Bình Giảng Quy Luật Điểm đạo 7 dành cho đệ tử (RI)

📘 Sách: Bình Giảng 14 Quy Luật Điểm đạo Dành Cho Đệ tử – RI – Tác giả: Michael D. Robbins

Click vào số trang trong ngoặc [ ] để đến phần văn bản liên quan. Click Tóm Tắt để xem tóm tắt của bình giảng.

COMMENTARY ON RULE VII

LUẬN GIẢI VỀ QUY LUẬT VII

Part I of V

Phần I trong V

Focus for the Second Month of Study on Rule(s) VII

Trọng tâm cho Tháng Thứ Hai Nghiên Cứu về Quy luật VII

From the second month up until the fifth month, we will focus upon the Rule VII for Disciples and Initiates

Từ tháng thứ hai cho đến tháng thứ năm, chúng ta sẽ tập trung vào Quy luật VII dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ

1. During the second month we will focus upon the first section of Rule VII for Disciples and Initiates (from February 25th to).

1. Trong tháng thứ hai, chúng ta sẽ tập trung vào phần thứ nhất của Quy luật VII dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ (từ ngày 25 tháng Hai đến).

We might choose as theme for our meditation

Chúng ta có thể chọn làm chủ đề cho tham thiền của mình

a. Either Rule VII for Disciples and Initiates:

a. Hoặc Quy luật VII dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ:

“Rule VII for Disciples and Initiates: Let the group life emit the Word of invocation and thus evoke response within those distant Ashrams where move the Chohans of the race of men. They are no longer men as are the Masters, but, having passed beyond that lesser stage, have linked Themselves with the Great Council in the highest. Let the group sound a dual chord, reverberating in the halls where move the Masters but finding pause and prolongation within those radiant halls where move the ‘Lights which carry out the Will of God’.” (RI, p. 136)

“Quy luật VII dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ: Hãy để sự sống nhóm phát ra Linh từ khẩn cầu và nhờ đó gợi lên đáp ứng bên trong những Ashram xa xôi, nơi các Chohan của nhân loại vận hành. Các Ngài không còn là người như các Chân sư, mà, đã vượt qua giai đoạn thấp hơn ấy, đã liên kết Chính Mình với Đại Hội Đồng nơi cao nhất. Hãy để nhóm xướng một hợp âm kép, vang dội trong các sảnh đường nơi các Chân sư vận hành, nhưng tìm thấy điểm dừng và sự kéo dài trong những sảnh đường rạng rỡ nơi vận hành ‘Những Ánh Sáng thực thi Ý Chí của Thượng Đế’.” (RI, tr. 136)

b. Or sub-themes, to which DK refers in His commentary to the Rule, such as (RI, p. 132 to p. 136 middle):

b. Hoặc các chủ đề phụ mà Chân sư DK đề cập trong luận giải của Ngài về Quy luật, như (RI, tr. 132 đến giữa tr. 136):

i. Rule VII for D+I is “concerned with the life of Shamballa and with the purposes of the Great Council”. (cf. RI, p. 132)

i. Quy luật VII dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ “liên quan đến sự sống của Shamballa và các mục đích của Đại Hội Đồng”. (x. RI, tr. 132)

ii. “The fact of the Hierarchy is to many thinkers an established fact; the hypothesis that there may be a Hierarchy is a widespread recognition. Information concerning its grades, its modes of working and its objectives are now common property; much has been accepted and much proved by those who believe this teaching.” (cf. RI, p. 133)

ii. “Sự kiện về Thánh Đoàn đối với nhiều nhà tư tưởng là một sự kiện đã được xác lập; giả thuyết rằng có thể có một Thánh Đoàn là một nhận thức rộng rãi. Thông tin về các cấp bậc, các phương thức hoạt động và các mục tiêu của Thánh Đoàn nay đã là tài sản chung; nhiều điều đã được chấp nhận và nhiều điều đã được chứng minh bởi những người tin vào giáo huấn này.” (x. RI, tr. 133)

iii. The Teaching on the Hierarchy “has now seeped down into the consciousness of the masses and is there producing curiosity, relief and hope, speculation and cynical laughter, conscious spiritual effort or sustained ridicule—according to the type of mind, the sensitivity to truth or the crass credulity of the recipient. But the knowledge, belief and hope in the existence of a planetary Hierarchy has today leavened the entire mass of human thinking in a far wider and deeper manner than perhaps the most optimistic suspect; herein lies the hope of the world, and here is to be found also a fertile field for spiritual work during the coming decades.” (cf. RI, p. 133)

iii. Giáo huấn về Thánh Đoàn “nay đã thấm xuống vào tâm thức quần chúng và ở đó đang tạo ra sự tò mò, nhẹ nhõm và hy vọng, suy đoán và tiếng cười hoài nghi, nỗ lực tinh thần có ý thức hoặc sự chế nhạo kéo dài—tùy theo loại thể trí, sự nhạy cảm với chân lý hoặc lòng cả tin thô thiển của người tiếp nhận. Nhưng tri thức, niềm tin và hy vọng vào sự hiện hữu của một Thánh Đoàn hành tinh ngày nay đã làm dậy men toàn bộ khối tư tưởng nhân loại theo một cách rộng hơn và sâu hơn nhiều so với điều có lẽ những người lạc quan nhất ngờ tới; chính trong đó có niềm hy vọng của thế giới, và ở đây cũng có một cánh đồng màu mỡ cho công việc tinh thần trong những thập niên sắp tới.” (x. RI, tr. 133)

iv. “The rules whereby the Hierarchy may be reached are already well known to the aspirants of the world; they must become equally well known to the average person.” (cf. RI, p. 133)

iv. “Các quy luật nhờ đó có thể đạt đến Thánh Đoàn đã được những người chí nguyện của thế giới biết rõ; chúng cũng phải trở nên được người bình thường biết rõ như vậy.” (x. RI, tr. 133)

v. “The objectives of the hierarchical work must be emphasised and the nature of the divine Plan unfolded so that purpose and goal may be presented to humanity; the synthesis of the chain of hierarchical Existences—from the smallest atom of matter up to and including the Lord of Life Himself—must be unfolded; the essential and spiritual interdependence of all and the interrelation of every unit of divine life must be proved. This will eventually lead to that established unity of effort which will express itself in the merging of the fourth and the fifth kingdoms in nature, and to the establishment of that brotherhood which will constitute the germ or the seed of the coming manifestation of the Hierarchy as the Heart of God (directly related to the Heart of the Sun) in physical expression.” (cf. RI, p. 133-134)

v. “Các mục tiêu của công việc thuộc Thánh Đoàn phải được nhấn mạnh và bản chất của Thiên Cơ phải được khai mở để mục đích và mục tiêu có thể được trình bày cho nhân loại; sự tổng hợp của chuỗi các Hiện Tồn thuộc Thánh Đoàn—từ nguyên tử vật chất nhỏ bé nhất cho đến và bao gồm Chính Đức Chúa Tể Sự Sống—phải được khai mở; sự tùy thuộc lẫn nhau thiết yếu và tinh thần của tất cả, cùng mối tương quan của mọi đơn vị sự sống thiêng liêng, phải được chứng minh. Điều này cuối cùng sẽ dẫn đến sự hợp nhất nỗ lực đã được xác lập, vốn sẽ biểu lộ qua sự hợp nhất của giới thứ tư và giới thứ năm trong tự nhiên, và đến việc thiết lập tình huynh đệ, vốn sẽ cấu thành mầm hay hạt giống của sự biểu hiện sắp đến của Thánh Đoàn như Trái Tim của Thượng đế (liên hệ trực tiếp với Trái Tim của Mặt Trời) trong biểu hiện hồng trần.” (x. RI, tr. 133-134)

vi. “The entire field of the world—meaning by that phrase all the kingdoms in nature in united inner and outer relationship—will be the medium of recognised spiritual experience and also the field of expression of certain divine qualities and aspects which have hitherto been in quiescent abeyance.” (cf. RI, p. 134)

vi. “Toàn bộ cánh đồng của thế giới—nghĩa là, theo cụm từ ấy, tất cả các giới trong tự nhiên trong mối quan hệ bên trong và bên ngoài hợp nhất—sẽ là phương tiện của kinh nghiệm tinh thần được nhận biết và cũng là cánh đồng biểu hiện của một số phẩm tính và phương diện thiêng liêng nhất định, vốn cho đến nay vẫn nằm yên trong tình trạng tiềm phục.” (x. RI, tr. 134)

vii. “A great upheaval in all the kingdoms in nature has characterised this day and generation; a stupendous destruction of all forms of divine life and in every kingdom has been the outstanding note of this upheaval. Our modern civilisation has received a death blow from which it will never recover, but which will be recognised some day as the “blow of release” and as the signal for that which is better, new and more suitable for the evolving spirit, to make its appearance.” (cf. RI, p. 134)

vii. “Một cuộc biến động lớn trong tất cả các giới trong tự nhiên đã đặc trưng cho thời đại và thế hệ này; một sự phá hủy khủng khiếp đối với mọi hình tướng của sự sống thiêng liêng và trong mọi giới đã là âm điệu nổi bật của cuộc biến động này. Nền văn minh hiện đại của chúng ta đã nhận một đòn chí tử mà nó sẽ không bao giờ hồi phục, nhưng một ngày kia sẽ được nhận ra là ‘đòn giải thoát’ và là tín hiệu để điều tốt đẹp hơn, mới mẻ hơn và thích hợp hơn cho tinh thần đang tiến hoá xuất hiện.” (x. RI, tr. 134)

viii. “The coherent life of all the planetary forms has been temporarily rendered incoherent. As an ancient prophecy has put it: ‘No true united Sound goes out from form to form, from life to life. Only a cry of pain, a demand for restitution and an invocation for relief from agony, despair and fruitless effort goes out from here to There.’” (cf. RI, p. 135)

viii. “Sự sống cố kết của tất cả các hình tướng hành tinh đã tạm thời bị làm cho mất cố kết. Như một lời tiên tri cổ xưa đã nói: ‘Không có Âm Thanh hợp nhất chân thật nào đi ra từ hình tướng đến hình tướng, từ sự sống đến sự sống. Chỉ có một tiếng kêu đau đớn, một đòi hỏi hoàn nguyên và một lời khẩn cầu được giải thoát khỏi thống khổ, tuyệt vọng và nỗ lực vô hiệu đi ra từ đây đến Đó.’” (x. RI, tr. 135)

ix. “All this upheaval of the “soil” of the world—spiritual, psychological and physical—all this disruption of the forms and of the familiar contours of our planetary life had to take place before there could come the emergence of the Hierarchy into the public consciousness; all this had to do its work upon the souls of men before the New Age could come in, bringing with it the Restoration of the Mysteries, and the rehabilitation of the peoples of the earth.” (cf. RI, p. 135)

ix. “Tất cả cuộc xới tung ‘đất’ của thế giới này—tinh thần, tâm lý và hồng trần—tất cả sự phá vỡ các hình tướng và những đường nét quen thuộc của đời sống hành tinh chúng ta đã phải diễn ra trước khi có thể có sự xuất hiện của Thánh Đoàn trong tâm thức công chúng; tất cả điều này đã phải thực hiện công việc của nó trên linh hồn của con người trước khi Kỷ Nguyên Mới có thể đến, mang theo Sự Phục Hồi các Huyền Nhiệm, và sự phục hưng của các dân tộc trên Trái Đất.” (x. RI, tr. 135)

x. “The disruption, disintegration and the completely chaotic conditions existing for the past five hundred years within all the kingdoms of nature have at last worked their way out into paralleling physical conditions. This is good and desirable; it marks the prelude to a better building of a better world, the construction of more adequate forms of life and of more correct human attitudes, plus a sounder orientation to reality.” (cf. RI, p. 135)

x. “Sự phá vỡ, tan rã và những tình trạng hoàn toàn hỗn loạn tồn tại trong năm trăm năm qua bên trong tất cả các giới của tự nhiên cuối cùng đã biểu hiện ra thành những tình trạng hồng trần tương ứng. Điều này là tốt và đáng mong muốn; nó đánh dấu khúc dạo đầu cho một công cuộc xây dựng tốt đẹp hơn của một thế giới tốt đẹp hơn, việc kiến tạo những hình tướng sự sống thích đáng hơn và những thái độ nhân loại đúng đắn hơn, cộng với một định hướng lành mạnh hơn đối với thực tại.” (x. RI, tr. 135)

xi. “The best is yet to be.” (cf. RI, p. 135)

xi. “Điều tốt đẹp nhất vẫn còn ở phía trước.” (x. RI, tr. 135)

xii. “Everything is being rapidly brought to the surface—the good and the bad, the desirable and the undesirable, the past and the future (for the two are one); the plough of God has nearly accomplished its work; the sword of the spirit has severed an evil past from the radiant future, and both are seen as contributory in the Eye of God; our material civilisation will be seen as giving place rapidly to a more spiritual culture; our church organisations, with their limiting and confusing theologies, will soon give place to the Hierarchy, with its emerging teaching—clear, factual, intuitive and non-dogmatic.” (cf. RI, p. 135)

xii. “Mọi sự đang nhanh chóng được đưa lên bề mặt—điều tốt và điều xấu, điều đáng mong muốn và điều không đáng mong muốn, quá khứ và tương lai (vì cả hai là một); lưỡi cày của Thượng đế hầu như đã hoàn thành công việc của nó; thanh gươm của tinh thần đã cắt lìa một quá khứ tà ác khỏi tương lai rạng rỡ, và cả hai đều được thấy là có phần đóng góp trong Con Mắt của Thượng đế; nền văn minh vật chất của chúng ta sẽ được thấy là đang nhanh chóng nhường chỗ cho một nền văn hóa tinh thần hơn; các tổ chức giáo hội của chúng ta, với những thần học giới hạn và gây rối trí của chúng, sẽ sớm nhường chỗ cho Thánh Đoàn, với giáo huấn đang xuất hiện của Thánh Đoàn—rõ ràng, xác thực, trực giác và không giáo điều.” (x. RI, tr. 135)

xiii. “The Hierarchy has been invoked and its Members are ready for a great ‘act of evocation,’ of response to the invoking sound of humanity and of a definite (though relatively temporary) ‘act of orientation.’ This will force the Hierarchy, of its own freewill, to turn towards a new and more intimate type of relation with humanity.” (cf. RI, p. 135-136)

xiii. “Thánh Đoàn đã được khẩn cầu và các Thành viên của Thánh Đoàn đã sẵn sàng cho một ‘hành vi gợi lên’ lớn lao, cho sự đáp ứng với âm thanh khẩn cầu của nhân loại và cho một ‘hành vi định hướng’ xác định (dù tương đối tạm thời). Điều này sẽ buộc Thánh Đoàn, theo ý chí tự do của chính mình, quay về một loại quan hệ mới và mật thiết hơn với nhân loại.” (x. RI, tr. 135-136)

xiv. The “period of orientation will end when a powerful, earthly Hierarchy will factually, externally and in reality hold sway on earth, working in all the kingdoms of nature and thus bringing about (in truth) the expression of the divine Plan.” (cf. RI, p. 136)

xiv. “Thời kỳ định hướng sẽ kết thúc khi một Thánh Đoàn mạnh mẽ trên địa cầu sẽ thực sự, ngoại hiện và trong thực tại nắm quyền trên Trái Đất, hoạt động trong tất cả các giới của tự nhiên và nhờ đó thực sự mang lại sự biểu hiện của Thiên Cơ.” (x. RI, tr. 136)

xv. The “plan is implemented through the medium of the senior Members of the Hierarchy, Who invoke the ‘Lights which carry out the Will of God’; They are Themselves invoked by the Light-Bearers, the Masters; They again, in Their turn, are invoked by the aspirants and disciples of the world. Thus is the chain of Hierarchy only a life line, along which travel the love and life of God, from Him to us and from us to Him.” (cf. RI, p. 136)

xv. “Thiên Cơ được thực thi qua phương tiện là các Thành viên cao cấp của Thánh Đoàn, Những Vị khẩn cầu ‘Những Ánh Sáng thực thi Ý Chí của Thượng Đế’; Chính Các Ngài lại được khẩn cầu bởi Những Người Mang Ánh Sáng, tức các Chân sư; đến lượt Các Ngài, lại được khẩn cầu bởi những người chí nguyện và đệ tử của thế giới. Như vậy, chuỗi Thánh Đoàn chỉ là một đường dây sự sống, dọc theo đó tình thương và sự sống của Thượng đế lưu chuyển, từ Ngài đến chúng ta và từ chúng ta đến Ngài.” (x. RI, tr. 136)

xvi. “This dual thought of the relationship between humanity and the Hierarchy, and between the Hierarchy and the highest Centre, Shamballa, is completely covered in Rule VII in its two forms—for applicants, and for disciples and initiates.” (cf. RI, p. 136)

xvi. “Tư tưởng kép này về mối quan hệ giữa nhân loại và Thánh Đoàn, và giữa Thánh Đoàn với Trung Tâm cao nhất, Shamballa, được bao hàm trọn vẹn trong Quy luật VII dưới hai hình thức của nó—dành cho người dự tuyển, và dành cho đệ tử cùng điểm đạo đồ.” (x. RI, tr. 136)

[Underlining and Bolding—MDR]

[Gạch dưới và In đậm—MDR]

Paragraph 1

Đoạn 1

The Rule which is our theme for consideration at this time is one of deep significance and esoteric interest; it is concerned with the life of Shamballa and with the purposes of the Great Council.

Quy luật vốn là chủ đề để chúng ta xem xét vào lúc này là một quy luật có thâm nghĩa sâu xa và mối quan tâm huyền bí; nó liên quan đến sự sống của Shamballa và các mục đích của Đại Hội Đồng.

1. When we think of the “Great Council” we must realize that it is focussed within the innermost sanctum of Shamballa of which the essential members are Sanat Kumara and the Three Buddhas of Activity. The three Esoteric Kumaras may also be considered members, though the mode of their participation is not given exoterically.

1. Khi nghĩ đến “Đại Hội Đồng”, chúng ta phải nhận ra rằng nó tập trung bên trong thánh điện nội thâm nhất của Shamballa, mà các thành viên thiết yếu là Đức Sanat Kumara và Ba Đức Phật Hoạt Động. Ba Đức Kumara Nội Môn cũng có thể được xem là thành viên, dù phương thức tham dự của Các Ngài không được trình bày theo lối ngoại môn.

2. The Buddhas of Activity are considered exoteric Kumaras. At various times changes of position occur between the esoteric and exoteric Kumaras.

2. Các Đức Phật Hoạt Động được xem là ngoại môn Kumara. Vào những thời điểm khác nhau, có những thay đổi vị trí diễn ra giữa các Đức Kumara nội môn và ngoại môn.

3. It is obvious that of the deliberations of this “Great Council” we can know practically nothing (at our present stage of evolution) except what is told to us by some great soul spiritually closer to that Council.

3. Hiển nhiên là về các cuộc nghị sự của “Đại Hội Đồng” này, chúng ta hầu như không thể biết gì (ở giai đoạn tiến hoá hiện nay của chúng ta), ngoại trừ những gì được một linh hồn vĩ đại nào đó, gần gũi hơn về mặt tinh thần với Hội Đồng ấy, nói cho chúng ta biết.

This rule is also one of rare beauty and extraordinary implications, and it offers me the opportunity to enlarge upon a subject little known or understood by any esotericist in the average esoteric group.

Quy luật này cũng là một quy luật có vẻ đẹp hiếm có và những hàm ý phi thường, và nó cho tôi cơ hội mở rộng về một chủ đề ít được bất kỳ nhà bí truyền học nào trong nhóm huyền bí trung bình biết đến hay thấu hiểu.

4. In this section we see the Tibetan advancing the teaching presently available. If we think carefully about the esoteric teaching available before His writings, we will recognize the infrequency with which Shamballa was mentioned and the almost total lack of any specific information with respect to it.

4. Trong phần này, chúng ta thấy Chân sư Tây Tạng đang đưa giáo huấn hiện có tiến xa hơn. Nếu suy nghĩ kỹ về giáo huấn huyền bí có sẵn trước các trước tác của Ngài, chúng ta sẽ nhận ra Shamballa hiếm khi được nhắc đến và gần như hoàn toàn thiếu bất kỳ thông tin cụ thể nào liên quan đến nó.

The [Page 133] reason for this is that it is only as the new cycle draws closer—as it is drawing today—that the new and fuller teaching, the greatly extended horizon and the tremendously enhanced perception of the spiritual observer and worker become possible and apparent.

Lý do [Trang 133] cho điều này là chỉ khi chu kỳ mới đến gần hơn—như nó đang đến gần ngày nay—thì giáo huấn mới mẻ và đầy đủ hơn, chân trời được mở rộng rất nhiều và tri giác được tăng cường vô cùng của nhà quan sát và người hoạt động tinh thần mới trở nên khả hữu và rõ ràng.

5. We are living in times during which the horizon of human consciousness is expanding greatly and rapidly. There are certain stresses and strains with such rapid expansion.

5. Chúng ta đang sống trong những thời kỳ mà chân trời của tâm thức nhân loại đang mở rộng rất mạnh mẽ và nhanh chóng. Có những căng thẳng và áp lực nhất định đi kèm với sự mở rộng nhanh chóng như thế.

6. The “new cycle” drawing closer is clearly (at least) the Age of Aquarius with its anticipated beginning in 2117 (the year of another transit of Venus across the face of the Sun).

6. “Chu kỳ mới” đang đến gần rõ ràng là (ít nhất) Kỷ Nguyên Bảo Bình với khởi đầu được dự đoán vào năm 2117 (năm của một lần Sao Kim quá cảnh khác qua mặt Mặt Trời).

7. There are, doubtlessly, other great cycles of which we know nothing, converging at this time.

7. Chắc chắn còn có những chu kỳ lớn khác mà chúng ta không biết gì, đang hội tụ vào lúc này.

Much, very much, has been given out during the past one hundred years anent the Masters, and (as we are considering the subject of initiation and of preparation for that great transitional experience) it is necessary to understand somewhat the nature of Those with Whom the disciple has to associate, and the kind of world and of consciousness in which They live and move and have Their being.

Rất nhiều, vô cùng nhiều, đã được đưa ra trong một trăm năm qua liên quan đến các Chân sư, và (vì chúng ta đang xem xét chủ đề điểm đạo và sự chuẩn bị cho kinh nghiệm chuyển tiếp lớn lao ấy) cần thấu hiểu phần nào bản chất của Những Vị mà đệ tử phải liên kết, và loại thế giới cùng tâm thức trong đó Các Ngài sống, vận hành và hiện tồn.

8. If we stop to assess the extent of the teaching offered by the Tibetan through AAB and partially through HPB, we may stand amazed at what has been offered. Hierarchy is surely doing what it can to prepare the minds and hearts of humanity for the great planetary developments which lie immediately ahead.

8. Nếu chúng ta dừng lại để đánh giá phạm vi giáo huấn được Chân sư Tây Tạng trao truyền qua AAB và một phần qua HPB, chúng ta có thể kinh ngạc trước những gì đã được ban ra. Thánh Đoàn chắc chắn đang làm những gì có thể để chuẩn bị thể trí và trái tim của nhân loại cho những diễn biến hành tinh lớn lao đang ở ngay phía trước.

9. Initiation is called a “transitional experience”. Humanity which is preparing to undergo the first initiation is, therefore, obviously passing through a tremendous transition. Those who are stagnant in their perceptions will not notice this, and those who possess a deliberately chosen retrogressive consciousness will resent it and fight against it, but those who seek to cooperate with the development of truly Aquarian understanding and with the movement of humanity towards the fifth kingdom of nature will rejoice in this transition and its inevitable difficulties. How else to progress?

9. Điểm đạo được gọi là một “kinh nghiệm chuyển tiếp”. Vì vậy, nhân loại đang chuẩn bị trải qua lần điểm đạo thứ nhất rõ ràng đang đi qua một cuộc chuyển tiếp to lớn. Những ai trì trệ trong tri giác của mình sẽ không nhận thấy điều này, và những ai sở hữu một tâm thức thoái bộ được cố ý chọn lựa sẽ phẫn nộ trước nó và chống lại nó, nhưng những ai tìm cách hợp tác với sự phát triển của sự thấu hiểu Bảo Bình đích thực và với chuyển động của nhân loại hướng tới giới thứ năm của tự nhiên sẽ hoan hỉ trong cuộc chuyển tiếp này và những khó khăn tất yếu của nó. Còn cách nào khác để tiến bộ?

10. Increasingly, disciples of the world will be more closely associated with the Masters of the Wisdom. The Externalization of the Hierarchy will guarantee this.

10. Càng ngày, các đệ tử của thế giới sẽ liên kết gần gũi hơn với các Chân sư Minh Triết. Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn sẽ bảo đảm điều này.

11. Eventually, groups of disciples will come into closer energy-contact with the high beings who move with the precincts of Shamballa. A direct association will be a far distant eventuality, but at length it will come. At the present time disciples in their groups must at least become more receptive to the streams of energy emanating from such beings. After all, groups which are “merged in the fifth” are to be “nourished by the sixth and seventh”.

11. Cuối cùng, các nhóm đệ tử sẽ đi vào sự tiếp xúc năng lượng gần gũi hơn với những đấng cao cả vận hành trong phạm vi của Shamballa. Một sự liên kết trực tiếp sẽ là một khả năng cuối cùng còn rất xa, nhưng sau cùng nó sẽ đến. Hiện nay, các đệ tử trong các nhóm của mình ít nhất phải trở nên dễ tiếp nhận hơn đối với những dòng năng lượng phát xạ từ các đấng như thế. Rốt cuộc, các nhóm “hòa nhập trong giới thứ năm” sẽ được “nuôi dưỡng bởi giới thứ sáu và thứ bảy”.

The fact of the Hierarchy is to many thinkers an established fact; the hypothesis that there may be a Hierarchy is a widespread recognition. Information concerning its grades, its modes of working and its objectives are now common property; much has been accepted and much proved by those who believe this teaching.

Sự kiện về Thánh Đoàn đối với nhiều nhà tư tưởng là một sự kiện đã được xác lập; giả thuyết rằng có thể có một Thánh Đoàn là một nhận thức rộng rãi. Thông tin về các cấp bậc, các phương thức hoạt động và các mục tiêu của Thánh Đoàn nay đã là tài sản chung; nhiều điều đã được chấp nhận và nhiều điều đã được chứng minh bởi những người tin vào giáo huấn này.

12. We may not realize it, but the spread of knowledge concerning the factual existence of the Spiritual Hierarchy of our planet and its modes of working are a tremendous advantage to humanity. The sense of plan and purpose is thereby greatly stimulated, and humanity is saved from the license arising from a destructive hedonism and, even, nihilism.

12. Chúng ta có thể không nhận ra, nhưng sự lan rộng của tri thức về sự hiện hữu thực tế của Huyền Giai Tinh Thần trên hành tinh chúng ta và các phương thức hoạt động của Thánh Đoàn là một lợi ích to lớn cho nhân loại. Nhờ đó, ý thức về thiên cơ và mục đích được kích thích mạnh mẽ, và nhân loại được cứu khỏi sự buông thả nảy sinh từ chủ nghĩa khoái lạc phá hoại và thậm chí chủ nghĩa hư vô.

13. We note an important statement: not only has much been “accepted” anent the existence and nature of the Spiritual Hierarchy, but much has been proved.

13. Chúng ta ghi nhận một phát biểu quan trọng: không chỉ nhiều điều đã được “chấp nhận” liên quan đến sự hiện hữu và bản chất của Huyền Giai Tinh Thần, mà nhiều điều đã được chứng minh.

14. Importantly, belief must follow proof or verification. Humanity must achieve a truer understanding of an orientation to the Hierarchy if it to verify for itself the existence of that Hierarchy. The correct orientation is other than “show me and then I will believe”. “Faith is the substance of things hoped for, the evidence of things unseen.”

14. Điều quan trọng là niềm tin phải theo sau bằng chứng hay sự kiểm chứng. Nhân loại phải đạt được một sự thấu hiểu chân thật hơn về một định hướng đối với Thánh Đoàn nếu muốn tự mình kiểm chứng sự hiện hữu của Thánh Đoàn ấy. Định hướng đúng không phải là “hãy cho tôi thấy rồi tôi sẽ tin”. “Đức tin là bản thể của những điều được hy vọng, là bằng chứng của những điều không thấy.”

Paragraph 2

Đoạn 2

Before proceeding to a discussion of Rule VII, however, I would like to spend a moment studying some of the effects of this steadily growing fund of knowledge.

Tuy nhiên, trước khi đi vào thảo luận Quy luật VII, tôi muốn dành một khoảnh khắc nghiên cứu một số hiệu quả của kho tri thức đang tăng trưởng đều đặn này.

15. As students of occultism it is our duty to absorb the Tibetan’s thought, ponder it, and add to the “fund of knowledge”. To the extent possible, this “knowledge” must be applied.

15. Là các đạo sinh huyền bí học, bổn phận của chúng ta là hấp thụ tư tưởng của Chân sư Tây Tạng, suy ngẫm về nó, và thêm vào “kho tri thức”. Trong mức độ có thể, “tri thức” này phải được áp dụng.

16. We can see how much the mind of humanity must be prepared concerning the nature of the Hierarchy before it would be possible for that Hierarchy to externalize in a constructive manner.

16. Chúng ta có thể thấy thể trí của nhân loại cần được chuẩn bị nhiều đến mức nào về bản chất của Thánh Đoàn trước khi Thánh Đoàn ấy có thể ngoại hiện theo một cách xây dựng.

It has become the possession of the many and not only of the rare and discreet esotericist and occult student;

Nó đã trở thành sở hữu của số đông chứ không chỉ của nhà bí truyền học và môn sinh huyền bí hiếm hoi, kín đáo;

17. We note the requirement that the true student of esotericism is not only rare but, importantly, “discreet”. Until this present era, the “Secrets of the Kingdom of Heaven” have not been shouted from the rooftops, and even today, in an period of extensive dissemination of the inner teaching, only the slightest part of it has been made exoteric.

17. Chúng ta ghi nhận yêu cầu rằng đạo sinh chân chính của huyền bí học không chỉ hiếm có mà, quan trọng hơn, còn phải “kín đáo”. Cho đến thời đại hiện nay, “Các Bí Mật của Thiên Giới” đã không được hô vang từ mái nhà, và ngay cả ngày nay, trong một thời kỳ phổ biến rộng rãi giáo huấn nội môn, chỉ phần nhỏ nhất của nó đã được đưa ra theo lối ngoại môn.

18. Discretion is a virtue related to the responsible use of energies and forces.

18. Sự kín đáo là một đức hạnh liên quan đến việc sử dụng các năng lượng và mãnh lực một cách có trách nhiệm.

this teaching has now seeped down into the consciousness of the masses and is there producing curiosity, relief and hope, speculation and cynical laughter, conscious spiritual effort or sustained ridicule—according to the type of mind, the sensitivity to truth or the crass credulity of the recipient.

giáo huấn này nay đã thấm xuống vào tâm thức quần chúng và ở đó đang tạo ra sự tò mò, nhẹ nhõm và hy vọng, suy đoán và tiếng cười hoài nghi, nỗ lực tinh thần có ý thức hoặc sự chế nhạo kéo dài—tùy theo loại thể trí, sự nhạy cảm với chân lý hoặc lòng cả tin thô thiển của người tiếp nhận.

19. The Hierarchy relies upon a method of slow recognition and assimilation, here called seeping. The process is gradual and occurs almost unconsciously. It may take fifty years for a new idea to become incorporated into the public consciousness. The results of the gradual infusion of new ideas are more clearly seen in retrospect.

19. Thánh Đoàn dựa vào một phương pháp nhận biết và đồng hóa chậm rãi, ở đây được gọi là sự thấm xuống. Tiến trình này diễn ra dần dần và gần như vô thức. Có thể mất năm mươi năm để một ý tưởng mới được đưa vào tâm thức công chúng. Các kết quả của sự thấm nhuần dần dần những ý tưởng mới được thấy rõ hơn khi nhìn lại.

20. DK is entirely realistic about public reaction to knowledge concerning the Spiritual Hierarchy. The ‘soil’ in which Hierarchy must plant the seed of wisdom is not uniformly receptive.

20. Chân sư DK hoàn toàn thực tế về phản ứng của công chúng đối với tri thức liên quan đến Huyền Giai Tinh Thần. “Mảnh đất” trong đó Thánh Đoàn phải gieo hạt giống minh triết không đồng đều về khả năng tiếp nhận.

21. As disciples we wish to be neither cynical and rejecting nor crassly credulous. There is a middle road of discerning receptivity and patient experimentation.

21. Là đệ tử, chúng ta không muốn vừa hoài nghi và phủ nhận, vừa cả tin thô thiển. Có một con đường trung dung của sự tiếp nhận có phân biện tinh thần và thử nghiệm kiên nhẫn.

But the knowledge, belief and hope in the existence of a planetary Hierarchy has today leavened the entire mass of human thinking in a far wider and deeper manner than perhaps the most optimistic suspect;

Nhưng tri thức, niềm tin và hy vọng vào sự hiện hữu của một Thánh Đoàn hành tinh ngày nay đã làm dậy men toàn bộ khối tư tưởng nhân loại theo một cách rộng hơn và sâu hơn nhiều so với điều có lẽ những người lạc quan nhất ngờ tới;

22. The real effect has been noted by Hierarchy. We are not in a position to see it. Hierarchy measures the progress of human consciousness as a whole.

22. Hiệu quả thực sự đã được Thánh Đoàn ghi nhận. Chúng ta không ở vị thế để thấy điều đó. Thánh Đoàn đo lường sự tiến bộ của tâm thức nhân loại như một tổng thể.

23. The word “leavened” is interesting, as it suggests a rising or elevation. Man used to live on “unleavened bread” which we can interpret as knowledge devoid of the elevating vision of the second aspect of divinity. Such knowledge is spiritually ‘flat’.

23. Từ “dậy men” thật thú vị, vì nó gợi ý một sự trỗi lên hay nâng cao. Con người từng sống bằng “bánh không men”, điều mà chúng ta có thể diễn giải là tri thức không có tầm nhìn nâng cao của phương diện thứ hai của thiên tính. Tri thức như thế thì “phẳng” về mặt tinh thần.

herein lies the hope of the world, and here is to be found also a fertile field for spiritual work during the coming decades. For this all disciples must prepare.

chính trong đó có niềm hy vọng của thế giới, và ở đây cũng có một cánh đồng màu mỡ cho công việc tinh thần trong những thập niên sắp tới. Tất cả các đệ tử phải chuẩn bị cho điều này.

24. In this field we, as disciples, have been working. That “fertile field” must continuously be seeded during the coming two decades (before 2025). At that time, the great Centennial Conclave will occur, and new plans for the regeneration of the humanity and the planet will be laid and implemented by Shamballa and its Ashram (the Spiritual Hierarchy).

24. Trong cánh đồng này, chúng ta, với tư cách đệ tử, đã và đang làm việc. “Cánh đồng màu mỡ” ấy phải liên tục được gieo hạt trong hai thập niên sắp tới (trước năm 2025). Vào thời điểm đó, Đại Mật Nghị Bách Niên sẽ diễn ra, và những kế hoạch mới cho sự tái sinh của nhân loại và hành tinh sẽ được Shamballa cùng Ashram của mình (Huyền Giai Tinh Thần) hoạch định và thực thi.

Paragraph 3

Đoạn 3

The rules whereby the Hierarchy may be reached are already well known to the aspirants of the world; they must become equally well known to the average person; the objectives of the hierarchical work must be emphasised and [Page 134] the nature of the divine Plan unfolded so that purpose and goal may be presented to humanity;

Các quy luật nhờ đó có thể đạt đến Thánh Đoàn đã được những người chí nguyện của thế giới biết rõ; chúng cũng phải trở nên được người bình thường biết rõ như vậy; các mục tiêu của công việc thuộc Thánh Đoàn phải được nhấn mạnh và [Trang 134] bản chất của Thiên Cơ phải được khai mở để mục đích và mục tiêu có thể được trình bày cho nhân loại;

25. The Hierarchy’s wishes for the dissemination of knowledge concerning its purpose, nature and practices could not be more clearly presented.

25. Những mong muốn của Thánh Đoàn về việc phổ biến tri thức liên quan đến mục đích, bản chất và các thực hành của Thánh Đoàn không thể được trình bày rõ ràng hơn.

26. In case we have wondered whether one should discuss the Spiritual Hierarchy with the “average” individual, this section gives the affirmative in no uncertain terms.

26. Trong trường hợp chúng ta từng tự hỏi liệu có nên thảo luận về Huyền Giai Tinh Thần với cá nhân “trung bình” hay không, phần này đưa ra câu trả lời khẳng định một cách không mơ hồ.

27. Not only are average individuals to become familiar with the Spiritual Hierarchy, but its purpose, nature and modes of work are to become “well known” to them.

27. Không chỉ các cá nhân trung bình sẽ trở nên quen thuộc với Huyền Giai Tinh Thần, mà mục đích, bản chất và các phương thức làm việc của Thánh Đoàn cũng sẽ trở nên “được biết rõ” đối với họ.

28. This, in effect, means that humanity is to come into a measure of understanding of the Divine Plan. Fortunately, much progress along this line has occurred—quietly.

28. Thực ra, điều này có nghĩa là nhân loại sẽ đạt đến một mức độ thấu hiểu Thiên Cơ. May mắn thay, nhiều tiến bộ theo hướng này đã diễn ra—một cách âm thầm.

the synthesis of the chain of hierarchical Existences—from the smallest atom of matter up to and including the Lord of Life Himself—must be unfolded;

sự tổng hợp của chuỗi các Hiện Tồn thuộc Thánh Đoàn—từ nguyên tử vật chất nhỏ bé nhất cho đến và bao gồm Chính Đức Chúa Tể Sự Sống—phải được khai mở;

29. We note that all forms of life are called “hierarchical Existences”. Humanity is to become aware of the synthesis of life, of “Hylozoism”. The name given to this synthesis is not important as long as its factuality is somewhat apprehended.

29. Chúng ta ghi nhận rằng mọi hình tướng sự sống đều được gọi là “các Hiện Tồn thuộc Thánh Đoàn”. Nhân loại sẽ trở nên ý thức về sự tổng hợp của sự sống, về “thuyết vật hoạt”. Tên gọi được đặt cho sự tổng hợp này không quan trọng, miễn là tính thực tế của nó phần nào được lĩnh hội.

30. When “Hylozoism” is an established working hypothesis in the minds of a significant number of human beings, all kingdoms of nature (including the members of the human kingdom) will be treated with greater love and respect.

30. Khi “thuyết vật hoạt” là một giả thuyết làm việc đã được xác lập trong thể trí của một số lượng đáng kể những con người, tất cả các giới của tự nhiên (bao gồm các thành viên của giới nhân loại) sẽ được đối xử với tình thương và sự tôn trọng lớn hơn.

the essential and spiritual interdependence of all and the interrelation of every unit of divine life must be proved.

sự tùy thuộc lẫn nhau thiết yếu và tinh thần của tất cả, cùng mối tương quan của mọi đơn vị sự sống thiêng liêng, phải được chứng minh.

31. At the moment this interdependence is asserted by those who understand it. We can hardly say that it has, as yet, been “proved”. The oneness and wholeness of humanity, all kingdoms of nature and the planet are, however, increasingly evident to all thinking people. In our modern world, we call this growing understanding of unity the “ecological consciousness”.

31. Vào lúc này, sự tùy thuộc lẫn nhau này được khẳng định bởi những người thấu hiểu nó. Chúng ta khó có thể nói rằng cho đến nay nó đã được “chứng minh”. Tuy nhiên, tính nhất như và toàn thể của nhân loại, tất cả các giới của tự nhiên và hành tinh đang ngày càng hiển nhiên đối với mọi người biết suy tư. Trong thế giới hiện đại của chúng ta, chúng ta gọi sự thấu hiểu đang tăng trưởng về tính hợp nhất này là “tâm thức sinh thái”.

This will eventually lead to that established unity of effort which will express itself in the merging of the fourth and the fifth kingdoms in nature, and to the establishment of that brotherhood which will constitute the germ or the seed of the coming manifestation of the Hierarchy as the Heart of God (directly related to the Heart of the Sun) in physical expression. This is necessarily an ambiguous phrase; but is as close an expression, in words, of hierarchical purpose as I find it possible to make.

Điều này cuối cùng sẽ dẫn đến sự hợp nhất nỗ lực đã được xác lập, vốn sẽ biểu lộ qua sự hợp nhất của giới thứ tư và giới thứ năm trong tự nhiên, và đến việc thiết lập tình huynh đệ, vốn sẽ cấu thành mầm hay hạt giống của sự biểu hiện sắp đến của Thánh Đoàn như Trái Tim của Thượng đế (liên hệ trực tiếp với Trái Tim của Mặt Trời) trong biểu hiện hồng trần. Đây tất yếu là một cụm từ hàm hồ; nhưng đó là cách diễn đạt bằng lời gần nhất về mục đích của Thánh Đoàn mà tôi thấy mình có thể đưa ra.

32. Today humanity is characterized largely by divided effort, non-cooperation, and open antagonism. This must and will give way to a planetary event which is here called “the merging of the fourth and fifth kingdoms in nature”.

32. Ngày nay, nhân loại phần lớn được đặc trưng bởi nỗ lực chia rẽ, thiếu hợp tác và đối kháng công khai. Điều này phải và sẽ nhường chỗ cho một biến cố hành tinh mà ở đây được gọi là “sự hợp nhất của giới thứ tư và giới thứ năm trong tự nhiên”.

33. When humanity becomes soul-infused, the conflicts and antagonisms which now divide it will subside. Soul expression, on no matter what ray, conduces to unity.

33. Khi nhân loại trở nên được linh hồn thấm nhuần, các xung đột và đối kháng hiện đang chia rẽ nhân loại sẽ lắng xuống. Sự biểu hiện linh hồn, bất kể trên cung nào, đều dẫn đến hợp nhất.

34. The influence of the “Heart of the Sun” will slowly begin to manifest through humanity as the fourth and fifth kingdoms merge, and this will become an noticeable fact during the era of brotherhood which will characterize humanity during the third decanate of the Age of Aquarius (ruled by a planet of brotherhood—Venus). Eventually, the Spiritual Hierarchy (as a direct representative of the Heart of the Sun) will manifest fully on a planet which will have become “sacred”. By that time, much of what is now humanity will have merged in Hierarchy. This merging obviously lies in the distant future.

34. Ảnh hưởng của “Trái Tim của Mặt Trời” sẽ chậm rãi bắt đầu biểu hiện qua nhân loại khi giới thứ tư và giới thứ năm hợp nhất, và điều này sẽ trở thành một sự kiện đáng nhận thấy trong kỷ nguyên huynh đệ, vốn sẽ đặc trưng cho nhân loại trong thập độ thứ ba của Kỷ Nguyên Bảo Bình (do một hành tinh của tình huynh đệ cai quản—Sao Kim). Cuối cùng, Huyền Giai Tinh Thần (như đại diện trực tiếp của Trái Tim của Mặt Trời) sẽ biểu hiện trọn vẹn trên một hành tinh đã trở nên “thiêng liêng”. Đến lúc đó, phần lớn những gì hiện là nhân loại sẽ đã hòa nhập vào Thánh Đoàn. Sự hợp nhất này rõ ràng nằm trong tương lai xa xôi.

Paragraph 4

Đoạn 4

The entire field of the world—meaning by that phrase all the kingdoms in nature in united inner and outer relationship—will be the medium of recognised spiritual experience and also the field of expression of certain divine qualities and aspects which have hitherto been in quiescent abeyance.

Toàn bộ cánh đồng của thế giới—nghĩa là, theo cụm từ ấy, tất cả các giới trong tự nhiên trong mối quan hệ bên trong và bên ngoài hợp nhất—sẽ là phương tiện của kinh nghiệm tinh thần được nhận biết và cũng là cánh đồng biểu hiện của một số phẩm tính và phương diện thiêng liêng nhất định, vốn cho đến nay vẫn nằm yên trong tình trạng tiềm phục.

35. The Tibetan is prophesying; He envisions a time of unity and synthesis—the spiritualization of our planet. The spirituality then expressed will be all-inclusive in a planetary sense, involving the “entire field of the world”. The sacredness of all kingdoms will be understood and new forms of divine expression will work through an achieved unity of kingdoms.

35. Chân sư Tây Tạng đang tiên tri; Ngài hình dung một thời kỳ của hợp nhất và tổng hợp—sự tinh thần hóa hành tinh chúng ta. Tính tinh thần khi ấy được biểu hiện sẽ bao gồm tất cả theo nghĩa hành tinh, liên quan đến “toàn bộ cánh đồng của thế giới”. Tính thiêng liêng của tất cả các giới sẽ được thấu hiểu và những hình thức mới của sự biểu hiện thiêng liêng sẽ hoạt động thông qua một sự hợp nhất đã đạt được của các giới.

36. It is inspiring to imagine the distant vista.

36. Thật truyền cảm hứng khi hình dung viễn cảnh xa xôi ấy.

What these qualities are, what divine aspects are awaiting precipitation, and which divine purposes are latent in that field of waiting expectancy, I cannot yet reveal or even indicate. The times are not yet ripe.

Những phẩm tính này là gì, những phương diện thiêng liêng nào đang chờ ngưng tụ, và những mục đích thiêng liêng nào đang tiềm tàng trong cánh đồng của sự mong đợi đang chờ ấy, tôi chưa thể mặc khải hay thậm chí chỉ ra. Thời gian chưa chín muồi.

37. The world field is, and will increasingly become, a “field of waiting expectancy”.

37. Cánh đồng thế giới là, và sẽ ngày càng trở thành, một “cánh đồng của sự mong đợi đang chờ”.

38. The purpose of the Tibetan’s prophesy is not to give us detailed information about distant eventuations, but to inform us that divine intention is always greater than we can possibly imagine.

38. Mục đích của lời tiên tri của Chân sư Tây Tạng không phải là cho chúng ta thông tin chi tiết về những kết quả sau cùng xa xôi, mà là cho chúng ta biết rằng ý định thiêng liêng luôn lớn hơn điều chúng ta có thể tưởng tượng.

39. In short, we are not to become discouraged by present difficulties and apparently intractable situations. “The best is yet to be.”

39. Tóm lại, chúng ta không được nản lòng trước những khó khăn hiện tại và các tình huống dường như khó xử lý. “Điều tốt đẹp nhất vẫn còn ở phía trước.”

Paragraph 5

Đoạn 5

A great upheaval in all the kingdoms in nature has characterised this day and generation; a stupendous destruction of all forms of divine life and in every kingdom has been the outstanding note of this upheaval. Our modern civilisation has received a death blow from which it will never recover, but which will be recognised some day as the “blow of release” and as the signal for that which is better, new and more suitable for the evolving spirit, to make its appearance.

Một cuộc biến động lớn trong tất cả các giới trong tự nhiên đã đặc trưng cho thời đại và thế hệ này; một sự phá hủy khủng khiếp đối với mọi hình tướng của sự sống thiêng liêng và trong mọi giới đã là âm điệu nổi bật của cuộc biến động này. Nền văn minh hiện đại của chúng ta đã nhận một đòn chí tử mà nó sẽ không bao giờ hồi phục, nhưng một ngày kia sẽ được nhận ra là “đòn giải thoát” và là tín hiệu để điều tốt đẹp hơn, mới mẻ hơn và thích hợp hơn cho tinh thần đang tiến hoá xuất hiện.

40. The “upheaval” has many causes, some of them beyond the confines of our solar system. Within our solar system two planets which contribute to the upheaval are Vulcan and Pluto—planets which become active before the first initiation of the human individual and, by extension, before the first initiation of humanity as whole.

40. “Cuộc biến động” có nhiều nguyên nhân, một số vượt ngoài ranh giới của hệ mặt trời chúng ta. Bên trong hệ mặt trời của chúng ta, hai hành tinh góp phần vào cuộc biến động là Vulcan và Sao Diêm Vương—những hành tinh trở nên hoạt động trước lần điểm đạo thứ nhất của cá nhân con người và, theo mở rộng, trước lần điểm đạo thứ nhất của toàn thể nhân loại.

41. We may also say that these planets function in relation to the process of the fourth initiation through which our Planetary Logos is said to be passing.

41. Chúng ta cũng có thể nói rằng các hành tinh này vận hành liên quan đến tiến trình của lần điểm đạo thứ tư mà Đức Hành Tinh Thượng đế của chúng ta được cho là đang trải qua.

42. Our civilization is “modern”, but (carrying as it does many vestiges of the Piscean civilization) it is not well-aligned to the Divine Plan.

42. Nền văn minh của chúng ta là “hiện đại”, nhưng (vì nó mang nhiều dấu vết của nền văn minh Song Ngư) nó không được chỉnh hợp tốt với Thiên Cơ.

43. We see reactionary schools of thought (often religiously inspired) seeking to hold on to the past, but it is a losing battle.

43. Chúng ta thấy các trường phái tư tưởng phản động (thường được tôn giáo khơi nguồn) tìm cách bám giữ quá khứ, nhưng đó là một trận chiến thất bại.

44. Much of the present and anticipated struggle during this transitional period between the waning Age of Pisces and the impending Age of Aquarius will focus on the willingness of humanity to release itself from the conditioning of past patterns of thought and behavior.

44. Phần lớn cuộc đấu tranh hiện tại và được dự đoán trong thời kỳ chuyển tiếp này giữa Kỷ Nguyên Song Ngư đang tàn và Kỷ Nguyên Bảo Bình đang đến sẽ tập trung vào sự sẵn lòng của nhân loại trong việc tự giải phóng khỏi sự tác động của các mô hình tư tưởng và hành vi quá khứ.

45. A little thought on the concept will reveal that the “blow of release” is a peculiarly Vulcanian dynamic.

45. Một chút suy nghĩ về khái niệm này sẽ mặc khải rằng “đòn giải thoát” là một động lực đặc biệt mang tính Vulcan.

46. New energies are in process of emergence; the “signal” for their advent has been given and registered.

46. Các năng lượng mới đang trong tiến trình xuất hiện; “tín hiệu” cho sự giáng lâm của chúng đã được đưa ra và ghi nhận.

Great and penetrating energies and their evoked forces have met in a conflict which has, figuratively speaking, elevated the mineral kingdom into the skies and which has brought down fire from heaven. I am talking to you factually and not just symbolically.

Những năng lượng lớn lao và xuyên thấu cùng các mãnh lực được chúng gợi lên đã gặp nhau trong một cuộc xung đột mà, nói theo nghĩa bóng, đã nâng giới kim thạch lên bầu trời và đã đem lửa từ thiên giới xuống. Tôi đang nói với các bạn một cách xác thực chứ không chỉ bằng biểu tượng.

47. An important relationship between energies and forces is here described. Energies (in the realm of soul and beyond) evoke forces (in the worlds of personality, form and matter).

47. Một mối quan hệ quan trọng giữa các năng lượng và mãnh lực được mô tả ở đây. Các năng lượng (trong cõi của linh hồn và xa hơn) gợi lên các mãnh lực (trong các thế giới của phàm ngã, hình tướng và vật chất).

48. The figurative interpretation is relatively easy to understand as the result of modern aerial warfare and its weaponry.

48. Cách diễn giải theo nghĩa bóng tương đối dễ thấu hiểu như kết quả của chiến tranh trên không hiện đại và vũ khí của nó.

49. There are also occult interpretations, and they relate, again, to Vulcan—ruler of the mineral kingdom and, in part, of the fires of will. Vulcan relates both to the fires deeply recessed in matter and to the fires of the heavenly worlds. The “jewel in the lotus” is reasonably ruled by Vulcan.

49. Cũng có những cách diễn giải huyền bí, và chúng lại liên quan đến Vulcan—chủ tinh của giới kim thạch và, một phần, của các lửa của ý chí. Vulcan liên hệ cả với những lửa ẩn sâu trong vật chất lẫn những lửa của các thế giới thiên thượng. “Viên ngọc trong hoa sen” hợp lý là do Vulcan cai quản.

50. “Fire from heaven” may also be interpreted as the fire of Shamballa which inspired both those aligned with good and evil.

50. “Lửa từ thiên giới” cũng có thể được diễn giải là lửa của Shamballa, vốn đã truyền cảm hứng cho cả những người được chỉnh hợp với thiện và ác.

The bodies of men, women and children, as well as of animals, have been [Page 135] destroyed; the forms of the vegetable kingdom and the potencies of the mineral kingdom have been disintegrated, distributed and devastated. The coherent life of all the planetary forms has been temporarily rendered incoherent.

Thể xác của những người nam, nữ và trẻ em, cũng như của các loài thú, đã bị [Trang 135] phá hủy; các hình tướng của giới thực vật và các quyền năng của giới kim thạch đã bị tan rã, phân tán và tàn phá. Sự sống cố kết của tất cả các hình tướng hành tinh đã tạm thời bị làm cho mất cố kết.

51. In the Tibetan’s description, we can see the work of Shamballa—the destruction of forms anticipating the preparation of new and more suitable vessels for the spirit.

51. Trong mô tả của Chân sư Tây Tạng, chúng ta có thể thấy công việc của Shamballa—sự phá hủy các hình tướng nhằm chuẩn bị trước những vận cụ mới và thích hợp hơn cho tinh thần.

52. That which is coherent must be rendered incoherent, if forms are to be reorganized and based more truly upon archetypal patterns.

52. Những gì cố kết phải được làm cho mất cố kết, nếu các hình tướng cần được tái tổ chức và đặt nền tảng chân thật hơn trên các mô hình nguyên mẫu.

53. We remember that the three potencies which emanate from Shamballa are purification, destruction and organization. The Tibetan, it seems, is describing the second and third particularly.

53. Chúng ta nhớ rằng ba quyền năng phát xạ từ Shamballa là thanh luyện, phá hủytổ chức. Dường như Chân sư Tây Tạng đang đặc biệt mô tả quyền năng thứ hai và thứ ba.

54. We are in that period which precedes the time when it shall be truly said, “Behold, I make all things new!”

54. Chúng ta đang ở trong thời kỳ đi trước lúc có thể thật sự nói rằng: “Này, Ta làm cho muôn vật trở nên mới!”

As an ancient prophecy has put it: “No true united Sound goes out from form to form, from life to life. Only a cry of pain, a demand for restitution and an invocation for relief from agony, despair and fruitless effort goes out from here to There.”

Như một lời tiên tri cổ xưa đã nói: “Không có Âm Thanh hợp nhất chân thật nào đi ra từ hình tướng đến hình tướng, từ sự sống đến sự sống. Chỉ có một tiếng kêu đau đớn, một đòi hỏi hoàn nguyên và một lời khẩn cầu được giải thoát khỏi thống khổ, tuyệt vọng và nỗ lực vô hiệu đi ra từ đây đến Đó.”

55. One cannot help but be reminded that our Planetary Logos is passing through the fourth in a series of seven initiations—the Initiation of the Crucifixion.

55. Người ta không thể không được nhắc nhớ rằng Đức Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đang đi qua lần thứ tư trong một chuỗi bảy lần điểm đạo—Cuộc Điểm Đạo Đóng Đinh.

56. The planet Vulcan is involved with the fourth initiation of the individual human being and, it seems, of the Planetary Logos as well. Vulcan has much in its nature relating to the fourth ray, and thus to the fourth initiation.

56. Hành tinh Vulcan liên quan đến lần điểm đạo thứ tư của cá nhân con người và, dường như, cũng của Đức Hành Tinh Thượng đế. Trong bản chất của Vulcan có nhiều điều liên hệ đến cung thứ tư, và do đó đến lần điểm đạo thứ tư.

57. Great disharmony must ever precede re-harmonization. The three words associated with the fourth initiation are “Crucifixion. Sacrifice. Harmony” (R&I 340). The important implication is that crucifixion and sacrifice must precede the emergence of harmony.

57. Sự bất hòa lớn lao luôn phải đi trước sự tái hòa điệu. Ba từ gắn liền với lần điểm đạo thứ tư là “Đóng Đinh. Hy Sinh. Hòa Điệu” (R&I 340). Hàm ý quan trọng là sự đóng đinh và hy sinh phải đi trước sự xuất hiện của hòa điệu.

58. As well, one would think with reason that the Law of Disintegration—the third systemic law—would be involved in this process.

58. Hơn nữa, người ta có lý khi nghĩ rằng Định luật Tan Rã—định luật hệ thống thứ ba—sẽ tham dự vào tiến trình này.

59. A “united Sound” depends upon the potency of the second ray (the ray which rules the Akasha, from which vibratory level coherent sound originates). We might say that in the modern era, the potencies of the monad (a ‘resident’ of Shamballa) are disorganizing the sound resounding through form in preparation for a reorganization of form from which will emanate a sound closer to the archetypal sound.

59. Một “Âm Thanh hợp nhất” tùy thuộc vào uy lực của cung hai (cung cai quản Akasha, từ cấp độ rung động ấy âm thanh cố kết khởi sinh). Chúng ta có thể nói rằng trong thời đại hiện đại, các uy lực của chân thần (một “cư dân” của Shamballa) đang làm rối loạn âm thanh vang vọng qua hình tướng, để chuẩn bị cho một cuộc tái tổ chức hình tướng, từ đó sẽ phát xuất một âm thanh gần hơn với âm thanh nguyên mẫu.

60. The life imprisoned in the form does not realize this, however, and experiences only the pain of incoherence and futility.

60. Tuy nhiên, sự sống bị giam giữ trong hình tướng không nhận ra điều này, và chỉ trải nghiệm nỗi đau của sự bất nhất và vô ích.

61. We note the capitalized word, “There”, indicating humanity’s invocation of Hierarchy and, to a degree, Shamballa. Humanity is living ‘here’; Hierarchy and Shamballa are “There”—indicating the ‘vibratory distance’ which separates them.

61. Chúng ta lưu ý từ viết hoa “There”, chỉ sự khẩn cầu của nhân loại đối với Thánh Đoàn và, ở một mức độ nào đó, đối với Shamballa. Nhân loại đang sống “ở đây”; Thánh Đoàn và Shamballa ở “Đó”—chỉ “khoảng cách rung động” phân cách các bên.

62. We are living in a time of ‘great invocation’. The “Great Invocation” has been given to us to strengthen humanity’s often inchoate and desperate invocation for relief.

62. Chúng ta đang sống trong một thời kỳ “đại khẩn cầu”. “Đại Khấn Nguyện” đã được trao cho chúng ta để củng cố lời khẩn cầu thường còn mơ hồ và tuyệt vọng của nhân loại nhằm được giải thoát.

63. We note that the ancient writing is a “prophecy”. That which is coming to pass now has long been foretold. We are living through an agonizing phase required by the Divine Plan for our planet.

63. Chúng ta lưu ý rằng văn bản cổ xưa là một “lời tiên tri”. Điều đang diễn ra hiện nay đã được báo trước từ lâu. Chúng ta đang trải qua một giai đoạn thống khổ do Thiên Cơ đòi hỏi cho hành tinh của chúng ta.

Paragraph 6

Đoạn 6

All this upheaval of the “soil” of the world—spiritual, psychological and physical—all this disruption of the forms and of the familiar contours of our planetary life had to take place before there could come the emergence of the Hierarchy into the public consciousness; all this had to do its work upon the souls of men before the New Age could come in, bringing with it the Restoration of the Mysteries, and the rehabilitation of the peoples of the earth. The two go together.

Tất cả sự xáo trộn này của “đất” thế gian—về tinh thần, tâm lý và hồng trần—tất cả sự phá vỡ này đối với các hình tướng và các đường nét quen thuộc của đời sống hành tinh chúng ta đều phải diễn ra trước khi Thánh Đoàn có thể xuất hiện trong tâm thức công chúng; tất cả những điều này phải tác động lên linh hồn của con người trước khi Kỷ Nguyên Mới có thể đến, mang theo Sự Phục Hồi các Bí Nhiệm và sự phục hồi các dân tộc trên Trái Đất. Hai điều ấy đi cùng nhau.

64. The “soil” of the world is the condition of all forms and of the matter which composes those forms. A plough turns the soil so that it may be seeded. Vulcan is the planet which rules ploughs. It is also the planet whose energies will be used to beat swords into ploughshares.

64. “Đất” của thế gian là tình trạng của mọi hình tướng và của vật chất cấu thành các hình tướng ấy. Lưỡi cày lật đất để đất có thể được gieo hạt. Vulcan là hành tinh cai quản các lưỡi cày. Đó cũng là hành tinh có các năng lượng sẽ được dùng để rèn gươm thành lưỡi cày.

65. The section immediately above seems to contain a rather hard saying—that all the misery recently experienced by humanity (and, as well, by many forms of life on Earth) was necessary if knowledge of the Spiritual Hierarchy was to emerge in public consciousness.

65. Phần ngay bên trên dường như chứa đựng một lời nói khá nghiêm khắc—rằng tất cả khổ đau mà nhân loại gần đây đã trải qua (và cả nhiều hình thức sự sống trên Trái Đất nữa) là cần thiết nếu tri thức về Huyền Giai Tinh Thần phải xuất hiện trong tâm thức công chúng.

66. The many miseries worked upon the souls of men, making them more responsive to the vibrations of the New Age.

66. Nhiều khổ đau đã tác động lên linh hồn con người, khiến họ đáp ứng nhiều hơn với các rung động của Kỷ Nguyên Mới.

67. We many not be accustomed to thinking that unhappiness and misery must precede regeneration, however, this seems to be the case (at least on a global scale and on this planet so characterized by the number of pain—the number four).

67. Có thể chúng ta không quen nghĩ rằng bất hạnh và khổ đau phải đi trước sự tái sinh; tuy nhiên, dường như đúng là như vậy (ít nhất trên quy mô toàn cầu và trên hành tinh này, vốn được đặc trưng bởi con số của đau khổ—con số bốn).

68. The New Age will bring the “Restoration of the Mysteries” and the “rehabilitation of the peoples of the earth”. The restoration and the rehabilitation go together, we are told. This must ever be kept in mind.

68. Kỷ Nguyên Mới sẽ mang lại “Sự Phục Hồi các Bí Nhiệm” và “sự phục hồi các dân tộc trên Trái Đất”. Chúng ta được bảo rằng sự phục hồiviệc khôi phục đi cùng nhau. Điều này luôn phải được ghi nhớ.

69. The idea is simple and impressive: unless the Mysteries are restored on Earth the rehabilitation of the peoples cannot occur. There must also be the rehabilitation of a certain number of humanity if it will become possible for the Mysteries to be restored.

69. Ý tưởng này đơn giản và gây ấn tượng: nếu các Bí Nhiệm không được phục hồi trên Trái Đất, sự phục hồi các dân tộc không thể xảy ra. Cũng phải có sự phục hồi nơi một số lượng nhất định trong nhân loại, nếu việc phục hồi các Bí Nhiệm muốn trở thành khả hữu.

70. In meditating upon and studying the 28 Rules, we are contributing, quietly, to the Restoration of the Mysteries.

70. Khi tham thiền về và nghiên cứu 28 Quy luật, chúng ta đang lặng lẽ góp phần vào Sự Phục Hồi các Bí Nhiệm.

This is one of the major points which I am seeking to make. The disruption, disintegration and the completely chaotic conditions existing for the past five hundred years within all the kingdoms of nature have at last worked their way out into paralleling physical conditions.

Đây là một trong những điểm chính mà tôi đang tìm cách nêu ra. Sự phá vỡ, sự tan rã và các tình trạng hoàn toàn hỗn loạn đã tồn tại suốt năm trăm năm qua trong mọi giới của thiên nhiên cuối cùng đã tự biểu hiện ra thành những tình trạng hồng trần tương ứng.

71. The idea is revelatory. Disruption, disintegration and chaos have been building for the past five hundred years. The destruction and chaos of the war were the emerging expression of a dire, latent condition unrealized, perhaps, by most of humanity, but fully understood by Hierarchy.

71. Ý tưởng này có tính mặc khải. Sự phá vỡ, sự tan rã và hỗn loạn đã tích tụ trong năm trăm năm qua. Sự hủy diệt và hỗn loạn của chiến tranh là biểu hiện nổi lên của một tình trạng tiềm ẩn khốc liệt, có lẽ phần lớn nhân loại chưa nhận ra, nhưng Thánh Đoàn thì thấu hiểu đầy đủ.

72. The principle is clear: internal conditions will eventually find expression—for good or for ill.

72. Nguyên lý rất rõ ràng: các tình trạng nội tại cuối cùng sẽ tìm được sự biểu hiện—dù thiện hay bất thiện.

This is good and desirable; it marks the prelude to a better building of a better world, the construction of more adequate forms of life and of more correct human attitudes, plus a sounder orientation to reality. The best is yet to be.

Điều này là tốt và đáng mong muốn; nó đánh dấu khúc dạo đầu cho việc xây dựng tốt đẹp hơn một thế giới tốt đẹp hơn, cho việc kiến tạo những hình tướng sự sống thích đáng hơn và những thái độ nhân loại đúng đắn hơn, cộng thêm một định hướng lành mạnh hơn đối với thực tại. Điều tốt đẹp nhất vẫn còn ở phía trước.

73. Despite the disastrous expression of these inner conditions, the ultimate result has been good. The destruction has been necessary. Human attitudes have been corrected through the grievous experience. A truer apprehension of reality has emerged.

73. Bất chấp sự biểu hiện tai hại của các tình trạng bên trong này, kết quả tối hậu vẫn là tốt. Sự hủy diệt đã là cần thiết. Các thái độ của con người đã được điều chỉnh qua trải nghiệm đau thương. Một sự lĩnh hội chân thực hơn về thực tại đã xuất hiện.

74. The Tibetan’s optimistic statement rings forth: “The best is yet to be.”

74. Tuyên bố lạc quan của Chân sư Tây Tạng vang lên: “Điều tốt đẹp nhất vẫn còn ở phía trước.”

75. Perhaps it is difficult for us (still very human individuals) to understand the spiritual value of destruction. Our prevailing bias towards the preservation of form runs counter to this understanding. We cling too tightly to that which is evident and fail to sense the emergence of that which is immanent and implicate. When, however, we become more accustomed to loss and apparent privation, the beauty of the intended expression will be more quickly realized and we will more readily sacrifice our attachment to the past and the forms there found.

75. Có lẽ đối với chúng ta (vẫn là những cá nhân rất con người), thật khó thấu hiểu giá trị tinh thần của sự hủy diệt. Khuynh hướng chiếm ưu thế của chúng ta nghiêng về việc bảo tồn hình tướng đi ngược lại sự thấu hiểu này. Chúng ta bám quá chặt vào điều hiển nhiên và không cảm nhận được sự xuất hiện của điều nội tại và hàm ẩn. Tuy nhiên, khi chúng ta quen hơn với mất mát và sự thiếu thốn bề ngoài, vẻ đẹp của biểu hiện đã được dự định sẽ được nhận ra nhanh hơn, và chúng ta sẽ dễ dàng hơn trong việc hi sinh sự quyến luyến của mình đối với quá khứ và các hình tướng được tìm thấy nơi đó.

Paragraph 7

Đoạn 7

Everything is being rapidly brought to the surface—the good and the bad, the desirable and the undesirable, the past and the future (for the two are one);

Mọi sự đang nhanh chóng được đưa lên bề mặt—điều tốt và điều xấu, điều đáng mong muốn và điều không đáng mong muốn, quá khứ và tương lai (vì cả hai là một);

76. The planet Pluto (also active at the time of the first initiation) must be considered as well as Vulcan, for Pluto drags all hidden things to the surface where they may be faced and dealt with in the proper manner. (cf. EA 70)

76. Hành tinh Sao Diêm Vương (cũng hoạt động vào thời điểm lần điểm đạo thứ nhất) phải được xét đến cũng như Vulcan, vì Sao Diêm Vương lôi mọi điều ẩn giấu lên bề mặt, nơi chúng có thể được đối diện và xử lý theo cách đúng đắn. (xem EA 70)

77. The statement is made that the “past and future…are one”. How shall we understand this? Surely the future grows from the past and is, in reality, inseparable from it. Was there ever a future without a past or a past without a future? Both are reflections and approximations of one and same archetypes or divine patterns.

77. Tuyên bố được đưa ra rằng “quá khứ và tương lai… là một”. Chúng ta phải thấu hiểu điều này như thế nào? Chắc chắn tương lai lớn lên từ quá khứ và, trong thực tại, không thể tách rời khỏi nó. Đã từng có một tương lai không có quá khứ, hay một quá khứ không có tương lai chăng? Cả hai đều là những phản chiếu và những xấp xỉ của cùng một nguyên mẫu hay mô hình thiêng liêng.

78. From another perspective, every past is a future from a certain point of vantage, and every future becomes a past.

78. Từ một viễn cảnh khác, mọi quá khứ đều là một tương lai từ một điểm nhìn nào đó, và mọi tương lai đều trở thành một quá khứ.

79. Is their content identical? It would be difficult to affirm this. What may be said is that every past, present and future is only so from a given angle of vision. If the angle of vision is utterly encompassing, it is seen that each of them can only occur in a divine present. The ultimate essence of every moment is identical even if the configuration of the ‘form of that moment’ alters.

79. Nội dung của chúng có đồng nhất không? Sẽ khó khẳng định điều này. Điều có thể nói là mọi quá khứ, hiện tại và tương lai chỉ là như vậy từ một góc nhìn nhất định. Nếu góc nhìn hoàn toàn bao quát, người ta thấy rằng mỗi điều trong chúng chỉ có thể xảy ra trong một hiện tại thiêng liêng. Bản chất tối hậu của mọi khoảnh khắc là đồng nhất, cho dù cấu hình của “hình tướng của khoảnh khắc ấy” có thay đổi.

80. The angle of vision here indicated is that of the “All Seeing Eye”.

80. Góc nhìn được chỉ ra ở đây là góc nhìn của “Con Mắt Toàn Kiến”.

the plough of God has nearly accomplished its work;

lưỡi cày của Thượng đế gần như đã hoàn thành công việc của nó;

81. Vulcan originates the new and Vulcan is the planet of the plough and of the metal from which the plough is fashioned.

81. Vulcan khởi sinh cái mới, và Vulcan là hành tinh của lưỡi cày cũng như của kim loại mà từ đó lưỡi cày được rèn nên.

the sword of the spirit has severed an evil past from the radiant future, and both are seen as contributory in the Eye of God;

thanh gươm của tinh thần đã cắt lìa một quá khứ tà ác khỏi tương lai rạng ngời, và cả hai đều được thấy là có đóng góp trong Mắt của Thượng Đế;

82. This is the true meaning of “I come to bring not peace but the sword.” The sword is partially the “sword of discrimination”, and partially the sword which separates the future from the conditioning of the past. The evil patterns of the past can only be perpetuated for so long.

82. Đây là ý nghĩa đích thực của câu “Ta đến không phải để đem bình an, mà là thanh gươm.” Thanh gươm một phần là “thanh gươm của sự phân biện”, và một phần là thanh gươm tách tương lai khỏi sự tác động của quá khứ. Các mô hình tà ác của quá khứ chỉ có thể được kéo dài trong một thời gian nhất định.

83. Interestingly, both the radiant future and evil past are contributory to the goal—i.e., to the expression of the Divine Plan.

83. Điều thú vị là cả tương lai rạng ngời lẫn quá khứ tà ác đều góp phần vào mục tiêu—nghĩa là vào sự biểu hiện của Thiên Cơ.

84. It is the “Eye of God” which envisions the Divine Purpose and its enactment (over time) of the Divine Plan. It is the “Eye of God” which sees the future and the past as one. This is the “Eye” which is capable of seeing the “Eternal Now”.

84. Chính “Mắt của Thượng Đế” hình dung Thiên Ý và sự thực thi của nó (qua thời gian) dưới dạng Thiên Cơ. Chính “Mắt của Thượng Đế” thấy tương lai và quá khứ là một. Đây là “Con Mắt” có khả năng thấy “Hiện Tại Vĩnh Cửu”.

our material civilisation will be seen as giving place rapidly to a more spiritual culture;

nền văn minh vật chất của chúng ta sẽ được thấy là nhanh chóng nhường chỗ cho một nền văn hóa tinh thần hơn;

85. “Culture” and “civilization” are contrasted, with culture suggested as the more refined state closer to the soul.

85. “Văn hóa” và “văn minh” được đặt trong sự tương phản, trong đó văn hóa được gợi ý là trạng thái tinh luyện hơn, gần với linh hồn hơn.

86. A civilization is what it is; it is the prevailing condition in which all contributing forces are to be found. Culture requires a special cultivation and is the leaven of civilization.

86. Một nền văn minh là chính nó; đó là tình trạng đang chiếm ưu thế, trong đó có thể tìm thấy mọi mãnh lực đóng góp. Văn hóa đòi hỏi một sự vun trồng đặc biệt và là chất men của văn minh.

our church organisations, with their limiting and confusing theologies, will soon give place to the Hierarchy, with its emerging teaching—clear, factual, intuitive and non-dogmatic.

các tổ chức giáo hội của chúng ta, với những nền thần học giới hạn và gây rối trí, sẽ sớm nhường chỗ cho Thánh Đoàn, với giáo huấn đang xuất hiện của Thánh Đoàn—rõ ràng, thực chứng, trực giác và phi giáo điều.

87. Theology is contrasted with the teaching of Hierarchy. Theology is largely fashioned by the un-illumined concrete mind (often, as fed by the abstract mind), and hence the confusion. The teaching of Hierarchy is intuitively based, and the true intuition is infallible.

87. Thần học được đặt trong tương phản với giáo huấn của Thánh Đoàn. Thần học phần lớn được tạo hình bởi trí cụ thể chưa được soi sáng (thường được nuôi dưỡng bởi trí trừu tượng), và vì thế có sự rối trí. Giáo huấn của Thánh Đoàn dựa trên trực giác, và trực giác chân thật thì không sai lầm.

88. Thus, the teaching of Hierarchy is “clear, factual, intuitive and non-dogmatic”. One can easily see the influence of the fifth ray in the descriptors chosen. Indeed, Hierarchy is an expression of the fifth kingdom—the Kingdom of Souls.

88. Do đó, giáo huấn của Thánh Đoàn là “rõ ràng, thực chứng, trực giác và phi giáo điều”. Người ta dễ dàng thấy ảnh hưởng của cung năm trong các mô tả được chọn. Thật vậy, Thánh Đoàn là một biểu hiện của giới thứ năm—Giới Linh Hồn.

89. In the teaching of Hierarchy, the intuitive fourth ray can also be found as well as the experimentalism of Uranus, contrasted with the limitations of lower Saturn.

89. Trong giáo huấn của Thánh Đoàn, cũng có thể tìm thấy cung bốn trực giác cũng như tinh thần thực nghiệm của Sao Thiên Vương, tương phản với các giới hạn của Thổ Tinh thấp.

90. Under the guidance of Hierarchy, people will begin to see for themselves. They will no longer have to believe blindly, using convoluted, semi-darkened reasoning to support their beliefs. That which they do not yet ‘see’, they will be encouraged to prove, and the mode of arriving at this proof will be given to them.

90. Dưới sự hướng dẫn của Thánh Đoàn, con người sẽ bắt đầu tự mình thấy. Họ sẽ không còn phải tin một cách mù quáng, sử dụng lý luận rối rắm, nửa tối tăm để nâng đỡ niềm tin của mình. Điều họ chưa “thấy”, họ sẽ được khuyến khích chứng minh, và phương thức đi đến sự chứng minh ấy sẽ được trao cho họ.

91. We cannot escape the conclusion that theology is a semi-darkened expression of divinity (at best).

91. Chúng ta không thể tránh khỏi kết luận rằng thần học là một biểu hiện nửa tối tăm của thiên tính (nhiều nhất là vậy).

Paragraph 8

Đoạn 8

The Hierarchy has been invoked and its Members are [Page 136] ready for a great “act of evocation,” of response to the invoking sound of humanity and of a definite (though relatively temporary) “act of orientation.”

Thánh Đoàn đã được khẩn cầu, và các Thành viên của Thánh Đoàn [Trang 136] sẵn sàng cho một “hành động gợi lên” vĩ đại, một sự đáp ứng đối với âm thanh khẩn cầu của nhân loại, và một “hành động định hướng” xác định (dù tương đối tạm thời).

92. It is instructive to think of the “Externalization of the Hierarchy: as a great “act of evocation”—essentially, as a response to humanity’s call.

92. Thật hữu ích khi nghĩ về “Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn” như một “hành động gợi lên” vĩ đại—về bản chất, như một sự đáp ứng đối với tiếng gọi của nhân loại.

93. Hierarchy is preparing for a closer relationship to humanity; it is turning towards humanity in a new way. This turning is an “act of orientation”.

93. Thánh Đoàn đang chuẩn bị cho một mối quan hệ gần gũi hơn với nhân loại; Thánh Đoàn đang quay về phía nhân loại theo một cách mới. Sự quay hướng này là một “hành động định hướng”.

This will force the Hierarchy, of its own freewill, to turn towards a new and more intimate type of relation with humanity. That period of orientation will end when a powerful, earthly Hierarchy will factually, externally and in reality hold sway on earth, working in all the kingdoms of nature and thus bringing about (in truth) the expression of the divine Plan.

Điều này sẽ buộc Thánh Đoàn, bằng ý chí tự do của chính mình, quay về một kiểu quan hệ mới và mật thiết hơn với nhân loại. Giai đoạn định hướng ấy sẽ chấm dứt khi một Thánh Đoàn hùng mạnh trên địa cầu thật sự, ngoại hiện và trong thực tại nắm quyền cai quản trên Trái Đất, hoạt động trong mọi giới của thiên nhiên và nhờ đó đem lại (trong chân lý) sự biểu hiện của Thiên Cơ.

94. We note that Hierarchy is not compelled to reorient itself to humanity; the act is undertaken of its own freewill. Thus the Good Law promoting the freedom of the will is respected.

94. Chúng ta lưu ý rằng Thánh Đoàn không bị cưỡng bách tái định hướng chính mình đối với nhân loại; hành động này được thực hiện bằng ý chí tự do của Thánh Đoàn. Như vậy, Định luật Thiện lành thúc đẩy tự do của ý chí được tôn trọng.

95. However, it is interesting to see that the word “force” is used. Hierarchy is forced and yet acts of its own freewill. The contrast deserves pondering.

95. Tuy nhiên, thật thú vị khi thấy rằng từ “buộc” được dùng. Thánh Đoàn bị buộc nhưng vẫn hành động bằng ý chí tự do của chính mình. Sự tương phản này đáng để suy ngẫm.

96. Although Hierarchy’s “act of orientation” is called “relatively temporary”, we can judge that it will last throughout the Aquarian Age and almost certainly longer, for it will surely take that long for Hierarchy to manifest powerfully and “hold sway on earth”. Perhaps, in fact, this relatively temporary act of orientation will be measured in relation to the duration of rootraces rather than in relation to the duration of precessional ages.

96. Dù “hành động định hướng” của Thánh Đoàn được gọi là “tương đối tạm thời”, chúng ta có thể phán đoán rằng nó sẽ kéo dài suốt Kỷ Nguyên Bảo Bình và gần như chắc chắn còn lâu hơn nữa, vì chắc chắn phải mất chừng ấy thời gian để Thánh Đoàn biểu hiện một cách mạnh mẽ và “nắm quyền cai quản trên Trái Đất”. Có lẽ, trên thực tế, hành động định hướng tương đối tạm thời này sẽ được đo lường theo thời lượng của các giống dân gốc hơn là theo thời lượng của các kỷ nguyên tuế sai.

97. We note that for the Divine Plan to be expressed “in truth”, all kingdoms of nature will necessarily be involved.

97. Chúng ta lưu ý rằng để Thiên Cơ được biểu hiện “trong chân lý”, mọi giới của thiên nhiên tất yếu sẽ được bao gồm.

98. We are speaking here of nothing less than the regeneration of humanity and all kingdoms of nature—nothing to be achieved in a short period time.

98. Ở đây chúng ta đang nói đến không gì kém hơn sự tái sinh của nhân loại và mọi giới của thiên nhiên—không phải điều có thể đạt được trong một thời gian ngắn.

99. In short, we may expect that the externalized Hierarchy will not again withdraw as it was forced to do in Atlantean times.

99. Tóm lại, chúng ta có thể mong đợi rằng Thánh Đoàn đã ngoại hiện sẽ không lại rút lui như Thánh Đoàn đã bị buộc phải làm trong thời Atlantis.

This plan is implemented through the medium of the senior Members of the Hierarchy, Who invoke the “Lights which carry out the Will of God”;

Thiên Cơ này được thực hiện qua trung gian của các Thành viên cao cấp của Thánh Đoàn, Các Ngài khẩn cầu “Những Ánh Sáng thi hành Ý Chí của Thượng Đế”;

100. The Members of Shamballa are called the “Lights which carry out the Will of God”. The Chohans are learning to become such “Lights”, but there are “Lights’ which are far more advanced than They.

100. Các Thành viên của Shamballa được gọi là “Những Ánh Sáng thi hành Ý Chí của Thượng Đế”. Các Chohan đang học để trở thành những “Ánh Sáng” như vậy, nhưng có những “Ánh Sáng” tiến hóa xa hơn Các Ngài rất nhiều.

101. The “senior Members of the Hierarchy” here referenced are the Chohans

101. “Các Thành viên cao cấp của Thánh Đoàn” được nói đến ở đây là các Chohan.

They are Themselves invoked by the Light-Bearers, the Masters;

Chính Các Ngài lại được khẩn cầu bởi Những Đấng Mang Ánh Sáng, tức các Chân sư;

102. This is an unusual term for the “Masters”—the “Light Bearers”. The “Light-Bearers” invoke the Chohans and the Chohans invoke the “Lights”.

102. Đây là một thuật ngữ khác thường dành cho các “Chân sư”—“Những Đấng Mang Ánh Sáng”. “Những Đấng Mang Ánh Sáng” khẩn cầu các Chohan, và các Chohan khẩn cầu các “Ánh Sáng”.

They again, in Their turn, are invoked by the aspirants and disciples of the world. Thus is the chain of Hierarchy only a life line, along which travel the love and life of God, from Him to us and from us to Him.

Đến lượt mình, Các Ngài lại được khẩn cầu bởi những người chí nguyện và đệ tử của thế giới. Như vậy, chuỗi Thánh Đoàn chỉ là một tuyến sự sống, dọc theo đó tình thương và sự sống của Thượng đế lưu chuyển, từ Ngài đến chúng ta và từ chúng ta đến Ngài.

103. We realize that invocation is a universal mode of approach, practiced not only by human beings in relation to the Masters of the Wisdom, but by the Masters in relation to the Chohans, and by the Chohans in relation to still more advanced participants in the planetary process (for instance, the members of the Council in Shamballa). This process of invocation continues as far as the eye can see, and is unconsciously/instinctively enacted in the lower kingdoms.

103. Chúng ta nhận ra rằng khẩn cầu là một phương thức tiếp cận phổ quát, được thực hành không chỉ bởi con người trong quan hệ với các Chân sư Minh Triết, mà còn bởi các Chân sư trong quan hệ với các Chohan, và bởi các Chohan trong quan hệ với những thành viên còn tiến xa hơn trong tiến trình hành tinh (chẳng hạn, các thành viên của Hội Đồng ở Shamballa). Tiến trình khẩn cầu này tiếp diễn xa đến mức tầm mắt có thể thấy, và được thực hiện một cách vô thức/bản năng trong các giới thấp.

This dual thought of the relationship between humanity and the Hierarchy, and between the Hierarchy and the highest Centre, Shamballa, is completely covered in Rule VII in its two forms—for applicants, and for disciples and initiates.

Tư tưởng kép này về mối quan hệ giữa nhân loại và Thánh Đoàn, cũng như giữa Thánh Đoàn và Trung Tâm cao nhất, Shamballa, được bao hàm trọn vẹn trong Quy luật VII dưới hai hình thức của nó—dành cho người dự tuyển, và dành cho đệ tử cùng điểm đạo đồ.

104. The essence of Rule(s) VII is here given. These two Rules clarify the lines of invocation which bind together a wide range of workers—from the lowliest aspirant to the Planetary Logos, Himself and beyond.

104. Ở đây, tinh túy của Quy luật VII được đưa ra. Hai Quy luật này làm sáng tỏ các tuyến khẩn cầu nối kết một phạm vi rộng lớn những người hoạt động—từ người chí nguyện khiêm tốn nhất đến chính Đức Hành Tinh Thượng Đế và xa hơn nữa.

105. By studying this Rule we may come to better understand a most important planetary triangle—Humanity, Hierarchy and Shamballa. It should not be forgotten that this is the seventh Rule and, thus, ruled by Libra, the symbol of which is the triangle.

105. Bằng cách nghiên cứu Quy luật này, chúng ta có thể hiểu rõ hơn một tam giác hành tinh vô cùng quan trọng—Nhân Loại, Thánh Đoàn và Shamballa. Không nên quên rằng đây là Quy luật thứ bảy và, do đó, được Thiên Bình cai quản, biểu tượng của dấu hiệu này là tam giác.

106. Interestingly, the seven sign, Libra, has much to do with Shamballa—the Center of Perfect Peace (planetarily considered).

106. Điều thú vị là dấu hiệu thứ bảy, Thiên Bình, có liên hệ nhiều với Shamballa—Trung Tâm của Bình An Hoàn Hảo (xét theo phương diện hành tinh).

[Page Underlining, Bolding and Highlighting—MDR]

[Gạch dưới, In đậm và Tô sáng trên trang—MDR]

Paragraph 1

Đoạn 1

Rule VII.

Quy luật VII.

For Applicants: Let the disciple turn his attention to the enunciating of those sounds which echo in the hall where walks the Master. Let him not sound the lesser notes which awaken vibration within the halls of Maya.

Dành cho Người Dự Tuyển: Hãy để đệ tử chuyển sự chú tâm của y sang việc phát âm những âm thanh vang vọng trong phòng nơi Chân sư bước đi. Đừng để y xướng những âm điệu nhỏ hơn, vốn đánh thức rung động trong các phòng của ảo lực.

1. A fairly complete examination of the Rule VII for Applicants was submitted to the group two months ago at the beginning of the study of Rule(s) VII.

1. Một khảo sát khá đầy đủ về Quy luật VII dành cho Người Dự Tuyển đã được trình lên nhóm hai tháng trước, vào lúc bắt đầu việc nghiên cứu Quy luật VII.

2. No doubt, since the time we studied this Rule, we have spoken thousands upon thousands of words. Have they echoed in the halls where walks the Master?

2. Không nghi ngờ gì, kể từ thời điểm chúng ta nghiên cứu Quy luật này, chúng ta đã nói hàng ngàn hàng vạn lời. Chúng có vang vọng trong các phòng nơi Chân sư bước đi không?

3. The process of gaining control of thought and speech is a long one. We cannot help but create. Ours is the task to make sure that what we create is in line with the Creator’s Intent.

3. Tiến trình giành quyền kiểm soát tư tưởng và lời nói là một tiến trình lâu dài. Chúng ta không thể không sáng tạo. Nhiệm vụ của chúng ta là bảo đảm rằng điều chúng ta sáng tạo phù hợp với Ý Định của Đấng Sáng Tạo.

For Disciples and Initiates: Let the group life emit the Word of invocation and thus evoke response within those distant Ashrams where move the Chohans of the race of men.

Dành cho Đệ Tử và Điểm Đạo Đồ: Hãy để đời sống nhóm phát ra Linh từ khẩn cầu và nhờ đó gợi lên sự đáp ứng trong những Ashram xa xôi nơi các Chohan của nhân loại vận hành.

4. It is the group “life” which emits the “Word of invocation. If response is to be awakened in the Ashrams of the Chohans, life must call to Life.

4. Chính “sự sống” của nhóm phát ra “Linh từ khẩn cầu”. Nếu muốn đánh thức sự đáp ứng trong các Ashram của các Chohan, sự sống phải gọi đến Sự Sống.

5. For a group at this stage of development, monadic influence is already beginning to pervade the soul-infused personality. We remember that the majority of these rules are for groups which have achieved the third degree—at least, the majority of their members will have achieved that degree.

5. Đối với một nhóm ở giai đoạn phát triển này, ảnh hưởng chân thần đã bắt đầu thấm nhuần phàm ngã được linh hồn thấm nhuần. Chúng ta nhớ rằng đa số các quy luật này dành cho những nhóm đã đạt cấp độ thứ ba—ít nhất, đa số các thành viên của họ sẽ đã đạt cấp độ ấy.

6. We note that the group does not consciously prepare or formulate a particular “Word of invocation”, but that the life and livingness of the group are a vibratory state which goes forth as a “Word”. The group must have reached a certain high vibrational condition (responsive to the monad—i.e., to the life aspect) before this emission will go forth.

6. Chúng ta lưu ý rằng nhóm không chuẩn bị hay hình thành một “Linh từ khẩn cầu” đặc biệt một cách có ý thức, mà đời sống và sức sống của nhóm một trạng thái rung động phát ra như một “Linh từ”. Nhóm phải đạt đến một tình trạng rung động cao nhất định (đáp ứng với chân thần—nghĩa là với phương diện sự sống) trước khi sự phát xuất này diễn ra.

7. The “Word of invocation” resounds through the entire group and each member (as a soul) is in harmony with it.

7. “Linh từ khẩn cầu” vang vọng qua toàn bộ nhóm, và mỗi thành viên (như một linh hồn) đều hòa hợp với nó.

8. As we have studied the first seven of these Rule, we have found the group invoking

8. Khi chúng ta đã nghiên cứu bảy Quy luật đầu tiên này, chúng ta đã thấy nhóm khẩn cầu

a. the Ashram of a particular Master,

a. Ashram của một Chân sư cụ thể,

b. Shamballa (Rule II)

b. Shamballa (Quy luật II)

c. And now, the Ashrams of the Chohans (sixth degree initiates, minimally).

c. Và giờ đây, các Ashram của các Chohan (tối thiểu là các điểm đạo đồ cấp sáu).

9. The mode of invocation suitable to evoke response from the Master who has the group under supervision will not be adequate to evoke response from the Chohan and His Ashram.

9. Phương thức khẩn cầu thích hợp để gợi lên sự đáp ứng từ Chân sư đang giám sát nhóm sẽ không đủ để gợi lên sự đáp ứng từ Chohan và Ashram của Ngài.

10. The Ashrams of the Chohans are vibrationally more “distant” than the Ashram of a Master; a powerful point of tension is required of the individual or the group which would contact such Ashrams; even more is required of individuals and groups that would “evoke response” from such Ashrams. Contact is preliminary to an evoked response.

10. Các Ashram của các Chohan “xa” hơn về mặt rung động so với Ashram của một Chân sư; cá nhân hay nhóm muốn tiếp xúc với các Ashram ấy cần có một điểm tập trung nhất tâm mạnh mẽ; những cá nhân và nhóm muốn “gợi lên sự đáp ứng” từ các Ashram ấy còn cần nhiều hơn nữa. Tiếp xúc là bước sơ khởi trước một sự đáp ứng được gợi lên.

11. A “Chohan” may be regarded as a “high priest”.

11. Một “Chohan” có thể được xem như một “đại tư tế”.

12. The word “move” is interesting. One conceives of these beings as spheres of light moving in response to the Will of God. The Chohans are the least of those “Lights which carry out the Will of God”.

12. Từ “vận hành” thật thú vị. Người ta hình dung các hữu thể này như những khối cầu ánh sáng chuyển động để đáp ứng với Ý Chí của Thượng Đế. Các Chohan là những vị thấp nhất trong số “Những Ánh Sáng thi hành Ý Chí của Thượng Đế”.

They are no longer men as are the Masters, but, having passed beyond that lesser stage, have linked themselves with the Great Council in the highest Secret Place.

Các Ngài không còn là con người như các Chân sư nữa, mà, sau khi vượt qua giai đoạn thấp hơn ấy, đã liên kết chính mình với Đại Hội Đồng trong Nơi Bí Mật cao nhất.

13. A Master is conditioned by the number five—the number of the solar system preceding our own and, also, the number of humanity. “…five is the number of the mind and of man.” (EP I 346)

13. Một Chân sư chịu tác động bởi con số năm—con số của hệ mặt trời trước hệ mặt trời của chúng ta, và cũng là con số của nhân loại. “…năm là con số của thể trí và của con người.” (EP I 346)

14. The Master is the fulfilled five-pointed star. He has placed the Brahmic solar system under foot (i.e., He has surmounted it.) He is not yet, however, a liberated monad characterized by the number six.

14. Chân sư là ngôi sao năm cánh đã viên mãn. Ngài đã đặt hệ mặt trời Brahma dưới chân (nghĩa là, Ngài đã vượt lên trên nó.) Tuy nhiên, Ngài vẫn chưa là một chân thần được giải thoát, được đặc trưng bởi con số sáu.

15. When we think of the “Great Council” we must realize that it is focussed within the innermost sanctum of Shamballa of which the essential members are Sanat Kumara and the Three Buddhas of Activity. The three Esoteric Kumaras may also be considered members, though the mode of their participation is not given exoterically.

15. Khi nghĩ về “Đại Hội Đồng”, chúng ta phải nhận ra rằng nó được tập trung trong nội điện sâu kín nhất của Shamballa, mà các thành viên cốt yếu là Đức Sanat Kumara và Ba Đức Phật Hoạt Động. Ba Kumara Nội Môn cũng có thể được xem là thành viên, dù phương thức tham dự của các Ngài không được công bố ngoại môn.

16. The Great Council also embraces the entirety of Shamballa, but its innermost deliberations concern the central Shamballic figures alone.

16. Đại Hội Đồng cũng bao hàm toàn thể Shamballa, nhưng những nghị bàn sâu kín nhất của Hội Đồng chỉ liên quan đến các nhân vật trung tâm của Shamballa.

17. The Buddhas of Activity are considered exoteric Kumaras. At various times changes of position occur between the esoteric and exoteric Kumaras.

17. Các Đức Phật Hoạt Động được xem là các Kumara ngoại môn. Vào những thời điểm khác nhau, có sự thay đổi vị trí giữa các Kumara nội môn và ngoại môn.

18. It is obvious that of the deliberations of this “Great Council” we can know practically nothing (at our present stage of evolution) except what is told to us by some great soul spiritually closer to that Council. What would we know of such things had we not been taught by Master DK?

18. Rõ ràng là về những nghị bàn của “Đại Hội Đồng” này, chúng ta hầu như không thể biết gì (ở giai đoạn tiến hoá hiện nay của chúng ta), ngoại trừ những gì được một linh hồn vĩ đại nào đó, gần Hội Đồng ấy hơn về mặt tinh thần, nói cho chúng ta biết. Chúng ta sẽ biết gì về những điều như vậy nếu không được Chân sư DK dạy dỗ?

19. What is suggested to us by the term “Council” is that Shamballa acts according to Purpose and Plan. All is weighed and balanced with exquisite accuracy.

19. Điều thuật ngữ “Hội Đồng” gợi ý cho chúng ta là Shamballa hành động theo Thiên Ý và Thiên Cơ. Tất cả đều được cân nhắc và quân bình với độ chính xác tinh tế.

Let the group sound a dual chord, reverberating in the halls where move the Masters but finding pause and prolongation within those radiant halls where move the “Lights which carry out the Will of God.”

Hãy để nhóm xướng một hợp âm kép, vang dội trong các phòng nơi các Chân sư vận hành, nhưng tìm được sự dừng lại và kéo dài trong những phòng rạng ngời nơi các “Ánh Sáng thi hành Ý Chí của Thượng Đế” vận hành.

20. The “dual chord” may be conceived as a combination of soul and personality energies/rays. Such a sounding might be sufficient for a group intent on reaching the Masters and their Ashrams.

20. “Hợp âm kép” có thể được hình dung như một sự kết hợp của các năng lượng/cung của linh hồn và phàm ngã. Một sự xướng như vậy có thể đủ cho một nhóm có ý định vươn đến các Chân sư và các Ashram của các Ngài.

21. However a dual chord consisting of soul-infused personality and spirit would be required of a group which sought to reach the Ashrams of the Chohans, and higher still—to the “Lights which carry out the Will of God”—the members of Shamballa even closer to the Lord of the World.

21. Tuy nhiên, một hợp âm kép gồm phàm ngã được linh hồn thấm nhuần và tinh thần sẽ được đòi hỏi nơi một nhóm tìm cách vươn đến các Ashram của các Chohan, và còn cao hơn nữa—đến “Những Ánh Sáng thi hành Ý Chí của Thượng Đế”—những thành viên của Shamballa còn gần Đức Chúa Tể Thế Giới hơn.

22. That the dual chord will reverberate tells us that it is in resonance with the fundamental reinforced with the “halls where move the Masters”. Perhaps we have had the experience of singing in a particularly resonant space. We may have noted that, while all notes were resonant to a degree, certain notes were most resonant. Such notes are in resonance with the structure of the space in which the singing occurs. Thus is it with the dual spiritual chord sounded by the group when considered in relation to the ‘space’ or “halls” where move the Masters.

22. Việc hợp âm kép sẽ vang dội cho chúng ta biết rằng nó cộng hưởng với âm nền được tăng cường trong “các phòng nơi các Chân sư vận hành”. Có lẽ chúng ta đã từng trải nghiệm việc hát trong một không gian đặc biệt vang âm. Có thể chúng ta đã nhận thấy rằng, tuy mọi âm điệu đều vang ở một mức độ nào đó, một số âm điệu lại vang nhất. Những âm điệu như vậy cộng hưởng với cấu trúc của không gian nơi tiếng hát diễn ra. Hợp âm tinh thần kép do nhóm xướng lên cũng như vậy khi được xét trong quan hệ với “không gian” hay “các phòng” nơi các Chân sư vận hành.

23. Again, the sounding of the dual chord is not a literal, vocal act. It is the emission of the soul which comes from a group soul-infused personality, or from a spirit-infused soul/personality. The sounding occurs because of what the group is—not what it tries to do.

23. Một lần nữa, việc xướng hợp âm kép không phải là một hành động phát âm bằng giọng nói theo nghĩa đen. Đó là sự phát xuất của linh hồn đến từ một phàm ngã nhóm được linh hồn thấm nhuần, hoặc từ một linh hồn/phàm ngã được tinh thần thấm nhuần. Sự xướng xảy ra do điều nhóm là—chứ không phải do điều nhóm cố làm.

24. The words “pause and prolongation” are interesting. The dual chord passes beyond the Masters’ halls. If it sounded correctly it will find itself achieving a prolonged focus in still more exalted “halls”.

24. Các từ “dừng lại và kéo dài” thật thú vị. Hợp âm kép vượt qua các phòng của Chân sư. Nếu được xướng đúng, nó sẽ thấy mình đạt được một tiêu điểm kéo dài trong những “phòng” còn cao cả hơn.

25. In any case, the sound as it goes forth is (if properly emitted by the “group life”) not deflected from the Ashrams of the Chohans and from ever greater “halls”. It is received, and there is abides (for it finds “pause” and “prolongation”).

25. Trong mọi trường hợp, âm thanh khi phát ra (nếu được “sự sống nhóm” phát xuất đúng đắn) không bị lệch khỏi các Ashram của các Chohan và khỏi những “phòng” ngày càng vĩ đại hơn. Nó được tiếp nhận, và ở đó nó lưu lại (vì nó tìm được “sự dừng lại” và “sự kéo dài”).

26. It is clear that only a group in which the spiritual will has been developed will be able to sound such a chord.

26. Rõ ràng chỉ một nhóm trong đó ý chí tinh thần đã được phát triển mới có thể xướng một hợp âm như vậy.

27. Such a sounding must be full of selflessness and group is in completely conscious alignment with the Divine Plan and Divine Purpose.

27. Một sự xướng như vậy phải đầy tính vị tha, và nhóm phải ở trong sự chỉnh hợp hoàn toàn có ý thức với Thiên Cơ và Thiên Ý.

28. Most chords consist of three notes or more. This chord in this Rule, however, is called “dual”. It consists, therefore of two major notes—but there may be a number of minor notes, for, as we realize, the note of the personality contains at least three subtones and the same may be said for the note of the soul. The note of the spirit is also threefold. Each such note, therefore, is really a chord.

28. Hầu hết các hợp âm gồm ba nốt hoặc nhiều hơn. Tuy nhiên, hợp âm trong Quy luật này được gọi là “kép”. Do đó, nó gồm hai nốt chính—nhưng có thể có một số nốt phụ, vì, như chúng ta nhận ra, âm điệu của phàm ngã chứa ít nhất ba âm phụ, và điều tương tự cũng có thể nói về âm điệu của linh hồn. Âm điệu của tinh thần cũng tam phân. Vì vậy, mỗi âm điệu như vậy thực ra là một hợp âm.

29. Why are the great Beings who carry out the Will of God called “Lights”? Perhaps because Shamballa is a place of “unfettered enlightenment”. It is the third aspect of divinity (related to light) that is emphasized. Perhaps once the second ray soul of our planet is more emergent, the love nature of these great Beings will be emphasized.

29. Tại sao các Đấng Vĩ Đại thi hành Ý Chí của Thượng Đế được gọi là “Những Ánh Sáng”? Có lẽ vì Shamballa là một nơi của “sự giác ngộ không bị trói buộc”. Chính phương diện thứ ba của thiên tính (liên hệ với ánh sáng) được nhấn mạnh. Có lẽ khi linh hồn cung hai của hành tinh chúng ta xuất hiện rõ hơn, bản chất bác ái của các Đấng Vĩ Đại này sẽ được nhấn mạnh.

Paragraph 2

Đoạn 2

[Page 137]

[Trang 137]

Of real importance, though relatively small, are two contrasts. These emerge with clarity if you compare the instructions given to applicants for discipleship and those given to initiates. The applicant (or young disciple) is addressed as an individual and is told to give forth “those sounds” which will be heard by the Master in His Ashram—for that is the true significance of the words.

Có tầm quan trọng thật sự, dù tương đối nhỏ, là hai sự tương phản. Những điều này xuất hiện rõ ràng nếu bạn so sánh các huấn thị dành cho những người dự tuyển địa vị đệ tử và những huấn thị dành cho các điểm đạo đồ. Người dự tuyển (hay đệ tử trẻ) được nói với tư cách một cá nhân và được bảo phải phát ra “những âm thanh ấy”, vốn sẽ được Chân sư trong Ashram của Ngài nghe thấy—vì đó là thâm nghĩa chân thật của các lời này.

30. We are told that the “applicant” is a “young disciple”. This would make sense if the Fourteen Rules for Applicants were Rules for those taking the first planetary initiation (the Birth of the Christ within the heart) and perhaps the second. It would not make sense if the first Fourteen Rules applied to those who were candidates for the third initiation. A close examination of the first Fourteen Rules shows they cannot be entirely fulfilled until the third degree is accomplished.

30. Chúng ta được cho biết rằng “người xin nhập môn” là một “đệ tử trẻ”. Điều này sẽ hợp lý nếu Mười Bốn Quy Luật dành cho Người Xin Nhập Môn là những Quy Luật dành cho những ai đang nhận lần điểm đạo hành tinh thứ nhất, tức Sự Giáng Sinh của Đức Christ trong tâm, và có lẽ cả lần thứ hai. Điều đó sẽ không hợp lý nếu Mười Bốn Quy Luật đầu tiên áp dụng cho những người là ứng viên cho lần điểm đạo thứ ba. Một sự khảo sát kỹ lưỡng Mười Bốn Quy Luật đầu tiên cho thấy chúng không thể được hoàn thành trọn vẹn cho đến khi cấp độ thứ ba được thành tựu.

31. The two sets of Rules address the applicant differently. In the first set, the applicant is addressed as and individual. In the more advanced Rules, it is the group that is addressed, and the group is the applicant.

31. Hai bộ Quy Luật nói với người xin nhập môn theo những cách khác nhau. Trong bộ thứ nhất, người xin nhập môn được nói đến như một cá nhân. Trong các Quy Luật cao hơn, chính nhóm được nói đến, và nhóm người xin nhập môn.

32. There are certain “sounds” (deeper than human words) which are “heard by the master in His Ashram”. He does not hear lesser notes; they are deflected. They have no place within the sonic structure of the Ashram. They would be cacophonous to the ashramic sound. Let us ponder on the sonic structure of the Ashram and seek to emit those thought-sounds and voiced-sounds in harmony with it.

32. Có những “âm thanh” nhất định, sâu hơn lời nói của con người, được “Chân sư nghe thấy trong ashram của Ngài”. Ngài không nghe những âm điệu thấp hơn; chúng bị lệch hướng. Chúng không có chỗ trong cấu trúc âm thanh của ashram. Chúng sẽ nghịch tai đối với âm thanh ashram. Chúng ta hãy suy ngẫm về cấu trúc âm thanh của ashram và tìm cách phát ra những âm-thanh-tư-tưởng và những âm-thanh-được-xướng-lên hòa hợp với cấu trúc ấy.

33. When we think of the sound which we “give forth”, it is the quality pervading our words that counts far more than the words themselves.

33. Khi chúng ta nghĩ về âm thanh mà mình “phát ra”, điều quan trọng hơn rất nhiều so với chính lời nói là phẩm tính thấm nhuần lời nói của chúng ta.

34. That quality is the soul of our words. We should reflect upon how we ensoul our words. More simply, is soul energy resounding throughout words?

34. Phẩm tính ấy là linh hồn của lời nói chúng ta. Chúng ta nên suy ngẫm xem mình phú linh lời nói như thế nào. Nói đơn giản hơn, liệu năng lượng linh hồn có đang vang dội xuyên suốt lời nói không?

The initiate functions in a group (always in a group) and has developed or is rapidly developing group consciousness;

Điểm đạo đồ hoạt động trong một nhóm, luôn luôn trong một nhóm, và đã phát triển hoặc đang nhanh chóng phát triển tâm thức nhóm;

35. This is a powerful and definitive statement. The initiate is always more than an individual. His group relation is paramount. His identity is no longer strictly individual.

35. Đây là một phát biểu mạnh mẽ và dứt khoát. Điểm đạo đồ luôn luôn là nhiều hơn một cá nhân. Mối liên hệ nhóm của y là tối thượng. Bản sắc của y không còn hoàn toàn mang tính cá nhân nữa.

36. When we think of our identity and experience our identity, do we experience ourselves as individuals, or in groups terms, or in terms of the Whole.

36. Khi chúng ta nghĩ về bản sắc của mình và kinh nghiệm bản sắc ấy, chúng ta kinh nghiệm chính mình như những cá nhân, hay theo nghĩa nhóm, hay theo nghĩa của Toàn Thể.

in unison with his group and as an integral conscious part of it, the Word must be enunciated; this is not a medley of sounds, but is one clear Word of invocation.

trong sự đồng thanh với nhóm của mình và như một phần hữu thức toàn vẹn của nhóm ấy, Linh từ phải được xướng lên; đây không phải là một mớ pha tạp âm thanh, mà là một Linh từ khẩn cầu rõ ràng duy nhất.

37. The Tibetan is speaking of the simplicity of the “Word”—not a medley of sounds but “one clear Word of Invocation”. The group must surely be well-attuned to Divine Plan and Purpose to emit such a Word.

37. Chân sư Tây Tạng đang nói về tính đơn giản của “Linh từ”, không phải một mớ pha tạp âm thanh mà là “một Linh từ Khẩn Cầu rõ ràng duy nhất”. Chắc chắn nhóm phải được chỉnh âm tốt với Thiên Cơ và Thiên Ý để phát ra một Linh từ như thế.

38. When the usual differences of opinion and personality exchanges and conflicts characterize a group process, the emission of such a “Word” is a clear impossibility. The group must be experienced and well-cultured before such “Word” emerges from their process.

38. Khi những khác biệt ý kiến thông thường, các trao đổi của phàm ngã và xung đột đặc trưng cho tiến trình nhóm, thì việc phát ra một “Linh từ” như thế rõ ràng là điều bất khả. Nhóm phải có kinh nghiệm và được rèn luyện tốt trước khi “Linh từ” như thế xuất hiện từ tiến trình của họ.

You need to remember that the disciple is occupied in resolving the many sounds into the Word; when he has done this, his individual approach to reality terminates, and he begins to act with his group where all activity is concerned.

Bạn cần nhớ rằng đệ tử bận tâm đến việc phân giải nhiều âm thanh thành Linh từ; khi y đã làm được điều này, cách tiếp cận thực tại mang tính cá nhân của y chấm dứt, và y bắt đầu hành động cùng với nhóm của mình trong mọi hoạt động.

39. The disciple is searching for the “Word” that pervades all his sounds and words. When he is soul-infused this resolution of the “many sounds into the Word” has occurred.

39. Đệ tử đang tìm kiếm “Linh từ” thấm nhuần mọi âm thanh và lời nói của y. Khi y là phàm ngã được linh hồn thấm nhuần, sự phân giải “nhiều âm thanh thành Linh từ” này đã xảy ra.

40. An initiate no longer has an “individual approach to reality”. His striving is at one with the striving of his group.

40. Một điểm đạo đồ không còn có “cách tiếp cận thực tại mang tính cá nhân”. Nỗ lực của y hợp nhất với nỗ lực của nhóm y.

41. Let us examine our approach; it is a group approach?

41. Chúng ta hãy khảo sát cách tiếp cận của mình; đó có phải là một cách tiếp cận nhóm không?

42. As we strive forward, is it with our group, or, better, as our group?

42. Khi chúng ta nỗ lực tiến tới, đó là tiến tới cùng với nhóm của mình, hay đúng hơn, như chính nhóm của mình?

43. The point of resolution, in the sense here meant, is probably the third initiation, at which point the disciple-as-initiate, may be considered almost fully soul-infused.

43. Điểm phân giải, theo nghĩa được nói ở đây, có lẽ là lần điểm đạo thứ ba, tại điểm ấy đệ tử-như-điểm đạo đồ có thể được xem là gần như hoàn toàn được linh hồn thấm nhuần.

This is a point of major importance for the newer type of disciple to grasp. In the past, the emphasis has been on what the individual initiate had to do in order to fit himself to take initiation, and so become a Master of the Wisdom and a member of the planetary Hierarchy.

Đây là một điểm có tầm quan trọng lớn lao để kiểu đệ tử mới hơn nắm bắt. Trong quá khứ, trọng tâm đã đặt vào điều mà điểm đạo đồ cá nhân phải làm để khiến chính mình thích hợp nhận điểm đạo, và nhờ vậy trở thành một Chân sư Minh Triết và một thành viên của Thánh Đoàn hành tinh.

44. There is nothing wrong with the type of approach here described, but the times are rapidly changing on our planet due to the initiatory crisis of our Planetary Logos. This planetary initiation will have a profound effect upon the human kingdom; already this is happening.

44. Không có gì sai trong kiểu tiếp cận được mô tả ở đây, nhưng thời đại đang thay đổi nhanh chóng trên hành tinh chúng ta do cuộc khủng hoảng điểm đạo của Đức Hành Tinh Thượng đế. Cuộc điểm đạo hành tinh này sẽ có ảnh hưởng sâu xa trên giới nhân loại; điều này đã đang xảy ra.

45. We are dealing with a transition from individual striving to group striving. Do we know the difference?

45. Chúng ta đang đề cập đến một chuyển tiếp từ nỗ lực cá nhân sang nỗ lực nhóm. Chúng ta có biết sự khác biệt không?

46. A few thoughts. In group striving:

46. Một vài tư tưởng. Trong nỗ lực nhóm:

a. the initiate is identified with and as his group. He knows the technique of transferring his identity to the group.

a. điểm đạo đồ đồng hóa với và như nhóm của mình. Y biết kỹ thuật chuyển dịch bản sắc của mình sang nhóm.

b. the initiate thinks of the group as an organism equipped with certain qualities and limited by certain liabilities.

b. điểm đạo đồ nghĩ về nhóm như một cơ thể sống được trang bị những phẩm tính nhất định và bị giới hạn bởi những khiếm khuyết nhất định.

c. the initiate thinks of the manner in which the group may attain, and of the sacrifices he may make so that it may do so.

c. điểm đạo đồ nghĩ về cách thức nhóm có thể đạt tới, và về những hy sinh y có thể thực hiện để nhóm có thể làm được như vậy.

d. the initiate does not feel as if he personally moves forward unless his group also moves forward.

d. điểm đạo đồ không cảm thấy như thể y cá nhân tiến lên, trừ khi nhóm của y cũng tiến lên.

47. Then we ask, “Are we representatives of group striving?”

47. Rồi chúng ta hỏi: “Chúng ta có phải là những đại diện của nỗ lực nhóm không?”

In the coming new cycle the emphasis will be upon group work and activity, upon group initiation and group approach to the Center of Life.

Trong chu kỳ mới sắp đến, trọng tâm sẽ đặt vào công việc nhóm và hoạt động nhóm, vào điểm đạo nhóm và cách tiếp cận nhóm đến Trung Tâm của Sự Sống.

48. It is clear: the new approach to reality for modern disciples will be through the group. The time-space schedule of the Planetary Logos must be respected and upheld. This can only happen through the replacement of individual initiation by group initiation, at least as regards the initial initiations.

48. Điều này rõ ràng: cách tiếp cận mới đến thực tại đối với các đệ tử hiện đại sẽ là thông qua nhóm. Lịch trình thời-không của Đức Hành Tinh Thượng đế phải được tôn trọng và duy trì. Điều này chỉ có thể xảy ra qua việc thay thế điểm đạo cá nhân bằng điểm đạo nhóm, ít nhất là đối với các cuộc điểm đạo ban đầu.

The required mode of life and the needed individual eliminations and adjustments are now so well known (theoretically, at least) that they should have dropped below the threshold of consciousness and should consequently be automatic in their effects.

Phương thức sống cần thiết cùng những loại trừ và điều chỉnh cá nhân cần có nay đã được biết rõ đến mức, ít nhất về mặt lý thuyết, chúng đáng lẽ phải rơi xuống dưới ngưỡng tâm thức và do đó phải tự động trong các tác động của chúng.

49. Group work, group activity and group initiation are not for those who are entirely preoccupied with character building and self-discipline.

49. Công việc nhóm, hoạt động nhóm và điểm đạo nhóm không dành cho những ai hoàn toàn bận tâm với lập hạnh và kỷ luật bản thân.

50. By the time the individual disciple is ready to participate in a dynamic, progressive group process, the usual personal training should already be well-advanced and his accomplishment in this regard of such a nature that it no longer preoccupies his attention.

50. Vào lúc đệ tử cá nhân sẵn sàng tham gia vào một tiến trình nhóm năng động và tiến bộ, việc huấn luyện cá nhân thông thường đáng lẽ đã phải tiến khá xa, và thành tựu của y trong phương diện này phải có bản chất đến mức nó không còn chiếm giữ sự chú ý của y nữa.

This should also provide a steady inducement to thought which will make the initiate what he ought to be, because his conscious mind is free for group functioning.

Điều này cũng phải đem lại một sự thúc đẩy vững chắc cho tư tưởng, khiến điểm đạo đồ trở thành điều y phải là, bởi thể trí hữu thức của y được tự do cho hoạt động nhóm.

51. The message is clear; if we are preoccupied with personal concerns, personal discipline and training, and personal eliminations, our conscious mind it not “free for group functioning”.

51. Thông điệp thật rõ ràng; nếu chúng ta bận tâm với các mối quan tâm cá nhân, kỷ luật và huấn luyện cá nhân, cùng những loại trừ cá nhân, thì thể trí hữu thức của chúng ta không “tự do cho hoạt động nhóm”.

52. The true group member of the modern era has done a large measure of his individual work before beginning his group experience.

52. Thành viên nhóm đích thực của kỷ nguyên hiện đại đã hoàn tất một phần lớn công việc cá nhân của mình trước khi bắt đầu kinh nghiệm nhóm.

53. Within the stresses arising in groups, the individual work remaining to be done will be accelerated.

53. Trong những căng thẳng phát sinh trong các nhóm, công việc cá nhân còn lại cần thực hiện sẽ được thúc đẩy nhanh hơn.

This is a concept which must be increasingly cultivated; “As a man thinketh in his heart, so he is.” The lower mind should be the organ of heart expression and be as unconscious in its functioning as is the rhythm of the heart itself—the physical heart.

Đây là một quan niệm phải ngày càng được vun bồi; “Con người nghĩ trong tâm mình thế nào, y là như thế ấy.” Hạ trí phải là cơ quan biểu đạt của tâm và phải vô thức trong hoạt động của nó như chính nhịp điệu của trái tim, trái tim hồng trần.

54. The demand is high. Many disciples today ponder how they may be more loving. DK is asking, however, for a love that flows naturally and unconsciously through thought. Heart and head are to be united and work together spontaneously and without the conscious supervision of the disciple. Such supervision will not be necessary as there will be little or nothing in him which would inhibit the fusion of heart and mind.

54. Yêu cầu này rất cao. Nhiều đệ tử ngày nay suy ngẫm xem họ có thể yêu thương hơn như thế nào. Tuy nhiên, Chân sư DK đang đòi hỏi một tình thương tuôn chảy tự nhiên và vô thức qua tư tưởng. Tâm và đầu phải được hợp nhất và cùng nhau hoạt động một cách tự phát, không cần sự giám sát hữu thức của đệ tử. Sự giám sát như thế sẽ không cần thiết, vì trong y sẽ có rất ít hoặc không có gì ngăn cản sự dung hợp giữa tâm và trí.

55. The two planets Venus and Jupiter (both closely associated with the second ray) are particularly useful in the fusion of heart and mind.

55. Hai hành tinh Sao Kim và Sao Mộc, cả hai đều liên hệ mật thiết với cung hai, đặc biệt hữu ích trong sự dung hợp giữa tâm và trí.

56. It is clear that we must work on the cultivation of good spiritual habits until this fusion is an accomplished fact. Right now, for many, there exists a cleavage between head and heart.

56. Rõ ràng chúng ta phải hoạt động để vun bồi những thói quen tinh thần tốt đẹp cho đến khi sự dung hợp này trở thành một sự kiện đã hoàn thành. Hiện nay, đối với nhiều người, có một sự chia tách giữa đầu và tâm.

The higher mind is intended to become increasingly the field of the initiate’s effort, and hence the constant need for him to build the antahkarana.

Thượng trí được dự định ngày càng trở thành lĩnh vực nỗ lực của điểm đạo đồ, và do đó y luôn luôn cần xây dựng antahkarana.

57. When an initiate can work within the higher mind, he understanding will be vast and he will be able wisely to perceive the relations between many life processes.

57. Khi một điểm đạo đồ có thể hoạt động trong Thượng trí, sự thấu hiểu của y sẽ rộng lớn và y sẽ có thể nhận thức một cách minh triết các mối liên hệ giữa nhiều tiến trình sự sống.

58. The abstract mind is broad in its scope.

58. Trí trừu tượng có phạm vi rộng lớn.

Paragraph 3

Đoạn 3

In this Rule we are therefore dealing with the work [Page 138] to be done by a group of pledged disciples and initiates; they are learning together to make an approach to Shamballa (involving the Will element);

Do đó, trong Quy Luật này, chúng ta đang đề cập đến công việc [Page 138] cần được thực hiện bởi một nhóm các đệ tử thệ nguyện và điểm đạo đồ; họ đang cùng nhau học cách tiếp cận Shamballa, điều này bao hàm yếu tố Ý Chí;

59. The group concerned (we learn) consists of pledged disciples and initiates. The non-uniformity of approaching groups is the norm, and in their diversity (we have often been told) lies their usefulness.

59. Nhóm được nói đến, như chúng ta biết, gồm các đệ tử thệ nguyện và điểm đạo đồ. Tính không đồng nhất của các nhóm đang tiếp cận là chuẩn mực, và trong sự đa dạng của họ, như chúng ta thường được cho biết, có sự hữu dụng của họ.

60. Their “approach to Shamballa” will be an alignment and an attunement. It cannot yet be an entry.

60. “Sự tiếp cận Shamballa” của họ sẽ là một sự chỉnh hợp và một sự điều hợp. Nó chưa thể là một sự nhập vào.

61. A pledged disciple may also be an accepted disciple. It would seem that only those who are accepted disciples can make the kind of approach here discussed. An accepted disciple has been acknowledged for his acceptance of the Divine Plan, and for following through on his pledge to serve the soul and that Plan.

61. Một đệ tử thệ nguyện cũng có thể là một đệ tử được chấp nhận. Dường như chỉ những ai là đệ tử được chấp nhận mới có thể thực hiện kiểu tiếp cận được bàn đến ở đây. Một đệ tử được chấp nhận đã được công nhận vì sự chấp nhận Thiên Cơ của y, và vì đã thực hiện đến cùng lời thệ nguyện phụng sự linh hồn và Thiên Cơ ấy.

this is as much a goal of the Hierarchy as approach to the Hierarchy is the goal of advanced humanity.

đây cũng là mục tiêu của Thánh Đoàn chẳng khác nào sự tiếp cận Thánh Đoàn là mục tiêu của nhân loại tiến bộ.

62. It is clear that such an approach is only for advanced groups, because the goal of the Hierarchy, itself, is an approach to Shamballa (obviously a much deeper approach than will be possible for the kind of groups here discussed).

62. Rõ ràng một sự tiếp cận như thế chỉ dành cho các nhóm tiến bộ, bởi mục tiêu của chính Thánh Đoàn là một sự tiếp cận Shamballa, hiển nhiên là một sự tiếp cận sâu xa hơn rất nhiều so với điều có thể xảy ra đối với kiểu nhóm đang được bàn đến ở đây.

It concerns the interrelation of great centres of force. This is a point which esoteric students should attempt to grasp for it completes the planetary chain of Hierarchy and throws a light upon the Way of the Higher Evolution.

Nó liên quan đến mối tương quan giữa các trung tâm mãnh lực lớn lao. Đây là một điểm mà các đạo sinh huyền bí nên cố gắng nắm bắt, vì nó hoàn tất chuỗi hành tinh của Thánh Đoàn và soi sáng Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.

63. There is a triangle between humanity, Hierarchy and Shamballa; the flow of energy and force between the points in this triangle is not yet complete.

63. Có một tam giác giữa nhân loại, Thánh Đoàn và Shamballa; dòng chảy năng lượng và mãnh lực giữa các điểm trong tam giác này chưa hoàn tất.

64. The initiate thinks in terms of these great centers and his present and future participation in relation to them. He is no longer thinking as an individual. His thought has become planetary in scope.

64. Điểm đạo đồ suy nghĩ theo nghĩa các trung tâm lớn lao này và sự tham dự hiện tại cũng như tương lai của y trong tương quan với chúng. Y không còn suy nghĩ như một cá nhân nữa. Tư tưởng của y đã trở nên có phạm vi hành tinh.

Paragraph 4

Đoạn 4

Great movements and progressions have always taken place upon the subjective side of life;

Những chuyển động và tiến trình lớn lao luôn luôn diễn ra trên phương diện chủ quan của sự sống;

65. The obvious, external movements and progressions are only effects of those that take place inwardly.

65. Những chuyển động và tiến trình hiển nhiên bên ngoài chỉ là các hiệu quả của những điều diễn ra ở bên trong.

66. To these we must try to be come sensitive, no longer living in the world of effects, but increasingly in the World of Meaning and the World of Significance.

66. Chúng ta phải cố gắng trở nên nhạy bén với những điều này, không còn sống trong thế giới của các hiệu quả, mà ngày càng sống trong Thế giới của ý nghĩa và Thế giới của thâm nghĩa.

it is these subjective activities which have made it hard for disciples to grasp the truth and arrive at some true realisation of the subjective situation which ever exists between the Hierarchy and Shamballa.

chính các hoạt động chủ quan này đã khiến đệ tử khó nắm bắt chân lý và đạt đến một chứng nghiệm chân thực nào đó về tình trạng chủ quan vốn luôn hiện hữu giữa Thánh Đoàn và Shamballa.

67. Subjective processes are not those that concern the emotional and mental bodies, which are, spiritually, still considered objective.

67. Các tiến trình chủ quan không phải là những tiến trình liên quan đến thể cảm dục và thể trí, vốn về mặt tinh thần vẫn được xem là khách quan.

68. True subjective processes concern the spiritual triad. Hierarchy and Shamballa can only be fully accessed through the spiritual triad. The great majority of Ashrams are focussed within the triad.

68. Các tiến trình chủ quan đích thực liên quan đến Tam Nguyên Tinh Thần. Thánh Đoàn và Shamballa chỉ có thể được tiếp cận trọn vẹn qua Tam Nguyên Tinh Thần. Đại đa số các ashram được tập trung trong Tam nguyên.

The energies concerned are so subtle, and the Beings involved are so advanced and so highly developed (even from the angle of the initiate of the third degree), that it is well-nigh impossible for the teachings (which I seek to give) to be worded in such a manner that they become comprehensible.

Các năng lượng liên quan tinh tế đến mức, và các Đấng tham dự tiến bộ cũng như phát triển cao đến mức, ngay cả từ góc nhìn của điểm đạo đồ bậc ba, mà gần như không thể diễn đạt các giáo huấn mà tôi tìm cách trao truyền theo một cách khiến chúng trở nên có thể thấu hiểu.

69. DK is trying to establish in our minds a sense of proportion. Of these Beings, it would seem we can have no true conception.

69. Chân sư DK đang cố gắng thiết lập trong trí chúng ta một Ý thức về tỉ lệ. Về các Đấng này, dường như chúng ta không thể có một quan niệm chân thực nào.

70. Even initiates of the third degree find them incomprehensible.

70. Ngay cả các điểm đạo đồ bậc ba cũng thấy các Ngài không thể hiểu thấu.

All that I can do is to make certain statements which (from the standpoint of those I teach) are not verifiable; they have to be accepted on trust and with the reservation that time and the point of view of the individual disciple will later prove their truth—or their non-truth.

Tất cả những gì tôi có thể làm là đưa ra một số phát biểu mà, từ quan điểm của những người tôi dạy, không thể kiểm chứng; chúng phải được chấp nhận trên niềm tin, với sự dè dặt rằng thời gian và quan điểm của từng đệ tử cá nhân về sau sẽ chứng minh chân lý của chúng, hoặc sự không-chân-lý của chúng.

71. We have to be realistic about the nature of the thoughts and ideas we are studying. So many of them are simply beyond us. We can trust the source—the Master DK (as we have come to regard Him), or we can simply be reserved in our acceptance, trusting that time and an enlarging point of view will reveal whether or not the statements given in the Teaching are true.

71. Chúng ta phải thực tế về bản chất của những tư tưởng và ý tưởng mà mình đang nghiên cứu. Rất nhiều trong số đó đơn giản là vượt ngoài chúng ta. Chúng ta có thể tin cậy nguồn gốc, tức Chân sư DK, như chúng ta đã đi đến chỗ nhìn nhận Ngài, hoặc chúng ta có thể chỉ giữ sự dè dặt trong việc chấp nhận, tin rằng thời gian và một quan điểm mở rộng sẽ mặc khải liệu các phát biểu được trao trong Giáo Huấn có chân thực hay không.

72. This is, perhaps, not an enviable position, for the sharp intellects of the world will often doubt our sanity. But there is something in the words of a Master which carries conviction and which appeals to the intuition.

72. Có lẽ đây không phải là một vị thế đáng ao ước, vì các trí năng sắc bén của thế gian thường sẽ nghi ngờ sự minh mẫn của chúng ta. Nhưng có điều gì đó trong lời của một Chân sư mang theo sự xác tín và hấp dẫn trực giác.

73. If the Tibetan is trustworthy it will be found that trusting Him is a fast path to realization. Should He prove untrustworthy, then we will learn something about our credulity and the true status of what we had considered to be our intuition.

73. Nếu Chân sư Tây Tạng đáng tin cậy, thì sẽ thấy rằng tin cậy Ngài là một con đường nhanh chóng đến chứng nghiệm. Nếu Ngài tỏ ra không đáng tin, khi ấy chúng ta sẽ học được điều gì đó về tính nhẹ dạ của mình và về địa vị thật sự của điều chúng ta đã xem là trực giác của mình.

Paragraph 5

Đoạn 5

The objective of all training given to the disciple is to shift his conscious awareness from the point where he is to levels which are higher than those in the three worlds of definitely human evolution;

Mục tiêu của mọi huấn luyện được trao cho đệ tử là chuyển dịch nhận thức hữu thức của y từ điểm nơi y đang đứng đến những cấp độ cao hơn các cấp độ trong ba cõi thấp của tiến hoá nhân loại rõ rệt;

74. As disciples we are learning to tune out habitual perceptions conditioned by the personality. Something far subtler is coming into view.

74. Với tư cách đệ tử, chúng ta đang học cách không còn điều chỉnh theo những tri giác quen thuộc chịu tác động của phàm ngã. Một điều gì tinh tế hơn nhiều đang hiện ra trong tầm nhìn.

75. We are in the gradual process of transferring kingdoms. If all goes well, before long we shall no longer be strictly human.

75. Chúng ta đang ở trong tiến trình chuyển dịch dần dần giữa các giới. Nếu mọi sự diễn ra tốt đẹp, không lâu nữa chúng ta sẽ không còn hoàn toàn là con người nữa.

76. Do we know the point at which our consciousness is habitually focussed? That would be a starting point.

76. Chúng ta có biết điểm mà tâm thức mình thường được tập trung vào không? Đó sẽ là một điểm khởi đầu.

77. “Definitely human evolution” ends at the first degree (the first planetary initiation). From the first degree to the sixth, the disciple is a man and yet not a man (for he is becoming a soul—which is fully true at the fifth degree). At the sixth degree, he is more than man.

77. “Tiến hoá nhân loại rõ rệt” chấm dứt ở cấp độ thứ nhất, tức lần điểm đạo hành tinh thứ nhất. Từ cấp độ thứ nhất đến cấp độ thứ sáu, đệ tử là một con người và tuy vậy không phải là một con người vì y đang trở thành một linh hồn, điều này hoàn toàn đúng ở cấp độ thứ năm. Ở cấp độ thứ sáu, y còn hơn cả con người.

the intention is to teach him to function on those planes of conscious contact which are as yet so subjective that he only accepts them as existent in theory.

ý định là dạy y hoạt động trên những cõi tiếp xúc hữu thức vốn hiện nay còn chủ quan đến mức y chỉ chấp nhận chúng như là hiện hữu trong lý thuyết.

78. First we learn the theory, and we must learn it well. Only then will we be able to interpret with accuracy that which we will inevitably contact.

78. Trước hết chúng ta học lý thuyết, và chúng ta phải học thật kỹ. Chỉ khi đó chúng ta mới có thể diễn giải chính xác điều mà chắc chắn chúng ta sẽ tiếp xúc.

The trained initiate knows that they have to become his natural habitat, and that eventually he has to relegate the ordinary and normal human experience to the three worlds of daily expression.

Điểm đạo đồ đã được huấn luyện biết rằng chúng phải trở thành môi trường sống tự nhiên của y, và rằng cuối cùng y phải chuyển kinh nghiệm nhân loại thông thường và bình thường xuống ba cõi thấp của sự biểu đạt hằng ngày.

79. The term “natural habitat” is evocative. One sees that focus on these higher planes must become “second nature” to the initiate. We must become entirely accustomed to living focussed on planes higher than those of the personality and eventually, on planes even higher than those upon which the causal bodies of men are to be found.

79. Thuật ngữ “môi trường sống tự nhiên” có sức gợi. Người ta thấy rằng sự tập trung trên các cõi cao hơn này phải trở thành “bản chất thứ hai” đối với điểm đạo đồ. Chúng ta phải trở nên hoàn toàn quen thuộc với việc sống tập trung trên các cõi cao hơn các cõi của phàm ngã, và cuối cùng trên những cõi còn cao hơn cả những cõi nơi các thể nguyên nhân của con người được tìm thấy.

These become eventually the worlds that exist below the threshold of consciousness; they are relegated to the realm of the subconscious—recoverable consciously, if necessary for right service of humanity, [Page 139] but as much below the threshold of consciousness as are the ordinary emotional reactions of the average man.

Cuối cùng, những cõi này trở thành các thế giới hiện hữu dưới ngưỡng tâm thức; chúng được chuyển xuống lĩnh vực tiềm thức, có thể được phục hồi một cách hữu thức nếu cần thiết cho sự phụng sự đúng đắn đối với nhân loại, [Page 139] nhưng ở dưới ngưỡng tâm thức chẳng khác nào các phản ứng cảm xúc thông thường của con người trung bình.

80. We have an extraordinary idea presented here. Our three worlds of normal human expression are to become “subconscious” to the higher initiate. The initiate’s consciousness is not focussed in these three worlds at all. He focusses in these worlds only through an act of will and for service purposes.

80. Ở đây chúng ta có một ý tưởng phi thường được trình bày. Ba cõi thấp của sự biểu đạt nhân loại bình thường của chúng ta sẽ trở thành “tiềm thức” đối với điểm đạo đồ cao cấp hơn. Tâm thức của điểm đạo đồ hoàn toàn không tập trung trong ba cõi thấp này. Y chỉ tập trung trong các cõi này bằng một hành động của ý chí và vì các mục đích phụng sự.

81. What is the analogy in our life? What dimensions are, for us, subconscious? Do we know how to focus within them for service purposes?

81. Điều tương đồng trong đời sống chúng ta là gì? Những chiều kích nào, đối với chúng ta, là tiềm thức? Chúng ta có biết cách tập trung trong chúng vì các mục đích phụng sự không?

82. Many people today are aware of their emotional reactions. Do you think that disciple should be aware of them, or are they a distraction?

82. Ngày nay nhiều người nhận biết các phản ứng cảm xúc của mình. Bạn có nghĩ rằng đệ tử nên nhận biết chúng, hay chúng là một sự xao lãng?

These are always recoverable (as modern psychoanalysis has demonstrated) and can become capable of expression and of formulation into conditioning concepts—thus actuating mental perception if deemed of adequate importance.

Những điều này luôn luôn có thể được phục hồi, như phân tâm học hiện đại đã chứng minh, và có thể trở nên có khả năng biểu đạt cũng như được công thức hóa thành các quan niệm tác động định hình, nhờ đó thúc đẩy tri giác trí tuệ nếu được xem là có tầm quan trọng thích đáng.

83. DK has referred to three types of psychology—Lemurian, Atlantean and Aryan. He considers the type of psychoanalytical approach here mentioned as an example of Lemurian psychology. This should give us pause.

83. Chân sư DK đã đề cập đến ba loại tâm lý học: Lemuria, Atlantis và Arya. Ngài xem kiểu tiếp cận phân tâm được nói đến ở đây như một ví dụ của tâm lý học Lemuria. Điều này hẳn khiến chúng ta phải dừng lại suy xét.

84. From this section we learn that a great deal of our emotional responsiveness remains undetected to the concrete mind—unless effort is expended.

84. Từ phần này, chúng ta biết rằng rất nhiều khả năng đáp ứng cảm xúc của mình vẫn không được trí cụ thể phát hiện, trừ khi có nỗ lực được bỏ ra.

If these three methods are studied, you can arrive at an understanding as to the three systems which psychologists could elaborate and develop in order to handle the three types of modern consciousness—the Lemurian, which is the lowest found upon our planet at this time; the Atlantean, which is the commonest found today, and the Aryan, which is developing and unfolding with great rapidity. At present, psychologists are using the lowest type of aid for all groups and states of consciousness. This does not seem wise, does it? (EP II 499)

Nếu ba phương pháp này được nghiên cứu, các bạn có thể đạt đến sự thấu hiểu về ba hệ thống mà các nhà tâm lý học có thể triển khai và phát triển nhằm xử lý ba loại tâm thức hiện đại: Lemuria, loại thấp nhất được tìm thấy trên hành tinh chúng ta vào lúc này; Atlantis, loại phổ biến nhất được tìm thấy ngày nay; và Arya, loại đang phát triển và khai mở với tốc độ rất nhanh. Hiện nay, các nhà tâm lý học đang sử dụng loại trợ giúp thấp nhất cho mọi nhóm và mọi trạng thái tâm thức. Điều này dường như không minh triết, phải không? (EP II 499)

However, it should be borne in mind that the greater part of the emotional life of the disciple must become increasingly subconscious, just as the physical plane life of the normal, healthy human being is entirely automatic and thus subconscious.

Tuy nhiên, cần ghi nhớ rằng phần lớn đời sống cảm xúc của đệ tử phải ngày càng trở thành tiềm thức, cũng như đời sống cõi hồng trần của một con người bình thường và khỏe mạnh là hoàn toàn tự động và do đó là tiềm thức.

85. This can happen only after the major emotional issues and conflicts have been solved. If there is great disturbance in the astral vehicle, it will cry out for recognition, forcing its way into consciousness, which cannot find liberation from unresolved emotional and kama-manasic issues.

85. Điều này chỉ có thể xảy ra sau khi các vấn đề và xung đột cảm xúc chính yếu đã được giải quyết. Nếu có sự xáo động lớn trong vận cụ cảm dục, nó sẽ kêu đòi được thừa nhận, tự buộc mình đi vào tâm thức, vốn không thể tìm thấy sự giải thoát khỏi các vấn đề cảm xúc và trí-cảm chưa được giải quyết.

When the disciple has striven to expand his consciousness, when he has learnt to stabilise his consciousness in the Spiritual Triad, then he becomes part of a great and constant hierarchical effort which strives upwards towards the “Place of Clear Electric Light,” to which the clear cold light of the reason is the first key to the first door.

Khi đệ tử đã nỗ lực mở rộng tâm thức của mình, khi y đã học cách ổn định tâm thức trong Tam Nguyên Tinh Thần, khi ấy y trở thành một phần của nỗ lực Thánh Đoàn lớn lao và liên tục đang hướng thượng về “Nơi của Ánh Sáng Điện Trong Suốt”, mà ánh sáng lạnh trong suốt của lý trí là chìa khóa đầu tiên mở cánh cửa thứ nhất.

86. This section should be analyzed closely for in it an important progression is given:

86. Phần này cần được phân tích kỹ, vì trong đó một tiến trình quan trọng được đưa ra:

a. The disciple strives to expand his consciousness

a. Đệ tử nỗ lực mở rộng tâm thức của mình

b. The disciple cultivates the “clear cold light of the reason”

b. Đệ tử vun bồi “ánh sáng lạnh trong suốt của lý trí”

c. The disciple stabilizes his consciousness in the Spiritual Triad

c. Đệ tử ổn định tâm thức của mình trong Tam Nguyên Tinh Thần

d. The disciple (in concert with his group and in coordination with Hierarchy) strive upwards towards the “Place of Clear Electric Light”

d. Đệ tử, hòa hợp với nhóm của mình và phối hợp với Thánh Đoàn, nỗ lực hướng thượng về “Nơi của Ánh Sáng Điện Trong Suốt”

87. The “clear cold light of the reason” is related to the buddhic plane, but the higher mental plane is also somewhat involved. In any case, this cultivation is the first portal of entry to Shamballa.

87. “Ánh sáng lạnh trong suốt của lý trí” liên hệ với cõi Bồ đề, nhưng Cõi thượng trí cũng phần nào liên quan. Dù sao, sự vun bồi này là cổng vào đầu tiên dẫn đến Shamballa.

88. Another name for Shamballa is given, and should be pondered: The “Place of Clear Electric Light”.

88. Một danh xưng khác dành cho Shamballa được đưa ra, và cần được suy ngẫm: “Nơi của Ánh Sáng Điện Trong Suốt”.

Paragraph 6

Đoạn 6

There are three doors into Shamballa, speaking figuratively:

Nói theo nghĩa tượng trưng, có ba cánh cửa vào Shamballa:

89. Important information on the modes of entering Shamballa is here given.

89. Thông tin quan trọng về các phương thức đi vào Shamballa được đưa ra ở đây.

1. There is the door of the reason, of pure perception of truth.

1. Có cánh cửa của lý trí, của tri giác thuần khiết về chân lý.

90. The manner in which philosophy uses the term “reason” is not as occultist use the term. Pure reason is nothing short of intuition which grasps the whole in its entirety and sees simultaneously the why and wherefore of all things.

90. Cách triết học sử dụng thuật ngữ “lý trí” không giống cách các nhà huyền bí học sử dụng thuật ngữ này. Lý trí thuần khiết không gì khác hơn là trực giác, nắm bắt toàn thể trong tính toàn vẹn của nó và đồng thời thấy được nguyên nhân cũng như mục đích của mọi sự.

91. The buddhic plane is related to the heart; it is the pure heart which is capable of intuition and which sees the truth. “Blessed are the pure in heart, for they shall see God”. To see “God” is a great blessing, as the mystics of the ages will attest.

91. Cõi Bồ đề liên hệ với tâm; chính tâm thuần khiết mới có khả năng trực giác và thấy chân lý. “Phúc cho những ai có tâm thuần khiết, vì họ sẽ thấy Thượng đế”. Thấy “Thượng đế” là một phúc lành lớn lao, như các nhà thần bí qua các thời đại sẽ chứng thực.

92. And who shall be “God”? To see God is one thing; to be God, another.

92. Và ai sẽ “Thượng đế”? Thấy Thượng đế là một điều; Thượng đế lại là điều khác.

Christ gave the clue to this teaching when He said “I am the Way, the Truth and the Life.” Of that Way we know much, because upon the Way a vast body of teaching has been given, and that teaching, if followed, brings a man into the Hierarchy.

Đức Christ đã trao chìa khóa cho giáo huấn này khi Ngài nói: “Ta là Đường Đạo, Chân Lý và Sự Sống.” Về Đường Đạo ấy, chúng ta biết nhiều, bởi trên Đường Đạo, một khối lượng giáo huấn rộng lớn đã được trao, và giáo huấn ấy, nếu được noi theo, sẽ đưa con người vào Thánh Đoàn.

93. We have here a higher an impersonal way of interpreting this vitally important saying by the Christ: “I am the Way, the Truth and the Life.”

93. Ở đây chúng ta có một cách cao hơn và phi ngã để diễn giải lời nói vô cùng quan trọng này của Đức Christ: “Ta là Đường Đạo, Chân Lý và Sự Sống.”

94. It is the “Christ Consciousness”, the buddhi, that perceives pure truth.

94. Chính “Tâm thức Christ”, tức Bồ đề, là cái nhận thức chân lý thuần khiết.

95. We are all treading the “Way” and have been abundantly informed as to its nature however theoretical that Way may be for many.

95. Tất cả chúng ta đều đang bước trên “Đường Đạo” và đã được thông tin dồi dào về bản chất của nó, dù Đường Đạo ấy đối với nhiều người có thể còn mang tính lý thuyết đến đâu.

96. The “Way” leads to Hierarchy. The Way of Higher Evolution leads for some to Shamballa and for others, to destinations beyond our planet and solar system.

96. “Đường Đạo” dẫn đến Thánh Đoàn. Con đường Tiến Hóa Cao Siêu đối với một số người dẫn đến Shamballa, và đối với những người khác, dẫn đến các đích đến vượt ngoài hành tinh và hệ mặt trời của chúng ta.

He then becomes a factual part of the hierarchical membership.

Khi ấy y trở thành một phần thực sự của thành viên Thánh Đoàn.

97. Probationary initiates are on the periphery of Hierarchy; they are somehow included within the ‘Circle of Hierarchy’. (cf. TCF 1248).

97. Các điểm đạo đồ dự bị ở trên vùng ngoại vi của Thánh Đoàn; bằng cách nào đó, họ được bao gồm trong “Vòng Tròn của Thánh Đoàn”. (xem TCF 1248).

98. Factual hierarchical membership is another matter. It is beyond belief, supposition and inference. It is realized in a blaze of straight knowledge.

98. Tư cách thành viên Thánh Đoàn thực sự là một vấn đề khác. Nó vượt ngoài niềm tin, giả định và suy luận. Nó được chứng nghiệm trong một bừng sáng của tri thức trực tiếp.

Of that Truth, we know (as aspirants) relatively very little. Truth—as we understand it during the early treading of the Path of Discipleship—is concerned with great verities which are (from the insight of the Enlightened Ones) only the a b c of life.

Về Chân Lý ấy, với tư cách những người chí nguyện, chúng ta biết tương đối rất ít. Chân lý, như chúng ta thấu hiểu trong giai đoạn đầu bước trên Con Đường Đệ Tử, liên quan đến những sự thật lớn lao vốn, từ minh kiến của các Đấng Giác Ngộ, chỉ là những chữ cái đầu tiên của sự sống.

99. We find that the Way, the Truth and the Life are progressive—three terms indicating progressive phases of action and realization. If we know (or can know) relatively much about the “Way”, we are told that we know little of the “Truth”.

99. Chúng ta thấy rằng Con Đường, Chân Lý và Sự Sống là tiệm tiến—ba thuật ngữ chỉ các giai đoạn tiệm tiến của hành động và chứng nghiệm. Nếu chúng ta biết, hoặc có thể biết, tương đối nhiều về “Con Đường”, thì chúng ta được cho biết rằng mình biết rất ít về “Chân Lý”.

100. As profound as may be the learning of those who are in the relatively early stages of treading the Path of Discipleship (the “learned aspirant”), such knowledge is only the ABC of what may be known.

100. Dù sự học hỏi của những người đang ở các giai đoạn tương đối sơ khởi khi bước trên Con Đường Đệ Tử, tức “người chí nguyện uyên học”, có sâu xa đến đâu, tri thức ấy cũng chỉ là những điều vỡ lòng so với những gì có thể được biết.

101. DK tells us that, as disciples, we are learning the “a b d of life”. Does He mean “life” as in the first aspect of divinity? If so, one could certainly agree.

101. Chân sư DK nói với chúng ta rằng, với tư cách là các đệ tử, chúng ta đang học “a b d của sự sống”. Có phải Ngài muốn nói “sự sống” theo nghĩa phương diện thứ nhất của thiên tính không? Nếu vậy, chắc chắn người ta có thể đồng ý.

Paragraph 7

Đoạn 7

These truths are:

Những chân lý ấy là:

102. One can infer that the truths here presented will be elaborated by the Christ when He reappears.

102. Người ta có thể suy ra rằng những chân lý được trình bày ở đây sẽ được Đức Christ khai triển khi Ngài tái hiện.

The manifestation of divinity on the physical plane.

Sự biểu hiện của thiên tính trên cõi hồng trần.

103. That which is to be seen is all divine. Do we realize this? The majority of human beings do not, for many separate “God” from His Creation, although, occultly, they are one in identity.

103. Điều cần được nhìn thấy là tất cả đều thiêng liêng. Chúng ta có nhận ra điều này không? Đa số con người thì không, vì nhiều người tách “Thượng đế” khỏi Công Cuộc Sáng Tạo của Ngài, mặc dù, xét một cách huyền bí, các Ngài là một trong bản sắc.

The doctrine of Avatars. This religious history reveals.

Giáo lý về các Đấng Hoá Thân. Lịch sử tôn giáo mặc khải điều này.

104. The greater always help the lesser and the higher the lower. Man is never left without the discernible presence of Deity.

104. Đấng lớn lao hơn luôn trợ giúp kẻ nhỏ bé hơn, và bậc cao hơn trợ giúp bậc thấp hơn. Con người không bao giờ bị bỏ lại mà không có sự hiện diện có thể nhận ra của Thượng đế.

The nature of consciousness, through the development of psychology.

Bản chất của tâm thức, thông qua sự phát triển của tâm lý học.

105. The nature of consciousness is a deep universal mystery.

105. Bản chất của tâm thức là một huyền nhiệm phổ quát sâu xa.

106. Something of this mystery can be conveyed to us through the science of psychology. Consciousness produces the psyche and not vice-versa, but in modern understanding, consciousness is considered to be a quality of the psyche.

106. Một phần nào đó của huyền nhiệm này có thể được truyền đạt cho chúng ta qua khoa học tâm lý học. Tâm thức tạo ra tâm hồn chứ không phải ngược lại, nhưng trong sự thấu hiểu hiện đại, tâm thức được xem là một phẩm tính của tâm hồn.

107. As yet, man knows but little of consciousness, its origin and its development. Psychology, as presently practiced, is revealing much about the nature of consciousness, but psychology must soon become the ‘Psychology of the Soul’ before a truer revelation becomes possible.

107. Cho đến nay, con người chỉ biết rất ít về tâm thức, nguồn gốc và sự phát triển của nó. Tâm lý học, như hiện đang được thực hành, đang mặc khải nhiều điều về bản chất của tâm thức, nhưng tâm lý học phải sớm trở thành “Tâm Lý Học của Linh Hồn” trước khi một sự mặc khải chân thật hơn có thể trở nên khả hữu.

The doctrine of the Trinity, as it expresses itself through the aspects and the attributes.

Giáo lý về Ba Ngôi, khi nó tự biểu lộ qua các phương diện và các thuộc tính.

108. Why is the “doctrine of the Trinity” a fundamental truth? Perhaps because it holds the key to all manifestation through enumeration, and also reveals the oneness of all that is manifested.

108. Vì sao “giáo lý về Ba Ngôi” là một chân lý nền tảng? Có lẽ vì nó nắm giữ chìa khóa của mọi biểu hiện thông qua sự liệt kê, và cũng mặc khải tính nhất nguyên của tất cả những gì được biểu hiện.

109. The mystery of Unity in Diversity and Diversity in Unity is contained within the “doctrine of the Trinity”.

109. Huyền nhiệm về Nhất Tính trong Đa Thù và Đa Thù trong Nhất Tính được chứa đựng trong “giáo lý về Ba Ngôi”.

110. During the past centuries men have fought over the interpretation of this mystery. Some have upheld the reality of the Trinity almost forgetting the Unity which pervades it. Others have taken an entirely “Unitarian” rather than “Trinitarian” point of view, and have given their lives to prove that the Unity could not be divided.

110. Trong những thế kỷ qua, con người đã tranh đấu vì cách diễn giải huyền nhiệm này. Một số người đã bảo vệ thực tại của Ba Ngôi, gần như quên mất Nhất Tính thấm nhuần nó. Những người khác lại giữ một quan điểm hoàn toàn “Nhất Vị” hơn là “Tam Vị”, và đã hiến dâng đời mình để chứng minh rằng Nhất Tính không thể bị phân chia.

111. It is clear however that the truth does not lie with one or the other camp. “God” is both indivisible and divisible. The nature of this truth is obscure and can only be partially fathomed by the third degree initiate who has passed through the meaning of the number three and, yet, has ‘met’ his monad—the great Unity within.

111. Tuy nhiên, rõ ràng chân lý không nằm ở phe này hay phe kia. “Thượng đế” vừa bất khả phân vừa có thể phân chia. Bản chất của chân lý này còn mờ tối và chỉ có thể được thấu triệt một phần bởi điểm đạo đồ cấp ba, người đã đi qua ý nghĩa của con số ba và tuy vậy đã “gặp” chân thần của mình—Nhất Tính vĩ đại bên trong.

Paragraph 8

Đoạn 8

These four expressions of truth will be found to convey all the knowledge with which the initiate must stand equipped [Page 140] when he climbs the Mount of Transfiguration at the time of the third initiation. They have given him a spiritual perception of the Plan.

Bốn biểu hiện chân lý này sẽ được thấy là truyền đạt toàn bộ tri thức mà điểm đạo đồ phải được trang bị [Trang 140] khi y leo lên Núi Biến Hình vào lúc lần điểm đạo thứ ba. Chúng đã trao cho y một nhận thức tinh thần về Thiên Cơ.

112. Four expressions of truths which must precede the taking of the third degree are here given.

112. Ở đây nêu ra bốn biểu hiện của các chân lý phải đi trước việc nhận cấp điểm đạo thứ ba.

113. The Christ is responsible for teaching these four great truths (among other truths) and the Buddha, Four Noble Truths.

113. Đức Christ chịu trách nhiệm giảng dạy bốn chân lý lớn lao này, cùng với những chân lý khác, còn Đức Phật giảng dạy Tứ Diệu Đế.

114. Why must the initiate be equipped with knowledge of these truths in order to take the Transfiguration initiation? I will summarize the main points to be gathered in relation to these truths:

114. Vì sao điểm đạo đồ phải được trang bị tri thức về những chân lý này để nhận cuộc điểm đạo Biến Hình? Tôi sẽ tóm lược các điểm chính cần rút ra liên quan đến những chân lý này:

a. Manifested life is divine and “God” wills to manifest His nature.

a. Sự sống đã biểu hiện là thiêng liêng và “Thượng đế” muốn biểu hiện bản chất của Ngài.

b. Great Beings assist humanity and the Plan.

b. Các Đấng Cao Cả trợ giúp nhân loại và Thiên Cơ.

c. We are all fundamentally related through consciousness. “All souls are one with the Oversoul.”

c. Về căn bản, tất cả chúng ta đều liên hệ với nhau thông qua tâm thức. “Tất cả các linh hồn là một với đại hồn.”

d. “God” has three major aspects and yet remains an indivisible Unity.

d. “Thượng đế” có ba phương diện chính yếu, nhưng vẫn là một Nhất Tính bất khả phân.

115. The third initiation sees a rather complete blending of the second and third aspects. Studying these four truths will show them related to one or other of these two aspects.

115. Lần điểm đạo thứ ba chứng kiến sự hòa trộn khá trọn vẹn của phương diện thứ hai và thứ ba. Việc nghiên cứu bốn chân lý này sẽ cho thấy chúng liên hệ với phương diện này hay phương diện kia trong hai phương diện ấy.

116. For the third degree initiate, the will aspect of divinity is only beginning to be a factual factor.

116. Đối với điểm đạo đồ cấp ba, phương diện ý chí của thiên tính chỉ mới bắt đầu trở thành một yếu tố thực sự.

117. The Tibetan relates these four truths to “a spiritual perception of the Plan”. The sign Sagittarius precedes Capricorn—in which the third initiation is taken—(as Capricorn is the sign archetypally related to this initiation).

117. Chân sư Tây Tạng liên hệ bốn chân lý này với “một nhận thức tinh thần về Thiên Cơ”. Dấu hiệu Nhân Mã đi trước Ma Kết—nơi lần điểm đạo thứ ba được nhận—vì Ma Kết là dấu hiệu, theo nguyên mẫu, liên hệ với cuộc điểm đạo này.

118. But one must see and perceive (Sagittarius) before life can be contacted in Capricorn.

118. Nhưng người ta phải thấy và nhận thức, tức Nhân Mã, trước khi sự sống có thể được tiếp xúc trong Ma Kết.

Paragraph 9

Đoạn 9

Of that Life, we know nothing whatsoever. The contemplation of its significance belongs to Those Who can move at will within the “precincts of the Lord of Life”—in Shamballa itself.

Về Sự Sống ấy, chúng ta hoàn toàn không biết gì. Việc chiêm ngưỡng thâm nghĩa của nó thuộc về Những Đấng có thể tùy ý di chuyển trong “phạm vi của Chúa Tể Sự Sống”—ngay trong Shamballa.

119. Sixth degree initiates (Chohans) can “move” in this manner.

119. Các điểm đạo đồ cấp sáu, tức các Chohan, có thể “di chuyển” theo cách này.

120. A beautiful phrase is given to describe Shamballa—the “precincts of the Lord of Life”. Sanat Kumara is called the “Lord of the World” and here we find Him titled the “Lord of Life”.

120. Một cụm từ đẹp đẽ được đưa ra để mô tả Shamballa—“phạm vi của Chúa Tể Sự Sống”. Đức Sanat Kumara được gọi là “Đức Chúa Tể Thế Giới”, và ở đây chúng ta thấy Ngài được xưng là “Chúa Tể Sự Sống”.

121. It becomes clear that the fullest possible realization of “Life” is not easily achieved (if at all achieved) on in the physical brain consciousness. Great Beings like the Buddha and the Christ have, it would seem, done so, but it eludes most.

121. Trở nên rõ ràng rằng sự chứng nghiệm đầy đủ nhất có thể về “Sự Sống” không dễ đạt được, nếu có thể đạt được chút nào, trong tâm thức bộ não hồng trần. Những Đấng Cao Cả như Đức Phật và Đức Christ dường như đã làm được điều đó, nhưng nó vượt khỏi phần đông.

All we can know about it is its lowest step. This enables us to study the impulse or instinct which enables all forms of life to function, which embodies the principles of responsiveness to contacts and to environment, and which embodies itself in the breath of life; this is also related to the air in some mysterious manner, and also to fire. More anent this subject it would be useless for me to say.

Tất cả những gì chúng ta có thể biết về nó là nấc thấp nhất của nó. Điều này cho phép chúng ta nghiên cứu xung lực hay bản năng giúp mọi hình tướng của sự sống hoạt động, vốn thể hiện các nguyên khí của sự đáp ứng với các tiếp xúc và với môi trường, và tự thể hiện trong hơi thở của sự sống; điều này cũng liên hệ với không khí theo một cách huyền nhiệm nào đó, và cũng liên hệ với lửa. Nói thêm về chủ đề này sẽ là vô ích đối với tôi.

122. DK tries to convey something of the meaning of “Life” but senses the difficulty of His task. He notes the following life-related processes:

122. Chân sư DK cố gắng truyền đạt phần nào ý nghĩa của “Sự Sống” nhưng cảm nhận được sự khó khăn trong nhiệm vụ của Ngài. Ngài ghi nhận các tiến trình liên hệ đến sự sống sau đây:

a. Impulse and Instinct (sustenance)

a. Xung lực và Bản năng, tức sự duy trì

b. Responsiveness (life touches life)

b. Sự đáp ứng, tức sự sống chạm đến sự sống

c. The “Breath of Life” (animating all)

c. “Hơi Thở của Sự Sống”, tức làm linh hoạt tất cả

123. We are told that the “Breath of Life” is related to both air and fire. We cannot help but think of the gaseous plane (either the physical gaseous or the mental plane). The air we breathe is a gas, and the mental plane is related to fire especially (but also to air, for the mental plane is the gaseous plane of the cosmic physical plane).

123. Chúng ta được cho biết rằng “Hơi Thở của Sự Sống” liên hệ với cả không khí lẫn lửa. Chúng ta không khỏi nghĩ đến cõi khí, hoặc khí hồng trần hoặc cõi trí. Không khí chúng ta thở là một chất khí, và cõi trí đặc biệt liên hệ với lửa, nhưng cũng với không khí, vì cõi trí là cõi khí của cõi hồng trần vũ trụ.

124. The right use of the breath ignites fire. This we know from the practical world, but it is also an occult truth and is related to the efficacy of breathing exercises in stimulating the fires of the body.

124. Việc sử dụng hơi thở đúng đắn làm bùng cháy lửa. Chúng ta biết điều này từ thế giới thực tiễn, nhưng đó cũng là một chân lý huyền bí và liên hệ với hiệu lực của các bài tập thở trong việc kích thích các lửa của thể.

Paragraph 10

Đoạn 10

2. There is also the door of the will. This is a penetrating power which relates Plan to Purpose and which has in it the faculty of coherent persistence.

2. Cũng có cánh cửa của ý chí. Đây là một quyền năng xuyên thấu, liên hệ Thiên Cơ với Thiên Ý và mang trong nó năng lực kiên trì cố kết.

125. The “will” as here described is not what we usually think.

125. “Ý chí” như được mô tả ở đây không phải là điều chúng ta thường nghĩ.

126. It is said to be a penetrating power which, it seems, serves as a bridge between Plan and Purpose.

126. Nó được nói là một quyền năng xuyên thấu, dường như đóng vai trò như một cây cầu giữa Thiên Cơ và Thiên Ý.

127. Plan is to be found on the manasic level and purpose on the atmic level. On a higher turn of the spiral, the atmic plane can also be related to the Divine Plan and the Purpose to the monadic level.

127. Thiên Cơ được tìm thấy trên cấp độ manas, còn Thiên Ý trên cấp độ atma. Trên một vòng xoắn cao hơn, cõi atma cũng có thể được liên hệ với Thiên Cơ, và Thiên Ý với cấp độ chân thần.

128. It seems that will is the intermediary between Plan and Purpose.

128. Dường như ý chí là trung gian giữa Thiên Cơ và Thiên Ý.

129. The “faculty of coherent persistence” is an arresting idea. It is not simply persistence, per se, but the kind of persistence which keeps the whole together. There can be a type of persistence which is divisive rather that promotive of coherence. The type of will here discussed includes the faculty of synthesis—for synthesis and coherence are closely related.

129. “Năng lực kiên trì cố kết” là một ý tưởng gây chú ý. Đó không chỉ đơn giản là sự kiên trì chính nó, mà là loại kiên trì giữ cho toàn thể được gắn kết. Có thể có một loại kiên trì mang tính chia rẽ hơn là thúc đẩy sự cố kết. Loại ý chí đang được bàn đến ở đây bao gồm năng lực tổng hợp—vì tổng hợp và cố kết có liên hệ mật thiết.

The reason for this persistence is that it is not dependent upon the content of the form—whether it is the form of an atom, of a man or of a planet—but upon a vital dynamic and immutable purpose, latent in the consciousness of the planetary Being Who, “having pervaded this entire universe with a fragment” of Himself, REMAINS—greater, more inscrutable and “firmer in intent” than any of His creations, even the most advanced and the closest to Him.

Lý do của sự kiên trì này là vì nó không lệ thuộc vào nội dung của hình tướng—dù đó là hình tướng của một nguyên tử, của một con người hay của một hành tinh—mà lệ thuộc vào một Thiên Ý sống động, năng động và bất biến, tiềm tàng trong tâm thức của Thực Thể Hành Tinh, Đấng “sau khi thấm nhuần toàn thể vũ trụ này bằng một mảnh” của Chính Ngài, VẪN CÒN—lớn lao hơn, khó thấu hiểu hơn và “kiên định hơn trong ý định” so với bất cứ tạo vật nào của Ngài, kể cả những tạo vật tiến bộ nhất và gần gũi nhất với Ngài.

130. This is an extraordinary section, explaining the persistence found in the Divine Will.

130. Đây là một đoạn phi thường, giải thích sự kiên trì được tìm thấy trong Ý Chí thiêng liêng.

131. When we exert what we call the “will”, the factor of persistence generated may be dependent upon many form-related factors. This is not the case with the will which facilitates entry into Shamballa via the “door of will”.

131. Khi chúng ta vận dụng điều mình gọi là “ý chí”, yếu tố kiên trì được tạo ra có thể lệ thuộc vào nhiều yếu tố liên hệ với hình tướng. Điều này không đúng với ý chí tạo thuận lợi cho việc đi vào Shamballa qua “cánh cửa của ý chí”.

132. That will is rooted in Purpose and its nature and potency are divorced from form conditioning. Of this will we know practically nothing (if anything at all) for we are still very related to form—if not the form of the personality, then the form of the causal body.

132. Ý chí ấy cắm rễ trong Thiên Ý, và bản chất cùng quyền năng của nó tách khỏi sự chi phối của hình tướng. Về ý chí này, chúng ta hầu như không biết gì, nếu có biết chút nào, vì chúng ta vẫn còn rất liên hệ với hình tướng—nếu không phải hình tướng của phàm ngã, thì là hình tướng của thể nguyên nhân.

133. To be practical, let us ask ourselves why we persist, if we do. What is the source of our persistence? Is our persistence rooted in “vital dynamic and immutable purpose?”

133. Để thực tiễn, chúng ta hãy tự hỏi vì sao mình kiên trì, nếu quả thật mình kiên trì. Nguồn gốc của sự kiên trì nơi chúng ta là gì? Sự kiên trì của chúng ta có cắm rễ trong “Thiên Ý sống động, năng động và bất biến” không?

134. Something majestic and mysterious is said of our Planetary Logos. He is a being “more inscrutable and ‘firmer in intent’ than any of His creations—even those who are closest to Him”.

134. Một điều uy nghi và huyền nhiệm được nói về Đức Hành Tinh Thượng đế của chúng ta. Ngài là một Đấng “khó thấu hiểu hơn và ‘kiên định hơn trong ý định’ so với bất cứ tạo vật nào của Ngài—ngay cả những Đấng gần gũi nhất với Ngài”.

135. We note that a “universe” is the total creation of any being.

135. Chúng ta ghi nhận rằng một “vũ trụ” là toàn bộ sáng tạo của bất cứ hữu thể nào.

136. We could be speaking of the Planetary Logos proper, or we could (in line with the foregoing discussion) be speaking of Sanat Kumara Who is, it would seem, far greater than the Buddhas of Activity who are so closely associated with Him.

136. Chúng ta có thể đang nói về chính Đức Hành Tinh Thượng đế, hoặc, phù hợp với phần bàn luận trước đó, chúng ta có thể đang nói về Đức Sanat Kumara, Đấng dường như vĩ đại hơn rất nhiều so với các Đức Phật Hoạt Động, những Đấng liên kết rất mật thiết với Ngài.

137. It is probable that the discussion relates to Sanat Kumara. The following quotes suggest this:

137. Có lẽ phần bàn luận này liên hệ đến Đức Sanat Kumara. Những trích dẫn sau gợi ý điều này:

These two, related through manifestation, are in reality atma-buddhi, spirit-reason, dedicated for the term of the creative period to a simultaneous functioning; the first result of their relation is the appearance of that which will enable the Lord of the World to express His Own unknown inscrutable purpose. (TEV 65)

Hai điều này, liên hệ với nhau qua biểu hiện, trong thực tại là atma-bồ đề, tinh thần-lý trí, được hiến dâng trong suốt thời kỳ sáng tạo cho một sự vận hành đồng thời; kết quả đầu tiên của mối liên hệ này là sự xuất hiện của điều sẽ cho phép Đức Chúa Tể Thế Giới biểu lộ Thiên Ý riêng chưa được biết và khó thấu hiểu của Ngài. (TEV 65)

a. The unknown, unseen and unheard purpose of Sanat Kumara. (R&I 241)

a. Thiên Ý chưa được biết, chưa được thấy và chưa được nghe của Đức Sanat Kumara. (R&I 241)

Only those have clear perception of His divine purpose who do not belong to our earth humanity at all; these are the Lives who came with Him to this planet when He came, and Who remain with Him as “the prisoners of loving intention” until the last “weary pilgrim has found his way home.”

Chỉ những Đấng không thuộc về nhân loại địa cầu của chúng ta chút nào mới có nhận thức rõ ràng về Thiên Ý của Ngài; đó là các Sự Sống đã đến với Ngài trên hành tinh này khi Ngài đến, và Các Ngài vẫn ở lại với Ngài như “những tù nhân của ý định yêu thương” cho đến khi “người hành hương mệt mỏi cuối cùng đã tìm được đường về nhà”.

138. We are speaking here of the 105 Kumaras (perhaps 108) Who came with Sanat Kumara at the dawn of humanity’s development.

138. Ở đây chúng ta đang nói về 105 Kumara, có lẽ là 108, Những Đấng đã đến cùng Đức Sanat Kumara vào buổi bình minh của sự phát triển nhân loại.

139. Of these, the Buddhas of Activity are three. No doubt there are others, but many (if not most), we are told, have moved on, with their places taken by members of the Hierarchy drawn from those human beings who have achieved.

139. Trong số các Ngài, các Đức Phật Hoạt Động là ba. Chắc chắn còn có những Đấng khác, nhưng chúng ta được cho biết rằng nhiều vị, nếu không phải hầu hết, đã tiến bước tiếp, và vị trí của các Ngài được thay thế bởi các thành viên của Thánh Đoàn được rút ra từ những con người đã thành tựu.

140. When thinking about the “Great Sacrifice” (Sanat Kumara) and, for that matter, of the principle of sacrifice, we see how love and will are closely interrelated in all truly sacrificial acts. When we are involved in the necessity of sacrifice, it would be valuable (on our own small scale) to regard ourselves as “prisoners of loving intention”, rather than simply as “prisoners” condemned to sacrifice. One can see that both love and will are missing from this last formulation.

140. Khi nghĩ về “Đại Hy Sinh”, tức Đức Sanat Kumara, và cũng như về nguyên khí hy sinh, chúng ta thấy tình thương và ý chí liên hệ mật thiết như thế nào trong mọi hành vi hy sinh thật sự. Khi chúng ta bị cuốn vào sự tất yếu của hy sinh, sẽ rất hữu ích, trên quy mô nhỏ bé của chính mình, nếu xem mình là “những tù nhân của ý định yêu thương”, hơn là chỉ đơn giản là “những tù nhân” bị kết án phải hy sinh. Người ta có thể thấy rằng cả tình thương lẫn ý chí đều vắng mặt trong cách diễn đạt sau cùng này.

Paragraph 11

Đoạn 11

This spiritual will is something of which humanity knows nothing; it is hidden and veiled by the self-will of the individual and the group will of the soul.

Ý chí tinh thần này là điều nhân loại không biết gì; nó bị che giấu và che phủ bởi ý chí cá nhân và ý chí nhóm của linh hồn.

141. The term spiritual will is much discussed in esoteric circles, but it requires a facility in the use of atmic energy.

141. Thuật ngữ ý chí tinh thần được bàn luận nhiều trong các giới huyền bí học, nhưng nó đòi hỏi khả năng sử dụng năng lượng atma.

142. Self-will veils the spiritual will because the spiritual will cannot be expressed through the narrowness of selfishness and ahamkaric concern.

142. Ý chí cá nhân che phủ ý chí tinh thần vì ý chí tinh thần không thể được biểu lộ qua sự chật hẹp của tính ích kỷ và mối bận tâm mang tính ngã chấp.

143. Group will veils the spiritual will because spiritual will is the will of the whole rather than the will of any part of the whole (such as a group).

143. Ý chí nhóm che phủ ý chí tinh thần vì ý chí tinh thần là ý chí của toàn thể chứ không phải ý chí của bất cứ phần nào trong toàn thể, chẳng hạn như một nhóm.

Through both of these experiences the human being moves until his individual will is developed and grounded, focussed and reoriented, and his group will is unfolded so that it includes and swallows up the dedicated, conscious, individual will.

Con người đi qua cả hai kinh nghiệm này cho đến khi ý chí cá nhân của y được phát triển và đặt nền, được tập trung và tái định hướng, và ý chí nhóm của y được khai mở đến mức nó bao gồm và nuốt trọn ý chí cá nhân đã được thánh hiến và có ý thức.

144. It is necessary to develop both individual and group will. We see the proper progression. There is no development of the spiritual will until the earlier two types of will have been developed.

144. Cần phải phát triển cả ý chí cá nhân lẫn ý chí nhóm. Chúng ta thấy tiến trình đúng đắn. Không có sự phát triển ý chí tinh thần cho đến khi hai loại ý chí trước đó đã được phát triển.

a. Individual will must be developed, grounded, focussed and reoriented (towards the soul)

a. Ý chí cá nhân phải được phát triển, đặt nền, tập trung và tái định hướng, hướng về linh hồn

b. Group will is to be unfolded and is to include swallow up the dedicated, conscious individual will.

b. Ý chí nhóm phải được khai mở và phải bao gồm, nuốt trọn ý chí cá nhân đã được thánh hiến và có ý thức.

145. The term “swallowed up” is interesting. It means to “engulf”. Soul consciousness is spherical and considers the welfare of the group. It is not brittle and narrowly directed as the individual will so often is.

145. Thuật ngữ “nuốt trọn” thật thú vị. Nó có nghĩa là “bao trùm”. Tâm thức linh hồn có tính hình cầu và quan tâm đến phúc lợi của nhóm. Nó không giòn cứng và bị định hướng hẹp hòi như ý chí cá nhân thường là vậy.

146. When group will supersedes the individual it is not to negate that will, but use it.

146. Khi ý chí nhóm thay thế ý chí cá nhân, điều đó không nhằm phủ định ý chí ấy, mà nhằm sử dụng nó.

147. Every succeeding sphere envelopes (“swallows”) the preceding sphere and spheres.

147. Mỗi khối cầu kế tiếp bao bọc, tức “nuốt”, khối cầu hoặc các khối cầu đi trước.

When this fusion has taken place (at the third initiation) a [Page 141] great revelation unfolds itself, and for the first time the initiate senses and then contacts the universal will; from that moment the initiate says, “Father, not my will but Thine be done.”

Khi sự dung hợp này đã diễn ra, tại lần điểm đạo thứ ba, một [Trang 141] sự mặc khải lớn lao tự khai mở, và lần đầu tiên điểm đạo đồ cảm nhận rồi tiếp xúc với ý chí phổ quát; từ khoảnh khắc ấy, điểm đạo đồ nói: “Lạy Cha, không phải ý chí của con mà là ý chí của Cha được thực hiện.”

148. The “universal will” in this case is not the Will of the Universal Logos, but the Will of the Solar Logos, for the third initiation is first solar initiation.

148. “Ý chí phổ quát” trong trường hợp này không phải là Ý Chí của Thượng đế Vũ Trụ, mà là Ý Chí của Thái dương Thượng đế, vì lần điểm đạo thứ ba trước hết là cuộc điểm đạo thái dương.

149. The will of the monad (an aspect of the “universal will”) leads to complete self-abnegation.

149. Ý chí của chân thần, một phương diện của “ý chí phổ quát”, dẫn đến sự tự xả bỏ hoàn toàn.

Just a little of what that will includes may emerge as we study this seventh rule and some of the succeeding rules.

Chỉ một chút ít về những gì ý chí ấy bao hàm có thể hiện ra khi chúng ta nghiên cứu quy luật thứ bảy này và một vài quy luật kế tiếp.

150. It is interesting that we are studying the seventh rule; the number seven places us in rapport (however tenuous that rapport) with the seventh plane whereon the Logoic Will expresses itself—not only the Will of the Planetary Logos but of the Solar Logos as that will affects the cosmic physical plane.

150. Điều thú vị là chúng ta đang nghiên cứu quy luật thứ bảy; con số bảy đặt chúng ta trong sự giao cảm, dù giao cảm ấy mong manh đến đâu, với cõi thứ bảy, nơi Ý Chí của Thượng đế biểu lộ—không chỉ Ý Chí của Đức Hành Tinh Thượng đế mà cả Ý Chí của Thái dương Thượng đế khi ý chí ấy tác động đến cõi hồng trần vũ trụ.

Paragraph 12

Đoạn 12

3. I can find no words to express the nature of the third door. Let us, in default of a better term, call it the door of the monadic sense of essential duality.

3. Tôi không thể tìm thấy lời nào để diễn tả bản chất của cánh cửa thứ ba. Vì thiếu một thuật ngữ tốt hơn, chúng ta hãy gọi nó là cánh cửa của cảm thức chân thần về nhị nguyên thiết yếu.

151. When a statement like this is given it must mean that this third door is related to the “Technique of Duality” and to the type of awareness which can be achieved through its use. (cf. EP II 378-391)

151. Khi một phát biểu như thế được đưa ra, điều đó hẳn có nghĩa rằng cánh cửa thứ ba này liên hệ với “Kỹ Thuật Nhị Nguyên” và với loại nhận thức có thể đạt được qua việc sử dụng kỹ thuật ấy.

152. There is an essential and inescapable duality at the ROOT of all things, and it is known as the GREAT BREATH. It is only when we are monadically aware that we can begin to fathom the truth of this essential duality and then only in minutest measure.

152. Có một nhị nguyên thiết yếu và không thể tránh khỏi ở CĂN NGUYÊN của vạn vật, và nó được biết đến như ĐẠI HƠI THỞ. Chỉ khi chúng ta có nhận thức chân thần, chúng ta mới có thể bắt đầu thấu triệt chân lý của nhị nguyên thiết yếu này, và khi ấy cũng chỉ trong mức độ nhỏ bé nhất.

153. In an interpretation “closer to home”, monadic awareness contains an understanding of spirit and matter that is factual and not theoretical (as it is for those who have not penetrated into Shamballa).

153. Theo một cách diễn giải “gần gũi hơn”, nhận thức chân thần chứa đựng sự thấu hiểu về tinh thần và vật chất, một sự thấu hiểu thực chứng chứ không phải lý thuyết như đối với những người chưa thâm nhập vào Shamballa.

154. All dualities in cosmos are a reflection of the Spirit/Matter duality and it, itself, is a reflection of FUNDAMENTAL DUALITY of BE-NESS/BEING, or of NOTHING/Something.

154. Mọi nhị nguyên trong vũ trụ đều là phản ánh của nhị nguyên Tinh Thần/Vật Chất, và chính nhị nguyên này lại là phản ánh của NHỊ NGUYÊN NỀN TẢNG giữa TÍNH-HIỆN-HỮU/HIỆN-HỮU, hay giữa KHÔNG-GÌ/CÓ-GÌ.

Body and life, soul and personality, the Spiritual Triad and its expression, the Christ in incarnation—all these dualities have played their part.

Thể và sự sống, linh hồn và phàm ngã, Tam Nguyên Tinh Thần và biểu hiện của nó, Đức Christ trong sự nhập thể—tất cả những nhị nguyên này đều đã đóng vai trò của mình.

155. The initiate has worked his way through many dualities before coming to the possibility of passing through three “Doors” into Shamballic realization and participation.

155. Điểm đạo đồ đã đi qua nhiều nhị nguyên trước khi đến với khả năng đi qua ba “Cánh Cửa” vào sự chứng nghiệm và tham dự Shamballa.

156. Is it not interesting that the “Christ in incarnation” is considered the expression of the Spiritual Triad? This means that the soul-infused personality (for the Christ is symbolically the soul) is the expression of the Spiritual Triad.

156. Chẳng phải thật thú vị sao khi “Đức Christ trong sự nhập thể” được xem là biểu hiện của Tam Nguyên Tinh Thần? Điều này có nghĩa rằng phàm ngã được linh hồn thấm nhuần, vì Đức Christ tượng trưng cho linh hồn, là biểu hiện của Tam Nguyên Tinh Thần.

Man has passed from one expansion of consciousness to another. Now he comes to the final duality of spirit and matter, prior to their resolution into something to which the terms “isolated unity” and “universal synthesis” give only faint and inadequate clues.

Con người đã đi từ một mở rộng tâm thức này sang một mở rộng tâm thức khác. Giờ đây y đi đến nhị nguyên cuối cùng của tinh thần và vật chất, trước khi chúng được giải quyết vào một điều mà các thuật ngữ “Hợp Nhất Cô Lập” và “tổng hợp phổ quát” chỉ đưa ra những manh mối mờ nhạt và không đầy đủ.

157. The Tibetan has sometimes said that the term “isolated unity” is actually inadequate to describe the nature of the great experience to which it refers.

157. Chân sư Tây Tạng đôi khi đã nói rằng thuật ngữ “Hợp Nhất Cô Lập” thật ra không đủ để mô tả bản chất của kinh nghiệm lớn lao mà nó đề cập đến.

158. It is helpful, however, in considering the nature of “isolated unity” to equate it to the term “universal synthesis”. In this case, universality relates largely to the solar-systemic whole (with broader implications, of course). The fifth degree initiate stands in full awareness of the meaning of “isolated unity” and is beginning to become a solar-systemic being. Sanat Kumara, however, is a still greater example of One whose consciousness is characterized by isolated unity.

158. Tuy nhiên, khi xem xét bản chất của “Hợp Nhất Cô Lập”, sẽ hữu ích nếu đồng nhất nó với thuật ngữ “tổng hợp phổ quát”. Trong trường hợp này, tính phổ quát phần lớn liên hệ với toàn thể hệ mặt trời, dĩ nhiên với những hàm ý rộng hơn. Điểm đạo đồ cấp năm đứng trong nhận thức trọn vẹn về ý nghĩa của “Hợp Nhất Cô Lập” và đang bắt đầu trở thành một hữu thể thuộc hệ mặt trời. Tuy nhiên, Đức Sanat Kumara là một ví dụ còn lớn lao hơn về Đấng mà tâm thức được đặc trưng bởi Hợp Nhất Cô Lập.

159. The sign Aquarius is also useful in opening the door to the sense of “universal synthesis” and interestingly, it is a sign in which a man may take his final incarnation and, thus, presumably become a Master.

159. Dấu hiệu Bảo Bình cũng hữu ích trong việc mở cánh cửa dẫn đến cảm thức về “tổng hợp phổ quát”, và điều thú vị là đó là một dấu hiệu trong đó một người có thể nhận lần nhập thể cuối cùng của mình và, do đó, có lẽ trở thành một Chân sư.

To the development of this system of identification the initiate of the degree of Master of the Wisdom, and also (on a higher turn of the spiral) of the degree of the Christ, are focussing all Their efforts.

Điểm đạo đồ ở cấp độ Chân sư Minh Triết, và cũng, trên một vòng xoắn cao hơn, ở cấp độ của Đức Christ, đang tập trung mọi nỗ lực của Các Ngài vào sự phát triển của hệ thống đồng hoá với này.

160. All of our spiritual progress is part of a “system of identification” (of which the Christ is the foremost example—accessible to us.)

160. Toàn bộ tiến bộ tinh thần của chúng ta là một phần của “hệ thống đồng hoá với”, mà Đức Christ là ví dụ hàng đầu có thể tiếp cận được đối với chúng ta.

161. It is hard for us to fathom these achievements, but as the heart and heart in the head are stimulated, some grasp becomes more possible. Realizations pertaining to the heart in the head are in resonance with realizations produced earlier in the heart center.

161. Thật khó cho chúng ta thấu triệt những thành tựu này, nhưng khi tim và tim trong đầu được kích thích, một mức độ nắm bắt nào đó trở nên khả hữu hơn. Những chứng nghiệm liên quan đến tim trong đầu cộng hưởng với những chứng nghiệm đã được tạo ra trước đó trong trung tâm tim.

Up to the fourth initiation, the term “system of expansions” would seem illuminating; after that great initiation, the term “system of identification” would appear more appropriate.

Cho đến lần điểm đạo thứ tư, thuật ngữ “hệ thống các mở rộng” dường như soi sáng; sau cuộc điểm đạo lớn lao ấy, thuật ngữ “hệ thống đồng hoá với” có vẻ thích hợp hơn.

162. DK is attempting to discriminate between two systems of spiritual development: one of them (the first) relates to consciousness and the second to life.

162. Chân sư DK đang cố gắng phân biện giữa hai hệ thống phát triển tinh thần: một hệ thống, hệ thứ nhất, liên hệ với tâm thức và hệ thứ hai với sự sống.

163. There comes a time when one seeks the deepest possible interiority, and thus, reality. Simply expanding into greater and greater fields of awareness will not suffice. One must consciously become the things he seeks to know. Do we sense the difference?

163. Sẽ đến lúc người ta tìm kiếm tính nội tại sâu xa nhất có thể, và do đó là thực tại. Chỉ mở rộng vào những trường nhận thức ngày càng lớn hơn sẽ không đủ. Người ta phải trở thành một cách có ý thức những điều mình tìm cách biết. Chúng ta có cảm nhận được sự khác biệt không?

164. Expansions of consciousness will always be possible. The Planetary Logos is constantly expanding His consciousness and this is true for greater Beings still—such as the Solar Logos and various Cosmic Logoi of all grades.

164. Những mở rộng tâm thức sẽ luôn luôn có thể xảy ra. Đức Hành Tinh Thượng đế không ngừng mở rộng tâm thức của Ngài, và điều này cũng đúng đối với những Đấng còn lớn lao hơn—như Thái dương Thượng đế và các Thượng đế Vũ Trụ thuộc mọi cấp bậc.

165. Expanse however, will not suffice to reveal the “Mystery of Life”, and at a certain point in human evolution, it is the pursuit of this Mystery which becomes paramount.

165. Tuy nhiên, sự mở rộng sẽ không đủ để mặc khải “Huyền Nhiệm của Sự Sống”, và tại một điểm nào đó trong tiến hoá của nhân loại, chính việc truy cầu Huyền Nhiệm này trở thành điều tối quan trọng.

166. Probably each level of life has a parallel; analogously, a Planetary Logos or Solar Logos must also reach the point is its development when expansions must give way to identifications. We can know nothing about such matters except that, by analogy, they should exist. Our task is to become on intimate terms with life.

166. Có lẽ mỗi cấp độ của sự sống đều có một tương ứng song hành; theo phép tương đồng, một Hành Tinh Thượng đế hay Thái dương Thượng đế cũng phải đạt đến điểm trong sự phát triển của Ngài khi các mở rộng phải nhường chỗ cho các đồng hoá với. Chúng ta không thể biết gì về những vấn đề như vậy, ngoại trừ việc, theo tương đồng, chúng hẳn phải hiện hữu. Nhiệm vụ của chúng ta là trở nên thân mật với sự sống.

Paragraph 13

Đoạn 13

When the initiate has passed through the three doors, symbolically speaking, he then faces all life, all events, all pre-determinations, all wisdom, all activity and all that the future may hold of service and progress from the angle of the pure reason (infallible and immutable), of true spiritual will (completely identified with the purpose of the planetary Logos), and of the highest possible focussed relation.

Khi điểm đạo đồ đã đi qua ba cánh cửa, nói một cách biểu tượng, bấy giờ y đối diện với mọi sự sống, mọi biến cố, mọi tiền định, mọi minh triết, mọi hoạt động và tất cả những gì tương lai có thể chứa đựng về phụng sự và tiến bộ, từ góc độ của lý trí thuần tuý, không sai lầm và bất biến, của ý chí tinh thần chân thật, hoàn toàn đồng hoá với Thiên Ý của Hành Tinh Thượng đế, và của mối liên hệ tập trung cao nhất có thể.

167. We are discussing the three doors into Shamballa.

167. Chúng ta đang bàn về ba cánh cửa đi vào Shamballa.

168. All that life may bring and all that may be faced is approached from three perspectives:

168. Tất cả những gì sự sống có thể mang lại và tất cả những gì có thể phải đối diện đều được tiếp cận từ ba viễn cảnh:

a. From the angle of pure reason. This reason we are told is “infallible and immutable”. It is true revelation and unobscured by the reasoning mind.

a. Từ góc độ của lý trí thuần túy. Lý trí này, chúng ta được cho biết, là “không thể sai lầm và bất biến”. Nó là sự mặc khải đích thực và không bị che khuất bởi thể trí suy luận.

b. From the angle of the spiritual will. This will is completely identified with the purpose of the Planetary Logos. When we wonder whether we are functioning under the inspiration of the spiritual will, we must ask the degree of our understanding of the purpose of the Planetary Logos. If our understanding is minimal, our expression of the true spiritual will is also, to a degree, minimal.

b. Từ góc độ của Ý Chí tinh thần. Ý Chí này hoàn toàn đồng hóa với mục đích của Đức Hành Tinh Thượng Đế. Khi chúng ta tự hỏi liệu mình có đang hoạt động dưới cảm hứng của Ý Chí tinh thần hay không, chúng ta phải tự hỏi mức độ thấu hiểu của mình về mục đích của Đức Hành Tinh Thượng Đế. Nếu sự thấu hiểu của chúng ta là tối thiểu, thì sự biểu lộ Ý Chí tinh thần đích thực của chúng ta cũng, ở một mức độ nào đó, là tối thiểu.

c. From the angle of the “highest possible focussed relation”. That highest relation is the relation between Spirit and Matter (as best we can conceive it—and our first meaningful conception must be microcosmic.)

c. Từ góc độ của “mối liên hệ tập trung cao nhất có thể”. Mối liên hệ cao nhất ấy là mối liên hệ giữa Tinh thần và Vật chất, theo mức tốt nhất mà chúng ta có thể quan niệm được — và quan niệm có ý nghĩa đầu tiên của chúng ta phải mang tính tiểu thiên địa.

The mystery of relationship becomes revealed to him.

Bí nhiệm của mối liên hệ trở nên được mặc khải cho y.

169. Since it is a mystery we can hardly discuss it in the terms of the concrete mind. Might we say that in the revelation of the “mystery of relationship” the relations of the many in the One become somewhat disclosed?

169. Vì đó là một bí nhiệm, chúng ta khó có thể bàn luận về nó bằng những thuật ngữ của trí cụ thể. Có thể chăng chúng ta nói rằng trong sự mặc khải về “bí nhiệm của mối liên hệ”, các mối liên hệ của cái nhiều trong Đấng Duy Nhất phần nào được hé lộ?

170. This mystery must also be related to the mystery concealed in the second letter of the Sacred Word—AUM. In the “U”, that which is apparently separated, and subject to polarity must be joined below—as the configuration of the letter shows. We have a manifested unification of duality.

170. Bí nhiệm này cũng phải được liên hệ với bí nhiệm ẩn giấu trong chữ cái thứ hai của Linh từ Thiêng liêng — AUM. Trong chữ “U”, cái dường như bị tách rời và chịu sự phân cực phải được nối kết ở bên dưới — như hình dạng của chữ cái cho thấy. Chúng ta có một sự hợp nhất biểu hiện của nhị nguyên.

Then the entire scheme of evolution and of the intention of the One in Whom he lives and moves and has his being becomes clear to him; he has no more to learn within this planetary scheme;

Bấy giờ toàn bộ hệ hành tinh của tiến hóa và ý định của Đấng mà trong Ngài y sống, vận động và hiện tồn, trở nên rõ ràng đối với y; y không còn điều gì phải học trong hệ hành tinh này nữa;

171. The “One in Whom we live and move and have our being” is, from this perspective, the Planetary Logos.

171. “Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện tồn”, từ viễn cảnh này, là Đức Hành Tinh Thượng Đế.

172. We can see that this must be a very advanced stage of evolution, for in our planetary scheme there are many globes and chains, each with their own types of knowledge.

172. Chúng ta có thể thấy rằng đây hẳn phải là một giai đoạn tiến hóa rất cao, vì trong hệ hành tinh của chúng ta có nhiều bầu hành tinh và nhiều dãy, mỗi loại đều có những loại tri thức riêng.

173. One is also given pause to reflect about ‘globe Shamballas’, ‘chain Shamballas’ and ‘scheme Shamballas’. Shamballa, as we usually consider it, relates to our fourth globe (on the fourth chain) to which Sanat Kumara ‘came’, ages ago, establishing this highest planetary center.

173. Người ta cũng phải dừng lại để suy ngẫm về ‘các Shamballa của bầu hành tinh’, ‘các Shamballa của dãy’ và ‘các Shamballa của hệ hành tinh’. Shamballa, như chúng ta thường xem xét, liên hệ với bầu hành tinh thứ tư của chúng ta, trên dãy thứ tư, nơi Đức Sanat Kumara đã ‘đến’ từ nhiều thời đại trước, thiết lập trung tâm hành tinh cao nhất này.

he has become universal in his attitude to all forms of life, and is also identified with the “isolated unity” of Sanat Kumara.

y đã trở nên phổ quát trong thái độ của mình đối với mọi hình tướng sự sống, và cũng đồng hóa với “Hợp Nhất Cô Lập” của Đức Sanat Kumara.

174. The high initiate who has passed through the doors into Shamballa has achieved

174. Vị điểm đạo đồ cao cấp đã đi qua các cửa vào Shamballa đã đạt được

a. Universality “in his attitude to all forms of life”. He sees them, therefore, “under the aspect of Eternity” and in relation to Wholeness.

a. Tính phổ quát “trong thái độ của y đối với mọi hình tướng sự sống”. Do đó, y thấy chúng “dưới phương diện của vĩnh cửu” và trong mối liên hệ với Tính Toàn Thể.

b. The “isolated unity” of Sanat Kumara. Interestingly, this statement suggests that Sanat Kumara is the greatest example upon our planet on one living in a state of isolated unity.

b. “Hợp Nhất Cô Lập” của Đức Sanat Kumara. Điều thú vị là phát biểu này gợi ý rằng Đức Sanat Kumara là tấm gương vĩ đại nhất trên hành tinh chúng ta về một Đấng sống trong trạng thái Hợp Nhất Cô Lập.

c. In short, such an initiate having passed through the three doors is beginning truly to live more deeply and in far larger terms than heretofore.

c. Tóm lại, một điểm đạo đồ như thế, sau khi đi qua ba cửa, đang bắt đầu thật sự sống sâu xa hơn và trong những phạm vi rộng lớn hơn nhiều so với trước đây.

Few of the great Lives Who form the inner group of the Council Chamber at Shamballa are now of [Page 142] greater advancement than he;

Ít trong số các Sự Sống vĩ đại cấu thành nhóm bên trong của Phòng Hội Đồng tại Shamballa hiện nay có mức tiến bộ [Trang 142] cao hơn y;

175. The “he” in this context is the advancing initiate who has passed through the three doors into Shamballa.

175. “Y” trong ngữ cảnh này là điểm đạo đồ đang tiến bước, người đã đi qua ba cửa vào Shamballa.

the “Supernal Three,” the “Radiant Seven,” the “Lives embodying the forty-nine Fires,” the “Buddhas of Activity,” and certain “Eternal Spirits” from such centres of dynamic spiritual life as Sirius, or from the constellation which at any one time forms a triangle with our Sun and Sirius” and a Representative from Venus are of greater—far greater—advancement.

“Ba Đấng Thiên Thượng”, “Bảy Đấng Rạng Ngời”, “Các Sự Sống hiện thân cho bốn mươi chín Lửa”, “Các Đức Phật Hoạt Động”, và một số “Tinh Thần Vĩnh Cửu” từ những trung tâm của sự sống tinh thần năng động như Thiên Lang, hoặc từ chòm sao mà vào bất kỳ thời điểm nào tạo thành một tam giác với Mặt Trời của chúng ta và Thiên Lang”, cùng một Đại Diện từ Sao Kim, đều có mức tiến bộ cao hơn — cao hơn rất nhiều.

176. This is the foremost tabulation in our Teaching of those who are ‘residents’ of Shamballa.

176. Đây là bảng liệt kê quan trọng nhất trong Giáo Huấn của chúng ta về những vị ‘cư trú’ tại Shamballa.

177. In this tabulation the ‘Buddhas of Activity” are distinguished from the “Supernal Three”. It can be questioned whether the “Supernal Three” are the three “Esoteric Kumaras”. We must also find place for representatives of the Lords of Karma supervising karmic developments on our planet.

177. Trong bảng liệt kê này, ‘Các Đức Phật Hoạt Động’ được phân biệt với “Ba Đấng Thiên Thượng”. Có thể đặt câu hỏi liệu “Ba Đấng Thiên Thượng” có phải là ba “Kumara Nội Môn” hay không. Chúng ta cũng phải tìm chỗ cho các đại diện của các Chúa Tể Nghiệp Quả đang giám sát những diễn tiến nghiệp quả trên hành tinh chúng ta.

178. The “Radiant Seven” are the “Seven Spirits before the Throne” (Ray Lords) considered in terms of our globe. There are obviously chain correspondences and scheme correspondences, and the lower correspondences may be considered emanations of the higher. There is no way to understand the higher Buddhas unless the theory of emanation is understood.

178. “Bảy Đấng Rạng Ngời” là “Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai”, tức các Chúa Tể Cung, được xem xét theo phương diện bầu hành tinh của chúng ta. Hiển nhiên có các tương ứng ở cấp dãy và các tương ứng ở cấp hệ hành tinh, và các tương ứng thấp hơn có thể được xem là những xuất lộ của các tương ứng cao hơn. Không có cách nào thấu hiểu các Đức Phật cao hơn nếu lý thuyết về xuất lộ không được thấu hiểu.

179. The “Eternal Spirits” from such centers as Sirius may be Karmic Lords, or may (we do not know) have other functions.

179. Các “Tinh Thần Vĩnh Cửu” từ những trung tâm như Thiên Lang có thể là các Chúa Tể Nghiệp Quả, hoặc có thể, chúng ta không biết, có những chức năng khác.

180. A potent occult hint is here given: There is a constellation which at any one times forms a triangle with our Sun and Sirius. Two constellations most easily related to our Sun and Sirius are Gemini (a ray two constellation—at this time) and Libra (at this time a primarily ray three constellation). Both however have relations to both the second and third rays. With Sirius and our Sun, Sol, these two constellations transmit the energy which brings about the fusion of the dualities.

180. Ở đây có một gợi ý huyền bí mạnh mẽ được đưa ra: Có một chòm sao mà vào bất kỳ thời điểm nào cũng tạo thành một tam giác với Mặt Trời của chúng ta và Thiên Lang. Hai chòm sao dễ liên hệ nhất với Mặt Trời của chúng ta và Thiên Lang là Song Tử, một chòm sao cung hai vào thời điểm này, và Thiên Bình, vào thời điểm này chủ yếu là một chòm sao cung ba. Tuy nhiên, cả hai đều có liên hệ với cả cung hai và cung ba. Cùng với Thiên Lang và Mặt Trời của chúng ta, Sol, hai chòm sao này truyền dẫn năng lượng đem lại sự dung hợp của các nhị nguyên.

181. May it be that the constellation ruling the sign of the zodiac through which our Sun, itself, is passing, is that particular constellation during any particular period of time? Just as the Earth is related every 2160 years to a particular zodiacal constellation (due to the precession of the equinoxes), and just as the Earth is also related to a particular zodiacal constellation for a 25,000 year period probably related to the Great Platonic Year (of approximately 25,000 earth years), so the Sun, as well (in its journey around the Pleiades of 250,000 years) may periodically come into relation with different ones of the zodiacal constellations. The astronomy of such a cycle is by no means worked out satisfactorily, and so the whole matter must remain for the present speculative. The 250,000 cycle of our Sun in relation to the Pleiades is given in the Teaching.

181. Có thể chăng chòm sao cai quản dấu hiệu hoàng đạo mà chính Mặt Trời của chúng ta đang đi qua là chòm sao đặc thù ấy trong bất kỳ giai đoạn thời gian đặc thù nào? Cũng như Trái Đất liên hệ mỗi 2160 năm với một chòm sao hoàng đạo đặc thù do sự tiến động của các điểm phân, và cũng như Trái Đất cũng liên hệ với một chòm sao hoàng đạo đặc thù trong một chu kỳ 25.000 năm, có lẽ liên hệ với Đại Niên Plato khoảng 25.000 năm Trái Đất, thì Mặt Trời cũng vậy, trong hành trình 250.000 năm quanh Thất Nữ, có thể định kỳ đi vào mối liên hệ với những chòm sao hoàng đạo khác nhau. Thiên văn học của một chu kỳ như thế chưa hề được giải quyết một cách thỏa đáng, và vì vậy toàn bộ vấn đề hiện nay phải vẫn còn mang tính suy đoán. Chu kỳ 250.000 năm của Mặt Trời chúng ta trong mối liên hệ với Thất Nữ được đưa ra trong Giáo Huấn.

182. But because these constellational representatives in Shamballa are focussed in the earthly Shamballa, the constellation in question probably has something to do with the Earth and its cycles—either the lesser precessional cycle or the greater Platonic Year.

182. Nhưng bởi vì các đại diện chòm sao này trong Shamballa được tập trung trong Shamballa trần thế, nên chòm sao đang được nói đến có lẽ có liên hệ nào đó với Trái Đất và các chu kỳ của nó — hoặc chu kỳ tiến động nhỏ hơn, hoặc Đại Niên Plato lớn hơn.

183. The important thing to realize is that the great Beings in our solar system and within our local cosmos have their representatives in Shamballa. A great Law in Shamballa is the Law of Assembly, and it is the expressions of these great energies which are assembled for the purposes of the evolution of our planet.

183. Điều quan trọng cần nhận ra là các Đấng Cao Cả trong hệ mặt trời của chúng ta và trong vũ trụ địa phương của chúng ta có các đại diện của các Ngài trong Shamballa. Một Định luật lớn trong Shamballa là Định luật Tập Hợp, và chính các biểu lộ của những năng lượng lớn lao này được tập hợp vì các mục đích tiến hóa của hành tinh chúng ta.

Otherwise, all initiates of the sixth degree, and a few of the Masters Who have undergone specialised training because They are upon the first Ray of Will or Power (the ray conditioning Shamballa itself), form part of the Great Council.

Ngoài ra, tất cả các điểm đạo đồ bậc sáu, và một số Chân sư đã trải qua sự huấn luyện chuyên biệt vì Các Ngài thuộc cung một của Ý Chí hay Quyền Lực, là cung tác động lên chính Shamballa, đều tạo thành một phần của Đại Hội Đồng.

184. The innermost sanctum of the Great Council consists of Sanat Kumara and the three Buddhas of Activity.

184. Thánh điện nội mật nhất của Đại Hội Đồng gồm Đức Sanat Kumara và ba Đức Phật Hoạt Động.

185. Here we learn that the Great Council is also to be considered more broadly, with all members of Shamballa participating.

185. Ở đây chúng ta biết rằng Đại Hội Đồng cũng phải được xem xét rộng hơn, với tất cả các thành viên của Shamballa cùng tham dự.

186. We are speaking of the relative status of the initiate who has penetrated the three doors. Sixth degree initiates and some Masters upon the first ray are still in advance of him as are, of course, the still more supernal Lives gathered closer to Sanat Kumara.

186. Chúng ta đang nói về địa vị tương đối của điểm đạo đồ đã xuyên qua ba cửa. Các điểm đạo đồ bậc sáu và một số Chân sư thuộc cung một vẫn tiến xa hơn y, cũng như, dĩ nhiên, các Sự Sống còn thiên thượng hơn được quy tụ gần Đức Sanat Kumara hơn.

187. It is clear that not all Masters are members of Shamballa, but only those who have undergone specialized training and are upon the first ray.

187. Rõ ràng không phải tất cả các Chân sư đều là thành viên của Shamballa, mà chỉ những vị đã trải qua sự huấn luyện chuyên biệt và thuộc cung một.

188. This entire paragraph has to be read very carefully as it is easy to make mistakes in understanding.

188. Toàn bộ đoạn văn này phải được đọc rất cẩn thận vì rất dễ mắc sai lầm trong sự thấu hiểu.

Many Masters and Chohans, however, after serving upon the planet in various capacities, working with the Law of Evolution, pass out of our planetary life altogether.

Tuy nhiên, nhiều Chân sư và Chohan, sau khi phụng sự trên hành tinh trong nhiều khả năng khác nhau, làm việc với Định luật Tiến Hóa, hoàn toàn ra khỏi sự sống hành tinh của chúng ta.

189. It is a truism in occultism that at Master, after serving our planet in various capacities, may pass out of our planetary life altogether (unless retained for the purposes of Earth Service).

189. Trong huyền bí học, đó là một chân lý hiển nhiên rằng một Chân sư, sau khi phụng sự hành tinh chúng ta trong nhiều khả năng khác nhau, có thể hoàn toàn ra khỏi sự sống hành tinh của chúng ta, trừ khi được giữ lại vì các mục đích Phụng Sự Trái Đất.

190. Here we learn that this is also true of Chohans. Apparently there are Chohans, having chosen (or been chosen for) the Path of Earth Service who do not remain with the planet for their continued development through other and higher initiations, but pass beyond our planetary life.

190. Ở đây chúng ta biết rằng điều này cũng đúng đối với các Chohan. Dường như có những Chohan, sau khi đã chọn, hoặc được chọn cho, Con Đường Phụng Sự Trái Đất, lại không ở lại với hành tinh để tiếp tục phát triển qua những điểm đạo khác và cao hơn, mà vượt ra ngoài sự sống hành tinh của chúng ta.

191. Other Chohans, it would seem, remain with our planet and perhaps take the eighth and ninth initiations on our planet (which is said to be a feat of profound difficulty). We should remember that the term “Chohan” refers also to initiates of the seventh degree.

191. Dường như những Chohan khác vẫn ở lại với hành tinh chúng ta và có lẽ nhận lần điểm đạo thứ tám và thứ chín trên hành tinh chúng ta, điều được nói là một kỳ công có độ khó sâu xa. Chúng ta nên nhớ rằng thuật ngữ “Chohan” cũng chỉ các điểm đạo đồ bậc bảy.

A Master wields the law in the three worlds, whilst a Chohan of the sixth initiation wields the law in the chain on all levels; a Chohan of the seventh initiation wields the law in the solar system. (IHS 90)

Một Chân sư vận dụng định luật trong ba cõi giới, trong khi một Chohan của lần điểm đạo thứ sáu vận dụng định luật trong dãy trên mọi cấp độ; một Chohan của lần điểm đạo thứ bảy vận dụng định luật trong hệ mặt trời. (IHS 90)

192. There is, however, a possibility that the term “Chohan” may be generic and may refer to initiates of the eighth and ninth degree as well. There seems, however, to be no indication in the texts whether or not this may be so. We are, however, told of “Chohans of high degree” (TCF 1085) and we wonder, how high.

192. Tuy nhiên, có khả năng thuật ngữ “Chohan” có thể mang tính tổng quát và cũng có thể chỉ các điểm đạo đồ bậc tám và bậc chín. Tuy nhiên, dường như không có chỉ dẫn nào trong các bản văn cho biết điều này có thể đúng hay không. Tuy vậy, chúng ta được cho biết về “các Chohan bậc cao” (TCF 1085), và chúng ta tự hỏi là cao đến mức nào.

Paragraph 14

Đoạn 14

All the above information concerning the Lives which are far in advance of the disciples of the world contains little of moment for you, except in so far as it falls into a diagrammatic pattern of our planetary life and purpose, and enabling you, therefore, to get a faint glimpse of a synthetic theme and purpose to which all evolving lives must and will eventually conform.

Tất cả thông tin trên đây liên quan đến các Sự Sống vượt xa các đệ tử của thế gian không chứa đựng nhiều điều quan trọng đối với các bạn, ngoại trừ trong chừng mực nó rơi vào một mô hình sơ đồ của sự sống và mục đích hành tinh của chúng ta, và do đó giúp các bạn có được một thoáng nhìn mờ nhạt về một chủ đề và mục đích tổng hợp mà tất cả các sự sống đang tiến hóa rốt cuộc phải và sẽ tuân theo.

193. Master DK is inspiring in us a sense of synthetic vision. The information, though fascinating, is not of immediately practical utility to us, but it helps us understand more clearly the “diagrammatic pattern of our planetary life and purpose”.

193. Chân sư DK đang khơi dậy trong chúng ta một ý thức về tầm nhìn tổng hợp. Thông tin này, dù hấp dẫn, không có ích lợi thực tiễn tức thời đối với chúng ta, nhưng nó giúp chúng ta thấu hiểu rõ hơn “mô hình sơ đồ của sự sống và mục đích hành tinh của chúng ta”.

194. The attainment of synthetic understanding is of paramount importance for the advanced disciple and initiate.

194. Việc đạt được sự thấu hiểu tổng hợp có tầm quan trọng tối thượng đối với đệ tử và điểm đạo đồ tiến hóa cao.

195. Through the vision presented by Master DK some greater sense of the enveloping synthesis is to be gained, and this is certainly of esoteric value, altering the quality, scope and depth of our consciousness.

195. Qua tầm nhìn do Chân sư DK trình bày, một ý thức lớn hơn nào đó về sự tổng hợp bao trùm phải được đạt tới, và điều này chắc chắn có giá trị huyền bí, làm biến đổi phẩm tính, phạm vi và chiều sâu của tâm thức chúng ta.

Dear Brothers and Sisters,

Các Huynh Đệ và Tỷ Muội thân mến,

We are into high matters are we not? While they are “over our heads”, the heart and heart in the head may fathom something of real usefulness to the universalization of our consciousness.

Chúng ta đang đi vào những vấn đề cao siêu, phải không? Dù chúng “vượt quá đầu chúng ta”, trái tim và trái tim trong đầu vẫn có thể dò thấu điều gì đó thật sự hữu ích cho sự phổ quát hóa tâm thức của chúng ta.

In Light, Love, and Power

Trong Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng

Michael (and Stefan)

Michael và Stefan

Part II of V

Phần II trong V

Focus for the Third Month of Study on Rule(s) VII

Trọng tâm cho tháng học thứ ba về Quy luật VII

2. For the third month we will focus upon the second section of Rule VII for Disciples and Initiates (from March 26th to April 24th 2005).

2. Trong tháng thứ ba, chúng ta sẽ tập trung vào phần thứ hai của Quy luật VII dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ, từ ngày 26 tháng 3 đến ngày 24 tháng 4 năm 2005.

We might choose as theme for our meditation

Chúng ta có thể chọn làm chủ đề cho tham thiền của mình

a. Either Rule VII for Disciples and Initiates:

a. Hoặc Quy luật VII dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ:

“Rule VII for Disciples and Initiates: Let the group life emit the Word of invocation and thus evoke response within those distant Ashrams where move the Chohans of the race of men. They are no longer men as are the Masters, but, having passed beyond that lesser stage, have linked Themselves with the Great Council in the highest Secret Place. Let the group sound a dual chord, reverberating in the halls where move the Masters but finding pause and prolongation within those radiant halls where move the ‘Lights which carry out the Will of God’.” (RI, p. 136)

“Quy luật VII dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ: Hãy để sự sống nhóm phát ra Linh từ khẩn cầu và nhờ đó gợi lên đáp ứng trong những Ashram xa xôi nơi các Chohan của nhân loại đang vận động. Các Ngài không còn là con người như các Chân sư, mà, sau khi đã vượt qua giai đoạn thấp hơn ấy, đã liên kết Chính Mình với Đại Hội Đồng trong Nơi Bí Mật cao nhất. Hãy để nhóm xướng một hợp âm kép, vang dội trong các phòng nơi các Chân sư đang vận động, nhưng tìm thấy sự dừng lại và kéo dài trong những phòng rạng ngời nơi các ‘Ánh Sáng thi hành Ý Chí của Thượng Đế’ đang vận động.” (RI, tr. 136)

b. Or sub-themes, DK is referring to in His commentary to the second section o the Rule, such as (RI, p. 136 middle to p. 142 middle):

b. Hoặc các chủ đề phụ mà Chân sư DK đang đề cập trong phần bình giảng của Ngài về phần thứ hai của Quy luật, như (RI, tr. 136 giữa đến tr. 142 giữa):

i. In Rule VII for Applicants “the applicant (or young disciple) is addressed as an individual and is told to give forth “those sounds” which will be heard by the Master in His Ashram—for that is the true significance of the words.” (cf. RI, p. 137)

i. Trong Quy luật VII dành cho Ứng viên, “ứng viên, hay đệ tử trẻ, được ngỏ lời như một cá nhân và được bảo phải phát ra ‘những âm thanh ấy’, vốn sẽ được Chân sư nghe thấy trong Ashram của Ngài — vì đó là thâm nghĩa đích thực của các lời ấy.” (xem RI, tr. 137)

ii. “The initiate functions in a group (always in a group) and has developed or is rapidly developing group consciousness; in unison with his group and as an integral conscious part of it, the Word must be enunciated; this is not a medley of sounds, but is one clear Word of invocation.” (cf. RI, p. 137)

ii. “Điểm đạo đồ hoạt động trong một nhóm, luôn luôn trong một nhóm, và đã phát triển hoặc đang nhanh chóng phát triển tâm thức nhóm; trong sự đồng thanh với nhóm của mình và như một phần hữu thức không thể tách rời của nhóm ấy, Linh từ phải được xướng lên; đây không phải là một mớ âm thanh pha tạp, mà là một Linh từ khẩn cầu rõ ràng duy nhất.” (xem RI, tr. 137)

iii. “The disciple is occupied in resolving the many sounds into the Word; when he has done this, his individual approach to reality terminates, and he begins to act with his group where all activity is concerned.” (cf. RI, p. 137)

iii. “Đệ tử bận rộn trong việc quy giải nhiều âm thanh thành Linh từ; khi y đã làm được điều này, cách tiếp cận cá nhân của y đối với thực tại chấm dứt, và y bắt đầu hành động cùng với nhóm của mình trong mọi hoạt động.” (xem RI, tr. 137)

iv. “In the past, the emphasis has been on what the individual initiate had to do in order to fit himself to take initiation, and so become a Master of the Wisdom and a member of the planetary Hierarchy. In the coming new cycle the emphasis will be upon group work and activity, upon group initiation and group approach to the Center of Life.” (cf. RI, p. 137)

iv. “Trong quá khứ, điểm nhấn đặt vào những gì điểm đạo đồ cá nhân phải làm để tự làm cho mình thích hợp nhận điểm đạo, và nhờ đó trở thành một Chân sư Minh Triết và một thành viên của Thánh Đoàn hành tinh. Trong chu kỳ mới sắp đến, điểm nhấn sẽ đặt vào công việc và hoạt động nhóm, vào điểm đạo nhóm và cách tiếp cận nhóm đến Trung Tâm Sự Sống.” (xem RI, tr. 137)

v. The fact that the future emphasis will be on group work and activity, upon group initiation and group approach to the Center of Life “should also provide a steady inducement to thought which will make the initiate what he ought to be, because his conscious mind is free for group functioning. This is a concept which must be increasingly cultivated; ‘As a man thinketh in his heart, so he is.’” (cf. RI, p. 137)

v. Sự thật rằng điểm nhấn trong tương lai sẽ đặt vào công việc và hoạt động nhóm, vào điểm đạo nhóm và cách tiếp cận nhóm đến Trung Tâm Sự Sống “cũng nên đem lại một sự thúc đẩy ổn định cho tư tưởng, khiến điểm đạo đồ trở thành điều y phải là, bởi vì thể trí hữu thức của y được tự do để hoạt động trong nhóm. Đây là một quan niệm phải được vun trồng ngày càng nhiều; ‘Vì người ta nghĩ trong lòng thế nào, y là như thế.’” (xem RI, tr. 137)

vi. For the disciple “the lower mind should be the organ of heart expression and be as unconscious in its functioning as is the rhythm of the heart itself—the physical heart. The higher mind is intended to become increasingly the field of the initiate’s effort, and hence the constant need for him to build the antahkarana.” (cf. RI, p. 137)

vi. Đối với đệ tử, “hạ trí nên là cơ quan biểu lộ của trái tim và vô thức trong chức năng của nó như chính nhịp điệu của trái tim — trái tim hồng trần. Thượng trí được dự định ngày càng trở thành trường nỗ lực của điểm đạo đồ, và do đó có nhu cầu thường xuyên để y xây dựng antahkarana.” (xem RI, tr. 137)

vii. Rule VII for D+I is dealing with the work to be done by a group of pledged disciples and initiates as they are learning together to make an approach to Shamballa (involving the Will element). (cf. RI, p. 137-138)

vii. Quy luật VII dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ đề cập đến công việc cần được thực hiện bởi một nhóm các đệ tử đã cam kết và các điểm đạo đồ khi họ cùng nhau học cách tiếp cận Shamballa, liên quan đến nguyên tố Ý Chí. (xem RI, tr. 137-138)

viii. Approach to Shamballa “is as much a goal of the Hierarchy as approach to the Hierarchy is the goal of advanced humanity.” (cf. RI, p. 138)

viii. Cách tiếp cận Shamballa “cũng là mục tiêu của Thánh Đoàn, y như cách tiếp cận Thánh Đoàn là mục tiêu của nhân loại tiến hóa cao.” (xem RI, tr. 138)

ix. Rule VII for D+I concerns the interrelation of great centres of force. “This is a point which esoteric students should attempt to grasp for it completes the planetary chain of Hierarchy and throws a light upon the Way of the Higher Evolution.” (cf. RI, p. 138)

ix. Quy luật VII dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ liên quan đến mối tương quan của các trung tâm mãnh lực vĩ đại. “Đây là một điểm mà các đạo sinh nội môn nên cố gắng nắm bắt, vì nó hoàn tất chuỗi liên kết hành tinh của Thánh Đoàn và soi sáng Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.” (xem RI, tr. 138)

x. “Great movements and progressions have always taken place upon the subjective side of life; it is these subjective activities which have made it hard for disciples to grasp the truth and arrive at some true realisation of the subjective situation which ever exists between the Hierarchy and Shamballa.” (cf. RI, p. 138)

x. “Những chuyển động và tiến trình lớn lao luôn luôn diễn ra ở phía chủ quan của sự sống; chính các hoạt động chủ quan này đã khiến các đệ tử khó nắm bắt chân lý và đạt tới một sự chứng nghiệm đích thực nào đó về tình trạng chủ quan luôn tồn tại giữa Thánh Đoàn và Shamballa.” (xem RI, tr. 138)

xi. “The objective of all training given to the disciple is to shift his conscious awareness from the point where he is to levels which are higher than those in the three worlds of definitely human evolution; the intention is to teach him to function on those planes of conscious contact which are as yet so subjective that he only accepts them as existent in theory.” (cf. RI, p. 138)

xi. “Mục tiêu của mọi huấn luyện được trao cho đệ tử là chuyển dời nhận thức hữu thức của y từ điểm y đang đứng đến các cấp độ cao hơn những cấp độ trong ba cõi giới của tiến hóa nhân loại rõ rệt; ý định là dạy y hoạt động trên những cõi của tiếp xúc hữu thức vốn cho đến nay còn chủ quan đến mức y chỉ chấp nhận chúng như đang tồn tại về mặt lý thuyết.” (xem RI, tr. 138)

xii. The trained initiate knows that the higher planes of consciousness “have to become his natural habitat, and that eventually he has to relegate the ordinary and normal human experience to the three worlds of daily expression. These become eventually the worlds that exist below the threshold of consciousness; they are relegated to the realm of the subconscious—recoverable consciously, if necessary for right service of humanity, but as much below the threshold of consciousness as are the ordinary emotional reactions of the average man.” (cf. RI, p. 138)

xii. Điểm đạo đồ đã được huấn luyện biết rằng các cõi tâm thức cao hơn “phải trở thành nơi cư trú tự nhiên của y, và rốt cuộc y phải đẩy kinh nghiệm nhân loại thông thường và bình thường xuống ba cõi giới của biểu lộ hằng ngày. Rốt cuộc, chúng trở thành những thế giới tồn tại bên dưới ngưỡng tâm thức; chúng được đưa xuống lĩnh vực tiềm thức — có thể được phục hồi một cách hữu thức nếu cần thiết cho việc phụng sự đúng đắn nhân loại, nhưng vẫn ở bên dưới ngưỡng tâm thức như những phản ứng cảm xúc thông thường của con người trung bình.” (xem RI, tr. 138)

xiii. “It should be borne in mind that the greater part of the emotional life of the disciple must become increasingly subconscious, just as the physical plane life of the normal, healthy human being is entirely automatic and thus subconscious.” (cf. RI, p. 138)

xiii. “Cần ghi nhớ rằng phần lớn đời sống cảm xúc của đệ tử phải ngày càng trở nên tiềm thức, cũng như đời sống trên cõi hồng trần của con người bình thường, khỏe mạnh là hoàn toàn tự động và do đó thuộc tiềm thức.” (xem RI, tr. 138)

xiv. “When the disciple has striven to expand his consciousness, when he has learnt to stabilise his consciousness in the Spiritual Triad, then he becomes part of a great and constant hierarchical effort which strives upwards towards the ‘Place of Clear Electric Light’.” (cf. RI, p. 138)

xiv. “Khi đệ tử đã nỗ lực mở rộng tâm thức của mình, khi y đã học cách ổn định tâm thức của mình trong Tam Nguyên Tinh Thần, bấy giờ y trở thành một phần của một nỗ lực Thánh Đoàn lớn lao và liên tục, vươn lên hướng tới ‘Nơi của Ánh Sáng Điện Quang Trong Suốt’.” (xem RI, tr. 138)

xv. “The clear cold light of the reason is the first key to the first door” to Shamballa. (cf. RI, p. 138)

xv. “Ánh sáng trong trẻo, lạnh lẽo của lý trí là chìa khóa đầu tiên mở cánh cửa thứ nhất” vào Shamballa. (xem RI, tr. 138)

xvi. There are three doors into Shamballa, speaking figuratively:

xvi. Nói theo nghĩa biểu tượng, có ba cửa vào Shamballa:

1. The door of the reason, of pure perception of truth.

1. Cánh cửa của lý trí, của sự nhận biết thuần túy về chân lý.

2. The door of the will.

2. Cánh cửa của Ý Chí.

3. The door of the monadic sense of essential duality. (cf. RI, p. 139-141)

3. Cánh cửa của ý thức chân thần về nhị nguyên cốt yếu. (xem RI, tr. 139-141)

xvii. The clue to the first door, the door of reason, is given by the Christ when he said ‘I am the Way, the Truth and the Life.’ (cf. RI, p. 139)

xvii. Manh mối của cánh cửa thứ nhất, cánh cửa của lý trí, được Đức Christ trao khi Ngài nói: ‘Ta là Đường Đạo, Chân Lý và Sự Sống.’ (xem RI, tr. 139)

xviii. “Of that Way we know much,” … “of that Truth, we know (as aspirants) relatively very little,” … and “of that Life, we know nothing whatsoever.” (cf. RI, p. 139-140)

xviii. “Về Đường Đạo ấy, chúng ta biết nhiều,” … “về Chân Lý ấy, chúng ta, với tư cách những người chí nguyện, biết tương đối rất ít,” … và “về Sự Sống ấy, chúng ta hoàn toàn không biết gì.” (xem RI, tr. 139-140)

xix. “Of that Way we know much, because upon the Way a vast body of teaching has been given, and that teaching, if followed, brings a man into the Hierarchy. He then becomes a factual part of the hierarchical membership.” (cf. RI, p. 139)

xix. “Về Đường Đạo ấy, chúng ta biết nhiều, bởi vì trên Đường Đạo, một khối lượng giáo huấn rộng lớn đã được ban ra, và giáo huấn ấy, nếu được noi theo, sẽ đưa con người vào Thánh Đoàn. Khi ấy y trở thành một phần thực sự của tư cách thành viên Thánh Đoàn.” (xem RI, tr. 139)

xx. “Truth—as we understand it during the early treading of the Path of Discipleship—is concerned with great verities which are (from the insight of the Enlightened Ones) only the a b c of life. These truths are:

xx. “Chân lý — như chúng ta thấu hiểu trong những bước đầu đi trên Con Đường Đệ Tử — liên quan đến những chân lý lớn lao vốn, theo tuệ giác của các Đấng Giác Ngộ, chỉ là bảng chữ cái sơ đẳng của sự sống. Những chân lý này là:

1. The manifestation of divinity on the physical plane.

1. Sự biểu hiện của thiên tính trên cõi hồng trần.

2. The doctrine of Avatars. This religious history reveals.

2. Giáo lý về các Đấng Hoá Thân. Lịch sử tôn giáo mặc khải điều này.

3. The nature of consciousness, through the development of psychology.

3. Bản chất của tâm thức, qua sự phát triển của tâm lý học.

4. The doctrine of the Trinity, as it expresses itself through the aspects and the attributes.

4. Giáo lý về Ba Ngôi, khi nó tự biểu lộ qua các phương diện và các thuộc tính.

These four expressions of truth will be found to convey all the knowledge with which the initiate must stand equipped when he climbs the Mount of Transfiguration at the time of the third initiation. They have given him a spiritual perception of the Plan.” (cf. RI, p. 139-140)

Bốn biểu lộ này của chân lý sẽ được thấy là truyền đạt toàn bộ tri thức mà điểm đạo đồ phải được trang bị khi y leo lên Núi Biến Hình vào thời điểm lần điểm đạo thứ ba. Chúng đã đem lại cho y một nhận biết tinh thần về Thiên Cơ.” (xem RI, tr. 139-140)

xxi. The contemplation of the significance of Life “belongs to Those Who can move at will within the ‘precincts of the Lord of Life’—in Shamballa itself. All we can know about it is its lowest step. This enables us to study the impulse or instinct which enables all forms of life to function, which embodies the principles of responsiveness to contacts and to environment, and which embodies itself in the breath of life; this is also related to the air in some mysterious manner, and also to fire.” (cf. RI, p. 140)

xxi. Việc chiêm ngưỡng thâm nghĩa của Sự Sống “thuộc về Những Đấng có thể tùy ý vận động trong ‘khuôn viên của Chúa Tể Sự Sống’ — trong chính Shamballa. Tất cả những gì chúng ta có thể biết về nó là nấc thấp nhất của nó. Điều này cho phép chúng ta nghiên cứu xung lực hay bản năng khiến mọi hình tướng sự sống có thể hoạt động, vốn hiện thân cho các nguyên khí của sự đáp ứng với các tiếp xúc và với môi trường, và tự hiện thân trong hơi thở của sự sống; điều này cũng liên hệ với không khí theo một cách huyền bí nào đó, và cũng liên hệ với lửa.” (xem RI, tr. 140)

xxii. The Will “is a penetrating power which relates Plan to Purpose and which has in it the faculty of coherent persistence.” (cf. RI, p. 140)

xxii. Ý Chí “là một quyền năng xuyên thấu, liên hệ Thiên Cơ với Thiên Ý và chứa trong nó năng lực kiên trì cố kết.” (xem RI, tr. 140)

xxiii. The reason for this coherent persistence “is that it is not dependent upon the content of the form—whether it is the form of an atom, of a man or of a planet—but upon a vital dynamic and immutable purpose, latent in the consciousness of the planetary Being Who, ‘having pervaded this entire universe with a fragment’ of Himself, REMAINS—greater, more inscrutable and ‘firmer in intent’ than any of His creations, even the most advanced and the closest to Him.” (cf. RI, p. 140)

xxiii. Lý do của sự kiên trì cố kết này “là vì nó không tùy thuộc vào nội dung của hình tướng — dù đó là hình tướng của một nguyên tử, của một con người hay của một hành tinh — mà tùy thuộc vào một mục đích sống động, năng động và bất biến, tiềm ẩn trong tâm thức của Đấng Hành Tinh, Đấng ‘sau khi thấm nhuần toàn thể vũ trụ này bằng một mảnh’ của Chính Ngài, VẪN CÒN — vĩ đại hơn, khó dò hơn và ‘kiên định hơn trong ý định’ so với bất kỳ tạo vật nào của Ngài, ngay cả tạo vật tiến hóa cao nhất và gần gũi nhất với Ngài.” (xem RI, tr. 140)

xxiv. Only those Lives “have clear perception of His divine purpose who do not belong to our earth humanity at all; these are the Lives who came with Him to this planet when He came, and Who remain with Him as ‘the prisoners of loving intention’ until the last ‘weary pilgrim has found his way home.’” (cf. RI, p. 140)

xxiv. Chỉ những Sự Sống “có nhận biết rõ ràng về Thiên Ý của Ngài mới hoàn toàn không thuộc về nhân loại Trái Đất của chúng ta; đó là những Sự Sống đã đến cùng Ngài tới hành tinh này khi Ngài đến, và Các Ngài ở lại với Ngài như ‘những tù nhân của ý định yêu thương’ cho đến khi ‘người hành hương mệt mỏi’ cuối cùng tìm thấy đường về nhà.” (xem RI, tr. 140)

xxv. The “spiritual will is something of which humanity knows nothing; it is hidden and veiled by the self-will of the individual and the group will of the soul.” (cf. RI, p. 140)

xxv. “Ý Chí tinh thần là điều mà nhân loại không biết gì; nó bị che giấu và phủ màn bởi ý chí cá nhân của phàm ngã và ý chí nhóm của linh hồn.” (xem RI, tr. 140)

xxvi. “The human being moves until his individual will is developed and grounded, focussed and reoriented, and his group will is unfolded so that it includes and swallows up the dedicated, conscious, individual will. When this fusion has taken place (at the third initiation) a great revelation unfolds itself, and for the first time the initiate senses and then contacts the universal will; from that moment the initiate says, ‘Father, not my will but Thine be done.’” (cf. RI, p. 140-141)”

xxvi. “Con người vận động cho đến khi ý chí cá nhân của y được phát triển và đặt nền tảng, được tập trung và tái định hướng, và ý chí nhóm của y được khai mở đến mức nó bao gồm và nuốt trọn ý chí cá nhân thánh hiến và hữu thức. Khi sự dung hợp này đã diễn ra, tại lần điểm đạo thứ ba, một sự mặc khải lớn lao tự khai mở, và lần đầu tiên điểm đạo đồ cảm nhận rồi tiếp xúc với Ý Chí phổ quát; từ khoảnh khắc đó, điểm đạo đồ nói: ‘Cha ơi, không phải ý con, mà Ý Ngài được thành tựu.’” (xem RI, tr. 140-141)

xxvii. “Father, not my will but Thine be done.” (cf. RI, 141)

xxvii. “Lạy Cha, không phải ý chí của con, mà Ý Chí của Cha được thành tựu.” (xem RI, 141)

xxviii. “Just a little of what that will includes may emerge as we study this seventh rule and some of the succeeding rules.” (cf. RI, p. 141)

xxviii. “Chỉ một phần nhỏ trong những gì ý chí ấy bao hàm có thể hiển lộ khi chúng ta nghiên cứu quy luật thứ bảy này và một vài quy luật kế tiếp.” (xem RI, tr. 141)

xxix. “Body and life, soul and personality, the Spiritual Triad and its expression, the Christ in incarnation—all these dualities have played their part. Man has passed from one expansion of consciousness to another. Now he comes to the final duality of spirit and matter, prior to their resolution into something to which the terms ‘isolated unity’ and ‘universal synthesis’ give only faint and inadequate clues.” (cf. RI, p. 141)

xxix. “Thể và sự sống, linh hồn và phàm ngã, Tam Nguyên Tinh Thần và biểu hiện của nó, Đức Christ đang lâm phàm — tất cả những nhị nguyên này đã đóng vai trò của chúng. Con người đã đi từ một sự mở rộng tâm thức này sang một sự mở rộng tâm thức khác. Nay y đi đến nhị nguyên cuối cùng của tinh thần và vật chất, trước khi chúng được giải quyết thành một điều mà các thuật ngữ ‘Hợp Nhất Cô Lập’ và ‘tổng hợp phổ quát’ chỉ đem lại những manh mối mờ nhạt và bất toàn.” (xem RI, tr. 141)

xxx. “Up to the fourth initiation, the term ‘system of expansions’ would seem illuminating; after that great initiation, the term ‘system of identification’ would appear more appropriate.” (cf. RI, p. 141)

xxx. “Cho đến lần điểm đạo thứ tư, thuật ngữ ‘hệ thống các sự mở rộng’ dường như có tính soi sáng; sau cuộc điểm đạo vĩ đại ấy, thuật ngữ ‘hệ thống đồng hóa với’ có vẻ thích hợp hơn.” (xem RI, tr. 141)

xxxi. “To the development of this system of identification the initiate of the degree of Master of the Wisdom, and also (on a higher turn of the spiral) of the degree of the Christ, are focussing all Their efforts.” (cf. RI, p. 141)

xxxi. “Vào sự phát triển của hệ thống đồng hóa với này, điểm đạo đồ thuộc cấp độ Chân sư Minh Triết, và cũng vậy, trên một vòng xoắn cao hơn, thuộc cấp độ của Đức Christ, đang tập trung mọi nỗ lực của Các Ngài.” (xem RI, tr. 141)

xxxii. “When the initiate has passed through the three doors, symbolically speaking, he then faces all life, all events, all pre-determinations, all wisdom, all activity and all that the future may hold of service and progress from the angle of the pure reason (infallible and immutable), of true spiritual will (completely identified with the purpose of the planetary Logos), and of the highest possible focussed relation. The mystery of relationship becomes revealed to him. Then the entire scheme of evolution and of the intention of the One in Whom he lives and moves and has his being becomes clear to him; he has no more to learn within this planetary scheme; he has become universal in his attitude to all forms of life, and is also identified with the ‘isolated unity’ of Sanat Kumara.” (cf. RI, p. 141)

xxxii. “Khi điểm đạo đồ đã đi qua ba cánh cửa, nói theo biểu tượng, bấy giờ y đối diện với mọi sự sống, mọi biến cố, mọi tiền định, mọi minh triết, mọi hoạt động và tất cả những gì tương lai có thể chứa đựng về phụng sự và tiến bộ, từ góc độ của lý trí thuần túy, không sai lầm và bất biến, của ý chí tinh thần đích thực, hoàn toàn đồng hóa với Thiên Ý của Đức Hành Tinh Thượng Đế, và của mối liên hệ tập trung cao nhất có thể có. Huyền nhiệm của mối liên hệ trở nên được mặc khải cho y. Bấy giờ toàn bộ hệ hành tinh tiến hóa và ý định của Đấng mà trong Ngài y sống, vận động và hiện tồn trở nên rõ ràng đối với y; y không còn gì phải học trong hệ hành tinh này; y đã trở nên phổ quát trong thái độ của mình đối với mọi hình tướng sự sống, và cũng đồng hóa với ‘Hợp Nhất Cô Lập’ của Đức Sanat Kumara.” (xem RI, tr. 141)

xxxiii. “Few of the great Lives Who form the inner group of the Council Chamber at Shamballa are now of greater advancement than” the initiate who has passed through the three doors: “the ‘Supernal Three,’ the ‘Radiant Seven,’ the ‘Lives embodying the forty-nine Fires,’ the ‘Buddhas of Activity,’ and certain ‘Eternal Spirits’ from such centres of dynamic spiritual life as Sirius, or from the constellation which at any one time forms a triangle with our Sun and Sirius and a Representative from Venus are of greater—far greater—advancement.” (cf. RI, p. 142)

xxxiii. “Ít có Sự Sống vĩ đại nào hợp thành nhóm nội tại của Phòng Hội Đồng tại Shamballa hiện nay tiến xa hơn” điểm đạo đồ đã đi qua ba cánh cửa: “Ba Đấng Thiên Thượng, Bảy Đấng Rạng Ngời, những Sự Sống hiện thân bốn mươi chín Lửa, các Đức Phật Hoạt Động, và một số Tinh Thần Vĩnh Cửu từ những trung tâm của sự sống tinh thần năng động như Sirius, hoặc từ chòm sao vào bất kỳ thời điểm nào tạo thành một tam giác với Mặt Trời của chúng ta và Sirius, cùng một Đại Diện từ Sao Kim, đều có mức tiến bộ cao hơn — cao hơn rất nhiều.” (xem RI, tr. 142)

xxxiv. “All initiates of the sixth degree, and a few of the Masters Who have undergone specialised training because They are upon the first Ray of Will or Power (the ray conditioning Shamballa itself), form part of the Great Council.” (cf. RI, p. 142)

xxxiv. “Tất cả các điểm đạo đồ bậc sáu, và một vài Chân sư đã trải qua sự huấn luyện chuyên biệt vì Các Ngài thuộc cung một của Ý Chí hay Quyền Lực, cung đang tác động lên chính Shamballa, đều hợp thành một phần của Đại Hội Đồng.” (xem RI, tr. 142)

xxxv. “Many Masters and Chohans, however, after serving upon the planet in various capacities, working with the Law of Evolution, pass out of our planetary life altogether.” (cf. RI, p. 142)

xxxv. “Tuy nhiên, nhiều Chân sư và Chohan, sau khi phụng sự trên hành tinh trong nhiều năng lực khác nhau, làm việc với Định luật Tiến Hóa, đã hoàn toàn rời khỏi sự sống hành tinh của chúng ta.” (xem RI, tr. 142)

xxxvi. “All above information concerning the Lives which are far in advance of the disciples of the world contains little of moment,” … “except in so far as it falls into a diagrammatic pattern of our planetary life and purpose,” and is thus enabling the disciple “to get a faint glimpse of a synthetic theme and purpose to which all evolving lives must and will eventually conform.” (cf. RI, p. 142)

xxxvi. “Tất cả thông tin trên về những Sự Sống vượt xa các đệ tử của thế gian chứa đựng rất ít điều trọng yếu,” … “ngoại trừ trong chừng mực nó rơi vào một mô hình sơ đồ của sự sống và Thiên Ý hành tinh của chúng ta,” và nhờ đó giúp đệ tử “thoáng thấy một chủ đề và mục đích tổng hợp mà mọi sự sống đang tiến hóa rốt cuộc phải và sẽ thuận theo.” (xem RI, tr. 142)

[Page Underlining, Bolding and Highlighting—MDR]

[Gạch chân, in đậm và tô sáng trên trang—MDR]

Paragraph 1

Đoạn 1

Rule VII.

Quy luật VII.

For Applicants: Let the disciple turn his attention to the enunciating of those sounds which echo in the hall where walks the Master. Let him not sound the lesser notes which awaken vibration within the halls of Maya.

Dành cho Ứng viên: Hãy để đệ tử hướng sự chú ý của y vào việc xướng lên những âm thanh vang vọng trong phòng nơi Chân sư bước đi. Hãy để y không xướng những âm điệu thấp kém đánh thức rung động trong các phòng của Ảo lực.

1. A fairly complete examination of the Rule VII for Applicants was submitted to the group two months ago at the beginning of the study of Rule(s) VII.

1. Một khảo sát khá đầy đủ về Quy luật VII dành cho Ứng viên đã được trình bày cho nhóm hai tháng trước, vào lúc bắt đầu nghiên cứu Quy luật VII.

2. No doubt, since the time we studied this Rule, we have spoken thousands upon thousands of words. Have they echoed in the halls where walks the Master?

2. Chắc chắn, từ khi chúng ta nghiên cứu Quy luật này, chúng ta đã nói hàng ngàn hàng vạn lời. Chúng có vang vọng trong các phòng nơi Chân sư bước đi không?

3. The process of gaining control of thought and speech is a long one. We cannot help but create. Ours is the task to make sure that what we create is in line with the Creator’s Intent.

3. Tiến trình giành quyền kiểm soát tư tưởng và lời nói là một tiến trình lâu dài. Chúng ta không thể không sáng tạo. Nhiệm vụ của chúng ta là bảo đảm rằng điều mình sáng tạo phù hợp với Ý Định của Đấng Sáng Tạo.

For Disciples and Initiates: Let the group life emit the Word of invocation and thus evoke response within those distant Ashrams where move the Chohans of the race of men.

Dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ: Hãy để sự sống nhóm phát ra Linh từ khẩn cầu và nhờ đó gợi lên sự đáp ứng trong những ashram xa xôi nơi các Chohan của nhân loại bước đi.

4. It is the group “life” which emits the “Word of invocation. If response is to be awakened in the Ashrams of the Chohans, life must call to Life.

4. Chính “sự sống” nhóm phát ra “Linh từ khẩn cầu”. Nếu cần đánh thức sự đáp ứng trong các ashram của các Chohan, sự sống phải kêu gọi Sự Sống.

5. For a group at this stage of development, monadic influence is already beginning to pervade the soul-infused personality. We remember that the majority of these rules are for groups which have achieved the third degree—at least, the majority of their members will have achieved that degree.

5. Đối với một nhóm ở giai đoạn phát triển này, ảnh hưởng chân thần đã bắt đầu thấm nhuần phàm ngã được linh hồn thấm nhuần. Chúng ta nhớ rằng phần lớn các quy luật này dành cho những nhóm đã đạt lần điểm đạo thứ ba — ít nhất, đa số thành viên của họ sẽ đã đạt cấp độ ấy.

6. We note that the group does not consciously prepare or formulate a particular “Word of invocation”, but that the life and livingness of the group are a vibratory state which goes forth as a “Word”. The group must have reached a certain high vibrational condition (responsive to the monad—i.e., to the life aspect) before this emission will go forth.

6. Chúng ta lưu ý rằng nhóm không chuẩn bị hay tạo lập một cách có ý thức một “Linh từ khẩn cầu” đặc thù, mà sự sống và sinh động tính của nhóm chính là một trạng thái rung động phát ra như một “Linh từ”. Nhóm phải đạt đến một tình trạng rung động cao nào đó, đáp ứng với chân thần — tức với phương diện sự sống — trước khi sự phát ra này sẽ diễn ra.

7. The “Word of invocation” resounds through the entire group and each member (as a soul) is in harmony with it.

7. “Linh từ khẩn cầu” vang dội qua toàn thể nhóm và mỗi thành viên, với tư cách là một linh hồn, đều hòa hợp với nó.

8. As we have studied the first seven of these Rule, we have found the group invoking

8. Khi nghiên cứu bảy Quy luật đầu tiên này, chúng ta đã thấy nhóm khẩn cầu

a. the Ashram of a particular Master,

a. ashram của một Chân sư đặc thù,

b. Shamballa (Rule II)

b. Shamballa (Quy luật II)

c. And now, the Ashrams of the Chohans (sixth degree initiates, minimally).

c. Và nay, các ashram của các Chohan, tối thiểu là các điểm đạo đồ bậc sáu.

9. The mode of invocation suitable to evoke response from the Master who has the group under supervision will not be adequate to evoke response from the Chohan and His Ashram.

9. Phương thức khẩn cầu thích hợp để gợi lên sự đáp ứng từ Chân sư đang giám sát nhóm sẽ không đủ để gợi lên sự đáp ứng từ Chohan và ashram của Ngài.

10. The Ashrams of the Chohans are vibrationally more “distant” than the Ashram of a Master; a powerful point of tension is required of the individual or the group which would contact such Ashrams; even more is required of individuals and groups that would “evoke response” from such Ashrams. Contact is preliminary to an evoked response.

10. Các ashram của các Chohan, xét về rung động, “xa” hơn ashram của một Chân sư; một điểm tập trung nhất tâm mạnh mẽ được đòi hỏi nơi cá nhân hay nhóm muốn tiếp xúc với các ashram như thế; còn nhiều hơn nữa được đòi hỏi nơi những cá nhân và nhóm muốn “gợi lên sự đáp ứng” từ các ashram ấy. Tiếp xúc là bước sơ khởi trước một sự đáp ứng được gợi lên.

11. A “Chohan” may be regarded as a “high priest”.

11. Một “Chohan” có thể được xem như một “thượng tế”.

12. The word “move” is interesting. One conceives of these beings as spheres of light moving in response to the Will of God. The Chohans are the least of those “Lights which carry out the Will of God”.

12. Từ “bước đi” thật thú vị. Người ta hình dung các Đấng này như những khối cầu ánh sáng vận động trong sự đáp ứng với Ý Chí của Thượng Đế. Các Chohan là những vị thấp nhất trong số “Các Ánh Sáng thực thi Ý Chí của Thượng Đế”.

They are no longer men as are the Masters, but, having passed beyond that lesser stage, have linked themselves with the Great Council in the highest Secret Place.

Các Ngài không còn là con người như các Chân sư, mà, sau khi vượt qua giai đoạn thấp hơn ấy, đã liên kết chính mình với Đại Hội Đồng trong Nơi Bí Mật cao nhất.

13. A Master is conditioned by the number five—the number of the solar system preceding our own and, also, the number of humanity. “…five is the number of the mind and of man.” (EP I 346)

13. Một Chân sư chịu tác động bởi con số năm —con số của hệ mặt trời đi trước hệ của chúng ta, và cũng là con số của nhân loại. “…năm là con số của trí tuệ và của con người.” (EP I 346)

14. The Master is the fulfilled five-pointed star. He has placed the Brahmic solar system under foot (i.e., He has surmounted it.) He is not yet, however, a liberated monad characterized by the number six.

14. Chân sư là ngôi sao năm cánh đã thành tựu. Ngài đã đặt hệ mặt trời Brahma dưới chân, tức Ngài đã vượt qua nó. Tuy nhiên, Ngài chưa phải là một chân thần giải thoát được đặc trưng bởi con số sáu.

15. When we think of the “Great Council” we must realize that it is focussed within the innermost sanctum of Shamballa of which the essential members are Sanat Kumara and the Three Buddhas of Activity. The three Esoteric Kumaras may also be considered members, though the mode of their participation is not given exoterically.

15. Khi nghĩ về “Đại Hội Đồng”, chúng ta phải nhận ra rằng nó được tập trung trong thánh điện tối nội của Shamballa, mà các thành viên cốt yếu là Đức Sanat Kumara và Ba Đức Phật Hoạt Động. Ba Kumara Nội Môn cũng có thể được xem là thành viên, dù cách thức tham dự của Các Ngài không được trình bày công truyền.

16. The Great Council also embraces the entirety of Shamballa, but its innermost deliberations concern the central Shamballic figures alone.

16. Đại Hội Đồng cũng bao gồm toàn thể Shamballa, nhưng những cuộc nghị bàn tối nội của nó chỉ liên quan đến các nhân vật trung tâm của Shamballa.

17. The Buddhas of Activity are considered exoteric Kumaras. At various times changes of position occur between the esoteric and exoteric Kumaras.

17. Các Đức Phật Hoạt Động được xem là các Kumara công truyền. Vào những thời điểm khác nhau, có những thay đổi vị trí giữa các Kumara nội môn và công truyền.

18. It is obvious that of the deliberations of this “Great Council” we can know practically nothing (at our present stage of evolution) except what is told to us by some great soul spiritually closer to that Council. What would we know of such things had we not been taught by Master DK?

18. Rõ ràng, về những cuộc nghị bàn của “Đại Hội Đồng” này, chúng ta hầu như không thể biết gì, ở giai đoạn tiến hoá hiện tại của mình, ngoại trừ điều được một linh hồn vĩ đại nào đó gần gũi hơn về mặt tinh thần với Hội Đồng ấy cho chúng ta biết. Chúng ta sẽ biết gì về những điều như thế nếu không được Chân sư DK dạy dỗ?

19. What is suggested to us by the term “Council” is that Shamballa acts according to Purpose and Plan. All is weighed and balanced with exquisite accuracy.

19. Điều mà thuật ngữ “Hội Đồng” gợi cho chúng ta là Shamballa hành động theo Thiên Ý và Thiên Cơ. Mọi sự được cân nhắc và quân bình với độ chính xác tinh vi.

Let the group sound a dual chord, reverberating in the halls where move the Masters but finding pause and prolongation within those radiant halls where move the “Lights which carry out the Will of God.”

Hãy để nhóm xướng một hợp âm nhị phân, vang dội trong các phòng nơi các Chân sư bước đi, nhưng tìm thấy sự dừng lại và kéo dài trong những phòng rạng ngời nơi các “Ánh Sáng thực thi Ý Chí của Thượng Đế” bước đi.

20. The “dual chord” may be conceived as a combination of soul and personality energies/rays. Such a sounding might be sufficient for a group intent on reaching the Masters and their Ashrams.

20. “Hợp âm nhị phân” có thể được hình dung như một sự kết hợp giữa các năng lượng hay các cung của linh hồn và phàm ngã. Một sự xướng lên như thế có thể đủ cho một nhóm có chủ ý vươn tới các Chân sư và các ashram của Các Ngài.

21. However a dual chord consisting of soul-infused personality and spirit would be required of a group which sought to reach the Ashrams of the Chohans, and higher still—to the “Lights which carry out the Will of God”—the members of Shamballa even closer to the Lord of the World.

21. Tuy nhiên, một hợp âm nhị phân gồm phàm ngã được linh hồn thấm nhuần và tinh thần sẽ được đòi hỏi nơi một nhóm tìm cách vươn tới các ashram của các Chohan, và còn cao hơn nữa — tới các “Ánh Sáng thực thi Ý Chí của Thượng Đế” — các thành viên của Shamballa còn gần Đức Chúa Tể Thế Giới hơn nữa.

22. That the dual chord will reverberate tells us that it is in resonance with the fundamental reinforced with the “halls where move the Masters”. Perhaps we have had the experience of singing in a particularly resonant space. We may have noted that, while all notes were resonant to a degree, certain notes were most resonant. Such notes are in resonance with the structure of the space in which the singing occurs. Thus is it with the dual spiritual chord sounded by the group when considered in relation to the ‘space’ or “halls” where move the Masters.

22. Việc hợp âm nhị phân sẽ vang dội cho chúng ta biết rằng nó cộng hưởng với âm nền được tăng cường trong “các phòng nơi các Chân sư bước đi”. Có lẽ chúng ta đã từng có kinh nghiệm hát trong một không gian đặc biệt cộng hưởng. Chúng ta có thể đã nhận thấy rằng, trong khi mọi nốt đều cộng hưởng ở một mức độ nào đó, một số nốt lại cộng hưởng nhất. Những nốt như vậy cộng hưởng với cấu trúc của không gian nơi tiếng hát diễn ra. Điều ấy cũng đúng với hợp âm tinh thần nhị phân do nhóm xướng lên khi được xét trong tương quan với “không gian” hay “các phòng” nơi các Chân sư bước đi.

23. Again, the sounding of the dual chord is not a literal, vocal act. It is the emission of the soul which comes from a group soul-infused personality, or from a spirit-infused soul/personality. The sounding occurs because of what the group is—not what it tries to do.

23. Một lần nữa, việc xướng hợp âm nhị phân không phải là một hành động phát âm theo nghĩa đen. Đó là sự phát ra của linh hồn đến từ một phàm ngã nhóm được linh hồn thấm nhuần, hoặc từ một linh hồn/phàm ngã được tinh thần thấm nhuần. Sự xướng lên xảy ra do điều nhóm là —chứ không phải do điều nhóm cố làm.

24. The words “pause and prolongation” are interesting. The dual chord passes beyond the Masters’ halls. If it sounded correctly it will find itself achieving a prolonged focus in still more exalted “halls”.

24. Những từ “dừng lại và kéo dài” thật thú vị. Hợp âm nhị phân vượt qua các phòng của Chân sư. Nếu được xướng đúng, nó sẽ thấy mình đạt được một tiêu điểm kéo dài trong những “phòng” còn tôn quý hơn nữa.

25. In any case, the sound as it goes forth is (if properly emitted by the “group life”) not deflected from the Ashrams of the Chohans and from ever greater “halls”. It is received, and there is abides (for it finds “pause” and “prolongation”).

25. Dù thế nào, âm thanh khi phát ra, nếu được “sự sống nhóm” phát ra đúng cách, không bị lệch khỏi các ashram của các Chohan và khỏi những “phòng” ngày càng vĩ đại hơn. Nó được tiếp nhận, và ở đó nó lưu lại, vì nó tìm thấy “sự dừng lại” và “sự kéo dài”.

26. It is clear that only a group in which the spiritual will has been developed will be able to sound such a chord.

26. Rõ ràng, chỉ một nhóm trong đó ý chí tinh thần đã được phát triển mới có thể xướng một hợp âm như thế.

27. Such a sounding must be full of selflessness and group is in completely conscious alignment with the Divine Plan and Divine Purpose.

27. Một sự xướng lên như thế phải đầy tính vô ngã, và nhóm phải ở trong sự chỉnh hợp hoàn toàn có ý thức với Thiên Cơ và Thiên Ý.

28. Most chords consist of three notes or more. This chord in this Rule, however, is called “dual”. It consists, therefore of two major notes—but there may be a number of minor notes, for, as we realize, the note of the personality contains at least three subtones and the same may be said for the note of the soul. The note of the spirit is also threefold. Each such note, therefore, is really a chord.

28. Phần lớn các hợp âm gồm ba nốt hoặc nhiều hơn. Tuy nhiên, hợp âm trong Quy luật này được gọi là “nhị phân”. Vì vậy, nó gồm hai nốt chính — nhưng có thể có một số nốt phụ, vì, như chúng ta nhận ra, nốt của phàm ngã chứa ít nhất ba âm phụ, và điều tương tự cũng có thể nói về nốt của linh hồn. Nốt của tinh thần cũng tam phân. Vì thế, mỗi nốt như vậy thực ra là một hợp âm.

29. Why are the great Beings who carry out the Will of God called “Lights”? Perhaps because Shamballa is a place of “unfettered enlightenment”. It is the third aspect of divinity (related to light) that is emphasized. Perhaps once the second ray soul of our planet is more emergent, the love nature of these great Beings will be emphasized.

29. Tại sao các Đấng vĩ đại thực thi Ý Chí của Thượng Đế được gọi là “Ánh Sáng”? Có lẽ vì Shamballa là nơi của “sự giác ngộ không bị ràng buộc”. Chính phương diện thứ ba của thiên tính, liên hệ với ánh sáng, được nhấn mạnh. Có lẽ khi linh hồn cung hai của hành tinh chúng ta hiển lộ hơn, bản chất bác ái của các Đấng vĩ đại này sẽ được nhấn mạnh.

Paragraph 2

Đoạn 2

[Page 137]

[Page 137]

Of real importance, though relatively small, are two contrasts. These emerge with clarity if you compare the instructions given to applicants for discipleship and those given to initiates. The applicant (or young disciple) is addressed as an individual and is told to give forth “those sounds” which will be heard by the Master in His Ashram—for that is the true significance of the words.

Có hai tương phản có tầm quan trọng thực sự, dù tương đối nhỏ. Chúng hiện ra rõ ràng nếu bạn so sánh những huấn thị dành cho các ứng viên vào địa vị đệ tử và những huấn thị dành cho các điểm đạo đồ. Ứng viên, hay đệ tử trẻ, được nói với tư cách một cá nhân và được bảo phải phát ra “những âm thanh” sẽ được Chân sư nghe thấy trong ashram của Ngài — vì đó là thâm nghĩa đích thực của những lời này.

30. We are told that the “applicant” is a “young disciple”. This would make sense if the Fourteen Rules for Applicants were Rules for those taking the first planetary initiation (the Birth of the Christ within the heart) and perhaps the second. It would not make sense if the first Fourteen Rules applied to those who were candidates for the third initiation. A close examination of the first Fourteen Rules shows they cannot be entirely fulfilled until the third degree is accomplished.

30. Chúng ta được cho biết rằng “ứng viên” là một “đệ tử trẻ”. Điều này sẽ hợp lý nếu Mười Bốn Quy luật dành cho Ứng viên là các Quy luật dành cho những người đang nhận lần điểm đạo hành tinh thứ nhất, Sự Giáng Sinh của Đức Christ trong tim, và có lẽ cả lần thứ hai. Điều đó sẽ không hợp lý nếu Mười Bốn Quy luật đầu tiên áp dụng cho những người là ứng viên cho lần điểm đạo thứ ba. Một khảo sát kỹ Mười Bốn Quy luật đầu tiên cho thấy chúng không thể được hoàn toàn thực hiện cho đến khi cấp độ thứ ba được hoàn tất.

31. The two sets of Rules address the applicant differently. In the first set, the applicant is addressed as and individual. In the more advanced Rules, it is the group that is addressed, and the group is the applicant.

31. Hai bộ Quy luật nói với ứng viên theo cách khác nhau. Trong bộ thứ nhất, ứng viên được nói với tư cách một cá nhân. Trong các Quy luật cao hơn, chính nhóm được nói đến, và nhóm ứng viên.

32. There are certain “sounds” (deeper than human words) which are “heard by the master in His Ashram”. He does not hear lesser notes; they are deflected. They have no place within the sonic structure of the Ashram. They would be cacophonous to the ashramic sound. Let us ponder on the sonic structure of the Ashram and seek to emit those thought-sounds and voiced-sounds in harmony with it.

32. Có một số “âm thanh” nhất định, sâu hơn lời nói của con người, được “Chân sư nghe thấy trong ashram của Ngài”. Ngài không nghe những âm điệu thấp kém; chúng bị lệch đi. Chúng không có chỗ trong cấu trúc âm thanh của ashram. Chúng sẽ tạo nên sự chói tai đối với âm thanh ashram. Chúng ta hãy suy ngẫm về cấu trúc âm thanh của ashram và tìm cách phát ra những âm thanh-tư tưởng và âm thanh-lời nói hòa hợp với nó.

33. When we think of the sound which we “give forth”, it is the quality pervading our words that counts far more than the words themselves.

33. Khi nghĩ về âm thanh mà chúng ta “phát ra”, chính phẩm tính thấm nhuần lời nói của chúng ta mới quan trọng hơn rất nhiều so với chính lời nói.

34. That quality is the soul of our words. We should reflect upon how we ensoul our words. More simply, is soul energy resounding throughout words?

34. Phẩm tính ấy là linh hồn của lời nói chúng ta. Chúng ta nên suy ngẫm về cách chúng ta phú linh cho lời nói của mình. Nói đơn giản hơn, năng lượng linh hồn có đang vang dội xuyên suốt lời nói không?

The initiate functions in a group (always in a group) and has developed or is rapidly developing group consciousness;

Điểm đạo đồ hoạt động trong một nhóm, luôn luôn trong một nhóm, và đã phát triển hoặc đang nhanh chóng phát triển tâm thức nhóm;

35. This is a powerful and definitive statement. The initiate is always more than an individual. His group relation is paramount. His identity is no longer strictly individual.

35. Đây là một phát biểu mạnh mẽ và dứt khoát. Điểm đạo đồ luôn luôn còn hơn một cá nhân. Mối liên hệ nhóm của y là tối thượng. Bản sắc của y không còn hoàn toàn cá nhân nữa.

36. When we think of our identity and experience our identity, do we experience ourselves as individuals, or in groups terms, or in terms of the Whole.

36. Khi chúng ta nghĩ về bản sắc của mình và kinh nghiệm bản sắc của mình, chúng ta kinh nghiệm chính mình như những cá nhân, hay theo nghĩa nhóm, hay theo nghĩa của Toàn Thể?

in unison with his group and as an integral conscious part of it, the Word must be enunciated; this is not a medley of sounds, but is one clear Word of invocation.

trong sự hợp nhất với nhóm của y và như một phần tích hợp có ý thức của nhóm ấy, Linh từ phải được xướng lên; đây không phải là một mớ âm thanh hỗn tạp, mà là một Linh từ khẩn cầu rõ ràng duy nhất.

37. The Tibetan is speaking of the simplicity of the “Word”—not a medley of sounds but “one clear Word of Invocation”. The group must surely be well-attuned to Divine Plan and Purpose to emit such a Word.

37. Chân sư Tây Tạng đang nói về sự đơn giản của “Linh từ” — không phải một mớ âm thanh hỗn tạp mà là “một Linh từ Khẩn cầu rõ ràng duy nhất”. Chắc chắn nhóm phải được hòa điệu tốt với Thiên Cơ và Thiên Ý để phát ra một Linh từ như thế.

38. When the usual differences of opinion and personality exchanges and conflicts characterize a group process, the emission of such a “Word” is a clear impossibility. The group must be experienced and well-cultured before such “Word” emerges from their process.

38. Khi những khác biệt quan điểm thông thường cùng các trao đổi và xung đột phàm ngã đặc trưng cho một tiến trình nhóm, việc phát ra một “Linh từ” như thế rõ ràng là điều bất khả. Nhóm phải từng trải và được trau dồi tốt trước khi một “Linh từ” như vậy xuất hiện từ tiến trình của họ.

You need to remember that the disciple is occupied in resolving the many sounds into the Word; when he has done this, his individual approach to reality terminates, and he begins to act with his group where all activity is concerned.

Bạn cần nhớ rằng đệ tử bận rộn với việc giải quyết nhiều âm thanh thành Linh từ; khi y đã làm được điều này, cách tiếp cận thực tại của y với tư cách cá nhân chấm dứt, và y bắt đầu hành động cùng nhóm của mình trong mọi hoạt động.

39. The disciple is searching for the “Word” that pervades all his sounds and words. When he is soul-infused this resolution of the “many sounds into the Word” has occurred.

39. Đệ tử đang tìm kiếm “Linh từ” thấm nhuần mọi âm thanh và lời nói của y. Khi y được linh hồn thấm nhuần, sự giải quyết “nhiều âm thanh thành Linh từ” này đã xảy ra.

40. An initiate no longer has an “individual approach to reality”. His striving is at one with the striving of his group.

40. Một điểm đạo đồ không còn có “cách tiếp cận thực tại với tư cách cá nhân”. Sự nỗ lực của y là một với sự nỗ lực của nhóm y.

41. Let us examine our approach; it is a group approach?

41. Chúng ta hãy khảo sát cách tiếp cận của mình; đó có phải là một cách tiếp cận nhóm không?

42. As we strive forward, is it with our group, or, better, as our group?

42. Khi chúng ta nỗ lực tiến tới, đó là cùng với nhóm của mình, hay tốt hơn, như nhóm của mình?

43. The point of resolution, in the sense here meant, is probably the third initiation, at which point the disciple-as-initiate, may be considered almost fully soul-infused.

43. Điểm của sự giải quyết, theo nghĩa được nói ở đây, có lẽ là lần điểm đạo thứ ba, tại điểm đó đệ tử-với-tư-cách-điểm-đạo-đồ có thể được xem là hầu như hoàn toàn được linh hồn thấm nhuần.

This is a point of major importance for the newer type of disciple to grasp. In the past, the emphasis has been on what the individual initiate had to do in order to fit himself to take initiation, and so become a Master of the Wisdom and a member of the planetary Hierarchy.

Đây là một điểm có tầm quan trọng lớn để kiểu đệ tử mới hơn nắm bắt. Trong quá khứ, trọng tâm đã đặt trên điều mà điểm đạo đồ cá nhân phải làm để tự chuẩn bị cho việc nhận điểm đạo, và nhờ đó trở thành một Chân sư Minh Triết và một thành viên của Thánh đoàn hành tinh.

44. There is nothing wrong with the type of approach here described, but the times are rapidly changing on our planet due to the initiatory crisis of our Planetary Logos. This planetary initiation will have a profound effect upon the human kingdom; already this is happening.

44. Không có gì sai với kiểu tiếp cận được mô tả ở đây, nhưng thời đại đang thay đổi nhanh chóng trên hành tinh chúng ta do cuộc khủng hoảng điểm đạo của Đức Hành Tinh Thượng Đế. Cuộc điểm đạo hành tinh này sẽ có ảnh hưởng sâu xa đối với giới nhân loại; điều này đã đang xảy ra.

45. We are dealing with a transition from individual striving to group striving. Do we know the difference?

45. Chúng ta đang đề cập đến một sự chuyển tiếp từ nỗ lực cá nhân sang nỗ lực nhóm. Chúng ta có biết sự khác biệt không?

46. A few thoughts. In group striving:

46. Một vài tư tưởng. Trong nỗ lực nhóm:

a. the initiate is identified with and as his group. He knows the technique of transferring his identity to the group.

a. điểm đạo đồ đồng hoá với nhóm của y và như nhóm của y. Y biết kỹ thuật chuyển dịch bản sắc của mình sang nhóm.

b. the initiate thinks of the group as an organism equipped with certain qualities and limited by certain liabilities.

b. điểm đạo đồ nghĩ về nhóm như một cơ thể sống được trang bị một số phẩm tính nhất định và bị giới hạn bởi một số nhược điểm nhất định.

c. the initiate thinks of the manner in which the group may attain, and of the sacrifices he may make so that it may do so.

c. điểm đạo đồ nghĩ về cách thức nhóm có thể đạt được, và về những hy sinh y có thể thực hiện để nhóm có thể làm như vậy.

d. the initiate does not feel as if he personally moves forward unless his group also moves forward.

d. điểm đạo đồ không cảm thấy như thể y cá nhân tiến tới, trừ khi nhóm của y cũng tiến tới.

47. Then we ask, “Are we representatives of group striving?”

47. Bấy giờ chúng ta hỏi: “Chúng ta có phải là những đại diện của nỗ lực nhóm không?”

In the coming new cycle the emphasis will be upon group work and activity, upon group initiation and group approach to the Center of Life.

Trong chu kỳ mới sắp đến, trọng tâm sẽ đặt trên công việc và hoạt động nhóm, trên điểm đạo nhóm và cách tiếp cận nhóm đối với Trung Tâm Sự Sống.

48. It is clear: the new approach to reality for modern disciples will be through the group. The time-space schedule of the Planetary Logos must be respected and upheld. This can only happen through the replacement of individual initiation by group initiation, at least as regards the initial initiations.

48. Điều này rõ ràng: cách tiếp cận mới đối với thực tại dành cho các đệ tử hiện đại sẽ là thông qua nhóm. Lịch trình thời gian-không gian của Đức Hành Tinh Thượng Đế phải được tôn trọng và duy trì. Điều này chỉ có thể xảy ra thông qua việc thay thế điểm đạo cá nhân bằng điểm đạo nhóm, ít nhất là đối với các cuộc điểm đạo ban đầu.

The required mode of life and the needed individual eliminations and adjustments are now so well known (theoretically, at least) that they should have dropped below the threshold of consciousness and should consequently be automatic in their effects.

Phương thức sống cần thiết cùng những sự loại bỏ và điều chỉnh cá nhân cần có nay đã được biết đến rõ ràng đến mức, ít nhất về mặt lý thuyết, chúng lẽ ra phải rơi xuống dưới ngưỡng tâm thức và do đó phải tự động trong các hiệu quả của chúng.

49. Group work, group activity and group initiation are not for those who are entirely preoccupied with character building and self-discipline.

49. Công việc nhóm, hoạt động nhóm và điểm đạo nhóm không dành cho những ai hoàn toàn bận tâm với lập hạnh và kỷ luật bản thân.

50. By the time the individual disciple is ready to participate in a dynamic, progressive group process, the usual personal training should already be well-advanced and his accomplishment in this regard of such a nature that it no longer preoccupies his attention.

50. Vào lúc đệ tử cá nhân sẵn sàng tham dự vào một tiến trình nhóm năng động và tiến bộ, sự huấn luyện cá nhân thông thường lẽ ra đã tiến triển tốt, và thành tựu của y về phương diện này phải có tính chất đến mức nó không còn chiếm giữ sự chú ý của y.

This should also provide a steady inducement to thought which will make the initiate what he ought to be, because his conscious mind is free for group functioning.

Điều này cũng nên đem lại một sự thúc đẩy ổn định cho tư tưởng, làm cho điểm đạo đồ trở thành điều y phải là, bởi vì trí tuệ có ý thức của y được tự do cho sự hoạt động nhóm.

51. The message is clear; if we are preoccupied with personal concerns, personal discipline and training, and personal eliminations, our conscious mind it not “free for group functioning”.

51. Thông điệp thật rõ ràng; nếu chúng ta bận tâm với những quan tâm cá nhân, kỷ luật và huấn luyện cá nhân, cùng những sự loại bỏ cá nhân, thì trí tuệ có ý thức của chúng ta không “được tự do cho sự hoạt động nhóm”.

52. The true group member of the modern era has done a large measure of his individual work before beginning his group experience.

52. Thành viên nhóm đích thực của kỷ nguyên hiện đại đã hoàn tất một phần lớn công việc cá nhân của y trước khi bắt đầu kinh nghiệm nhóm.

53. Within the stresses arising in groups, the individual work remaining to be done will be accelerated.

53. Trong những căng thẳng phát sinh trong các nhóm, phần công việc cá nhân còn lại cần được thực hiện sẽ được gia tốc.

This is a concept which must be increasingly cultivated; “As a man thinketh in his heart, so he is.” The lower mind should be the organ of heart expression and be as unconscious in its functioning as is the rhythm of the heart itself—the physical heart.

Đây là một quan niệm cần được ngày càng vun bồi; “Con người suy nghĩ trong lòng như thế nào, y là như thế ấy.” Hạ trí phải là cơ quan biểu đạt của trái tim và phải vô thức trong hoạt động của nó như chính nhịp điệu của trái tim—trái tim hồng trần.

54. The demand is high. Many disciples today ponder how they may be more loving. DK is asking, however, for a love that flows naturally and unconsciously through thought. Heart and head are to be united and work together spontaneously and without the conscious supervision of the disciple. Such supervision will not be necessary as there will be little or nothing in him which would inhibit the fusion of heart and mind.

54. Đòi hỏi này thật cao. Ngày nay, nhiều đệ tử suy ngẫm làm thế nào để họ có thể giàu tình thương hơn. Tuy nhiên, Chân sư DK đang đòi hỏi một tình thương tuôn chảy tự nhiên và vô thức qua tư tưởng. Trái tim và đầu phải được hợp nhất và cùng hoạt động một cách tự phát, không cần sự giám sát hữu thức của đệ tử. Sự giám sát ấy sẽ không cần thiết, vì trong y sẽ có rất ít hoặc không còn gì có thể ức chế sự dung hợp giữa trái tim và thể trí.

55. The two planets Venus and Jupiter (both closely associated with the second ray) are particularly useful in the fusion of heart and mind.

55. Hai hành tinh Sao Kim và Sao Mộc, cả hai đều liên hệ mật thiết với cung hai, đặc biệt hữu ích trong sự dung hợp giữa trái tim và thể trí.

56. It is clear that we must work on the cultivation of good spiritual habits until this fusion is an accomplished fact. Right now, for many, there exists a cleavage between head and heart.

56. Rõ ràng chúng ta phải nỗ lực vun bồi những thói quen tinh thần tốt đẹp cho đến khi sự dung hợp này trở thành một sự kiện đã thành tựu. Hiện nay, đối với nhiều người, vẫn còn một sự phân cách giữa đầu và trái tim.

The higher mind is intended to become increasingly the field of the initiate’s effort, and hence the constant need for him to build the antahkarana.

Thượng trí được dự định sẽ ngày càng trở thành lĩnh vực nỗ lực của điểm đạo đồ, và do đó y luôn luôn cần xây dựng antahkarana.

57. When an initiate can work within the higher mind, he understanding will be vast and he will be able wisely to perceive the relations between many life processes.

57. Khi một điểm đạo đồ có thể hoạt động trong Thượng trí, sự thấu hiểu của y sẽ rộng lớn và y sẽ có thể nhận thức một cách minh triết các mối liên hệ giữa nhiều tiến trình sống.

58. The abstract mind is broad in its scope.

58. Trí trừu tượng có phạm vi bao quát rộng lớn.

Paragraph 3

Đoạn 3

In this Rule we are therefore dealing with the work [Page 138] to be done by a group of pledged disciples and initiates; they are learning together to make an approach to Shamballa (involving the Will element);

Trong Quy luật này, do đó, chúng ta đang đề cập đến công việc [Page 138] cần được thực hiện bởi một nhóm gồm các đệ tử đã phát nguyện và các điểm đạo đồ; họ đang cùng nhau học cách tiếp cận Shamballa, liên quan đến yếu tố Ý Chí;

59. The group concerned (we learn) consists of pledged disciples and initiates. The non-uniformity of approaching groups is the norm, and in their diversity (we have often been told) lies their usefulness.

59. Nhóm được nói đến, như chúng ta biết, gồm các đệ tử đã phát nguyện và các điểm đạo đồ. Sự không đồng nhất của các nhóm tiếp cận là điều bình thường, và chính trong tính đa dạng của họ, như chúng ta thường được cho biết, có giá trị hữu dụng của họ.

60. Their “approach to Shamballa” will be an alignment and an attunement. It cannot yet be an entry.

60. “Sự tiếp cận Shamballa” của họ sẽ là một sự chỉnh hợp và hòa điệu. Nó chưa thể là một sự bước vào.

61. A pledged disciple may also be an accepted disciple. It would seem that only those who are accepted disciples can make the kind of approach here discussed. An accepted disciple has been acknowledged for his acceptance of the Divine Plan, and for following through on his pledge to serve the soul and that Plan.

61. Một đệ tử đã phát nguyện cũng có thể là một đệ tử được chấp nhận. Dường như chỉ những ai là đệ tử được chấp nhận mới có thể thực hiện loại tiếp cận được bàn đến ở đây. Một đệ tử được chấp nhận đã được công nhận vì sự chấp nhận Thiên Cơ của y, và vì đã theo đến cùng lời phát nguyện phụng sự linh hồn và Thiên Cơ ấy.

this is as much a goal of the Hierarchy as approach to the Hierarchy is the goal of advanced humanity.

điều này cũng là mục tiêu của Thánh Đoàn không kém gì việc tiếp cận Thánh Đoàn là mục tiêu của nhân loại tiến bộ.

62. It is clear that such an approach is only for advanced groups, because the goal of the Hierarchy, itself, is an approach to Shamballa (obviously a much deeper approach than will be possible for the kind of groups here discussed).

62. Rõ ràng một sự tiếp cận như thế chỉ dành cho các nhóm tiến bộ, bởi vì mục tiêu của chính Thánh Đoàn là tiếp cận Shamballa, hiển nhiên là một sự tiếp cận sâu xa hơn nhiều so với điều khả dĩ đối với loại nhóm đang được bàn đến ở đây.

It concerns the interrelation of great centres of force. This is a point which esoteric students should attempt to grasp for it completes the planetary chain of Hierarchy and throws a light upon the Way of the Higher Evolution.

Điều này liên quan đến mối tương quan giữa các trung tâm mãnh lực lớn. Đây là một điểm mà các đạo sinh huyền bí cần cố gắng nắm bắt, vì nó hoàn tất chuỗi liên kết hành tinh của Thánh Đoàn và soi sáng Con đường Tiến Hóa Cao Siêu.

63. There is a triangle between humanity, Hierarchy and Shamballa; the flow of energy and force between the points in this triangle is not yet complete.

63. Có một tam giác giữa nhân loại, Thánh Đoàn và Shamballa; dòng chảy của năng lượng và mãnh lực giữa các điểm trong tam giác này vẫn chưa hoàn chỉnh.

64. The initiate thinks in terms of these great centers and his present and future participation in relation to them. He is no longer thinking as an individual. His thought has become planetary in scope.

64. Điểm đạo đồ suy nghĩ theo những trung tâm lớn lao này và theo sự tham dự hiện tại cũng như tương lai của y trong tương quan với chúng. Y không còn suy nghĩ như một cá nhân. Tư tưởng của y đã trở nên có phạm vi hành tinh.

Paragraph 4

Đoạn 4

Great movements and progressions have always taken place upon the subjective side of life;

Những chuyển động và bước tiến lớn lao luôn luôn diễn ra ở phương diện chủ quan của đời sống;

65. The obvious, external movements and progressions are only effects of those that take place inwardly.

65. Những chuyển động và bước tiến hiển nhiên, bên ngoài, chỉ là các hệ quả của những gì diễn ra bên trong.

66. To these we must try to be come sensitive, no longer living in the world of effects, but increasingly in the World of Meaning and the World of Significance.

66. Chúng ta phải cố gắng trở nên nhạy bén với những điều này, không còn sống trong thế giới của các hệ quả, mà ngày càng sống trong Thế giới của ý nghĩa và Thế giới của thâm nghĩa.

it is these subjective activities which have made it hard for disciples to grasp the truth and arrive at some true realisation of the subjective situation which ever exists between the Hierarchy and Shamballa.

chính những hoạt động chủ quan này đã khiến các đệ tử khó nắm bắt chân lý và đạt đến một chứng nghiệm chân thật nào đó về tình trạng chủ quan luôn tồn tại giữa Thánh Đoàn và Shamballa.

67. Subjective processes are not those that concern the emotional and mental bodies, which are, spiritually, still considered objective.

67. Các tiến trình chủ quan không phải là những tiến trình liên quan đến thể cảm dục và thể trí, vốn về mặt tinh thần vẫn còn được xem là khách quan.

68. True subjective processes concern the spiritual triad. Hierarchy and Shamballa can only be fully accessed through the spiritual triad. The great majority of Ashrams are focussed within the triad.

68. Các tiến trình chủ quan đích thực liên quan đến Tam Nguyên Tinh Thần. Chỉ qua Tam Nguyên Tinh Thần mới có thể tiếp cận trọn vẹn Thánh Đoàn và Shamballa. Đại đa số các ashram đều tập trung trong Tam nguyên.

The energies concerned are so subtle, and the Beings involved are so advanced and so highly developed (even from the angle of the initiate of the third degree), that it is well-nigh impossible for the teachings (which I seek to give) to be worded in such a manner that they become comprehensible.

Những năng lượng liên hệ thì vi tế đến mức, và các Đấng liên quan thì tiến bộ và phát triển cao đến mức, ngay cả theo góc nhìn của điểm đạo đồ cấp ba, gần như không thể diễn đạt những giáo huấn mà Tôi tìm cách trao truyền theo một cách khiến chúng trở nên có thể lĩnh hội được.

69. DK is trying to establish in our minds a sense of proportion. Of these Beings, it would seem we can have no true conception.

69. Chân sư DK đang cố thiết lập trong trí chúng ta một Ý thức về tỉ lệ. Về các Đấng này, dường như chúng ta không thể có một quan niệm chân thật nào.

70. Even initiates of the third degree find them incomprehensible.

70. Ngay cả các điểm đạo đồ cấp ba cũng thấy Các Ngài không thể lĩnh hội được.

All that I can do is to make certain statements which (from the standpoint of those I teach) are not verifiable; they have to be accepted on trust and with the reservation that time and the point of view of the individual disciple will later prove their truth—or their non-truth.

Tất cả những gì Tôi có thể làm là đưa ra một số phát biểu mà, theo quan điểm của những người Tôi giảng dạy, không thể kiểm chứng; chúng phải được chấp nhận trên nền tảng tin cậy, kèm theo sự dè dặt rằng thời gian và quan điểm của từng đệ tử về sau sẽ chứng minh chân lý của chúng—hoặc sự không đúng của chúng.

71. We have to be realistic about the nature of the thoughts and ideas we are studying. So many of them are simply beyond us. We can trust the source—the Master DK (as we have come to regard Him), or we can simply be reserved in our acceptance, trusting that time and an enlarging point of view will reveal whether or not the statements given in the Teaching are true.

71. Chúng ta phải thực tế về bản chất của các tư tưởng và ý tưởng mà chúng ta đang nghiên cứu. Rất nhiều trong số đó đơn giản là vượt quá chúng ta. Chúng ta có thể tin cậy nguồn truyền đạt—Chân sư DK, như chúng ta đã dần xem Ngài như thế—hoặc chúng ta có thể chỉ dè dặt trong sự chấp nhận của mình, tin rằng thời gian và một quan điểm mở rộng sẽ mặc khải liệu các phát biểu được đưa ra trong Giáo Huấn có đúng hay không.

72. This is, perhaps, not an enviable position, for the sharp intellects of the world will often doubt our sanity. But there is something in the words of a Master which carries conviction and which appeals to the intuition.

72. Có lẽ đây không phải là một vị thế đáng mong ước, vì những trí tuệ sắc bén của thế gian thường sẽ nghi ngờ sự lành mạnh của chúng ta. Nhưng trong lời của một Chân sư có điều gì đó mang sức thuyết phục và khơi gợi trực giác.

73. If the Tibetan is trustworthy it will be found that trusting Him is a fast path to realization. Should He prove untrustworthy, then we will learn something about our credulity and the true status of what we had considered to be our intuition.

73. Nếu Chân sư Tây Tạng đáng tin cậy, người ta sẽ thấy rằng tin cậy Ngài là một con đường nhanh chóng dẫn đến chứng nghiệm. Nếu Ngài tỏ ra không đáng tin cậy, khi ấy chúng ta sẽ học được điều gì đó về sự cả tin của mình và về địa vị thật sự của điều mà chúng ta từng xem là trực giác của mình.

Paragraph 5

Đoạn 5

The objective of all training given to the disciple is to shift his conscious awareness from the point where he is to levels which are higher than those in the three worlds of definitely human evolution;

Mục tiêu của mọi huấn luyện dành cho đệ tử là chuyển dịch sự nhận biết hữu thức của y từ điểm mà y đang ở đến những cấp độ cao hơn các cấp độ trong ba cõi giới của sự tiến hóa nhân loại rõ rệt;

74. As disciples we are learning to tune out habitual perceptions conditioned by the personality. Something far subtler is coming into view.

74. Là các đệ tử, chúng ta đang học cách thôi hòa điệu với những nhận thức quen thuộc do phàm ngã tác động. Một điều vi tế hơn nhiều đang hiện ra trong tầm nhìn.

75. We are in the gradual process of transferring kingdoms. If all goes well, before long we shall no longer be strictly human.

75. Chúng ta đang ở trong tiến trình chuyển dịch dần dần sang một giới khác. Nếu mọi sự tốt đẹp, chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ không còn là con người theo nghĩa nghiêm ngặt.

76. Do we know the point at which our consciousness is habitually focussed? That would be a starting point.

76. Chúng ta có biết điểm mà tâm thức mình thường xuyên tập trung không? Đó sẽ là một điểm khởi đầu.

77. “Definitely human evolution” ends at the first degree (the first planetary initiation). From the first degree to the sixth, the disciple is a man and yet not a man (for he is becoming a soul—which is fully true at the fifth degree). At the sixth degree, he is more than man.

77. “Sự tiến hóa nhân loại rõ rệt” kết thúc ở cấp độ thứ nhất, tức lần điểm đạo hành tinh thứ nhất. Từ cấp độ thứ nhất đến cấp độ thứ sáu, đệ tử là một con người và tuy vậy không phải là một con người, vì y đang trở thành một linh hồn—điều này hoàn toàn đúng ở cấp độ thứ năm. Ở cấp độ thứ sáu, y còn hơn cả con người.

the intention is to teach him to function on those planes of conscious contact which are as yet so subjective that he only accepts them as existent in theory.

ý định là dạy y hoạt động trên những cõi tiếp xúc hữu thức vốn hiện nay còn chủ quan đến mức y chỉ chấp nhận chúng như đang tồn tại về mặt lý thuyết.

78. First we learn the theory, and we must learn it well. Only then will we be able to interpret with accuracy that which we will inevitably contact.

78. Trước hết chúng ta học lý thuyết, và phải học thật vững. Chỉ khi đó chúng ta mới có thể diễn giải một cách chính xác điều mà chắc chắn chúng ta sẽ tiếp xúc.

The trained initiate knows that they have to become his natural habitat, and that eventually he has to relegate the ordinary and normal human experience to the three worlds of daily expression.

Điểm đạo đồ đã được huấn luyện biết rằng chúng phải trở thành môi trường sống tự nhiên của y, và cuối cùng y phải đưa kinh nghiệm nhân loại bình thường và thông thường xuống ba cõi giới của sự biểu đạt hằng ngày.

79. The term “natural habitat” is evocative. One sees that focus on these higher planes must become “second nature” to the initiate. We must become entirely accustomed to living focussed on planes higher than those of the personality and eventually, on planes even higher than those upon which the causal bodies of men are to be found.

79. Thuật ngữ “môi trường sống tự nhiên” có sức gợi mở. Ta thấy rằng sự tập trung trên các cõi cao hơn này phải trở thành “bản chất thứ hai” đối với điểm đạo đồ. Chúng ta phải hoàn toàn quen với việc sống tập trung trên các cõi cao hơn các cõi của phàm ngã, và cuối cùng, trên những cõi còn cao hơn cả các cõi nơi thể nguyên nhân của con người được tìm thấy.

These become eventually the worlds that exist below the threshold of consciousness; they are relegated to the realm of the subconscious—recoverable consciously, if necessary for right service of humanity, [Page 139] but as much below the threshold of consciousness as are the ordinary emotional reactions of the average man.

Cuối cùng, những cõi này trở thành các thế giới hiện hữu bên dưới ngưỡng tâm thức; chúng được đưa xuống lãnh vực tiềm thức—có thể được khôi phục vào tâm thức nếu cần cho việc phụng sự đúng đắn nhân loại, [Page 139] nhưng cũng ở bên dưới ngưỡng tâm thức không kém gì những phản ứng cảm xúc thông thường của con người trung bình.

80. We have an extraordinary idea presented here. Our three worlds of normal human expression are to become “subconscious” to the higher initiate. The initiate’s consciousness is not focussed in these three worlds at all. He focusses in these worlds only through an act of will and for service purposes.

80. Ở đây chúng ta được trình bày một ý tưởng phi thường. Ba cõi giới biểu đạt nhân loại bình thường của chúng ta sẽ trở thành “tiềm thức” đối với điểm đạo đồ cao cấp. Tâm thức của điểm đạo đồ hoàn toàn không tập trung trong ba cõi giới này. Ngài chỉ tập trung trong các cõi này bằng một hành động của ý chí và vì mục đích phụng sự.

81. What is the analogy in our life? What dimensions are, for us, subconscious? Do we know how to focus within them for service purposes?

81. Đâu là sự tương đồng trong đời sống của chúng ta? Những chiều kích nào, đối với chúng ta, là tiềm thức? Chúng ta có biết cách tập trung trong chúng vì mục đích phụng sự không?

82. Many people today are aware of their emotional reactions. Do you think that disciple should be aware of them, or are they a distraction?

82. Ngày nay nhiều người nhận biết các phản ứng cảm xúc của mình. Bạn có nghĩ rằng đệ tử nên nhận biết chúng, hay chúng là một sự xao lãng?

These are always recoverable (as modern psychoanalysis has demonstrated) and can become capable of expression and of formulation into conditioning concepts—thus actuating mental perception if deemed of adequate importance.

Những điều này luôn có thể được khôi phục, như phân tâm học hiện đại đã chứng minh, và có thể trở nên có khả năng biểu đạt cũng như được định hình thành các khái niệm có tính tác động—nhờ đó thúc đẩy tri giác trí tuệ nếu được xem là đủ quan trọng.

83. DK has referred to three types of psychology—Lemurian, Atlantean and Aryan. He considers the type of psychoanalytical approach here mentioned as an example of Lemurian psychology. This should give us pause.

83. Chân sư DK đã đề cập đến ba loại tâm lý học—Lemuria, Atlantis và Arya. Ngài xem kiểu tiếp cận phân tâm học được nhắc đến ở đây như một ví dụ về tâm lý học Lemuria. Điều này đáng khiến chúng ta dừng lại suy xét.

84. From this section we learn that a great deal of our emotional responsiveness remains undetected to the concrete mind—unless effort is expended.

84. Từ phần này, chúng ta biết rằng rất nhiều khả năng đáp ứng cảm xúc của mình vẫn không được trí cụ thể phát hiện—trừ khi có nỗ lực được bỏ ra.

If these three methods are studied, you can arrive at an understanding as to the three systems which psychologists could elaborate and develop in order to handle the three types of modern consciousness—the Lemurian, which is the lowest found upon our planet at this time; the Atlantean, which is the commonest found today, and the Aryan, which is developing and unfolding with great rapidity. At present, psychologists are using the lowest type of aid for all groups and states of consciousness. This does not seem wise, does it? (EP II 499)

Nếu ba phương pháp này được nghiên cứu, các bạn có thể đạt đến sự thấu hiểu về ba hệ thống mà các nhà tâm lý học có thể triển khai và phát triển nhằm xử lý ba loại tâm thức hiện đại—Lemuria, là loại thấp nhất hiện có trên hành tinh chúng ta vào lúc này; Atlantis, là loại phổ biến nhất hiện nay; và Arya, đang phát triển và khai mở với tốc độ rất nhanh. Hiện nay, các nhà tâm lý học đang dùng loại trợ giúp thấp nhất cho mọi nhóm và mọi trạng thái tâm thức. Điều này có vẻ không khôn ngoan, phải không? Trị Liệu Huyền Môn II 499

However, it should be borne in mind that the greater part of the emotional life of the disciple must become increasingly subconscious, just as the physical plane life of the normal, healthy human being is entirely automatic and thus subconscious.

Tuy nhiên, cần ghi nhớ rằng phần lớn đời sống cảm xúc của đệ tử phải ngày càng trở thành tiềm thức, giống như đời sống cõi hồng trần của con người bình thường, lành mạnh, thì hoàn toàn tự động và do đó thuộc tiềm thức.

85. This can happen only after the major emotional issues and conflicts have been solved. If there is great disturbance in the astral vehicle, it will cry out for recognition, forcing its way into consciousness, which cannot find liberation from unresolved emotional and kama-manasic issues.

85. Điều này chỉ có thể xảy ra sau khi những vấn đề và xung đột cảm xúc chủ yếu đã được giải quyết. Nếu có sự xáo trộn lớn trong vận cụ cảm dục, nó sẽ kêu đòi được nhận biết, tự ép mình đi vào tâm thức, vốn không thể tìm được giải thoát khỏi các vấn đề cảm xúc và trí-cảm chưa được giải quyết.

When the disciple has striven to expand his consciousness, when he has learnt to stabilise his consciousness in the Spiritual Triad, then he becomes part of a great and constant hierarchical effort which strives upwards towards the “Place of Clear Electric Light,” to which the clear cold light of the reason is the first key to the first door.

Khi đệ tử đã nỗ lực mở rộng tâm thức của y, khi y đã học cách ổn định tâm thức của mình trong Tam Nguyên Tinh Thần, bấy giờ y trở thành một phần của nỗ lực lớn lao và liên tục của Thánh Đoàn, vốn vươn lên hướng tới “Nơi của Ánh Sáng Điện Trong Suốt”, mà ánh sáng lạnh trong sáng của lý trí là chìa khóa đầu tiên mở cánh cửa thứ nhất.

86. This section should be analyzed closely for in it an important progression is given:

86. Phần này cần được phân tích kỹ, vì trong đó có nêu một tiến trình quan trọng:

a. The disciple strives to expand his consciousness

a. Đệ tử nỗ lực mở rộng tâm thức của y

b. The disciple cultivates the “clear cold light of the reason”

b. Đệ tử vun bồi “ánh sáng lạnh trong sáng của lý trí”

c. The disciple stabilizes his consciousness in the Spiritual Triad

c. Đệ tử ổn định tâm thức của y trong Tam Nguyên Tinh Thần

d. The disciple (in concert with his group and in coordination with Hierarchy) strive upwards towards the “Place of Clear Electric Light”

d. Đệ tử, hợp cùng nhóm của y và phối hợp với Thánh Đoàn, vươn lên hướng tới “Nơi của Ánh Sáng Điện Trong Suốt”

87. The “clear cold light of the reason” is related to the buddhic plane, but the higher mental plane is also somewhat involved. In any case, this cultivation is the first portal of entry to Shamballa.

87. “Ánh sáng lạnh trong sáng của lý trí” liên hệ với cõi Bồ đề, nhưng cõi thượng trí cũng phần nào có liên quan. Dù thế nào, sự vun bồi này là cửa ngõ đầu tiên để bước vào Shamballa.

88. Another name for Shamballa is given, and should be pondered: The “Place of Clear Electric Light”.

88. Một danh xưng khác của Shamballa được đưa ra, và cần được suy ngẫm: “Nơi của Ánh Sáng Điện Trong Suốt”.

Paragraph 6

Đoạn 6

There are three doors into Shamballa, speaking figuratively:

Nói theo nghĩa biểu tượng, có ba cánh cửa vào Shamballa:

89. Important information on the modes of entering Shamballa is here given.

89. Ở đây có đưa ra thông tin quan trọng về các phương thức bước vào Shamballa.

1. There is the door of the reason, of pure perception of truth.

1. Có cánh cửa của lý trí, của sự tri giác thuần khiết về chân lý.

90. The manner in which philosophy uses the term “reason” is not as occultist use the term. Pure reason is nothing short of intuition which grasps the whole in its entirety and sees simultaneously the why and wherefore of all things.

90. Cách triết học dùng thuật ngữ “lý trí” không giống như cách các nhà huyền bí học dùng thuật ngữ này. Lý trí thuần túy không gì khác hơn là trực giác, vốn nắm bắt toàn thể trong tính toàn vẹn của nó và đồng thời thấy được lý do cùng căn nguyên của mọi sự.

91. The buddhic plane is related to the heart; it is the pure heart which is capable of intuition and which sees the truth. “Blessed are the pure in heart, for they shall see God”. To see “God” is a great blessing, as the mystics of the ages will attest.

91. Cõi Bồ đề liên hệ với trái tim; chính trái tim thuần khiết có khả năng trực giác và thấy được chân lý. “Phúc thay những ai có trái tim thanh sạch, vì họ sẽ thấy Thượng đế.” Thấy “Thượng đế” là một phúc lành lớn lao, như các nhà thần bí qua mọi thời đại sẽ xác nhận.

92. And who shall be “God”? To see God is one thing; to be God, another.

92. Và ai sẽ “Thượng đế”? Thấy Thượng đế là một việc; Thượng đế lại là việc khác.

Christ gave the clue to this teaching when He said “I am the Way, the Truth and the Life.” Of that Way we know much, because upon the Way a vast body of teaching has been given, and that teaching, if followed, brings a man into the Hierarchy.

Đức Christ đã trao chìa khóa cho giáo huấn này khi Ngài nói: “Tôi là Đường Đạo, Chân Lý và Sự Sống.” Về Đường Đạo ấy, chúng ta biết nhiều, vì trên Đường Đạo đã có một khối giáo huấn bao la được ban ra, và giáo huấn ấy, nếu được noi theo, sẽ đưa con người vào Thánh Đoàn.

93. We have here a higher an impersonal way of interpreting this vitally important saying by the Christ: “I am the Way, the Truth and the Life.”

93. Ở đây chúng ta có một cách diễn giải cao hơn và vô ngã hơn về lời nói vô cùng quan trọng này của Đức Christ: “Tôi là Đường Đạo, Chân Lý và Sự Sống.”

94. It is the “Christ Consciousness”, the buddhi, that perceives pure truth.

94. Chính “Tâm thức Christ”, tức Bồ đề, nhận thức được chân lý thuần khiết.

95. We are all treading the “Way” and have been abundantly informed as to its nature however theoretical that Way may be for many.

95. Tất cả chúng ta đều đang bước trên “Đường Đạo” và đã được thông tin dồi dào về bản chất của Đường Đạo ấy, dù đối với nhiều người Đường Đạo đó còn mang tính lý thuyết.

96. The “Way” leads to Hierarchy. The Way of Higher Evolution leads for some to Shamballa and for others, to destinations beyond our planet and solar system.

96. “Đường Đạo” dẫn đến Thánh Đoàn. Con đường Tiến Hóa Cao Siêu dẫn một số vị đến Shamballa và dẫn những vị khác đến các đích đến vượt ngoài hành tinh và hệ mặt trời của chúng ta.

He then becomes a factual part of the hierarchical membership.

Bấy giờ y trở thành một phần thực sự của hàng ngũ Thánh Đoàn.

97. Probationary initiates are on the periphery of Hierarchy; they are somehow included within the ‘Circle of Hierarchy’. (cf. TCF 1248).

97. Các điểm đạo đồ dự bị ở trên chu vi của Thánh Đoàn; bằng cách nào đó họ được bao gồm trong “Vòng Tròn của Thánh Đoàn”. Xem Luận về Lửa Vũ Trụ 1248.

98. Factual hierarchical membership is another matter. It is beyond belief, supposition and inference. It is realized in a blaze of straight knowledge.

98. Tư cách thành viên thực sự trong Thánh Đoàn là một vấn đề khác. Nó vượt ngoài niềm tin, giả định và suy luận. Nó được chứng nghiệm trong một luồng bừng sáng của tri thức trực tiếp.

Of that Truth, we know (as aspirants) relatively very little. Truth—as we understand it during the early treading of the Path of Discipleship—is concerned with great verities which are (from the insight of the Enlightened Ones) only the a b c of life.

Về Chân Lý ấy, với tư cách là những người chí nguyện, chúng ta biết tương đối rất ít. Chân lý—như chúng ta thấu hiểu trong giai đoạn đầu bước trên Con Đường Đệ Tử—liên quan đến những chân lý lớn lao mà, theo minh kiến của các Đấng Giác Ngộ, chỉ là những bài học sơ đẳng của sự sống.

99. We find that the Way, the Truth and the Life are progressive—three terms indicating progressive phases of action and realization. If we know (or can know) relatively much about the “Way”, we are told that we know little of the “Truth”.

99. Chúng ta thấy rằng Đường Đạo, Chân Lý và Sự Sống là tiệm tiến—ba thuật ngữ chỉ những giai đoạn tiệm tiến của hành động và chứng nghiệm. Nếu chúng ta biết, hoặc có thể biết, tương đối nhiều về “Đường Đạo”, thì chúng ta được cho biết rằng chúng ta biết rất ít về “Chân Lý”.

100. As profound as may be the learning of those who are in the relatively early stages of treading the Path of Discipleship (the “learned aspirant”), such knowledge is only the ABC of what may be known.

100. Dù sự học hỏi của những người đang ở các giai đoạn tương đối đầu trên Con Đường Đệ Tử, tức “người chí nguyện học rộng”, có sâu xa đến đâu, tri thức ấy cũng chỉ là phần sơ đẳng của những gì có thể được biết.

101. DK tells us that, as disciples, we are learning the “a b d of life”. Does He mean “life” as in the first aspect of divinity? If so, one could certainly agree.

101. Chân sư DK nói với chúng ta rằng, với tư cách là các đệ tử, chúng ta đang học “những điều vỡ lòng của sự sống”. Có phải Ngài muốn nói đến “sự sống” theo nghĩa phương diện thứ nhất của thiên tính không? Nếu vậy, chắc chắn người ta có thể đồng ý.

Paragraph 7

Đoạn 7

These truths are:

Những chân lý này là:

102. One can infer that the truths here presented will be elaborated by the Christ when He reappears.

102. Có thể suy ra rằng các chân lý được trình bày ở đây sẽ được Đức Christ khai triển khi Ngài tái lâm.

The manifestation of divinity on the physical plane.

Sự biểu hiện của thiên tính trên cõi hồng trần.

103. That which is to be seen is all divine. Do we realize this? The majority of human beings do not, for many separate “God” from His Creation, although, occultly, they are one in identity.

103. Điều sẽ được nhìn thấy là tất cả đều thiêng liêng. Chúng ta có nhận ra điều này không? Phần lớn nhân loại thì không, vì nhiều người tách “Thượng đế” khỏi Công Trình Sáng Tạo của Ngài, mặc dù, theo huyền bí học, cả hai là một trong bản sắc.

The doctrine of Avatars. This religious history reveals.

Giáo lý về các Đấng Hoá Thân. Lịch sử tôn giáo mặc khải điều này.

104. The greater always help the lesser and the higher the lower. Man is never left without the discernible presence of Deity.

104. Đấng lớn hơn luôn trợ giúp đấng nhỏ hơn, và cái cao hơn trợ giúp cái thấp hơn. Con người không bao giờ bị bỏ lại mà không có sự hiện diện có thể nhận biết của Thượng đế.

The nature of consciousness, through the development of psychology.

Bản chất của tâm thức, thông qua sự phát triển của tâm lý học.

105. The nature of consciousness is a deep universal mystery.

105. Bản chất của tâm thức là một huyền nhiệm vũ trụ sâu xa.

106. Something of this mystery can be conveyed to us through the science of psychology. Consciousness produces the psyche and not vice-versa, but in modern understanding, consciousness is considered to be a quality of the psyche.

106. Một phần nào của huyền nhiệm này có thể được truyền đạt cho chúng ta qua khoa học tâm lý học. Tâm thức tạo ra tâm lý, chứ không phải ngược lại; nhưng trong sự thấu hiểu hiện đại, tâm thức được xem là một phẩm tính của tâm lý.

107. As yet, man knows but little of consciousness, its origin and its development. Psychology, as presently practiced, is revealing much about the nature of consciousness, but psychology must soon become the ‘Psychology of the Soul’ before a truer revelation becomes possible.

107. Cho đến nay, con người chỉ biết rất ít về tâm thức, về nguồn gốc và sự phát triển của nó. Tâm lý học, như hiện nay đang được thực hành, đang mặc khải nhiều điều về bản chất của tâm thức; nhưng chẳng bao lâu nữa tâm lý học phải trở thành “Tâm Lý Học của Linh Hồn” trước khi một sự mặc khải chân thật hơn trở nên khả dĩ.

The doctrine of the Trinity, as it expresses itself through the aspects and the attributes.

Giáo lý về Ba Ngôi, khi nó tự biểu đạt qua các phương diện và các thuộc tính.

108. Why is the “doctrine of the Trinity” a fundamental truth? Perhaps because it holds the key to all manifestation through enumeration, and also reveals the oneness of all that is manifested.

108. Tại sao “giáo lý về Ba Ngôi” là một chân lý nền tảng? Có lẽ vì nó nắm giữ chìa khóa của mọi biểu hiện thông qua sự liệt kê, và cũng mặc khải tính duy nhất của tất cả những gì được biểu hiện.

109. The mystery of Unity in Diversity and Diversity in Unity is contained within the “doctrine of the Trinity”.

109. Huyền nhiệm của Hợp Nhất trong Đa Dạng và Đa Dạng trong Hợp Nhất được chứa đựng trong “giáo lý về Ba Ngôi”.

110. During the past centuries men have fought over the interpretation of this mystery. Some have upheld the reality of the Trinity almost forgetting the Unity which pervades it. Others have taken an entirely “Unitarian” rather than “Trinitarian” point of view, and have given their lives to prove that the Unity could not be divided.

110. Trong các thế kỷ qua, con người đã tranh đấu về cách diễn giải huyền nhiệm này. Một số người đã bênh vực thực tại của Ba Ngôi đến mức hầu như quên mất Sự Hợp Nhất thấm nhuần nó. Những người khác đã giữ một quan điểm hoàn toàn “nhất vị luận” hơn là “tam vị luận”, và đã hiến đời mình để chứng minh rằng Sự Hợp Nhất không thể bị phân chia.

111. It is clear however that the truth does not lie with one or the other camp. “God” is both indivisible and divisible. The nature of this truth is obscure and can only be partially fathomed by the third degree initiate who has passed through the meaning of the number three and, yet, has ‘met’ his monad—the great Unity within.

111. Tuy nhiên, rõ ràng chân lý không thuộc về phe này hay phe kia. “Thượng đế” vừa bất khả phân vừa khả phân. Bản chất của chân lý này còn mờ tối và chỉ có thể được thấu hiểu phần nào bởi điểm đạo đồ cấp ba, người đã đi xuyên qua ý nghĩa của con số ba, và tuy vậy, đã “gặp” chân thần của mình—Sự Hợp Nhất lớn lao bên trong.

Paragraph 8

Đoạn 8

These four expressions of truth will be found to convey all the knowledge with which the initiate must stand equipped [Page 140] when he climbs the Mount of Transfiguration at the time of the third initiation. They have given him a spiritual perception of the Plan.

Bốn biểu đạt này của chân lý sẽ được thấy là truyền đạt toàn bộ tri thức mà điểm đạo đồ phải được trang bị [Page 140] khi y leo lên Núi Biến Hình vào lúc lần điểm đạo thứ ba. Chúng đã trao cho y một tri giác tinh thần về Thiên Cơ.

112. Four expressions of truths which must precede the taking of the third degree are here given.

112. Ở đây có nêu bốn biểu đạt của chân lý, vốn phải đi trước việc nhận cấp độ thứ ba.

113. The Christ is responsible for teaching these four great truths (among other truths) and the Buddha, Four Noble Truths.

113. Đức Christ chịu trách nhiệm giảng dạy bốn chân lý lớn lao này, cùng với những chân lý khác, còn Đức Phật giảng dạy Tứ Diệu Đế.

114. Why must the initiate be equipped with knowledge of these truths in order to take the Transfiguration initiation? I will summarize the main points to be gathered in relation to these truths:

114. Tại sao điểm đạo đồ phải được trang bị tri thức về các chân lý này để nhận lần điểm đạo Biến Hình? Tôi sẽ tóm lược các điểm chính cần được rút ra liên quan đến những chân lý này:

a. Manifested life is divine and “God” wills to manifest His nature.

a. Sự sống biểu hiện là thiêng liêng và “Thượng đế” muốn biểu hiện bản chất của Ngài.

b. Great Beings assist humanity and the Plan.

b. Các Đấng Cao Cả trợ giúp nhân loại và Thiên Cơ.

c. We are all fundamentally related through consciousness. “All souls are one with the Oversoul.”

c. Tất cả chúng ta về căn bản đều liên hệ với nhau qua tâm thức. “Tất cả các linh hồn là một với đại hồn.”

d. “God” has three major aspects and yet remains an indivisible Unity.

d. “Thượng đế” có ba phương diện chính yếu, nhưng vẫn là một Sự Hợp Nhất bất khả phân.

115. The third initiation sees a rather complete blending of the second and third aspects. Studying these four truths will show them related to one or other of these two aspects.

115. Lần điểm đạo thứ ba chứng kiến một sự hòa nhập khá hoàn chỉnh của phương diện thứ hai và thứ ba. Việc nghiên cứu bốn chân lý này sẽ cho thấy chúng liên hệ với phương diện này hoặc phương diện kia trong hai phương diện ấy.

116. For the third degree initiate, the will aspect of divinity is only beginning to be a factual factor.

116. Đối với điểm đạo đồ cấp ba, phương diện ý chí của thiên tính chỉ mới bắt đầu trở thành một yếu tố thực sự.

117. The Tibetan relates these four truths to “a spiritual perception of the Plan”. The sign Sagittarius precedes Capricorn—in which the third initiation is taken—(as Capricorn is the sign archetypally related to this initiation).

117. Chân sư Tây Tạng liên hệ bốn chân lý này với “một tri giác tinh thần về Thiên Cơ”. Dấu hiệu Nhân Mã đi trước Ma Kết—nơi lần điểm đạo thứ ba được nhận—vì Ma Kết là dấu hiệu liên hệ về mặt nguyên mẫu với lần điểm đạo này.

118. But one must see and perceive (Sagittarius) before life can be contacted in Capricorn.

118. Nhưng người ta phải thấy và tri giác, tức Nhân Mã, trước khi có thể tiếp xúc với sự sống trong Ma Kết.

Paragraph 9

Đoạn 9

Of that Life, we know nothing whatsoever. The contemplation of its significance belongs to Those Who can move at will within the “precincts of the Lord of Life”—in Shamballa itself.

Về Sự Sống ấy, chúng ta tuyệt nhiên không biết gì. Việc chiêm ngưỡng thâm nghĩa của nó thuộc về Những Đấng có thể tùy ý di chuyển trong “khuôn viên của Chúa Tể Sự Sống”—ngay trong chính Shamballa.

119. Sixth degree initiates (Chohans) can “move” in this manner.

119. Các điểm đạo đồ bậc sáu, tức các Chohan, có thể “di chuyển” theo cách này.

120. A beautiful phrase is given to describe Shamballa—the “precincts of the Lord of Life”. Sanat Kumara is called the “Lord of the World” and here we find Him titled the “Lord of Life”.

120. Một cụm từ tuyệt đẹp được dùng để mô tả Shamballa—“khuôn viên của Chúa Tể Sự Sống”. Đức Sanat Kumara được gọi là “Đức Chúa Tể Thế Giới”, và ở đây chúng ta thấy Ngài được tôn xưng là “Chúa Tể của Sự Sống”.

121. It becomes clear that the fullest possible realization of “Life” is not easily achieved (if at all achieved) on in the physical brain consciousness. Great Beings like the Buddha and the Christ have, it would seem, done so, but it eludes most.

121. Điều trở nên rõ ràng là sự chứng nghiệm trọn vẹn nhất có thể về “Sự Sống” không dễ đạt được, nếu quả thật có thể đạt được, trong tâm thức bộ não hồng trần. Những Đấng Cao Cả như Đức Phật và Đức Christ dường như đã làm được điều ấy, nhưng nó vượt khỏi tầm của đa số.

All we can know about it is its lowest step. This enables us to study the impulse or instinct which enables all forms of life to function, which embodies the principles of responsiveness to contacts and to environment, and which embodies itself in the breath of life; this is also related to the air in some mysterious manner, and also to fire. More anent this subject it would be useless for me to say.

Tất cả những gì chúng ta có thể biết về nó là nấc thấp nhất của nó. Điều này cho phép chúng ta nghiên cứu xung động hay bản năng vốn giúp mọi hình tướng sự sống vận hành, vốn hiện thân các nguyên khí đáp ứng với những tiếp xúc và với môi trường, và vốn tự hiện thân trong hơi thở của sự sống; điều này cũng liên hệ với không khí theo một cách huyền bí nào đó, và cũng liên hệ với lửa. Nói thêm về đề tài này sẽ là vô ích đối với tôi.

122. DK tries to convey something of the meaning of “Life” but senses the difficulty of His task. He notes the following life-related processes:

122. Chân sư DK cố gắng truyền đạt đôi điều về ý nghĩa của “Sự Sống”, nhưng Ngài cảm nhận sự khó khăn trong nhiệm vụ của mình. Ngài ghi nhận những tiến trình liên hệ đến sự sống sau đây:

a. Impulse and Instinct (sustenance)

a. Xung động và bản năng, tức sự duy trì

b. Responsiveness (life touches life)

b. Sự đáp ứng, tức sự sống chạm đến sự sống

c. The “Breath of Life” (animating all)

c. “Hơi thở của Sự Sống”, làm linh hoạt tất cả

123. We are told that the “Breath of Life” is related to both air and fire. We cannot help but think of the gaseous plane (either the physical gaseous or the mental plane). The air we breathe is a gas, and the mental plane is related to fire especially (but also to air, for the mental plane is the gaseous plane of the cosmic physical plane).

123. Chúng ta được cho biết rằng “Hơi thở của Sự Sống” liên hệ với cả không khí lẫn lửa. Chúng ta không thể không nghĩ đến cõi khí, hoặc là chất khí hồng trần, hoặc là cõi trí. Không khí chúng ta hít thở là một chất khí, và cõi trí đặc biệt liên hệ với lửa, nhưng cũng liên hệ với không khí, vì cõi trí là cõi khí của cõi hồng trần vũ trụ.

124. The right use of the breath ignites fire. This we know from the practical world, but it is also an occult truth and is related to the efficacy of breathing exercises in stimulating the fires of the body.

124. Việc sử dụng đúng hơi thở làm bừng cháy lửa. Chúng ta biết điều này từ thế giới thực tiễn, nhưng đó cũng là một chân lý huyền bí, và liên hệ đến hiệu quả của các bài tập hô hấp trong việc kích thích các lửa của thể.

Paragraph 10

Đoạn 10

2. There is also the door of the will. This is a penetrating power which relates Plan to Purpose and which has in it the faculty of coherent persistence.

2. Cũng có cánh cửa của ý chí. Đây là một quyền năng xuyên thấu, nối kết Thiên Cơ với Thiên Ý, và trong nó có năng lực bền bỉ cố kết.

125. The “will” as here described is not what we usually think.

125. “Ý chí” như được mô tả ở đây không phải là điều chúng ta thường nghĩ đến.

126. It is said to be a penetrating power which, it seems, serves as a bridge between Plan and Purpose.

126. Nó được nói là một quyền năng xuyên thấu, dường như đóng vai trò cây cầu giữa Thiên Cơ và Thiên Ý.

127. Plan is to be found on the manasic level and purpose on the atmic level. On a higher turn of the spiral, the atmic plane can also be related to the Divine Plan and the Purpose to the monadic level.

127. Thiên Cơ được tìm thấy trên cấp độ manas, còn Thiên Ý ở trên cấp độ atma. Trên một vòng xoắn cao hơn của vòng xoắn ốc, cõi atma cũng có thể liên hệ với Thiên Cơ thiêng liêng, còn Thiên Ý với cấp độ chân thần.

128. It seems that will is the intermediary between Plan and Purpose.

128. Dường như ý chí là trung gian giữa Thiên Cơ và Thiên Ý.

129. The “faculty of coherent persistence” is an arresting idea. It is not simply persistence, per se, but the kind of persistence which keeps the whole together. There can be a type of persistence which is divisive rather that promotive of coherence. The type of will here discussed includes the faculty of synthesis—for synthesis and coherence are closely related.

129. “Năng lực bền bỉ cố kết” là một ý tưởng gây chú ý. Đó không chỉ đơn giản là sự bền bỉ, chính nó, mà là loại bền bỉ giữ toàn thể gắn kết với nhau. Có thể có một loại bền bỉ gây chia rẽ hơn là thúc đẩy sự cố kết. Loại ý chí đang được bàn đến ở đây bao gồm năng lực tổng hợp—vì tổng hợp và cố kết liên hệ mật thiết với nhau.

The reason for this persistence is that it is not dependent upon the content of the form—whether it is the form of an atom, of a man or of a planet—but upon a vital dynamic and immutable purpose, latent in the consciousness of the planetary Being Who, “having pervaded this entire universe with a fragment” of Himself, REMAINS—greater, more inscrutable and “firmer in intent” than any of His creations, even the most advanced and the closest to Him.

Lý do của sự bền bỉ này là vì nó không tùy thuộc vào nội dung của hình tướng—dù đó là hình tướng của một nguyên tử, của một con người hay của một hành tinh—mà tùy thuộc vào một Thiên Ý sống động, năng động và bất biến, tiềm tàng trong tâm thức của Đấng Hành Tinh, Đấng “sau khi thấm nhập toàn thể vũ trụ này bằng một mảnh” của chính Ngài, vẫn HẰNG CÒN—vĩ đại hơn, khó dò hơn và “kiên định hơn trong ý định” so với bất cứ tạo vật nào của Ngài, kể cả những tạo vật tiến bộ nhất và gần gũi nhất với Ngài.

130. This is an extraordinary section, explaining the persistence found in the Divine Will.

130. Đây là một phần phi thường, giải thích sự bền bỉ được tìm thấy trong Ý Chí thiêng liêng.

131. When we exert what we call the “will”, the factor of persistence generated may be dependent upon many form-related factors. This is not the case with the will which facilitates entry into Shamballa via the “door of will”.

131. Khi chúng ta vận dụng điều mà chúng ta gọi là “ý chí”, yếu tố bền bỉ được tạo ra có thể tùy thuộc vào nhiều yếu tố liên hệ đến hình tướng. Điều này không đúng với ý chí vốn tạo thuận lợi cho việc bước vào Shamballa qua “cánh cửa của ý chí”.

132. That will is rooted in Purpose and its nature and potency are divorced from form conditioning. Of this will we know practically nothing (if anything at all) for we are still very related to form—if not the form of the personality, then the form of the causal body.

132. Ý chí ấy bắt rễ trong Thiên Ý, và bản chất cũng như quyền năng của nó tách khỏi sự tác động của hình tướng. Về ý chí này, chúng ta hầu như không biết gì, nếu quả thật có biết chút nào, vì chúng ta vẫn còn rất liên hệ với hình tướng—nếu không phải hình tướng của phàm ngã, thì là hình tướng của thể nguyên nhân.

133. To be practical, let us ask ourselves why we persist, if we do. What is the source of our persistence? Is our persistence rooted in “vital dynamic and immutable purpose?”

133. Nói một cách thực tiễn, chúng ta hãy tự hỏi tại sao chúng ta bền bỉ, nếu chúng ta thật sự bền bỉ. Nguồn gốc của sự bền bỉ nơi chúng ta là gì? Sự bền bỉ của chúng ta có bắt rễ trong “Thiên Ý sống động, năng động và bất biến” không?

134. Something majestic and mysterious is said of our Planetary Logos. He is a being “more inscrutable and ‘firmer in intent’ than any of His creations—even those who are closest to Him”.

134. Một điều uy nghi và huyền nhiệm được nói về Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta. Ngài là một Đấng “khó dò hơn và ‘kiên định hơn trong ý định’ so với bất cứ tạo vật nào của Ngài—kể cả những Đấng gần gũi nhất với Ngài”.

135. We note that a “universe” is the total creation of any being.

135. Chúng ta lưu ý rằng một “vũ trụ” là toàn bộ tạo vật của bất cứ Đấng nào.

136. We could be speaking of the Planetary Logos proper, or we could (in line with the foregoing discussion) be speaking of Sanat Kumara Who is, it would seem, far greater than the Buddhas of Activity who are so closely associated with Him.

136. Chúng ta có thể đang nói đến chính Đức Hành Tinh Thượng Đế, hoặc, theo cuộc bàn luận trước đó, chúng ta có thể đang nói đến Đức Sanat Kumara, Đấng dường như vĩ đại hơn nhiều so với các Đức Phật Hoạt Động vốn liên kết rất mật thiết với Ngài.

137. It is probable that the discussion relates to Sanat Kumara. The following quotes suggest this:

137. Có lẽ cuộc bàn luận liên hệ đến Đức Sanat Kumara. Những trích dẫn sau đây gợi ý điều đó:

These two, related through manifestation, are in reality atma-buddhi, spirit-reason, dedicated for the term of the creative period to a simultaneous functioning; the first result of their relation is the appearance of that which will enable the Lord of the World to express His Own unknown inscrutable purpose. (TEV 65)

Hai điều này, liên hệ với nhau qua sự biểu hiện, trong thực tại là atma-bồ đề, tinh thần-lý trí, được hiến dâng trong suốt thời kỳ sáng tạo cho một hoạt động đồng thời; kết quả đầu tiên của mối liên hệ giữa chúng là sự xuất hiện của điều sẽ giúp Đức Chúa Tể Thế Giới biểu lộ Thiên Ý bí nhiệm và chưa được biết của chính Ngài.

a. The unknown, unseen and unheard purpose of Sanat Kumara. (R&I 241)

a. Thiên Ý chưa được biết, chưa được thấy và chưa được nghe của Đức Sanat Kumara.

Only those have clear perception of His divine purpose who do not belong to our earth humanity at all; these are the Lives who came with Him to this planet when He came, and Who remain with Him as “the prisoners of loving intention” until the last “weary pilgrim has found his way home.”

Chỉ những Đấng không hề thuộc về nhân loại địa cầu của chúng ta mới có nhận thức rõ ràng về Thiên Ý thiêng liêng của Ngài; đó là những Sự Sống đã đến với Ngài tới hành tinh này khi Ngài đến, và vẫn ở lại với Ngài như “những tù nhân của ý định thương yêu” cho đến khi “người hành hương mỏi mệt cuối cùng đã tìm được đường về nhà”.

138. We are speaking here of the 105 Kumaras (perhaps 108) Who came with Sanat Kumara at the dawn of humanity’s development.

138. Ở đây chúng ta đang nói đến một trăm lẻ năm vị Kumara, có lẽ một trăm lẻ tám, đã đến cùng Đức Sanat Kumara vào buổi bình minh của sự phát triển nhân loại.

139. Of these, the Buddhas of Activity are three. No doubt there are others, but many (if not most), we are told, have moved on, with their places taken by members of the Hierarchy drawn from those human beings who have achieved.

139. Trong số các Ngài, các Đức Phật Hoạt Động là ba vị. Chắc chắn còn có những vị khác, nhưng nhiều vị, nếu không phải đa số, chúng ta được cho biết, đã tiếp tục tiến lên, và chỗ của các Ngài được thay thế bởi những thành viên của Thánh Đoàn được rút từ những con người đã thành tựu.

140. When thinking about the “Great Sacrifice” (Sanat Kumara) and, for that matter, of the principle of sacrifice, we see how love and will are closely interrelated in all truly sacrificial acts. When we are involved in the necessity of sacrifice, it would be valuable (on our own small scale) to regard ourselves as “prisoners of loving intention”, rather than simply as “prisoners” condemned to sacrifice. One can see that both love and will are missing from this last formulation.

140. Khi nghĩ về “Đại Hy Sinh”, tức Đức Sanat Kumara, và về nguyên khí hy sinh nói chung, chúng ta thấy tình thương và ý chí liên hệ mật thiết với nhau như thế nào trong mọi hành động hy sinh chân thực. Khi chúng ta vướng vào sự cần thiết của hy sinh, sẽ rất hữu ích, trên quy mô nhỏ bé của chính mình, nếu chúng ta xem mình là “những tù nhân của ý định thương yêu”, hơn là chỉ là “những tù nhân” bị kết án phải hy sinh. Có thể thấy rằng cả tình thương lẫn ý chí đều vắng mặt trong cách diễn đạt sau cùng này.

Paragraph 11

Đoạn 11

This spiritual will is something of which humanity knows nothing; it is hidden and veiled by the self-will of the individual and the group will of the soul.

Ý chí tinh thần này là điều mà nhân loại không biết gì; nó bị che giấu và bị phủ màn bởi ý chí cá nhân của con người riêng lẻ và ý chí nhóm của linh hồn.

141. The term spiritual will is much discussed in esoteric circles, but it requires a facility in the use of atmic energy.

141. Thuật ngữ ý chí tinh thần được bàn luận nhiều trong các giới huyền bí, nhưng nó đòi hỏi khả năng sử dụng năng lượng atma.

142. Self-will veils the spiritual will because the spiritual will cannot be expressed through the narrowness of selfishness and ahamkaric concern.

142. Ý chí cá nhân che phủ ý chí tinh thần vì ý chí tinh thần không thể được biểu lộ qua sự hẹp hòi của tính ích kỷ và mối bận tâm ngã chấp.

143. Group will veils the spiritual will because spiritual will is the will of the whole rather than the will of any part of the whole (such as a group).

143. Ý chí nhóm che phủ ý chí tinh thần vì ý chí tinh thần là ý chí của toàn thể chứ không phải ý chí của bất cứ phần nào của toàn thể, chẳng hạn như một nhóm.

Through both of these experiences the human being moves until his individual will is developed and grounded, focussed and reoriented, and his group will is unfolded so that it includes and swallows up the dedicated, conscious, individual will.

Qua cả hai kinh nghiệm này, con người tiến bước cho đến khi ý chí cá nhân của y được phát triển và đặt nền tảng, được tập trung và tái định hướng, và ý chí nhóm của y được khai mở để nó bao gồm và nuốt trọn ý chí cá nhân thánh hiến, có ý thức.

144. It is necessary to develop both individual and group will. We see the proper progression. There is no development of the spiritual will until the earlier two types of will have been developed.

144. Cần phải phát triển cả ý chí cá nhân lẫn ý chí nhóm. Chúng ta thấy tiến trình đúng đắn. Không có sự phát triển ý chí tinh thần cho đến khi hai loại ý chí trước đó đã được phát triển.

a. Individual will must be developed, grounded, focussed and reoriented (towards the soul)

a. Ý chí cá nhân phải được phát triển, đặt nền tảng, tập trung và tái định hướng về phía linh hồn

b. Group will is to be unfolded and is to include swallow up the dedicated, conscious individual will.

b. Ý chí nhóm phải được khai mở và phải bao gồm, nuốt trọn ý chí cá nhân thánh hiến, có ý thức.

145. The term “swallowed up” is interesting. It means to “engulf”. Soul consciousness is spherical and considers the welfare of the group. It is not brittle and narrowly directed as the individual will so often is.

145. Thuật ngữ “nuốt trọn” rất thú vị. Nó có nghĩa là “bao phủ trọn vẹn”. Tâm thức linh hồn có tính hình cầu và xem xét phúc lợi của nhóm. Nó không giòn cứng và bị hướng dẫn hẹp hòi như ý chí cá nhân thường là như vậy.

146. When group will supersedes the individual it is not to negate that will, but use it.

146. Khi ý chí nhóm thay thế ý chí cá nhân, điều đó không nhằm phủ nhận ý chí ấy, mà nhằm sử dụng nó.

147. Every succeeding sphere envelopes (“swallows”) the preceding sphere and spheres.

147. Mỗi khối cầu kế tiếp bao bọc, tức “nuốt”, khối cầu hay các khối cầu đi trước.

When this fusion has taken place (at the third initiation) a [Page 141] great revelation unfolds itself, and for the first time the initiate senses and then contacts the universal will; from that moment the initiate says, “Father, not my will but Thine be done.”

Khi sự dung hợp này đã diễn ra, ở lần điểm đạo thứ ba, một [Trang 141] sự mặc khải lớn tự khai mở, và lần đầu tiên điểm đạo đồ cảm nhận rồi tiếp xúc với ý chí phổ quát; từ khoảnh khắc đó, điểm đạo đồ nói: “Cha ơi, không theo ý con, mà xin cho ý Cha được thành.”

148. The “universal will” in this case is not the Will of the Universal Logos, but the Will of the Solar Logos, for the third initiation is first solar initiation.

148. “Ý chí phổ quát” trong trường hợp này không phải là Ý Chí của Thượng đế Vũ Trụ, mà là Ý Chí của Thái dương Thượng đế, vì lần điểm đạo thứ ba trước hết là điểm đạo Thái dương.

149. The will of the monad (an aspect of the “universal will”) leads to complete self-abnegation.

149. Ý chí của chân thần, một phương diện của “ý chí phổ quát”, dẫn đến sự tự xả hoàn toàn.

Just a little of what that will includes may emerge as we study this seventh rule and some of the succeeding rules.

Chỉ một chút ít về những gì ý chí ấy bao hàm có thể xuất hiện khi chúng ta nghiên cứu quy luật thứ bảy này và một số quy luật kế tiếp.

150. It is interesting that we are studying the seventh rule; the number seven places us in rapport (however tenuous that rapport) with the seventh plane whereon the Logoic Will expresses itself—not only the Will of the Planetary Logos but of the Solar Logos as that will affects the cosmic physical plane.

150. Điều thú vị là chúng ta đang nghiên cứu quy luật thứ bảy; con số bảy đặt chúng ta trong mối giao cảm, dù mối giao cảm ấy mong manh đến đâu, với cõi thứ bảy, nơi Ý Chí Thượng đế tự biểu lộ—không chỉ Ý Chí của Đức Hành Tinh Thượng Đế mà còn của Thái dương Thượng đế, trong chừng mực ý chí ấy tác động đến cõi hồng trần vũ trụ.

Paragraph 12

Đoạn 12

3. I can find no words to express the nature of the third door. Let us, in default of a better term, call it the door of the monadic sense of essential duality.

3. Tôi không thể tìm được lời nào để diễn tả bản chất của cánh cửa thứ ba. Do thiếu một thuật ngữ tốt hơn, chúng ta hãy gọi nó là cánh cửa của ý thức chân thần về nhị nguyên bản yếu.

151. When a statement like this is given it must mean that this third door is related to the “Technique of Duality” and to the type of awareness which can be achieved through its use. (cf. EP II 378-391)

151. Khi một phát biểu như thế được đưa ra, hẳn nó có nghĩa là cánh cửa thứ ba này liên hệ với “Kỹ Thuật Nhị Nguyên” và với loại nhận thức có thể đạt được nhờ sử dụng kỹ thuật ấy.

152. There is an essential and inescapable duality at the ROOT of all things, and it is known as the GREAT BREATH. It is only when we are monadically aware that we can begin to fathom the truth of this essential duality and then only in minutest measure.

152. Có một nhị nguyên bản yếu và không thể tránh khỏi ở GỐC RỄ của vạn vật, và nó được biết đến như HƠI THỞ VĨ ĐẠI. Chỉ khi chúng ta có nhận thức chân thần, chúng ta mới có thể bắt đầu thấu hiểu chân lý của nhị nguyên bản yếu này, và khi ấy cũng chỉ trong mức độ nhỏ bé nhất.

153. In an interpretation “closer to home”, monadic awareness contains an understanding of spirit and matter that is factual and not theoretical (as it is for those who have not penetrated into Shamballa).

153. Theo một cách diễn giải “gần gũi hơn với chúng ta”, nhận thức chân thần chứa đựng một sự thấu hiểu về tinh thần và vật chất vốn có tính thực hữu chứ không phải lý thuyết, như đối với những ai chưa thâm nhập vào Shamballa.

154. All dualities in cosmos are a reflection of the Spirit/Matter duality and it, itself, is a reflection of FUNDAMENTAL DUALITY of BE-NESS/BEING, or of NOTHING/Something.

154. Mọi nhị nguyên trong vũ trụ đều là phản ánh của nhị nguyên Tinh thần/Vật chất, và chính nó lại là phản ánh của NHỊ NGUYÊN CĂN BẢN giữa TÍNH HIỆN TỒN/SỰ HIỆN HỮU, hoặc giữa HƯ VÔ/MỘT ĐIỀU GÌ ĐÓ.

Body and life, soul and personality, the Spiritual Triad and its expression, the Christ in incarnation—all these dualities have played their part.

Thể và sự sống, linh hồn và phàm ngã, Tam Nguyên Tinh Thần và biểu hiện của nó, Đức Christ đang lâm phàm—tất cả những nhị nguyên này đều đã đóng phần của mình.

155. The initiate has worked his way through many dualities before coming to the possibility of passing through three “Doors” into Shamballic realization and participation.

155. Điểm đạo đồ đã vượt qua nhiều nhị nguyên trước khi đi đến khả năng bước qua ba “Cánh Cửa” để vào sự chứng nghiệm và tham dự Shamballa.

156. Is it not interesting that the “Christ in incarnation” is considered the expression of the Spiritual Triad? This means that the soul-infused personality (for the Christ is symbolically the soul) is the expression of the Spiritual Triad.

156. Chẳng phải điều thú vị là “Đức Christ đang lâm phàm” được xem là biểu hiện của Tam Nguyên Tinh Thần sao? Điều này có nghĩa là phàm ngã được linh hồn thấm nhuần, vì Đức Christ biểu tượng cho linh hồn, là biểu hiện của Tam Nguyên Tinh Thần.

Man has passed from one expansion of consciousness to another. Now he comes to the final duality of spirit and matter, prior to their resolution into something to which the terms “isolated unity” and “universal synthesis” give only faint and inadequate clues.

Con người đã đi từ một mở rộng tâm thức này sang một mở rộng tâm thức khác. Giờ đây y đi đến nhị nguyên cuối cùng của tinh thần và vật chất, trước khi chúng được giải quyết vào một điều mà các thuật ngữ “Hợp Nhất Cô Lập” và “tổng hợp phổ quát” chỉ đưa ra những gợi ý mờ nhạt và không đầy đủ.

157. The Tibetan has sometimes said that the term “isolated unity” is actually inadequate to describe the nature of the great experience to which it refers.

157. Chân sư Tây Tạng đôi khi đã nói rằng thuật ngữ “Hợp Nhất Cô Lập” thật ra không đủ để mô tả bản chất của kinh nghiệm lớn lao mà nó chỉ đến.

158. It is helpful, however, in considering the nature of “isolated unity” to equate it to the term “universal synthesis”. In this case, universality relates largely to the solar-systemic whole (with broader implications, of course). The fifth degree initiate stands in full awareness of the meaning of “isolated unity” and is beginning to become a solar-systemic being. Sanat Kumara, however, is a still greater example of One whose consciousness is characterized by isolated unity.

158. Tuy nhiên, khi xem xét bản chất của “Hợp Nhất Cô Lập”, sẽ hữu ích nếu đồng nhất nó với thuật ngữ “tổng hợp phổ quát”. Trong trường hợp này, tính phổ quát liên hệ phần lớn đến toàn thể thuộc hệ mặt trời, dĩ nhiên với những hàm ý rộng hơn. Điểm đạo đồ bậc năm đứng trong nhận thức đầy đủ về ý nghĩa của “Hợp Nhất Cô Lập” và đang bắt đầu trở thành một hữu thể thuộc hệ mặt trời. Tuy nhiên, Đức Sanat Kumara là một ví dụ còn vĩ đại hơn về Đấng có tâm thức được đặc trưng bởi Hợp Nhất Cô Lập.

159. The sign Aquarius is also useful in opening the door to the sense of “universal synthesis” and interestingly, it is a sign in which a man may take his final incarnation and, thus, presumably become a Master.

159. Dấu hiệu Bảo Bình cũng hữu ích trong việc mở cánh cửa dẫn đến ý thức về “tổng hợp phổ quát”, và điều thú vị là đây là một dấu hiệu trong đó một người có thể nhận lần lâm phàm cuối cùng của mình, và như vậy, có lẽ trở thành một Chân sư.

To the development of this system of identification the initiate of the degree of Master of the Wisdom, and also (on a higher turn of the spiral) of the degree of the Christ, are focussing all Their efforts.

Vào việc phát triển hệ thống đồng hoá với này, điểm đạo đồ thuộc bậc Chân sư Minh Triết, và cũng, trên một vòng xoắn cao hơn của vòng xoắn ốc, thuộc bậc Đức Christ, đang tập trung mọi nỗ lực của Các Ngài.

160. All of our spiritual progress is part of a “system of identification” (of which the Christ is the foremost example—accessible to us.)

160. Toàn bộ tiến bộ tinh thần của chúng ta là một phần của một “hệ thống đồng hoá với”, mà Đức Christ là ví dụ hàng đầu có thể tiếp cận được đối với chúng ta.

161. It is hard for us to fathom these achievements, but as the heart and heart in the head are stimulated, some grasp becomes more possible. Realizations pertaining to the heart in the head are in resonance with realizations produced earlier in the heart center.

161. Thật khó cho chúng ta thấu hiểu những thành tựu này, nhưng khi tim và trung tâm tim trong đầu được kích thích, một mức nắm bắt nào đó trở nên khả dĩ hơn. Những chứng nghiệm liên hệ đến trung tâm tim trong đầu cộng hưởng với những chứng nghiệm đã được tạo ra trước đó trong trung tâm tim.

Up to the fourth initiation, the term “system of expansions” would seem illuminating; after that great initiation, the term “system of identification” would appear more appropriate.

Cho đến lần điểm đạo thứ tư, thuật ngữ “hệ thống những mở rộng” dường như soi sáng; sau lần điểm đạo vĩ đại ấy, thuật ngữ “hệ thống đồng hoá với” có vẻ thích hợp hơn.

162. DK is attempting to discriminate between two systems of spiritual development: one of them (the first) relates to consciousness and the second to life.

162. Chân sư DK đang cố gắng phân biện giữa hai hệ thống phát triển tinh thần: một hệ thống, hệ thống thứ nhất, liên hệ với tâm thức và hệ thống thứ hai liên hệ với sự sống.

163. There comes a time when one seeks the deepest possible interiority, and thus, reality. Simply expanding into greater and greater fields of awareness will not suffice. One must consciously become the things he seeks to know. Do we sense the difference?

163. Sẽ đến một lúc người ta tìm kiếm nội tại tính sâu xa nhất có thể, và do đó, tìm kiếm thực tại. Chỉ mở rộng vào những trường nhận thức ngày càng lớn hơn sẽ không đủ. Người ta phải hữu thức trở thành những điều y tìm cách biết. Chúng ta có cảm nhận được sự khác biệt không?

164. Expansions of consciousness will always be possible. The Planetary Logos is constantly expanding His consciousness and this is true for greater Beings still—such as the Solar Logos and various Cosmic Logoi of all grades.

164. Những mở rộng tâm thức sẽ luôn luôn khả dĩ. Đức Hành Tinh Thượng Đế đang không ngừng mở rộng tâm thức của Ngài, và điều này cũng đúng với những Đấng còn vĩ đại hơn—như Thái dương Thượng đế và nhiều Thượng đế Vũ trụ thuộc mọi cấp bậc.

165. Expanse however, will not suffice to reveal the “Mystery of Life”, and at a certain point in human evolution, it is the pursuit of this Mystery which becomes paramount.

165. Tuy nhiên, sự mở rộng sẽ không đủ để mặc khải “Bí Nhiệm của Sự Sống”, và đến một điểm nào đó trong cuộc tiến hoá của nhân loại, chính việc theo đuổi Bí Nhiệm này trở nên tối thượng.

166. Probably each level of life has a parallel; analogously, a Planetary Logos or Solar Logos must also reach the point is its development when expansions must give way to identifications. We can know nothing about such matters except that, by analogy, they should exist. Our task is to become on intimate terms with life.

166. Có lẽ mỗi cấp độ sự sống đều có một tương ứng; theo phép tương đồng, một Đức Hành Tinh Thượng Đế hay Thái dương Thượng đế cũng phải đạt đến điểm trong sự phát triển của Ngài khi những mở rộng phải nhường chỗ cho những đồng hoá với. Chúng ta không thể biết gì về những vấn đề như thế, ngoại trừ rằng, theo phép tương đồng, chúng hẳn phải hiện hữu. Nhiệm vụ của chúng ta là trở nên thân mật với sự sống.

Paragraph 13

Đoạn 13

When the initiate has passed through the three doors, symbolically speaking, he then faces all life, all events, all pre-determinations, all wisdom, all activity and all that the future may hold of service and progress from the angle of the pure reason (infallible and immutable), of true spiritual will (completely identified with the purpose of the planetary Logos), and of the highest possible focussed relation.

Khi điểm đạo đồ đã đi qua ba cánh cửa, nói theo biểu tượng, bấy giờ y đối diện với mọi sự sống, mọi biến cố, mọi định trước, mọi minh triết, mọi hoạt động và tất cả những gì tương lai có thể chứa đựng về phụng sự và tiến bộ, từ góc độ của lý trí thuần tuý, không sai lầm và bất biến, của ý chí tinh thần chân thực, hoàn toàn đồng hoá với Thiên Ý của Đức Hành Tinh Thượng Đế, và của mối liên hệ tập trung cao nhất có thể.

167. We are discussing the three doors into Shamballa.

167. Chúng ta đang bàn về ba cánh cửa dẫn vào Shamballa.

168. All that life may bring and all that may be faced is approached from three perspectives:

168. Tất cả những gì sự sống có thể đem lại và tất cả những gì có thể phải đối diện đều được tiếp cận từ ba viễn cảnh:

a. From the angle of pure reason. This reason we are told is “infallible and immutable”. It is true revelation and unobscured by the reasoning mind.

a. Từ góc độ của lý trí thuần tuý. Lý trí này, chúng ta được cho biết, là “không sai lầm và bất biến”. Nó là sự mặc khải chân thật và không bị che mờ bởi thể trí lý luận.

b. From the angle of the spiritual will. This will is completely identified with the purpose of the Planetary Logos. When we wonder whether we are functioning under the inspiration of the spiritual will, we must ask the degree of our understanding of the purpose of the Planetary Logos. If our understanding is minimal, our expression of the true spiritual will is also, to a degree, minimal.

b. Từ góc độ của ý chí tinh thần. Ý chí này hoàn toàn đồng hoá với Thiên Ý của Đức Hành Tinh Thượng Đế. Khi chúng ta tự hỏi liệu mình có đang hoạt động dưới cảm hứng của ý chí tinh thần hay không, chúng ta phải tự hỏi mức độ thấu hiểu của mình về Thiên Ý của Đức Hành Tinh Thượng Đế. Nếu sự thấu hiểu của chúng ta là tối thiểu, thì sự biểu lộ ý chí tinh thần chân thực của chúng ta cũng, ở một mức độ nào đó, là tối thiểu.

c. From the angle of the “highest possible focussed relation”. That highest relation is the relation between Spirit and Matter (as best we can conceive it—and our first meaningful conception must be microcosmic.)

c. Từ góc độ của “mối liên hệ tập trung cao nhất có thể”. Mối liên hệ cao nhất ấy là mối liên hệ giữa Tinh thần và Vật chất, theo cách tốt nhất chúng ta có thể quan niệm được—và quan niệm có ý nghĩa đầu tiên của chúng ta phải là tiểu thiên địa.

The mystery of relationship becomes revealed to him.

Bí nhiệm của mối liên hệ trở nên được mặc khải cho y.

169. Since it is a mystery we can hardly discuss it in the terms of the concrete mind. Might we say that in the revelation of the “mystery of relationship” the relations of the many in the One become somewhat disclosed?

169. Vì đó là một bí nhiệm, chúng ta khó có thể bàn luận về nó bằng những thuật ngữ của trí cụ thể. Chúng ta có thể nói rằng trong sự mặc khải của “bí nhiệm của mối liên hệ”, những mối liên hệ của số nhiều trong Đấng Duy Nhất phần nào được hé lộ chăng?

170. This mystery must also be related to the mystery concealed in the second letter of the Sacred Word—AUM. In the “U”, that which is apparently separated, and subject to polarity must be joined below—as the configuration of the letter shows. We have a manifested unification of duality.

170. Bí nhiệm này cũng phải liên hệ với bí nhiệm được che giấu trong chữ cái thứ hai của Linh từ Thiêng Liêng—AUM. Trong chữ “U”, điều dường như bị phân tách và lệ thuộc vào đối cực phải được nối kết ở bên dưới—như hình dạng của chữ ấy cho thấy. Chúng ta có một sự hợp nhất biểu hiện của nhị nguyên.

Then the entire scheme of evolution and of the intention of the One in Whom he lives and moves and has his being becomes clear to him; he has no more to learn within this planetary scheme;

Khi ấy toàn bộ hệ thống tiến hoá và ý định của Đấng mà trong Ngài y sống, chuyển động và có hiện tồn trở nên rõ ràng đối với y; y không còn gì để học trong hệ hành tinh này nữa;

171. The “One in Whom we live and move and have our being” is, from this perspective, the Planetary Logos.

171. “Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và có hiện tồn”, từ viễn cảnh này, là Đức Hành Tinh Thượng Đế.

172. We can see that this must be a very advanced stage of evolution, for in our planetary scheme there are many globes and chains, each with their own types of knowledge.

172. Chúng ta có thể thấy rằng đây hẳn phải là một giai đoạn tiến hoá rất cao, vì trong hệ hành tinh của chúng ta có nhiều bầu hành tinh và nhiều Dãy, mỗi bầu và mỗi Dãy đều có những loại tri thức riêng.

173. One is also given pause to reflect about ‘globe Shamballas’, ‘chain Shamballas’ and ‘scheme Shamballas’. Shamballa, as we usually consider it, relates to our fourth globe (on the fourth chain) to which Sanat Kumara ‘came’, ages ago, establishing this highest planetary center.

173. Người ta cũng được khiến phải dừng lại suy ngẫm về “các Shamballa cấp bầu hành tinh”, “các Shamballa cấp Dãy” và “các Shamballa cấp hệ hành tinh”. Shamballa, như chúng ta thường xem xét, liên hệ với bầu hành tinh thứ tư của chúng ta, trên Dãy Thứ Tư, nơi Đức Sanat Kumara đã “đến” từ những thời đại xa xưa, thiết lập trung tâm hành tinh cao nhất này.

he has become universal in his attitude to all forms of life, and is also identified with the “isolated unity” of Sanat Kumara.

y đã trở nên phổ quát trong thái độ của mình đối với mọi hình tướng sự sống, và cũng đồng hoá với “Hợp Nhất Cô Lập” của Đức Sanat Kumara.

174. The high initiate who has passed through the doors into Shamballa has achieved

174. Điểm đạo đồ cao cấp đã đi qua các cánh cửa vào Shamballa đã đạt được

a. Universality “in his attitude to all forms of life”. He sees them, therefore, “under the aspect of Eternity” and in relation to Wholeness.

a. Tính phổ quát “trong thái độ của y đối với mọi hình tướng sự sống”. Do đó, y thấy chúng “dưới phương diện của Vĩnh Cửu” và trong liên hệ với Tính Toàn Thể.

b. The “isolated unity” of Sanat Kumara. Interestingly, this statement suggests that Sanat Kumara is the greatest example upon our planet on one living in a state of isolated unity.

b. “Hợp Nhất Cô Lập” của Đức Sanat Kumara. Điều thú vị là phát biểu này gợi ý rằng Đức Sanat Kumara là ví dụ vĩ đại nhất trên hành tinh chúng ta về một Đấng sống trong trạng thái Hợp Nhất Cô Lập.

c. In short, such an initiate having passed through the three doors is beginning truly to live more deeply and in far larger terms than heretofore.

c. Tóm lại, một điểm đạo đồ như thế, sau khi đã đi qua ba cánh cửa, đang bắt đầu thật sự sống một cách sâu xa hơn và trong những phạm vi rộng lớn hơn rất nhiều so với trước kia.

Few of the great Lives Who form the inner group of the Council Chamber at Shamballa are now of [Page 142] greater advancement than he;

Hiện nay chỉ có ít Sự Sống vĩ đại, những Đấng hợp thành nhóm bên trong của Phòng Hội Đồng tại Shamballa, là có [Trang 142] mức tiến bộ cao hơn y;

175. The “he” in this context is the advancing initiate who has passed through the three doors into Shamballa.

175. “Y” trong ngữ cảnh này là điểm đạo đồ đang tiến lên, người đã đi qua ba cánh cửa vào Shamballa.

the “Supernal Three,” the “Radiant Seven,” the “Lives embodying the forty-nine Fires,” the “Buddhas of Activity,” and certain “Eternal Spirits” from such centres of dynamic spiritual life as Sirius, or from the constellation which at any one time forms a triangle with our Sun and Sirius” and a Representative from Venus are of greater—far greater—advancement.

“Ba Đấng Thiên Thượng,” “Bảy Đấng Rạng Ngời,” “Các Sự Sống biểu hiện bốn mươi chín Lửa,” “Các Đức Phật Hoạt Động,” và một số “Tinh Thần Vĩnh Cửu” từ những trung tâm của sự sống tinh thần năng động như Sirius, hoặc từ chòm sao vào bất cứ thời điểm nào tạo thành một tam giác với Mặt Trời của chúng ta và Sirius” cùng một Vị Đại Diện từ Sao Kim đều có mức tiến bộ cao hơn — cao hơn rất nhiều.

176. This is the foremost tabulation in our Teaching of those who are ‘residents’ of Shamballa.

176. Đây là bảng liệt kê quan trọng nhất trong Giáo Huấn của chúng ta về những Đấng “cư trú” tại Shamballa.

177. In this tabulation the ‘Buddhas of Activity” are distinguished from the “Supernal Three”. It can be questioned whether the “Supernal Three” are the three “Esoteric Kumaras”. We must also find place for representatives of the Lords of Karma supervising karmic developments on our planet.

177. Trong bảng liệt kê này, “Các Đức Phật Hoạt Động” được phân biệt với “Ba Đấng Thiên Thượng”. Có thể đặt câu hỏi liệu “Ba Đấng Thiên Thượng” có phải là ba “Kumara Nội Môn” hay không. Chúng ta cũng phải dành chỗ cho các đại diện của các Chúa Tể Nghiệp Quả, những Đấng giám sát các diễn tiến nghiệp quả trên hành tinh của chúng ta.

178. The “Radiant Seven” are the “Seven Spirits before the Throne” (Ray Lords) considered in terms of our globe. There are obviously chain correspondences and scheme correspondences, and the lower correspondences may be considered emanations of the higher. There is no way to understand the higher Buddhas unless the theory of emanation is understood.

178. “Bảy Đấng Rạng Ngời” là “Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai” (các Đấng Chúa Tể Cung) được xét theo phương diện bầu hành tinh của chúng ta. Hiển nhiên có những tương ứng của dãy và những tương ứng của hệ hành tinh, và các tương ứng thấp hơn có thể được xem là những phát xạ của các tương ứng cao hơn. Không có cách nào để thấu hiểu các Đức Phật cao hơn nếu không thấu hiểu lý thuyết về phát xạ.

179. The “Eternal Spirits” from such centers as Sirius may be Karmic Lords, or may (we do not know) have other functions.

179. Các “Tinh Thần Vĩnh Cửu” từ những trung tâm như Sirius có thể là các Chúa Tể Nghiệp Quả, hoặc có thể có những chức năng khác, điều này chúng ta không biết.

180. A potent occult hint is here given: There is a constellation which at any one times forms a triangle with our Sun and Sirius. Two constellations most easily related to our Sun and Sirius are Gemini (a ray two constellation—at this time) and Libra (at this time a primarily ray three constellation). Both however have relations to both the second and third rays. With Sirius and our Sun, Sol, these two constellations transmit the energy which brings about the fusion of the dualities.

180. Ở đây có một gợi ý huyền bí đầy uy lực được đưa ra: Có một chòm sao vào bất cứ thời điểm nào cũng tạo thành một tam giác với Mặt Trời của chúng ta và Sirius. Hai chòm sao dễ liên hệ nhất với Mặt Trời của chúng ta và Sirius là Song Tử, một chòm sao cung hai vào thời điểm này, và Thiên Bình, vào thời điểm này chủ yếu là một chòm sao cung ba. Tuy nhiên, cả hai đều có liên hệ với cả cung hai lẫn cung ba. Cùng với Sirius và Mặt Trời của chúng ta, Sol, hai chòm sao này truyền dẫn năng lượng đem lại sự dung hợp của các nhị nguyên.

181. May it be that the constellation ruling the sign of the zodiac through which our Sun, itself, is passing, is that particular constellation during any particular period of time? Just as the Earth is related every 2160 years to a particular zodiacal constellation (due to the precession of the equinoxes), and just as the Earth is also related to a particular zodiacal constellation for a 25,000 year period probably related to the Great Platonic Year (of approximately 25,000 earth years), so the Sun, as well (in its journey around the Pleiades of 250,000 years) may periodically come into relation with different ones of the zodiacal constellations. The astronomy of such a cycle is by no means worked out satisfactorily, and so the whole matter must remain for the present speculative. The 250,000 cycle of our Sun in relation to the Pleiades is given in the Teaching.

181. Có thể chăng chòm sao cai quản dấu hiệu hoàng đạo mà chính Mặt Trời của chúng ta đang đi qua là chòm sao đặc thù ấy trong bất kỳ giai đoạn thời gian đặc thù nào? Cũng như Trái Đất có liên hệ mỗi 2160 năm với một chòm sao hoàng đạo đặc thù do tuế sai của các điểm phân, và cũng như Trái Đất cũng có liên hệ với một chòm sao hoàng đạo đặc thù trong một chu kỳ 25.000 năm, có lẽ liên quan đến Đại Năm Platon khoảng 25.000 năm Trái Đất, thì Mặt Trời cũng vậy, trong hành trình 250.000 năm quanh Pleiades, có thể theo chu kỳ đi vào liên hệ với những chòm sao hoàng đạo khác nhau. Thiên văn học của một chu kỳ như thế hoàn toàn chưa được xây dựng một cách thỏa đáng, và vì vậy toàn bộ vấn đề hiện nay phải còn ở trong phạm vi suy đoán. Chu kỳ 250.000 năm của Mặt Trời chúng ta trong liên hệ với Pleiades được nêu trong Giáo Huấn.

182. But because these constellational representatives in Shamballa are focussed in the earthly Shamballa, the constellation in question probably has something to do with the Earth and its cycles—either the lesser precessional cycle or the greater Platonic Year.

182. Nhưng vì các đại diện chòm sao này trong Shamballa được tập trung trong Shamballa địa cầu, chòm sao đang được nói đến có lẽ có liên quan nào đó đến Trái Đất và các chu kỳ của nó — hoặc chu kỳ tuế sai nhỏ hơn, hoặc Đại Năm Platon lớn hơn.

183. The important thing to realize is that the great Beings in our solar system and within our local cosmos have their representatives in Shamballa. A great Law in Shamballa is the Law of Assembly, and it is the expressions of these great energies which are assembled for the purposes of the evolution of our planet.

183. Điều quan trọng cần nhận ra là các Đấng Vĩ Đại trong hệ mặt trời của chúng ta và trong vũ trụ địa phương của chúng ta có các đại diện của các Ngài trong Shamballa. Một Định luật lớn trong Shamballa là Định luật Hội Tụ, và chính các biểu hiện của những năng lượng vĩ đại này được quy tụ lại vì các mục đích tiến hoá của hành tinh chúng ta.

Otherwise, all initiates of the sixth degree, and a few of the Masters Who have undergone specialised training because They are upon the first Ray of Will or Power (the ray conditioning Shamballa itself), form part of the Great Council.

Ngoài ra, tất cả các điểm đạo đồ cấp sáu, và một vài Chân sư đã trải qua sự huấn luyện chuyên biệt bởi vì Các Ngài ở trên cung một của Ý Chí hay Quyền Năng, cung tác động lên chính Shamballa, hợp thành một phần của Đại Hội Đồng.

184. The innermost sanctum of the Great Council consists of Sanat Kumara and the three Buddhas of Activity.

184. Thánh điện nội mật nhất của Đại Hội Đồng gồm có Đức Sanat Kumara và ba Đức Phật Hoạt Động.

185. Here we learn that the Great Council is also to be considered more broadly, with all members of Shamballa participating.

185. Ở đây chúng ta biết rằng Đại Hội Đồng cũng cần được xem xét theo nghĩa rộng hơn, với sự tham dự của tất cả các thành viên Shamballa.

186. We are speaking of the relative status of the initiate who has penetrated the three doors. Sixth degree initiates and some Masters upon the first ray are still in advance of him as are, of course, the still more supernal Lives gathered closer to Sanat Kumara.

186. Chúng ta đang nói về địa vị tương đối của điểm đạo đồ đã xuyên qua ba cánh cửa. Các điểm đạo đồ cấp sáu và một số Chân sư trên cung một vẫn còn tiến trước y, cũng như, dĩ nhiên, các Sự Sống còn thiên thượng hơn nữa được quy tụ gần Đức Sanat Kumara hơn.

187. It is clear that not all Masters are members of Shamballa, but only those who have undergone specialized training and are upon the first ray.

187. Rõ ràng không phải tất cả các Chân sư đều là thành viên của Shamballa, mà chỉ những Đấng đã trải qua sự huấn luyện chuyên biệt và ở trên cung một.

188. This entire paragraph has to be read very carefully as it is easy to make mistakes in understanding.

188. Toàn bộ đoạn văn này cần được đọc rất cẩn thận, vì rất dễ phạm sai lầm trong việc thấu hiểu.

Many Masters and Chohans, however, after serving upon the planet in various capacities, working with the Law of Evolution, pass out of our planetary life altogether.

Tuy nhiên, nhiều Chân sư và Chohan, sau khi phụng sự trên hành tinh trong nhiều cương vị khác nhau, làm việc với Định luật Tiến Hoá, hoàn toàn rời khỏi sự sống hành tinh của chúng ta.

189. It is a truism in occultism that at Master, after serving our planet in various capacities, may pass out of our planetary life altogether (unless retained for the purposes of Earth Service).

189. Trong huyền bí học, đó là một chân lý hiển nhiên rằng một Chân sư, sau khi phụng sự hành tinh của chúng ta trong nhiều cương vị khác nhau, có thể hoàn toàn rời khỏi sự sống hành tinh của chúng ta, trừ phi được giữ lại vì các mục đích Phụng Sự Trái Đất.

190. Here we learn that this is also true of Chohans. Apparently there are Chohans, having chosen (or been chosen for) the Path of Earth Service who do not remain with the planet for their continued development through other and higher initiations, but pass beyond our planetary life.

190. Ở đây chúng ta biết rằng điều này cũng đúng với các Chohan. Hiển nhiên có những Chohan, sau khi đã chọn, hoặc được chọn cho, Con Đường Phụng Sự Trái Đất, không ở lại với hành tinh để tiếp tục phát triển qua những lần điểm đạo khác và cao hơn, mà vượt ra ngoài sự sống hành tinh của chúng ta.

191. Other Chohans, it would seem, remain with our planet and perhaps take the eighth and ninth initiations on our planet (which is said to be a feat of profound difficulty). We should remember that the term “Chohan” refers also to initiates of the seventh degree.

191. Có vẻ như những Chohan khác vẫn ở lại với hành tinh chúng ta và có lẽ nhận lần điểm đạo thứ tám và thứ chín trên hành tinh chúng ta, điều được nói là một thành tựu cực kỳ khó khăn. Chúng ta nên nhớ rằng thuật ngữ “Chohan” cũng chỉ các điểm đạo đồ cấp bảy.

A Master wields the law in the three worlds, whilst a Chohan of the sixth initiation wields the law in the chain on all levels; a Chohan of the seventh initiation wields the law in the solar system. (IHS 90)

Một Chân sư vận dụng định luật trong ba cõi giới, trong khi một Chohan của lần điểm đạo thứ sáu vận dụng định luật trong dãy ở mọi cấp độ; một Chohan của lần điểm đạo thứ bảy vận dụng định luật trong hệ mặt trời. (IHS 90)

192. There is, however, a possibility that the term “Chohan” may be generic and may refer to initiates of the eighth and ninth degree as well. There seems, however, to be no indication in the texts whether or not this may be so. We are, however, told of “Chohans of high degree” (TCF 1085) and we wonder, how high.

192. Tuy nhiên, có khả năng thuật ngữ “Chohan” có thể mang tính tổng quát và cũng có thể chỉ các điểm đạo đồ cấp tám và cấp chín. Tuy vậy, dường như trong các văn bản không có chỉ dẫn nào cho biết điều này có thể đúng hay không. Tuy nhiên, chúng ta được cho biết về “các Chohan cấp cao” (TCF 1085), và chúng ta tự hỏi, cao đến mức nào.

Paragraph 14

Đoạn 14

All the above information concerning the Lives which are far in advance of the disciples of the world contains little of moment for you, except in so far as it falls into a diagrammatic pattern of our planetary life and purpose, and enabling you, therefore, to get a faint glimpse of a synthetic theme and purpose to which all evolving lives must and will eventually conform.

Tất cả thông tin trên đây liên quan đến các Sự Sống tiến xa hơn rất nhiều so với các đệ tử của thế gian chứa đựng ít điều quan trọng đối với các bạn, ngoại trừ trong mức độ nó nằm trong một mô hình sơ đồ của sự sống và mục đích hành tinh của chúng ta, và do đó giúp các bạn có được một thoáng nhìn mờ nhạt về một chủ đề và mục đích tổng hợp mà tất cả các sự sống đang tiến hoá rốt cuộc đều phải và sẽ thuận theo.

193. Master DK is inspiring in us a sense of synthetic vision. The information, though fascinating, is not of immediately practical utility to us, but it helps us understand more clearly the “diagrammatic pattern of our planetary life and purpose”.

193. Chân sư DK đang khơi dậy trong chúng ta một ý thức về tầm nhìn tổng hợp. Thông tin này, dù hấp dẫn, không có ích lợi thực tiễn tức thời đối với chúng ta, nhưng nó giúp chúng ta thấu hiểu rõ ràng hơn “mô hình sơ đồ của sự sống và mục đích hành tinh của chúng ta”.

194. The attainment of synthetic understanding is of paramount importance for the advanced disciple and initiate.

194. Việc đạt được sự thấu hiểu tổng hợp có tầm quan trọng tối thượng đối với đệ tử cao cấp và điểm đạo đồ.

195. Through the vision presented by Master DK some greater sense of the enveloping synthesis is to be gained, and this is certainly of esoteric value, altering the quality, scope and depth of our consciousness.

195. Thông qua tầm nhìn do Chân sư DK trình bày, một ý thức lớn hơn nào đó về tổng hợp bao trùm sẽ đạt được, và điều này chắc chắn có giá trị huyền bí, vì nó làm biến đổi phẩm tính, phạm vi và chiều sâu của tâm thức chúng ta.

Dear Brothers and Sisters,

Các huynh đệ và tỷ muội thân mến,

We are into high matters are we not? While they are “over our heads”, the heart and heart in the head may fathom something of real usefulness to the universalization of our consciousness.

Chúng ta đang đi vào những vấn đề cao siêu, phải vậy không? Dù chúng “vượt quá tầm hiểu biết của chúng ta”, trái tim và trái tim trong đầu có thể thấu suốt được điều gì đó thật sự hữu ích cho việc phổ quát hoá tâm thức của chúng ta.

In Light, Love, and Power

Trong Ánh Sáng, Tình Thương và Quyền Năng

Michael (and Stefan)

Michael và Stefan

Part III of V

Phần III của V

(Underlining and bolding, MDR)

(Gạch dưới và in đậm, MDR)

Focus for the Fourth Month of Study on Rule(s) VII

Trọng tâm cho Tháng Nghiên Cứu Thứ Tư về Quy Luật VII

3. For the fourth month we will focus upon the third section of Rule VII for Disciples and Initiates (from April 25th to May 23rd 2005).

3. Trong tháng thứ tư, chúng ta sẽ tập trung vào phần thứ ba của Quy Luật VII dành cho Đệ Tử và Điểm Đạo Đồ (từ ngày 25 tháng Tư đến ngày 23 tháng Năm 2005).

We might choose as theme for our meditation

Chúng ta có thể chọn làm chủ đề cho tham thiền của mình

a. Either Rule VII for Disciples and Initiates:

a. Hoặc Quy Luật VII dành cho Đệ Tử và Điểm Đạo Đồ:

“Rule VII for Disciples and Initiates: Let the group life emit the Word of invocation and thus evoke response within those distant Ashrams where move the Chohans of the race of men. They are no longer men as are the Masters, but, having passed beyond that lesser stage, have linked Themselves with the Great Council in the highest Secret Place. Let the group sound a dual chord, reverberating in the halls where move the Masters but finding pause and prolongation within those radiant halls where move the ‘Lights which carry out the Will of God’.” (RI, p. 136)

“Quy Luật VII dành cho Đệ Tử và Điểm Đạo Đồ: Hãy để sự sống nhóm phát ra Linh từ khẩn cầu và nhờ đó gợi lên sự đáp ứng trong những ashram xa xôi, nơi các Chohan của nhân loại di chuyển. Các Ngài không còn là con người như các Chân sư, mà, sau khi đã vượt qua giai đoạn thấp hơn ấy, đã liên kết Chính Mình với Đại Hội Đồng trong Nơi Bí Mật tối cao. Hãy để nhóm xướng một hợp âm kép, vang dội trong các đại sảnh nơi các Chân sư di chuyển, nhưng tìm thấy sự dừng lại và kéo dài trong những đại sảnh rạng ngời nơi các ‘Ánh Sáng thi hành Ý Chí của Thượng Đế’ di chuyển.” (RI, tr. 136)

b. Or sub-themes, DK is referring to in His commentary to the Rule, such as (RI, p. 142 middle to p. 145 top):

b. Hoặc các chủ đề phụ mà DK đề cập đến trong phần bình luận của Ngài về Quy Luật, chẳng hạn như (RI, từ giữa tr. 142 đến đầu tr. 145):

i. “It must ever be borne in mind that the great theme of LIGHT underlies our entire planetary purpose.” (cf. RI, p. 142)

i. “Phải luôn ghi nhớ rằng chủ đề lớn về ÁNH SÁNG nằm bên dưới toàn bộ mục đích hành tinh của chúng ta.” (xem RI, tr. 142)

ii. “The full expression of perfect LIGHT, occultly understood, is the engrossing life-purpose of our planetary Logos.” (cf. RI, p. 142)

ii. “Sự biểu hiện trọn vẹn của ÁNH SÁNG hoàn hảo, được thấu hiểu một cách huyền bí, là mục đích sống thu hút trọn vẹn của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta.” (xem RI, tr. 142)

iii. “Light is the great and obsessing enterprise in the three worlds of human evolution; everywhere men rate the light of the sun as essential to healthy living; some idea of the human urge to light can be grasped if you consider the brilliance of the physically engendered light in which we live when night arrives, and compare it with the mode of lighting the streets and homes of the world prior to the discovery of gas, and later of electricity. The light of knowledge, as the reward of educational processes, is the incentive behind all our great schools of learning in every country in the world and is the goal of much of our world organisation; the terminology of light controls even our computation of time. The mystery of electricity is unfolding gradually before our rapt [Page 143] eyes and the electrical nature of man is being slowly proven and will later demonstrate that, throughout the human structure and form, man is composed primarily of light atoms, and that the light in the head (so familiar to esotericists) is no fiction or figment of wishful thinking or of a hallucinated imagination, but is definitely brought about by the junction or fusion of the light inherent in substance itself and the light of the soul.” (cf. RI, p. 142-143)

iii. “Ánh sáng là sự nghiệp lớn lao và ám ảnh trong ba cõi giới của tiến hoá nhân loại; ở khắp nơi, con người xem ánh sáng mặt trời là thiết yếu cho đời sống lành mạnh; có thể nắm bắt phần nào sự thôi thúc của con người hướng về ánh sáng nếu các bạn xét đến sự rực rỡ của ánh sáng được tạo ra trên hồng trần mà trong đó chúng ta sống khi đêm xuống, và so sánh nó với cách chiếu sáng đường phố và nhà cửa trên thế giới trước khi phát hiện ra khí đốt, và sau đó là điện. Ánh sáng của tri thức, như phần thưởng của các tiến trình giáo dục, là động lực phía sau tất cả các trường học lớn của chúng ta trong mọi quốc gia trên thế giới và là mục tiêu của phần lớn tổ chức thế giới của chúng ta; thuật ngữ về ánh sáng thậm chí chi phối cả cách chúng ta tính thời gian. Bí nhiệm của điện đang dần khai mở trước đôi mắt say mê [Trang 143] của chúng ta, và bản chất điện của con người đang dần được chứng minh, rồi về sau sẽ cho thấy rằng, trong toàn bộ cấu trúc và hình tướng nhân loại, con người chủ yếu được cấu thành từ các nguyên tử ánh sáng, và rằng ánh sáng trong đầu, vốn rất quen thuộc với các nhà bí truyền học, không phải là điều hư cấu hay sản phẩm của tư duy ước vọng hoặc của một sự tưởng tượng bị ảo giác, mà chắc chắn được tạo ra do sự giao kết hay dung hợp của ánh sáng vốn có trong chính chất liệu và ánh sáng của linh hồn.” (xem RI, tr. 142-143)

iv. “It will … be shown that the soul itself is light.” (cf. RI, p. 143)

iv. “Rồi sẽ được cho thấy rằng chính linh hồn là ánh sáng.” (xem RI, tr. 143)

v. It will also be shown that “the entire Hierarchy is a great centre of light.” (cf. RI, p. 143)

v. Cũng sẽ được cho thấy rằng “toàn thể Thánh đoàn là một trung tâm ánh sáng vĩ đại.” (xem RI, tr. 143)

vi. The symbology of light will increasingly govern our thinking, our approach to God, and will enable us to understand somewhat the meaning of the words of Christ ‘I am the Light of the world.’” (cf. RI, p. 143)

vi. Biểu tượng học về ánh sáng sẽ ngày càng chi phối tư tưởng của chúng ta, cách chúng ta tiếp cận Thượng đế, và sẽ giúp chúng ta phần nào thấu hiểu ý nghĩa những lời của Đức Christ: ‘Ta là Ánh Sáng của thế gian.’” (xem RI, tr. 143)

vii. The symbology of light carries meaning to all true disciples and presents them with an analogous goal which they define to themselves as that of “finding the light, appropriating the light, and themselves becoming light-bearers”. (cf. RI, p. 143)

vii. Biểu tượng học về ánh sáng mang ý nghĩa đến cho mọi đệ tử chân chính và đặt trước họ một mục tiêu tương đồng mà họ tự xác định là “tìm thấy ánh sáng, chiếm hữu ánh sáng, và chính họ trở thành những người mang ánh sáng”. (xem RI, tr. 143)

viii. “The theme of light runs through all the world Scriptures; the idea of enlightenment conditions all the training given to the youth of the world (limited though the application of this idea may be), and the thought of more light governs all the inchoate yearnings of the human spirit.” (cf. RI, p. 143)

viii. “Chủ đề ánh sáng xuyên suốt tất cả các Kinh điển thế giới; ý tưởng về giác ngộ tác động lên toàn bộ sự huấn luyện dành cho thanh thiếu niên thế giới, dù việc áp dụng ý tưởng này có thể còn hạn chế, và tư tưởng về nhiều ánh sáng hơn chi phối mọi khát vọng còn chưa định hình của tinh thần nhân loại.” (xem RI, tr. 143)

ix. “The Centre of Life where dwells the Ancient of Days, the Eternal Youth, the Lord of the World, Sanat Kumara, Melchizedek—God.” (cf. RI, p. 143)

ix. “Trung Tâm Sự Sống nơi Đấng Thái Cổ, Đấng Thanh Xuân Vĩnh Cửu, Đức Chúa Tể Thế Giới, Đức Sanat Kumara, Melchizedek — Thượng đế — an trú.” (xem RI, tr. 143)

x. From that Centre of Life “streams what has been called the Light of Life, the Light Supernal”. (cf. RI, p. 143)

x. Từ Trung Tâm Sự Sống ấy “tuôn chảy điều đã được gọi là Ánh Sáng của Sự Sống, Ánh Sáng Thiên Thượng”. (xem RI, tr. 143)

xi. “Light is a symptom and an expression of Life”, and … “essentially, occultly and in a most mysterious way the terms, Light and Life, are interchangeable within the limits of the planetary ring-pass-not”. (cf. RI, p. 143)

xi. “Ánh sáng là một dấu hiệu và một biểu hiện của Sự Sống”, và … “về bản chất, một cách huyền bí và theo một cách hết sức bí nhiệm, các thuật ngữ Ánh Sáng và Sự Sống có thể hoán đổi cho nhau trong giới hạn của vòng-giới-hạn hành tinh”. (xem RI, tr. 143)

xii. The question whether the terms of Light and Life are interchangeable beyond the limits of the planetary ring-pass-not, too, is left unanswered. DK writes: “Beyond those limits—who is able to tell?” (cf. RI, p. 143)

xii. Câu hỏi liệu các thuật ngữ Ánh Sáng và Sự Sống cũng có thể hoán đổi cho nhau ngoài giới hạn của vòng-giới-hạn hành tinh hay không vẫn được bỏ ngỏ. DK viết: “Ngoài những giới hạn ấy — ai có thể nói được?” (xem RI, tr. 143)

xiii. “Light can be regarded as a symptom, a reaction to the meeting and consequent fusion of spirit and matter.” (cf. RI, p. 143)

xiii. “Ánh sáng có thể được xem như một dấu hiệu, một phản ứng trước sự gặp gỡ và sự dung hợp tiếp theo của tinh thần và vật chất.” (xem RI, tr. 143)

xiv. “Therefore, where that great point of fusion and of solar crisis (for that is what it is, even when producing a planetary crisis) appears in time and space, light also immediately appears and of such intensity that only those who know the light of the soul, and who can bear the hierarchical light can be trained to enter into and form part of the light of Shamballa and walk in those ‘radiant halls where move the Lights which carry out the Will of God’.” (cf. RI, p. 143-144)

xiv. “Do đó, nơi nào điểm dung hợp lớn lao ấy và cuộc khủng hoảng thái dương ấy, vì đúng là như vậy, ngay cả khi nó tạo ra một cuộc khủng hoảng hành tinh, xuất hiện trong thời gian và không gian, thì ánh sáng cũng lập tức xuất hiện và với cường độ đến nỗi chỉ những ai biết ánh sáng của linh hồn, và có thể chịu đựng ánh sáng của Thánh đoàn, mới có thể được huấn luyện để bước vào và trở thành một phần của ánh sáng Shamballa, và bước đi trong những ‘đại sảnh rạng ngời nơi các Ánh Sáng thi hành Ý Chí của Thượng Đế’.” (xem RI, tr. 143-144)

xv. “To carry the concept a little nearer home: only when the will of the personality and the will of the soul come together—evoked by love—does the light of the soul dominate the material light of the personality. This is a statement of importance.” (cf. RI, p. 144)

xv. “Để đưa khái niệm này đến gần chúng ta hơn một chút: chỉ khi ý chí của phàm ngã và ý chí của linh hồn gặp nhau — được gợi lên bởi tình thương — thì ánh sáng của linh hồn mới chế ngự ánh sáng vật chất của phàm ngã. Đây là một phát biểu quan trọng.” (xem RI, tr. 144)

xvi. “Only when the will of the Monad and the will of the Hierarchy of souls meet and blend in the ‘upper brackets’ … can the radiant light of Life dominate the blended lights of Humanity and of the Hierarchy. Faintly this group fusion and junction can be seen to be taking place.” (cf. RI, p. 144)

xvi. “Chỉ khi ý chí của chân thần và ý chí của Thánh đoàn các linh hồn gặp gỡ và hòa hợp trong ‘các phạm vi cao’ … thì ánh sáng rạng ngời của Sự Sống mới có thể chế ngự các ánh sáng đã hòa trộn của Nhân Loại và của Thánh đoàn. Sự dung hợp và giao kết nhóm này có thể được thấy đang diễn ra một cách mờ nhạt.” (xem RI, tr. 144)

xvii. “It is also the first touch of the radiance of Shamballa which is bringing the universal revelation of evil, a radiance which is now producing the world unrest and which has brought about the lining up of good and evil; this touch of radiance is the conditioning factor behind what is called post-war planning and the ideas of reconstruction and of world rebuilding which are dominating the best human thinking at this time.” (cf. RI, p. 144)

xvii. “Đó cũng là sự chạm đầu tiên của ánh huy hoàng Shamballa, điều đang đem lại sự mặc khải phổ quát về tà ác, một ánh huy hoàng hiện đang tạo ra sự bất ổn thế giới và đã đem lại sự dàn hàng của thiện và ác; sự chạm của ánh huy hoàng này là yếu tố tác động phía sau điều được gọi là hoạch định hậu chiến và các ý tưởng về tái thiết cùng xây dựng lại thế giới, vốn đang chi phối tư tưởng nhân loại tốt đẹp nhất vào lúc này.” (xem RI, tr. 144)

xviii. “Evil (cosmic evil or the source of planetary evil) is much closer to Shamballa than it is to Humanity.” (cf. RI, p. 144)

xviii. “Tà ác, tức tà ác vũ trụ hoặc nguồn gốc của tà ác hành tinh, ở gần Shamballa hơn rất nhiều so với Nhân Loại.” (xem RI, tr. 144)

xix. The Great Lives at the council in Shamballa “move entirely free from glamour; Their vision is one of extreme simplicity; They are concerned only with the great and simple duality of spirit and matter, and not with the many forms which the fusion of these two brings into being.” (cf. RI, p. 144)

xix. Các Sự Sống Vĩ Đại trong hội đồng tại Shamballa “di chuyển hoàn toàn tự do khỏi ảo cảm; tầm nhìn của Các Ngài là một tầm nhìn hết sức đơn giản; Các Ngài chỉ quan tâm đến nhị nguyên lớn lao và đơn giản của tinh thần và vật chất, chứ không quan tâm đến nhiều hình tướng mà sự dung hợp của hai điều này đưa vào hiện hữu.” (xem RI, tr. 144)

xx. “The domination of spirit (and its reflection, soul) by matter is what constitutes evil and this is true whether the statement is applied to the development of the individual or of the group.” (cf. RI, p. 144)

xx. “Sự chế ngự tinh thần, và phản ảnh của nó là linh hồn, bởi vật chất là điều cấu thành tà ác, và điều này đúng dù phát biểu ấy được áp dụng cho sự phát triển của cá nhân hay của nhóm.” (xem RI, tr. 144)

xxi. The ‘Lights which carry out the will of God’ move free from the spell of evil. The Light in which They move safeguards Them, and Their Own innate and inherent radiance repels evil. But They ‘move alongside the evil to which all lesser forms are prone’; They are part of a great observing Group which ‘moves forward in time and space’; its members watch the great war and conflict proceed on Earth between the Forces of Light and the Forces of Evil. They have let loose upon Earth the Forces of Light, whilst the Forces of Evil are inherent in substance itself—of which all the many forms of life are constructed.” (cf. RI, p. 144-145)

xxi. Các ‘Ánh Sáng thi hành Ý Chí của Thượng Đế’ di chuyển tự do khỏi bùa mê của tà ác. Ánh Sáng trong đó Các Ngài di chuyển bảo vệ Các Ngài, và ánh huy hoàng bẩm sinh, vốn có của Chính Các Ngài đẩy lùi tà ác. Nhưng Các Ngài ‘di chuyển bên cạnh tà ác mà mọi hình tướng thấp hơn đều dễ nghiêng về’; Các Ngài là một phần của một Nhóm quan sát vĩ đại ‘tiến tới trong thời gian và không gian’; các thành viên của nhóm ấy theo dõi cuộc đại chiến và xung đột diễn ra trên Trái Đất giữa các Mãnh Lực Ánh Sáng và các Mãnh Lực Tà Ác. Các Ngài đã phóng thích trên Trái Đất các Mãnh Lực Ánh Sáng, trong khi các Mãnh Lực Tà Ác vốn có trong chính chất liệu — chất liệu mà từ đó tất cả vô số hình tướng của sự sống được kiến tạo.” (xem RI, tr. 144-145)

Paragraph 1

Đoạn 1

It must ever be borne in mind that the great theme of LIGHT underlies our entire planetary purpose.

Phải luôn ghi nhớ rằng chủ đề lớn về ÁNH SÁNG nằm bên dưới toàn bộ mục đích hành tinh của chúng ta.

1. Our Earth, when once a sacred planet, will become a “station of light” within the solar system and wider local cosmos.

1. Trái Đất của chúng ta, một khi trở thành một hành tinh thiêng liêng, sẽ trở thành một “trạm ánh sáng” trong hệ mặt trời và trong vũ trụ địa phương rộng lớn hơn.

The full expression of perfect LIGHT, occultly understood, is the engrossing life-purpose of our planetary Logos.

Sự biểu hiện trọn vẹn của ÁNH SÁNG hoàn hảo, được thấu hiểu một cách huyền bí, là mục đích sống thu hút trọn vẹn của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta.

2. This may say something about the stage of evolution at which our Planetary Logos finds Himself. He is a candidate for a cosmic second initiation, and we remember that for the human second degree initiate, the goal is “an illumined mind and spiritual intelligence”. (DINA II 267)

2. Điều này có thể nói lên điều gì đó về giai đoạn tiến hoá mà Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta đang ở trong đó. Ngài là một ứng viên cho một lần điểm đạo thứ hai vũ trụ, và chúng ta nhớ rằng đối với điểm đạo đồ nhân loại cấp hai, mục tiêu là “một thể trí được soi sáng và trí tuệ tinh thần”. (DINA II 267)

3. The soul ray of our Planetary Logos is the second. We remember the connection which the second ray bears to light. The vivid light of the second ray soul (the most vivid in this second ray solar system) dominates the light of form and radiates out to the triadal light.“ (R&I 516)

3. Cung linh hồn của Đức Hành Tinh Thượng Đế chúng ta là cung hai. Chúng ta nhớ mối liên hệ mà cung hai mang đối với ánh sáng. “Ánh sáng sống động của linh hồn cung hai, ánh sáng sống động nhất trong hệ mặt trời cung hai này, chế ngự ánh sáng của hình tướng và tỏa chiếu ra đến ánh sáng của Tam nguyên tinh thần.“ (R&I 516)

4. The words “engrossing life purpose” do not occur without reason, for through these words a concentration upon the illumination of that which is dense and gross is suggested. In this process, the influence of the planet Vulcan will necessarily play its part as Vulcan causes the light within matter to shine forth.

4. Những từ “mục đích sống thu hút trọn vẹn” không xuất hiện vô cớ, vì qua những từ này gợi lên một sự tập trung vào việc soi sáng điều gì đậm đặc và thô trược. Trong tiến trình này, ảnh hưởng của hành tinh Vulcan tất yếu sẽ đóng vai trò của nó, vì Vulcan khiến ánh sáng trong vật chất tỏa rạng.

Light is the great and obsessing enterprise in the three worlds of human evolution;

Ánh sáng là sự nghiệp lớn lao và ám ảnh trong ba cõi giới của tiến hoá nhân loại;

5. Is it not interesting that words like “engrossing” and “obsessing” are used to describe this quest for light?

5. Chẳng phải rất thú vị sao khi những từ như “thu hút trọn vẹn” và “ám ảnh” được dùng để mô tả cuộc tìm kiếm ánh sáng này?

6. Are we, as members of the human evolution, obsessed in our quest for light? The implication is that this enterprise is to be urgently pursued!

6. Là những thành viên của dòng tiến hoá nhân loại, liệu chúng ta có bị ám ảnh trong cuộc tìm kiếm ánh sáng của mình không? Hàm ý là sự nghiệp này phải được khẩn thiết theo đuổi!

everywhere men rate the light of the sun as essential to healthy living;

ở khắp nơi, con người xem ánh sáng mặt trời là thiết yếu cho đời sống lành mạnh;

7. Something to be vividly remembered during the Aquarian Age—in many ways a solar Age in which correct access to solar prana will be promoted.

7. Một điều cần được ghi nhớ một cách sống động trong Kỷ Nguyên Bảo Bình — theo nhiều cách là một Kỷ Nguyên thái dương trong đó việc tiếp cận đúng với prana thái dương sẽ được thúc đẩy.

some idea of the human urge to light can be grasped if you consider the brilliance of the physically engendered light in which we live when night arrives, and compare it with the mode of lighting the streets and homes of the world prior to the discovery of gas, and later of electricity.

có thể nắm bắt phần nào sự thôi thúc của con người hướng về ánh sáng nếu các bạn xét đến sự rực rỡ của ánh sáng được tạo ra trên hồng trần mà trong đó chúng ta sống khi đêm xuống, và so sánh nó với cách chiếu sáng đường phố và nhà cửa trên thế giới trước khi phát hiện ra khí đốt, và sau đó là điện.

8. The outer illumination of the planet in the modern era is a symbol of the intensification of inner illumination being achieved by the Planetary Logos and by the human kingdom as an aspect of His Life.

8. Sự soi sáng bên ngoài của hành tinh trong kỷ nguyên hiện đại là một biểu tượng cho sự tăng cường của sự soi sáng bên trong đang được Đức Hành Tinh Thượng Đế và giới nhân loại, như một phương diện của Sự Sống Ngài, thành tựu.

The light of knowledge, as the reward of educational processes, is the incentive behind all our great schools of learning in every country in the world and is the goal of much of our world organisation;

Ánh sáng của tri thức, như phần thưởng của các tiến trình giáo dục, là động lực phía sau tất cả các trường học lớn của chúng ta trong mọi quốc gia trên thế giới và là mục tiêu của phần lớn tổ chức thế giới của chúng ta;

9. Simply understood, the light of knowledge is the revelation of new items within the field of consciousness and of the nature of the relationship between those items and each other, and between those items and items already within the field of consciousness.

9. Hiểu một cách đơn giản, ánh sáng của tri thức là sự mặc khải về những đối tượng mới trong trường tâm thức, và về bản chất của mối liên hệ giữa những đối tượng ấy với nhau, cũng như giữa những đối tượng ấy với các đối tượng đã có trong trường tâm thức.

10. A word that can be substituted for “items” is ‘perceivables’.

10. Một từ có thể thay thế cho “đối tượng” là “những điều có thể được tri nhận”.

the terminology of light controls even our computation of time.

thuật ngữ về ánh sáng thậm chí chi phối cả cách chúng ta tính thời gian.

11. The “day” and “night”, for instance. The hours of light and the hours of darkness. Sunrise is ‘light-rise’, and sunset is the setting of the light. The sun, itself, is our “greater luminary”, and by its relative position to any location on the earth, we determine the time of day for that location.

11. Chẳng hạn như “ngày” và “đêm”. Những giờ có ánh sáng và những giờ của bóng tối. Mặt trời mọc là “ánh sáng mọc lên”, và mặt trời lặn là sự lặn xuống của ánh sáng. Chính mặt trời là “nguồn sáng lớn hơn” của chúng ta, và dựa vào vị trí tương đối của nó đối với bất kỳ địa điểm nào trên Trái Đất, chúng ta xác định thời gian trong ngày cho địa điểm ấy.

The mystery of electricity is unfolding gradually before our rapt [Page 143] eyes and the electrical nature of man is being slowly proven and will later demonstrate that, throughout the human structure and form, man is composed primarily of light atoms, and that the light in the head (so familiar to esotericists) is no fiction or figment of wishful thinking or of a hallucinated imagination, but is definitely brought about by the junction or fusion of the light inherent in substance itself and the light of the soul.

Bí nhiệm của điện đang dần khai mở trước đôi mắt say mê [Trang 143] của chúng ta, và bản chất điện của con người đang dần được chứng minh, rồi về sau sẽ cho thấy rằng, trong toàn bộ cấu trúc và hình tướng nhân loại, con người chủ yếu được cấu thành từ các nguyên tử ánh sáng, và rằng ánh sáng trong đầu, vốn rất quen thuộc với các nhà bí truyền học, không phải là điều hư cấu hay sản phẩm của tư duy ước vọng hoặc của một sự tưởng tượng bị ảo giác, mà chắc chắn được tạo ra do sự giao kết hay dung hợp của ánh sáng vốn có trong chính chất liệu và ánh sáng của linh hồn.

12. The Tibetan here speaks of the close relation between electricity and light.

12. Ở đây Chân sư Tây Tạng nói về mối liên hệ mật thiết giữa điện và ánh sáng.

13. The ancient Kabala tells us that matter is essentially light. Thus atoms of matter are “light atoms”.

13. Kabala cổ xưa cho chúng ta biết rằng vật chất về bản chất là ánh sáng. Vì vậy các nguyên tử vật chất là “nguyên tử ánh sáng”.

14. The “light inherent in substance itself” can be called “dark light”

14. “Ánh sáng vốn có trong chính chất liệu” có thể được gọi là “ánh sáng tối”

“Cancer.—The Light within the form. This is the diffused light of substance itself, the “dark light” of matter, referred to in The Secret Doctrine. It is the light awaiting the stimulation coming from the soul light.” (EA 329)

“Cự Giải.—Ánh Sáng trong hình tướng. Đây là ánh sáng khuếch tán của chính chất liệu, “ánh sáng tối” của vật chất, được nhắc đến trong Giáo Lý Bí Nhiệm. Đó là ánh sáng đang chờ sự kích thích đến từ ánh sáng linh hồn.” (EA 329)

15. DK seems to be pointing out a relationship between electricity, light, matter and the “light in the head”. We know that that light arises through correct interplay between the poles—considering the soul as the positive pole and the etheric substance of the brain as the negative.

15. DK dường như đang chỉ ra một mối liên hệ giữa điện, ánh sáng, vật chất và “ánh sáng trong đầu”. Chúng ta biết rằng ánh sáng ấy phát sinh nhờ sự tương tác đúng đắn giữa các cực — xem linh hồn như cực dương và chất liệu dĩ thái của bộ não như cực âm.

16. It will be seen that different varieties of light have their distinct polarity with respect to other varieties. The same variety of light can assume an opposite polarity depending upon the variety of light to which it is relating.

16. Sẽ thấy rằng những loại ánh sáng khác nhau có tính phân cực riêng biệt của chúng đối với những loại khác. Cùng một loại ánh sáng có thể đảm nhận một cực tính đối nghịch tùy theo loại ánh sáng mà nó đang liên hệ.

17. The soul, for instance, is the positive pole with respect to the personality but the negative pole with respect to the monad.

17. Chẳng hạn, linh hồn là cực dương đối với phàm ngã, nhưng là cực âm đối với chân thần.

Paragraph 2

Đoạn 2

It will be found that this will be capable of scientific proof.

Người ta sẽ thấy rằng điều này có thể được chứng minh một cách khoa học.

18. Science will prove the reality and presence of the light in the head and will verify its cause as the union of soul light with the light inherent in substance.

18. Khoa học sẽ chứng minh thực tại và sự hiện diện của ánh sáng trong đầu, và sẽ xác nhận nguyên nhân của nó là sự hợp nhất của ánh sáng linh hồn với ánh sáng cố hữu trong chất liệu.

19. In this union we have the fusion of the second and third aspects of divinity.

19. Trong sự hợp nhất này, chúng ta có sự dung hợp của phương diện thứ hai và thứ ba của thiên tính.

It will also be shown that the soul itself is light,

Người ta cũng sẽ chỉ ra rằng chính linh hồn là ánh sáng,

20. All forms to be found upon the cosmic physical plane are demonstrations of light.

20. Mọi hình tướng hiện có trên cõi hồng trần vũ trụ đều là những biểu hiện của ánh sáng.

21. The terminology of light must also apply (in ways we cannot understand) to planes higher than the cosmic physical.

21. Thuật ngữ về ánh sáng cũng phải được áp dụng, theo những cách chúng ta không thể thấu hiểu, cho các cõi cao hơn cõi hồng trần vũ trụ.

22. Let us say, the soul is a ‘light demonstration’ of a higher order that the light demonstrations common to the three lower worlds.

22. Có thể nói, linh hồn là một “biểu hiện ánh sáng” thuộc một trật tự cao hơn so với các biểu hiện ánh sáng thường gặp trong ba cõi thấp.

23. The soul is also love and power, but it may be possible to translate these two higher manifestations into the ‘terms of light’.

23. Linh hồn cũng là bác ái và quyền năng, nhưng có thể chuyển dịch hai biểu hiện cao hơn này sang “ngôn ngữ của ánh sáng”.

and that the entire Hierarchy is a great centre of light,

và rằng toàn thể Thánh Đoàn là một trung tâm ánh sáng vĩ đại,

24. The “Society of organized and illumined minds”.

24. “Hội của những thể trí có tổ chức và được soi sáng”.

causing the symbology of light to govern our thinking, our approach to God, and enabling us to understand somewhat the meaning of the words of Christ “I am the Light of the world.”

khiến biểu tượng học về ánh sáng chi phối tư tưởng của chúng ta, cách chúng ta đến với Thượng đế, và giúp chúng ta thấu hiểu phần nào ý nghĩa lời của Đức Christ: “Ta là Ánh sáng của thế gian.”

25. The Christ is, for humanity, the foremost Representative of the light of the soul which must infuse the matter of the systemic third aspect. There are also varieties of matter/light to be found in vibratory dimensions where the second and first aspects of divinity hold sway. Yet, all our present development is focussed on the cosmic physical plane and is thus material development—cosmically considered.

25. Đức Christ, đối với nhân loại, là Đấng Đại Diện hàng đầu của ánh sáng linh hồn, ánh sáng phải thấm nhuần vật chất của phương diện thứ ba thuộc hệ mặt trời. Cũng có những loại vật chất/ánh sáng khác được tìm thấy trong các chiều kích rung động nơi phương diện thứ hai và thứ nhất của thiên tính ngự trị. Tuy vậy, toàn bộ sự phát triển hiện nay của chúng ta đều tập trung trên cõi hồng trần vũ trụ, và do đó là sự phát triển vật chất—xét theo vũ trụ.

26. This great statement of the Christ is susceptible of a number of different interpretations. For one thing, it reveals that He is entirely identified with the Planetary Soul—a second ray soul. For another, it suggests identification with those higher forms of matter/light which are to be found within the cosmic ethers (the higher four systemic planes), and not with those forms of matter/light found within the dense physical body of the Solar Logos (gaseous, liquidic and earthily dense). It also suggests that His presence evokes the demonstration of radiance in lower forms of matter—i.e., that in His presence the soul of matter shines forth. Thus, He evokes the radiance of the Anima Mundi.

26. Phát biểu vĩ đại này của Đức Christ có thể được diễn giải theo nhiều cách khác nhau. Trước hết, nó mặc khải rằng Ngài hoàn toàn đồng hoá với Linh hồn Hành tinh—một linh hồn cung hai. Mặt khác, nó gợi ý sự đồng hoá với những hình thức vật chất/ánh sáng cao hơn vốn được tìm thấy trong các dĩ thái vũ trụ, tức bốn cõi hệ thống cao hơn, chứ không phải với những hình thức vật chất/ánh sáng được tìm thấy trong thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế, gồm dạng khí, dạng lỏng và dạng đậm đặc như đất. Nó cũng gợi ý rằng sự hiện diện của Ngài gợi lên biểu hiện rạng chiếu trong các hình thức vật chất thấp hơn—nghĩa là, trong sự hiện diện của Ngài, linh hồn của vật chất bừng sáng. Như vậy, Ngài gợi lên sự rạng chiếu của Linh hồn Thế giới.

27. The fact that we can only “somewhat understand” Christ’s statement shows how occult it really is. It reveals a very deep state of identification on the part of the Christ. The Buddha had achieved a similar state of identification and could have said the same.

27. Sự kiện chúng ta chỉ có thể “thấu hiểu phần nào” lời tuyên bố của Đức Christ cho thấy nó thật sự huyền bí đến mức nào. Nó mặc khải một trạng thái đồng hoá rất sâu xa nơi Đức Christ. Đức Phật đã đạt được một trạng thái đồng hoá tương tự và cũng có thể nói như thế.

28. Let us think of our “approach to God”. Is it governed primarily by the “symbology of light”, or do the symbologies of love and will also govern that approach?

28. Chúng ta hãy nghĩ về “cách chúng ta đến với Thượng đế”. Nó chủ yếu chịu sự chi phối của “biểu tượng học về ánh sáng”, hay các hệ biểu tượng về bác ái và ý chí cũng chi phối cách tiếp cận ấy?

29. Somehow, light is the common denominator. We are familiar with the terms “the light of love” and the “light of will”.

29. Bằng cách nào đó, ánh sáng là mẫu số chung. Chúng ta quen thuộc với các thuật ngữ “ánh sáng của bác ái” và “ánh sáng của ý chí”.

These words carry meaning to all true disciples and present them with an analogous goal which they define to themselves as that of finding the light, appropriating the light, and themselves becoming light-bearers.

Những lời này mang ý nghĩa đối với mọi đệ tử chân chính, và đặt trước họ một mục tiêu tương đồng mà họ tự định nghĩa là tìm thấy ánh sáng, chiếm hữu ánh sáng, và chính họ trở thành những người mang ánh sáng.

30. When considering the statement, “I am the Light of the world”, the true disciple has three tasks:

30. Khi suy xét lời tuyên bố: “Ta là Ánh sáng của thế gian”, đệ tử chân chính có ba nhiệm vụ:

a. Finding the light (through aspiration, study and vision)

a. Tìm thấy ánh sáng, thông qua khát vọng, học hỏi và tầm nhìn

b. Appropriating the light (through the practices of occult meditation)

b. Chiếm hữu ánh sáng, thông qua các thực hành tham thiền huyền bí

c. Bearing or giving the light (in service).

c. Mang hoặc ban phát ánh sáng, trong phụng sự.

31. Each stage necessarily precedes the one that follows. Many of us have found the light and are in process of appropriating it. Of course, it does not have to be completely appropriated before it is borne or given. And in the bearing and giving of the light through service, new light is found and greater appropriation occurs.

31. Mỗi giai đoạn tất yếu đi trước giai đoạn tiếp theo. Nhiều người trong chúng ta đã tìm thấy ánh sáng và đang trong tiến trình chiếm hữu nó. Dĩ nhiên, nó không cần phải được chiếm hữu hoàn toàn trước khi được mang hoặc ban phát. Và trong việc mang và ban phát ánh sáng qua phụng sự, ánh sáng mới được tìm thấy và sự chiếm hữu lớn hơn diễn ra.

The theme of light runs through all the world Scriptures;

Chủ đề ánh sáng xuyên suốt mọi Thánh kinh của thế giới;

32. This we can easily confirm if we will only reflect. Probably, of the religions with which we are familiar, Buddhism carries the greatest relationship to the Light and to enlightenment.

32. Chúng ta có thể dễ dàng xác nhận điều này nếu chỉ chịu suy ngẫm. Có lẽ, trong các tôn giáo quen thuộc với chúng ta, Phật giáo có mối liên hệ lớn nhất với Ánh sáng và với giác ngộ.

33. The founder of Buddhism was a Taurean individual, and Taurus is possessed of the “light-giving force” (R&I 233)

33. Nhà sáng lập Phật giáo là một cá nhân thuộc Kim Ngưu, và Kim Ngưu sở hữu “mãnh lực ban phát ánh sáng” (R&I 233)

the idea of enlightenment conditions all the training given to the youth of the world (limited though the application of this idea may be), and the thought of more light governs all the inchoate yearnings of the human spirit.

ý tưởng về giác ngộ tác động lên toàn bộ sự huấn luyện dành cho thanh niên thế giới, dù việc áp dụng ý tưởng này có thể còn hạn chế, và tư tưởng về ánh sáng nhiều hơn chi phối mọi niềm khát vọng còn phôi thai của tinh thần con người.

34. This thought is evident in the great Masonic Quest for Light.

34. Tư tưởng này hiển nhiên trong Cuộc Truy Tầm Ánh Sáng vĩ đại của Hội Tam Điểm.

35. The very first of the powerful mantric statements which begin, “Lead us from…” is “Lead us from darkness to light”.

35. Lời đầu tiên trong những phát biểu mantram mạnh mẽ bắt đầu bằng “Xin dẫn chúng con khỏi…” là “Xin dẫn chúng con khỏi bóng tối đến ánh sáng”.

36. Enlightenment is a change in the vibratory condition of the matter of which our consciousness is normally most aware. This change allows expanded awarenesses to enter that consciousness.

36. Giác ngộ là một sự thay đổi trong trạng thái rung động của loại vật chất mà tâm thức chúng ta thường nhận biết rõ nhất. Sự thay đổi này cho phép những mức nhận thức mở rộng đi vào tâm thức ấy.

Paragraph 3

Đoạn 3

We have not yet carried the concept up to the Centre of Life where dwells the Ancient of Days, the Eternal Youth, the Lord of the World, Sanat Kumara, Melchizedek—God.

Chúng ta vẫn chưa đưa khái niệm này lên đến Trung Tâm Sự Sống, nơi ngự của Đấng Thái Cổ, Thanh Niên Vĩnh Cửu, Đức Chúa Tể Thế Giới, Đức Sanat Kumara, Đức Melchizedek—Thượng đế.

37. We are speaking of the concept of Light in relation to the “Centre of Life” or Shamballa.

37. Chúng ta đang nói về khái niệm Ánh sáng trong liên hệ với “Trung Tâm Sự Sống” hay Shamballa.

38. The Names of Sanat Kumara are many and, apparently, widely contrasting, emphasizing different aspects of His divine nature. They contain a number of polarities such as “Youth” and “Ancient”.

38. Các Danh hiệu của Đức Sanat Kumara thì nhiều và, dường như, tương phản rất rộng, nhấn mạnh những phương diện khác nhau của bản chất thiêng liêng nơi Ngài. Chúng chứa đựng một số cặp cực như “Thanh Niên” và “Thái Cổ”.

39. Who or what is God? When we refer to God, we are most often not referring to the UNCREATED ABSOLUTE DEITY. For our limited purposes on planet Earth, the Lord of the World is our God; at least the opportunity is held before us that we may relate to Him directly and, one day, expect focussed response.

39. Thượng đế là ai hay là gì? Khi chúng ta nói đến Thượng đế, thường thì chúng ta không nói đến THƯỢNG ĐẾ TUYỆT ĐỐI BẤT SINH. Đối với những mục đích hữu hạn của chúng ta trên hành tinh Trái Đất, Đức Chúa Tể Thế Giới là Thượng đế của chúng ta; ít nhất, cơ hội được đặt trước chúng ta để chúng ta có thể liên hệ trực tiếp với Ngài và, một ngày kia, kỳ vọng sự đáp ứng tập trung.

40. Of course (in a way that cannot be denied by the spiritual knower) He (the Great Kumara) is within every one of us. Every spiritual response evoked is, in some manner, His response.

40. Dĩ nhiên, theo một cách mà thức giả tinh thần không thể phủ nhận, Ngài, Đức Kumara Vĩ Đại, ở trong mỗi người chúng ta. Mọi đáp ứng tinh thần được gợi lên, theo một cách nào đó, đều là đáp ứng của Ngài.

Yet from that Centre streams what has been called the Light of Life, the Light Supernal.

Tuy vậy, từ Trung Tâm ấy tuôn chảy điều đã được gọi là Ánh Sáng của Sự Sống, Ánh Sáng Thiên Thượng.

41. These are a number of important classifications of the Light.

41. Đây là một số phân loại quan trọng của Ánh Sáng.

42. The “Light of Life” is also associated with the sign Taurus, the great sign/constellation of illumination. At every Wesak Festival (which occurs during the Full Moon of Taurus) access to Shamballa is (in a much attenuated form) granted to humanity via the Buddha acting as intermediary between Shamballa and Hierarchy and the Christ and Hierarchy acting as intermediaries between the ‘descending’ Buddha and humanity.

42. “Ánh Sáng của Sự Sống” cũng liên hệ với dấu hiệu Kim Ngưu, dấu hiệu/chòm sao vĩ đại của sự soi sáng. Vào mỗi Lễ Wesak, diễn ra trong kỳ Trăng Tròn Kim Ngưu, nhân loại được ban cho quyền tiếp cận Shamballa, dưới hình thức đã giảm nhẹ rất nhiều, qua Đức Phật đóng vai trò trung gian giữa Shamballa và Thánh Đoàn, còn Đức Christ và Thánh Đoàn đóng vai trò trung gian giữa Đức Phật “đang giáng xuống” và nhân loại.

43. The “Light of Life” is contacted for the first time at the third initiation.

43. “Ánh Sáng của Sự Sống” được tiếp xúc lần đầu tiên ở lần điểm đạo thứ ba.

44. It is at that initiation that the “Light Supernal” is also first contacted. “Lost am I in Light Supernal, yet on that Light I turn my back.” This tells us that Shamballa/Monad is initially active at this initiation.

44. Chính ở lần điểm đạo ấy, “Ánh Sáng Thiên Thượng” cũng lần đầu tiên được tiếp xúc. “Tôi lạc mất trong Ánh Sáng Thiên Thượng, nhưng tôi quay lưng lại với Ánh Sáng ấy.” Điều này cho chúng ta biết rằng Shamballa/chân thần khởi đầu hoạt động ở lần điểm đạo này.

45. It may be that the “Light Supernal” is also to be associated with the systemic logoic plane, being the highest light to be found on all our seven planes. “When the light of the seven Rays is blended with the seventh Ray, then Light Supernal can be known.” (DINA II 439) We would then be speaking of the Cosmic Seventh Ray synthesizing all the seven rays of our normal systemic planes, and expressing most powerfully upon the seventh systemic plane (seventh when counting from below upwards—the logoic plane).

45. Có thể “Ánh Sáng Thiên Thượng” cũng phải được liên hệ với cõi thượng đế của hệ mặt trời, là ánh sáng cao nhất được tìm thấy trên toàn bộ bảy cõi của chúng ta. “Khi ánh sáng của bảy Cung được pha trộn với Cung bảy, bấy giờ Ánh Sáng Thiên Thượng có thể được biết đến.” (DINA II 439) Khi ấy, chúng ta sẽ nói về Cung Bảy Vũ Trụ tổng hợp tất cả bảy cung của các cõi hệ thống bình thường của chúng ta, và biểu lộ mạnh mẽ nhất trên cõi hệ thống thứ bảy, thứ bảy khi đếm từ dưới lên—tức cõi thượng đế.

These are empty words as yet until we know, as trained initiates,

Những lời này cho đến nay vẫn còn trống rỗng cho đến khi chúng ta biết, với tư cách là các điểm đạo đồ được huấn luyện,

46. We have not only to be “initiates” but “trained initiates”. This term suggests initiates of some experience.

46. Chúng ta không chỉ phải là “điểm đạo đồ” mà còn là “điểm đạo đồ được huấn luyện”. Thuật ngữ này gợi ý các điểm đạo đồ có một mức kinh nghiệm nào đó.

that light is a symptom and an expression of Life, and that essentially, occultly and in a most mysterious way the terms, Light and Life, are interchangeable within the limits of the planetary ring-pass-not.

rằng ánh sáng là một triệu chứng và một biểu hiện của Sự Sống, và rằng về bản chất, một cách huyền bí và theo một cách hết sức nhiệm mầu, các thuật ngữ Ánh Sáng và Sự Sống có thể hoán đổi cho nhau trong giới hạn của vòng-giới-hạn hành tinh.

47. When we study the three aspects of divinity, we notice that there is always a close relation between the first and third aspects. Because the one and the three are both on the odd or hard line, energy flows naturally between them.

47. Khi nghiên cứu ba phương diện của thiên tính, chúng ta nhận thấy luôn có một mối liên hệ gần gũi giữa phương diện thứ nhất và thứ ba. Vì một và ba đều nằm trên tuyến lẻ hay tuyến cứng, năng lượng tự nhiên lưu chuyển giữa chúng.

48. If we study the atmic plane, we see that this plane of divine law is also a plane of divine intelligence. It represents both the one and the three, just as does its ruling planet Saturn (expression of the third and first rays particularly).

48. Nếu nghiên cứu cõi atma, chúng ta thấy rằng cõi định luật thiêng liêng này cũng là một cõi của trí tuệ thiêng liêng. Nó đại diện cho cả một và ba, cũng như hành tinh chủ quản của nó là Sao Thổ, đặc biệt là biểu hiện của cung ba và cung một.

49. Through an intensification of the Light we are alerted to the intensification of the Life behind the Light. The more Life, the more Light manifests.

49. Qua sự tăng cường của Ánh Sáng, chúng ta được báo hiệu về sự tăng cường của Sự Sống phía sau Ánh Sáng. Sự Sống càng nhiều, Ánh Sáng càng biểu lộ.

50. Light is, in a way, the veil through which the Life is seen. Life, per se, abides in what we perceive as darkness. In one respect, Shamballa, the ‘Place of Life’ is the ‘Place of Darkness’ to perceivers too undeveloped in capacity to ‘see’ the “unfettered enlightenment” of Shamballa.

50. Theo một cách nào đó, Ánh sáng là bức màn qua đó Sự Sống được nhìn thấy. Sự Sống, chính nó, an trụ trong điều mà chúng ta nhận thức là bóng tối. Theo một phương diện, Shamballa, “Nơi của Sự Sống”, là “Nơi của Bóng Tối” đối với những người tri nhận còn quá kém phát triển về năng lực để “thấy” được “sự giác ngộ không bị ràng buộc” của Shamballa.

Beyond those limits—who knows?

Bên ngoài những giới hạn ấy—ai biết được?

51. The Tibetan speaks to us as a humble Knower. The degree of humility of the Masters is much greater than ours. They know enough to be humble!

51. Chân sư Tây Tạng nói với chúng ta như một Thức giả khiêm nhường. Mức độ khiêm nhường của các Chân sư lớn hơn chúng ta rất nhiều. Các Ngài biết đủ để khiêm nhường!

Light can be regarded as a symptom, a reaction to the meeting and consequent fusion of spirit and matter.

Ánh sáng có thể được xem như một triệu chứng, một phản ứng trước sự gặp gỡ và sự dung hợp theo sau của tinh thần và vật chất.

52. This is one of the common formulations—so common that we may miss its import. Have we ever thought, in technical terms, about how the union of spirit and matter occurs? And when we envision “spirit”, how do we ‘see’ it?

52. Đây là một trong những công thức phổ biến—phổ biến đến mức chúng ta có thể bỏ lỡ ý nghĩa của nó. Chúng ta đã bao giờ suy nghĩ, bằng những thuật ngữ kỹ thuật, về cách sự hợp nhất của tinh thần và vật chất diễn ra chưa? Và khi hình dung “tinh thần”, chúng ta “thấy” nó như thế nào?

53. In a way, in this formulation, are we not envisioning the union of two ‘darknesses’ (or ‘imperceivables’) which results in light?

53. Theo một cách nào đó, trong công thức này, chẳng phải chúng ta đang hình dung sự hợp nhất của hai “bóng tối” hay hai điều “không thể tri nhận”, vốn dẫn đến ánh sáng hay sao?

54. I like to think of this union as the union of Identity with its own Self-Perception (which I conceive matter to be—i.e., the ‘Self-perception of That which Is’).

54. Tôi thích nghĩ về sự hợp nhất này như sự hợp nhất của Bản Sắc với Sự Tự Tri Nhận của chính nó, mà tôi quan niệm vật chất là như vậy—nghĩa là, “Sự tự tri nhận của Cái Đang Là”.

55. Another way of saying this is that when Spirit ‘sees’ itself, the Light breaks forth.

55. Một cách nói khác là: khi Tinh thần “thấy” chính nó, Ánh Sáng bừng ra.

56. The simple phrase, “the union of spirit and matter” would repay long pondering.

56. Cụm từ đơn giản “sự hợp nhất của tinh thần và vật chất” rất đáng được suy ngẫm lâu dài.

Paragraph 4

Đoạn 4

Therefore, where that great point of fusion and of solar crisis (for that is what it is, even when producing a planetary crisis) appears in time and space,

Vì vậy, nơi nào điểm dung hợp vĩ đại ấy và cuộc khủng hoảng thái dương ấy, vì đó chính là điều nó là, ngay cả khi tạo ra một cuộc khủng hoảng hành tinh, xuất hiện trong thời gian và không gian,

57. Shamballa is considered a “great point of fusion” and also of “solar crisis”.

57. Shamballa được xem là một “điểm dung hợp vĩ đại” và cũng là điểm của “khủng hoảng thái dương”.

58. The Will of the Solar Logos is, in fact, worked our through Shamballa—as far as our planet is concerned. Thus, in many ways, Shamballa is a solar center.

58. Thực ra, Ý Chí của Thái dương Thượng đế được triển khai qua Shamballa—trong phạm vi liên quan đến hành tinh chúng ta. Vì vậy, theo nhiều cách, Shamballa là một trung tâm thái dương.

59. Shamballa, apparently, did not always exist, as there comes a point when it appears in time and space. And yet, it is impossible to think that there was a time when the head centre of our planet did not exist, for all chakras must be present at all times (even if in a very latent state).

59. Dường như Shamballa không phải lúc nào cũng hiện hữu, vì có một thời điểm nó xuất hiện trong thời gian và không gian. Tuy vậy, thật không thể nghĩ rằng từng có một thời khi trung tâm đầu của hành tinh chúng ta không hiện hữu, bởi mọi luân xa phải luôn luôn có mặt, dù chỉ trong trạng thái rất tiềm tàng.

light also immediately [Page 144] appears and of such intensity that only those who know the light of the soul, and who can bear the hierarchical light can be trained to enter into and form part of the light of Shamballa and walk in those “radiant halls where move the Lights which carry out the Will of God.”

ánh sáng cũng lập tức [Page 144] xuất hiện, với một cường độ đến mức chỉ những ai biết ánh sáng của linh hồn, và có thể chịu đựng ánh sáng Thánh Đoàn, mới có thể được huấn luyện để đi vào, trở thành một phần của ánh sáng Shamballa, và bước đi trong những “đại sảnh rạng ngời, nơi các Ánh Sáng chuyển động để thực thi Ý Chí của Thượng Đế.”

60. The intensity of the Light of Shamballa is exceedingly great.

60. Cường độ của Ánh Sáng Shamballa cực kỳ lớn.

61. In the Teaching, it is called “unfettered enlightenment”. The Tibetan speaks of the “energising life from Shamballa or what is called ‘unfettered enlightenment’.” (R&I 379)

61. Trong Giáo Huấn, nó được gọi là “sự giác ngộ không bị ràng buộc”. Chân sư Tây Tạng nói về “sự sống tiếp sinh lực từ Shamballa, hay điều được gọi là ‘sự giác ngộ không bị ràng buộc’.” (R&I 379)

62. When speaking of the spiritual aptitude of any being, an appropriate question to determine the extent of that aptitude is “How much light can it withstand or bear?”

62. Khi nói về năng khiếu tinh thần của bất kỳ hữu thể nào, một câu hỏi thích hợp để xác định mức độ của năng khiếu ấy là: “Nó có thể chịu đựng hay mang được bao nhiêu ánh sáng?”

63. In this section we have another version Christ’s statement, “No man commeth to the Father except through me”. The Christ is the Light of the Soul and the Father is Shamballa and its still greater Light (“I See the Greatest Light”). Only through the Light of the Soul can one enter that Greater Light of Shamballa. This is yet another way of understanding the statement, “In that light we shall see Light”. It is a statement always true as one ascends in perception through ever greater intensities of light.

63. Trong phần này, chúng ta có một phiên bản khác của lời Đức Christ: “Không ai đến với Cha ngoại trừ qua Ta”. Đức Christ là Ánh Sáng của Linh Hồn, còn Cha là Shamballa và Ánh Sáng còn lớn hơn nữa của nó: “Tôi thấy Ánh Sáng Lớn Nhất”. Chỉ qua Ánh Sáng của Linh Hồn, người ta mới có thể đi vào Ánh Sáng Lớn Hơn ấy của Shamballa. Đây lại là một cách khác để thấu hiểu lời tuyên bố: “Trong ánh sáng ấy, chúng ta sẽ thấy Ánh Sáng”. Đó là một lời tuyên bố luôn đúng khi người ta thăng lên trong tri nhận qua những cường độ ánh sáng ngày càng lớn hơn.

64. Our first task, therefore, is to “bear” and to “bear” the “hierarchical light”. First we must be able to withstand the hierarchical light and then to carry it—two meanings of the word “bear”.

64. Vì vậy, nhiệm vụ đầu tiên của chúng ta là “chịu đựng” và “mang” “ánh sáng Thánh Đoàn”. Trước hết, chúng ta phải có thể chịu đựng ánh sáng Thánh Đoàn, rồi sau đó mang nó—hai nghĩa của từ “mang”.

65. Those who enter Shamballa form part of its Light.

65. Những ai đi vào Shamballa trở thành một phần của Ánh Sáng nơi đó.

66. We can only think of Shamballa in terms of metaphor—“radiant halls”. As for the moving Lights within Shamballa, there may be something literal in that description.

66. Chúng ta chỉ có thể nghĩ về Shamballa bằng ngôn ngữ ẩn dụ—“những đại sảnh rạng ngời”. Còn về các Ánh Sáng chuyển động bên trong Shamballa, có thể có điều gì đó theo nghĩa đen trong mô tả ấy.

67. When thinking of Shamballa, its crystalline structure is also a useful conception. Its “halls” are created through perfectly constituted energies related in the most ideally crystalline manner.

67. Khi nghĩ về Shamballa, cấu trúc kết tinh của nó cũng là một quan niệm hữu ích. Các “đại sảnh” của nó được tạo nên bởi những năng lượng được cấu thành hoàn hảo và liên hệ với nhau theo cách kết tinh lý tưởng nhất.

Paragraph 5

Đoạn 5

To carry the concept a little nearer home:

Để đưa khái niệm này đến gần chúng ta hơn một chút:

68. A constantly valuable teaching technique. Thus are things abstract rendered approachable!

68. Một kỹ thuật giảng dạy luôn có giá trị. Nhờ vậy, những điều trừu tượng trở nên dễ tiếp cận!

only when the will of the personality and the will of the soul come together—evoked by love—does the light of the soul dominate the material light of the personality. This is a statement of importance.

chỉ khi ý chí của phàm ngã và ý chí của linh hồn đến với nhau—được gợi lên bởi bác ái—thì ánh sáng của linh hồn mới chế ngự ánh sáng vật chất của phàm ngã. Đây là một phát biểu quan trọng.

69. Here we are given the first stage in the process of spiritual union. Lower but still essential processes of union strictly within the realm of personality have preceded it.

69. Ở đây, chúng ta được trao cho giai đoạn đầu tiên trong tiến trình hợp nhất tinh thần. Những tiến trình hợp nhất thấp hơn nhưng vẫn thiết yếu, hoàn toàn trong lĩnh vực của phàm ngã, đã đi trước nó.

70. The relationship (within this process) of the three divine aspects is presented. If the light of the soul is to dominate the material light of the personality (the Sun thus dominating the Moon, and Leo dominating Cancer), then, through love, the will of the soul is to be evoked and merge with the will of the personality.

70. Mối quan hệ, trong tiến trình này, của ba phương diện thiêng liêng được trình bày. Nếu ánh sáng của linh hồn phải chế ngự ánh sáng vật chất của phàm ngã, tức Mặt Trời chế ngự Mặt Trăng, và Sư Tử chế ngự Cự Giải, thì, thông qua bác ái, ý chí của linh hồn phải được gợi lên và hòa nhập với ý chí của phàm ngã.

71. The important point to grasp is love as the invocative agent, evoking the will of the soul.

71. Điểm quan trọng cần nắm bắt là bác ái với tư cách tác nhân khẩn cầu, gợi lên ý chí của linh hồn.

72. Another and simpler way of saying this is that if we love enough, we will know what is the will of the soul and be willing to express that will within the personality—i.e., surrender the personality will to that higher will.

72. Một cách nói khác và đơn giản hơn là: nếu chúng ta yêu thương đủ nhiều, chúng ta sẽ biết ý chí của linh hồn là gì và sẵn lòng biểu lộ ý chí ấy trong phàm ngã—nghĩa là, trao ý chí phàm ngã cho ý chí cao hơn ấy.

73. We see the Tibetan presenting the process of soul/personality union in a new way.

73. Chúng ta thấy Chân sư Tây Tạng trình bày tiến trình hợp nhất linh hồn/phàm ngã theo một cách mới.

74. When we think of the evocation of soul will, do we think of love as the agent of invocation? Those who love enough shall know the higher will.

74. Khi nghĩ về sự gợi lên ý chí linh hồn, chúng ta có nghĩ đến bác ái như tác nhân của khẩn cầu không? Những ai yêu thương đủ nhiều sẽ biết ý chí cao hơn.

Only when the will of the Monad and the will of the Hierarchy of souls meet and blend in the “upper brackets” (if I may use such a modern business phrase) can the radiant light of Life dominate the blended lights of Humanity and of the Hierarchy. Faintly this group fusion and junction can be seen to be taking place.

Chỉ khi ý chí của Chân Thần và ý chí của Thánh Đoàn các linh hồn gặp gỡ và hòa quyện trong “các tầng trên”, nếu tôi có thể dùng một cụm từ kinh doanh hiện đại như vậy, thì ánh sáng rạng ngời của Sự Sống mới có thể chế ngự những ánh sáng đã hòa quyện của Nhân Loại và của Thánh Đoàn. Sự dung hợp và giao hội nhóm này có thể được thấy đang diễn ra một cách mờ nhạt.

75. The Tibetan then describes the higher process involving spirit and soul, with its reflex action upon the soul-infused personality.

75. Sau đó, Chân sư Tây Tạng mô tả tiến trình cao hơn liên quan đến tinh thần và linh hồn, với tác động phản chiếu của nó lên phàm ngã được linh hồn thấm nhuần.

76. We note that He is not speaking in strictly individual terms, but, far more, in group terms.

76. Chúng ta lưu ý rằng Ngài không nói theo những thuật ngữ cá nhân nghiêm ngặt, mà còn hơn thế nhiều, theo các thuật ngữ nhóm.

77. The “upper brackets”, as here used, indicates vibratory levels which begin with the higher mental plane and include the realms of the spiritual triad and monad.

77. “Các tầng trên”, như được dùng ở đây, chỉ những cấp độ rung động bắt đầu với Cõi thượng trí và bao gồm các cảnh giới của Tam Nguyên Tinh Thần và chân thần.

78. DK is speaking of the fusion of Shamballa, Hierarchy and Humanity. There is of course a microcosmic reflection of this higher fusion in the fusion of monad, soul and personality.

78. Chân sư DK đang nói về sự dung hợp của Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân Loại. Dĩ nhiên, có một phản ánh tiểu thiên địa của sự dung hợp cao hơn này trong sự dung hợp của chân thần, linh hồn và phàm ngã.

79. The will of the Monad and the will of the Hierarchy of souls will meet and blend within the spiritual triad. The use of the capitalized word, “Hierarchy” suggests that we are speaking of the Spiritual Hierarchy of our planet, focussed upon the spiritual triad (and especially upon the buddhic plane).

79. Ý chí của Chân Thần và ý chí của Thánh Đoàn các linh hồn sẽ gặp gỡ và hòa quyện trong Tam Nguyên Tinh Thần. Việc dùng từ viết hoa “Thánh Đoàn” gợi ý rằng chúng ta đang nói về Huyền Giai Tinh Thần của hành tinh chúng ta, tập trung trên Tam Nguyên Tinh Thần, và đặc biệt trên cõi Bồ đề.

80. The planet Jupiter in relation to the sign Gemini oversees an aspect of this union.

80. Hành tinh Sao Mộc trong liên hệ với dấu hiệu Song Tử giám sát một phương diện của sự hợp nhất này.

81. Our first task is to see to the blending of the lights of Humanity and Hierarchy. We are still far from this blending. Individual man (in large numbers) must bring about the blending of soul and personality before the merging of Hierarchy and Humanity will be a fact.

81. Nhiệm vụ đầu tiên của chúng ta là chăm lo cho sự hòa quyện của các ánh sáng của Nhân Loại và Thánh Đoàn. Chúng ta vẫn còn rất xa sự hòa quyện này. Con người cá nhân, với số lượng lớn, phải tạo nên sự hòa quyện của linh hồn và phàm ngã trước khi sự hợp nhất của Thánh Đoàn và Nhân Loại trở thành một sự kiện.

82. Later, in distant days of planetary consummation, the greater blending here envisioned will occur. Then “the radiant light of Life” will dominate the “blended lights of Humanity and of the Hierarchy”.

82. Về sau, trong những ngày xa xôi của sự viên mãn hành tinh, sự hòa quyện lớn hơn được hình dung ở đây sẽ xảy ra. Khi ấy, “ánh sáng rạng ngời của Sự Sống” sẽ chế ngự “những ánh sáng đã hòa quyện của Nhân Loại và của Thánh Đoàn”.

83. But, first things first. We have a microcosmic task to accomplish before the great group fusion noted can possibly occur.

83. Nhưng, việc nào trước thì làm trước. Chúng ta có một nhiệm vụ tiểu thiên địa phải hoàn thành trước khi sự dung hợp nhóm vĩ đại được ghi nhận có thể xảy ra.

84. Nevertheless, faint indications of the coming fusion are already to be noted, the Tibetan informs us.

84. Tuy nhiên, Chân sư Tây Tạng cho chúng ta biết rằng những dấu hiệu mờ nhạt của sự dung hợp sắp đến đã có thể được nhận thấy.

85. We are living in an era when the Will of Shamballa is becoming known to Humanity in a manner never yet experienced upon this planet.

85. Chúng ta đang sống trong một kỷ nguyên mà Ý Chí của Shamballa đang trở nên được Nhân Loại biết đến theo một cách chưa từng được trải nghiệm trên hành tinh này.

Paragraph 6

Đoạn 6

It is also the first touch of the radiance of Shamballa which is bringing the universal revelation of evil, a radiance which is now producing the world unrest and which has brought about the lining up of good and evil;

Đó cũng là tiếp xúc đầu tiên với sự rạng chiếu của Shamballa, điều đang đem lại sự mặc khải phổ quát về tà ác, một sự rạng chiếu hiện đang tạo ra tình trạng bất ổn thế giới và đã đem lại sự sắp hàng của thiện và ác;

86. The revelation of evil does not occur immediately. It takes the “Greatest Light” to reveal evil as it is.

86. Sự mặc khải về tà ác không xảy ra tức thì. Cần có “Ánh Sáng Lớn Nhất” để mặc khải tà ác đúng như nó là.

87. There is here given a very interesting phrase, “the universal revelation of evil”. What can it mean?” Perhaps, it means the revelation of evil as it exists not only on our planet but within our solar system (as the term “universal” often is used to apply to all that which occurs within the confines of our solar system).

87. Ở đây có một cụm từ rất thú vị: “sự mặc khải phổ quát về tà ác”. Nó có thể có nghĩa gì? Có lẽ, nó có nghĩa là sự mặc khải về tà ác như nó hiện hữu không chỉ trên hành tinh chúng ta mà còn trong hệ mặt trời của chúng ta, vì thuật ngữ “phổ quát” thường được dùng để áp dụng cho tất cả những gì xảy ra trong phạm vi hệ mặt trời của chúng ta.

88. “The universal revelation of evil” may also mean a revelation which discloses evil wherever it may be found on our planet.

88. “Sự mặc khải phổ quát về tà ác” cũng có thể có nghĩa là một sự mặc khải phơi bày tà ác ở bất cứ nơi nào nó có thể được tìm thấy trên hành tinh chúng ta.

89. It is clear that “the first touch of the radiance of Shamballa” has had profound effects on our planet during the last century. What aspect of Shamballa touched humanity during the Shamballic interventions which ended Lemuria and Atlantis?

89. Rõ ràng là “sự tiếp xúc đầu tiên với hào quang của Shamballa” đã có những tác động sâu xa trên hành tinh chúng ta trong thế kỷ vừa qua. Phương diện nào của Shamballa đã chạm đến nhân loại trong các can thiệp của Shamballa vốn đã kết thúc Lemuria và Atlantis?

90. The “radiance of Shamballa” is all-clarifying and allows members of the human race to see more precisely where they stand in relation to two great opposites—good and evil.

90. “Hào quang của Shamballa” làm sáng tỏ tất cả và cho phép các thành viên của nhân loại thấy chính xác hơn họ đang đứng ở đâu trong tương quan với hai đối cực lớn lao — thiện và ác.

91. “Perfection calls imperfection to the surface. Good drives evil always from the form of man in time and space.” (EH 295)

91. “Sự hoàn thiện gọi điều bất toàn trồi lên bề mặt. Thiện luôn đẩy ác ra khỏi hình tướng của con người trong thời gian và không gian.” (EH 295)

92. If, then, within our microcosmic natures, evil is revealed in greater intensity, it must mean that the microcosmic “radiance of Shamballa”, i.e., the radiance of the monad, is becoming influential.

92. Vậy nếu, trong các bản chất tiểu thiên địa của chúng ta, ác được mặc khải với cường độ lớn hơn, điều đó hẳn có nghĩa là “hào quang của Shamballa” ở cấp tiểu thiên địa, tức là hào quang của chân thần, đang trở nên có ảnh hưởng.

this touch of radiance is the conditioning factor behind what is called post-war planning and the ideas of reconstruction and of world rebuilding which are dominating the best human thinking at this time.

sự tiếp xúc của hào quang này là tác nhân tác động phía sau điều được gọi là hoạch định hậu chiến, cùng các ý tưởng về tái thiết và xây dựng lại thế giới, vốn đang chi phối tư tưởng ưu tú nhất của nhân loại vào lúc này.

93. Not only does the “radiance of Shamballa” evoke a destructive confrontation, but it is evocative of the constructive aspect of the will.

93. “Hào quang của Shamballa” không chỉ gợi lên một cuộc đối đầu có tính hủy diệt, mà còn gợi lên phương diện xây dựng của ý chí.

94. We cannot help but think that the planet Vulcan (planet not only of the will but of the processes of firm construction and forging) is involved in this radiant touch.

94. Chúng ta không thể không nghĩ rằng hành tinh Vulcan — hành tinh không chỉ của ý chí mà còn của các tiến trình xây dựng kiên cố và rèn đúc — có liên quan đến sự tiếp xúc rạng rỡ này.

95. Shamballa is, in many ways, a ‘Vulcanian Domain’. The “living stones” of Earth are related to the “fiery stones” of Vulcan. One can think of ‘fiery crystals’ perfectly formed.

95. Shamballa, theo nhiều cách, là một “Lĩnh vực Vulcan”. Những “viên đá sống” của Trái Đất liên hệ với những “viên đá lửa” của Vulcan. Người ta có thể nghĩ đến những “tinh thể lửa” được tạo hình hoàn hảo.

Paragraph 7

Đoạn 7

It should be carefully borne in mind that evil (cosmic evil or the source of planetary evil) is much closer to Shamballa than it is to Humanity.

Cần ghi nhớ cẩn thận rằng ác — tà ác vũ trụ hay nguồn gốc của ác hành tinh — gần Shamballa hơn rất nhiều so với Nhân loại.

96. Let us note carefully that “cosmic evil” is the source of “planetary evil”. The reason that the last great world war was so devastating and so important for the future of humanity is that cosmic evil was involved.

96. Chúng ta hãy lưu ý kỹ rằng “tà ác vũ trụ” là nguồn gốc của “ác hành tinh”. Lý do khiến cuộc đại chiến thế giới vừa qua tàn phá đến thế và quan trọng đến thế đối với tương lai của nhân loại là vì tà ác vũ trụ đã can dự vào đó.

97. It is the radiance of the spirit that evokes the revelation of evil. Spirit is obviously the very nature of Shamballa, and, thus, it is clear why “evil…is much closer to Shamballa than it is to Humanity”. Shamballa and its Residents know evil as humanity never can.

97. Chính hào quang của tinh thần gợi lên sự mặc khải về ác. Tinh thần hiển nhiên là chính bản chất của Shamballa, và vì vậy, rõ ràng tại sao “ác… gần Shamballa hơn rất nhiều so với Nhân loại”. Shamballa và các Đấng Cư Ngụ nơi đó biết ác theo một cách mà nhân loại không bao giờ có thể biết.

98. Really, humanity has little understanding of the true depths of evil. It understands planetary evil somewhat, but the aims and purposes of cosmic evil hardly at all. This is probably a good thing.

98. Thật ra, nhân loại hiểu rất ít về những chiều sâu đích thực của ác. Nhân loại phần nào hiểu ác hành tinh, nhưng hầu như không hiểu gì về các mục tiêu và mục đích của tà ác vũ trụ. Điều này có lẽ là một điều tốt.

The Great Lives there move entirely free from glamour;

Các Sự Sống Vĩ Đại nơi đó vận hành hoàn toàn tự do khỏi ảo cảm;

99. Does this mean that the members of Hierarchy do not “move entirely free from glamour”?

99. Điều này có nghĩa là các thành viên của Thánh Đoàn không “vận hành hoàn toàn tự do khỏi ảo cảm” chăng?

100. We remember that the illusion of the cosmic physical plane is ended only at the ninth initiation when that plane is occultly repudiated.

100. Chúng ta nhớ rằng ảo tưởng của cõi hồng trần vũ trụ chỉ chấm dứt ở lần điểm đạo thứ chín, khi cõi ấy bị từ khước một cách huyền bí.

Their vision is one of extreme simplicity;

Tầm nhìn của Các Ngài là tầm nhìn của sự giản dị tột độ;

101. Conscious registration of synthesis yields simplicity of perception. This means, in a simple way, that the whole is always perceived simultaneously along with the perception of its parts. If we are honest, we will realize that, for us, the parts often obscure the perception of the whole.

101. Sự ghi nhận có ý thức về tổng hợp đem lại sự giản dị trong tri giác. Nói một cách đơn giản, điều này có nghĩa là toàn thể luôn được tri nhận đồng thời với sự tri nhận các phần của nó. Nếu thành thật, chúng ta sẽ nhận ra rằng, đối với chúng ta, các phần thường che khuất sự tri nhận về toàn thể.

102. Another way of saying the same thing is that the Lives within Shamballa dwell within that state of consciousness known as “Isolated Unity”.

102. Một cách khác để nói cùng điều ấy là các Sự Sống trong Shamballa cư ngụ trong trạng thái tâm thức được gọi là “Hợp Nhất Cô Lập”.

They are concerned only with the great and simple duality of spirit and matter, and not with the many forms which the fusion of these two brings into being.

Các Ngài chỉ quan tâm đến nhị nguyên lớn lao và giản dị của tinh thần và vật chất, chứ không quan tâm đến nhiều hình tướng mà sự dung hợp của hai điều này đưa vào hiện hữu.

103. Simplicity of perception is an earned right. One must master complexity before the right to simplicity of perception is a right.

103. Sự giản dị trong tri giác là một quyền đã được giành lấy. Người ta phải làm chủ sự phức tạp trước khi quyền được có sự giản dị trong tri giác trở thành một quyền.

104. We cannot fathom this state of consciousness because we really do not know the nature of spirit, no matter how many times we may use the word. “Spirit” and “life” are equivalent, and of “life” we know naught.

104. Chúng ta không thể thấu triệt trạng thái tâm thức này, vì thật sự chúng ta không biết bản chất của tinh thần, bất kể chúng ta có thể dùng từ ấy bao nhiêu lần. “Tinh thần” và “sự sống” là những thuật ngữ tương đương, và về “sự sống” thì chúng ta chẳng biết gì.

105. An important thought is brought forward—that, when spirit and matter fuse, there are many transitional forms which result from this fusion. The presence of these many forms creates the complexity in which we ordinarily live.

105. Một tư tưởng quan trọng được nêu ra — rằng khi tinh thần và vật chất dung hợp, có nhiều hình tướng chuyển tiếp phát sinh từ sự dung hợp này. Sự hiện diện của nhiều hình tướng ấy tạo nên sự phức tạp trong đó chúng ta thường sống.

The domination of spirit (and its reflection, soul) by matter is what constitutes evil and this is true whether the statement is applied to the development of the individual or of the group.

Sự thống trị của vật chất đối với tinh thần — và phản ánh của tinh thần là linh hồn — chính là điều cấu thành ác, và điều này đúng dù phát biểu ấy được áp dụng cho sự phát triển của cá nhân hay của nhóm.

106. This is an excellent philosophical definition of “evil”.

106. Đây là một định nghĩa triết học xuất sắc về “ác”.

107. We note that soul is the reflection of spirit. Elsewhere we learn that matter is the “shadow” of spirit.

107. Chúng ta lưu ý rằng linh hồn là phản ánh của tinh thần. Ở nơi khác, chúng ta học rằng vật chất là “bóng” của tinh thần.

“Thus and only thus can the light of the Central Spiritual Sun begin to penetrate the dark places of the Earth; when this happens all ‘shadows disappear’—an occult reference to the all-embracing radiance of the Monad as it absorbs both its reflection, the soul, and its shadow, the personality.” (DINA II 287)

“Như vậy và chỉ như vậy, ánh sáng của Mặt trời Tinh thần Trung Ương mới có thể bắt đầu xuyên thấu những nơi tối tăm của Trái Đất; khi điều này xảy ra, mọi ‘bóng tối biến mất’ — một ám chỉ huyền bí đến hào quang bao trùm tất cả của Chân thần khi nó hấp thu cả phản ánh của nó là linh hồn, lẫn bóng của nó là phàm ngã.” (DINA II 287)

108. The whole question of evil can be understood as involving the ‘prioritization of energies’.

108. Toàn bộ vấn đề về ác có thể được thấu hiểu như liên quan đến “sự ưu tiên hóa các năng lượng”.

109. Evil is an energic obstruction to the Plan-intended energy pattern of the moment.

109. Ác là một sự cản trở năng lượng đối với mô hình năng lượng mà Thiên Cơ dự định cho khoảnh khắc ấy.

The “Lights which carry out the will of God” move free from the spell of evil.

“Những Ánh Sáng thực hiện Ý Chí của Thượng Đế” vận hành tự do khỏi bùa mê của ác.

110. The word “spell” is important having to do with the many magical words which emerge from the AUM. Spells involve many lesser words rather than the “Word of the Soul”.

110. Từ “bùa mê” rất quan trọng, liên quan đến nhiều lời huyền thuật phát xuất từ AUM. Các bùa mê bao hàm nhiều linh từ nhỏ hơn, thay vì “Linh từ của Linh hồn”.

111. We might say that the “Lights which carry out the will of God” move free from the spell-binding power of the third ray, which entraps the Word in lesser words.

111. Chúng ta có thể nói rằng “Những Ánh Sáng thực hiện Ý Chí của Thượng Đế” vận hành tự do khỏi quyền năng trói buộc bằng bùa mê của cung ba, vốn giam hãm Linh từ trong những linh từ nhỏ hơn.

The Light in which They move safeguards Them, and Their Own innate and inherent radiance repels evil.

Ánh Sáng trong đó Các Ngài vận hành bảo vệ Các Ngài, và hào quang bẩm sinh, nội tại của chính Các Ngài đẩy lùi ác.

112. Radiance is a safeguard. The acts of dispelling or dispersing are first ray acts.

112. Hào quang là một sự bảo vệ. Các hành vi xua tan hay phân tán là những hành vi thuộc cung một.

113. One might wonder how such great Lives could possibly be vulnerable.

113. Người ta có thể tự hỏi làm sao những Sự Sống vĩ đại như thế lại có thể bị tổn thương.

114. Such lives are monads fully in expression. It is clear that monadic radiance repels evil.

114. Những Sự Sống như thế là các chân thần biểu lộ trọn vẹn. Rõ ràng hào quang chân thần đẩy lùi ác.

115. “The Light in which They move” is destructive of any forms of energy/force except those which reflect the Archetypes of the Divine Mind.

115. “Ánh Sáng trong đó Các Ngài vận hành” hủy diệt mọi hình tướng năng lượng/mãnh lực, ngoại trừ những hình tướng phản ánh các Nguyên Mẫu của Trí Thiêng Liêng.

116. Evil is ugliness and the result of wrongly combined energies. Imperfect combinations will not stand before the “Light” of which we speak and its radiance.

116. Ác là sự xấu xí và là kết quả của các năng lượng được kết hợp sai lạc. Những kết hợp bất toàn sẽ không thể đứng vững trước “Ánh Sáng” mà chúng ta đang nói đến và trước hào quang của nó.

But They “move alongside the evil to which all lesser forms are prone”;

Nhưng Các Ngài “vận hành bên cạnh ác mà mọi hình tướng thấp hơn đều dễ sa vào”;

117. This is an amazing statement. These great Lives are not unaware of planetary conditions (subject as such conditions are to the spell of evil). They are invulnerable to evil combinations of energy/force but not unaware.

117. Đây là một phát biểu đáng kinh ngạc. Những Sự Sống vĩ đại này không phải là không biết đến các tình trạng hành tinh — những tình trạng như thế vốn chịu sự chi phối của bùa mê ác. Các Ngài bất khả xâm phạm trước những kết hợp tà ác của năng lượng/mãnh lực, nhưng không phải là không hay biết.

118. Through Their radiance, They could destroy evil quickly, but they would be violating the Law of Free Will if They did so.

118. Qua hào quang của Các Ngài, Các Ngài có thể nhanh chóng hủy diệt ác, nhưng nếu làm như vậy, Các Ngài sẽ vi phạm Định luật Ý Chí Tự Do.

119. There is a law that salvation is achieved through the ‘assertion of the center’. Should they choose to destroy such evil, they would be working upon conditions rather than stimulating the nucleus within each being, which being, eventually and on its own, must destroy evil through the applied power of its nucleus or center.

119. Có một định luật rằng sự cứu rỗi đạt được qua “sự khẳng định của trung tâm”. Nếu Các Ngài chọn hủy diệt điều ác như thế, Các Ngài sẽ tác động lên các tình trạng hơn là kích thích hạt nhân bên trong mỗi hữu thể; hữu thể ấy, cuối cùng và bằng chính mình, phải hủy diệt ác qua quyền năng được áp dụng của hạt nhân hay trung tâm của chính mình.

They are part of a great [Page 145] observing Group which “moves forward in time and space”;

Các Ngài là một phần của một Nhóm quan sát vĩ đại [Page 145] “tiến tới trong thời gian và không gian”;

120. Being part of Shamballa, They are examples of “progress onward” or of “driving forward through space”.

120. Là một phần của Shamballa, Các Ngài là những ví dụ của “sự tiến tới” hay “sự thúc đẩy tiến về phía trước xuyên qua không gian”.

121. Just as the Spirit is the Identity, and the Identity is the ultimate Observer, so these great Lives are Observers. They see with extraordinary clarity of perception. The forces They wield are so tremendous that they must be utterly clear in their evaluation of conditions before They apply energy/force to those condition.

121. Cũng như Tinh thần là Bản Sắc, và Bản Sắc là Nhà Quan Sát tối hậu, những Sự Sống vĩ đại này là các Nhà Quan Sát. Các Ngài thấy với sự sáng rõ phi thường của tri giác. Những mãnh lực Các Ngài vận dụng quá lớn lao đến nỗi Các Ngài phải hoàn toàn sáng rõ trong sự đánh giá các tình trạng trước khi áp dụng năng lượng/mãnh lực vào những tình trạng ấy.

its members watch the great war and conflict proceed on Earth between the Forces of Light and the Forces of Evil. They have let loose upon Earth the Forces of Light, whilst the Forces of Evil are inherent in substance itself—of which all the many forms of life are constructed.

các thành viên của nhóm ấy quan sát cuộc đại chiến và xung đột đang diễn ra trên Trái Đất giữa các Mãnh Lực Ánh Sáng và các Mãnh Lực Tà Ác. Các Ngài đã phóng thích các Mãnh Lực Ánh Sáng xuống Trái Đất, trong khi các Mãnh Lực Tà Ác vốn cố hữu trong chính chất liệu — chất liệu mà từ đó mọi hình tướng đa dạng của sự sống được kiến tạo.

122. The “great war” had many Observers.

122. “Cuộc đại chiến” đã có nhiều Nhà Quan Sát.

123. The “Forces of Light” are not only the good people fighting evil. These Forces are particular kinds of focussed energies which, released, will draw evil from its lairs and defeat it.

123. Các “Mãnh Lực Ánh Sáng” không chỉ là những người thiện đang chiến đấu với ác. Những Mãnh Lực này là các loại năng lượng tập trung đặc thù, khi được phóng thích, sẽ kéo ác ra khỏi hang ổ của nó và đánh bại nó.

124. “Let the Forces of Light bring illumination to mankind.”

124. “Hãy để các Mãnh Lực Ánh Sáng đem sự soi sáng đến cho nhân loại.”

125. The “great war” was really a battle between spirit and form (i.e., the forces inherent in form).

125. “Cuộc đại chiến” thật ra là một trận chiến giữa tinh thần và hình tướng, tức là các mãnh lực cố hữu trong hình tướng.

126. The approach of the Good drew to the surface the evil inherent in substance itself. The time had come.

126. Sự tiến đến của Thiện đã kéo ác cố hữu trong chính chất liệu trồi lên bề mặt. Thời điểm đã đến.

127. When it comes to considering the difference between planetary evil and cosmic evil, it is easy to see that planetary evil is related to the evil inherent in substance.

127. Khi xét đến sự khác biệt giữa ác hành tinh và tà ác vũ trụ, dễ thấy rằng ác hành tinh liên hệ với điều ác cố hữu trong chất liệu.

128. We must question whether this can be said equally of cosmic evil. The mental component of cosmic evil cannot be ignored, whereas planetary evil has no such acute mental content.

128. Chúng ta phải đặt câu hỏi liệu điều này có thể được nói một cách tương đương về tà ác vũ trụ hay không. Thành phần trí tuệ của tà ác vũ trụ không thể bị bỏ qua, trong khi ác hành tinh không có nội dung trí tuệ sắc bén như thế.

Part IV of V

Phần 4 trong 5

(Bolding and Underlining MDR)

(Phần in đậm và gạch dưới của MDR)

Focus for the Fifth Month of Study on Rule(s) VII

Trọng tâm cho tháng học thứ năm về Quy luật VII

4. For the fifth month we will focus upon the forth section of Rule VII for Disciples and Initiates (from May 24th to).

4. Trong tháng thứ năm, chúng ta sẽ tập trung vào phần thứ tư của Quy luật VII dành cho các Đệ tử và Điểm đạo đồ (từ ngày 24 tháng Năm đến).

We might choose as theme for our meditation

Chúng ta có thể chọn làm chủ đề cho sự tham thiền của mình

a. Either Rule VII for Disciples and Initiates:

a. Hoặc Quy luật VII dành cho các Đệ tử và Điểm đạo đồ:

“Rule VII for Disciples and Initiates: Let the group life emit the Word of invocation and thus evoke response within those distant Ashrams where move the Chohans of the race of men. They are no longer men as are the Masters, but, having passed beyond that lesser stage, have linked Themselves with the Great Council in the highest. Let the group sound a dual chord, reverberating in the halls where move the Masters but finding pause and prolongation within those radiant halls where move the ‘Lights which carry out the Will of God’.” (RI, p. 136)

“Quy luật VII dành cho các Đệ tử và Điểm đạo đồ: Hãy để sự sống nhóm phát ra Linh từ khẩn cầu và nhờ đó gợi lên đáp ứng trong những Ashram xa xôi nơi các Chohan của nhân loại vận hành. Các Ngài không còn là người như các Chân sư, nhưng, sau khi đã vượt qua giai đoạn thấp hơn ấy, đã liên kết Chính Mình với Đại Hội Đồng trong nơi cao nhất. Hãy để nhóm xướng một hợp âm kép, vang vọng trong các phòng nơi các Chân sư vận hành, nhưng tìm thấy sự dừng lại và kéo dài trong những phòng rạng rỡ nơi vận hành ‘Những Ánh Sáng thực hiện Ý Chí của Thượng Đế’.” (RI, tr. 136)

b. Or sub-themes, DK is referring to in His commentary to the Rule, such as (RI, p. 145 top to p. 147):

b. Hoặc các chủ đề phụ mà Chân sư DK đang đề cập trong lời bình của Ngài về Quy luật, chẳng hạn như (RI, từ đầu tr. 145 đến tr. 147):

i. “At this time, the work of the Great Council at Shamballa, working until now through the Hierarchy, is with the life within the form; They have to proceed with the utmost caution as They thus work, because these Lights know that the danger of premature direct contact with humanity, and of consequent overstimulation, are great.” (cf. RI, p. 145)

i. “Vào lúc này, công việc của Đại Hội Đồng tại Shamballa, cho đến nay vẫn làm việc qua Thánh Đoàn, là với sự sống bên trong hình tướng; Các Ngài phải tiến hành với sự thận trọng tối đa khi làm việc như vậy, vì những Ánh Sáng này biết rằng nguy cơ của sự tiếp xúc trực tiếp quá sớm với nhân loại, và sự kích thích quá mức phát sinh từ đó, là rất lớn.” (xem RI, tr. 145)

ii. “One of the causes of the present cataclysm is the fact that humanity was deemed capable of taking and receiving a ‘touch from Shamballa,’ without stepping it down via the Hierarchy, as has hitherto been the custom.” (cf. RI, p. 145)

ii. “Một trong những nguyên nhân của cơn đại biến hiện nay là sự kiện nhân loại được xem là có khả năng đảm nhận và tiếp nhận một ‘sự tiếp xúc từ Shamballa’, mà không cần hạ giảm nó qua Thánh Đoàn như từ trước đến nay vẫn là thông lệ.” (xem RI, tr. 145)

iii. The determination to apply the ‘touch from Shamballa’ “(which is in the nature of a great experiment) was made in 1825, when the Great Council had its usual centennial meeting.” (cf. RI, p. 145)

iii. Quyết định áp dụng “sự tiếp xúc từ Shamballa” ấy, “vốn mang bản chất của một cuộc thí nghiệm lớn lao”, đã được đưa ra vào năm 1825, khi Đại Hội Đồng có kỳ họp bách niên thường lệ. (xem RI, tr. 145)

iv. The results of that ‘touch from Shamballa’ are working out before our eyes: “The industrial movement began to take shape one hundred years ago and received a great impetus from this touch. The evil in nations—aggression, greed, intolerance and hate—was aroused as never before, and two world wars occurred, one of which is still raging (written October 1943). Paralleling this was an uprising of good, again in response to the divine ‘touch,’ resulting in the growth of understanding, the spread of idealism, the purification of our educational systems and the inauguration of reforms in every department of human life. All has been speeded up and little such growth was seen on a worldwide scale prior to 1825. The knowledge of the Hierarchy is also spreading over the earth; the facts anent discipleship and initiation are becoming common property; humanity has consequently moved onward into a greater measure of light. Good and evil stand out in clearer focus; light and dark are in a more brilliant juxtaposition; issues of right and wrong are appearing with cleared definition, and humanity as a whole sees the great problems of righteousness and love, of sin and separateness upon a worldwide scale. The old age and the coming new age, old rhythms of thought and new approaches to truth and consequent new and better ways of life are presented with clarity to the minds of men.” (cf. RI, p. 145-146)

iv. Các kết quả của “sự tiếp xúc từ Shamballa” ấy đang diễn ra trước mắt chúng ta: “Phong trào công nghiệp bắt đầu thành hình một trăm năm trước và đã nhận được một xung lực lớn lao từ sự tiếp xúc này. Điều ác trong các quốc gia — xâm lược, tham lam, cố chấp và thù hận — bị khơi dậy hơn bao giờ hết, và hai cuộc thế chiến đã xảy ra, một trong hai cuộc ấy vẫn đang hoành hành (viết tháng Mười năm 1943). Song song với điều này là một sự trỗi dậy của thiện, cũng để đáp ứng với ‘sự tiếp xúc’ thiêng liêng, đưa đến sự tăng trưởng của hiểu biết, sự lan rộng của chủ nghĩa lý tưởng, sự thanh lọc các hệ thống giáo dục của chúng ta và sự khởi đầu các cải cách trong mọi ngành của đời sống nhân loại. Tất cả đã được thúc đẩy nhanh hơn, và trước năm 1825, rất ít sự tăng trưởng như thế được thấy trên quy mô toàn cầu. Tri thức về Thánh Đoàn cũng đang lan rộng khắp trái đất; các sự kiện liên quan đến địa vị đệ tử và điểm đạo đang trở thành tài sản chung; do đó, nhân loại đã tiến tới một mức độ ánh sáng lớn hơn. Thiện và ác hiện ra với tiêu điểm rõ ràng hơn; ánh sáng và bóng tối ở trong sự đặt cạnh nhau rực rỡ hơn; các vấn đề đúng và sai đang xuất hiện với định nghĩa sáng rõ, và toàn thể nhân loại thấy những vấn đề lớn lao về sự chính trực và tình thương, về tội lỗi và sự chia rẽ trên quy mô toàn cầu. Thời đại cũ và thời đại mới đang đến, các nhịp điệu tư tưởng cũ và những cách tiếp cận mới đối với chân lý, cùng những lối sống mới và tốt đẹp hơn phát sinh từ đó, được trình bày rõ ràng trước trí tuệ của con người.” (xem RI, tr. 145-146)

v. “The guarantee of the success of the experiment started more than a century ago is the fact that (in spite of much that is undesirable) so many nations have ranged themselves upon the side of right, and only two definitely and altogether upon the side of evil.” (cf. RI, p. 146)

v. “Bảo đảm cho sự thành công của cuộc thí nghiệm khởi đầu hơn một thế kỷ trước là sự kiện rằng, bất chấp nhiều điều không đáng mong muốn, rất nhiều quốc gia đã đứng về phía chính nghĩa, và chỉ có hai quốc gia dứt khoát và hoàn toàn đứng về phía ác.” (xem RI, tr. 146)

vi. “The evil is more concentrated, and therefore more powerful temporarily upon the physical plane; the good is more diffused and not so pure in its concentrated essence being coloured by many undesirable aspects; the good, however, is concentrating rapidly and will triumph.” (cf. RI, p. 146)

vi. “Ác tập trung hơn, và do đó tạm thời mạnh hơn trên cõi hồng trần; thiện thì phân tán hơn và không thuần khiết như thế trong tinh chất tập trung của nó, vì bị nhuộm màu bởi nhiều phương diện không đáng mong muốn; tuy nhiên, thiện đang nhanh chóng tập trung và sẽ chiến thắng.” (xem RI, tr. 146)

vii. “The ‘Lights that carry out the will of God’ now wait to give another touch which will enable the reconstruction work to move forward along right lines, but They wait for the invocative cry of humanity and for the dust of battle and of conflict to die down.” (cf. RI, p. 146)

vii. “‘Những Ánh Sáng thực hiện Ý Chí của Thượng Đế’ hiện đang chờ để trao một sự tiếp xúc khác, điều sẽ cho phép công cuộc tái thiết tiến lên theo những đường lối đúng đắn, nhưng Các Ngài chờ tiếng kêu khẩn cầu của nhân loại và chờ bụi mù của chiến trận và xung đột lắng xuống.” (xem RI, tr. 146)

viii. To “the processes and methods of hierarchical work, carried on in conjunction with the Great Council of Shamballa”… “must be added the cooperation—as far as may be—of all enlightened men, working under the Lightbearers, the Masters, and under the inspiration of the Lights which carry out the will of God.” (cf. RI, p. 146)

viii. Vào “các tiến trình và phương pháp của công việc Thánh Đoàn, được tiến hành cùng với Đại Hội Đồng Shamballa”… “phải thêm vào sự hợp tác — trong chừng mực có thể — của tất cả những người đã được soi sáng, làm việc dưới sự hướng dẫn của các Đấng Mang Ánh Sáng, các Chân sư, và dưới cảm hứng của Những Ánh Sáng thực hiện Ý Chí của Thượng Đế.” (xem RI, tr. 146)

ix. DK writes that He has “endeavoured to give some faint idea of the relation existing between the Hierarchy and Shamballa,” in order that “some measure of the synthesis underlying the entire planetary life” may be grasped; and in order also that “this rule for initiates could be interpreted as intended, as far as is possible, to the uninitiate consciousness; and finally, in order that the entire concept of Shamballa and its immense reservoir of energy, which we call the will or the life of God, may take its rightful place in the occult presentation of truth.” (cf. RI, p. 146)

ix. Chân sư DK viết rằng Ngài đã “cố gắng đưa ra một ý niệm mờ nhạt nào đó về mối quan hệ hiện hữu giữa Thánh Đoàn và Shamballa,” để “một mức độ nào đó của sự tổng hợp nằm bên dưới toàn bộ sự sống hành tinh” có thể được nắm bắt; và cũng để “quy luật này dành cho các điểm đạo đồ có thể được diễn giải như dự định, trong chừng mực có thể, cho tâm thức chưa được điểm đạo; và cuối cùng, để toàn bộ khái niệm về Shamballa và kho năng lượng bao la của nó, mà chúng ta gọi là ý chí hay sự sống của Thượng đế, có thể chiếm vị trí đúng đắn của nó trong sự trình bày huyền bí về chân lý.” (xem RI, tr. 146)

x. “The will of God and the life of God are esoterically synonymous terms, and when the life aspect of an individual and his spiritual, selfless will are completely synchronised, then you have—in a human being—the full expression of divinity or what has been called esoterically, ‘Shamballa is consummated in him.’” (cf. RI, p. 146-147)

x. “Ý Chí của Thượng Đế và sự sống của Thượng đế là những thuật ngữ đồng nghĩa một cách huyền bí, và khi phương diện sự sống của một cá nhân cùng ý chí tinh thần, vô ngã của y được đồng bộ hoàn toàn, thì bạn có — trong một con người — sự biểu lộ trọn vẹn của thiên tính, hay điều đã được gọi một cách huyền bí là ‘Shamballa được viên thành trong y.’” (xem RI, tr. 146-147)

xi. “The aspirant or disciple needs to remember that it is only through the analogies existing in the microcosm to the Macrocosm that enlightenment can come.” (cf. RI, p. 147)

xi. “Người chí nguyện hay đệ tử cần nhớ rằng chỉ qua những tương đồng hiện hữu trong tiểu thiên địa đối với Đại thiên địa, sự giác ngộ mới có thể đến.” (xem RI, tr. 147)

xii. The aspirant or disciple must “understand the relation existing between the three great planetary centres (Shamballa, the Hierarchy and Humanity),” even “when as yet he scarcely knows himself as a human being,” and “is only just beginning to learn the nature of the hierarchical quality of love,” but “his spiritual will (which links him to Shamballa) is as yet totally unawakened.” However, DK emphasizes that “the dim outlines of the general picture must be grasped, and each decade in the future will see the aspirant and the disciple more capable of grasping it.” (cf. RI, p. 147)

xii. Người chí nguyện hay đệ tử phải “thấu hiểu mối quan hệ hiện hữu giữa ba trung tâm hành tinh lớn lao — Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân loại”, ngay cả “khi y vẫn hầu như chưa biết chính mình như một con người”, và “chỉ mới bắt đầu học biết bản chất của phẩm tính bác ái thuộc Thánh Đoàn”, nhưng “ý chí tinh thần của y — điều liên kết y với Shamballa — vẫn còn hoàn toàn chưa thức tỉnh.” Tuy nhiên, Chân sư DK nhấn mạnh rằng “những đường nét mờ nhạt của bức tranh tổng quát phải được nắm bắt, và mỗi thập niên trong tương lai sẽ thấy người chí nguyện và đệ tử ngày càng có khả năng nắm bắt nó hơn.” (xem RI, tr. 147)

Paragraph 1

Đoạn 1

At this time, the work of the Great Council at Shamballa, working until now through the Hierarchy, is with the life within the form;

Vào lúc này, công việc của Đại Hội Đồng tại Shamballa, cho đến nay vẫn làm việc qua Thánh Đoàn, là với sự sống bên trong hình tướng;

1. The world of Hierarchy, per se, cannot be considered the world of “life within the form”. The ‘location’ of the Spiritual Hierarchy is naturally higher than that, though Hierarchy has long focussed on spiritual developments with the three lower worlds.

1. Chính thế giới của Thánh Đoàn, xét riêng nó, không thể được xem là thế giới của “sự sống bên trong hình tướng”. “Vị trí” của Huyền Giai Tinh Thần tự nhiên cao hơn điều đó, dù Thánh Đoàn từ lâu đã tập trung vào các phát triển tinh thần trong ba cõi thấp.

2. Now, Shamballa has turned its attention to the three lower worlds, the worlds of form, promoting the development of life within that form. All of this occurs under the influence of Vulcan and Saturn—two planets of great material effectiveness.

2. Giờ đây, Shamballa đã hướng sự chú ý của mình đến ba cõi thấp, các thế giới của hình tướng, thúc đẩy sự phát triển của sự sống bên trong hình tướng ấy. Tất cả điều này xảy ra dưới ảnh hưởng của Vulcan và Saturn — hai hành tinh có hiệu lực vật chất lớn lao.

They have to proceed with the utmost caution as They thus work, because these Lights know that the danger of premature direct contact with humanity, and of consequent overstimulation, are great.

Các Ngài phải tiến hành với sự thận trọng tối đa khi làm việc như vậy, vì những Ánh Sáng này biết rằng nguy cơ của sự tiếp xúc trực tiếp quá sớm với nhân loại, và sự kích thích quá mức phát sinh từ đó, là rất lớn.

3. The Lives in Shamballa are experts in the measurement of applied force. They would have to be, or tremendous, unintended destruction of form could result. There is, of course, some destruction of form which is definitely intended.

3. Các Sự Sống trong Shamballa là những bậc chuyên gia trong việc đo lường mãnh lực được áp dụng. Các Ngài phải như vậy, nếu không sự hủy diệt hình tướng khủng khiếp và ngoài ý muốn có thể xảy ra. Dĩ nhiên, có một số sự hủy diệt hình tướng rõ ràng là được chủ ý.

4. Overstimulation is dangerous because, as a result, the lower aspects of the human being can gain control and overpower the wiser aspects of human nature. The result, in such a case, would be the stimulation of evil, as matter could come to dominate spirit and its reflection, soul. Such domination is one of the definitions of evil.

4. Sự kích thích quá mức là nguy hiểm vì, do đó, các phương diện thấp của con người có thể giành quyền kiểm soát và áp đảo các phương diện minh triết hơn của bản chất con người. Kết quả, trong trường hợp như thế, sẽ là sự kích thích ác, vì vật chất có thể đi đến thống trị tinh thần và phản ánh của tinh thần là linh hồn. Sự thống trị như thế là một trong những định nghĩa về ác.

One of the causes of the present cataclysm is the fact that humanity was deemed capable of taking and receiving a “touch from Shamballa,” without stepping it down via the Hierarchy, as has hitherto been the custom.

Một trong những nguyên nhân của cơn đại biến hiện nay là sự kiện nhân loại được xem là có khả năng đảm nhận và tiếp nhận một “sự tiếp xúc từ Shamballa”, mà không cần hạ giảm nó qua Thánh Đoàn như từ trước đến nay vẫn là thông lệ.

5. We remember one of the names of the First Ray Lord—“The Power that touches and withdraws”.

5. Chúng ta nhớ một trong những danh xưng của Đấng Chúa Tể Cung một — “Quyền năng chạm đến và rút lui”.

6. We not that we are not speaking of sustained contact with Shamballa—which would be devastating.

6. Chúng ta lưu ý rằng chúng ta không nói đến sự tiếp xúc duy trì liên tục với Shamballa — điều ấy sẽ có tính tàn phá.

7. It is Shamballa that made the estimation of humanity’s capability to take and receive this “touch”.

7. Chính Shamballa đã ước định khả năng của nhân loại trong việc đảm nhận và tiếp nhận “sự tiếp xúc” này.

The determination to apply this touch (which is in the nature of a great experiment) was made in 1825, when the Great Council had its usual centennial meeting.

Quyết định áp dụng sự tiếp xúc này — vốn mang bản chất của một cuộc thí nghiệm lớn lao — đã được đưa ra vào năm 1825, khi Đại Hội Đồng có kỳ họp bách niên thường lệ.

8. Interestingly, this was the year of a tremendous second ray impulse—the midpoint of a 500 year second ray cycle. Perhaps, because of the strength of the second ray, it was deemed possible to offer an unbuffered “touch” of first ray energy.

8. Điều thú vị là đây là năm của một xung lực cung hai mãnh liệt — điểm giữa của một chu kỳ cung hai kéo dài 500 năm. Có lẽ, vì sức mạnh của cung hai, người ta đã cho rằng có thể trao một “sự tiếp xúc” không được đệm giảm của năng lượng cung một.

9. We see a very interesting coincidence of spiritual events:

9. Chúng ta thấy một sự trùng hợp rất thú vị của các sự kiện tinh thần:

a. the Centennial Conclave;

a. Mật Nghị Bách Niên;

b. the midpoint of a second ray cycle;

b. điểm giữa của một chu kỳ cung hai;

c. a direct Impact from Shamballa.

c. một Tác Động trực tiếp từ Shamballa.

The results you know; they are working out before your eyes.

Các kết quả thì các bạn đã biết; chúng đang diễn ra trước mắt các bạn.

10. Although the “touch” occurred about 125 years before the writing of this material, the results of that “touch” were still working out at the time of the writing. Since that time we have had two additional Shamballa Impacts (1975 and 2000). The pressure of shamballic energy upon humanity and our planet is intensifying dramatically.

10. Dù “sự tiếp xúc” xảy ra khoảng 125 năm trước khi tài liệu này được viết, các kết quả của “sự tiếp xúc” ấy vẫn đang diễn ra vào thời điểm viết. Kể từ đó, chúng ta đã có thêm hai Tác Động Shamballa nữa, vào năm 1975 và 2000. Áp lực của năng lượng thuộc Shamballa lên nhân loại và hành tinh chúng ta đang gia tăng một cách mãnh liệt.

The industrial movement began to take shape one hundred years ago and received a great impetus from this touch.

Phong trào công nghiệp bắt đầu thành hình một trăm năm trước và đã nhận được một xung lực lớn lao từ sự tiếp xúc này.

11. This industrial movement is largely under the influence of Vulcan, which is a planet intimately associated with Shamballa.

11. Phong trào công nghiệp này phần lớn nằm dưới ảnh hưởng của Vulcan, vốn là một hành tinh liên hệ mật thiết với Shamballa.

The evil in nations—aggression, greed, intolerance and hate—was aroused as never before, and two world wars occurred, one of which is still raging (written October 1943).

Điều ác trong các quốc gia — xâm lược, tham lam, cố chấp và thù hận — bị khơi dậy hơn bao giờ hết, và hai cuộc thế chiến đã xảy ra, một trong hai cuộc ấy vẫn đang hoành hành (viết tháng Mười năm 1943).

12. The Tibetan tells us that evil was aroused “as never before”. Do we think He is including Atlantean days in His perspective?

12. Chân sư Tây Tạng cho chúng ta biết rằng ác đã bị khơi dậy “hơn bao giờ hết”. Chúng ta có nghĩ rằng Ngài bao gồm cả những ngày Atlantis trong tầm nhìn của Ngài không?

Paralleling this was an uprising of good, again in response to the divine “touch,” resulting in the growth of understanding, the spread of idealism, the purification of our educational systems and the inauguration of reforms in every department of human life.

Song song với điều này là một sự trỗi dậy của thiện, cũng để đáp ứng với “sự tiếp xúc” thiêng liêng, đưa đến sự tăng trưởng của hiểu biết, sự lan rộng của chủ nghĩa lý tưởng, sự thanh lọc các hệ thống giáo dục của chúng ta và sự khởi đầu các cải cách trong mọi ngành của đời sống nhân loại.

13. We should note with care the positive responses to the “touch of Shamballa”:

13. Chúng ta nên lưu ý cẩn thận các đáp ứng tích cực đối với “sự tiếp xúc của Shamballa”:

a. Growth of understanding

a. Sự tăng trưởng của hiểu biết

b. Spread of idealism

b. Sự lan rộng của chủ nghĩa lý tưởng

c. Purification of our educational systems

c. Sự thanh lọc các hệ thống giáo dục của chúng ta

d. Inauguration of reforms in every department of human life

d. Sự khởi đầu các cải cách trong mọi ngành của đời sống nhân loại

14. Clearly, the “touch” works more strenuously upon the evocation of the Good than of evil (which evocation is almost incidental) except that it clears the way for the Good.

14. Rõ ràng, “sự tiếp xúc” tác động mạnh mẽ hơn vào việc gợi lên Thiện hơn là vào việc gợi lên ác — sự gợi lên ác gần như chỉ là phụ — ngoại trừ việc nó dọn đường cho Thiện.

All has been speeded up and little such growth was seen on a worldwide scale prior to 1825.

Tất cả đã được thúc đẩy nhanh hơn, và trước năm 1825, rất ít sự tăng trưởng như thế được thấy trên quy mô toàn cầu.

15. Can we successfully compare the speed of modern civilization with the speed of earlier processes? A little thought (concerning, let us say, the areas of communications and travel—relating to the Third Ray Department) will reveal a dramatic increase in speed.

15. Chúng ta có thể so sánh thành công tốc độ của nền văn minh hiện đại với tốc độ của các tiến trình trước kia không? Một chút suy nghĩ — chẳng hạn về các lĩnh vực truyền thông và du hành, liên hệ với Ngành Cung ba — sẽ cho thấy một sự gia tăng tốc độ đầy ấn tượng.

16. Do we think and speak more rapidly. Perhaps so.

16. Chúng ta có suy nghĩ và nói nhanh hơn không? Có lẽ là có.

17. The first ray, it should be realized, is a ray associated with speed, for its motion is that of “progress onward” and “driving forward through space”. When curves and spirals can be eliminated, increased speed is the result.

17. Cần nhận ra rằng cung một là một cung liên hệ với tốc độ, vì chuyển động của nó là “sự tiến tới” và “sự thúc đẩy tiến về phía trước xuyên qua không gian”. Khi các đường cong và xoắn ốc có thể được loại bỏ, kết quả là tốc độ gia tăng.

The knowledge of the Hierarchy is also spreading over the earth;

Tri thức về Thánh Đoàn cũng đang lan rộng khắp trái đất;

18. This, we remember, is something Hierarchy seeks to promote actively.

18. Chúng ta nhớ rằng đây là điều Thánh Đoàn tìm cách tích cực thúc đẩy.

the facts anent discipleship and initiation are becoming common property;

các sự kiện liên quan đến địa vị đệ tử và điểm đạo đang trở thành tài sản chung;

19. The secrets of the Kingdom of God are “shouted from the rooftops”.

19. Những bí mật của Thiên Giới được “hô vang từ mái nhà”.

20. That which is esoteric is no longer (entirely) the closely guarded property of the Hierarchy of Light (though much of deep import must necessarily remain esoteric). The revelation has been considerable.

20. Điều vốn thuộc huyền bí không còn là tài sản được canh giữ chặt chẽ của Thánh Đoàn Ánh Sáng nữa, hay ít nhất không hoàn toàn như vậy, dù nhiều điều có ý nghĩa sâu xa tất yếu vẫn phải còn huyền bí. Sự mặc khải đã rất đáng kể.

humanity has consequently moved onward into a greater measure of light.

do đó, nhân loại đã tiến tới một mức độ ánh sáng lớn hơn.

21. This is a measurement of illumination assessed from the inner planes (though reflected in the greater measure of outward illumination in which humanity customarily lives).

21. Đây là một thước đo của sự soi sáng được thẩm định từ các cõi nội giới, dù được phản ánh trong mức độ lớn hơn của sự soi sáng bên ngoài mà nhân loại thường sống trong đó.

Good and evil stand out in clearer focus;

Thiện và ác nổi bật trong tiêu điểm rõ ràng hơn;

22. Normally, the line between them is sinuous and they are not always discriminated with the greatest of ease.

22. Thông thường, ranh giới giữa chúng quanh co và không phải lúc nào chúng cũng được phân biện với sự dễ dàng lớn nhất.

light and dark are in a more brilliant juxtaposition;

ánh sáng và bóng tối ở trong một sự đặt cạnh nhau rực rỡ hơn;

23. The minds of men have been clarified with respect to these great pair of opposites. When the contrast is dramatic, definite action can be more easily taken. Evil can be more swiftly defeated, or the reverse.

23. Trí tuệ của con người đã được làm sáng tỏ đối với cặp đối cực lớn lao này. Khi sự tương phản trở nên kịch tính, hành động dứt khoát có thể được thực hiện dễ dàng hơn. Cái ác có thể bị đánh bại nhanh chóng hơn, hoặc ngược lại.

issues of right and wrong are appearing with cleared definition, and humanity as a whole sees the great problems of righteousness [Page 146] and love, of sin and separateness upon a worldwide scale.

các vấn đề đúng và sai đang xuất hiện với định nghĩa rõ ràng hơn, và toàn thể nhân loại thấy các vấn đề lớn lao của chính nghĩa [Page 146] và bác ái, của tội lỗi và sự chia rẽ trên quy mô toàn cầu.

24. It is not always easy to understand these great problems in a large context. Often in judging of them we are limited by our myopic point of view.

24. Không phải lúc nào cũng dễ thấu hiểu những vấn đề lớn lao này trong một bối cảnh rộng lớn. Khi phán xét chúng, chúng ta thường bị giới hạn bởi quan điểm thiển cận của mình.

25. What are the great problems here listed:

25. Những vấn đề lớn lao được liệt kê ở đây là gì:

a. Righteousness (relating to Shamballa)

a. Chính nghĩa, liên hệ với Shamballa

b. Love (relating to Hierarchy)

b. Bác ái, liên hệ với Thánh Đoàn

c. Sin (relating to the lunar nature as it resists the impression of the solar nature)

c. Tội lỗi, liên hệ với bản chất thái âm khi nó kháng cự ấn tượng của bản chất thái dương

d. Separateness (the one Great Heresy)

d. Sự chia rẽ, tức Đại Tà thuyết duy nhất

26. The Christ, who on the seventh or logoic plane, sits “at the right hand of the Father” knows full well the nature of righteousness.

26. Đức Christ, Đấng trên cõi thứ bảy hay cõi Thượng đế, ngự “bên hữu của Cha”, biết rất rõ bản chất của chính nghĩa.

Paragraph 2

Đoạn 2

The old age and the coming new age, old rhythms of thought and new approaches to truth and consequent new and better ways of life are presented with clarity to the minds of men.

Thời đại cũ và thời đại mới đang đến, những nhịp điệu tư tưởng cũ và những cách tiếp cận mới đối với chân lý, cùng những lối sống mới và tốt đẹp hơn phát sinh từ đó, được trình bày rõ ràng trước trí tuệ của con người.

27. So often evil has to do with the dominance of the old imposed upon the nascent expression of the new.

27. Rất thường khi, cái ác liên quan đến sự thống trị của cái cũ áp đặt lên biểu hiện mới đang manh nha.

28. Let us consider “rhythms of thought”: patterns of thought are not only spatial, they are also temporal. Thoughts occur in temporal relation to each other. Old rhythms may be sluggish (as in a non-responsiveness to the implicate good), or that which is of inferior quality may occur in too rapid a sequence (as in an irrational jumping to erroneous conclusions).

28. Chúng ta hãy xem xét “nhịp điệu tư tưởng”: các mô hình tư tưởng không chỉ có tính không gian, chúng cũng có tính thời gian. Các tư tưởng xuất hiện trong mối liên hệ thời gian với nhau. Những nhịp điệu cũ có thể trì trệ, như trong sự không đáp ứng với điều thiện hàm ẩn, hoặc điều có phẩm tính thấp kém có thể xuất hiện trong một chuỗi quá nhanh, như trong việc nhảy vội một cách phi lý đến những kết luận sai lầm.

29. While the structure of thought is more easily studied, rhythms of thought may be arcane. Let us attend to this way of describing the thought process.

29. Trong khi cấu trúc của tư tưởng dễ được nghiên cứu hơn, các nhịp điệu của tư tưởng có thể rất huyền áo. Chúng ta hãy chú tâm đến cách mô tả tiến trình tư tưởng này.

30. When it comes to “approaches to truth”, we may ask ourselves, “By what series of thoughts do we attempt to approach that which we call truth?” When new patterns of thought arise, old patterns of approach are seen to be cumbersome or misleading.

30. Khi nói đến “những cách tiếp cận chân lý”, chúng ta có thể tự hỏi: “Bằng chuỗi tư tưởng nào chúng ta cố gắng tiếp cận điều mà chúng ta gọi là chân lý?” Khi những mô hình tư tưởng mới xuất hiện, các mô hình tiếp cận cũ được thấy là cồng kềnh hoặc gây lầm lạc.

31. We could also say that the antahkarana work is a new approach to truth.

31. Chúng ta cũng có thể nói rằng công việc antahkarana là một cách tiếp cận mới đối với chân lý.

The guarantee of the success of the experiment started more than a century ago is the fact that (in spite of much that is undesirable) so many nations have ranged themselves upon the side of right, and only two definitely and altogether upon the side of evil.

Sự bảo đảm cho thành công của cuộc thử nghiệm đã bắt đầu hơn một thế kỷ trước là sự kiện rằng, bất chấp nhiều điều không đáng mong muốn, rất nhiều quốc gia đã đứng về phía chính nghĩa, và chỉ có hai quốc gia đứng một cách dứt khoát và hoàn toàn về phía cái ác.

32. Master DK looks at the results of the Shamballa Impact of 1825 from a global perspective. The majority of nations in that great conflagration we called the World War arranged themselves on the side of right.

32. Chân sư DK nhìn các kết quả của Tác Động Shamballa năm 1825 từ một viễn cảnh toàn cầu. Đa số các quốc gia trong trận đại hỏa hoạn mà chúng ta gọi là Chiến Tranh Thế Giới đã tự sắp xếp về phía chính nghĩa.

33. The two nations which aligned with evil were almost certainly Germany and Japan. Italy, it would seem, could not be rightly considered definitely aligned with evil.

33. Hai quốc gia đã chỉnh hợp với cái ác gần như chắc chắn là Đức và Nhật Bản. Dường như Ý không thể được xem một cách đúng đắn là đã chỉnh hợp dứt khoát với cái ác.

34. Of the two, the German alignment was strongest and most evil.

34. Trong hai quốc gia ấy, sự chỉnh hợp của Đức là mạnh nhất và tà ác nhất.

35. DK has described the alignment of the Axis powers in an interesting manner: Japan represented maya; Germany, glamor; and Italy, illusion.

35. Chân sư DK đã mô tả sự chỉnh hợp của các cường quốc phe Trục theo một cách thú vị: Nhật Bản đại diện cho ảo lực; Đức, ảo cảm; và Ý, ảo tưởng.

The evil is more concentrated, and therefore more powerful temporarily upon the physical plane; the good is more diffused and not so pure in its concentrated essence being coloured by many undesirable aspects;

Cái ác tập trung hơn, và do đó tạm thời mạnh mẽ hơn trên cõi hồng trần; cái thiện phân tán hơn và không thuần khiết như vậy trong tinh chất tập trung của nó, vì bị nhuộm màu bởi nhiều phương diện không đáng mong muốn;

36. These words (“concentrated” and “diffused”) represent a great problem facing Hierarchy at this time. Evil is concentrated and good is diffused. But that which is concentrated can be more easily eradicated, and the diffusion of goodness is also a kind of protection.

36. Những từ này, “tập trung” và “phân tán”, biểu thị một vấn đề lớn mà Thánh Đoàn đang đối diện vào lúc này. Cái ác thì tập trung và cái thiện thì phân tán. Nhưng điều gì tập trung có thể bị tận diệt dễ dàng hơn, và sự phân tán của lòng thiện cũng là một hình thức bảo vệ.

37. Eventually the diffused good will become omnipresent and will negate and absorb the evil.

37. Cuối cùng, cái thiện phân tán sẽ trở nên hiện diện khắp nơi và sẽ phủ định cũng như hấp thu cái ác.

38. Let us note that (in the life of humanity, at least) there is no such thing as pure goodness; the good is presently colored by many undesirable qualities.

38. Chúng ta hãy lưu ý rằng, ít nhất trong đời sống nhân loại, không có điều gì gọi là sự thiện thuần khiết; hiện nay cái thiện bị nhuộm màu bởi nhiều phẩm tính không đáng mong muốn.

39. This is certainly microcosmically true as well, and each of us can find the admixture within our own energy system.

39. Điều này chắc chắn cũng đúng về mặt tiểu thiên địa, và mỗi chúng ta đều có thể tìm thấy sự pha trộn ấy trong hệ thống năng lượng của chính mình.

the good, however, is concentrating rapidly and will triumph.

tuy nhiên, cái thiện đang nhanh chóng tập trung và sẽ chiến thắng.

40. Speaking specifically, by 1943 the Tibetan knew that the good would triumph. The winter solstice of 1942 saw the tide of the war turn towards the good, though the outworking of victory took another two and a half years.

40. Nói một cách cụ thể, đến năm 1943, Chân sư Tây Tạng biết rằng cái thiện sẽ chiến thắng. Đông chí năm 1942 đã chứng kiến cục diện chiến tranh chuyển hướng về phía cái thiện, dù sự triển khai của chiến thắng còn mất thêm hai năm rưỡi nữa.

The “Lights that carry out the will of God” now wait to give another touch which will enable the reconstruction work to move forward along right lines,

“Các Ánh Sáng thực thi Ý Chí của Thượng Đế” nay đang chờ để ban một tiếp xúc khác, điều sẽ giúp công cuộc tái thiết tiến tới theo những đường lối đúng đắn,

41. We note the different kinds of “touches” dispensed by the “Lights that carry out the will of God”. The first kind brings the evocation of the good and, thereby, draws evil to the surface. The second type is reconstructive—a touch which summons the builders.

41. Chúng ta lưu ý các loại “tiếp xúc” khác nhau do “Các Ánh Sáng thực thi Ý Chí của Thượng Đế” ban phát. Loại thứ nhất đem lại sự gợi lên của cái thiện và nhờ đó kéo cái ác trồi lên bề mặt. Loại thứ hai có tính tái thiết, một tiếp xúc triệu thỉnh các đấng kiến tạo.

but They wait for the invocative cry of humanity and for the dust of battle and of conflict to die down.

nhưng Các Ngài chờ tiếng kêu khẩn cầu của nhân loại và chờ bụi của chiến trận và xung đột lắng xuống.

42. Under Law, these “Lights” can only respond if they are invoked. How They measure this invocation is a mystery to us, but They have Their methods.

42. Theo Định luật, các “Ánh Sáng” này chỉ có thể đáp ứng nếu Các Ngài được khẩn cầu. Các Ngài đo lường sự khẩn cầu này như thế nào là một bí nhiệm đối với chúng ta, nhưng Các Ngài có phương pháp của Các Ngài.

43. We saw that every response on Their part is precisely commeasured to the need and to the condition of the “life in form” Their touch will affect.

43. Chúng ta đã thấy rằng mọi đáp ứng về phía Các Ngài đều tương xứng một cách chính xác với nhu cầu và với tình trạng của “sự sống trong hình tướng” mà tiếp xúc của Các Ngài sẽ tác động đến.

Paragraph 3

Đoạn 3

The next two rules will reveal the issues still more clearly and will outline for you when better understood, explained and amplified, the processes and methods of hierarchical work, carried on in conjunction with the Great Council of Shamballa.

Hai quy luật kế tiếp sẽ mặc khải các vấn đề còn rõ ràng hơn nữa và, khi được thấu hiểu, giải thích và mở rộng tốt hơn, sẽ phác họa cho các bạn các tiến trình và phương pháp của công việc Thánh Đoàn, được tiến hành cùng với Đại Hội Đồng Shamballa.

44. We see that the Rules are becoming more advanced. The Rules to this point have concerned humanity’s relationship with Hierarchy, and, to some small extent, with Shamballa.

44. Chúng ta thấy rằng các Quy Luật đang trở nên cao cấp hơn. Cho đến điểm này, các Quy Luật đã liên quan đến mối quan hệ của nhân loại với Thánh Đoàn, và ở một mức độ nhỏ nào đó, với Shamballa.

45. Now, we are told, succeeding Rules will deal with the relationship between Hierarchy and Shamballa and will concern work carried on by Hierarchy and Shamballa in conjunction

45. Nay, chúng ta được cho biết rằng các Quy Luật kế tiếp sẽ đề cập đến mối quan hệ giữa Thánh Đoàn và Shamballa, và sẽ liên quan đến công việc do Thánh Đoàn và Shamballa cùng tiến hành

To this must be added the cooperation—as far as may be—of all enlightened men, working under the Lightbearers, the Masters, and under the inspiration of the Lights which carry out the will of God.

Vào đó phải thêm sự hợp tác, trong chừng mực có thể, của tất cả những người đã được soi sáng, làm việc dưới quyền các Đấng Mang Ánh Sáng, các Chân sư, và dưới cảm hứng của các Ánh Sáng thực thi Ý Chí của Thượng Đế.

46. If the union between Shamballa, Hierarchy and humanity is ever to be complete, enlightened human beings must learn to respond to both Hierarchy and (in appropriate measure) Shamballa.

46. Nếu sự hợp nhất giữa Shamballa, Thánh Đoàn và nhân loại có lúc nào đó trở nên hoàn toàn, thì những con người đã được soi sáng phải học cách đáp ứng cả với Thánh Đoàn lẫn, trong mức độ thích hợp, Shamballa.

47. The distinction between “Lightbearers” and the “Lights which carry out the will of God” is worth noting. The members of Hierarchy carry the Light. The members of Shamballa are, in a planetary sense, “Lights” and Their burden is not so much light as will. We see a broad difference in function. Members of the Hierarchy illumine; members of Shamballa move the whole in the direction dictated by the Will of the Most High.

47. Sự phân biệt giữa “Các Đấng Mang Ánh Sáng” và “Các Ánh Sáng thực thi Ý Chí của Thượng Đế” đáng được lưu ý. Các thành viên của Thánh Đoàn mang Ánh sáng. Các thành viên của Shamballa, theo nghĩa hành tinh, là “Các Ánh Sáng”, và gánh nặng của Các Ngài không phải là ánh sáng cho bằng ý chí. Chúng ta thấy một khác biệt rộng lớn về chức năng. Các thành viên của Thánh Đoàn soi sáng; các thành viên của Shamballa chuyển động toàn thể theo hướng do Ý Chí của Đấng Tối Cao chỉ định.

48. Members of Shamballa are “Lights” because They truly know the Will of God.

48. Các thành viên của Shamballa là “Các Ánh Sáng” vì Các Ngài thật sự biết Ý Chí của Thượng Đế.

Paragraph 4

Đoạn 4

In the foregoing I have endeavoured to give some faint idea of the relation existing between the Hierarchy and Shamballa. I did this in order that you might grasp some measure of the synthesis underlying the entire planetary life; in order also that this rule for initiates could be interpreted as intended, as far as is possible, to the uninitiate consciousness;

Trong phần trên, tôi đã cố gắng đưa ra một ý niệm mờ nhạt nào đó về mối quan hệ hiện hữu giữa Thánh Đoàn và Shamballa. Tôi làm điều này để các bạn có thể nắm bắt một mức độ nào đó của sự tổng hợp nằm bên dưới toàn bộ đời sống hành tinh; cũng để quy luật này dành cho các điểm đạo đồ có thể được diễn giải, theo ý định và trong chừng mực có thể, cho tâm thức chưa được điểm đạo;

49. Before the Tibetan offered His teaching, practically nothing was given on the nature of Shamballa.

49. Trước khi Chân sư Tây Tạng đưa ra giáo huấn của Ngài, hầu như không có điều gì được trao truyền về bản chất của Shamballa.

50. In this era of synthesis, something of the great planetary and solar-systemic synthesis has to be made comprehensible to the mind of disciples.

50. Trong kỷ nguyên tổng hợp này, một phần nào đó của sự tổng hợp hành tinh và hệ mặt trời vĩ đại phải được làm cho thể trí của các đệ tử có thể thấu hiểu.

51. DK assumes that He is working largely with the “uninitiated consciousness”, and yet He seeks to make matters vital to the initiate available to those who are not yet initiated. He is preparing for the future.

51. Chân sư DK giả định rằng Ngài đang làm việc phần lớn với “tâm thức chưa được điểm đạo”, và tuy vậy Ngài tìm cách làm cho những vấn đề thiết yếu đối với điểm đạo đồ trở nên khả dụng cho những ai chưa được điểm đạo. Ngài đang chuẩn bị cho tương lai.

and finally, in order that the entire concept of Shamballa and its immense reservoir of energy, which we call the will or the life of God, may take its rightful place in the occult presentation of truth.

và cuối cùng, để toàn bộ khái niệm về Shamballa và kho chứa năng lượng mênh mông của nó, điều chúng ta gọi là ý chí hay sự sống của Thượng đế, có thể nhận lấy vị trí chính đáng của nó trong sự trình bày huyền bí về chân lý.

52. Until this time, the fact of Shamballa has not figured into the thinking of students of esotericism. If the intended planetary process is to move forward as Purpose and Plan dictate, this must change.

52. Cho đến thời điểm này, sự kiện về Shamballa đã không đi vào tư tưởng của các đạo sinh huyền bí học. Nếu tiến trình hành tinh đã được dự định phải tiến tới như Thiên Ý và Thiên Cơ chỉ định, điều này phải thay đổi.

53. A close look at early theosophical literature will show how little Shamballa was mentioned. The average student did not think that he must eventually come into relation with this highest of all centers. To do so was not presented as an immediate objective. The Tibetan and His writings changed all this.

53. Một cái nhìn kỹ vào văn học Thông Thiên Học thời kỳ đầu sẽ cho thấy Shamballa được nhắc đến ít ỏi biết bao. Đạo sinh trung bình không nghĩ rằng cuối cùng y phải đi vào mối liên hệ với trung tâm cao nhất trong tất cả các trung tâm này. Việc làm như vậy đã không được trình bày như một mục tiêu trước mắt. Chân sư Tây Tạng và các trước tác của Ngài đã thay đổi tất cả điều này.

54. We remember that the most important teaching for which Master DK made Himself responsible was the presentation of teaching upon Shamballa. (cf. R&I 251)

54. Chúng ta nhớ rằng giáo huấn quan trọng nhất mà Chân sư DK tự nhận trách nhiệm là sự trình bày giáo huấn về Shamballa. (xem R&I 251)

55. The “will or life of God” is called an “immense reservoir of energy”. “Will” and “life” are made synonymous terms. When we feel that we lack energy or the power to achieve, we have only to align with this “immense reservoir”—for our purposes, inexhaustible.

55. “Ý chí hay sự sống của Thượng đế” được gọi là một “kho chứa năng lượng mênh mông”. “Ý chí” và “sự sống” được xem là những thuật ngữ đồng nghĩa. Khi chúng ta cảm thấy thiếu năng lượng hay thiếu quyền năng để thành tựu, chúng ta chỉ cần chỉnh hợp với “kho chứa mênh mông” này, vốn theo các mục đích của chúng ta là bất tận.

The will of God and the life of God are esoterically synonymous terms, and when the life aspect of an individual and his spiritual, selfless will [Page 147] are completely synchronised, then you have—in a human being—the full expression of divinity or what has been called esoterically, “Shamballa is consummated in him.

Ý chí của Thượng đế và sự sống của Thượng đế là những thuật ngữ đồng nghĩa theo huyền bí học, và khi phương diện sự sống của một cá nhân cùng ý chí tinh thần vô ngã [Page 147] của y được đồng bộ hoàn toàn, thì các bạn có, trong một con người, sự biểu hiện trọn vẹn của thiên tính, hay điều đã được gọi một cách huyền bí là: “Shamballa được viên thành trong y.

56. When does this consummation of Shamballa in the initiate occur? We are talking about the alignment of the monad with the spiritual will of the spiritual triad. This shamballic consummation may, therefore, be considered to occur at the fifth initiation when one becomes a Master of the Wisdom.

56. Sự viên thành này của Shamballa trong điểm đạo đồ xảy ra khi nào? Chúng ta đang nói về sự chỉnh hợp của chân thần với ý chí tinh thần của Tam Nguyên Tinh Thần. Sự viên thành thuộc Shamballa này, do đó, có thể được xem là xảy ra ở lần điểm đạo thứ năm, khi một người trở thành Chân sư Minh triết.

57. We could hardly expect it to occur at the third degree when the first real contact with Shamballa (in its third aspect) may be experienced.

57. Chúng ta khó có thể trông đợi nó xảy ra ở cấp độ thứ ba, khi tiếp xúc thật sự đầu tiên với Shamballa, trong phương diện thứ ba của nó, có thể được chứng nghiệm.

58. We can only imagine what heights of selflessness are required in order for this consummation to occur.

58. Chúng ta chỉ có thể tưởng tượng những đỉnh cao vô ngã nào được đòi hỏi để sự viên thành này có thể xảy ra.

Paragraph 5

Đoạn 5

This again is, of course, only relative but the expression of this relationship may elucidate the problem somewhat, and the aspirant or disciple needs to remember that it is only through the analogies existing in the microcosm to the Macrocosm that enlightenment can come.

Dĩ nhiên, điều này một lần nữa chỉ có tính tương đối, nhưng sự biểu hiện của mối quan hệ này có thể làm sáng tỏ phần nào vấn đề, và người chí nguyện hay đệ tử cần nhớ rằng chỉ thông qua những tương đồng hiện hữu trong Tiểu thiên địa đối với Đại thiên địa mà sự giác ngộ mới có thể đến.

59. Master DK is telling us of the value of analogy as a tool of enlightenment.

59. Chân sư DK đang nói với chúng ta về giá trị của tương đồng như một công cụ của giác ngộ.

60. Through the method of analogy, we pass from the familiar to the unfamiliar, with which the familiar has resonance. Knowledge of the familiar thus illuminates the unfamiliar.

60. Qua phương pháp tương đồng, chúng ta đi từ điều quen thuộc đến điều chưa quen thuộc, mà điều quen thuộc có sự cộng hưởng với nó. Nhờ vậy, tri thức về điều quen thuộc soi sáng điều chưa quen thuộc.

61. Analogy, therefore, is a great key to the interpretation of all levels of cosmos.

61. Do đó, tương đồng là một chìa khóa lớn cho việc diễn giải mọi cấp độ của vũ trụ.

62. The fractal-like structure of Creation is a confirmation that the universe is organized along analogical lines.

62. Cấu trúc giống phân dạng của Sáng tạo là một xác nhận rằng vũ trụ được tổ chức theo những đường lối tương đồng.

And how, I ask you, will he understand the relation existing between the three great planetary centres (Shamballa, the Hierarchy and Humanity) when as yet he scarcely knows himself as a human being?

Và tôi hỏi các bạn, y sẽ thấu hiểu như thế nào mối quan hệ hiện hữu giữa ba trung tâm hành tinh lớn, Shamballa, Thánh Đoàn và Nhân Loại, khi y còn hầu như chưa biết chính mình như một con người?

63. The Tibetan turns realistic, pointing out that even advanced human beings have only recently moved beyond the animal stage.

63. Chân sư Tây Tạng trở nên thực tế, chỉ ra rằng ngay cả những con người tiến bộ cũng chỉ mới gần đây vượt qua giai đoạn thú vật.

64. The contrast between the elevated quality of material DK is presenting and His assessment of the average disciple’s consciousness is shocking.

64. Sự tương phản giữa phẩm tính cao siêu của tài liệu mà Chân sư DK đang trình bày và sự đánh giá của Ngài về tâm thức của đệ tử trung bình thật gây sửng sốt.

How can he grasp these fundamental and advanced truths when he is only just beginning to learn the nature of the hierarchical quality of love and when his spiritual will (which links him to Shamballa) is as yet totally unawakened?

Làm sao y có thể nắm bắt những chân lý nền tảng và cao cấp này khi y chỉ mới bắt đầu học biết bản chất của phẩm tính bác ái thuộc Thánh Đoàn, và khi ý chí tinh thần của y, vốn liên kết y với Shamballa, vẫn còn hoàn toàn chưa thức tỉnh?

65. The first curriculum to be pursued by the advancing, intelligent human being is the curriculum of love. Only then can the curriculum of will be safely pursued.

65. Chương trình học đầu tiên mà con người thông minh đang tiến bước phải theo đuổi là chương trình học về bác ái. Chỉ khi đó, chương trình học về ý chí mới có thể được theo đuổi một cách an toàn.

66. We learn the important fact that the spiritual will (rooted for practical purposes in the spiritual triad) links the disciple to Shamballa. This is an important statement.

66. Chúng ta học được sự kiện quan trọng rằng ý chí tinh thần, vì các mục đích thực tiễn được cắm rễ trong Tam Nguyên Tinh Thần, liên kết đệ tử với Shamballa. Đây là một phát biểu quan trọng.

67. DK’s assessment of the aspirant’s or disciple’s will is that it is “totally unawakened”!

67. Đánh giá của Chân sư DK về ý chí của người chí nguyện hay đệ tử là nó “hoàn toàn chưa thức tỉnh”!

And I mean, totally.

Và ý tôi là, hoàn toàn.

68. He drives the point home. We might almost recoil in disbelief if we did not study the subject of will in depth.

68. Ngài nhấn mạnh điểm này đến tận cùng. Chúng ta gần như có thể lùi lại trong hoài nghi nếu chúng ta không nghiên cứu sâu chủ đề về ý chí.

But the dim outlines of the general picture must be grasped, and each decade in the future will see the aspirant and the disciple more capable of grasping it.

Nhưng những nét phác mờ nhạt của bức tranh tổng quát phải được nắm bắt, và mỗi thập niên trong tương lai sẽ chứng kiến người chí nguyện và đệ tử có khả năng nắm bắt nó nhiều hơn.

69. DK uses the time measure of the decade, perhaps not by accident or simply conventionally, for the decade is related to the number one and is a measure related to first ray cycles.

69. Chân sư DK dùng thước đo thời gian là thập niên, có lẽ không phải do ngẫu nhiên hay chỉ theo quy ước, vì thập niên liên hệ với con số một và là một thước đo liên hệ với các chu kỳ cung một.

70. We can measure our growth and the growth of humanity in terms of decades (for the ten is the perfect number and the seven only relatively perfect). Actually, the ten, as well, is only relatively perfect, but more perfect or complete than the seven.

70. Chúng ta có thể đo lường sự trưởng thành của mình và sự trưởng thành của nhân loại theo các thập niên, vì mười là con số hoàn hảo và bảy chỉ hoàn hảo một cách tương đối. Thật ra, mười cũng chỉ hoàn hảo tương đối, nhưng hoàn hảo hay trọn vẹn hơn bảy.

71. Perhaps, especially, it is the growth of the will which should be measured in decades.

71. Có lẽ, đặc biệt, chính sự tăng trưởng của ý chí mới nên được đo lường theo các thập niên.

72. Master DK, being actively upon the second ray of Love-Wisdom, presents what is called the “Quality of the Hidden Vision”. If an accurate vision grows in the minds of His students, His work will not have been in vain.

72. Chân sư DK, đang hoạt động tích cực trên cung hai Bác Ái – Minh Triết, trình bày điều được gọi là “Phẩm tính của Tầm Nhìn Ẩn Tàng”. Nếu một tầm nhìn chính xác lớn lên trong trí tuệ của các đạo sinh của Ngài, công việc của Ngài sẽ không vô ích.

73. When such a vision is in place, right thought and right action more readily follow.

73. Khi một tầm nhìn như thế được thiết lập, tư tưởng đúng đắn và hành động đúng đắn sẽ theo sau dễ dàng hơn.

Part V of V

Phần V của V

Dear Fellow Students,

Các bạn đồng môn thân mến,

There has been much discussion concerning Rules VII and this is not the place to repeat what has been said. We can approach the matter practically and somewhat directively to see whether we can more quickly arrive at a method of making these Rules both real and practical—to ourselves.

Đã có nhiều thảo luận liên quan đến Quy Luật VII, và đây không phải là nơi để lặp lại những gì đã được nói. Chúng ta có thể tiếp cận vấn đề một cách thực tiễn và phần nào có tính định hướng để xem liệu chúng ta có thể nhanh chóng hơn đi đến một phương pháp làm cho các Quy Luật này trở nên vừa thực vừa thực tiễn đối với chính mình hay không.

Synthesis of Rules Seven

Tổng hợp Quy Luật Bảy

Rule VII for Applicants:

Quy Luật VII dành cho Ứng viên:

Let the disciple turn his attention to the enunciating of those sounds which echo in the halls where walks the Master.

Hãy để đệ tử hướng sự chú ý của y đến việc phát âm những âm thanh vang vọng trong các đại sảnh nơi Chân sư bước đi.

1. The emission of sound through speech and thought is so continuous, spontaneous, and so often unplanned that the utmost vigilance is required to control speech at its source.

1. Sự phát ra âm thanh qua lời nói và tư tưởng diễn ra liên tục, tự phát, và thường không được hoạch định đến mức cần có sự cảnh giác tối đa để kiểm soát lời nói ngay tại nguồn của nó.

2. It is as if the ajna center must watch over the throat center, the eye over the ear, while the heart supervises them both.

2. Điều đó giống như trung tâm ajna phải trông chừng trung tâm cổ họng, con mắt trông chừng cái tai, trong khi trái tim giám sát cả hai.

3. Thought and speech must not ‘run the man’. Instead, the real individual must sit in a supervisory position and choose his thoughts and words.

3. Tư tưởng và lời nói không được phép “điều khiển con người”. Thay vào đó, cá nhân chân thật phải ngồi ở vị trí giám sát và chọn lựa các tư tưởng và lời nói của mình.

4. This choosing occurs under the somewhat ‘delaying’ influence of Saturn in its role of ‘super-visor’.

4. Sự chọn lựa này xảy ra dưới ảnh hưởng phần nào “làm chậm lại” của Sao Thổ trong vai trò “siêu giám sát”.

5. The whole process, as we are instructed, requires an ‘act of attention’. In many ways, the disciple becomes proficient at attentive living. The sheer continuity of the ‘life disciplic’ warrants close consideration. Through rightly directed attention we have the opportunity to sustain the “quality of life”—or not.

5. Toàn bộ tiến trình, như chúng ta được chỉ dạy, đòi hỏi một “hành vi chú tâm”. Theo nhiều cách, đệ tử trở nên thành thạo trong đời sống chú tâm. Chính sự liên tục thuần túy của “đời sống đệ tử” bảo đảm cho sự xem xét kỹ lưỡng. Thông qua sự chú tâm được hướng dẫn đúng đắn, chúng ta có cơ hội duy trì “phẩm tính của sự sống”, hoặc không.

6. This approach to living is, in essence, unusual. With most developed people everything happens rapidly in the world of thought and speech.

6. Cách tiếp cận đời sống này, về bản chất, là khác thường. Với đa số những người đã phát triển, mọi sự diễn ra nhanh chóng trong thế giới của tư tưởng và lời nói.

7. If even one day could be lived wisely choosing thoughts and words, an entirely new respect for the difficulty of the process would result. Maybe a day is too long a span for an initial attempt. Perhaps even an hour would be revealing.

7. Nếu chỉ một ngày thôi có thể được sống bằng cách chọn lựa tư tưởng và lời nói một cách minh triết, thì một sự kính trọng hoàn toàn mới đối với khó khăn của tiến trình này sẽ phát sinh. Có lẽ một ngày là khoảng thời gian quá dài cho một nỗ lực ban đầu. Có lẽ ngay cả một giờ cũng sẽ đem lại sự mặc khải.

8. In what “halls” do we walk? Are our habitual ‘haunts’ the “halls of maya”? If so, how do we know?

8. Chúng ta bước đi trong những “đại sảnh” nào? Các “nơi lui tới” quen thuộc của chúng ta có phải là “các đại sảnh của ảo lực” không? Nếu đúng như vậy, làm sao chúng ta biết?

9. To the acoustician, every “hall” has its unique quality of reverberation (or, shall we say, “timbre”). Certain halls magnify or amplify certain sounds. In our familiar “halls”, which vibrations or sounds are enhanced, reinforced? And, in general, is it the ‘sound of the good’ which is reinforced or far lesser sounds?

9. Đối với nhà âm học, mỗi “đại sảnh” có phẩm tính vang dội độc đáo của nó, hay chúng ta có thể nói là “âm sắc”. Một số đại sảnh phóng đại hoặc khuếch đại một số âm thanh nào đó. Trong các “đại sảnh” quen thuộc của chúng ta, những rung động hay âm thanh nào được tăng cường, được củng cố? Và, nói chung, có phải “âm thanh của điều thiện” được củng cố, hay là những âm thanh thấp kém hơn rất nhiều?

Let him not sound those lesser notes which awaken vibration within the halls of maya.

Y đừng xướng những âm điệu thấp kém vốn đánh thức rung động trong các đại sảnh của ảo lực.

10. The would-be-initiate stands always in judgment—of himself. This is not a morbid, deprecatory supervision, but an honest assessment for which much psychological energy is required.

10. Người muốn được điểm đạo luôn đứng trong sự phán xét đối với chính mình. Đây không phải là một sự giám sát bệnh hoạn, tự hạ thấp, mà là một sự thẩm định trung thực, vốn đòi hỏi nhiều năng lượng tâm lý.

11. If we walk in the “halls of maya”, we shall find ourselves surrounded by lesser reinforcements. When (in such halls) we think the unreal, it will be augmented.

11. Nếu chúng ta bước đi trong “các đại sảnh của ảo lực”, chúng ta sẽ thấy mình được bao quanh bởi những sự củng cố thấp kém. Khi trong các đại sảnh như thế chúng ta nghĩ điều không thật, nó sẽ được gia tăng.

12. Should we penetrate the halls where walks the Master, the unreal will wither as soon as it is thought or enunciated.

12. Nếu chúng ta thâm nhập các đại sảnh nơi Chân sư bước đi, điều không thật sẽ héo tàn ngay khi nó được nghĩ đến hoặc được phát ngôn.

13. We can try the experiment. State an unreality and watch what happens to it within our consciousness. We will recognize its hollowness; it will gain no sustainment from the ‘vibratory hall’ in which we habitually live—if we are disciples.

13. Chúng ta có thể thử cuộc thử nghiệm này. Hãy phát biểu một điều không thật và quan sát điều gì xảy ra với nó trong tâm thức của chúng ta. Chúng ta sẽ nhận ra sự rỗng tuếch của nó; nó sẽ không nhận được sự nâng đỡ nào từ “đại sảnh rung động” trong đó chúng ta thường sống, nếu chúng ta là các đệ tử.

14. On the other hand, let us repeat a great truth and see what happens. Does the heart, for instance, swell such a truth? Or perhaps the crown or ajna center?

14. Mặt khác, chúng ta hãy lặp lại một chân lý lớn lao và xem điều gì xảy ra. Chẳng hạn, trái tim có làm cho một chân lý như thế phồng lớn lên không? Hay có lẽ là trung tâm đỉnh đầu hoặc trung tâm ajna?

15. Every mental statement or spoken word will call forth a resonance from certain centers. Are we aware of which centers or chakras may be ‘entrained’ by that which we think and say?

15. Mỗi phát biểu trí tuệ hay lời nói được thốt ra sẽ gợi lên một sự cộng hưởng từ một số trung tâm nào đó. Chúng ta có nhận biết những trung tâm hay luân xa nào có thể bị “cuốn theo nhịp” bởi điều chúng ta nghĩ và nói không?

16. Summary: The quality of what we think and say is always resounding. That quality will either prolong our captivation within the “Halls of Maya” or work for our release into worlds of meaning, cause and significance.

16. Tóm lược: Phẩm tính của điều chúng ta nghĩ và nói luôn vang vọng. Phẩm tính ấy hoặc sẽ kéo dài sự mê hoặc của chúng ta trong “Các Đại Sảnh của Ảo Lực”, hoặc sẽ hoạt động cho sự giải thoát của chúng ta vào các thế giới của ý nghĩa, nguyên nhân và thâm nghĩa.

17. Let each of us attend with caution to what we think and say!

17. Mỗi chúng ta hãy chú tâm một cách thận trọng đến điều mình nghĩ và nói!

Rule VII for Disciples and Initiates:

Quy Luật VII dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ:

Let the group life emit the word of invocation and thus evoke response within those distant Ashrams where move the Chohans of the race of men.

Hãy để sự sống nhóm phát ra linh từ khẩn cầu và như thế gợi lên đáp ứng trong những ashram xa xôi nơi các Chohan của nhân loại di chuyển.

18. Does a coherent note emerge from any group of which we may be a member? And if such a note does emerge, does it emerge from the group “life”?

18. Có một âm điệu mạch lạc nào phát sinh từ bất kỳ nhóm nào mà chúng ta có thể là thành viên không? Và nếu một âm điệu như thế phát sinh, nó có phát sinh từ “sự sống” của nhóm không?

19. It can be safely said that there may be many ‘emitting’ aspects of a group, but the group life is rarely the preeminent factor. Of course, this depends on what we mean by “life”? Do we mean the monadic life of the group or something less? Strictly speaking, “life” pertains to the spirit or monad.

19. Có thể nói một cách an toàn rằng có thể có nhiều phương diện “phát ra” của một nhóm, nhưng sự sống của nhóm hiếm khi là yếu tố nổi trội. Dĩ nhiên, điều này tùy thuộc vào việc chúng ta muốn nói gì bằng “sự sống”. Chúng ta muốn nói đến sự sống chân thần của nhóm hay điều gì thấp hơn? Nói một cách nghiêm ngặt, “sự sống” thuộc về tinh thần hay chân thần.

20. When, however, speaking less strictly and more practically of the “group life”, we may, reasonably, be talking about a lesser meaning of the term “life”—i.e., simply of the effect of the totality of group processes, the summation of a group’s characteristic energies and forces.

20. Tuy nhiên, khi nói ít nghiêm ngặt hơn và thực tiễn hơn về “sự sống nhóm”, chúng ta có thể, một cách hợp lý, đang nói về một ý nghĩa thấp hơn của thuật ngữ “sự sống”, tức đơn giản là hiệu quả của toàn bộ các tiến trình nhóm, sự tổng hợp các năng lượng và mãnh lực đặc trưng của một nhóm.

21. When this totality sums to a “word of invocation” the group has, indeed, reached a real point of advancement. The culture of the group has ascended significantly over the individual desires and intentions of its members.

21. Khi toàn thể này kết lại thành một “linh từ khẩn cầu”, nhóm quả thật đã đạt đến một điểm tiến bộ thực sự. Văn hóa của nhóm đã vươn lên một cách đáng kể vượt trên các ham muốn và ý định cá nhân của các thành viên.

22. It may also, however, be instructive to think literal about the term “group life”, and, thus, focus on the spirit or monadic nature of the group. There may, after all, come a time when the highest aspect of a group—its life aspect—calls forth to Shamballa (within the precincts of which) all live!

22. Tuy nhiên, cũng có thể hữu ích khi suy nghĩ một cách sát nghĩa về thuật ngữ “sự sống nhóm”, và do đó tập trung vào bản chất tinh thần hay chân thần của nhóm. Dẫu sao, có thể sẽ đến một thời điểm khi phương diện cao nhất của một nhóm, phương diện sự sống của nó, cất tiếng hướng đến Shamballa, trong phạm vi của nơi ấy tất cả đều sống!

23. This is far too much to be expected of those who are just beginning to use these Rules. We will need a more practical suggestion of the meaning of “group life” (as suggested above) if this seventh Rule is to have initial, practical value for us.

23. Điều này vượt xa quá mức những gì có thể trông đợi nơi những người chỉ mới bắt đầu sử dụng các Quy Luật này. Chúng ta sẽ cần một gợi ý thực tiễn hơn về ý nghĩa của “sự sống nhóm”, như đã gợi ý ở trên, nếu Quy Luật thứ bảy này phải có giá trị ban đầu và thực tiễn đối với chúng ta.

24. Thus, for us, it will be the group soul that will be emitting the “word of invocation”. In time the group spirit will inspire the group soul, and eventually (when the group is truly an Ashram), the group “life” will be the major emitting factor, because the group will be composed of those who have taken the third degree and know something of monadic “life”.

24. Do đó, đối với chúng ta, chính linh hồn nhóm sẽ phát ra “linh từ khẩn cầu”. Theo thời gian, tinh thần nhóm sẽ truyền cảm hứng cho linh hồn nhóm, và cuối cùng, khi nhóm thật sự là một ashram, “sự sống” nhóm sẽ là yếu tố phát ra chủ yếu, vì nhóm sẽ được cấu thành bởi những người đã trải qua cấp độ thứ ba và biết đôi điều về “sự sống” chân thần.

25. Moving on to the next consideration, I wonder how many of us have, as it were, ‘taken the measure of a Master’. Do we have even a slightly realistic idea of the true spiritual radiation of a Master? Or is the experience (whether inward or outward) of a Master’s presence an entirely theoretical matter?

25. Chuyển sang điểm xem xét kế tiếp, tôi tự hỏi có bao nhiêu người trong chúng ta, có thể nói như vậy, đã “đo lường một Chân sư”. Chúng ta có dù chỉ một ý niệm hơi thực tế về bức xạ tinh thần chân thật của một Chân sư không? Hay kinh nghiệm, dù bên trong hay bên ngoài, về hiện diện của một Chân sư là một vấn đề hoàn toàn lý thuyết?

26. The Great Ones of Whom we read are very real, and it must become our task to improve our capacity to appreciate Their reality.

26. Các Đấng Cao Cả mà chúng ta đọc đến là rất thật, và nhiệm vụ của chúng ta phải là cải thiện khả năng của mình trong việc cảm nhận thực tại của Các Ngài.

27. Thus, we must clarify the image of the Master, just as we must clarify the Image of the Christ.

27. Vì vậy, chúng ta phải làm sáng tỏ hình ảnh của Chân sư, cũng như chúng ta phải làm sáng tỏ Hình Ảnh của Đức Christ.

28. This can be done by eliminating those illusions of mind which are “ready to hand”—seeing through them, as it were, and also by an ever deepening attunement with the presence of the Master.

28. Điều này có thể được thực hiện bằng cách loại bỏ những ảo tưởng của thể trí vốn “sẵn trong tầm tay”, như thể nhìn xuyên qua chúng, và cũng bằng sự điều hợp ngày càng sâu sắc hơn với hiện diện của Chân sư.

29. This attunement can be achieved in many ways. Some will prefer to use images; others will attune with an immaterial essence; some will attune with the known purpose of the Master as they have come to understand that purpose. One of the Masters has said, in effect, “Whoever works for the common good is with Us”.

29. Sự điều hợp này có thể đạt được bằng nhiều cách. Một số người sẽ thích dùng hình ảnh; những người khác sẽ điều hợp với một tinh chất phi vật chất; một số sẽ điều hợp với mục đích đã biết của Chân sư theo mức họ đã thấu hiểu mục đích ấy. Một trong các Chân sư đã nói, về thực chất: “Bất cứ ai làm việc vì lợi ích chung đều ở cùng Chúng Tôi”.

30. If the detected presence of the Master is, perhaps, a remote or infrequent experience, how much more so must be our experience of a Chohan?

30. Nếu hiện diện được nhận ra của Chân sư có lẽ là một kinh nghiệm xa xôi hay hiếm hoi, thì kinh nghiệm của chúng ta về một Chohan hẳn còn xa xôi hơn biết bao?

31. May we say that the experience of either the Master or the Chohan is best approached through an intensifying of group life?

31. Chúng ta có thể nói rằng kinh nghiệm về Chân sư hay Chohan đều được tiếp cận tốt nhất thông qua sự tăng cường của sự sống nhóm không?

32. In one way (de-materializing the image of the Master), we might say that a Master is group consciousness, and a Chohan is an ever wider and deeper form of group consciousness. A Master is certainly not an exalted personality. The essence of a Master is realized being (for a Masters is an “initiate into the mysteries of being” (DINA I 7) (if DK’s important hint is understood), and the consciousness of a Master is only approached by those who experientially, have begun to pervade their group.

32. Theo một cách nào đó, khi phi vật chất hóa hình ảnh về Chân sư, chúng ta có thể nói rằng một Chân sư tâm thức nhóm, và một Chohan một hình thức tâm thức nhóm ngày càng rộng lớn và sâu xa hơn. Chắc chắn Chân sư không phải là một phàm ngã cao cả. Tinh túy của Chân sư là bản thể đã được chứng nghiệm vì một Chân sư là “điểm đạo đồ nhập vào các huyền nhiệm của bản thể” (Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, tập một, trang 7) nếu gợi ý quan trọng của Chân sư DK được thấu hiểu, và tâm thức của Chân sư chỉ được tiếp cận bởi những ai, bằng kinh nghiệm, đã bắt đầu thấm nhập nhóm của mình.

33. Our experience of the true nature of a Chohan is even more abstract and formless.

33. Kinh nghiệm của chúng ta về bản chất chân thật của một Chohan còn trừu tượng hơn và vô hình tướng hơn nữa.

34. Such great beings are more than they seem to be. With a colloquial ring (and yet, arcanely), we might state that they are more than themselves. This must be pondered. Each Hierarch is the pinnacle of a hierarchy and pervades with His identity many lesser identities. Each Hierarch can be found within the identities He pervades.

34. Những Đấng vĩ đại như thế còn hơn những gì Các Ngài có vẻ là. Với một âm hưởng thông tục, nhưng vẫn huyền bí, chúng ta có thể nói rằng Các Ngài còn hơn chính Các Ngài. Điều này cần được suy ngẫm. Mỗi Đấng Chủ Quản Huyền Giai là đỉnh cao của một huyền giai và thấm nhập nhiều bản sắc nhỏ hơn bằng chính bản sắc của Ngài. Mỗi Đấng Chủ Quản Huyền Giai có thể được tìm thấy bên trong những bản sắc mà Ngài thấm nhập.

35. Finding the Hierarch within the many beings He includes is a perceptual art. It can be practiced. It is a bit like finding the presence of the group in all group members. If we stop to think about this process, we shall find it to be subtle.

35. Tìm thấy Đấng Chủ Quản Huyền Giai bên trong nhiều hữu thể mà Ngài bao gồm là một nghệ thuật tri giác. Điều này có thể được thực hành. Nó hơi giống như tìm thấy sự hiện diện của nhóm nơi tất cả các thành viên trong nhóm. Nếu chúng ta dừng lại để suy nghĩ về tiến trình này, chúng ta sẽ thấy nó thật tinh tế.

They are no longer men as are the Masters….

Các Ngài không còn là con người như các Chân sư vẫn là….

36. Advanced members of humanity are just beginning to learn how to be more than human; this learning is humanity’s next task, on its way to changing kingdoms from the fourth to the fifth.

36. Những thành viên tiến hóa cao của nhân loại mới chỉ bắt đầu học cách trở nên hơn cả con người; sự học hỏi này là nhiệm vụ kế tiếp của nhân loại, trên đường chuyển giới từ giới thứ tư sang giới thứ năm.

37. So we must question ourselves: “Do we know what man really is?” Have we any idea of what it means to be more than man.

37. Vì vậy, chúng ta phải tự hỏi: “Chúng ta có biết con người thực sự là gì không?” Chúng ta có chút ý niệm nào về ý nghĩa của việc trở nên hơn cả con người.

38. The Master is a fulfilled man; the Chohan is man transcended.

38. Chân sư là con người đã viên mãn; Chohan là con người đã vượt lên trên chính con người.

39. Man is characterized by division, by a contrasting dualism of energy. That which is “more than man” has transcended the dualism to which man is subjected. A transcended dualism is different from a fulfilled dualism. Certain lower energies which still comprise the being of a Master are no longer part of the energy system of a Chohan.

39. Con người được đặc trưng bởi sự phân chia, bởi một tính nhị nguyên đối lập của năng lượng. Điều “hơn cả con người” đã vượt lên trên tính nhị nguyên mà con người chịu sự chi phối. Một tính nhị nguyên đã được siêu vượt khác với một tính nhị nguyên đã được viên mãn. Một số năng lượng thấp vốn vẫn còn cấu thành bản thể của một Chân sư không còn là một phần trong hệ thống năng lượng của một Chohan.

40. To compare a Chohan to as Master is a little like comparing a Solar Logos to a Planetary Logos. The analogy is far from exact, but is suggestive.

40. So sánh một Chohan với một Chân sư hơi giống như so sánh một Thái dương Thượng đế với một Hành Tinh Thượng đế. Sự tương đồng này còn xa mới chính xác, nhưng có sức gợi ý.

41. As we study occultism, it is important for us to measure the nature and status of man. Man, both high and low, must be known to us. To understand even a little of that which lies beyond man, we must grow into an understanding of the nature of man and his destined fulfillment.

41. Khi nghiên cứu huyền bí học, điều quan trọng đối với chúng ta là lượng định bản chất và địa vị của con người. Con người, dù cao hay thấp, phải được chúng ta biết đến. Để thấu hiểu dù chỉ một chút về điều nằm vượt ngoài con người, chúng ta phải lớn lên trong sự thấu hiểu bản chất của con người và sự viên mãn đã định của y.

42. In doing this we will also come to an appreciation of our own status—as members of the Family of Man.

42. Khi làm điều này, chúng ta cũng sẽ đi đến sự trân trọng địa vị của chính mình—như những thành viên của Gia Đình Nhân Loại.

But having passed beyond that lesser stage have linked themselves to the Great Council in the highest secret place.

Nhưng sau khi đã vượt qua giai đoạn thấp hơn ấy, Các Ngài đã liên kết chính mình với Đại Hội Đồng nơi bí mật tối cao.

43. To understand this calls for quite a perceptual leap, for we hardly even know what it is to link ourselves to Hierarchy.

43. Để thấu hiểu điều này cần một bước nhảy tri giác khá lớn, vì chúng ta hầu như còn chưa biết liên kết chính mình với Thánh Đoàn là gì.

44. And as a practical matter, we should gather some perception of what it means to link ourselves to the Great Ashram of Sanat Kumara (i.e., the Hierarchy).

44. Và xét như một vấn đề thực tiễn, chúng ta nên thu nhận một phần tri giác về ý nghĩa của việc liên kết chính mình với Đại Ashram của Đức Sanat Kumara, tức là Thánh Đoàn.

45. Upon that perception we can build the perception of the more exalted linking here discussed.

45. Trên nền tri giác đó, chúng ta có thể xây dựng tri giác về sự liên kết cao cả hơn đang được bàn đến ở đây.

46. We read much of Shamballa in the Tibetan’s Teaching, but, really, true knowledge of Shamballa is beyond us. Yet, it would be a waste of the Tibetan’s time to offer concepts which were entirely unapproachable.

46. Chúng ta đọc nhiều về Shamballa trong Giáo huấn của Chân sư Tây Tạng, nhưng thật ra, tri thức chân thực về Shamballa vượt ngoài chúng ta. Tuy nhiên, sẽ là lãng phí thời gian của Chân sư Tây Tạng nếu Ngài đưa ra những khái niệm hoàn toàn không thể tiếp cận.

47. So the challenge is presented to us; how shall we develop some notion of the “Great Council in the highest secret place”?

47. Do đó, thách thức được đặt ra cho chúng ta: làm thế nào chúng ta phát triển được một ý niệm nào đó về “Đại Hội Đồng nơi bí mật tối cao”?

48. Imagination can be most useful. However, there is an aspect of the imagination which is, as it were, ‘imagistic’, and there is an aspect of the imagination which transcends image. Do we know what it is like to ‘feel’ beyond image until we touch a higher reality?

48. Sự tưởng tượng có thể hết sức hữu ích. Tuy nhiên, có một phương diện của sự tưởng tượng, có thể nói, mang tính ‘hình ảnh’, và có một phương diện của sự tưởng tượng vượt lên trên hình ảnh. Chúng ta có biết việc ‘cảm nhận’ vượt ngoài hình ảnh cho đến khi chạm tới một thực tại cao hơn là như thế nào không?

49. There is an art to pondering that of which we have no tangible image or conception. For instance, by repeating to ourselves the words “Secret Council”, or “highest secret place”, something of its reality may come through to us—without an image. Later, perhaps, a symbolic image may follow.

49. Có một nghệ thuật trong việc suy ngẫm về điều mà chúng ta không có hình ảnh hay quan niệm hữu hình nào. Chẳng hạn, bằng cách lặp lại trong chính mình những từ “Hội Đồng Bí Mật”, hoặc “nơi bí mật tối cao”, một điều gì đó thuộc về thực tại ấy có thể thấu đến chúng ta—không cần một hình ảnh. Về sau, có lẽ một hình ảnh biểu tượng sẽ tiếp theo.

50. That which is offered here is not impractical, even to people at our general stage of evolution. It may be reasonably thought that when an accepted disciple has neared the second initiation, he can begin to relate, in some measure, to the Ashram of a Chohan.

50. Điều được nêu ra ở đây không phải là thiếu thực tiễn, ngay cả đối với những người ở giai đoạn tiến hoá chung của chúng ta. Có thể hợp lý mà nghĩ rằng khi một đệ tử được chấp nhận đã tiến gần đến lần điểm đạo thứ hai, y có thể bắt đầu liên hệ, ở một mức độ nào đó, với Ashram của một Chohan.

51. Numerologically, this works out, for the second initiation involves the sixth ray and the sixth plane whereas the sixth initiation (that of the Chohan (involves the second plane—and to a degree, the second ray).

51. Về mặt số học, điều này phù hợp, vì lần điểm đạo thứ hai liên quan đến cung sáu và cõi thứ sáu, trong khi lần điểm đạo thứ sáu, lần điểm đạo của Chohan, liên quan đến cõi thứ hai—và ở một mức độ nào đó, cung hai.

52. The general advice would be to attempt to reach beyond ourselves (meditatively and contemplatively) in order to at least ‘touch’ something of the high states described in this Rule.

52. Lời khuyên chung là hãy cố vươn vượt ngoài chính mình, bằng tham thiền và chiêm ngưỡng, để ít nhất ‘chạm’ được phần nào những trạng thái cao cả được mô tả trong Quy luật này.

Let the group sound a dual chord,

Hãy để nhóm xướng lên một hợp âm kép,

53. It must be evident that this chord is the chord of spirit-soul rather than that of soul-personality.

53. Hẳn hiển nhiên rằng hợp âm này là hợp âm của tinh thần-linh hồn hơn là của linh hồn-phàm ngã.

54. The group is far more capable of sounding this dual chord than is the individual, but it will be yet awhile before many groups (as presently constituted) will fulfill the requirements. We might say that a group which does fulfill these requirements is an Ashramic group.

54. Nhóm có khả năng xướng hợp âm kép này hơn cá nhân rất nhiều, nhưng còn phải một thời gian nữa trước khi nhiều nhóm, như hiện nay được cấu thành, đáp ứng được các đòi hỏi. Chúng ta có thể nói rằng một nhóm thật sự đáp ứng các đòi hỏi này là một nhóm thuộc Ashram.

Reverberating the halls where move the Masters

Vang vọng qua những sảnh đường nơi các Chân sư di chuyển

55. Due to the dual sounding, the group in question has demanded the attention of the Master.

55. Do sự xướng âm kép, nhóm đang được đề cập đã thu hút sự chú ý của Chân sư.

56. The Halls where He (the Master) moves, can be considered the ‘halls of the Ashram’. Such a group is becoming an acknowledged presence within the Ashram.

56. Những sảnh đường nơi Ngài, tức Chân sư, di chuyển có thể được xem là ‘các sảnh đường của Ashram’. Một nhóm như thế đang trở thành một sự hiện diện được thừa nhận trong Ashram.

57. The chord could not reverberate within those Ashramic halls unless its sound was resonant with the sounds ‘acoustically’ reinforced within those halls. There are many chords which would not reverberate within such halls.

57. Hợp âm ấy không thể vang vọng trong các sảnh đường Ashram đó nếu âm thanh của nó không cộng hưởng với những âm thanh được gia cường về mặt ‘âm học’ trong các sảnh đường ấy. Có nhiều hợp âm sẽ không vang vọng trong những sảnh đường như thế.

But finding pause and prolongation within those radiant halls where move the Lights which carry out the Will of God.

Nhưng tìm thấy sự dừng lại và sự kéo dài trong những sảnh đường rạng ngời ấy, nơi các Ánh Sáng thi hành Ý Chí của Thượng Đế di chuyển.

58. We have to contrast the words “pause and prolongation” with “reverberation”.

58. Chúng ta phải đối chiếu các từ “sự dừng lại và sự kéo dài” với “sự vang vọng”.

59. In a way the “radiant halls” have ‘captured’ the sound of the dual chord which reverberates within the Master’s halls. In this pause there is, as it were, a moment of ‘suspense’.

59. Theo một cách nào đó, “những sảnh đường rạng ngời” đã ‘nắm giữ’ âm thanh của hợp âm kép đang vang vọng trong các sảnh đường của Chân sư. Trong sự dừng lại này, như thể có một khoảnh khắc ‘treo lửng’.

60. What, then, will happen to this dual chord within those higher halls? The chord will be prolonged. It will be sustained by a superior energy. May we say that the dual chord will change its relation to time—that the perception of eternity or of the “eternal now” will enter into the consciousness of those who sound this chord?

60. Vậy thì điều gì sẽ xảy ra với hợp âm kép này trong những sảnh đường cao hơn ấy? Hợp âm sẽ được kéo dài. Nó sẽ được duy trì bởi một năng lượng cao hơn. Liệu chúng ta có thể nói rằng hợp âm kép sẽ thay đổi mối liên hệ của nó với thời gian—rằng tri giác về vĩnh cửu hoặc về “Hiện Tại Vĩnh Cửu” sẽ đi vào tâm thức của những ai xướng hợp âm này?

61. What is the relation of the dual chord to the realization of pure being? We might say that the higher note of the dual chord relates directly to pure being and the lower note to the principle of relationship. Let us ponder this.

61. Mối liên hệ của hợp âm kép với sự chứng nghiệm bản thể thuần khiết là gì? Chúng ta có thể nói rằng âm điệu cao hơn của hợp âm kép liên hệ trực tiếp với bản thể thuần khiết, còn âm điệu thấp hơn liên hệ với nguyên khí của mối liên hệ. Chúng ta hãy suy ngẫm điều này.

62. If we attend to the possible sounding of this chord within our nature (or group nature), can we sense time and timelessness, unified relativity and synthesis?

62. Nếu chúng ta chú tâm đến khả năng xướng lên hợp âm này trong bản chất của mình, hoặc bản chất nhóm, liệu chúng ta có thể cảm nhận thời gian và tính phi thời gian, tính tương đối hợp nhất và sự tổng hợp không?

63. Perhaps the note of pure being is ever the same; the ‘interval’ of the exact nature of the dual sounding would then depend upon the nature of the note of the soul (which in this case, is really the note of the triad). We do remember that the “spiritual triad” is the true soul of man.

63. Có lẽ âm điệu của bản thể thuần khiết luôn như nhau; khi ấy, ‘quãng’ thuộc bản chất chính xác của sự xướng âm kép sẽ tùy thuộc vào bản chất của âm điệu linh hồn, mà trong trường hợp này thật ra là âm điệu của Tam nguyên tinh thần. Chúng ta vẫn nhớ rằng “Tam Nguyên Tinh Thần” là linh hồn đích thực của con người.

64. These are very subtle matters; any experience of them will depend upon an inner experimentation.

64. Đây là những vấn đề rất tinh tế; bất kỳ kinh nghiệm nào về chúng cũng sẽ tùy thuộc vào một sự thử nghiệm nội tâm.

65. Throughout the greater Rule VII we are being related to a Shamballic context and to the life aspect. We are achieving some small link to the Great Council, in anticipation of that day when we shall link in truth and reality (and in group formation) to the Great Council.

65. Xuyên suốt Quy luật lớn VII, chúng ta đang được đặt vào mối liên hệ với một bối cảnh Shamballa và với phương diện sự sống. Chúng ta đang đạt được một mối liên kết nhỏ với Đại Hội Đồng, để chuẩn bị cho ngày chúng ta sẽ liên kết trong chân lý và thực tại, và trong đội hình nhóm, với Đại Hội Đồng.

66. Not only is the scope of our consideration being extended, but our possible experiential scope is being extended.

66. Không chỉ phạm vi suy xét của chúng ta đang được mở rộng, mà phạm vi kinh nghiệm khả hữu của chúng ta cũng đang được mở rộng.

67. We are being asked to live with “Shamballa in mind”—an attitude which, I suspect, is rather rare among disciples who have not yet achieved the third degree (and even among those who have).

67. Chúng ta đang được yêu cầu sống với “Shamballa trong tâm trí”—một thái độ mà tôi nghi là khá hiếm nơi các đệ tử chưa đạt đến lần điểm đạo thứ ba, và ngay cả nơi những người đã đạt đến.

68. As we approach an understanding of these Rules many inner experiments are called for. We are extending ourselves; we are stretching into unknown areas. We do not know what we shall find. If we thought we did know, we would certainly be incorrect; we would be covering the future with the past (a thing commonly done).

68. Khi chúng ta tiến gần đến sự thấu hiểu các Quy luật này, cần có nhiều thử nghiệm nội tâm. Chúng ta đang mở rộng chính mình; chúng ta đang vươn giãn vào những vùng chưa biết. Chúng ta không biết mình sẽ tìm thấy gì. Nếu chúng ta nghĩ rằng mình biết, chắc chắn chúng ta sẽ sai; chúng ta sẽ phủ lên tương lai bằng quá khứ, một điều thường xảy ra.

69. In this incarnation we are given our first opportunity to study and apply the fourteen greater Rules. This will surely not be our last opportunity. I suspect that a number of centuries during the Age of Aquarius will be required of presently forming groups if they are rightly and fully to apply that which is now given and which, naturally, eludes their grasp.

69. Trong lần lâm phàm này, chúng ta được trao cơ hội đầu tiên để nghiên cứu và áp dụng mười bốn Quy luật lớn. Chắc chắn đây sẽ không phải là cơ hội cuối cùng của chúng ta. Tôi nghi rằng các nhóm hiện đang hình thành sẽ cần đến một số thế kỷ trong Kỷ Nguyên Bảo Bình nếu họ muốn áp dụng đúng và đầy đủ điều hiện nay được trao ban, và điều ấy, tự nhiên, vẫn vượt khỏi sự nắm bắt của họ.

Leave a Comment

Scroll to Top