho cung ba sáng tạo đi vào đây: “Chính Mục đích là Ta”. Mọi hành vi sáng tạo phải là một hành vi có mục đích.

51. Creativity is not merely a playful and inconsequential process. It is a definite, purposeful act which expresses the purpose or Fixed Design behind the act of creativity.

51. Tính sáng tạo không chỉ là một tiến trình vui đùa và không hệ quả. Nó là một hành vi xác định, có mục đích, biểu lộ mục đích hay Thiết Kế Cố Định phía sau hành vi sáng tạo.

52. “Being descends to manifest”.

52. “Bản Thể hạ xuống để biểu hiện”.

53. The first and third aspects of divinity cannot be separated.

53. Phương diện thứ nhất và thứ ba của thiên tính không thể tách rời.

and to take one of the higher initiations which mark the Path of Initiation for these great informing Lives of planetary spheres.

và để nhận một trong các lần điểm đạo cao hơn vốn đánh dấu Con Đường Điểm Đạo dành cho những Sự Sống vĩ đại phú linh các khối cầu hành tinh này.

54. Sanat Kumara, it seems, is being called a great informing Life of a planetary sphere. This would equate Him with the Planetary Logos.

54. Dường như Đức Sanat Kumara đang được gọi là một Sự Sống vĩ đại phú linh một khối cầu hành tinh. Điều này sẽ đồng nhất Ngài với Đức Hành Tinh Thượng Đế.

55. The fourth initiation taken through the fourth chain is a higher initiation.

55. Lần điểm đạo thứ tư được nhận thông qua Dãy Thứ Tư là một lần điểm đạo cao hơn.

56. We have to proceed carefully as sometimes Sanat Kumara is said to be different from the Planetary Logos and sometimes He is exactly equated with this Logos.

56. Chúng ta phải tiến hành cẩn trọng, vì đôi khi Đức Sanat Kumara được nói là khác với Đức Hành Tinh Thượng Đế, và đôi khi Ngài được đồng nhất hoàn toàn với Đức Thượng Đế này.

57. We do have to question, however, whether the initiations which face the Planetary Logos are exactly the same as the initiations which face Sanat Kumara. The question is much veiled.

57. Tuy nhiên, chúng ta thật sự phải đặt câu hỏi liệu các lần điểm đạo đối diện Đức Hành Tinh Thượng Đế có hoàn toàn giống với các lần điểm đạo đối diện Đức Sanat Kumara hay không. Câu hỏi này bị che phủ rất nhiều.

58. Let us tabulate the two purposes for which Sanat Kumara took incarnation:

58. Chúng ta hãy lập bảng hai mục đích vì đó Đức Sanat Kumara đã lâm phàm:

a. To carry forward His fixed designs

a. Để tiến hành các thiết kế cố định của Ngài

b. To take one of the higher initiations (in the series of initiations taken by great Lives such as Planetary Logoi)

b. Để nhận một trong các lần điểm đạo cao hơn (trong loạt điểm đạo mà các Sự Sống vĩ đại như các Đức Hành Tinh Thượng Đế nhận lấy)

He could take this particular initiation through the experience to be gained in a vehicle constituted, expressive and at the special state of consciousness of our entire planetary manifestation. It required an instrument in which the cells and atoms of His body (all lives in all kingdoms), and the integrated organisms within that body (the various kingdoms of nature), were at the peculiar point in evolution at which they are all now to be found.

Ngài có thể nhận lần điểm đạo đặc biệt này thông qua kinh nghiệm cần đạt được trong một hiện thể được cấu thành, có tính biểu hiện và ở trạng thái tâm thức đặc biệt của toàn bộ sự biểu hiện hành tinh của chúng ta. Nó đòi hỏi một công cụ trong đó các tế bào và nguyên tử của thể Ngài (mọi sự sống trong mọi giới), và các cơ thể tổ chức đã tích hợp bên trong thể ấy (các giới khác nhau của thiên nhiên), đều ở điểm tiến hoá đặc thù mà hiện nay tất cả chúng đang được tìm thấy.

59. The initiation of Sanat Kumara now under discussion needed exactly the conditions which now exist on our fourth chain and our fourth globe in order to be taken.

59. Lần điểm đạo của Đức Sanat Kumara đang được bàn đến hiện nay cần đúng những điều kiện hiện đang có trên dãy thứ tư và bầu hành tinh thứ tư của chúng ta để có thể được nhận.

60. It is clear that the Tibetan’s reference is veiled. In fact, it is a hint.

60. Rõ ràng là sự tham chiếu của Chân sư Tây Tạng được che phủ. Thật ra, đó là một gợi ý.

61. The Planetary Logos about to take the particular initiation under discussion needed to be assured that the tiny lives (the cells in His body) and the “integrated organisms within His body” were at a certain point of evolution.

61. Đức Hành Tinh Thượng Đế sắp nhận lần điểm đạo đặc biệt đang được bàn đến cần được bảo đảm rằng những sự sống bé nhỏ (các tế bào trong thể Ngài) và “các cơ thể tổ chức đã tích hợp bên trong thể Ngài” đã ở một điểm tiến hoá nhất định.

62. We are living in a time when these cells and these integrated organisms have, apparently, attained the requisite level to make the Planetary Logos’ next initiation possible.

62. Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khi các tế bào này và các cơ thể tổ chức tích hợp này, dường như, đã đạt đến cấp độ cần thiết để lần điểm đạo kế tiếp của Đức Hành Tinh Thượng Đế trở thành khả hữu.

63. But is there some similarity regarding the state in which all kingdoms of nature find themselves? Perhaps they are all moving towards some sort of resonance with the number four. This would make the fourth initiation of our Planetary Logos possible even though it is not one of the major cosmic initiations.

63. Nhưng có sự tương đồng nào đó liên quan đến trạng thái mà mọi giới của thiên nhiên đang ở trong đó không? Có lẽ tất cả chúng đều đang tiến về một dạng cộng hưởng nào đó với con số bốn. Điều này sẽ khiến lần điểm đạo thứ tư của Đức Hành Tinh Thượng Đế chúng ta trở thành khả hữu, mặc dù nó không phải là một trong các lần điểm đạo vũ trụ chính yếu.

64. It is interesting and important to consider the kingdoms of nature as integrated organisms within the body of the Planetary Logos. Each such organism is informed by a great Life.

64. Thật thú vị và quan trọng khi xem xét các giới của thiên nhiên như những cơ thể tổ chức đã tích hợp bên trong thể của Đức Hành Tinh Thượng Đế. Mỗi cơ thể tổ chức như thế đều được một Sự Sống vĩ đại phú linh.

That is as far as I may go in giving you a hint, and you can see from this that in order to grasp more and comprehend more of His divine purpose you also will have to be in preparation for that particular initiation which for you—on your tiny level of awareness of fixed design—is the microcosmic parallel of His cosmic intention. Which that initiation is I may not state.

Đó là mức xa nhất mà Tôi có thể đi trong việc trao cho các bạn một gợi ý, và từ điều này các bạn có thể thấy rằng để nắm bắt nhiều hơn và thấu hiểu nhiều hơn về mục đích thiêng liêng của Ngài, chính các bạn cũng sẽ phải chuẩn bị cho lần điểm đạo đặc biệt ấy, vốn đối với các bạn—trên cấp độ nhận thức bé nhỏ của các bạn về thiết kế cố định—là tương ứng tiểu thiên địa của ý định vũ trụ của Ngài. Đó là lần điểm đạo nào thì Tôi không được phép nêu ra.

65. Well, we do know that the Planetary Logos is preparing to undergo a fourth initiation in a series of seven. Can this be the initiation meant? Will we have to be at the fourth initiation in order to understand what is here said?

65. Chúng ta quả thật biết rằng Đức Hành Tinh Thượng Đế đang chuẩn bị trải qua một lần điểm đạo thứ tư trong một loạt bảy lần. Đây có thể là lần điểm đạo được nói đến chăng? Liệu chúng ta phải ở lần điểm đạo thứ tư để thấu hiểu điều được nói ở đây chăng?

66. If the Planetary Logos and Sanat Kumara are to be considered equivalent (and often They are) then Sanat Kumara is undergoing a kind of fourth initiation on a planetary scale.

66. Nếu Đức Hành Tinh Thượng Đế và Đức Sanat Kumara được xem là tương đương (và thường là như vậy) thì Đức Sanat Kumara đang trải qua một loại lần điểm đạo thứ tư trên quy mô hành tinh.

67. It would seem that planetary logoic purpose is related to the planetary logoic Monad which only makes its conscious impact at the third initiation and beyond.

67. Dường như mục đích thượng đế hành tinh liên quan đến chân thần thượng đế hành tinh, vốn chỉ tạo tác động hữu thức của nó ở lần điểm đạo thứ ba và về sau.

68. We should also note that Sanat Kumara is called “the Great Sacrifice”, an appellation which say much about which initiation He is in the process of undergoing.

68. Chúng ta cũng nên lưu ý rằng Đức Sanat Kumara được gọi là “Đấng Đại Hi Sinh”, một danh xưng nói lên nhiều điều về lần điểm đạo mà Ngài đang trong tiến trình trải qua.

The only service which these hints can render (as to the sevenfold divine purpose and [Page 243] the consideration of them) is to develop in you, the disciple, the power to think abstractly—a much needed capacity before you can begin to tread the Way of the Higher Evolution; for this the five initiations open to humanity (as today constituted) prepare the human spirit.

Sự phụng sự duy nhất mà các gợi ý này có thể đem lại (liên quan đến mục đích thiêng liêng thất phân và [Page 243] việc suy xét chúng) là phát triển nơi bạn, người đệ tử, quyền năng tư duy trừu tượng—một năng lực rất cần thiết trước khi bạn có thể bắt đầu bước trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu; vì điều này, năm lần điểm đạo mở ra cho nhân loại (như hiện nay được cấu thành) chuẩn bị tinh thần con người.

69. Abstract thought is not something that will be transcended by One Who reaches the stage of Master.

69. Tư tưởng trừu tượng không phải là điều sẽ bị vượt qua bởi Đấng đạt đến giai đoạn Chân sư.

70. Hints are to be unfolded not only by the intuition but by the immediately preceding stage of abstract thinking.

70. Các gợi ý phải được khai mở không chỉ bởi trực giác mà còn bởi giai đoạn ngay trước đó là tư duy trừu tượng.

71. It is quite interesting that Those Who tread the “Way of Higher Evolution” are utilizing the abstract mind. If they do not retain the spiritual triad on their ‘journey’, they retain something which is its sublimation.

71. Điều khá thú vị là Những Đấng bước trên “Con đường Tiến Hóa Cao Siêu” đang sử dụng trí trừu tượng. Nếu Các Ngài không giữ lại Tam Nguyên Tinh Thần trên ‘cuộc hành trình’ của mình, thì Các Ngài giữ lại một điều gì đó vốn là sự thăng hoa của nó.

72. This will mean that the abstract mind is a quality inherent in the Monad (perhaps as Intelligent Activity) for it is the threefold Monad Who treads this higher Way.

72. Điều này sẽ có nghĩa rằng trí trừu tượng là một phẩm tính cố hữu trong chân thần (có lẽ như Hoạt Động Thông Tuệ), vì chính chân thần tam phân là Đấng bước trên Con Đường cao siêu này.

73. Amazingly, five initiations prepare the human spirit for the power to think abstractly. This means that such a capacity almost certainly exists ‘above’ the level of the spiritual triad.

73. Thật đáng kinh ngạc, năm lần điểm đạo chuẩn bị tinh thần con người cho quyền năng tư duy trừu tượng. Điều này có nghĩa rằng một năng lực như thế gần như chắc chắn hiện hữu ‘bên trên’ cấp độ của Tam Nguyên Tinh Thần.

74. Abstract manas in the triad is simply a reflection of the same capacity (at a much higher level) in the Monad.

74. Manas trừu tượng trong tam nguyên tinh thần chỉ là một phản chiếu của cùng năng lực ấy (ở một cấp độ cao hơn rất nhiều) trong chân thần.

d. The mysterious purpose which has necessitated the calling into activity the Principle of Pain.

d. Mục đích huyền nhiệm đã khiến cho Nguyên Khí Đau Khổ cần được kêu gọi vào hoạt động.

75. The necessity for the existence of pain is a great mystery. Many think of it as entirely useless.

75. Sự cần thiết cho sự hiện hữu của đau khổ là một huyền nhiệm lớn. Nhiều người nghĩ rằng nó hoàn toàn vô dụng.

Suffering and Pain are essential requirements in order to carry this purpose to completion.

Sự chịu khổ và Đau Khổ là những yêu cầu thiết yếu để đưa mục đích này đến chỗ hoàn tất.

76. Yet the purpose is definite and, apparently, from the perspective of Sanat Kumara, necessary.

76. Tuy nhiên mục đích ấy là xác định và, dường như, theo viễn cảnh của Đức Sanat Kumara, cần thiết.

The capacity to suffer, which is distinctive of humanity, is the outstanding conscious reaction to environment of the fourth kingdom in nature, the human.

Năng lực chịu đau khổ, vốn là nét đặc trưng của nhân loại, là phản ứng hữu thức nổi bật của giới thứ tư trong thiên nhiên, tức giới nhân loại, đối với môi trường.

77. DK tells us that the capacity to suffer is distinctively human. Animals also suffer, but not in the same way. As far as the recognition of inharmony which exists in kingdoms higher than the human, it is not clear that it can be called suffering, per se.

77. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng năng lực chịu đau khổ là đặc trưng riêng của con người. Loài vật cũng đau khổ, nhưng không theo cùng một cách. Đối với việc nhận biết sự bất hòa tồn tại trong các giới cao hơn giới nhân loại, không rõ liệu chính điều đó có thể được gọi là đau khổ hay không.

78. Interestingly, we are told that our Planetary Logos found the task of assuming redemptive responsibility for this planet disagreeable, even painful

78. Điều thú vị là chúng ta được cho biết rằng Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta thấy nhiệm vụ đảm nhận trách nhiệm cứu chuộc cho hành tinh này là không dễ chịu, thậm chí đau đớn.

The Old Commentary says:

Cổ Luận nói rằng:

“He entered into life and knew it to be death.

“Ngài bước vào sự sống và biết đó là sự chết.

“He took a form and grieved to find it dark.

“Ngài khoác lấy một hình tướng và buồn rầu khi thấy nó tối tăm.

“He drove Himself forth from the secret place and sought the place of light, and light revealed all that he sought the least.

“Ngài tự thúc đẩy chính mình rời khỏi nơi bí mật và tìm đến nơi ánh sáng, và ánh sáng mặc khải tất cả những gì Ngài ít muốn tìm nhất.

“He craved permission to return.

“Ngài khát khao được phép trở về.

“He sought the Throne on high and Him who sat thereon. He said ‘I sought not this. I looked for peace, for light, for scope to serve, to prove my love and to reveal my power. Light there is none. Peace is not found. Let me return.’

“Ngài tìm đến Thánh Ngai trên cao và Đấng ngự trên đó. Ngài nói: ‘Con đã không tìm điều này. Con tìm kiếm bình an, ánh sáng, phạm vi để phụng sự, để chứng tỏ tình thương của con và mặc khải quyền năng của con. Ở đây không có ánh sáng. Bình an không tìm thấy. Xin cho con trở về.’

But He Who sat upon the Throne turned not his head. He seemed not e’en to listen nor to hear. But from the lower sphere of darkness and of pain a voice came forth and cried: ‘We suffer here. We seek the light. We need the glory of an entering God. [Page I can find no other words except these last two to express the ancient symbol from which I am translating.] Lift us to Heaven. Enter, O Lord, the tomb. Raise us into the light and make the sacrifice. Break down for us the prison wall and enter into pain.’

Nhưng Đấng ngự trên Thánh Ngai không quay đầu lại. Ngài dường như không hề lắng nghe cũng chẳng nghe thấy. Nhưng từ khối cầu thấp của bóng tối và đau đớn, một tiếng nói vang lên và kêu rằng: ‘Chúng con đau khổ nơi đây. Chúng con tìm kiếm ánh sáng. Chúng con cần vinh quang của một Thượng đế đi vào. [Page Tôi không tìm được lời nào khác ngoài hai lời cuối này để diễn tả biểu tượng cổ xưa mà tôi đang dịch.] Xin nâng chúng con lên Thiên Đàng. Xin hãy vào, ôi Chúa Tể, trong nấm mộ. Xin nâng chúng con vào ánh sáng và thực hiện sự hi sinh. Xin phá đổ cho chúng con bức tường ngục tù và bước vào đau đớn.’

The Lord of Life returned. He liked it not, and hence the pain.” (EP II 98)

Chúa Tể Sự Sống đã trở lại. Ngài không thích điều ấy, và vì thế có đau đớn.” (EP II 98)

79. The Planetary Logos is a cosmic Being, far higher than a human being. Yet, apparently, He suffered in taking the form of this planet and we, in reflection of Him, suffer as well.

79. Đức Hành Tinh Thượng Đế là một Đấng vũ trụ, cao hơn con người rất nhiều. Tuy nhiên, dường như Ngài đã đau khổ khi khoác lấy hình tướng của hành tinh này, và chúng ta, như sự phản chiếu của Ngài, cũng đau khổ.

80. Something is said of Him which may shed light on the nature of His suffering in contrast with our own:

80. Có điều được nói về Ngài có thể soi sáng bản chất đau khổ của Ngài khi đối chiếu với đau khổ của chính chúng ta:

The cells in His body—those cells through which He feels, and senses, and experiences, —are, in this world period, rent by pain and suffering, for His is the consciousness at the centre of the Body, and theirs is the capacity to suffer, so that by means of them He may learn the meaning of systemic dispassion, be dissociated from all forms and material substance, and upon the cross of matter eventually find liberation and the freedom of the Spirit. (TCF 384)

Các tế bào trong thể của Ngài—những tế bào qua đó Ngài cảm nhận, tri giác và trải nghiệm—trong chu kỳ thế giới này, bị xé nát bởi đau đớn và khổ đau, vì tâm thức của Ngài là tâm thức ở trung tâm của Thể, còn năng lực chịu đau khổ là của chúng, để nhờ chúng Ngài có thể học ý nghĩa của sự vô dục trong hệ thống, tách khỏi mọi hình tướng và chất liệu vật chất, và trên thập giá của vật chất cuối cùng tìm thấy giải thoát cùng tự do của Tinh thần. (TCF 384)

81. We return to the idea that it is something distinctively human to suffer.

81. Chúng ta trở lại với ý tưởng rằng đau khổ là điều đặc trưng riêng của con người.

It is related to the power to think and consciously to relate cause and effect.

Nó liên hệ với năng lực suy nghĩ và liên kết nguyên nhân với kết quả một cách hữu thức.

82. It would seem that the capacity to suffer is related both to self-consciousness and the power to compare past, present and potential future.

82. Dường như năng lực chịu đau khổ liên hệ cả với ngã thức lẫn năng lực so sánh quá khứ, hiện tại và tương lai tiềm tàng.

83. We learn, in this respect, that the fifth ray (which systematically relates cause and effect) is necessary if there is to be present the power to suffer.

83. Về phương diện này, chúng ta biết rằng cung năm, vốn liên kết nguyên nhân và kết quả một cách có hệ thống, là cần thiết nếu năng lực chịu đau khổ hiện diện.

It is a process on the way to something undreamt of today. And when I say this, my brother, I mean just exactly that.

Đó là một tiến trình trên đường hướng tới một điều ngày nay chưa từng được mơ tới. Và huynh đệ của tôi, khi tôi nói điều này, tôi muốn nói chính xác như vậy.

84. We are learning that there is a very great and beautiful purpose behind suffering. DK is telling us that we have no idea where this tendency is leading us—or, presumably, our planet, since our particular Logos informs the planet characterized by the greatest amount of pain and suffering of all planets in our solar system.

84. Chúng ta đang học biết rằng có một mục đích rất lớn lao và đẹp đẽ ẩn sau đau khổ. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng chúng ta không có ý niệm gì về việc khuynh hướng này đang dẫn chúng ta—hoặc, có lẽ, hành tinh của chúng ta—đến đâu, vì Đức Thượng Đế đặc thù của chúng ta thấm nhuần hành tinh được đặc trưng bởi lượng đau đớn và khổ đau lớn nhất trong tất cả các hành tinh thuộc hệ mặt trời của chúng ta.

This same ability to respond through pain is not to be found (in the sense in which the human being comprehends it) in any of the subhuman kingdoms, nor in the superhuman kingdoms, any more than it was found in the previous solar system or will be found in the next.

Cùng năng lực đáp ứng qua đau đớn này không được tìm thấy, theo ý nghĩa mà con người thấu hiểu nó, trong bất kỳ giới nào dưới nhân loại, cũng như trong các giới siêu nhân loại, chẳng khác gì nó đã không được tìm thấy trong hệ mặt trời trước kia hoặc sẽ được tìm thấy trong hệ kế tiếp.

85. This is an important statement. Apparently, the capacity to respond to pain does exist in the lower and higher kingdoms but not in the same way that the human being comprehends this response.

85. Đây là một phát biểu quan trọng. Dường như năng lực đáp ứng với đau đớn thật sự tồn tại trong các giới thấp hơn và cao hơn, nhưng không theo cùng cách mà con người thấu hiểu đáp ứng này.

86. The greatest amount of suffering occurs on the soft-line rays which are the rays most affected by duality. Duality and suffering are inescapably connected.

86. Lượng đau khổ lớn nhất xảy ra trên các cung tuyến mềm, là các cung chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi nhị nguyên. Nhị nguyên và đau khổ gắn liền với nhau không thể tránh khỏi.

87. In this solar system our planet is meant to be conditioned primarily by the second ray of Love-Wisdom. This conditioning is reinforced by the present conditioning of our Solar Logos which is primarily along the second ray line. In the next solar system, both our plane and our solar system which be characterized by far more of the first ray than is presently possible.

87. Trong hệ mặt trời này, hành tinh của chúng ta được định là sẽ chịu tác động chủ yếu bởi cung hai Bác Ái – Minh Triết. Sự tác động này được củng cố bởi sự tác động hiện nay của Đức Thái dương Thượng đế của chúng ta, vốn chủ yếu theo tuyến cung hai. Trong hệ mặt trời kế tiếp, cả cõi của chúng ta lẫn hệ mặt trời của chúng ta sẽ được đặc trưng bởi cung một nhiều hơn rất xa so với điều hiện nay có thể.

It is related to an aspect of the creative intelligence, an aspect and characteristic peculiar to humanity.

Nó liên hệ với một phương diện của trí thông minh sáng tạo, một phương diện và đặc tính riêng biệt của nhân loại.

88. It is as if one must know that one exists, and further, that one is oneself alone (i.e. both individualized and human), if there is to be a capacity to suffer in the sense that human beings understand suffering.

88. Dường như người ta phải biết rằng mình hiện hữu, và hơn nữa, rằng mình là chính mình một cách riêng biệt, tức vừa được biệt ngã hóa vừa là con người, thì mới có năng lực chịu đau khổ theo ý nghĩa mà con người hiểu về đau khổ.

89. Animals do not know they exist, and members of kingdoms higher than the human (while they know they exist) know that they do not exist in isolation. They know “there are no other selves”. This higher knowledge alters tremendously the attitude towards the inharmonies which normally cause suffering within humanity.

89. Loài vật không biết chúng hiện hữu, và các thành viên của những giới cao hơn giới nhân loại, dù biết mình hiện hữu, cũng biết rằng họ không hiện hữu trong cô lập. Họ biết “không có những bản ngã khác”. Tri thức cao siêu này làm thay đổi vô cùng lớn thái độ đối với những bất hòa vốn thường gây đau khổ trong nhân loại.

This aspect was not found in the previous solar system, in which the other aspects of the creative intelligence functioned.

Phương diện này đã không được tìm thấy trong hệ mặt trời trước kia, nơi những phương diện khác của trí thông minh sáng tạo đã vận hành.

90. We continue to speak of an aspect of creative intelligence which was not active in the previous solar system and which, in this system, has been brought from latency to potency.

90. Chúng ta tiếp tục nói về một phương diện của trí thông minh sáng tạo vốn không hoạt động trong hệ mặt trời trước kia và, trong hệ này, đã được đưa từ trạng thái tiềm ẩn sang quyền năng.

91. To some degree, suffering is related to Mercury and the fourth ray. Our planet is called the “Star of Suffering” (TCF 1197) and Mercury is called the “Star of Conflict” (EA 357)

91. Ở một mức độ nào đó, đau khổ liên hệ với Sao Thủy và cung bốn. Hành tinh của chúng ta được gọi là “Ngôi Sao của Khổ Đau” (TCF 1197) và Sao Thủy được gọi là “Ngôi Sao của Xung Đột” (EA 357).

92. How many aspects of creative intelligence are there? DK is not specifying, but it seems very likely that the aspect of creative intelligence related to suffering is also related to the fourth ray—humanity’s predominant ray.

92. Có bao nhiêu phương diện của trí thông minh sáng tạo? Chân sư DK không nêu rõ, nhưng dường như rất có khả năng phương diện của trí thông minh sáng tạo liên hệ với đau khổ cũng liên hệ với cung bốn—cung chủ đạo của nhân loại.

93. Yet we cannot say that in the previous solar system the fourth ray was not expressive as human beings existed then, we have been told.

93. Tuy nhiên chúng ta không thể nói rằng trong hệ mặt trời trước kia cung bốn đã không biểu hiện, vì chúng ta được cho biết rằng khi ấy con người đã tồn tại.

94. We do know that in the previous solar system the second ray was not strongly in expression. It is the second ray which confers the ability to “agonise towards the goal, carrying the burden of the world, learning—through identification with others—a detachment which, as time proceeds, negates all pain.” (DINA I, 149)

94. Chúng ta biết rằng trong hệ mặt trời trước kia cung hai chưa biểu hiện mạnh mẽ. Chính cung hai ban cho năng lực “quằn quại hướng tới mục tiêu, mang gánh nặng của thế giới, học—qua sự đồng hoá với người khác—một sự tách rời mà, khi thời gian trôi qua, phủ định mọi đau đớn.” (DINA I, 149)

95. As regards suffering and the fourth ray (humanity’s present soul ray), the following is pertinent:

95. Về đau khổ và cung bốn, tức cung linh hồn hiện nay của nhân loại, đoạn sau đây là thích hợp:

This has been called the “ray of struggle” for on this ray the qualities of rajas (activity) and tamas (inertia) are so strangely equal in proportion that the nature of the fourth ray man is torn with their combat, and the outcome, when satisfactory, is spoken of as the “Birth of Horus,” of the Christ, born from the throes of constant pain and suffering. (EP I 206)

Cung này đã được gọi là “cung của đấu tranh” vì trên cung này các phẩm tính của rajas, tức hoạt động, và tamas, tức quán tính, cân bằng một cách kỳ lạ đến nỗi bản chất của người cung bốn bị giằng xé bởi cuộc giao tranh của chúng, và kết quả, khi thỏa đáng, được nói đến như “Sự ra đời của Horus”, của Đức Christ, được sinh ra từ những cơn đau đẻ của đau đớn và khổ đau liên tục. (EP I 206)

In this solar system, it has been developed and brought from latency to potency in connection with the substance of the human bodies through which the human soul is gaining experience.

Trong hệ mặt trời này, nó đã được phát triển và đưa từ trạng thái tiềm ẩn sang quyền năng trong liên hệ với chất liệu của các thể con người, qua đó linh hồn con người đang thu nhận kinh nghiệm.

96. Human physical bodies are found on a vibratory level related to the number four. Of the four lower planes, the level which includes the substance of the human bodies is the fourth—mental, astral, etheric and dense-physical.

96. Các thể xác của con người được tìm thấy trên một cấp độ rung động liên hệ với con số bốn. Trong bốn cõi thấp, cấp độ bao gồm chất liệu của các thể con người là cấp độ thứ tư—trí tuệ, cảm dục, dĩ thái và hồng trần đậm đặc.

97. This solar system is related to the number four for our Solar Logos (at least at this time) is a Logos of the fourth order. Such “orders” may change as the focus of the Solar Logos ‘rises’ on the cosmic planes.

97. Hệ mặt trời này liên hệ với con số bốn, vì Đức Thái dương Thượng đế của chúng ta, ít nhất vào lúc này, là một Thượng đế thuộc đẳng cấp thứ tư. Những “đẳng cấp” như thế có thể thay đổi khi tiêu điểm của Đức Thái dương Thượng đế ‘vươn lên’ trên các cõi vũ trụ.

98. DK, however, is speaking of all the bodies through which souls express. They express through personalities and the personality is also correlated with the number four.

98. Tuy nhiên, Chân sư DK đang nói về tất cả các thể qua đó các linh hồn biểu hiện. Các linh hồn biểu hiện qua các phàm ngã, và phàm ngã cũng tương ứng với con số bốn.

99. On the bridging fourth ray, those processes are put into effect which will assist the pattern of first solar system substance to be re-pattered in such a way as to accord with second solar system purposes. This repatterning brings about suffering.

99. Trên cung bốn có chức năng bắt cầu, những tiến trình được đưa vào tác dụng sẽ trợ giúp mô hình chất liệu của hệ mặt trời thứ nhất được tái mô thức hóa sao cho phù hợp với các mục đích của hệ mặt trời thứ hai. Sự tái mô thức hóa này gây ra đau khổ.

100. When considering the number four and its relation to suffering, we must remember that the four Lords of Karma (whose beneficent work imposes much suffering upon humanity) are also conditioned by the number four.

100. Khi xem xét con số bốn và mối liên hệ của nó với đau khổ, chúng ta phải nhớ rằng bốn Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả, mà công việc từ ái của Các Ngài áp đặt nhiều đau khổ lên nhân loại, cũng chịu tác động bởi con số bốn.

It holds the secret of beauty in manifestation, and its first expression can be seen in the creative perfection of certain phases of art for which man, and man alone, is responsible.

Nó nắm giữ bí mật của vẻ đẹp trong biểu hiện, và biểu hiện đầu tiên của nó có thể được thấy trong sự hoàn hảo sáng tạo của một số giai đoạn nghệ thuật mà con người, và chỉ con người, chịu trách nhiệm.

101. We are still referencing an aspect of creative intelligence which is “peculiar to humanity” and may well be associated with the fourth rah. This aspect is related to the emergence of “beauty in manifestation”. It is the exercise of this aspect which allows the human being to achieve “creative perfection” in relation to certain phases of art.

101. Chúng ta vẫn đang quy chiếu đến một phương diện của trí thông minh sáng tạo vốn “riêng biệt của nhân loại” và rất có thể liên hệ với cung bốn. Phương diện này liên hệ với sự xuất hiện của “vẻ đẹp trong biểu hiện”. Chính việc vận dụng phương diện này cho phép con người đạt được “sự hoàn hảo sáng tạo” trong liên hệ với một số giai đoạn của nghệ thuật.

102. All of Creation is an artistic creation. The Planetary Logos and the Solar Logos are great Artistic Creators, but DK seems to be speaking of a different kind of art which arises out of the capacity to suffer.

102. Toàn thể Sáng Tạo là một công trình nghệ thuật. Đức Hành Tinh Thượng Đế và Đức Thái dương Thượng đế là những Đấng Sáng Tạo Nghệ Thuật vĩ đại, nhưng Chân sư DK dường như đang nói về một loại nghệ thuật khác, nảy sinh từ năng lực chịu đau khổ.

103. Suffering may be the experience of an energetic-interplay which occurs as man moves from disharmony to harmony, and from imperfection to perfection. It may also be called the experience of the tension which exists between the actual and the idea. Man holds both states simultaneously and in their dissonance, suffering arises.

103. Đau khổ có thể là kinh nghiệm về một sự tương tác năng lượng xảy ra khi con người chuyển từ bất hòa sang hài hòa, và từ bất toàn đến toàn hảo. Nó cũng có thể được gọi là kinh nghiệm về sự căng thẳng tồn tại giữa cái thực tại hiện có và ý tưởng. Con người giữ cả hai trạng thái đồng thời, và trong sự nghịch âm của chúng, đau khổ phát sinh.

104. From the musical perspective, suffering is the experience of dissonance without the anticipation of harmonious resolution.

104. Theo viễn cảnh âm nhạc, đau khổ là kinh nghiệm về nghịch âm mà không có sự mong đợi một giải quyết hài hòa.

105. There may also be a secret of ‘beauty outside of manifestation’ but it is the task of man to bring archetypal beauty into manifestation.

105. Cũng có thể có một bí mật của ‘vẻ đẹp bên ngoài biểu hiện’, nhưng nhiệm vụ của con người là đưa vẻ đẹp nguyên mẫu vào trong biểu hiện.

106. When man attempts to do this, he experiences pain due to the resistance of substance to the pattern of beauty which he intends to impose.

106. Khi con người cố gắng làm điều này, y trải nghiệm đau đớn do sự kháng cự của chất liệu đối với mô hình vẻ đẹp mà y dự định áp đặt.

107. The fourth ray is the “Corrector of the Form” (EP I 71) and there is cognitive pain in the correction process. This cognitive pain transfers itself also to the lower vehicles of the personality.

107. Cung bốn là “Đấng Chỉnh Sửa Hình Tướng” (EP I 71), và có đau đớn nhận thức trong tiến trình chỉnh sửa. Đau đớn nhận thức này cũng chuyển dịch chính nó sang các vận cụ thấp của phàm ngã.

No other kingdom in nature creates forms, produces colour and sounds in harmonious relation, except the human; all of this type of creative art is the result of aeons of conflict, pain and suffering.

Không giới nào khác trong thiên nhiên tạo ra các hình tướng, sản sinh màu sắc và âm thanh trong tương quan hài hòa, ngoại trừ giới nhân loại; toàn bộ loại nghệ thuật sáng tạo này là kết quả của nhiều thiên niên kỷ xung đột, đau đớn và khổ đau.

108. Perhaps the word “produces” is to be examined. As stated, Archetypes of planetary and solar Beauty exist, but perhaps we cannot say that they are produced. They are conceived and their conception renders them existent.

108. Có lẽ cần xem xét từ “sản sinh”. Như đã nói, các Nguyên mẫu của Vẻ Đẹp hành tinh và thái dương tồn tại, nhưng có lẽ chúng ta không thể nói rằng chúng được sản sinh. Chúng được quan niệm, và sự quan niệm ấy khiến chúng hiện hữu.

109. Man, on the other hand, has to labor in a vibratory domain apparently separated from the archetypal worlds. He must bring the patterns of those worlds into relation with the substance which is conditioned by patterns other than the archetypal patterns which he seeks to impose.

109. Trái lại, con người phải lao tác trong một lĩnh vực rung động dường như tách biệt với các thế giới nguyên mẫu. Y phải đưa các mô hình của những thế giới ấy vào tương quan với chất liệu vốn chịu tác động bởi những mô hình khác với các mô hình nguyên mẫu mà y tìm cách áp đặt.

110. Man ‘holds the discrepancy’ of the two worlds in his consciousness. This requires the fourth ray and in this holding, he endures suffering. Man ‘holds the difference’, or ‘holds the contrast’.

110. Con người ‘giữ sự sai biệt’ của hai thế giới trong tâm thức mình. Điều này đòi hỏi cung bốn, và trong sự giữ ấy, y chịu đựng đau khổ. Con người ‘giữ sự khác biệt’, hay ‘giữ sự tương phản’.

111. Perhaps the aspect of creative intelligence we have been discussing is that which allow him to ‘hold the difference’ and adjust substances (within and without) until there is no difference, discrepancy, no contrast between the archetypal and the actual.

111. Có lẽ phương diện của trí thông minh sáng tạo mà chúng ta đã bàn đến là phương diện cho phép y ‘giữ sự khác biệt’ và điều chỉnh các chất liệu, bên trong cũng như bên ngoài, cho đến khi không còn khác biệt, không còn sai biệt, không còn tương phản giữa cái nguyên mẫu và cái thực tại hiện có.

The Jews, as a product of the humanity of the previous solar system,

Người Do Thái, với tư cách là một sản phẩm của nhân loại thuộc hệ mặt trời trước kia,

112. Let us remember the important fact that the previous solar system what the fourth in order (just as ours is the fifth).

112. Chúng ta hãy nhớ sự kiện quan trọng rằng hệ mặt trời trước kia là hệ thứ tư theo thứ tự, cũng như hệ của chúng ta là hệ thứ năm.

113. The Jews are a (not the) “product” of the previous solar system. The humanity of that solar system comprised more than the Jews. The Jew are simply an aspect of that earlier humanity.

113. Người Do Thái là một, chứ không phải “sản phẩm” duy nhất, của hệ mặt trời trước kia. Nhân loại của hệ mặt trời ấy bao gồm nhiều hơn người Do Thái. Người Do Thái chỉ đơn giản là một phương diện của nhân loại trước đó.

and as constituting the incarnating residue from that solar system,

và với tư cách cấu thành phần tồn dư đang lâm phàm từ hệ mặt trời ấy,

114. “Laggards” in that system and the Avant guard in this. We are not necessarily speaking of all the present Jews, but of the Jews as DK reveals them—present on our planet even before individualization occurred.

114. “Những kẻ chậm tiến” trong hệ ấy và đội tiên phong trong hệ này. Chúng ta không nhất thiết đang nói về tất cả người Do Thái hiện nay, mà về người Do Thái như Chân sư DK mặc khải họ—hiện diện trên hành tinh chúng ta ngay cả trước khi sự biệt ngã hóa xảy ra.

115. It must be realized that not all those who are presently Jews are Jews in the sense that DK here discusses. Some of the “incarnating residue” from the first solar system may be incarnated in bodies which are, racially, not Jewish, and others, of course, will be presently found within bodies which are part of the Jewish hereditary stream (much intermixed with other racial groups, it must be stated).

115. Cần nhận ra rằng không phải tất cả những ai hiện nay là người Do Thái đều là người Do Thái theo nghĩa mà Chân sư DK đang bàn ở đây. Một số “phần tồn dư đang lâm phàm” từ hệ mặt trời thứ nhất có thể đang lâm phàm trong các thể, xét về mặt chủng tộc, không phải Do Thái; và dĩ nhiên, những người khác hiện nay sẽ được tìm thấy trong các thể thuộc dòng di truyền Do Thái, vốn đã pha trộn nhiều với các nhóm chủng tộc khác, điều này cần được nói rõ.

have run the gamut of suffering and are in the forefront of the creative arts at this time, particularly [Page 244] in group production such as certain of the great motion pictures and in the field of scientific discovery.

đã trải qua trọn thang bậc của đau khổ và hiện nay đang ở tuyến đầu của các nghệ thuật sáng tạo, đặc biệt [Page 244] trong sản xuất nhóm, chẳng hạn như một số bộ phim vĩ đại, và trong lĩnh vực khám phá khoa học.

116. The implication is, the greater the suffering, the greater that artistic capacity (or the capacity to appreciate art born of suffering). The Jews are characterized by a fourth ray mode of expression filled with dramatic contrasts—tragedy and comedy. In the art for which they are responsible, they replay ages of experience.

116. Hàm ý là đau khổ càng lớn thì năng lực nghệ thuật, hoặc năng lực thưởng thức nghệ thuật sinh ra từ đau khổ, càng lớn. Người Do Thái được đặc trưng bởi một phương thức biểu hiện cung bốn đầy những tương phản kịch tính—bi kịch và hài kịch. Trong nghệ thuật mà họ chịu trách nhiệm, họ tái diễn những thời đại kinh nghiệm.

117. The great motion pictures (as DK calls them) present the panorama of life (as experienced through the ages).

117. Những bộ phim vĩ đại, như Chân sư DK gọi, trình bày toàn cảnh của đời sống, như đã được trải nghiệm qua các thời đại.

118. Another implication is that the Jews may not always be in the forefront of the creative arts. Is the trend already on the wane? And yet, “who is the Jew”? The subjective Jew may not be the same as the objective Jew. Bodies can change but psyches do not sever themselves from their aeonial experience.

118. Một hàm ý khác là người Do Thái có thể không phải lúc nào cũng ở tuyến đầu của các nghệ thuật sáng tạo. Phải chăng khuynh hướng ấy đã bắt đầu suy giảm? Và tuy vậy, “ai là người Do Thái”? Người Do Thái chủ quan có thể không giống với người Do Thái khách quan. Các thể có thể thay đổi, nhưng các tâm thức không tự cắt rời khỏi kinh nghiệm qua các đại kiếp của mình.

119. The field of scientific discovery is inserted here. It is not directly related to the arts which are under discussion. It is an interesting piece of information none-the-less. This information links the Jew not only to the fourth ray but to the fifth and third rays.

119. Lĩnh vực khám phá khoa học được đưa vào đây. Nó không liên hệ trực tiếp với các nghệ thuật đang được bàn đến. Tuy nhiên, đó vẫn là một thông tin thú vị. Thông tin này liên kết người Do Thái không chỉ với cung bốn mà còn với cung năm và cung ba.

There will be, as you can well see, a close relation between this fourth purpose of Sanat Kumara, the fourth kingdom in nature, the human, and the fourth Ray of Harmony through Conflict.

Như bạn có thể thấy rõ, sẽ có một mối liên hệ mật thiết giữa mục đích thứ tư này của Đức Sanat Kumara, giới thứ tư trong thiên nhiên, tức giới nhân loại, và Cung bốn của Hài Hòa qua Xung Đột.

120. We have been exploring this relationship. As well, Sanat Kumara is sometimes called the “fourth Kumara”.

120. Chúng ta đã khảo sát mối liên hệ này. Ngoài ra, Đức Sanat Kumara đôi khi được gọi là “Kumara thứ tư”.

121. In this discussion the following is of importance:

121. Trong cuộc bàn luận này, điều sau đây có tầm quan trọng:

A touch of this freedom from the limitations of pain and sorrow can be found among the more advanced sons of men on Earth, who know the ecstasy of the mystic, the exaltation of the initiate, and the exquisite agony of sacrifice or of any feeling which is carried forward to the point of sublimation. When this point has been reached, the mechanism of suffering and the ability to register sensuous perception is transcended, and momentarily the man escapes on to the plane of unity. (EP II 102)

Một thoáng chạm đến sự tự do khỏi những giới hạn của đau đớn và sầu khổ có thể được tìm thấy nơi những người con của nhân loại tiến bộ hơn trên Trái Đất, những người biết cơn xuất thần của nhà thần bí, sự tôn vinh của điểm đạo đồ, và nỗi thống khổ tinh tế của hi sinh hoặc của bất kỳ cảm xúc nào được đưa tiến tới điểm thăng hoa. Khi điểm này đã đạt được, bộ máy đau khổ và khả năng ghi nhận tri giác giác quan được siêu vượt, và trong khoảnh khắc con người thoát lên cõi hợp nhất. (EP II 102)

122. There is much in this excerpt about Neptune in relation to the power to suffer, the astral plane and the buddhic plane. It is upon the buddhic plane (the initial “plane of unity”) that the power to suffer begins to cease.

122. Trong đoạn trích này có nhiều điều về Sao Hải Vương liên hệ với năng lực chịu đau khổ, cõi cảm dục và cõi Bồ đề. Chính trên cõi Bồ đề, “cõi hợp nhất” đầu tiên, năng lực chịu đau khổ bắt đầu chấm dứt.

It is the balanced relation of these three, consummated at the fourth initiation, which produces the full beauty of the creative fixed design of the individual soul, or—on a different level of initiatory process—of the fixed design of the universal soul of the Lord of the World.

Chính mối liên hệ quân bình của ba điều này, được hoàn thành ở lần điểm đạo thứ tư, tạo ra vẻ đẹp trọn vẹn của thiết kế cố định sáng tạo của linh hồn cá nhân, hoặc—trên một cấp độ khác của tiến trình điểm đạo—của thiết kế cố định của linh hồn vũ trụ của Đức Chúa Tể Thế Giới.

123. The beauty of the human soul is revealed at the fourth initiation. This initiation, interestingly, is ruled by the fourth ray.

123. Vẻ đẹp của linh hồn con người được mặc khải ở lần điểm đạo thứ tư. Điều thú vị là cuộc điểm đạo này được cai quản bởi cung thứ tư.

124. What are the factors balanced at the fourth degree?

124. Những yếu tố nào được quân bình ở cấp độ thứ tư?

a. The Fourth Purpose of Sanat Kumara

a. Mục Đích Thứ Tư của Đức Sanat Kumara

b. The fourth kingdom in nature

b. Giới thứ tư trong thiên nhiên

c. The fourth Ray of Harmony Through Conflict

c. Cung bốn của Hài Hòa Qua Xung Đột

The fourth ray being temporarily out of full incarnation at this time

Vì cung bốn tạm thời không lâm phàm trọn vẹn vào lúc này

125. DK did not say that it was entirely out of incarnation. The suggestion is that many souls still upon the fourth ray have not taken incarnation, but that some have.

125. Chân sư DK không nói rằng nó hoàn toàn không lâm phàm. Gợi ý là nhiều linh hồn vẫn thuộc cung bốn chưa lâm phàm, nhưng một số thì đã.

Within the United Nations is the germ and the seed of a great international and meditating, reflective group—a group of thinking and informed men and women in whose hands lies the destiny of humanity. This is largely under the control of many fourth ray disciples, if you could but realise it, and their point of meditative focus is the intuitional or buddhic plane—the plane upon which all hierarchical activity is today to be found. (DINA II 220)

Trong Liên Hợp Quốc có mầm mống và hạt giống của một nhóm quốc tế vĩ đại, tham thiền và trầm tư—một nhóm gồm những người nam và nữ biết suy tư và am hiểu, trong tay họ có vận mệnh của nhân loại. Điều này phần lớn nằm dưới sự kiểm soát của nhiều đệ tử cung bốn, nếu các bạn có thể nhận ra điều đó, và điểm tập trung tham thiền của họ là cõi trực giác hay cõi Bồ đề—cõi mà ngày nay mọi hoạt động của Thánh đoàn đều được tìm thấy. (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới II 220)

At this time, the effect of this ray is predominantly of a group nature, and there are—except in the ranks of disciples of the Great White Lodge—no fourth ray souls in incarnation. (R&I 605)

Vào lúc này, ảnh hưởng của cung này chủ yếu mang bản chất nhóm, và—ngoại trừ trong hàng ngũ các đệ tử của Thánh đoàn—không có linh hồn cung bốn nào đang lâm phàm. (Cung và Điểm Đạo 605)

126. Is DK speaking perhaps of fourth ray souls who are to found working in this way? There are some fourth ray souls, but they will only be found among advanced individuals.

126. Có lẽ Chân sư DK đang nói đến những linh hồn cung bốn sẽ được tìm thấy đang hoạt động theo cách này? Có một số linh hồn cung bốn, nhưng họ sẽ chỉ được tìm thấy trong số những cá nhân tiến hóa cao.

is the reason for the relative interlude in the production of human creative art of a very high order.

là lý do của khoảng gián đoạn tương đối trong việc sản sinh nghệ thuật sáng tạo nhân loại thuộc một trật tự rất cao.

127. We may assume that during the nineteenth century, when so much great music was composed, a number of fourth ray souls were expressing.

127. Chúng ta có thể giả định rằng trong thế kỷ mười chín, khi rất nhiều âm nhạc vĩ đại được sáng tác, một số linh hồn cung bốn đã biểu lộ.

128. Elsewhere in the teaching it is suggested that these souls were brought into incarnation under special dispensation.

128. Ở nơi khác trong giáo huấn có gợi ý rằng những linh hồn này được đưa vào lâm phàm theo một đặc chuẩn riêng.

The cycle of suffering is nearing its close, and we shall later see—when the fourth ray again swings into full objective activity—a recurrence of the arts on a turn of the spiral far more exalted than any lately seen.

Chu kỳ đau khổ đang gần kết thúc, và về sau chúng ta sẽ thấy—khi cung bốn lại chuyển vào hoạt động khách quan trọn vẹn—sự tái diễn của các nghệ thuật trên một vòng xoắn ốc cao cả hơn rất nhiều so với bất cứ điều gì được thấy gần đây.

129. This is a great and beautiful promise and offers us the anticipation of a new Renaissance.

129. Đây là một lời hứa vĩ đại và đẹp đẽ, đem đến cho chúng ta sự mong đợi về một thời Phục Hưng mới.

e. The fifth great secret underlying the purpose of Sanat Kumara is related in a peculiar sense to the cyclic manifestation of all that is found in the three worlds of human evolution.

e. Bí mật lớn thứ năm nằm dưới Thiên Ý của Đức Sanat Kumara, theo một ý nghĩa đặc biệt nào đó, có liên hệ đến sự biểu hiện theo chu kỳ của tất cả những gì được tìm thấy trong ba cõi của tiến hóa nhân loại.

130. This cyclic manifestation is part of the process of rebirth or reincarnation.

130. Sự biểu hiện theo chu kỳ này là một phần của tiến trình tái sinh hay luân hồi.

131. We must remember that one of the chief and coming lines of service of the scientific servers will be to study the cyclic process of reincarnation.

131. Chúng ta phải nhớ rằng một trong những đường lối phụng sự chính yếu và sắp đến của những người phụng sự khoa học sẽ là nghiên cứu tiến trình luân hồi theo chu kỳ.

132. We must also remember how much of the fifth ray will be brought into expression through the presence of the energies of the sign Aquarius.

132. Chúng ta cũng phải nhớ rằng phần lớn cung năm sẽ được đưa vào biểu lộ thông qua sự hiện diện của các năng lượng thuộc dấu hiệu Bảo Bình.

It concerns that which is working slowly into manifestation through the medium of the lower concrete mind as it controls desire and brings substance and matter into conformity with the divine thought along this line.

Nó liên quan đến điều đang chậm rãi đi vào biểu hiện thông qua phương tiện của hạ trí cụ thể, khi hạ trí này kiểm soát dục vọng và đưa chất liệu cùng vật chất vào sự phù hợp với tư tưởng thiêng liêng theo đường lối này.

133. This is an important function of the fifth ray—to bring “substance and matter into conformity with the divine thought…”

133. Đây là một chức năng quan trọng của cung năm—đưa “chất liệu và vật chất vào sự phù hợp với tư tưởng thiêng liêng…”

134. For this to occur it is necessary that desire be controlled, because if desire is unleashed without disciplined supervision, that which is created through matter will not be in conformity with divine thought.

134. Để điều này xảy ra, dục vọng cần phải được kiểm soát, bởi vì nếu dục vọng được buông thả mà không có sự giám sát kỷ luật, thì điều được tạo ra thông qua vật chất sẽ không phù hợp với tư tưởng thiêng liêng.

The sumtotal of the highest phases of human thinking along all lines, materially affects what appears on the physical plane in all the kingdoms of nature,

Tổng số của những giai đoạn cao nhất của tư duy nhân loại theo mọi đường lối, ảnh hưởng một cách vật chất đến những gì xuất hiện trên cõi hồng trần trong tất cả các giới của thiên nhiên,

135. In relation to this fifth purpose of Sanat Kumara we are reminded of the aphorism, “energy follows thought”.

135. Liên quan đến mục đích thứ năm này của Đức Sanat Kumara, chúng ta được nhắc đến cách ngôn: “năng lượng đi theo tư tưởng”.

136. We are dealing, actually, with the process of embodiment or incarnation. Through the processes of embodiment or incarnation that which is thought takes physical form.

136. Thật ra, chúng ta đang bàn đến tiến trình hiện thân hay lâm phàm. Thông qua các tiến trình hiện thân hay lâm phàm, điều được suy tưởng mang lấy hình tướng hồng trần.

137. The personality, itself, is a thoughtform created by the soul (on its own plane).

137. Chính phàm ngã là một hình tư tưởng do linh hồn tạo ra trên cõi riêng của nó.

138. The shape of form and relationships between forms change because of the thinking process.

138. Hình dạng của hình tướng và các mối quan hệ giữa các hình tướng thay đổi do tiến trình tư duy.

what precipitates civilisations and cultures, and which expresses the best response at the moment of human sensitivity to cosmic impression.

điều làm ngưng tụ các nền văn minh và văn hóa, và biểu lộ sự đáp ứng tốt nhất vào thời điểm hiện tại của độ nhạy cảm nhân loại đối với ấn tượng vũ trụ.

139. DK is speaking of the “highest phases of human thinking”. The low will also precipitate, but its results in matter/form are not noteworthy.

139. Chân sư DK đang nói về “những giai đoạn cao nhất của tư duy nhân loại”. Cái thấp cũng sẽ ngưng tụ, nhưng các kết quả của nó trong vật chất/hình tướng không đáng chú ý.

140. Interestingly, human thought affects all kingdoms of nature. Man is the macrocosm for those kingdoms.

140. Điều thú vị là tư tưởng nhân loại ảnh hưởng đến tất cả các giới của thiên nhiên. Con người là Đại thiên địa đối với các giới ấy.

This is all that can be said as we attempt to sum up the fixed desire and the pattern or purpose of divine activity down the ages.

Đó là tất cả những gì có thể nói khi chúng ta cố gắng tóm lược dục vọng cố định và mô hình hay mục đích của hoạt động thiêng liêng qua các thời đại.

141. We recall that the fifth systemic Law is called the “Law of Fixation”.

141. Chúng ta nhớ rằng Định luật hệ thống thứ năm được gọi là “Định luật Cố Định”.

142. The mind and the process of thinking (the power of concretion) is integral in the manifestation of God’s “fixed desire” and purpose.

142. Thể trí và tiến trình tư duy, tức quyền năng cụ thể hóa, là thành phần không thể thiếu trong sự biểu hiện “dục vọng cố định” và mục đích của Thượng đế.

143. “Fixed desire” is obviously related to the carrying out of the divine “Fixed Design”.

143. “Dục vọng cố định” rõ ràng có liên hệ đến việc thực hiện “Thiết Kế Cố Định” thiêng liêng.

We know it to be profoundly inadequate as yet to express or to produce in manifested form the beauty of that design and to create in conformity with God’s thought;

Chúng ta biết rằng cho đến nay nó vẫn hết sức bất toàn để biểu lộ hoặc để tạo ra trong hình tướng biểu hiện vẻ đẹp của thiết kế ấy và để sáng tạo phù hợp với tư tưởng của Thượng đế;

144. We are being told that, thus far, human thinking is profoundly inadequate to truly manifest the beauty of God’s thought.

144. Chúng ta đang được cho biết rằng, cho đến nay, tư duy nhân loại vẫn hết sức bất toàn trong việc thật sự biểu hiện vẻ đẹp của tư tưởng Thượng đế.

145. We are being presented with the goal of thought.

145. Chúng ta đang được trình bày mục tiêu của tư tưởng.

a. To produce in manifested form the beauty of God’s fixed design

a. Tạo ra trong hình tướng biểu hiện vẻ đẹp của thiết kế cố định của Thượng đế

b. To create (in matter/form) in conformity with God’s thought

b. Sáng tạo trong vật chất/hình tướng phù hợp với tư tưởng của Thượng đế

146. It is obvious that we are being asked to help improve the quality of human thinking.

146. Rõ ràng chúng ta đang được yêu cầu giúp nâng cao phẩm tính của tư duy nhân loại.

but—age by age—the thinking capacity of man and his creative imagination have wrought out the slowly unfolding design, and will continue to do so;

nhưng—thời đại này qua thời đại khác—năng lực tư duy của con người và Sự tưởng tượng sáng tạo của y đã tạo nên thiết kế đang chậm rãi khai mở, và sẽ tiếp tục làm như vậy;

147. DK links mans thinking capacity with his creative imagination. The purpose of this union of capacities is to bring forth the “unfolding design”.

147. Chân sư DK liên kết năng lực tư duy của con người với Sự tưởng tượng sáng tạo của y. Mục đích của sự hợp nhất các năng lực này là đưa ra “thiết kế đang khai mở”.

148. Let us fix in our mind the thought of the fifth ray and this fifth purpose as gradually creating conformity to the Fixed Design in matter/form.

148. Chúng ta hãy ghi khắc trong thể trí mình tư tưởng về cung năm và mục đích thứ năm này như đang dần dần tạo ra sự phù hợp với Thiết Kế Cố Định trong vật chất/hình tướng.

every [Page 245] great world cycle sees the emergence of greater beauty,

mỗi [Page 245] chu kỳ thế giới lớn đều chứng kiến sự xuất hiện của vẻ đẹp lớn lao hơn,

149. We see how the fifth ray is being linked to the fourth and how the fifth purpose of Sanat Kumara is being linked, also, to the fourth.

149. Chúng ta thấy cung năm đang được liên kết với cung bốn như thế nào, và mục đích thứ năm của Đức Sanat Kumara cũng đang được liên kết với cung bốn như thế nào.

150. Let us remember that the present rays of the human kingdom are the fourth (soul ray) and the fifth (personality ray).

150. Chúng ta hãy nhớ rằng các cung hiện tại của giới nhân loại là cung bốn, tức cung linh hồn, và cung năm, tức cung phàm ngã.

and sees the subtle effects of man’s thinking upon the subhuman kingdoms in nature steadily bringing the unknown to the surface, altering the nature of the flora and the fauna of the planet, andpreparing the way for that time of wonder when the Hierarchy will again be exoterically directing the Plan upon the earth and aiding mankind to work with a fuller understanding of the divine design.

và chứng kiến những hiệu quả tinh tế của tư duy con người trên các giới dưới nhân loại trong thiên nhiên, đều đặn đưa điều chưa biết lên bề mặt, làm thay đổi bản chất của hệ thực vật và hệ động vật của hành tinh, vàchuẩn bị con đường cho thời kỳ kỳ diệu khi Thánh đoàn sẽ lại chỉ đạo Thiên Cơ một cách ngoại môn trên Trái Đất và trợ giúp nhân loại làm việc với sự thấu hiểu đầy đủ hơn về thiết kế thiêng liêng.

151. In today’s study of genetic engineering (and, in general, the manipulation of the genetic structure of plants, animals and humans) we see a trend which could (if rightly guided) lead to a beatification reflective of the Fixed Design.

151. Trong nghiên cứu ngày nay về kỹ thuật di truyền, và nói chung là sự thao tác cấu trúc di truyền của thực vật, động vật và con người, chúng ta thấy một khuynh hướng có thể, nếu được hướng dẫn đúng đắn, dẫn đến một sự làm đẹp phản ánh Thiết Kế Cố Định.

152. The power of human thought is determining when related to the lower kingdoms.

152. Quyền năng của tư tưởng nhân loại có tính quyết định khi liên hệ đến các giới thấp.

153. The Hierarchy belongs largely to the fifth kingdom of nature (the Kingdom of Souls). Through hierarchical thought the shape of things in the lower worlds and the relationship of those things to each other is being profoundly altered. Man is beginning to participate intelligence and wisely in this alteration.

153. Thánh đoàn phần lớn thuộc về giới thứ năm của thiên nhiên, tức Giới Linh Hồn. Thông qua tư tưởng của Thánh đoàn, hình dạng của sự vật trong các cõi thấp và mối quan hệ của những sự vật ấy với nhau đang được biến đổi sâu xa. Con người đang bắt đầu tham gia một cách thông minh và minh triết vào sự biến đổi này.

154. The seventh ray is a ‘Ray of Design’ as the fourth is a ‘Ray of Beauty’. The fifth ray works closely with both of these rays. The power to bring about conformity of the actual to the archetype is a fifth ray ability and is related to this fifth purpose.

154. Cung bảy là một “Cung của Thiết Kế”, cũng như cung bốn là một “Cung của Vẻ Đẹp”. Cung năm làm việc chặt chẽ với cả hai cung này. Quyền năng đem lại sự phù hợp của cái thực tại với nguyên mẫu là một năng lực của cung năm và có liên hệ đến mục đích thứ năm này.

155. God, the Thinker, has thought. Now that thought has to be brought perfectly into expression in the lower worlds, utilizing the method of cyclic impulsion (rebirth and reincarnation). The fifth purpose is behind this process.

155. Thượng đế, Đấng Tư Tưởng, đã tư tưởng. Giờ đây tư tưởng ấy phải được đưa vào biểu lộ hoàn hảo trong các cõi thấp, bằng cách sử dụng phương pháp xung động theo chu kỳ, tức tái sinh và luân hồi. Mục đích thứ năm đứng sau tiến trình này.

Here again is another reason for the changing plans of the Hierarchy. The Masters have to prepare Themselves for this intended and imminent emergence. They are faced with the necessity of changingTheir techniques of work in order to meet adequately the demands upon Them.

Ở đây lại có một lý do khác cho các kế hoạch đang thay đổi của Thánh đoàn. Các Chân sư phải chuẩn bị Chính Các Ngài cho sự xuất hiện được dự định và sắp xảy ra này. Các Ngài đối diện với sự cần thiết phải thay đổi các kỹ thuật làm việc của Các Ngài để đáp ứng đầy đủ những đòi hỏi đặt lên Các Ngài.

156. The Masters, too, are seeking to think and act in greater conformity with God’s Thought.

156. Các Chân sư cũng đang tìm cách tư duy và hành động trong sự phù hợp lớn lao hơn với Tư Tưởng của Thượng đế.

It is far easier for Them to work, as illumined Minds, upon the mental substance of Their disciples than it will be for Them to work down upon the physical plane, relating the minds and the brains of advanced human beings.

Đối với Các Ngài, với tư cách là những Thể Trí được soi sáng, làm việc trên chất liệu trí tuệ của các đệ tử của Các Ngài dễ dàng hơn rất nhiều so với việc Các Ngài phải làm việc xuống tận cõi hồng trần, liên kết thể trí và bộ não của những người tiến hóa cao.

157. DK speaks of a condition of activity which entails, for the Masters, sacrifice.

157. Chân sư DK nói về một tình trạng hoạt động, đối với các Chân sư, hàm chứa sự hi sinh.

People are apt to forget that with each forward advance of humanity, the demands upon the Hierarchy change, new needs must be met, new techniques used, new and experimental methods must be employed.

Người ta thường quên rằng với mỗi bước tiến lên của nhân loại, những đòi hỏi đặt lên Thánh đoàn thay đổi, các nhu cầu mới phải được đáp ứng, các kỹ thuật mới được sử dụng, và các phương pháp mới cùng mang tính thử nghiệm phải được áp dụng.

158. Many of these forward advances of humanity have been brought about through the use of the fifth ray.

158. Nhiều bước tiến lên này của nhân loại đã được tạo ra thông qua việc sử dụng cung năm.

159. The power of Uranus and Aquarius are also involved in promoting these advances. Both of these energy sources are related to the fifth ray.

159. Quyền năng của Sao Thiên Vương và Bảo Bình cũng tham dự vào việc thúc đẩy những bước tiến này. Cả hai nguồn năng lượng này đều liên hệ đến cung năm.

As I write for disciples and initiates, I call this to their attention. Their work of mental training does not end as they attain certain spiritual initiatory goals.

Vì Tôi viết cho các đệ tử và các điểm đạo đồ, Tôi kêu gọi họ chú ý đến điều này. Công việc rèn luyện trí tuệ của họ không kết thúc khi họ đạt đến một số mục tiêu điểm đạo tinh thần nhất định.

160. One day disciples will be members of the Spiritual Hierarchy, but even then they will have to use their minds and the creative power of the fifth ray.

160. Một ngày nào đó các đệ tử sẽ là thành viên của Huyền Giai Tinh Thần, nhưng ngay cả khi ấy họ vẫn sẽ phải sử dụng thể trí của mình và quyền năng sáng tạo của cung năm.

161. The mind is forever under cultivation. Does one suppose that the Planetary Logoi and the Solar Logoi do not continue to train Their minds—though this training is a cosmic cultivation!

161. Thể trí mãi mãi ở trong sự vun bồi. Liệu có ai cho rằng Các Hành Tinh Thượng đế và Các Thái dương Thượng đế không tiếp tục rèn luyện thể trí của Các Ngài chăng—dù sự rèn luyện này là một sự vun bồi vũ trụ!

This fifth purpose is therefore closely related to the whole theme of “the garment of God” and to the emergence into manifestation of His “robe of beauty” as it is created and brought into being by humanity,

Do đó, mục đích thứ năm này có liên hệ chặt chẽ với toàn bộ chủ đề về “chiếc áo của Thượng đế” và với sự xuất hiện vào biểu hiện của “áo choàng mỹ lệ” của Ngài, khi nó được nhân loại sáng tạo và đưa vào hiện hữu,

162. Here we have an important and definitive statement. How shall the “garment of God” be rendered God’s “robe of beauty”? Right now that “garment” is not as beautiful (nor as functional) as it should be.

162. Ở đây chúng ta có một phát biểu quan trọng và dứt khoát. Làm thế nào “chiếc áo của Thượng đế” sẽ được biến thành “áo choàng mỹ lệ” của Thượng đế? Ngay lúc này, “chiếc áo” ấy chưa đẹp, cũng chưa hữu dụng, như nó phải là.

163. Through the processes of cyclic reappearance, the garment will be brought into ideal conformity with God’s Thought.

163. Thông qua các tiến trình tái xuất hiện theo chu kỳ, chiếc áo ấy sẽ được đưa vào sự phù hợp lý tưởng với Tư Tưởng của Thượng đế.

164. We see how closely related are the fifth and fourth rays.

164. Chúng ta thấy cung năm và cung bốn có liên hệ mật thiết với nhau như thế nào.

acting as the medium for ideas from the superhuman kingdoms, and then influencing and swinging into creative cooperation the subhuman kingdoms.

hoạt động như phương tiện cho các ý tưởng từ các giới siêu nhân loại, rồi sau đó ảnh hưởng và đưa các giới dưới nhân loại vào sự hợp tác sáng tạo.

165. Humanity is manas. It utilizes manas to tap superhuman ideas and then intelligently engage the cooperation of the lower building forces of nature. This requires the use of occult science. This fifth purpose of Sanat Kumara is inseparable from the development and expression of occult science.

165. Nhân loại là manas. Nhân loại sử dụng manas để tiếp cận các ý tưởng siêu nhân loại, rồi sau đó khơi dậy một cách thông minh sự hợp tác của các mãnh lực kiến tạo thấp trong thiên nhiên. Điều này đòi hỏi việc sử dụng khoa học huyền bí. Mục đích thứ năm này của Đức Sanat Kumara không thể tách rời khỏi sự phát triển và biểu lộ của khoa học huyền bí.

f. It is difficult for me to give any idea whatsoever of the purpose with which we are now concerned, because it is expressed in the relation existing between the significance of Desire, Will, Plan and Purpose.

f. Thật khó để Tôi đưa ra bất kỳ ý niệm nào về mục đích mà hiện nay chúng ta đang bàn đến, bởi vì nó được biểu lộ trong mối quan hệ hiện hữu giữa thâm nghĩa của Dục vọng, Ý Chí, Thiên Cơ Mục Đích.

166. These terms must be carefully discriminated to the extent we have the capacity to do so.

166. Những thuật ngữ này phải được phân biện cẩn thận trong phạm vi chúng ta có khả năng làm như vậy.

a. Desire reaches towards fulfillment. From the periphery, consciousness reaches increasingly towards completion and eventual centralization.

a. Dục vọng vươn tới sự hoàn thành. Từ chu vi, tâm thức ngày càng vươn tới sự trọn vẹn và sự quy tâm sau cùng.

b. Will originates form the center and not the periphery. It is the power which brings Purpose into expression.

b. Ý Chí phát sinh từ trung tâm chứ không phải từ chu vi. Đó là quyền năng đưa Mục Đích vào biểu lộ.

c. Plan creates a method in time and space for the actualization of Purpose (driven by Will).

c. Thiên Cơ tạo ra một phương pháp trong thời gian và không gian để hiện thực hóa Mục Đích, được Ý Chí thúc đẩy.

d. Purpose is the pattern of things in the Heavens which must be actualized “on earth”.

d. Mục Đích là mô hình của sự vật trên các cõi trời, vốn phải được hiện thực hóa “trên đất”.

All these words are symbols evolved by man in his attempt to grasp logoic purpose.

Tất cả những từ này là các biểu tượng do con người phát triển trong nỗ lực nắm bắt mục đích Thượng đế.

167. There is a Great Conception, a Fixed Design, held in the Mind of God. It is intended that that Purpose will manifest. The Purpose already is; it already exists on higher planes. But it must compel all relationship in the lower worlds into conformity with itself.

167. Có một Đại Quan Niệm, một Thiết Kế Cố Định, được giữ trong Trí của Thượng đế. Mục Đích ấy được dự định sẽ biểu hiện. Mục Đích đã là; nó đã hiện hữu trên các cõi cao. Nhưng nó phải buộc mọi mối quan hệ trong các cõi thấp phải phù hợp với chính nó.

He recognises the impulses of desire, and in the course of the evolutionary process learns to transmute them [Page 246] into aspiration;

Y nhận biết các xung động của dục vọng, và trong tiến trình thăng thượng tiến hoá, học cách chuyển hoá chúng [Page 246] thành khát vọng;

168. Through aspiration man learns to desire that which is more beautiful, more “goal-fitting”, more in accord with the Divine Thought.

168. Thông qua khát vọng, con người học cách ham muốn điều đẹp đẽ hơn, phù hợp hơn với mục tiêu, hòa hợp hơn với Tư Tưởng Thiêng Liêng.

he passes on to a vague groping forward in an effort to understand and acquiesce in the “will of God,” as he calls it;

y chuyển sang một sự mò mẫm mơ hồ tiến về phía trước trong nỗ lực thấu hiểu và thuận theo “Ý Chí của Thượng Đế”, như y gọi điều ấy;

169. There is a great Directing Power. At first man does not sense it, but later He discovers it and realizes that it is an ‘Irresistible Force’.

169. Có một Quyền Năng Chỉ Đạo vĩ đại. Ban đầu con người không cảm nhận được nó, nhưng về sau y khám phá ra nó và nhận ra rằng đó là một “Mãnh Lực Không Thể Cưỡng Lại”.

as long, however, as human approach to that will remains negative, submissive, and acquiescent (as it does under the influence of the theological approach and in the manner inculcated by the Churches), no real light on the nature of that Will will be seen.

tuy nhiên, chừng nào cách tiếp cận của nhân loại đối với ý chí ấy vẫn còn tiêu cực, phục tùng và thuận theo, như nó vẫn như vậy dưới ảnh hưởng của cách tiếp cận thần học và theo phương thức được các Giáo hội nhồi dạy, thì không một ánh sáng thực sự nào về bản chất của Ý Chí ấy sẽ được thấy.

170. The Will of God, demands not only submission; it demands understanding. Theology has often advised man to avoid the attempt to understanding the Divine Will. This is not the illumined way of occultism.

170. Ý Chí của Thượng Đế không chỉ đòi hỏi sự phục tùng; nó đòi hỏi sự thấu hiểu. Thần học thường khuyên con người tránh cố gắng thấu hiểu Ý Chí Thiêng Liêng. Đây không phải là con đường được soi sáng của huyền bí học.

It is only as human beings enter into relation with the Hierarchy and are gradually absorbed into the hierarchical life and begin to take the higher initiations that the true nature of the divine Will will be grasped and the purpose of Sanat Kumara be revealed by an appreciation of the plan, followed by a consequent cooperation with that Plan.

Chỉ khi nào con người bước vào mối liên hệ với Thánh đoàn và dần dần được hấp thụ vào đời sống Thánh đoàn, bắt đầu trải qua các lần điểm đạo cao hơn, thì bản chất đích thực của Ý Chí thiêng liêng sẽ được nắm bắt và mục đích của Đức Sanat Kumara được mặc khải nhờ sự nhận thức đúng về Thiên Cơ, tiếp theo là sự hợp tác tương ứng với Thiên Cơ ấy.

171. There is a sequence here—a sequence meant to aid in the revelation of Divine Purpose:

171. Ở đây có một trình tự—một trình tự nhằm trợ giúp trong sự mặc khải Thiên Ý:

a. Enter into relation with Hierarchy

a. Bước vào mối liên hệ với Thánh đoàn

b. Be absorbed into hierarchical life

b. Được hấp thụ vào đời sống Thánh đoàn

c. Take the higher initiations

c. Trải qua các lần điểm đạo cao hơn

d. And in this process—appreciate the Plan

d. Và trong tiến trình này—nhận thức đúng Thiên Cơ

e. And cooperate with the Plan.

e. Và hợp tác với Thiên Cơ.

All this will be done through the transmutation of desire into aspiration, and then into fixed determination.

Tất cả điều này sẽ được thực hiện thông qua sự chuyển hoá dục vọng thành khát vọng, rồi thành quyết tâm cố định.

172. Again, we have a threefold process:

172. Một lần nữa, chúng ta có một tiến trình tam phân:

a. From desire

a. Từ dục vọng

b. To aspiration

b. Đến khát vọng

c. To fixed determination

c. Đến quyết tâm cố định

d. And may we add—to “enlightened, enthusiastic will”

d. Và chúng ta có thể thêm—đến “ý chí được soi sáng và nhiệt thành”

173. We note that these are all Taurean themes. Taurus (with its principal ruler Vulcan) is closely related to Shamballa and, hence, to Divine Purpose.

173. Chúng ta lưu ý rằng tất cả những điều này đều là các chủ đề thuộc Kim Ngưu. Kim Ngưu, với chủ tinh chính là Vulcan, có liên hệ chặt chẽ với Shamballa và do đó với Thiên Ý.

174. The transmutative process begins with an adjustment of values, over which factor Taurus rules as well.

174. Tiến trình chuyển hoá bắt đầu bằng một sự điều chỉnh các giá trị, mà Kim Ngưu cũng cai quản yếu tố ấy.

When, however, the initiate has related these phases of consciousness in his own inner experience, and has permitted those inner realisations to affect his outer experience and daily living, then the underlying Purpose will shine forth and he will no longer be working in the dark.

Tuy nhiên, khi điểm đạo đồ đã liên hệ các giai đoạn tâm thức này trong kinh nghiệm bên trong của chính mình, và đã cho phép những chứng nghiệm bên trong ấy tác động đến kinh nghiệm bên ngoài và đời sống hằng ngày của mình, khi ấy Mục Đích nền tảng sẽ tỏa sáng và y sẽ không còn làm việc trong bóng tối nữa.

175. Only inner changes in our own consciousness will reveal the “underlying Purpose”. It all begins with the right handling of our desire nature. According to the nature of what we value so we will undertake the necessary transmutative elevation or not.

175. Chỉ những thay đổi bên trong trong chính tâm thức của chúng ta mới mặc khải “Mục Đích nền tảng”. Tất cả bắt đầu bằng việc xử lý đúng bản chất dục vọng của chúng ta. Tùy theo bản chất của điều chúng ta coi trọng mà chúng ta sẽ thực hiện sự nâng cao chuyển hoá cần thiết hay không.

You see, my brother, that all that I can do in these abstruse matters is to indicate what you can do, as an individual, to fit yourself to grasp divine purpose, and thus see the divine design and patterns as they are in reality.

Huynh đệ của tôi, bạn thấy rằng tất cả những gì tôi có thể làm trong các vấn đề thâm áo này là chỉ ra điều bạn có thể làm, với tư cách một cá nhân, để tự chuẩn bị hầu nắm bắt Thiên Ý, và nhờ đó thấy được thiết kế cùng các mô hình thiêng liêng đúng như thực tại của chúng.

176. Our consciousness does not yet grasp the real, but with proper preparation it can and will.

176. Tâm thức của chúng ta chưa nắm bắt được Thực Tại, nhưng với sự chuẩn bị đúng đắn, nó có thể và sẽ làm được.

Once you have taken the needed steps and complied with the requirements, the mystery disappears.

Một khi bạn đã thực hiện những bước cần thiết và đáp ứng các yêu cầu, bí nhiệm sẽ biến mất.

177. There is no way to appreciate the Real unless we meet the requirements. To the untrained, unsensitized consciousness there is the registration of a mystery; to the trained, sensitive consciousness, “the mystery disappears”. Illumination takes its place.

177. Không có cách nào để nhận biết Thực Tại nếu chúng ta không đáp ứng các yêu cầu. Đối với tâm thức chưa được rèn luyện, chưa được làm cho nhạy bén, có sự ghi nhận về một bí nhiệm; đối với tâm thức được rèn luyện và nhạy bén, “bí nhiệm biến mất”. Sự soi sáng thay thế nó.

g. The final phase of the divine purpose is the most difficult of all to indicate, and when I say indicate, I mean exactly that, and nothing more definite and clear.

g. Giai đoạn cuối cùng của Thiên Ý là điều khó nhất trong tất cả để chỉ ra, và khi tôi nói chỉ ra, tôi muốn nói đúng như vậy, chứ không có gì xác định và rõ ràng hơn.

178. The seventh purpose should, it would seem, be the most concrete, and yet it is elusive. We are dealing with the unsuspected tangibility of many subtle occult phenomena.

178. Mục đích thứ bảy, có vẻ như, đáng lẽ phải là cụ thể nhất, nhưng nó lại khó nắm bắt. Chúng ta đang đề cập đến tính hữu hình không ngờ của nhiều hiện tượng huyền bí tinh tế.

179. We may judge from the following that the great symphony being composed by Sanat Kumara is ‘taking form’ (true form) within the formless worlds of the cosmic ethers.

179. Từ điều sau đây, chúng ta có thể phán đoán rằng bản đại giao hưởng đang được Đức Sanat Kumara sáng tác đang “thành hình” trong các thế giới vô hình tướng của các dĩ thái vũ trụ.

Does it mean anything to you when I say that the ceremonial ritual of the daily life of Sanat Kumara, implemented by music and sound and carried on the waves of colour which break upon the shores of the three worlds of human evolution, reveal—in the clearest notes and tones and shades—the deepest secret behind His purpose?

Điều đó có ý nghĩa gì đối với bạn không khi tôi nói rằng nghi lễ huyền môn trong đời sống hằng ngày của Đức Sanat Kumara, được thực hiện bằng âm nhạc và âm thanh, và được mang trên những làn sóng màu sắc vỗ vào bờ của ba cõi giới trong cuộc tiến hoá của nhân loại, mặc khải—bằng những âm điệu, thanh âm và sắc độ rõ ràng nhất—bí mật sâu xa nhất đằng sau mục đích của Ngài?

180. This ritual also reveals the Beauty which Sanat Kumara intends to manifest and is in process of creating.

180. Nghi lễ này cũng mặc khải Vẻ Đẹp mà Đức Sanat Kumara dự định biểu lộ và đang trong tiến trình sáng tạo.

181. Sanat Kumara creates ritualistically. All proceeds under law and order and respects the daily rhythms of the planet.

181. Đức Sanat Kumara sáng tạo theo nghi lễ. Tất cả diễn ra theo định luật và trật tự, đồng thời tôn trọng các nhịp điệu hằng ngày của hành tinh.

182. The ceremonial ritual is occurring within the cosmic ethers. Using the analogy of the ocean, these subtle worlds are as an ocean of light in which waves of color are in ceaseless, orderly movement. The lower three worlds are dense by comparison (probably we mean the lower eighteen sub-planes) and the subtle cosmic etheric waves break upon this density just as the ocean waves would break upon the shore—a level of density greater than the density of the ocean.

182. Nghi lễ huyền môn đang diễn ra trong các dĩ thái vũ trụ. Dùng phép tương đồng với đại dương, các thế giới tinh tế này giống như một đại dương ánh sáng, trong đó những làn sóng màu sắc chuyển động không ngừng và có trật tự. Ba cõi giới thấp hơn thì đậm đặc khi so sánh với chúng, có lẽ chúng ta muốn nói đến mười tám cõi phụ thấp hơn, và những làn sóng dĩ thái vũ trụ tinh tế vỗ vào mật độ này như sóng đại dương vỗ vào bờ—một cấp độ mật độ lớn hơn mật độ của đại dương.

183. What we usually call colors and tones are unclear and even muddy when compared with the “notes and tone and shades” which are generated in the ritual of Sanat Kumara.

183. Những gì chúng ta thường gọi là màu sắc và thanh âm thì không rõ ràng, thậm chí đục mờ, khi so với “các âm điệu, thanh âm và sắc độ” được tạo ra trong nghi lễ của Đức Sanat Kumara.

It scarcely makes sense to you and is dismissed as a piece of symbolic writing, used by me in order to convey the unconveyable.

Điều đó hầu như không có nghĩa gì đối với bạn và bị gạt đi như một đoạn văn biểu tượng, được tôi dùng để truyền đạt điều không thể truyền đạt.

184. Such is the vague consciousness of the presently constituted human being.

184. Tâm thức mơ hồ của con người hiện nay là như vậy.

Yet I am not here writing in symbols, but am making an exact statement [Page 247] of fact.

Tuy nhiên, ở đây tôi không viết bằng biểu tượng, mà đang đưa ra một phát biểu chính xác [Trang 247] về sự kiện.

185. DK has often told us that sometimes He speaks symbolically and sometimes factually, but that (to protect the real Teaching) He will not tell us when He is doing which.

185. Chân sư DK thường nói với chúng ta rằng đôi khi Ngài nói theo biểu tượng và đôi khi theo sự kiện, nhưng để bảo vệ Giáo Huấn chân thực, Ngài sẽ không cho chúng ta biết khi nào Ngài đang làm điều nào.

186. We are invited to consider the forms taken by color and sound in the formless worlds of the cosmic etheric planes.

186. Chúng ta được mời gọi suy xét các hình tướng mà màu sắc và âm thanh khoác lấy trong các thế giới vô hình tướng của những cõi dĩ thái vũ trụ.

187. These waves are as emanations of the Fixed Design, of the Archetypal World. They determine that which must be and will be ‘below’ when the lower worlds have responded properly to the cyclic impulses of Heavenly Beauty.

187. Những làn sóng này giống như các xuất lộ của Thiết Kế Cố Định, của Thế Giới Nguyên Mẫu. Chúng quyết định điều phải hiện hữu và sẽ hiện hữu “ở dưới” khi các thế giới thấp hơn đã đáp ứng đúng đắn với những xung lực chu kỳ của Vẻ Đẹp Thiên Thượng.

As beauty in any of its greater forms breaks upon the human consciousness, a dim sense is thereby conveyed of the ritual of Sanat Kumara’s daily living. More I cannot say.

Khi vẻ đẹp trong bất cứ hình thức lớn lao nào của nó vỗ vào tâm thức con người, một cảm thức mờ nhạt về nghi lễ trong đời sống hằng ngày của Đức Sanat Kumara nhờ đó được truyền đạt. Tôi không thể nói thêm.

188. What happens to a wave as it breaks upon the shore? Its integrity as a wave is destroyed, but its influence “pounding the shore” or more gently washing over the shore, gradually brings about changes on the shore—the area of density is slowly changed by that which is both rhythmic and subtle.

188. Điều gì xảy ra với một làn sóng khi nó vỗ vào bờ? Tính toàn vẹn của nó như một làn sóng bị phá huỷ, nhưng ảnh hưởng của nó khi “đập vào bờ” hoặc nhẹ nhàng hơn là tràn qua bờ, dần dần tạo nên những thay đổi trên bờ—vùng mật độ chậm rãi biến đổi bởi điều vừa có nhịp điệu vừa tinh tế.

Here are hints, therefore, as to the divine purpose; each of the seven supplements and completes the other six.

Do đó, đây là những gợi ý về Thiên Ý; mỗi điều trong bảy điều bổ sung và hoàn thiện sáu điều còn lại.

189. We cannot consider these seven divine purposes in isolation.

189. Chúng ta không thể xem xét bảy Thiên Ý này một cách tách biệt.

190. If would be profitable to take these purposes, two at a time, and examine their possible modes of interrelation.

190. Sẽ hữu ích nếu lấy các mục đích này từng cặp một và khảo sát các phương thức tương quan có thể có giữa chúng.

191. We remember these purposes arose from one of two streams of force emanating from Shamballa. One stream enlightened the New Group of World Servers. The other stream divided into seven streams each of which demonstrated as one of Sanat Kumara’s Seven Purposes.

191. Chúng ta nhớ rằng các mục đích này phát sinh từ một trong hai dòng mãnh lực xuất lộ từ Shamballa. Một dòng soi sáng Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Dòng kia chia thành bảy dòng, mỗi dòng biểu hiện như một trong Bảy Mục Đích của Đức Sanat Kumara.

Only by attempting to grasp the whole inner synthesis will we arrive at the merest hint of the nature of that exalted consciousness which has brought our planet and all that is within and upon it into being.

Chỉ bằng cách cố gắng nắm bắt toàn bộ sự tổng hợp bên trong chúng ta mới đạt được gợi ý mong manh nhất về bản chất của tâm thức tôn quý ấy, vốn đã đưa hành tinh của chúng ta cùng tất cả những gì ở trong và trên đó vào hiện hữu.

192. We are speaking here of the consciousness of Sanat Kumara (probably in His role as Planetary Logos) for Who else but the Planetary Logos “brought our planet and all that is within and upon it into being”?

192. Ở đây chúng ta đang nói về tâm thức của Đức Sanat Kumara, có lẽ trong vai trò của Ngài là Đức Hành Tinh Thượng Đế, vì còn ai khác ngoài Đức Hành Tinh Thượng Đế đã “đưa hành tinh của chúng ta cùng tất cả những gì ở trong và trên đó vào hiện hữu”?

193. These abstruse purposes cannot be fathomed with the mind alone. They are revealed in that state of consciousness which contains synthesis. Their understanding is a revelation of the spiritual triad and is dependent upon the ability to touch and appreciate triadal states of awareness. They are initiate realizations.

193. Các mục đích thâm áo này không thể được thấu triệt chỉ bằng thể trí. Chúng được mặc khải trong trạng thái tâm thức chứa đựng sự tổng hợp. Sự thấu hiểu chúng là một mặc khải của Tam Nguyên Tinh Thần và tùy thuộc vào khả năng chạm đến cũng như nhận biết các trạng thái nhận thức thuộc Tam nguyên tinh thần. Chúng là những chứng nghiệm của điểm đạo đồ.

Synthetic Summary for Rule XII

Tóm lược Tổng hợp cho Quy luật mười hai

Dear Fellows Students,

Các bạn đồng môn thân mến,

We have reached the occasion of our synthetic summary of Rule XII. Can we say about this Rule which relates directly to our ability to fulfill it, expressing it in service?

Chúng ta đã đến dịp thực hiện bản tóm lược tổng hợp về Quy luật mười hai. Chúng ta có thể nói gì về Quy luật này, vốn liên hệ trực tiếp đến khả năng của chúng ta trong việc hoàn thành nó bằng cách biểu lộ nó trong phụng sự?

Rule XII for Applicants: Let the disciple learn the use of the hand in service.

Quy luật mười hai dành cho người ứng viên: Hãy để đệ tử học cách sử dụng bàn tay trong phụng sự.

1. This will require the utmost consciousness concerning how we, quite literally, use our hands in service. Very often we are unconscious of these movements.

1. Điều này sẽ đòi hỏi tâm thức cao nhất về cách chúng ta, theo nghĩa rất sát, sử dụng đôi tay trong phụng sự. Rất thường khi chúng ta không ý thức về những cử động này.

2. Not only must our eyes be on our hands, but on other extensions of our will.

2. Không chỉ đôi mắt chúng ta phải hướng vào đôi tay, mà còn vào những phần mở rộng khác của ý chí chúng ta.

3. Behind us is a record of all kinds of deeds—literally and figuratively, the doings of the hands. How many of these deeds have truly served?

3. Phía sau chúng ta là một hồ sơ ghi lại đủ loại hành động—theo nghĩa đen và nghĩa bóng, những việc làm của đôi tay. Bao nhiêu trong số các hành động ấy đã thật sự phụng sự?

4. Before us lie many thousands of deeds and the choices which will lead to their performance. Are we ready to use every movement of the hands, every gesture, as an act of conscious service?

4. Phía trước chúng ta là nhiều ngàn hành động và những lựa chọn sẽ dẫn đến việc thực hiện chúng. Chúng ta đã sẵn sàng dùng mọi cử động của đôi tay, mọi cử chỉ, như một hành vi phụng sự có ý thức chưa?

5. That is the key—to be mindful, to be conscious of every use of the hands and, as well, of the other four organs of action (the feet, the tongue, the reproductive organs and the organs of excretion).

5. Đó là chìa khóa—tỉnh thức, ý thức về mọi cách sử dụng đôi tay, và cũng như vậy, về bốn cơ quan hành động khác, tức đôi chân, lưỡi, cơ quan sinh sản và cơ quan bài tiết.

6. Hands and their extensions (instruments, weapons) can tear apart or they can consolidate and fuse. Shall we use our hands and their extensions in the service of the second aspect of divinity (the cohesive, unifying factor) or to tear and rend.

6. Đôi tay và những phần mở rộng của chúng, như công cụ và vũ khí, có thể xé rời, hoặc có thể củng cố và dung hợp. Liệu chúng ta sẽ dùng đôi tay và những phần mở rộng của chúng trong việc phụng sự Phương diện thứ hai của thiên tính, tức yếu tố cố kết và hợp nhất, hay để xé nát và phân rã?

Let him seek the mark of the messenger in his feet.

Hãy để y tìm dấu ấn của sứ giả nơi đôi chân mình.

7. We speed here and there in quest. My legs and feet (or the means of travel) move me through space. Why do I move? Why do I wish to move? Where am I going?

7. Chúng ta vội vã nơi này nơi kia trong cuộc tìm kiếm. Chân và bàn chân của tôi, hoặc các phương tiện di chuyển, đưa tôi qua không gian. Tại sao tôi di chuyển? Tại sao tôi muốn di chuyển? Tôi đang đi đâu?

8. If we answer these questions rightly we shall solve the problem of maya—mindless motion based on instincts, unconscious emotional impulses and unconsidered thoughts.

8. Nếu chúng ta trả lời đúng các câu hỏi này, chúng ta sẽ giải quyết được vấn đề ảo lực—chuyển động thiếu suy xét dựa trên bản năng, các xung lực cảm xúc vô thức và những tư tưởng chưa được cân nhắc.

9. What if our travels were all for the purpose of bringing coherence to the mind, heart and soul of humanity? What if every time we changed position in space we did so to bring all lesser patterns into the Great Pattern of Beauty intended by the Divine Design?

9. Sẽ ra sao nếu mọi cuộc đi lại của chúng ta đều nhằm mục đích đem lại sự cố kết cho thể trí, trái tim và linh hồn của nhân loại? Sẽ ra sao nếu mỗi lần chúng ta đổi vị trí trong không gian, chúng ta làm vậy để đưa mọi mô hình nhỏ hơn vào Đại Mô Hình của Vẻ Đẹp mà Thiết Kế Thiêng Liêng đã định?

10. Just as we often use the hands unconsciously, so we walk, run, change our position in space often with the same unconsciousness.

10. Cũng như chúng ta thường dùng đôi tay một cách vô thức, chúng ta cũng thường bước đi, chạy, đổi vị trí trong không gian với cùng một sự vô thức như vậy.

11. But what if we were true light-carriers, light bringers? What if every move we made increased illumination within the world?

11. Nhưng sẽ ra sao nếu chúng ta là những người mang ánh sáng đích thực, những người đem ánh sáng đến? Sẽ ra sao nếu mọi chuyển động của chúng ta đều làm tăng sự soi sáng trong thế gian?

12. We can examine our gestures, examine our movements through space, and see if this is so.

12. Chúng ta có thể khảo sát các cử chỉ của mình, khảo sát những chuyển động của mình qua không gian, và xem liệu có đúng như vậy không.

And let him learn to see with the eye which looks out from between the two.

Và hãy để y học cách nhìn bằng con mắt nhìn ra từ giữa hai con mắt.

13. And do we see with one eye or two? Is our vision still dualistic, filled with the sense of separation of this from that? It need not be. We could learn to see the One which is to see as the soul sees.

13. Và chúng ta nhìn bằng một mắt hay hai mắt? Tầm nhìn của chúng ta vẫn còn nhị nguyên chăng, đầy cảm thức chia tách điều này khỏi điều kia? Không nhất thiết phải như vậy. Chúng ta có thể học cách thấy Đấng Duy Nhất, tức là thấy như linh hồn thấy.

14. We are being asked to practice the perception of unity.

14. Chúng ta đang được yêu cầu thực hành sự tri nhận về hợp nhất.

15. When the heart is pure, when love is flowing, this perception of unity is natural. But if we find ourselves confronted with the constant registration of duality, we must practice the art of fusion. It is possible to overcome the illusion of separateness based on the great “Heresy of Separateness”.

15. Khi trái tim tinh khiết, khi tình thương tuôn chảy, sự tri nhận về hợp nhất này là tự nhiên. Nhưng nếu chúng ta thấy mình liên tục ghi nhận nhị nguyên, chúng ta phải thực hành nghệ thuật dung hợp. Có thể vượt qua ảo tưởng về sự chia rẽ dựa trên “Đại Tà thuyết về sự Chia Rẽ”.

16. Perhaps if we wish to see with the single eye, we must each find our own way.

16. Có lẽ nếu chúng ta muốn nhìn bằng con mắt duy nhất, mỗi người chúng ta phải tìm con đường riêng của mình.

17. When the moments of perceived union comes, ask yourself how you got there? How did you overcome the usual separative, personal perception to fuse all things within your consciousness together as one. The answer will be yours uniquely. Use what you discover to restore the unitive vision when again it escapes you—as, initially, it often will.

17. Khi những khoảnh khắc nhận biết sự hợp nhất đến, hãy tự hỏi bạn đã đạt tới đó như thế nào? Bạn đã vượt qua nhận thức chia rẽ và cá nhân thông thường ra sao để dung hợp mọi sự trong tâm thức mình thành một. Câu trả lời sẽ là của riêng bạn. Hãy dùng điều bạn khám phá để khôi phục tầm nhìn hợp nhất khi nó lại thoát khỏi bạn—như lúc ban đầu nó thường sẽ như vậy.

Rule XII for Disciples and Initiates: Let the group serve as Aquarius indicates.

Quy luật mười hai dành cho các đệ tử và điểm đạo đồ: Hãy để nhóm phụng sự như Bảo Bình chỉ dẫn.

18. It is time for us to become true Aquarians. We talk so much about the Aquarian Age, but have, perhaps, little sense of what it will means for the revolutionary energies of Aquarius to establish themselves on the planet and within humanity immune from the interference of the receding Piscean energies.

18. Đã đến lúc chúng ta trở thành những người Bảo Bình đích thực. Chúng ta nói rất nhiều về Kỷ nguyên Bảo Bình, nhưng có lẽ lại ít cảm nhận được điều đó sẽ có nghĩa gì khi các năng lượng cách mạng của Bảo Bình tự thiết lập trên hành tinh và trong nhân loại, miễn nhiễm với sự can thiệp của các năng lượng Song Ngư đang thoái lui.

19. We have been told that sometime during the twenty-first century the Piscean energies will fade out completely.

19. Chúng ta đã được cho biết rằng vào một thời điểm nào đó trong thế kỷ hai mươi mốt, các năng lượng Song Ngư sẽ hoàn toàn phai tàn.

Next century, when the seventh ray has achieved complete manifestation and the Piscean influence is entirely removed, the seventh ray Avatar will appear. (EXH 298)

Thế kỷ tới, khi cung bảy đã đạt đến sự biểu lộ trọn vẹn và ảnh hưởng Song Ngư hoàn toàn được loại bỏ, Đấng Hóa Thân cung bảy sẽ xuất hiện. (Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn 298)

20. Meanwhile we are still in a transitional era and we see many examples of what we may judge to be a recrudescence of Piscean energies—a last and final assertion before they are withdrawn entirely.

20. Trong khi đó, chúng ta vẫn còn ở trong một thời kỳ chuyển tiếp và thấy nhiều ví dụ về điều có thể được xem là sự bùng phát trở lại của các năng lượng Song Ngư—một sự khẳng định cuối cùng và chung cuộc trước khi chúng hoàn toàn được rút đi.

21. Aquarius will “indicate” the Divine Plan and (to the Hierarchy, at least) the ways of the Divine Purpose. There is also a great Aquarian Will pouring into Shamballa from powerfully conditioning constellation. Even Shamballa is undergoing the impression of new and reconditioning patterns as a result of the Aquarian inflow.

21. Bảo Bình sẽ “chỉ ra” Thiên Cơ và, ít nhất đối với Thánh đoàn, các con đường của Thiên Ý. Cũng có một Ý chí Bảo Bình vĩ đại đang tuôn vào Shamballa từ một chòm sao có sức tác động mạnh mẽ. Ngay cả Shamballa cũng đang chịu ấn tượng của những mô hình mới và tái định hình do dòng tuôn nhập Bảo Bình.

22. Are we ready for the universality, or as much of this encompassing Aquarian quality as can be appreciated by human consciousness?

22. Chúng ta đã sẵn sàng cho tính phổ quát, hay cho phần phẩm tính Bảo Bình bao trùm này mà tâm thức con người có thể nhận biết được chưa?

23. Are we ready to live beyond the ring-pass-not of our customary self and our customary group-self?

23. Chúng ta đã sẵn sàng sống vượt ngoài vòng-giới-hạn của cái tôi quen thuộc và cái tôi-nhóm quen thuộc của mình chưa?

24. There will be many challenges as humanity becomes more completely interrelated than ever before. There will be no privacy in the separative sense. As DK has told us, man will lose the privacy in which to sin.

24. Sẽ có nhiều thử thách khi nhân loại trở nên liên hệ hỗ tương trọn vẹn hơn bao giờ hết. Sẽ không còn sự riêng tư theo nghĩa chia rẽ. Như Chân sư DK đã nói với chúng ta, con người sẽ mất sự riêng tư để phạm tội.

The growth of telepathic registration and of the psychic powers such as clairvoyance and clairaudience will eventually tend to strip humanity of the privacy in which to sin. (EH 236)

Sự tăng trưởng của ghi nhận viễn cảm và của các quyền năng thông linh như thông nhãn và thông nhĩ cuối cùng sẽ có khuynh hướng tước khỏi nhân loại sự riêng tư để phạm tội. (Trị Liệu Huyền Môn 236)

25. This means the eyes of the group (both actually and subtly) will be upon everyone and, as a result, we will be held to a higher standard. We will become newly responsible and accountable.

25. Điều này có nghĩa là đôi mắt của nhóm, cả thật sự lẫn tinh tế, sẽ đặt trên mọi người và, do đó, chúng ta sẽ được giữ theo một tiêu chuẩn cao hơn. Chúng ta sẽ trở nên có trách nhiệm và có khả năng giải trình theo một cách mới.

26. Aquarius will indicate that no one can be left out of the “Divine Circulatory Flow”. The analogy to the circulatory system in the human body will be seriously contemplated by all reasonably intelligent human beings. The instinctual ‘right to selfishness’ will be overthrown and the rights of humanity will emerge. This has already happened in principle with the universal Declaration of Human Rights, but is not yet widely accepted.

26. Bảo Bình sẽ chỉ ra rằng không ai có thể bị bỏ ngoài “Dòng Tuần Hoàn Thiêng Liêng”. Phép tương đồng với hệ tuần hoàn trong thể xác con người sẽ được mọi con người có trí tuệ hợp lý chiêm ngưỡng một cách nghiêm túc. “Quyền ích kỷ” theo bản năng sẽ bị lật đổ và các quyền của nhân loại sẽ xuất hiện. Điều này đã xảy ra về nguyên tắc với Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, nhưng vẫn chưa được chấp nhận rộng rãi.

27. If we think that the Moon is the hierarchical ruler of Aquarius, life in the Aquarian Age will demand a new approach to lunar expression—a new cleansing and vitalization of the lunar vehicles. The themes of cleansing and vitalization are both profoundly Aquarian as we understand from the Aquarian Labor of Hercules—the Cleaning of the Augean Stables.

27. Nếu chúng ta nghĩ rằng Mặt Trăng là chủ tinh cấp Thánh đoàn của Bảo Bình, thì đời sống trong Kỷ nguyên Bảo Bình sẽ đòi hỏi một cách tiếp cận mới đối với biểu hiện thái âm—một sự thanh tẩy và tiếp sinh lực mới cho các hiện thể thái âm. Các chủ đề về thanh tẩy và tiếp sinh lực đều sâu sắc mang tính Bảo Bình, như chúng ta hiểu từ Kỳ Công của Hercules thuộc Bảo Bình—việc Thanh Tẩy Chuồng Ngựa Augeas.

28. Of course it is the reemerging Hierarchy which will truly serve as Aquarius indicates. The members of the New Group of World Servers will serve as Taurus indicates and only the most hierarchically affiliated groups will grasp the true meaning of serving in a manner which is completely Aquarian.

28. Dĩ nhiên, chính Thánh đoàn đang tái xuất hiện mới sẽ thật sự phụng sự như Bảo Bình chỉ dẫn. Các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian sẽ phụng sự như Kim Ngưu chỉ dẫn, và chỉ những nhóm gắn kết nhất với Thánh đoàn mới nắm bắt được ý nghĩa chân thực của việc phụng sự theo một cách hoàn toàn Bảo Bình.

29.

29.

Aquarius is above all a sign of service—disinterested, impersonal service. As the rain falls equally upon the just and the unjust, so will the impulse to service pour forth indiscriminately over humanity, offering opportunity to all.

Trên hết, Bảo Bình là một dấu hiệu của phụng sự—phụng sự vô tư, phi cá nhân. Như mưa rơi đồng đều trên người công chính và kẻ bất chính, xung lực phụng sự cũng sẽ tuôn tràn không phân biệt trên nhân loại, trao cơ hội cho tất cả.

Let Mercury speed the group upon the upward Way

Hãy để Sao Thủy thúc đẩy nhóm trên Con Đường đi lên

30. This will happen increasingly as the centuries of the Aquarian Age elapse.

30. Điều này sẽ xảy ra ngày càng nhiều khi các thế kỷ của Kỷ nguyên Bảo Bình trôi qua.

31. As far as we are concerned “the upward way” leads to the spiritual triad and the dimensions of consciousness in which impersonality is factually pervasive.

31. Về phía chúng ta, “con đường đi lên” dẫn đến Tam Nguyên Tinh Thần và các chiều kích tâm thức trong đó tính phi cá nhân thật sự thấm khắp.

32. As the buddhic plane (ruled in part by Mercury) is reached there will be (as we learn in Rule I for Disciples and Initiates) the “warmth of energetic moving out” impulsed by “heat evoked by the group love”.

32. Khi cõi Bồ đề, một phần do Sao Thủy cai quản, được đạt tới, sẽ có, như chúng ta học trong Quy luật một dành cho các đệ tử và điểm đạo đồ, “hơi ấm của sự vươn ra đầy năng lực” được thúc đẩy bởi “nhiệt do tình thương nhóm gợi lên”.

33. The Law of Group Progress will assist the group as it aspires to tread this upward way.

33. Định luật Tiến Bộ Nhóm sẽ trợ giúp nhóm khi nhóm khát vọng bước trên con đường đi lên này.

34. We have to get ready for speed, “organising for speed”, as the Tibetan tells us.

34. Chúng ta phải chuẩn bị cho tốc độ, “tổ chức để có tốc độ”, như Chân sư Tây Tạng nói với chúng ta.

You are still a constructive and useful person. I am simply here facing you with one of the crises which come in the life of all disciples, wherein choices have to be made that are determining for a cycle, but for a cycle only. It is pre-eminently a question of speed and of organising for speed. This means eliminating the non-essentials and concentrating on the essentials—the inner essentials, as they concern the soul and its relation to the personality, and the outer ones as they concern you and your environment. (DINA I 539)

Bạn vẫn là một người xây dựng và hữu ích. Ở đây, tôi chỉ đơn giản đặt bạn đối diện với một trong những khủng hoảng đến trong đời sống của mọi đệ tử, trong đó các lựa chọn phải được thực hiện và sẽ có tính quyết định cho một chu kỳ, nhưng chỉ cho một chu kỳ mà thôi. Trước hết, đó là vấn đề về tốc độ và về việc tổ chức để có tốc độ. Điều này có nghĩa là loại bỏ những điều không cốt yếu và tập trung vào những điều cốt yếu—những điều cốt yếu bên trong, khi chúng liên quan đến linh hồn và mối liên hệ của linh hồn với phàm ngã, và những điều bên ngoài, khi chúng liên quan đến bạn và môi trường của bạn. (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới quyển một 539)

35. As the great and impending Aquarian interrelatedness develops, everything will move faster, and processes which used to take centuries may take only decades or even a few years.

35. Khi sự liên hệ hỗ tương Bảo Bình vĩ đại và đang đến gần phát triển, mọi sự sẽ chuyển động nhanh hơn, và những tiến trình trước kia thường mất nhiều thế kỷ có thể chỉ mất vài thập niên, hoặc thậm chí vài năm.

36. Humanity is reaching a period of integration and at least partial soul infusion. The later processes of human development are always more rapid than the painfully slow earlier processes. We have arrived at the point in human progress in which a great coming together is not only possible but intended.

36. Nhân loại đang đạt tới một thời kỳ tích hợp và ít nhất là được linh hồn thấm nhuần một phần. Các tiến trình về sau trong sự phát triển của con người luôn nhanh hơn những tiến trình ban đầu chậm chạp đầy đau đớn. Chúng ta đã đến điểm trong sự tiến bộ của nhân loại, nơi một sự quy tụ lớn lao không chỉ có thể xảy ra mà còn đã được dự định.

37. Whether this integration process (this process of the meeting and mutual adjustment of forces which hitherto were separated from each other) will be constructive or destructive is not yet determined. Antithetical forces are being forced to interact and the result may be an extremely explosive situation, or, mutual adjustment, valuation and appreciation—over time. So much depends upon the wisdom with which the gathering interrelation is managed.

37. Tiến trình tích hợp này, tức tiến trình gặp gỡ và điều chỉnh hỗ tương của các mãnh lực cho đến nay vốn tách rời nhau, sẽ mang tính xây dựng hay phá hoại thì vẫn chưa được xác định. Các mãnh lực đối nghịch đang bị buộc phải tương tác, và kết quả có thể là một tình thế cực kỳ bùng nổ, hoặc là sự điều chỉnh hỗ tương, sự đánh giá đúng và sự trân trọng—qua thời gian. Rất nhiều điều tùy thuộc vào minh triết mà nhờ đó sự liên hệ hỗ tương đang tụ hội được quản trị.

38. In any case, those at the forefront of human progress can tread a higher way, “the upward way”, and by treading that way can lift all of humanity significantly.

38. Trong mọi trường hợp, những người ở tuyến đầu của sự tiến bộ nhân loại có thể bước trên một con đường cao hơn, “con đường đi lên”, và bằng cách bước trên con đường ấy, có thể nâng toàn thể nhân loại lên một cách đáng kể.

39. It is the influence of the bridging and relating energy of Mercury which will allow this treading. Mercury leads into the Mysteries and the mysteries of higher energies will be penetrated by those leading humanity forward—spiritually.

39. Chính ảnh hưởng của năng lượng bắt cầu và liên kết của Sao Thủy sẽ cho phép việc bước đi này. Sao Thủy dẫn vào các Bí Nhiệm, và các bí nhiệm của những năng lượng cao hơn sẽ được những người dẫn dắt nhân loại tiến tới—về mặt tinh thần—thâm nhập.

40. A general lightening of human substance may be expected, a vibratory elevation which will lift humanity from its slavery to earthly elements, at the same time increasing the possibility of wisely manage those elements.

40. Có thể trông đợi một sự làm nhẹ tổng quát của chất liệu nhân loại, một sự nâng cao rung động sẽ nâng nhân loại khỏi sự nô lệ vào các nguyên tố trần gian, đồng thời gia tăng khả năng quản trị những nguyên tố ấy một cách minh triết.

and let Taurus bring illumination and the attainment of the vision.

và hãy để Kim Ngưu đem lại sự soi sáng và sự đạt được tầm nhìn.

41. Taurus is an energy which can bring to humanity so much good or so much ill.

41. Kim Ngưu là một năng lượng có thể mang đến cho nhân loại rất nhiều điều thiện hoặc rất nhiều điều bất thiện.

42. The Tibetan warned us just before the Second World War that unless the Forces of Light prevailed humanity would be re-initiated into the mysteries of earth.

42. Chân sư Tây Tạng đã cảnh báo chúng ta ngay trước Chiến tranh Thế giới thứ hai rằng nếu các Mãnh lực Ánh sáng không thắng thế, nhân loại sẽ lại được điểm đạo vào các bí nhiệm của đất.

Capricorn is related, as you have been told, to initiation; [Page 543] it is also the sign of the coming world Saviour and these higher aspects of the Capricornian influences can be potently demonstrated if humanity so wills it and will take advantage of the Venusian influence to use the mind as the reflector of soul purpose. If this does not take place, the present situation will turn into something far worse—a situation wherein the mass of men will be “re-initiated into the Earth and forced to turn their backs upon the dawning light.” A dark period of civilisation will ensue. Instead of the dark cave of initiation wherein the light of the initiate’s own nature illumines the darkness and so demonstrates his command of light, the dark cave of materialism and of physical, animal control will take the place of the “lighted Way.” The earthy aspect of Capricorn, the lowest concrete aspect of the mind and an increased control by the Taurean spirit in its worst form will take the place of the divine possibility of entrance into greater light, the manifestation of the soul nature and the recognition of the “light which is found in the eye of the Bull.” (EA 542-543)

Ma Kết, như các bạn đã được cho biết, có liên hệ đến điểm đạo; [Trang 543] đó cũng là dấu hiệu của Đấng Cứu Thế thế gian đang đến, và các phương diện cao siêu này của những ảnh hưởng Ma Kết có thể được biểu lộ một cách mạnh mẽ nếu nhân loại muốn như vậy và biết tận dụng ảnh hưởng Sao Kim để dùng thể trí như tấm gương phản chiếu mục đích của linh hồn. Nếu điều này không xảy ra, tình hình hiện tại sẽ chuyển thành một điều tệ hại hơn rất nhiều—một tình trạng trong đó khối đông nhân loại sẽ “lại được điểm đạo vào Trái Đất và bị buộc phải quay lưng lại với ánh sáng đang ló rạng.” Một thời kỳ tối tăm của văn minh sẽ tiếp diễn. Thay vì hang tối của điểm đạo, nơi ánh sáng từ chính bản chất của điểm đạo đồ soi sáng bóng tối và nhờ đó chứng tỏ sự làm chủ ánh sáng của y, hang tối của chủ nghĩa vật chất và của sự kiểm soát hồng trần, thú tính sẽ thay thế cho “Con Đường được Soi Sáng.” Phương diện thuộc đất của Ma Kết, phương diện cụ thể thấp nhất của thể trí và sự kiểm soát gia tăng bởi tinh thần Kim Ngưu trong hình thức tệ hại nhất của nó sẽ thay thế khả thể thiêng liêng của việc bước vào ánh sáng lớn lao hơn, sự biểu lộ của bản chất linh hồn và sự nhận biết “ánh sáng được tìm thấy trong mắt của Bò Mộng.” (Chiêm Tinh Học Nội Môn 542-543)

43. Taurus can release energies which prove most material and obstructive.

43. Kim Ngưu có thể phóng thích những năng lượng tỏ ra hết sức vật chất và cản trở.

44. At the same time Taurus is one of the great sources of illumination, promoting the vision of that which the Divine Plan is intended to reveal.

44. Đồng thời, Kim Ngưu là một trong những nguồn soi sáng lớn lao, thúc đẩy tầm nhìn về điều mà Thiên Cơ nhằm mặc khải.

45. When dealing with the possibilities promised by Taurus, we have to consider our own relation to the factor of desire. Unless we adjust and lighten our desires, we shall not gain access to the higher Light.

45. Khi đề cập đến những khả thể mà Kim Ngưu hứa hẹn, chúng ta phải xem xét mối liên hệ của chính mình với yếu tố ham muốn. Nếu chúng ta không điều chỉnh và làm nhẹ đi những ham muốn của mình, chúng ta sẽ không tiếp cận được Ánh sáng cao siêu hơn.

46. Of course, as individuals quite deeply involved in esotericism, our desires are probably more elevated than those of the average human being. And yet, are our desires and values as elevated as they might be?

46. Dĩ nhiên, với tư cách là những cá nhân khá dấn sâu vào huyền bí học, các ham muốn của chúng ta có lẽ cao thượng hơn ham muốn của con người bình thường. Tuy vậy, liệu các ham muốn và giá trị của chúng ta đã cao thượng như chúng có thể đạt tới chưa?

47. The Light which reveals reality is always present. For our purposes, it is the “clear, cold light” of the buddhic plane. Taurus (the “Mother of Illumination”) is closely related both to the “clear cold light” and to the “Greatest Light”.

47. Ánh sáng mặc khải thực tại luôn luôn hiện diện. Với mục đích của chúng ta, đó là “ánh sáng trong trẻo, lạnh” của cõi Bồ đề. Kim Ngưu, “Mẹ của Sự Soi Sáng”, có liên hệ mật thiết cả với “ánh sáng trong trẻo, lạnh” lẫn “Ánh sáng Vĩ Đại Nhất”.

48. The Path we are treading calls us to enlightenment. There are many things we might desire—some very good things, but other than the Light. How much do we desire the Light when compared for our desire for such other things? There are choices to be made with respect to the intensity and single-mindedness of our pursuit of the Light.

48. Đường Đạo mà chúng ta đang bước đi kêu gọi chúng ta hướng đến giác ngộ. Có nhiều điều chúng ta có thể ham muốn—một số là những điều rất tốt đẹp, nhưng lại khác với Ánh sáng. Khi so với ham muốn dành cho những điều khác ấy, chúng ta ham muốn Ánh sáng đến mức nào? Có những chọn lựa cần được thực hiện liên quan đến cường độ và sự chuyên nhất trong cuộc theo đuổi Ánh sáng của chúng ta.

49. Initiation is sustained revelation and the vision leads to revelation. Is our life in the three worlds motivated by the attainment of a vision of that which may be? Are we seeing as clearly as we should?

49. Điểm đạo là sự mặc khải được duy trì liên tục, và tầm nhìn dẫn đến sự mặc khải. Đời sống của chúng ta trong ba cõi thấp có được thúc đẩy bởi việc đạt tới một tầm nhìn về điều có thể thành tựu không? Chúng ta có đang thấy rõ như cần phải thấy không?

A recognition, when it is seen as an aspect or fractional part of a greater whole, is the seed of a major expansion of consciousness. A stabilized expansion of consciousness connotes initiation. This is an occult statement of major importance. (DINA I 740)

Một sự nhận biết, khi được thấy như một phương diện hay một phần nhỏ của một toàn thể lớn hơn, là hạt giống của một sự mở rộng tâm thức trọng đại. Một sự mở rộng tâm thức đã ổn định hàm ý điểm đạo. Đây là một phát biểu huyền bí có tầm quan trọng lớn lao. (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới quyển một 740)

50. Entirely new possibilities lie before us. We must ensure that they lie within the range of possible attainment by purifying and elevating our desires until they become a pure flame of aspiration, and then, by doing all we can to strengthen this aspiration.

50. Những khả thể hoàn toàn mới đang mở ra trước mắt chúng ta. Chúng ta phải bảo đảm rằng chúng nằm trong phạm vi có thể đạt được bằng cách thanh lọc và nâng cao các ham muốn của mình cho đến khi chúng trở thành một ngọn lửa khát vọng tinh thuần, rồi sau đó làm tất cả những gì có thể để củng cố khát vọng này.

Let the Mark of the Saviour as the group toils in Pisces, be seen above the aura of the group.

Ước gì Dấu Ấn của Đấng Cứu Thế, khi nhóm lao tác trong Song Ngư, được nhìn thấy bên trên hào quang của nhóm.

51. The great zodiacal energies we have been discussing are the spiritual energies propelling us towards attainment.

51. Các năng lượng hoàng đạo vĩ đại mà chúng ta đã bàn đến là những năng lượng tinh thần thúc đẩy chúng ta hướng tới sự thành tựu.

52. They are real. They are conditioning the Earth and humanity at this time.

52. Chúng là có thật. Lúc này, chúng đang định hình Trái Đất và nhân loại.

53. We must learn to recognize, access, adapt and apply these energies to our present conditions and the conditions of human living which must be changed.

53. Chúng ta phải học cách nhận biết, tiếp cận, thích nghi và ứng dụng các năng lượng này vào những điều kiện hiện tại của chúng ta và vào những điều kiện sống của nhân loại vốn phải được thay đổi.

54. For approximately two thousand years humanity has been conditioned by the energies of the constellation Pisces. The majority of human beings find themselves still expressing Piscean energy patterns. Thus, at this change of precessional Age, a great reconditioning is required. Piscean patterns must give way to Aquarian patterns.

54. Trong khoảng hai nghìn năm, nhân loại đã được định hình bởi các năng lượng của chòm sao Song Ngư. Đa số con người vẫn còn đang biểu lộ các mô hình năng lượng Song Ngư. Vì vậy, tại bước chuyển đổi của Kỷ Nguyên theo tuế sai này, cần có một sự tái định hình lớn lao. Các mô hình Song Ngư phải nhường chỗ cho các mô hình Bảo Bình.

55. If we as esoterically inclined disciples in the worlds are to serve as agents of this transformational change, we must ensure that the patterns within our nature which still vibrate to the influence of Pisces are changed into Aquarian patterns.

55. Nếu chúng ta, với tư cách là những đệ tử có khuynh hướng huyền bí trong các cõi giới, muốn phụng sự như những tác nhân của sự thay đổi mang tính chuyển đổi này, chúng ta phải bảo đảm rằng các mô hình trong bản chất mình, vốn vẫn còn rung động theo ảnh hưởng của Song Ngư, được chuyển thành các mô hình Bảo Bình.

56. Therefore, we must evaluate our own energy system and the patterns of our interplay with our fellow human beings, assessing the nature of the patterns which condition us—and then, of course, see to the necessary change, which is often accomplished within the context of the spiritual groups in which we find ourselves.

56. Do đó, chúng ta phải đánh giá hệ thống năng lượng của chính mình và các mô hình tương tác của chúng ta với đồng loại, thẩm định bản chất của những mô hình đang định hình chúng ta—rồi, dĩ nhiên, thực hiện sự thay đổi cần thiết, vốn thường được hoàn thành trong bối cảnh các nhóm tinh thần nơi chúng ta hiện diện.

57. Pisces may be an energy which is temporarily fading from the global scene but, in a large sense, it is one of three powerfully conditioning “zodiacal decanates”—along with Taurus and Scorpio.

57. Song Ngư có thể là một năng lượng đang tạm thời mờ dần khỏi bối cảnh toàn cầu, nhưng theo nghĩa rộng, nó là một trong ba “thập độ hoàng đạo” có sức định hình mạnh mẽ—cùng với Kim Ngưu và Hổ Cáp.

58. The World Saviour, the Christ, although approaching humanity in a manner expressive of the new Aquarian energies, is archetypally conditioned by the saving energy of the constellation Pisces.

58. Đấng Cứu Thế Thế Gian, Đức Christ, dù đang đến gần nhân loại theo một cách biểu lộ các năng lượng Bảo Bình mới, vẫn được định hình về mặt nguyên mẫu bởi năng lượng cứu rỗi của chòm sao Song Ngư.

59. We, too, have been conditioned by Piscean energies for two thousand year and must use that which they have taught us as we cooperate in the reconditioning of those human beings who are still more affected by Piscean energies than we may be.

59. Chúng ta cũng đã được định hình bởi các năng lượng Song Ngư trong hai nghìn năm và phải sử dụng những gì chúng đã dạy chúng ta khi cộng tác trong việc tái định hình những con người vẫn còn chịu ảnh hưởng của các năng lượng Song Ngư nhiều hơn chúng ta.

60. Pisces is the saving energy and Aquarius the serving energy. Together (and as the overlap of their respective constellations indicate, there are periods in which they function together) they provide a formidable saving, serving and redeeming energy flow.

60. Song Ngư là năng lượng cứu rỗi và Bảo Bình là năng lượng phụng sự. Cùng nhau, và như sự chồng lấn của các chòm sao tương ứng của chúng cho thấy, có những thời kỳ chúng hoạt động cùng nhau, chúng tạo nên một dòng năng lượng cứu rỗi, phụng sự và cứu chuộc đầy uy lực.

61. With these energies (and with the energy of Taurus, inspiring and qualifying the New Group of World Servers) we, as disciples, are presently at work.

61. Với các năng lượng này, cùng với năng lượng Kim Ngưu đang truyền cảm hứng và tạo phẩm tính cho Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, hiện nay chúng ta, với tư cách là các đệ tử, đang hoạt động.

62. We see, do we not, how these three zodiacal energies accord with each other, providing exactly those redemptive, uplifting possibilities which are so needed by humanity at this time (and by the planet).

62. Chúng ta thấy rõ, phải không, cách ba năng lượng hoàng đạo này hòa hợp với nhau, đem lại đúng những khả thể cứu chuộc và nâng cao mà nhân loại lúc này, cũng như hành tinh, đang rất cần.

63. The service we render, the help we give, is not just individual. Rather, it is part of a tremendous cosmic, systemic and planetary process, and this we should keep in mind to provide us with the perspective we need.

63. Sự phụng sự chúng ta thực hiện, sự trợ giúp chúng ta trao ra, không chỉ là cá nhân. Đúng hơn, nó là một phần của một tiến trình vũ trụ, thái dương hệ và hành tinh lớn lao; và điều này chúng ta nên ghi nhớ để có được viễn cảnh cần thiết.

64. It is as if we should develop both an individual and group relation to these zodiacal and planetary energies, realizing their presence, their ambience, and deliberately appropriate them as we proceed with our daily service in the world.

64. Dường như chúng ta cần phát triển mối liên hệ cả cá nhân lẫn nhóm với các năng lượng hoàng đạo và hành tinh này, nhận ra sự hiện diện và bầu ảnh hưởng của chúng, rồi chủ ý tiếp nhận và vận dụng chúng khi chúng ta tiến hành công việc phụng sự hằng ngày trong thế gian.

65. Surely, the time has come for us to live a larger life in cognizance of the esoteric conditioning provided by the great Energy Sources in whose Presence we live and move and have our being.

65. Chắc chắn, đã đến lúc chúng ta phải sống một đời sống rộng lớn hơn trong sự nhận biết về tác động huyền bí do các Nguồn Năng Lượng vĩ đại đem lại, trong Sự Hiện Diện của các Ngài mà chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu.

66. In our consciousness we need to retain a broad occult context which will help us deepen our understanding of the esoteric reality of our situation.

66. Trong tâm thức của mình, chúng ta cần duy trì một bối cảnh huyền bí rộng lớn, điều sẽ giúp chúng ta đào sâu sự thấu hiểu về thực tại huyền bí của hoàn cảnh chúng ta.

67. Why live incognizant of this context? If we wish to live within a smaller and more illusory context our effectiveness in service will be reduced.

67. Tại sao lại sống mà không nhận biết bối cảnh này? Nếu chúng ta muốn sống trong một bối cảnh nhỏ hẹp hơn và ảo tưởng hơn, hiệu quả phụng sự của chúng ta sẽ bị giảm sút.

68. So there is much broadening of consciousness demanded of us if we are to consciously live within the greater energy movements and interplay now transforming humanity and our planet.

68. Vì vậy, có rất nhiều sự mở rộng tâm thức được đòi hỏi nơi chúng ta nếu chúng ta muốn sống một cách hữu thức trong những chuyển động và tương tác năng lượng lớn lao hơn, vốn hiện đang chuyển đổi nhân loại và hành tinh của chúng ta.

69. I would suggest we remind ourselves of what is really happening energetically, and of the tiny part we are playing within the great zodiacal energy flows.

69. Tôi đề nghị chúng ta tự nhắc mình về điều đang thực sự diễn ra về mặt năng lượng, và về phần nhỏ bé mà chúng ta đang đảm nhận trong những dòng chảy năng lượng hoàng đạo vĩ đại.

70. If we do so, our participation in these inevitable and transformative processes will deepen and become spiritually effective.

70. Nếu làm như vậy, sự tham dự của chúng ta vào các tiến trình tất yếu và mang tính chuyển đổi này sẽ trở nên sâu sắc hơn và hữu hiệu hơn về mặt tinh thần.



[1] vất vả, khó nhọc, cực nhọc

[2] 3. tích cực noi gương

[3] phung phí, hoang phí (tiền của, thì giờ), tiêu (tiền) như phá

[4] 2. sự phong phú, nguồn dồi dào; 3. kho hàng lớn

[5] không bị làm lúng túng, không bị làm trở ngại, không bị làm vướng víu

[6] 1. cái đê (dùng để khâu tay); 2. (cơ khí) măngsông, ống lót

[7] 1. bóp cổ, bóp họng; 2. làm nghẹt (cổ), bóp nghẹt

[8] 1. giận dữ; 2. nóng sôi; sôi sùng sục

[9] 2. làm nổ tung, phá (bằng mìn); 3. phá hoại, làm tan vỡ (hạnh phúc, kế hoạch…); làm mất danh dự

[10] sự nổ bùng mới; sự tái phát

[11] có dự tính, có bàn tính, có phối hợp

[12] Có kiên trì; có sức chịu đựng; cương nghị; nghị lực

[13] 1. mốt, thời trang; cái đang được chuộng, cái đang thịnh hành

[14] quyết, cương quyết, kiên quyết

Leave a Comment

Scroll to Top