Quy Luật Điểm đạo 10 dành cho đệ tử (RI)

📘 Sách: Bình Giảng 14 Quy Luật Điểm đạo Dành Cho Đệ tử – RI – Tác giả: Michael D. Robbins

Click số trang trong ngoặc [ ] để đi đến bình giảng

RULE TEN [Page 179-208]

QUY LUẬT MƯỜI [Page 179-208]

We now come to one of the most abstruse and difficult of all the rules for initiates; yet at the same time it is one of the most practical in application and of the greatest usefulness. It concerns the etheric levels of activity. I would have you note that I did not say the etheric levels of consciousness, for there is no such thing as consciousness upon the etheric planes. The four planes which constitute the etheric levels of the physical plane are the lowest correspondence to the four planes whereon the Monad and the Spiritual Triad are active, and—as I have oft told you—upon those levels there is no such thing as consciousness as we understand it. There is only a state of being and of activity for which we have no adequate or illustrative words. The four higher planes of our solar system are the four cosmic etheric planes, and one of the lines of development (confronting the initiate) is to function adequately in response to the life of the planetary Logos upon those planes. That, in the last analysis, constitutes the main field of unfoldment and of acquired wisdom for all initiates above the third degree.

Giờ đây chúng ta đi đến một trong những quy luật trừu tượng và khó hiểu nhất trong tất cả các quy luật dành cho các điểm đạo đồ; tuy nhiên, đồng thời, đó cũng là một trong những quy luật thực tiễn nhất khi ứng dụng và hữu ích nhất. Nó liên quan đến các cấp độ hoạt động dĩ thái. Tôi muốn các bạn lưu ý rằng Tôi đã không nói các cấp độ tâm thức dĩ thái, vì không có điều gì gọi là tâm thức trên các cõi dĩ thái. Bốn cõi tạo thành các cấp độ dĩ thái của cõi hồng trần là sự tương ứng thấp nhất với bốn cõi nơi Chân thần và Tam Nguyên Tinh Thần hoạt động, và—như Tôi đã thường nói với các bạn—trên những cấp độ ấy không có điều gì gọi là tâm thức theo cách chúng ta hiểu. Chỉ có một trạng thái hiện tồn và hoạt động mà chúng ta không có từ ngữ nào đủ thích đáng hay minh họa được. Bốn cõi cao hơn của hệ mặt trời chúng ta là bốn cõi dĩ thái vũ trụ, và một trong những đường hướng phát triển trước mặt điểm đạo đồ là hoạt động một cách thích đáng để đáp ứng với sự sống của Hành Tinh Thượng đế trên các cõi ấy. Xét đến cùng, điều đó tạo thành lĩnh vực chính của sự khai mở và minh triết đạt được đối với tất cả các điểm đạo đồ trên cấp độ thứ ba.

In the above paragraph I have presented you with a new concept re initiationone that has always been implicit in the teaching but one entirely and completely untouched as yet in any discussions on initiate-training.

Trong đoạn trên, Tôi đã trình bày với các bạn một quan niệm mới về điểm đạomột quan niệm vốn luôn tiềm ẩn trong giáo huấn, nhưng cho đến nay vẫn hoàn toàn chưa được đề cập trong bất kỳ cuộc thảo luận nào về việc huấn luyện điểm đạo đồ.

In the rule as given to applicants, the disciple is cautioned to work within those levels according to the methods [Page 179] of the deva or angel evolution. The rule runs as follows:

Trong quy luật như được trao cho những người thỉnh nguyện, đệ tử được khuyên phải hoạt động trong các cấp độ ấy theo những phương pháp [Page 179] của cuộc tiến hóa thiên thần. Quy luật được diễn đạt như sau:

The Army of the Voice, the devas in their serried ranks, work ceaselessly. Let the disciple apply himself to a consideration of their methods; let him learn the rules whereby the Army works within the veils of maya.———

Đạo Quân của Âm Thanh, các thiên thần trong hàng ngũ dày đặc của họ, hoạt động không ngừng. Hãy để đệ tử chuyên tâm xem xét các phương pháp của họ; hãy để y học các quy luật nhờ đó Đạo Quân hoạt động trong các bức màn của ảo lực.———

These particular devas in “their serried ranks” are the directive agents of the divine energy which implements the purposes of Deity upon the physical plane. They work only on etheric levels—either upon our physical plane or on the cosmic etheric levels. They are therefore active in the realm of maya, which is the etheric plane as we usually understand it, or upon the planes of the Spiritual Triad. They are not active on the three gross physical levels or upon the astral or mental planes, nor are they active upon the highest or logoic plane. There they are implicit or latent but not active. They are the great “impulsive factors” in manifestation, organizing substance, directing the multiplicity of lives and beings who constitute the forms through which God expresses divinity. In a peculiar sense, they are the embodiment of the divine purpose upon the planes of the Monad and of the Triad, just as the aggregate of energies in man’s etheric body is the result of his inner direction and the cause of his outer manifestation. To understand more fully the function of the deva forces, a man must arrive at some understanding of the forces in his etheric body which, in their turn, are the consequence of his point of attainment—an attainment demonstrated by his astral (emotional) and mental natures and activities. These indicate his point of development.

Những thiên thần đặc biệt này, trong “hàng ngũ dày đặc của họ”, là các tác nhân chỉ đạo của năng lượng thiêng liêng thực thi các mục đích của Thượng đế trên cõi hồng trần. Họ chỉ hoạt động trên các cấp độ dĩ thái—hoặc trên cõi hồng trần của chúng ta, hoặc trên các cấp độ dĩ thái vũ trụ. Vì thế, họ hoạt động trong lĩnh vực của ảo lực, tức là cõi dĩ thái như chúng ta thường hiểu, hoặc trên các cõi của Tam Nguyên Tinh Thần. Họ không hoạt động trên ba cấp độ hồng trần đậm đặc, cũng không trên các cõi cảm dục hay cõi trí, và cũng không hoạt động trên cõi cao nhất hay cõi thượng đế. Ở đó, họ hàm tàng hoặc tiềm ẩn, nhưng không hoạt động. Họ là những “yếu tố xung động” lớn lao trong sự biểu hiện, tổ chức chất liệu, chỉ đạo vô số sự sống và sinh linh tạo thành các hình tướng qua đó Thượng đế biểu lộ thiên tính. Theo một ý nghĩa đặc biệt, họ là hiện thân của Thiên Ý trên các cõi của Chân thần và của Tam nguyên, cũng như tổng hợp các năng lượng trong thể dĩ thái của con người là kết quả của sự chỉ đạo bên trong của y và là nguyên nhân của sự biểu hiện bên ngoài của y. Để thấu hiểu đầy đủ hơn chức năng của các mãnh lực thiên thần, con người phải đạt đến một mức thấu hiểu nào đó về các mãnh lực trong thể dĩ thái của y, mà đến lượt chúng lại là hệ quả của mức thành đạt của y—một thành đạt được chứng tỏ qua bản chất và hoạt động cảm dục cảm xúc cùng trí tuệ của y. Những điều này cho thấy trình độ phát triển của y.

The devas are the agents of the divine will because they are a consequence of the point of attainment of our planetary Logos as He exists outside the seven planes of our sphere of existence, the cosmic physical plane. They are conditioned by His cosmic astral and mental vehicles. In a definite sense, they are the agents of the Universal Mind, even though they are not mental as we understand that term. They are sometimes regarded as blind forces, but that is only because they get their inspiration from levels of [Page 180] divine awareness outside the range of the human consciousness, no matter how high, or when used in its widest connotation.

Các thiên thần là tác nhân của Ý Chí thiêng liêng vì họ là hệ quả của mức thành đạt của Hành Tinh Thượng đế chúng ta khi Ngài hiện hữu bên ngoài bảy cõi thuộc khối cầu hiện tồn của chúng ta, tức cõi hồng trần vũ trụ. Họ chịu ảnh hưởng của các vận cụ cảm dục và trí tuệ vũ trụ của Ngài. Theo một ý nghĩa xác định, họ các tác nhân của Vũ Trụ Trí, dù họ không có tính trí tuệ theo cách chúng ta hiểu thuật ngữ đó. Đôi khi họ được xem là những mãnh lực mù quáng, nhưng đó chỉ vì họ nhận cảm hứng từ các cấp độ của [Page 180] nhận thức thiêng liêng nằm ngoài phạm vi tâm thức con người, dù tâm thức ấy có cao đến đâu, hoặc được dùng theo nghĩa rộng nhất của nó.

Their controlling Agent in manifestation is the Triangle of Energy to which we give the name the “Three Buddhas of Activity.” They are therefore closely connected with the third aspect of divinity. They are essentially the “eye within the Triangle”—a most familiar symbol to many today. They are the expression, in activity, of the “All-Seeing Eye”; through their agency God sees, and through them and the energy directed through them, He directs the creative process. They are under the complete control of the three Buddhas of Activity, Who are the cosmic Prototypes of the Lords of the three major rays, but not in the sense usually understood when the rays are considered in their relation to man. They are the correspondence of these three rays and are responsible for the entire manifested universe, but only within the orbit of the third aspect, the expression of the Universal Mind.

Tác nhân kiểm soát họ trong sự biểu hiện là Tam Giác Năng Lượng mà chúng ta gọi là “Ba Đức Phật Hoạt Động.” Vì thế, họ liên hệ mật thiết với phương diện thứ ba của thiên tính. Về bản chất, họ là “con mắt trong Tam Giác”—một biểu tượng rất quen thuộc với nhiều người ngày nay. Họ là sự biểu lộ trong hoạt động của “Con Mắt Thấy Tất Cả”; qua tác lực của họ, Thượng đế thấy, và qua họ cùng năng lượng được điều hướng qua họ, Ngài chỉ đạo tiến trình sáng tạo. Họ ở dưới sự kiểm soát hoàn toàn của Ba Đức Phật Hoạt Động, Các Ngài là những Nguyên Mẫu vũ trụ của các Chúa Tể thuộc ba cung chính, nhưng không theo nghĩa thường được hiểu khi các cung được xem xét trong mối liên hệ với con người. Họ là sự tương ứng của ba cung này và chịu trách nhiệm về toàn bộ vũ trụ biểu hiện, nhưng chỉ trong phạm vi của phương diện thứ ba, tức sự biểu lộ của Vũ Trụ Trí.

They come from the cosmic mental plane, just as the energy—distinctive of the second aspect—comes from the cosmic astral plane.

Họ đến từ cõi trí vũ trụ, cũng như năng lượng—đặc trưng cho phương diện thứ hai—đến từ cõi cảm dục vũ trụ.

– God is mind. God is intelligent functioning. God is creative activity. These are the qualities of the deva evolution.

– Thượng đế là trí tuệ. Thượng đế là sự vận hành thông tuệ. Thượng đế là hoạt động sáng tạo. Đây là các phẩm tính của cuộc tiến hóa thiên thần.

– God is love. God is relationship. God is consciousness. These are the three qualities of the Christ evolution. This latter evolution is carried on within the created sphere of influence of the third aspect.

– Thượng đế là bác ái. Thượng đế là mối liên hệ. Thượng đế là tâm thức. Đây là ba phẩm tính của cuộc tiến hóa Đức Christ. Cuộc tiến hóa sau này diễn ra trong khối cầu ảnh hưởng được sáng tạo của phương diện thứ ba.

– God is life. God is fire. God is pure being. These are the qualities of the spirit aspect, the omnipotent aspect of Deity.

– Thượng đế là sự sống. Thượng đế là lửa. Thượng đế là bản thể thuần khiết. Đây là các phẩm tính của phương diện tinh thần, phương diện toàn năng của Thượng đế.

All these three aspects focus themselves and find an outlet for expression upon the levels of the cosmic etheric planes and upon the levels of the etheric planes known to humanity in the three worlds. The Law of Correspondences is infallible, if rightly approached and applied.

Cả ba phương diện này đều tự tập trung và tìm thấy lối thoát để biểu lộ trên các cấp độ của những cõi dĩ thái vũ trụ và trên các cấp độ của những cõi dĩ thái mà nhân loại biết đến trong ba cõi giới. Định luật Tương Ứng là bất khả sai lầm, nếu được tiếp cận và áp dụng đúng đắn.

This broad and general presentation must be rightly grasped if the rule, as given to disciples and initiates, is to be correctly understood.

Sự trình bày rộng rãi và tổng quát này phải được nắm bắt đúng đắn nếu quy luật, như đã được trao cho các đệ tử và điểm đạo đồ, muốn được thấu hiểu chính xác.

You have been taught that illusion is the characteristic [Page 181] which must be mastered by the initiate as he “escapes” occultly from the three worlds via the mental plane. (Glamor: A World Problem.) Glamor, you are told, is the characteristic of the astral plane, and must be dissipated by the disciple as he “escapes” mystically on to the Path of Initiation, just as the initiate finds himself (after mastering illusion) on the Path of the Higher Evolution. Maya is the conditioning factor on etheric levels, and must be evaded and overcome by the probationary disciple as he “escapes” from the thralldom of the physical plane. Thus he learns to tread the Path of Discipleship. These characteristics are, however, only the reaction of humanity to the activities of the deva evolution, rightly and divinely proceeding with their task of implementing the divine will. When the sphere of their activity comes into contact with the human intelligence, the effect upon humanity (before mastery is gained) is to compel men “to wander in the fields of maya, to drown in the sea of glamor, and to respond to the pull of illusion.

Các bạn đã được dạy rằng ảo tưởng là đặc tính [Page 181] mà điểm đạo đồ phải làm chủ khi y “thoát ra” theo huyền môn khỏi ba cõi thấp qua cõi trí. (Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới.) Các bạn được cho biết rằng ảo cảm là đặc tính của cõi cảm dục, và đệ tử phải làm tiêu tan nó khi y “thoát ra” theo thần bí để bước lên Con Đường Điểm Đạo, cũng như điểm đạo đồ thấy mình, sau khi làm chủ ảo tưởng, ở trên Con đường Tiến Hóa Cao Siêu. Ảo lực là yếu tố chi phối trên các cấp độ dĩ thái, và đệ tử dự bị phải tránh né và vượt thắng nó khi y “thoát ra” khỏi cảnh nô lệ của cõi hồng trần. Như vậy y học cách bước đi trên Con Đường Đệ Tử. Tuy nhiên, các đặc tính này chỉ là phản ứng của nhân loại trước các hoạt động của cuộc tiến hóa thiên thần, vốn đang tiến hành đúng đắn và thiêng liêng nhiệm vụ thực thi Ý Chí thiêng liêng. Khi khối cầu hoạt động của các vị ấy tiếp xúc với trí thông minh của con người, tác động trên nhân loại, trước khi đạt được sự làm chủ, là buộc con người “lang thang trong những cánh đồng ảo lực, chìm đắm trong biển ảo cảm, và đáp ứng với sức kéo của ảo tưởng.

In this teaching, you [Page I?] have presented to you, though in a somewhat different form, the ancient problem of duality, involving as it does the immense potency of the deva evolution. It definitely affects humanity; this is due to the fact that it is an expression of the will aspect of Shamballa. As man develops the will aspect, he learns to break loose from the aura of the deva evolution, and the major task of the Hierarchy (as far as basic essentials are concerned) is to “provide sanctuary” to those who have liberated themselves from the ocean of deva energies in which their vehicles must perforce move and live and have their being, but with which they have otherwise no point of contact, once liberated by their own effort and will “from the angels.” Let us now study Rule Ten.

Trong giáo huấn này, các bạn [Page I?] được trình bày, dù dưới một hình thức hơi khác, vấn đề cổ xưa của Nhị nguyên, vốn bao hàm quyền năng vô cùng lớn lao của cuộc tiến hóa thiên thần. Nó ảnh hưởng rõ rệt đến nhân loại; điều này là do sự kiện nó là một biểu hiện của phương diện ý chí của Huyền Đô. Khi con người phát triển phương diện ý chí, y học cách thoát khỏi hào quang của cuộc tiến hóa thiên thần, và nhiệm vụ chính yếu của Thánh Đoàn, xét theo các điều cốt yếu căn bản, là “cung cấp nơi trú ẩn” cho những ai đã tự giải thoát khỏi đại dương năng lượng thiên thần, trong đó các hiện thể của họ tất yếu phải vận động, sống và hiện hữu, nhưng một khi đã được giải thoát nhờ nỗ lực và ý chí của chính mình “khỏi các thiên thần”, họ không còn điểm tiếp xúc nào khác với đại dương ấy. Bây giờ chúng ta hãy nghiên cứu Quy luật Mười.

Rule X

Quy luật X

(1) The rules for work within the veils of maya are known and have been used. (2) Let the group widen all the rents within those veils and thus let in the light. (3) Let the Army of the Voice be no more heard, and let the brothers onward move within the Sound. (4) Then let them [Page 182] know the meaning of the OM and let them hear that OM as it is sounded forth by Him Who stands and waits at the very center of the Council Chamber of the Lord.——————

(1) Các quy luật dành cho công việc bên trong các bức màn ảo lực đã được biết và đã được sử dụng. (2) Hãy để nhóm mở rộng mọi vết rách trong các bức màn ấy, và nhờ vậy để ánh sáng đi vào. (3) Hãy để Đạo Quân của Âm Thanh không còn được nghe thấy nữa, và hãy để các huynh đệ tiến bước trong Âm Thanh. (4) Bấy giờ hãy để họ [Page 182] biết ý nghĩa của OM và nghe OM ấy như được xướng lên bởi Đấng đang đứng và chờ đợi tại chính trung tâm Phòng Hội Đồng của Chúa Tể.——————

I would here remind you that we are considering work that the initiate must accomplish, and are not considering the usual effort of struggling aspirants to deal with and handle those forces which have worked through into physical expression. These, from the levels of the forty-eight subplanes are waiting to precipitate themselves into the dense physical manifested world. The aspirant must ever work from the outside to the within and must endeavor to direct his life from above downwards, if these forces are to be dominated by him and are not to control him. The initiate, however, works “from within the circle,” that is the circle or field of maya. His activity must therefore be carried forward from the very heart of the mystery of these forces; this he can do because he is in a position to know the type of energy with which he has to contend, to understand the nature of the forces with which he can and must manipulate the “mayavic energies,” and thus to dominate the etheric plane; he is also aware where one veil ends and another begins, and from what level he can successfully bring the swirling and living energies into conformity with the divine pattern.

Ở đây, Tôi muốn nhắc các bạn rằng chúng ta đang xem xét công việc mà điểm đạo đồ phải hoàn thành, chứ không xem xét nỗ lực thông thường của những người chí nguyện đang tranh đấu để xử lý và chế ngự các mãnh lực đã tác động xuyên qua để biểu hiện nơi cõi hồng trần. Các mãnh lực này, từ các cấp độ của bốn mươi tám cõi phụ, đang chờ ngưng tụ vào thế giới biểu hiện hồng trần đậm đặc. Người chí nguyện phải luôn làm việc từ bên ngoài vào bên trong và phải nỗ lực điều hướng đời sống của y từ trên xuống dưới, nếu y muốn chế ngự các mãnh lực này và không để chúng kiểm soát y. Tuy nhiên, điểm đạo đồ làm việc “từ bên trong vòng tròn”, tức là vòng tròn hay trường ảo lực. Do đó, hoạt động của y phải được tiến hành từ chính trung tâm của huyền nhiệm nơi các mãnh lực này; y có thể làm điều đó vì y ở trong vị thế biết loại năng lượng mà y phải đối đầu, thấu hiểu bản chất của các mãnh lực mà y có thể và phải vận dụng các “năng lượng ảo lực”, và nhờ vậy chế ngự cõi dĩ thái; y cũng biết rõ nơi một bức màn kết thúc và bức màn khác bắt đầu, và từ cấp độ nào y có thể đưa các năng lượng xoáy cuộn và sống động vào sự phù hợp thành công với mô hình thiêng liêng.

It should also be noted here that the energies projected by the initiate into the world of maya are directed by him from the various centers in his own body and from the central point of energy in each particular center employed. It is the central “jewel in the lotus” from which the initiate works, and these seven central focal points, these seven jewels, so-called, are the correspondence of the jewel in the egoic lotus. This means, therefore, that successful work “within the veils of maya” involves ever the use of the will aspect and the conscious employment of that quota of the Shamballa force which the initiate is able to appropriate and to use because he has begun to work as a focusing agent of the Spiritual Triad and is no longer working as a [Page 183] soul or as a personality under soul control. This is an important point to remember.

Ở đây cũng cần lưu ý rằng những năng lượng mà điểm đạo đồ phóng chiếu vào thế giới ảo lực đều do y điều khiển từ các trung tâm khác nhau trong chính thể của y và từ điểm năng lượng trung tâm trong mỗi trung tâm chuyên biệt được sử dụng. Chính từ “viên ngọc trong hoa sen” trung tâm mà điểm đạo đồ làm việc, và bảy tiêu điểm trung tâm này, bảy viên ngọc được gọi như vậy, là sự tương ứng với viên ngọc trong Hoa Sen Chân Ngã. Do đó, điều này có nghĩa là công việc thành công “bên trong các bức màn ảo lực” luôn đòi hỏi việc sử dụng phương diện ý chí và việc vận dụng có ý thức phần mãnh lực Huyền Đô mà điểm đạo đồ có thể thu nhận và sử dụng y đã bắt đầu làm việc như một tác nhân tập trung của Tam Nguyên Tinh Thần và không còn làm việc như một [Page 183] linh hồn hay như một phàm ngã dưới sự kiểm soát của linh hồn. Đây là một điểm quan trọng cần ghi nhớ.

It is along the antahkarana that the force used by the initiate must pour, and according to the nature of the work to be done will be the particular strand or thread of the rainbow bridge which the initiate employs. There are four veils of maya, constructed necessarily of seven forces, and these produce the factual and phenomenal aspect (in time and space) of the Great Illusion, in its three forms of illusion, glamor and maya. There are seven points of energy through which different aspects of the force needed to produce the desired effects within the veils of maya can flow, and these correspond to the seven ray types or qualities. But the major type of energy with which the initiate works upon the physical plane is the seventh, the ray or energy of ritual, of ceremony, of order and of law. The work done within the veils is one of rearrangement and the ordination and coordination[1] of the forces, present as existent maya; this must provide, in time and space, the forms through which the plans of the Hierarchy can materialize, the souls of all forms can be subjected to the needed experience, and so progress towards the fulfilment of the will of God.

Chính dọc theo antahkarana mà mãnh lực do điểm đạo đồ sử dụng phải tuôn chảy, và tùy theo bản chất của công việc cần được thực hiện mà sẽ có sợi hay tuyến đặc thù của Cây cầu vồng mà điểm đạo đồ vận dụng. Có bốn bức màn maya, tất yếu được cấu tạo bằng bảy mãnh lực, và những mãnh lực này tạo nên phương diện thực tại và hiện tượng, trong thời gian và không gian, của Đại Ảo Tưởng, dưới ba hình thức là ảo tưởng, ảo cảmmaya. Có bảy điểm năng lượng mà qua đó các phương diện khác nhau của mãnh lực cần thiết để tạo ra những hiệu quả mong muốn bên trong các bức màn maya có thể tuôn chảy, và những điểm này tương ứng với bảy loại cung hay phẩm tính. Nhưng loại năng lượng chính yếu mà điểm đạo đồ dùng để làm việc trên cõi hồng trần là loại thứ bảy, cung hay năng lượng của nghi lễ, của lễ thức, của trật tự và của định luật. Công việc được thực hiện bên trong các bức màn là công việc tái sắp xếp, an bài và phối hợp các mãnh lực đang hiện diện như maya hiện tồn; điều này phải cung cấp, trong thời gian và không gian, những hình tướng qua đó các kế hoạch của Thánh Đoàn có thể hiện hình, linh hồn của mọi hình tướng có thể trải qua kinh nghiệm cần thiết, và nhờ vậy tiến tới sự hoàn thành Ý Chí của Thượng Đế.

Maya is not something to be destroyed, dissipated, dissolved or negated. Maya is in reality an aspect of time, and connotes to the initiate the mass of creative forces with which he must work; these are swept into form generation and activity, and embody in the transitional, ephemeral, present moment the phenomenal point in evolution reached by the life of God. The work of the initiate, acting under hierarchical inspiration, is to change the present forms into the more adequate forms demanded by the descending life and its dynamic activity. We are therefore dealing with the precipitated aspect of divine evolutionary process. We are concerned with the relation of the Army of the Voice to the Sound which conditions evolution, and with the supervisory work of the Hierarchy as it sustains the work of the [Page 184] soul to be found within all forms—built by the Army of the Voice and by the devas in their serried ranks.

Maya không phải là điều cần bị phá hủy, làm tiêu tan, làm tan biến hay phủ định. Thực ra, maya là một phương diện của thời gian, và đối với điểm đạo đồ, nó hàm ý khối lượng các mãnh lực sáng tạo mà y phải làm việc với; các mãnh lực này bị cuốn vào sự sinh tạo hình tướng và hoạt động, và trong khoảnh khắc hiện tại, chuyển tiếp, phù du, chúng thể hiện điểm tiến hoá hiện tượng mà sự sống của Thượng đế đã đạt tới. Công việc của điểm đạo đồ, khi hành động dưới cảm hứng của Thánh Đoàn, là chuyển đổi các hình tướng hiện tại thành những hình tướng thích hợp hơn mà sự sống đang giáng hạ và hoạt động năng động của nó đòi hỏi. Vì vậy, chúng ta đang đề cập đến phương diện ngưng tụ của tiến trình thăng thượng tiến hoá thiêng liêng. Chúng ta quan tâm đến mối liên hệ của Đạo Quân của Âm Thanh với Âm Thanh đang tác động lên tiến hoá, và với công việc giám sát của Thánh Đoàn khi Thánh Đoàn duy trì công việc của [Page 184] linh hồn hiện có bên trong mọi hình tướng—do Đạo Quân của Âm Thanh và các thiên thần trong hàng ngũ san sát của họ xây dựng nên.

The supervisory, directive work of the Hierarchy, carried forward by the Masters and Their groups and by the initiates within those groups, is seldom considered; it is, however, a work of major importance and is one definitely referred to in this rule. Fundamentally, the task set before the Hierarchy is to “let in the light”; but this time not in the sense of revelation, of vision or of illumination. These latter are all aspects of soul light; the work of the initiate is to aid in the construction of the planetary body of lightsubstance which will finally reveal the nature of Deity and the glory of the Lord. It is the planetary correspondence to the light-body through which Christ and all the Sons of God Who have reached perfection finally manifest. It is a vehicle created by the energy of Will, and it is implemented and “held in being” by the Will. It expresses itself exoterically by the projection of this will energy, via the central point in each of the seven chakras or lotuses.

Công việc giám sát và chỉ đạo của Thánh Đoàn, do các Chân sư và các nhóm của Các Ngài, cùng các điểm đạo đồ trong những nhóm ấy, tiến hành, ít khi được xem xét; tuy nhiên, đó là một công việc có tầm quan trọng lớn lao và là công việc được quy luật này đề cập một cách rõ ràng. Về căn bản, nhiệm vụ đặt ra trước Thánh Đoàn là “để cho ánh sáng đi vào”; nhưng lần này không theo nghĩa mặc khải, tầm nhìn hay soi sáng. Tất cả những điều sau đều là các phương diện của ánh sáng linh hồn; công việc của điểm đạo đồ là trợ giúp trong việc kiến tạo thể ánh sáng hành tinhchất liệu sẽ rốt cuộc mặc khải bản chất của Thượng đế và vinh quang của Chúa Tể. Đó là sự tương ứng hành tinh với thể ánh sáng mà qua đó Đức Christ và tất cả Các Con của Thượng đế đã đạt đến sự hoàn thiện sau cùng biểu hiện. Đó là một hiện thể được tạo ra bằng năng lượng của Ý Chí, và được Ý Chí thực thi cũng như “duy trì trong hiện hữu”. Nó biểu lộ một cách ngoại môn qua sự phóng chiếu năng lượng ý chí này, thông qua trung tâm điểm trong mỗi một trong bảy luân xa hay hoa sen.

In studying these rules for the initiate, it must ever be remembered that they concern primarily the use of the will or first aspect. This is the energy of the Monad, utilized via the Spiritual Triad and related to the personality via the antahkarana. Secondary interpretations and tertiary correspondences are always possible, but the main significance of these rules is related to the first divine aspect. You have therefore, as you reflect, think, study and correlate, to bear constantly in mind:

Khi nghiên cứu các quy luật này dành cho điểm đạo đồ, cần luôn nhớ rằng chúng chủ yếu liên quan đến việc sử dụng ý chí hay phương diện thứ nhất. Đây là năng lượng của chân thần, được vận dụng thông qua Tam Nguyên Tinh Thần và liên hệ với phàm ngã qua antahkarana. Những diễn giải thứ yếu và các tương ứng cấp ba luôn có thể có, nhưng thâm nghĩa chính của các quy luật này liên hệ với phương diện thiêng liêng thứ nhất. Vì vậy, khi suy ngẫm, tư duy, nghiên cứu và liên hệ, các bạn phải thường xuyên ghi nhớ:

1. The seven ray types.

1. Bảy loại cung.

2. The Monad, the Spiritual Triad and the threefold personality; these constitute another septenate.

2. Chân thần, Tam Nguyên Tinh Thần và phàm ngã tam phân; những điều này hợp thành một bộ bảy khác.

3. The seven groups of Masters.

3. Bảy nhóm Chân sư.

4. The seven centers and their seven central points, or jewels.

4. Bảy trung tâm và bảy trung tâm điểm, hay các viên ngọc, của chúng.

5. The four veils of maya.

5. Bốn bức màn maya.

Various other septenates could also be related, but such relationship is not required by the initiate who has consciously discarded all these lower septenates and works now [Page 185] with the seven major energies, the sevenfold field of their activity and the septenary aspect of the implementing instrument, whether planetary or individual.

Nhiều bộ bảy khác cũng có thể được liên hệ, nhưng sự liên hệ như thế không cần thiết đối với điểm đạo đồ đã hữu thức loại bỏ tất cả các bộ bảy thấp này và giờ đây làm việc [Page 185] với bảy năng lượng chính yếu, trường hoạt động thất phân của chúng và phương diện thất phân của khí cụ thực thi, dù thuộc hành tinh hay cá nhân.

Simplification proceeds rapidly as one nears the goal of the spirit. Will ever concerns itself with the essentials and not with the details of manifestation. Love concerns itself with transitional, evolutionary fundamentals, whilst intelligence concerns itself with the detail and its coherent coordination in response to the impulse and attractive force of divine love and the dynamic impulse of the spirit.

Sự đơn giản hóa tiến triển nhanh chóng khi người ta đến gần mục tiêu của tinh thần. Ý Chí luôn quan tâm đến những điều cốt yếu chứ không phải các chi tiết của biểu hiện. Bác Ái quan tâm đến những nền tảng chuyển tiếp và tiến hoá, trong khi trí tuệ quan tâm đến chi tiết và sự phối hợp mạch lạc của nó để đáp ứng xung lực và mãnh lực hấp dẫn của bác ái thiêng liêng cùng xung lực năng động của tinh thần.

Let us now proceed, after these few preliminary remarks, to take this tenth rule sentence by sentence. These are five in number, and the first which we will consider is:

Giờ đây, sau vài nhận xét sơ bộ này, chúng ta hãy tiếp tục xem xét quy luật thứ mười này theo từng câu. Quy luật ấy gồm năm câu, và câu đầu tiên chúng ta sẽ xem xét là:

1. The rules for work within the veils of maya are known and have been used. (ß)

1. Các quy luật dành cho công việc bên trong các bức màn maya đã được biết đến và đã được sử dụng. ()

Students should remember that the work of the Hierarchy is constantly conditioned by the point in evolution of the human hierarchy. In the early days of human history, thinking and progress had practically no place, and therefore little or no effect upon the forces and energies which were active upon etheric levels. At that period, they were left in a relatively quiescent state or else were swept into activity by definite and planned impression from the Hierarchy; any effect coming from the human kingdom was due solely to mass impulse or impression. This was very little, owing to the lack of coordinated relation between units and groups within the human family. Later, as family units massed together and formed tribes, and then tribe united with tribe to form larger tribes or embryonic nations, this mass effect increased, but there was still but little thinking or direction connected with it; it was largely instinctive and—if I might so express it—the etheric plane was in reality more in the nature of a matrix surrounding a valuable creation, and was essentially protective, separating and slightly energizing.

Các đạo sinh nên nhớ rằng công việc của Thánh Đoàn luôn chịu sự định hình từ điểm tiến hoá của huyền giai nhân loại. Trong những thời kỳ đầu của lịch sử nhân loại, tư duy và tiến bộ hầu như không có chỗ đứng, và vì vậy chỉ có rất ít, hoặc không có, ảnh hưởng đối với các mãnh lực và năng lượng đang hoạt động trên các cấp độ dĩ thái. Vào thời kỳ ấy, chúng được để trong một trạng thái tương đối tĩnh lặng, hoặc bị cuốn vào hoạt động bởi ấn tượng rõ rệt và có hoạch định từ Thánh Đoàn; bất cứ ảnh hưởng nào đến từ giới nhân loại đều chỉ do xung lực hoặc ấn tượng quần chúng. Điều này rất ít ỏi, do thiếu mối liên hệ phối hợp giữa các đơn vị và các nhóm trong gia đình nhân loại. Về sau, khi các đơn vị gia đình tụ hợp lại và hình thành các bộ tộc, rồi bộ tộc liên kết với bộ tộc để tạo thành những bộ tộc lớn hơn hoặc những quốc gia phôi thai, ảnh hưởng quần chúng này gia tăng, nhưng vẫn chỉ có rất ít tư duy hoặc định hướng gắn liền với nó; phần lớn nó có tính bản năng và—nếu tôi có thể diễn đạt như vậy—cõi dĩ thái trong thực tế giống như một khuôn nền bao quanh một sáng tạo quý giá, và về bản chất có tính bảo hộ, phân cách và tiếp sinh lực nhẹ.

In Atlantean days, the plane whereon humanity received its major direction or unfoldment was such that the [Page 186] emotional, impulsive nature and the field of maturing desire became dominantly active. Then the real difficulty within the realm of maya started. Hitherto only two energies had been felt upon the etheric plane: the energy of life itself, via the sutratma, as it passed through the etheric plane in order to produce exoteric livingness upon the physical plane, and secondly, the energy of the Hierarchy as a whole, producing a slow, broad, though somewhat negative organization of the prevalent forces. But then a third and most potent force, generated by humanity, was beginning to make an impact upon the etheric forces. Men were beginning, at this early period of human history, to desire, and this desire was not, as hitherto, of a purely animal nature and hence an emanation from dense physical substance (and, therefore, not related to a principle), but it embodied a new type of energy and was—in reality—man’s first expression of the highest divine aspect. Desire is the lowest reflection within the human consciousness of the will aspect.

Trong thời Atlantis, cõi mà trên đó nhân loại nhận được sự định hướng hoặc sự khai mở chính của mình có tính chất khiến cho bản chất [Trang 186] cảm xúc, xung động và trường của dục vọng đang chín muồi trở nên hoạt động vượt trội. Khi ấy, khó khăn thật sự trong lãnh vực ảo lực bắt đầu. Cho đến lúc ấy chỉ có hai năng lượng được cảm nhận trên cõi dĩ thái: năng lượng của chính sự sống, qua sinh mệnh tuyến, khi nó đi xuyên qua cõi dĩ thái để tạo ra sinh tính ngoại hiện trên cõi hồng trần, và thứ hai, năng lượng của toàn thể Thánh Đoàn, tạo nên một sự tổ chức chậm rãi, rộng lớn, dù có phần thụ động, của các mãnh lực đang thịnh hành. Nhưng khi ấy, một mãnh lực thứ ba và mạnh mẽ nhất, do nhân loại tạo ra, bắt đầu tác động lên các mãnh lực dĩ thái. Vào thời kỳ đầu này của lịch sử nhân loại, con người bắt đầu ham muốn, và dục vọng này không còn, như trước kia, thuộc bản chất thuần túy thú tính, và do đó là một phát xạ từ chất liệu hồng trần đậm đặc (và, vì vậy, không liên hệ đến một nguyên khí), mà nó thể hiện một loại năng lượng mới và—trong thực tế—là sự biểu lộ đầu tiên của con người về phương diện thiêng liêng cao nhất. Dục vọng là phản ánh thấp nhất trong tâm thức con người của phương diện ý chí.

This potent vibration of desire was evoked by men who were as yet without any spiritual vision of any kind; they were purely material in their instinctive reactions (and rightly so at that particular time), and these reactions attracted the attention of certain purely evil energies or Beings. These Beings availed themselves of the situation in order to satisfy their desire for power—again a distortion of the will or first aspect. Thus the Black Lodge was founded. It fed upon human desire and resembled a vast over-shadowing vampire. It vitiated[2] human living and increased the growth of desire far beyond normal expectancy or hierarchical planning, thus creating false goals and standards, building a barrier between the lowest planetary center, Humanity, and the “middle point” or center, the Hierarchy. It will be apparent, therefore, that the following energies were let loose within the realm of maya:

Rung động mạnh mẽ này của dục vọng được gợi lên bởi những con người khi ấy chưa có bất kỳ tầm nhìn tinh thần nào; họ hoàn toàn vật chất trong các phản ứng bản năng của mình (và điều ấy là đúng vào thời điểm đặc thù đó), và những phản ứng này thu hút sự chú ý của một số năng lượng hoặc Hữu Thể thuần túy tà ác. Các Hữu Thể này lợi dụng tình thế để thỏa mãn dục vọng quyền lực của mình—lại là một sự bóp méo của ý chí hay phương diện thứ nhất. Như vậy Hắc đoàn được thành lập. Nó nuôi dưỡng chính nó bằng dục vọng của con người và giống như một con ma cà rồng khổng lồ đang phủ bóng. Nó làm suy đồi đời sống con người và gia tăng sự phát triển của dục vọng vượt xa mọi kỳ vọng bình thường hay hoạch định của Thánh Đoàn, do đó tạo ra những mục tiêu và tiêu chuẩn sai lạc, dựng nên một hàng rào giữa trung tâm hành tinh thấp nhất, Nhân Loại, và “điểm giữa” hay trung tâm, tức Thánh Đoàn. Vì vậy, sẽ thấy rõ rằng các năng lượng sau đây đã được phóng thích trong lãnh vực ảo lực:

1. The instinctive force of animal desire. This was not wrong in itself and is subject to negation in time, and normally is controlled. [Page 187]

1. Mãnh lực bản năng của dục vọng thú tính. Tự nó không sai trái và theo thời gian sẽ bị phủ định, và thông thường được kiểm soát. [Trang 187]

2. The stream of descending life, and this in two aspects:

2. Dòng sự sống giáng hạ, và điều này có hai phương diện:

a. The life aspect, as it bestows being.

a. Phương diện sự sống, khi nó ban cho hiện hữu.

b. The life aspect, as it preserves form.

b. Phương diện sự sống, khi nó bảo tồn hình tướng.

3. The steady impact of the attractive power of the soul, implemented by the Hierarchy and increasing in potency as time elapses.

3. Tác động đều đặn của quyền năng hấp dẫn của linh hồn, do Thánh Đoàn thực thi và tăng thêm sức mạnh khi thời gian trôi qua.

4. The impelling power of material desire, focused in the Black Lodge, both feeding human desire and drawing a form of life from the massed desire of humanity.

4. Quyền năng thúc đẩy của dục vọng vật chất, tập trung trong Hắc đoàn, vừa nuôi dưỡng dục vọng của con người vừa rút ra một hình thái sự sống từ dục vọng tụ hợp của nhân loại.

5. Human development along astral lines, expressing itself as certain well-defined energies or force directions:

5. Sự phát triển của nhân loại theo các đường lối cảm dục, biểu lộ thành một số năng lượng hoặc hướng mãnh lực được xác định rõ:

a. Material desire for possessions.

a. Dục vọng vật chất đối với tài sản sở hữu.

b. Desire for that which is owned by others. To this the commandment “Thou shalt not steal” has reference.

b. Dục vọng đối với những gì người khác sở hữu. Điều răn “Ngươi không được trộm cắp” liên hệ đến điều này.

c. Personality aims and ambitions; these constitute a form of focused desire of a compelling, life-determining nature.

c. Các mục tiêu và tham vọng của phàm ngã; chúng tạo thành một dạng dục vọng tập trung, có bản chất thúc bách và quyết định đời sống.

d. Aspiration, leading to vision and to the mystic Way.

d. Khát vọng, dẫn đến tầm nhìn và Con Đường thần bí.

e. Purification, the conscious handling of desire upon the Probationary Path.

e. Sự thanh luyện, tức sự xử lý có ý thức dục vọng trên Con Đường Dự Bị.

f. Initiation. The first two initiations are taken, as you know, upon the astral plane, and bring complete release both from that plane of glamor and from the realm of maya.

f. Điểm đạo. Như các bạn biết, hai lần điểm đạo đầu tiên diễn ra trên cõi cảm dục, và đem lại sự giải thoát hoàn toàn khỏi cả cõi ảo cảm ấy lẫn lãnh vực ảo lực.

All throughout this period, the organization of the etheric plane has been going on, subject to the impact of energies and forces as listed above, plus certain other energies (latent or potent) with which we have no immediate concern. Both the great White Lodge and its opponent, the Black Lodge, increased steadily in potency. Gradually the forces took organized form and the four “veils of maya” or the seven separating energies became well-defined. When this differentiation was complete, two great planetary events (if I might call them so) were consummated: [Page 188]

Suốt toàn bộ thời kỳ này, sự tổ chức cõi dĩ thái vẫn tiếp diễn, chịu tác động của các năng lượng và mãnh lực như đã liệt kê ở trên, cộng thêm một số năng lượng khác (tiềm tàng hoặc mạnh mẽ) mà hiện thời chúng ta chưa cần quan tâm. Cả Thánh đoàn vĩ đại lẫn đối thủ của nó, Hắc đoàn, đều gia tăng đều đặn về quyền năng. Dần dần các mãnh lực khoác lấy hình tướng có tổ chứcbốn “bức màn của ảo lực” hay bảy năng lượng phân cách trở nên được xác định rõ. Khi sự biến phân này hoàn tất, hai biến cố hành tinh lớn (nếu tôi có thể gọi như vậy) đã được hoàn thành: [Trang 188]

1. The seven centers in the human body (five up the spine and two in the head) were esoterically “in shape.” The seven lotuses, or chakras were functioning, some powerfully, whilst others remained unawakened. These seven were now visible to clairvoyant vision.

1. Bảy trung tâm trong thể con người, năm dọc cột sống và hai trong đầu, về mặt huyền bí đã “thành hình”. Bảy hoa sen, hay các luân xa, đang hoạt động, một số rất mạnh mẽ, trong khi những luân xa khác vẫn còn chưa thức tỉnh. Bảy trung tâm này nay đã hiện rõ trước thông nhãn.

2. The seven Ashrams of the Masters in Their seven groups (conditioned by the seven Rays) appeared, motivated from Shamballa, organized at this time upon the higher levels of the mental plane, and gradually supplied with personnel from the ranks of humanity itself, as one by one men achieved initiation.

2. Bảy ashram của các Chân sư trong bảy nhóm của Các Ngài, do bảy cung tác động, đã xuất hiện, được thúc đẩy từ Shamballa, và vào lúc này được tổ chức trên các cấp độ cao của cõi trí, rồi dần dần được bổ sung nhân sự từ hàng ngũ của chính nhân loại, khi từng người một đạt đến điểm đạo.

Paralleling this activity and implemented, fed and sustained by the Black Lodge, was the appearance of glamor upon the astral plane, and to this thickening glamor humanity steadily contributed and responded. Then as evolution progressed and the human intellect began to make itself felt, “the four veils of maya” and the great “curtain of glamor” began to condition the mental plane. Illusion then appeared, and the distinction between truth and falsehood, between good and evil, and between the left hand Path and the Path of Initiation became apparent to the advanced humanity of the time. These distinctions had always been known to the Hierarchy, but now human beings were faced with them and recognized them; the great potency of intellectual choice confronted humanity and the Aryan race (as that name is correctly used to denote modern intelligent humanity) came into being.

Song hành với hoạt động này, và do Hắc đoàn thực hiện, nuôi dưỡng và duy trì, là sự xuất hiện của ảo cảm trên cõi cảm dục, nhân loại đều đặn góp phần vào và đáp ứng với ảo cảm đang dày đặc này. Rồi khi tiến hoá tiến triển và trí tuệ con người bắt đầu tạo ảnh hưởng, “bốn bức màn của ảo lực” và “tấm màn lớn của ảo cảm” bắt đầu tác động lên cõi trí. Bấy giờ ảo tưởng xuất hiện, và sự phân biệt giữa chân lý và giả dối, giữa thiện và ác, giữa tả đạo và Con Đường Điểm Đạo trở nên rõ ràng đối với phần nhân loại tiến bộ thời ấy. Những phân biệt này vốn luôn được Thánh đoàn biết đến, nhưng nay con người phải đối diện với chúng và nhận ra chúng; quyền năng lớn lao của sự lựa chọn bằng trí tuệ đặt trước nhân loại, và nhân loại Arya, như danh xưng ấy được dùng đúng đắn để chỉ nhân loại thông minh hiện đại, đã ra đời.

As the ages slipped away, men contributed more and more both to the problem and to the solution of maya, of glamor and of illusion. The potency of human thought began to make itself felt; men in increasing numbers sought the Path of Liberation and so passed on into the Hierarchy; they became active and instructed opponents of the Black Lodge and intelligent wielders of energy as it can be projected downwards and used to destroy the four veils, to dissipate glamor and to dispel illusion. Humanity responded more and more sensitively to impacts—both subjective and objective—and their cooperation began to be [Page 189] effective and useful to the Hierarchy, necessitating some changes in hierarchical techniques, releasing some of the hierarchical workers for other and different activities, and greatly complicating the problem and menacing the safety and the status of the Black Lodge.

Khi các thời đại trôi qua, con người ngày càng góp phần nhiều hơn vào cả vấn đề lẫn giải pháp của ảo lực, ảo cảm và ảo tưởng. Quyền năng của tư tưởng con người bắt đầu tạo ảnh hưởng; ngày càng nhiều người tìm kiếm Con Đường Giải Thoát và nhờ vậy bước vào Thánh đoàn; họ trở thành những đối thủ tích cực và được huấn luyện của Hắc đoàn, đồng thời là những người vận dụng năng lượng một cách thông minh khi năng lượng ấy có thể được phóng chiếu xuống dưới và dùng để phá hủy bốn bức màn, để làm tiêu tan ảo cảm và xua tan ảo tưởng. Nhân loại ngày càng đáp ứng nhạy bén hơn với các tác động, cả nội tại lẫn ngoại tại, và sự hợp tác của họ bắt đầu trở nên [Page 189] hữu hiệu và hữu ích đối với Thánh đoàn, khiến cần có một số thay đổi trong các kỹ thuật của Thánh đoàn, giải phóng một số người hoạt động của Thánh đoàn cho những hoạt động khác và khác biệt, đồng thời làm cho vấn đề trở nên phức tạp hơn nhiều và đe dọa nghiêm trọng sự an toàn cũng như địa vị của Hắc đoàn.

One of the results of this mental development was the sending of the disciples out into the world of men; they issued forth in large numbers, and whilst preserving their conscious link with the Ashram with which they were affiliated, they could be trusted to live among men as men and to bring their potency to bear upon the problem of maya and glamor, doing so from below upwards. This work had to be done by disciples who could stand under pressure, who would, in spite of all difficulties, live nobly and prepare for and take the initiation which was for them their next step. Several hundred years ago, only a few could be so trusted. Today (1944) there are many in every land, though there are very few in, owing to the concentration in that unhappy land of the power of the Black Lodge and also to the misuse of the Shamballa force. This force has been isolated and its destructive aspect utilized in, and this has been done without the paralleling activity of the love energy of the Hierarchy. It is this fact that has made it impossible (since 1933) for disciples of the White Lodge to enter. Elsewhere, however, the concentration of active disciples is greater than at any other time in human history.

Một trong những kết quả của sự phát triển trí tuệ này là việc các đệ tử được phái ra thế giới nhân loại; họ xuất hiện với số lượng lớn, và trong khi duy trì mối liên hệ có ý thức với ashram mà họ liên kết, họ có thể được tin cậy để sống giữa con người như những con người, và đem quyền năng của mình tác động lên vấn đề ảo lực và ảo cảm, làm như vậy từ dưới lên trên. Công việc này phải do các đệ tử thực hiện, những người có thể đứng vững dưới áp lực, những người, bất chấp mọi khó khăn, vẫn sống cao thượngchuẩn bị cho, rồi nhận cuộc điểm đạo vốn là bước kế tiếp của họ. Vài trăm năm trước, chỉ một số ít có thể được tin cậy như vậy. Ngày nay, năm 1944, có nhiều người như thế ở mọi quốc gia, dù có rất ít ở, do quyền năng của Hắc đoàn tập trung tại vùng đất bất hạnh ấy, và cũng do việc lạm dụng mãnh lực Shamballa. Mãnh lực này đã bị cô lập và phương diện hủy diệt của nó đã được sử dụng tại, và điều này đã được thực hiện mà không có hoạt động song hành của năng lượng bác ái thuộc Thánh đoàn. Chính sự kiện này đã khiến các đệ tử của Chánh đoàn không thể bước vào kể từ năm 1933. Tuy nhiên, ở những nơi khác, sự tập trung của các đệ tử tích cực lớn hơn bất cứ thời kỳ nào khác trong lịch sử nhân loại.

I have emphasized this point because our second phrase, “let the group widen all the rents within those veils,” has reference here to disciples and the groups which they have everywhere gathered around themselves. It is these groups, many in number and differing in ray potency, which will lead the world through the postwar period into the New Age. It is their pressure upon the physical plane which has precipitated the crisis between the great White Lodge and the Black Lodge. Their work is to let in the light, and where the light goes the Black Lodge must fade out and disappear. It feeds on[3] glamor and illusion and uses the [Page 190] veils of maya as a protection. Students would do well to avoid naming and differentiating the four veils. The veils themselves are transient and variable. They differ as they come under the impact of the seven rays. It is not possible or practical to distinguish them one from the other, except from the angle of the Hierarchy, and their destruction today (though it was not so earlier) has to come from the dense physical plane, and the attack must be made by personalities and individualities dwelling in physical bodies. This is a somewhat new mode of approach, for hitherto only a very few disciples and initiates have been able so to work. Today, hundreds and thousands of disciples are working, and thus learning to use the ancient rules for work within the veils of maya. Let me here give you some of these rules or formulas as they are to be found in The Masters’ Book of Rules and as I can translate them. Some are untranslatable:

Tôi đã nhấn mạnh điểm này vì cụm từ thứ hai của chúng ta, “hãy để nhóm mở rộng mọi vết rách trong các bức màn ấy,” ở đây liên quan đến các đệ tử và những nhóm mà họ đã quy tụ quanh mình ở khắp nơi. Chính các nhóm này, rất đông đảo và khác nhau về quyền năng cung, sẽ dẫn dắt thế giới qua thời kỳ hậu chiến đi vào Kỷ Nguyên Mới. Chính áp lực của họ trên cõi hồng trần đã làm kết tụ cuộc khủng hoảng giữa Thánh đoàn và Hắc đoàn. Công việc của họ là để ánh sáng đi vào, và nơi nào ánh sáng đi tới, Hắc đoàn phải phai tàn và biến mất. Nó sống nhờ ảo cảm và ảo tưởng và dùng [Page 190] các bức màn của ảo lực như một lớp bảo vệ. Các đạo sinh nên tránh đặt tên và phân biệt bốn bức màn. Chính các bức màn ấy là nhất thời và biến đổi. Chúng khác nhau khi chịu tác động của bảy cung. Không thể và cũng không thực tế khi phân biệt chúng với nhau, ngoại trừ từ góc nhìn của Thánh đoàn; và sự phá hủy chúng ngày nay, dù trước kia không phải như vậy, phải khởi phát từ cõi hồng trần đậm đặc, và các phàm ngã cùng các cá thể đang cư ngụ trong thể xác phải thực hiện cuộc tấn công. Đây là một phương thức tiếp cận khá mới, vì cho đến nay chỉ có rất ít đệ tử và điểm đạo đồ có thể làm việc như thế. Ngày nay, hàng trăm và hàng ngàn đệ tử đang làm việc, và nhờ vậy học cách sử dụng các quy luật cổ xưa để làm việc bên trong các bức màn của ảo lực. Ở đây, tôi xin trao cho các bạn một vài quy luật hay công thức này, như chúng được tìm thấy trong Sách Quy Luật của các Chân sư và theo mức tôi có thể dịch được. Một số không thể dịch:

1. Focus the force at the jewel’s point and find the veil that it can touch.

1. Tập trung mãnh lực tại điểm của viên ngọc và tìm bức màn mà nó có thể chạm tới.

2. Carry the force from point to point and then project.

2. Mang mãnh lực từ điểm này sang điểm khác, rồi phóng chiếu.

3. Look for the energy in form behind the veil attacked. A rent within the veil exists. Find it and see.

3. Hãy tìm năng lượng trong hình tướng phía sau bức màn bị tấn công. Có một vết rách trong bức màn. Hãy tìm nó và thấy.

4. A path lies through the veils, giving access to the several courts[4]. Walk on that path, wielding destruction and clearing out the refuse in the court. The court of the money changers is the last.

4. Một con đường đi xuyên qua các bức màn, mở lối vào nhiều sân khác nhau. Hãy bước trên con đường ấy, sử dụng sự hủy phá và quét sạch rác rưởi trong sân. Sân của những kẻ đổi tiền là sân cuối cùng.

5. Meet the descending forces and find the current which is yours.

5. Hãy đối diện các mãnh lực giáng xuống và tìm ra dòng lưu thuộc về bạn.

6. Watch for the evil stream of force which seeks to mend the rents. Project upon that stream the energy of which you know. It led you from the Ashram into the veils. Use it and drive the evil back unto the astral plane.

6. Hãy canh chừng luồng mãnh lực tà ác tìm cách vá lại các vết rách. Hãy phóng chiếu lên luồng ấy năng lượng mà bạn biết. Năng lượng ấy đã dẫn bạn từ ashram vào trong các bức màn. Hãy dùng nó và đẩy tà ác trở lại cõi cảm dục.

7. Work with the Sound and know it as the source of power. Use first the Voice; then use the OM, and later use the Sound. All three together will suffice.

7. Hãy làm việc với Âm Thanh và biết nó là nguồn của quyền năng. Trước hết hãy dùng Tiếng Nói; rồi dùng OM, và về sau dùng Âm Thanh. Cả ba hợp lại sẽ đủ.

There are other rules, but these will give you the [Page 191] major recognitions needed to do this type of work; these are the rules which the adventuring disciple needs to know. They have been used, and should not be interpreted by the lower mind, but with the aid of the initiate consciousness.

Còn có những quy luật khác, nhưng những quy luật này sẽ đem lại cho bạn [Page 191] những nhận thức chính yếu cần thiết để thực hiện loại công việc này; đây là những quy luật mà người đệ tử dấn bước cần biết. Chúng đã được sử dụng, và không nên được diễn giải bằng hạ trí, mà phải với sự trợ giúp của tâm thức điểm đạo đồ.

The second phrase runs as follows:

Cụm từ thứ hai như sau:

2. Let the group widen all the rents within those veils and thus let in the light, (ß)

2. Hãy để nhóm mở rộng tất cả các vết rách trong những bức màn ấy và nhờ đó để ánh sáng đi vào, ()

We come now to a definite group injunction or instruction. The aid of the group is invoked almost in the form of an order. The point of this formulated injunction is that in the new era and in the interlude between the past (wherein prominent disciples worked within the veils of maya) and the New Age (wherein humanity itself will consciously function upon the etheric plane), the work of the esoteric groups, under the direction of the New Group of World Servers, is needed. They will have the capacity to recognize the distinction between the various veils. This is the next needed development. The groups must focus the energy at the very center of the group being; the group must carry the force from point to point and from veil to veil; the group must project the destroying energy and become unitedly aware of what each veil hides; the group must perform the activities (seven in all) of purification; the group must meet, accept and distribute the descending spiritual energy which will finally consummate the work done. The group—through the use of that descending current—will drive the forces of evil back on to the astral plane and will together work with the three aspects of the first ray. These are typified by the Voice, the and the Sound.

Bây giờ chúng ta đi đến một huấn lệnh hay chỉ thị rõ ràng dành cho nhóm. Sự trợ giúp của nhóm được khẩn cầu gần như dưới hình thức một mệnh lệnh. Điểm chính của huấn lệnh đã được xác lập này là trong kỷ nguyên mới và trong khoảng chuyển tiếp giữa quá khứ, khi các đệ tử nổi bật hoạt động bên trong các bức màn của ảo lực, và Kỷ Nguyên Mới, khi chính nhân loại sẽ hữu thức hoạt động trên cõi dĩ thái, công việc của các nhóm nội môn, dưới sự chỉ đạo của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, là cần thiết. Họ sẽ có khả năng nhận ra sự khác biệt giữa các bức màn khác nhau. Đây là sự phát triển kế tiếp cần có. Các nhóm phải tập trung năng lượng ngay tại trung tâm của bản thể nhóm; nhóm phải mang mãnh lực từ điểm này sang điểm khác và từ bức màn này sang bức màn khác; nhóm phải phóng chiếu năng lượng hủy phá và cùng nhau ý thức về điều mà mỗi bức màn che giấu; nhóm phải thực hiện các hoạt động (tổng cộng là bảy) thanh lọc; nhóm phải đối diện, tiếp nhận và phân phối năng lượng tinh thần giáng xuống, là năng lượng cuối cùng sẽ hoàn tất công việc đã thực hiện. Nhóm—thông qua việc sử dụng dòng lưu giáng xuống ấy—sẽ đẩy các mãnh lực tà ác trở lại cõi cảm dục và sẽ cùng nhau làm việc với ba phương diện của cung một. Những phương diện này được biểu trưng bằng Tiếng Nói, và Âm Thanh.

In the above you have in reality a great formula for group activity and also a potent method (once the group can unitedly work together) for the cleansing and the reorganization of the forces active in the world today. These forces are now raging and running wild; their effect is almost tangible (being in etheric substance) and factually and visibly present under the control of the Black Lodge. This [Page 192] Lodge uses the voices of lying propaganda, the Word of death (which I shall not give to you for the OM, the Word of Life, suffices), and the Sound of the densest aspect in manifestation—the sound of power in the mineral kingdom. This constitutes an unparalleled condition and creates a unique concentration of the Forces of Good and the forces of evil upon the etheric plane. The task of all groups which are working under the Masters of the Wisdom is to let in the light, utilizing those rents which already exist within the veils of maya.

Trong những điều trên, thật ra bạn có một công thức lớn cho hoạt động nhóm, và cũng có một phương pháp mạnh mẽ, một khi nhóm có thể cùng nhau làm việc trong sự hợp nhất, để thanh lọc và tái tổ chức các mãnh lực đang hoạt động trong thế giới ngày nay. Những mãnh lực này hiện đang cuồng nộ và hoành hành không kiểm soát; tác động của chúng gần như có thể sờ thấy được, vì ở trong chất liệu dĩ thái, và hiện diện một cách thực sự, hữu hình dưới quyền kiểm soát của Hắc đoàn. [Page 192] Hắc đoàn này sử dụng những tiếng nói của tuyên truyền dối trá, Linh từ của sự chết, điều mà tôi sẽ không trao cho bạn vì OM, Linh từ của Sự Sống, là đủ, và Âm Thanh của phương diện đậm đặc nhất trong biểu hiện—âm thanh của quyền năng trong giới kim thạch. Điều này tạo nên một tình trạng chưa từng có và tạo ra một sự tập trung độc nhất vô nhị của các Mãnh Lực Thiện và các mãnh lực tà ác trên cõi dĩ thái. Nhiệm vụ của tất cả các nhóm đang làm việc dưới các Chân sư Minh triết là để ánh sáng đi vào, bằng cách sử dụng những vết rách vốn đã hiện hữu trong các bức màn ảo lực.

Three rents within the veils of maya

Ba vết rách trong các bức màn ảo lực

Three major rents within these veils might here be noted. They are symbolically referred to in The Bible, though their essential meaning has not been noted or comprehended.

Ở đây có thể ghi nhận ba vết rách chính trong các bức màn này. Chúng được nhắc đến một cách biểu tượng trong Kinh Thánh, ý nghĩa cốt yếu của chúng chưa được lưu ý hay thấu hiểu.

The first major rent was made by the establishment of the Law of God, and this is portrayed for us symbolically in The Old Testament in the story of Moses. He went up into the Mount of God and there received the Ten Commandments. This is the expression of divine law as adapted for humanity and as needed in the projection of those forces which will destroy, purify and reorganize. Moses, the Lawgiver, penetrated to one of the halls within the veils of maya, and there encountered the glory of the Lord. This was of such a radiance that, as the Old Commentary puts it:

Vết rách chính thứ nhất được tạo ra qua việc thiết lập Định luật của Thượng đế, và điều này được trình bày cho chúng ta một cách biểu tượng trong Cựu Ước qua câu chuyện về Môi-se. Ông đi lên Núi của Thượng đế và tại đó nhận Mười Điều Răn. Đây là sự biểu đạt của định luật thiêng liêng, được thích ứng cho nhân loại và cần thiết trong việc phóng chiếu những mãnh lực sẽ hủy phá, thanh lọc và tái tổ chức. Môi-se, Nhà Lập Luật, đã xuyên thấu đến một trong các phòng bên trong những bức màn ảo lực, và tại đó gặp vinh quang của Chúa. Vinh quang ấy rạng rỡ đến nỗi, như Cổ Luận diễn tả:

“He who entered among the first to penetrate within the veils absorbed the light and knew not how to pass it on. Neither he nor they were ready, but the light was there and likewise the two directing eyes. But only one can use, project and send the light upon its mission. The other must be blinded, and of this fact the Lawgiver was aware. He therefore veiled the light, assuming towards this end a fragment of that which he had helped destroy, and so descended from the mountain top, back to the darkness of the earth.”

“Người bước vào trong số những kẻ đầu tiên xuyên thấu vào trong các bức màn đã hấp thụ ánh sáng và không biết cách truyền nó onward. Cả ông lẫn họ đều chưa sẵn sàng, nhưng ánh sáng đã có đó, và hai con mắt định hướng cũng vậy. Nhưng chỉ một con mắt có thể sử dụng, phóng chiếu và gửi ánh sáng đi thi hành sứ mệnh của nó. Con mắt kia phải bị làm mù, và Nhà Lập Luật đã ý thức về sự kiện này. Vì vậy, ông che phủ ánh sáng, nhằm mục đích ấy mà khoác lấy một mảnh của điều ông đã góp phần hủy phá, rồi từ đỉnh núi đi xuống, trở lại bóng tối của trần gian.”

The second, and much the most important rent, was made by the power of the second aspect when the Christ subjected the Master Jesus to the fourth initiation and Their joint influence was triumphant over death. Then we read [Page 193] that the veil of the was split in twain from the top to the bottom. The lawgiver assisted at the first rending as the climax to the third initiation, and there was a somewhat similar process of glorification. A similar event took place at the Transfiguration of the Christ, over-shadowing or rather working through the Master Jesus. But at the triumph over death and through the Great Renunciation or Crucifixion episode, a great and major rending took place. The Law, when rightly kept and interpreted, defines man’s attitude upon the mental plane and serves to make a rent in the etheric veil, separating the etheric vehicle in its fourfold aspect from the dense physical form. The rending of the second veil at the time of the Crucifixion let in light on to the second level of the etheric plane, and a new type of illumination was spread abroad upon the earth. Law and Love could now penetrate into the consciousness of humanity in a new and direct manner, as the brain of man became involved through the substance of the etheric counterpart of the physical brain; the instinct to self-preservation (one of the lowest aspects of Law) and the tendency to sensitivity (feeling or emotion, one of the lowest forms of Love) could be expressed in a more comprehensive manner.

Vết rách thứ hai, và quan trọng hơn rất nhiều, được tạo ra bởi quyền năng của phương diện thứ hai khi Đức Christ đưa Chân sư Jesus trải qua lần điểm đạo thứ tư và ảnh hưởng phối hợp của Các Ngài đã chiến thắng sự chết. Rồi chúng ta đọc thấy [Page 193] rằng bức màn của Đền Thờ bị xé làm hai từ trên xuống dưới. Vị ban Định luật đã tham dự vào lần xé rách thứ nhất như cao điểm của lần điểm đạo thứ ba, và đã có một tiến trình vinh hiển hóa phần nào tương tự. Một sự kiện tương tự đã diễn ra trong cuộc Biến hình của Đức Christ, khi Ngài phủ bóng, hay đúng hơn là hoạt động thông qua Chân sư Jesus. Nhưng trong chiến thắng đối với sự chết và qua biến cố Sự Từ Bỏ Vĩ Đại hay Sự Đóng Đinh, một vết rách lớn lao và chủ yếu đã xảy ra. Định luật, khi được tuân giữ và diễn giải đúng đắn, xác định thái độ của con người trên cõi trí và có tác dụng tạo nên một vết rách trong bức màn dĩ thái, phân cách vận cụ dĩ thái trong phương diện tứ phân của nó với hình tướng hồng trần đậm đặc. Sự xé rách bức màn thứ hai vào thời điểm Đóng Đinh đã cho ánh sáng tràn vào cấp độ thứ hai của cõi dĩ thái, và một kiểu soi sáng mới đã lan tỏa khắp Trái Đất. Định luật và Bác ái giờ đây có thể thâm nhập vào tâm thức nhân loại theo một cách mới mẻ và trực tiếp, khi bộ não con người bắt đầu được liên hệ thông qua chất liệu của đối phần dĩ thái của bộ não hồng trần; bản năng tự bảo tồn, một trong những phương diện thấp nhất của Định luật, và khuynh hướng nhạy cảm, tức cảm giác hay cảm xúc, một trong những hình thức thấp nhất của Bác ái, có thể được biểu lộ theo một cách bao quát hơn.

Another rending of the veil, and one of relatively minor importance, took place when Saul of Tarsus saw the glory of the Lord and was changed into Paul the Apostle. His forward moving and potent directness and sincerity, pushing along “the road to,” forced him to penetrate through one of the separating veils. The suffereth violence and the violent take it by force. This force, working in Saul, drove him through the veil which prevented vision, and the rent thereby made brought him a new revelation. He was, we are told, completely blinded for three days, and this the esoteric records corroborate. This is a well-known correspondence to the three days in the tomb and one recognized by esotericists; it corresponds also to the penetration into the third heaven to which Paul testified later in his life. He realized the nature of the Law, as his later epistles demonstrate; he was brought [Page 194] to the feet of the Initiator through the effect of love, and thus he availed himself of the two earlier rents in the veil. Whilst thus reaching out to the light, he wrote that epistle about which so much controversy has raged—The Epistle to the Hebrews. In it the results of the rending of the third veil provide the keynote and express the first and highest aspect, as the two earlier rents lead to the revelation of the third and second divine qualities. This first aspect is seen as synthesis, as the Communion of Saints, and as related to the Lord of the World, Melchizedek. Read that epistle in the light of these remarks, and note how a great initiate endeavored to reveal some facts, inherent in the will or power aspect. These were, however, far beyond the ken of the disciples and aspirants of the time, but can today form a true part of the realization of humanity. Law, Love, Union or Synthesis—all these great energies have seeped into the human consciousness and now provide the platform upon which the new civilization can be founded, the new approach to God be taken, and new human relations be implemented.

Một sự xé rách khác của bức màn, và là một sự xé rách có tầm quan trọng tương đối nhỏ hơn, đã xảy ra khi Sau-lơ thành Tạt-sơ thấy vinh quang của Chúa và được biến đổi thành Sứ đồ Phao-lô. Sự tiến tới của ông, cùng tính trực tiếp và chân thành mạnh mẽ, thúc đẩy ông dọc theo “con đường đến Đa-mách,” đã buộc ông xuyên qua một trong những bức màn phân cách. Thiên Giới chịu sự cưỡng bức và những kẻ mạnh bạo dùng sức mà chiếm lấy. Mãnh lực này, hoạt động trong Sau-lơ, đã đẩy ông xuyên qua bức màn ngăn cản linh thị, và vết rách nhờ đó được tạo ra đã đem đến cho ông một sự mặc khải mới. Theo lời kể, ông đã hoàn toàn bị mù trong ba ngày, và các ký lục huyền bí xác nhận điều này. Đây là một sự tương ứng nổi tiếng với ba ngày trong mộ và được các nhà bí truyền học công nhận; nó cũng tương ứng với sự thâm nhập vào cõi trời thứ ba mà Phao-lô đã làm chứng về sau trong đời ông. Ông đã chứng nghiệm bản chất của Định luật, như các thư tín về sau của ông chứng minh; ông được đưa [Page 194] đến dưới chân Đấng Điểm đạo nhờ tác động của bác ái, và như vậy ông đã vận dụng hai vết rách trước đó trong bức màn. Trong khi vươn tới ánh sáng như thế, ông đã viết bức thư tín mà quanh đó đã bùng lên biết bao tranh luận gay gắt—Thư gửi tín hữu Híp-ri. Trong đó các kết quả của sự xé rách bức màn thứ ba cung cấp chủ âm và biểu lộ phương diện thứ nhất, cao nhất, vì hai vết rách trước đó dẫn đến sự mặc khải về các phẩm tính thiêng liêng thứ ba và thứ hai. Phương diện thứ nhất này được thấy như tổng hợp, như sự Hiệp thông của các Thánh, và như có liên hệ với Đức Chúa Tể Thế Giới, Mên-chi-xê-đéc. Hãy đọc bức thư tín ấy dưới ánh sáng của những nhận xét này, và lưu ý cách một điểm đạo đồ vĩ đại đã cố gắng mặc khải một số sự kiện vốn tiềm tàng trong phương diện ý chí hay quyền năng. Tuy nhiên, những điều này vượt xa tầm hiểu biết của các đệ tử và người chí nguyện thời đó, nhưng ngày nay có thể trở thành một phần chân thực trong sự chứng nghiệm của nhân loại. Định luật, Bác ái, Hợp nhất hay Tổng hợp—tất cả những năng lượng lớn lao này đã thấm dần vào tâm thức nhân loại và giờ đây cung cấp nền tảng để nền văn minh mới có thể được xây dựng, cách tiếp cận mới với Thượng đế có thể được thực hiện, và các mối quan hệ nhân loại mới có thể được triển khai.

Three great rents, therefore, now exist, as well as numerous smaller and less important ones, to which no reference has been or need be made. Three great Sons of God at the moment of initiation made a major contribution to the human consciousness through their determined will-to-law, will-to-love and will-to-synthesis. Mankind was thereby aided to move forward more easily along the “lighted Way,” to pass through the halls of maya, aided by the light pouring through the rents made in the separating veils by perfected divine Men at the very moment of Their triumph. A fourth great rent still remains to be made as a result of the energies released and the gained good which the three earlier rents have made possible. This fourth major rent will be made by humanity itself, standing with “massed intent,” focused through the groups which are externalizations of the Ashrams of the Masters. It will therefore be made at the time that the Hierarchy takes physical shape upon the earth again. [Page 195]

Vì vậy, hiện nay có ba vết rách lớn, cũng như nhiều vết rách nhỏ hơn và kém quan trọng hơn, mà không hề, và cũng không cần, được nhắc đến. Ba Người Con vĩ đại của Thượng đế vào khoảnh khắc điểm đạo đã đóng góp một phần chủ yếu cho tâm thức nhân loại thông qua Ý Chí-Định Luật, Ý Chí-Yêu Thương và Ý Chí-Tổng Hợp kiên định của Các Ngài. Nhờ đó, nhân loại được trợ giúp để tiến bước dễ dàng hơn trên “Con Đường được Soi Sáng,” để đi qua các phòng của ảo lực, được trợ giúp bởi ánh sáng tuôn tràn qua những vết rách mà các Con Người thiêng liêng đã hoàn thiện tạo ra trong các bức màn phân cách ngay chính khoảnh khắc chiến thắng của Các Ngài. Một vết rách lớn thứ tư vẫn còn phải được tạo ra như kết quả của những năng lượng đã được giải phóng và điều thiện đã đạt được mà ba vết rách trước đó đã làm cho khả hữu. Vết rách lớn thứ tư này sẽ do chính nhân loại tạo ra, khi đứng với “ý định tập hợp,” được tập trung qua các nhóm vốn là những ngoại hiện của các ashram của các Chân sư. Do đó, nó sẽ được tạo ra vào thời điểm Thánh Đoàn lại mang hình hài hồng trần trên Trái Đất. [Page 195]

What, in reality, is a rent?

Thực ra, vết rách là gì?

Bear ever in mind the symbolical nature of this teaching. The veils are not actually existing veils in the usual sense of that term. They are in the nature of opposing forces and energies which act as inhibitory factors to the aspirant as he seeks to make progress, and to the entire human family as it moves onward upon the Path of Evolution. They are not basically related to consciousness at all, for in the majority of cases these veils “lie on the earthward side of being and not upon the side of light”; they are essentially physical forces, and although they are the result of man’s own effort and activity down the ages, they are largely unrealized, unseen obstacles to his progress. They constitute the lowest concentration of forces precipitated from levels of activity other and higher than the physical, as you understand physical substance. If one might use a phrase which, even if true, is misleading, they lie between the subtle inner man, mental and astral, and his physical brain. They are that which prevents brain registration of the world of causes and of meaning. This inner world can be emotional or mental in its focus and in its force precipitation on to the etheric plane. It can be the fused result of personality integration and be a combination of energies; or it can be dominated by the effects of soul energy. These, if evoked, can penetrate occultly and drive out or break down and through the separating veiling forces, thus producing coordination eventually between soul and brain.

Hãy luôn ghi nhớ bản chất biểu tượng của giáo huấn này. Các bức màn không phải là những bức màn thật sự hiện hữu theo nghĩa thông thường của thuật ngữ ấy. Chúng có bản chất là các mãnh lực và năng lượng đối kháng vốn đóng vai trò như những yếu tố cản trở đối với người chí nguyện khi y tìm cách tiến bộ, và đối với toàn thể gia đình nhân loại khi tập thể ấy tiến bước trên Con Đường Tiến Hóa. Về căn bản, chúng hoàn toàn không liên quan đến tâm thức, vì trong đa số trường hợp các bức màn này “nằm ở phía hướng về đất của bản thể chứ không ở phía ánh sáng”; chúng là những mãnh lực hồng trần về bản chất, và mặc dù chúng là kết quả của nỗ lực và hoạt động của chính con người qua các thời đại, phần lớn chúng vẫn là những chướng ngại chưa được nhận ra, chưa được nhìn thấy đối với sự tiến bộ của y. Chúng tạo thành sự tập trung thấp nhất của các mãnh lực được ngưng tụ từ những cấp độ hoạt động khác với và cao hơn cõi hồng trần, theo cách các bạn hiểu chất liệu hồng trần. Nếu có thể dùng một cụm từ mà, dù đúng, vẫn dễ gây hiểu lầm, chúng nằm giữa con người nội tại vi tế, thuộc trí tuệ và cảm dục, với bộ não hồng trần. Chúng là điều ngăn cản bộ não ghi nhận thế giới của nguyên nhân và của ý nghĩa. Thế giới nội tại này có thể có tiêu điểm và sự ngưng tụ mãnh lực xuống cõi dĩ thái mang tính cảm xúc hoặc trí tuệ. Nó có thể là kết quả dung hợp của sự tích hợp phàm ngã và là một sự phối hợp các năng lượng; hoặc nó có thể chịu sự chi phối của các hiệu quả từ năng lượng linh hồn. Các năng lượng này, nếu được gợi lên, có thể xuyên thấu một cách huyền bí và đẩy lùi, hoặc phá vỡ rồi xuyên qua, các mãnh lực che phủ gây chia cách, nhờ đó cuối cùng tạo nên sự phối hợp giữa linh hồn và bộ não.

These veils are as curtains over the windows of vision. They prevent realization of that which lies beyond the room or area of average or mediocre experience, and they prevent the light from penetrating.

Các bức màn này giống như những tấm rèm phủ trên các cửa sổ của tầm nhìn. Chúng ngăn cản sự nhận biết về những gì nằm bên ngoài căn phòng hay phạm vi kinh nghiệm trung bình hoặc tầm thường, và chúng ngăn ánh sáng xuyên vào.

The work of the three Sons of God referred to above is not concerned with the rending of the veils of their own interior life and forces, thus bringing about soul contact unimpeded and clear, or with the illumination of experience upon the physical plane. That had long ago been effected in these special and individual cases. Their service was rendered to humanity and They made rents in the veils which separated mankind as a whole from the higher spiritual [Page 196] experience and from registration of the fact of the existence of the Hierarchy. Theirs was a universal service, and made possible further human progress, for until some greater measure of light had been let in it was not possible for man to see and grasp the necessity to destroy the obstacles to light. The veils remain unperceived by the average aspirant until some light appears through the rents in the “curtain of impediment.”

Công việc của ba Người Con của Thượng đế được nói đến ở trên không liên quan đến việc xé toạc các bức màn của đời sống và các mãnh lực nội tại nơi chính Các Ngài, nhờ đó tạo nên sự tiếp xúc với linh hồn không bị cản trở và rõ ràng, cũng không liên quan đến sự soi sáng kinh nghiệm trên cõi hồng trần. Điều đó từ lâu đã được hoàn tất trong những trường hợp đặc biệt và cá biệt này. Các Ngài đã phụng sự nhân loại và tạo ra những vết rách trong các bức màn vốn chia cách toàn thể nhân loại khỏi kinh nghiệm tinh thần cao siêu [Page 196] và khỏi sự ghi nhận sự kiện về sự hiện hữu của Thánh Đoàn. Sự phụng sự của Các Ngài mang tính phổ quát, và làm cho sự tiến bộ xa hơn của nhân loại trở nên khả hữu, vì cho đến khi một lượng ánh sáng lớn hơn phần nào được mở cho đi vào, con người vẫn không thể thấy và nắm bắt được sự cần thiết phải phá hủy các chướng ngại đối với ánh sáng. Các bức màn vẫn không được người chí nguyện trung bình nhận ra cho đến khi một phần ánh sáng xuất hiện qua những vết rách trong “bức màn cản trở.”

The glory of the Christ and the uniqueness of His accomplishment lies in the fact that He was the first to bring about the rending of the veils from “the top to the bottom.” This He could do because He acted as the World Savior, outside and independent of humanity; He was free from the aura of the human family and—again quoting the Old Commentary, as far as it is possible to translate these archaic terms:

Vinh quang của Đức Christ và tính độc đáo trong thành tựu của Ngài nằm ở sự kiện rằng Ngài là Đấng đầu tiên tạo nên việc xé toạc các bức màn từ “trên xuống dưới.” Ngài có thể làm điều này vì Ngài hành động như Đấng Cứu Thế, ở bên ngoài và độc lập với nhân loại; Ngài thoát khỏi hào quang của gia đình nhân loại và—lại trích dẫn Cổ Luận, trong chừng mực có thể dịch các thuật ngữ cổ xưa này:

“From above He worked and from the further side issued the force which tore its way into the separating forces, driving them in a threefold direction, from the point which is the highest, to the right and to the left, thus letting in that streaming force which resolved itself as light, as love, as lifting energy. Thus worked the One for Whom all men must wait. He is as man, but works not as a man. He works as light divine, as energy supreme and as the Savior of the world of men.”

“Từ trên cao, Ngài hoạt động, và từ phía bên kia xa hơn, mãnh lực phát ra, xé đường tiến vào các mãnh lực chia cách, đẩy chúng theo ba hướng, từ điểm cao nhất sang phải và sang trái, nhờ đó cho phép mãnh lực tuôn chảy ấy đi vào, rồi tự phân giải thành ánh sáng, thành tình thương, thành năng lượng nâng cao. Như thế, Đấng mà mọi người phải chờ đợi đã hoạt động. Ngài giống như con người, nhưng không hoạt động như một con người. Ngài hoạt động như ánh sáng thiêng liêng, như năng lượng tối thượng và như Đấng Cứu Thế của thế giới loài người.”

Let me again quote from the same source and give you the ancient names of the veils:

Hãy để tôi lại trích dẫn từ cùng nguồn ấy và trao cho các bạn những tên gọi cổ xưa của các bức màn:

“Next to the earthly plane is found the Veil of Impulsion and then the Hall of Concentration. To that succeeds the Veil of Distortion, related to the world of glamor as impulsion is to force. Beyond that veil is found the Hall of Choice. And then we find another veil, the Veil of Separation, and beyond it lies the Hall of Blinded Men—blinded by light but facing towards the final veil, the Veil of Aspiration. Four veils, three halls and many men.”

“Kế cận cõi trần thế là Bức Màn Xung Động và rồi đến Phòng Tập Trung. Tiếp theo đó là Bức Màn Biến Dạng, liên hệ với thế giới ảo cảm cũng như xung động liên hệ với mãnh lực. Bên kia bức màn ấy là Phòng Chọn Lựa. Rồi chúng ta gặp một bức màn khác, Bức Màn Chia Cách, và bên kia nó là Phòng của Những Người Mù Lòa—bị ánh sáng làm mù nhưng đang hướng về bức màn cuối cùng, Bức Màn Khát Vọng. Bốn bức màn, ba phòng và nhiều người.”

I will leave you to make due application of this paragraph [Page 197] of stated truth and of condensed realization. I would remind you that concentration is one thing to the aspirant, and a very different thing to the initiate, and that the choices made by the initiate resemble not those made by the disciple. The blinding force referred to can range all the way from the deep spiritual darkness in which the average man moves, through the blindness of which Saul of Tarsus was the exponent, up to that condition which overwhelms the highest Initiate as He awaits entrance into the Council Chamber of the Lord.

Tôi để các bạn tự mình áp dụng thích đáng đoạn văn này [Page 197] về chân lý đã được trình bày và sự chứng nghiệm được cô đọng. Tôi muốn nhắc các bạn rằng sự tập trung là một điều đối với người chí nguyện, và là một điều rất khác đối với điểm đạo đồ, và rằng những chọn lựa của điểm đạo đồ không giống những chọn lựa của đệ tử. Mãnh lực gây mù lòa được nói đến có thể trải dài từ bóng tối tinh thần sâu thẳm trong đó người bình thường đang bước đi, qua sự mù lòa mà Sau-lơ xứ Tạt-sơ là người tiêu biểu, cho đến trạng thái áp đảo điểm đạo đồ cao nhất khi Ngài chờ được bước vào Phòng Hội Đồng của Đức Chúa Tể.

Blindness is a prelude to initiation

Sự mù lòa là khúc dạo đầu cho điểm đạo

Blindness is a prelude to initiation of no matter what degree. It is only at the last and highest initiation that the “tendency to blindness” comes to a complete end. In the early stages of evolution, blindness is natural, innate, unavoidable and impenetrable. For ages man walks in the dark. Then comes the stage wherein this normal blindness is a protection, but has also entered a phase wherein it can be overcome. Technically speaking, the blindness to which I have referred is something different. From the moment when a human being catches the first, faint glimpse of the “something other” and sees himself in juxtaposition to that dimly sensed, distant reality, the blindness with which I have dealt is something imposed by the soul upon the hastening aspirant, so that the lessons of conscious experience, of discipleship, and later of initiation may be correctly assimilated and expressed; by its means, the hurrying seeker is defended from making too rapid and superficial progress. It is depth and a profound “rootedness” (if I may coin such a word) for which the inner Teacher and later the Master looks, and “occult blindness,” its need, its wise handling and its final elimination are part of the curriculum imposed upon the candidate. This truth is recognized, though not truly interpreted, by the Masonic Fraternity. In one of the most important and highest initiations, the candidate enters with unblended eyes and no hoodwink is applied. Then, halfway through the ceremony, he is blinded, and in that condition passes through the terrific tests, symbolic of a certain high stage upon the Path. [Page 198]

Sự mù lòa là khúc dạo đầu cho điểm đạo, bất kể ở cấp độ nào. Chỉ ở lần điểm đạo cuối cùng và cao nhất, “khuynh hướng mù lòa” mới hoàn toàn chấm dứt. Trong những giai đoạn đầu của tiến hoá, sự mù lòa là tự nhiên, bẩm sinh, không thể tránh và không thể xuyên thấu. Qua nhiều thời đại, con người bước đi trong bóng tối. Rồi đến giai đoạn trong đó sự mù lòa bình thường này là một sự bảo vệ, nhưng cũng đã bước vào một pha mà nó có thể được vượt qua. Nói theo thuật ngữ chuyên môn, sự mù lòa mà tôi đã đề cập là một điều khác. Từ khoảnh khắc một con người bắt được thoáng nhìn đầu tiên, mờ nhạt, về “một điều gì khác” và thấy chính mình đặt kề bên thực tại xa xôi, được cảm nhận lờ mờ ấy, sự mù lòa mà tôi đã bàn đến là một điều do linh hồn áp đặt lên người chí nguyện đang tiến nhanh, để những bài học của kinh nghiệm hữu thức, của địa vị đệ tử, và về sau của điểm đạo, có thể được đồng hoá và biểu lộ đúng đắn; nhờ phương tiện ấy, người tìm đạo vội vã được bảo vệ khỏi việc tiến bộ quá nhanh và hời hợt. Chính chiều sâu và một sự “bén rễ” sâu xa, nếu tôi có thể đặt ra một từ như thế, là điều mà Huấn sư bên trong, và về sau là Chân sư, tìm kiếm; và “sự mù lòa huyền bí”, nhu cầu của nó, cách xử lý khôn ngoan nó và sự loại bỏ cuối cùng nó, là một phần của chương trình huấn luyện áp đặt lên ứng viên. Chân lý này được Hội Tam Điểm nhận ra, dù chưa được diễn giải thật đúng. Trong một trong những cuộc điểm đạo quan trọng nhất và cao nhất, ứng viên bước vào với đôi mắt không bị che và không có khăn bịt mắt nào được đặt lên. Rồi, đến giữa nghi lễ, y bị làm cho mù, và trong tình trạng ấy, y vượt qua những thử thách khủng khiếp, tượng trưng cho một giai đoạn cao nào đó trên Đường Đạo. [Page 198]

Blindness is therefore, esoterically speaking, the place of learning and is related to the eye, throat and heart doctrine. It is not related to the dim vision, the sensing of half truths and the groupings of the aspirant in the process of learning about himself, or as he visions the goal and seeks to walk the Path. That is a familiar condition and one to which all beginners are subjected and which they cannot avoid for it is inherent in their natures. Occult blindness is spiritually induced and “blacks out” the glory and the promised attainment and reward. The disciple is thrown back upon himself. All he can see is his problem, his tiny field of experience, and his—to him—feeble and limited equipment. It is to this stage that the prophet Isaiah refers when he speaks of giving to the struggling aspirant “the treasures of darkness.” The beauty of the immediate, the glory of the present opportunity and the need to focus upon the task and service of the moment are the rewards of moving forward into the apparently impenetrable darkness. For the initiate, this blindness is still more esoteric; there remains for him absolutely no light whatsoever—no earth light nor any light within the three worlds at all. There is only blackness. To this the mystic has given the name “the dark night of the soul.” The true dark night (of which the mystic’s dark night is only a dim reflection, to speak paradoxically) marks a very exalted state of Being and stage of development. It was into the blackness and darkness that Christ penetrated as He over-shadowed one of His Masters, the Master Jesus upon the Cross. This will strike a new note for many, and can only now be revealed. It is concerned with the facility with which a Master participates in the experience, subjectively realized, of the disciples whom He has prepared for initiation. It relates also to the still higher identification of the Christ with those initiates who are taking the fourth and fifth initiations, such as the Master Jesus in the experience referred to above. Christ is no longer the Initiator, but stands to the initiate as the Master does to the disciple. It is a curious phase of “identical participation,” which evokes no reaction from the Master or the [Page 199] Master of the Masters, the Christ, except in so far as it enables the divine Participator Himself to face another area of darkness, veiling and hiding a still more supernal glory. The above paragraph is far beyond the comprehension of the average student, but will be comprehended by those whose eyes are open to be blinded.

Vì vậy, nói một cách huyền bí, sự mù lòa là nơi học hỏi và liên hệ với nhãn pháp, giáo pháp cổ họng và tâm pháp.không liên hệ với tầm nhìn mờ tối, sự cảm nhận những nửa chân lý và các nhóm kết hợp của người chí nguyện trong tiến trình học biết về chính mình, hoặc khi y hình dung mục tiêu và tìm cách bước đi trên Đường Đạo. Đó là một tình trạng quen thuộc, một tình trạng mà mọi người sơ cơ đều phải chịu và họ không thể tránh, vì nó vốn có trong bản chất của họ. Sự mù lòa huyền bí được tạo nên về mặt tinh thần và “làm tối sầm” vinh quang cùng thành tựu và phần thưởng đã được hứa hẹn. Đệ tử bị ném trở lại với chính mình. Tất cả những gì y có thể thấy là vấn đề của y, phạm vi kinh nghiệm nhỏ bé của y, và trang bị mà đối với y là yếu ớt và giới hạn. Chính giai đoạn này mà nhà tiên tri Isaiah ám chỉ khi ông nói về việc ban cho người chí nguyện đang phấn đấu “những kho tàng của bóng tối”. Vẻ đẹp của điều ngay trước mắt, vinh quang của cơ hội hiện tại và nhu cầu tập trung vào nhiệm vụ cùng sự phụng sự của khoảnh khắc là những phần thưởng của việc tiến tới vào trong bóng tối dường như không thể xuyên thấu. Đối với điểm đạo đồ, sự mù lòa này còn huyền bí hơn nữa; đối với y, tuyệt đối không còn ánh sáng nào cả — không ánh sáng của đất, cũng không bất cứ ánh sáng nào trong ba cõi thấp. Chỉ có bóng đen. Nhà thần bí đã gọi điều này là “đêm tối của linh hồn”. Đêm tối đích thực, mà đêm tối của nhà thần bí chỉ là một phản chiếu mờ nhạt, nói theo lối nghịch lý, đánh dấu một trạng thái Bản Thể rất cao cả và một giai đoạn phát triển. Chính vào trong bóng đen và bóng tối ấy mà Đức Christ đã thâm nhập khi Ngài phủ bóng một trong các Chân sư của Ngài, Chân sư Jesus trên Thập Giá. Điều này sẽ gióng lên một âm điệu mới đối với nhiều người, và chỉ nay mới có thể được mặc khải. Nó liên quan đến sự dễ dàng mà một Chân sư tham dự vào kinh nghiệm, được chứng nghiệm một cách chủ quan, của các đệ tử mà Ngài đã chuẩn bị cho điểm đạo. Nó cũng liên quan đến sự đồng hoá còn cao hơn của Đức Christ với những điểm đạo đồ đang trải qua lần điểm đạo thứ tư và lần điểm đạo thứ năm, như Chân sư Jesus trong kinh nghiệm vừa được nhắc đến ở trên. Đức Christ không còn là Đấng Điểm đạo, mà đứng đối với điểm đạo đồ như Chân sư đứng đối với đệ tử. Đó là một pha kỳ lạ của “sự tham dự đồng nhất”, không gợi lên phản ứng nào từ Chân sư hay [Page 199] Chân sư của các Chân sư, Đức Christ, ngoại trừ trong chừng mực nó giúp chính Đấng Tham Dự thiêng liêng đối diện với một vùng bóng tối khác, đang che phủ và ẩn giấu một vinh quang còn thiên thượng hơn nữa. Đoạn văn trên vượt xa tầm thấu hiểu của đạo sinh trung bình, nhưng sẽ được những người có đôi mắt mở ra để bị làm cho mù thấu hiểu.

Students must remember that the four veils upon the etheric plane are only the lower symbolic correspondences to certain great areas of divine expression, and that ever the glory must be approached through the darkness. Such is the Law. These higher veiling factors can be mentioned and enumerated, but more information concerning these mysteries, this separating darkness encountered by the initiate may not be given:

Các đạo sinh phải nhớ rằng bốn bức màn trên cõi dĩ thái chỉ là những tương ứng biểu tượng thấp hơn của một số vùng biểu lộ thiêng liêng lớn lao, và vinh quang bao giờ cũng phải được tiếp cận qua bóng tối. Đó là Định luật. Những yếu tố che phủ cao hơn này có thể được nhắc đến và liệt kê, nhưng không thể trao thêm thông tin nào về các huyền nhiệm này, về bóng tối phân cách mà điểm đạo đồ gặp phải:

– Veil I. That which faces the disciple as he wrestles with the Dweller on the Threshold and becomes conscious of the Angel of the Presence, though as yet he sees Him not.

– Bức màn I. Điều đối diện với đệ tử khi y vật lộn với Kẻ Chận Ngõ và trở nên có ý thức về Thiên Thần của Hiện Diện, dù y vẫn chưa thấy Ngài.

– Veil II. That which the initiate encounters at the fourth initiation and which forces him to cry out in his blindness: “My God, my God, why hast Thou forsaken me.” The words uttered by the Christ at that time, and as the Participator, have been forgotten by the orthodox, though preserved by the esotericist. To them H.P.B. refers in The Secret Doctrine.

– Bức màn II. Điều mà điểm đạo đồ gặp ở lần điểm đạo thứ tư và buộc y phải kêu lên trong sự mù lòa của mình: “Thượng đế của con, Thượng đế của con, sao Ngài bỏ rơi con.” Những lời Đức Christ thốt ra vào lúc ấy, và với tư cách Đấng Tham Dự, đã bị giới chính thống lãng quên, dù được nhà bí truyền học gìn giữ. H.P.B. đề cập đến những lời ấy trong Giáo Lý Bí Nhiệm.

– Veil III. That mysterious blindness which overwhelms the initiate when—as the Embodiment of all the forces of the Spiritual Triad—He faces the Monad and is impelled forward by the “devastating Will” of the first aspect. Of this I may not write. It concerns the sixth and seventh initiations.

– Bức màn III. Sự mù lòa huyền nhiệm ấy tràn ngập điểm đạo đồ khi — với tư cách Hiện Thân của mọi mãnh lực của Tam Nguyên Tinh Thần — Ngài đối diện với chân thần và bị “Ý Chí tàn phá” của phương diện thứ nhất thúc đẩy tiến tới. Về điều này tôi không thể viết. Nó liên quan đến lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy.

– Veil IV. That “unknown impenetrable Void, the utter darkness of negation” which Those Who are in the Council Chamber of the Lord of the World and Who are focused in Shamballa face when the time comes for Them to “negate” our planetary life-expression and experience altogether. They must then leave behind all the seven planes of spiritual and human experience [Page 200] and pass onward and out into phases of Life and Being for which we have no words, and of which we have no conception. They leave through the fourth veil on the cosmic physical etheric levels (on the highest plane of our seven planes) and pass on to the cosmic astral plane. There They negate its existence as They have earlier negated the existence of the astral plane, so familiar an illusion to all of us. The initiate passes on to the cosmic astral plane and finds—What? Who knows? I do not.

– Bức màn IV. “Khoảng Không không thể xuyên thấu chưa được biết, bóng tối tuyệt đối của sự phủ định” mà Những Đấng ở trong Phòng Hội Đồng của Đức Chúa Tể Thế Giới và tập trung ở Shamballa phải đối diện khi đến thời điểm để Các Ngài “phủ định” hoàn toàn biểu lộ và kinh nghiệm sự sống hành tinh của chúng ta. Khi ấy, Các Ngài phải bỏ lại phía sau toàn bộ bảy cõi của kinh nghiệm tinh thần và nhân loại [Page 200] và tiến onward, ra ngoài vào những pha của Sự Sống và Bản Thể mà chúng ta không có lời nào để diễn tả, và về đó chúng ta không có quan niệm nào. Các Ngài rời đi qua bức màn thứ tư trên các cấp độ dĩ thái hồng trần vũ trụ, trên cõi cao nhất trong bảy cõi của chúng ta, và đi tiếp đến cõi cảm dục vũ trụ. Ở đó, Các Ngài phủ định sự tồn tại của nó như trước đó Các Ngài đã phủ định sự tồn tại của cõi cảm dục, một ảo tưởng quá quen thuộc đối với tất cả chúng ta. Điểm đạo đồ đi tiếp đến cõi cảm dục vũ trụ và tìm thấy — Điều gì? Ai biết được? Tôi thì không.

Thus the veils serve their purpose; blindness nurtures and protects, provided it is innate and natural, soul-imposed or spiritually engendered. If it is willfully self-induced, if it provides an alibi for grasped knowledge, if it is assumed in order to avoid responsibility, then sin enters in and difficulty ensues. From this may all of you be protected.

Như vậy, các bức màn phụng sự mục đích của chúng; sự mù lòa nuôi dưỡng và bảo vệ, miễn là nó bẩm sinh và tự nhiên, do linh hồn áp đặt hoặc được phát sinh về mặt tinh thần. Nếu nó do cố ý tự gây ra, nếu nó cung cấp một cớ biện hộ cho tri thức đã nắm giữ, nếu nó được khoác lấy nhằm né tránh trách nhiệm, khi ấy tội lỗi chen vào và khó khăn theo sau. Cầu mong tất cả các bạn được bảo vệ khỏi điều này.

Step by step, the Brothers of the Light and others who tread consciously the Lighted Way have removed Themselves from the lure of form; the Army of the Voice no longer can succeed in deflecting Their footsteps and the veils of illusion no longer block Their vision and Their moving forward. A relative freedom has been gained and the initiate stands free from much that has hitherto hindered his progress; the world of form, of glamor and of seduction has for him no further appeal.

Từng bước một, các Huynh Đệ Ánh Sáng và những vị khác đang hữu thức tiến bước trên Con Đường được Soi Sáng đã tự tách Các Ngài khỏi sức quyến rũ của hình tướng; Đạo Quân của Âm Thanh không còn có thể thành công trong việc làm chệch bước chân Các Ngài, và những bức màn ảo tưởng không còn ngăn chặn tầm nhìn cùng sự tiến tới của Các Ngài. Một sự tự do tương đối đã đạt được, và điểm đạo đồ đứng tự do khỏi nhiều điều cho đến nay đã cản trở bước tiến của y; thế giới của hình tướng, của ảo cảm và của sự quyến dụ không còn sức hấp dẫn nào đối với y nữa.

He comprehends the significance of the injunction which is embodied in the third phrase of this tenth rule:

Y thấu hiểu thâm nghĩa của huấn lệnh được hàm chứa trong mệnh đề thứ ba của quy luật thứ mười này:

3. Let the Army of the Voice be no more heard, and let the brothers onward move within the Sound. (ß)

3. Hãy để Đạo Quân của Âm Thanh không còn được nghe thấy nữa, và hãy để các huynh đệ tiến tới trong Âm Thanh. ()

Putting the idea into esoteric terms, the above sentence could be paraphrased as follows: The voices and the Voice fade out. The AUM is replaced by the and at the center of that the brother stands.

Diễn đạt ý tưởng ấy bằng các thuật ngữ huyền bí, câu trên có thể được diễn ý như sau: Các tiếng nói và Tiếng Nói dần tắt. AUM được thay thế bằng và tại trung tâm của ấy, huynh đệ đứng vững.

The many voices of the world, the flesh and the devil are no longer distinguished; there is nothing within the consciousness of the initiate which can respond to them. The Voice of the Silence dies out also and the Word itself [Page 201] cannot be heard. Only the Sound remains. This is the Sound which reverberates in the formless worlds; it is the Sound to which the Spiritual Triad responds and of which the initiate is a part, because the Sound which he makes as he proceeds upon his creative way is a part of the universal Sound. It should be pointed out that He Who stands at the very center of the Council Chamber of Shamballa sounds forth all words, the Word, and He also utters the Sound. This is apt to be forgotten. He it is Who intones the AUM and all things come to be; He it is Who voices the Word, the OM, and God incarnate in humanity appears on earth; He it is Who utters the Sound, and upon that outgoing Breath holds all things in life; and—in the rise and fall of its cadences[5]—there is found the cyclic rhythm of the creative process. He it will be Who will withdraw the Sound and centering the vibration within Himself, will some day bring to a close this periodic manifestation and carry the Sound to other localities in space, holding it in quiescence on the withdrawn breath until a later cycle of expression dawns. Then it will again be exhaled and sent forth to provide a new field of experience for the Lives which, in cyclic rhythm, again seek to manifest. The entire story of incarnation is hidden in the understanding of the Sound and its differentiation into the OM and the AUM.

Nhiều tiếng nói của thế gian, của xác thịt và của ma quỷ không còn được phân biệt nữa; trong tâm thức của điểm đạo đồ không còn điều gì có thể đáp ứng với chúng. Tiếng Nói của Im Lặng cũng tắt đi, và chính Linh từ [Page 201] không thể được nghe thấy. Chỉ còn lại Âm Thanh. Đây là Âm Thanh vang vọng trong các thế giới vô tướng; đó là Âm Thanh mà Tam Nguyên Tinh Thần đáp ứng, và điểm đạo đồ là một phần của Âm Thanh ấy, bởi Âm Thanh mà y tạo ra khi tiến bước trên con đường sáng tạo của mình là một phần của Âm Thanh vũ trụ. Cần nêu rõ rằng Đấng đứng ngay tại trung tâm Phòng Hội Đồng của Shamballa xướng vang tất cả các linh từ, Linh từ, và Ngài cũng phát ra Âm Thanh. Điều này rất dễ bị quên lãng. Chính Ngài là Đấng xướng AUM và muôn vật hiện hữu; chính Ngài là Đấng cất lên Linh từ, OM, và Thượng đế nhập thể trong nhân loại xuất hiện trên Trái Đất; chính Ngài là Đấng phát ra Âm Thanh, và trên Hơi Thở tuôn ra ấy, Ngài duy trì mọi sự trong sự sống; và—trong sự lên xuống của các nhịp âm của nó—có thể tìm thấy nhịp điệu chu kỳ của tiến trình sáng tạo. Chính Ngài sẽ là Đấng thu hồi Âm Thanh, và khi tập trung rung động ấy vào trong chính Ngài, một ngày kia sẽ kết thúc cuộc biểu hiện định kỳ này và mang Âm Thanh đến những địa phương khác trong không gian, giữ nó trong trạng thái tĩnh lặng trên hơi thở thu hồi cho đến khi một chu kỳ biểu hiện sau này ló rạng. Bấy giờ nó sẽ lại được thở ra và phóng đi để cung cấp một trường kinh nghiệm mới cho các Sự Sống vốn, theo nhịp điệu chu kỳ, lại tìm cách biểu hiện. Toàn bộ câu chuyện của sự nhập thể được ẩn giấu trong sự thấu hiểu Âm Thanh và sự biến phân của nó thành OM và AUM.

When we can identify the Sound and are no longer “moved” by the, then the initiate becomes a Christ in expression and makes His appearance, either in physical form or upon the planes of what to us might be called the “areas of non-appearance.” He can then contain and utilize the energies of which the Spiritual Triad is the custodian and which are the expression of the will and purpose of God. Though the initiate may not be a part of the planetary government, and though he may not be a member of the Council at Shamballa (for only a limited number of initiates are so placed), he nevertheless has the right to move on identical levels and to prepare himself for those higher evolutionary processes which will give him entrance to the cosmic astral plane. This will enable him to “see through” [Page 202] and to recognize “cosmic glamor,” and will give him the hidden key to the world of feeling and of sentiency of which our feeling-response and our emotional and intuitional sensitivity are but the dim and distorted reflections. This is a factor of some importance to have in mind if a right sense of proportion is to be developed. The initiate has learnt on earth that the astral plane is in fact non-existent—at last for those of the higher degrees of initiation. This knowledge constitutes the first step towards the comprehension of the secret of negation, towards a true understanding of the basis of the ever-existent pairs of opposites, and towards the knowledge which lies behind the significance of negation. The above sentence is in all probability of little meaning to you, but it nevertheless contains a truth for which the trials, experiences and initiations of planetary existence prepare the initiate. They endow him with those qualities which will enable him to contact cosmic evil and yet remain untouched, eventually to play his part in bringing the Black Lodge and its Brotherhood to an unholy finish. The roots of the Black Lodge are on the cosmic astral plane, as the roots of the White Lodge and its Brotherhood are on the cosmic mental plane; this is, in reality, only for the time being and in order to see certain organized activities upon the star Sirius perfected and carried to a consummation. This has oft been hinted in my writings.

Khi chúng ta có thể đồng hoá với Âm Thanh và không còn bị “lay động”, bấy giờ điểm đạo đồ trở thành một Đức Christ đang biểu lộ và thực hiện sự xuất hiện của Ngài, hoặc trong hình tướng hồng trần, hoặc trên các cõi mà đối với chúng ta có thể gọi là “những khu vực không xuất hiện.” Bấy giờ Ngài có thể chứa đựng và sử dụng các năng lượng mà Tam Nguyên Tinh Thần là vị bảo hộ, và vốn là sự biểu lộ của Ý Chí và Thiên Ý của Thượng đế. Dù điểm đạo đồ có thể không thuộc về chính quyền hành tinh, và dù y có thể không phải là thành viên của Hội Đồng tại Shamballa, vì chỉ một số giới hạn các điểm đạo đồ được đặt vào vị trí như thế, tuy nhiên y vẫn có quyền di chuyển trên các cấp độ đồng nhất chuẩn bị chính mình cho những tiến trình thăng thượng tiến hoá cao hơn, vốn sẽ cho y lối vào cõi cảm dục vũ trụ. Điều này sẽ giúp y “nhìn xuyên qua” [Page 202] và nhận ra “ảo cảm vũ trụ”, đồng thời trao cho y chìa khóa ẩn tàng dẫn vào thế giới của cảm xúc và cảm tri, mà sự đáp ứng bằng cảm xúc của chúng ta cùng sự nhạy cảm cảm xúc và trực giác của chúng ta chỉ là những phản chiếu mờ nhạt và méo mó. Đây là một yếu tố khá quan trọng cần ghi nhớ nếu muốn phát triển Ý thức về tỉ lệ đúng đắn. Điểm đạo đồ đã học được trên Trái Đất rằng cõi cảm dục thật ra không hiện hữu—rốt cuộc là đối với những vị thuộc các cấp độ điểm đạo cao hơn. Tri thức này cấu thành bước đầu tiên hướng tới sự thấu hiểu bí mật của phủ định, hướng tới một sự thấu hiểu chân thực về nền tảng của các cặp đối cực luôn hiện hữu, và hướng tới tri thức nằm sau thâm nghĩa của phủ định. Câu trên rất có thể không có nhiều ý nghĩa đối với các bạn, nhưng tuy nhiên nó chứa đựng một chân lý mà các thử thách, kinh nghiệm và điểm đạo của sự hiện hữu hành tinh chuẩn bị cho điểm đạo đồ. Chúng ban cho y những phẩm tính sẽ giúp y tiếp xúc với tà ác vũ trụvẫn không bị chạm đến, để cuối cùng đóng vai trò của mình trong việc đưa Hắc đoàn và Huynh đệ đoàn của nó đến một kết cục bất thiêng. Cội rễ của Hắc đoàn nằm trên cõi cảm dục vũ trụ, cũng như cội rễ của Thánh đoàn và Huynh đệ đoàn của nó nằm trên cõi trí vũ trụ; trong thực tế, điều này chỉ là tạm thời và nhằm thấy một số hoạt động có tổ chức trên ngôi sao Sirius được hoàn thiện và đưa đến chỗ viên mãn. Điều này đã thường được ám chỉ trong các tác phẩm của tôi.

“The Way of the Higher Evolution” leads to the cosmic astral plane, and the goal which carries a man there is the transcendent vision accorded at some of the higher initiations; the quality which enables him to work as a creative factor in the great White Lodge is the developed buddhic faculty. It is upon the “wings of Sound” that he travels, to use a well-known though little understood metaphor.

“Con đường Tiến Hóa Cao Siêu” dẫn đến cõi cảm dục vũ trụ, và mục tiêu đưa con người đến đó là tầm nhìn siêu việt được ban cho tại một vài lần điểm đạo cao hơn; phẩm tính giúp y hoạt động như một yếu tố sáng tạo trong Thánh đoàn vĩ đại là năng lực Bồ đề đã phát triển. Y du hành trên “đôi cánh của Âm Thanh”, dùng một ẩn dụ quen thuộc nhưng ít được thấu hiểu.

This can only be when he can.

Điều này chỉ có thể xảy ra khi y có thể.

4. Hear the OM as it is sounded forth by Him Who stands and waits at the very center of the Council Chamber of the Lord. [Page 203] (ß)

4. Nghe OM khi nó được xướng vang bởi Đấng đứng và chờ ngay tại trung tâm Phòng Hội Đồng của Đức Chúa Tể. [Page 203] ()

These are grave and solemn thoughts, and of small use to the average reader. It is essential, however, that he avoid the concept that the attainment of the highest initiation upon this planet marks the end or the consummation of a great and final stage. It only marks the beginning of significance. This is a statement of esoteric value. Just as the attainment of physical control sets the neophyte free for the learning of higher lessons in preparation for the major initiations, so the surmounting of the conditions presented by the seven planes of our planetary life sets the initiate (such as the Buddha or the Christ) free for still higher and more important conditioning circumstances. Their real work as Members of the White Brotherhood is on the point of beginning, and the true purpose of the existence of the Great White Lodge begins faintly to dawn upon Their entranced and amazed understanding. It is of real value to us, therefore, to endeavor to grasp the continuity of revelation and the vast future or vista of unfolding wonder which, stage by stage, grade by grade and plane by plane, unfolds before the initiate-consciousness.

Đây là những tư tưởng nghiêm trọng và trang nghiêm, và ít hữu ích đối với độc giả trung bình. Tuy nhiên, điều thiết yếu là y tránh quan niệm rằng việc đạt đến lần điểm đạo cao nhất trên hành tinh này đánh dấu sự kết thúc hay sự viên mãn của một giai đoạn lớn lao và cuối cùng. Nó chỉ đánh dấu sự khởi đầu của thâm nghĩa. Đây là một phát biểu có giá trị huyền bí. Cũng như việc đạt được sự kiểm soát thể xác giải phóng người sơ cơ để học những bài học cao hơn nhằm chuẩn bị cho các cuộc điểm đạo lớn, thì việc vượt qua các điều kiện do bảy cõi của sự sống hành tinh chúng ta đặt ra cũng giải phóng điểm đạo đồ, chẳng hạn như Đức Phật hay Đức Christ, để bước vào những hoàn cảnh tác động còn cao hơn và quan trọng hơn. Công việc thực sự của Các Ngài với tư cách là Thành viên của Huynh đệ Đoàn Chánh đạo sắp bắt đầu, và mục đích chân thật của sự tồn tại của Thánh đoàn bắt đầu hé rạng mờ nhạt trong sự thấu hiểu say mê và kinh ngạc của Các Ngài. Vì vậy, đối với chúng ta, thật sự có giá trị khi cố gắng nắm bắt tính liên tục của sự mặc khải và tương lai bao la, hay viễn cảnh của kỳ quan đang khai mở, vốn từng giai đoạn, từng cấp bậc và từng cõi một, mở ra trước tâm thức điểm đạo đồ.

We enter here into a consideration of realms of advancement of which even advanced humanity has no faintest idea; we are touching upon goals and objectives which confront the advanced Members of the Hierarchy; we are dealing with ideas and concepts for which we have no adequate terminology and which are of such a nature that the human mechanism of thought proves incapable of registering them. What, for instance, do the words or phrases, “Divine purpose, Shamballa, the Lord of the World, states of registration or awareness which have no relation to sentiency as it expresses itself through consciousness, the Lodge on Sirius” and similar concepts convey to you? I would venture to suggest that in reality, they represent nothing, and this because the goal of all who read these words is contact with the soul, recognition of and by the Hierarchy, and initiation. If I say to you that the words “the OM, as it is sounded forth by Him Who stands within the confines of Shamballa” signify that the one Sound, rounded and full, [Page 204] of O is sounded forth, but that the concluding sound of the M is omitted, does that convey ought to your intelligence? Again I venture to say that it does not. It is therefore of small importance for me to enlarge upon this phase of the Rules. I would be more profitably employed if I elucidated somewhat the meaning of the words “the Council Chamber of the Lord.” Three concepts have perchance taken shape in your minds in connection with Shamballa, if you have sought the true esoteric attitude:

Ở đây, chúng ta bước vào việc xem xét những lĩnh vực tiến bộ mà ngay cả nhân loại tiên tiến cũng không có chút ý niệm mơ hồ nào; chúng ta đang chạm đến những mục tiêu và cứu cánh đối diện với các Thành viên tiên tiến của Thánh Đoàn; chúng ta đang đề cập đến những ý tưởng và khái niệm mà chúng ta không có thuật ngữ thích đáng để diễn đạt, và chúng có bản chất đến mức bộ máy tư tưởng của con người tỏ ra không thể ghi nhận được. Chẳng hạn, những từ hay cụm từ như “Thiên Ý, Shamballa, Đức Chúa Tể Thế Giới, các trạng thái ghi nhận hay nhận biết không liên hệ gì đến cảm năng như nó tự biểu lộ qua tâm thức, Thánh đoàn trên Thiên Lang” và những khái niệm tương tự truyền đạt điều gì cho các bạn? Tôi xin mạo muội gợi ý rằng trong thực tế, chúng không biểu thị gì cả, và điều này là vì mục tiêu của tất cả những ai đọc các lời này là tiếp xúc với linh hồn, được Thánh Đoàn nhận biết và nhận biết Thánh Đoàn, cùng với điểm đạo. Nếu tôi nói với các bạn rằng những lời “linh từ OM, khi được Đấng đứng trong phạm vi Shamballa xướng vang” có nghĩa là Âm Thanh duy nhất, tròn đầy và viên mãn, [Page 204] của O được xướng vang, nhưng âm kết thúc của M bị lược bỏ, thì điều đó có truyền đạt gì cho trí tuệ của các bạn không? Một lần nữa, tôi mạo muội nói rằng không. Vì vậy, đối với tôi, việc mở rộng thêm về giai đoạn này của các Quy Luật không có mấy quan trọng. Tôi sẽ được sử dụng hữu ích hơn nếu làm sáng tỏ phần nào ý nghĩa của các lời “Phòng Hội Đồng của Đức Chúa Tể.” Có lẽ ba khái niệm đã thành hình trong trí các bạn liên quan đến Shamballa, nếu các bạn đã tìm kiếm thái độ huyền bí chân chính:

Council of The Shamballa

Hội Đồng của Shamballa

1. That Humanity exists as a great center of intelligent energy in the substance of the planetary Life.

1. Rằng Nhân loại tồn tại như một trung tâm vĩ đại của năng lượng thông tuệ trong chất liệu của Sự sống hành tinh.

2. That the spiritual center, where attractive, coherent, magnetic energy is focused and from whence it flows in two directions

2. Rằng trung tâm tinh thần, nơi năng lượng hấp dẫn, cố kết và từ tính được tập trung, và từ đó tuôn chảy theo hai hướng

a. Towards the three worlds and the four kingdoms of nature,

a. Hướng về ba cõi giới và bốn giới của tự nhiên,

b. Towards Shamballa and the two higher kingdoms in manifestation is what we usually call the Hierarchy, the Kingdom of God, the center of love and of mediating understanding (note these last two words).

b. Hướng về Shamballa và hai giới cao hơn đang biểu hiện, là điều chúng ta thường gọi là Thánh Đoàn, Thiên Giới, trung tâm của tình thương và của sự thấu hiểu trung gian, hãy lưu ý hai từ sau cùng này.

3. That there is another center which is neither spiritual nor human but which is characterized by divinity. Divinity is the expression of the will or purpose of the One in Whom we live and move and have our being. That center where the will of God is focused and dynamically sent forth to carry out the purpose is Shamballa.

3. Rằng có một trung tâm khác, không phải tinh thần cũng không phải nhân loại, nhưng được đặc trưng bởi thiên tính. Thiên tính là sự biểu lộ của ý chí hay mục đích của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện tồn. Trung tâm nơi Ý Chí của Thượng Đế được tập trung và được phóng xuất một cách năng động để thực hiện mục đích chính là Shamballa.

The time has now come when a distinction must be made by esotericists between the words “spiritual” and “divine.” They are not the same, nor do they have the same significance. The quality of spirituality is Love. The quality of divinity is Will. There is a definite distinction between the two and the mediating principle (or that which relates or unites the two qualities) is Wisdom. Of that Wisdom the Buddha was the expression in time and space; that means that there was only a relative and limited manifestation of that fusing linking principle. His great achievement, unrealized [Page 205] by Him, was an innate and (at that time, not now) unconscious recognition of the distinction between love and will, and an ability to express in Himself a fusing, blending energy which could and did bring together love and will, soul and Monad. At the same time (and later in full expression in) the Christ demonstrated—for the teaching of humanity—the at-one-ment of love and intelligence, of soul and personality. These are points of real importance to have in mind.

Nay đã đến lúc các nhà bí truyền học phải phân biệt giữa hai từ “tinh thần” và “thiêng liêng.” Chúng không giống nhau, cũng không có cùng thâm nghĩa. Phẩm tính của tinh thần là Tình thương. Phẩm tính của thiên tính là Ý Chí. Có một sự phân biệt rõ rệt giữa hai điều này, và nguyên khí trung gian, hay điều liên hệ hoặc hợp nhất hai phẩm tính ấy, là Minh triết. Đức Phật là sự biểu lộ của Minh triết ấy trong thời gian và không gian; điều đó có nghĩa là chỉ có một sự biểu hiện tương đối và giới hạn của nguyên khí dung hợp và liên kết ấy. Thành tựu vĩ đại của Ngài, điều mà chính [Page 205] Ngài chưa nhận thức, là sự nhận biết bẩm sinh và, vào thời ấy chứ không phải hiện nay, vô thức về sự phân biệt giữa tình thương và ý chí, cùng khả năng biểu lộ trong chính Ngài một năng lượng dung hợp, hòa trộn, có thể và đã thực sự kết hợp tình thương với ý chí, linh hồn với chân thần. Đồng thời, và về sau trong sự biểu lộ trọn vẹn nơi, Đức Christ đã chứng minh, vì sự giáo huấn nhân loại, sự hợp nhất của tình thương và trí tuệ, của linh hồn và phàm ngã. Đây là những điểm thật sự quan trọng cần ghi nhớ.

Embodying, therefore, divinity in a sense and form incomprehensible to disciples, and which constitutes the goal of such advanced individuals as the Christ, are a group of Lives or focused integrated Beings Who stand around Sanat Kumara, the Lord of the World.

Vì vậy, hiện thân cho thiên tính theo một ý nghĩa và hình thức mà các đệ tử không thể hiểu nổi, và vốn cấu thành mục tiêu của những cá nhân tiến hóa cao như Đức Christ, là một nhóm các Sự Sống hay các Hữu Thể tập trung và tích hợp đang đứng quanh Đức Sanat Kumara, Đức Chúa Tể Thế Giới.

As I have earlier said, Sanat Kumara is to the Planetary Logos what the personality, plus soul, is to the disciple. He is also the coherent force within the planet, holding, through His radiatory influence, all forms and all substances in the planetary form so that they constitute one coherent, energized and functioning whole. A parallel to this, though on a much smaller scale, can be seen in the radiatory influence of the Christ as it permeates, energizes and holds in coherent expression the Christian Church in all its many aspects in the world; a still smaller analogy can be seen in the influence wielded by a disciple who stands at the center of a group and holds it also in coherent and useful manifestation. Intermediate between these two symbols of will and love, united in manifestation (the Christ and a disciple), is the work of a world disciple, for the influence is wider and more far-reaching than that of a disciple, yet not as potent or comprehensive as that of the Christ.

Như tôi đã nói trước đây, Đức Sanat Kumara đối với Đức Hành Tinh Thượng Đế cũng như phàm ngã, cộng với linh hồn, đối với đệ tử. Ngài cũng là mãnh lực cố kết bên trong hành tinh, nhờ ảnh hưởng phát xạ của Ngài mà giữ mọi hình tướng và mọi chất liệu trong hình tướng hành tinh, để chúng cấu thành một toàn thể cố kết, được tiếp sinh lực và đang vận hành. Một sự tương ứng với điều này, dù ở quy mô nhỏ hơn nhiều, có thể thấy trong ảnh hưởng phát xạ của Đức Christ khi nó thấm nhuần, tiếp sinh lực và giữ Giáo hội Kitô giáo trong sự biểu lộ cố kết qua mọi phương diện đa dạng của nó trên thế giới; một tương đồng còn nhỏ hơn nữa có thể thấy trong ảnh hưởng do một đệ tử vận dụng, người đứng ở trung tâm của một nhóm và cũng giữ nhóm ấy trong sự biểu hiện cố kết và hữu ích. Nằm ở giữa hai biểu tượng của ý chí và tình thương này, được hợp nhất trong biểu hiện, tức Đức Christ và một đệ tử, là công việc của một đệ tử thế gian, vì ảnh hưởng ấy rộng hơn và vươn xa hơn ảnh hưởng của một đệ tử, nhưng chưa mạnh mẽ hay bao quát như ảnh hưởng của Đức Christ.

Coherency, affecting lives, forms and substances, is an expression of will and purpose, motivated by love and implemented intelligently in carrying forward the plans through which the Purpose seeks expression. When, however, you arrive at the potency of such a Being as Sanat Kumara, you find His individual potency enhanced and [Page 206] amplified by the fused ability of a group of Lives Who—though not as far advanced as He is upon the Path of Evolution which stretches before the Planetary Logoi—are yet greatly in advance of the most developed members of the spiritual Hierarchy. It is these Lives Who constitute the innermost circle of the Council Chamber of the Lord of the World. Their normal contacts are extra-planetary and are very seldom of a planetary nature. They are in direct rapport with the Planetary Logos upon His own high plane, the cosmic mental plane; this great and Unknown Being uses Sanat Kumara as the soul uses a temporary personality when that personality is at an advanced stage of initiate consciousness. This is only a parallel and an analogy, and must not be unduly elaborated in the detail of relationship.

Tính cố kết, tác động đến các sự sống, hình tướng và chất liệu, là một biểu hiện của ý chí và mục đích, được thúc đẩy bởi bác ái và được thực hiện một cách thông minh trong việc xúc tiến các Thiên Cơ mà qua đó Thiên Ý tìm cách biểu lộ. Tuy nhiên, khi bạn đạt đến quyền năng của một Đấng như Đức Sanat Kumara, bạn sẽ thấy quyền năng cá thể của Ngài được tăng cường và [Page 206] được khuếch đại bởi năng lực hợp nhất của một nhóm các Sự Sống, là Các Đấng—dù chưa tiến xa như Ngài trên Con Đường Tiến Hóa đang trải ra trước các Hành Tinh Thượng đế—nhưng vẫn tiến xa hơn rất nhiều so với những thành viên phát triển nhất của Huyền Giai Tinh Thần. Chính các Sự Sống này cấu thành vòng tròn nội tại nhất của Phòng Hội Đồng của Đức Chúa Tể Thế Giới. Các tiếp xúc thông thường của Các Ngài là ngoài hành tinh và rất hiếm khi có tính hành tinh. Các Ngài ở trong mối giao cảm trực tiếp với Đức Hành Tinh Thượng Đế trên cõi cao của chính Ngài, tức cõi trí vũ trụ; Đấng vĩ đại và Bất Khả Tri này sử dụng Đức Sanat Kumara như linh hồn sử dụng một phàm ngã tạm thời khi phàm ngã ấy ở vào một giai đoạn tiến cao của tâm thức điểm đạo đồ. Đây chỉ là một sự đối chiếu và một tương đồng, và không được triển khai thái quá trong các chi tiết của mối quan hệ.

The major characteristic of these Lives is Will or Purpose. They embody and consciously know and intelligently appreciate what is the motivating idea which the Planetary Logos—working consciously on His own high level—seeks to work out and achieve in His planned incarnation through a planet. He functions when in incarnation on the cosmic physical plane, and embodies the seven principles of which we know, and all is focused in and through the Individuality of Sanat Kumara, implemented and energized through the seven planetary centers. The three Buddhas of Activity (Who are also Members of the Great Council) are expressions of the counterparts on cosmic levels of the energies latent in the three permanent atoms in the three worlds of human endeavor. This is again a dangerous parallel to propose for—as a symbol—it lacks any true analogy.

Đặc tính chính yếu của các Sự Sống này là Ý Chí hay Thiên Ý. Các Ngài thể hiện, biết một cách có ý thức và lĩnh hội một cách thông minh ý tưởng thúc đẩy mà Đức Hành Tinh Thượng Đế—đang hoạt động có ý thức trên cấp độ cao của chính Ngài—tìm cách thực hiện và thành tựu trong sự lâm phàm đã được hoạch định của Ngài qua một hành tinh. Khi lâm phàm, Ngài hoạt động trên cõi hồng trần vũ trụ, và thể hiện bảy nguyên khí mà chúng ta biết, và tất cả đều được tập trung trong và qua Cá Thể Tính của Đức Sanat Kumara, được thực hiện và tiếp sinh lực qua bảy trung tâm hành tinh. Ba Đức Phật Hoạt Động, Các Ngài cũng là Thành viên của Đại Hội Đồng, là những biểu hiện của các đối phần trên những cấp độ vũ trụ của các năng lượng tiềm tàng trong ba nguyên tử trường tồn trong ba cõi giới của nỗ lực nhân loại. Đây lại là một sự đối chiếu nguy hiểm khi nêu ra, vì—với tư cách một biểu tượng—nó thiếu bất kỳ sự tương đồng đích thực nào.

The Seven Spirits before the Throne of God are also Members of the Council, and each of Them is in close rapport and contact with one or other of the seven sacred planets in our solar system, and can thus draw upon the energies which they embody.

Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai của Thượng đế cũng là Thành viên của Hội Đồng, và mỗi Đấng trong Các Ngài đều ở trong mối giao cảm và tiếp xúc mật thiết với một trong bảy hành tinh thiêng liêng trong hệ mặt trời của chúng ta, và vì thế có thể rút lấy các năng lượng mà chúng thể hiện.

It will therefore be apparent to you inferentially, how comparatively few of the Members of our Hierarchy have yet been able to reach the state or condition of development which would warrant Their forming a part of the [Page 207] great Council, or which would enable them to respond to the O, sounded out at intervals of one hundred years by Sanat Kumara. It is this sound which gathers together the responsive Units into the Council. This Council is held at one hundred year intervals, and as far as our modern humanity is concerned, these Councils have been held—under our arbitrary dates—in 1725, 1825, 1925.

Do đó, qua suy luận, bạn sẽ thấy rõ rằng chỉ có tương đối ít Thành viên của Thánh Đoàn chúng ta cho đến nay đã có thể đạt tới trạng thái hay tình trạng phát triển đủ để biện minh cho việc Các Ngài trở thành một phần của [Page 207] Đại Hội Đồng, hoặc đủ để giúp Các Ngài đáp ứng với âm O, do Đức Sanat Kumara xướng lên theo từng khoảng cách một trăm năm. Chính âm thanh này quy tụ các Đơn Vị đáp ứng vào Hội Đồng. Hội Đồng này được tổ chức theo từng khoảng cách một trăm năm, và xét theo nhân loại hiện đại của chúng ta, các cuộc Hội Đồng này đã được tổ chức—theo các niên đại quy ước của chúng ta—vào các năm 1725, 1825, 1925.

At these Councils, Those Who are responsible for the planetary development, along certain predetermined lines, make Their reports; decision is made as to new unfoldment; certain types of energy, cosmic and solar, are made available for the carrying forward of the Plans which implement the Purpose; the evolution of consciousness in the three worlds receives, necessarily, major attention.

Tại các cuộc Hội Đồng này, Các Đấng chịu trách nhiệm về sự phát triển hành tinh theo một số đường hướng đã định trước trình bày các báo cáo của Các Ngài; quyết định được đưa ra về sự khai mở mới; một số loại năng lượng, thuộc vũ trụ và thái dương, được cung ứng để xúc tiến các Thiên Cơ thực thi Thiên Ý; sự tiến hoá của tâm thức trong ba cõi giới tất yếu được đặc biệt chú trọng.

I would have you remember that this refers not Only to the human kingdom and its unfoldment, but to the three subhuman kingdoms also which are—from many points of view—of equal importance to the human. This is a hard saying for humanity to accept.

Tôi muốn bạn nhớ rằng điều này không chỉ liên quan đến giới nhân loại và sự khai mở của giới ấy, mà còn liên quan đến ba giới dưới nhân loại, vốn—từ nhiều quan điểm—có tầm quan trọng ngang bằng với giới nhân loại. Đây là một lời khó chấp nhận đối với nhân loại.

It is these great goals which slowly dawn on the consciousness of the initiate as he advances step by step along the Path of Initiation. They must perforce be noted here, even if dealing with matters incomprehensible to the reader; initiation otherwise would be apt to be regarded as the attainment of a relatively static condition and would land the initiate in an eternal impasse or impassable cul-de-sac. Initiation is in fact the recognition of the goals which are implemented from Shamballa. It is not a process whereby a man becomes solely a Member of the Spiritual Hierarchy. Initiation (as the candidate understands it) is in reality only incidental and preparatory to the Path of the Higher Evolution.

Chính những mục tiêu lớn lao này dần hé rạng trong tâm thức của điểm đạo đồ khi y tiến từng bước trên Con Đường Điểm Đạo. Những điều ấy tất yếu phải được ghi nhận ở đây, dù đang đề cập đến các vấn đề không thể lĩnh hội đối với độc giả; nếu không, điểm đạo sẽ dễ bị xem là sự đạt tới một tình trạng tương đối tĩnh tại, và sẽ đẩy điểm đạo đồ vào một bế tắc vĩnh viễn hay một ngõ cụt không thể vượt qua. Thật ra, điểm đạo là sự nhận thức các mục tiêu được thực hiện từ Shamballa. Nó không phải là một tiến trình nhờ đó con người chỉ trở thành một Thành viên của Huyền Giai Tinh Thần. Điểm đạo, như ứng viên hiểu nó, trong thực tế chỉ là điều phụ thuộc và chuẩn bị cho Con Đường Tiến Hóa Cao Siêu.

There is little more that I can tell you anent this Rule. The subject is, as you can see, too advanced even for the initiate who, in a few decades, will read and study these instructions. That your vision may expand, and your power to think and reflect abstractly may grow, is my hope and wish for you. [Page 208]

Tôi không thể nói thêm nhiều điều về Quy luật này. Như bạn có thể thấy, đề tài này quá cao siêu ngay cả đối với điểm đạo đồ, là người trong vài thập niên nữa sẽ đọc và nghiên cứu những huấn thị này. Tôi hy vọng và mong ước cho bạn rằng tầm nhìn của bạn có thể mở rộng, và năng lực suy nghĩ cùng suy tưởng một cách trừu tượng của bạn có thể tăng trưởng. [Page 208]



[1] 1. sự sắp đặt đồng hang; 2. sự phối hợp, sự sắp xếp

[2] 1. làm hư, làm bẩn; trụy lạc hóa

[3] Eat; nuôi dưỡng bằng

[4] 1. (cũng courtyard) sân, sân trong

[5] 1. nhịp, phách; 2. điệu (nhạc, hát, thơ); 3. giọng đọc lên xuống nhịp nhàng uyển chuyển; ngữ điệu

Leave a Comment

Scroll to Top