Click số trang trong ngoặc [ ] để đi đến bình giảng
|
RULE THIRTEEN [Page 248-285] |
QUY LUẬT MƯỜI BA [Page 248-285] |
|
Let us now descend to thoughts more practical and within the range of comprehension, and consider the thirteenth rule somewhat in detail. It runs as follows: |
Bây giờ chúng ta hãy đi xuống những tư tưởng thực tiễn hơn và nằm trong phạm vi có thể lĩnh hội, rồi xem xét quy luật thứ mười ba một cách khá chi tiết. Quy luật ấy như sau: |
|
Quy luật XIII. |
|
|
(1) Let the group get ready to reveal the hidden mystery. (2) Let the group demonstrate the higher meaning of the lessons learnt, and these are four and yet are one. (3) Let the group understand the Law of Synthesis, of unity and fusion; (4) let the threefold mode of working with that which is dynamic carry the group together towards the Higher Three where the Will of God holds sway; (5) let Transfiguration follow Transformation, and may Transmutation disappear. (6) Let the O.M. be heard right at the center of the group, proclaiming God is All. |
(1) Hãy để nhóm sẵn sàng mặc khải bí nhiệm ẩn giấu. (2) Hãy để nhóm biểu lộ ý nghĩa cao hơn của những bài học đã học được, và các bài học ấy là bốn nhưng vẫn là một. (3) Hãy để nhóm thấu hiểu Định luật Tổng Hợp, về tính hợp nhất và sự dung hợp; (4) hãy để phương thức tam phân làm việc với cái năng động đưa nhóm cùng nhau hướng về Bộ Ba Cao Siêu, nơi Ý Chí của Thượng Đế thống ngự; (5) hãy để Biến hình tiếp theo Chuyển đổi, và cầu mong Chuyển hoá biến mất. (6) Hãy để O.M. được nghe ngay tại trung tâm của nhóm, công bố rằng Thượng đế là Tất Cả. |
|
The key to the significance and the clue to the secret of this rule are to be found in the preparatory rule given to applicants in the earlier book (Initiation, Human and Solar). It is included here so that you can refer to it as you study its higher corresponding rule, as given to initiates and to advanced disciples. |
Chìa khóa dẫn vào thâm nghĩa và manh mối của bí mật trong quy luật này được tìm thấy trong quy luật chuẩn bị đã được trao cho các ứng viên trong quyển sách trước đó (Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương). Quy luật ấy được đưa vào đây để các bạn có thể tham chiếu khi nghiên cứu quy luật tương ứng cao hơn của nó, như đã được trao cho các điểm đạo đồ và các đệ tử tiến bộ. |
|
Rule XIII. |
Quy luật XIII. |
|
For Applicants. Four things the disciple must learn and comprehend before he can be shewn the inmost mystery: first, the laws of that which radiates; the five meanings of magnetization make the second; the third is transmutation or the secret lost of alchemy; and lastly, the first letter of the Word which has been imparted, or the hidden name egoic. [Page 248] |
Dành cho các Ứng viên. Có bốn điều đệ tử phải học và thấu hiểu trước khi y có thể được chỉ cho bí nhiệm sâu kín nhất: thứ nhất, các định luật của cái phát xạ; năm ý nghĩa của sự từ hóa tạo thành điều thứ hai; điều thứ ba là chuyển hoá hay bí pháp đã mất của thuật luyện kim; và sau cùng, chữ cái đầu tiên của Linh từ đã được truyền trao, hay danh xưng chân ngã ẩn giấu. [Page 248] |
|
In this earlier rule, the disciple is told that before he can advance to the mysteries which will be revealed to him sequentially as he advances along the Path of Initiation, there are four things which he must “learn and comprehend.” These are: |
Trong quy luật trước đó, đệ tử được cho biết rằng trước khi y có thể tiến vào những bí nhiệm sẽ được mặc khải cho y theo tuần tự khi y tiến bước trên Con Đường Điểm Đạo, có bốn điều y phải “học và thấu hiểu.” Đó là: |
|
1. The laws of that which radiates. I would call your attention to the fact that this does not refer to the Laws of Radiation. That which radiates comes under its own laws which are different to those which produced radiation. Students need to read with increasing care as they advance upon the occult way which leads to the Way of the Higher Evolution. |
1. Các định luật của cái phát xạ. Tôi muốn các bạn lưu ý đến sự kiện rằng điều này không ám chỉ các Định luật Phát xạ. Cái phát xạ nằm dưới các định luật riêng của nó, khác với những định luật đã tạo ra sự phát xạ. Các đạo sinh cần đọc với sự cẩn trọng ngày càng tăng khi họ tiến bước trên con đường huyền bí dẫn đến Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. |
|
2. He must study the five meanings of magnetization. This refers to the five modes in which the Law of Magnetization works; this is another name for the Law of Attraction. |
2. Y phải nghiên cứu năm ý nghĩa của sự từ hóa. Điều này ám chỉ năm phương thức mà Định luật Từ Hóa vận hành; đây là một tên gọi khác của Định luật Hấp Dẫn. |
|
3. He must comprehend what transmutation is and in which consists the secret art (now lost along with the Lost Word) of Alchemy. Esoterically speaking, transmutation is the mode whereby force is transmuted or changed into energy. This means (where a disciple is concerned) the transmutation or changing or stepping up of personality force into egoic energy. |
3. Y phải thấu hiểu chuyển hoá là gì và bí thuật của thuật luyện kim hệ tại đâu, bí thuật ấy nay đã thất truyền cùng với Linh từ đã mất. Nói một cách huyền bí, chuyển hoá là phương thức nhờ đó mãnh lực được chuyển hoá hoặc biến đổi thành năng lượng. Điều này có nghĩa là, khi nói về một đệ tử, sự chuyển hoá, biến đổi hoặc nâng cao mãnh lực phàm ngã thành năng lượng chân ngã. |
|
4. He must know the “hidden name egoic” or the first letter of the imparted Word. Two things should be noted here. The “Word” here does not refer to the Sacred Word but to the name of the planetary Logos, the hidden name of Sanat Kumara Who is the soul of the world in all its phases, the manifesting Ego of the Logos on the cosmic mental plane. Only the first letter of that “ineffable name” is permitted expression to initiates until the fourth initiation. You will see, therefore, how vast a field this instruction on Rule XIII covers. |
4. Y phải biết “danh xưng chân ngã ẩn giấu” hay chữ cái đầu tiên của Linh từ đã được truyền trao. Ở đây cần lưu ý hai điều. “Linh từ” ở đây không ám chỉ Linh từ Thiêng Liêng mà là danh xưng của Hành Tinh Thượng đế, danh xưng ẩn giấu của Đức Sanat Kumara, Đấng là linh hồn của thế giới trong mọi trạng thái của nó, là Chân ngã đang biểu hiện của Thượng đế trên cõi trí vũ trụ. Chỉ chữ cái đầu tiên của “danh xưng bất khả ngôn” ấy mới được phép biểu lộ cho các điểm đạo đồ cho đến lần điểm đạo thứ tư. Vì vậy, các bạn sẽ thấy giáo huấn này về Quy luật XIII bao trùm một lĩnh vực rộng lớn biết bao. |
|
The higher correspondences of these four requirements are expressed in the following terms: |
Các tương ứng cao hơn của bốn yêu cầu này được diễn đạt bằng những thuật ngữ sau: |
|
1. Let the group understand the Law of Synthesis. (This is the law which governs the thinking of those great Lives Who form the Council of Sanat Kumara in Shamballa.) [Page 249] |
1. Hãy để nhóm thấu hiểu Định luật Tổng Hợp. Đây là định luật chi phối tư duy của những Sự Sống vĩ đại vốn hợp thành Hội đồng của Đức Sanat Kumara tại Shamballa. [Page 249] |
|
2. Let the threefold mode of working with that which is dynamic carry the group together towards the Higher Three where the Will of God holds sway. |
2. Hãy để phương thức tam phân làm việc với cái năng động đưa nhóm cùng nhau hướng về Bộ Ba Cao Siêu, nơi Ý Chí của Thượng Đế thống ngự. |
|
3. Let Transfiguration follow Transformation and may Transmutation disappear. |
3. Hãy để Biến hình tiếp theo Chuyển đổi, và cầu mong Chuyển hoá biến mất. |
|
4. Let the OM be heard right at the center of the group, proclaiming God is All. |
4. Hãy để OM được nghe ngay tại trung tâm của nhóm, công bố rằng Thượng đế là Tất Cả. |
|
You can gather from the above what a tremendous field of esoteric truth is here covered and how abstruse to the average occult student is the theme. Again I would remind you that the real significance will only be perceived by the trained initiate and that what I say here must necessarily be veiled and even meaningless to the non-initiate, even whilst radiantly clear to those who truly know. Again, I would remind you that I write this particular section of A Treatise on the Seven Rays entirely for initiates, and that aspirants who have not taken initiation cannot understand or duly appreciate the inner meaning of these fourteen rules. In this fact lies no reason for discouragement, nor is there any suggestion that those with initiate consciousness should endeavor to explain, even if—through compassion or from the desire to stimulate approach to the Mysteries—they desired to do so. No true initiate would be so tempted, for he would realize that it would not only be impossible but also that there is a vital necessity for the disciple to work out significances and meanings through the medium of his own life experiment and to arrive at understanding through direct experience. Then no questioning can ever arise and sure knowledge takes its place. There are no questions of any kind in the consciousness of those who form the Hierarchy. The lower analytical concrete mind which questions and separates this from that has been completely controlled and superseded; response to indicated group activity takes place. Students need to realize more concretely that group consciousness, universal awareness, and therefore synthetic effort, synthetic understanding and synthetic activity are possible to a Master or an initiate of the higher degrees. That involves the keynote of this solar [Page 250] system, particularly within this planet, the Earth; it will be succeeded in the next solar system by a type of life activity which is as yet only known in Shamballa. |
Từ những điều trên, bạn có thể nhận ra rằng ở đây bao quát một lĩnh vực chân lý huyền bí rộng lớn biết bao, và chủ đề này khó hiểu đến mức nào đối với đạo sinh huyền bí học trung bình. Một lần nữa, tôi muốn nhắc bạn rằng thâm nghĩa đích thực chỉ được điểm đạo đồ đã được huấn luyện nhận biết, và rằng những gì tôi nói ở đây tất yếu phải được che phủ, thậm chí vô nghĩa đối với người chưa điểm đạo, dù lại sáng rõ rực rỡ đối với những ai thật sự biết. Một lần nữa, tôi muốn nhắc bạn rằng tôi viết phần đặc biệt này của Luận về Bảy Cung hoàn toàn cho các điểm đạo đồ, và rằng những người chí nguyện chưa được điểm đạo không thể thấu hiểu hay đánh giá đúng mức ý nghĩa nội tại của mười bốn quy luật này. Sự kiện này không phải là lý do để nản lòng, cũng không hề hàm ý rằng những ai có tâm thức điểm đạo đồ nên cố gắng giải thích, ngay cả nếu—do lòng từ bi hoặc do mong muốn kích thích sự tiếp cận các Huyền Nhiệm—họ muốn làm như vậy. Không một điểm đạo đồ chân chính nào sẽ bị cám dỗ như thế, vì y sẽ nhận ra rằng điều đó không những bất khả thi, mà còn có một nhu cầu thiết yếu là người đệ tử phải tự mình khai triển các thâm nghĩa và ý nghĩa qua trung gian cuộc thử nghiệm đời sống của chính y, và đạt tới sự thấu hiểu nhờ kinh nghiệm trực tiếp. Bấy giờ không còn bất kỳ vấn nghi nào có thể nảy sinh, và tri thức chắc chắn sẽ thay thế nó. Trong tâm thức của những ai hợp thành Thánh đoàn, không có bất kỳ câu hỏi nào. Hạ trí cụ thể mang tính phân tích, vốn chất vấn và tách điều này khỏi điều kia, đã hoàn toàn được kiểm soát và thay thế; sự đáp ứng với hoạt động nhóm được chỉ định diễn ra. Các đạo sinh cần nhận ra một cách cụ thể hơn rằng tâm thức nhóm, nhận thức phổ quát, và do đó nỗ lực tổng hợp, sự thấu hiểu tổng hợp và hoạt động tổng hợp đều khả hữu đối với một Chân sư hoặc một điểm đạo đồ thuộc các cấp độ cao hơn. Điều đó bao hàm chủ âm của hệ mặt trời [Trang 250]này, đặc biệt trong phạm vi hành tinh này, Trái Đất; trong hệ mặt trời kế tiếp, nó sẽ được kế tục bởi một loại hoạt động sự sống mà cho đến nay chỉ được biết đến trong Shamballa. |
|
Here I should like to pause a moment and interpolate some remarks. |
Ở đây, tôi muốn dừng lại một khoảnh khắc và xen vào vài nhận xét. |
|
There are certain phases of teaching and knowledge which I have given to the world which are relatively new—new to the modern esotericist and occult student though not new to disciples and initiates. It might be useful here if I mentioned one or two of these new aspects of the fundamental Truth which have been given by me to the public. If these new phases of the teaching have been later given to the public by other occult groups, it will have been because the information was gained by those who have read the books put out by A.A.B. for me or who are directly and consciously in touch with my Ashram. |
Có một vài khía cạnh của giáo huấn và tri thức mà tôi đã trao cho thế giới, vốn tương đối mới—mới đối với nhà bí truyền học và đạo sinh huyền bí học hiện đại, dù không mới đối với các đệ tử và điểm đạo đồ. Có lẽ hữu ích nếu ở đây tôi đề cập đến một hoặc hai phương diện mới này của Chân Lý căn bản mà tôi đã trao cho công chúng. Nếu về sau các khía cạnh mới này của giáo huấn đã được những nhóm huyền bí học khác trao cho công chúng, thì đó là vì thông tin ấy đã được tiếp nhận bởi những người đã đọc các sách do A.A.B. đưa ra cho tôi, hoặc bởi những người đang trực tiếp và hữu thức tiếp xúc với ashram của tôi. |
|
An instance of this is that book by C. W. Leadbeater on “The Masters and the Path” which was published later than my book, Initiation, Human and Solar. If the dates of any given teaching are compared with that given by me, it will appear to be of a later date than mine. I say this with no possible interest in any controversy among occult groups or the interested public, but as a simple statement of fact and as a protection to this particular work of the Hierarchy. I would remind you that the instructions given by me as, for instance, those in A Treatise on White Magic and A Treatise on the Seven Rays were given sequentially over a period of years, antedating the publishing of the books. The same time-factor prevailed in the publishing of the earlier books. All my books were written over a long period of years, prior to publishing. All that appears of the same type of information over other signatures harks back to these books. Even if denied by their writers, a comparison of the dates of publishing with the original dates of issuing the instructions (in the form of monthly sets for reading and study in the) or with the books published before the formation in 1925 of the Disciples [Page 251] Degree of the will prove this conclusively. Bear in mind this factor of timing. A.A.B. takes down to my dictation an average of seven to twelve pages of typing (single-spaced) each time she writes for me; but owing to the exigencies of my work I cannot dictate to her every day, though I have found that she would gladly take my dictation daily if I so desired; weeks sometimes elapse between one dictation and another. I write the above paragraphs for the protection of the hierarchical work in years to come and not for the protection of A.A.B. or myself… |
Một ví dụ là quyển sách của C. W. Leadbeater về “Các Chân sư và Đường Đạo”, được xuất bản sau quyển sách của tôi, Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương. Nếu ngày tháng của bất kỳ giáo huấn nào được đem so sánh với giáo huấn do tôi trao, thì sẽ thấy nó có niên đại muộn hơn của tôi. Tôi nói điều này hoàn toàn không vì quan tâm đến bất kỳ cuộc tranh luận nào giữa các nhóm huyền bí học hay công chúng quan tâm, mà chỉ như một lời trình bày sự kiện đơn giản và như một sự bảo vệ cho công việc đặc biệt này của Thánh đoàn. Tôi muốn nhắc bạn rằng những huấn thị do tôi trao, chẳng hạn như các huấn thị trong Luận về Chánh Thuật và Luận về Bảy Cung đã được trao tuần tự trong một khoảng thời gian nhiều năm, trước khi các sách được xuất bản. Yếu tố thời gian tương tự cũng chi phối việc xuất bản các sách trước đó. Tất cả các sách của tôi đều được viết trong một thời gian dài nhiều năm, trước khi xuất bản. Tất cả những gì xuất hiện như cùng loại thông tin dưới những tên ký khác đều quy hồi về các sách này. Ngay cả nếu các tác giả ấy phủ nhận, việc so sánh ngày tháng xuất bản với các ngày tháng nguyên thủy khi các huấn thị được phát hành (dưới hình thức các bộ hằng tháng để đọc và học trong Trường Arcane) hoặc với những quyển sách được xuất bản trước khi hình thành vào năm 1925 Bậc Đệ tử của [Trang 251] Trường Arcane sẽ chứng minh điều này một cách kết luận. Hãy ghi nhớ yếu tố thời điểm này. A.A.B. ghi lại theo lời tôi đọc trung bình từ bảy đến mười hai trang đánh máy (giãn dòng đơn) mỗi lần bà viết cho tôi; nhưng do những đòi hỏi cấp bách của công việc tôi, tôi không thể đọc cho bà ghi mỗi ngày, dù tôi thấy rằng bà sẽ vui lòng ghi lời tôi đọc hằng ngày nếu tôi muốn như vậy; đôi khi nhiều tuần trôi qua giữa lần đọc này và lần đọc khác. Tôi viết các đoạn trên để bảo vệ công việc của Thánh đoàn trong những năm sắp tới, chứ không phải để bảo vệ A.A.B. hay chính tôi… |
|
What are some of these newer truths for which I am responsible as transmitting agent to the world of occult students? Let me briefly state them in the order of their relative importance: |
Một vài chân lý mới hơn này, mà tôi chịu trách nhiệm trong tư cách tác nhân truyền đạt cho thế giới các đạo sinh huyền bí học, là gì? Tôi xin trình bày vắn tắt theo thứ tự tầm quan trọng tương đối của chúng: |
|
1. The Teaching on Shamballa. Little has ever been given on this subject. Only the name was known. This teaching includes: |
1. Giáo huấn về Shamballa. Trước đây hầu như rất ít điều từng được trao về đề tài này. Người ta chỉ biết danh xưng. Giáo huấn này bao gồm: |
|
a. Information as to the nature of the will aspect. |
a. Thông tin về bản chất của phương diện ý chí. |
|
b. Indications as to the underlying purposes of Sanat Kumara. |
b. Những chỉ dẫn về các mục đích nền tảng của Đức Sanat Kumara. |
|
c. Directions as to the building of the antahkarana, which is the first step towards achieving monadic consciousness, and thus the first step towards the Way of the Higher Evolution. |
c. Các chỉ dẫn về việc xây dựng antahkarana, vốn là bước đầu tiên hướng tới việc đạt được tâm thức chân thần, và như thế là bước đầu tiên hướng tới Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. |
|
2. The Teaching on the New Discipleship. This has been revolutionary where the older schools of occultism are concerned. The teaching includes: |
2. Giáo huấn về Địa vị Đệ tử Mới. Điều này đã mang tính cách mạng đối với các trường phái huyền bí học cũ. Giáo huấn này bao gồm: |
|
a. A presentation of the new attitude of the Masters to Their disciples, due to the rapid unfoldment of the mind principle and the growth of the principle of “free will.” This changed technique negates the old attitudes, such as that portrayed in the Theosophical literature, and it was a recognition of the difficulties of correcting the wrong impression given which prompted H.P.B. in one of her communications to the Esoteric Section of her day, to regret ever having mentioned Their names. That earlier presentation was useful but has now served [Page 252] its purpose. Unless the schools based on the old methods change their techniques and their approach to truth, they will disappear. |
a. Một sự trình bày về thái độ mới của các Chân sư đối với các đệ tử của Các Ngài, do sự khai mở nhanh chóng của nguyên khí trí tuệ và sự tăng trưởng của nguyên khí “ý chí tự do”. Kỹ thuật đã thay đổi này phủ định các thái độ cũ, chẳng hạn như những thái độ được mô tả trong văn liệu Thông Thiên Học; và chính sự nhận biết các khó khăn trong việc chỉnh sửa ấn tượng sai lạc đã được đưa ra ấy đã thúc đẩy H.P.B., trong một trong các thông điệp của bà gửi Phân Bộ Nội Môn thời bấy giờ, bày tỏ sự hối tiếc rằng bà đã từng nhắc đến danh xưng của Các Ngài. Cách trình bày trước kia ấy hữu ích nhưng nay đã hoàn thành [Trang 252] mục đích của nó. Trừ phi các trường phái dựa trên những phương pháp cũ thay đổi kỹ thuật và cách tiếp cận chân lý của mình, chúng sẽ biến mất. |
|
b. Information as to the constitution of the Hierarchy and of the various Ashrams of which it is composed. I have presented the Hierarchy as the Ashram of Sanat Kumara in its sevenfold form, thus linking will and love. |
b. Thông tin về cấu tạo của Thánh đoàn và về các ashram khác nhau mà Thánh đoàn gồm có. Tôi đã trình bày Thánh đoàn như ashram của Đức Sanat Kumara trong hình thức thất phân của nó, nhờ đó nối kết ý chí và bác ái. |
|
c. A presentation of the newer type of meditations, with its emphasis upon visualization and the use of the creative imagination; I have presented a system of meditation which has eliminated the attention paid hitherto to personal problems and the intense earlier focus on the relation of the disciple and the Master. The keynote of group fusion and of service underlies the newer form of meditation, and not this powerful emphasis upon the personal relation of the disciple to the Master and the achievement of the individual aspirant. This was degenerating into a form of spiritual selfishness and separateness. |
c. Một trình bày về loại tham thiền mới hơn, với sự nhấn mạnh vào sự hình dung và việc sử dụng sự tưởng tượng sáng tạo; tôi đã trình bày một hệ thống tham thiền loại bỏ sự chú ý trước đây dành cho các vấn đề cá nhân và sự tập trung mãnh liệt trước kia vào mối quan hệ giữa đệ tử và Chân sư. Chủ âm của sự dung hợp nhóm và phụng sự nằm dưới hình thức tham thiền mới hơn, chứ không phải sự nhấn mạnh mạnh mẽ này vào mối quan hệ cá nhân của đệ tử với Chân sư và thành tựu của từng người chí nguyện riêng lẻ. Điều này đã thoái hóa thành một hình thức ích kỷ và biệt lập tinh thần. |
|
3. The Teaching on the Seven Rays. The fact of the seven rays was well known to the heads of the Theosophical Society, was mentioned very abstractly and vaguely in The Secret Doctrine, and formed in an elementary form some of the teaching given in the Esoteric Section; the names of the rays were given, and some information as to their qualities, and the Masters on the rays, was imparted but not much else. I have given out much information upon the subject and have endeavored to show the importance of this teaching from the psychological angle, because the new psychology is in the making. If esoteric teaching is eventually to be public in its presentation, it will be given out along the lines of psychology because esoteric teaching in its fullest and deepest sense concerns the consciousness aspect of man and God. |
3. Giáo huấn về Bảy Cung. Sự thật về bảy cung đã được các vị đứng đầu Hội Thông Thiên Học biết rõ, đã được đề cập một cách rất trừu tượng và mơ hồ trong Giáo Lý Bí Nhiệm, và dưới hình thức sơ đẳng đã tạo thành một phần giáo huấn được truyền dạy trong Phân Bộ Nội Môn; tên gọi của các cung đã được đưa ra, một số thông tin về các phẩm tính của chúng và về các Chân sư trên các cung cũng đã được truyền đạt, nhưng không nhiều hơn thế. Tôi đã đưa ra nhiều thông tin về đề tài này và đã cố gắng chỉ ra tầm quan trọng của giáo huấn này từ góc độ tâm lý học, bởi vì nền tâm lý học mới đang được hình thành. Nếu giáo huấn huyền bí cuối cùng sẽ được trình bày công khai, nó sẽ được đưa ra theo các đường hướng của tâm lý học, bởi vì giáo huấn huyền bí, trong ý nghĩa đầy đủ và sâu xa nhất, liên quan đến phương diện tâm thức của con người và Thượng đế. |
|
4. The Teaching on the new Astrology. This teaching too has gone out to a few hundred students before its publication in book form. This new astrology has been hitherto [Page 253] ignored by those astrologers who have read it and (with the exception of four astrologers who have deeply appreciated it but who wish I would be more explicit) see little in it. I have given enough, could the open-minded astrologer but realize, to establish the coming astrology on a firm basis; the accuracy of what I have given will in the course of time be ascertained when astrologers who are dealing with the horoscopes of advanced people and disciples will use the esoteric planets as given by me, and not the orthodox planets as usually used. The accuracy of their deductions will necessarily depend upon their own point of development and also upon their ability to recognize an advanced person, a disciple or an initiate when they meet him, and undertake to cast his horoscope. If they are themselves advanced disciples, they may have a tendency to set too rigid a standard for those seeking astrological deduction, and thus fail to recognize a disciple; if they are not advanced, they may regard people as advanced who are far from being even true aspirants. In either case then the horoscope may prove inaccurate. It is of no use to use the esoteric planets in relation to the average man. |
4. Giáo huấn về Chiêm tinh học mới. Giáo huấn này cũng đã được truyền đến vài trăm đạo sinh trước khi được xuất bản dưới hình thức sách. Cho đến nay, chiêm tinh học mới này vẫn bị [Page 253] những nhà chiêm tinh đã đọc nó phớt lờ, và ngoại trừ bốn nhà chiêm tinh đã đánh giá sâu sắc nó nhưng mong tôi nói rõ ràng hơn, họ thấy rất ít điều trong đó. Tôi đã đưa ra đủ, giá như nhà chiêm tinh có đầu óc cởi mở có thể nhận ra, để đặt nền móng vững chắc cho nền chiêm tinh học sắp đến; theo dòng thời gian, tính chính xác của những gì tôi đã đưa ra sẽ được xác minh khi các nhà chiêm tinh đang xử lý lá số chiêm tinh của những người tiến hóa và các đệ tử sử dụng các hành tinh nội môn như tôi đã đưa ra, chứ không phải các hành tinh chính thống như thường dùng. Tính chính xác của các suy luận của họ tất yếu sẽ tùy thuộc vào điểm phát triển của chính họ, cũng như vào khả năng nhận ra một người tiến hóa, một đệ tử hay một điểm đạo đồ khi họ gặp y và đảm nhận việc lập lá số chiêm tinh của y. Nếu chính họ là những đệ tử tiến hóa, họ có thể có khuynh hướng đặt ra một tiêu chuẩn quá cứng nhắc đối với những người tìm kiếm sự suy luận chiêm tinh, và do đó không nhận ra một đệ tử; nếu họ không tiến hóa, họ có thể xem những người còn xa mới là người chí nguyện chân chính là những người tiến hóa. Trong cả hai trường hợp, lá số chiêm tinh khi ấy có thể tỏ ra không chính xác. Không ích gì khi dùng các hành tinh nội môn liên hệ với con người trung bình. |
|
5. Information about the New Group of World Servers and their work. This information includes |
5. Thông tin về Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và công việc của họ. Thông tin này bao gồm |
|
a. The recognition of this group as intermediate between the Hierarchy and Humanity. |
a. Sự công nhận nhóm này như một trung gian giữa Thánh Đoàn và Nhân loại. |
|
b. The nature of their work as it influences the human soul and as it seeks through the instrumentality of the men and women of goodwill to determine the period in which we live. |
b. Bản chất công việc của họ khi nó ảnh hưởng đến linh hồn con người và khi nó tìm cách, thông qua công cụ là những người nam và nữ thiện chí, định hình thời kỳ mà chúng ta đang sống. |
|
c. The Triangle work which embodies two phases of their work, i.e., the forming of the network of light as the channel of communication between the Hierarchy and Humanity, and the forming simultaneously of the network of goodwill, which is the objective expression of the subjective influence of light. Ponder on this statement. |
c. Công việc Tam Giác, vốn thể hiện hai giai đoạn trong công việc của họ, tức là việc hình thành mạng lưới ánh sáng như kênh giao tiếp giữa Thánh Đoàn và Nhân loại, đồng thời hình thành mạng lưới thiện chí, là biểu hiện khách quan của ảnh hưởng chủ quan của ánh sáng. Hãy suy ngẫm về lời khẳng định này. |
|
6. The attempt to form an exoteric branch of the inner Ashrams. This is evidenced in the work I have done with a [Page 254] special group of aspirants and accepted disciples whose instructions, emanating from my Ashram, have been embodied in the book Discipleship in the New Age (Vol. I and II). |
6. Nỗ lực hình thành một nhánh ngoại môn của các ashram bên trong. Điều này được chứng tỏ trong công việc tôi đã làm với một [Page 254] nhóm đặc biệt gồm những người chí nguyện và các đệ tử được chấp nhận, mà những huấn thị của họ, xuất phát từ ashram của tôi, đã được đưa vào quyển sách Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới (Quyển I và II). |
|
7. Teaching upon the new world religion, with its emphasis upon the three major Full Moon periods (Aries, Taurus, Gemini, falling usually in April, May and June respectively) and the nine (occasionally ten) minor Full Moons each year. This leads to a consequent relation being established between the work of the Christ and of the Buddha in the minds of spiritually inclined people everywhere, with the result of a great broadening of the human aspiration. This work is as yet embryonic, but it should receive increasing attention. Eventually it will demonstrate as the main linking unit between the East and the West, particularly if Shri Krishna is shown to be an earlier incarnation of the Lord of Love, the Christ. Thereby three major world religions—the Christian, the Hindu and the Buddhist—will be intimately related, whilst the Mahommedan faith will be found to be linked to the Christian faith because it embodies the work of the Master Jesus as He over-shadowed one of His senior disciples, a very advanced initiate, Mahomet. |
7. Giáo huấn về tôn giáo thế giới mới, với sự nhấn mạnh vào ba kỳ Trăng tròn chính yếu (Bạch Dương, Kim Ngưu, Song Tử, thường rơi lần lượt vào tháng Tư, tháng Năm và tháng Sáu) và chín, đôi khi mười, kỳ Trăng tròn phụ mỗi năm. Điều này dẫn đến việc một mối liên hệ được thiết lập trong tâm trí của những người có khuynh hướng tinh thần ở khắp nơi giữa công việc của Đức Christ và của Đức Phật, với kết quả là khát vọng của nhân loại được mở rộng rất lớn. Công việc này hiện vẫn còn ở trạng thái phôi thai, nhưng nó cần nhận được sự chú ý ngày càng tăng. Cuối cùng, nó sẽ biểu lộ như đơn vị liên kết chính yếu giữa Đông phương và Tây phương, đặc biệt nếu Shri Krishna được chứng minh là một lần nhập thể trước kia của Chúa Tể Bác Ái, tức Đức Christ. Nhờ đó, ba tôn giáo thế giới lớn — Cơ Đốc giáo, Ấn giáo và Phật giáo — sẽ được liên hệ mật thiết, trong khi đức tin Hồi giáo sẽ được thấy là liên kết với đức tin Cơ Đốc, bởi vì nó thể hiện công việc của Chân sư Jesus khi Ngài phủ bóng một trong các đệ tử cao cấp của Ngài, một điểm đạo đồ rất tiến hóa, Mahomet. |
|
A close study of all the above will indicate to you the lines along which I would like to see the work expand in future years. I would ask for a careful study of these words, for I regard this as an important instruction and one which could be regarded as the skeleton outline of the work I wish to see done. It will involve an intensification of the work of the advanced section in the Arcane School, a greater emphasis upon the Full Moon meetings, a careful organization of the Triangle work and the Goodwill work as an added effort to aid the work of the New Group of World Servers, plus an attempt to recognize the members of the New Group whenever and wherever contacted. This will not be at all an easy task, my brothers, if you look only for those who think and work your way, or who recognize the Hierarchy as you recognize it, or if you exclude those who labor in relation to religious and other fields in a manner different [Page 255] to yours. Forget not, as an instance of this, that the great Labor Movement in the world was initiated by one of the Masters and is implemented from His Ashram at this time. |
Một nghiên cứu kỹ lưỡng về tất cả những điều trên sẽ chỉ ra cho các bạn những đường hướng mà theo đó tôi muốn thấy công việc mở rộng trong những năm sắp tới. Tôi yêu cầu các bạn nghiên cứu cẩn thận những lời này, vì tôi xem đây là một huấn thị quan trọng và là điều có thể được xem như phác thảo khung sườn của công việc mà tôi muốn thấy được thực hiện. Nó sẽ bao hàm việc tăng cường công việc của phân bộ cao cấp trong Trường Arcane, nhấn mạnh nhiều hơn vào các buổi họp Trăng tròn, tổ chức cẩn thận công việc Tam Giác và công việc Thiện chí như một nỗ lực bổ sung nhằm trợ giúp công việc của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, cộng với một nỗ lực nhận ra các thành viên của Đoàn Người Mới mỗi khi và ở bất cứ nơi đâu tiếp xúc được. Các huynh đệ của Tôi, đây hoàn toàn không phải là một nhiệm vụ dễ dàng nếu các bạn chỉ tìm kiếm những người suy nghĩ và làm việc theo cách của các bạn, hoặc những người nhận biết Thánh Đoàn như các bạn nhận biết, hoặc nếu các bạn loại trừ những người lao tác liên hệ đến các lĩnh vực tôn giáo và các lĩnh vực khác theo một cách khác [Page 255] với các bạn. Như một ví dụ cho điều này, đừng quên rằng Phong trào Lao động lớn trên thế giới đã được một trong các Chân sư khởi xướng và hiện đang được triển khai từ ashram của Ngài. |
|
We come now to a detailed analysis of Rule XIII. In the foregoing pages I gave you certain broad principles and outlined a new aspect of the work which I had undertaken to do for humanity—under instruction from the Hierarchy. The teaching I gave there is very abstruse; little of it can as yet be of real service to the majority of aspirants but a wide and general idea can take form and provide the immovable background for later teaching. I would have you remember that the teaching which I have given out has been intermediate in nature, just as that given by H.P.B., under my instruction, was preparatory. The teaching planned by the Hierarchy to precede and condition the New Age, the Aquarian Age, falls into three categories: |
Bây giờ chúng ta đi đến một phân tích chi tiết về Quy luật XIII. Trong các trang trước, tôi đã trao cho các bạn một số nguyên lý rộng lớn và phác họa một phương diện mới của công việc mà tôi đã đảm nhận thực hiện cho nhân loại — theo chỉ thị của Thánh Đoàn. Giáo huấn tôi đưa ra ở đó rất thâm áo; hiện nay, ít phần trong đó có thể thực sự phụng sự đa số những người chí nguyện, nhưng một ý tưởng rộng lớn và tổng quát có thể thành hình và cung cấp nền tảng bất lay chuyển cho giáo huấn về sau. Tôi muốn các bạn nhớ rằng giáo huấn mà tôi đã đưa ra có bản chất trung gian, cũng như giáo huấn do H.P.B., dưới sự chỉ dạy của tôi, đưa ra là có tính chuẩn bị. Giáo huấn mà Thánh Đoàn hoạch định để đi trước và tác động lên Kỷ Nguyên Mới, Kỷ Nguyên Bảo Bình, rơi vào ba loại: |
|
1. Preparatory, given 1875—1890…written down by H.P.B. |
1. Chuẩn bị, được trao truyền từ năm 1875—1890… do H.P.B. ghi lại. |
|
2. Intermediate, given 1919—1949…written down by A.A.B. |
2. Trung gian, được trao truyền từ năm 1919—1949… do A.A.B. ghi lại. |
|
3. Revelatory, emerging after 1975…to be given on a worldwide scale via the radio. |
3. Mặc khải, xuất hiện sau năm 1975… sẽ được truyền trao trên quy mô toàn thế giới qua đài phát thanh. |
|
In the next century and early in the century an initiate will appear and will carry on this teaching. It will be under the same “impression,” for my task is not yet completed and this series of bridging treatises between the material knowledge of man and the science of the initiates has still another phase to run. The remainder of this century, as I told you elsewhere (Destiny of the Nations, Page 106), must be dedicated to rebuilding the shrine of man’s living, to reconstructing the form of humanity’s life, to reconstituting the new civilization upon the foundations of the old, and to the reorganizing of the structures of world thought, world politics, plus the redistribution of the world’s resources in conformity to divine purpose. Then and only then will it be possible to carry the revelation further. |
Trong thế kỷ tới, và vào đầu thế kỷ ấy, một điểm đạo đồ sẽ xuất hiện và sẽ tiếp tục giáo huấn này. Điều đó sẽ diễn ra dưới cùng một “sự ấn truyền,” vì nhiệm vụ của tôi vẫn chưa hoàn tất, và loạt khảo luận bắt cầu này giữa tri thức vật chất của con người và khoa học của các điểm đạo đồ vẫn còn một giai đoạn khác phải trải qua. Phần còn lại của thế kỷ này, như tôi đã nói với các bạn ở nơi khác (Vận Mệnh của các Quốc Gia, trang 106), phải được hiến dâng cho việc xây dựng lại điện thờ của đời sống con người, cho việc tái kiến tạo hình tướng của đời sống nhân loại, cho việc tái lập nền văn minh mới trên những nền tảng của nền văn minh cũ, và cho việc tái tổ chức các cơ cấu của tư tưởng thế giới, chính trị thế giới, cùng với việc tái phân phối các tài nguyên của thế giới phù hợp với Thiên Ý. Bấy giờ, và chỉ bấy giờ, mới có thể đưa sự mặc khải đi xa hơn. |
|
It is with the above indicated sequence in mind that I [Page 256] come to the analysis of the sentences in Rule XIII, beginning with the first: |
Với trình tự đã được nêu ở trên trong trí, tôi [Page 256] đi vào phần phân tích các câu trong Quy luật XIII, bắt đầu với câu thứ nhất: |
|
1. Let the group get ready to reveal the hidden mystery. |
1. Hãy để nhóm sẵn sàng mặc khải bí nhiệm ẩn tàng. |
|
The readiness here referred to has nothing to do with personal preparedness or with the group unity which I have so often emphasized. It does not refer to individual purity or consecration or to mental development or to group relationships, as they work out in harmony and understanding. I am considering something far different to all these factors which are regarded as automatic and necessarily present. I refer to that which is the result of all of them, just as they in their turn are the result of soul contact. I refer to effects wrought out in the group owing to the present and factual nature of the monadic control which is taking place increasingly. |
Sự sẵn sàng được nói đến ở đây không liên quan gì đến sự chuẩn bị cá nhân hay đến sự hợp nhất nhóm mà tôi đã thường nhấn mạnh. Nó không nói đến sự thanh khiết hay thánh hiến cá nhân, cũng không nói đến sự phát triển trí tuệ hay các mối quan hệ nhóm, khi chúng biểu lộ trong hòa hợp và thấu hiểu. Tôi đang xem xét một điều hoàn toàn khác với tất cả những yếu tố này, vốn được xem là tự động và tất yếu hiện diện. Tôi nói đến điều là kết quả của tất cả những yếu tố ấy, cũng như chính chúng đến lượt mình là kết quả của sự tiếp xúc với linh hồn. Tôi nói đến những hiệu quả được tạo ra trong nhóm do bản chất hiện hữu và thực tại của sự kiểm soát chân thần đang diễn ra ngày càng tăng. |
|
What does this mean? It signifies the fact that the members of the group are each and all of them upon the Path of Initiation at some one or other of its stages and that the group, as a group, is in process of taking initiation, for initiation is a process at this stage, and not an event. It signifies that the group antahkarana is built and is being consciously used, and that therefore divine purpose is being sensed (even if only faintly so) and that the Plan is being obeyed and carried out. It signifies also that the three strands of the “rainbow bridge” are now so strong and so firmly anchored that they not only connect the two aspects of the mental equipment (higher and lower mind), but that they have been carried also through the three levels of the triadal consciousness; it means also that these three strands are firmly anchored in what I have symbolically called the Council Chamber at Shamballa. |
Điều này có nghĩa là gì? Nó biểu thị sự kiện rằng từng thành viên và toàn thể các thành viên của nhóm đều đang ở trên Con Đường Điểm Đạo, ở một giai đoạn nào đó của con đường ấy, và rằng nhóm, với tư cách là một nhóm, đang trong tiến trình thọ nhận điểm đạo, vì điểm đạo là một tiến trình ở giai đoạn này, chứ không phải một biến cố. Nó biểu thị rằng antahkarana của nhóm đã được xây dựng và đang được sử dụng một cách hữu thức, và do đó Thiên Ý đang được cảm nhận, dù chỉ là lờ mờ, và Thiên Cơ đang được tuân hành và thực hiện. Nó cũng biểu thị rằng ba sợi của “cây cầu vồng” nay đã mạnh mẽ và được neo vững chắc đến mức chúng không chỉ nối kết hai phương diện của trang bị trí tuệ, tức thượng trí và hạ trí, mà còn đã được đưa xuyên qua ba cấp độ của tâm thức Tam nguyên tinh thần; điều đó cũng có nghĩa là ba sợi này được neo vững chắc trong điều mà tôi đã gọi một cách biểu tượng là Phòng Hội Đồng tại Shamballa. |
|
This Council Chamber is not a location or a place, but a state of consciousness within the all-enveloping Life. These three points of anchorage within the sphere of the planetary Consciousness, or (if you like it better, though remembering ever that we are speaking and thinking in terms of symbols) in the planetary brain, find their feeble correspondence in [Page 257] the three points of sensitivity in the head of a disciple or initiate, that is, in the region of the pineal gland, the pituitary body and the carotid gland. These, as you know, are to be found within the areas to which we give the names the head center, the ajna center and the alta major center. These correspondences are very real, even though functioning upon a minute scale; the initiate achieves his desired “perfecting” when the triad within his head is related, and love, will and intelligence are functioning in synthesis. Here we find a relation to the spiritual Triad and the three points in the Council Chamber which are presided over by the three Buddhas of Activity, and within Whose exalted consciousness the three strands of the antahkarana meet and become active in a way incomprehensible to you. Necessarily, this great antahkarana is not constructed correctly except by those whose individual antahkaranas are likewise in process of construction. |
Phòng Hội Đồng này không phải là một địa điểm hay một nơi chốn, mà là một trạng thái tâm thức bên trong Sự Sống bao trùm tất cả. Ba điểm neo này trong khối cầu của Tâm Thức hành tinh, hay nếu các bạn thích cách nói ấy hơn, dù luôn nhớ rằng chúng ta đang nói và suy nghĩ bằng các biểu tượng, trong bộ não hành tinh, có sự tương ứng yếu ớt của chúng nơi [Page 257] ba điểm nhạy cảm trong đầu của một đệ tử hay điểm đạo đồ, tức là trong vùng của tuyến tùng, tuyến yên và tuyến cảnh. Như các bạn biết, những điểm này được tìm thấy bên trong các khu vực mà chúng ta gọi là trung tâm đầu, trung tâm ajna và trung tâm alta major. Những tương ứng này rất thực, dù chúng vận hành trên một quy mô cực nhỏ; điểm đạo đồ đạt được sự “hoàn thiện” mong muốn của y khi tam nguyên trong đầu y được liên hệ, và tình thương, ý chí cùng trí tuệ vận hành trong tổng hợp. Ở đây chúng ta thấy một mối liên hệ với Tam Nguyên Tinh Thần và ba điểm trong Phòng Hội Đồng do ba Đức Phật Hoạt Động chủ trì, và trong tâm thức cao cả của Các Ngài, ba sợi của antahkarana gặp nhau và trở nên linh hoạt theo một cách mà các bạn không thể hiểu được. Tất yếu, antahkarana vĩ đại này không được kiến tạo đúng đắn ngoại trừ bởi những ai mà antahkarana cá nhân của họ cũng đang trong tiến trình kiến tạo. |
|
See you, therefore, the necessity of eventually organizing a group in the world which will be so constituted and so carefully chosen and interiorly related that all its members are initiates, all have created their own “rainbow bridges” with understanding and accuracy, and all can now work in such complete unity that the group antahkarana becomes a channel of unimpeded communication direct from Shamballa to the group because every member of the group is a member of the Hierarchy. In this manner the three planetary centers arrive at the needed relationship, and another great triangle reaches true functioning activity. When this takes place, a revelation undreamed of will be manifested upon the Earth; a new divine quality, of which no knowledge at present exists, will make its presence felt, and the work of the Buddha and of the Christ, and the work of the coming Avatar, will be superseded by One for Whom both Shamballa and the Hierarchy have unitedly waited and of Whom the doctrine of the Messiah and the doctrine of Avatars have been and are today only the dim distant symbols. They preserve this concept of the Great Revelation in the consciousness of men, in the expectancy which the Hierarchy evidences, [Page 258] and through the “preparatory work” now being undertaken at Shamballa. |
Vì vậy, các bạn có thấy sự cần thiết của việc cuối cùng phải tổ chức một nhóm trên thế gian, được cấu thành như thế, được chọn lựa cẩn thận như thế và được liên hệ nội tại như thế, đến nỗi mọi thành viên của nhóm đều là điểm đạo đồ, tất cả đều đã tạo dựng “cây cầu vồng” của riêng mình bằng sự thấu hiểu và chính xác, và tất cả nay có thể làm việc trong sự hợp nhất trọn vẹn đến mức antahkarana của nhóm trở thành một kênh giao tiếp không bị ngăn trở, trực tiếp từ Shamballa đến nhóm vì mọi thành viên của nhóm đều là thành viên của Thánh Đoàn. Theo cách này, ba trung tâm hành tinh đạt tới mối liên hệ cần thiết, và một tam giác vĩ đại khác đạt đến hoạt động vận hành đích thực. Khi điều này xảy ra, một sự mặc khải chưa từng được mơ tưởng sẽ hiển lộ trên Trái Đất; một phẩm tính thiêng liêng mới, hiện nay chưa hề có tri thức nào về nó, sẽ làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận, và công việc của Đức Phật và của Đức Christ, cũng như công việc của Đấng Hóa Thân sắp đến, sẽ nhường chỗ cho Đấng mà cả Shamballa và Thánh Đoàn đã cùng nhau chờ đợi, và về Ngài, giáo lý về Đấng Cứu Thế cùng giáo lý về các Đấng Hóa Thân đã từng là, và ngày nay vẫn chỉ là, những biểu tượng xa xôi mờ nhạt. Chúng duy trì quan niệm này về Đại Mặc Khải trong tâm thức của con người, trong sự mong đợi mà Thánh Đoàn biểu lộ, [Page 258] và qua “công việc chuẩn bị” hiện đang được tiến hành tại Shamballa. |
|
The group, therefore, to whom I address this instruction is not the group or groups who will first receive these papers. The instruction is intended for a group which will come later and which will prepare the way, and of which some of the more advanced aspirants can form part if they “walk humbly with their God.” This, my brother, is one of the most advanced injunctions in any of the world Scriptures and is found in The Bible. It has no reference to humility as usually interpreted and understood. It signifies the ability to view all life with a sense of divine proportion and from the angle of spiritual mathematics, and (paradoxical as this may sound) with no sense of dualism. The usual meaning is not correct. It involves acceptance and comprehension of purpose, and this in such a manner that the consecrated personality—under control of the Monad, via the antahkarana, and in cooperation with the one known God—walks the ways of Earth as a channel for the three divine qualities (love, will and intelligence), but also as a channel for that which these three qualities will enable him later to sense, know and reveal. |
Do đó, nhóm mà tôi gửi lời huấn thị này không phải là nhóm hay các nhóm sẽ nhận những tài liệu này trước tiên. Huấn thị này dành cho một nhóm sẽ đến về sau và sẽ chuẩn bị con đường, và một số người chí nguyện tiến bộ hơn có thể trở thành thành phần của nhóm ấy nếu họ “bước đi khiêm nhường với Thượng đế của mình.” Huynh đệ của tôi, đây là một trong những huấn thị cao cấp nhất trong bất kỳ Kinh điển nào của thế giới và được tìm thấy trong Kinh Thánh. Nó không liên quan đến sự khiêm nhường như thường được giải thích và thấu hiểu. Nó biểu thị khả năng nhìn toàn bộ sự sống với ý thức về tỉ lệ thiêng liêng và từ góc độ của toán học tinh thần, và dù điều này nghe có vẻ nghịch lý, không hề có ý thức về nhị nguyên. Ý nghĩa thông thường là không đúng. Nó bao hàm sự chấp nhận và thấu hiểu mục đích, và điều này theo cách mà phàm ngã đã thánh hiến—dưới sự kiểm soát của Chân thần, qua antahkarana, và trong sự hợp tác với Thượng đế duy nhất được biết đến—bước đi trên các nẻo đường của Trái Đất như một kênh cho ba phẩm tính thiêng liêng, tức tình thương, ý chí và trí tuệ, nhưng cũng như một kênh cho điều mà ba phẩm tính này về sau sẽ giúp y cảm nhận, biết và mặc khải. |
|
These are solemn and important statements. They have within them the element of prophecy, but it is prophecy which has no relation to the salvation of humanity in any sense at all. It is related to an active Appearance which will, under the Law of Synthesis, indicate That which the three great planetary centers of divine life are unitedly intended to reveal. Something lies behind the three divine aspects of so great an importance, beauty and revelatory strength that all the happenings of all time, up to the present emerging Aquarium Age, have been only the initial and the initiatory preparation. |
Đây là những phát biểu trang nghiêm và quan trọng. Chúng hàm chứa yếu tố tiên tri, nhưng đó là lời tiên tri hoàn toàn không liên quan đến sự cứu rỗi nhân loại theo bất cứ nghĩa nào. Nó liên quan đến một Sự Xuất Hiện năng động, vốn sẽ, dưới Định luật Tổng Hợp, chỉ ra Điều Ấy mà ba trung tâm hành tinh vĩ đại của sự sống thiêng liêng cùng có ý định mặc khải. Có một điều gì đó nằm sau ba phương diện thiêng liêng, có tầm quan trọng, vẻ đẹp và sức mạnh mặc khải lớn lao đến nỗi mọi biến cố của mọi thời đại, cho đến Kỷ Nguyên Bảo Bình hiện đang xuất lộ, chỉ là sự chuẩn bị sơ khởi và chuẩn bị cho điểm đạo. |
|
In this rule we find posed two preparatory steps and four major undertakings or demonstrations of fitness, if you like so to call them, for the work to be done. These latter correspond to the “four things the disciple must learn and comprehend before he can be shewn the inmost mystery,” [Page 259] as it is said in the Rule for Applicants. There is a definite relation between the two sets of rules and it is one which we shall note as we proceed. The two preparatory injunctions simply summarize the effects in the life of the disciple who has applied and learned the significance of the Rules for Applicants, but they are this time demonstrated by a group of disciples who have passed through certain initiations and are functioning as a unified group. The simplicity of the subject is great and yet it is ever deemed to be complex. The applicant has become soul conscious, and is therefore an initiate; remember always that the soul on its own plane is an initiate of all degrees. Initiation is, in the last analysis, the realization, the recognition in the brain consciousness of various spheres and states of divine awareness, with a consequent life demonstration of this fact, this eternal fact. Because of this, the man thinks only in group terms and does this automatically and without any consciousness that he is so doing; he expresses this group integrity simply as a part of his nature, just as in the personality stage and during the elapsing aeons since individualization, he has thought only and naturally in terms of the separated self. |
Trong quy luật này, chúng ta thấy được nêu ra hai bước chuẩn bị và bốn công việc lớn lao, hay bốn sự biểu lộ về tính thích hợp, nếu các bạn muốn gọi như vậy, cho công việc cần thực hiện. Những điều sau tương ứng với “bốn điều mà đệ tử phải học và thấu hiểu trước khi y có thể được chỉ cho thấy huyền nhiệm sâu kín nhất,” [Page 259] như đã nói trong Quy luật dành cho Người Xin Nhập Môn. Có một mối liên hệ xác định giữa hai bộ quy luật, và đó là điều chúng ta sẽ lưu ý khi tiếp tục. Hai huấn lệnh chuẩn bị chỉ tóm lược các hiệu quả trong đời sống của đệ tử đã áp dụng và học được ý nghĩa của Các Quy luật dành cho Người Xin Nhập Môn, nhưng lần này chúng được biểu lộ bởi một nhóm đệ tử đã trải qua một số cuộc điểm đạo và đang hoạt động như một nhóm hợp nhất. Chủ đề này hết sức giản dị, nhưng lại luôn bị xem là phức tạp. Người xin nhập môn đã trở nên có tâm thức linh hồn, và do đó là một điểm đạo đồ; hãy luôn nhớ rằng linh hồn trên cõi riêng của nó là một điểm đạo đồ ở mọi cấp độ. Xét đến cùng, điểm đạo là sự chứng nghiệm, sự nhận biết trong tâm thức bộ não về các phạm vi và trạng thái khác nhau của nhận thức thiêng liêng, cùng với sự biểu lộ tất yếu trong đời sống về sự kiện này, sự kiện vĩnh cửu này. Vì thế, con người chỉ suy nghĩ theo thuật ngữ nhóm và làm như vậy một cách tự động, không hề có ý thức rằng y đang làm như thế; y biểu lộ tính toàn vẹn nhóm này đơn giản như một phần bản chất của mình, cũng như trong giai đoạn phàm ngã và suốt những đại kiếp đã trôi qua kể từ khi biệt ngã hóa, y đã chỉ suy nghĩ một cách tự nhiên theo thuật ngữ của bản ngã biệt lập. |
|
As long as a person makes a conscious effort to be group-conscious and has to train and discipline himself to work in group formation and as part of a group, he is still centered in the personality. This personality expression may be of an exceedingly high order and the aspirant or disciple may be the highest kind of selfless person, but true group living is as yet not present. The transition stage is most difficult and oft bewildering; it presents its own problems, based upon a newly presented phase of dualistic consciousness. The disciple reacts to group conditions and group problems; he tunes in with facility on the consciousness of those in the group; he is aware of group reactions and aspirations, but he is still himself; he is still passing through a stage of inner adjustment to a state of being and of awareness for which all past relationships have provided no guiding precedent. The group and the group personnel which are capable of adjustment (and which can carry out and [Page 260] conform to Rule XIII for disciples and initiates) have become so merged with the soul (within themselves and within all other selves) that the situation is reversed. It would now be an effort for such people to think and react as personalities. I word the problem thus, so as to clarify it for you, if possible. |
Chừng nào một người còn phải nỗ lực có ý thức để có tâm thức nhóm, và còn phải rèn luyện, kỷ luật chính mình để làm việc trong đội hình nhóm và như một phần của nhóm, thì y vẫn còn lấy phàm ngã làm trung tâm. Sự biểu lộ phàm ngã này có thể thuộc một trật tự hết sức cao, và người chí nguyện hay đệ tử có thể là kiểu người vô kỷ vị tha cao nhất, nhưng đời sống nhóm đích thực vẫn chưa hiện diện. Giai đoạn chuyển tiếp là khó khăn nhất và thường gây hoang mang; nó có những vấn đề riêng, dựa trên một pha mới xuất hiện của tâm thức nhị nguyên. Đệ tử đáp ứng với các điều kiện nhóm và các vấn đề nhóm; y dễ dàng bắt nhịp với tâm thức của những người trong nhóm; y nhận biết các phản ứng và khát vọng của nhóm, nhưng y vẫn còn là chính mình; y vẫn đang trải qua một giai đoạn chỉnh hợp nội tâm với một trạng thái hiện tồn và nhận thức mà mọi liên hệ quá khứ đều không cung cấp tiền lệ hướng dẫn nào. Nhóm và những thành viên của nhóm có khả năng chỉnh hợp, và có thể thực hiện cũng như [Page 260] tuân theo Quy luật XIII dành cho các đệ tử và điểm đạo đồ, đã hòa nhập với linh hồn đến mức, trong chính họ và trong mọi bản ngã khác, tình thế được đảo ngược. Giờ đây, đối với những người như thế, suy nghĩ và phản ứng như các phàm ngã sẽ là một nỗ lực. Tôi diễn đạt vấn đề như vậy để, nếu có thể, làm sáng tỏ điều ấy cho các bạn. |
|
When this stage of centralization is achieved, then the group can begin to reveal the hidden mystery. All that I can tell you about that mystery is that it concerns the purpose and the reason for which our planetary Logos took incarnation and became the informing Life of our planet, the Earth; it concerns the necessity, inherent in His Own nature, to reach a point upon the cosmic ladder of evolution which would make Him—as a result—the informing Life of a sacred planet. Forget not that our planet is not yet a sacred planet, though it is close to that great transformation. The cosmic secret of this transforming process is one that Sanat Kumara is now learning, and when That which over-shadows Him during this incarnation has wrought the needed changes through a process of transformation and transmutation, then a great Transfiguration will take place and He will take His place among those empowered to work through a sacred planet. |
Khi đạt đến giai đoạn quy tâm này, bấy giờ nhóm có thể bắt đầu mặc khải huyền nhiệm ẩn tàng. Tất cả những gì Tôi có thể nói với các bạn về huyền nhiệm ấy là nó liên quan đến Thiên Ý và lý do vì đó Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta đã lâm phàm và trở thành Sự Sống thấm nhuần hành tinh của chúng ta, Trái Đất; nó liên quan đến sự cần thiết, vốn cố hữu trong bản chất của chính Ngài, là đạt đến một điểm trên nấc thang tiến hóa vũ trụ, nhờ đó, như một kết quả, Ngài trở thành Sự Sống thấm nhuần một hành tinh thiêng liêng. Đừng quên rằng hành tinh của chúng ta chưa phải là một hành tinh thiêng liêng, dù nó đã ở gần cuộc chuyển đổi vĩ đại ấy. Bí mật vũ trụ của tiến trình chuyển đổi này là điều Đức Sanat Kumara hiện đang học, và khi Điều Ấy đang phủ bóng Ngài trong lần lâm phàm này đã tạo nên những thay đổi cần thiết thông qua một tiến trình chuyển đổi và chuyển hóa, bấy giờ một cuộc Biến hình vĩ đại sẽ diễn ra và Ngài sẽ giữ vị trí của mình giữa những Đấng được trao quyền để hoạt động thông qua một hành tinh thiêng liêng. |
|
This process is that which implements the evolutionary process. Evolution is an effect of this hidden work, emanating from cosmic levels; only when evolution has run its course through all the multiplicity of forms, of cycles, chains and spheres, of rounds and races and of world periods, will we know something of the true nature of the hidden mystery. In the Council Chamber of Shamballa it is being dimly sensed. The Buddha and the Christ are expressing the qualities which—when more universally demonstrated—will indicate its nature, if I might so express it. They are together mobilizing the equipment upon our planet which will make the revelation of the mystery inevitable. This should give you a hint and much food for thought. More I cannot say, and even this you will only vaguely [Page 261] understand. Let us pass now to the second of the preparatory steps. |
Chính tiến trình này làm cho tiến trình tiến hóa được thực thi. Tiến hóa là một hệ quả của công việc ẩn tàng này, xuất phát từ các cấp độ vũ trụ; chỉ khi tiến hóa đã đi hết con đường của nó qua toàn bộ tính đa dạng của các hình tướng, các chu kỳ, các Dãy và các khối cầu, các cuộc tuần hoàn, các giống dân và các thời kỳ thế giới, chúng ta mới biết được phần nào bản chất đích thực của huyền nhiệm ẩn tàng. Trong Phòng Hội Đồng của Shamballa, điều ấy đang được cảm nhận mơ hồ. Đức Phật và Đức Christ đang biểu lộ các phẩm tính mà, khi được biểu lộ phổ quát hơn, sẽ chỉ ra bản chất của huyền nhiệm ấy, nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy. Hai Ngài cùng nhau huy động trang bị trên hành tinh chúng ta, điều sẽ khiến sự mặc khải về huyền nhiệm ấy trở nên tất yếu. Điều này nên đem lại cho các bạn một gợi ý và nhiều điều đáng suy ngẫm. Tôi không thể nói thêm, và ngay cả điều này các bạn cũng chỉ mơ hồ [Page 261] thấu hiểu. Giờ đây chúng ta hãy chuyển sang bước chuẩn bị thứ hai. |
|
2. Let the group demonstrate the higher meaning of the lessons learnt, and these are four and yet are one. |
2. Hãy để nhóm biểu lộ ý nghĩa cao hơn của các bài học đã học, và những bài học ấy là bốn mà vẫn là một. |
|
Aspirants learn, as they proceed upon the Path of Probation, to see the meaning of their physical plane activities in terms of the world of desire, of the astral plane. What they do originates upon that plane and gives their deeds meaning. This is the A.B.C. of elementary occultism and of true psychology. Later, they enter a higher world of meaning and find that “as a man thinketh in his heart, so is he.” Thus the lesson of kama-manasic impulse is slowly mastered and (in the process of learning) desire, prompted by the mind and implemented by the personality, loses its hold upon the aspirant. Later again, and as the soul begins to dominate, he learns the meaning of love and slowly, and oft through the mastering of pain, he absorbs the significance or meaning of group activity, group relation, and group initiation. He stands, therefore, at this stage ready (as this Rule expresses it) to learn the higher meaning of four lessons, processes or stages which are in themselves, nevertheless, one lesson. The four lessons which he has learnt up to this point have prepared him for the four lessons which—as an initiate and as one whose consciousness is focused in the Spiritual Triad—he must now master. To summarize, they constitute the four phases of an activity which will bring him to a point of tension which will indicate the next possible initiatory stage. Four words could be used to express these processes: Radiation. Magnetization. Transmutation. Impartation. Let me very briefly indicate some of the elementary significances of these words to the initiate-consciousness: |
Những người chí nguyện học, khi họ tiến bước trên Con Đường Dự Bị, cách thấy ý nghĩa của các hoạt động của họ trên cõi hồng trần dưới góc độ thế giới dục vọng, tức cõi cảm dục. Những gì họ làm bắt nguồn từ cõi ấy và đem lại ý nghĩa cho các hành vi của họ. Đây là bài học vỡ lòng của huyền bí học sơ đẳng và của tâm lý học chân chính. Về sau, họ bước vào một thế giới ý nghĩa cao hơn và nhận thấy rằng “con người suy nghĩ trong lòng thế nào, y là thế ấy.” Như vậy, bài học về xung lực trí-cảm dần dần được làm chủ và, trong tiến trình học hỏi, dục vọng, được thể trí thúc đẩy và được phàm ngã thực thi, mất đi sự chi phối đối với người chí nguyện. Về sau nữa, khi linh hồn bắt đầu thống trị, y học được ý nghĩa của bác ái và dần dần, thường qua việc làm chủ khổ đau, y hấp thụ thâm nghĩa hay ý nghĩa của hoạt động nhóm, quan hệ nhóm và điểm đạo nhóm. Do đó, ở giai đoạn này, y đứng sẵn sàng, như Quy luật này diễn đạt, để học ý nghĩa cao hơn của bốn bài học, những tiến trình hay giai đoạn vốn tự thân, tuy vậy, là một bài học duy nhất. Bốn bài học mà y đã học cho đến điểm này đã chuẩn bị y cho bốn bài học mà, với tư cách là một điểm đạo đồ và là người có tâm thức tập trung trong Tam Nguyên Tinh Thần, giờ đây y phải làm chủ. Tóm lại, chúng hợp thành bốn pha của một hoạt động sẽ đưa y đến một điểm tập trung nhất tâm, chỉ ra giai đoạn điểm đạo kế tiếp có thể đạt đến. Có thể dùng bốn từ để diễn đạt các tiến trình này: Tỏa chiếu. Từ hóa. Chuyển hóa. Truyền trao. Để Tôi chỉ ra thật vắn tắt một vài ý nghĩa sơ đẳng của những từ này đối với tâm thức điểm đạo đồ: |
|
1. Radiation. The initiate is a radiating center of light and love. This radiation has two effects: |
1. Tỏa chiếu. Điểm đạo đồ là một trung tâm tỏa chiếu ánh sáng và bác ái. Sự tỏa chiếu này có hai tác động: |
|
a. It has made him an essential and vital factor for unity in the Master’s Ashram. [Page 262] |
a. Nó đã làm cho y trở thành một nhân tố thiết yếu và đầy sinh lực cho sự hợp nhất trong ashram của Chân sư. [Page 262] |
|
b. It has enabled him to gather around him his own group and thus begin to form his own ashram. |
b. Nó đã giúp y quy tụ quanh mình nhóm riêng của y và nhờ đó bắt đầu tạo lập ashram của riêng mình. |
|
c. The personnel of the world group which will reveal the hidden mystery will all of them be “radiant centers” to a greater or lesser degree. They will thus be invocative and evocative. This thought holds the clue to the Law of Synthesis, of unity and of fusion as given in Rule XIII for initiates. |
c. Nhân sự của nhóm thế giới vốn sẽ mặc khải huyền nhiệm ẩn tàng, tất cả đều sẽ là “các trung tâm rạng chiếu” ở mức độ lớn hơn hoặc nhỏ hơn. Nhờ vậy, họ sẽ có tính khẩn cầu và gợi lên. Tư tưởng này nắm giữ chìa khóa cho Định luật Tổng Hợp, của hợp nhất và của dung hợp như đã được nêu trong Quy luật mười ba dành cho các điểm đạo đồ. |
|
2. Magnetization. The initiate who is radiating light and love is himself being magnetized by the highest of the present known divine aspects—Life. This expresses itself through will and purpose and is therefore dynamic in character. The initiate is charged constantly with life, and consequently can work with the impelling Law of Evolution which (as worded in the rule we are considering) will “carry the group together towards the Higher Three.” See you not how the different phases of the teaching lead from one to another and provide a great ladder of approach to reality? I would call to your attention that in the Fourteen Rules for Applicants and in the Fourteen Rules for Disciples and Initiates you have the two great foundational courses of the coming Schools of the Mysteries, for which I have prepared the world in Letters on Occult Meditation. |
2. Sự từ hóa. Điểm đạo đồ đang phát rạng ánh sáng và bác ái thì chính y đang tiếp nhận sự từ hóa từ phương diện thiêng liêng cao nhất hiện được biết đến—Sự Sống. Điều này tự biểu hiện qua ý chí và mục đích, do đó có tính năng động trong bản chất. Điểm đạo đồ không ngừng được nạp đầy sự sống, và vì thế có thể làm việc với Định luật Tiến Hóa thúc đẩy, vốn, như được diễn đạt trong quy luật chúng ta đang xem xét, sẽ “đưa nhóm cùng nhau hướng về Tam Nguyên Cao.” Các bạn không thấy sao rằng những giai đoạn khác nhau của giáo huấn dẫn từ giai đoạn này sang giai đoạn khác và tạo nên một chiếc thang lớn để tiếp cận thực tại? Tôi muốn lưu ý các bạn rằng trong Mười Bốn Quy Luật dành cho Người Dự Bị và Mười Bốn Quy Luật dành cho Đệ Tử và Điểm Đạo Đồ, các bạn có hai khóa nền tảng lớn của những Trường Huyền Nhiệm sắp đến, mà vì chúng tôi đã chuẩn bị thế gian trong Thư về Tham Thiền Huyền Bí. |
|
3. Transmutation. This indicates here an achievement and not a process; the work of transmuting the lower nature into the higher and desire into love, of transforming personality purpose into group livingness and being, has led to that complete transfiguration which makes the entire process of transmutation no longer needed. But—and this is the point to be emphasized—because of this achievement, the art of transmutation is now the instrument which the initiate can use and transmute that which is not himself, and thus consciously and with clear purpose further the ends of evolution. Transmutation “disappears” out of his own life, but the forces which have been transmuted into spiritual energy begin now to have a dynamic transmutative effect in the world of forms wherein he now chooses to work and serve, according to his ray and ashramic intent. [Page 263] |
3. Sự chuyển hóa. Ở đây, điều này chỉ một thành tựu chứ không phải một tiến trình; công việc chuyển hóa bản chất thấp thành bản chất cao và dục vọng thành bác ái, chuyển đổi mục đích của phàm ngã thành sức sống và hiện tồn của nhóm, đã dẫn đến sự Biến hình trọn vẹn khiến toàn bộ tiến trình chuyển hóa không còn cần thiết nữa. Nhưng—và đây là điểm cần được nhấn mạnh—do thành tựu này, nghệ thuật chuyển hóa nay là công cụ mà điểm đạo đồ có thể sử dụng để chuyển hóa điều không phải là chính y, và nhờ vậy, một cách hữu thức và với mục đích rõ ràng, thúc đẩy các mục tiêu của tiến hóa. Sự chuyển hóa “biến mất” khỏi đời sống riêng của y, nhưng các mãnh lực đã được chuyển hóa thành năng lượng tinh thần nay bắt đầu tạo một hiệu lực chuyển hóa năng động trong thế giới hình tướng nơi y hiện chọn làm việc và phụng sự, phù hợp với cung của y và ý định ashram. [Page 263] |
|
4. Impartation. Reference to this is made in the Book of Revelation, found in The New Testament. There we are told that the initiate is given a white stone, and in the stone “a new name” is found written; this is the “hidden name egoic.” I am at a loss at this point as to how to express the higher significance of this. This Impartation marks a climaxing point in the attainment of the point of tension where the Sound can be heard and not the Word alone. Never forget that the OM is simply a symbolically sounded word which is intended to bring into the minds of those upon the Path those two great points of tension wherein |
4. Sự truyền ban. Điều này được nhắc đến trong Sách Khải Huyền, có trong Tân Ước. Ở đó, chúng ta được cho biết rằng điểm đạo đồ được ban một viên đá trắng, và trên viên đá ấy có viết “một danh xưng mới”; đó là “danh xưng chân ngã ẩn mật.” Ở điểm này, tôi không biết phải diễn đạt thâm nghĩa cao hơn của điều này như thế nào. Sự Truyền Ban này đánh dấu một điểm cao trào trong việc đạt đến điểm tập trung nhất tâm, nơi Âm Thanh có thể được nghe thấy chứ không chỉ Linh từ mà thôi. Đừng bao giờ quên rằng OM chỉ đơn giản là một linh từ được xướng lên một cách biểu tượng, nhằm đưa vào trí tuệ của những người trên Đường Đạo hai điểm tập trung nhất tâm lớn lao, trong đó |
|
a. The “hidden name egoic” is conferred upon the disciple. This, as far as he is concerned, is the Word of his soul ray. |
a. “Danh xưng chân ngã ẩn mật” được truyền ban cho đệ tử. Đối với y, đây là Linh từ của cung linh hồn của y. |
|
b. The Sound heard of which the OM is a symbol. This is the first letter of the sevenfold Name of the planetary Logos. More upon this subject may not be given, nor am I in a position to give it. |
b. Âm Thanh được nghe thấy, mà OM là biểu tượng. Đây là mẫu tự đầu tiên của Danh xưng thất phân của Hành Tinh Thượng đế. Không thể đưa ra thêm về chủ đề này, và tôi cũng không ở vị thế để đưa ra điều đó. |
|
These two preparatory injunctions will give you some idea of how abstruse is the teaching conveyed in the rules for initiates. The understanding and the expressing of the four rules for applicants, as demonstrated by the disciple now functioning in a group, can all be summed up in the word: Being. Having said that, what does it mean to you? Being, per se, can only be grasped by those who, have “come alive” monadically, who function in the three worlds of the Spiritual Triad with even greater positivity than the highly advanced personality functions in the three worlds of human evolution; and who have grasped somewhat the purpose for which Sanat Kumara has come into being and through directed livingness is working out His intention. |
Hai huấn thị chuẩn bị này sẽ cho các bạn phần nào ý niệm về mức độ uyên áo của giáo huấn được truyền đạt trong các quy luật dành cho điểm đạo đồ. Sự thấu hiểu và biểu đạt bốn quy luật dành cho người dự bị, như được đệ tử hiện đang hoạt động trong một nhóm biểu lộ, tất cả đều có thể được tóm gọn trong từ: Hiện Tồn. Nói như vậy, điều đó có ý nghĩa gì đối với các bạn? Chính Hiện Tồn, chỉ những ai đã “trở nên sống động” về mặt chân thần, những người hoạt động trong ba cõi của Tam Nguyên Tinh Thần với tính tích cực còn lớn hơn cả cách phàm ngã đã tiến hóa rất cao hoạt động trong ba cõi của sự tiến hóa nhân loại; và những ai đã phần nào nắm bắt mục đích mà vì đó Đức Sanat Kumara đã đi vào hiện tồn và, thông qua sức sống được định hướng, đang thực hiện ý định của Ngài. |
|
We can now take up the four major injunctions given to the initiated disciple as he prepares to work under the Laws of the Spirit, as a conscious soul, and (for purposes of service) through a personality. There are many initiates working without a body of contact which a personality provides, but we shall not consider them in our studies. We shall only deal with those disciples who can work as a group [Page 264] on the physical plane, fulfiling ashramic intent on the one hand and preparing themselves to tread the Way of the Higher Evolution upon the other. |
Giờ đây chúng ta có thể bàn đến bốn huấn thị chính yếu được trao cho đệ tử đã được điểm đạo khi y chuẩn bị làm việc dưới các Định luật của Tinh thần, với tư cách một linh hồn có ý thức, và, vì các mục đích phụng sự, thông qua một phàm ngã. Có nhiều điểm đạo đồ đang làm việc mà không có thể tiếp xúc do phàm ngã cung cấp, nhưng chúng ta sẽ không xem xét các vị ấy trong các nghiên cứu của mình. Chúng ta sẽ chỉ đề cập đến những đệ tử có thể làm việc như một nhóm [Page 264] trên cõi hồng trần, thực hiện ý định ashram một mặt, và mặt khác chuẩn bị cho chính mình bước đi trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. |
|
The first major injunction in this Rule XIII reads as follows: |
Huấn thị chính yếu đầu tiên trong Quy luật mười ba này có nội dung như sau: |
|
3. Let the group understand the Law of Synthesis, of unity and fusion. |
3. Hãy để nhóm thấu hiểu Định luật Tổng Hợp, của hợp nhất và dung hợp. |
|
The Law of Synthesis, as you know, is the law of spiritual existence, and one of the three major laws of our solar system, as well as of our planet. It is a basic cosmic law, applied from sources of which we know nothing, as are the Laws of Attraction and of Economy. I dealt with these somewhat at length in A Treatise on Cosmic Fire, and of these two other laws I have given much and hinted more. Of the Law of Synthesis, I can tell you but little. It is the law governing the activities of the Spiritual Triad, and the conditioning law of monadic living. It works neither through the use of the energy of love nor through the application of the principle of economy. The fulfilment of these laws is necessary and preparatory to an understanding of the Law of Synthesis, and under the Law of Synthesis the worlds of illusion and glamor are mastered and the control of maya is negated; under the Law of Attraction the nature of love is revealed, first of all through desire for form life, and then through attraction to the soul and a consequent resolution of the dualities of soul and personality. This brings about a unity which—in due time—serves to reveal a greater potential dualism—that of soul and spirit; this fundamental duality must also be resolved, leaving the essential, universal planetary duality, spirit-matter, present in time and space. |
Định luật Tổng Hợp, như các bạn biết, là định luật của sự hiện tồn tinh thần, và một trong ba định luật chính yếu của hệ mặt trời chúng ta, cũng như của hành tinh chúng ta. Đó là một định luật vũ trụ căn bản, được áp dụng từ những nguồn mà chúng ta không biết gì, cũng như các Định luật Hấp Dẫn và Tiết Kiệm. Tôi đã bàn về những điều này khá dài trong Luận về Lửa Vũ Trụ, và về hai định luật kia, tôi đã nói nhiều và gợi ý còn nhiều hơn. Về Định luật Tổng Hợp, tôi chỉ có thể nói với các bạn rất ít. Đó là định luật cai quản các hoạt động của Tam Nguyên Tinh Thần, và là định luật tác động lên đời sống chân thần. Nó không hoạt động thông qua việc sử dụng năng lượng bác ái, cũng không thông qua việc áp dụng nguyên khí tiết kiệm. Việc hoàn tất các định luật này là cần thiết và chuẩn bị cho sự thấu hiểu Định luật Tổng Hợp, và dưới Định luật Tổng Hợp, các thế giới của ảo tưởng và ảo cảm được làm chủ, còn quyền kiểm soát của ảo lực bị triệt tiêu; dưới Định luật Hấp Dẫn, bản chất của bác ái được mặc khải, trước hết qua ham muốn đối với đời sống hình tướng, rồi qua sức hút hướng về linh hồn và sự hóa giải tiếp theo của các nhị nguyên giữa linh hồn và phàm ngã. Điều này tạo nên một sự hợp nhất, đến đúng thời, sẽ phụng sự việc mặc khải một lưỡng nguyên tiềm tàng lớn hơn—đó là lưỡng nguyên giữa linh hồn và tinh thần; lưỡng nguyên căn bản này cũng phải được hóa giải, để lại nhị nguyên hành tinh phổ quát và thiết yếu: tinh thần-vật chất, hiện diện trong thời gian và không gian. |
|
The Law of Synthesis has reference to this relationship and to the factual nature of the tremendous assertion of H. P. Blavatsky that “Matter is spirit at its lowest point of manifestation and spirit is matter at its highest.” It is of this synthesis that the group must learn; it is this relation which they must begin to comprehend, and the distinction (for there is a distinction) between synthesis, unity and fusion must in due time be mastered. [Page 265] |
Định luật Tổng Hợp liên quan đến mối quan hệ này và đến bản chất thực tại của lời khẳng định lớn lao của H. P. Blavatsky rằng “Vật chất là tinh thần ở điểm biểu hiện thấp nhất của nó, và tinh thần là vật chất ở điểm cao nhất của nó.” Chính về sự tổng hợp này mà nhóm phải học hỏi; chính mối quan hệ này họ phải bắt đầu thấu hiểu, và sự phân biệt (vì quả có một sự phân biệt) giữa tổng hợp, hợp nhất và dung hợp phải, đúng thời, được làm chủ. [Page 265] |
|
To you, it may seem that these three words connote the same thing, but that is not so; fusion is ever related to the conscious merging of soul and substance until a point of equilibrium is achieved; at this point, unity becomes possible and the point of balance—through the attainment of a point of tension—is disturbed. This takes place in three definitely defined stages when the fusion of personality and soul is brought about through the self-initiated effort of the disciple: first of all upon the Probationary Path, then upon the Path of Discipleship, and finally at the third initiation, upon the Path of Initiation. It is essential that you ever remember that this third initiation, the Transfiguration, is the first major initiation from the standpoint of the Hierarchy, though the third from the limited vision of the aspirant. The initiate then goes on to learn the significance of unity in its true sense; this is only possible when monadic influence can be consciously registered and when the antahkarana is in process of conscious construction. I emphasize the word “conscious” here; much of the work of fusion and of attainment proceeds unconsciously under the fundamental Law of Evolution, which is a Shamballic law, embodying as it does the working out of the inscrutable[1] will of Deity. The work now being, done on the three stages of the Path has to be intentional and, therefore, consciously undertaken and intelligently planned; it must be backed, first of all by determination, then by the spiritual will, and finally as an implemented aspect of purpose. |
Đối với các bạn, có thể ba từ này dường như hàm ý cùng một điều, nhưng không phải vậy; sự dung hợp luôn liên quan đến sự hòa nhập có ý thức của linh hồn và chất liệu cho đến khi đạt được một điểm quân bình; tại điểm này, sự hợp nhất trở nên khả hữu và điểm cân bằng—thông qua việc đạt được một điểm tập trung nhất tâm—bị xáo động. Điều này diễn ra trong ba giai đoạn được xác định rõ ràng khi sự dung hợp của phàm ngã và linh hồn được tạo nên nhờ nỗ lực tự khởi xướng của đệ tử: trước hết trên Con Đường Dự Bị, rồi trên Con Đường Đệ Tử, và cuối cùng tại lần điểm đạo thứ ba, trên Con Đường Điểm Đạo. Điều thiết yếu là các bạn luôn nhớ rằng lần điểm đạo thứ ba này, Cuộc Biến Hình, là cuộc điểm đạo lớn đầu tiên xét từ lập trường của Thánh Đoàn, dù là lần thứ ba theo tầm nhìn giới hạn của người chí nguyện. Bấy giờ điểm đạo đồ tiếp tục học thâm nghĩa của sự hợp nhất theo ý nghĩa chân thực của nó; điều này chỉ khả hữu khi ảnh hưởng chân thần có thể được ghi nhận một cách có ý thức và khi antahkarana đang trong tiến trình kiến tạo có ý thức. Ở đây tôi nhấn mạnh từ “có ý thức”; phần lớn công việc dung hợp và thành tựu diễn tiến một cách vô thức dưới Định luật Tiến Hóa căn bản, vốn là một định luật thuộc Shamballa, vì nó bao hàm sự thực hiện Ý Chí bí nhiệm bất khả thấu của Thượng đế. Công việc hiện đang được thực hiện trên ba giai đoạn của Đường Đạo phải có chủ ý và, do đó, được đảm nhận một cách có ý thức và được hoạch định một cách thông minh; trước hết, nó phải được hậu thuẫn bằng quyết tâm, rồi bằng ý chí tinh thần, và cuối cùng như một phương diện được thực thi của Thiên Ý. |
|
Fusion might therefore be regarded as the individual process of spiritual integration, relating—in full waking consciousness—the three divine aspects in man. Unity might be regarded as the conscious adaptation of the initiated disciple to the greater whole, as his absorption into the group through his obedience to the laws of the soul, and as governing his attitude to that in which he lives and moves and has his being. This goes on until he sees no distinction, registers no differences and is aware of no separate reaction, and all this because the instinct to separation no longer exists in him. It refers to his oneness in the world of [Page 266] energies in which he moves, making him an unimpeded channel for energy and, therefore, an integral and smoothly working part of his total environment and, above all, of the group to which, automatically and under the laws which govern his soul, he has been attracted. He has learnt all that he can learn through the processes of differentiation to which he has been subjected for aeons. The principle of intelligence controls him and the principle of love motivates him, and he has consequently attained unity. But, my brothers, it is the unity of his ray, of his Ashram and of the Plan; it is the unity of the Hierarchy which exists for purposes of service and active work in its seven major groups and its three main departments or divisions. It is indeed attainment and liberation. But more must still be learnt if the Way of the Higher Evolution is to be trodden and a choice between the seven cosmic Paths made—a choice which curiously enough is not dependent upon ray, for all rays are to be found on all these paths. |
Vì vậy, sự dung hợp có thể được xem là tiến trình cá nhân của sự tích hợp tinh thần, liên kết—trong tâm thức tỉnh thức trọn vẹn—ba phương diện thiêng liêng nơi con người. Sự hợp nhất có thể được xem là sự thích nghi có ý thức của đệ tử điểm đạo với toàn thể lớn hơn, như sự hấp thu của y vào nhóm thông qua sự tuân phục các định luật của linh hồn, và như điều cai quản thái độ của y đối với cái mà trong đó y sống, chuyển động và có sự hiện tồn. Điều này tiếp diễn cho đến khi y không thấy sự phân biệt nào, không ghi nhận khác biệt nào và không còn biết đến phản ứng riêng rẽ nào, và tất cả là vì bản năng chia tách không còn tồn tại trong y. Điều này liên quan đến sự hợp nhất của y trong thế giới của [Page 266] các năng lượng mà trong đó y vận hành, khiến y trở thành một vận hà không bị cản trở cho năng lượng và, do đó, là một phần toàn vẹn, hoạt động êm xuôi trong toàn bộ môi trường của y và, trên hết, trong nhóm mà y đã được thu hút đến một cách tự động và theo các định luật cai quản linh hồn y. Y đã học tất cả những gì y có thể học qua các tiến trình biến phân mà y đã chịu đựng qua nhiều thời đại dài lâu. Nguyên khí trí tuệ chi phối y và nguyên khí bác ái thúc đẩy y, và vì thế y đã đạt được sự hợp nhất. Các huynh đệ của Tôi, tuy nhiên, đó là sự hợp nhất của cung của y, của ashram của y và của Thiên Cơ; đó là sự hợp nhất của Thánh Đoàn, vốn hiện tồn cho các mục đích phụng sự và hoạt động tích cực trong bảy nhóm chính yếu và ba ban hay phân bộ chính. Đó quả thực là sự thành tựu và giải thoát. Nhưng vẫn còn phải học nhiều hơn nữa nếu muốn bước trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu và đưa ra một lựa chọn giữa bảy Con Đường vũ trụ—một sự lựa chọn, kỳ lạ thay, không tùy thuộc vào cung, vì mọi cung đều có thể tìm thấy trên tất cả những con đường này. |
|
This can only be done through synthesis. This Law of Synthesis |
Điều này chỉ có thể được thực hiện thông qua sự tổng hợp. Định luật Tổng Hợp này |
|
“works through the Seven which yet are One; which points to the seven ways and yet those upon the seven ways are one; which initiates the universal into the many but preserves its integrity; which originates the plan but preserves intact the purpose; which sees the multiplicity needed under the Law of Sacrifice but subordinates that law unto the Law of Synthesis; which breathes forth the many Breaths and yet is Life Itself.” |
“hoạt động thông qua Bảy mà vẫn là Một; chỉ ra bảy con đường, nhưng những ai trên bảy con đường ấy vẫn là một; khởi dẫn cái phổ quát vào trong cái đa thù nhưng vẫn giữ gìn tính toàn vẹn của nó; khởi nguyên Thiên Cơ nhưng giữ nguyên vẹn Thiên Ý; thấy tính đa thù cần thiết dưới Định luật Hi Sinh nhưng đặt định luật ấy dưới Định luật Tổng Hợp; thở ra nhiều Hơi Thở nhưng vẫn là chính Sự Sống.” |
|
In this attempt to paraphrase an ancient definition of the Law of Synthesis, I have said all that I can upon the theme. Only as disciples build the antahkarana and function as the Spiritual Triad within the monadic Life will inspiration come, just as they learnt to make contact with the soul and to function as the threefold personality within the soul, and then revelation ensued. Naught is gained by further elucidation. Proceed with the work of building the antahkarana and light will shine upon your way and revelation will attend your steps. [Page 267] |
Trong nỗ lực diễn giải lại một định nghĩa cổ xưa về Định luật Tổng Hợp, tôi đã nói tất cả những gì tôi có thể nói về chủ đề này. Chỉ khi các đệ tử xây dựng antahkarana và hoạt động như Tam Nguyên Tinh Thần trong Sự Sống chân thần thì cảm hứng mới đến, cũng như họ đã học cách tiếp xúc với linh hồn và hoạt động như phàm ngã tam phân trong linh hồn, rồi sự mặc khải tiếp theo. Không đạt được gì bằng việc giải thích thêm. Hãy tiếp tục công việc xây dựng antahkarana, và ánh sáng sẽ chiếu trên con đường của các bạn, còn sự mặc khải sẽ theo bước các bạn. [Page 267] |
|
The second major injunction (though the fourth phrase in our rule) is. |
Huấn lệnh chính yếu thứ hai (dù là mệnh đề thứ tư trong quy luật của chúng ta) là. |
|
4. Let the threefold mode of working with that which is dynamic carry the group together towards the Higher Three. |
4. Hãy để phương thức tam phân làm việc với điều vốn năng động đưa cả nhóm cùng tiến về Ba Đấng Cao Hơn. |
|
This injunction holds in it information which is somewhat new to the modern initiate, functioning in a physical body; it is difficult for him to grasp even a modicum of its significance. To convey any faintest hint of its meaning is incomparably difficult for me where disciples such as you are concerned. All I can do is to fall back upon the Law of Analogy, by means of which the microcosm can arrive at a glimmer of understanding of the more obvious aspects of the Macrocosm. |
Huấn thị này chứa đựng thông tin có phần mới mẻ đối với điểm đạo đồ hiện đại đang hoạt động trong thể xác; y khó nắm bắt dù chỉ một phần nhỏ thâm nghĩa của nó. Đối với các đệ tử như các bạn, việc truyền đạt dù chỉ một gợi ý mờ nhạt nhất về ý nghĩa của nó cũng khó khăn khôn sánh đối với tôi. Tất cả những gì tôi có thể làm là dựa vào định luật tương đồng, nhờ đó Tiểu thiên địa có thể đạt đến một tia sáng thấu hiểu về những phương diện rõ ràng hơn của Đại thiên địa. |
|
First, let me make reference to the words “the Higher Three”; let me see if I cannot somewhat clarify the entire complex idea. The words “Higher Three” refer to the three Buddhas of Activity Who still remain actively cooperating with the Lord of the World. They are, as you have been told, close to Sanat Kumara and came with Him when He decided to take incarnation through the medium of our planet Earth. It is difficult to understand Their mysterious and peculiar functions. They do not belong to this solar system at all; They have passed through the human stage in such far distant and remote world cycles that the experience is no longer a part of Their consciousness; They act as advisors to Sanat Kumara where His initial purpose is concerned, and that is why the words “the will of God holds sway” occur in this rule. It is Their supreme task to see that, in the Council Chamber of Shamballa, that purpose is ever held steadily within the “area of preparation” (I know not how else to word it) of that Council. They function, in a peculiar sense, as linking intermediaries between the Logos of our solar system and the informing Life of the constellation Libra; They relate these two great centers of energy to our planetary Logos. |
Trước hết, hãy để tôi nhắc đến những lời “Ba Đấng Cao Hơn”; hãy để tôi xem liệu tôi có thể phần nào làm sáng tỏ toàn bộ ý tưởng phức tạp này chăng. Những lời “Ba Đấng Cao Hơn” chỉ ba Đức Phật Hoạt Động, Các Ngài vẫn đang tích cực cộng tác với Đức Chúa Tể Thế Giới. Như các bạn đã được cho biết, Các Ngài thân cận với Đức Sanat Kumara và đã đến cùng Ngài khi Ngài quyết định lâm phàm qua trung gian hành tinh Trái Đất của chúng ta. Thật khó thấu hiểu những chức năng huyền nhiệm và đặc thù của Các Ngài. Các Ngài hoàn toàn không thuộc về hệ mặt trời này; Các Ngài đã đi qua giai đoạn nhân loại trong những chu kỳ thế giới xa xôi và lâu đời đến nỗi kinh nghiệm ấy không còn là một phần trong tâm thức của Các Ngài; Các Ngài hành động như các cố vấn cho Đức Sanat Kumara khi liên quan đến mục đích nguyên sơ của Ngài, và đó là lý do những lời “Ý Chí của Thượng Đế ngự trị” xuất hiện trong quy luật này. Nhiệm vụ tối thượng của Các Ngài là bảo đảm rằng, trong Phòng Hội Đồng Shamballa, mục đích ấy luôn được giữ vững trong “khu vực chuẩn bị” của Hội Đồng ấy, tôi không biết diễn đạt cách nào khác. Theo một ý nghĩa đặc biệt, Các Ngài hoạt động như những trung gian liên kết giữa Thượng đế của hệ mặt trời chúng ta và Sự Sống thấm nhuần chòm sao Thiên Bình; Các Ngài liên hệ hai trung tâm năng lượng vĩ đại này với Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta. |
|
In the last solar system They were the planetary Logoi of three planets in which the mind principle reached its [Page 268] highest stage of development; They embody in Themselves in a most peculiar manner the wisdom aspect of the second ray, as it expresses itself primarily through what has been called in the Bhagavad Gita “skill in action.” Hence Their name, the Buddhas of Activity. |
Trong hệ mặt trời trước, Các Ngài là Các Hành Tinh Thượng đế của ba hành tinh, nơi nguyên khí trí tuệ đã đạt tới [Page 268] giai đoạn phát triển cao nhất; Các Ngài hiện thân nơi Chính Mình, theo một cách hết sức đặc biệt, phương diện minh triết của cung hai, khi nó biểu lộ chủ yếu qua điều đã được gọi trong Chí Tôn Ca là “sự khéo léo trong hành động.” Vì thế có danh xưng của Các Ngài là các Đức Phật Hoạt Động. |
|
Sanat Kumara has now moved one step ahead of Them upon the great cosmic ladder of evolution, for an aspect of the Law of Sacrifice has conditioned Them. However, within the planetary consciousness and among Those Who work out the divine purposes, there are none Who approach the Eternal Youth and these three Buddhas in point of Evolution. They work out Their plans—these four Great Lives—through the medium of the Lords of the Seven Rays. Under the Law of Analogy, They are to Sanat Kumara what the three mind aspects upon the mental plane are to the disciple and the initiate. They represent in action: |
Đức Sanat Kumara nay đã tiến trước Các Ngài một bước trên nấc thang vũ trụ vĩ đại của tiến hoá, vì một phương diện của Định luật Hy sinh đã tác động lên Các Ngài. Tuy nhiên, trong phạm vi tâm thức hành tinh và giữa Những Đấng thực thi các mục đích thiêng liêng, không có Đấng nào tiệm cận Đấng Thanh Xuân Vĩnh Cửu và ba Đức Phật này về phương diện tiến hoá. Bốn Sự Sống Vĩ Đại này thực hiện các kế hoạch của Các Ngài qua trung gian các Đấng Chúa Tể của Bảy Cung. Theo định luật tương đồng, đối với Đức Sanat Kumara, Các Ngài giống như ba phương diện trí tuệ trên cõi trí đối với đệ tử và điểm đạo đồ. Trong hành động, Các Ngài biểu trưng cho: |
|
– The concrete or lower mind of the planetary Logos, |
– Trí cụ thể hay hạ trí của Đức Hành Tinh Thượng Đế, |
|
– That energy which we call the soul and which the disciple calls “the Son of Mind,” |
– Năng lượng mà chúng ta gọi là linh hồn và đệ tử gọi là “Con của Trí Tuệ,” |
|
– The higher or abstract mind, |
– Thượng trí hay trí trừu tượng, |
|
but all this from cosmic levels and with cosmic implications. It was Their activity which (after evolution had run a long course) brought about the act of individualization and thus brought the human kingdom into existence. In a mysterious sense, therefore, it might be said that the three Buddhas of Activity are responsible for: |
nhưng tất cả điều này xét từ các cấp độ vũ trụ và với những hàm ý vũ trụ. Chính hoạt động của Các Ngài, sau khi tiến hoá đã trải qua một chặng dài, đã tạo nên hành vi biệt ngã hóa và do đó đưa giới nhân loại vào hiện hữu. Vì vậy, theo một ý nghĩa huyền nhiệm, có thể nói rằng ba Đức Phật Hoạt Động chịu trách nhiệm về: |
|
1. The Act of Individualization. The work of the particular Buddha responsible at the time for this major activity, has been temporarily quiescent since Lemurian days. He works, when active, through the seventh ray and draws the needed energy from two constellations: Cancer and Gemini. |
1. Hành Vi Biệt Ngã Hóa. Công việc của vị Đức Phật đặc định chịu trách nhiệm vào thời điểm ấy về hoạt động trọng đại này đã tạm thời lắng yên từ thời Lemuria. Khi hoạt động, Ngài làm việc qua cung bảy và rút năng lượng cần thiết từ hai chòm sao: Cự Giải và Song Tử. |
|
2. The Act of Initiation. I would call your attention to the word act; I am not here referring to process. His work only begins at the third initiation when the planetary Logos is the Initiator. At that initiation, the will aspect begins to function. The Buddha behind the initiatory process is extremely active at this time; He works through the Christ [Page 269] and the Lord of the second ray, drawing the needed energy from the constellations Capricorn and Aquarius. |
2. Hành Vi Điểm Đạo. Tôi muốn lưu ý các bạn đến từ hành vi; Tôi ở đây không nói đến tiến trình. Công việc của Ngài chỉ bắt đầu ở lần điểm đạo thứ ba, khi Đức Hành Tinh Thượng Đế là Đấng Điểm đạo. Trong lần điểm đạo ấy, phương diện ý chí bắt đầu hoạt động. Đức Phật đứng sau tiến trình điểm đạo hiện nay đang hoạt động cực kỳ mạnh mẽ; Ngài làm việc qua Đức Christ [Page 269] và Đấng Chúa Tể của cung hai, rút năng lượng cần thiết từ các chòm sao Ma Kết và Bảo Bình. |
|
3. The Act of Identification. This involves what has been called a “moment of opening-up,” during which the initiate sees that which lies within the cosmic intent and begins to function not only as a planetary unit but as a cosmic focal point. The Buddha of Activity, responsible for this type of planetary activity, works with the Lord of the first ray and functions as an outpost of the consciousness of the informing life of Aries and of Leo. His work is only now beginning to assume importance. |
3. Hành Vi Đồng Hoá. Điều này bao hàm điều đã được gọi là một “khoảnh khắc mở ra,” trong đó điểm đạo đồ thấy điều nằm trong ý định vũ trụ và bắt đầu hoạt động không chỉ như một đơn vị hành tinh mà còn như một tiêu điểm vũ trụ. Đức Phật Hoạt Động chịu trách nhiệm về loại hoạt động hành tinh này làm việc với Đấng Chúa Tể của cung một và hoạt động như một tiền đồn của tâm thức thuộc Sự Sống thấm nhuần Bạch Dương và Sư Tử. Công việc của Ngài chỉ nay mới bắt đầu trở nên quan trọng. |
|
I realize that this information has little meaning to you and lies beyond your understanding, but so was much that I gave you in A Treatise on Cosmic Fire. Its sole value for you lies in the revelation of the linking up and the interplay between all parts of our solar system, our universe and the zodiac. Through these three great Buddhas there is a basic relation, established aeons ago and steadfastly held, between our planet, three of the seven sacred planets, and six of the major constellations—the three and the six which most uniquely concern the fourth kingdom in nature. Other planets and other constellations are also related to the human family, but their relation is more aggressively (if I might use that word) related to the three subhuman kingdoms; with these we shall not here deal. Their relation to the human kingdom has been covered by me in the astrological section of this Treatise: Esoteric Astrology. |
Tôi nhận ra rằng thông tin này ít có ý nghĩa đối với các bạn và vượt ngoài sự thấu hiểu của các bạn, nhưng nhiều điều tôi đã trao cho các bạn trong Luận về Lửa Vũ Trụ. cũng từng như vậy. Giá trị duy nhất của nó đối với các bạn nằm trong sự mặc khải về việc liên kết và sự tương tác giữa mọi phần của hệ mặt trời chúng ta, vũ trụ của chúng ta và hoàng đạo. Thông qua ba Đức Phật vĩ đại này, có một mối liên hệ căn bản, được thiết lập từ vô số kỷ nguyên trước và được giữ vững bền bỉ, giữa hành tinh của chúng ta, ba trong số bảy hành tinh thiêng liêng, và sáu trong số các chòm sao chính—ba và sáu ấy liên hệ một cách độc đáo nhất đến giới thứ tư trong thiên nhiên. Các hành tinh khác và các chòm sao khác cũng có liên hệ với gia đình nhân loại, nhưng mối liên hệ của chúng lại gắn mạnh hơn, nếu tôi có thể dùng từ ấy, với ba giới dưới nhân loại; ở đây chúng ta sẽ không đề cập đến những điều này. Mối liên hệ của chúng với giới nhân loại đã được tôi trình bày trong phần chiêm tinh học của Khảo luận này: Chiêm Tinh Học Nội Môn. |
|
You will note that I have here indicated the existence of five triangles: |
Các bạn sẽ lưu ý rằng ở đây tôi đã chỉ ra sự tồn tại của năm tam giác: |
|
1. That existing in the interplay of the energies of the three Buddhas of Activity Who create a triangle, closely related to the planet Saturn. |
1. Tam giác tồn tại trong sự tương tác của các năng lượng của ba Đức Phật Hoạt Động, Các Ngài tạo thành một tam giác liên hệ mật thiết với hành tinh Thổ Tinh. |
|
2. The triangle of the three rays through whom the three Buddhas work. |
2. Tam giác của ba cung mà qua đó ba Đức Phật hoạt động. |
|
3. The three planets which are connected with the three Lords of the three rays and by means of which They express Their impelling energy. [Page 270] |
3. Ba hành tinh có liên hệ với ba Đấng Chúa Tể của ba cung, và nhờ đó Các Ngài biểu lộ năng lượng thúc đẩy của Các Ngài. [Page 270] |
|
4. – 5. Two interlaced triangles, created by the six constellations from which the three Buddhas of Activity draw Their needed energy and to which They are uniquely related through Their individual karma. These two interlaced triangles are the cause of the six-pointed star, so familiar among the many occult symbols. |
4. – 5. Hai tam giác đan xen, do sáu chòm sao tạo nên, từ đó ba Đức Phật Hoạt Động rút ra năng lượng cần thiết của Các Ngài và Các Ngài có liên hệ độc đáo với chúng qua nghiệp quả cá biệt của Các Ngài. Hai tam giác đan xen này là nguyên nhân của ngôi sao sáu cánh, vốn rất quen thuộc trong nhiều biểu tượng huyền bí. |
|
From the Law of Analogy, another exceedingly important triangle is found in the human body and (esoterically considered) is related to the subject under consideration: |
Từ định luật tương đồng, một tam giác cực kỳ quan trọng khác được tìm thấy trong thể con người và, xét một cách huyền bí, có liên hệ với chủ đề đang được bàn đến: |
|
1. The ajna center, embodying the directing energy of that body of activity which we call the personality. |
1. Trung tâm ajna, thể hiện năng lượng điều khiển của thể hoạt động mà chúng ta gọi là phàm ngã. |
|
2. The throat center, which is peculiarly active today in all human beings; this testifies to the success of the creative work of the Buddhas of Activity. This, in its turn, has a small symbolic triangle of its own, to which I would call attention: the thyroid gland and the parathyroid. |
2. Trung tâm cổ họng, vốn đặc biệt hoạt động ngày nay trong tất cả con người; điều này chứng thực sự thành công của công trình sáng tạo của các Đức Phật Hoạt Động. Đến lượt nó, trung tâm này có một tam giác biểu tượng nhỏ của riêng mình, mà tôi muốn lưu ý: tuyến giáp và tuyến cận giáp. |
|
3. The center at the base of the spine. This is galvanized into activity at a certain stage of the evolutionary process, by energy emanating from the Buddhas of Activity Who are the least active at this particular time. It is an energy pouring towards the fourth kingdom but not directed towards any individual. These great Lives work through major groups. Their potency is such that it would otherwise prove destructive. |
3. Trung tâm ở đáy cột sống. Trung tâm này được kích hoạt mạnh mẽ vào một giai đoạn nhất định của tiến trình thăng thượng tiến hoá, bởi năng lượng xuất lộ từ các Đức Phật Hoạt Động, những Đấng ít hoạt động nhất vào thời điểm đặc biệt này. Đó là một năng lượng tuôn đổ về phía giới thứ tư nhưng không hướng đến bất kỳ cá nhân nào. Các Sự Sống vĩ đại này hoạt động qua những nhóm lớn. Quyền năng của Các Ngài lớn đến nỗi nếu không như vậy, nó sẽ trở nên hủy diệt. |
|
The purpose of Deity is necessarily embodied in a mental proposition; it is through this mental proposition that the three Buddhas of Activity implement Their work. I can put it no clearer. There will come a time in the experience of all initiates when—each for himself—a formulation of this mental proposition will be absolutely necessary. By means of this, each initiate will embody his individual understanding of the divine purpose as the Plan has been revealed to him. |
Mục đích của Thượng đế tất yếu được thể hiện trong một mệnh đề trí tuệ; chính qua mệnh đề trí tuệ này mà ba Đức Phật Hoạt Động thực hiện công việc của Các Ngài. Tôi không thể trình bày rõ hơn. Sẽ đến một thời điểm trong kinh nghiệm của tất cả các điểm đạo đồ khi—mỗi người cho chính mình—việc hình thành mệnh đề trí tuệ này sẽ trở nên tuyệt đối cần thiết. Nhờ đó, mỗi điểm đạo đồ sẽ thể hiện sự thấu hiểu cá biệt của mình về Thiên Ý, như Thiên Cơ đã được mặc khải cho y. |
|
This he can do only through the means of group experience, in cooperation with his group and when the group—as a whole—has reached a similar point of realization and [Page 271] has together touched the fringes of this highest of all revelations for humanity. When, for the first time, they succeed in doing this, they will come—as a group—under the direct emanation of the Higher Three and under an aspect of the Council Chamber at Shamballa which has been hitherto unknown and unrealized. This will connote a high stage of initiation of the group and is, in effect, connected with inter-hierarchical activity. It is a working out into the consciousness of the group members of an event which has taken place within the Ashram of Sanat Kumara, the Hierarchy itself; this takes place through the stimulation of all the Ashrams at a certain Full Moon, and concerns the relation of the Ashrams as a whole to Shamballa, and not to Humanity. |
Y chỉ có thể làm điều này qua phương tiện kinh nghiệm nhóm, trong sự hợp tác với nhóm của mình và khi nhóm—xét như một toàn thể—đã đạt đến một điểm chứng nghiệm tương tự và [Page 271] đã cùng nhau chạm đến rìa của sự mặc khải cao cả nhất trong tất cả các mặc khải dành cho nhân loại. Khi lần đầu tiên họ thành công trong việc này, họ sẽ—như một nhóm—đi vào dưới sự xuất lộ trực tiếp của Ba Đấng Cao Hơn và dưới một phương diện của Phòng Hội Đồng tại Shamballa vốn cho đến nay vẫn chưa được biết đến và chưa được chứng nghiệm. Điều này sẽ hàm ý một giai đoạn điểm đạo cao của nhóm và, trên thực tế, có liên hệ với hoạt động liên Thánh đoàn. Đó là sự khai triển vào trong tâm thức của các thành viên nhóm về một sự kiện đã diễn ra trong Ashram của Đức Sanat Kumara, tức chính Thánh Đoàn; điều này xảy ra qua sự kích thích tất cả các Ashram vào một kỳ Trăng Tròn nhất định, và liên quan đến mối quan hệ của toàn thể các Ashram với Shamballa, chứ không phải với Nhân loại. |
|
Can you grasp something of what I am endeavoring somewhat unsuccessfully to convey? There is an ashramic activity of which disciples know nothing in their brain consciousness until such time as the third initiation has been taken and the results of it are then dimly but increasingly sensed. It is related to the interplay between Shamballa and the Hierarchy, but not between the Hierarchy and Humanity. It concerns the purpose and the plan as the latter is the instrument of the former. The event of realization takes place via the triad formed by a Master and His two senior disciples, or it is formed by three Masters all upon the same ray, as for instance, the Master K.H. and his Ashram, myself and my Ashram and another affiliated Ashram. |
Các bạn có thể nắm bắt phần nào điều tôi đang cố gắng truyền đạt, dù có phần chưa thành công chăng? Có một hoạt động ashram mà các đệ tử không biết gì trong tâm thức não bộ của họ cho đến khi lần điểm đạo thứ ba đã được trải qua, và khi đó các kết quả của nó được cảm nhận lờ mờ nhưng ngày càng tăng. Nó liên quan đến sự tương tác giữa Shamballa và Thánh Đoàn, chứ không phải giữa Thánh Đoàn và Nhân loại. Nó liên quan đến mục đích và Thiên Cơ, vì cái sau là khí cụ của cái trước. Sự kiện chứng nghiệm diễn ra qua tam nguyên được hình thành bởi một Chân sư và hai đệ tử cao cấp của Ngài, hoặc được hình thành bởi ba Chân sư đều ở trên cùng một cung, như chẳng hạn Chân sư K.H. và Ashram của Ngài, chính tôi và Ashram của tôi, cùng một Ashram liên kết khác. |
|
It is for this reason that in all exoteric groups connected with an Ashram, there is always a group leader and two others who are the reflection or the correspondence to the higher triad. This is part of the externalization of the Hierarchy which is proceeding rapidly at this time. |
Chính vì lý do này mà trong tất cả các nhóm ngoại môn có liên hệ với một Ashram, luôn luôn có một người lãnh đạo nhóm và hai người khác, là sự phản chiếu hay sự tương ứng với tam nguyên cao hơn. Điều này là một phần của Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn, đang diễn tiến nhanh chóng vào lúc này. |
|
The importance of understanding the function of triangles is a prime necessity. A hint lies here for students in the political realm, where every country, under differing names, has its chosen ruler, and its ministers responsible for home affairs (or interior relations), and its foreign secretary, responsible for exoteric relationships. [Page 272] |
Việc thấu hiểu chức năng của các tam giác là một nhu cầu hàng đầu. Ở đây có một gợi ý cho các đạo sinh trong lĩnh vực chính trị, nơi mỗi quốc gia, dưới những tên gọi khác nhau, đều có vị cai trị được chọn của mình, cùng các bộ trưởng phụ trách nội vụ, hay các quan hệ bên trong, và ngoại trưởng phụ trách các mối quan hệ ngoại môn. [Page 272] |
|
One further point anent the Buddhas of Activity might here be of interest. Each of Them has a special relation to the three races which have been or are strictly human: these are the third, the fourth and the fifth root-races which we call the Lemurian, the Atlantean and the present Aryan race (I do not use the word “Aryan” in the manner of the German race). In some peculiar manner, They represent in Shamballa the soul of each of these three races. One thing complicates this question for you, but it is in reality quite simple. The same souls reincarnate in each race, and each soul therefore comes in turn under the influence of each of the three Buddhas, each of Whom is of a quality different to that of his two Associates. They represent—in Their lowest aspect—the three aspects of the mind, as I earlier said. There is: |
Một điểm nữa liên quan đến các Đức Phật Hoạt Động có thể đáng quan tâm ở đây. Mỗi Ngài có một mối liên hệ đặc biệt với ba giống dân đã hoặc đang là nhân loại đúng nghĩa: đó là giống dân gốc thứ ba, thứ tư và thứ năm, mà chúng ta gọi là giống dân Lemuria, Atlantis và giống dân Arya hiện nay (Tôi không dùng từ “Arya” theo cách của chủng tộc Đức). Theo một cách đặc biệt nào đó, Các Ngài đại diện trong Shamballa cho linh hồn của mỗi trong ba giống dân này. Có một điều làm vấn đề này trở nên phức tạp đối với các bạn, nhưng trên thực tế nó khá đơn giản. Cùng những linh hồn ấy tái sinh trong mỗi giống dân, và vì thế mỗi linh hồn lần lượt đi vào dưới ảnh hưởng của từng vị trong ba Đức Phật, mỗi Ngài có một phẩm tính khác với hai Đấng Cộng Sự của mình. Như tôi đã nói trước đây, Các Ngài đại diện—trong phương diện thấp nhất của Các Ngài—cho ba phương diện của trí tuệ. Có: |
|
1. The instinctual nature as it develops into the mind nature and makes a transition into an automatic, subconscious character and—at the same time—assumes some of its paralleling higher qualities. |
1. Bản chất bản năng khi nó phát triển thành bản chất trí tuệ và chuyển tiếp vào một tính cách tự động, tiềm thức, đồng thời khoác lấy một số phẩm tính cao hơn tương ứng với nó. |
|
2. The lower concrete mind in its more developed stage, as it gradually assumes control and supersedes instinct in the consciousness of man. The Buddhas of Activity preside over what might be called (using a technical, occult term) the ahamkara principle—the mind as it serves the selfish interests of man and enables man thereby to achieve a sense of proportion and a finer estimate of values. Forget not that selfishness is a stage of unfoldment, and that it is a necessary stage whereby humanity learns the price of self-interest. |
2. Hạ trí cụ thể trong giai đoạn phát triển hơn của nó, khi nó dần dần nắm quyền kiểm soát và thay thế bản năng trong tâm thức con người. Các Đức Phật Hoạt Động chủ trì điều có thể được gọi là, dùng một thuật ngữ huyền bí chuyên môn, nguyên khí ngã chấp—thể trí khi nó phụng sự các lợi ích ích kỷ của con người, và nhờ đó giúp con người đạt được Ý thức về tỉ lệ cùng một sự đánh giá tinh tế hơn về các giá trị. Đừng quên rằng tính ích kỷ là một giai đoạn của sự khai mở, và đó là một giai đoạn cần thiết nhờ đó nhân loại học được cái giá của tư lợi. |
|
3. The personality mind. This assumes control over the man and leads him to prove the nature of power and of success and—above all else—of integration. This too is a necessary phase and precedes a stage of awakening. |
3. Trí phàm ngã. Điều này nắm quyền kiểm soát con người và dẫn y đến việc chứng nghiệm bản chất của quyền năng, của thành công và—trên hết mọi điều—của sự tích hợp. Điều này cũng là một giai đoạn cần thiết và đi trước một giai đoạn thức tỉnh. |
|
These three great Lives Who have associated Themselves with the Lord of the World might be regarded as constituting aspects of His personality, though this is not technically [Page 273] so. The name Sanat Kumara is not His true name; it is only the first letter of that name which is known only to the Masters, whilst the second letter is known only to the Chohans. The first syllable of His name is known in the Council Chamber at Shamballa, but the rest of His name remains unknown as yet. The three Buddhas of Activity are to the planetary Logos (to give you another definition) what the Spiritual Triad is to the dedicated personality of the initiated disciple, for such is the spiritual status of the planetary Logos; the one of the three Buddhas now coming into activity is the one Who works through the spiritual will. |
Ba Sự Sống vĩ đại này, những Đấng đã liên kết Chính Các Ngài với Đức Chúa Tể Thế Giới, có thể được xem như cấu thành các phương diện của phàm ngã Ngài, dù điều này không đúng về mặt chuyên môn [Page 273] như vậy. Danh xưng Sanat Kumara không phải là danh xưng chân thật của Ngài; đó chỉ là chữ cái đầu tiên của danh xưng ấy, vốn chỉ các Chân sư biết, trong khi chữ cái thứ hai chỉ các Chohan biết. Âm tiết đầu tiên trong danh xưng của Ngài được biết trong Phòng Hội Đồng tại Shamballa, nhưng phần còn lại của danh xưng Ngài cho đến nay vẫn chưa được biết. Ba Đức Phật Hoạt Động đối với Đức Hành Tinh Thượng Đế, nói theo một định nghĩa khác, cũng như Tam Nguyên Tinh Thần đối với phàm ngã đã thánh hiến của người đệ tử được điểm đạo, vì đó là địa vị tinh thần của Đức Hành Tinh Thượng Đế; một trong ba Đức Phật hiện đang đi vào hoạt động là Đấng hoạt động qua ý chí tinh thần. |
|
Within the body of the planetary Logos humanity is slowly building that which they call the antahkarana; this is, in reality, the linking thread between the head center of Sanat Kumara and His heart center. Ponder on these words. There is a mystery involved here and it is little that I can do to make it clearer. As humanity builds or creates the triangles of light and of goodwill, they are in reality invoking a response activity from two of the Buddhas of Activity—the One Who works through the medium of the will aspect, and the One Who works through love in humanity, intelligently applied. Forget not that these three great Buddhas summarize in a peculiar sense the transmuted essence of the previous solar system in which intelligent activity was the goal. Today, that essence underlies all the activity of this solar system but is motivated by love, which was not the case in the earlier manifestation. The Buddhas Themselves form a deeply esoteric Triangle. |
Trong thể của Hành Tinh Thượng đế, nhân loại đang chậm rãi xây dựng điều mà họ gọi là antahkarana; trong thực tại, đây là sợi dây liên kết giữa trung tâm đầu của Đức Sanat Kumara và trung tâm tim của Ngài. Hãy suy ngẫm về những lời này. Ở đây có liên quan đến một huyền nhiệm, và tôi chỉ có thể làm rất ít để khiến nó sáng tỏ hơn. Khi nhân loại xây dựng hay tạo nên các tam giác ánh sáng và thiện chí, trong thực tại họ đang khẩn cầu một hoạt động đáp ứng từ hai trong số các Đức Phật Hoạt Động — Đấng hoạt động qua trung gian của phương diện ý chí, và Đấng hoạt động qua tình thương trong nhân loại, được áp dụng một cách thông minh. Đừng quên rằng ba Đức Phật vĩ đại này, theo một ý nghĩa đặc biệt, tổng hợp tinh hoa đã được chuyển hoá của hệ mặt trời trước kia, trong đó hoạt động thông minh là mục tiêu. Ngày nay, tinh hoa ấy nằm bên dưới mọi hoạt động của hệ mặt trời này, nhưng được thúc đẩy bởi tình thương, điều vốn không phải như vậy trong lần biểu hiện trước. Chính các Đức Phật ấy hợp thành một Tam giác huyền bí sâu xa. |
|
The two types of triangles now being created by a mere handful of people are related to that basic triangle. A third type of triangle will at some much later date be constructed but only when these two earlier types are well established in the consciousness of humanity. Then the activity of all the three Buddhas will be involved and present, and a major planetary integration will take place. This is symbolized in man when the three centers in the head (the ajna center, the brahmarandra, center, and the alta major center) are [Page 274] all functioning and unshakably related, thereby constituting a triangle of light within the head. |
Hai loại tam giác hiện đang được tạo ra bởi chỉ một nhóm rất nhỏ người có liên hệ với tam giác căn bản ấy. Một loại tam giác thứ ba sẽ được kiến tạo vào một thời điểm muộn hơn rất nhiều, nhưng chỉ khi hai loại trước đó đã được thiết lập vững chắc trong tâm thức của nhân loại. Khi ấy, hoạt động của cả ba Đức Phật sẽ có mặt và tham dự, và một sự tích hợp hành tinh lớn lao sẽ diễn ra. Điều này được tượng trưng nơi con người khi ba trung tâm trong đầu, tức trung tâm ajna, trung tâm đỉnh đầu, và trung tâm alta major, đều [Page 274] hoạt động và liên hệ với nhau một cách bất lay chuyển, nhờ đó tạo thành một tam giác ánh sáng bên trong đầu. |
|
From the triangles now being created and those later to be assembled, the Buddhas of Activity will extract that essential quality (at present very rarely to be found) which will go to the building of this aspect of the planetary antahkarana. |
Từ các tam giác hiện đang được tạo ra và những tam giác về sau sẽ được kết hợp lại, các Đức Phật Hoạt Động sẽ rút ra phẩm tính thiết yếu ấy, hiện nay rất hiếm khi tìm thấy, vốn sẽ góp vào việc xây dựng phương diện này của antahkarana hành tinh. |
|
The triangles of light and of goodwill are essentially invocative. They constitute the A.B.C. of the coming Science of Invocation. Their strength is dependent upon the depth of feeling in the one case, and the strength of the will in the other, with which they are created. I have here given those disciples who are launching this new project which is so close to my heart a new and useful hint. This work must go on. It is because the entire concept is so new and different to anything hitherto projected that it seems so impossible of achievement; the triangles project has its incentive in such highly esoteric sources that some disciples regard the work as exceedingly difficult and thus complicate, by their thinking, its essential simplicity; others regard it as the simplest thing in the world, and by an emphasis upon the exoteric and the organizational angle, they again hinder the true type of triangle being created. Disciples need to be aware of the true proposed plan and find ways to make clear the middle position between the difficulties brought forward and the simplicities which distort. |
Các tam giác ánh sáng và thiện chí, về bản chất, mang tính khẩn cầu. Chúng cấu thành những bước căn bản của Khoa Học Khẩn Cầu sắp đến. Sức mạnh của chúng tùy thuộc vào chiều sâu cảm xúc trong một trường hợp, và sức mạnh của ý chí trong trường hợp kia, qua đó chúng được tạo nên. Ở đây, tôi đã trao cho những đệ tử đang khởi xướng dự án mới này, vốn rất gần gũi với tâm huyết của tôi, một gợi ý mới và hữu ích. Công việc này phải tiếp tục. Chính vì toàn bộ quan niệm này quá mới mẻ và khác biệt với bất cứ điều gì từng được phóng chiếu trước đây, nên nó dường như không thể thành tựu; dự án tam giác có động lực từ những nguồn huyền bí cao đến mức một số đệ tử xem công việc này là hết sức khó khăn, và do đó, bằng tư tưởng của mình, họ làm phức tạp sự giản dị thiết yếu của nó; những người khác lại xem đó là điều giản dị nhất trên đời, và bằng cách nhấn mạnh vào phương diện ngoại môn và tổ chức, họ một lần nữa cản trở loại tam giác chân thực đang được tạo ra. Các đệ tử cần ý thức về Thiên Cơ chân thực đã được đề xuất và tìm những phương cách để làm sáng tỏ lập trường trung đạo giữa những khó khăn được nêu ra và những sự giản dị làm sai lệch. |
|
Perhaps I may help to clarify somewhat the minds responsible for the initial steps in this deeply esoteric enterprise. It is different to the intellectual and practical work which the men and women of goodwill are asked to do and will do; it is not what some earnest people regard as goodwill work or a phase of the goodwill work. The forming of triangles of light and of goodwill concerns the reservoir of energy upon the inner and etheric side of life which will automatically and with full circulatory effect enable the exoteric work of the men and women of goodwill to make progress. It is not goodwill per se, but the creation of triangles of energy within the etheric body of the planet which [Page 275] are deliberately qualified by goodwill. The two phases of the work are necessarily complementary to each other but must not be regarded as one. The triangles of light must be qualified by or become the agents of goodwill, and the two groups are closely interrelated. The men and women of goodwill need know nothing of these triangles unless it is deemed wise and they are individually advanced enough to react correctly, but their work along the lines of goodwill will be successful or non-successful (I speak from the long range view) according to the intensity of purpose and the depth of love demonstrated by the two groups of triangle members. |
Có lẽ tôi có thể giúp làm sáng tỏ phần nào thể trí của những người chịu trách nhiệm về các bước đầu tiên trong công cuộc huyền bí sâu xa này. Nó khác với công việc trí tuệ và thực tiễn mà những người nam và nữ thiện chí được yêu cầu làm và sẽ làm; nó không phải là điều mà một số người tha thiết xem là công việc thiện chí hay một giai đoạn của công việc thiện chí. Việc hình thành các tam giác ánh sáng và thiện chí liên quan đến kho dự trữ năng lượng ở mặt bên trong và dĩ thái của sự sống, vốn sẽ tự động và với hiệu quả tuần hoàn đầy đủ giúp cho công việc ngoại môn của những người nam và nữ thiện chí tiến triển. Nó không phải là chính thiện chí, mà là việc tạo ra các tam giác năng lượng trong thể dĩ thái của hành tinh, những tam giác [Page 275] được chủ ý thấm nhuần phẩm tính thiện chí. Hai giai đoạn của công việc tất yếu bổ sung cho nhau, nhưng không được xem là một. Các tam giác ánh sáng phải được phẩm định bởi thiện chí hoặc trở thành tác nhân của thiện chí, và hai nhóm này liên hệ mật thiết với nhau. Những người nam và nữ thiện chí không cần biết gì về các tam giác này, trừ phi điều đó được xem là khôn ngoan và họ, với tư cách cá nhân, đã tiến đủ xa để phản ứng đúng đắn; nhưng công việc của họ theo các đường lối thiện chí sẽ thành công hay không thành công, tôi nói theo tầm nhìn dài hạn, tùy theo cường độ của mục đích và chiều sâu của tình thương được biểu lộ bởi hai nhóm thành viên tam giác. |
|
Those responsible for the creative work upon the outer field must begin with the esoteric work. I am writing here for disciples, some of whom are members of my Ashram, and for the New Group of World Servers; these are responsible for carrying forward the work as planned. The two groups of triangles already formed are in reality building a thought-form anent this work which will evoke response from the true builders. |
Những người chịu trách nhiệm về công việc sáng tạo trên lĩnh vực bên ngoài phải bắt đầu với công việc huyền bí. Ở đây tôi viết cho các đệ tử, một số là thành viên trong ashram của tôi, và cho Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian; họ chịu trách nhiệm xúc tiến công việc như đã được hoạch định. Hai nhóm tam giác đã được hình thành trong thực tại đang xây dựng một hình tư tưởng liên quan đến công việc này, hình tư tưởng ấy sẽ gợi lên đáp ứng từ các đấng kiến tạo chân chính. |
|
It will be apparent to you, therefore, that this creative work, with its intelligent and practical purposes and its ability when rightly functioning to unite the exoteric and the esoteric workers in one spiritual undertaking, originates in reality in Shamballa itself and was grasped—as to intent and purpose—by Masters upon the first and second rays, though primarily the second ray disciple and Master understood it the most easily. Later, when steady and systematic work has been done, and the idea is familiar to the public, this activity Will form an important part of the new world religion and be better understood; it will have its own inner group who will work entirely subjectively, building the triangles of light and of goodwill, and then will work objectively, directing the activities of those who are building the organizational aspect of triangles of practical goodwill on Earth with an effective subsidiary activity. |
Do đó, các bạn sẽ thấy rõ rằng công việc sáng tạo này, với các mục đích thông minh và thực tiễn của nó, cùng khả năng của nó, khi vận hành đúng đắn, nhằm hợp nhất những người hoạt động ngoại môn và huyền bí trong một công cuộc tinh thần duy nhất, trong thực tại bắt nguồn từ chính Shamballa và đã được các Chân sư thuộc cung một và cung hai nắm bắt về ý định và mục đích, dù trước hết đệ tử và Chân sư cung hai thấu hiểu nó dễ dàng nhất. Về sau, khi công việc đều đặn và có hệ thống đã được thực hiện, và ý tưởng này trở nên quen thuộc với công chúng, hoạt động này sẽ hợp thành một phần quan trọng của tôn giáo thế giới mới và sẽ được thấu hiểu tốt hơn; nó sẽ có nhóm bên trong riêng, những người sẽ làm việc hoàn toàn về mặt chủ quan, xây dựng các tam giác ánh sáng và thiện chí, rồi sau đó sẽ làm việc khách quan, điều hướng các hoạt động của những người đang xây dựng phương diện tổ chức của các tam giác thiện chí thực tiễn trên Trái Đất, với một hoạt động phụ trợ hữu hiệu. |
|
That time is not yet. Today we have the creation of a general thought-form or the germinating of the seed of an [Page 276] idea. Later, when the true outer work begins, its potency will be objectively demonstrated because the Buddhas of Activity will gradually become aware of the existence of the thought-form in its nature of light and its quality of goodwill. They will then pour of Their life into it as need arises and emergency decrees. Then gradually “the will of God will hold sway,” as our injunction expresses it. Paralleling all this will be the work of the men and women of goodwill throughout the world, but in itself entirely objective—worldwide and amazingly useful. |
Thời điểm ấy chưa đến. Ngày nay, chúng ta có sự tạo lập một hình tư tưởng tổng quát, hay sự nảy mầm của hạt giống một [Page 276] ý tưởng. Về sau, khi công việc bên ngoài chân thực bắt đầu, quyền năng của nó sẽ được biểu lộ một cách khách quan, bởi các Đức Phật Hoạt Động sẽ dần dần nhận biết sự hiện hữu của hình tư tưởng ấy trong bản chất ánh sáng và phẩm tính thiện chí của nó. Khi ấy, các Ngài sẽ tuôn sự sống của Các Ngài vào đó khi nhu cầu phát sinh và tình thế khẩn cấp đòi hỏi. Rồi dần dần “Ý Chí của Thượng Đế sẽ nắm quyền chi phối,” như huấn thị của chúng ta diễn đạt. Song hành với tất cả điều này sẽ là công việc của những người nam và nữ thiện chí trên khắp thế giới, nhưng tự nó hoàn toàn khách quan, mang tính toàn cầu và hữu ích một cách đáng kinh ngạc. |
|
Disciples need to learn to think in terms of group synthesis. This implies the achieving by them of deepened subjective relationships and increased sensitivity to the higher impression and the inner inspiration. The vertical life of the spirit and the horizontal life of relationship must be expressed simultaneously in some measure, before the significance of these Rules can be somewhat grasped. |
Các đệ tử cần học suy nghĩ theo sự tổng hợp nhóm. Điều này hàm ý việc họ đạt được những mối liên hệ chủ quan sâu sắc hơn và sự nhạy bén gia tăng đối với ấn tượng cao siêu hơn cùng cảm hứng bên trong. Đời sống thẳng đứng của tinh thần và đời sống ngang của mối liên hệ phải được biểu lộ đồng thời trong một mức độ nào đó, trước khi thâm nghĩa của các Quy luật này có thể phần nào được nắm bắt. |
|
We have been considering Shamballa, and I have given you some information (hitherto not communicated in words) re the Council Chamber of Sanat Kumara and of Those Who constitute its membership. I would pause here to remind you of two facts: |
Chúng ta đã xem xét Shamballa, và tôi đã trao cho các bạn một số thông tin, cho đến nay chưa được truyền đạt bằng lời, liên quan đến Phòng Hội Đồng của Đức Sanat Kumara và của Những Đấng hợp thành thành viên của phòng ấy. Ở đây tôi muốn dừng lại để nhắc các bạn về hai sự kiện: |
|
1. Shamballa is a state of consciousness or a phase of sensitive awareness wherein there is acute and dynamic response to divine purpose—a response made possible by the synthesis of purpose and of spiritual relationship which exists between Those Who are associated with Sanat Kumara. |
1. Shamballa là một trạng thái tâm thức hay một giai đoạn của nhận biết nhạy bén, trong đó có sự đáp ứng sắc bén và năng động đối với Thiên Ý — một đáp ứng được làm cho khả hữu nhờ sự tổng hợp của mục đích và của mối liên hệ tinh thần hiện hữu giữa Những Đấng liên kết với Đức Sanat Kumara. |
|
2. Brotherhood, as it essentially is, constitutes a major mystery; also it is one which is only in process of solving, and that only on the two higher levels of the cosmic physical plane—those levels which we call the logoic and the monadic. |
2. Tình huynh đệ, xét theo bản chất cốt yếu của nó, cấu thành một huyền nhiệm lớn; đồng thời, đó là một huyền nhiệm chỉ đang trong tiến trình được giải quyết, và điều đó chỉ diễn ra trên hai cấp độ cao hơn của cõi hồng trần vũ trụ — những cấp độ mà chúng ta gọi là thượng đế và chân thần. |
|
I am aware that you understand brotherhood in terms of the One Father and His children. That understanding is in itself so limited and inaccurate that it serves mainly to distort the truth; yet all that you can grasp at this time is [Page 277] embodied in this concept. The nearest description of the true relationship might be said to be as follows: Brotherhood is an expression of the relation which the planetary Logos (on the cosmic mental plane) bears to His Personality as it expresses itself through the planet with all its forms of life, upon the cosmic physical plane; this relationship is focused through Sanat Kumara Who is the individualized Mind of that great Life. Wording it otherwise, the planetary Logos on His Own plane is to Sanat Kumara what the soul is to the human personality upon the physical plane in the three worlds. The sum total of the relation and of the relationships set up is, therefore, inadequately covered by the word “brotherhood”. “Fellowship,” so frequently used to express a similar idea, is in reality the mode whereby a dimly sensed brotherhood seeks to make its presence felt. The words “the fellowship of Christ” indicate the emergence of this concept subjectively upon the mental plane; this will be followed, as time elapses, by concrete manifestation upon the physical plane. It is this idea which lies behind the glibly used words “idea, ideal and idol,” and which is also responsible for the growing sense of responsibility which characterizes all human advancement upon the way of life. It is this basic idea which governs the Council Chamber at Shamballa and which constitutes the motivating impulse behind the planetary expression of livingness. It is this also which characterizes the ideal for which the Hierarchy stands and which implements the Plan; it is this spiritual planning which results in the growing “forms of relationship” which today seem to be taking definite shape in the concretizing of the divine project: Right Human Relations. |
Tôi biết rằng bạn hiểu tình huynh đệ theo nghĩa Người Cha Duy Nhất và các con của Ngài. Sự thấu hiểu ấy, tự nó, quá giới hạn và thiếu chính xác đến nỗi chủ yếu chỉ làm sai lệch chân lý; tuy vậy, tất cả những gì bạn có thể nắm bắt vào lúc này đều [Trang 277] được hàm chứa trong quan niệm ấy. Cách mô tả gần nhất về mối quan hệ chân thật có thể được nói như sau: Tình huynh đệ là một biểu hiện của mối liên hệ mà Đức Hành Tinh Thượng đế, trên cõi trí vũ trụ, có với Phàm ngã của Ngài khi phàm ngã ấy biểu hiện qua hành tinh cùng mọi hình tướng sự sống của nó, trên cõi hồng trần vũ trụ; mối quan hệ này được tập trung qua Đức Sanat Kumara, Đấng là Trí đã biệt ngã hóa của Sự Sống vĩ đại ấy. Nói cách khác, Đức Hành Tinh Thượng đế trên cõi riêng của Ngài đối với Đức Sanat Kumara cũng như linh hồn đối với phàm ngã con người trên cõi hồng trần trong ba cõi giới. Vì vậy, toàn bộ mối liên hệ và các mối quan hệ được thiết lập chỉ được bao quát một cách bất toàn bằng từ “tình huynh đệ”. “Tình hiệp thông,” vốn thường được dùng để diễn tả một ý tưởng tương tự, thật ra là phương thức qua đó một tình huynh đệ còn được cảm nhận lờ mờ tìm cách làm cho sự hiện diện của nó được nhận biết. Những từ “sự hiệp thông của Đức Christ” chỉ sự xuất lộ của quan niệm này một cách nội tại trên cõi trí; theo thời gian, điều này sẽ được tiếp nối bằng sự biểu hiện cụ thể trên cõi hồng trần. Chính ý tưởng này nằm sau những từ được dùng một cách trơn tru là “ý tưởng, lý tưởng và ngẫu tượng,” và cũng chính nó chịu trách nhiệm cho ý thức trách nhiệm ngày càng tăng, vốn đặc trưng cho mọi bước tiến của nhân loại trên con đường sự sống. Chính ý tưởng nền tảng này chi phối Phòng Hội Đồng tại trung tâm tối cao của hành tinh và cấu thành xung lực thúc đẩy đằng sau biểu hiện hành tinh của tính sống động. Cũng chính điều này đặc trưng cho lý tưởng mà Thánh Đoàn đại diện và nhờ đó Thiên Cơ được thực thi; chính sự hoạch định tinh thần này đưa đến những “hình tướng quan hệ” ngày càng tăng, mà ngày nay dường như đang mang hình dạng rõ rệt trong sự cụ thể hóa dự án thiêng liêng: Những Mối Quan Hệ Đúng Đắn giữa Người với Người. |
|
I have written these opening remarks because it is this elevated understanding of brotherhood which conditions divine purpose and which leads to the spiritual planning that will give you the clue to the third major injunction, with this we shall now deal. |
Tôi đã viết những nhận xét mở đầu này vì chính sự thấu hiểu cao cả về tình huynh đệ ấy tác động lên Thiên Ý và dẫn đến sự hoạch định tinh thần, điều sẽ trao cho bạn manh mối về huấn thị chính yếu thứ ba, mà giờ đây chúng ta sẽ bàn đến. |
|
This injunction is worded as follows: |
Huấn thị này được diễn đạt như sau: |
|
5. Let Transfiguration follow Transformation, and may Transmutation disappear. [Page 278] |
5. Hãy để Biến hình tiếp nối Chuyển đổi, và mong sao Chuyển hoá biến mất. [Trang 278] |
|
I would here remind you that in these fourteen rules we must approach our theme from the angle of the initiate-consciousness and not from that of the blended soul-personality consciousness. It is the higher approach which is here indicated, the problem of the initiate-group and not that of the individual within the group. Hence the great difficulty in putting any of these teachings into words. To the average aspirant to accepted discipleship, the three words which distinguish this third major injunction (but which symbolically constitute the fifth injunction in the rule) might be defined as follows: The ideas conveyed are those of an aspirant to the Mysteries as he faces initiation. Let us take these words in the order given in Rule XIII. |
Ở đây, tôi muốn nhắc bạn rằng trong mười bốn quy luật này, chúng ta phải tiếp cận chủ đề từ góc độ tâm thức điểm đạo đồ, chứ không phải từ tâm thức linh hồn-phàm ngã đã hòa hợp. Chính cách tiếp cận cao hơn được chỉ ra ở đây, vấn đề của nhóm điểm đạo đồ chứ không phải của cá nhân trong nhóm. Do đó có khó khăn rất lớn trong việc đưa bất kỳ giáo huấn nào trong những giáo huấn này vào ngôn từ. Đối với người chí nguyện trung bình hướng tới địa vị đệ tử được chấp nhận, ba từ phân biệt huấn thị chính yếu thứ ba này, nhưng về mặt biểu tượng lại cấu thành huấn thị thứ năm trong quy luật, có thể được định nghĩa như sau: Những ý tưởng được truyền đạt là của một người chí nguyện hướng tới các Huyền nhiệm khi y đối diện với điểm đạo. Chúng ta hãy xét những từ này theo thứ tự được nêu trong Quy luật mười ba. |
|
1. Transfiguration—that stage upon the Path of Initiation wherein the third initiation is undergone, wherein the personality is irradiated by the full light of the soul and the three personality vehicles are completely transcended; they have become simply forms through which spiritual love may flow out into the world of men in the salvaging task of creation. |
1. Biến hình—là giai đoạn trên Con Đường Điểm Đạo, trong đó lần điểm đạo thứ ba được trải qua, trong đó phàm ngã được chiếu rạng bởi trọn ánh sáng của linh hồn và ba hiện thể phàm ngã được vượt lên hoàn toàn; chúng đã trở thành đơn thuần những hình tướng mà qua đó bác ái tinh thần có thể tuôn chảy vào thế giới loài người trong nhiệm vụ cứu vớt của cuộc sáng tạo. |
|
2. Transformation—the evolutionary process which is carried on upon the Path of Discipleship, in which the disciple transforms his lower threefold “appearance” or personality and begins to display divine “quality.” His physical body becomes obedient to the dictates of his mind, which is becoming responsive to the higher mind through the medium of the soul; his emotional nature becomes the receptacle of buddhi or of the intuition; then, after the third initiation it disappears altogether, and the buddhic vehicle becomes the main instrument of sentiency. The mind, in due course, is equally transformed by impression from the higher mind, as it endeavors to implement the will nature of the Monad. |
2. Chuyển đổi—là tiến trình thăng thượng tiến hoá được thực hiện trên Con Đường Đệ Tử, trong đó đệ tử chuyển đổi “sắc tướng” tam phân thấp hay phàm ngã của y, và bắt đầu biểu lộ “phẩm tính” thiêng liêng. Thể xác của y trở nên vâng phục các mệnh lệnh của thể trí, vốn đang trở nên đáp ứng với thượng trí qua trung gian của linh hồn; bản chất cảm xúc của y trở thành nơi tiếp nhận Bồ đề hay trực giác; rồi, sau lần điểm đạo thứ ba, nó hoàn toàn biến mất, và hiện thể Bồ đề trở thành công cụ chính của năng lực cảm nhận. Theo thời gian, thể trí cũng được chuyển đổi như vậy bởi ấn tượng từ thượng trí, khi nó nỗ lực thực thi bản chất ý chí của chân thần. |
|
3. Transmutation—the method whereby that which is lower is absorbed by the higher, whereby force is transmuted into energy, whereby the energy of the three lower centers is carried up into the three higher centers (head, heart and throat) and which later enables the initiate to [Page 279] centralize all the energies in the three directing centers, in the head. This transmuting process goes forward under the pressure of daily life experience, under the magnetic effect of soul contact, and as the inevitable result of evolution itself. |
3. Chuyển hoá—là phương pháp nhờ đó cái thấp được hấp thụ bởi cái cao, nhờ đó mãnh lực được chuyển hoá thành năng lượng, nhờ đó năng lượng của ba trung tâm thấp được đưa lên ba trung tâm cao hơn, gồm đầu, tim và cổ họng, và về sau giúp điểm đạo đồ có thể [Trang 279] tập trung mọi năng lượng vào ba trung tâm điều khiển trong đầu. Tiến trình chuyển hoá này tiếp diễn dưới áp lực của kinh nghiệm đời sống hằng ngày, dưới hiệu ứng từ tính của sự tiếp xúc linh hồn, và như kết quả tất yếu của chính tiến hoá. |
|
All these three spiritualizing processes are well known, in theory at least, to all spiritual aspirants; they are expressions of soul-personality intention and effective interplay; they also constitute a paralleling activity to the task of building the antahkarana, as modes of alignment play a large part in the process of transmutation. |
Cả ba tiến trình tinh thần hóa này, ít nhất về mặt lý thuyết, đều rất quen thuộc với mọi người chí nguyện tinh thần; chúng là những biểu hiện của ý định linh hồn-phàm ngã và của sự tương tác hữu hiệu; chúng cũng cấu thành một hoạt động song hành với nhiệm vụ xây dựng antahkarana, vì các phương thức chỉnh hợp giữ một vai trò lớn trong tiến trình chuyển hoá. |
|
It is not, however, with these attitudes, processes and interpretations that the initiate is concerned, but with the significance of these processes in terms of the completed antahkarana and from the point of view of the “angle of intention” of the Monad. In other words: What do Transfiguration and Transformation signify to Members of the Hierarchy as They face the Way of the Higher Evolution? What can these words imply to Those for Whom the soul, the mediating principle, no longer has any factual significance? |
Tuy nhiên, điểm đạo đồ không quan tâm đến những thái độ, tiến trình và cách diễn giải này, mà quan tâm đến thâm nghĩa của các tiến trình ấy xét theo antahkarana đã hoàn tất và từ quan điểm “góc độ ý định” của chân thần. Nói cách khác: Biến hình và Chuyển đổi có ý nghĩa gì đối với các Thành viên của Thánh Đoàn khi Các Ngài đối diện với Con đường Tiến Hóa Cao Siêu? Những từ này có thể hàm ý gì đối với những Đấng mà đối với Các Ngài, linh hồn, nguyên khí trung gian, không còn bất kỳ thâm nghĩa thực tế nào nữa? |
|
Consider for a moment that the initiate who has undergone the first major initiation (the Transfiguration) and the two initiations of the threshold (the Birth and Baptism of the Christian Mysteries) has created the antahkarana in order to establish direct relation between the Monad and the personality, between the center of universal awareness or identification and the form-expression in the three worlds. The antahkarana is constructed and constitutes an active channel of contact. The soul which has for ages directed the various and varying personalities is no longer in existence; the causal body has disappeared, shattered at the moment when the initiate (at the fourth initiation) cries out and says: “My God, my God, why hast Thou forsaken me?” The, the spiritual temple “not made with hands, eternal in the Heavens,” is no longer required; it has served its ancient purpose, and that which has been deemed eternal must disappear in the light of [Page 280] That to which eternity is only a phase of that which shall later be revealed. All that now remains for the initiate are the two points of living purpose to which we give the names of spirit-matter or life-appearance. The lesson ahead of the initiate is to realize the inner meaning (not the obvious and easily grasped meaning) that spirit is matter at its highest point, and matter is spirit at its lowest. This involves the free interplay of life-energy, consciously applied as the result of agelong processes, and matter-force, via the antahkarana. The “rainbow bridge” becomes a channel for the impact of monadic or life energy upon substance, so that substance, taking form under the cyclic intention of the planetary Logos, may become increasingly colored or qualified by the energy of universality. You can see from the above somewhat involved sentences how inadequate is language to express the understanding and the intention of the Hierarchy. |
Hãy xét trong chốc lát rằng điểm đạo đồ đã trải qua lần điểm đạo chính yếu thứ nhất, tức Biến hình, và hai cuộc điểm đạo ở ngưỡng cửa, tức Sự Giáng Sinh và Phép Rửa trong các Huyền nhiệm Kitô giáo, đã tạo dựng antahkarana nhằm thiết lập mối liên hệ trực tiếp giữa chân thần và phàm ngã, giữa trung tâm nhận biết hay đồng nhất vũ trụ và biểu hiện hình tướng trong ba cõi giới. Antahkarana đã được xây dựng và cấu thành một kênh tiếp xúc linh hoạt. Linh hồn, vốn qua nhiều thời đại đã hướng dẫn các phàm ngã đa dạng và biến đổi, nay không còn hiện hữu; thể nguyên nhân đã biến mất, tan vỡ vào khoảnh khắc điểm đạo đồ, ở lần điểm đạo thứ tư, kêu lên và nói: “Thượng đế của con, Thượng đế của con, vì sao Ngài đã bỏ rơi con?” Ngôi đền tinh thần “không do tay người làm nên, vĩnh cửu trên các tầng trời,” không còn cần thiết nữa; nó đã phụng sự mục đích cổ xưa của mình, và điều từng được xem là vĩnh cửu phải biến mất trong ánh sáng của [Trang 280] Điều Ấy mà đối với nó, vĩnh cửu chỉ là một giai đoạn của điều về sau sẽ được mặc khải. Tất cả những gì giờ đây còn lại cho điểm đạo đồ là hai điểm của mục đích sống động mà chúng ta gọi là tinh thần-vật chất hay sự sống-sắc tướng. Bài học trước mắt điểm đạo đồ là nhận ra ý nghĩa bên trong, chứ không phải ý nghĩa hiển nhiên và dễ nắm bắt, rằng tinh thần là vật chất ở điểm cao nhất của nó, và vật chất là tinh thần ở điểm thấp nhất của nó. Điều này bao hàm sự tương tác tự do của năng lượng-sự sống, được áp dụng một cách có ý thức như kết quả của những tiến trình kéo dài qua nhiều thời đại, và mãnh lực-vật chất, thông qua antahkarana. “Cây cầu vồng” trở thành một kênh cho tác động của năng lượng chân thần hay năng lượng sự sống lên chất liệu, để chất liệu, khi mang hình tướng dưới ý định chu kỳ của Đức Hành Tinh Thượng đế, có thể ngày càng được nhuốm màu hoặc được định phẩm bởi năng lượng của tính phổ quát. Từ những câu khá phức tạp trên, bạn có thể thấy ngôn ngữ bất toàn đến mức nào trong việc diễn tả sự thấu hiểu và ý định của Thánh Đoàn. |
|
To the initiate, therefore, the two words, Transfiguration and Transformation, mean something quite different than they mean to a disciple, whilst Transmutation is now meaningless to him, for there is nothing within him which requires transmuting. It might consequently be stated that: |
Vì vậy, đối với điểm đạo đồ, hai từ Biến hình và Chuyển đổi có ý nghĩa hoàn toàn khác với ý nghĩa của chúng đối với một đệ tử, trong khi Chuyển hoá giờ đây không còn ý nghĩa gì đối với y, vì trong y không có gì đòi hỏi phải được chuyển hoá. Do đó có thể phát biểu rằng: |
|
1. Transmutation concerns the expression of the life force upon the three lower planes of human living and evolution. |
1. Chuyển hoá liên quan đến sự biểu hiện của mãnh lực sự sống trên ba cõi thấp của đời sống và tiến hoá nhân loại. |
|
2. Transformation concerns in a most peculiar manner the three aspects of mind upon the mental plane: |
2. Sự chuyển đổi liên quan một cách hết sức đặc biệt đến ba phương diện của trí tuệ trên cõi trí: |
|
a. The lower mind |
a. Hạ trí |
|
b. The son of mind, the soul |
b. Con của Trí Tuệ, tức linh hồn |
|
c. The higher mind. |
c. Thượng trí. |
|
3. Transfiguration concerns the life of the Spiritual Triad upon its own three levels of identification. |
3. Sự Biến hình liên quan đến sự sống của Tam Nguyên Tinh Thần trên ba cấp độ đồng nhất hóa riêng của nó. |
|
To this might be added the fact that: |
Có thể thêm vào đây sự kiện rằng: |
|
1. The three lower planes of transmutation are the dense, liquid and gaseous subplanes of the cosmic physical plane. |
1. Ba cõi thấp của sự chuyển hóa là các cõi phụ đặc, lỏng và khí của cõi hồng trần vũ trụ. |
|
2. The mental plane is a unique location (or state of consciousness) whereon or wherein the lower planes are [Page 281] subjected to impression from the three higher. The higher three and the lower three are subjected to a definitely esoteric and mysterious process, and it is on this plane that the work of transmutation is completed—from the angle of the initiate. |
2. Cõi trí là một vị trí độc nhất, hay một trạng thái tâm thức, nơi đó hoặc trong đó các cõi thấp [Page 281] chịu ấn tượng từ ba cõi cao. Ba cõi cao và ba cõi thấp chịu một tiến trình huyền bí và bí nhiệm xác định, và chính trên cõi này mà công việc chuyển hóa được hoàn tất, xét từ góc độ của điểm đạo đồ. |
|
3. The three planes of the Spiritual Triad are the spheres whereon transformation goes forward. This transformation has naught to do with the transforming of the personality, but is uniquely related to the interior work of the Hierarchy and the effect of this living, developing intensity upon the Members of the Hierarchy. Five planes are therefore involved in these two phases of the divine work. |
3. Ba cõi của Tam Nguyên Tinh Thần là các khối cầu nơi sự chuyển đổi tiến hành. Sự chuyển đổi này không liên quan gì đến việc chuyển đổi phàm ngã, mà liên hệ duy nhất đến công việc nội tại của Thánh Đoàn và ảnh hưởng của cường độ sống động, đang phát triển này đối với các Thành viên của Thánh Đoàn. Do đó, năm cõi liên quan đến hai giai đoạn này của công việc thiêng liêng. |
|
4. The two highest planes (the monadic and the logoic) are the planes of transfiguration, from the point of view of the higher initiate. By then the processes of transmutation have dropped below the threshold of consciousness, and though the initiate (working with forms in the three worlds) has his instrument upon the outer physical plane, his own work and hierarchical activity is strictly triadal and monadic, with a steadily growing responsiveness to logoic intent. |
4. Hai cõi cao nhất, tức cõi chân thần và cõi thượng đế, là các cõi của sự Biến hình, xét từ quan điểm của điểm đạo đồ cao cấp. Đến lúc đó các tiến trình chuyển hóa đã rơi xuống dưới ngưỡng tâm thức, và dù điểm đạo đồ, khi làm việc với các hình tướng trong ba cõi giới, có khí cụ của mình trên cõi hồng trần bên ngoài, công việc riêng và hoạt động Thánh Đoàn của y vẫn thuần túy thuộc Tam Nguyên Tinh Thần và chân thần, với một sự đáp ứng ngày càng tăng đối với ý định của Thượng đế. |
|
Let us now consider the phases of transfiguration and transformation as far as is possible in an exoteric instruction, and “may transmutation disappear” for all disciples as time elapses, and that with speed—owing to the great need today for hierarchical workers. |
Giờ đây chúng ta hãy xem xét các giai đoạn của sự Biến hình và sự chuyển đổi trong chừng mức có thể trong một giáo huấn ngoại môn, và “mong sao sự chuyển hóa biến mất” đối với mọi đệ tử khi thời gian trôi qua, và biến mất nhanh chóng, do nhu cầu lớn lao ngày nay về những người hoạt động của Thánh Đoàn. |
|
It might here be asked: What is the work undertaken by the Masters Themselves upon the three planes of the Spiritual Triad? Students are well aware that many of the Masters are occupied with the evolutionary processes of the various kingdoms in nature in the three lower worlds. They forget that the majority are not so occupied. Have you ever wondered what it is that incites a Master to stay working in the three worlds and with His mind focused upon its evolutionary processes? Have you ever considered what else it might be possible that intrigued and demanded His interest? The self-centered attitude of mankind is inclined to believe that human need, and incidentally the need of the [Page 282] other kingdoms in nature, are all that prompts the Hierarchy to carry on its work of salvaging and stimulation. But that is only a partial estimate of the work which They are doing. In the processes of carrying forward Their work, the consciousness of the Master is being steadily expanded, and this because of the nature of Their work in the three worlds; it necessarily becomes more and more inclusive. That is the effect upon Him, as He works on behalf of humanity or on behalf of the other kingdoms in nature. There is a definite and evolutionary effect. But on the higher three levels of the Spiritual Triad, another type of evolutionary impulse is directing His activities. I have told you elsewhere that consciousness (as we understand it) is being transcended, and a new aspect of universal sentiency is taking its place. To this development I have given the inadequate name of Identification. This is a word which involves consciousness, which invokes the will, which is dynamic in nature, inclusive in contact, and which is also based upon the doctrine of non-separativeness. |
Ở đây có thể nêu câu hỏi: Công việc mà chính các Chân sư đảm nhận trên ba cõi của Tam Nguyên Tinh Thần là gì? Các đạo sinh đều biết rõ rằng nhiều Chân sư đang bận rộn với các tiến trình tiến hóa của những giới khác nhau trong thiên nhiên nơi ba cõi thấp. Họ quên rằng đa số các Ngài không bận rộn như thế. Các bạn có bao giờ tự hỏi điều gì thúc đẩy một Chân sư tiếp tục làm việc trong ba cõi giới và giữ thể trí của Ngài tập trung vào các tiến trình tiến hóa của chúng không? Các bạn có bao giờ nghĩ xem còn điều gì khác có thể lôi cuốn và đòi hỏi sự quan tâm của Ngài không? Thái độ tập trung vào bản thân của nhân loại có khuynh hướng tin rằng nhu cầu của con người, và nhân tiện nhu cầu của [Page 282] các giới khác trong thiên nhiên, là tất cả những gì thúc đẩy Thánh Đoàn tiếp tục công việc cứu vớt và kích thích của mình. Nhưng đó chỉ là một sự đánh giá từng phần về công việc mà các Ngài đang thực hiện. Trong các tiến trình đưa công việc của các Ngài tiến tới, tâm thức của Chân sư đang được mở rộng đều đặn, và điều này là do bản chất công việc của các Ngài trong ba cõi giới; nó tất yếu trở nên ngày càng bao gồm hơn. Đó là ảnh hưởng nơi Ngài, khi Ngài làm việc nhân danh nhân loại hoặc nhân danh các giới khác trong thiên nhiên. Có một ảnh hưởng xác định và mang tính tiến hóa. Nhưng trên ba cấp độ cao của Tam Nguyên Tinh Thần, một loại xung lực tiến hóa khác đang điều khiển các hoạt động của Ngài. Ở nơi khác, tôi đã nói với các bạn rằng tâm thức, như chúng ta hiểu nó, đang được vượt qua, và một phương diện mới của cảm năng phổ quát đang thay thế nó. Tôi đã đặt cho sự phát triển này một tên gọi chưa thỏa đáng là Sự Đồng nhất hóa. Đây là một từ bao hàm tâm thức, khẩn gọi ý chí, có bản chất năng động, bao gồm trong tiếp xúc, và cũng dựa trên giáo lý về tính bất phân ly. |
|
This, however, is only a beginning of an entirely new phase of development; consciousness eventually drops below the level of perception. It becomes as automatic and unregistered in its expression as animal instinct is to the human being. It functions, but the man is not consciously aware of it. It is a protective mechanism. The will aspect of the Monad supersedes but does not negate love (which has become, in its turn, instinctual); a one-pointed, rapier-like assumption of identification takes the place of the inclusiveness hitherto felt and practiced. Perhaps I can convey to you something of what I mean by pointing out that the circle with the point at the center is symbolic of the perfected man. He is rounded out; he is inclusive both vertically (soul contact) and horizontally (human relationship), yet he stands at the center of his consciousness and of its self-imposed ring-pass-not. From thence he never moves, but is aware all the time of all that proceeds within his sphere of influence. Here is the symbol of the Master, from a specific point of attainment. [Page 283] |
Tuy nhiên, đây chỉ là khởi đầu của một giai đoạn phát triển hoàn toàn mới; cuối cùng tâm thức rơi xuống dưới cấp độ tri nhận. Nó trở nên tự động và không được ghi nhận trong biểu hiện của mình, giống như bản năng động vật đối với con người. Nó vận hành, nhưng con người không nhận biết nó một cách hữu thức. Đó là một bộ máy bảo vệ. Phương diện ý chí của chân thần thay thế nhưng không phủ định bác ái, vốn đến lượt nó đã trở thành bản năng; một sự tiếp nhận đồng nhất hóa nhất tâm, sắc bén như mũi kiếm, thay thế cho tính bao gồm mà trước đây đã được cảm nhận và thực hành. Có lẽ tôi có thể truyền đạt cho các bạn phần nào điều tôi muốn nói bằng cách chỉ ra rằng vòng tròn với điểm ở trung tâm là biểu tượng của con người hoàn thiện. Y đã trở nên viên mãn; y bao gồm theo cả chiều dọc, tức tiếp xúc linh hồn, lẫn chiều ngang, tức mối liên hệ nhân loại, nhưng y vẫn đứng ở trung tâm tâm thức của mình và của vòng-giới-hạn do chính mình đặt ra. Từ đó y không bao giờ di chuyển, nhưng luôn luôn nhận biết tất cả những gì diễn ra trong khối cầu ảnh hưởng của mình. Đây là biểu tượng của Chân sư, xét từ một điểm thành tựu đặc thù. [Page 283] |
|
But the Master Himself is not static. His field of work is clear; His realm of contacts—human, subhuman and superhuman—is also clear. Within the ring-pass-not and in the world of sentiency and in relation to the world of loving understanding, He stands the Master. |
Nhưng chính Chân sư không tĩnh tại. Lĩnh vực công việc của Ngài rõ ràng; phạm vi tiếp xúc của Ngài, nhân loại, dưới nhân loại và siêu nhân loại, cũng rõ ràng. Trong vòng-giới-hạn, trong thế giới của cảm năng và trong tương quan với thế giới của sự thấu hiểu đầy bác ái, Ngài đứng đó như Chân sư. |
|
It is at this precise point in time and space that the work of Transformation begins for the Master—a transformation which is brought about by the unfoldment and the development made possible upon the three levels of the Spiritual Triad. As this transformation takes place, a new activity supervenes which finally enables the Master to break through the planetary ring-pass-not, and thus arrive at the door of the Higher Evolution. |
Chính tại điểm chính xác này trong thời gian và không gian mà công việc Chuyển đổi bắt đầu đối với Chân sư, một sự chuyển đổi được tạo nên bởi sự khai mở và phát triển có thể thực hiện trên ba cấp độ của Tam Nguyên Tinh Thần. Khi sự chuyển đổi này diễn ra, một hoạt động mới xuất hiện, cuối cùng giúp Chân sư xuyên phá vòng-giới-hạn hành tinh, và nhờ đó đến được cánh cửa của sự Tiến Hóa Cao Siêu. |
|
What I have now to say may be made somewhat clearer by means of the following symbol. The Master has now penetrated into another cosmic level, but He is still within the aura of the One Life. Now the cosmic astral plane is revealed to Him. He sees the reason why, first of all, sentiency had to be developed; why it had then to be used and mastered and finally had to be completely negated—negated in such a manner that it dropped below the level of consciousness. There is no glamor upon the cosmic astral plane, and only those who have dominated sentient reaction upon all levels of the cosmic physical plane and are completely free from it, can then—through the illumined will and through the power of that mysterious quality (if I may so call a factual expression) of identification—direct the lowest aspect of cosmic desire upon the cosmic astral plane. This necessarily has to be tuned in with that to which they are irrevocably related. This identification is therefore the highest expression of divine purpose upon the cosmic physical plane, even whilst it is the lowest aspect of the cosmic astral desire. Therefore, my brothers, the transformation with which this rule deals is the transformation of consciousness into identification. More than that I may not say. To express the true meaning I have no words or symbols. |
Điều tôi sắp nói nay có thể trở nên phần nào rõ ràng hơn nhờ biểu tượng sau đây. Vị Chân sư nay đã thâm nhập vào một cấp độ vũ trụ khác, nhưng Ngài vẫn còn ở trong hào quang của Sự Sống Duy Nhất. Giờ đây cõi cảm dục vũ trụ được mặc khải cho Ngài. Ngài thấy lý do tại sao, trước hết, cảm năng phải được phát triển; tại sao rồi nó phải được sử dụng và làm chủ, và cuối cùng phải bị phủ định hoàn toàn, bị phủ định theo cách khiến nó rơi xuống dưới cấp độ tâm thức. Không có ảo cảm trên cõi cảm dục vũ trụ, và chỉ những ai đã chế ngự phản ứng cảm năng trên mọi cấp độ của cõi hồng trần vũ trụ và hoàn toàn tự do khỏi nó, bấy giờ mới có thể, thông qua ý chí được soi sáng và thông qua quyền năng của phẩm tính bí nhiệm ấy, nếu tôi có thể gọi một biểu hiện thực tại như vậy, của sự đồng nhất hóa, điều khiển phương diện thấp nhất của dục vọng vũ trụ trên cõi cảm dục vũ trụ. Điều này tất yếu phải được hòa điệu với cái mà các Ngài có liên hệ không thể đảo ngược. Do đó, sự đồng nhất hóa này là biểu hiện cao nhất của Thiên Ý trên cõi hồng trần vũ trụ, ngay cả khi nó là phương diện thấp nhất của dục vọng cảm dục vũ trụ. Các huynh đệ của tôi, do đó, sự chuyển đổi mà quy luật này đề cập đến là sự chuyển đổi tâm thức thành sự đồng nhất hóa. Tôi không thể nói hơn thế. Để diễn đạt ý nghĩa chân thực, tôi không có từ ngữ hay biểu tượng nào. |
|
In this line of approach through identification, the Master builds that of which the spiritual correspondence is [Page 284] the manasic antahkarana. The antahkarana which is now emerging is a projection from the Ashram of a Master; there are, therefore, seven ways into the Way of the Higher Evolution. These seven ways correspond to the seven Ashrams upon the seven Rays; they are related also to the seven initiations, to the seven principles of man, and to all the other many septenates. It is the force of Will, generated by the Master, during the process of |
Trong đường lối tiếp cận này thông qua sự đồng nhất hóa, Chân sư xây dựng điều mà sự tương ứng tinh thần của nó là [Page 284] antahkarana manas. Antahkarana hiện đang xuất hiện là một phóng chiếu từ ashram của một Chân sư; do đó, có bảy con đường dẫn vào Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. Bảy con đường này tương ứng với bảy ashram trên bảy cung; chúng cũng liên hệ với bảy lần điểm đạo, với bảy nguyên khí của con người, và với tất cả nhiều bộ bảy khác. Đó là mãnh lực của Ý Chí, do Chân sư sinh ra, trong tiến trình |
|
1. Attaining the fifth initiation |
1. Đạt đến lần điểm đạo thứ năm |
|
2. Working in the three worlds of creative salvaging |
2. Làm việc trong ba cõi giới của sự cứu vớt sáng tạo |
|
3. Achieving ashramic purpose and consequent group activity |
3. Thành tựu mục đích ashram và hoạt động nhóm hệ quả |
|
4. Manifesting ray energy |
4. Biểu hiện năng lượng cung |
|
5. Demonstrating a faculty which is known only to initiates who have passed beyond the third initiation. |
5. Biểu lộ một năng lực chỉ được biết bởi các điểm đạo đồ đã vượt qua lần điểm đạo thứ ba. |
|
This provides the focused intention which enables the Master to attain what is called transformation, and later, to project the dynamic impulse of His spiritual will in such a manner that He succeeds in piercing the planetary ring-pass-not; He is then given the freedom of the world, and not just the freedom of the worlds. |
Điều này đem lại ý định tập trung, giúp Chân sư đạt được điều gọi là sự chuyển đổi, và về sau phóng chiếu xung lực năng động của ý chí tinh thần của Ngài theo cách khiến Ngài thành công trong việc xuyên thủng vòng-giới-hạn hành tinh; bấy giờ Ngài được ban quyền tự do của thế giới, chứ không chỉ quyền tự do của các cõi giới. |
|
It will be obvious that I am dealing with the subject of the sixth initiation. When this initiation has been consummated, the Chohan then transcends the three worlds of the Spiritual Triad and is focused as a “projecting agent of the Lighted Will” as it expresses itself upon the monadic plane. This stage of unfoldment is in reality the Ascension initiation, the true significance of which will be revealed through the medium of the coming world religion. |
Rõ ràng là tôi đang đề cập đến chủ đề của lần điểm đạo thứ sáu. Khi cuộc điểm đạo này đã hoàn tất, Đấng Chúa Tể khi ấy siêu vượt ba cõi của Tam Nguyên Tinh Thần và được tập trung như một “tác nhân phóng chiếu của Ý Chí được Soi Sáng” khi nó biểu lộ trên cõi chân thần. Giai đoạn khai mở này, trên thực tế, là cuộc điểm đạo Thăng Thiên, mà thâm nghĩa chân thực của nó sẽ được mặc khải thông qua trung gian của tôn giáo thế giới sắp đến. |
|
There then follows, as a result of this, what is called the true Transfiguration. This enables the initiate to function upon the logoic or highest plane of the cosmic physical plane. This—in Christian phraseology—is called the “sitting down upon the right hand of God in Heaven.” There the man who has attained this seventh initiation is transfigured. The first contact comes along the line which he has projected as a result of transformation; it is made with [Page 285] That which has ever over-shadowed Sanat Kumara. The Chohan has now taken the seventh initiation. |
Do kết quả của điều này, tiếp đó diễn ra điều được gọi là cuộc Biến hình chân thực. Điều này giúp điểm đạo đồ hoạt động trên cõi Thượng đế, hay cõi cao nhất của cõi hồng trần vũ trụ. Theo thuật ngữ Kitô giáo, điều này được gọi là “ngồi bên hữu của Thượng đế trên Thiên Đàng.” Ở đó, con người đã đạt đến lần điểm đạo thứ bảy này được biến hình. Tiếp xúc đầu tiên đến theo tuyến mà y đã phóng chiếu như kết quả của sự chuyển đổi; tiếp xúc ấy được thiết lập với [Page 285] Đấng Ấy vốn hằng phủ bóng Đức Sanat Kumara. Đấng Chúa Tể nay đã nhận lần điểm đạo thứ bảy. |
|
6. Let the OM be heard right at the center of the group, proclaiming God is All. |
6. Hãy để OM vang lên ngay tại trung tâm của nhóm, tuyên cáo rằng Thượng đế là Tất Cả. |
|
It is not my intention to interpret this final phrase of Rule XIII. Its meaning lies beyond your most elevated comprehension. It concerns the transmutation of the into the originating Sound, bringing certain basic transformation and resulting in a transfiguration which extends to the entire planet and has reference to a certain major planetary initiation. With these matters we are not concerned. With them, only a few of the more advanced Masters are concerned. Therefore, we will wait until, through resolution, we have resolved our spiritual problems, transmuted our lower natures and undergone the lower aspects of both transformations, and are consequently ready for the third initiation—that of the Transfiguration. |
Tôi không có ý định diễn giải cụm từ cuối cùng này của Quy luật XIII. Ý nghĩa của nó nằm ngoài tầm lĩnh hội cao nhất của các bạn. Nó liên quan đến sự chuyển hoá của OM thành Âm Thanh nguyên khởi, đem lại một sự chuyển đổi căn bản nào đó và dẫn đến một cuộc biến hình lan rộng đến toàn thể hành tinh, đồng thời liên hệ đến một cuộc điểm đạo hành tinh trọng đại nào đó. Chúng ta không bàn đến những vấn đề này. Chỉ một vài Chân sư tiến hoá cao hơn mới liên quan đến chúng. Vì vậy, chúng ta sẽ chờ cho đến khi, nhờ sự quyết nghị, chúng ta đã giải quyết các vấn đề tinh thần của mình, chuyển hoá các bản chất thấp của mình và trải qua các phương diện thấp của cả hai sự chuyển đổi, để nhờ đó sẵn sàng cho lần điểm đạo thứ ba—cuộc Biến hình. |
[1] 1. khó nhìn thấu được; 2. (nghĩa bóng) bí hiểm, khó hiểu