Click số trang giữa ngoặc [ ] để đi đến phần bình giảng.
|
RULE II (48-67) |
QUY LUẬT II (48-67) |
|
In our study of Rule One on Initiation, we gained (or perhaps fixed more clearly in our minds) three major thoughts: |
Trong việc nghiên cứu Quy Luật Một về Điểm Đạo, chúng ta đã đạt được, hoặc có lẽ đã ghi khắc rõ ràng hơn trong trí mình, ba tư tưởng chính: |
|
1. That the Path of Initiation is one on which we develop the Will aspect of divinity . |
1. Rằng Con Đường Điểm Đạo là con đường trên đó chúng ta phát triển phương diện Ý Chí của thiên tính . |
|
2. We learn also to use consciousness as a jumping off place for the recognition of a new state of realization, which is not consciousness at all, as we understand that term. |
2. Chúng ta cũng học cách dùng tâm thức như một điểm xuất phát để nhận ra một trạng thái chứng nghiệm mới, vốn hoàn toàn không phải là tâm thức như chúng ta hiểu thuật ngữ ấy. |
|
3. We undergo, prior to each initiation, two major tests—that of the burning ground and that of the clear cold light. [Page 48] |
3. Trước mỗi lần điểm đạo, chúng ta trải qua hai thử thách lớn — thử thách của vùng đất cháy và thử thách của ánh sáng lạnh trong trẻo. [Page 48] |
|
We closed our discussion with the thought of Tension and I defined it as the identification of the brain and soul with the will aspect and the preservation of that identification —unchanged and immovable—in all circumstances and difficulties. I mention this as the “tension” concept or point of attainment underlies the teaching of the rule which we are now going to consider. |
Chúng ta đã kết thúc phần thảo luận bằng tư tưởng về Sự Căng Thẳng, và tôi định nghĩa nó là sự đồng hóa của bộ não và linh hồn với phương diện ý chí, cùng việc duy trì sự đồng hóa ấy — không đổi thay và bất lay chuyển — trong mọi hoàn cảnh và khó khăn. Tôi nhắc đến điều này vì khái niệm “sự căng thẳng” hay điểm thành tựu nằm bên dưới giáo huấn của quy luật mà giờ đây chúng ta sắp xem xét. |
|
Quy Luật II |
|
|
(1) The Word has now gone forth from the great point of tension: Accepted as a group. (2) Withdraw not now your application. You could not, if you would; but add to it three great demands and forward move. (3) Let there be no recollection and yet let memory rule. (4) Work from the point of all that is within the content of the group’s united life. |
(1) Linh từ giờ đây đã phát ra từ điểm tập trung nhất tâm lớn lao: Được chấp nhận như một nhóm. (2) Giờ đây đừng rút lại lời thỉnh cầu của các ngươi. Các ngươi không thể làm vậy, dù các ngươi muốn; nhưng hãy thêm vào đó ba yêu cầu lớn lao và tiến bước. (3) Hãy để không còn sự hồi tưởng, nhưng hãy để ký ức cai quản. (4) Hãy làm việc từ điểm của tất cả những gì nằm trong nội dung sự sống hợp nhất của nhóm. |
|
A close analysis of this rule will convey to the intuition far more than appears upon the surface, and that is rich enough. Each of these rules holds in it the seed of that understanding which must be evoked before the next rule can be mastered . All that is given is ever based on that which has gone before. The “three great demands” of the initiate are based upon the “triple call” found in Rule Two for aspirants and disciples. The triple call was earlier sounded forth. Now its higher significances must be comprehended. |
Một sự phân tích kỹ lưỡng quy luật này sẽ truyền đạt cho trực giác nhiều hơn rất nhiều so với những gì hiện ra trên bề mặt, mà bề mặt ấy tự nó đã phong phú rồi. Mỗi quy luật này đều chứa trong nó hạt giống của sự thấu hiểu cần phải được gợi lên trước khi quy luật kế tiếp có thể được làm chủ . Tất cả những gì được ban ra luôn luôn đặt nền trên những gì đã đi trước. “Ba yêu cầu lớn lao” của điểm đạo đồ đặt nền trên “tiếng gọi tam phân” được tìm thấy trong Quy Luật Hai dành cho người chí nguyện và đệ tử. Tiếng gọi tam phân ấy đã được xướng lên trước đó. Giờ đây, các thâm nghĩa cao hơn của nó phải được lĩnh hội. |
|
There are only four parts to this rule, which is one of prime importance because it contains the motivating force, the conditioning factors and the place of triumph—all these are indicated. We will, as is our usual custom, study each separate part sequentially and as far as possible in detail bearing in mind that initiation deals with factors in latent manifestation for which our languages have no words , and with ideas which are not yet to be found among the “raincloud of knowable things” (as Patanjali calls it)—that is, knowable to the masses of men. The initiate is, however, dealing with a world of meaning and of affairs which are not yet manifesting in any way . The task of the Master [Page 49] (and of Those higher than He) is to take those steps and precipitate those “waiting events” which will eventually bring them into manifestation. This, I would remind you, is always done by the use of the will and from a point of tension . |
Quy luật này chỉ có bốn phần, và nó có tầm quan trọng hàng đầu vì chứa đựng mãnh lực thúc đẩy, các yếu tố tác động và nơi chốn của chiến thắng — tất cả những điều này đều được chỉ ra. Như thường lệ, chúng ta sẽ nghiên cứu từng phần riêng biệt theo trình tự và, trong chừng mực có thể, một cách chi tiết, đồng thời ghi nhớ rằng điểm đạo đề cập đến những yếu tố đang biểu hiện tiềm tàng mà ngôn ngữ của chúng ta không có lời nào để diễn tả , và đến những ý tưởng chưa hề được tìm thấy trong “đám mây mưa của những điều khả tri” như Patanjali gọi — tức là những điều khả tri đối với quần chúng nhân loại. Tuy nhiên, điểm đạo đồ đang xử lý một thế giới của ý nghĩa và của những sự việc chưa biểu hiện theo bất cứ cách nào . Nhiệm vụ của Chân sư [Page 49] và của Những Đấng cao hơn Ngài là thực hiện những bước đi ấy và ngưng tụ những “biến cố đang chờ đợi” mà cuối cùng sẽ đưa chúng vào biểu hiện. Điều này, tôi xin nhắc các bạn, luôn luôn được thực hiện bằng cách sử dụng ý chí và từ một điểm tập trung nhất tâm . |
|
1. The Word has now gone forth from the great point of tension: Accepted as a group. ( ← ) |
1. Linh từ giờ đây đã phát ra từ điểm tập trung nhất tâm lớn lao: Được chấp nhận như một nhóm. ( ← ) |
|
I would like here to call your attention to the progressive nature of the esoteric science ; it is nowhere better illustrated than in this phrase; nowhere is it more clearly shown and yet, unless the intuition and the sense of correlation are functioning, the idea might escape recognition. |
Ở đây, tôi muốn kêu gọi các bạn chú ý đến bản chất tiến bộ của khoa học huyền bí ; không nơi nào điều đó được minh họa rõ hơn trong cụm từ này; không nơi nào điều đó được trình bày rõ ràng hơn, thế nhưng, nếu trực giác và ý thức về tương quan không hoạt động, ý tưởng này có thể không được nhận ra. |
|
In all the teaching given to the aspirant and to the disciple in the early stages of their training , the emphasis has been upon the “point of light” which must be discovered , brought into full illumination, and then so used that the one in whom the light shines becomes a light-bearer in a dark world. This, the aspirant is taught, becomes possible when contact with the soul has been made and the light is found. This is familiar teaching to many and is the essence of the progress to be made by aspirants and disciples in the first part of their training. |
Trong mọi giáo huấn được ban cho người chí nguyện và đệ tử ở những giai đoạn đầu của sự huấn luyện , trọng tâm đã được đặt trên “điểm ánh sáng” cần phải được khám phá , được đưa vào sự soi sáng trọn vẹn, rồi được sử dụng đến mức người mà trong y ánh sáng tỏa chiếu trở thành người mang ánh sáng trong một thế giới tối tăm. Người chí nguyện được dạy rằng điều này trở nên khả dĩ khi sự tiếp xúc với linh hồn đã được thiết lập và ánh sáng đã được tìm thấy. Đây là giáo huấn quen thuộc đối với nhiều người và là cốt tủy của sự tiến bộ mà người chí nguyện và đệ tử cần thực hiện trong phần đầu của sự huấn luyện. |
|
We now, however, pass on to another expression and to the next development in the life of the initiate, which is learning to work from a “point of tension.” Here lies the new emphasis, and I am bringing it to the attention of humanity as mankind nears the close, the terrible but liberating finale, of his great test in this modern burning-ground. Now men can pass on into the clear cold light, and from there begin to hold that point of tension which will be evocative of the needed “understanding will-to-move forward” along the line of human will-to-good— the first phase of the development of the will aspect . It is the higher sublimation of the aspirational stage which precedes the attainment of the “point of light” through contact with the soul. |
Tuy nhiên, giờ đây chúng ta chuyển sang một cách diễn đạt khác và sang sự phát triển kế tiếp trong đời sống của điểm đạo đồ, tức là học cách làm việc từ một “điểm tập trung nhất tâm”. Chính ở đây có trọng tâm mới, và tôi đang đưa điều này đến sự chú ý của nhân loại khi loài người tiến gần đến hồi kết — đoạn kết khủng khiếp nhưng giải thoát — của cuộc thử thách lớn lao của y trong vùng đất cháy hiện đại này. Giờ đây con người có thể bước vào ánh sáng lạnh trong trẻo, và từ đó bắt đầu duy trì điểm tập trung nhất tâm vốn sẽ gợi lên “ý chí thấu hiểu để tiến bước” cần thiết theo đường lối của Ý Chí-hướng Thiện của nhân loại — giai đoạn đầu tiên trong sự phát triển của phương diện ý chí . Đó là sự thăng hoa cao hơn của giai đoạn khát vọng, vốn đi trước việc đạt đến “điểm ánh sáng” nhờ tiếp xúc với linh hồn. |
|
The point of tension |
Điểm tập trung nhất tâm |
|
The point of tension is found when the dedicated will [Page 50] of the personality is brought into touch with the will of the Spiritual Triad . This takes place in three clearly defined stages : |
Điểm tập trung nhất tâm được tìm thấy khi ý chí đã được thánh hiến [Page 50] của phàm ngã được đưa vào tiếp xúc với ý chí của Tam Nguyên Tinh Thần . Điều này diễn ra trong ba giai đoạn được xác định rõ ràng : |
|
1. The stage wherein the lower will aspect which is focused in the mental body —the will-to-activity of the personality— is brought into contact with the higher abstract mind ; this latter is the interpreting agent for the Monad and the lowest aspect of the Triad. Two things can be noted in this respect: |
1. Giai đoạn trong đó phương diện ý chí thấp, vốn tập trung trong thể trí — Ý Chí-hành động của phàm ngã — được đưa vào tiếp xúc với trí trừu tượng cao hơn ; trí trừu tượng này là tác nhân diễn giải cho chân thần và là phương diện thấp nhất của Tam Nguyên Tinh Thần. Có thể lưu ý hai điều về phương diện này: |
|
a. This contact becomes possible from the moment that the first thin strand of the antahkarana, the rainbow bridge, is completed between the mental unit and the manasic permanent atom. |
a. Sự tiếp xúc này trở nên khả dĩ từ khoảnh khắc sợi mảnh đầu tiên của antahkarana, Cây cầu vồng, được hoàn tất giữa đơn vị hạ trí và Nguyên tử trường tồn manas. |
|
b. This demonstrates in an absorbing devotion to the Plan and is an effort, at any cost, to serve that Plan as it is progressively understood and grasped. |
b. Điều này biểu lộ trong một lòng sùng kính cuốn hút đối với Thiên Cơ và là một nỗ lực, bằng bất cứ giá nào, để phụng sự Thiên Cơ ấy khi nó dần dần được thấu hiểu và nắm bắt. |
|
This expresses itself in the cultivation of goodwill , as understood by the average intelligent human being and put into action as a way of life. |
Điều này tự biểu lộ trong việc vun bồi thiện chí , như người trí thức trung bình hiểu và đem ra thực hành như một lối sống. |
|
2. The stage wherein the love aspect of the soul is brought into touch with the corresponding aspect of the Triad, to which we give the inadequate name of the intuition. This is in reality divine insight and comprehension, as expressed through the formulation of ideas. Here you have an instance of the inadequacy of modern language; ideas are formless and are in effect points of energy, outward moving in order eventually to express some “intention” of the divine creating Logos . When the initiate grasps this and identifies himself with it, his goodwill expands into the will-to-good . Plan and quality give place to purpose and method. Plans are fallible and tentative and serve a temporary need. Purpose, as expressed by the initiate is permanent, farsighted, unalterable, and serves the Eternal Idea. |
2. Giai đoạn trong đó phương diện bác ái của linh hồn được đưa vào tiếp xúc với phương diện tương ứng của Tam Nguyên Tinh Thần, mà chúng ta gọi bằng cái tên không đầy đủ là trực giác. Trong thực tại, đây là tuệ giác và sự lĩnh hội thiêng liêng, như được biểu lộ qua việc hình thành các ý tưởng. Ở đây các bạn có một ví dụ về sự bất toàn của ngôn ngữ hiện đại; các ý tưởng không có hình tướng và thực ra là những điểm năng lượng, chuyển động ra ngoài để cuối cùng biểu lộ một “ý định” nào đó của Đức Thượng đế Sáng Tạo thiêng liêng . Khi điểm đạo đồ nắm bắt điều này và đồng hóa mình với nó, thiện chí của y mở rộng thành Ý Chí-hướng Thiện . Thiên Cơ và phẩm tính nhường chỗ cho mục đích và phương pháp. Các kế hoạch thì có thể sai lầm và tạm thời, và phục vụ một nhu cầu nhất thời. Mục đích, như được điểm đạo đồ biểu lộ, thì thường hằng, nhìn xa, bất biến, và phục vụ Ý Tưởng Vĩnh Cửu. |
|
3. The stage wherein—after the fourth initiation—there is direct unbroken relation between the Monad, via the Triad, and the form which the Master is using to do His [Page 51] work among men . This form may be either His temporary personality, arrived at along the normal lines of incarnation, or the specially created form to which Theosophists give the technical but cumbersome word “mayavirupa.” It is the “true mask, hiding the radiant light and the dynamic energy of a revealed Son of God.” This is the esoteric definition which I offer you . This stage can be called the attainment of the will-to-be, not Being as an individual expression but Being as an expression of the Whole —all-inclusive, non-separative, motivated by goodness, beauty and truth and intelligently expressed as pure love. |
3. Giai đoạn trong đó — sau lần điểm đạo thứ tư — có mối liên hệ trực tiếp, không gián đoạn giữa chân thần, qua Tam Nguyên Tinh Thần, và hình tướng mà Chân sư đang dùng để thực hiện [Page 51] công việc của Ngài giữa nhân loại . Hình tướng này có thể là phàm ngã tạm thời của Ngài, đạt được theo những đường lối lâm phàm bình thường, hoặc là hình tướng được tạo ra đặc biệt mà các nhà Thông Thiên Học gọi bằng thuật ngữ chuyên môn nhưng nặng nề là “huyễn thân.” Đó là “chiếc mặt nạ chân thật, che giấu ánh sáng rạng rỡ và năng lượng năng động của một Con của Thượng đế đã được mặc khải.” Đây là định nghĩa huyền bí mà tôi trao cho các bạn . Giai đoạn này có thể được gọi là sự đạt đến Ý Chí-hiện tồn, không phải Hiện Tồn như một biểu lộ cá nhân, mà là Hiện Tồn như một biểu lộ của Toàn Thể — bao gồm tất cả, không chia rẽ, được thúc đẩy bởi thiện, mỹ và chân, và được biểu lộ một cách thông tuệ như tình thương thuần khiết. |
|
All these stages are achieved by the attainment of one point of tension after another, and the work thus carried forward into the realm of the dynamic steadfast will. This will, as it is progressively developed, works ever from a constant point of tension. |
Tất cả các giai đoạn này đều đạt được nhờ việc đạt đến hết điểm tập trung nhất tâm này rồi đến điểm tập trung nhất tâm khác, và công việc nhờ đó được đưa tiến vào lãnh vực của ý chí kiên định năng động. Ý chí này, khi được phát triển dần dần, luôn luôn hoạt động từ một điểm tập trung nhất tâm thường hằng. |
|
Nature of the Word, the AUM, |
Bản chất của Linh từ, AUM, |
|
We come now to the consideration of a subject which always proves exceedingly difficult to students: The nature of the Word , the AUM, and its later developments, the OM and the Sound. Much confusion exists as to its significance or the necessity for its use. The phase of its recognition through which we are now passing is a purely exoteric one of accustoming the general public to the fact of its existence. This has been brought about in three ways: |
Giờ đây chúng ta đi đến việc xem xét một chủ đề luôn luôn chứng tỏ là cực kỳ khó đối với các đạo sinh: bản chất của Linh từ, AUM, và những phát triển về sau của nó, OM và Âm Thanh. Có nhiều sự lẫn lộn về thâm nghĩa của nó hoặc về sự cần thiết phải sử dụng nó. Giai đoạn nhận biết nó mà chúng ta hiện đang trải qua là một giai đoạn hoàn toàn ngoại môn, nhằm làm cho công chúng nói chung quen với sự kiện về sự hiện hữu của nó. Điều này đã được thực hiện theo ba cách: |
|
1. Through the constant use in all the Christian Churches of the word “Amen,” which is a western corruption of the AUM. The AUM is here the lowest aspect of the originating Sound. |
1. Qua việc sử dụng thường xuyên trong tất cả các Giáo hội Cơ Đốc từ “Amen,” vốn là một sự biến dạng Tây phương của AUM. Ở đây, AUM là phương diện thấp nhất của Âm Thanh khởi nguyên. |
|
2. Through the emphasis laid in Masonry upon the Lost Word , thus subtly drawing the attention of humanity to the OM; the Sound of the second aspect, the Soul. |
2. Qua sự nhấn mạnh được đặt trong Hội Tam Điểm trên Linh từ Thất Lạc , nhờ đó một cách tinh tế thu hút sự chú ý của nhân loại đến OM; Âm Thanh của phương diện thứ hai, Linh hồn. |
|
3. Through the growing emphasis laid by the many occult groups throughout the world upon the use of the OM , its frequent use by these groups in public, and by those intent upon meditation. |
3. Qua sự nhấn mạnh ngày càng tăng mà nhiều nhóm huyền bí trên khắp thế giới đặt vào việc sử dụng OM , việc các nhóm này thường xuyên sử dụng nó nơi công cộng, và việc sử dụng nó bởi những người chuyên tâm tham thiền. |
|
The soundest approach is that of the Masonic tradition, because it deals primarily with the world of meaning and [Page 52] with a phase of the esoteric teaching. The use of the Amen in the ritual of the Christian Church will eventually be discouraged , because it is basically a materialistic affirmation , being usually regarded by the average churchgoer as setting the seal of divine approval upon his demand to the Almighty for protection, or for the supply of his physical necessities; all this is, therefore, related to the life of desire, of aspiration, of dualism and of request. It involves the attitude of giver and recipient . |
Cách tiếp cận vững chắc nhất là cách của truyền thống Tam Điểm, vì nó chủ yếu đề cập đến Thế giới của ý nghĩa và [Page 52] đến một giai đoạn của giáo huấn huyền bí. Việc sử dụng Amen trong nghi lễ của Giáo hội Cơ Đốc cuối cùng sẽ không còn được khuyến khích , vì về căn bản nó là một sự khẳng định mang tính duy vật , thường được người đi nhà thờ trung bình xem như đóng dấu chấp thuận thiêng liêng lên lời thỉnh cầu của y dâng lên Đấng Toàn Năng để xin được bảo hộ, hoặc xin được cung cấp những nhu cầu hồng trần của y; do đó, tất cả điều này liên hệ đến đời sống của dục vọng, của khát vọng, của nhị nguyên và của sự cầu xin. Nó bao hàm thái độ của người ban cho và người nhận lãnh . |
|
The AUM and the Amen are both of them an expression in sound of the principle of active intelligent substance in the divine manifestation, the third aspect, and have served human need in that phase of material and form development. I refer here also to the development of mind or of the mental form. The personality as a whole, when perfected and brought under control of the soul, is the “Word made flesh.” |
AUM và Amen đều là một biểu lộ bằng âm thanh của nguyên khí chất liệu thông tuệ linh hoạt trong sự biểu hiện thiêng liêng, tức phương diện thứ ba, và đã phụng sự nhu cầu của nhân loại trong giai đoạn phát triển vật chất và hình tướng ấy. Ở đây tôi cũng nói đến sự phát triển của trí tuệ hay của hình tướng trí tuệ. Phàm ngã như một toàn thể, khi được hoàn thiện và đặt dưới sự kiểm soát của linh hồn, là “Linh từ thành xác thịt.” |
|
The mass of aspirants and of disciples are today learning the meaning of the OM, which is not the Word made flesh, but the Word released from form , and expressing itself as soul-spirit and not as body-soul-spirit. It might, therefore, be said that: |
Ngày nay, đại đa số người chí nguyện và đệ tử đang học ý nghĩa của OM, vốn không phải là Linh từ thành xác thịt, mà là Linh từ được giải thoát khỏi hình tướng , và tự biểu lộ như linh hồn-tinh thần chứ không phải như thể-linh hồn-tinh thần. Vì vậy, có thể nói rằng: |
|
1. The A.U.M (note that I separate each aspect of this triple sound) brings the soul-spirit aspect down on to the physical plane and anchors it there by the force of its outgoing vibration . Using a symbol to make my meaning clear, it is like “ a strong wind that pins a man against a wall and makes free effort difficult. ” It vivifies form; it intensifies the hold of matter upon the soul; it builds around the soul a confining prison—a prison of the senses. It is the “sound of enchantment,” the sound that is the source of glamor and of maya; it is the great beguiling and deceptive energy, the note of the involutionary arc. In it are hid the secret of evil or matter, the uses of form, first as a prison, then as a training ground and as a field of experience, and finally as the expression for the manifestation of a Son of God. |
1. A.U.M xin lưu ý rằng tôi tách riêng từng phương diện của âm thanh tam phân này đưa phương diện linh hồn-tinh thần xuống cõi hồng trần và neo giữ nó ở đó bằng mãnh lực của rung động phát ra của nó . Dùng một biểu tượng để làm rõ ý tôi, nó giống như “ một cơn gió mạnh ghim một người vào tường và khiến nỗ lực tự do trở nên khó khăn. ” Nó làm sinh động hình tướng; nó tăng cường sự nắm giữ của vật chất đối với linh hồn; nó xây dựng quanh linh hồn một nhà tù giam hãm — một nhà tù của các giác quan. Nó là “âm thanh của sự mê hoặc,” âm thanh là nguồn gốc của ảo cảm và ảo lực; nó là năng lượng quyến rũ và lừa dối lớn lao, là âm điệu của cung giáng hạ tiến hoá. Trong đó ẩn giấu bí mật của tà ác hay vật chất, các công dụng của hình tướng, trước hết như một nhà tù, rồi như một sân huấn luyện và một trường kinh nghiệm, và cuối cùng như biểu lộ cho sự hiển lộ của một Con của Thượng đế. |
|
2. The OM rightly sounded , releases the soul from the realm of glamor and of enchantment. It is the sound of [Page 53] liberation, the great note of resurrection and of the raising of humanity to the Secret Place of the Most High when all other Words and sounds have failed. It is not a triple sound as is the AUM, but a dual sound, significant of the relation of spirit and soul, and of life and consciousness. This lost Word, symbolic of the loss in the three worlds (typified by the degrees of the Blue Lodges in Masonry) must be recovered and is in process of discovery today. The mystics have sought after it; the Masons have preserved the tradition of its existence; the disciples and initiates of the world must demonstrate its possession. |
2. OM khi được xướng đúng , giải thoát linh hồn khỏi lãnh vực của ảo cảm và sự mê hoặc. Nó là âm thanh của [Page 53] giải thoát, là âm điệu lớn lao của sự phục sinh và của việc nâng nhân loại lên Nơi Bí Mật của Đấng Chí Cao khi mọi Linh từ và âm thanh khác đều đã thất bại. Nó không phải là một âm thanh tam phân như AUM, mà là một âm thanh nhị phân, biểu thị mối liên hệ giữa tinh thần và linh hồn, giữa sự sống và tâm thức. Linh từ thất lạc này, tượng trưng cho sự mất mát trong ba cõi thấp được tiêu biểu bởi các cấp bậc của những Chi hội Lam trong Hội Tam Điểm, phải được tìm lại và ngày nay đang trong tiến trình được khám phá. Các nhà thần bí đã tìm kiếm nó; các hội viên Tam Điểm đã gìn giữ truyền thống về sự hiện hữu của nó; các đệ tử và điểm đạo đồ của thế giới phải chứng tỏ rằng họ sở hữu nó. |
|
3. The Sound is the sole expression of the Ineffable [1] Name , the secret appellation of the One in Whom we live and move and have our being, and Who is known to the Great White Lodge through this name . Remember always that name and form are synonymous terms in the occult teaching , and these two words hold the secret of manifestation. The goal of the initiate is identification with all forms of the divine life, so that he can know himself to be an integral part of that Whole and can tune in on all states of divine awareness, knowing for himself (and not just theoretically) that they are also his own states of awareness . He can then penetrate into the divine arcana of knowledge, share in the divine omnipresence and— at will — express the divine omniscience and prepare himself to manifest in full consciousness the divine omnipotence . |
3. Âm Thanh là biểu lộ duy nhất của Danh Xưng Bất Khả Ngôn , danh hiệu bí mật của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện tồn, và Đấng được Thánh đoàn biết đến qua danh xưng này . Hãy luôn nhớ rằng danh xưng và hình tướng là những thuật ngữ đồng nghĩa trong giáo huấn huyền bí , và hai từ này nắm giữ bí mật của sự biểu hiện. Mục tiêu của điểm đạo đồ là sự đồng hóa với mọi hình tướng của sự sống thiêng liêng, để y có thể biết mình là một phần trọn vẹn của Toàn Thể ấy và có thể hòa điệu với mọi trạng thái nhận biết thiêng liêng, tự mình biết chứ không chỉ về mặt lý thuyết rằng chúng cũng là những trạng thái nhận biết của chính y . Khi ấy y có thể thâm nhập vào những bí nhiệm thiêng liêng của tri thức, dự phần vào tính toàn tại thiêng liêng và — theo ý chí — biểu lộ sự toàn tri thiêng liêng và chuẩn bị cho mình để biểu hiện trong tâm thức trọn vẹn quyền năng toàn năng thiêng liêng . |
|
I am using words which are futile to convey the underlying meaning of the Word. Understanding can only be arrived at when a man lives the Word, hearing its soundless Sound and breathing it forth in a vital life-giving breath to others. |
Tôi đang dùng những lời bất lực trong việc truyền đạt ý nghĩa nằm bên dưới Linh từ. Sự thấu hiểu chỉ có thể đạt đến khi một người sống Linh từ, nghe Âm Thanh vô thanh của nó và thở nó ra trong một hơi thở sống động, ban sự sống cho người khác. |
|
The masses are hearing the sound of the AUM and, in their higher brackets [Page?], are finding that AUM the expression of something from which they seek release. The aspirants and disciples of the World are hearing the OM and in their personal lives the AUM and the OM are in conflict . This may represent a new idea to you, but it conveys an idea of an eternal fact. It may help you to gain an understanding [Page 54] of this phase if I point out for you that for this first group the OM can be portrayed in the following symbol as expressing the material M nature whereas the second group can be portrayed by the symbol m expressive of the soul enveloped in matter. You will see, therefore, how the teaching leads man progressively onward and how the occult science brings man in touch with great mental reversals and divine paradoxes. For aeons the Word of the soul and the Sound of spiritual reality are lost. Today, the Word of the soul is being found again, and with that finding the little self is lost in the glory and the radiance of the divine Self . |
Quần chúng đang nghe âm thanh của AUM và, trong những tầng lớp cao hơn [Page?], đang nhận thấy AUM là biểu lộ của một điều gì đó mà họ tìm cách được giải thoát khỏi. Những người chí nguyện và đệ tử của Thế Giới đang nghe OM, và trong đời sống cá nhân của họ, AUM và OM đang xung đột . Điều này có thể biểu thị một ý tưởng mới đối với các bạn, nhưng nó truyền đạt ý tưởng về một sự kiện vĩnh cửu. Có thể điều này sẽ giúp các bạn đạt được sự thấu hiểu [Page 54] về giai đoạn này nếu tôi chỉ ra cho các bạn rằng đối với nhóm thứ nhất này, OM có thể được mô tả bằng biểu tượng sau đây như diễn tả bản chất M vật chất, trong khi nhóm thứ hai có thể được mô tả bằng biểu tượng m diễn tả linh hồn được bao bọc trong vật chất. Vì vậy, các bạn sẽ thấy giáo huấn dẫn con người tiến lên dần dần như thế nào và khoa học huyền bí đưa con người tiếp xúc với những đảo ngược trí tuệ lớn lao và những nghịch lý thiêng liêng ra sao. Trong nhiều đại kiếp, Linh từ của linh hồn và Âm Thanh của thực tại tinh thần bị thất lạc. Ngày nay, Linh từ của linh hồn đang được tìm thấy trở lại, và cùng với sự tìm thấy ấy, cái ngã nhỏ bé tan mất trong vinh quang và ánh rạng ngời của Bản Ngã thiêng liêng . |
|
This discovery is consummated at the time of the third initiation . The initiate and the Master, along with those of higher rank who are approaching identification with Shamballa , are steadily and ever more clearly hearing the Sound emanating from the Central Spiritual Sun and penetrating all forms of divine life upon our planet —via our Planetary Logos Who hears it with clarity and with understanding—the Sound of the lowest syllable of the Ineffable Name of the One in Whom all the Planetary Logoi live and move and have Their Being, for They are centers in the Life which is expressing itself through the medium of a solar system. |
Sự khám phá này được hoàn tất vào thời điểm lần điểm đạo thứ ba . Điểm đạo đồ và Chân sư, cùng với những vị thuộc cấp bậc cao hơn đang tiến gần đến sự đồng hóa với Shamballa , đang đều đặn và ngày càng rõ ràng hơn nghe Âm Thanh xuất lộ từ Mặt trời Tinh thần Trung Ương và thâm nhập mọi hình tướng của sự sống thiêng liêng trên hành tinh chúng ta — qua Đức Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, Đấng nghe nó với sự rõ ràng và thấu hiểu — Âm Thanh của âm tiết thấp nhất trong Danh Xưng Bất Khả Ngôn của Đấng mà trong Ngài tất cả các Hành Tinh Thượng đế sống, chuyển động và hiện tồn, vì Các Ngài là những trung tâm trong Sự Sống đang tự biểu lộ qua trung gian của một hệ mặt trời. |
|
You can see how little use there is in my enlarging further upon this. Its sole usefulness is to give an expanding impulse to the consciousness of the disciple and to stir his imagination (the seed of the intuition), so that even whilst occupied in expressing the M and then the m, he will be reaching out after the Sound. |
Các bạn có thể thấy việc tôi mở rộng thêm về điều này ít hữu ích đến mức nào. Tính hữu ích duy nhất của nó là trao một xung lực mở rộng cho tâm thức của đệ tử và khuấy động sự tưởng tượng của y, hạt giống của trực giác, để ngay cả khi đang bận rộn biểu lộ M rồi đến m, y vẫn vươn tới Âm Thanh. |
|
Earlier I pointed out that the sound of the AUM, the sound of the OM and the Sound itself are all related to vibration and to its differing and varied effects. The secret of the Law of Vibration is progressively revealed as people learn to sound forth the Word in its three aspects. Students would also do well to ponder on the distinction between the breath and the Sound, between the process of breathing and of creating directed vibratory activity. The one is related to Time and the other to Space and they are distinct from each other; and (as the Old Commentary puts it) “the Sound, the [Page 55] final and yet initiating Sound, concerns that which is neither Time nor Space; it lies outside the manifested All , the Source of all that is and yet is naught.” (No thing. A.A.B.) |
Trước đây tôi đã chỉ ra rằng âm thanh của AUM, âm thanh của OM và chính Âm Thanh đều liên hệ đến rung động và đến các hiệu quả khác nhau, đa dạng của nó. Bí mật của Định luật Rung Động dần dần được mặc khải khi con người học cách xướng Linh từ trong ba phương diện của nó. Các đạo sinh cũng nên suy ngẫm về sự phân biệt giữa hơi thở và Âm Thanh, giữa tiến trình thở và tiến trình tạo ra hoạt động rung động có định hướng. Một bên liên hệ đến Thời Gian, bên kia liên hệ đến Không Gian, và chúng khác biệt với nhau; và như Cổ Luận nói, “Âm Thanh, Âm Thanh [Page 55] sau cùng nhưng cũng là khởi đầu, liên quan đến điều không phải Thời Gian cũng không phải Không Gian; nó nằm ngoài Tất Cả đã biểu hiện, là Nguồn của tất cả những gì hiện hữu mà vẫn là không.” Không phải một vật. A.A.B. |
|
There are, therefore, great points of tension from which the Sacred Word, in its major aspects, goes forth. Let me list them for you: |
Do đó, có những điểm tập trung nhất tâm lớn lao mà từ đó Linh từ Thiêng Liêng, trong các phương diện chính của nó, phát ra. Hãy để tôi liệt kê chúng cho các bạn: |
|
1. The creative point of tension —a tension achieved by a planetary Logos when He responds to the Sound of the Ineffable Name and breathes it forth in His turn in three great Sounds which make one Sound on His Own plane of expression, thus creating the manifested world, the impulse towards the unfoldment of consciousness, and the influence of life itself. This is the Sound. |
1. Điểm tập trung nhất tâm sáng tạo — một sự tập trung nhất tâm mà một Hành Tinh Thượng đế đạt được khi Ngài đáp ứng với Âm Thanh của Danh Xưng Bất Khả Ngôn và đến lượt Ngài thở nó ra trong ba Âm Thanh lớn lao, vốn hợp thành một Âm Thanh trên cõi biểu lộ riêng của Ngài, nhờ đó tạo ra thế giới biểu hiện, xung lực hướng tới sự khai mở của tâm thức, và ảnh hưởng của chính sự sống. Đây là Âm Thanh. |
|
2. Seven points of tension on the downward or involutionary arc; these produce the seven planets, the seven states of consciousness, and the expression of the seven ray impulses. This constitutes the sevenfold AUM of which the Ageless Wisdom takes note. It is related to the effect of spirit or life upon substance, thus originating form and creating the prison of the divine life. |
2. Bảy điểm tập trung nhất tâm trên cung đi xuống hay cung giáng hạ tiến hoá; những điểm này tạo ra bảy hành tinh, bảy trạng thái tâm thức, và sự biểu lộ của bảy xung lực cung. Điều này cấu thành AUM thất phân mà Minh Triết Ngàn Đời ghi nhận. Nó liên hệ đến tác động của tinh thần hay sự sống lên chất liệu, nhờ đó khởi sinh hình tướng và tạo ra nhà tù của sự sống thiêng liêng. |
|
3. The AUM itself or the Word made flesh; this creates finally a point of tension in the fourth kingdom in nature, at which point the evolutionary cycle becomes possible and the first dim note of the OM can be faintly heard. In the individual man this point is reached when the personality is an integrated and functioning whole and the soul is beginning to control it. It is an accumulative tension arrived at through many lives. This process is expressed in the Masters’ Archives as follows: |
3. Chính AUM hay Linh từ thành xác thịt; điều này cuối cùng tạo ra một điểm tập trung nhất tâm trong giới thứ tư trong thiên nhiên, tại điểm ấy chu kỳ tiến hoá trở nên khả dĩ và âm điệu mờ nhạt đầu tiên của OM có thể được nghe thoáng qua. Trong con người cá biệt, điểm này đạt được khi phàm ngã là một toàn thể đã tích hợp và đang hoạt động, và linh hồn bắt đầu kiểm soát nó. Đó là một sự tập trung tích lũy đạt được qua nhiều kiếp sống. Tiến trình này được diễn tả trong Văn Khố của các Chân sư như sau: |
|
You must remember that these symbols are an attempt on my part to translate ancient signatures in modern occidental type. The only one which is the same in all languages is, esoterically, the AUM. [Page 56] |
Các bạn phải nhớ rằng những biểu tượng này là một nỗ lực của tôi nhằm chuyển dịch những ký hiệu cổ xưa sang kiểu chữ Tây phương hiện đại. Biểu tượng duy nhất giống nhau trong mọi ngôn ngữ, theo nghĩa huyền bí, là AUM. [Page 56] |
|
4. Then comes a point of tension from which the man eventually achieves liberation from the three worlds and stands as a free soul ; he is then a point within the circle—the point indicating the point of tension from which he now works, and the circle the sphere of his self-initiated activity. |
4. Rồi đến một điểm tập trung nhất tâm mà từ đó con người cuối cùng đạt được sự giải thoát khỏi ba cõi thấp và đứng như một linh hồn tự do ; khi ấy y là một điểm trong vòng tròn — điểm biểu thị điểm tập trung nhất tâm mà từ đó giờ đây y làm việc, và vòng tròn biểu thị khối cầu hoạt động do y tự khởi xướng. |
|
I need not carry the story further; from tension to tension the initiate passes just as do all human beings, aspirants, disciples and the lower grades of initiates; from one expansion of consciousness to another they go until the third initiation is undergone and points of tension (qualified by intention and purpose) supersede all previous efforts and the will aspect begins to control. |
Tôi không cần đưa câu chuyện đi xa hơn; từ điểm tập trung nhất tâm này đến điểm tập trung nhất tâm khác, điểm đạo đồ đi qua, cũng như mọi con người, người chí nguyện, đệ tử và các cấp điểm đạo đồ thấp hơn đều đi qua; họ tiến từ một sự mở rộng tâm thức này sang một sự mở rộng tâm thức khác cho đến khi lần điểm đạo thứ ba được trải qua và các điểm tập trung nhất tâm, được phẩm định bởi ý định và mục đích, thay thế mọi nỗ lực trước đó, và phương diện ý chí bắt đầu kiểm soát. |
|
Here, briefly, is a fresh slant [2] upon the familiar theme of the Word—a theme preserved in some form by all the world religions but a theme which, like all else, has been so materialized that it is the task of the Hierarchy to restore the knowledge of its meaning, of its threefold application and its involutionary and evolutionary significances . Students would do well to remember that its sounding forth vocally upon the physical plane means little. The important factors are to sound it silently, inaudibly and within the head; then, having done so, to hear it reverberate there and to recognize that this self-initiated Sound—breathed forth from a point of tension—is a part of the original Sound as it takes form as a Word . When a man perfectly expresses the AUM, he can then sound the OM with effectiveness from progressive points of tension, until the third initiation. Then the effect of the OM is such that the personality as a separate identity disappears, the soul emerges in all its glory, and the first faint sound of the originating Sound breaks upon the ear of the transfigured initiate. This is the Voice referred to in the Biblical account of the Transfiguration. This Voice says, “This is my beloved Son.” The initiate registers the fact that he has been accepted by Shamballa and has made his first contact with the Planetary Logos, the Hierophant, the Initiator at the third initiation, just as the Christ, the Master of all the Masters, is the Initiator and the Hierophant at the first two initiations. [Page 57] |
Ở đây, nói vắn tắt, là một góc nhìn mới về chủ đề quen thuộc của Linh từ—một chủ đề được mọi tôn giáo thế giới lưu giữ dưới một hình thức nào đó, nhưng là một chủ đề, cũng như mọi điều khác, đã bị vật chất hóa đến mức nhiệm vụ của Thánh Đoàn là phục hồi tri thức về ý nghĩa của nó, về ứng dụng tam phân của nó, cũng như các thâm nghĩa giáng hạ tiến hoá và thăng thượng tiến hoá của nó . Các đạo sinh nên nhớ rằng việc xướng nó thành tiếng trên cõi hồng trần chẳng có mấy ý nghĩa. Những yếu tố quan trọng là xướng nó trong im lặng, không nghe thấy được và ở trong đầu; rồi, sau khi đã làm như thế, nghe nó vang dội tại đó và nhận ra rằng Âm Thanh do chính mình khởi xướng này—được thở ra từ một điểm tập trung nhất tâm—là một phần của Âm Thanh nguyên thuỷ khi nó thành hình như một Linh từ . Khi một người biểu đạt AUM một cách hoàn hảo, y khi ấy có thể xướng OM một cách hữu hiệu từ những điểm tập trung nhất tâm tiến triển dần, cho đến lần điểm đạo thứ ba. Khi ấy, hiệu quả của OM mạnh đến mức phàm ngã, với tư cách một bản sắc tách biệt, biến mất, linh hồn xuất hiện trong tất cả vinh quang của nó, và âm thanh mờ nhạt đầu tiên của Âm Thanh nguyên khởi chạm đến tai của điểm đạo đồ đã được biến hình. Đây là Tiếng nói được nhắc đến trong trình thuật Kinh Thánh về Cuộc Biến Hình. Tiếng nói này phán: “Đây là Con yêu dấu của ta.” Điểm đạo đồ ghi nhận sự kiện rằng y đã được Shamballa chấp nhận và đã có tiếp xúc đầu tiên với Đức Hành Tinh Thượng Đế, Đấng Chủ Lễ Điểm Đạo, Đấng Điểm đạo tại lần điểm đạo thứ ba, cũng như Đức Christ, Chân sư của mọi Chân sư, là Đấng Điểm đạo và Đấng Chủ Lễ Điểm Đạo tại hai lần điểm đạo đầu tiên. [Page 57] |
|
The Word, however, with which we are now dealing is not the Sacred Word itself, but a signal or sound of acceptance. It is translated in this Rule by the phrase: Accepted as a group. This refers to aggregates and blended combinations through which the Soul in relation to personalities, the Monad in relation to the Spiritual Triad, the Master in relation to His Ashram, and Shamballa in relation to the Hierarchy, can work, expressing plan in the initial stages of contact, and purpose in the final stages. Bear in mind that the analogy holds true all the way through . A personality is an aggregate of forms and of substantial lives which, when fused and blended, present a unified sumtotal, animated by desire or aspiration, by plan or purpose, and functioning in its place under the inspiration of a self-initiated inner program . Progress, from the larger angle and from the standpoint of Those Who see life in terms of ever enlarging Wholes, is from group to group. |
Tuy nhiên, Linh từ mà chúng ta hiện đang bàn đến không phải chính Linh từ Thiêng liêng, mà là một tín hiệu hay âm thanh của sự chấp nhận. Trong Quy luật này, nó được dịch bằng cụm từ: Được chấp nhận như một nhóm. Điều này chỉ các tập hợp và các phối hợp đã hòa trộn, qua đó Linh hồn trong tương quan với các phàm ngã, Chân thần trong tương quan với Tam Nguyên Tinh Thần, Chân sư trong tương quan với Ashram của Ngài, và Shamballa trong tương quan với Thánh Đoàn, có thể hoạt động, biểu đạt Thiên Cơ trong các giai đoạn tiếp xúc ban đầu, và Thiên Ý trong các giai đoạn cuối cùng. Hãy ghi nhớ rằng phép tương đồng đúng trên suốt toàn bộ tiến trình . Một phàm ngã là một tập hợp gồm các hình tướng và các sự sống bằng chất liệu; khi được dung hợp và hòa trộn, chúng trình hiện một tổng thể hợp nhất, được làm sinh động bởi dục vọng hay khát vọng, bởi Thiên Cơ hay Thiên Ý, và hoạt động ở vị trí của nó dưới cảm hứng của một chương trình nội tại do chính nó khởi xướng . Sự tiến bộ, nhìn từ góc độ rộng lớn hơn và từ lập trường của Các Đấng nhìn sự sống theo những Tổng Thể ngày càng mở rộng, là sự tiến từ nhóm này sang nhóm khác. |
|
This pronouncement, issuing from a point of tension, is the Word of the soul as it integrates with the threefold personality when that personality is consciously ready for such a fusion. The hold of the soul upon its instruments of expression, the network of the seven centers and the subsidiary centers, becomes intensified and energy pours in , forcing the acquiescent personality fully to express the ray type of the soul, and therefore subordinating the ray of the personality (and its three subsidiary rays) to the dominating soul energy. This first great integration is a fusion of force with energy. Here is a statement of deep import , embodying one of the first lessons an initiate has to master. It is one which can only be properly comprehended through life experience, subject to interpretation in the world of meaning. Some understanding of what this implies will come as the disciple masters the distinction between soul activity and the action of matter, between emotion and love, between the intelligent will and the mind, between plan and purpose. In so doing he acquires the capacity to find his point of tension at any given moment, and this growing capacity eventually brings him consciously to recognize group after [Page 58] group as units with which identification must be sought. |
Lời tuyên bố này, phát ra từ một điểm tập trung nhất tâm, là Linh từ của linh hồn khi nó tích hợp với phàm ngã tam phân, lúc phàm ngã ấy đã sẵn sàng một cách hữu thức cho sự dung hợp như thế. Sự nắm giữ của linh hồn đối với các công cụ biểu đạt của nó, mạng lưới bảy trung tâm và các trung tâm phụ, trở nên mạnh mẽ hơn và năng lượng tuôn vào , buộc phàm ngã thuận phục phải biểu đạt trọn vẹn loại cung của linh hồn, và do đó đặt cung phàm ngã cùng ba cung phụ của nó dưới năng lượng linh hồn đang chi phối. Sự tích hợp lớn lao đầu tiên này là một sự dung hợp của mãnh lực với năng lượng. Ở đây có một phát biểu mang ý nghĩa sâu xa , hàm chứa một trong những bài học đầu tiên mà một điểm đạo đồ phải nắm vững. Đó là điều chỉ có thể được thấu hiểu đúng đắn qua kinh nghiệm sống, dưới sự diễn giải trong Thế giới của ý nghĩa. Một phần thấu hiểu về điều này hàm ý gì sẽ đến khi đệ tử nắm vững sự phân biệt giữa hoạt động của linh hồn và tác động của vật chất, giữa cảm xúc và tình thương, giữa ý chí thông tuệ và thể trí, giữa Thiên Cơ và Thiên Ý. Khi làm như vậy, y đạt được khả năng tìm thấy điểm tập trung nhất tâm của mình vào bất cứ thời điểm nào, và khả năng đang tăng trưởng này cuối cùng đưa y đến chỗ nhận ra một cách hữu thức hết nhóm này [Page 58] đến nhóm khác như những đơn vị mà y phải tìm cách đồng hoá với. |
|
He finds his soul through the fusion of soul and personality; he finds his group through the absorption of this fusing soul-form with a Master’s group, and finally he is absorbed into the Master’s Ashram ; there he, in concert with his group brothers in that Ashram, is fused and blended with the Hierarchy and hears the extension of the Word, spoken originally by his soul: Accepted as a group . Later, much later, he participates at that august recognition which comes when the Voice issues forth—as annually it does—from the center at Shamballa and the seal is set on the acceptance of the Hierarchy, with all its new associates, by the Lord of the World. This acceptance involves those initiates of the third degree who have been integrated more closely into the hierarchical life than ever before . This is the signal to them (and to their Seniors Who have heard it year after year) that they are part of the instrument whose purpose is to fulfil the plan. Thus the great syntheses are slowly taking place. It has taken many aeons, for evolution (especially in the earlier stages) moves slowly. |
Y tìm thấy linh hồn mình qua sự dung hợp của linh hồn và phàm ngã; y tìm thấy nhóm của mình qua sự hấp thụ hình tướng-linh hồn đang dung hợp này vào nhóm của một Chân sư, và cuối cùng y được hấp thụ vào Ashram của Chân sư ; ở đó, cùng với các huynh đệ trong nhóm của y trong Ashram ấy, y được dung hợp và hòa trộn với Thánh Đoàn và nghe sự mở rộng của Linh từ, vốn ban đầu được linh hồn y xướng lên: Được chấp nhận như một nhóm . Về sau, rất lâu về sau, y tham dự vào sự công nhận uy nghiêm ấy, vốn xảy đến khi Tiếng nói phát ra—như hằng năm vẫn phát ra—từ trung tâm tại Shamballa, và dấu ấn được đặt lên sự chấp nhận Thánh Đoàn, cùng với tất cả các cộng sự mới của Thánh Đoàn, bởi Đức Chúa Tể Thế Giới. Sự chấp nhận này bao gồm những điểm đạo đồ cấp ba đã được tích hợp chặt chẽ hơn bao giờ hết vào sự sống Thánh Đoàn . Đây là tín hiệu cho họ, và cho các Bậc Trưởng Thượng của họ, những Đấng đã nghe nó năm này qua năm khác, rằng họ là một phần của công cụ có mục đích hoàn thành Thiên Cơ. Như vậy, các tổng hợp lớn lao đang từ từ diễn ra. Điều này đã mất nhiều đại kiếp, vì tiến hoá, đặc biệt trong các giai đoạn đầu, diễn tiến chậm chạp. |
|
In the post-war period and when the new structure of the coming world order is taking shape, the process will be speeded considerably ; this will not, however, be for a hundred years, which is but a brief moment in the eternal history of humanity. From synthesis to synthesis the life of God passes. First the synthesis of the atomic lives into ever more perfect forms until the three kingdoms of nature appear; then the synthesis in consciousness, enabling the human being to enter into the larger awareness of the Whole and finally to enter into that mysterious event which is the result of the effect of all preceding developments and to which we give the name of Identification. From the first identification, which is the higher correspondence of the stage of individualization, progressive absorption into ever larger wholes takes place, and each time the Word goes forth: Accepted as a group. |
Trong thời kỳ hậu chiến và khi cấu trúc mới của trật tự thế giới sắp đến đang thành hình, tiến trình này sẽ được thúc đẩy nhanh hơn đáng kể ; tuy nhiên, điều này sẽ chưa xảy ra trong một trăm năm nữa, vốn chỉ là một khoảnh khắc ngắn ngủi trong lịch sử vĩnh cửu của nhân loại. Từ tổng hợp này đến tổng hợp khác, sự sống của Thượng đế đi qua. Trước hết là sự tổng hợp các sự sống nguyên tử thành những hình tướng ngày càng hoàn hảo hơn cho đến khi ba giới trong tự nhiên xuất hiện; rồi đến sự tổng hợp trong tâm thức, giúp con người bước vào nhận thức rộng lớn hơn về Tổng Thể và cuối cùng bước vào biến cố huyền bí vốn là kết quả của tác động từ mọi phát triển trước đó, và chúng ta gọi biến cố ấy là Sự Đồng Nhất. Từ sự đồng nhất đầu tiên, vốn là tương ứng cao hơn của giai đoạn biệt ngã hóa, diễn ra sự hấp thụ tiến dần vào những tổng thể ngày càng rộng lớn hơn, và mỗi lần như vậy Linh từ lại phát ra: Được chấp nhận như một nhóm. |
|
Have I succeeded in giving you a somewhat wider vision of the significance of initiation in these brief expositions? [Page 59] Do you see more clearly the growing beauty of the Whole and the goodness of the Purpose and the wisdom of the Plan? Do you realize more deeply that beauty, goodness and wisdom are not qualities, as their inadequate nomenclature would imply, but are great facts in manifestation? Do you grasp the truth that they are not descriptive of Deity but are the names of Lives of a potency and activity of which men can as yet know nothing? |
Trong những trình bày ngắn gọn này, Tôi có thành công trong việc đem lại cho các bạn một tầm nhìn phần nào rộng lớn hơn về thâm nghĩa của điểm đạo chăng? [Page 59] Các bạn có thấy rõ hơn vẻ đẹp ngày càng tăng trưởng của Tổng Thể, sự thiện lành của Thiên Ý và minh triết của Thiên Cơ chăng? Các bạn có nhận ra sâu sắc hơn rằng vẻ đẹp, sự thiện lành và minh triết không phải là các phẩm tính, như tên gọi bất toàn của chúng có thể hàm ý, mà là những sự kiện lớn lao trong biểu hiện chăng? Các bạn có nắm bắt chân lý rằng chúng không mô tả Thượng đế, mà là danh xưng của những Sự Sống có quyền năng và hoạt động mà cho đến nay con người vẫn chưa thể biết gì chăng? |
|
Some understanding of this must slowly seep into the mind and consciousness of each disciple as that mind becomes irradiated by soul light in the earlier stages, and later responds to the impact of energy coming from the Spiritual Triad. Only when this is visioned, even if not understood, will the realization come to the struggling disciple that the words: |
Một phần thấu hiểu về điều này phải từ từ thấm vào thể trí và tâm thức của mỗi đệ tử khi thể trí ấy được chiếu rạng bởi ánh sáng linh hồn trong các giai đoạn đầu, và về sau đáp ứng với tác động của năng lượng đến từ Tam Nguyên Tinh Thần. Chỉ khi điều này được nhìn thấy, dù chưa được thấu hiểu, sự nhận biết mới đến với người đệ tử đang phấn đấu rằng những lời: |
|
2. Withdraw not now your application . You could not if you would; but add to it three great demands and forward move ( ← ) |
2. Bây giờ chớ rút lại lời thỉnh nguyện của ngươi . Ngươi không thể rút lại dù muốn; nhưng hãy thêm vào đó ba đòi hỏi lớn lao và tiến tới ( ← ) |
|
are a living command conditioning him whether he will or not. The inability to withdraw from the position taken is one of the first true results of hearing the Word spoken after passing the two tests . There is an inevitability in living the life of the Spirit which is at once its horror and its joy. I mean just that. The symbol or first expression of this (for all in the three worlds is but the symbol of an inner reality) is the driving urge to betterment which is the outstanding characteristic of the human animal. From discontent to discontent he passes, driven by an inner something which constantly reveals to him an enticing vision of that which is more desirable than his present state and experience. At first this is interpreted by him in terms of material welfare; then this divine discontent drives him into a phase of the struggle which is emotional in nature; he craves emotional satisfaction and later intellectual pursuits. All the time this struggle to attain something ever on ahead creates the instruments of attainment, gradually perfecting them until the threefold personality is ready for a vision of the soul. From that point of tension the urge and the struggle become more [Page 60] acute, until Rule One for Applicants is understood by him and he steps upon the Path. |
là một mệnh lệnh sống động đang tác động lên y dù y muốn hay không. Việc không thể rút lui khỏi vị trí đã đảm nhận là một trong những kết quả chân thực đầu tiên của việc nghe Linh từ được xướng lên sau khi vượt qua hai thử thách . Có một tính tất yếu trong việc sống đời sống của Tinh thần, và đó đồng thời là nỗi kinh hoàng lẫn niềm hoan hỉ của nó. Tôi muốn nói đúng như vậy. Biểu tượng hay biểu hiện đầu tiên của điều này, vì mọi sự trong ba cõi thấp chỉ là biểu tượng của một thực tại bên trong, là xung lực thúc đẩy hướng tới sự cải thiện, vốn là đặc tính nổi bật của con vật người. Từ bất mãn này sang bất mãn khác, y đi qua, bị thúc đẩy bởi một điều gì đó bên trong không ngừng mặc khải cho y một linh ảnh hấp dẫn về điều đáng mong muốn hơn trạng thái và kinh nghiệm hiện tại của y. Lúc đầu, y diễn giải điều này theo phúc lợi vật chất; rồi sự bất mãn thiêng liêng này thúc đẩy y bước vào một giai đoạn đấu tranh có bản chất cảm xúc; y khao khát sự thỏa mãn cảm xúc và về sau là các theo đuổi trí tuệ. Suốt thời gian ấy, cuộc đấu tranh để đạt đến một điều gì luôn ở phía trước tạo nên các công cụ để thành đạt, dần dần hoàn thiện chúng cho đến khi phàm ngã tam phân sẵn sàng cho một tầm nhìn về linh hồn. Từ điểm tập trung nhất tâm ấy, xung lực và cuộc đấu tranh trở nên [Page 60] gay gắt hơn, cho đến khi Quy luật Một dành cho những người thỉnh nguyện được y thấu hiểu và y bước lên Đường Đạo. |
|
Once he is an accepted disciple and has definitely undertaken the work in preparation for initiation, there is for him no turning back. He could not if he would, and the Ashram protects him. |
Một khi y là đệ tử được chấp nhận và đã dứt khoát đảm nhận công việc chuẩn bị cho điểm đạo, đối với y không còn sự quay lại. Y không thể quay lại dù muốn, và Ashram bảo vệ y. |
|
In this Rule for accepted disciples and initiates we are faced with a similar condition on a higher turn of the spiral, but with this difference (one which you can hardly grasp unless at the point where the Word goes forth to you): that the initiate stands alone in “isolated unity,” aware of his mysterious oneness with all that is . The urge which distinguished his progress in arriving at personality-soul fusion is transmuted into fixity of intention , ability to move forward into the clear cold light of the undimmed reason , free from all glamor and illusion and having now the power to voice the three demands . This he can now do consciously and by the use of the dynamic will instead of making “application in triple form” as was the case before . This distinction is vital and significant of tremendous growth and development . |
Trong Quy luật này dành cho các đệ tử được chấp nhận và các điểm đạo đồ, chúng ta đối diện với một tình trạng tương tự trên một vòng xoắn cao hơn, nhưng có khác biệt này, một khác biệt mà các bạn khó có thể nắm bắt trừ khi ở điểm mà Linh từ phát ra cho các bạn: rằng điểm đạo đồ đứng một mình trong “Hợp Nhất Cô Lập,” ý thức về sự hợp nhất huyền bí của y với tất cả những gì đang hiện hữu . Xung lực từng phân biệt bước tiến của y trong việc đạt tới sự dung hợp phàm ngã-linh hồn được chuyển hoá thành sự cố định của ý định , khả năng tiến tới trong ánh sáng lạnh trong của lý trí không bị lu mờ , thoát khỏi mọi ảo cảm và ảo tưởng, và nay có quyền năng xướng lên ba đòi hỏi . Giờ đây y có thể làm điều này một cách hữu thức và bằng việc sử dụng ý chí năng động thay vì đưa ra “lời thỉnh nguyện dưới hình thức tam phân” như trước kia . Sự phân biệt này là thiết yếu và biểu thị sự tăng trưởng cùng phát triển vô cùng lớn lao . |
|
The initiate has heard the Word which came forth to him when he was irrevocably committed to hierarchical purpose. He has heard the Voice from Shamballa just as he earlier heard the Voice of the Silence and the voice of his Master . Occult obedience gives place to enlightened will. He can now be trusted to walk and work alone because he is unalterably one with his group, with the Hierarchy, and finally with Shamballa. |
Điểm đạo đồ đã nghe Linh từ phát ra cho y khi y đã hiến mình không thể đảo ngược cho mục đích của Thánh Đoàn. Y đã nghe Tiếng nói từ Shamballa, cũng như trước kia y đã nghe Tiếng Nói của Im Lặng và tiếng nói của Chân sư mình . Sự vâng phục huyền bí nhường chỗ cho ý chí đã được soi sáng. Nay có thể tin cậy y để bước đi và làm việc một mình, vì y là một cách bất biến một với nhóm của mình, với Thánh Đoàn, và cuối cùng với Shamballa. |
|
The key to this whole Rule lies in the injunction to the initiate that he add to his application three demands, and only after they have been voiced and correctly expressed and motivated by the dynamic will , does the further injunction come that he move forward. What are these three demands, and by what right does the initiate make them? Hitherto the note of his expanding consciousness has been vision, effort, attainment and again vision . He has therefore been occupied with becoming aware of the field—an [Page 61] ever-increasing and expanding area—of the divine revelation. In terms of practical occultism, he is recognizing an ever widening sphere wherein he can serve with purpose and forward the Plan, once he has succeeded in identifying himself with that revelation . Until this revelation is an integral part of his life it is not possible for the initiate to comprehend the significance of these simple words. Identification is realization, plus esoteric experience, plus again an absorption into the Whole, and for all of this (as I have earlier pointed out) we have no terminology. Now a master of that [Page a master of that] which has been seen and appropriated, and being conscious of and sensing that which lies ahead, the disciple “stands on his occult rights and makes his clear demands.” |
Chìa khóa của toàn bộ Quy luật này nằm trong huấn lệnh dành cho điểm đạo đồ rằng y hãy thêm vào lời thỉnh nguyện của mình ba đòi hỏi, và chỉ sau khi chúng đã được xướng lên, được biểu đạt đúng đắn và được thúc đẩy bởi ý chí năng động , huấn lệnh kế tiếp mới đến, rằng y hãy tiến tới. Ba đòi hỏi này là gì, và bằng quyền gì điểm đạo đồ đưa ra chúng? Cho đến nay, âm điệu của tâm thức đang mở rộng của y đã là tầm nhìn, nỗ lực, thành đạt và lại tầm nhìn . Vì vậy, y đã bận tâm với việc trở nên ý thức về trường—một [Page 61] phạm vi ngày càng gia tăng và mở rộng—của sự mặc khải thiêng liêng. Theo huyền bí học thực hành, y đang nhận ra một khối cầu ngày càng rộng mở, trong đó y có thể phụng sự với mục đích và thúc đẩy Thiên Cơ tiến tới, một khi y đã thành công trong việc đồng hoá chính mình với sự mặc khải ấy . Cho đến khi sự mặc khải này là một phần toàn vẹn của đời sống y, điểm đạo đồ không thể thấu hiểu thâm nghĩa của những lời đơn giản này. Sự Đồng Nhất là sự chứng nghiệm, cộng với kinh nghiệm huyền bí, cộng thêm nữa là sự hấp thụ vào Tổng Thể, và đối với tất cả điều này, như Tôi đã chỉ ra trước đây, chúng ta không có thuật ngữ. Giờ đây là một bậc làm chủ điều [Page một bậc làm chủ điều ấy] đã được nhìn thấy và chiếm hữu, và ý thức về cũng như cảm nhận điều nằm phía trước, đệ tử “đứng trên các quyền huyền bí của mình và đưa ra những đòi hỏi rõ ràng của mình.” |
|
Three demands |
Ba đòi hỏi |
|
What these demands are can be ascertained by remembering that all that the initiate undergoes and all that he enacts [3] is the higher and esoteric correspondence of the triple manifestation of spirit-energy which distinguished the first and earliest phase of his unfoldmen t. That is the personality. I would like to call attention to the word “unfoldment,” for it is perhaps the most explicit and correct word to use anent the evolutionary process. There is no better in your language . The initiate has ever been. The divine Son of God has ever known himself for what he is. An initiate is not the result of the evolutionary process . He is the cause of the evolutionary process, and by means of it he perfects his vehicles of expression until he becomes initiate in the three worlds of consciousness and the three worlds of identification. |
Những đòi hỏi này là gì có thể được xác định bằng cách nhớ rằng tất cả những gì điểm đạo đồ trải qua và tất cả những gì y thực thi đều là tương ứng cao hơn và huyền bí của sự biểu hiện tam phân của tinh thần-năng lượng, vốn phân biệt giai đoạn đầu tiên và sơ khai nhất trong sự khai mở của y . Đó là phàm ngã. Tôi muốn lưu ý đến từ “sự khai mở,” vì có lẽ đó là từ rõ ràng và đúng đắn nhất để dùng liên quan đến tiến trình tiến hoá. Trong ngôn ngữ của các bạn, không có từ nào tốt hơn . Điểm đạo đồ vốn hằng hữu. Con thiêng liêng của Thượng đế vốn luôn biết chính mình là gì. Một điểm đạo đồ không phải là kết quả của tiến trình tiến hoá . Y là nguyên nhân của tiến trình tiến hoá, và nhờ tiến trình ấy, y hoàn thiện các vận cụ biểu đạt của mình cho đến khi y trở thành điểm đạo đồ trong ba cõi của tâm thức và ba cõi của sự đồng nhất. |
|
According to ray type this unfoldment proceeds, and each triple stage of the lower unfoldment makes possible later (in time and space ) the higher unfoldment in the world of the Spiritual Triad . What I am doing in these instructions is to indicate the relation between the threefold personality and the Spiritual Triad, linked and brought together by the antahkarana . Each of these three lower aspects has its own note and it is these notes which produce the sounding forth of the three demands which evoke response from the Spiritual Triad and thus reach the Monad in its high place of waiting in Shamballa. [Page 62] |
Tùy theo loại cung, sự khai mở này tiến hành, và mỗi giai đoạn tam phân của sự khai mở thấp khiến về sau, trong thời gian và không gian , sự khai mở cao hơn trong thế giới của Tam Nguyên Tinh Thần trở nên khả hữu . Điều Tôi đang làm trong những huấn thị này là chỉ ra mối liên hệ giữa phàm ngã tam phân và Tam Nguyên Tinh Thần, được nối kết và đưa lại với nhau bởi antahkarana . Mỗi phương diện thấp trong ba phương diện này có âm điệu riêng của nó, và chính các âm điệu này tạo ra việc xướng lên ba đòi hỏi, vốn gợi lên đáp ứng từ Tam Nguyên Tinh Thần và nhờ đó đạt tới Chân thần tại vị trí chờ đợi cao cả của nó trong Shamballa. [Page 62] |
|
In 1922, in my book Letters on Occult Meditation I laid the foundation in my first chapter for the more advanced teaching which I am now giving. There I was dealing with the alignment of the ego with the personality, and this was the first time that the entire theme of alignment was brought definitely into focus, for alignment is the first step towards fusion, and later towards the mysteries of identification. Let me quote: |
Năm 1922, trong sách Thư về Tham Thiền Huyền Bí Tôi đã đặt nền tảng trong chương đầu cho giáo huấn cao cấp hơn mà nay Tôi đang truyền dạy. Ở đó, Tôi bàn đến sự chỉnh hợp của chân ngã với phàm ngã, và đó là lần đầu tiên toàn bộ chủ đề chỉnh hợp được đưa vào trọng tâm một cách xác định, vì chỉnh hợp là bước đầu tiên hướng tới sự dung hợp, và về sau hướng tới các huyền nhiệm của sự đồng nhất. Hãy để Tôi trích dẫn: |
|
“As time progresses, and later with the aid of the Master, harmony of color and tone is produced (a synonymous matter) until eventually you will have the basic note of matter, the major third of the aligned personality, the dominant fifth of the ego, followed by the full chord of the Monad or Spirit. It is the dominant we seek at adeptship, and earlier the perfected third of the personality. During our various incarnations we strike and ring the changes on all the intervening notes, and sometimes our lives are major and sometimes minor, but always they tend to flexibility and greater beauty. In due time each note fits into its chord, the chord of the Spirit; each chord forms part of a phrase, the phrase or group to which the chord belongs; and the phrase goes to the completion of one seventh of the whole. The entire seven sections, then, complete the sonata of this solar system—a part of the threefold masterpiece of the Logos or God, the Master-Musician.” (Page 4). |
“Khi thời gian tiến triển, và về sau với sự trợ giúp của Chân sư, sự hài hòa của màu sắc và âm điệu được tạo nên, vốn là cùng một vấn đề, cho đến cuối cùng các bạn sẽ có âm điệu nền tảng của vật chất, quãng ba trưởng của phàm ngã đã chỉnh hợp, quãng năm chủ âm của chân ngã, tiếp theo là hợp âm trọn vẹn của Chân thần hay Tinh thần. Chính chủ âm ấy là điều chúng ta tìm kiếm ở cấp độ chân sư, và trước đó là quãng ba đã hoàn thiện của phàm ngã. Trong các lần lâm phàm khác nhau của mình, chúng ta đánh và làm vang lên những biến đổi trên mọi âm điệu trung gian, và đôi khi đời sống của chúng ta ở cung trưởng, đôi khi ở cung thứ, nhưng luôn luôn chúng hướng tới tính linh hoạt và vẻ đẹp lớn hơn. Đúng thời, mỗi âm điệu khớp vào hợp âm của nó, hợp âm của Tinh thần; mỗi hợp âm tạo thành một phần của một câu nhạc, câu nhạc hay nhóm mà hợp âm ấy thuộc về; và câu nhạc tiến tới việc hoàn tất một phần bảy của toàn thể. Khi ấy, toàn bộ bảy phần hoàn tất bản sonata của hệ mặt trời này—một phần của kiệt tác tam phân của Thượng đế hay Thượng Đế, Nhạc Sư Bậc Thầy.” (Trang 4). |
|
We now arrive at a point which it is difficult for disciples to grasp. The initiate or disciple has reached a point in his evolution in which triplicity gives place to duality, prior to the attainment of complete unity . Only two factors are of concern to him as he “stands at the midway point,” and these are Spirit and Matter. Their complete identification within his consciousness becomes his major goal, but only in reference to the whole creative process and not now in reference to the separated self. It is this thought which motivates the service of the initiate, and it is this concept of wholeness gradually creeping into the world consciousness [Page 63] which is indicating that humanity is on the verge of initiation. Therefore, it is the material aspect, “the perfected third of the Personality,” which makes possible the activity of the initiate as he sounds out his three demands . The “dominant fifth of the ego” makes itself heard at the third initiation, marking the attainment of at-one-ment, and this fades out at the fourth initiation. At that time the egoic vehicle, the causal body, disappears. Then only two divine aspects remain; the perfected, radiant, organized and active substance through which the initiate can work in full control, the matter aspect, and the dynamic life principle, the spirit aspect, with which that “substantial divine Reality” still awaits identification. It is this thought which underlies the initiate’s three demands which (according to the Rule earlier given to aspirants and disciples) must sound forth “across the desert, over all the seas and through the fires.” |
Giờ đây chúng ta đi đến một điểm mà các đệ tử khó nắm bắt. Điểm đạo đồ hay đệ tử đã đạt tới một điểm trong sự tiến hoá của y, nơi bộ ba nhường chỗ cho nhị nguyên, trước khi đạt tới sự hợp nhất trọn vẹn . Chỉ có hai yếu tố khiến y quan tâm khi y “đứng tại Điểm ở giữa,” và đó là Tinh thần và Vật chất. Sự đồng nhất trọn vẹn của chúng trong tâm thức y trở thành mục tiêu chính của y, nhưng chỉ liên quan đến toàn bộ tiến trình sáng tạo chứ không còn liên quan đến bản ngã tách biệt nữa. Chính tư tưởng này thúc đẩy sự phụng sự của điểm đạo đồ, và chính quan niệm về tính toàn thể này đang dần dần thấm vào tâm thức thế giới [Page 63] cho thấy nhân loại đang ở ngưỡng điểm đạo. Vì vậy, chính phương diện vật chất, “quãng ba đã hoàn thiện của Phàm ngã,” làm cho hoạt động của điểm đạo đồ trở nên khả hữu khi y xướng lên ba đòi hỏi của mình . “Quãng năm chủ âm của chân ngã” tự làm cho mình được nghe thấy tại lần điểm đạo thứ ba, đánh dấu sự đạt tới hiệp nhất, và điều này mờ dần tại lần điểm đạo thứ tư. Khi ấy, vận cụ chân ngã, thể nguyên nhân, biến mất. Bấy giờ chỉ còn lại hai phương diện thiêng liêng: chất liệu đã hoàn thiện, rạng rỡ, có tổ chức và linh hoạt, qua đó điểm đạo đồ có thể làm việc trong sự kiểm soát trọn vẹn, tức phương diện vật chất; và nguyên khí sự sống năng động, tức phương diện tinh thần, mà “Thực Tại thiêng liêng bằng chất liệu” ấy vẫn còn chờ được đồng nhất với. Chính tư tưởng này nằm dưới ba đòi hỏi của điểm đạo đồ, vốn, theo Quy luật trước đây đã được trao cho các người chí nguyện và đệ tử, phải vang lên “qua sa mạc, trên mọi biển cả và xuyên qua các ngọn lửa.” |
|
It is not possible for me explicitly to give an understanding of the nature of these demands. I can only give you certain symbolic phrases which, intuitively interpreted, will give you a clue. |
Tôi không thể truyền đạt một cách minh nhiên sự thấu hiểu về bản chất của các đòi hỏi này. Tôi chỉ có thể trao cho các bạn một vài cụm từ biểu tượng, mà nếu được diễn giải bằng trực giác, sẽ trao cho các bạn một manh mối. |
|
[Page 1] The first demand is made possible because “the desert life is passed; it flourished and it flowered, and then the drought arrived and man removed himself . That which had nourished and contained his life became an arid [4] waste and naught was left but bones and dust and a deep thirst which naught in sight could satisfy.” Yet to the initiate consciousness it remains clear that the desert land must be made anew to flourish like a rose and that his task is the restoration (by the distribution of the waters of life) of its pristine beauty, and not the beauty of its false flowering. He demands, therefore, upon the note of the lower aspect of the personality (I am talking in symbols), that this flowering forth should take place according to the Plan. This involves upon his part a vision of that plan, identification with the underlying purpose, and the ability—through the medium of the higher mind, which is the lowest aspect of the Spiritual Triad— to work in the world of ideas and to create those forms of thought which will aid in the materializing of the [Page 64] Plan in conformity with the Purpose . This is the creative work of thought-form building and that is why, we are told, that the first great demand “sounds forth within the world of God’s ideas and towards the desert, a long time left behind. Upon that great demand the initiate who has pledged himself to serve the world returns into that desert, bringing with him the seed and water for which the desert cries.” |
Đòi hỏi thứ nhất trở nên khả hữu bởi vì “đời sống sa mạc đã đi qua; nó đã nảy nở và trổ hoa, rồi hạn hán đến và con người tự rút lui . Điều đã nuôi dưỡng và chứa đựng sự sống của y trở thành một vùng hoang khô cằn, và chẳng còn lại gì ngoài xương, bụi, cùng một cơn khát sâu thẳm mà không điều gì trong tầm mắt có thể thỏa mãn.” Tuy nhiên, đối với tâm thức điểm đạo đồ, vẫn rõ ràng rằng vùng đất sa mạc phải được làm cho nở hoa trở lại như hoa hồng, và nhiệm vụ của y là phục hồi, bằng sự phân phối các dòng nước sự sống, vẻ đẹp nguyên sơ của nó, chứ không phải vẻ đẹp của sự nở hoa giả tạo của nó. Vì vậy, trên âm điệu của phương diện thấp của phàm ngã, Tôi đang nói bằng biểu tượng, y đòi hỏi rằng sự trổ hoa này phải diễn ra theo Thiên Cơ. Điều này về phía y bao hàm một tầm nhìn về Thiên Cơ ấy, sự đồng hoá với mục đích nằm bên dưới, và khả năng—thông qua phương tiện của Thượng trí, vốn là phương diện thấp nhất của Tam Nguyên Tinh Thần— làm việc trong thế giới ý tưởng và tạo ra những hình tư tưởng sẽ hỗ trợ việc hiện hình của [Page 64] Thiên Cơ phù hợp với Thiên Ý . Đây là công việc sáng tạo của việc kiến tạo hình tư tưởng, và đó là lý do vì sao chúng ta được dạy rằng đòi hỏi lớn lao thứ nhất “vang lên trong thế giới các ý tưởng của Thượng đế và hướng về sa mạc đã bị bỏ lại phía sau từ lâu. Trên đòi hỏi lớn lao ấy, điểm đạo đồ đã tự nguyện phụng sự thế giới trở lại sa mạc đó, mang theo hạt giống và nước mà sa mạc đang kêu cầu.” |
|
[Page 2] The second demand is related to the earlier cry of the disciple , which was sounded forth “over the seas.” It refers to the world of glamor in which humanity struggles, and to the emotional world in which mankind is sunk as if drowning in the ocean. We are told in the Bible, and the thought is based on information to be found in the Archives of the Masters, that “there shall be no more sea”; I told you that a time comes when the initiate knows that the astral plane no longer exists. For ever it has vanished and has gone. But when the initiate has freed himself from the realm of delusion of fog, of mist and of glamor, and stands in the “clear cold light” of the buddhic or intuitional plane (the second or middle aspect of the Spiritual Triad), he arrives at a great and basic realization. He knows that he must return (if such a foolish word can suffice) to the “seas” which he has left behind, and there dissipate the glamor . But he works now from “the air above and in the full light of day.” No longer does he struggle in the waves or sink immersed in the deep waters. Above the sea he hovers within the ocean of light, and pours that light into the depths. He carries thus the waters to the desert and the light divine into the world of fog. |
Đòi hỏi thứ hai liên hệ với tiếng kêu trước kia của đệ tử , vốn đã được xướng lên “trên các biển cả.” Nó chỉ thế giới ảo cảm trong đó nhân loại đang vật lộn, và thế giới cảm xúc trong đó loài người bị chìm đắm như thể đang chết đuối trong đại dương. Trong Kinh Thánh, chúng ta được dạy, và tư tưởng này dựa trên thông tin có thể tìm thấy trong Văn khố của các Chân sư, rằng “sẽ không còn biển nữa”; Tôi đã nói với các bạn rằng sẽ đến một thời điểm khi điểm đạo đồ biết rằng cõi cảm dục không còn tồn tại. Nó đã vĩnh viễn biến mất và qua đi. Nhưng khi điểm đạo đồ đã giải thoát mình khỏi cõi giới của mê lầm, của sương mù, của hơi nước và của ảo cảm, và đứng trong “ánh sáng lạnh trong” của cõi Bồ đề hay trực giác, tức phương diện thứ hai hay trung gian của Tam Nguyên Tinh Thần, y đạt tới một chứng nghiệm lớn lao và nền tảng. Y biết rằng y phải trở lại, nếu một từ ngớ ngẩn như thế có thể đủ dùng, với “các biển cả” mà y đã bỏ lại phía sau, và tại đó làm tiêu tan ảo cảm . Nhưng giờ đây y làm việc từ “không khí bên trên và trong ánh sáng trọn vẹn của ban ngày.” Y không còn vật lộn trong sóng hay chìm ngập trong những vùng nước sâu. Bên trên biển cả, y lơ lửng trong đại dương ánh sáng, và đổ ánh sáng ấy vào các tầng sâu. Như vậy, y mang các dòng nước đến sa mạc và ánh sáng thiêng liêng vào thế giới sương mù. |
|
Yet he never leaves the place of identification, and all that he now does is carried forward from the levels attained at any particular initiation. All that he does “upon the desert, and over the seas” is undertaken through the power of thought , which directs the needed energy and certain destined and chosen forces so that the Plan (let me repeat myself) may go forward according to divine purpose through the power of the dynamic spiritual will . When you can [Page 65] appreciate that the initiate of high degree works with monadic energy and not soul force, you can understand why he finds it necessary ever to work behind the scenes . He works with the soul aspect and through the power of monadic energy, using the antahkarana as a distributing agency. The disciples and initiates of the first two degrees work with soul force and through the medium of the centers . The personality works with forces. |
Tuy nhiên, y không bao giờ rời khỏi nơi chốn của sự đồng nhất, và tất cả những gì y làm bây giờ đều được tiến hành từ các cấp độ đã đạt tới tại bất cứ lần điểm đạo đặc thù nào. Tất cả những gì y làm “trên sa mạc, và trên các biển cả” đều được thực hiện nhờ quyền năng của tư tưởng , vốn hướng dẫn năng lượng cần thiết và những mãnh lực nhất định, đã được định sẵn và lựa chọn, để Thiên Cơ, cho phép Tôi lặp lại, có thể tiến tới theo Thiên Ý nhờ quyền năng của ý chí tinh thần năng động . Khi các bạn có thể [Page 65] nhận thức rằng điểm đạo đồ cấp cao làm việc với năng lượng chân thần chứ không phải mãnh lực linh hồn, các bạn có thể thấu hiểu vì sao y thấy cần phải luôn làm việc phía sau hậu trường . Y làm việc với phương diện linh hồn và nhờ quyền năng của năng lượng chân thần, sử dụng antahkarana như một cơ quan phân phối. Các đệ tử và điểm đạo đồ của hai cấp đầu làm việc với mãnh lực linh hồn và qua phương tiện của các trung tâm . Phàm ngã làm việc với các mãnh lực. |
|
[Page 3] The third great demand has in it a different implication, and sounds forth, we are told, “through the fires.” In this solar system there is no evading [5] the fire. It is found at all levels of divine expression as we well know from our study of the three fires—fire by friction, solar fire and electric fire, with their differentiations, the forty-nine fires—of the seven planes. Always, therefore, whether it is the cry of the disciple or the demand of the initiate, the sound goes forth “through the fire, to the fire, and from the fire.” Of this technique, underlying the potent demand, there is little that I may say. From the highest plane of the spiritual will, what is, technically called “the atmic plane,” the demand goes forth and the result of that demand will work out on mental levels, just as the earlier two demands worked out on the physical and astral levels . I would interject here that even though there is no astral plane, from the standpoint of the Master, yet thousands of millions recognize it and labor in its delusive sphere and are there aided by the initiated disciple working from the higher corresponding levels. This is true of all the planetary work, whether accomplished by initiates and Masters, working directly in the three worlds, or from higher levels, as work the Nirmanakayas (the creative Contemplatives of the planet), or from Shamballa from the Council Chamber of the Lord of the World. All the efforts of the Hierarchy or of the “conditioning Lives” (as They are sometimes called) of Shamballa are dedicated to the furthering of the evolutionary plan which will finally embody divine purpose. I keep emphasizing this distinction between plan and purpose with deliberation [Page 66] because it indicates the next phase of the working of the intelligent will in the consciousness of humanity. |
Đòi hỏi lớn lao thứ ba có trong nó một hàm ý khác, và chúng ta được dạy rằng nó vang lên “xuyên qua các ngọn lửa.” Trong hệ mặt trời này, không thể né tránh lửa. Nó được tìm thấy ở mọi cấp độ biểu đạt thiêng liêng, như chúng ta biết rõ từ việc nghiên cứu ba loại lửa—Lửa ma sát, Lửa Thái dương và Lửa Điện, cùng các biến phân của chúng, bốn mươi chín ngọn lửa—thuộc bảy cõi. Vì vậy, luôn luôn, dù là tiếng kêu của đệ tử hay đòi hỏi của điểm đạo đồ, âm thanh đều phát ra “xuyên qua lửa, đến với lửa, và từ lửa.” Về kỹ thuật này, nằm bên dưới đòi hỏi đầy quyền năng, Tôi có thể nói rất ít. Từ cõi cao nhất của ý chí tinh thần, về mặt kỹ thuật được gọi là “cõi atma,” đòi hỏi phát ra và kết quả của đòi hỏi ấy sẽ thể hiện trên các cấp độ trí tuệ, cũng như hai đòi hỏi trước đã thể hiện trên các cấp độ hồng trần và cảm dục . Ở đây Tôi muốn xen vào rằng, mặc dù theo lập trường của Chân sư thì không có cõi cảm dục, nhưng hàng nghìn triệu người vẫn nhận biết nó, lao động trong khối cầu huyễn hoặc của nó và tại đó được trợ giúp bởi vị đệ tử đã được điểm đạo đang làm việc từ các cấp độ tương ứng cao hơn. Điều này đúng với toàn bộ công việc hành tinh, dù được các điểm đạo đồ và Chân sư hoàn thành khi làm việc trực tiếp trong ba cõi thấp, hay từ các cấp độ cao hơn như công việc của các Ứng Thân, tức các Đấng Chiêm Ngưỡng sáng tạo của hành tinh, hoặc từ Shamballa, từ Phòng Hội Đồng của Đức Chúa Tể Thế Giới. Mọi nỗ lực của Thánh Đoàn hay của các “Sự Sống định hình,” như đôi khi Các Ngài được gọi, thuộc Shamballa, đều được hiến dâng cho việc thúc đẩy Thiên Cơ tiến hoá vốn cuối cùng sẽ hiện thân Thiên Ý. Tôi cứ nhấn mạnh sự phân biệt giữa Thiên Cơ và Thiên Ý một cách có chủ ý [Page 66] bởi vì nó chỉ ra giai đoạn kế tiếp trong hoạt động của ý chí thông tuệ trong tâm thức của nhân loại. |
|
More anent these three demands I may not imply. I have told you much, had you the awakened intuition to read the significance of some of my comments. These demands refer not only to the evolution of humanity, but to all forms of life within the consciousness of the planetary Logos . The directing mind of the initiate indicates within the three worlds the goal of attainment. |
Tôi không thể hàm ý thêm gì về ba đòi hỏi này. Tôi đã nói với các bạn nhiều điều, nếu các bạn có trực giác đã thức tỉnh để đọc được thâm nghĩa trong một số nhận xét của Tôi. Những đòi hỏi này không chỉ liên quan đến sự tiến hoá của nhân loại, mà còn đến mọi hình thức sự sống trong tâm thức của Hành Tinh Thượng đế . Thể trí định hướng của điểm đạo đồ chỉ ra trong ba cõi thấp mục tiêu cần đạt. |
|
3. Let there be no recollection and yet let memory rule. ( ← ) |
3. Hãy để không còn sự hồi tưởng, nhưng hãy để ký ức cai quản. ( ← ) |
|
This is not a contradictory statement. Perhaps I can convey to you the right idea as follows : The initiate wastes no time in looking backward towards the lessons learned ; he works from the angle of developed habit , instinctively doing the right and needed thing. Instinctual response to environing forms builds, as we well know, patterns of behavior, of conduct and of reaction. This establishes what might be called unconscious memory, and this memory rules without any effort at recollection. |
Đây không phải là một phát biểu mâu thuẫn. Có lẽ Tôi có thể truyền đạt cho bạn ý tưởng đúng đắn như sau : Điểm đạo đồ không lãng phí thời gian nhìn lui về những bài học đã học ; y làm việc từ góc độ của thói quen đã phát triển , theo bản năng làm điều đúng đắn và cần thiết. Như chúng ta đều biết, sự đáp ứng theo bản năng đối với các hình tướng bao quanh xây dựng nên những mô hình hành vi, ứng xử và phản ứng. Điều này thiết lập cái có thể gọi là ký ức vô thức, và ký ức này chi phối mà không cần bất cứ nỗ lực hồi tưởng nào. |
|
The habit of goodness, or right reaction and of instinctual understanding is distinctive of the trained initiate . He has no need to remember rules, theories, planes or activities . These are as much an established part of his nature as the instinct of self-preservation is an instinctive part of the equipment of a normal human being. Think this out and endeavor to build up the right spiritual habits. In this way the Master wastes no time on soul or personal plans . He has the habit—based on divine instinctual memory—of right activity, right understanding and right purpose. He needs not to recollect. |
Chính thói quen hướng thiện, hay phản ứng đúng đắn và sự thấu hiểu theo bản năng, là nét đặc trưng của điểm đạo đồ đã được rèn luyện . Y không cần phải nhớ các quy luật, lý thuyết, các cõi hay các hoạt động . Những điều này đã trở thành một phần được thiết lập trong bản chất của y, cũng như bản năng tự bảo tồn là một phần bản năng trong trang bị của một con người bình thường. Hãy suy ngẫm kỹ điều này và cố gắng xây dựng những thói quen tinh thần đúng đắn. Bằng cách này, Chân sư không lãng phí thời gian vào các kế hoạch của linh hồn hay kế hoạch cá nhân . Ngài có thói quen — dựa trên ký ức bản năng thiêng liêng — về hoạt động đúng đắn, sự thấu hiểu đúng đắn và mục đích đúng đắn. Ngài không cần hồi tưởng. |
|
4. Work from the point of all that is within the content of the group’s united life . ( ← ) |
4. Hãy làm việc từ điểm của tất cả những gì nằm trong nội dung của sự sống hợp nhất của nhóm. ( ← ) |
|
This is not, as might appear, the effort to do the work for humanity as it is planned or desired by the group with which the initiate finds himself associated. The mode of working covers an earlier phase and one in which the [Page 67] accepted disciple learns much. First, he finds a group upon the physical plane whose ideals and plans for service conform to his idea of correct activity , and with this group he affiliates himself, works, learns, and in learning, suffers much. Later he finds his way into a Master’s Ashram, where his effort is increasingly to learn to use the will in carrying out the Plan and to accommodate himself to the group methods and plans, working under the law of occult obedience for the welfare of humanity . |
Điều này không phải, như thoạt nhìn có vẻ như vậy, là nỗ lực thực hiện công việc cho nhân loại như nhóm mà điểm đạo đồ thấy mình liên kết đã hoạch định hoặc mong muốn. Phương thức làm việc này bao hàm một giai đoạn trước đó, và là giai đoạn mà [Page 67] đệ tử được chấp nhận học hỏi rất nhiều. Trước hết, y tìm thấy một nhóm trên cõi hồng trần có các lý tưởng và kế hoạch phụng sự phù hợp với ý tưởng của y về hoạt động đúng đắn , rồi y liên kết với nhóm ấy, làm việc, học hỏi, và trong khi học hỏi, chịu nhiều đau khổ. Về sau y tìm được đường vào một ashram của Chân sư, nơi nỗ lực của y ngày càng là học cách sử dụng ý chí trong việc thực hiện Thiên Cơ và thích ứng với các phương pháp cùng kế hoạch của nhóm, làm việc dưới định luật vâng phục huyền bí vì phúc lợi của nhân loại . |
|
The initiate, however, works in neither of these ways, though he has acquired the habit of right contact with organizations in the three worlds and right cooperation with the Hierarchy. He works now under the inspiration of and identification with the life aspect—the united life aspect of his ray group and of all groups. This means that the significance of the involutionary life and the evolutionary life is fully understood by him. His service is invoked by the group or groups needing his help . His response is an occult evocation given in unison with the group of servers with which he is affiliated on the inner side. This is a very different thing to the mode of service generally understood. |
Tuy nhiên, điểm đạo đồ không làm việc theo bất cứ cách nào trong hai cách này, dù y đã đạt được thói quen tiếp xúc đúng đắn với các tổ chức trong ba cõi giới và hợp tác đúng đắn với Thánh Đoàn. Giờ đây, y làm việc dưới cảm hứng từ và trong sự đồng hóa với phương diện sự sống — phương diện sự sống hợp nhất của nhóm cung của y và của mọi nhóm. Điều này có nghĩa là y thấu hiểu trọn vẹn thâm nghĩa của sự sống giáng hạ tiến hoá và sự sống thăng thượng tiến hoá. Sự phụng sự của y được nhóm hoặc các nhóm cần sự trợ giúp của y khẩn cầu . Sự đáp ứng của y là một sự gợi lên huyền bí, được đưa ra trong sự hòa hợp với nhóm những người phụng sự mà y liên kết ở phía bên trong. Điều này rất khác với phương thức phụng sự thường được hiểu. |
[1] không tả được, không nói lên được; = too great to be described in words SYN indescribable; không thể nói ra được, huý kỵ
[2] Cái liếc; thành kiến, quan điểm có định kiến
[3] (chính trị) ban hành (đạo luật); đóng; diễn (vai kịch… trên (sân khấu), trong đời sống)
[4] khô cằn (đất)
[5] tránh; tránh khỏi (sự tấn công, sự lùng bắt, âm mưu, đòn, địch, vật chướng ngại…)