Click vào số trang trong ngoặc [ ] để đến phần văn bản liên quan. Click Tóm Tắt để xem tóm tắt của bình giảng.
|
COMMENTARY ON RULE III |
BÌNH GIẢNG VỀ QUY LUẬT III |
|
Rule III: First Sentence |
Quy Luật III: Câu Thứ Nhất |
|
“Dual the moving forward The door is left behind. That is a happening of the past. (R&I 67-73.) |
“Sự tiến tới là song đôi. Cánh cửa đã được bỏ lại phía sau. Đó là một sự việc thuộc quá khứ. (R&I 67-73.) |
|
The Sentence |
Câu văn |
|
A. Dual the moving forward. The door is left behind. That is a happening of the past. |
A. Sự tiến tới là song đôi. Cánh cửa đã được bỏ lại phía sau. Đó là một sự việc thuộc quá khứ. |
|
1. Along the Path of Initiation, the soul and personality move forward as a dual unit. |
1. Dọc theo Con Đường Điểm Đạo, linh hồn và phàm ngã cùng tiến tới như một đơn vị kép. |
|
2. Neither can move forward by itself alone. |
2. Không bên nào có thể tự mình tiến tới một cách đơn độc. |
|
3. The personality needs the aid of the supervisory Solar Angel, and cannot move into the higher worlds (as rapidly) without the help of this Angel—at least in this planetary chain. Yes, individualization and subsequent spiritual development would be possible (as they was on the Moon Chain) without the intervention of the Solar Angel, but the process would be extremely long in its unfoldment—millions of years longer. In this planetary chain and in this round, another method of individualization and spiritual advancement is occurring and it is a great experiment—an experiment involving the intervention of the Solar Angel into the life of the human monad, and the supervision by that Angel of the threefold expression of the human monad in the three lower worlds. |
3. Phàm ngã cần sự trợ giúp của Thái dương Thiên Thần giám hộ, và không thể đi vào các thế giới cao hơn nhanh chóng như vậy nếu không có sự trợ giúp của vị Thiên Thần này—ít nhất là trong dãy hành tinh này. Đúng vậy, biệt ngã hóa và sự phát triển tinh thần tiếp theo vẫn có thể xảy ra, như đã từng xảy ra trên Dãy Mặt Trăng, mà không cần sự can thiệp của Thái dương Thiên Thần, nhưng tiến trình ấy sẽ khai mở vô cùng lâu dài—lâu hơn hàng triệu năm. Trong dãy hành tinh này và trong cuộc tuần hoàn này, một phương pháp khác của biệt ngã hóa và thăng tiến tinh thần đang diễn ra, và đó là một cuộc thử nghiệm lớn—một cuộc thử nghiệm liên quan đến sự can thiệp của Thái dương Thiên Thần vào đời sống của chân thần nhân loại, và sự giám hộ của vị Thiên Thần ấy đối với biểu hiện tam phân của chân thần nhân loại trong ba cõi thấp. |
|
4. The Solar Angel, for its part, is not (but only apparently) moving forward along a line of spiritual advancement commensurate with its established level of development. The Solar Angel has already taken all possible human initiations. The relationship of the Solar Angel with the human monad and with the personality of that monad, is strictly one of service—though it cannot be said that the Solar Angel does not in some way advance through sacrifice. In any case, unless the personality-man moves forward, the service of the Solar Angel does not reach fruition. If there were no possible advancement for the human, the Solar Angel would have no reason for its attention to the lunar man in the three lower worlds. Thus, “Dual the moving forward”. |
4. Về phần mình, Thái dương Thiên Thần không thực sự tiến tới, mà chỉ có vẻ như vậy, theo một tuyến thăng tiến tinh thần tương xứng với cấp độ phát triển đã đạt được của vị ấy. Thái dương Thiên Thần đã trải qua mọi cuộc điểm đạo nhân loại có thể có. Mối quan hệ của Thái dương Thiên Thần với chân thần nhân loại và với phàm ngã của chân thần ấy, hoàn toàn là mối quan hệ phụng sự—dù không thể nói rằng Thái dương Thiên Thần không tiến bộ theo một cách nào đó nhờ hi sinh. Dù sao đi nữa, nếu phàm nhân không tiến tới, thì sự phụng sự của Thái dương Thiên Thần sẽ không đạt đến chỗ viên mãn. Nếu con người không có khả năng thăng tiến, Thái dương Thiên Thần sẽ không có lý do gì để chú tâm đến con người thái âm trong ba cõi thấp. Vì vậy, “Sự tiến tới là song đôi”. |
|
5. It is interesting to study the Table of Creative Hierarchies on pages 34 and 35 of Esoteric Astrology. One sees that the Fifth Creative Hierarchy (the Hierarchy of Solar Angels), is placed below the Fourth Creative Hierarchy (the Hierarchy of Human Monads called “The Initiates”). This is remarkable, as the members of the Fifth Creative Hierarchy have already passed through and beyond all stages of human initiation, and have been breathed forth from Sirius as highly advanced beings who have come to serve the Fourth Creative Hierarchy (just as many of us will do in the future when we ‘return’ {will it be in the third solar system?} to serve those who are now members of the Animal Kingdom.) |
5. Thật thú vị khi nghiên cứu Bảng các Huyền Giai Sáng Tạo ở trang 34 và 35 của Chiêm Tinh Học Nội Môn. Ta thấy rằng Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm, tức Huyền Giai của các Thái dương Thiên Thần, được đặt dưới Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, tức Huyền Giai của các Chân Thần Nhân Loại được gọi là “Các Điểm Đạo Đồ”. Điều này thật đáng chú ý, vì các thành viên của Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm đã vượt qua xuyên suốt và vượt ngoài mọi giai đoạn điểm đạo nhân loại, và đã được thở ra từ Thiên Lang như những thực thể tiến hóa cao, đến để phụng sự Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, cũng như nhiều người trong chúng ta sẽ làm trong tương lai khi chúng ta ‘trở lại’ {liệu có phải trong hệ mặt trời thứ ba không?} để phụng sự những vị hiện nay là thành viên của giới động vật.) |
|
6. The arrangement of these Creative Hierarchies makes one think of the saying of the Christ which I will paraphrase as: ‘Let him who would be first among you be the servant of all’; or—“the first shall be last and the last shall be first”. Something of the scope of the sacrifice of these Solar Angels or “Hearts of Fiery Love” must be apparent in their (partial) ‘descent’ into the lower worlds, and their participation in the life of a Creative Hierarchy (ours) the nature of which they long ago transcended. |
6. Cách sắp xếp các Huyền Giai Sáng Tạo này khiến ta nghĩ đến lời của Đức Christ, mà tôi xin diễn ý như sau: ‘Ai muốn đứng đầu trong các con thì hãy làm người phụng sự tất cả’; hoặc—“người đầu sẽ thành người cuối, và người cuối sẽ thành người đầu”. Một phần nào tầm vóc hi sinh của các Thái dương Thiên Thần này, hay “Những Trái Tim của Tình Thương Rực Lửa”, hẳn phải trở nên rõ ràng qua sự ‘giáng xuống’ phần nào của các vị vào các thế giới thấp, và qua việc các vị tham dự vào đời sống của một Huyền Giai Sáng Tạo, tức Huyền Giai của chúng ta, có bản chất mà các vị đã vượt lên từ lâu. |
|
7. But such is the nature of divine love that, as it becomes a motivating force in the lives of great beings, it impels them to do that which the selfishly-mentally oriented human being cannot conceive as rewarding. There is, however, something in parental love which is a dim reflection of this supremely loving attitude. Hence the association of the Solar Angels with the cosmic buddhic force of the Pleiades—the “Mother”. |
7. Nhưng bản chất của tình thương thiêng liêng là như vậy: khi nó trở thành mãnh lực thúc đẩy trong đời sống của các thực thể vĩ đại, nó thôi thúc các vị làm điều mà con người định hướng trí tuệ một cách ích kỷ không thể quan niệm là đáng giá. Tuy nhiên, trong tình thương của cha mẹ có một phản ánh mờ nhạt của thái độ yêu thương tối thượng này. Do đó có sự liên hệ của các Thái dương Thiên Thần với mãnh lực Bồ đề vũ trụ của chòm Thất Nữ—“Người Mẹ”. |
|
8. What does it mean to “move forward”? Presumably, it means exposure to ever higher levels of vibration and the ability to register that vibration and benefit from it. At least, it would mean this for the advancing personality-man. For the Solar Angel, it might mean the growth into ever-greater profundity of love-wisdom. |
8. “Tiến tới” nghĩa là gì? Có lẽ nó nghĩa là được phơi mở trước những cấp độ rung động ngày càng cao hơn, và có khả năng ghi nhận rung động ấy cũng như hưởng lợi từ đó. Ít nhất, điều này đúng với phàm nhân đang tiến hóa. Đối với Thái dương Thiên Thần, nó có thể hàm ý sự tăng trưởng vào chiều sâu ngày càng lớn của Bác Ái – Minh Triết. |
|
9. Another way to conceive this dual moving forward is that both aspects of the man—his personality nature and his own soul nature develop simultaneously. There are two dualities here—a) man and Solar Angel, and man as personality and soul. |
9. Một cách khác để quan niệm sự tiến tới kép này là cả hai phương diện của con người—bản chất phàm ngã và bản chất linh hồn của chính y—cùng phát triển đồng thời. Ở đây có hai nhị nguyên: a) con người và Thái dương Thiên Thần, và con người như phàm ngã và linh hồn. |
|
10. The cooperative nature of this forward movement should be emphasized. Speaking for the man (as who, in fact, can speak for the Solar Angel on its own level?) there is a sense of forward movement in both aspects of his nature. The personality nature is heightened and refined, and becomes ever more capable. At the same time, the man has the distinct sense of inward growth and of becoming something more than his personality instrument. A rich inner life becomes the dominating factor in his consciousness; soul becomes a reality—a greater reality even than the personality to which he has long been accustomed. Contacts of a higher, subtler, more inclusive nature dawn upon him, and there is a definite sense of progression into livingness. |
10. Cần nhấn mạnh bản chất hợp tác của chuyển động tiến tới này. Nói theo lập trường của con người, vì thật ra ai có thể nói thay cho Thái dương Thiên Thần trên cấp độ riêng của vị ấy?, có một cảm thức tiến tới trong cả hai phương diện của bản chất y. Bản chất phàm ngã được nâng cao và tinh luyện, và ngày càng trở nên hữu năng hơn. Đồng thời, con người có cảm thức rõ rệt về sự tăng trưởng nội tâm và về việc trở thành một điều gì đó hơn là công cụ phàm ngã của mình. Một đời sống nội tâm phong phú trở thành yếu tố chi phối trong tâm thức y; linh hồn trở thành một thực tại—thậm chí là một thực tại lớn lao hơn phàm ngã mà y đã quen thuộc từ lâu. Những tiếp xúc có bản chất cao hơn, tinh tế hơn, bao gồm hơn bắt đầu ló rạng nơi y, và có một cảm thức rõ rệt về sự tiến triển vào sinh động tính. |
|
11. I wonder how many of us have the sense of being in collaboration or partnership with the soul (i.e., in this case, the Solar Angel). Soul is a term with so many meanings that one must carefully differentiate when speaking of the human soul, the transcendent soul of the spiritual triad, the transcendental soul of the monad, and the soul or consciousness of that relatively great entity, the Solar Angel). Apparent divisions of soul are simply levels of consciousness. |
11. Tôi tự hỏi có bao nhiêu người trong chúng ta có cảm thức đang cộng tác hay hợp tác với linh hồn, tức trong trường hợp này là Thái dương Thiên Thần. Linh hồn là một thuật ngữ có rất nhiều nghĩa, đến nỗi người ta phải phân biệt cẩn thận khi nói về linh hồn nhân loại, linh hồn siêu việt của Tam Nguyên Tinh Thần, linh hồn siêu nghiệm của chân thần, và linh hồn hay tâm thức của thực thể tương đối vĩ đại ấy, Thái dương Thiên Thần. Những phân chia bề ngoài của linh hồn chỉ đơn giản là các cấp độ tâm thức. |
|
12. As we advance upon the Path of Discipleship/Initiation, do we have the sense that we are doing it “all ourselves”, or that a great supervisory being is working with and through us? I am thinking of the question, often addressed to oneself, “What shall I do about this?”. What would be the difference were one to ask, “What shall we do about this?”—the we being the man and his partner the Solar Angel. When people use the so-called “royal-we”, often, they are either kings or arrogant or both. But the “royal-we” can be used to indicate a dual consciousness of human soul and solar angelic soul—even though the full nature of the consciousness of the Solar Angel cannot be fathomed by the personal man, even at his highest and best. |
12. Khi tiến bước trên Con Đường Đệ Tử/Điểm Đạo, chúng ta có cảm thức rằng mình đang làm “tất cả một mình”, hay rằng một thực thể giám hộ vĩ đại đang làm việc với chúng ta và xuyên qua chúng ta? Tôi đang nghĩ đến câu hỏi thường được tự đặt ra cho mình: “Tôi sẽ làm gì về việc này?”. Sẽ khác biệt ra sao nếu người ta hỏi: “Chúng ta sẽ làm gì về việc này?”—“chúng ta” ở đây là con người và bạn đồng hành của y, Thái dương Thiên Thần. Khi người ta dùng cái gọi là “chúng ta-vương giả”, họ thường hoặc là vua chúa, hoặc là kiêu ngạo, hoặc cả hai. Nhưng “chúng ta-vương giả” có thể được dùng để chỉ một tâm thức kép của linh hồn nhân loại và linh hồn thái dương thiên thần—dù bản chất trọn vẹn của tâm thức Thái dương Thiên Thần không thể được phàm nhân thấu hiểu, ngay cả ở mức cao nhất và tốt đẹp nhất của y. |
|
13. Indeed, as we tread the Path and the “burning ground”, we travel with a great collaborator who is, in a way, “nearer than hands and feet”. This “inner god” (a kind of “God immanent”) is ready to offer counsel and ‘energic-advice’ (energy flows of a certain quality, which translate into human consciousness as advice and counsel). |
13. Thật vậy, khi chúng ta bước trên Con Đường và qua “vùng đất cháy”, chúng ta du hành cùng một cộng sự vĩ đại, vị ấy, theo một nghĩa nào đó, “gần hơn cả tay chân”. “Vị thần nội tại” này, một dạng “Thượng đế nội tại”, sẵn sàng ban lời khuyên và ‘chỉ dẫn-năng lượng’, tức những dòng năng lượng thuộc một phẩm tính nhất định, được chuyển dịch vào tâm thức nhân loại như lời khuyên và sự chỉ dẫn. |
|
14. A great intimacy is possible between personal man and this “Higher Self” (the Angel in this instance, not his own monad—also a kind of Higher Self). In all things the Angel, having run the gamut of human experience and suffering, knows best, but the counsel given so often runs counter to the desire of the personality that it may be rejected as often as not, until the time when (through spiritual maturity) rejection becomes an impossibility. |
14. Một sự thân mật lớn lao có thể có giữa phàm nhân và “Bản Ngã Cao Siêu” này, trong trường hợp này là vị Thiên Thần, chứ không phải chân thần của y—cũng là một dạng Bản Ngã Cao Siêu. Trong mọi sự, vị Thiên Thần, do đã đi trọn mọi cung bậc kinh nghiệm và đau khổ của nhân loại, biết rõ nhất; nhưng lời khuyên được ban ra thường đi ngược lại dục vọng của phàm ngã đến nỗi nó có thể bị khước từ không ít lần, cho đến khi, nhờ sự trưởng thành tinh thần, việc khước từ trở thành điều không thể. |
|
15. This dual moving forward is an antidote to the loneliness which is often experienced upon the Path. The disciple as an individual often works alone and according to his own responsibility, but within himself he comes to know that he is two rather than one. Ultimately, of course, he and all are one, but from the perspective of spiritual practicality, the twoness of discipleship is decidedly useful. I would recommend that we take stock of ourselves and see to what an extent this twoness is an actuality in our inner lives. |
15. Sự tiến tới kép này là một phương thuốc chống lại nỗi cô đơn thường được trải nghiệm trên Con Đường. Đệ tử, với tư cách một cá nhân, thường làm việc một mình và theo trách nhiệm riêng của mình, nhưng bên trong chính mình, y dần biết rằng y là hai hơn là một. Dĩ nhiên, rốt cuộc, y và tất cả đều là một, nhưng từ viễn cảnh của tính thực tiễn tinh thần, tính hai của địa vị đệ tử rõ ràng hữu ích. Tôi khuyên chúng ta nên tự kiểm điểm và xem tính hai này thực sự hiện hữu đến mức nào trong đời sống nội tâm của chúng ta. |
|
16. Thus, there are two dual ways in which we move forward. Man and Solar Angel move together; two different entities cooperate. As well, man (within his own nature) moves forward, making strides in both his personality nature and his higher consciousness (to which we give the name “soul”). The day will come when the moving forward is triple, and man-the-monad will progress. This triplicity is noticed at the third degree. Still later, when the monad is one of the ‘players’ in an conscious onward movement, the movement is again dual in a sense, for soul/personality have become one and form the lower pole in relation to the positive monad. |
16. Như vậy, có hai cách kép mà nhờ đó chúng ta tiến tới. Con người và Thái dương Thiên Thần cùng tiến bước; hai thực thể khác nhau hợp tác. Đồng thời, con người, trong bản chất riêng của mình, tiến tới, đạt những bước tiến trong cả bản chất phàm ngã lẫn tâm thức cao hơn của mình, điều mà chúng ta gọi là “linh hồn”. Sẽ đến ngày sự tiến tới là tam phân, và con-người-chân-thần sẽ tiến triển. Bộ ba này được nhận thấy ở cấp độ thứ ba. Về sau nữa, khi chân thần là một trong những ‘người tham dự’ trong một chuyển động tiến lên có ý thức, thì chuyển động ấy, theo một nghĩa nào đó, lại là kép, vì linh hồn/phàm ngã đã trở thành một và tạo thành cực thấp trong tương quan với chân thần dương tính. |
|
17. The next part of the portion of the Rule under consideration states: “The door is left behind”. In a way, the door is always left behind; that is what doors are for—to be entered and left behind. Of course one can decide whether to close a door behind him or leave it ajar. Either approach can be correct depending on the circumstances. |
17. Phần tiếp theo của phần Quy Luật đang được xem xét nêu rằng: “Cánh cửa đã được bỏ lại phía sau”. Theo một nghĩa nào đó, cánh cửa luôn luôn được bỏ lại phía sau; đó chính là chức năng của cửa—được bước qua rồi bỏ lại phía sau. Dĩ nhiên, người ta có thể quyết định đóng cửa lại sau lưng mình hay để hé. Cách nào cũng có thể đúng tùy hoàn cảnh. |
|
18. There comes a point in the life of every person when that for which he/she struggled is attained. The long-desired objective becomes the accomplished fact. This calls for a dramatic reversal of attitude and may not be easy at first. So much energy was focussed on striving for the attainment that when it is achieved, the energy must be refocussed, realigned. |
18. Trong đời sống của mỗi người, sẽ đến một điểm khi điều mà người ấy đã phấn đấu để đạt tới đã được thành tựu. Mục tiêu hằng mong mỏi lâu dài trở thành sự kiện đã hoàn tất. Điều này đòi hỏi một sự đảo ngược thái độ đầy kịch tính và ban đầu có thể không dễ dàng. Quá nhiều năng lượng đã tập trung vào nỗ lực đạt thành tựu, đến nỗi khi thành tựu đã đạt được, năng lượng ấy phải được tái tập trung, tái chỉnh hợp. |
|
19. This particular Rule for disciples on the Path of Initiation assumes a certain degree of attainment—principally passage through the door of the third degree—but the Rule has a reflected meaning in relation to the second degree and perhaps even the first (though greatly reduced in scope). |
19. Quy Luật đặc thù này dành cho các đệ tử trên Con Đường Điểm Đạo giả định một mức độ thành tựu nào đó—chủ yếu là việc đi qua cánh cửa của cấp độ thứ ba—nhưng Quy Luật cũng có ý nghĩa phản chiếu liên quan đến cấp độ thứ hai và có lẽ cả cấp độ thứ nhất, dù phạm vi giảm đi rất nhiều. |
|
20. It will be of interest for each to determine which, if any, door has been left behind. This will be a determination which each, alone, must make. The group will, eventually, also have to make its determination. |
20. Sẽ hữu ích cho mỗi người khi xác định cánh cửa nào, nếu có, đã được bỏ lại phía sau. Đây là sự xác định mà mỗi người phải tự mình thực hiện. Cuối cùng, nhóm cũng sẽ phải thực hiện sự xác định của mình. |
|
21. Perhaps more important is the attitude of the disciple to the fact that a particular door has been left behind. |
21. Có lẽ quan trọng hơn là thái độ của đệ tử đối với sự kiện rằng một cánh cửa đặc thù đã được bỏ lại phía sau. |
|
22. What is being suggested is that the proper attitude is to press forward, “forgetting the things which lie behind”. The initiate has a peculiar attitude to both the past and the future (and of course the present)—perhaps to time altogether. |
22. Điều được gợi ý là thái độ đúng đắn là tiến tới, “quên những điều nằm lại phía sau”. Điểm đạo đồ có một thái độ đặc biệt đối với cả quá khứ và tương lai, và dĩ nhiên cả hiện tại—có lẽ đối với thời gian nói chung. |
|
23. With respect to the past, he/she is not trammeled by it. For so many of us, the past is a great weight and constant (if subtle) obstruction. The initiate, however, knows that the past is gone, yet more than most he/she will learn from it. Whatever obstructs the Presence-in-the-present is relinquished. The initiate realizes that there is ever an infinitude of time past and future. Why hang on to any past specificity which is infinitesimal in comparison to that which is to come (and, as well, to that which is gone)? Again, in the initiate, there is an “adjusted sense of proportion”. |
23. Đối với quá khứ, người ấy không bị nó trói buộc. Đối với rất nhiều người trong chúng ta, quá khứ là một gánh nặng lớn và một trở ngại thường xuyên, dù tinh tế. Tuy nhiên, điểm đạo đồ biết rằng quá khứ đã qua, nhưng hơn đa số mọi người, người ấy sẽ học từ nó. Bất cứ điều gì cản trở Đấng Hiện Diện-trong-hiện tại đều được buông bỏ. Điểm đạo đồ nhận ra rằng luôn có một vô lượng thời gian quá khứ và tương lai. Tại sao phải bám giữ bất kỳ chi tiết đặc thù nào của quá khứ vốn vô cùng nhỏ bé so với điều sẽ đến, và cũng so với điều đã qua? Một lần nữa, nơi điểm đạo đồ có một “Ý thức về tỉ lệ đã được điều chỉnh”. |
|
24. With respect the future, the initiate is ever interested in it, especially that part of the future which is of immediate concern in terms of the Divine Plan. But this orientation towards the soon-to-be-precipitating future, does not make him/her ignore the present. |
24. Đối với tương lai, điểm đạo đồ luôn quan tâm đến nó, đặc biệt là phần tương lai có liên hệ trực tiếp đến Thiên Cơ. Nhưng định hướng này về phía tương lai sắp ngưng tụ không khiến người ấy bỏ qua hiện tại. |
|
25. Perhaps, in relation to the present, the initiate’s attitude is most distinct from that of the usual human attitude. He/she really is able to see “eternity in an hour”, and the timelessness of the spirit (more than of the soul) is somewhat permeating the consciousness. The initiate finds himself rich in the present, and, correspondingly, rich in the Presence—the Presence of God-the-Self. |
25. Có lẽ, trong quan hệ với hiện tại, thái độ của điểm đạo đồ khác biệt rõ rệt nhất với thái độ thông thường của nhân loại. Người ấy thật sự có thể thấy “vĩnh cửu trong một giờ”, và tính phi thời gian của tinh thần, hơn cả của linh hồn, đang phần nào thấm vào tâm thức. Điểm đạo đồ thấy mình giàu có trong hiện tại, và tương ứng, giàu có trong Đấng Hiện Diện—Đấng Hiện Diện của Thượng đế-Bản Ngã. |
|
26. The greatest sages and poets have known how to the “live in the eternal”, and “know the Self as one”. Is one the cause of the other? Is each the cause of the other? Or does each simply assist the other—the cause being more fundamental? |
26. Các bậc hiền triết và thi sĩ vĩ đại nhất đã biết cách “sống trong vĩnh cửu” và “biết Bản Ngã là một”. Cái này có phải là nguyên nhân của cái kia không? Mỗi cái có phải là nguyên nhân của cái kia không? Hay mỗi cái chỉ đơn giản trợ giúp cho cái kia—còn nguyên nhân thì căn bản hơn? |
|
27. The initiate’s attitude is born of the sense of freedom which is born of identification with and as spirit. When we say that “The door is left behind” and that it is “a happening of the past”, we are really speaking of the initiate’s attitude of freedom which makes him/her a truly useful worker with the Divine Plan. |
27. Thái độ của điểm đạo đồ sinh ra từ cảm thức tự do, mà cảm thức ấy sinh ra từ sự đồng hoá với và như tinh thần. Khi chúng ta nói rằng “Cánh cửa đã được bỏ lại phía sau” và rằng đó là “một sự việc thuộc quá khứ”, thật ra chúng ta đang nói về thái độ tự do của điểm đạo đồ, điều khiến người ấy trở thành một người hoạt động thực sự hữu dụng với Thiên Cơ. |
|
28. The main causes of bondage are ‘within’, just as is the cause of freedom. The initiate is beyond any clinging attitude. One clings to what one values extremely and is afraid of losing. One clings to the past which one is afraid to release. But the initiate is so rich. A few dollars may mean so much to a child and very little to the rich man. We are the child and we hold on to our few dollars. But the ‘Treasury of the Universe’ is being opened to the initiate (because of his proven spiritual generosity—when he had less to give!) and thus conventional treasures mean very little to him. Thus, he does not cling to that which has been shown to be relatively valueless. Nor does he/she despise that which is of relatively little value—for it is of value to others who do not yet see as much. He does not disturb the “spiritual festival” of another—a thought emphasized in Agni Yoga. |
28. Các nguyên nhân chính của sự ràng buộc đều ‘ở bên trong’, cũng như nguyên nhân của tự do. Điểm đạo đồ vượt ngoài mọi thái độ bám víu. Người ta bám víu vào điều mình cực kỳ trân quý và sợ mất. Người ta bám víu vào quá khứ mà mình sợ buông bỏ. Nhưng điểm đạo đồ thì quá giàu có. Vài đồng có thể rất quan trọng đối với một đứa trẻ và rất ít giá trị đối với một người giàu. Chúng ta là đứa trẻ ấy và chúng ta nắm giữ vài đồng của mình. Nhưng ‘Kho Tàng của Vũ Trụ’ đang được mở ra cho điểm đạo đồ, bởi vì người ấy đã chứng tỏ sự quảng đại tinh thần của mình—khi người ấy còn có ít hơn để cho!—và do đó những kho báu quy ước rất ít ý nghĩa đối với người ấy. Vì vậy, người ấy không bám víu vào điều đã được chứng minh là tương đối vô giá trị. Người ấy cũng không khinh miệt điều có giá trị tương đối nhỏ—vì nó có giá trị đối với những người khác, những người chưa thấy được nhiều như vậy. Người ấy không khuấy động “lễ hội tinh thần” của người khác—một tư tưởng được nhấn mạnh trong Agni Yoga. |
|
29. Account must be taken by each of us. To what extent are we free from the past? It is worth examining. The entire personality is, actually, the past. It is our present condition and conditioning, the effect of causes already manifested. The degree to which we are free from the claims of the personality is a measure of our degree of freedom from the past. |
29. Mỗi người chúng ta phải tự kiểm điểm. Chúng ta tự do khỏi quá khứ đến mức nào? Điều này đáng để xem xét. Toàn bộ phàm ngã thực ra là quá khứ. Nó là tình trạng hiện tại và sự tác động hiện tại của chúng ta, là hiệu quả của những nguyên nhân đã biểu hiện. Mức độ chúng ta tự do khỏi các đòi hỏi của phàm ngã là thước đo mức độ tự do của chúng ta khỏi quá khứ. |
|
30. Why this emphasis on freedom in the life of the initiate? Because, for the free, the quality of life increases so dramatically, and the livingness of life, the thrill of it, the bliss of it. Happiness and pleasure of the higher kinds are the great objective for all beings; in such states their lives are congruent with Plan and Purpose which, in essence, are joy and, finally, pure bliss. |
30. Tại sao lại nhấn mạnh đến tự do trong đời sống của điểm đạo đồ? Bởi vì đối với người tự do, phẩm tính của sự sống gia tăng một cách hết sức mạnh mẽ, và sinh động tính của sự sống cũng vậy—sự rung động phấn khích của nó, chí phúc của nó. Hạnh phúc và lạc thú thuộc những loại cao hơn là mục tiêu lớn lao của mọi hữu thể; trong các trạng thái ấy, đời sống của họ hòa hợp với Thiên Cơ và Thiên Ý, vốn về bản chất là sự hoan hỉ và cuối cùng là chí phúc thuần khiết. |
|
31. The past (ruled, locally, by our Moon, lower Saturn and lower Pluto) is the great destroyer of happiness, or would it be more correct to say, that it is the wrong attitude to the past which destroys happiness? There is blockage (Saturn) in the flow of life through the form. The “Divine Circulatory Flow” has been impeded, and this cannot be allowed to remain. During the Aquarian Age the flow will be restored (as in the Herculean fable of the Augean Stables). Pluto represents the poisonous residue of the past—the unreleased excrement which poisons the whole system—individual, social and planetary—through auto-intoxication. |
31. Quá khứ, về mặt cục bộ chịu sự cai quản của Mặt Trăng của chúng ta, Thổ Tinh thấp và Diêm Vương Tinh thấp, là kẻ hủy diệt lớn của hạnh phúc; hay nói chính xác hơn, chính thái độ sai lầm đối với quá khứ mới hủy diệt hạnh phúc? Có sự tắc nghẽn, Thổ Tinh, trong dòng chảy của sự sống xuyên qua hình tướng. “Dòng Tuần Hoàn Thiêng Liêng” đã bị cản trở, và điều này không thể được phép tiếp diễn. Trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, dòng chảy sẽ được phục hồi, như trong huyền thoại Hercules về Chuồng Ngựa Augeas. Diêm Vương Tinh tượng trưng cho cặn độc của quá khứ—chất thải chưa được giải phóng, đầu độc toàn bộ hệ thống—cá nhân, xã hội và hành tinh—qua sự tự nhiễm độc. |
|
32. Of course the past must be dealt with; every initiate discovers this (largely in the Scorpio experience of the second initiation), but it must also be left behind. The true initiates are known by their progressivism. They are alive with anticipation, which is not the same thing as being unrealistic about the present. |
32. Dĩ nhiên, quá khứ phải được xử lý; mọi điểm đạo đồ đều khám phá điều này, phần lớn trong kinh nghiệm Hổ Cáp của lần điểm đạo thứ hai, nhưng nó cũng phải được bỏ lại phía sau. Các điểm đạo đồ đích thực được nhận biết qua khuynh hướng tiến bộ của họ. Họ sống động với sự mong đợi, điều này không đồng nghĩa với việc phi thực tế về hiện tại. |
|
33. While we are yet human, we always stand between the past and the future, for we have a personality (in the lunar sense of the term). Later we will have vehicles of expression, but they will not be so related to retrogressive, lunar energies. At the fourth degree we solve the problem of sex and the problem of time. Fittingly, Saturn (“Lord of Time”) is potent at the fourth degree, as is Mercury, whose speed overcome time. |
33. Khi chúng ta vẫn còn là con người, chúng ta luôn đứng giữa quá khứ và tương lai, vì chúng ta có một phàm ngã, theo nghĩa thái âm của thuật ngữ này. Về sau, chúng ta sẽ có các vận cụ biểu hiện, nhưng chúng sẽ không liên hệ như vậy với các năng lượng thái âm, thoái bộ. Ở cấp độ thứ tư, chúng ta giải quyết vấn đề tính dục và vấn đề thời gian. Một cách thích hợp, Thổ Tinh, “Chúa Tể của Thời Gian”, có uy lực ở cấp độ thứ tư, cũng như Thủy Tinh, với tốc độ vượt thắng thời gian. |
|
34. Something happens after the fourth degree which liberates us into true creativity, free from personal and even individual concern. Lesser ego is destroyed at the fourth degree and with this comes the dissolution of a lesser identity. The greater his sense of identity, the greater the creator, or the more truly he/she creates in alignment with the “One in Whom we live and move and have our being”. Leaving the past behind, we leave lesser ego behind and breathe anew in the freedom which comes to those who have identified with essentialized Selfhood. |
34. Một điều gì đó xảy ra sau cấp độ thứ tư, giải phóng chúng ta vào sự sáng tạo đích thực, tự do khỏi mối bận tâm cá nhân và thậm chí cá thể. Phàm ngã thấp bị hủy diệt ở cấp độ thứ tư, và cùng với điều này là sự tan rã của một bản sắc thấp hơn. Cảm thức bản sắc của người ấy càng lớn, người sáng tạo càng lớn, hoặc người ấy càng sáng tạo chân thực hơn trong chỉnh hợp với “Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu”. Khi bỏ quá khứ lại phía sau, chúng ta bỏ lại phàm ngã thấp và hít thở mới mẻ trong tự do đến với những ai đã đồng hoá với Bản Ngã tính tinh yếu. |
|
The Themes Included Under the Sentence 1 |
Các chủ đề được bao gồm dưới Câu 1 |
|
B. The Science of Invocation and Evocation and its significant ritual or programme is, in reality, an expression or a human formulation of the Science of Sound. (cf. RI, p. 67) |
B. Khoa Khẩn Cầu và Gợi Lên cùng nghi thức hay chương trình đầy thâm nghĩa của nó, trên thực tế, là một biểu hiện hay một công thức nhân loại của Khoa Học về Âm Thanh. (xem RI, tr. 67) |
|
The Sound is the sound or note of Life Itself, embodying its dynamic impulse, its creative power, and its responsive sensitivity to all contacts. (cf. RI, p. 67) |
Âm Thanh là âm thanh hay âm điệu của chính Sự Sống, hàm chứa xung lực năng động, quyền năng sáng tạo và sự nhạy cảm đáp ứng của nó trước mọi tiếp xúc. (xem RI, tr. 67) |
|
The Science of Invocation and Evocation is an expression or a human formulation of the Science of Sound just in so far—as yet—as Sound affects humanity and human affairs. (cf. RI, p. 67) |
Khoa Khẩn Cầu và Gợi Lên là một biểu hiện hay một công thức nhân loại của Khoa Học về Âm Thanh, trong chừng mực—cho đến nay—Âm Thanh tác động đến nhân loại và các công việc của nhân loại. (xem RI, tr. 67) |
|
The next Rule continues the above theme and gives some instructions in terse phrases and symbols on the Science of Invocation and Evocation and its significant ritual or programme. |
Quy Luật tiếp theo tiếp tục chủ đề trên và đưa ra một số chỉ dẫn bằng những cụm từ và biểu tượng ngắn gọn về Khoa Khẩn Cầu và Gợi Lên cùng nghi thức hay chương trình đầy thâm nghĩa của nó. |
|
This programme is, in reality, an expression or a human formulation of the Science of Sound, just in so far—as yet—as Sound affects humanity and human affairs. Forget not my earlier teaching upon the Word; remember also that the Sound is the sound or note of Life Itself, embodying its dynamic impulse, its creative power, and its responsive sensitivity to all contacts. |
Chương trình này, trên thực tế, là một biểu hiện hay một công thức nhân loại của Khoa Học về Âm Thanh, trong chừng mực—cho đến nay—Âm Thanh tác động đến nhân loại và các công việc của nhân loại. Đừng quên giáo huấn trước đây của tôi về Linh từ; cũng hãy nhớ rằng Âm Thanh là âm thanh hay âm điệu của chính Sự Sống, hàm chứa xung lực năng động, quyền năng sáng tạo và sự nhạy cảm đáp ứng của nó trước mọi tiếp xúc. |
|
Rule III. |
Quy Luật III. |
|
Dual the moving forward. The Door is left behind. That is a happening of the past. Let the cry of invocation [Page 68] issue forth from the deep centre of the group’s clear cold light. Let it evoke response from the bright centre, lying far ahead. When the demand and the response are lost in one great Sound, move outward from the desert, leave the seas behind, and know that God is Fire. |
Kép là sự tiến tới. Cánh Cửa đã được bỏ lại phía sau. Đó là một sự việc thuộc quá khứ. Hãy để tiếng kêu khẩn cầu [Trang 68] vang ra từ trung tâm sâu thẳm của ánh sáng trong trẻo lạnh lùng của nhóm. Hãy để nó gợi lên đáp ứng từ trung tâm rực sáng, nằm xa phía trước. Khi lời đòi hỏi và sự đáp ứng mất hút trong một Âm Thanh vĩ đại, hãy đi ra khỏi sa mạc, bỏ lại các biển phía sau, và biết rằng Thượng đế là Lửa. |
|
1. The Science of Invocation and Evocation is one of the most significant for the coming Aquarian Age, in which humanity itself will become a conscious agent of invocation. |
1. Khoa Khẩn Cầu và Gợi Lên là một trong những khoa học có thâm nghĩa nhất đối với Kỷ Nguyên Bảo Bình sắp đến, trong đó chính nhân loại sẽ trở thành một tác nhân có ý thức của sự khẩn cầu. |
|
2. We recognize that the new approach to divinity is based upon scientific invocation and its inevitable answer, or evocation. |
2. Chúng ta nhận ra rằng cách tiếp cận mới đối với thiên tính dựa trên sự khẩn cầu khoa học và câu trả lời tất yếu của nó, tức sự gợi lên. |
|
3. This new science has its own ritual or programme. It is not a haphazard affair the way in which prayer is often practiced. The Science of Invocation is the way of uniting the higher and lower worlds—the objective of all ‘religious’ enterprise. It will be practiced in a selfless manner, at the right “times and seasons” and with full expectation of a lawful, evocative response. We will find that the practice of the New World Religion will be much removed from the characteristic dynamics of the astral body—the major focus of religious approach during the Piscean Age. |
3. Khoa học mới này có nghi thức hay chương trình riêng của nó. Nó không phải là một việc ngẫu hứng như cách cầu nguyện thường được thực hành. Khoa Khẩn Cầu là con đường hợp nhất các thế giới cao và thấp—mục tiêu của mọi nỗ lực ‘tôn giáo’. Nó sẽ được thực hành một cách vô ngã, vào đúng “thời điểm và mùa tiết”, và với sự trông đợi trọn vẹn về một đáp ứng gợi lên hợp luật. Chúng ta sẽ thấy rằng việc thực hành Tôn Giáo Thế Giới Mới sẽ rất khác xa các động lực đặc trưng của thể cảm dục—trọng tâm chính của cách tiếp cận tôn giáo trong Kỷ Nguyên Song Ngư. |
|
4. In studying the Science of Invocation and Evocation we are necessarily entering a study of the great Science of Sound, which has a “human formulation”. Since sound is the great creative agent in cosmos, the Science of Sound obviously has formulations which are much higher than the limited human formulation—however abstruse even that limited formulation may be to today’s humanity. |
4. Khi nghiên cứu Khoa Khẩn Cầu và Gợi Lên, tất yếu chúng ta bước vào việc nghiên cứu Khoa Học vĩ đại về Âm Thanh, vốn có một “công thức nhân loại”. Vì âm thanh là tác nhân sáng tạo lớn lao trong vũ trụ, nên Khoa Học về Âm Thanh hiển nhiên có những công thức cao hơn rất nhiều so với công thức nhân loại giới hạn—dù ngay cả công thức giới hạn ấy cũng có thể rất khó hiểu đối với nhân loại ngày nay. |
|
5. Perhaps each of us should pause for a moment to realize how deeply and pervasively sound affects humanity and human affairs. The words we exchange and the ‘words of our thoughts’ are potently conditioning. There are also the sounds with which we are constantly surrounded, given the mechanization of modern life. There are the sounds of nature and the sounds of music, and, of course, there are sounds of which we are completely incognizant—those which are registered by other forms of life, or those non-physical not registered at all by most beings in physical incarnation—the subtle sounds of the other planes. |
5. Có lẽ mỗi chúng ta nên dừng lại một khoảnh khắc để nhận ra âm thanh tác động sâu xa và lan tỏa đến mức nào đối với nhân loại và các công việc của nhân loại. Những lời chúng ta trao đổi và ‘những lời trong tư tưởng của chúng ta’ có sức tác động mạnh mẽ. Cũng có những âm thanh luôn bao quanh chúng ta, xét đến sự cơ giới hóa của đời sống hiện đại. Có những âm thanh của thiên nhiên và những âm thanh của âm nhạc; và dĩ nhiên, có những âm thanh mà chúng ta hoàn toàn không nhận biết—những âm thanh được ghi nhận bởi các hình thức sự sống khác, hoặc những âm thanh phi hồng trần mà phần lớn các hữu thể trong lâm phàm hồng trần hoàn toàn không ghi nhận—những âm thanh tinh tế của các cõi khác. |
|
6. D.K. asks us not to forget His earlier teaching upon the Word. Rule II could well be re-read, and the profound sections on the Sacred Word to be found in Letters on Occult Meditation would repay deep consideration. |
6. Chân sư DK yêu cầu chúng ta đừng quên giáo huấn trước đây của Ngài về Linh từ. Quy Luật II rất đáng được đọc lại, và những phần sâu sắc về Linh từ Thiêng Liêng được tìm thấy trong Thư về Tham Thiền Huyền Bí sẽ xứng đáng với sự suy xét sâu xa. |
|
7. The He offers us a most occult statement demanding pondering: |
7. Ngài đưa ra cho chúng ta một phát biểu hết sức huyền bí, đòi hỏi sự suy ngẫm: |
|
“remember also that the Sound is the sound or note of Life Itself, embodying its dynamic impulse, its creative power, and its responsive sensitivity to all contacts.” |
“cũng hãy nhớ rằng Âm Thanh là âm thanh hay âm điệu của chính Sự Sống, hàm chứa xung lực năng động, quyền năng sáng tạo và sự nhạy cảm đáp ứng của nó trước mọi tiếp xúc.” |
|
D.K. is not just speaking of sound, but of “Sound” and “the Sound” or note of Shamballa. |
Chân sư DK không chỉ nói về âm thanh, mà về “Âm Thanh” và “Âm Thanh” hay âm điệu của Shamballa. |
|
8. The “note of Life Itself” is the sustained power behind the demonstration of the highest aspect of divinity—the Life Aspect. It is a note which holds all things in synthetic relation. Without it, the pervasive synthesis which substands all phenomena would not demonstrate. Perhaps, when we succeed in attuning to this note (as we do in the later stages of the Path), we realize that “life is one” and that “there are no other selves”. (Rules VI and IX) |
8. “Âm điệu của chính Sự Sống” là quyền năng bền bỉ đằng sau sự biểu lộ phương diện cao nhất của thiên tính—Phương diện Sự Sống. Đó là một âm điệu giữ mọi sự trong mối liên hệ tổng hợp. Không có nó, sự tổng hợp thấm nhuần vốn làm nền cho mọi hiện tượng sẽ không biểu lộ. Có lẽ, khi chúng ta thành công trong việc hòa điệu với âm điệu này, như chúng ta làm trong các giai đoạn về sau của Con Đường, chúng ta nhận ra rằng “sự sống là một” và “không có các bản ngã nào khác”. (Quy luật VI và IX) |
|
9. Let us recognize that this “note of Life itself” embodies the three aspects of divinity. Its “dynamic impulse” relates to the first ray; its “creative power” to the third and its “responsive sensitivity to all contacts”, to the second ray. |
9. Chúng ta hãy nhận ra rằng “âm điệu của chính Sự Sống” này hàm chứa ba phương diện của thiên tính. “Xung lực năng động” của nó liên hệ với cung một; “quyền năng sáng tạo” của nó liên hệ với cung ba; và “sự nhạy cảm đáp ứng với mọi tiếp xúc” của nó liên hệ với cung hai. |
|
10. We are here dealing with no ordinary sound, but which a factor which must be grasped intuitively. |
10. Ở đây chúng ta không đề cập đến một âm thanh thông thường, mà là một yếu tố cần được nắm bắt bằng trực giác. |
|
11. Then the text of this extraordinarily occult Rule is offered. |
11. Rồi văn bản của Quy luật huyền bí phi thường này được đưa ra. |
|
12. Again there is an approach to Shamballa, and a response, to the “Sound” from Shamballa. |
12. Lại có một cách tiếp cận Shamballa, và một đáp ứng với “Âm Thanh” từ Shamballa. |
|
13. Through the utilization of this Rule and the Shamballic response, it becomes possible for the group to ‘move through’ the two lower dimensions of the spiritual triad (high enough, from our perspective) into the domain of atmic realization—the living realization that “God is fire”. |
13. Thông qua việc vận dụng Quy luật này và đáp ứng Shamballa, nhóm có thể “đi xuyên qua” hai chiều thấp của Tam Nguyên Tinh Thần, vốn đủ cao theo quan điểm của chúng ta, để đi vào lĩnh vực nhận thức atma—sự nhận thức sống động rằng “Thượng đế là lửa”. |
|
14. It becomes clear that the “Science of Sound” and especially the ‘Science of the Sound” are leading us into relationship with the first aspect of divinity and the Divine Will. Through the right use of sound, we begin to live in the occult sense. |
14. Rõ ràng là “Khoa học về Âm Thanh”, và đặc biệt là “Khoa học về chính Âm Thanh”, đang dẫn chúng ta vào mối liên hệ với phương diện thứ nhất của thiên tính và Ý Chí thiêng liêng. Qua việc sử dụng đúng đắn âm thanh, chúng ta bắt đầu sống theo nghĩa huyền bí. |
|
C. D.K. considers Rule Three for Disciples and Initiates to be one of the two most occult rules which the initiate has to master, whether as an individual or in conjunction with his group. Why might this be the case? (cf. RI, p. 68) |
C. Chân sư DK xem Quy luật Ba dành cho các Đệ tử và Điểm đạo đồ là một trong hai quy luật huyền bí nhất mà điểm đạo đồ phải làm chủ, dù với tư cách cá nhân hay trong sự phối hợp với nhóm của mình. Vì sao điều này có thể là như vậy? (xem RI, tr. 68) |
|
The group recognizes and works under the pervasive influence of the purpose; the individual initiate works with the plan. (cf. RI, p. 68) |
Nhóm nhận biết và làm việc dưới ảnh hưởng thấm nhuần của Thiên Ý; điểm đạo đồ cá nhân làm việc với Thiên Cơ. (xem RI, tr. 68) |
|
The group can be, and frequently is, responsive to the “bright centre,” Shamballa, where the initiate by himself and in his own essential identity cannot so respond. (cf. RI, p. 68) |
Nhóm có thể, và thường xuyên, đáp ứng với “trung tâm sáng chói”, Shamballa, trong khi điểm đạo đồ tự mình và trong bản sắc cốt yếu riêng của y không thể đáp ứng như thế. (xem RI, tr. 68) |
|
The clue to the significance of group work, and one of its major functions, esoterically speaking, is to absorb, share, circulate, and then distribute energy. (cf. RI, p. 68) |
Chìa khóa cho thâm nghĩa của công việc nhóm, và một trong các chức năng chính của nó, nói theo huyền bí học, là hấp thu, chia sẻ, luân chuyển, rồi phân phối năng lượng. (xem RI, tr. 68) |
|
This is perhaps one of the two most occult rules which the initiate has to master, whether as an individual or in conjunction with his group. The group recognises and works under the pervasive influence of the purpose; the individual initiate works with the plan. The group expression, as far as in it lies at any given moment in time and space, is in line with the will of the One in Whom we live and move and have our being, the Life of all that is. The individual initiate uses the attractive force (to which we give the oft misleading name of love) of that fundamental Life to gather together that which will give body to form and so manifest the will. The group can be, and frequently is, responsive to the “bright centre,” Shamballa, where the initiate by himself and in his own essential identity cannot so respond. The individual must be protected by the group from the terrific potencies which emanate from Shamballa. These must be stepped down for him by the process of distribution, so that their impact is not focussed in any one or all of his centres but is shared by all the group members. Here is the clue to the significance of group work. One of its major functions, esoterically speaking, is to absorb, share, circulate, and then distribute energy. |
Đây có lẽ là một trong hai quy luật huyền bí nhất mà điểm đạo đồ phải làm chủ, dù với tư cách cá nhân hay trong sự phối hợp với nhóm của mình. Nhóm nhận biết và làm việc dưới ảnh hưởng thấm nhuần của Thiên Ý; điểm đạo đồ cá nhân làm việc với Thiên Cơ. Sự biểu hiện của nhóm, trong mức độ mà nó có thể vào bất kỳ thời điểm nào trong thời gian và không gian, phù hợp với ý chí của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu, Sự Sống của tất cả những gì đang là. Điểm đạo đồ cá nhân sử dụng mãnh lực hấp dẫn, mà chúng ta thường gọi bằng cái tên dễ gây hiểu lầm là tình thương, của Sự Sống nền tảng ấy để quy tụ những gì sẽ đem lại thể cho hình tướng và nhờ vậy biểu lộ ý chí. Nhóm có thể, và thường xuyên, đáp ứng với “trung tâm sáng chói”, Shamballa, trong khi điểm đạo đồ tự mình và trong bản sắc cốt yếu riêng của y không thể đáp ứng như thế. Nhóm phải bảo vệ cá nhân khỏi những quyền năng kinh khủng xuất lộ từ Shamballa. Những quyền năng này phải được hạ giảm cho y bằng tiến trình phân phối, để tác động của chúng không tập trung vào bất kỳ một hay tất cả các trung tâm nào của y, mà được chia sẻ bởi mọi thành viên trong nhóm. Đây là chìa khóa cho thâm nghĩa của công việc nhóm. Một trong các chức năng chính của nó, nói theo huyền bí học, là hấp thu, chia sẻ, luân chuyển, rồi phân phối năng lượng. |
|
1. Sound has relationship to all three aspects of divinity. It is the impulsive force behind all manifestation (hence, its relation to the first aspect); it is related to the cohesive “Word” which patterns all things—hence its relation to the second aspect); it is the creative and even manipulative agent working in and through forms, subtle and gross (hence its relation to the third aspect). |
1. Âm thanh có liên hệ với cả ba phương diện của thiên tính. Nó là mãnh lực xung động đằng sau mọi biểu lộ, vì thế liên hệ với phương diện thứ nhất; nó liên hệ với “Linh từ” cố kết vốn định khuôn mẫu cho mọi sự, vì thế liên hệ với phương diện thứ hai; nó là tác nhân sáng tạo và thậm chí điều khiển, hoạt động trong và thông qua các hình tướng, tinh vi và thô trược, vì thế liên hệ với phương diện thứ ba. |
|
2. The study of light, vision, and revelation is sufficiently occult. The study of sound is even moreso. |
2. Việc nghiên cứu ánh sáng, tầm nhìn và sự mặc khải đã đủ huyền bí. Việc nghiên cứu âm thanh còn huyền bí hơn. |
|
3. Does sound precede or follow light? There is no easy answer. It depends upon one’s perspective. In a way, there is a kind of vibratory equivalence between sound and light. Light, however, is more the evidence of that which has been formulated by sound. Light can, as well, be considered substance itself emitting sound. |
3. Âm thanh đi trước hay đi sau ánh sáng? Không có câu trả lời dễ dàng. Điều đó tùy thuộc vào quan điểm của mỗi người. Theo một cách nào đó, có một loại tương đương rung động giữa âm thanh và ánh sáng. Tuy nhiên, ánh sáng đúng hơn là bằng chứng của điều đã được âm thanh định hình. Ánh sáng cũng có thể được xem là chính chất liệu đang phát ra âm thanh. |
|
4. In general, it can be said that sound is more closely related to the will aspect than is light (which is more related to the second). |
4. Nói chung, có thể nói rằng âm thanh liên hệ mật thiết hơn với phương diện ý chí so với ánh sáng, vốn liên hệ nhiều hơn với phương diện thứ hai. |
|
5. We are given to understand that this Rule (with another unnamed by the Tibetan) is one of the two “most occult rules which the initiate has to master”. As our study of the Rules continues, we can speculate which may be the other Rule and why. |
5. Chúng ta được cho biết rằng Quy luật này, cùng với một Quy luật khác mà Chân sư Tây Tạng không nêu tên, là một trong hai “quy luật huyền bí nhất mà điểm đạo đồ phải làm chủ”. Khi việc nghiên cứu các Quy luật của chúng ta tiếp tục, chúng ta có thể suy đoán Quy luật kia có thể là quy luật nào và vì sao. |
|
6. There then follows a series of contrasts in which the group and the kinds of energies it is capable of expressing are compared with the individual initiate and the kinds of energies he/she is capable of expressing. The pre-eminence of the group emerges. The individual initiate is secondary. |
6. Sau đó là một chuỗi đối chiếu, trong đó nhóm và các loại năng lượng mà nó có khả năng biểu hiện được so sánh với điểm đạo đồ cá nhân và các loại năng lượng mà y có khả năng biểu hiện. Sự ưu việt của nhóm hiện rõ. Điểm đạo đồ cá nhân là thứ yếu. |
|
7. The group works under purpose; the initiate works with plan. Purpose is inclusive and all-containing; the many are required to register it and enact it. Purpose is beyond the apprehension of the individual. The mere scope of Purpose can only be recognized if approached by the group. |
7. Nhóm làm việc dưới Thiên Ý; điểm đạo đồ làm việc với Thiên Cơ. Thiên Ý có tính bao gồm và dung chứa tất cả; cần đến số đông để ghi nhận và thực thi nó. Thiên Ý vượt ngoài sự lĩnh hội của cá nhân. Chỉ có thể nhận biết tầm mức đơn thuần của Thiên Ý nếu tiếp cận bằng nhóm. |
|
8. Plan is more specific, more concrete, relatively. The individual initiate finds his/her part to play within the Plan. Purpose is as a sustained Divine Vision; the Plan is more related to the third or activity aspect of divinity. |
8. Thiên Cơ thì tương đối đặc thù hơn, cụ thể hơn. Điểm đạo đồ cá nhân tìm thấy phần việc của mình trong Thiên Cơ. Thiên Ý như một Tầm Nhìn Thiêng Liêng bền vững; Thiên Cơ liên hệ nhiều hơn với phương diện thứ ba hay phương diện hoạt động của thiên tính. |
|
9. It is only in group formation that some dim apprehension of Divine Purpose will dawn upon the individual initiate, through supplementation of his/her individual vision by the greater, corporate vision of the group. |
9. Chỉ trong đội hình nhóm, một sự lĩnh hội lờ mờ nào đó về Thiên Ý mới hé sáng nơi điểm đạo đồ cá nhân, qua việc tầm nhìn cá nhân của y được bổ sung bởi tầm nhìn lớn hơn, mang tính tập thể của nhóm. |
|
10. The remainder of this paragraph is about the necessity of group approach to the presence and energy of Shamballa. |
10. Phần còn lại của đoạn này nói về sự cần thiết của cách tiếp cận nhóm đối với hiện diện và năng lượng của Shamballa. |
|
11. Notice that the energy of purpose is “pervasive”; this means that it relatively non-local. Plan is related to specific and local applications in time and space. |
11. Hãy lưu ý rằng năng lượng của Thiên Ý là “thấm nhuần”; điều này có nghĩa là nó tương đối phi cục bộ. Thiên Cơ liên hệ với những ứng dụng đặc thù và cục bộ trong thời gian và không gian. |
|
12. Continuing—it is the group which is in line with the will of the “One in Whom we live and move and have our being”. The individual initiate may know something of this Will but cannot hold it (or bear it) in its entirety. That great, encompassing Will certainly needs for its enactment more than the individual point of expression. |
12. Tiếp tục—chính nhóm là thực thể phù hợp với ý chí của “Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu”. Điểm đạo đồ cá nhân có thể biết đôi điều về Ý Chí này, nhưng không thể giữ nó, hay gánh chịu nó, trong toàn thể của nó. Ý Chí vĩ đại, bao trùm ấy chắc chắn cần nhiều hơn một điểm biểu hiện cá nhân để được thực thi. |
|
13. When individuals act as if they contain the entirety of will, the phenomenon of the tyrant or dictator appears. The individual is far too ‘partial’ (in both senses) to be a major factor in the wielding of the Divine Will—though there have been great men and women of will who have had an extraordinary (though, necessarily, partial) impact on humanity. The Divine Will works out in the progress and movement of the many, and can be discerned through a study of such progress and movement. It will never show itself in the life of one individual alone—no matter how relatively powerful is that individual. |
13. Khi các cá nhân hành động như thể họ chứa đựng toàn thể ý chí, hiện tượng bạo chúa hay nhà độc tài xuất hiện. Cá nhân quá “phiến diện”, theo cả hai nghĩa, để có thể là một yếu tố chính trong việc vận dụng Ý Chí thiêng liêng—dù đã từng có những người nam và nữ vĩ đại về ý chí, có tác động phi thường, tuy tất yếu chỉ là phiến diện, đối với nhân loại. Ý Chí thiêng liêng diễn tiến qua sự tiến bộ và chuyển động của số đông, và có thể được phân biện qua việc nghiên cứu sự tiến bộ và chuyển động ấy. Nó sẽ không bao giờ tự biểu lộ trong đời sống của chỉ một cá nhân—dù cá nhân ấy tương đối mạnh mẽ đến đâu. |
|
14. The individual initiate is supposed to work more with love than will—though the understanding of will is steadily growing. We are given a strong hint that the major focus of our concentration should be the energy of love, by which force we can “gather” that which is needed for the manifestation of the Will. |
14. Điểm đạo đồ cá nhân được cho là phải làm việc nhiều hơn với tình thương hơn là với ý chí—dù sự thấu hiểu về ý chí đang đều đặn tăng trưởng. Chúng ta được trao một gợi ý mạnh mẽ rằng trọng tâm chính của sự tập trung nơi chúng ta nên là năng lượng của tình thương, nhờ mãnh lực ấy chúng ta có thể “quy tụ” những gì cần thiết cho sự biểu lộ của Ý Chí. |
|
15. Interestingly, D.K., in speaking of love, refers to the “attractive force of that fundamental Life”, and says that “love” is a misleading name for that force. Perhaps there is so much sentiment associated with the word “love” (as usually understood), that the true nature of the great Law of Attraction (and Repulsion) is veiled to the superficial understanding. |
15. Điều thú vị là Chân sư DK, khi nói về tình thương, gọi đó là “mãnh lực hấp dẫn của Sự Sống nền tảng ấy”, và nói rằng “tình thương” là một tên gọi dễ gây hiểu lầm cho mãnh lực đó. Có lẽ có quá nhiều cảm tính gắn liền với từ “tình thương”, như thường được hiểu, đến nỗi bản chất chân thật của Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi vĩ đại bị che khuất đối với sự hiểu biết hời hợt. |
|
16. It is important to note that will must be applied through love, and that the true initiate is an initiate of the Hierarchy of Love and must respond to the larger encompassing Will by utilizing attractive energy which aids in the implementation of that Will. Let each of us ponder the extent to which we utilize love and attraction to facilitate the expression of a Will greater than our own. |
16. Điều quan trọng cần ghi nhận là ý chí phải được áp dụng thông qua tình thương, và điểm đạo đồ chân chính là một điểm đạo đồ của Thánh Đoàn Bác Ái, phải đáp ứng với Ý Chí bao trùm lớn hơn bằng cách vận dụng năng lượng hấp dẫn vốn trợ giúp cho việc thực thi Ý Chí ấy. Mỗi chúng ta hãy suy ngẫm xem mình vận dụng tình thương và sự hấp dẫn đến mức nào để tạo thuận lợi cho sự biểu hiện của một Ý Chí lớn hơn ý chí của riêng mình. |
|
17. Then the following is said: |
17. Sau đó, điều sau đây được nói đến: |
|
“The group can be, and frequently is, responsive to the “bright centre,” Shamballa, where the initiate by himself and in his own essential identity cannot so respond. |
“Nhóm có thể, và thường xuyên, đáp ứng với “trung tâm sáng chói”, Shamballa, trong khi điểm đạo đồ tự mình và trong bản sắc cốt yếu riêng của y không thể đáp ứng như thế. |
|
The Tibetan is not speaking of most groups, but of the kind of highly trained, Shamballically recognized group which is the focus of Rule II (the preceding Rule). The group in all its ‘united diversity’ can respond to the vastness and pervasiveness of Shamballa. Shamballa is just too much for the individual initiate, though there are such phrases used in relation to the individual initiate which suggest an individual relation to Shamballa—i.e., “Shamballa is consummated in him”. (R&I 147). |
Chân sư Tây Tạng không nói về đa số các nhóm, mà về loại nhóm được huấn luyện cao, được Shamballa công nhận, vốn là trọng tâm của Quy luật II, Quy luật ngay trước đó. Nhóm, trong toàn bộ “sự đa dạng hợp nhất” của nó, có thể đáp ứng với tính bao la và sự thấm nhuần của Shamballa. Shamballa đơn giản là quá lớn đối với điểm đạo đồ cá nhân, dù có những cụm từ được dùng liên quan đến điểm đạo đồ cá nhân gợi ý một mối liên hệ cá nhân với Shamballa—tức là, “Shamballa được viên mãn trong y”. (R&I 147). |
|
Perhaps the phrase, “and in his own essential identity” is significant. The initiate becomes more than himself when identified with and as the group. |
Có lẽ cụm từ “và trong bản sắc cốt yếu riêng của y” có ý nghĩa quan trọng. Điểm đạo đồ trở nên hơn chính mình khi đồng hoá với và như nhóm. |
|
We can think with justification that the advancing initiate can respond to his own spiritual will, or even monadic will (which is an extension of the Shamballa Force), but not to Shamballa in any wider sense. For great and inclusive beings like the Christ, individual response to Shamballa becomes possible, but the Christ and Buddha are so group conscious that They are not, strictly speaking, isolated individuals. |
Chúng ta có thể nghĩ một cách chính đáng rằng điểm đạo đồ đang tiến lên có thể đáp ứng với ý chí tinh thần của chính mình, hoặc thậm chí với ý chí chân thần, vốn là một sự mở rộng của Mãnh Lực Shamballa, nhưng không thể đáp ứng với Shamballa theo bất kỳ nghĩa rộng hơn nào. Đối với những Đấng vĩ đại và bao gồm như Đức Christ, sự đáp ứng cá nhân với Shamballa trở nên khả hữu, nhưng Đức Christ và Đức Phật có tâm thức nhóm đến mức, nói thật nghiêm túc, Các Ngài không phải là những cá nhân cô lập. |
|
18. There follows one of the clearest explanations of the importance and rationale of group work: |
18. Tiếp theo là một trong những giải thích rõ ràng nhất về tầm quan trọng và lý do tồn tại của công việc nhóm: |
|
“The individual must be protected by the group from the terrific potencies which emanate from Shamballa. These must be stepped down for him by the process of distribution, so that their impact is not focussed in any one or all of his centres but is shared by all the group members. Here is the clue to the significance of group work. One of its major functions, esoterically speaking, is to absorb, share, circulate, and then distribute energy. |
“Nhóm phải bảo vệ cá nhân khỏi những quyền năng kinh khủng xuất lộ từ Shamballa. Những quyền năng này phải được hạ giảm cho y bằng tiến trình phân phối, để tác động của chúng không tập trung vào bất kỳ một hay tất cả các trung tâm nào của y, mà được chia sẻ bởi mọi thành viên trong nhóm. Đây là chìa khóa cho thâm nghĩa của công việc nhóm. Một trong các chức năng chính của nó, nói theo huyền bí học, là hấp thu, chia sẻ, luân chuyển, rồi phân phối năng lượng. |
|
In these sentences, we understand the limitations of the individual initiate when compared with the “terrific potencies” of Shamballa. Approach to this planetary center of supreme power demands effective distribution of the received energies; otherwise, disaster will befall the individual receiver. In group approach lies a relative safety, and the possibility of touching and receiving that which would destroy the isolated individual should he/she succeed in contacting such an energy. |
Trong những câu này, chúng ta thấu hiểu các giới hạn của điểm đạo đồ cá nhân khi so với “những quyền năng kinh khủng” của Shamballa. Việc tiếp cận trung tâm hành tinh của quyền năng tối thượng này đòi hỏi sự phân phối hữu hiệu các năng lượng đã tiếp nhận; nếu không, tai họa sẽ giáng xuống người tiếp nhận cá nhân. Trong cách tiếp cận nhóm có một sự an toàn tương đối, và có khả năng chạm đến cũng như tiếp nhận điều sẽ hủy diệt cá nhân cô lập nếu y thành công trong việc tiếp xúc với một năng lượng như thế. |
|
19. The group provides a larger ‘body of reception’ for these energies. In group formation, the quality of Shamballic energy can reach the individual, via the group, but the force which would be destructive if too concentrated, is distributed, diluted, dispersed, diversified, divided, etc. in such as manner as to be individually bearable. |
19. Nhóm cung cấp một “thể tiếp nhận” lớn hơn cho các năng lượng này. Trong đội hình nhóm, phẩm tính của năng lượng Shamballa có thể đến với cá nhân qua nhóm, nhưng mãnh lực vốn sẽ mang tính hủy diệt nếu quá tập trung thì được phân phối, pha loãng, phân tán, đa dạng hóa, phân chia, v.v., theo cách khiến cá nhân có thể chịu đựng được. |
|
20. Do we realize, increasingly, how important is the group to the spiritual approach and progress of the individual? |
20. Chúng ta có ngày càng nhận ra nhóm quan trọng đến mức nào đối với sự tiếp cận và tiến bộ tinh thần của cá nhân không? |
|
21. Probably each of us has had the experience of being exposed to energies and forces which were overwhelming—just “too much to handle”. Probably we have observed the destructive or disorganizing effect of such energies and forces upon the human mechanism—even though the forces, in their own right, were potentially useful. If we imaginatively multiplied our experience many-fold, we might gather some sense of our complete individual inadequacy to truly handle the Shamballa Force. Thus a sense of proportion would develop and a truer humility. How inappropriate it is to speak loosely and familiarly about “Shamballa”! |
21. Có lẽ mỗi chúng ta đều từng trải nghiệm việc bị phơi mở trước các năng lượng và mãnh lực áp đảo—đơn giản là “quá sức xử lý”. Có lẽ chúng ta đã quan sát tác động hủy hoại hoặc làm rối loạn của những năng lượng và mãnh lực như thế lên bộ máy con người—dù tự thân các mãnh lực ấy có tiềm năng hữu ích. Nếu chúng ta nhân kinh nghiệm của mình lên nhiều lần bằng sự tưởng tượng, chúng ta có thể có được phần nào cảm nhận về sự hoàn toàn bất cập cá nhân của mình trong việc thật sự xử lý Mãnh Lực Shamballa. Nhờ đó, Ý thức về tỉ lệ sẽ phát triển và một sự khiêm nhường chân thật hơn. Thật không thích đáng biết bao khi nói một cách tùy tiện và thân mật về “Shamballa”! |
|
22. When, as meditators, we focus upon a chakra or an organ in the body which represents that chakra, we do not focus upon an individual cell within that chakra or organ. Even if we were occultly capable of doing so, there would be no profit in it. The cell could not stand the strength of the focus. The analogy may serve to elucidate the great discrepancy of energy/force existing between Shamballa and the individual initiate. |
22. Khi, với tư cách những người hành thiền, chúng ta tập trung vào một luân xa hay một cơ quan trong thể xác đại diện cho luân xa ấy, chúng ta không tập trung vào một tế bào riêng lẻ trong luân xa hay cơ quan đó. Ngay cả nếu về mặt huyền bí chúng ta có khả năng làm như vậy, thì cũng chẳng có lợi ích gì. Tế bào không thể chịu nổi sức mạnh của sự tập trung. Sự tương đồng này có thể giúp làm sáng tỏ sự chênh lệch lớn về năng lượng và mãnh lực hiện hữu giữa Shamballa và điểm đạo đồ cá nhân. |
|
23. The result of all this consideration should be a greater realization of the necessity of group approach to this ‘Center of greatest power’ upon our planet. |
23. Kết quả của toàn bộ sự xem xét này nên là một nhận thức lớn hơn về sự cần thiết của cách tiếp cận nhóm đối với “Trung Tâm của quyền năng lớn nhất” trên hành tinh chúng ta. |
|
D. Annually—after due preparation—the Hierarchy makes contact with Shamballa and a relationship is then set up between the “bright and living centre” (Shamballa) and the “radiating and magnetic centre” (Hierarchy), in order that the “acquiescent waiting centre” (Humanity) may be stimulated to move forward upon the ladder of evolution. (cf. RI, p. 68) |
D. Hằng năm—sau sự chuẩn bị thích đáng—Thánh Đoàn tiếp xúc với Shamballa, và khi ấy một mối liên hệ được thiết lập giữa “trung tâm sáng chói và sống động” Shamballa với “trung tâm tỏa chiếu và từ tính” Thánh Đoàn, để “trung tâm chờ đợi thuận phục” Nhân loại có thể được kích thích tiến bước trên thang tiến hoá. (xem RI, tr. 68) |
|
Even the Hierarchy itself needs the protection of its full membership in order rightly to absorb the incoming energies, and later wisely to distribute the forces of the divine will in the three worlds where lies Their major responsibility. (cf. RI, p. 68-69) |
Ngay cả chính Thánh Đoàn cũng cần sự bảo vệ của toàn thể thành viên mình để hấp thu đúng đắn các năng lượng đang đến, và về sau phân phối một cách minh triết các mãnh lực của Ý Chí thiêng liêng trong ba cõi thấp, nơi trách nhiệm chính của Các Ngài nằm ở đó. (xem RI, tr. 68-69) |
|
The focused will of God constitutes the point of tension from which Shamballa works in order to bring about the eventual fruition of the divine Purpose. (cf. RI, p. 69) |
Ý Chí tập trung của Thượng đế tạo thành điểm tập trung nhất tâm mà từ đó Shamballa hoạt động nhằm đem lại sự thành tựu cuối cùng của Thiên Ý. (xem RI, tr. 69) |
|
This process of protection and of distribution is one of the functions of the great meeting of all the Hierarchy, under the aegis of the three Great Lords (the Manu, the Mahachohan and the Christ) in that high and sacred valley in the Himalayas where annually—after due preparation—the Hierarchy makes contact with Shamballa and a relationship is then set up between the “bright and living centre” and the “radiating and magnetic centre,” in order that the “acquiescent waiting centre” may be stimulated to move forward upon the ladder of evolution. Even the Hierarchy [Page 69] itself needs the protection of its full membership in order rightly to absorb the incoming energies, and later wisely to distribute the forces of the divine will in the three worlds where lies Their major responsibility. The focussed will of God, in its immediate implications and application, constitutes the point of tension from which Shamballa works in order to bring about the eventual fruition of the divine Purpose. |
Tiến trình bảo vệ và phân phối này là một trong các chức năng của đại hội nghị của toàn thể Thánh Đoàn, dưới sự bảo trợ của ba Đại Chúa Tể, Đức Manu, Đức Mahachohan và Đức Christ, trong thung lũng cao và thiêng liêng ấy ở dãy Himalaya, nơi hằng năm—sau sự chuẩn bị thích đáng—Thánh Đoàn tiếp xúc với Shamballa, và khi ấy một mối liên hệ được thiết lập giữa “trung tâm sáng chói và sống động” với “trung tâm tỏa chiếu và từ tính”, để “trung tâm chờ đợi thuận phục” có thể được kích thích tiến bước trên thang tiến hoá. Ngay cả chính Thánh Đoàn [Trang 69] cũng cần sự bảo vệ của toàn thể thành viên mình để hấp thu đúng đắn các năng lượng đang đến, và về sau phân phối một cách minh triết các mãnh lực của Ý Chí thiêng liêng trong ba cõi thấp, nơi trách nhiệm chính của Các Ngài nằm ở đó. Ý Chí tập trung của Thượng đế, trong các hàm ý và sự áp dụng trực tiếp của nó, tạo thành điểm tập trung nhất tâm mà từ đó Shamballa hoạt động nhằm đem lại sự thành tựu cuối cùng của Thiên Ý. |
|
1. The preceding paragraph continues to put matters anent Shamballa in proportion. |
1. Đoạn trước tiếp tục đặt các vấn đề liên quan đến Shamballa vào đúng tỉ lệ. |
|
2. Great facts in the life of Hierarchy and Shamballa are here discussed. |
2. Ở đây bàn đến những sự kiện lớn trong đời sống của Thánh Đoàn và Shamballa. |
|
3. Whether or not the Wesak Festival continues to be celebrated in the manner here discussed (see the Tibetan’s Wesak Message of 1946 in The Externalization of the Hierarchy), the facts anent the energy-relationship between Hierarchy and Shamballa is what is of importance. |
3. Dù Lễ Wesak có còn tiếp tục được cử hành theo cách được bàn đến ở đây hay không, xem Thông điệp Wesak năm 1946 của Chân sư Tây Tạng trong Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn, điều quan trọng chính là các sự kiện liên quan đến mối liên hệ năng lượng giữa Thánh Đoàn và Shamballa. |
|
4. The annual contact as it has unfolded for hundreds of years, has been a process characterized by a sanctified formality. The ‘Wesak-Occasion’ is so solemn, that it is inconceivable without “due preparation” on the part of Hierarchy. |
4. Sự tiếp xúc hằng năm, như đã khai mở trong hàng trăm năm, là một tiến trình được đặc trưng bởi một nghi thức trang nghiêm đã được thánh hiến. “Dịp Wesak” trang trọng đến mức không thể hình dung được nếu không có “sự chuẩn bị thích đáng” từ phía Thánh Đoàn. |
|
5. We also come to realize that contact between the “bright and living centre” and the “radiating and magnetic centre” is dangerous even for the members of Hierarchy unless They are protected by the presence of Their full membership. This may prove an arresting thought. |
5. Chúng ta cũng đi đến chỗ nhận ra rằng sự tiếp xúc giữa “trung tâm sáng chói và sống động” với “trung tâm tỏa chiếu và từ tính” là nguy hiểm ngay cả đối với các thành viên của Thánh Đoàn, trừ khi Các Ngài được bảo vệ bởi sự hiện diện của toàn thể thành viên Thánh Đoàn. Điều này có thể là một ý tưởng đáng chú ý. |
|
6. Shamballa is the Source and it lives. |
6. Shamballa là Nguồn và nó sống. |
|
7. Hierarchy is dual in its nature—receiving and giving, attracting and radiating. |
7. Thánh Đoàn có bản chất nhị nguyên—tiếp nhận và ban phát, thu hút và tỏa chiếu. |
|
8. Abundant life is received by Hierarchy, but it is not the Source of that abundance. |
8. Thánh Đoàn tiếp nhận sự sống dồi dào, nhưng không phải là Nguồn của sự dồi dào ấy. |
|
9. Hierarchy needs re-charging by Shamballa just as we need re-charging by Hierarchy. |
9. Thánh Đoàn cần được Shamballa tái nạp năng lượng, cũng như chúng ta cần được Thánh Đoàn tái nạp năng lượng. |
|
10. We (humanity) are the “acquiescent and waiting center”. To think of humanity in this way brings a sense of planetary proportion. For all our activity in the three worlds, our role in relation to the higher kingdoms is to acquiesce in the Will of God and to wait—patiently (as would a patient in a hospital, for indeed, humanity is presently sick).. |
10. Chúng ta, nhân loại, là “trung tâm thuận phục và chờ đợi”. Nghĩ về nhân loại theo cách này đem lại một cảm thức về tỉ lệ hành tinh. Dù chúng ta hoạt động rất nhiều trong ba cõi thấp, vai trò của chúng ta trong mối liên hệ với các giới cao hơn là thuận phục Ý Chí của Thượng Đế và chờ đợi—một cách kiên nhẫn như một bệnh nhân trong bệnh viện, vì quả thật, hiện nay nhân loại đang bệnh.. |
|
11. We do not yet know the Will of God, and so, it could be said that it is difficult to acquiesce in relation to that which is unknown. But even some small understanding of the nature of that Will reveals how feeble are all our powers compared with it. In a way, we are utterly helpless and non-determining before that great Will. Our task is to acquiesce with intelligence, faith and love in relation to that to which we must, at length, perforce submit. |
11. Chúng ta chưa biết Ý Chí của Thượng Đế, vì vậy có thể nói rằng thật khó thuận phục đối với điều chưa biết. Nhưng ngay cả một chút thấu hiểu nhỏ nhoi về bản chất của Ý Chí ấy cũng mặc khải rằng mọi quyền năng của chúng ta yếu ớt biết bao khi so với nó. Theo một cách nào đó, trước Ý Chí vĩ đại ấy, chúng ta hoàn toàn bất lực và không có khả năng quyết định. Nhiệm vụ của chúng ta là thuận phục, với trí tuệ, đức tin và tình thương, đối với điều mà rốt cuộc chúng ta tất yếu phải khuất phục. |
|
12. It might seem to some that acquiescence is an act of weakness, but much depends upon that to which one acquiesces and the spirit in which acquiescence is performed. Within the word, “acquiescence” is the word “quiescence”—which means, simply, a state of quietude. In the acquiescing one, the lunar lords have ceased their noisy rebellion. States of agitation (deflective of higher impression) are quieted, and “God” can be known—“Be still, and know that I am God”. |
12. Đối với một số người, sự thuận phục có thể có vẻ là một hành vi yếu đuối, nhưng điều đó tùy thuộc nhiều vào đối tượng mà người ta thuận phục và tinh thần trong đó sự thuận phục được thực hiện. Trong từ “thuận phục” có hàm ý “tĩnh lặng”—nghĩa đơn giản là một trạng thái yên tĩnh. Nơi người thuận phục, các nguyệt tinh quân đã chấm dứt sự phản loạn ồn ào của mình. Các trạng thái kích động, vốn làm lệch lạc ấn tượng cao siêu, được làm cho yên lắng, và “Thượng đế” có thể được biết—“Hãy tĩnh lặng, và biết rằng Ta là Thượng đế”. |
|
13. Thus, this word means (in the occult sense) a cooperative silence and acceptance of a will greater (and more enlightened, loving and powerful) than one’s own. This kind of acquiescence is required for human progress. Rebellion is useful up to a point—especially when the rebellion is against that which stifles soul development. (We are told that the psychology of our Planetary Logos is that of a “divine rebel”.) But humanity has spend millions of years rebelling against the higher principles, and this has only led to trouble and delay if not disaster. |
13. Vì vậy, theo nghĩa huyền bí, từ này hàm nghĩa một sự im lặng hợp tác và sự chấp nhận một ý chí lớn hơn, giác ngộ hơn, yêu thương hơn và quyền năng hơn ý chí của chính mình. Loại thuận phục này cần thiết cho sự tiến bộ của nhân loại. Sự nổi loạn hữu ích đến một mức nào đó—đặc biệt khi sự nổi loạn chống lại điều bóp nghẹt sự phát triển của linh hồn. Chúng ta được cho biết rằng tâm lý của Hành Tinh Thượng đế chúng ta là tâm lý của một “kẻ nổi loạn thiêng liêng”. Nhưng nhân loại đã trải qua hàng triệu năm nổi loạn chống lại các nguyên khí cao hơn, và điều này chỉ dẫn đến rắc rối và trì hoãn, nếu không phải là tai họa. |
|
14. If we, humanity, are the waiting center, for what are we waiting, and why must we wait. By waiting human beings learn about the times and cycles. They learn Divine Law and especially the laws of contact with higher worlds. A “patient” is one who is sick and needs healing; this is true of humanity—sick from its Moon Chain experience, and needing the healing that only love makes possible. |
14. Nếu chúng ta, nhân loại, là trung tâm chờ đợi, thì chúng ta đang chờ điều gì, và vì sao chúng ta phải chờ đợi. Bằng sự chờ đợi, con người học về các thời kỳ và chu kỳ. Họ học Định luật thiêng liêng và đặc biệt là các định luật tiếp xúc với những thế giới cao hơn. Một “bệnh nhân” là người đang bệnh và cần trị liệu; điều này đúng với nhân loại—bệnh từ kinh nghiệm Dãy Mặt Trăng của mình, và cần sự trị liệu mà chỉ tình thương mới làm cho khả hữu. |
|
15. Since humanity can reasonably be considered a kind of throat center within the life of Sanat Kumara, the relation between the three centers expressive of the first, second and third rays—head, heart and throat) suggests that the throat center should receive the impulses of the two greater centers—heart and head—before swinging into action. This means that we must think purposefully before we speak and, also, love before we speak—a thing more rare to find than it should be. |
15. Vì nhân loại có thể được xem một cách hợp lý như một loại trung tâm cổ họng trong sự sống của Đức Sanat Kumara, mối liên hệ giữa ba trung tâm biểu hiện cung một, cung hai và cung ba—đầu, tim và cổ họng—gợi ý rằng trung tâm cổ họng nên tiếp nhận các xung lực của hai trung tâm lớn hơn—tim và đầu—trước khi bắt đầu hành động. Điều này có nghĩa là chúng ta phải suy nghĩ có mục đích trước khi nói và, cũng vậy, phải yêu thương trước khi nói—một điều hiếm gặp hơn mức đáng lẽ phải có. |
|
16. The throat center is prominent in the development of humanity—more prominent than the heart or head, and this must change over the course of the next two rootraces. |
16. Trung tâm cổ họng nổi bật trong sự phát triển của nhân loại—nổi bật hơn tim hay đầu, và điều này phải thay đổi trong tiến trình của hai giống dân gốc kế tiếp. |
|
17. Occult silence must permeate the throat center; this type of silence is a special condition of thought and speech which reflects divine will and divine heart. |
17. Sự im lặng huyền bí phải thấm nhuần trung tâm cổ họng; loại im lặng này là một điều kiện đặc biệt của tư tưởng và lời nói, phản ánh Ý Chí thiêng liêng và trái tim thiêng liêng. |
|
18. We read that one of the major responsibilities of the Hierarchy is energy distribution. Disciples must learn this as well. Right distribution is, of course, dependent upon right reception. How much of the higher worlds do we actually receive—or do we just think about this reception without experiencing it? Progress in discipleship requires real experience of the higher worlds; this would be the fruit of right acquiescence. |
18. Chúng ta đọc thấy rằng một trong các trách nhiệm chính của Thánh Đoàn là phân phối năng lượng. Các đệ tử cũng phải học điều này. Dĩ nhiên, sự phân phối đúng đắn tùy thuộc vào sự tiếp nhận đúng đắn. Chúng ta thật sự tiếp nhận được bao nhiêu từ các thế giới cao hơn—hay chúng ta chỉ nghĩ về sự tiếp nhận này mà không trải nghiệm nó? Sự tiến bộ trong địa vị đệ tử đòi hỏi kinh nghiệm thực sự về các thế giới cao hơn; đây sẽ là hoa trái của sự thuận phục đúng đắn. |
|
19. A hint is given concerning the point of tension under which Shamballa labors; this point is the “focussed Will of God”. We humans know so little about it that this phrase is rather meaningless to us, though we certainly understand the idea (if not the energy). |
19. Một gợi ý được đưa ra về điểm tập trung nhất tâm mà Shamballa đang đảm nhận; điểm này là “Ý Chí của Thượng Đế được tập trung”. Nhân loại chúng ta biết quá ít về điều ấy đến nỗi cụm từ này đối với chúng ta khá vô nghĩa, dù chắc chắn chúng ta thấu hiểu ý tưởng ấy, nếu không phải là năng lượng ấy. |
|
20. It becomes clear that as evolution progresses, the evolving unit becomes increasingly undeviating. |
20. Điều trở nên rõ ràng là khi tiến hoá diễn tiến, đơn vị đang tiến hoá ngày càng trở nên không chệch hướng. |
|
21. So often the relation between Shamballa, Hierarchy and Humanity is pondered. This pondering can be enriched by considering them in the three ways presented in this paragraph; “the bright and living centre”; “the radiating and magnetic centre”; “the acquiescent waiting centre”. New ideas emerge from new combinations of thought intuitively considered. |
21. Người ta thường suy ngẫm về mối quan hệ giữa Shamballa, Thánh đoàn và Nhân loại. Sự suy ngẫm này có thể được làm phong phú bằng cách xem xét các Ngài theo ba cách được trình bày trong đoạn này: “trung tâm sáng rực và sống động”; “trung tâm tỏa chiếu và từ tính”; “trung tâm chờ đợi và thuận nhận”. Những ý tưởng mới xuất hiện từ những phối hợp tư tưởng mới được trực giác xem xét. |
|
22. Anent Shamballa’s brightness, we might ask “How bright”? Again, we cannot answer, except to realize that the enlightenment experienced ‘there’ is “unfettered”—meaning unchained or unbound—in short, liberated. |
22. Về sự rực sáng của Shamballa, chúng ta có thể hỏi: “Sáng đến mức nào?” Một lần nữa, chúng ta không thể trả lời, ngoại trừ việc nhận ra rằng sự giác ngộ được kinh nghiệm “ở đó” là “không bị trói buộc”—hàm ý được tháo xiềng hoặc được giải phóng khỏi ràng buộc—tóm lại, được giải thoát. |
|
23. Shamballa is the home of the “Light of Life”(related to the sign Taurus—the sign under which Shamballa is most completely contacted by Hierarchy and humanity once a year at the Wesak Festival). |
23. Shamballa là quê nhà của “Ánh sáng của Sự sống” liên hệ với dấu hiệu Kim Ngưu—dấu hiệu mà dưới ảnh hưởng của nó, Shamballa được Thánh đoàn và nhân loại tiếp xúc trọn vẹn nhất mỗi năm một lần vào Đại lễ Wesak. |
|
24. As a “bright center”, its radiance obscures all lesser centers, yet the brightness is so great (to our unaccustomed spiritual ‘eyes’) that Shamballa is obscured from the ‘sight’ of most. |
24. Là một “trung tâm sáng rực”, hào quang của Shamballa che khuất mọi trung tâm thấp hơn, nhưng sự rực sáng ấy quá lớn lao đối với “đôi mắt” tinh thần chưa quen của chúng ta đến nỗi Shamballa bị che khuất khỏi “tầm nhìn” của đa số. |
|
25. The immense power of Shamballa is worthy contemplation. We sometimes use the word loosely, speaking of it almost glibly as if it were a household fact, yet if “even the Hierarchy itself needs the protection of its full membership in order rightly to absorb the incoming energies”, we are dealing with a planetary center the magnitude of which escapes our true comprehension. We can see how important are a sense of right proportion (“co-measurement”) and the humility which results from even an approximately correct estimation of relative spiritual intensities. |
25. Quyền năng bao la của Shamballa xứng đáng được chiêm ngưỡng. Đôi khi chúng ta dùng từ này một cách lỏng lẻo, nói về Shamballa gần như quá dễ dàng như thể đó là một sự kiện quen thuộc trong đời sống thường nhật; tuy nhiên, nếu “ngay cả chính Thánh đoàn cũng cần sự bảo vệ của toàn thể thành viên mình để hấp thu đúng đắn các năng lượng đang đi vào”, thì chúng ta đang đề cập đến một trung tâm hành tinh có tầm vóc vượt khỏi sự lĩnh hội đích thực của chúng ta. Chúng ta có thể thấy Ý thức về tỉ lệ đúng đắn, tức “đồng-đo-lường”, và sự khiêm nhường phát sinh từ một ước lượng tương đối đúng về các cường độ tinh thần tương đối, quan trọng đến mức nào. |
|
26. The Hierarchy symbolically ‘bows low’ in relation to Shamballa. What, then, is the proper attitude for those upon the Path of Discipleship? |
26. Thánh đoàn, theo biểu tượng, “cúi mình thật thấp” trong tương quan với Shamballa. Vậy đâu là thái độ thích đáng cho những ai đang ở trên Con Đường Đệ Tử? |
|
27. As for the Hierarchy, its major responsibility lies in the wise distribution of the Shamballic energy it has contacted (especially at the time of Wesak). Discipleship groups can be part of this distribution, part of the radiation and magnetism which emanate from Hierarchy (under the inspiration of Shamballa). |
27. Đối với Thánh đoàn, trách nhiệm chính yếu của Thánh đoàn nằm trong việc phân phối minh triết năng lượng Shamballa mà Thánh đoàn đã tiếp xúc, đặc biệt vào thời điểm Wesak. Các nhóm đệ tử có thể là một phần của sự phân phối này, một phần của sự tỏa chiếu và từ điện xuất lộ từ Thánh đoàn, dưới cảm hứng của Shamballa. |
|
28. Taking note of the following sentence: |
28. Hãy lưu ý câu sau: |
|
“The focussed will of God, in its immediate implications and application, constitutes the point of tension from which Shamballa works in order to bring about the eventual fruition of the divine Purpose” |
“Ý Chí của Thượng Đế được tập trung, trong các hàm ý và ứng dụng trực tiếp của nó, tạo thành điểm tập trung nhất tâm mà từ đó Shamballa hoạt động nhằm đưa Thiên Ý đến sự thành tựu sau cùng” |
|
We see that Shamballa is concerned with the will of God in its immediate implications and application. There is an exquisite sense of timing characteristic of Shamballa. The Will of God is vast and extensive in its implications. Only a certain (and limited) phase or intention of the entirety of Divine Will is appropriate for any particular time and season—i.e., any cycle (lesser or greater). |
Chúng ta thấy rằng Shamballa liên hệ đến Ý Chí của Thượng Đế trong các hàm ý và ứng dụng trực tiếp của nó. Có một ý thức tuyệt diệu về thời điểm, vốn là đặc trưng của Shamballa. Ý Chí của Thượng Đế bao la và rộng lớn trong các hàm ý của nó. Chỉ một giai đoạn hay ý định nhất định và giới hạn của toàn thể Ý Chí thiêng liêng là thích hợp cho bất kỳ thời điểm và mùa tiết đặc thù nào—tức là bất kỳ chu kỳ nào, nhỏ hay lớn. |
|
29. When we think of our potential relation to Shamballa (especially as a group), we must think of the timing of the Divine Plan and the qualities which presently are the focus of this Plan. |
29. Khi nghĩ về mối liên hệ tiềm tàng của chúng ta với Shamballa, đặc biệt với tư cách một nhóm, chúng ta phải nghĩ đến thời điểm của Thiên Cơ và những phẩm tính hiện nay đang là tiêu điểm của Thiên Cơ này. |
|
30. Obviously, sharing, right human relations and a true peace are Shamballic objectives in the present stage of human development. These objectives, it will be seen, come very much under the jurisdiction of the sign Libra—a sign intimately related to Shamballa as the true center of peace within our planet. |
30. Rõ ràng, sự chia sẻ, các mối quan hệ nhân loại đúng đắn và một nền hòa bình chân thực là những mục tiêu của Shamballa trong giai đoạn hiện tại của sự phát triển nhân loại. Có thể thấy rằng những mục tiêu này phần lớn nằm dưới quyền quản trị của dấu hiệu Thiên Bình—một dấu hiệu liên hệ mật thiết với Shamballa như trung tâm đích thực của hòa bình bên trong hành tinh chúng ta. |
|
E. There is a definite distinction between Purpose and Will. (cf. RI, p. 69) |
E. Có một sự phân biệt rõ ràng giữa Thiên Ý và Ý Chí. (xem RI, tr. 69) |
|
The Members of the Council at Shamballa recognize this distinction between Purpose and Will and therefore divide Themselves into two groups, the Registrants of the Purpose and the Custodians of the Will. (cf. RI, p. 69) |
Các Thành viên Hội Đồng tại Shamballa nhận ra sự phân biệt này giữa Thiên Ý và Ý Chí, và do đó tự phân thành hai nhóm: Các Đấng Ghi Nhận Thiên Ý và Các Đấng Bảo Hộ Ý Chí. (xem RI, tr. 69) |
|
Will is active. Purpose is passive, waiting for the results of the activity of the will. (cf. RI, p. 69) |
Ý Chí thì năng động. Thiên Ý thì tĩnh tại, chờ đợi kết quả từ hoạt động của ý chí. (xem RI, tr. 69) |
|
The Registrants of the Purpose are reflected in hierarchical circles by the Nirmanakayas or the Planetary Contemplatives, and the Custodians of the Will are reflected by the Custodians of the Plan. (cf. RI, p. 69) |
Các Đấng Ghi Nhận Thiên Ý được phản chiếu trong các giới của Thánh đoàn bởi các Nirmanakaya hay các Đấng Chiêm Ngưỡng Hành Tinh, còn Các Đấng Bảo Hộ Ý Chí được phản chiếu bởi Các Đấng Bảo Hộ Thiên Cơ. (xem RI, tr. 69) |
|
The function of the Registrants of the Purpose is to keep the channel open between our Earth, the planet Venus and the Central Spiritual Sun. (cf. RI, p. 69) |
Chức năng của Các Đấng Ghi Nhận Thiên Ý là giữ cho vận hà thông suốt giữa Trái Đất của chúng ta, hành tinh Sao Kim và Mặt trời Tinh thần Trung Ương. (xem RI, tr. 69) |
|
The function of the Custodians of the Will is to relate the Council, the Hierarchy and Humanity, thus creating a basic triangle of force between the three major centres of the planetary Life. (cf. RI, p. 69) |
Chức năng của Các Đấng Bảo Hộ Ý Chí là liên kết Hội Đồng, Thánh đoàn và Nhân loại, qua đó tạo nên một tam giác mãnh lực căn bản giữa ba trung tâm chính của Sự sống hành tinh. (xem RI, tr. 69) |
|
The triangle between our Earth, the planet Venus and the Central Spiritual Sun and the triangle between the Council, the Hierarchy and Humanity together and interlaced form the higher expression (symbolic) of the six-pointed star. (cf. RI, p. 69) |
Tam giác giữa Trái Đất của chúng ta, hành tinh Sao Kim và Mặt trời Tinh thần Trung Ương, cùng với tam giác giữa Hội Đồng, Thánh đoàn và Nhân loại, khi hợp lại và đan xen nhau, tạo thành biểu hiện cao hơn, mang tính biểu tượng, của ngôi sao sáu cánh. (xem RI, tr. 69) |
|
A replica of this fundamental triangle and of this symbol of energy, with its inflow and distribution, is to be found in the relation of the three higher centers in the human being—head, heart and throat—to the three lower centers—solar plexus, sacral centre and the centre at the base of the spine. (cf. RI, p. 69) |
Một bản sao của tam giác nền tảng này và của biểu tượng năng lượng này, với dòng lưu nhập và sự phân phối của nó, có thể được tìm thấy trong mối quan hệ giữa ba trung tâm cao trong con người—đầu, tim và cổ họng—với ba trung tâm thấp—tùng thái dương, trung tâm xương cùng và trung tâm ở đáy cột sống. (xem RI, tr. 69) |
|
The Science of Invocation and Evocation is seen to be symbolically proceeding along evolutionary lines. Worship, the attitude of the mystic, must give place to Invocation in the man who knows he is divine. (cf. RI, p. 69) |
Khoa Khẩn Cầu và Gợi Lên được thấy là đang tiến hành một cách biểu tượng theo các đường lối thăng thượng tiến hoá. Sự thờ phụng, thái độ của nhà thần bí, phải nhường chỗ cho Khẩn Cầu trong con người biết mình là thiêng liêng. (xem RI, tr. 69) |
|
The symbolic revelation is to be seen in the lifting up of the three lower energies and their evocative response to the three higher, thus producing an eventual unity at the point of tension. (cf. RI, p. 69-70) |
Sự mặc khải biểu tượng được thấy trong việc nâng ba năng lượng thấp lên và trong sự đáp ứng gợi lên của chúng đối với ba năng lượng cao, nhờ đó cuối cùng tạo ra một sự hợp nhất tại điểm tập trung nhất tâm. (xem RI, tr. 69-70) |
|
The initiation of the moment becomes the past achievement of the masses eventually. (cf. RI, p. 70) |
Cuộc điểm đạo của hiện tại rốt cuộc trở thành thành tựu quá khứ của quần chúng. (xem RI, tr. 70) |
|
The Atlantic Charter and the Four Freedoms embody all that it is possible for average materially-minded man to grasp of the present will of Shamballa as it conditions the plans of the Hierarchy and is impulsed by the Registrants of the Purpose. (cf. RI, p. 70) |
Hiến chương Đại Tây Dương và Bốn Quyền Tự Do thể hiện tất cả những gì con người trung bình có khuynh hướng vật chất có thể lĩnh hội về ý chí hiện tại của Shamballa, khi ý chí ấy tác động lên các kế hoạch của Thánh đoàn và được thúc đẩy bởi Các Đấng Ghi Nhận Thiên Ý. (xem RI, tr. 70) |
|
There is a definite distinction between Purpose and Will; it is subtle indeed, but quite definite to the advanced initiate, and therefore the dualistic nature of our planetary manifestation and our solar Expression appear even in this. The Members of the Council at Shamballa recognise this distinction and therefore divide Themselves into two groups which are called in the ancient parlance, Registrants of the Purpose and Custodians of the Will. Will is active. Purpose is passive, waiting for the results of the activity of the will. These two groups are reflected in hierarchical circles by the Nirmanakayas or the Planetary Contemplatives, and the Custodians of the Plan. The function of the Registrants of the Purpose is to keep the channel open between our Earth, the planet Venus and the Central Spiritual Sun. The function of the Custodians of the Will is to relate the Council, the Hierarchy and Humanity, thus creating a basic triangle of force between the three major centres of the planetary Life. This is the higher expression (symbolic, if you like) of the six-pointed star, formed of two interlaced triangles. A replica of this fundamental triangle and of this symbol of energy, with its inflow and distribution, is to be found in the relation of the three higher centres in the human being—head, heart and throat—to the three lower centres—solar plexus, sacral centre and the centre at the base of the spine. The Science of Invocation and Evocation is also seen to be symbolically proceeding along evolutionary lines. Worship, the attitude of the mystic, must give place to Invocation in the man who knows he is divine. This symbolic revelation is to be seen in the lifting up of the three lower energies and their evocative response to the three higher, thus producing [Page 70] an eventual unity at the point of tension. I realise that this is a hard thing to comprehend because it embodies truths which are difficult for the disciple to grasp. But they will be grasped and mastered by each one as he proceeds along the Path of Discipleship and submits to the needed training for initiation. They will also be mastered, later in this century and in the next, by the rapidly developing humanity, thus demonstrating that the initiation of the moment becomes the past achievement of the masses eventually. This enhanced liberation will later appear as a definite result of the war. The Atlantic Charter and the Four Freedoms, formulated in the tension produced by the world agony and strain, are the reflections of this, and embody all that it is possible for average materially-minded man to grasp of the present will of Shamballa as it conditions the plans of the Hierarchy and is impulsed by the Registrants of the Purpose. This is as far as the two groups of Custodians have been able to convey this revelation to the best human intellects—the first group dealing with the senior members of the Hierarchy and the latter with those initiates and disciples who are closely related to humanity. |
Có một sự phân biệt rõ ràng giữa Thiên Ý và Ý Chí; sự phân biệt ấy quả thật tinh tế, nhưng hoàn toàn rõ ràng đối với điểm đạo đồ cao cấp, và vì thế bản chất nhị nguyên của sự biểu hiện hành tinh của chúng ta và Biểu hiện thái dương của chúng ta xuất hiện ngay cả trong điều này. Các Thành viên Hội Đồng tại Shamballa nhận ra sự phân biệt này và do đó tự phân thành hai nhóm, được gọi theo ngôn ngữ cổ là Các Đấng Ghi Nhận Thiên Ý và Các Đấng Bảo Hộ Ý Chí. Ý Chí thì năng động. Thiên Ý thì tĩnh tại, chờ đợi kết quả từ hoạt động của ý chí. Hai nhóm này được phản chiếu trong các giới của Thánh đoàn bởi các Nirmanakaya hay các Đấng Chiêm Ngưỡng Hành Tinh, và bởi Các Đấng Bảo Hộ Thiên Cơ. Chức năng của Các Đấng Ghi Nhận Thiên Ý là giữ cho vận hà thông suốt giữa Trái Đất của chúng ta, hành tinh Sao Kim và Mặt trời Tinh thần Trung Ương. Chức năng của Các Đấng Bảo Hộ Ý Chí là liên kết Hội Đồng, Thánh đoàn và Nhân loại, qua đó tạo nên một tam giác mãnh lực căn bản giữa ba trung tâm chính của Sự sống hành tinh. Đây là biểu hiện cao hơn, nếu các bạn muốn nói là biểu tượng, của ngôi sao sáu cánh, được tạo thành bởi hai tam giác đan xen. Một bản sao của tam giác nền tảng này và của biểu tượng năng lượng này, với dòng lưu nhập và sự phân phối của nó, có thể được tìm thấy trong mối quan hệ giữa ba trung tâm cao trong con người—đầu, tim và cổ họng—với ba trung tâm thấp—tùng thái dương, trung tâm xương cùng và trung tâm ở đáy cột sống. Khoa Khẩn Cầu và Gợi Lên cũng được thấy là đang tiến hành một cách biểu tượng theo các đường lối thăng thượng tiến hoá. Sự thờ phụng, thái độ của nhà thần bí, phải nhường chỗ cho Khẩn Cầu trong con người biết mình là thiêng liêng. Sự mặc khải biểu tượng này được thấy trong việc nâng ba năng lượng thấp lên và trong sự đáp ứng gợi lên của chúng đối với ba năng lượng cao, nhờ đó tạo ra [Trang 70] một sự hợp nhất sau cùng tại điểm tập trung nhất tâm. Tôi nhận ra rằng điều này khó lĩnh hội, vì nó thể hiện những chân lý mà đệ tử khó nắm bắt. Nhưng mỗi người sẽ nắm bắt và làm chủ chúng khi tiến bước trên Con Đường Đệ Tử và tuân theo sự huấn luyện cần thiết cho điểm đạo. Nhân loại đang phát triển nhanh chóng cũng sẽ làm chủ chúng vào cuối thế kỷ này và trong thế kỷ tới, qua đó chứng minh rằng cuộc điểm đạo của hiện tại rốt cuộc trở thành thành tựu quá khứ của quần chúng. Sự giải thoát được tăng cường này về sau sẽ xuất hiện như một kết quả rõ ràng của chiến tranh. Hiến chương Đại Tây Dương và Bốn Quyền Tự Do, được hình thành trong sự căng thẳng do nỗi thống khổ và áp lực của thế giới tạo ra, là những phản chiếu của điều này, và thể hiện tất cả những gì con người trung bình có khuynh hướng vật chất có thể lĩnh hội về ý chí hiện tại của Shamballa, khi ý chí ấy tác động lên các kế hoạch của Thánh đoàn và được thúc đẩy bởi Các Đấng Ghi Nhận Thiên Ý. Đây là mức xa nhất mà hai nhóm Đấng Bảo Hộ đã có thể truyền đạt sự mặc khải này đến những trí tuệ nhân loại ưu tú nhất—nhóm thứ nhất làm việc với các thành viên cao cấp của Thánh đoàn, còn nhóm sau với những điểm đạo đồ và đệ tử có liên hệ mật thiết với nhân loại. |
|
1. There is an abundance of ideas presented in this paragraph. It would be profitable to consider these ideas separately. |
1. Có rất nhiều ý tưởng được trình bày trong đoạn này. Sẽ hữu ích nếu xem xét riêng từng ý tưởng ấy. |
|
2. “There is a definite distinction between Purpose and Will; it is subtle indeed, but quite definite to the advanced initiate, and therefore the dualistic nature of our planetary manifestation and our solar Expression appear even in this.” |
2. “Có một sự phân biệt rõ ràng giữa Thiên Ý và Ý Chí; sự phân biệt ấy quả thật tinh tế, nhưng hoàn toàn rõ ràng đối với điểm đạo đồ cao cấp, và vì thế bản chất nhị nguyên của sự biểu hiện hành tinh của chúng ta và Biểu hiện thái dương của chúng ta xuất hiện ngay cả trong điều này.” |
|
There can be much debate about this distinction and which of the two (Will or Purpose) is pre-eminent in the scale of things. I have always thought of will as essentially dynamic—in powerful motion, and purpose as held and retained—the ‘sponsor’ of will, and the held pattern which will seeks to fulfill. |
Có thể có nhiều tranh luận về sự phân biệt này và về việc trong hai điều, Ý Chí hay Thiên Ý, điều nào là tối thượng trong trật tự sự vật. Tôi luôn nghĩ về ý chí như điều cốt yếu mang tính năng động—trong sự vận động mạnh mẽ, còn thiên ý như điều được giữ gìn và bảo tồn—“nguồn bảo trợ” của ý chí, và là mô hình được giữ vững mà ý chí tìm cách hoàn thành. |
|
a. The dualism here referenced relates, from one perspective, to male and female energies; active and passive; assertive and receptive. |
a. Tính nhị nguyên được đề cập ở đây, theo một góc nhìn, liên hệ đến các năng lượng nam và nữ; chủ động và thụ động; khẳng định và tiếp nhận. |
|
b. Our planetary Logos is considered the “twin sister” of Venus, and thus, it would seem, feminine. Yet, Earth is so frequently called “Mother Earth”—probably in relation to the many natural forms which it produces. |
b. Hành Tinh Thượng đế của chúng ta được xem là “chị em sinh đôi” của Sao Kim, và như vậy, dường như có tính nữ. Tuy nhiên, Trái Đất rất thường được gọi là “Mẹ Trái Đất”—có lẽ liên quan đến nhiều hình tướng tự nhiên mà Trái Đất tạo ra. |
|
c. Yet, our Logos is said, presently, to be experiencing a masculine incarnation. Such incarnational variation is, apparently possible with respect to greater beings as well as to lesser ones, such a human beings. |
c. Tuy nhiên, Thượng đế của chúng ta hiện được nói là đang kinh nghiệm một lần lâm phàm mang tính nam. Sự biến thiên trong lâm phàm như vậy dường như khả hữu đối với các đấng vĩ đại cũng như đối với các hữu thể nhỏ bé hơn, chẳng hạn như các con người. |
|
d. Further, if we examine the ray structure of our Planetary Logos, we discover two hard line rays and only one ray on the soft line. The ray one monad is pre-eminently masculine; the ray two soul is, in many respects, feminine, though the second ray represents “the Son” as well. |
d. Hơn nữa, nếu khảo sát cấu trúc cung của Hành Tinh Thượng đế chúng ta, chúng ta khám phá hai cung thuộc đường lối cứng và chỉ một cung thuộc đường lối mềm. Chân thần cung một mang tính nam vượt trội; linh hồn cung hai, theo nhiều phương diện, mang tính nữ, dù cung hai cũng tượng trưng cho “Con”. |
|
e. The third ray is ambiguous, being in a way both masculine (because it is on the hard line) and feminine (because so closely related to nature and the fecund production of forms). |
e. Cung ba thì mơ hồ, theo một cách nào đó vừa mang tính nam, vì nó thuộc đường lối cứng, vừa mang tính nữ, vì nó liên hệ rất mật thiết với thiên nhiên và sự sản sinh phong phú các hình tướng. |
|
3. “The Members of the Council at Shamballa recognise this distinction and therefore divide Themselves into two groups which are called in the ancient parlance, Registrants of the Purpose and Custodians of the Will. Will is active. Purpose is passive, waiting for the results of the activity of the will. These two groups are reflected in hierarchical circles by the Nirmanakayas or the Planetary Contemplatives, and the Custodians of the Plan. The function of the Registrants of the Purpose is to keep the channel open between our Earth, the planet Venus and the Central Spiritual Sun. The function of the Custodians of the Will is to relate the Council, the Hierarchy and Humanity, thus creating a basic triangle of force between the three major centres of the planetary Life.” |
3. “Các Thành viên Hội Đồng tại Shamballa nhận ra sự phân biệt này và do đó tự phân thành hai nhóm, được gọi theo ngôn ngữ cổ là Các Đấng Ghi Nhận Thiên Ý và Các Đấng Bảo Hộ Ý Chí. Ý Chí thì năng động. Thiên Ý thì tĩnh tại, chờ đợi kết quả từ hoạt động của ý chí. Hai nhóm này được phản chiếu trong các giới của Thánh đoàn bởi các Nirmanakaya hay các Đấng Chiêm Ngưỡng Hành Tinh, và bởi Các Đấng Bảo Hộ Thiên Cơ. Chức năng của Các Đấng Ghi Nhận Thiên Ý là giữ cho vận hà thông suốt giữa Trái Đất của chúng ta, hành tinh Sao Kim và Mặt trời Tinh thần Trung Ương. Chức năng của Các Đấng Bảo Hộ Ý Chí là liên kết Hội Đồng, Thánh đoàn và Nhân loại, qua đó tạo nên một tam giác mãnh lực căn bản giữa ba trung tâm chính của Sự sống hành tinh.” |
|
a. From the description given, it would seem that will is primary, as purpose (which is passive) awaits its activity. Yet when the function of these two groups of Shamballically related Lives is studied, we find that the Registrants of the Purpose hold a more elevated ‘position’ (inter-planetary) than the Custodians of the Will (intra-planetary). |
a. Từ mô tả được đưa ra, dường như ý chí là chính yếu, vì thiên ý, vốn tĩnh tại, chờ đợi hoạt động của nó. Tuy nhiên, khi chức năng của hai nhóm Sự sống có liên hệ theo phương diện Shamballa này được nghiên cứu, chúng ta thấy rằng Các Đấng Ghi Nhận Thiên Ý giữ một “vị trí” cao hơn, liên-hành tinh, so với Các Đấng Bảo Hộ Ý Chí, nội-hành tinh. |
|
b. We can see reflected in two basic types of human beings (who could be named ‘dynamic/active’ and ‘contemplative/passive’) the prototypical Shamballic beings. |
b. Chúng ta có thể thấy các hữu thể Shamballa nguyên mẫu được phản chiếu trong hai loại người căn bản, có thể được gọi là “năng động/chủ động” và “chiêm ngưỡng/thụ động”. |
|
c. We note that two triangles are involved—a higher one (planetary and solar) which engages the attention of the Registrants of the Purpose, and one relatively lower (strictly planetary) which calls for the attention of the Custodians of the Will. In the context here discussed, the higher triangle relates to energies; the lower to forces (though the Shamballa Force is of so high a nature than we human beings would be right to deem it an energy). In occultism the term “energy”, when used in relation to “force”, indicates the influence of a superior source. |
c. Chúng ta lưu ý rằng có hai tam giác liên quan—một tam giác cao hơn, mang tính hành tinh và thái dương, thu hút sự chú tâm của Các Đấng Ghi Nhận Thiên Ý; và một tam giác tương đối thấp hơn, thuần túy hành tinh, đòi hỏi sự chú tâm của Các Đấng Bảo Hộ Ý Chí. Trong bối cảnh đang bàn ở đây, tam giác cao hơn liên hệ đến các năng lượng; tam giác thấp hơn liên hệ đến các mãnh lực, dù Mãnh lực Shamballa có bản chất cao đến mức chúng ta, những con người, sẽ đúng khi xem nó là một năng lượng. Trong huyền bí học, thuật ngữ “năng lượng”, khi được dùng trong tương quan với “mãnh lực”, chỉ ảnh hưởng của một nguồn cao hơn. |
|
d. The function of “Registrant” and “Custodian” are probably universal in the cosmic process, extending ‘upward’ as far as the mind can imagine. One (the Registrant) receives and holds; the other (the Custodian) is dynamic in its application—but each has something of the major quality of the other. |
d. Chức năng “Ghi Nhận” và “Bảo Hộ” có lẽ mang tính phổ quát trong tiến trình vũ trụ, vươn “lên trên” xa đến mức thể trí có thể hình dung. Một bên, Đấng Ghi Nhận, tiếp nhận và gìn giữ; bên kia, Đấng Bảo Hộ, năng động trong việc ứng dụng—nhưng mỗi bên đều có phần nào phẩm tính chính yếu của bên kia. |
|
e. When we examine the term “mystic” and “occultist”, we find that the function of “Registrants” correlates with that of the mystic, and the function of “Custodians” with that of the occultist. |
e. Khi khảo sát các thuật ngữ “nhà thần bí” và “nhà huyền bí học”, chúng ta thấy rằng chức năng của “Các Đấng Ghi Nhận” tương ứng với chức năng của nhà thần bí, còn chức năng của “Các Đấng Bảo Hộ” tương ứng với chức năng của nhà huyền bí học. |
|
f. The mystic becomes the “true psychic” like the Christ, and is intimately involved with the sense of vision. The occultist works with energy and takes action. |
f. Nhà thần bí trở thành “nhà thông linh chân chính” như Đức Christ, và liên hệ mật thiết với ý thức về tầm nhìn. Nhà huyền bí học làm việc với năng lượng và hành động. |
|
g. These are broad distinctions for the sake of categorical differentiation. Naturally, within every mystic, the occultist is latent, and every true occultist must possess mystical capabilities. |
g. Đây là những phân biệt rộng nhằm mục đích phân loại. Tự nhiên, trong mỗi nhà thần bí, nhà huyền bí học vẫn tiềm tàng, và mỗi nhà huyền bí học chân chính phải sở hữu các năng lực thần bí. |
|
h. The alignment of Central Spiritual Sun, Venus and Earth is interesting in the extreme. (There is almost certainly another alignment with the Heart of the Sun, Venus and Earth.). In any case, first second and third ray functions are indicated—the Central Spiritual Sun conveying the first ray, Venus the second and the Earth the third (through its personality—which is said to be on the third ray). |
h. Sự chỉnh hợp của Mặt trời Tinh thần Trung Ương, Sao Kim và Trái Đất cực kỳ thú vị. Gần như chắc chắn còn có một sự chỉnh hợp khác với Tâm của Mặt Trời, Sao Kim và Trái Đất. Dù thế nào, các chức năng cung một, cung hai và cung ba cũng được chỉ ra—Mặt trời Tinh thần Trung Ương truyền đạt cung một, Sao Kim truyền đạt cung hai, và Trái Đất truyền đạt cung ba, thông qua phàm ngã của nó, vốn được nói là thuộc cung ba. |
|
i. Through this alignment, the Will of the Solar Logos reaches the Earth. On Earth, the receptive Agents for this Will are our Planetary Logos and Sanat Kumara (differentiating them in function, though at times, the Tibetan makes Them seem almost indistinguishable). |
i. Thông qua sự chỉnh hợp này, Ý Chí của Thái dương Thượng đế đến với Trái Đất. Trên Trái Đất, các Tác nhân tiếp nhận Ý Chí này là Hành Tinh Thượng đế của chúng ta và Đức Sanat Kumara, phân biệt Các Ngài theo chức năng, dù đôi khi Chân sư Tây Tạng khiến Các Ngài dường như hầu như không thể phân biệt. |
|
j. It is worthwhile to consider whether the Planetary Logos is not found in the first of these two triangles, representing the Earth, and Sanat Kumara in the second triangle (relating the “Council”, Hierarchy and Humanity). Indeed Sanat Kumara presides of the Council at Shamballa. |
j. Điều đáng xem xét là liệu Hành Tinh Thượng đế có phải được tìm thấy trong tam giác thứ nhất của hai tam giác này, đại diện cho Trái Đất, và Đức Sanat Kumara trong tam giác thứ hai, liên kết “Hội Đồng”, Thánh đoàn và Nhân loại hay không. Quả thật, Đức Sanat Kumara chủ trì Hội Đồng tại Shamballa. |
|
k. As we think about these great triangles (great from the human perspective) we see how planetary, solar and cosmic energies interlock. Each entity is dependent upon others and each follows what, for it, serves as a director. The principle of hierarchy is at work throughout cosmos. |
k. Khi nghĩ về các tam giác vĩ đại này, vĩ đại từ quan điểm nhân loại, chúng ta thấy các năng lượng hành tinh, thái dương và vũ trụ đan cài với nhau như thế nào. Mỗi thực thể lệ thuộc vào các thực thể khác, và mỗi thực thể đi theo điều mà đối với nó đóng vai trò như một đấng chỉ đạo. Nguyên khí của thánh đoàn đang hoạt động trong toàn vũ trụ. |
|
l. As well, the Science of Triangles is fundamental to understanding all relationship in cosmos. It would repay contemplation to determine how every apparent duality can be triangulated. There is always a third point to which an opposition consciously or unconsciously relates. |
l. Cũng vậy, Khoa Tam Giác là nền tảng để thấu hiểu mọi mối quan hệ trong vũ trụ. Sẽ rất đáng chiêm ngưỡng nếu xác định cách mọi nhị nguyên biểu kiến có thể được tam giác hóa. Luôn luôn có một điểm thứ ba mà một sự đối lập, hữu thức hay vô thức, liên hệ đến. |
|
4. This is the higher expression (symbolic, if you like) of the six-pointed star, formed of two interlaced triangles. A replica of this fundamental triangle and of this symbol of energy, with its inflow and distribution, is to be found in the relation of the three higher centres in the human being—head, heart and throat—to the three lower centres—solar plexus, sacral centre and the centre at the base of the spine. |
4. Đây là biểu hiện cao hơn, nếu các bạn muốn nói là biểu tượng, của ngôi sao sáu cánh, được tạo thành bởi hai tam giác đan xen. Một bản sao của tam giác nền tảng này và của biểu tượng năng lượng này, với dòng lưu nhập và sự phân phối của nó, có thể được tìm thấy trong mối quan hệ giữa ba trung tâm cao trong con người—đầu, tim và cổ họng—với ba trung tâm thấp—tùng thái dương, trung tâm xương cùng và trung tâm ở đáy cột sống. |
|
a. There are many kinds of six-pointed stars—among planets, zodiacal constellations, higher constellations, etc. Presumably, they must even exist among galaxies. |
a. Có nhiều loại ngôi sao sáu cánh—giữa các hành tinh, các chòm sao hoàng đạo, các chòm sao cao hơn, v.v. Có lẽ chúng thậm chí cũng phải tồn tại giữa các thiên hà. |
|
b. Wherever there is a septenate, two triangles (one higher and one lower) will form a six-pointed star with the seventh point at the center. |
b. Bất cứ nơi nào có một bộ bảy, hai tam giác, một cao và một thấp, sẽ tạo thành một ngôi sao sáu cánh với điểm thứ bảy ở trung tâm. |
|
c. As a little experiment, take seven pennies or coins of equal size, and place as many as you can around one of them, using it as the center. You will find that exactly six will complete a hexagon surrounding a central seventh. There is a fundamental law in our cosmos relating six symmetrically to one. |
c. Như một thí nghiệm nhỏ, hãy lấy bảy đồng xu hay đồng tiền có kích thước bằng nhau, và đặt càng nhiều đồng càng tốt chung quanh một đồng, dùng đồng ấy làm trung tâm. Các bạn sẽ thấy rằng đúng sáu đồng sẽ hoàn tất một lục giác bao quanh đồng thứ bảy ở trung tâm. Có một định luật nền tảng trong vũ trụ của chúng ta liên hệ sáu một cách đối xứng với một. |
|
d. The relationship between the CSS (Central Spiritual Sun), Venus and our Earth is not a relationship among equals, for the CSS is vastly greater in scope and power than either Venus or Earth, but it does, in this configuration, uphold the first ray function. There is greater comparability between the Council (Shamballa), Hierarchy and Humanity—though, of course, they, too, are not equals, but are related hierarchically. |
d. Mối quan hệ giữa Mặt trời Tinh thần Trung Ương, Sao Kim và Trái Đất của chúng ta không phải là mối quan hệ giữa những thực thể ngang hàng, vì Mặt trời Tinh thần Trung Ương rộng lớn hơn vô cùng về phạm vi và quyền năng so với Sao Kim hay Trái Đất; tuy nhiên, trong cấu hình này, nó duy trì chức năng cung một. Có sự tương đồng lớn hơn giữa Hội Đồng, tức Shamballa, Thánh đoàn và Nhân loại—dù dĩ nhiên, các trung tâm ấy cũng không ngang hàng, mà liên hệ với nhau một cách theo thánh đoàn. |
|
e. When considering the two interlocking triangles with which we are (microcosmically) more familiar (theoretically)—head, hear, throat and solar plexus, sacral center and base of the spine, we are challenged to correlate them to the six-pointed star here discussed. |
e. Khi xem xét hai tam giác đan xen mà chúng ta, theo phương diện tiểu thiên địa, quen thuộc hơn về mặt lý thuyết—đầu, tim, cổ họng và tùng thái dương, trung tâm xương cùng và đáy cột sống—chúng ta được thách thức phải tương ứng chúng với ngôi sao sáu cánh đang được bàn ở đây. |
|
f. The CSS is, of course the head center; Venus represents the heart and Earth (as a whole) the throat. |
f. Mặt trời Tinh thần Trung Ương, dĩ nhiên, là trung tâm đầu; Sao Kim tượng trưng cho tim và Trái Đất, xét như một toàn thể, tượng trưng cho cổ họng. |
|
g. One is not used to thinking of the Council (Shamballa), Hierarchy and Humanity in terms of three lower centers, but it can be done in different ways, with different justifications. |
g. Người ta không quen nghĩ về Hội Đồng, tức Shamballa, Thánh đoàn và Nhân loại theo ba trung tâm thấp, nhưng điều đó có thể thực hiện theo những cách khác nhau, với những lý do biện minh khác nhau. |
|
h. The sacral center corresponds to the throat center and thus Humanity, as a kind of sacral center, would correspond to the Earth as a whole (placed in the throat) |
h. Trung tâm xương cùng tương ứng với trung tâm cổ họng, và vì thế Nhân loại, như một loại trung tâm xương cùng, sẽ tương ứng với Trái Đất xét như một toàn thể, được đặt ở cổ họng. |
|
i. The solar plexus center corresponds to the heart center, and thus, with no great stretch of the imagination, the Hierarchy can be seen as a king of solar plexus center corresponding to Venus, which, in this configuration, represents the heart center. Venus, we realize, is Earth’s prototype, archetype or alter-ego, and the program which the Spiritual Hierarchy of our planet seeks to institute on Earth is inspired by Venusian ideals and was once administered by Beings Who were closely in touch with Venus (and, in a sense, ‘came’ from Venus). |
i. Trung tâm tùng thái dương tương ứng với trung tâm tim, và vì thế, không cần vận dụng trí tưởng tượng quá xa, Thánh đoàn có thể được xem như một loại trung tâm tùng thái dương tương ứng với Sao Kim, vốn trong cấu hình này tượng trưng cho trung tâm tim. Chúng ta nhận ra rằng Sao Kim là nguyên mẫu, kiểu mẫu nguyên thủy hay bản ngã đối ứng của Trái Đất; và chương trình mà Huyền Giai Tinh Thần của hành tinh chúng ta tìm cách thiết lập trên Trái Đất được cảm hứng bởi các lý tưởng Sao Kim và từng được quản trị bởi các Đấng có liên hệ mật thiết với Sao Kim, và theo một nghĩa nào đó, “đến” từ Sao Kim. |
|
j. The base of the spine corresponds to the head center. While Shamballa is the head center of our planet, when considering this particular configuration, it can be seen related to the base center. Indeed, there is an intimate relation between crown and base; the base center as it were ‘completes’ the functioning of the crown center—in base matter. The base center is also active at the fifth initiation where the Master is ‘crowned’ and the possibility of a closer relation with the Council may be offered. |
j. Đáy cột sống tương ứng với trung tâm đầu. Dù Shamballa là trung tâm đầu của hành tinh chúng ta, khi xem xét cấu hình đặc thù này, Shamballa có thể được thấy là liên hệ với trung tâm đáy. Quả thật, có một mối liên hệ mật thiết giữa đỉnh đầu và đáy; trung tâm đáy, có thể nói, “hoàn tất” hoạt động của trung tâm đỉnh đầu—trong vật chất nền tảng. Trung tâm đáy cũng hoạt động ở lần điểm đạo thứ năm, nơi Chân sư được “đội vương miện” và khả năng có một mối liên hệ gần gũi hơn với Hội Đồng có thể được trao cho. |
|
k. In general, it might be said that all phenomena can be interpreted in terms of triangles, and triangles often come in pairs. Examining the twelve signs of the zodiac, we find four basic triangles representing fire, earth, air and water. Of these, two Seals of Solomon can be made. Eventually the zodiac can be seen as one six-pointed star with such dyads as Aries-Taurus, Gemini-Cancer, etc., to be found on each point or the triangle. There are other ways to arrange two signs in relation to each point of a six-pointed star. |
k. Nói chung, có thể nói rằng mọi hiện tượng đều có thể được diễn giải theo các tam giác, và các tam giác thường đi thành từng cặp. Khi khảo sát mười hai dấu hiệu hoàng đạo, chúng ta tìm thấy bốn tam giác căn bản tượng trưng cho lửa, đất, khí và nước. Từ đó, có thể tạo nên hai Ấn Solomon. Sau cùng, hoàng đạo có thể được thấy như một ngôi sao sáu cánh với những cặp đôi như Bạch Dương-Kim Ngưu, Song Tử-Cự Giải, v.v., nằm trên mỗi điểm của tam giác. Còn có những cách khác để sắp xếp hai dấu hiệu trong tương quan với mỗi điểm của một ngôi sao sáu cánh. |
|
l. Suffice it to say that “God geometrizes”, and looking for the triangles and six-pointed stars is useful in revealing how this geometrizing takes place. |
l. Chỉ cần nói rằng “Thượng đế hình học hóa”, và việc tìm kiếm các tam giác cùng các ngôi sao sáu cánh rất hữu ích trong việc mặc khải cách sự hình học hóa này diễn ra. |
|
5. The Science of Invocation and Evocation is also seen to be symbolically proceeding along evolutionary lines. Worship, the attitude of the mystic, must give place to Invocation in the man who knows he is divine. This symbolic revelation is to be seen in the lifting up of the three lower energies and their evocative response to the three higher, thus producing [Page 70] an eventual unity at the point of tension. |
5. Khoa Khẩn Cầu và Gợi Lên cũng được thấy là đang tiến hành một cách biểu tượng theo các đường lối thăng thượng tiến hoá. Sự thờ phụng, thái độ của nhà thần bí, phải nhường chỗ cho Khẩn Cầu trong con người biết mình là thiêng liêng. Sự mặc khải biểu tượng này được thấy trong việc nâng ba năng lượng thấp lên và trong sự đáp ứng gợi lên của chúng đối với ba năng lượng cao, nhờ đó tạo ra [Trang 70] một sự hợp nhất sau cùng tại điểm tập trung nhất tâm. |
|
a. The Tibetan asks us to consider the Science of Invocation and Evocation in relation to evolution. |
a. Chân sư Tây Tạng yêu cầu chúng ta xem xét Khoa Khẩn Cầu và Gợi Lên trong tương quan với tiến hoá. |
|
b. Ever a higher source is invoked, and ever a higher response is evoked. |
b. Luôn luôn một nguồn cao hơn được khẩn cầu, và luôn luôn một sự đáp ứng cao hơn được gợi lên. |
|
c. In all there is a gradual “lifting up”. |
c. Trong mọi sự đều có một sự “nâng lên” dần dần. |
|
d. It might be said that the mystic does not know that he/she is divine. Divinity is seen in a source outside the self. |
d. Có thể nói rằng nhà thần bí không biết rằng y là thiêng liêng. Thiên tính được thấy trong một nguồn ở bên ngoài bản ngã. |
|
e. The true occultist (always supported by a mystical foundation) knows that divinity is inherent in Man. God/Reality is seen as both transcendent and immanent. |
e. Nhà huyền bí học chân chính, luôn được nâng đỡ bởi một nền tảng thần bí, biết rằng thiên tính vốn có sẵn trong Con Người. Thượng đế/Thực tại được thấy là vừa siêu việt vừa nội tại. |
|
f. Invocations and evocations proceed in both directions. The lesser invokes the greater which is thus evoked. The greater invokes the lesser and evocation follows. |
f. Sự khẩn cầu và gợi lên diễn ra theo cả hai hướng. Cái thấp khẩn cầu cái cao, và nhờ đó cái cao được gợi lên. Cái cao khẩn cầu cái thấp, và sự gợi lên theo sau. |
|
g. The rising up of the lower to meet and merge with the higher is an evocative response to the invocation emanating from the higher. |
g. Sự vươn lên của cái thấp để gặp gỡ và hòa nhập với cái cao là một đáp ứng gợi lên đối với sự khẩn cầu phát xuất từ cái cao. |
|
h. The lower does not work alone at its own raising. |
h. Cái thấp không đơn độc hoạt động trong việc tự nâng mình lên. |
|
i. Practically, Humanity is ever invoked by Hierarchy and, more recently, by Shamballa. The response of Humanity is to rise and aspire further. Humanity, once evoked, re-invokes Hierarchy and Shamballa, and a fresh cycle begins. |
i. Trên thực tế, Nhân loại luôn được Thánh Đoàn khẩn cầu, và gần đây hơn, được Shamballa khẩn cầu. Đáp ứng của Nhân loại là vươn lên và khát vọng xa hơn. Một khi được gợi lên, Nhân loại lại khẩn cầu Thánh Đoàn và Shamballa, và một chu kỳ mới bắt đầu. |
|
j. When Hierarchy and Shamballa respond to Humanity’s invocation, Their evocative response serves as a further stimulus toward invocation for Humanity. When Humanity is evoked by the invocation coming from Hierarchy and Shamballa, Humanity’s evocative response will, ideally, take the form of its further invocation of the higher Sources. |
j. Khi Thánh Đoàn và Shamballa đáp ứng lời khẩn cầu của Nhân loại, đáp ứng gợi lên của Các Ngài đóng vai trò như một kích thích thêm nữa hướng tới sự khẩn cầu nơi Nhân loại. Khi Nhân loại được gợi lên bởi sự khẩn cầu đến từ Thánh Đoàn và Shamballa, đáp ứng gợi lên của Nhân loại, theo lý tưởng, sẽ mang hình thức khẩn cầu thêm nữa hướng về các Nguồn cao hơn. |
|
6. I realise that this is a hard thing to comprehend because it embodies truths which are difficult for the disciple to grasp. But they will be grasped and mastered by each one as he proceeds along the Path of Discipleship and submits to the needed training for initiation. They will also be mastered, later in this century and in the next, by the rapidly developing humanity, thus demonstrating that the initiation of the moment becomes the past achievement of the masses eventually. |
6. Tôi nhận ra rằng đây là điều khó lĩnh hội vì nó hàm chứa những chân lý mà đệ tử khó nắm bắt. Nhưng mỗi người sẽ nắm bắt và làm chủ chúng khi y tiến bước trên Con Đường Đệ Tử và tuân theo sự huấn luyện cần thiết cho điểm đạo. Chúng cũng sẽ được nhân loại đang phát triển nhanh chóng làm chủ, về sau trong thế kỷ này và trong thế kỷ tới, qua đó chứng minh rằng cuộc điểm đạo của thời điểm hiện tại rốt cuộc sẽ trở thành thành tựu quá khứ của quần chúng. |
|
a. Here the Tibetan acknowledges the abstruse nature of the instruction He is offering, but He places it within our reach—if not now, then shortly to come. |
a. Ở đây Chân sư Tây Tạng thừa nhận bản chất thâm áo của giáo huấn Ngài đang đưa ra, nhưng Ngài đặt nó trong tầm với của chúng ta—nếu không phải lúc này, thì cũng trong tương lai gần. |
|
b. The true disciple is ever a pioneer, engaging himself/herself with energies and issues which cannot yet be appreciated by the masses of humanity. |
b. Đệ tử chân chính luôn là người tiên phong, dấn thân vào các năng lượng và vấn đề mà quần chúng nhân loại chưa thể nhận thức được. |
|
c. According, however, to the disciples’ success in assimilating and applying the abstruse truths presented in teachings such as this, will be the subsequent assimilation and application by men and women of goodwill (and eventually by the masses of human beings). |
c. Tuy nhiên, tùy theo mức thành công của các đệ tử trong việc đồng hóa và áp dụng những chân lý thâm áo được trình bày trong các giáo huấn như thế này, mà về sau những người nam và nữ thiện chí, và cuối cùng quần chúng nhân loại, sẽ đồng hóa và áp dụng chúng. |
|
d. At this point in history, it is being asked that we assimilate and apply much. We know there is an information explosion in almost every field of human endeavor. This is also true in the field of occultism/esotericism. At no time in recent history has so much esoteric information (of high quality) been available to people such as ourselves. Really, the magnitude of the bestowal is almost overwhelming. Our task is realize something of the wealth of information we have been given, to assimilate it as best we can, and to apply it wisely—with love, power and intelligence. |
d. Vào thời điểm này trong lịch sử, chúng ta được yêu cầu phải đồng hóa và áp dụng rất nhiều. Chúng ta biết rằng đang có một sự bùng nổ thông tin trong hầu hết mọi lĩnh vực nỗ lực của con người. Điều này cũng đúng trong lĩnh vực huyền bí học và bí truyền học. Chưa bao giờ trong lịch sử gần đây lại có nhiều thông tin huyền bí học có chất lượng cao như vậy dành cho những người như chúng ta. Quả thật, tầm vóc của sự ban tặng này gần như choáng ngợp. Nhiệm vụ của chúng ta là nhận ra phần nào sự phong phú của thông tin đã được trao cho mình, đồng hóa nó hết mức có thể, và áp dụng nó một cách minh triết—với tình thương, quyền năng và trí tuệ. |
|
e. Yes, each of us has his/her limits—of course, but the opportunity is great and hence the will-to-assimilate must be proportionately greater that it otherwise would have been in less energized times. |
e. Vâng, mỗi người chúng ta đều có giới hạn của mình—dĩ nhiên là vậy, nhưng cơ hội rất lớn, và do đó Ý Chí-đồng hóa phải lớn hơn tương ứng so với mức nó có thể có trong những thời kỳ ít được tiếp sinh lực hơn. |
|
f. We are told of the great unfoldment of knowledge which occurs between the third and fourth initiation (at the time of the full unfolding of the three synthesis petals of the Egoic Lotus). As we attempt to wrap our minds and hearts around the great occult/esoteric revelation which has been given to us, we are, perhaps, getting a foretaste of unfoldments to come. Clearly, we are in a time when spiritual complacency is precisely the wrong approach. |
f. Chúng ta được cho biết về sự khai mở tri thức lớn lao diễn ra giữa lần điểm đạo thứ ba và lần điểm đạo thứ tư, vào lúc ba cánh hoa tổng hợp của Hoa Sen Chân Ngã khai mở trọn vẹn. Khi chúng ta cố gắng dùng trí và tâm mình để bao quát sự mặc khải huyền bí học và bí truyền học lớn lao đã được ban cho chúng ta, có lẽ chúng ta đang nếm trước phần nào những sự khai mở sắp đến. Rõ ràng, chúng ta đang ở trong một thời kỳ mà sự tự mãn tinh thần chính là cách tiếp cận sai lầm nhất. |
|
7. This enhanced liberation will later appear as a definite result of the war. The Atlantic Charter and the Four Freedoms, formulated in the tension produced by the world agony and strain, are the reflections of this, and embody all that it is possible for average materially-minded man to grasp of the present will of Shamballa as it conditions the plans of the Hierarchy and is impulsed by the Registrants of the Purpose. This is as far as the two groups of Custodians have been able to convey this revelation to the best human intellects—the first group dealing with the senior members of the Hierarchy and the latter with those initiates and disciples who are closely related to humanity. |
7. Sự giải thoát được tăng cường này về sau sẽ xuất hiện như một kết quả rõ rệt của cuộc chiến. Hiến chương Đại Tây Dương và Bốn Quyền Tự Do, được hình thành trong sự căng thẳng do nỗi thống khổ và áp lực của thế giới tạo ra, là những phản ánh của điều này, và hàm chứa tất cả những gì con người trung bình có khuynh hướng vật chất có thể nắm bắt về ý chí hiện tại của Shamballa khi ý chí ấy tác động lên các kế hoạch của Thánh Đoàn và được thúc đẩy bởi các Đấng Ghi Nhận Thiên Ý. Đây là mức xa nhất mà hai nhóm Đấng Giữ Gìn đã có thể truyền đạt sự mặc khải này cho những trí tuệ nhân loại ưu tú nhất—nhóm thứ nhất làm việc với các thành viên cao cấp của Thánh Đoàn, và nhóm thứ hai với những điểm đạo đồ và đệ tử có liên hệ mật thiết với nhân loại. |
|
a. The Tibetan speaks of the liberating effect of the war—(the World War, often considered as one event, lasting from 1914-1945). |
a. Chân sư Tây Tạng nói về hiệu quả giải phóng của cuộc chiến—Cuộc Chiến Thế Giới, thường được xem như một biến cố duy nhất, kéo dài từ năm 1914 đến 1945. |
|
b. The following are the Four Freedoms, with which we should all be familiar: |
b. Sau đây là Bốn Quyền Tự Do mà tất cả chúng ta nên quen thuộc: |
|
The first is freedom of speech and expression—everywhere in the world. |
Thứ nhất là tự do ngôn luận và biểu đạt—ở khắp nơi trên thế giới. |
|
The second is freedom of every person to worship God in his own way—everywhere in the world. |
Thứ hai là quyền tự do của mỗi người được thờ phụng Thượng đế theo cách riêng của mình—ở khắp nơi trên thế giới. |
|
The third is freedom from want—which, translated into world terms, means economic understandings which will secure to every nation a healthy peacetime life for its inhabitants—everywhere in the world. |
Thứ ba là tự do khỏi thiếu thốn—được chuyển thành các thuật ngữ thế giới, điều này có nghĩa là những thấu hiểu kinh tế sẽ bảo đảm cho mọi quốc gia một đời sống thời bình lành mạnh cho cư dân của mình—ở khắp nơi trên thế giới. |
|
The fourth is freedom from fear—which, translated into world terms, means a worldwide reduction of armaments to such a point and in such a thorough fashion that no nation will be in a position to commit an act of physical aggression against any neighbour—anywhere in the world. |
Thứ tư là tự do khỏi sợ hãi—được chuyển thành các thuật ngữ thế giới, điều này có nghĩa là việc giảm vũ trang trên toàn thế giới đến một mức độ và theo một cách triệt để đến nỗi không quốc gia nào còn ở vị thế có thể thực hiện một hành vi xâm lược hồng trần chống lại bất kỳ nước láng giềng nào—ở bất cứ nơi đâu trên thế giới. |
|
These four are directly related to the Will of Shamballa. The need for Right Human Relations permeates each and all of these freedoms. |
Bốn quyền tự do này liên hệ trực tiếp với Ý Chí của Shamballa. Nhu cầu về các Mối Quan Hệ Nhân Loại Đúng Đắn thấm nhuần từng quyền tự do này và tất cả chúng. |
|
c. We can see how much we (as humanity) have yet to achieve. Many are the countries in which none of these freedoms prevail. Certainly, it is the task of humanity (before the Christ can reappear) to make significant progress towards the implementation of these freedoms. At the heart of all present world struggles is the voiced or unvoiced demand that these freedoms be fulfilled within the conduct of humanity as a whole. |
c. Chúng ta có thể thấy chúng ta, với tư cách nhân loại, còn phải đạt được nhiều đến mức nào. Có nhiều quốc gia trong đó không một quyền tự do nào trong các quyền này được thực thi. Chắc chắn, nhiệm vụ của nhân loại, trước khi Đức Christ có thể tái lâm, là đạt được tiến bộ đáng kể trong việc thực hiện các quyền tự do này. Ở trung tâm của mọi cuộc đấu tranh hiện nay trên thế giới là đòi hỏi, dù được nói ra hay không nói ra, rằng các quyền tự do này phải được hoàn thành trong cách hành xử của toàn thể nhân loại. |
|
d. How many years will it be before these freedoms will be widely implemented? This is difficult to say, but the powerful presence of Libra in the planetary horoscope will certainly help (as the Tibetan has suggested when He stated that human has “no need for real anxiety”). (EA 238) |
d. Sẽ còn bao nhiêu năm nữa trước khi các quyền tự do này được thực hiện rộng rãi? Điều này khó nói, nhưng sự hiện diện mạnh mẽ của Thiên Bình trong lá số chiêm tinh hành tinh chắc chắn sẽ giúp ích, như Chân sư Tây Tạng đã gợi ý khi Ngài nói rằng nhân loại “không cần lo âu thật sự”. (EA 238) |
|
e. We are living in a time of what might be called ‘Piscean dissolution’. The old civilization is dissolving before our eyes, and the Age of Pisces is entering a kind if pralaya which anticipates the coming of the Aquarian Age. |
e. Chúng ta đang sống trong một thời kỳ có thể gọi là “sự tan rã Song Ngư”. Nền văn minh cũ đang tan rã trước mắt chúng ta, và Kỷ Nguyên Song Ngư đang bước vào một loại Giai kỳ qui nguyên báo trước sự đến của Kỷ Nguyên Bảo Bình. |
|
f. The Forces of Obstruction will do all they can to block the general acceptance and institution of these freedoms. We are living in the midst of a concerted effort to obstruct—a kind of “last ditch stand of materialism”. The process will become more intense if anything, because the representatives of the Piscean thoughtform have everything to lose—at least as they see it. |
f. Các Mãnh Lực Cản Trở sẽ làm tất cả những gì có thể để ngăn chặn sự chấp nhận và thiết lập rộng rãi các quyền tự do này. Chúng ta đang sống giữa một nỗ lực phối hợp nhằm cản trở—một kiểu “cuộc tử thủ cuối cùng của chủ nghĩa duy vật”. Tiến trình này, nếu có gì, sẽ trở nên mãnh liệt hơn, bởi những đại diện của hình tư tưởng Song Ngư có tất cả để mất—ít nhất theo cách họ nhìn nhận. |
|
g. But that which is old and outmoded will be seen by the masses with increasing clarity, and the freedom to which humanity is entitled will no longer be successfully suppressed—however painful the interim process of disengagement from the worst Piscean values. |
g. Nhưng điều gì cũ kỹ và lỗi thời sẽ được quần chúng thấy ngày càng rõ hơn, và quyền tự do mà nhân loại có quyền thụ hưởng sẽ không còn bị đàn áp thành công nữa—dù tiến trình tạm thời của việc tách rời khỏi những giá trị Song Ngư tệ hại nhất có đau đớn đến đâu. |
|
h. We students of esotericism have been given an immense and amazing picture of the possibilities, but the immediate next steps are very simple in their conception. However simple they may be, the fight to see them actualised will call for everything we have, and more than we suspect. |
h. Chúng ta, những đạo sinh của huyền bí học, đã được trao một bức tranh bao la và kỳ diệu về các khả năng, nhưng các bước kế tiếp trước mắt lại rất đơn giản trong quan niệm. Dù chúng có thể đơn giản đến đâu, cuộc đấu tranh để thấy chúng được hiện thực hóa sẽ đòi hỏi tất cả những gì chúng ta có, và còn nhiều hơn chúng ta nghi ngờ. |
|
F. The Science of Invocation and Evocation is primarily a great and scientific activity, of which modern humanity knows practically nothing, but which is related to thought power and to thoughtform building. (cf. RI, p. 70) |
F. Khoa Học Khẩn Cầu và Gợi Lên trước hết là một hoạt động vĩ đại và khoa học, điều mà nhân loại hiện đại hầu như không biết gì, nhưng nó liên quan đến quyền năng tư tưởng và việc xây dựng hình tư tưởng. (x. RI, tr. 70) |
|
Prayer is the dim, faint and inadequate expression of this; affirmation of divinity in order to gain material well-being is a distortion of this truth. (cf. RI, p. 70) |
Cầu nguyện là biểu hiện mờ nhạt, yếu ớt và bất toàn của điều này; việc xác quyết thiên tính nhằm đạt được phúc lợi vật chất là một sự bóp méo chân lý này. (x. RI, tr. 70) |
|
The true significance of the emerging Science of Invocation and Evocation is that it embodies the seed concept of the new world religion. (cf. RI, p. 70-71) |
Thâm nghĩa chân chính của Khoa Học Khẩn Cầu và Gợi Lên đang xuất hiện là nó hàm chứa khái niệm hạt giống của tôn giáo thế giới mới. (x. RI, tr. 70-71) |
|
Here again we come up against the fact that the Science of Invocation and Evocation, with which this Rule fundamentally deals, is primarily a great and scientific activity of which modern humanity knows practically nothing, but which is related to thought power and to thoughtform building. Only initiates of the highest degree—such as the three Great Lords—have the right to invoke alone and unaccompanied by any protective agency, such as a group, and the reason for that is that They Themselves are members of the Council at Shamballa and are individually Registrants of the Purpose. The annual appearance of the Lord Buddha is the outer demonstration or symbol of the emergence of this Science of Invocation and Evocation in the waking consciousness of humanity. Prayer is the dim, faint and inadequate expression of this; affirmation of divinity in order to gain material well-being is a distortion of this truth. This needs to be remembered. The true significance of this [Page 71] emerging science is that, in the early or first stages, it embodies the seed concept of the new world religion. |
Ở đây một lần nữa chúng ta đối diện với sự kiện rằng Khoa Học Khẩn Cầu và Gợi Lên, điều mà quy luật này căn bản bàn đến, trước hết là một hoạt động vĩ đại và khoa học mà nhân loại hiện đại hầu như không biết gì, nhưng nó liên quan đến quyền năng tư tưởng và việc xây dựng hình tư tưởng. Chỉ các điểm đạo đồ thuộc cấp độ cao nhất—như ba Đấng Chúa Tể Vĩ Đại—mới có quyền khẩn cầu một mình và không có bất kỳ tác nhân bảo vệ nào đi kèm, chẳng hạn như một nhóm; lý do là vì chính Các Ngài là thành viên của Hội Đồng tại Shamballa và từng vị là Đấng Ghi Nhận Thiên Ý. Sự xuất hiện hằng năm của Đức Phật là minh chứng hay biểu tượng bên ngoài cho sự xuất hiện của Khoa Học Khẩn Cầu và Gợi Lên này trong tâm thức tỉnh thức của nhân loại. Cầu nguyện là biểu hiện mờ nhạt, yếu ớt và bất toàn của điều này; việc xác quyết thiên tính nhằm đạt được phúc lợi vật chất là một sự bóp méo chân lý này. Điều này cần được ghi nhớ. Thâm nghĩa chân chính của khoa học [Page 71] đang xuất hiện này là, trong các giai đoạn đầu hay giai đoạn thứ nhất, nó hàm chứa khái niệm hạt giống của tôn giáo thế giới mới. |
|
1. We learn here that in the coming Age, science and spiritual approach will be blended. Humanity is well practiced in the art of prayer, but of scientific invocation (and its inevitable evocative effect) it knows practically nothing. |
1. Ở đây chúng ta học được rằng trong Kỷ Nguyên sắp đến, khoa học và cách tiếp cận tinh thần sẽ được hòa quyện. Nhân loại đã thực hành thuần thục nghệ thuật cầu nguyện, nhưng về sự khẩn cầu khoa học và hiệu quả gợi lên tất yếu của nó thì hầu như không biết gì. |
|
2. This ignorance is due in part to the emotional polarization which, heretofore, has characterized humanity. |
2. Sự vô minh này một phần do sự phân cực cảm xúc vốn cho đến nay đã đặc trưng cho nhân loại. |
|
3. The Aquarian Age will be a period in which the principal of mentality is greatly stimulated. Hence, spiritual approach will, perforce, include the mind. |
3. Kỷ Nguyên Bảo Bình sẽ là một thời kỳ trong đó nguyên khí trí tuệ được kích thích mạnh mẽ. Do đó, cách tiếp cận tinh thần, tất yếu, sẽ bao gồm thể trí. |
|
4. The suggestion is offered: correctly built thoughts are invocative. Our thoughts will always summon thoughts and energies of like vibration. We wish to create thoughts which “echo in the halls where walks the Master” and not those which “awaken vibration within the halls of Maya”. |
4. Gợi ý được đưa ra là: những tư tưởng được xây dựng đúng đắn có tính khẩn cầu. Tư tưởng của chúng ta luôn triệu gọi những tư tưởng và năng lượng có rung động tương tự. Chúng ta muốn tạo ra những tư tưởng “vang vọng trong các đại sảnh nơi Chân sư bước đi” chứ không phải những tư tưởng “đánh thức rung động trong các đại sảnh của ảo lực”. |
|
5. Important information is given anent the three Great Lords—the Manu, the Bodhisattva, and the Mahachohan. Two of these illustrious beings are initiates of the sixth degree and one, the Christ, has almost completed the seventh degree. Like the Nirmanakayas, They are “Registrants of the Purpose—due to Their membership in Shamballa. |
5. Thông tin quan trọng được đưa ra liên quan đến ba Đấng Chúa Tể Vĩ Đại—Đức Manu, Đức Bồ Tát và Đức Mahachohan. Hai trong số các Đấng huy hoàng này là điểm đạo đồ cấp sáu, và một vị, Đức Christ, đã gần hoàn tất cấp bảy. Giống như các Nirmanakaya, Các Ngài là “Đấng Ghi Nhận Thiên Ý”—do tư cách thành viên của Các Ngài trong Shamballa. |
|
6. These three Lords guide Hierarchy in the ways of Shamballa. Each has made His approach to the Center of Will, principally through one of three different qualities—will, love and intelligence. |
6. Ba Đấng Chúa Tể này hướng dẫn Thánh Đoàn theo các đường lối của Shamballa. Mỗi Đấng đã thực hiện sự tiếp cận của Ngài với Trung Tâm Ý Chí, chủ yếu qua một trong ba phẩm tính khác nhau—ý chí, tình thương và trí tuệ. |
|
7. This information gives one pause. If we think we can invoke Shamballa alone and unaided, we should attend to the Tibetan’s words. Only these three Lords can invoke Shamballa without the protection of the group. |
7. Thông tin này khiến người ta phải dừng lại suy nghĩ. Nếu chúng ta nghĩ mình có thể khẩn cầu Shamballa một mình và không cần trợ giúp, chúng ta nên chú ý đến lời của Chân sư Tây Tạng. Chỉ ba Đấng Chúa Tể này mới có thể khẩn cầu Shamballa mà không có sự bảo vệ của nhóm. |
|
8. The Tibetan invites us to think of the annual appearance of the Buddha at the time of the Wesak Festival in terms of the Science of Invocation and Evocation. We might say that this “appearance” is one of the greatest (if not the greatest) evocation which the combined invocation of humanity and Hierarchy has called forth. It is the guarantee of humanity’s true and increasingly potent connection to Shamballa, which the Buddha annually represents. |
8. Chân sư Tây Tạng mời chúng ta suy nghĩ về sự xuất hiện hằng năm của Đức Phật vào thời điểm Lễ Wesak theo Khoa Học Khẩn Cầu và Gợi Lên. Chúng ta có thể nói rằng “sự xuất hiện” này là một trong những sự gợi lên lớn lao nhất, nếu không phải là sự gợi lên lớn lao nhất, mà sự khẩn cầu kết hợp của nhân loại và Thánh Đoàn đã triệu dẫn. Nó là sự bảo đảm cho mối liên hệ chân chính và ngày càng mạnh mẽ của nhân loại với Shamballa, điều mà Đức Phật hằng năm đại diện. |
|
9. The simple lesson behind all this is that there is always an answer to every sincere appeal (invocation).. The answer or evocation may not be immediately demonstrable, but it is both real and present. |
9. Bài học đơn giản đằng sau tất cả điều này là luôn có một đáp lời cho mọi lời kêu gọi chân thành, tức sự khẩn cầu. Sự đáp lời hay sự gợi lên có thể không biểu lộ ngay lập tức, nhưng nó vừa có thật vừa hiện diện. |
|
10. Through prayer is, of course, important, the Tibetan puts it in its place as a process anticipatory of the true Science of Invocation and Evocation. An increasingly mentally polarized humanity will not be satisfied with prayer alone, just as the developing mystic must become the occultist. |
10. Dù cầu nguyện dĩ nhiên là quan trọng, Chân sư Tây Tạng đặt nó vào đúng vị trí của nó như một tiến trình báo trước Khoa Học Khẩn Cầu và Gợi Lên chân chính. Một nhân loại ngày càng phân cực trí tuệ sẽ không hài lòng với chỉ cầu nguyện, cũng như nhà thần bí đang phát triển phải trở thành nhà huyền bí học. |
|
11. A faint and inadequate reflection of the Science of Invocation is different from a “distortion”. There will be an increasingly tendency in a seventh ray age to affirm divinity for the sake of material well-being. This of course is a distortion and a prostitution of divine power, and will need to be overcome—perhaps through bitter experience. |
11. Một phản ánh mờ nhạt và bất toàn của Khoa Học Khẩn Cầu khác với một “sự bóp méo”. Trong một thời đại cung bảy, sẽ có khuynh hướng ngày càng tăng nhằm xác quyết thiên tính vì phúc lợi vật chất. Dĩ nhiên, đây là một sự bóp méo và là sự lạm dụng quyền năng thiêng liêng, và nó sẽ cần được vượt qua—có lẽ qua kinh nghiệm cay đắng. |
|
12. An entire change of values is needed, so that the material plane is viewed as an expression of the Divine Pattern, and not as an end in itself. One wonders if only satiation with materiality will bring about the necessary change. Yet, has not humanity already had sufficient time in which to become satiated—for materiality has ruled our race for millions of years? |
12. Cần có một sự thay đổi toàn bộ các giá trị, để cõi vật chất được nhìn như một biểu hiện của Mô Hình Thiêng Liêng, chứ không phải như mục đích tự nó. Người ta tự hỏi liệu chỉ sự chán ngán vì vật chất có đem lại sự thay đổi cần thiết hay không. Tuy vậy, chẳng phải nhân loại đã có đủ thời gian để trở nên chán ngán rồi sao—vì vật chất đã cai trị nhân loại chúng ta trong hàng triệu năm? |
|
13. Perhaps by now the soul-infused mind of humanity has progressed sufficiently to evaluate before the necessity of bitter experience. |
13. Có lẽ đến nay thể trí được linh hồn thấm nhuần của nhân loại đã tiến bộ đủ để đánh giá trước khi cần đến kinh nghiệm cay đắng. |
|
14. Master D.K. concludes the paragraph by linking the Science of Invocation and Evocation to the New World Religion. Surely this ‘religion’ (if we can call it that) will make the religious approaches of previous centuries and millennia look primitive. The words of St. Paul come to mind. In the religious approaches of bygone eras we have seen as “through a glass darkly”, but soon we shall see in clarity and face to face. The Great Light is on its way; the impacts of Shamballa are irradiating the substance of the three worlds and forcing obscurity to flee. |
14. Chân sư D.K. kết thúc đoạn văn bằng cách liên kết Khoa Học Khẩn Cầu và Gợi Lên với Tôn Giáo Thế Giới Mới. Chắc chắn “tôn giáo” này, nếu chúng ta có thể gọi như vậy, sẽ làm cho các cách tiếp cận tôn giáo của những thế kỷ và thiên niên kỷ trước trông có vẻ sơ khai. Những lời của Thánh Phaolô hiện lên trong trí. Trong các cách tiếp cận tôn giáo của những thời đại đã qua, chúng ta đã thấy như “qua một tấm kính mờ”, nhưng chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ thấy trong sự rõ ràng và mặt đối mặt. Ánh Sáng Vĩ Đại đang trên đường đến; các tác động của Shamballa đang chiếu rọi chất liệu của ba cõi thấp và buộc sự tối tăm phải tan biến. |
|
15. It can be anticipated that the scientific element of the new world religion will, at last, force religion to become an influence for uniting human beings rather than separating them. Just as with science, no one can argue with replicable facts, so it will be in matters ‘religious’, which will, at last, become factually based. |
15. Có thể dự đoán rằng yếu tố khoa học của tôn giáo thế giới mới rốt cuộc sẽ buộc tôn giáo trở thành một ảnh hưởng đoàn kết con người thay vì chia rẽ họ. Cũng như với khoa học, không ai có thể tranh cãi với các sự kiện có thể lặp lại, thì trong các vấn đề “tôn giáo” cũng sẽ như vậy, vì cuối cùng chúng sẽ đặt nền trên sự kiện. |
|
16. Some may think that the elements of mystery and awe will thereby be removed from religious approach, but there is no need for concern. The universe has layer after layer of mystery which even the ‘science’ of our Planetary and Solar Logoi cannot penetrate. |
16. Một số người có thể nghĩ rằng nhờ đó các yếu tố huyền nhiệm và kính ngưỡng sẽ bị loại bỏ khỏi cách tiếp cận tôn giáo, nhưng không cần lo ngại. Vũ trụ có lớp này đến lớp khác của huyền nhiệm mà ngay cả “khoa học” của các Hành Tinh Thượng đế và Thái dương Thượng đế của chúng ta cũng không thể xuyên thấu. |
|
17. Within the limited area of access reserved for human spirituality, however, a great clarification is on its way, and thus the ending of much ignorance masquerading as traditional spiritual practice. |
17. Tuy nhiên, trong phạm vi tiếp cận giới hạn dành cho tinh thần của con người, một sự minh giải lớn lao đang trên đường đến, và do đó sẽ chấm dứt nhiều vô minh đang giả trang thành thực hành tinh thần truyền thống. |
|
G. The first of the three Great Invocations (“Let the Forces of Light bring illumination to mankind…”) is an effort to put into words the invocative cry of mankind and of all men and women of goodwill throughout the world. (cf. RI, p. 71) |
G. Đại Khấn Nguyện thứ nhất trong ba Đại Khấn Nguyện (“Nguyện các Mãnh Lực Ánh Sáng đem sự soi sáng đến cho nhân loại…”) là một nỗ lực diễn đạt bằng lời tiếng kêu khẩn cầu của nhân loại và của tất cả những người nam và nữ thiện chí trên khắp thế giới. (x. RI, tr. 71) |
|
The second of the three Great Invocations (“Let the Lords of Liberation issue forth…”) can only be used by aspirants, disciples and initiates. (cf. RI, p. 71) |
Đại Khấn Nguyện thứ hai trong ba Đại Khấn Nguyện (“Nguyện các Đấng Giải Thoát xuất hiện…”) chỉ có thể được sử dụng bởi những người chí nguyện, đệ tử và điểm đạo đồ. (x. RI, tr. 71) |
|
A fusion between these two groups, on the one hand the men and women of goodwill throughout the world and on the other hand the aspirants, disciples and initiates had to take place before the invocative cry of humanity as a whole could be powerful and effective in evoking response. (cf. RI, p. 71) |
Một sự dung hợp giữa hai nhóm này, một bên là những người nam và nữ thiện chí trên khắp thế giới và bên kia là những người chí nguyện, đệ tử và điểm đạo đồ, phải diễn ra trước khi tiếng kêu khẩn cầu của toàn thể nhân loại có thể mạnh mẽ và hữu hiệu trong việc gợi lên đáp ứng. (x. RI, tr. 71) |
|
In the great invocations which I have given out, the first one* (“Let the Forces of Light bring illumination to mankind…”) was an effort on my part to put into words the invocative cry of mankind and of all men and women of goodwill throughout the world. Its success was indicative of the strength of that goodwill. The second** (“Let the Lords of Liberation issue forth…”) can, in reality, only be used with any measure or hope of success by aspirants, disciples and initiates, and hence was not nearly so popular with the general public, though in reality much more powerful and potentially effective. It was essential, however, that a fusion of the two groups should take place before the invocative cry of humanity as a whole could be powerful and effective in evoking response. |
Trong các đại khấn nguyện mà Tôi đã truyền ra, bài thứ nhất* (“Nguyện các Mãnh Lực Ánh Sáng đem sự soi sáng đến cho nhân loại…”) là một nỗ lực của Tôi nhằm diễn đạt bằng lời tiếng kêu khẩn cầu của nhân loại và của tất cả những người nam và nữ thiện chí trên khắp thế giới. Sự thành công của nó cho thấy sức mạnh của thiện chí ấy. Bài thứ hai** (“Nguyện các Đấng Giải Thoát xuất hiện…”) trong thực tế chỉ có thể được những người chí nguyện, đệ tử và điểm đạo đồ sử dụng với một mức độ hay hy vọng thành công nào đó, và vì thế nó không được công chúng nói chung ưa chuộng gần bằng, dù thật ra mạnh mẽ hơn nhiều và có tiềm năng hữu hiệu hơn. Tuy nhiên, điều thiết yếu là sự dung hợp của hai nhóm phải diễn ra trước khi tiếng kêu khẩn cầu của toàn thể nhân loại có thể mạnh mẽ và hữu hiệu trong việc gợi lên đáp ứng. |
|
1. In this paragraph the Tibetan distinguishes between the purposes of the first two stanzas of the three-stanza Great Invocation. |
1. Trong đoạn này, Chân sư Tây Tạng phân biệt giữa các mục đích của hai bài kệ đầu trong Đại Khấn Nguyện gồm ba bài kệ. |
|
2. The following are the three Great Invocations, or the three stanzas of the one Great Invocation. |
2. Sau đây là ba Đại Khấn Nguyện, hay ba bài kệ của một Đại Khấn Nguyện duy nhất. |
|
Great Invocation I |
Đại Khấn Nguyện I |
|
Let the Forces of Light bring illumination to mankind. |
Nguyện các Mãnh Lực Ánh Sáng đem sự soi sáng đến cho nhân loại. |
|
Let the Spirit of Peace be spread abroad. |
Nguyện Đấng Tinh thần Hòa Bình được lan tỏa khắp nơi. |
|
May men of goodwill everywhere meet in a spirit of cooperation. |
Nguyện những người thiện chí ở khắp nơi gặp nhau trong tinh thần hợp tác. |
|
May forgiveness on the part of all men be the keynote at this time. |
Nguyện sự tha thứ từ phía mọi người là chủ âm vào lúc này. |
|
Let power attend the efforts of the Great Ones. |
Nguyện quyền năng trợ lực cho những nỗ lực của Các Đấng Cao Cả. |
|
So let it be, and help us to do our part. — 1935 |
Nguyện điều ấy thành tựu, và xin giúp chúng con làm phần việc của mình. — 1935 |
|
Great Invocation II |
Đại Khấn Nguyện II |
|
Let the Lord of Liberation issue forth. |
Nguyện Chúa Tể Giải Thoát xuất hiện. |
|
Let Him bring succour to the sons of men. |
Nguyện Ngài đem sự cứu trợ đến cho những người con của nhân loại. |
|
Let the Rider from the Secret Place come forth, |
Nguyện Đấng Kỵ Sĩ từ Chốn Bí Mật đi ra, |
|
And coming, save. |
Và khi đến, Ngài cứu rỗi. |
|
Come forth, O Mighty One. |
Xin xuất hiện, hỡi Đấng Đại Hùng. |
|
Let the souls of men awaken to the Light, |
Nguyện linh hồn con người thức tỉnh trước Ánh Sáng, |
|
And may they stand with massed intent. |
Và nguyện họ đứng vững với ý định tập trung thành khối. |
|
Let the fiat of the Lord go forth: |
Nguyện sắc lệnh của Chúa Tể phát ra: |
|
The end of woe has come! |
Sự kết thúc của đau khổ đã đến! |
|
Come forth, O Mighty One. |
Xin xuất hiện, hỡi Đấng Đại Hùng. |
|
The hour of service of the saving force has now arrived. |
Giờ phụng sự của Mãnh Lực Cứu Rỗi nay đã đến. |
|
Let it be spread abroad, O Mighty One. |
Nguyện nó được lan tỏa khắp nơi, hỡi Đấng Đại Hùng. |
|
Let Light and Love and Power and Death |
Nguyện Ánh Sáng và Tình Thương và Quyền Năng và Cái Chết |
|
Fulfil the purpose of the Coming One. |
Hoàn thành thiên ý của Đấng Đang Đến. |
|
The WILL to save is here. |
Ý CHÍ cứu rỗi đang hiện diện. |
|
The LOVE to carry forth the work is widely spread abroad. |
TÌNH THƯƠNG để tiến hành công việc được lan tỏa rộng khắp. |
|
The ACTIVE AID of all who know the truth is also here. |
SỰ TRỢ GIÚP TÍCH CỰC của tất cả những ai biết chân lý cũng đang hiện diện. |
|
Come forth, O Mighty One, and blend these three. |
Xin xuất hiện, hỡi Đấng Đại Hùng, và hòa quyện ba điều này. |
|
Construct a great defending wall. |
Hãy dựng nên một bức tường phòng hộ vĩ đại. |
|
The rule of evil now must end. — 1940 |
Sự cai trị của tà ác nay phải chấm dứt. — 1940 |
|
Great Invocation III |
Đại Khấn Nguyện III |
|
From the point of Light within the mind of God |
Từ điểm Ánh Sáng trong Trí của Thượng đế |
|
Let light stream forth into the minds of men. |
Nguyện ánh sáng tuôn chảy vào trí con người. |
|
Let Light descend on Earth. |
Nguyện Ánh Sáng giáng xuống Trái Đất. |
|
From the point of Love within the Heart of God |
Từ điểm Tình Thương trong Trái Tim của Thượng đế |
|
Let love stream forth into the hearts of men. |
Nguyện tình thương tuôn chảy vào trái tim con người. |
|
May Christ return to Earth. |
Nguyện Đức Christ trở lại Trái Đất. |
|
From the centre where the Will of God is known |
Từ trung tâm nơi Ý Chí của Thượng Đế được biết đến |
|
Let purpose guide the little wills of men— |
Nguyện Thiên Ý dẫn dắt những ý chí nhỏ bé của con người— |
|
The purpose which the Masters know and serve. |
Thiên Ý mà các Chân sư biết và phụng sự. |
|
From the centre which we call the race of men |
Từ trung tâm mà chúng ta gọi là nhân loại |
|
Let the Plan of Love and Light work out. |
Nguyện Thiên Cơ của Tình Thương và Ánh Sáng được thực hiện. |
|
And may it seal the door where evil dwells. |
Và nguyện nó niêm phong cánh cửa nơi tà ác cư ngụ. |
|
Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth. — 1945 |
Nguyện Ánh Sáng và Tình Thương và Quyền Năng phục hồi Thiên Cơ trên Trái Đất. — 1945 |
|
3. The Tibetan has offered excellent analyses of these three Great Invocations in Externalization of the Hierarchy, and a number of His other books. A close study of all three would be rewarding and will do much to reveal the way of human progress. |
3. Chân sư Tây Tạng đã đưa ra những phân tích tuyệt vời về ba Đại Khấn Nguyện này trong Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn, và trong một số sách khác của Ngài. Việc nghiên cứu kỹ cả ba sẽ đem lại nhiều lợi ích và sẽ góp phần lớn vào việc mặc khải con đường tiến bộ của nhân loại. |
|
4. It cannot be said that the first two of these invocations have been superseded, each by the one following. Even today, under the threat of a final religiously-based war which the Tibetan said must be averted at all costs, Great Invocation II can be used with real potency and effectiveness. |
4. Không thể nói rằng hai bài khấn nguyện đầu trong số này đã bị thay thế, mỗi bài bởi bài tiếp theo. Ngay cả ngày nay, dưới mối đe dọa của một cuộc chiến cuối cùng dựa trên tôn giáo mà Chân sư Tây Tạng nói phải được ngăn chặn bằng mọi giá, Đại Khấn Nguyện II vẫn có thể được sử dụng với uy lực và hiệu quả thật sự. |
|
5. When we consider the historical response to Great Invocation I and II, we may well ask if we are ready to understand the latter of these Invocations. Great Invocation II has a definite Shamballic association. The Lords of Liberation are Shamballic Beings, and this Invocation invokes Them. From Shamballa comes death to that which limits the expression of life. Are we ready for the incorporation into our lives (to some small extent) of the true meaning of Shamballic energy. Use of Great Invocation II will surely intensify it. |
5. Khi xem xét đáp ứng lịch sử đối với Đại Khấn Nguyện I và II, chúng ta rất có thể tự hỏi liệu mình đã sẵn sàng để thấu hiểu bài sau trong hai bài Khấn Nguyện này hay chưa. Đại Khấn Nguyện II có một liên hệ Shamballa rõ rệt. Các Đấng Giải Thoát là những Hữu Thể Shamballa, và bài Khấn Nguyện này khẩn cầu Các Ngài. Từ Shamballa đến cái chết đối với những gì giới hạn sự biểu lộ của sự sống. Chúng ta đã sẵn sàng để đưa vào đời sống mình, dù chỉ ở mức nhỏ bé, ý nghĩa chân chính của năng lượng Shamballa chưa? Việc sử dụng Đại Khấn Nguyện II chắc chắn sẽ làm nó mãnh liệt hơn. |
|
6. The Tibetan speaks of the necessity of fusing two groups of human beings: the men and women of goodwill and the aspirants/disciples/initiates of the world. Only together will humanity’s invocation to the higher Sources be effective. |
6. Chân sư Tây Tạng nói về sự cần thiết phải dung hợp hai nhóm người: những người nam và nữ thiện chí, và những người chí nguyện, đệ tử, điểm đạo đồ của thế giới. Chỉ khi cùng nhau thì sự khẩn cầu của nhân loại hướng tới các Nguồn cao hơn mới có hiệu quả. |
|
7. Disciples need to remember that they are definitely part of humanity. No real split between disciples and the masses can be allowed, or humanity’s invocative power will be weakened. |
7. Các đệ tử cần nhớ rằng họ chắc chắn là một phần của nhân loại. Không thể cho phép có bất kỳ sự chia tách thật sự nào giữa các đệ tử và quần chúng, nếu không quyền năng khẩn cầu của nhân loại sẽ bị suy yếu. |
|
8. In some mysterious manner, this fusion of the two groups must have occurred during the Second World War. The Lords of Liberation were, in fact, reached by the combined “cry” of humanity, and spiritual disaster was averted—just averted, at the eleventh hour. This was one of humanity’s most harrowing moments. (cf. EXH 493-494) |
8. Theo một cách huyền nhiệm nào đó, sự dung hợp của hai nhóm này hẳn đã xảy ra trong Thế Chiến Thứ Hai. Thật vậy, các Đấng Giải Thoát đã được chạm tới bởi “tiếng kêu” kết hợp của nhân loại, và thảm họa tinh thần đã được ngăn chặn—chỉ vừa được ngăn chặn, vào giờ thứ mười một. Đây là một trong những thời khắc đau đớn nhất của nhân loại. (x. EXH 493-494) |
|
9. The disciples and initiates of the world know (at least in principle) what it is to “stand with massed intent”, and they will know more in centuries to come. Humanity as a whole must also learn something of this power to stand—though their spiritual fortitude cannot be expected to equal that of their more highly trained brothers. |
9. Các đệ tử và điểm đạo đồ của thế giới biết, ít nhất về nguyên tắc, thế nào là “đứng vững với ý định tập trung thành khối”, và họ sẽ biết nhiều hơn trong các thế kỷ sắp đến. Toàn thể nhân loại cũng phải học phần nào về quyền năng đứng vững này—dù không thể kỳ vọng nghị lực tinh thần của họ ngang bằng với các huynh đệ được huấn luyện cao hơn của họ. |
|
10. It is clear that Shamballic Will (however attenuated) is involved in this power to stand. |
10. Rõ ràng Ý Chí Shamballa, dù đã được giảm nhẹ đến đâu, vẫn liên quan đến quyền năng đứng vững này. |
|
11. The greater our knowledge of Divine Purpose; the greater our knowledge of the Divine Plan; the greater our power to stand. |
11. Tri thức của chúng ta về Thiên Ý càng lớn; tri thức của chúng ta về Thiên Cơ càng lớn; quyền năng của chúng ta để đứng vững. |
|
H. The applicant sends out his cry—across the desert, over all the seas and through the fires. His entire personality, integrated and oriented, is focused at a point of tension; then he utters his cry (symbolic of a voiceless expression) and this cry beats against the door which separates him from the soul, in the first instance, and from the Hierarchy, in the second. (cf. RI, p. 71) |
H. Người ứng viên phóng tiếng kêu của mình—băng qua sa mạc, vượt trên mọi biển cả và xuyên qua các ngọn lửa. Toàn bộ phàm ngã của y, đã tích hợp và được định hướng, được tập trung tại một điểm tập trung nhất tâm; rồi y thốt lên tiếng kêu của mình, biểu tượng cho một biểu đạt không thành tiếng, và tiếng kêu này dội vào cánh cửa ngăn cách y với linh hồn, trước hết, và với Thánh Đoàn, sau đó. (x. RI, tr. 71) |
|
The door is a symbol of separation. It is a word descriptive of the mystic attitude. This attitude embraces the concepts of here and there, of soul and body, of God and man, of Hierarchy and humanity. (cf. RI, p. 71) |
Cánh cửa là biểu tượng của sự phân cách. Đó là một từ mô tả thái độ của nhà thần bí. Thái độ này bao hàm các khái niệm về nơi đây và nơi kia, về linh hồn và thể xác, về Thượng đế và con người, về Thánh Đoàn và nhân loại. (x. RI, tr. 71) |
|
Rule III, as voiced for initiates, demonstrates that this mystical realization finally goes; the sense of separation disappears, and the door is left behind. (cf. RI, p. 71) |
Quy luật III, khi được xướng lên cho các điểm đạo đồ, cho thấy rằng nhận thức thần bí này cuối cùng sẽ qua đi; cảm thức phân cách biến mất, và cánh cửa bị bỏ lại phía sau. (x. RI, tr. 71) |
|
Prior to taking up the study, phrase by phrase, of Rule III, I would call your attention to the relation between this Rule and the earlier one given to applicants. The applicant sends out his cry—across the desert, over all the seas and through the fires. His entire personality, integrated and oriented, is focussed at a point of tension; then he utters his cry (symbolic of a voiceless expression) and this cry beats against the door which separates him from the soul, in the first instance, and from the Hierarchy, in the second. The door is only a symbol of separation; it divides one place from another location, one sphere of activity from another, and one state of consciousness from another. It fosters in the aspirant a sense of duality. It is a word descriptive of the mystic attitude. This attitude embraces the concepts of here and there, of soul and body, of God and man, of Hierarchy and humanity. But Rule III, as voiced for initiates, demonstrates that this mystical realisation finally goes; the sense of separation disappears, and the door is left behind. |
Trước khi bắt đầu nghiên cứu Quy luật III từng cụm từ một, tôi muốn các bạn chú ý đến mối liên hệ giữa Quy luật này và quy luật trước đó đã được trao cho những người ứng viên. Người ứng viên phóng tiếng kêu của mình—băng qua sa mạc, vượt trên mọi biển cả và xuyên qua các ngọn lửa. Toàn bộ phàm ngã của y, đã tích hợp và được định hướng, được tập trung tại một điểm tập trung nhất tâm; rồi y thốt lên tiếng kêu của mình, biểu tượng cho một biểu đạt không thành tiếng, và tiếng kêu này dội vào cánh cửa ngăn cách y với linh hồn, trước hết, và với Thánh Đoàn, sau đó. Cánh cửa chỉ là một biểu tượng của sự phân cách; nó chia một nơi khỏi một địa điểm khác, một khối cầu hoạt động khỏi một khối cầu khác, và một trạng thái tâm thức khỏi một trạng thái khác. Nó nuôi dưỡng nơi người chí nguyện một cảm thức nhị nguyên. Đó là một từ mô tả thái độ của nhà thần bí. Thái độ này bao hàm các khái niệm về nơi đây và nơi kia, về linh hồn và thể xác, về Thượng đế và con người, về Thánh Đoàn và nhân loại. Nhưng Quy luật III, khi được xướng lên cho các điểm đạo đồ, cho thấy rằng nhận thức thần bí này cuối cùng sẽ qua đi; cảm thức phân cách biến mất, và cánh cửa bị bỏ lại phía sau. |
|
1. The Tibetan calls us to a review of Rule III for applicants. |
1. Chân sư Tây Tạng kêu gọi chúng ta ôn lại Quy luật III dành cho những người ứng viên. |
|
2. Two kinds of cries are voicelessly sounded—shall we say, vibratorily sounded. |
2. Hai loại tiếng kêu được xướng lên không thành tiếng—được xướng lên bằng rung động. |
|
3. The cries are meant to overcome separation—firstly from the soul, and secondly (and on a higher turn of the spiral) from the Hierarchy. |
3. Những tiếng kêu ấy nhằm vượt thắng sự phân cách—trước hết là sự phân cách với linh hồn, và sau đó, trên một vòng xoắn cao hơn, với Thánh Đoàn. |
|
4. It would be wise for many of those who aspire to union with Hierarchy to achieve, as a necessary precursor to this union, union with their own soul (though ultimately there is no “my soul” and “thy soul”). |
4. Sẽ là khôn ngoan nếu nhiều người khát vọng hợp nhất với Thánh Đoàn đạt được, như một điều kiện tiên quyết cần thiết cho sự hợp nhất này, sự hợp nhất với chính linh hồn của mình, dù rốt cuộc không có “linh hồn của tôi” và “linh hồn của bạn”. |
|
5. While the concept of the “door” is a useful symbol, the Tibetan speaks of the need to transcend its use, just as one must transcend the mystical attitude for that certainty of identification typical of the occultist. |
5. Dù khái niệm về “cánh cửa” là một biểu tượng hữu ích, Chân sư Tây Tạng nói đến nhu cầu vượt qua việc sử dụng nó, cũng như người ta phải vượt qua thái độ thần bí để đạt đến sự xác tín về đồng hóa vốn tiêu biểu cho nhà huyền bí học. |
|
6. It is only natural for the aspiring human soul to conceive life in terms of this and that, here and there, high and low. But as the disciple (through meditation) finds himself/herself simultaneously on both sides of the door, the usefulness of the door as a symbol is transcended. |
6. Việc linh hồn con người đang khát vọng quan niệm sự sống theo các cặp này và kia, nơi đây và nơi kia, cao và thấp là điều hoàn toàn tự nhiên. Nhưng khi người đệ tử, qua tham thiền, thấy mình đồng thời ở cả hai phía của cánh cửa, thì tính hữu ích của cánh cửa như một biểu tượng đã được vượt qua. |
|
7. Not only is the “door” left behind but the concept of the door gives way to a realization of the union of subject and object, of here and there, of high and low, and of this and that. |
7. Không chỉ “cánh cửa” bị bỏ lại phía sau, mà khái niệm về cánh cửa còn nhường chỗ cho một nhận thức về sự hợp nhất của chủ thể và đối tượng, của nơi đây và nơi kia, của cao và thấp, và của này và kia. |
|
8. So, it important to realize that the “door is left behind” not only by passing through it, but through the realization that (essentially though not apparently) duality is illusory. |
8. Điều quan trọng là nhận ra rằng “cánh cửa bị bỏ lại phía sau” không chỉ bằng cách đi xuyên qua nó, mà còn qua nhận thức rằng, về bản chất dù không phải theo vẻ ngoài, nhị nguyên là hư ảo. |
|
9. While there is a dual “moving forward”, the moving forward occurs for the fused unit—soul/personality. It is fused soul/personality that knows there is no real “door”. Such a consciousness is as much ‘here’ as ‘there’. The ordinary world is seen transformed. Reality is known to have been always present in the Presence. There is no need to move anywhere. Even the Path is seen to be nothing but a concept and essentially illusory. Certain ‘necessary illusions’ must, however, be entertained before they can be understood as illusory and relinquished. |
9. Dù có một sự “tiến tới” kép, sự tiến tới ấy xảy ra cho đơn vị đã dung hợp—linh hồn/phàm ngã. Chính linh hồn/phàm ngã đã dung hợp mới biết rằng không có “cánh cửa” thực sự nào. Một tâm thức như thế hiện diện ở “nơi đây” cũng nhiều như ở “nơi kia”. Thế giới thông thường được thấy là đã chuyển đổi. Thực tại được biết là luôn luôn hiện diện trong Đấng Hiện Diện. Không cần phải đi đến đâu cả. Ngay cả Con Đường cũng được thấy chẳng là gì ngoài một khái niệm và về bản chất là hư ảo. Tuy nhiên, một số “ảo tưởng cần thiết” phải được chấp nhận trước khi chúng có thể được thấu hiểu là hư ảo và được buông bỏ. |
|
I. The initiate is one who, has fused and blended two divine aspects in himself (soul and personality). These two now constitute one integrated unit. This fusion produces its own point of tension. (cf. RI, p. 72) |
I. Điểm đạo đồ là người đã dung hợp và hòa trộn hai phương diện thiêng liêng trong chính mình, tức linh hồn và phàm ngã. Hai phương diện này nay tạo thành một đơn vị tích hợp duy nhất. Sự dung hợp này tạo ra điểm tập trung nhất tâm riêng của nó. (x. RI, tr. 72) |
|
The initiate has moved forward through the door. A point of tension again ensues in which a Word goes forth in response to the invocative cry of the new initiate. A Word is returned to him: Accepted as a group. Then he, with the group of which he is now a recognized part, moves forward. (cf. RI, p. 72) |
Điểm đạo đồ đã tiến tới xuyên qua cánh cửa. Một điểm tập trung nhất tâm lại tiếp diễn, trong đó một Linh từ phát ra để đáp ứng tiếng kêu khẩn cầu của điểm đạo đồ mới. Một Linh từ được đáp lại cho y: Được chấp nhận với tư cách một nhóm. Rồi y, cùng với nhóm mà nay y là một thành phần được thừa nhận, tiến tới. (x. RI, tr. 72) |
|
For the initiate the past is left behind: “Let there be no recollection”; the present embodies a point of tension; the future indicates a moving forward from that point of tension as a result of its effective action. (cf. RI, p. 72) |
Đối với điểm đạo đồ, quá khứ bị bỏ lại phía sau: “Đừng có sự hồi tưởng”; hiện tại hàm chứa một điểm tập trung nhất tâm; tương lai chỉ ra một sự tiến tới từ điểm tập trung nhất tâm ấy như kết quả của hành động hữu hiệu của nó. (x. RI, tr. 72) |
|
The door closes behind the initiate, who is now an accepted member of his group, and “its sound in closing informs the watching world that the initiate has passed into a secret place and that to reach him in the real sense they too must pass that door.” This conveys the thought of individual self-initiation. (cf. RI, p. 72) |
Cánh cửa khép lại sau lưng điểm đạo đồ, người nay là một thành viên được chấp nhận của nhóm mình, và “âm thanh khép lại của nó báo cho thế giới đang quan sát biết rằng điểm đạo đồ đã đi vào một nơi bí mật, và để thật sự đến được với y, họ cũng phải đi qua cánh cửa ấy.” Điều này truyền đạt tư tưởng về sự tự điểm đạo cá nhân. (x. RI, tr. 72) |
|
The initiate does not yet understand all that his group as a whole grasps; and he is himself not understood by those on the other side of the door. (cf. RI, p. 72) |
Điểm đạo đồ vẫn chưa thấu hiểu tất cả những gì nhóm của y, xét như một toàn thể, nắm bắt; và chính y cũng không được những người ở phía bên kia cánh cửa thấu hiểu. (x. RI, tr. 72) |
|
The initiate is becoming increasingly aware of his group’s spiritual impersonality, which seems to him to be almost a form of aloofness and which in no way feeds in him those elements which are of a personality nature; he therefore suffers. (cf. RI, p. 72) |
Điểm đạo đồ ngày càng ý thức về tính vô ngã tinh thần của nhóm mình, điều đối với y dường như gần như là một dạng xa cách và hoàn toàn không nuôi dưỡng nơi y những yếu tố thuộc về bản chất phàm ngã; do đó y đau khổ. (x. RI, tr. 72) |
|
1. Dual the moving forward. The Door is left behind. That is a happening of the past. |
1. Kép là sự tiến tới. Cánh Cửa bị bỏ lại phía sau. Đó là một sự kiện thuộc về quá khứ. |
|
[Trang 72] |
|
|
The first point which should be noted is that we have here the definition of an initiate. He is one who, in his two-fold nature (soul and personality), moves forward. No longer is his point of tension that of the personality. He has fused and blended two divine aspects in himself, and they now constitute one integrated unit. This fusion produces its own point of tension. He has moved forward through the door. A point of tension again ensues in which a Word goes forth in response to the invocative cry of the new initiate. A Word is returned to him: Accepted as a group. Then he, with the group of which he is now a recognised part, moves forward. For the initiate (as I have earlier pointed out) the past is left behind: “Let there be no recollection”; the present embodies a point of tension; the future indicates a moving forward from that point of tension as a result of its effective action. The door closes behind the initiate, who is now an accepted member of his group, and as the Old Commentary puts it, “its sound in closing informs the watching world that the initiate has passed into a secret place and that to reach him in the real sense they too must pass that door.” This conveys the thought of individual self-initiation, to which all must be subjected, and indicates also the loneliness of the initiate as he moves forward. He does not yet understand all that his group as a whole grasps; he is himself not understood by those on the other side of the door. He has sensed for some time the group with which he is now affiliated, and is becoming increasingly aware of their spiritual impersonality, which seems to him to be almost a form of aloofness and which in no way feeds in him those elements which are of a personality nature; he therefore suffers. Those left behind as a part of his old life in no way comprehend his basic (even if undeveloped) impersonality. This attitude of theirs evokes in him, when sensed, a resentment and a criticism which he realises is not right but which at this stage he seems unable to avoid, whilst those he criticises endeavour to tear him down or (at the least) to make him feel despised and uncomfortable. |
Điểm đầu tiên cần lưu ý là ở đây chúng ta có định nghĩa về một điểm đạo đồ. Y là người, trong bản chất nhị phân của mình, tức linh hồn và phàm ngã, tiến tới. Điểm tập trung nhất tâm của y không còn là điểm của phàm ngã nữa. Y đã dung hợp và hòa trộn hai phương diện thiêng liêng trong chính mình, và nay chúng tạo thành một đơn vị tích hợp duy nhất. Sự dung hợp này tạo ra điểm tập trung nhất tâm riêng của nó. Y đã tiến tới xuyên qua cánh cửa. Một điểm tập trung nhất tâm lại tiếp diễn, trong đó một Linh từ phát ra để đáp ứng tiếng kêu khẩn cầu của điểm đạo đồ mới. Một Linh từ được đáp lại cho y: Được chấp nhận với tư cách một nhóm. Rồi y, cùng với nhóm mà nay y là một thành phần được thừa nhận, tiến tới. Đối với điểm đạo đồ, như tôi đã nêu trước đây, quá khứ bị bỏ lại phía sau: “Đừng có sự hồi tưởng”; hiện tại hàm chứa một điểm tập trung nhất tâm; tương lai chỉ ra một sự tiến tới từ điểm tập trung nhất tâm ấy như kết quả của hành động hữu hiệu của nó. Cánh cửa khép lại sau lưng điểm đạo đồ, người nay là một thành viên được chấp nhận của nhóm mình, và như Cổ Luận diễn tả, “âm thanh khép lại của nó báo cho thế giới đang quan sát biết rằng điểm đạo đồ đã đi vào một nơi bí mật, và để thật sự đến được với y, họ cũng phải đi qua cánh cửa ấy.” Điều này truyền đạt tư tưởng về sự tự điểm đạo cá nhân, mà tất cả đều phải trải qua, và cũng chỉ ra sự cô độc của điểm đạo đồ khi y tiến tới. Y vẫn chưa thấu hiểu tất cả những gì nhóm của y, xét như một toàn thể, nắm bắt; chính y cũng không được những người ở phía bên kia cánh cửa thấu hiểu. Từ lâu y đã cảm nhận được nhóm mà nay y liên kết, và ngày càng ý thức về tính vô ngã tinh thần của họ, điều đối với y dường như gần như là một dạng xa cách và hoàn toàn không nuôi dưỡng nơi y những yếu tố thuộc về bản chất phàm ngã; do đó y đau khổ. Những người bị bỏ lại phía sau như một phần của đời sống cũ của y hoàn toàn không lĩnh hội tính vô ngã căn bản của y, dù còn chưa phát triển. Khi cảm nhận được thái độ này của họ, trong y khởi lên một sự oán giận và phê phán mà y nhận ra là không đúng, nhưng ở giai đoạn này dường như y không thể tránh được, trong khi những người y phê phán lại cố gắng kéo y xuống hoặc ít nhất khiến y cảm thấy bị khinh miệt và bất an. |
|
1. In this paragraph we have an excellent summary of the Rules just studied. |
1. Trong đoạn này, chúng ta có một bản tóm lược tuyệt vời về các Quy luật vừa nghiên cứu. |
|
2. For the initiate, the point of tension is no longer the personality—that is not his/her focus. |
2. Đối với điểm đạo đồ, điểm tập trung nhất tâm không còn là phàm ngã nữa—đó không phải là trọng tâm của y. |
|
3. The fused soul/personality produces its own point of tension. What may that be? Have we experience of such a point of tension produced by soul/personality fusion? Certainly, it will involve an entirely new attitude to the personality, which will then be seen as instrumental to a higher center. The personality will lose its seeming independence. All life will be understood as holy; the divine potential of even lunar life will be experienced. |
3. Linh hồn/phàm ngã đã dung hợp tạo ra điểm tập trung nhất tâm riêng của nó. Đó có thể là gì? Chúng ta đã có kinh nghiệm về một điểm tập trung nhất tâm như thế, do sự dung hợp linh hồn/phàm ngã tạo ra chưa? Chắc chắn, nó sẽ bao hàm một thái độ hoàn toàn mới đối với phàm ngã, khi ấy phàm ngã sẽ được thấy như công cụ của một trung tâm cao hơn. Phàm ngã sẽ mất đi vẻ độc lập bề ngoài của nó. Toàn bộ sự sống sẽ được thấu hiểu là thiêng liêng; tiềm năng thiêng liêng của ngay cả sự sống thái âm cũng sẽ được trải nghiệm. |
|
4. The Tibetan emphasizes that the initiate leaves the past behind. Why is this so important? The past is Saturnian, and full of conditioning and limitation. It is, in a way, devoid of life—the principle with which the initiate intensively now involves himself/herself. |
4. Chân sư Tây Tạng nhấn mạnh rằng điểm đạo đồ bỏ lại quá khứ phía sau. Vì sao điều này quan trọng đến thế? Quá khứ mang tính Thổ Tinh, đầy sự định hình và giới hạn. Theo một cách nào đó, nó thiếu sự sống—nguyên khí mà nay điểm đạo đồ dấn thân vào một cách mãnh liệt. |
|
5. The initiate is filled with a great trust in the abundance of the present. The present and the Presence are related just as the current moment and the great Current. Why, then, bother with lesser things when the present moment is so eternally full of new potential? But such an attitude constitutes a huge relinquishment in the eyes of often-pessimistic humanity. Though the past is, in a way, ‘life-killing’, humanity will not relinquish it. And so wars are fought to save decaying traditions, to which we cling in fear. A sad and unnecessary state. |
5. Điểm đạo đồ tràn đầy một niềm tin lớn lao vào sự phong phú của hiện tại. Hiện tại và Đấng Hiện Diện liên hệ với nhau như khoảnh khắc hiện hành và Dòng Chảy lớn lao. Vậy tại sao phải bận tâm đến những điều nhỏ bé hơn khi khoảnh khắc hiện tại chứa đầy vĩnh viễn tiềm năng mới? Nhưng trong mắt nhân loại thường bi quan, một thái độ như thế là một sự buông bỏ lớn lao. Dù quá khứ, theo một cách nào đó, “giết chết sự sống”, nhân loại vẫn không chịu buông bỏ nó. Và vì vậy, các cuộc chiến tranh được tiến hành để cứu vãn những truyền thống đang mục nát mà chúng ta bám víu trong sợ hãi. Một trạng thái đáng buồn và không cần thiết. |
|
6. The Tibetan presents a fascinating idea: |
6. Chân sư Tây Tạng trình bày một ý tưởng hấp dẫn: |
|
“The door closes behind the initiate, who is now an accepted member of his group, and as the Old Commentary puts it, ‘its sound in closing informs the watching world that the initiate has passed into a secret place and that to reach him in the real sense they too must pass that door.’ |
“Cánh cửa khép lại sau lưng điểm đạo đồ, người nay là một thành viên được chấp nhận của nhóm mình, và như Cổ Luận diễn tả, ‘âm thanh khép lại của nó báo cho thế giới đang quan sát biết rằng điểm đạo đồ đã đi vào một nơi bí mật, và để thật sự đến được với y, họ cũng phải đi qua cánh cửa ấy.’ |
|
There is no door and yet there is a door. What is its “sound in closing”? Is it something we notice about those who are truly advanced and of initiate status? Is it a kind of inapproachability—not caused by any studied aloofness, but through the very fact of advancement upon the Path. Is it the realization that ordinary modes of communication will not really reach the one who has passed through and beyond the door. |
Không có cánh cửa, nhưng lại có một cánh cửa. “Âm thanh khép lại” của nó là gì? Đó có phải là điều chúng ta nhận thấy nơi những người thật sự tiến bộ và có địa vị điểm đạo đồ chăng? Đó có phải là một dạng không thể tiếp cận—không do bất kỳ sự xa cách cố ý nào gây ra, mà do chính sự kiện tiến bộ trên Con Đường. Đó có phải là nhận thức rằng những phương thức giao tiếp thông thường sẽ không thật sự chạm đến người đã đi xuyên qua và vượt khỏi cánh cửa chăng. |
|
We have all had the experience of being in the presence of those who cannot be reached by the ordinary level vibration characteristic of normal human intercourse. Perhaps one does not know how to act in such situations. Perhaps one feels ill at ease, nonplussed—frozen into non-response. |
Tất cả chúng ta đều đã có kinh nghiệm ở trong sự hiện diện của những người mà rung động ở cấp độ thông thường, đặc trưng cho giao tiếp bình thường của con người, không thể chạm đến. Có lẽ người ta không biết phải hành xử thế nào trong những tình huống như vậy. Có lẽ người ta cảm thấy không thoải mái, bối rối—đông cứng trong trạng thái không đáp ứng. |
|
In such instances only truth of being will reach the one who has thus advanced. No conditioned artificiality, no matter how intelligent or clever, will do so. |
Trong những trường hợp như thế, chỉ chân lý của bản thể mới chạm đến được người đã tiến bộ như vậy. Không một sự giả tạo bị định hình nào, dù thông minh hay khéo léo đến đâu, có thể làm được điều đó. |
|
7. We are constantly challenged by those who, having passed further than we, set an example of the possibilities which lie ahead of us. Their very presence is a challenge—and, often, a disturbance. Yet this unsettling is good for us, for it breaks the conditioning habits which held us back from the vibratory level the advancing ones have achieved. |
7. Chúng ta liên tục bị thách thức bởi những người đã đi xa hơn chúng ta, những người nêu gương về các khả năng đang nằm phía trước chúng ta. Chính sự hiện diện của họ là một thách thức—và thường là một sự xáo trộn. Tuy nhiên, sự gây bất ổn này lại tốt cho chúng ta, vì nó phá vỡ những thói quen định hình đã giữ chúng ta lại khỏi cấp độ rung động mà những người đang tiến tới đã đạt được. |
|
8. We might say that the sound of the “door in closing”, is a severing from the ordinary level of vibration, a severing from the customary. One senses that the initiate is playing by new rules and living according to new laws. What these may be, we do not fully know, but we are prompted to find out. |
8. Chúng ta có thể nói rằng âm thanh của “cánh cửa khi khép lại” là một sự cắt lìa khỏi cấp độ rung động thông thường, một sự cắt lìa khỏi cái quen thuộc. Người ta cảm nhận rằng điểm đạo đồ đang hành xử theo những quy luật mới và sống theo những định luật mới. Những điều ấy là gì, chúng ta chưa biết đầy đủ, nhưng chúng ta được thúc đẩy tìm hiểu. |
|
9. In the following, the Tibetan gives us the benefit of His vast experience on the Path: |
9. Trong phần sau, Chân sư Tây Tạng ban cho chúng ta lợi ích từ kinh nghiệm rộng lớn của Ngài trên Con Đường: |
|
“This conveys the thought of individual self-initiation, to which all must be subjected, and indicates also the loneliness of the initiate as he moves forward. He does not yet understand all that his group as a whole grasps; he is himself not understood by those on the other side of the door. He has sensed for some time the group with which he is now affiliated, and is becoming increasingly aware of their spiritual impersonality, which seems to him to be almost a form of aloofness and which in no way feeds in him those elements which are of a personality nature; he therefore suffers. Those left behind as a part of his old life in no way comprehend his basic (even if undeveloped) impersonality. This attitude of theirs evokes in him, when sensed, a resentment and a criticism which he realises is not right but which at this stage he seems unable to avoid, whilst those he criticises endeavour to tear him down or (at the least) to make him feel despised and uncomfortable.” |
“Điều này truyền đạt tư tưởng về sự tự điểm đạo cá nhân, mà tất cả đều phải trải qua, và cũng chỉ ra sự cô độc của điểm đạo đồ khi y tiến tới. Y vẫn chưa thấu hiểu tất cả những gì nhóm của y, xét như một toàn thể, nắm bắt; chính y cũng không được những người ở phía bên kia cánh cửa thấu hiểu. Từ lâu y đã cảm nhận được nhóm mà nay y liên kết, và ngày càng ý thức về tính vô ngã tinh thần của họ, điều đối với y dường như gần như là một dạng xa cách và hoàn toàn không nuôi dưỡng nơi y những yếu tố thuộc về bản chất phàm ngã; do đó y đau khổ. Những người bị bỏ lại phía sau như một phần của đời sống cũ của y hoàn toàn không lĩnh hội tính vô ngã căn bản của y, dù còn chưa phát triển. Khi cảm nhận được thái độ này của họ, trong y khởi lên một sự oán giận và phê phán mà y nhận ra là không đúng, nhưng ở giai đoạn này dường như y không thể tránh được, trong khi những người y phê phán lại cố gắng kéo y xuống hoặc ít nhất khiến y cảm thấy bị khinh miệt và bất an.” |
|
The initiate is definitely in a new world—new to him. He stands betwixt and between, thoroughly established in neither. His personality is not fed by those he has joined—his new spiritual co-workers. These higher associates seem, to him, aloof. And yet, he, in passing through and beyond the door, seems aloof to those he has, vibratorily, left behind. |
Điểm đạo đồ chắc chắn đang ở trong một thế giới mới—mới đối với y. Y đứng ở khoảng giữa hai bên, chưa được thiết lập trọn vẹn ở bên nào. Phàm ngã của y không được nuôi dưỡng bởi những người mà y đã gia nhập—những cộng sự tinh thần mới của y. Những cộng sự cao hơn này, đối với y, có vẻ xa cách. Và tuy vậy, khi đi xuyên qua và vượt khỏi cánh cửa, y lại có vẻ xa cách đối với những người mà, về mặt rung động, y đã bỏ lại phía sau. |
|
A period of rejection ensures. This, I’m sure, we have all experienced. Some, on being presented with that which they do not understand, will seek in an agreeable manner, to understand. Other, to protect themselves and their present world view, simply reject that which they do not understand. Sadly, this may be most true of ones intimates, from whom better might be expected. |
Một giai đoạn bị chối bỏ tiếp diễn. Tôi chắc rằng tất cả chúng ta đều đã trải nghiệm điều này. Một số người, khi đối diện với điều họ không thấu hiểu, sẽ tìm cách thấu hiểu một cách hòa nhã. Những người khác, để tự bảo vệ mình và thế giới quan hiện tại của mình, chỉ đơn giản bác bỏ điều họ không thấu hiểu. Đáng buồn thay, điều này có thể đúng nhất nơi những người thân cận của ta, những người lẽ ra có thể được kỳ vọng là tốt hơn. |
|
But the fault does not lie only with those symbolically ‘left behind’. Many an advancing disciple must overcome a form of spiritual selfishness which places a barrier between himself (in his new state) and those who do not yet comprehend that state. A loving attitude is needed by the advancing one if he is not to alienate those who have not yet achieved his vibratory level. |
Nhưng lỗi không chỉ nằm ở những người, theo biểu tượng, “bị bỏ lại phía sau”. Nhiều đệ tử đang tiến tới phải vượt qua một dạng ích kỷ tinh thần đặt một rào chắn giữa chính mình, trong trạng thái mới của mình, và những người chưa thấu hiểu trạng thái ấy. Người đang tiến tới cần một thái độ thương yêu nếu y không muốn làm xa lánh những người chưa đạt đến cấp độ rung động của y. |
|
10. The picture presented by the Tibetan is not pretty, but quite common, would you not agree? We can see that the new initiate is still somewhat the victim of a dualistic attitude. He is discriminating between that which lies on each side of the door. While a discrimination can be made, there is an attitude of love-wisdom which negates the separative effects of the realized difference, and which includes those apparently ‘left behind’. |
10. Bức tranh mà Chân sư Tây Tạng trình bày không đẹp đẽ, nhưng khá phổ biến, các bạn có đồng ý không? Chúng ta có thể thấy rằng điểm đạo đồ mới vẫn còn phần nào là nạn nhân của một thái độ nhị nguyên. Y đang phân biện giữa những gì nằm ở mỗi phía của cánh cửa. Dù có thể thực hiện một sự phân biện, vẫn có một thái độ Bác Ái – Minh Triết làm vô hiệu hóa các hiệu ứng chia rẽ của sự khác biệt đã được nhận ra, và thái độ ấy bao gồm những người dường như “bị bỏ lại phía sau”. |
|
11. If, by dint of one’s advancement, one is experiencing ‘difficulty’ with one’s family and former associates, the simple formula is to love them more, and find a way to include them (proportionally) in the nature of that which is now being experienced. Surely, we will all have an opportunity to practice this skill. |
11. Nếu, do mức tiến bộ của mình, người ta đang trải nghiệm “khó khăn” với gia đình và những cộng sự trước kia, công thức đơn giản là hãy yêu thương họ nhiều hơn, và tìm cách bao gồm họ, theo đúng tỉ lệ, trong bản chất của điều nay đang được trải nghiệm. Chắc chắn tất cả chúng ta sẽ có cơ hội thực hành kỹ năng này. |
|
12. Even Christ/Jesus was rejected by those he sought to help. In such rejections, the Law of Repulse is operative, and the first ray planets, such as Pluto, Saturn and Vulcan will have their day. |
12. Ngay cả Đức Christ/Đức Jesus cũng bị những người Ngài tìm cách giúp đỡ chối bỏ. Trong những sự chối bỏ như thế, Định luật Đẩy Lùi đang vận hành, và các hành tinh cung một, như Sao Diêm Vương, Thổ Tinh và Vulcan, sẽ có ngày của mình. |
|
13. In the midst of all this unpleasantness (caused by conventional lunar reaction), there is a way to ameliorate the situation—or, at least, not to make matters worse, which some less experienced disciples may do. |
13. Giữa tất cả sự khó chịu này, do phản ứng thái âm quy ước gây ra, có một cách để làm dịu tình thế—hoặc ít nhất là không làm cho vấn đề tệ hơn, điều mà một số đệ tử ít kinh nghiệm hơn có thể làm. |
|
14. When love and impersonality can be seen as complementary rather than contradictory, a step has been taken. |
14. Khi tình thương và tính vô ngã có thể được thấy là bổ sung cho nhau thay vì mâu thuẫn nhau, thì một bước đã được thực hiện. |
|
15. What is the self-perceived identity of the one who is truly impersonal; it is surely not what it was before he/she stepped through the “door”. |
15. Bản sắc tự cảm nhận của người thật sự vô ngã là gì; chắc chắn nó không còn là điều trước kia, trước khi y bước qua “cánh cửa”. |
|
16. There is no way for a personal person to be impersonal—at least not successfully. The point of identification is incorrect. True impersonality is simply based upon realizing, profoundly and once and for all, that one is not the person. Thus, the necessity of disidentification with the personality as a prelude to the kind of identification with spirit/soul which typifies the true initiate. |
16. Không có cách nào để một người còn mang tính cá nhân trở nên vô ngã—ít nhất là không thể thành công. Điểm đồng hóa không đúng. Tính vô ngã chân thật chỉ đơn giản dựa trên việc nhận ra, một cách sâu xa và dứt khoát, rằng mình không phải là con người cá nhân ấy. Do đó, cần thiết phải thôi đồng hóa với phàm ngã như một khúc dạo đầu cho loại đồng hóa với tinh thần/linh hồn vốn tiêu biểu cho điểm đạo đồ chân chính. |
|
J. Spiritual impersonality is not based on indifference or upon preoccupation, but upon a deep understanding, upon a dynamic focus on world service, upon a sense of proportion and upon a detachment which makes true help possible. (cf. RI, p. 72-73) |
J. Tính vô ngã tinh thần không dựa trên sự điềm nhiên hay sự bận tâm riêng, mà dựa trên một sự thấu hiểu sâu xa, trên một sự tập trung năng động vào phụng sự thế giới, trên Ý thức về tỉ lệ và trên một sự tách rời khiến sự trợ giúp chân thật trở nên khả hữu. (x. RI, tr. 72-73) |
|
“Forgetting the things which are behind, press forward towards the prize of your high calling in Christ.” (cf. RI, p. 73) |
“Quên đi những điều ở phía sau, hãy tiến tới hướng về phần thưởng của tiếng gọi cao cả của các bạn trong Đức Christ.” (x. RI, tr. 73) |
|
In the early stages he takes refuge from those left [Page 73] behind by withdrawing himself and by much unnecessary and almost obtrusive silence. He learns to penetrate into the consciousness of his new group by strenuously endeavouring to develop their capacity for spiritual impersonality. He knows it is something which he must achieve and—as he achieves it—he discovers that this impersonality is not based on indifference or upon preoccupation, as he had thought, but upon a deep understanding, upon a dynamic focus on world service, upon a sense of proportion and upon a detachment which makes true help possible. Thus the door and the past are left behind. St. Paul attempted to express this idea when he said: “Forgetting the things which are behind, press forward towards the prize of your high calling in Christ.” I would ask your attention to the word “calling.” |
Trong các giai đoạn đầu, y tìm nơi nương náu khỏi những người bị bỏ [Trang 73] lại phía sau bằng cách tự rút lui và bằng nhiều sự im lặng không cần thiết, gần như gây chú ý. Y học cách thâm nhập vào tâm thức của nhóm mới của mình bằng cách nỗ lực mạnh mẽ cố gắng phát triển năng lực vô ngã tinh thần của họ. Y biết đó là điều y phải đạt được và, khi đạt được nó, y khám phá rằng tính vô ngã này không dựa trên sự điềm nhiên hay sự bận tâm riêng như y đã nghĩ, mà dựa trên một sự thấu hiểu sâu xa, trên một sự tập trung năng động vào phụng sự thế giới, trên một Ý thức về tỉ lệ và trên một sự tách rời khiến sự trợ giúp chân thật trở nên khả hữu. Như vậy, cánh cửa và quá khứ bị bỏ lại phía sau. Thánh Phao-lô đã cố gắng diễn đạt ý tưởng này khi nói: “Quên đi những điều ở phía sau, hãy tiến tới hướng về phần thưởng của tiếng gọi cao cả của các bạn trong Đức Christ.” Tôi muốn các bạn chú ý đến từ “tiếng gọi”. |
|
1. Here the Tibetan deals with the true motives behind spiritual impersonality. |
1. Ở đây Chân sư Tây Tạng đề cập đến những động cơ chân thật đằng sau tính vô ngã tinh thần. |
|
2. Things are seldom what they seem, and the new initiate gradually discovers this. |
2. Sự vật hiếm khi đúng như vẻ ngoài của chúng, và điểm đạo đồ mới dần dần khám phá ra điều này. |
|
3. There are stages through which he/she will pass, on the way to fuller understanding. |
3. Có những giai đoạn mà y sẽ đi qua trên đường đến sự thấu hiểu đầy đủ hơn. |
|
4. It is interesting that the new initiate seeks “refuge” from those left behind—very much because of the pain they inflict upon him (though, surely, they experience similar thought differently motivated pain from him, whether or not he intends it). |
4. Điều thú vị là điểm đạo đồ mới tìm “nơi nương náu” khỏi những người bị bỏ lại phía sau—phần lớn vì nỗi đau họ gây ra cho y, dù chắc chắn họ cũng trải nghiệm một nỗi đau tương tự nhưng có động cơ khác từ phía y, cho dù y có chủ ý hay không. |
|
5. Yet he/she does not yet know how to respond to the inner group, and resorts to states of behavior (obtrusive silence for instance) which are not entirely natural and which will be transcended when the initiate becomes more experienced. |
5. Tuy vậy, y vẫn chưa biết cách đáp ứng với nhóm bên trong, và phải nương vào những trạng thái hành vi, chẳng hạn sự im lặng gây chú ý, vốn không hoàn toàn tự nhiên và sẽ được vượt qua khi điểm đạo đồ trở nên kinh nghiệm hơn. |
|
6. The Tibetan is showing us the initiate in transition. No advancement is accomplished all at once, and in all progress there is a gradual moving forward. Quantum leaps may exist in theory, and, indeed, one may suddenly find oneself in an entirely new vibratory domain, yet the period of adjustment will not be immediate. |
6. Chân sư Tây Tạng đang cho chúng ta thấy điểm đạo đồ trong giai đoạn chuyển tiếp. Không sự tiến bộ nào được hoàn thành trong một lần, và trong mọi tiến bộ đều có một sự tiến tới từ từ. Những bước nhảy lượng tử có thể tồn tại trên lý thuyết, và quả thật, người ta có thể đột nhiên thấy mình ở trong một lĩnh vực rung động hoàn toàn mới, nhưng giai đoạn điều chỉnh sẽ không diễn ra tức thì. |
|
7. Perhaps we would be more patient with ourselves and others if we realized this necessity for gradual adjustment. |
7. Có lẽ chúng ta sẽ kiên nhẫn hơn với chính mình và với người khác nếu nhận ra sự cần thiết của tiến trình điều chỉnh từ từ này. |
|
8. The Tibetan’s description of the true roots of spiritual impersonality are beautiful: |
8. Mô tả của Chân sư Tây Tạng về những cội rễ chân thật của tính vô ngã tinh thần thật đẹp đẽ: |
|
“He knows it is something which he must achieve and—as he achieves it—he discovers that this impersonality is not based on indifference or upon preoccupation, as he had thought, but upon a deep understanding, upon a dynamic focus on world service, upon a sense of proportion and upon a detachment which makes true help possible.” |
“Y biết đó là điều y phải đạt được và, khi đạt được nó, y khám phá rằng tính vô ngã này không dựa trên sự điềm nhiên hay sự bận tâm riêng như y đã nghĩ, mà dựa trên một sự thấu hiểu sâu xa, trên một sự tập trung năng động vào phụng sự thế giới, trên một Ý thức về tỉ lệ và trên một sự tách rời khiến sự trợ giúp chân thật trở nên khả hữu.” |
|
We can understand that the new initiate’s interpretation of the behavior and attitudes of more experienced initiates was based upon his/her own limitations—as is so often the case. The sacrificial nobility of spiritual impersonality is discovered. This must come as a sobering surprise. Clearly, the spiritual impersonal initiate is motivated by loving-understanding, and by a wiser realization of the true nature of life than will be possible for the newer initiate. |
Chúng ta có thể thấu hiểu rằng cách điểm đạo đồ mới diễn giải hành vi và thái độ của các điểm đạo đồ kinh nghiệm hơn đã dựa trên những giới hạn của chính y—như thường xảy ra. Phẩm chất cao quý hy sinh của tính vô ngã tinh thần được khám phá. Điều này hẳn là một ngạc nhiên khiến người ta trở nên nghiêm túc. Rõ ràng, điểm đạo đồ vô ngã tinh thần được thúc đẩy bởi sự thấu hiểu đầy tình thương, và bởi một nhận thức minh triết hơn về bản chất chân thật của sự sống, điều mà điểm đạo đồ mới hơn chưa thể có được. |
|
9. Note the idea that a sense of proportion and a certain detachment make true help possible. These qualities allow one to co-measure one’s actions against real need. This detachment frees from blinding attachments and makes it possible to see the real need. |
9. Hãy lưu ý ý tưởng rằng Ý thức về tỉ lệ và một sự tách rời nào đó làm cho sự trợ giúp chân thật trở nên khả hữu. Những phẩm tính này cho phép người ta cân đo hành động của mình với nhu cầu thật sự. Sự tách rời này giải thoát khỏi những ràng buộc làm mù lòa và khiến người ta có thể thấy nhu cầu thật sự. |
|
10. When the new initiate no longer takes the spiritual impersonality of his/her new associates personally, a step has been taken. |
10. Khi điểm đạo đồ mới không còn xem tính vô ngã tinh thần của các cộng sự mới của mình như điều nhắm vào cá nhân mình, thì một bước đã được thực hiện. |
|
11. Spiritual impersonality allows its possessor to deal with the real individual in a helpful way. The spiritually impersonal initiate is no longer side-tracked by evident, personal non-essentials. |
11. Tính vô ngã tinh thần cho phép người sở hữu nó đề cập đến cá nhân thật sự một cách hữu ích. Điểm đạo đồ vô ngã tinh thần không còn bị lôi lệch bởi những điều không thiết yếu, mang tính cá nhân và hiển nhiên. |
|
12. How much learning must occur before we can discriminate between what is personal and what is impersonal! This discrimination is all part of the process of raising the energy of the solar-plexus to the heart—and of course, much suffering ensues in the transfer. |
12. Cần phải học hỏi biết bao trước khi chúng ta có thể phân biện giữa điều thuộc cá nhân và điều phi cá nhân! Sự phân biện này hoàn toàn là một phần của tiến trình nâng năng lượng của tùng thái dương lên trái tim—và dĩ nhiên, nhiều đau khổ phát sinh trong sự chuyển dịch ấy. |
|
13. The Tibetan continues: |
13. Chân sư Tây Tạng tiếp tục: |
|
“Thus the door and the past are left behind. St. Paul attempted to express this idea when he said: “Forgetting the things which are behind, press forward towards the prize of your high calling in Christ.” I would ask your attention to the word “calling.” |
“Như vậy, cánh cửa và quá khứ được bỏ lại phía sau. Thánh Phao-lô đã cố diễn đạt ý tưởng này khi ông nói: “Quên những điều ở phía sau, hãy tiến tới phần thưởng của tiếng gọi cao cả của các bạn trong Đức Christ.” Tôi muốn các bạn chú ý đến từ “tiếng gọi.” |
|
This statement by St. Paul gives profound dignity to the state of spiritual impersonality. |
Lời tuyên bố này của Thánh Phao-lô đem lại phẩm giá sâu xa cho trạng thái phi cá nhân tinh thần. |
|
The Christ in all of us is “calling”. We are being “invoked” by the Christ Energy, and our evocation becomes our deliberate invocation. |
Đức Christ trong tất cả chúng ta đang “kêu gọi”. Chúng ta đang được Năng Lượng Đức Christ “khẩn cầu”, và sự gợi lên của chúng ta trở thành sự khẩn cầu có chủ ý của chúng ta. |
|
It is as if all of us have a vocation within the Christ Energy. It calls to us so that we may participate more fully within it. |
Dường như tất cả chúng ta đều có một thiên hướng phụng sự bên trong Năng Lượng Đức Christ. Năng lượng ấy kêu gọi chúng ta để chúng ta có thể tham dự trọn vẹn hơn vào trong nó. |
|
When we are immersed within that energy, we may seem aloof to those habituated to a more personal response—a response which over-values non-essentials. Have we likened the Energy of the Christ to spiritual impersonality? |
Khi chúng ta đắm mình trong năng lượng ấy, chúng ta có thể có vẻ xa cách đối với những người đã quen với một đáp ứng mang tính cá nhân hơn—một đáp ứng đánh giá quá cao những điều không thiết yếu. Chúng ta đã ví Năng Lượng Đức Christ với sự phi cá nhân tinh thần chưa? |
|
The spiritually impersonal individual is, indeed, pressing forward. Yet at the same times, he knows “he does not walk alone”, and there is nothing selfish in this forward movement, which really embraces many others—could those others but know—for the embrace may not be obvious. |
Cá nhân phi cá nhân về mặt tinh thần quả thật đang tiến tới. Tuy nhiên, đồng thời, y biết rằng “y không bước đi một mình”, và không có gì ích kỷ trong chuyển động tiến tới này, vốn thật sự ôm trọn nhiều người khác—giá như những người ấy có thể biết—vì vòng tay ôm ấy có thể không hiển nhiên. |
|
Rule III: Second Sentence |
Quy Luật III: Câu thứ hai |
|
“Let the cry of invocation issue forth from the deep centre of the group’s clear cold light.” (R&I 73-79) |
“Hãy để tiếng kêu khẩn cầu phát ra từ trung tâm sâu thẳm của ánh sáng trong trẻo, lạnh lùng của nhóm.” (Cung và Điểm Đạo, tr. 73-79) |
|
The Sentence |
Câu văn |
|
A. Let the cry of invocation issue forth from the deep centre of the group’s clear cold light. |
A. Hãy để tiếng kêu khẩn cầu phát ra từ trung tâm sâu thẳm của ánh sáng trong trẻo, lạnh lùng của nhóm. |
|
1. Rule III began with the idea of a dual moving forward. As we have previously discussed, this dual moving forward can be interpreted in at least two ways: a) the moving forward of both the man and the Solar Angel (as the man makes spiritual progress); and b) as the moving forward and interplay of two of the aspects the individual—the personality consciousness and vibratory condition, and his soul consciousness and vibratory condition. Both personality and the human being’s soul consciousness are fed by the beneficent influences of the Solar Angel. |
1. Quy Luật III bắt đầu với ý tưởng về một chuyển động tiến tới kép. Như chúng ta đã bàn trước đây, chuyển động tiến tới kép này có thể được giải thích theo ít nhất hai cách: a) sự tiến tới của cả con người lẫn Thái dương Thiên Thần, khi con người tiến bộ về tinh thần; và b) như sự tiến tới và tương tác của hai phương diện nơi cá nhân—tâm thức phàm ngã và trạng thái rung động của y, cùng tâm thức linh hồn và trạng thái rung động của y. Cả phàm ngã lẫn tâm thức linh hồn của con người đều được nuôi dưỡng bởi các ảnh hưởng thiện lành của Thái dương Thiên Thần. |
|
2. When we think of these two modes of forward moment (a and b), the latter is the one with which we are more concerned, for of the Solar Angel’s progress relative to its own development we have virtually no knowledge. Yet it must be said that every being in cosmos continues to advance in consciousness and vibratory condition especially when that being has chosen the path of sacrifice—as have the Solar Angels. |
2. Khi nghĩ về hai phương thức chuyển động tiến tới này, a và b, phương thức sau là điều chúng ta quan tâm hơn, vì chúng ta hầu như không biết gì về sự tiến bộ của Thái dương Thiên Thần xét theo sự phát triển riêng của Ngài. Tuy nhiên, cần phải nói rằng mọi hữu thể trong vũ trụ đều tiếp tục tiến tới trong tâm thức và trạng thái rung động, đặc biệt khi hữu thể ấy đã chọn con đường hi sinh—như các Thái dương Thiên Thần đã chọn. |
|
3. The individual human being can be understood as a reflection of Gemini—being in his nature both a higher Self and a lower self. As evolution upon the Paths of Discipleship and Initiation proceeds, the higher Self waxes and the lower self wanes, but the lower self is not thereby reduced in quality. Its consciousness and its vibratory condition are enhanced, even though it is no longer the guiding force, and, in fact, becomes increasingly instrumental to the guidance of the soul or higher Self. |
3. Cá nhân con người có thể được hiểu như một phản ánh của Song Tử—trong bản chất y là cả một Bản Ngã Cao Siêu lẫn một phàm ngã. Khi sự tiến hoá trên các Con Đường Đệ Tử và Điểm Đạo tiếp diễn, Bản Ngã Cao Siêu tăng trưởng và phàm ngã suy giảm, nhưng vì thế phàm ngã không bị giảm phẩm tính. Tâm thức và trạng thái rung động của nó được nâng cao, mặc dù nó không còn là mãnh lực dẫn dắt nữa, và trên thực tế ngày càng trở nên công cụ cho sự dẫn dắt của linh hồn hay Bản Ngã Cao Siêu. |
|
4. The “Door of Initiation” towards which the individual or group strove is left behind. This means that the individual or the group has fulfilled the requirements by measuring up to the vibratory level on the further side of the door, and is now no longer concerned with the tests formerly applied to see whether the vibratory level of the individual or group was sufficient to pass through the door. |
4. “Cánh Cửa Điểm Đạo” mà cá nhân hay nhóm đã nỗ lực hướng tới nay được bỏ lại phía sau. Điều này có nghĩa là cá nhân hay nhóm đã đáp ứng các yêu cầu bằng cách đạt tới cấp độ rung động ở phía bên kia cánh cửa, và giờ đây không còn bận tâm đến các thử thách trước kia từng được áp dụng để xem liệu cấp độ rung động của cá nhân hay nhóm có đủ để đi qua cánh cửa hay không. |
|
5. The “Door” is left behind in another way. The individual and the group have achieved a non-dualistic consciousness. Having transcended subject-object consciousness, the symbol of the “Door” is no longer especially apt to describe the new non-dual realizations which have dawned. |
5. “Cánh Cửa” còn được bỏ lại phía sau theo một cách khác. Cá nhân và nhóm đã đạt được một tâm thức phi nhị nguyên. Khi đã vượt lên trên tâm thức chủ thể-đối tượng, biểu tượng “Cánh Cửa” không còn đặc biệt thích hợp để mô tả những nhận thức phi nhị nguyên mới đã ló rạng. |
|
6. In Rule II (studied previously), the group has been “accepted as a group” by Shamballa. When considering these advanced 14 Rules, one wonders whether to consider them sequentially or whether some of the earlier Rules may, in fact, pertain to levels of accomplishment in advance of later Rules. |
6. Trong Quy Luật II, đã được nghiên cứu trước đây, nhóm đã được Shamballa “chấp nhận như một nhóm”. Khi xem xét 14 Quy Luật cao cấp này, người ta tự hỏi nên xem chúng theo trình tự, hay trên thực tế một số Quy Luật trước có thể liên quan đến các cấp độ thành tựu vượt trước các Quy Luật sau. |
|
7. For instance, when considering Rule III in relation to Rule II, which one of them describes the earlier state and which the later? If, as in Rule II, a “Word” of acceptance has gone forth from the “great point of tension”, invocation of the kind discussed in Rule II must already have risen to Shamballa—as is described in Rule III. |
7. Chẳng hạn, khi xem xét Quy Luật III trong tương quan với Quy Luật II, quy luật nào mô tả trạng thái sớm hơn và quy luật nào mô tả trạng thái về sau? Nếu, như trong Quy Luật II, một “Linh từ” chấp nhận đã phát ra từ “điểm tập trung nhất tâm vĩ đại”, thì sự khẩn cầu thuộc loại được bàn trong Quy Luật II hẳn đã dâng lên Shamballa rồi—như được mô tả trong Quy Luật III. |
|
8. Close examination of both Rules reveals that they cannot easily be considered sequential—whether one places II before III or III before II. Indeed, the end of Rule III describes a great sweep of movement towards the atmic plane where God is known as “fire”, in contradistinction to the earlier part of Rule III which addresses the act of invoking Shamballa and awaiting response. |
8. Việc khảo sát kỹ cả hai Quy Luật cho thấy chúng không dễ được xem là tuần tự—dù người ta đặt II trước III hay III trước II. Thật vậy, phần cuối Quy Luật III mô tả một làn chuyển động rộng lớn hướng tới cõi atma, nơi Thượng đế được biết đến như “lửa”, trái với phần đầu của Quy Luật III, vốn đề cập đến hành động khẩn cầu Shamballa và chờ đợi sự đáp ứng. |
|
9. In some of the deepest texts of the Ageless Wisdom, strict linearity is elusive. Each of these 14 Rules describes different phases of a general process of a group-advance into Hierarchy, and it will be found that there are parts of the same Rule which can reasonably be thought of as applying to early or later phases of the process of advance. |
9. Trong một số bản văn sâu xa nhất của Minh Triết Ngàn Đời, tính tuyến tính nghiêm ngặt rất khó nắm bắt. Mỗi Quy Luật trong 14 Quy Luật này mô tả những giai đoạn khác nhau của một tiến trình chung: sự tiến bước của nhóm vào Thánh Đoàn; và người ta sẽ thấy rằng có những phần trong cùng một Quy Luật có thể được xem một cách hợp lý là áp dụng cho các giai đoạn sớm hơn hoặc muộn hơn của tiến trình tiến tới. |
|
10. As for Rules III and II, they seem to refer to a stage preceding the fourth initiation, whereas, for instance, Rule XI, definitely refers to the fourth degree, but Rule IX to a stage beyond it—when the One Initiator is seen “face to face”. |
10. Đối với Quy Luật III và II, chúng dường như ám chỉ một giai đoạn trước lần điểm đạo thứ tư, trong khi, chẳng hạn, Quy Luật XI chắc chắn ám chỉ cấp độ thứ tư, còn Quy Luật IX ám chỉ một giai đoạn vượt quá cấp độ ấy—khi Đấng Điểm Đạo Duy Nhất được thấy “mặt đối mặt”. |
|
11. The sentence in Rule III which we are now addressing speaks of the cry of invocation which must issue forth from the deep center of the group’s clear cold light. |
11. Câu trong Quy Luật III mà chúng ta đang đề cập nói về tiếng kêu khẩn cầu phải phát ra từ trung tâm sâu thẳm của ánh sáng trong trẻo, lạnh lùng của nhóm. |
|
12. The “cry” is a sustained appeal, but not at all a selfish appeal. The group is composed of those who are proven in service and are motivated by the need to manifest the Divine Plan for the sake of all the good which this manifestation will bring to all planetary beings. |
12. “Tiếng kêu” là một lời thỉnh cầu bền bỉ, nhưng hoàn toàn không phải là lời thỉnh cầu ích kỷ. Nhóm gồm những người đã được chứng nghiệm trong phụng sự và được thúc đẩy bởi nhu cầu biểu hiện Thiên Cơ vì tất cả điều thiện lành mà sự biểu hiện này sẽ đem đến cho mọi hữu thể hành tinh. |
|
13. In general, a cry is sounded by one in need. One cries because something desirable is missing—whether it is the baby’s cry for comforting or the group’s cry for the descent of an energy or presence which will bring fulfillment to the group purpose. The one sounding the cry realizes that he, alone, is not capable of fulfilling that which is desired. The cry signals an invocation ‘from below’ to which only a higher agency can answer satisfactorily. |
13. Nói chung, một tiếng kêu được xướng lên bởi người đang cần. Người ta kêu lên vì thiếu một điều đáng mong muốn nào đó—dù đó là tiếng khóc của em bé mong được vỗ về, hay tiếng kêu của nhóm mong sự giáng xuống của một năng lượng hay một hiện diện sẽ đem lại sự viên mãn cho mục đích của nhóm. Người xướng lên tiếng kêu nhận ra rằng chỉ một mình y thì không có khả năng hoàn thành điều được mong muốn. Tiếng kêu báo hiệu một sự khẩn cầu “từ bên dưới”, mà chỉ một tác nhân cao hơn mới có thể đáp ứng một cách thỏa đáng. |
|
14. Not only is the cry sustained, but it is on a particular note—a note characteristic of the quality of the group. |
14. Tiếng kêu không chỉ bền bỉ, mà còn vang trên một âm điệu đặc thù—một âm điệu tiêu biểu cho phẩm tính của nhóm. |
|
15. The group is integrated, unanimous in purpose and deeply engaged in group service—hoping that its service may come to fruition. That hope is the basis of the cry. While doing all it can on its own, the group, nevertheless, holds out an appeal for an augmentation of power, love and light ‘from above’. |
15. Nhóm được tích hợp, nhất trí trong mục đích và dấn thân sâu xa vào phụng sự nhóm—hy vọng rằng sự phụng sự của mình có thể kết quả viên mãn. Niềm hy vọng ấy là nền tảng của tiếng kêu. Trong khi làm tất cả những gì có thể tự mình, nhóm vẫn đưa ra một lời thỉnh cầu để được tăng cường quyền năng, tình thương và ánh sáng “từ bên trên”. |
|
16. Further, the group cry is both well-founded and illumined. It is not a cry sent forth in ignorance. The clear, cold light is by now deeply established in the group consciousness. The revelations of buddhi-manas are long familiar to the personnel of the group, and intuitive, illumined thinking characterizes the group mentality. |
16. Hơn nữa, tiếng kêu của nhóm vừa có nền tảng vững chắc vừa được soi sáng. Đó không phải là tiếng kêu phát ra trong vô minh. Ánh sáng trong trẻo, lạnh lùng nay đã được thiết lập sâu xa trong tâm thức nhóm. Những mặc khải của Bồ đề-manas từ lâu đã quen thuộc với các thành viên của nhóm, và tư tưởng trực giác, được soi sáng, là đặc tính của trí tuệ nhóm. |
|
17. The group, therefore, is deeply centered in the clear, cold light. We are not speaking here of initial contacts with the manasic and buddhic levels of the spiritual triad, but of a group long habituated to the use of the antahkarana as it accesses both the abstract mind and the intuition. |
17. Do đó, nhóm định tâm sâu xa trong ánh sáng trong trẻo, lạnh lùng. Ở đây chúng ta không nói về những tiếp xúc ban đầu với các cấp độ manas và Bồ đề của Tam Nguyên Tinh Thần, mà nói về một nhóm từ lâu đã quen sử dụng antahkarana khi tiếp cận cả trí trừu tượng lẫn trực giác. |
|
18. Group consciousness is stable and it is triadally inspired. Hence, the group in a way ‘owns’ a deep center of clear, cold light. |
18. Tâm thức nhóm ổn định và được Tam Nguyên Tinh Thần truyền cảm hứng. Vì vậy, theo một cách nào đó, nhóm “sở hữu” một trung tâm sâu thẳm của ánh sáng trong trẻo, lạnh lùng. |
|
19. In the clear, cold light the group has, together, seen what is desirable. It knows at least some possibilities of fulfillment. But, as yet, it is incompletely empowered. That empowerment requires the access to atmic energy, and further, to the energy of Shamballa. |
19. Trong ánh sáng trong trẻo, lạnh lùng, nhóm đã cùng nhau thấy điều đáng mong muốn. Nhóm biết ít nhất một số khả năng viên mãn. Nhưng cho đến nay, nhóm vẫn chưa được trao quyền trọn vẹn. Sự trao quyền ấy đòi hỏi phải tiếp cận năng lượng atma, và hơn nữa, năng lượng của Shamballa. |
|
20. The power of Shamballic inspiration is needed if the group is to be sufficiently empowered to fulfill the entirety of its potential in service. |
20. Quyền năng của cảm hứng Shamballa là cần thiết nếu nhóm muốn được trao đủ quyền năng để hoàn thành toàn bộ tiềm năng phụng sự của mình. |
|
21. Again we are led to consider what achievements (individual and group) are required for such a group to exist. Such a group is filled with individuals who have overcome their own internal conflicts; they are soul-infused; the antahkarana is, in good measure, built and, as a result, they are increasingly triadally inspired; the group knows itself, its purpose, and how that purpose may be fulfilled through a well-organized plan congruent with the Divine Plan; having overcome its own developmental insecurities, the group is offering itself, selflessly, to be empowered so that its already proven effectiveness may be increased by an infusion of Divine Will. |
21. Một lần nữa, chúng ta được dẫn đến việc suy xét những thành tựu nào, cá nhân và nhóm, cần có để một nhóm như vậy tồn tại. Một nhóm như thế gồm những cá nhân đã vượt qua các xung đột nội tại của chính mình; họ là những phàm ngã được linh hồn thấm nhuần; antahkarana đã được xây dựng ở mức độ đáng kể, và kết quả là họ ngày càng được Tam Nguyên Tinh Thần truyền cảm hứng; nhóm biết chính mình, biết mục đích của mình, và biết cách mục đích ấy có thể được hoàn thành thông qua một kế hoạch được tổ chức tốt, phù hợp với Thiên Cơ; khi đã vượt qua những bất an phát triển của chính mình, nhóm hiến dâng bản thân một cách vô ngã để được trao quyền năng, hầu hiệu quả đã được chứng nghiệm của nhóm có thể được gia tăng nhờ sự thấm nhuần của Ý Chí thiêng liêng. |
|
22. When I think of the huge “spiritual propaganda” effort impulsed by Hierarchy, largely under the auspices of the second ray Ashram, it is my hope that, gradually, our group, now coalescing and being tested by the “test of time”, may form a useful part of this effort. |
22. Khi tôi nghĩ đến nỗ lực “tuyên truyền tinh thần” rộng lớn do Thánh Đoàn thúc đẩy, phần lớn dưới sự bảo trợ của ashram cung hai, tôi hy vọng rằng dần dần nhóm của chúng ta, hiện đang kết tụ và được thử thách bởi “thử thách của thời gian”, có thể trở thành một phần hữu ích của nỗ lực này. |
|
23. A great battle in the world today is being fought out on the plane of mind. Systems of thought are contending for supremacy. Some of them lead forward into the magnificent possibilities of the Aquarian Age; others lead backwards condemning humanity to a repetition of its past folly. These backward-tending systems of thought are not weak—though they are doomed as the sixth ray energy is withdrawn in favor of the seventh. |
23. Một trận chiến lớn trong thế giới ngày nay đang diễn ra trên cõi trí. Các hệ thống tư tưởng đang tranh giành ưu thế. Một số dẫn tiến vào những khả năng huy hoàng của Kỷ Nguyên Bảo Bình; những hệ thống khác dẫn lùi, kết án nhân loại phải lặp lại sự điên rồ trong quá khứ. Những hệ thống tư tưởng có khuynh hướng thụt lùi này không yếu—dù chúng đã bị định đoạt phải suy tàn khi năng lượng cung sáu được rút lui để nhường chỗ cho cung bảy. |
|
24. This moment in history, however, is critical, as before its withdrawal, a last flourish of the retrogressive systems may be expected. If that flourish is allowed to triumph, much delay and suffering will ensue. |
24. Tuy nhiên, khoảnh khắc này trong lịch sử mang tính quyết định, vì trước khi sự rút lui ấy diễn ra, người ta có thể trông đợi một đợt bùng phát cuối cùng của các hệ thống thoái bộ. Nếu đợt bùng phát ấy được phép chiến thắng, nhiều trì hoãn và đau khổ sẽ phát sinh. |
|
25. Therefore, we who are in some small measure custodians of the Ageless Wisdom, must affirm illumined thought in the face of various forms of traditional ignorance which would drag us all backwards. |
25. Do đó, chúng ta, những người ở mức độ nhỏ bé nào đó là những người gìn giữ Minh Triết Ngàn Đời, phải khẳng định tư tưởng được soi sáng trước các hình thức vô minh truyền thống khác nhau vốn muốn kéo tất cả chúng ta lùi lại. |
|
26. The force of Shamballa moves things forward. It is associated with the energy called “progress onward”. Out of the deep center of the group’s clear cold light, we invoke the Shamballa Force. Imbued by it (to a greater or lesser extent), we become agents of real progress—urging humanity forward into divinely inspired possibilities. |
26. Mãnh lực của Shamballa thúc đẩy sự vật tiến tới. Nó liên kết với năng lượng được gọi là “tiến bước về phía trước”. Từ trung tâm sâu thẳm của ánh sáng trong trẻo, lạnh lùng của nhóm, chúng ta khẩn cầu Mãnh Lực Shamballa. Được nó thấm nhuần, ở mức độ lớn hay nhỏ, chúng ta trở thành những tác nhân của tiến bộ chân thực—thúc giục nhân loại tiến tới những khả năng được thiêng liêng truyền cảm hứng. |
|
27. If our invocation proves successful, we will surely have our confrontations—certainly on the plane of mind, and perhaps in the astral and physical realms as well. |
27. Nếu sự khẩn cầu của chúng ta chứng tỏ thành công, chắc chắn chúng ta sẽ có những cuộc đối đầu—chắc chắn trên cõi trí, và có lẽ cả trong các lĩnh vực cảm dục và hồng trần nữa. |
|
28. When thinking of Shamballa, one must always ask himself/herself—am I really moving forward? Am I really making progress? And, of course, the group must ask as well. |
28. Khi nghĩ về Shamballa, người ta luôn phải tự hỏi—tôi có thật sự đang tiến tới không? Tôi có thật sự đang tiến bộ không? Và dĩ nhiên, nhóm cũng phải tự hỏi như vậy. |
|
29. In Agni Yoga we learn that the potential of each moment is always better than that of the moment elapsed, and that, in effect, the future is always potentially better than the past. At least this is the way to think. |
29. Trong Agni Yoga, chúng ta học rằng tiềm năng của mỗi khoảnh khắc luôn tốt đẹp hơn tiềm năng của khoảnh khắc đã qua, và trên thực tế, tương lai luôn có tiềm năng tốt đẹp hơn quá khứ. Ít nhất, đây là cách nên suy nghĩ. |
|
30. At last in the history of humanity, the potentials for real progress are dynamically present. We are facing a change of kingdom—from the fourth to the fifth. |
30. Cuối cùng, trong lịch sử nhân loại, các tiềm năng cho tiến bộ chân thực đang hiện diện một cách năng động. Chúng ta đang đối diện với một sự chuyển đổi giới—từ giới thứ tư sang giới thứ năm. |
|
31. Our cries, our invocations, are sent forth to aid this change, to further this progressive movement. Can we see the picture large enough to understand what is at stake? Shamballa cannot be deliberately touched by humanity—at least, never in full measure, but moreso than at any other time. |
31. Những tiếng kêu của chúng ta, những khẩn cầu của chúng ta, được phát ra để trợ giúp sự chuyển đổi này, để thúc đẩy chuyển động tiến bộ này. Chúng ta có thể thấy bức tranh đủ lớn để thấu hiểu điều gì đang bị đặt cược không? Nhân loại không thể cố ý chạm đến Shamballa—ít nhất là không bao giờ một cách trọn vẹn, nhưng nhiều hơn bất kỳ thời điểm nào khác. |
|
32. We are very close to a time when the Will of God will be more completely manifested on Earth than ever before. |
32. Chúng ta đang ở rất gần một thời điểm khi Ý Chí của Thượng Đế sẽ được biểu hiện trên Trái Đất trọn vẹn hơn bao giờ hết. |
|
33. Our seemingly innocuous studies and our attempt to apply what we learn, are helping us to become a part of the manifestation of this Will. |
33. Những nghiên cứu có vẻ vô hại của chúng ta và nỗ lực áp dụng những gì chúng ta học đang giúp chúng ta trở thành một phần của sự biểu hiện Ý Chí này. |
|
34. May we, as a group, succeed in playing our part. May our motive be sufficiently selfless; may our collective light be sufficiently clear and cold; may our center be sufficiently deep and may we succeed in actually touching the energy of the “bright and living center” so that our service may be enhanced. |
34. Cầu mong chúng ta, như một nhóm, thành công trong việc đóng vai trò của mình. Cầu mong động cơ của chúng ta đủ vô ngã; cầu mong ánh sáng tập thể của chúng ta đủ trong trẻo và lạnh lùng; cầu mong trung tâm của chúng ta đủ sâu, và cầu mong chúng ta thành công trong việc thật sự chạm đến năng lượng của “trung tâm sáng rực và sống động” để sự phụng sự của chúng ta được tăng cường. |
|
35. Precisely what this service will become we do not know, though clarity will surely emerge as the years pass. For now we serve through an approach to mental clarity on these abstruse matters, and through intensifying the presence of the higher energies in the group field. Later, once, as a group, we are thoroughly pledged and tested, our service will expand. Perhaps, we shall reach the stage of “acceptance”, which will surely be an empowerment to the service we can offer. |
35. Chúng ta không biết chính xác sự phụng sự này sẽ trở thành gì, mặc dù sự rõ ràng chắc chắn sẽ xuất hiện khi năm tháng trôi qua. Hiện nay, chúng ta phụng sự bằng cách tiếp cận sự rõ ràng trí tuệ về những vấn đề uyên áo này, và bằng cách tăng cường sự hiện diện của các năng lượng cao trong trường của nhóm. Về sau, một khi chúng ta, như một nhóm, đã được cam kết hoàn toàn và được thử thách, sự phụng sự của chúng ta sẽ mở rộng. Có lẽ chúng ta sẽ đạt đến giai đoạn “chấp nhận”, điều chắc chắn sẽ là một sự trao quyền cho sự phụng sự mà chúng ta có thể cống hiến. |
|
The Themes Included Under the Sentence 2 |
Các chủ đề bao gồm dưới Câu 2 |
|
B. Both, the light in the head and the soul light are left behind, and the initiate is aware of the light of the Ashram and the all-including light of the Hierarchy. (cf. RI, p. 73) |
B. Cả ánh sáng trong đầu lẫn ánh sáng linh hồn đều được bỏ lại phía sau, và điểm đạo đồ nhận biết ánh sáng của ashram và ánh sáng bao gồm tất cả của Thánh Đoàn. (xem Cung và Điểm Đạo, tr. 73) |
|
That soul light which the initiate has been aware of from the first moment of soul contact is created by the fusion of the light of the soul with the light of substance itself. (cf. RI, p. 73) |
Ánh sáng linh hồn mà điểm đạo đồ đã nhận biết từ khoảnh khắc đầu tiên của sự tiếp xúc linh hồn được tạo ra bởi sự dung hợp của ánh sáng linh hồn với ánh sáng của chính chất liệu. (xem Cung và Điểm Đạo, tr. 73) |
|
“In that light shall we see Light” (cf. RI, p. 73) |
“Trong ánh sáng ấy, chúng ta sẽ thấy Ánh Sáng” (xem Cung và Điểm Đạo, tr. 73) |
|
“In that light shall we see Light”: That other Light is itself composed of the light of buddhi and the light of atma. (cf. RI, p. 73) |
“Trong ánh sáng ấy, chúng ta sẽ thấy Ánh Sáng”: Ánh Sáng kia tự nó được cấu thành bởi ánh sáng của Bồ đề và ánh sáng của atma. (xem Cung và Điểm Đạo, tr. 73) |
|
The light of buddhi is the light of pure reason. It is the sublimation of the intellect and is focused in the Ashram. (cf. RI, p. 73-74) |
Ánh sáng của Bồ đề là ánh sáng của lý trí thuần túy. Nó là sự thăng hoa của trí năng và được tập trung trong ashram. (xem Cung và Điểm Đạo, tr. 73-74) |
|
The light of atma is the light of the spiritual will. It is the revelation of the enfolding purpose and is focused in the Hierarchy as a whole. (cf. RI, p. 73-74) |
Ánh sáng của atma là ánh sáng của ý chí tinh thần. Nó là sự mặc khải về mục đích đang bao bọc và được tập trung trong toàn thể Thánh Đoàn. (xem Cung và Điểm Đạo, tr. 73-74) |
|
2. Let the cry of invocation issue forth from the deep centre of the group’s clear cold light. |
2. Hãy để tiếng kêu khẩn cầu phát ra từ trung tâm sâu thẳm của ánh sáng trong trẻo, lạnh lùng của nhóm. |
|
We are not here dealing with the light in the head or with soul light as it is perceived by the attuned and aligned personality. That too is left behind, and the initiate is aware of the light of the Ashram and the all-including light of the Hierarchy. These are two aspects of soul light which the individual light in the head has revealed. That soul light which the initiate has been aware of from the first moment of soul contact, and at rapidly decreasing intervals, is created by the fusion of the light of the soul with the light of substance itself, and is the inevitable and automatic consequence of the purification of the three vehicles and of creative meditation. We are told in the world Scriptures that “in that light shall we see Light”; and it is to this other Light that I now refer—a light which is only to be perceived when the door is shut behind the initiate. That light is itself composed of the light of buddhi and the light of atma, and these are (to interpret these Sanskrit terms esoterically) the light of the pure reason, which is the sublimation of the intellect, and the light of the spiritual will, which is the revelation of the enfolding purpose. The first [Page 74] is focussed in the Ashram, and the second in the Hierarchy as a whole, and both of them are the expression of the activity of the Spiritual Triad. |
Ở đây chúng ta không bàn đến ánh sáng trong đầu hay ánh sáng linh hồn như phàm ngã đã điều hợp và chỉnh hợp nhận thức được. Điều đó cũng được bỏ lại phía sau, và điểm đạo đồ nhận biết ánh sáng của ashram và ánh sáng bao gồm tất cả của Thánh Đoàn. Đây là hai phương diện của ánh sáng linh hồn mà ánh sáng cá nhân trong đầu đã mặc khải. Ánh sáng linh hồn ấy, mà điểm đạo đồ đã nhận biết từ khoảnh khắc đầu tiên của sự tiếp xúc linh hồn, và ở những khoảng cách ngày càng rút ngắn nhanh chóng, được tạo ra bởi sự dung hợp của ánh sáng linh hồn với ánh sáng của chính chất liệu, và là hệ quả tất yếu, tự động của sự thanh luyện ba hiện thể và của tham thiền sáng tạo. Chúng ta được cho biết trong các Kinh sách thế giới rằng “trong ánh sáng ấy, chúng ta sẽ thấy Ánh Sáng”; và chính Ánh Sáng khác này là điều tôi đang nói đến—một ánh sáng chỉ có thể được nhận thức khi cánh cửa đã khép lại phía sau điểm đạo đồ. Ánh sáng ấy tự nó được cấu thành bởi ánh sáng của Bồ đề và ánh sáng của atma, và hai ánh sáng này, để diễn giải các thuật ngữ Phạn này một cách huyền bí, là ánh sáng của lý trí thuần túy, tức sự thăng hoa của trí năng, và ánh sáng của ý chí tinh thần, tức sự mặc khải về mục đích đang bao bọc. Ánh sáng thứ nhất [Trang 74] được tập trung trong ashram, và ánh sáng thứ hai trong toàn thể Thánh Đoàn, và cả hai đều là biểu hiện của hoạt động của Tam Nguyên Tinh Thần. |
|
1. In the paragraph above, several different kinds of light are discussed. We always must remember that light is vibration, which registered, results in the phenomenon of luminosity. In a way, all vibration is light, but when that vibration is not registered by a mechanism of consciousness, we do not call it light. |
1. Trong đoạn trên, nhiều loại ánh sáng khác nhau được bàn đến. Chúng ta luôn phải nhớ rằng ánh sáng là rung động, và khi được ghi nhận, nó tạo ra hiện tượng quang huy. Theo một nghĩa nào đó, mọi rung động đều là ánh sáng, nhưng khi rung động ấy không được một bộ máy tâm thức ghi nhận, chúng ta không gọi nó là ánh sáng. |
|
2. The student may or may not be familiar with the light in the head, and is increasingly familiar with the light of the soul. Two more advanced types of light are here mentioned—the light of the Ashram and the light of the Hierarchy. |
2. Đạo sinh có thể quen hoặc chưa quen với ánh sáng trong đầu, và ngày càng quen thuộc hơn với ánh sáng của linh hồn. Hai loại ánh sáng cao cấp hơn được nhắc đến ở đây—ánh sáng của ashram và ánh sáng của Thánh Đoàn. |
|
3. Contact with these types of light brings knowledge of these two spheres of activity. Thus, when one has a convincing impression of what may be transpiring within the Ashram, one may be contacting the light of the Ashram. The same is true for the greater light of the Hierarchy. |
3. Tiếp xúc với các loại ánh sáng này đem lại tri thức về hai khối cầu hoạt động ấy. Vì vậy, khi một người có một ấn tượng thuyết phục về điều có thể đang diễn ra trong ashram, người ấy có thể đang tiếp xúc với ánh sáng của ashram. Điều tương tự cũng đúng đối với ánh sáng lớn hơn của Thánh Đoàn. |
|
4. The “clear cold light” is even more than the light of the higher mental plane. Most frequently, it is the light of the intuition. Most Ashrams are found upon buddhic plane, as is the Hierarchy (composed of many Ashrams) to a large, but not exclusive, extent. Thus the two higher lights here mentioned transcend the light in the head and the light of the soul. |
4. “Ánh sáng trong trẻo, lạnh lùng” còn hơn cả ánh sáng của Cõi thượng trí. Thường xuyên nhất, đó là ánh sáng của trực giác. Hầu hết các ashram được tìm thấy trên cõi Bồ đề, cũng như Thánh Đoàn, gồm nhiều ashram, ở mức độ lớn nhưng không tuyệt đối. Do đó, hai ánh sáng cao hơn được nhắc đến ở đây vượt lên trên ánh sáng trong đầu và ánh sáng của linh hồn. |
|
5. Interestingly, the light of the Ashram and the light of the Hierarchy are called “two aspects of soul light”. The term “soul” then must be understood in a large and inclusive sense. What is being said that one level of consciousness (when thoroughly experienced) opens ‘up’ and ‘out’ into greater levels of consciousness. While we are in the process of perceiving the light of the soul, we begin to notice the appearance of a yet higher level of vibration. “In that light we shall see Light”. |
5. Điều thú vị là ánh sáng của ashram và ánh sáng của Thánh Đoàn được gọi là “hai phương diện của ánh sáng linh hồn”. Vì thế, thuật ngữ “linh hồn” phải được hiểu theo nghĩa rộng lớn và bao gồm. Điều đang được nói đến là một cấp độ tâm thức, khi được trải nghiệm thấu đáo, sẽ mở “lên” và “ra” vào những cấp độ tâm thức lớn hơn. Trong khi chúng ta đang trong tiến trình nhận thức ánh sáng của linh hồn, chúng ta bắt đầu nhận thấy sự xuất hiện của một cấp độ rung động còn cao hơn nữa. “Trong ánh sáng ấy, chúng ta sẽ thấy Ánh Sáng”. |
|
6. From a practical point of view, this statement calls for the complete development of what is usually called “the light of the soul”; when the development is quite complete, further revelation dawns. While repeatedly perceiving the usual, the unusual begins to make its presence felt. Thus consciousness moves forward into increasingly subtle registrations. |
6. Từ quan điểm thực tiễn, phát biểu này đòi hỏi sự phát triển hoàn toàn của điều thường được gọi là “ánh sáng của linh hồn”; khi sự phát triển đã khá hoàn tất, mặc khải xa hơn ló rạng. Trong khi liên tục nhận thức điều quen thuộc, điều bất thường bắt đầu làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận. Như vậy, tâm thức tiến tới những ghi nhận ngày càng tinh tế. |
|
7. The cause of customary soul light is given; it is blend of the light of the soul and the light of substance, itself. It arises naturally through increasing soul contact and increasing purification. The two watchwords, then, would be purification and creative meditation. |
7. Nguyên nhân của ánh sáng linh hồn thông thường được nêu ra; đó là sự hòa trộn của ánh sáng linh hồn và ánh sáng của chính chất liệu. Nó phát sinh tự nhiên qua sự gia tăng tiếp xúc linh hồn và sự gia tăng thanh luyện. Vậy hai khẩu hiệu sẽ là thanh luyện và tham thiền sáng tạo. |
|
8. We should bear in mind that the emergence of the combined light of the soul and light of substance is an inevitability—provided that the work is actually done and steadily done. |
8. Chúng ta nên ghi nhớ rằng sự xuất hiện của ánh sáng kết hợp giữa ánh sáng linh hồn và ánh sáng của chất liệu là một điều tất yếu—miễn là công việc thật sự được thực hiện và được thực hiện một cách bền bỉ. |
|
9. Fulfilling the law brings inevitable positive consequences; the reverse is also true. |
9. Việc hoàn thành định luật đem lại những hệ quả tích cực tất yếu; điều ngược lại cũng đúng. |
|
10. One begins to gain a deep respect for Divine Law—it is as immutable as the Will of God which holds it in existence. If we work with the Law we cannot fail. How completely do we trust this thought? |
10. Người ta bắt đầu có một sự kính trọng sâu xa đối với Định Luật Thiêng Liêng—nó bất biến như Ý Chí của Thượng Đế đang duy trì nó trong hiện hữu. Nếu chúng ta làm việc với Định Luật, chúng ta không thể thất bại. Chúng ta tin tưởng tư tưởng này trọn vẹn đến mức nào? |
|
11. The Tibetan extends the meaning of the “clear cold light”. Most often this type of light refers to buddhi (the “sublimation of the intellect”). He, includes, however, the light of atma which reveals the true spiritual will (which is more than the will of the soul or Solar Angel). |
11. Chân sư Tây Tạng mở rộng ý nghĩa của “ánh sáng trong trẻo, lạnh lùng”. Thường nhất, loại ánh sáng này ám chỉ Bồ đề, “sự thăng hoa của trí năng”. Tuy nhiên, Ngài cũng bao gồm ánh sáng của atma, vốn mặc khải ý chí tinh thần chân thật, vượt hơn ý chí của linh hồn hay Thái dương Thiên Thần. |
|
12. Notice, the Tibetan mentions the “enfolding” will rather than the unfolding will(though surely the will unfolds in time and space). We come to realize that spiritual will is all-embracing, containing and including all planar processes ‘beneath’ itself—namely, the processes of the four planes ‘below’ the plane of atma. |
12. Hãy lưu ý, Chân sư Tây Tạng đề cập đến ý chí “thu nhiếp” hơn là ý chí khai mở, dù chắc chắn ý chí khai mở trong thời gian và không gian. Chúng ta nhận ra rằng ý chí tinh thần là bao trùm tất cả, chứa đựng và bao gồm mọi tiến trình trên các cõi “bên dưới” chính nó, tức là các tiến trình của bốn cõi “dưới” cõi atma. |
|
13. It is perhaps a new idea to consider the light of Hierarchy as mainly atmic. The Ashrams within the Hierarchy are largely buddhic, but the Hierarchy as a whole seeks to represent the Will of Sanat Kumara (related to the logoic plane—Sanat Kumara’s highest focus on the cosmic physical plane). The atmic plane, in a way, reflects the logoic plane—both being characterized by the number one. The logoic plane is the first or the seven systemic planes; the atmic plane is the first of the seven Brahmic planes. |
13. Có lẽ đây là một ý tưởng mới khi xem ánh sáng của Thánh Đoàn chủ yếu là atma. Các ashram trong Thánh Đoàn phần lớn mang tính Bồ đề, nhưng Thánh Đoàn như một toàn thể tìm cách đại diện cho Ý Chí của Đức Sanat Kumara, vốn liên hệ với cõi thượng đế, là tiêu điểm cao nhất của Đức Sanat Kumara trên cõi hồng trần vũ trụ. Theo một cách nào đó, cõi atma phản chiếu cõi thượng đế, cả hai đều được đặc trưng bởi con số một. Cõi thượng đế là cõi thứ nhất trong bảy cõi hệ thống; cõi atma là cõi thứ nhất trong bảy cõi Brahma. |
|
14. The Hierarchy, as Custodian of the Plan, is inherently purposeful—seeking to reflect as accurately as possible the Divine Purpose which (if we confine ourselves to a consideration of the cosmic physical plane—which we must) is most fully and clearly sensed on the logoic plane. |
14. Thánh Đoàn, với tư cách là Đấng Gìn Giữ Thiên Cơ, vốn có tính mục đích—tìm cách phản chiếu chính xác nhất có thể Thiên Ý, điều mà nếu chúng ta tự giới hạn mình trong việc xem xét cõi hồng trần vũ trụ, như chúng ta phải làm, thì được cảm nhận đầy đủ và rõ ràng nhất trên cõi thượng đế. |
|
15. Does the “group’s clear cold light” include the light of atma? Probably, minimally, only to a very limited extent. But some sense of Divine Purpose is surely present, otherwise the “cry of invocation” could not evoke response from the “bright center lying far ahead”—Shamballa. |
15. “Ánh sáng lạnh trong sáng của nhóm” có bao gồm ánh sáng của atma không? Có lẽ, tối thiểu, chỉ ở một mức độ rất hạn chế. Nhưng chắc chắn một cảm nhận nào đó về Thiên Ý phải hiện diện, nếu không thì “tiếng kêu khẩn cầu” không thể gợi lên đáp ứng từ “trung tâm rực sáng nằm rất xa phía trước”, tức Shamballa. |
|
16. From a practical perspective, the Tibetan is telling us that the “cry of invocation” here referenced can only issue forth from a triadally responsive group. Should I say, a triadally focussed group? Perhaps, but only a Master is truly polarized in buddhi or atma—which would mean a permanent focus on those levels. |
16. Từ một góc nhìn thực tiễn, Chân sư Tây Tạng đang nói với chúng ta rằng “tiếng kêu khẩn cầu” được nhắc đến ở đây chỉ có thể phát ra từ một nhóm đáp ứng với Tam nguyên tinh thần. Có nên nói là một nhóm tập trung vào Tam nguyên tinh thần không? Có lẽ, nhưng chỉ một Chân sư mới thật sự phân cực trong Bồ đề hay atma, điều này hàm ý một tiêu điểm thường trực trên các cấp độ ấy. |
|
C. There are three great lights, and all of them are focused upon the mental plane, for beyond that plane the symbolism of light is not used. (cf. RI, p. 74) |
C. Có ba ánh sáng lớn, và tất cả đều tập trung trên cõi trí, vì bên ngoài cõi ấy, biểu tượng ánh sáng không được dùng. (xem RI, tr. 74) |
|
The first great light is the blended light of soul and personality. (cf. RI, p. 74) |
Ánh sáng lớn thứ nhất là ánh sáng hòa hợp của linh hồn và phàm ngã. (xem RI, tr. 74) |
|
The second great light is the light of the egoic group which, when forming a recognized group in the consciousness of the illumined initiate, is called an Ashram, embodying the light of buddhi or pure reason. (cf. RI, p. 74) |
Ánh sáng lớn thứ hai là ánh sáng của nhóm chân ngã; khi hình thành một nhóm được nhận biết trong tâm thức của điểm đạo đồ đã được soi sáng, nó được gọi là một ashram, hiện thân cho ánh sáng của Bồ đề hay lý trí thuần túy. (xem RI, tr. 74) |
|
The second great light is the light of the egoic group which, when forming a recognized group in the consciousness of the illumined initiate, is called an Ashram, embodying the light of buddhi or pure reason. (cf. RI, p. 74) |
Ánh sáng lớn thứ hai là ánh sáng của nhóm chân ngã; khi hình thành một nhóm được nhận biết trong tâm thức của điểm đạo đồ đã được soi sáng, nó được gọi là một ashram, hiện thân cho ánh sáng của Bồ đề hay lý trí thuần túy. (xem RI, tr. 74) |
|
The three great lights can be described as: (1) The light which is thrown upward. This is the lesser light, from the angle of the Monad. (2) The light which the Spiritual Triad reflects upon the mental plane. (3) The focused light which is produced by the meeting of the two lights, the higher and the lower. (cf. RI, p. 74) |
Ba ánh sáng lớn có thể được mô tả như sau: (1) Ánh sáng được phóng lên trên. Đây là ánh sáng nhỏ hơn, xét từ góc độ của chân thần. (2) Ánh sáng mà Tam Nguyên Tinh Thần phản chiếu trên cõi trí. (3) Ánh sáng tập trung được tạo ra do sự gặp gỡ của hai ánh sáng, cao và thấp. (xem RI, tr. 74) |
|
The three great lights are the higher correspondence of the blazing forth of the light in the head, when the light of the personality and the light of the soul make contact. (cf. RI, p. 74) |
Ba ánh sáng lớn là tương ứng cao hơn của sự bừng cháy ánh sáng trong đầu, khi ánh sáng của phàm ngã và ánh sáng của linh hồn tiếp xúc với nhau. (xem RI, tr. 74) |
|
Let me make myself clearly understood, if possible. You have, therefore, three great lights, all of them focussed upon the mental plane, for beyond that plane the symbolism of light is not used; divinity is known as life, where the Monad and its expression, the Spiritual Triad, are concerned. All the lights are finally focussed upon the mental plane: |
Nếu có thể, xin để Tôi trình bày thật rõ. Do đó, các bạn có ba ánh sáng lớn, tất cả đều tập trung trên cõi trí, vì bên ngoài cõi ấy, biểu tượng ánh sáng không được dùng; khi liên quan đến chân thần và biểu hiện của nó là Tam Nguyên Tinh Thần, thiên tính được biết như sự sống. Sau cùng, mọi ánh sáng đều tập trung trên cõi trí: |
|
1. The blended light of soul and personality. |
1. Ánh sáng hòa hợp của linh hồn và phàm ngã. |
|
2. The light of the egoic group which, when forming a recognised group in the consciousness of the illumined initiate, is called an Ashram, embodying the light of buddhi or pure reason. |
2. Ánh sáng của nhóm chân ngã; khi hình thành một nhóm được nhận biết trong tâm thức của điểm đạo đồ đã được soi sáng, nó được gọi là một ashram, hiện thân cho ánh sáng của Bồ đề hay lý trí thuần túy. |
|
3. The light of the Hierarchy as a centre of radiance in the planetary body and embodying the light which understanding of the plan and cooperation with that plan produce, and which comes from identification—upon mental levels—with the spiritual will. |
3. Ánh sáng của Thánh Đoàn như một trung tâm bức xạ trong thể hành tinh, hiện thân cho ánh sáng do sự thấu hiểu Thiên Cơ và sự hợp tác với Thiên Cơ tạo ra, và ánh sáng ấy đến từ sự đồng hoá, trên các cấp độ trí tuệ, với ý chí tinh thần. |
|
All these three aspects of light can be described as: |
Cả ba phương diện ánh sáng này có thể được mô tả như sau: |
|
1. The light which is thrown upward. This is the lesser light, from the angle of the Monad. |
1. Ánh sáng được phóng lên trên. Đây là ánh sáng nhỏ hơn, xét từ góc độ của chân thần. |
|
2. The light which the Spiritual Triad reflects upon the mental plane. |
2. Ánh sáng mà Tam Nguyên Tinh Thần phản chiếu trên cõi trí. |
|
3. The focussed light which is produced by the meeting of the two lights, the higher and the lower. |
3. Ánh sáng tập trung được tạo ra do sự gặp gỡ của hai ánh sáng, cao và thấp. |
|
These are the higher correspondence of the blazing forth of the light in the head, when the light of the personality and the light of the soul make contact. |
Đây là tương ứng cao hơn của sự bừng cháy ánh sáng trong đầu, khi ánh sáng của phàm ngã và ánh sáng của linh hồn tiếp xúc với nhau. |
|
1. From the mental plane all the lights here discussed can be accessed. The systemic mental plane is a great meeting ground or clearing house. |
1. Từ cõi trí, có thể tiếp cận mọi ánh sáng đang được bàn đến ở đây. Cõi trí hệ thống là một nơi gặp gỡ lớn hay một trung tâm thanh lọc và phân phối. |
|
2. The mental plane is that domain upon which all self-conscious entities can meet. |
2. Cõi trí là lĩnh vực nơi mọi thực thể có ngã thức có thể gặp nhau. |
|
3. The Tibetan distinguishes between the symbolism of light and life, telling us that the symbolism of light is not used beyond the mental plane. This is true, but depends upon context, as the term “light” is sometimes used in relation to entities far greater than Man—and thus focussed on planes far beyond our mental plane—for instance the “light of the solar Logos” (DINA II 400). |
3. Chân sư Tây Tạng phân biệt giữa biểu tượng của ánh sáng và sự sống, khi Ngài nói với chúng ta rằng biểu tượng ánh sáng không được dùng bên ngoài cõi trí. Điều này đúng, nhưng tùy thuộc vào ngữ cảnh, vì thuật ngữ “ánh sáng” đôi khi được dùng liên quan đến các thực thể vĩ đại hơn Con Người rất nhiều, và do đó tập trung trên những cõi vượt xa cõi trí của chúng ta, chẳng hạn “ánh sáng của Thái dương Thượng đế” (DINA II 400). |
|
4. Life, itself, is a kind of light, and we read of the “light of life”. Both are demonstrations of vibration. The term “life” suggests a higher vibratory frequency, and “light”, a lower. |
4. Chính sự sống là một loại ánh sáng, và chúng ta đọc thấy “ánh sáng của sự sống”. Cả hai đều là những biểu hiện của rung động. Thuật ngữ “sự sống” gợi ý một tần số rung động cao hơn, còn “ánh sáng” gợi ý một tần số thấp hơn. |
|
5. The distinction which D.K. points out is, however, a very important one. We are so used to thinking in terms of consciousness, and He wants us to think in terms of a ‘something’ far more synthetic, unitive, homogeneous—a; something in which all apparently distinct things are the same. |
5. Tuy nhiên, sự phân biệt mà Chân sư DK chỉ ra là một điều rất quan trọng. Chúng ta quá quen suy nghĩ theo tâm thức, còn Ngài muốn chúng ta suy nghĩ theo một “điều gì đó” tổng hợp hơn nhiều, hợp nhất hơn, đồng nhất hơn; một điều gì đó trong đó mọi sự dường như riêng biệt đều là một. |
|
6. Really, we find Master D.K. steadily leading us from a focus upon consciousness to a focus on life and will. |
6. Thật vậy, chúng ta thấy Chân sư DK đang đều đặn dẫn chúng ta từ tiêu điểm nơi tâm thức sang tiêu điểm nơi sự sống và ý chí. |
|
7. This paragraph is excellent for its description of the three types of light with which the disciple/initiate has to deal. Students of A Treatise on White Magic will also find this paragraph extremely useful, as some terms used there—“the lower light is thrown upwards” (Rule II for Magic)—are identical. Cross-referencing should bring illumination. |
7. Đoạn này rất xuất sắc trong việc mô tả ba loại ánh sáng mà đệ tử hay điểm đạo đồ phải xử lý. Các đạo sinh của Luận về Chánh Thuật cũng sẽ thấy đoạn này cực kỳ hữu ích, vì một số thuật ngữ được dùng ở đó, như “ánh sáng thấp được phóng lên trên” (Quy luật II dành cho Huyền thuật), là giống hệt. Việc đối chiếu tham khảo sẽ đem lại sự soi sáng. |
|
8. The “light which is thrown upward” (in this case) is the blended light of the personality and the soul—considered, from the monadic perspective, a “lesser light” (though such a light when fully formed, would indicate the achievement of the third initiation). |
8. “Ánh sáng được phóng lên trên” trong trường hợp này là ánh sáng hòa hợp của phàm ngã và linh hồn, được xem, từ viễn cảnh chân thần, là một “ánh sáng nhỏ hơn”, dù khi ánh sáng ấy được hình thành trọn vẹn, nó sẽ chỉ ra thành tựu của lần điểm đạo thứ ba. |
|
9. With the concept of the “blended light of the soul and personality”, we are familiar. |
9. Chúng ta quen thuộc với khái niệm “ánh sáng hòa hợp của linh hồn và phàm ngã”. |
|
10. A new definition of the Ashram is here given which is most interesting. It is called the “light of the egoic group”. An Ashram is, thus, a collection of egos (and here, “ego” means much more than the lower personal ego {the personality} and even more than consciousness within the egoic lotus. An egoic group is more a collection of triads on a given ray. |
10. Ở đây, một định nghĩa mới về ashram được đưa ra, rất đáng quan tâm. Nó được gọi là “ánh sáng của nhóm chân ngã”. Như vậy, một ashram là một tập hợp các chân ngã; và ở đây, “chân ngã” có nghĩa rộng hơn nhiều so với phàm ngã cá nhân thấp hơn, tức phàm ngã, và còn rộng hơn cả tâm thức bên trong Hoa Sen Chân Ngã. Một nhóm chân ngã đúng hơn là một tập hợp các Tam nguyên tinh thần trên một cung nhất định. |
|
11. Such an egoic group does not comprise all triads on a particular ray—unless we are speaking of the Ashram of a Chohan, which includes seven subsidiary Ashrams. |
11. Một nhóm chân ngã như thế không bao gồm tất cả các Tam nguyên tinh thần trên một cung đặc thù, trừ khi chúng ta đang nói đến ashram của một Chohan, vốn bao gồm bảy ashram phụ thuộc. |
|
12. The first Ashram we contact will usually be that of a Master. After sufficient experience with the methods and work of such an Ashram, we may become aware of the larger Ashram—that of the Chohan which includes ‘our’ Master’s Ashram and the Ashrams of a number of other Masters. |
12. Ashram đầu tiên mà chúng ta tiếp xúc thường sẽ là ashram của một Chân sư. Sau khi có đủ kinh nghiệm với các phương pháp và công việc của một ashram như vậy, chúng ta có thể trở nên ý thức về ashram lớn hơn, tức ashram của Chohan, bao gồm ashram của Chân sư “của chúng ta” và các ashram của một số Chân sư khác. |
|
13. We remember that the ray of the causal body/egoic lotus is the same as the ray of the triad. The triadal ray is causal to the causal body—and predates it. |
13. Chúng ta nhớ rằng cung của thể nguyên nhân hay Hoa Sen Chân Ngã cũng là cung của Tam nguyên tinh thần. Cung Tam nguyên tinh thần là nguyên nhân đối với thể nguyên nhân—và có trước nó. |
|
14. Only an “illuminated initiate” can perceive the light of the Ashram—which is the light of pure reason. Probably there are vaguer sensings of the Ashram before there is a clear impression. Registration of the real affairs of an Ashram, however, require an illuminated consciousness. The impression from the Ashram further illuminates the consciousness. |
14. Chỉ một “điểm đạo đồ đã được soi sáng” mới có thể nhận biết ánh sáng của ashram, tức ánh sáng của lý trí thuần túy. Có lẽ trước khi có ấn tượng rõ ràng, đã có những cảm nhận mơ hồ hơn về ashram. Tuy nhiên, việc ghi nhận các sự vụ thật sự của một ashram đòi hỏi một tâm thức đã được soi sáng. Ấn tượng từ ashram tiếp tục soi sáng tâm thức. |
|
15. D.K. then develops the idea that Hierarchy is related to the Divine Plan. The Plan, we long have realized, is related to atma. Thus we see that when we are preoccupied with the Plan, and truly understand it, we are dealing with the impression of atma. |
15. Sau đó Chân sư DK khai triển ý tưởng rằng Thánh Đoàn liên hệ với Thiên Cơ. Từ lâu chúng ta đã nhận ra rằng Thiên Cơ liên hệ với atma. Vì vậy, chúng ta thấy rằng khi chúng ta chuyên chú vào Thiên Cơ và thật sự thấu hiểu Thiên Cơ, chúng ta đang xử lý ấn tượng của atma. |
|
16. If we seek to understand the Plan and to cooperate with the Plan (and actually come to understand it and actually cooperate with it), then we will be, as it were, receiving and transmitting the light of atma. |
16. Nếu chúng ta tìm cách thấu hiểu Thiên Cơ và hợp tác với Thiên Cơ, và thật sự đi đến chỗ thấu hiểu cũng như hợp tác với Thiên Cơ, thì có thể nói chúng ta sẽ tiếp nhận và truyền dẫn ánh sáng của atma. |
|
17. Some wonder how atma may be accessed. Work with the Plan seems to be the answer. |
17. Một số người tự hỏi làm sao có thể tiếp cận atma. Công việc với Thiên Cơ dường như là câu trả lời. |
|
18. Identification with spiritual will—as that will is appreciated from higher mental levels—is the other and related method. We cannot yet be polarized in spiritual will, but we can focus our mind so that it is responsive to spiritual will, and serves as an instrument for the implementation of spiritual will. |
18. Sự đồng hoá với ý chí tinh thần, như ý chí ấy được nhận thức từ các cấp độ thượng trí, là phương pháp khác có liên hệ. Chúng ta chưa thể phân cực trong ý chí tinh thần, nhưng chúng ta có thể tập trung thể trí của mình sao cho nó đáp ứng với ý chí tinh thần và phụng sự như một khí cụ để thực hiện ý chí tinh thần. |
|
19. Work with the Divine Plan requires prioritisation, impersonality and selflessness—to name three factors. Many things of a worthy (though lower nature) must be sacrificed. Such work is neither personal, nor even individual. |
19. Công việc với Thiên Cơ đòi hỏi sự ưu tiên hóa, tính vô ngã và lòng vị tha, để nêu ba yếu tố. Nhiều điều có giá trị, dù thuộc bản chất thấp hơn, phải được hy sinh. Công việc như thế không mang tính cá nhân, thậm chí cũng không mang tính cá thể. |
|
20. The individual who focussed with selflessness upon the Plan, will soon find the real spiritual will taking over in his life. He will see things from an increasingly large perspective, and his sense of priorities will alter greatly. Co-measurement will develop—a wise and encompassing sense of proportion. |
20. Cá nhân nào tập trung một cách vị tha vào Thiên Cơ sẽ sớm thấy ý chí tinh thần thật sự nắm quyền trong đời sống của mình. Y sẽ nhìn sự việc từ một viễn cảnh ngày càng rộng lớn, và ý thức ưu tiên của y sẽ thay đổi rất nhiều. Sự đồng cân nhắc sẽ phát triển, tức một Ý thức về tỉ lệ minh triết và bao quát. |
|
21. An important comparison is given. We are offered the higher correspondence to the meeting of the light of the soul and the light of the personality—namely, the meeting of the light of the spiritual triad and the light of the soul-infused personality, and the production of the “clear cold light” when these two meet. The clear, cold light is, thus, from one perspective, the higher correspondence of the light in the head. |
21. Một so sánh quan trọng được đưa ra. Chúng ta được trình bày tương ứng cao hơn của sự gặp gỡ giữa ánh sáng của linh hồn và ánh sáng của phàm ngã, tức là sự gặp gỡ giữa ánh sáng của Tam nguyên tinh thần và ánh sáng của phàm ngã được linh hồn thấm nhuần, cùng với việc tạo ra “ánh sáng lạnh trong sáng” khi hai ánh sáng này gặp nhau. Như vậy, từ một viễn cảnh, ánh sáng lạnh trong sáng là tương ứng cao hơn của ánh sáng trong đầu. |
|
22. While many of us are still working on the meeting of the light of the soul and the light of personality, it will be profitable to conceive of the higher meeting here proposed. The light which results from this higher meeting will mostly focus as the light of buddhi within the Ashram. From this perspective, buddhic intuition shines forth when the hierarchical light of atma and the soul-developed light of higher manas meet. It would seem that if higher will and higher mind relate properly, intuitive, straight-knowledge is the result. |
22. Trong khi nhiều người trong chúng ta vẫn đang làm việc với sự gặp gỡ giữa ánh sáng của linh hồn và ánh sáng của phàm ngã, sẽ rất hữu ích khi hình dung sự gặp gỡ cao hơn được nêu ra ở đây. Ánh sáng phát sinh từ sự gặp gỡ cao hơn này phần lớn sẽ tập trung như ánh sáng của Bồ đề trong ashram. Từ viễn cảnh này, trực giác Bồ đề tỏa sáng khi ánh sáng atma của Thánh Đoàn và ánh sáng thượng manas do linh hồn phát triển gặp nhau. Dường như nếu ý chí cao và thượng trí liên hệ đúng đắn, thì kết quả là tri thức trực nhận bằng trực giác. |
|
23. It is clear how rich is the paragraph under consideration. |
23. Rõ ràng đoạn đang được xem xét phong phú biết bao. |
|
24. Do we see how Master D.K. is steadily raising us from a consideration of soul culture to a consideration of the culture of the spiritual triad? |
24. Chúng ta có thấy Chân sư DK đang đều đặn nâng chúng ta từ việc xem xét văn hóa linh hồn lên việc xem xét văn hóa của Tam nguyên tinh thần không? |
|
D. Beyond the mental plane, the initiatory impulse or emphasis is upon the life aspect, upon dynamic energy, and upon the cause of manifestation, and this incentive to progress is not based on revelation, which is ever incident to or related to the significance of light. (cf. RI, p. 74) |
D. Bên ngoài cõi trí, xung lực hay điểm nhấn điểm đạo đặt trên phương diện sự sống, trên năng lượng năng động và trên nguyên nhân của sự biểu hiện; và động lực thúc đẩy tiến bộ này không dựa trên sự mặc khải, vốn luôn phụ thuộc vào hoặc liên hệ với thâm nghĩa của ánh sáng. (xem RI, tr. 74) |
|
Light and revelation are cause and effect. (cf. RI. P. 74) |
Ánh sáng và sự mặc khải là nhân và quả. (xem RI, tr. 74) |
|
The coming revelation for which all men wait, and which will come when world adjustment has reached an already determined point, is concerned with the impartation to the human consciousness of the meaning and purpose of life; this will take place in a gradually unfolding series of spiritual events. (cf. RI, p. 74-75) |
Sự mặc khải sắp đến mà mọi người đang chờ đợi, và sẽ đến khi sự điều chỉnh thế giới đạt tới một điểm đã được xác định, liên quan đến việc truyền đạt cho tâm thức nhân loại ý nghĩa và mục đích của sự sống; điều này sẽ diễn ra trong một chuỗi các biến cố tinh thần dần dần khai mở. (xem RI, tr. 74-75) |
|
There will come to humanity at some moment still a long way ahead a period of realization that will summarize, in effective conditioning consciousness, all that the quality of sensitivity has conveyed to mankind throughout the ages. It is the consummation of the activity of the Christ-consciousness, and is the state referred to when it is said of the Christ: “He shall see of the travail of his soul and be satisfied.” (cf. RI, p. 75) |
Vào một thời điểm còn rất xa phía trước, nhân loại sẽ bước vào một thời kỳ nhận thức, thời kỳ ấy sẽ tổng kết, trong một tâm thức tác động hữu hiệu, tất cả những gì phẩm tính nhạy cảm đã truyền đạt cho nhân loại qua các thời đại. Đó là sự viên mãn của hoạt động của tâm thức Christ, và là trạng thái được nói đến khi người ta nói về Đức Christ: “Ngài sẽ thấy nỗi nhọc nhằn của linh hồn mình và sẽ thỏa lòng.” (xem RI, tr. 75) |
|
At the crisis of that revelation, at its highest point of tension, humanity as with one voice will say: “Behold! All things are become new.” (cf. RI, p. 75) |
Vào cuộc khủng hoảng của sự mặc khải ấy, tại điểm tập trung nhất tâm cao nhất của nó, nhân loại như cùng một tiếng nói sẽ thốt lên: “Hãy nhìn xem! Mọi sự đã trở nên mới.” (xem RI, tr. 75) |
|
“Behold! All things are become new.” (cf. RI, p. 75) |
“Hãy nhìn xem! Mọi sự đã trở nên mới.” (xem RI, tr. 75) |
|
The immediate revelation ahead will be only the first step towards this distant related point. It will be gradually appreciated as the new world religion with its emphasis upon the invocation of energies and the evocation of “life more abundantly”. (cf. RI, p. 75) |
Sự mặc khải trước mắt sẽ chỉ là bước đầu tiên hướng tới điểm liên hệ xa xôi này. Nó sẽ dần dần được nhận thức khi tôn giáo thế giới mới, với sự nhấn mạnh vào Khẩn Cầu và Gợi Lên các năng lượng và sự gợi lên “sự sống dồi dào hơn”, phát triển. (xem RI, tr. 75) |
|
Beyond the mental plane, the initiatory impulse or emphasis is upon the life aspect, upon dynamic energy, and upon the cause of manifestation, and this incentive to progress is not based on revelation, which is ever incident to or related to the significance of light. Light and revelation are cause and effect. The coming revelation for which all men wait, and which will come when world adjustment has [Page 75] reached an already determined point, is concerned with the impartation to the human consciousness of the meaning and purpose of life; this will take place in a gradually unfolding series of spiritual events. I cannot and must not put these truths more clearly, even if the necessary words were available to express what is not as yet even dimly sensed by disciples of the first and second degrees of initiation. What will come through that series of spiritual happenings and their inevitable reaction upon the whole body of humanity is in no way related to consciousness, to revelation or to light. There will come to humanity at some moment still a long way ahead a period of realisation, constituting both a point of crisis and a point of tension. That realisation will summarise, in effective conditioning consciousness, all that the quality of sensitivity has conveyed to mankind throughout the ages. It is the consummation of the activity of the Christ-consciousness, and is the state referred to when it is said of the Christ: “He shall see of the travail of his soul and be satisfied.” At the crisis of that revelation, at its highest point of tension, humanity as with one voice will say: “Behold! All things are become new.” This is the apotheosis of vision and the prelude to an unfoldment in the general massed human consciousness (from that point in time slowly brought about) of certain powers and capacities of which the race is today totally unaware. The immediate revelation ahead will be only the first step towards this distant related point, and its significance will not be apparent to the present generation, or even to the next; it will, however, be steadily though gradually appreciated as the new world religion with its emphasis upon the invocation of energies and the evocation of “life more abundantly” is developed and has its inevitable effect. Students would do well to bear in mind that the impact of energies upon forms produces results which are dependent upon the quality of the forms receiving the impression. This is a statement of occult law.. |
Bên ngoài cõi trí, xung lực hay điểm nhấn điểm đạo đặt trên phương diện sự sống, trên năng lượng năng động và trên nguyên nhân của sự biểu hiện; và động lực thúc đẩy tiến bộ này không dựa trên sự mặc khải, vốn luôn phụ thuộc vào hoặc liên hệ với thâm nghĩa của ánh sáng. Ánh sáng và sự mặc khải là nhân và quả. Sự mặc khải sắp đến mà mọi người đang chờ đợi, và sẽ đến khi sự điều chỉnh thế giới đã [Page 75] đạt tới một điểm đã được xác định, liên quan đến việc truyền đạt cho tâm thức nhân loại ý nghĩa và mục đích của sự sống; điều này sẽ diễn ra trong một chuỗi các biến cố tinh thần dần dần khai mở. Tôi không thể và cũng không được phép trình bày các chân lý này rõ ràng hơn, ngay cả nếu có sẵn những từ ngữ cần thiết để diễn đạt điều mà các đệ tử thuộc lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai hiện vẫn chưa cảm nhận được dù chỉ lờ mờ. Điều sẽ đến qua chuỗi biến cố tinh thần ấy và phản ứng tất yếu của chúng trên toàn thể nhân loại hoàn toàn không liên hệ đến tâm thức, sự mặc khải hay ánh sáng. Vào một thời điểm còn rất xa phía trước, nhân loại sẽ bước vào một thời kỳ nhận thức, tạo thành cả một điểm khủng hoảng lẫn một điểm tập trung nhất tâm. Nhận thức ấy sẽ tổng kết, trong một tâm thức tác động hữu hiệu, tất cả những gì phẩm tính nhạy cảm đã truyền đạt cho nhân loại qua các thời đại. Đó là sự viên mãn của hoạt động của tâm thức Christ, và là trạng thái được nói đến khi người ta nói về Đức Christ: “Ngài sẽ thấy nỗi nhọc nhằn của linh hồn mình và sẽ thỏa lòng.” Vào cuộc khủng hoảng của sự mặc khải ấy, tại điểm tập trung nhất tâm cao nhất của nó, nhân loại như cùng một tiếng nói sẽ thốt lên: “Hãy nhìn xem! Mọi sự đã trở nên mới.” Đây là sự tôn vinh tối thượng của tầm nhìn và là khúc dạo đầu cho một sự khai mở trong tâm thức nhân loại đại chúng nói chung, từ điểm thời gian ấy trở đi dần dần được tạo nên, của một số quyền năng và năng lực mà hiện nay nhân loại hoàn toàn chưa ý thức được. Sự mặc khải trước mắt sẽ chỉ là bước đầu tiên hướng tới điểm liên hệ xa xôi này, và thâm nghĩa của nó sẽ không hiển nhiên đối với thế hệ hiện nay, thậm chí cả thế hệ kế tiếp; tuy nhiên, nó sẽ được nhận thức đều đặn dù dần dần khi tôn giáo thế giới mới, với sự nhấn mạnh vào Khẩn Cầu và Gợi Lên các năng lượng và sự gợi lên “sự sống dồi dào hơn”, được phát triển và tạo ra hiệu quả tất yếu của nó. Các đạo sinh nên ghi nhớ rằng tác động của các năng lượng lên các hình tướng tạo ra những kết quả tùy thuộc vào phẩm tính của các hình tướng tiếp nhận ấn tượng. Đây là một phát biểu của định luật huyền bí.. |
|
1. In this paragraph, the Tibetan affirms that beyond the mental plane, “the initiatory impulse or emphasis is upon the life aspect”. The incentive to progress is not so much based on “revelation” as on something greater—though every progressive change in the registrations of an advancing initiate could be considered a kind of revelation. Contact with each succeeding vibratory domain confronts the advancing initiate with the new. Whenever the new comes into the life, a kind of revelation occurs—a kind of unveiling. Perhaps we should have a more accurate term for what occurs on these higher planes. Could we call such occurrences, ‘life-intensifications’? Or ‘life-augmentations’? Really, we have not words in ordinary language to describe such changes in the energy system of the initiate who has penetrated into these new domains. |
1. Trong đoạn này, Chân sư Tây Tạng xác nhận rằng bên ngoài cõi trí, “xung lực hay điểm nhấn điểm đạo đặt trên phương diện sự sống”. Động lực thúc đẩy tiến bộ không dựa quá nhiều trên “sự mặc khải” cho bằng trên một điều gì lớn hơn, dù mọi thay đổi tiến bộ trong các ghi nhận của một điểm đạo đồ đang tiến lên đều có thể được xem là một loại mặc khải. Sự tiếp xúc với mỗi lĩnh vực rung động kế tiếp đặt điểm đạo đồ đang tiến lên đối diện với cái mới. Mỗi khi cái mới đi vào đời sống, một loại mặc khải xảy ra, một loại vén màn. Có lẽ chúng ta nên có một thuật ngữ chính xác hơn cho điều xảy ra trên các cõi cao này. Ta có thể gọi những biến cố như thế là “sự tăng cường sự sống” chăng? Hay “sự gia tăng sự sống” chăng? Thật ra, trong ngôn ngữ thông thường, chúng ta không có từ ngữ để mô tả những thay đổi như vậy trong hệ thống năng lượng của điểm đạo đồ đã thâm nhập vào các lĩnh vực mới này. |
|
2. In D.K.’s paragraph given above, we learn that light and revelation are cause and effect. From a certain perspective, in all of cosmos, there is nothing but light. All matter is light and the quality/quantity of light is graded by vibratory frequency. |
2. Trong đoạn của Chân sư DK được nêu ở trên, chúng ta biết rằng ánh sáng và sự mặc khải là nhân và quả. Từ một viễn cảnh nào đó, trong toàn thể vũ trụ, không có gì ngoài ánh sáng. Mọi vật chất đều là ánh sáng, và phẩm tính cũng như lượng của ánh sáng được phân cấp bởi tần số rung động. |
|
3. Exposure to heightening degrees of vibratory frequency results in an events-in-consciousness known as revelations. But the mechanism of consciousness must be sufficiently tuned if revelation is to result. |
3. Việc tiếp xúc với những mức độ tần số rung động ngày càng cao dẫn đến các biến cố trong tâm thức được gọi là những sự mặc khải. Nhưng bộ máy tâm thức phải được điều chỉnh đủ tinh tế thì sự mặc khải mới có thể phát sinh. |
|
4. In a way, we are constantly exposed to frequencies entirely too rapid for our mechanism of consciousness to process. Thus, the response bringing revelation can only occur in relation to a certain range of frequencies. If the frequency is too high, revelation does not result. The determination of this range depends upon the condition of the sheaths of the one to whom revelation is to come. |
4. Theo một cách nào đó, chúng ta thường xuyên tiếp xúc với những tần số hoàn toàn quá nhanh để bộ máy tâm thức của chúng ta xử lý. Vì vậy, đáp ứng đem lại sự mặc khải chỉ có thể xảy ra trong liên hệ với một khoảng tần số nhất định. Nếu tần số quá cao, sự mặc khải không phát sinh. Việc xác định khoảng này tùy thuộc vào tình trạng của các lớp vỏ nơi người mà sự mặc khải sẽ đến. |
|
5. Although in the higher realms of the triad, revelation (as usually considered) is transcended, there is, nevertheless, a “coming revelation” for which all humanity is waiting. That revelation concerns the “meaning and purpose of life”—a phrase which may seem rather vague to us, but which means something most specific to the Masters and the Hierarchy—and is a progressively revealed secret of the higher initiations |
5. Mặc dù trong các cảnh giới cao của Tam nguyên tinh thần, sự mặc khải theo nghĩa thường được hiểu đã được vượt qua, tuy nhiên vẫn có một “sự mặc khải sắp đến” mà toàn thể nhân loại đang chờ đợi. Sự mặc khải ấy liên quan đến “ý nghĩa và mục đích của sự sống”, một cụm từ có thể có vẻ khá mơ hồ đối với chúng ta, nhưng lại mang một ý nghĩa hết sức cụ thể đối với các Chân sư và Thánh Đoàn, và là một bí mật được mặc khải dần dần của các lần điểm đạo cao. |
|
6. We are largely unconscious of the greater issues underlying the functioning of the solar logoic system in which we “live and more and have our being”. Our sphere of knowledge and understanding is clearly limited. We are somewhat in the position of ‘those who do not know what they do not know’. Thus, we are always surprised when the unsuspected comes into view—although it has “even been”. |
6. Phần lớn chúng ta không ý thức về những vấn đề lớn hơn nằm bên dưới sự vận hành của hệ thống Thái dương Thượng đế, trong đó chúng ta “sống, chuyển động và hiện hữu”. Phạm vi tri thức và thấu hiểu của chúng ta rõ ràng bị giới hạn. Chúng ta phần nào ở trong vị thế của “những người không biết điều mình không biết”. Vì vậy, chúng ta luôn ngạc nhiên khi điều không ngờ xuất hiện trước mắt, dù nó “đã từng hiện hữu”. |
|
7. In speaking of the “meaning and purpose of life”, Master D.K. tells us that it is not even sensed by initiates of the first and second degree. Do we know why this should be so? Is it not because, the third degree signifies that moment at the edge of time and space when the advancing initiate enters into an appreciation of spirit. There can be no speaking of the meaning and purpose of life without experiencing the impact of spirit/monad. |
7. Khi nói về “ý nghĩa và mục đích của sự sống”, Chân sư DK cho chúng ta biết rằng điều ấy thậm chí chưa được các điểm đạo đồ bậc một và bậc hai cảm nhận. Chúng ta có biết vì sao lại như vậy không? Chẳng phải vì bậc ba biểu thị khoảnh khắc ở rìa thời gian và không gian, khi điểm đạo đồ đang tiến lên bước vào sự nhận thức về tinh thần hay sao? Không thể nói đến ý nghĩa và mục đích của sự sống nếu không trải nghiệm tác động của tinh thần hay chân thần. |
|
8. Note that the Tibetan not only cannot put the matter more clearly, but that He must not. Is it forbidden to speak of the things of the spirit? It is all a matter of timing, and the premature discussion of certain higher states (with those for whom they are not yet relevant) may prove destructive of the very preparatory states which lead to those higher states. |
8. Hãy lưu ý rằng Chân sư Tây Tạng không chỉ không thể trình bày vấn đề rõ ràng hơn, mà Ngài còn không được phép. Có phải việc nói về những điều thuộc tinh thần bị cấm chăng? Tất cả là vấn đề thời điểm, và việc bàn luận quá sớm về một số trạng thái cao hơn với những người mà các trạng thái ấy chưa liên quan đến có thể phá hoại chính những trạng thái chuẩn bị dẫn đến các trạng thái cao hơn ấy. |
|
9. The Tibetan speaks of a consummating realization which lies still far ahead for humanity. This consummation is related to the flowering of the Christ consciousness, with its fulness of sensitivity. Surely, this development within the human race is much dependent upon what the Christ will initiate and inaugurate during the Age of Aquarius, during which time He will closely (though probably rather subtly) officiate over human affairs. |
9. Chân sư Tây Tạng nói về một nhận thức viên mãn còn nằm rất xa phía trước đối với nhân loại. Sự viên mãn này liên hệ với sự nở hoa của tâm thức Christ, với tính nhạy cảm trọn vẹn của nó. Chắc chắn, sự phát triển này trong nhân loại tùy thuộc rất nhiều vào điều Đức Christ sẽ khởi xướng và khai mở trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, trong thời gian đó Ngài sẽ điều hành sát sao, dù có lẽ khá vi tế, các sự vụ nhân loại. |
|
10. The emergence of this new state of being/consciousness in humanity is related not only the Reappearance of the Christ, but to the gradual emergence of the second ray soul of the planet Earth. |
10. Sự xuất hiện của trạng thái hiện hữu và tâm thức mới này trong nhân loại không chỉ liên hệ với Sự Tái Lâm của Đức Christ, mà còn với sự xuất hiện dần dần của linh hồn cung hai của hành tinh Trái Đất. |
|
11. We note that the future development within humanity relates to the full unfoldment of sensitivity. As the star Sirius is called “the brilliant star of sensitivity”, we can see how important to this development is the Sirian culture of initiation. Hierarchy is under Sirian guidance; the ultimate unfoldment of human sensitivity is ultimately a Sirianly inspired process. |
11. Chúng ta lưu ý rằng sự phát triển tương lai trong nhân loại liên hệ với sự khai mở trọn vẹn của tính nhạy cảm. Vì sao Sirius được gọi là “ngôi sao rực rỡ của tính nhạy cảm”, chúng ta có thể thấy văn hóa điểm đạo Sirius quan trọng như thế nào đối với sự phát triển này. Thánh Đoàn ở dưới sự hướng dẫn của Sirius; sự khai mở tối hậu của tính nhạy cảm nơi nhân loại rốt cuộc là một tiến trình được Sirius truyền cảm hứng. |
|
12. The Tibetan enters into the role of a prophet, predicting the moment when the Christ, Himself, shall be satisfied with the result of thousands of years of travail. We may question whether this moment will come at the close of the Aquarian Age. There are some references which suggest that the Christ will be “with us” for the duration of that age. After that, we do not know where His destiny will take Him, but it is suggested that He will move on—onto the Ray Path and eventually onto the Path to Sirius. |
12. Chân sư Tây Tạng bước vào vai trò của một nhà tiên tri, dự báo khoảnh khắc khi chính Đức Christ sẽ hài lòng với kết quả của hàng ngàn năm nhọc nhằn. Chúng ta có thể tự hỏi liệu khoảnh khắc này có đến vào cuối Kỷ Nguyên Bảo Bình hay không. Có một số tham chiếu gợi ý rằng Đức Christ sẽ “ở cùng chúng ta” trong suốt thời kỳ của kỷ nguyên ấy. Sau đó, chúng ta không biết vận mệnh của Ngài sẽ đưa Ngài đến đâu, nhưng có gợi ý rằng Ngài sẽ tiếp tục tiến bước—đi vào Con Đường Cung và cuối cùng đi vào Con Đường đến Sirius. |
|
13. At the highest point of tension associated with this coming revelation, humanity will say, “Behold, All things are become new!”. How fitting this is in relation to the energy of Aquarius, which (with Aries, inaugurating the New Age) ever introduces new possibilities. It is Aquarius which presides over the creation of a “new heaven and new Earth”. |
13. Ở điểm tập trung nhất tâm cao nhất liên quan đến sự mặc khải sắp đến này, nhân loại sẽ nói: “Hãy nhìn xem, mọi sự đã trở nên mới!”. Điều này thật thích hợp biết bao trong liên hệ với năng lượng của Bảo Bình, vốn cùng với Bạch Dương, khai mở Kỷ Nguyên Mới, luôn đưa vào những khả năng mới. Chính Bảo Bình chủ trì việc tạo dựng một “trời mới và Trái Đất mới”. |
|
14. The massed human consciousness will then be expressive of powers which today belong only to the trusted few. |
14. Tâm thức nhân loại được tập hợp khi ấy sẽ biểu lộ những quyền năng mà ngày nay chỉ thuộc về một số ít người đáng tin cậy. |
|
15. We cannot know for certain whether such developments will occur at the end of another two thousand years, but it is reasonable to hypothesize the affirmative. Venus, as decanate ruler of the last decanate of Aquarius, will then be in full power. Thus the powers of the Solar Angel as they express through group consciousness will be in full force. |
15. Chúng ta không thể biết chắc liệu những phát triển như thế sẽ xảy ra vào cuối hai ngàn năm nữa hay không, nhưng giả định theo hướng khẳng định là điều hợp lý. Sao Kim, với tư cách là chủ tinh thập độ của thập độ cuối cùng trong Bảo Bình, khi ấy sẽ ở trong toàn lực. Do đó, các quyền năng của Thái dương Thiên Thần khi biểu lộ qua tâm thức nhóm sẽ ở trong mãnh lực trọn vẹn. |
|
16. The Tibetan brings us back to the present historical situation speaking of the revelations immediately ahead—to be experienced not so much in relation to the generation alive when He was writing, or even in relation to the one following it, but, rather, in relation to the generations succeeding those two. The present generation is beginning to feel the effects of the initial stages of the imminent revelation which must inevitably lead to the greater consummating revelation of which He speaks. |
16. Chân sư Tây Tạng đưa chúng ta trở lại tình hình lịch sử hiện tại khi nói về những mặc khải ngay trước mắt—không phải sẽ được kinh nghiệm nhiều trong liên hệ với thế hệ còn sống khi Ngài viết, hay thậm chí với thế hệ kế tiếp, mà đúng hơn là trong liên hệ với các thế hệ nối tiếp hai thế hệ ấy. Thế hệ hiện nay đang bắt đầu cảm nhận các hiệu quả của những giai đoạn khởi đầu của sự mặc khải sắp đến, vốn tất yếu phải dẫn đến sự mặc khải hoàn tất lớn lao hơn mà Ngài nói đến. |
|
17. Importantly, D.K. links an appreciation of the imminent revelation to the new world religion—to the invocation of certain energies and to the “evocation of life more abundantly”. A great value of the new world religion is thus suggested. The understanding and practice of this coming spiritual approach will bring an increasing spiritual abundance to Earth. ‘Heaven’ is full of that which can transform human and planetary life; but this ‘Heaven’ must be invoked, or the supply of transformative power will not descend. |
17. Điều quan trọng là Chân sư DK liên kết sự trân trọng đối với sự mặc khải sắp đến với tôn giáo thế giới mới—với việc khẩn cầu một số năng lượng nhất định và với “sự gợi lên sự sống dồi dào hơn”. Như vậy, một giá trị lớn lao của tôn giáo thế giới mới được gợi ý. Sự thấu hiểu và thực hành phương pháp tiếp cận tinh thần sắp đến này sẽ đem lại một sự phong phú tinh thần ngày càng tăng cho Trái Đất. “Thiên giới” đầy những gì có thể chuyển đổi đời sống nhân loại và hành tinh; nhưng “Thiên giới” này phải được khẩn cầu, nếu không nguồn cung cấp quyền năng chuyển đổi sẽ không giáng xuống. |
|
18. D.K. closes the paragraph with this thought: |
18. Chân sư DK kết thúc đoạn văn bằng tư tưởng này: |
|
“Students would do well to bear in mind that the impact of energies upon forms produces results which are dependent upon the quality of the forms receiving the impression. This is a statement of occult law” |
“Các đạo sinh nên ghi nhớ rằng tác động của các năng lượng lên các hình tướng tạo ra những kết quả tùy thuộc vào phẩm tính của các hình tướng tiếp nhận ấn tượng. Đây là một phát biểu của định luật huyền bí” |
|
The idea here is that if humanity is to properly receive the coming abundance, it must tune up its instrument. The energies of transformation may be waiting to descend, and they may be invoked, but what is the nature and quality of the forms they will impact? Hence, we are reminded of our responsibility to see to the improvement of our vibratory quality so that our reception of the descending energies may be constructive. |
Ý tưởng ở đây là nếu nhân loại muốn tiếp nhận đúng đắn sự phong phú sắp đến, họ phải lên dây lại nhạc cụ của mình. Các năng lượng chuyển đổi có thể đang chờ giáng xuống, và chúng có thể được khẩn cầu, nhưng bản chất và phẩm tính của các hình tướng mà chúng sẽ tác động là gì? Vì thế, chúng ta được nhắc nhở về trách nhiệm của mình trong việc chăm lo cải thiện phẩm tính rung động của chúng ta để sự tiếp nhận các năng lượng đang giáng xuống có thể mang tính xây dựng. |
|
E. The problem confronting the Custodians of the Will, working through the Custodians of the Plan, is to bring good out of the evil which man has wrought, and thus gear events to the larger issues. (cf. RI, p. 76) |
E. Vấn đề đối diện với các Đấng Trông Giữ Ý Chí, khi làm việc qua các Đấng Trông Giữ Thiên Cơ, là đem điều thiện ra khỏi điều ác mà con người đã gây nên, và nhờ vậy điều chỉnh các biến cố theo những vấn đề lớn lao hơn. (x. RI, tr. 76) |
|
The Science of Invocation and Evocation is a reciprocal effort. Humanity could not be invocative were it not that the Spiritual Hierarchy (including both, Shamballa and the planetary Hierarchy) is evoking the spirit of man. (cf. RI, p. 76) |
Khoa học Khẩn Cầu và Gợi Lên là một nỗ lực hỗ tương. Nhân loại không thể có khả năng khẩn cầu nếu không phải vì Huyền Giai Tinh Thần, bao gồm cả Shamballa và Thánh đoàn hành tinh, đang gợi lên tinh thần của con người. (x. RI, tr. 76) |
|
One of the purposes lying behind the present holocaust (World War II) has been the necessity for the [Page 76] destruction of inadequate forms. This destruction could have been brought about by an act of God, such as a great natural catastrophe or a universal epidemic, and such had been the original intention. Humanity was, however, swept by forces that carried in themselves the seeds of destruction, and there was that in humanity which responded to those forces. Therefore the Law of destruction was permitted to work through humanity itself, and men are now destroying the forms through which many masses of men are functioning. This is both a good and a bad thing, viewed from the evolutionary angle. It is nevertheless a fact which cannot be gainsaid, and the problem, therefore, confronting the Custodians of the Will, working through the Custodians of the Plan, is to bring good out of the evil which man has wrought, and thus gear events to the larger issues. |
Một trong những mục đích nằm sau cuộc đại hủy diệt hiện nay, tức Thế chiến thứ hai, là sự cần thiết phải [Page 76] hủy diệt những hình tướng không còn thích hợp. Sự hủy diệt này có thể đã xảy ra do một hành động của Thượng đế, chẳng hạn như một đại thảm họa tự nhiên hay một trận dịch toàn cầu, và đó đã là ý định ban đầu. Tuy nhiên, nhân loại đã bị cuốn đi bởi những mãnh lực mang trong chúng các hạt giống hủy diệt, và trong nhân loại có điều đáp ứng với các mãnh lực ấy. Do đó, Định luật Hủy Diệt được phép vận hành qua chính nhân loại, và con người hiện đang hủy diệt những hình tướng qua đó nhiều khối quần chúng đang hoạt động. Xét theo góc độ tiến hoá, điều này vừa tốt vừa xấu. Tuy nhiên, đó là một sự kiện không thể phủ nhận, và vì thế vấn đề đối diện với các Đấng Trông Giữ Ý Chí, khi làm việc qua các Đấng Trông Giữ Thiên Cơ, là đem điều thiện ra khỏi điều ác mà con người đã gây nên, và nhờ vậy điều chỉnh các biến cố theo những vấn đề lớn lao hơn. |
|
1. Some rather “hard sayings” are found in this paragraph. |
1. Trong đoạn này có một số “lời nói khó nghe”. |
|
2. Note that the Tibetan calls the entire World War II a “holocaust”. The term does not refer to the fate of any one persecuted group. Almost all of humanity was cast into the fiery furnace. |
2. Hãy lưu ý rằng Chân sư Tây Tạng gọi toàn bộ Thế chiến thứ hai là một “cuộc đại hủy diệt”. Thuật ngữ này không chỉ số phận của bất kỳ một nhóm bị bách hại nào. Hầu như toàn thể nhân loại đã bị ném vào lò lửa. |
|
3. The “powers that be” in Shamballa are responsible for the creation and destruction of the racial form. It is a hard thought that there come times when certain forms have to be swept away so that the race as a whole may express through forms more fit to impending human developments. |
3. Những “quyền năng hiện hữu” trong Shamballa chịu trách nhiệm về việc tạo dựng và hủy diệt hình tướng của nhân loại. Đây là một tư tưởng khó chấp nhận: có những thời điểm khi một số hình tướng nhất định phải bị quét sạch để nhân loại như một toàn thể có thể biểu lộ qua những hình tướng thích hợp hơn với các phát triển nhân loại sắp đến. |
|
4. Just which forms the Tibetan is referencing, we cannot know. The outer forms of so many millions were destroyed. One wonders if the intelligence of the Lords of Karma is so acute that it can single out those whose outer forms are meant for destruction. |
4. Chúng ta không thể biết chính xác Chân sư Tây Tạng đang nói đến những hình tướng nào. Hình tướng bên ngoài của biết bao triệu người đã bị hủy diệt. Người ta tự hỏi liệu trí tuệ của các Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả có sắc bén đến mức có thể chọn riêng những người mà hình tướng bên ngoài của họ được định để hủy diệt hay không. |
|
5. What is suggested is such an impersonal point of view. It has been said that “God is no respecter of persons”. The Tibetan suggest that this is indeed true. |
5. Điều được gợi ý là một quan điểm vô ngã đến như thế. Người ta đã nói rằng “Thượng đế không thiên vị con người”. Chân sư Tây Tạng gợi ý rằng điều này quả thật đúng. |
|
6. Had not the seeds of destruction flourished within humanity, a great natural catastrophe or universal epidemic would have taken place. Again we can wonder, if the same forms which were destroyed by war would have been selectively destroyed by a natural catastrophe or universal epidemic. What sort of intelligence would be required to ensure that this occurred? |
6. Nếu các hạt giống hủy diệt đã không nảy nở trong nhân loại, thì một đại thảm họa tự nhiên hay một trận dịch toàn cầu đã xảy ra. Một lần nữa, chúng ta có thể tự hỏi liệu chính những hình tướng đã bị hủy diệt bởi chiến tranh có được hủy diệt một cách chọn lọc bởi một thảm họa tự nhiên hay một trận dịch toàn cầu hay không. Cần loại trí tuệ nào để bảo đảm điều đó xảy ra? |
|
7. What we can see was that a great destruction was needed to clear the way for the advance of life. In this second ray solar system and on this basically second ray planet, we may react with horror to such periods of destruction, but later when the “smoke clears” we will be in a position to see how much was gained by the apparent loss. |
7. Điều chúng ta có thể thấy là cần có một sự hủy diệt lớn lao để dọn đường cho sự tiến lên của sự sống. Trong hệ mặt trời cung hai này và trên hành tinh về căn bản thuộc cung hai này, chúng ta có thể phản ứng bằng nỗi kinh hoàng trước những thời kỳ hủy diệt như thế, nhưng về sau, khi “khói tan”, chúng ta sẽ ở vào vị thế để thấy đã thu được bao nhiêu qua sự mất mát bề ngoài. |
|
8. The difficulty is to realize this while it is happening—whether in our individual lives or in the life of our nation or the world. |
8. Khó khăn là nhận ra điều này ngay khi nó đang xảy ra—dù trong đời sống cá nhân của chúng ta, hay trong đời sống của quốc gia chúng ta hoặc của thế giới. |
|
9. The Tibetan, however, takes a balanced view of destruction. According to Him, the kind of destruction which occurred was both good and bad. We have discussed why is was good; it made an increasing liberation of life possible. But why might it have been “bad”? Perhaps because of the traumas and psychological complications it produced—laying up seeds for future trouble and need for much therapy and regeneration. The scars carried by victims of such traumatic events do not go away immediately, and may warp the development of the individual (or nation) concerned. |
9. Tuy nhiên, Chân sư Tây Tạng có một cái nhìn quân bình về sự hủy diệt. Theo Ngài, loại hủy diệt đã xảy ra là vừa tốt vừa xấu. Chúng ta đã bàn vì sao nó tốt; nó làm cho một sự giải thoát ngày càng tăng của sự sống trở nên khả hữu. Nhưng vì sao nó có thể là “xấu”? Có lẽ vì những chấn thương và những phức tạp tâm lý mà nó tạo ra—tích chứa các hạt giống cho rắc rối tương lai và nhu cầu về nhiều trị liệu và tái sinh. Những vết sẹo mà nạn nhân của các biến cố chấn thương như thế mang theo không biến mất ngay lập tức, và có thể làm lệch lạc sự phát triển của cá nhân hay quốc gia liên quan. |
|
10. The great Lives Who supervise people’s frequent mismanagement both of their own possibilities and of the planet, have the task of bringing good out of evil. They seem to do this by always keeping the “larger issues” in mind, gearing events to those issues. We are reminded that the “good” has always to do with the “greatest good of the greatest number”. The true “Good” is seen only from a high and wide perspective—which humanity does not possess but Hierarchy does. |
10. Các Sự Sống vĩ đại giám sát việc con người thường xuyên quản lý sai lầm cả những khả năng của chính họ lẫn của hành tinh, có nhiệm vụ đem điều thiện ra khỏi điều ác. Các Ngài dường như thực hiện điều này bằng cách luôn giữ trong trí “những vấn đề lớn lao hơn”, điều chỉnh các biến cố theo những vấn đề ấy. Chúng ta được nhắc rằng “điều thiện” luôn liên quan đến “điều thiện lớn nhất cho số đông lớn nhất”. “Thiện” đích thực chỉ được thấy từ một viễn cảnh cao rộng—điều mà nhân loại không có nhưng Thánh đoàn thì có. |
|
11. These Lives cannot interfere with human free will, but they can exert a subtle patterning influence which redirects the trend of resultant conditions. |
11. Các Sự Sống này không thể can thiệp vào ý chí tự do của con người, nhưng Các Ngài có thể gây ra một ảnh hưởng định hình tinh tế, vốn chuyển hướng xu thế của các tình trạng phát sinh. |
|
12. One is reminded of Master Morya’s constant statement that “obstacles are possibilities”. These supervisory Lives must always be asking, “What is the best that can be brought out of existing conditions?”—just as we would do in relation to an erring child under our supervision. However, whereas we might be tempted to take control of the child’s life in order to ensure correct behavior, the Hierarchy, wiser than we, will not and cannot interfere with our childishness. They cannot and will not violate our free will, though they can surround the conditions which this will generates with an envelope of positivity which strengthens all good patterns and dampens others. They, thus, provide a positive atmosphere in which the best we have generated is enhanced, and the worst is at least not stimulated. |
12. Người ta nhớ đến phát biểu thường xuyên của Chân sư Morya rằng “chướng ngại là những khả năng”. Các Sự Sống giám sát này hẳn luôn tự hỏi: “Điều tốt nhất nào có thể được đem ra từ các tình trạng hiện hữu?”—cũng như chúng ta sẽ làm đối với một đứa trẻ lầm lỗi dưới sự giám sát của mình. Tuy nhiên, trong khi chúng ta có thể bị cám dỗ kiểm soát đời sống của đứa trẻ để bảo đảm hành vi đúng đắn, thì Thánh đoàn, minh triết hơn chúng ta, sẽ không và không thể can thiệp vào sự trẻ con của chúng ta. Các Ngài không thể và sẽ không vi phạm ý chí tự do của chúng ta, dù Các Ngài có thể bao quanh những tình trạng do ý chí này tạo ra bằng một lớp bao phủ tích cực, vốn củng cố mọi mô hình thiện lành và làm dịu những mô hình khác. Như vậy, Các Ngài cung cấp một bầu không khí tích cực trong đó điều tốt nhất chúng ta đã tạo ra được tăng cường, và điều tệ nhất ít nhất cũng không bị kích thích. |
|
F. In April 1943 one of the objectives before the Hierarchy has been to organize the forces and to distribute the energies in such a way that the full measure of good could be evoked from humanity by the invocation sounded forth by Shamballa? (cf. RI, p. 76) |
F. Vào tháng Tư năm 1943, một trong những mục tiêu trước mắt Thánh đoàn là tổ chức các mãnh lực và phân phối các năng lượng theo cách sao cho mức độ trọn vẹn của điều thiện có thể được gợi lên từ nhân loại bởi lời khẩn cầu được Shamballa xướng lên? (x. RI, tr. 76) |
|
That is one of the objectives before the Hierarchy at this time (written April, 1943) as it prepares for participation in the May and June Full Moons. Can the forces be so organised and the energies so distributed that the full measure of good may be evoked from humanity by the invocation sounded forth by Shamballa? Can this evocation of a new cycle of spiritual contact and of liberation be brought about by the invocation of the men and women of good-will? Can the will-to-good of the spiritual Forces and the goodwill of humanity be brought together and produce those conditions in which the new world order may function? These are the important questions which the Hierarchy is attempting to solve. |
Đó là một trong những mục tiêu trước mắt Thánh đoàn vào thời điểm này, viết vào tháng Tư năm 1943, khi Thánh đoàn chuẩn bị tham dự các kỳ Trăng Tròn tháng Năm và tháng Sáu. Liệu các mãnh lực có thể được tổ chức và các năng lượng được phân phối sao cho mức độ trọn vẹn của điều thiện có thể được gợi lên từ nhân loại bởi lời khẩn cầu được Shamballa xướng lên hay không? Liệu sự gợi lên một chu kỳ mới của tiếp xúc tinh thần và giải thoát này có thể được thực hiện bởi lời khẩn cầu của những người nam và nữ thiện chí hay không? Liệu Ý Chí-hướng Thiện của các Mãnh lực tinh thần và thiện chí của nhân loại có thể được kết hợp và tạo ra những điều kiện trong đó trật tự thế giới mới có thể vận hành hay không? Đây là những câu hỏi quan trọng mà Thánh đoàn đang cố gắng giải quyết. |
|
1. The period of time referenced here is early 1943. By that time, the Hierarchy had realized that the War had been won (internally, at least) by the Forces of Light. The darkest hours of late 1942 had been passed; the Sun had “moved northward”, and the planned withdrawal of Hierarchy, due to humanity’s apparent failure, had not occurred. The Lords of Liberation had intervened (we are not told how), and disaster for humanity had been averted. |
1. Khoảng thời gian được nói đến ở đây là đầu năm 1943. Đến lúc ấy, Thánh đoàn đã nhận ra rằng cuộc Chiến tranh đã được các Mãnh lực Ánh sáng chiến thắng, ít nhất là ở bên trong. Những giờ phút đen tối nhất của cuối năm 1942 đã qua; Mặt Trời đã “di chuyển về phương bắc”, và việc Thánh đoàn dự định rút lui, do sự thất bại bề ngoài của nhân loại, đã không xảy ra. Các Đấng Giải Thoát đã can thiệp, chúng ta không được cho biết bằng cách nào, và thảm họa đối với nhân loại đã được ngăn chặn. |
|
2. Shamballa was sounding an invocation, evoking humanity. How, then, could the maximum good be evoked? Would the men and women of goodwill respond sufficiently to Shamballa’s invocation to bring about a new cycle of spiritual contact and of liberation? |
2. Shamballa đang xướng lên một lời khẩn cầu, gợi lên nhân loại. Vậy làm thế nào điều thiện tối đa có thể được gợi lên? Liệu những người nam và nữ thiện chí có đáp ứng đủ với lời khẩn cầu của Shamballa để đem lại một chu kỳ mới của tiếp xúc tinh thần và giải thoát hay không? |
|
3. The problem, as Hierarchy faced it, is here discussed—and it was largely a problem of integration—the integration of the will-to-good and of goodwill—really the blending of the first and second rays, on the one hand, with the second and third rays on the other. |
3. Vấn đề, như Thánh đoàn đối diện, được bàn ở đây—và đó phần lớn là vấn đề về sự tích hợp—sự tích hợp của Ý Chí-hướng Thiện và thiện chí—thật ra là sự hòa trộn của cung một và cung hai, một mặt, với cung hai và cung ba, mặt khác. |
|
4. With questions such as these, the Tibetan was looking ahead to post-war reconstruction, as by 1943 He knew the inevitable outcome of the War. |
4. Với những câu hỏi như thế, Chân sư Tây Tạng đang nhìn về phía trước, đến công cuộc tái thiết sau chiến tranh, vì đến năm 1943 Ngài biết kết quả tất yếu của cuộc Chiến tranh. |
|
5. These questions are still relevant today, as it seems we have forgotten many of the bitter lessons of the War. The “Door where evil dwells” was not sealed as intended, and evil has crept through and again been strengthened. No one country owns a monopoly on this evil. Its pervasiveness is a complication. |
5. Những câu hỏi này vẫn còn thích hợp ngày nay, vì dường như chúng ta đã quên nhiều bài học cay đắng của cuộc Chiến tranh. “Cánh Cửa nơi tà ác trú ngụ” đã không được niêm phong như dự định, và tà ác đã len qua rồi lại được củng cố. Không một quốc gia nào độc quyền sở hữu tà ác này. Tính lan tràn của nó là một sự phức tạp. |
|
6. The “New World Order” here discussed is still a dream, though its potential for manifestation is, perhaps, greater now than at any other time. Since, however, we are (according to the Tibetan’s calculations) passing through approximately the last 100 years of the Age of Pisces, there is still much that has to be dissolved, sacrificed and relinquished. The “shrine of man’s living” is being rebuilt, but there are still many destructive forces which threaten its emergence. Those forces, however, will gradually disappear as the sixth ray, with its blind and wilful fanaticism, wanes in power. The Hierarchy thinks in terms of centuries, while the majority of us, at best, think in terms of decades. |
6. “Trật Tự Thế Giới Mới” được bàn ở đây vẫn còn là một giấc mơ, dù tiềm năng biểu hiện của nó có lẽ hiện nay lớn hơn bất kỳ thời điểm nào khác. Tuy nhiên, vì theo các tính toán của Chân sư Tây Tạng, chúng ta đang đi qua khoảng một trăm năm cuối cùng của Kỷ Nguyên Song Ngư, vẫn còn nhiều điều phải được hòa tan, hi sinh và từ bỏ. “Điện thờ đời sống của con người” đang được xây dựng lại, nhưng vẫn còn nhiều mãnh lực hủy diệt đe dọa sự xuất hiện của nó. Tuy nhiên, các mãnh lực ấy sẽ dần dần biến mất khi cung sáu, với chủ nghĩa cuồng tín mù quáng và cố chấp của nó, suy giảm quyền lực. Thánh đoàn suy nghĩ theo đơn vị thế kỷ, trong khi đa số chúng ta, tốt nhất, suy nghĩ theo đơn vị thập kỷ. |
|
G. The invocative cry of humanity is evoked by the invocation or Sound of the spiritual hierarchies. Man’s responsibility, however, is to invoke at this time the Lords of Liberation and the Spirit of Peace. (cf. RI, p. 76) |
G. Tiếng kêu khẩn cầu của nhân loại được gợi lên bởi lời khẩn cầu hay Âm Thanh của các Huyền Giai Tinh Thần. Tuy nhiên, trách nhiệm của con người vào lúc này là khẩn cầu các Đấng Giải Thoát và Đấng Tinh thần Hòa Bình. (x. RI, tr. 76) |
|
It must be remembered that the Science of Invocation and Evocation is a reciprocal effort. Humanity could not be invocative were it not that the Spiritual Hierarchy (and by that term I include both Shamballa and the planetary Hierarchy) is evoking the spirit of man. The invocative cry of humanity is evoked by the invocation or Sound of the spiritual hierarchies. Man’s responsibility, however, is to invoke at this time the Lords of Liberation and the Spirit of Peace. These are the Beings which have the power to raise humanity, once the race of men has assumed the right [Page 77] attitude. They correspond to the group, in the third degree of Masonry, who raise the Master. Their response to the cry of mankind is largely, but not wholly, dependent upon the quality of that cry. |
Cần nhớ rằng Khoa học Khẩn Cầu và Gợi Lên là một nỗ lực hỗ tương. Nhân loại không thể có khả năng khẩn cầu nếu không phải vì Huyền Giai Tinh Thần, và bằng thuật ngữ đó Tôi bao gồm cả Shamballa và Thánh đoàn hành tinh, đang gợi lên tinh thần của con người. Tiếng kêu khẩn cầu của nhân loại được gợi lên bởi lời khẩn cầu hay Âm Thanh của các Huyền Giai Tinh Thần. Tuy nhiên, trách nhiệm của con người vào lúc này là khẩn cầu các Đấng Giải Thoát và Đấng Tinh thần Hòa Bình. Đây là các Đấng có quyền năng nâng nhân loại lên, một khi nhân loại đã đảm nhận thái độ đúng [Page 77] đắn. Các Ngài tương ứng với nhóm, trong cấp độ thứ ba của Hội Tam Điểm, những người nâng Chân sư lên. Sự đáp ứng của Các Ngài đối với tiếng kêu của nhân loại phần lớn, nhưng không hoàn toàn, tùy thuộc vào phẩm tính của tiếng kêu ấy. |
|
1. The complex reciprocity of invocation and evocation is here addressed. |
1. Sự hỗ tương phức tạp của khẩn cầu và gợi lên được đề cập ở đây. |
|
2. What is important to realize is that we, humanity, could not invoke, unless we were being evoked by Hierarchy’s/Shamballa’s invocation of us. |
2. Điều quan trọng cần nhận ra là chúng ta, nhân loại, không thể khẩn cầu nếu không đang được gợi lên bởi lời khẩn cầu của Thánh đoàn và Shamballa đối với chúng ta. |
|
3. Note that this invocation emanating form high sources is evoking the spirit of man. It is, to some important degree, the monad of the human being which is being invoked and which answers—evocatively. |
3. Hãy lưu ý rằng lời khẩn cầu phát xuất từ các nguồn cao này đang gợi lên tinh thần của con người. Ở một mức độ quan trọng nào đó, chính chân thần của con người đang được khẩn cầu và đang đáp lại—một cách gợi lên. |
|
4. We are told that we must think in terms of reaching some very high beings—namely the Lords of Liberation and the Spirit of Peace. In order to reach these high beings, the “right attitude” must be assumed by humanity—presumably an attitude which supports the ideals of peace and freedom. |
4. Chúng ta được cho biết rằng chúng ta phải suy nghĩ theo hướng vươn đến một số Đấng rất cao cả—cụ thể là các Đấng Giải Thoát và Đấng Tinh thần Hòa Bình. Để vươn đến các Đấng cao cả này, nhân loại phải đảm nhận “thái độ đúng”—có lẽ là một thái độ ủng hộ các lý tưởng hòa bình và tự do. |
|
5. It would seem that the Lords of Liberation have continued their effort with respect to humanity far beyond the ending of WWII. Many peoples have been liberated since that time (for instance, the de-colonization of European empires). Many, however, are still enslaved by dictators and repressive regimes. Certainly, the work of the Lords of Liberation is far from over. |
5. Dường như các Đấng Giải Thoát đã tiếp tục nỗ lực của Các Ngài liên quan đến nhân loại rất lâu sau khi Thế chiến thứ hai kết thúc. Nhiều dân tộc đã được giải phóng kể từ thời điểm ấy, chẳng hạn tiến trình phi thực dân hóa các đế quốc châu Âu. Tuy nhiên, nhiều người vẫn còn bị nô dịch bởi các nhà độc tài và các chế độ đàn áp. Chắc chắn, công việc của các Đấng Giải Thoát còn lâu mới kết thúc. |
|
6. Next on humanity’s agenda comes an understanding of real global peace. This understanding still eludes us, and is crucial if the destruction of humanity is to be avoided. |
6. Kế tiếp trong chương trình nghị sự của nhân loại là sự thấu hiểu về hòa bình toàn cầu thực sự. Sự thấu hiểu này vẫn còn lẩn tránh chúng ta, và là điều then chốt nếu muốn tránh sự hủy diệt nhân loại. |
|
7. What is important for humanity to realize is that powerful assistance is available when liberation and peace are pursued (with right motive). Great Beings are ready to lend their power to the process. That this is so should be shared with as many as can constructively respond to the idea. |
7. Điều quan trọng đối với nhân loại cần nhận ra là sự trợ giúp mạnh mẽ luôn sẵn có khi sự giải thoát và hòa bình được theo đuổi với động cơ đúng. Các Đấng Cao Cả sẵn sàng trao quyền năng của Các Ngài cho tiến trình ấy. Việc điều này là như thế nên được chia sẻ với càng nhiều người có thể đáp ứng một cách xây dựng với ý tưởng đó càng tốt. |
|
8. A Masonic reference is here given—for in Masonry, just as in Christianity, the concept of resurrection (or “raising”) is central. |
8. Ở đây có một tham chiếu đến Hội Tam Điểm—vì trong Hội Tam Điểm, cũng như trong Kitô giáo, khái niệm phục sinh hay “nâng lên” là trung tâm. |
|
9. D.K. closes with an important statement which we should well bear in mind. Speaking of the group who would raise humanity, He says: |
9. Chân sư DK kết thúc bằng một phát biểu quan trọng mà chúng ta nên ghi nhớ kỹ. Khi nói về nhóm sẽ nâng nhân loại lên, Ngài nói: |
|
“Their response to the cry of mankind is largely, but not wholly, dependent upon the quality of that cry.” |
“Sự đáp ứng của Các Ngài đối với tiếng kêu của nhân loại phần lớn, nhưng không hoàn toàn, tùy thuộc vào phẩm tính của tiếng kêu ấy.” |
|
We are indeed fortunate that this is the case. The Lords of Liberation and the Spirit of Peace are somewhat limited by the quality and intensity of our will-to-liberation and will-to-peace, but not entirely so. |
Quả thật chúng ta may mắn vì sự việc là như thế. Các Đấng Giải Thoát và Đấng Tinh thần Hòa Bình phần nào bị giới hạn bởi phẩm tính và cường độ của ý chí-hướng-giải-thoát và ý chí-hướng-hòa-bình của chúng ta, nhưng không hoàn toàn như vậy. |
|
10. It must be remembered that there is more to this planetary process than humanity. The planetary process must go forward to success even though humanity should show within itself signs of failure. One cannot relinquish the whole because of the failure of the part. Though humanity may not know better, certain orders of Lives do, and can, to a degree intervene in human affairs beyond the warrant of humanity’s conscious invocation of these Lives. This margin of difference is all important, lest the fate of the entire planet hinge upon the degree of humanity’s ignorance or enlightenment. |
10. Cần nhớ rằng tiến trình hành tinh này còn bao hàm nhiều điều hơn nhân loại. Tiến trình hành tinh phải tiến tới thành công ngay cả khi nhân loại tự biểu lộ những dấu hiệu thất bại. Người ta không thể từ bỏ cái toàn thể vì sự thất bại của một bộ phận. Dù nhân loại có thể không biết rõ hơn, một số cấp bậc Sự Sống thì biết, và ở một mức độ nào đó có thể can thiệp vào các sự vụ nhân loại vượt quá sự cho phép do lời khẩn cầu có ý thức của nhân loại đối với các Sự Sống này. Biên độ khác biệt này là điều tối quan trọng, để số phận của toàn hành tinh không tùy thuộc vào mức độ vô minh hay giác ngộ của nhân loại. |
|
11. Thus, we come to understand that the quality of humanity’s invocation of the Great Lords is important but not all-important. In this realization comes some relief but no justification for the relaxation of humanity’s point of tension. |
11. Như vậy, chúng ta đi đến chỗ thấu hiểu rằng phẩm tính của lời khẩn cầu của nhân loại đối với các Đấng Chúa Tể Cao Cả là quan trọng nhưng không quan trọng tuyệt đối. Trong nhận thức này có một sự nhẹ nhõm nào đó, nhưng không có bất kỳ sự biện minh nào cho việc nới lỏng điểm tập trung nhất tâm của nhân loại. |
|
H. The words, “issue forth from the deep centre of the group’s clear cold light,” have a meaning both for the individual initiate and for all groups of disciples and all Ashrams. (cf. RI, p. 77 |
H. Các lời “phát ra từ trung tâm sâu thẳm của ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo của nhóm” có một ý nghĩa cho cả điểm đạo đồ cá nhân lẫn mọi nhóm đệ tử và mọi Ashram. (x. RI, tr. 77 |
|
The clarity of that light indicates the function of the soul, as its great light enables the initiate to see light. (cf. RI, p. 77) |
Sự trong trẻo của ánh sáng ấy chỉ chức năng của linh hồn, vì ánh sáng lớn lao của nó giúp điểm đạo đồ thấy ánh sáng. (x. RI, tr. 77) |
|
The coldness of that light refers to the light of substance, which cannot be warmed into a glow by desire or by the heat of passion, but is now and at last only responsive to the light of the soul. (cf. RI, p. 77) |
Sự lạnh lẽo của ánh sáng ấy chỉ ánh sáng của chất liệu, vốn không thể được dục vọng hay sức nóng của đam mê làm ấm lên thành một ánh rực, mà nay và cuối cùng chỉ đáp ứng với ánh sáng của linh hồn. (x. RI, tr. 77) |
|
At the very centre of man’s being the clear light of the soul and the cold light of the personality are united in the deepest conscious point of the disciple’s nature, at the extreme point of withdrawal. (cf. RI, p. 77) |
Ngay tại trung tâm của bản thể con người, ánh sáng trong trẻo của linh hồn và ánh sáng lạnh lẽo của phàm ngã được hợp nhất trong điểm hữu thức sâu thẳm nhất của bản chất người đệ tử, tại điểm rút lui cực độ. (x. RI, tr. 77) |
|
Then, when the cold light of the personality and the clear light of the soul are, through the produced tension, the invocative cry can go forth with power and effectiveness. (cf. RI, p. 77) |
Khi ấy, khi ánh sáng lạnh lẽo của phàm ngã và ánh sáng trong trẻo của linh hồn, nhờ điểm tập trung nhất tâm được tạo ra, thì tiếng kêu khẩn cầu có thể phát ra với quyền năng và hiệu quả. (x. RI, tr. 77) |
|
The invocative cry of the group will ever be concerned with the selfless service. (cf. RI, p. 77) |
Tiếng kêu khẩn cầu của nhóm sẽ luôn liên quan đến sự phụng sự vô ngã. (x. RI, tr. 77) |
|
I wonder if I could make the problem of invocation clearer to you if I were to suggest that the words, “issue forth from the deep centre of the group’s clear cold light,” have a meaning both for the individual initiate and for all groups of disciples and all Ashrams? The use of the words, “clear cold light,” is deeply symbolical. The clarity of that light indicates the function of the soul, as its great light enables the initiate to see light. The coldness of that light refers to the light of substance, which cannot be warmed into a glow by desire or by the heat of passion, but is now and at last only responsive to the light of the soul. It is therefore cold to all that limits and hinders, and this state of personality consciousness has to be realised at the very centre of man’s being; there the clear light of the soul and the cold light of the personality are united in the deepest conscious point of the disciple’s nature, at the extreme point of withdrawal (for which all concentration exercises and meditation processes have been a scientific preparation). Then, through the produced tension, the invocative cry can go forth with power and effectiveness. The same is true of the disciple’s group or of any group of true and selfless aspirants. There can come a moment in the life of the group when the blended cold light of the contributing personalities and the clear light of their souls can so function that united invocative cry will evoke a response. That cry will ever be concerned with the selfless service of the group—a service which, under the Plan, they are seeking to render to humanity. |
Tôi tự hỏi liệu Tôi có thể làm cho vấn đề khẩn cầu trở nên rõ ràng hơn đối với các bạn hay không nếu Tôi gợi ý rằng các lời “phát ra từ trung tâm sâu thẳm của ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo của nhóm” có một ý nghĩa cho cả điểm đạo đồ cá nhân lẫn mọi nhóm đệ tử và mọi Ashram? Việc dùng các lời “ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo” có tính biểu tượng sâu xa. Sự trong trẻo của ánh sáng ấy chỉ chức năng của linh hồn, vì ánh sáng lớn lao của nó giúp điểm đạo đồ thấy ánh sáng. Sự lạnh lẽo của ánh sáng ấy chỉ ánh sáng của chất liệu, vốn không thể được dục vọng hay sức nóng của đam mê làm ấm lên thành một ánh rực, mà nay và cuối cùng chỉ đáp ứng với ánh sáng của linh hồn. Vì thế, nó lạnh đối với mọi điều giới hạn và cản trở, và trạng thái tâm thức phàm ngã này phải được nhận thức ngay tại trung tâm của bản thể con người; ở đó ánh sáng trong trẻo của linh hồn và ánh sáng lạnh lẽo của phàm ngã được hợp nhất trong điểm hữu thức sâu thẳm nhất của bản chất người đệ tử, tại điểm rút lui cực độ, điều mà mọi bài tập tập trung và tiến trình tham thiền đã là sự chuẩn bị khoa học. Khi ấy, nhờ điểm tập trung nhất tâm được tạo ra, tiếng kêu khẩn cầu có thể phát ra với quyền năng và hiệu quả. Điều tương tự cũng đúng đối với nhóm của người đệ tử hay bất kỳ nhóm người chí nguyện chân chính và vô ngã nào. Có thể đến một khoảnh khắc trong đời sống của nhóm khi ánh sáng lạnh lẽo hòa trộn của các phàm ngã đóng góp và ánh sáng trong trẻo của các linh hồn họ có thể vận hành đến mức tiếng kêu khẩn cầu hợp nhất sẽ gợi lên một sự đáp ứng. Tiếng kêu ấy sẽ luôn liên quan đến sự phụng sự vô ngã của nhóm—một sự phụng sự mà, dưới Thiên Cơ, họ đang tìm cách hiến dâng cho nhân loại. |
|
1. The Tibetan now directly addresses the use of the words “clear cold light”, which He tells us is “deeply symbolical”. This, perhaps, we have already gathered, as we noted in how many different ways these words are used. At times it seems to refer to the light of buddhi-manas, at other times to the light of buddhi, and at still others to the light of buddhi-atma. Certainly, we see that the clear cold light involves the light of the spiritual triad. |
1. Chân sư Tây Tạng giờ đây trực tiếp đề cập đến việc dùng các lời “ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo”, mà Ngài cho chúng ta biết là “có tính biểu tượng sâu xa”. Có lẽ chúng ta đã nhận ra điều này, khi đã lưu ý các lời ấy được dùng theo bao nhiêu cách khác nhau. Đôi khi dường như nó chỉ ánh sáng của Bồ đề-manas, lúc khác chỉ ánh sáng của Bồ đề, và những lúc khác nữa chỉ ánh sáng của Bồ đề-atma. Chắc chắn, chúng ta thấy rằng ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo bao hàm ánh sáng của Tam Nguyên Tinh Thần. |
|
2. As we have proceeded with our interpretation, we have attempted to understand both individual and group applications of the Rule under consideration. The individual, at a certain point of development, can work from within his/her own clear-cold light. It is, however, specifically the group’s clear cold light which is the subject of this Rule. |
2. Khi tiến hành phần diễn giải của mình, chúng ta đã cố gắng thấu hiểu cả những ứng dụng cá nhân lẫn nhóm của Quy luật đang được xem xét. Cá nhân, ở một điểm phát triển nhất định, có thể làm việc từ bên trong ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo của chính mình. Tuy nhiên, chính ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo của nhóm mới là chủ đề của Quy luật này. |
|
3. In this analysis, it is not the “coldness” of the heights which is referenced, but the coldness of the depths—the coldness of matter itself (once properly conditioned) to the call of desire, and to all that limits and hinders. This coldness is part of the Law of Repulse, which rejects all that inhibits the expression of the soul. |
3. Trong phân tích này, điều được nói đến không phải là “sự lạnh lẽo” của các đỉnh cao, mà là sự lạnh lẽo của các chiều sâu—sự lạnh lẽo của chính vật chất, một khi đã được tác động đúng đắn, đối với tiếng gọi của dục vọng, và đối với mọi điều giới hạn và cản trở. Sự lạnh lẽo này là một phần của Định luật Đẩy Lùi, vốn bác bỏ mọi điều ức chế sự biểu lộ của linh hồn. |
|
4. D.K. calls for the realization of the “clear cold light” at the very center of man’s being—perhaps, at the “secret place” of consciousness. It is the personality as a whole that is considered to be “cold”, and the soul, “clear”. The achievement of this realization would necessitate a great transformation of the Fire by Friction which usually characterizes the personality. |
4. Chân sư DK kêu gọi sự nhận thức về “ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo” ngay tại trung tâm của bản thể con người—có lẽ tại “nơi bí mật” của tâm thức. Chính phàm ngã như một toàn thể được xem là “lạnh lẽo”, còn linh hồn là “trong trẻo”. Việc đạt được nhận thức này sẽ đòi hỏi một sự chuyển đổi lớn lao của Lửa ma sát vốn thường đặc trưng cho phàm ngã. |
|
5. To achieve the awareness of the “clear cold light” as here described, “Pratyahara” or withdrawal is necessitated. A deep disidentification from personality forces renders them cold to lower incitements. Concentration and meditation exercises, long pursued, make this disidentification possible. |
5. Để đạt được sự nhận biết về “ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo” như được mô tả ở đây, cần có “Pratyahara” hay sự rút lui. Một sự giải đồng hóa sâu xa khỏi các mãnh lực phàm ngã khiến chúng trở nên lạnh lẽo đối với các kích động thấp. Các bài tập tập trung và tham thiền, được theo đuổi lâu dài, làm cho sự giải đồng hóa này trở nên khả hữu. |
|
6. Notice that D.K. refers to an “extreme point of withdrawal”, giving us some idea of the extent to which Pratyahara must be pursued for successful realization to be achieved. |
6. Hãy lưu ý rằng Chân sư DK nói đến một “điểm rút lui cực độ”, cho chúng ta một ý niệm nào đó về mức độ mà Pratyahara phải được theo đuổi để sự nhận thức thành công có thể đạt được. |
|
7. D.K. is setting up the conditions under which the “cry of invocation” can issue forth. It is no casual appeal, nor is it sounded from within the normal personality consciousness of the individual or group. Only the group or individual in an especially abstracted and intensified state of consciousness can sound forth this cry. We see, then, that the group must reach the clear cold light in consciousness before the invocation can be sounded. This surely requires on the part of all group members a sufficient degree of meditative/abstractive skill. |
7. Chân sư DK đang thiết lập các điều kiện theo đó “tiếng kêu khẩn cầu” có thể phát ra. Đó không phải là một lời cầu xin tùy tiện, cũng không được xướng lên từ bên trong tâm thức phàm ngã thông thường của cá nhân hay nhóm. Chỉ nhóm hay cá nhân ở trong một trạng thái tâm thức đặc biệt trừu xuất và được tăng cường mới có thể xướng lên tiếng kêu này. Vì thế, chúng ta thấy rằng nhóm phải đạt đến ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo trong tâm thức trước khi lời khẩn cầu có thể được xướng lên. Điều này chắc chắn đòi hỏi nơi mọi thành viên trong nhóm một mức độ đầy đủ về kỹ năng tham thiền và trừu xuất. |
|
8. We may ask ourselves: “When we invoke, from what state of our consciousness does the invocation sound forth?” Would we recognize when we were centered in the “clear cold light”? Would we recognize the kind of invocation which could sound forth from such a centering? So we have a little research to do, have we not? |
8. Chúng ta có thể tự hỏi: “Khi chúng ta khẩn cầu, lời khẩn cầu vang lên từ trạng thái nào của tâm thức chúng ta?” Liệu chúng ta có nhận ra khi mình an trú trong “ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo” không? Liệu chúng ta có nhận ra loại khẩn cầu nào có thể vang lên từ sự an trú như thế không? Vậy chúng ta còn phải khảo cứu đôi chút, phải không? |
|
9. From the group perspective, will we recognize the |
9. Từ viễn cảnh nhóm, liệu chúng ta có nhận ra |
|
“moment in the life of the group when the blended cold light of the contributing personalities and the clear light of their souls can so function that united invocative cry will evoke a response.”? |
“khoảnh khắc trong đời sống của nhóm khi ánh sáng lạnh lẽo hòa quyện của các phàm ngã đóng góp và ánh sáng trong trẻo của các linh hồn họ có thể vận hành đến mức tiếng kêu khẩn cầu hợp nhất sẽ gợi lên một sự đáp ứng.”? |
|
To this moment we must remain alert, realizing that it will eventuate only when the motive is the selfless service of humanity. |
Chúng ta phải luôn tỉnh thức trước khoảnh khắc này, nhận ra rằng nó chỉ xảy ra khi động cơ là sự phụng sự nhân loại một cách vô kỷ. |
|
10. We recognize that the paragraph just studied has offered us the conditions under which the cry of invocation can actually go forth and be successful. These requirements must be fulfilled if there is to be hope for success: withdrawal, abstraction, intensity, the blending of two lights, selflessness and the deep motive of service—all these are required. |
10. Chúng ta nhận ra rằng đoạn vừa nghiên cứu đã đưa ra những điều kiện để tiếng kêu khẩn cầu thực sự có thể phát ra và thành công. Những yêu cầu này phải được đáp ứng nếu muốn có hy vọng thành công: rút lui, trừu xuất, cường độ, sự hòa quyện của hai ánh sáng, tính vô kỷ và động cơ sâu xa của phụng sự—tất cả những điều này đều cần thiết. |
|
11. Lest we think that invocation is a casual matter easily accomplished, these thoughts should correct our mistaken notion. |
11. Nếu chúng ta nghĩ rằng khẩn cầu là một việc tùy tiện, dễ dàng thực hiện, thì những tư tưởng này sẽ sửa lại quan niệm sai lầm ấy của chúng ta. |
|
12. Of course, invocation can, in a sense, occur spontaneously and naturally, when the group is constantly living at the requisite point of tension. That which seems so deliberately cultivated, at last becomes stable and persistent, and then the invocation will ever ring forth from the group as a matter of course. |
12. Dĩ nhiên, theo một nghĩa nào đó, sự khẩn cầu có thể xảy ra một cách tự phát và tự nhiên, khi nhóm thường xuyên sống tại điểm tập trung nhất tâm cần thiết. Điều thoạt đầu dường như được vun bồi rất chủ ý, cuối cùng trở nên ổn định và bền bỉ, và khi ấy sự khẩn cầu sẽ luôn vang lên từ nhóm như một điều tất nhiên. |
|
13. Is not Hierarchy, itself, a group in which such invocative stability and persistence has been established? Ever is Hierarchy invoking Shamballa, but, no doubt, there are times of deeper, more intensely focussed invocation—as at certain of the Full Moon opportunities. |
13. Chẳng phải chính Thánh đoàn là một nhóm trong đó sự ổn định và bền bỉ khẩn cầu như thế đã được thiết lập sao? Thánh đoàn luôn khẩn cầu Shamballa, nhưng chắc chắn có những thời điểm khẩn cầu sâu xa hơn, tập trung mãnh liệt hơn—như trong một số cơ hội Trăng tròn. |
|
I. No specific excised points to discuss. |
I. Không có điểm trích riêng nào cần thảo luận. |
|
As we continue our study of Rule III, I am myself struck with the appositeness of its words in connection with this particular historical cycle and in relation to the truths which are slowly taking form in the consciousness of humanity. New truths (and by that I mean truths which are new to the most advanced thinkers and which are only [Page 78] dimly sensed by the most advanced esotericist) are hovering on the horizon of the human mind. The ground is being prepared for the sowing of this new seed and the stage set for the emergence of new Actors in the great drama of the unfolding revelation of Deity. |
Khi chúng ta tiếp tục nghiên cứu Quy luật III, chính tôi bị đánh động bởi sự thích hợp của các lời lẽ trong đó đối với chu kỳ lịch sử đặc biệt này, và liên quan đến những chân lý đang từ từ thành hình trong tâm thức nhân loại. Những chân lý mới (và ở đây tôi muốn nói những chân lý mới đối với các nhà tư tưởng tiến bộ nhất, và chỉ [Trang 78] được nhà bí truyền học tiến bộ nhất cảm nhận một cách mờ nhạt) đang lơ lửng nơi chân trời của trí tuệ nhân loại. Mảnh đất đang được chuẩn bị để gieo hạt giống mới này, và sân khấu được dàn dựng cho sự xuất hiện của những Diễn viên mới trong vở kịch vĩ đại của sự mặc khải đang khai mở về Thượng đế. |
|
1. The spiritual potentials of our historical period are here brought to our attention. |
1. Ở đây, các tiềm năng tinh thần của thời kỳ lịch sử chúng ta được đưa ra để chúng ta lưu tâm. |
|
2. The new is looming on the horizon, and we are both consciously and unconsciously invoking this new. |
2. Cái mới đang hiện dần nơi chân trời, và chúng ta đang khẩn cầu cái mới này, cả một cách hữu thức lẫn vô thức. |
|
3. Notice that “new Actors” are prepared to emerge in the great drama. These Actors are great Beings—not only members of the Hierarchy, but Beings even greater than They—such as the Lords of Liberation and the Spirit of Peace (though They will necessary remain behind the scenes as the Sponsors of the more emergent servers and saviors). |
3. Hãy lưu ý rằng “những Diễn viên mới” đang được chuẩn bị để xuất hiện trong vở kịch vĩ đại. Các Diễn viên này là những Bản Thể vĩ đại—không chỉ là các thành viên của Thánh đoàn, mà còn là những Bản Thể còn vĩ đại hơn Các Ngài—như các Đấng Giải Thoát và Đấng Tinh thần Hòa Bình (dù Các Ngài tất yếu vẫn ở hậu trường với tư cách là những Đấng Bảo Trợ cho các người phụng sự và các đấng cứu độ đang xuất hiện rõ hơn). |
|
4. We must never lose sight of the historical importance of our present era—important not just in the history of Man but in the history of our planet. |
4. Chúng ta không bao giờ được quên tầm quan trọng lịch sử của kỷ nguyên hiện tại—quan trọng không chỉ trong lịch sử nhân loại mà còn trong lịch sử hành tinh chúng ta. |
|
5. Through metaphor the Tibetan tries to convey something of this importance—new seed for new growth, and new Actors for a new scene in the “great drama”. |
5. Thông qua ẩn dụ, Chân sư Tây Tạng cố gắng truyền đạt phần nào tầm quan trọng này—hạt giống mới cho sự tăng trưởng mới, và những Diễn viên mới cho một cảnh mới trong “vở kịch vĩ đại”. |
|
6. If our expectations of the great possibilities are aroused, they should be. If the immediate foreground of life seems full of distress (which it may for yet a number of years), the larger issues should be held in mind. The new is really on its way. |
6. Nếu kỳ vọng của chúng ta về những khả năng vĩ đại được khơi dậy, thì quả nên như vậy. Nếu tiền cảnh trước mắt của đời sống dường như đầy khổ đau (và có thể còn như thế trong nhiều năm nữa), thì những vấn đề lớn hơn vẫn phải được giữ trong trí. Cái mới thật sự đang trên đường đến. |
|
J. Humanity has become—for the first time in its history—spiritually invocative. (cf. RI, p. 78) |
J. Lần đầu tiên trong lịch sử mình, nhân loại đã trở nên có tính khẩn cầu tinh thần. (xem RI, tr. 78) |
|
Certain great concepts are firmly grasped by man. Certain great hopes are taking form and will become the pattern of man’s living. Certain great speculations will become experimental theories and later prove demonstrated facts. Behind all this, two things are happening: Men are being stimulated and brought to that point of necessary tension which (as a result of a crisis) must precede a great moving forward upon the Path of Evolution. Secondly, a process of reorientation is going on which will eventually enable the mass of men to present a united front upon views hitherto regarded as the vague visions of intelligent and optimistic dreamers. A great stirring and moving is going on. The world of men is seething in response to the inflow of spiritual energy. This energy has been evoked by the unrealised and inaudible cry of humanity itself. Humanity has become—for the first time in its history—spiritually invocative. |
Một số khái niệm vĩ đại đang được con người nắm vững. Một số hy vọng lớn lao đang thành hình và sẽ trở thành mô hình sống của con người. Một số suy tư lớn sẽ trở thành các lý thuyết thực nghiệm và về sau chứng tỏ là những sự kiện đã được minh chứng. Đằng sau tất cả những điều này, có hai việc đang diễn ra: Con người đang được kích thích và được đưa đến điểm tập trung nhất tâm cần thiết, vốn (như kết quả của một cuộc khủng hoảng) phải đi trước một bước tiến lớn trên Con Đường Tiến Hóa. Thứ hai, một tiến trình tái định hướng đang diễn ra, cuối cùng sẽ giúp đại đa số con người trình bày một mặt trận thống nhất về những quan điểm trước đây bị xem là các linh ảnh mơ hồ của những người mơ mộng thông minh và lạc quan. Một sự khuấy động và chuyển động lớn đang diễn ra. Thế giới con người đang sôi sục để đáp ứng với dòng năng lượng tinh thần tuôn vào. Năng lượng này đã được gợi lên bởi tiếng kêu chưa được nhận ra và không nghe thấy của chính nhân loại. Lần đầu tiên trong lịch sử mình, nhân loại đã trở nên có tính khẩn cầu tinh thần. |
|
1. One of the most important statements in the Teaching is given in this paragraph: “Humanity has become—for the first time in its history—spiritually invocative”. The thought is momentous and promises an entirely new evolutionary step. |
1. Một trong những phát biểu quan trọng nhất trong Giáo huấn được đưa ra trong đoạn này: “Lần đầu tiên trong lịch sử mình, nhân loại đã trở nên có tính khẩn cầu tinh thần”. Tư tưởng này thật trọng đại và hứa hẹn một bước thăng thượng tiến hoá hoàn toàn mới. |
|
2. From a parallel point of view, a triangle of circulation is now being more thoroughly completed between humanity, Hierarchy and Shamballa; whereas there has always been some degree of interplay between humanity and Hierarchy, interplay now is beginning to be possible between humanity and Shamballa. This has been the result of several recent Shamballa Impacts and will very likely increase as the centuries pass. |
2. Từ một quan điểm song song, một tam giác lưu chuyển hiện đang được hoàn tất trọn vẹn hơn giữa nhân loại, Thánh đoàn và Shamballa; trong khi luôn luôn đã có một mức độ tương tác nào đó giữa nhân loại và Thánh đoàn, thì nay sự tương tác giữa nhân loại và Shamballa đang bắt đầu trở nên khả hữu. Đây là kết quả của vài Tác Động Shamballa gần đây và rất có khả năng sẽ gia tăng khi các thế kỷ trôi qua. |
|
3. The Tibetan speaks of the elevation of humanity’s point of tension—thus, a keying up of humanity. This is responsible for what may be seen, historically, as a ‘creative ferment’ among nations. Increased globalization and internationalism is, additionally, a most important result. |
3. Chân sư Tây Tạng nói về sự nâng cao điểm tập trung nhất tâm của nhân loại—do đó, một sự gia tăng cường độ nơi nhân loại. Điều này chịu trách nhiệm cho cái có thể được nhìn thấy, về mặt lịch sử, như một “sự lên men sáng tạo” giữa các quốc gia. Ngoài ra, sự toàn cầu hóa và chủ nghĩa quốc tế gia tăng cũng là một kết quả hết sức quan trọng. |
|
4. As well, the possibility of the presentation of a “united front” on views hitherto considered visionary is also suggested. Today we are witnessing the emergence of global public opinion, promoted by the emergence of the internet and the general sophistication of our telecommunications systems. Increasingly, more and more nations and individuals will enter the ‘multilogue’, and the voices of the many will be known and registered. Information and point of view travel now with lightning speed. Although there is great division in what is being said, the time will come when a global perspective upon human events and processes will emerge—especially as global developments begin to be viewed from a less nationalistic perspective. It is only a matter of time before the fate and direction of humanity as a whole becomes a foremost topic of discussion. |
4. Đồng thời, khả năng trình bày một “mặt trận thống nhất” về những quan điểm cho đến nay vẫn bị xem là viển vông cũng được gợi ý. Ngày nay chúng ta đang chứng kiến sự xuất hiện của công luận toàn cầu, được thúc đẩy bởi sự xuất hiện của internet và mức độ tinh vi chung của các hệ thống viễn thông. Càng ngày, ngày càng nhiều quốc gia và cá nhân sẽ bước vào cuộc “đa thoại”, và tiếng nói của số đông sẽ được biết đến và ghi nhận. Thông tin và quan điểm hiện nay di chuyển với tốc độ chớp nhoáng. Dù có sự chia rẽ lớn trong những điều đang được nói ra, thời điểm sẽ đến khi một viễn cảnh toàn cầu về các biến cố và tiến trình của nhân loại sẽ xuất hiện—đặc biệt khi các phát triển toàn cầu bắt đầu được nhìn từ một viễn cảnh ít mang tính dân tộc chủ nghĩa hơn. Chỉ còn là vấn đề thời gian trước khi vận mệnh và phương hướng của toàn thể nhân loại trở thành một đề tài thảo luận hàng đầu. |
|
K. There is no higher or lower and no greater or lesser in our universe of reality. There is only the interpenetration of substances which are all basically expressions of matter, and their vitalization and organization into forms of expression of the unknown Real. This essential Reality, we call spirit or life. (cf. RI, p. 78) |
K. Trong vũ trụ thực tại của chúng ta không có cao hay thấp, không có lớn hơn hay nhỏ hơn. Chỉ có sự thâm nhập lẫn nhau của các chất liệu, tất cả về căn bản đều là những biểu hiện của vật chất, cùng với sự tiếp sinh lực và tổ chức của chúng thành các hình tướng biểu hiện của Thực Tại chưa biết. Thực Tại cốt yếu này, chúng ta gọi là tinh thần hay sự sống. (xem RI, tr. 78) |
|
Let us now consider briefly the nature of that which is being evoked, and thus gain an insight into the interrelation which exists between the three great planetary centres: The human centre, the hierarchical centre, and Shamballa. Each of these is evocative to the one functioning at a slower or lesser speed (if I might use such inappropriate terms) and invocative to the one above it—again using a form of words which is misleading in the extreme; there is no higher or lower and no greater or lesser in our universe of reality. There is only the interpenetration of substances which are all basically expressions of matter, and their vitalisation and organisation into forms of expression of the unknown Real. This essential Reality, we call spirit or life. |
Giờ đây chúng ta hãy xét vắn tắt bản chất của điều đang được gợi lên, và nhờ đó có được cái nhìn sâu vào mối tương quan hiện hữu giữa ba trung tâm hành tinh lớn: trung tâm nhân loại, trung tâm Thánh đoàn và Shamballa. Mỗi trung tâm này có tính gợi lên đối với trung tâm vận hành ở tốc độ chậm hơn hay thấp hơn (nếu tôi có thể dùng những thuật ngữ không thích hợp như thế), và có tính khẩn cầu đối với trung tâm ở trên nó—một lần nữa dùng một lối diễn đạt cực kỳ dễ gây hiểu lầm; trong vũ trụ thực tại của chúng ta không có cao hay thấp, không có lớn hơn hay nhỏ hơn. Chỉ có sự thâm nhập lẫn nhau của các chất liệu, tất cả về căn bản đều là những biểu hiện của vật chất, cùng với sự tiếp sinh lực và tổ chức của chúng thành các hình tướng biểu hiện của Thực Tại chưa biết. Thực Tại cốt yếu này, chúng ta gọi là tinh thần hay sự sống. |
|
1. An important clarification of invocation/evocation is found in this paragraph. The relationship of a lesser to a greater is principally invocative; the relationship of a greater to a lesser is principally evocative. The Tibetan, however, cautions us concerning the misleading nature of the words used. |
1. Một sự minh định quan trọng về khẩn cầu/gợi lên được tìm thấy trong đoạn này. Mối quan hệ của cái nhỏ hơn đối với cái lớn hơn chủ yếu là khẩn cầu; mối quan hệ của cái lớn hơn đối với cái nhỏ hơn chủ yếu là gợi lên. Tuy nhiên, Chân sư Tây Tạng cảnh báo chúng ta về bản chất dễ gây hiểu lầm của những từ ngữ được sử dụng. |
|
2. He offers us, for a moment, a non-hierarchical perspective based upon a consideration of “the unknown Real”—the “essential Reality, we call spirit or life”. This might be called an horizontal rather than a vertical—i.e., hierarchical view of Reality. |
2. Trong một khoảnh khắc, Ngài đưa ra cho chúng ta một viễn cảnh không phân cấp, dựa trên sự suy xét về “Thực Tại chưa biết”—“Thực Tại cốt yếu, mà chúng ta gọi là tinh thần hay sự sống”. Điều này có thể được gọi là một cách nhìn theo chiều ngang hơn là theo chiều dọc—tức là, phân cấp về Thực Tại. |
|
3. Matter-substance may be stratified according to its vibratory frequency, but it is all an expression of one and the same thing—spirit/life/being/Reality. |
3. Vật chất-chất liệu có thể được phân tầng theo tần số rung động của nó, nhưng tất cả đều là biểu hiện của một và cùng một điều—tinh thần/sự sống/bản thể/Thực Tại. |
|
4. Therefore, if one looks deeply enough within any expression of the Divine one finds only the Divine—the very Essence. |
4. Vì vậy, nếu nhìn đủ sâu vào bên trong bất kỳ biểu hiện nào của Thiêng Liêng, người ta chỉ tìm thấy Thiêng Liêng—chính Tinh Hoa ấy. |
|
5. At a certain point in our evolutionary development, we overcome the perspective of relativity. While we can utilize that perspective (and both should and must), our minds are no longer captivated by it. We look in all directions and, as it were, see only the “same thing”. This perspective on reality is the gift of the synthesized consciousness, and is characteristic of the higher initiate. |
5. Đến một điểm nào đó trong sự phát triển thăng thượng tiến hoá của mình, chúng ta vượt qua viễn cảnh của tính tương đối. Dù chúng ta có thể sử dụng viễn cảnh ấy (và vừa nên vừa phải sử dụng), thể trí của chúng ta không còn bị nó mê hoặc nữa. Chúng ta nhìn theo mọi hướng và, có thể nói, chỉ thấy “cùng một điều”. Viễn cảnh này về thực tại là quà tặng của tâm thức được tổng hợp, và là đặc trưng của điểm đạo đồ cao cấp. |
|
6. The subject of the “interpenetration of substances” is a great one. Our present schematic representations of matter-substance are not literally accurate and are meant to be only suggestive. Substances are, in a sense, ‘prakritic-frequencies’, and many such frequencies can ‘occupy’ the same ‘space’ simultaneously. In a sense, all frequencies are ‘here’, and can be accessed by the proper attunement and sensitivity. This interpenetration is difficult to represent in conventional diagrams. |
6. Đề tài về “sự thâm nhập lẫn nhau của các chất liệu” là một đề tài lớn. Những biểu đồ hiện nay của chúng ta về vật chất-chất liệu không chính xác theo nghĩa đen và chỉ nhằm gợi ý. Theo một nghĩa nào đó, các chất liệu là “những tần số của vật chất nguyên sơ”, và nhiều tần số như thế có thể “chiếm” cùng một “không gian” đồng thời. Theo một nghĩa nào đó, mọi tần số đều “ở đây”, và có thể được tiếp cận nhờ sự hòa điệu và độ nhạy cảm thích hợp. Sự thâm nhập lẫn nhau này khó biểu diễn bằng các sơ đồ thông thường. |
|
7. What is being suggested is that the one living reality can be sensed in any object—gross or subtle. There comes a time when that homogeneous something which lies ‘behind’ and ‘within’ the object becomes (to the perceiver) of greater significance (and presence) than the nature and form of the object itself. |
7. Điều đang được gợi ý là một thực tại sống động có thể được cảm nhận trong bất kỳ đối tượng nào—thô trọng hay vi tế. Sẽ đến một thời điểm khi cái gì đó đồng nhất nằm “đằng sau” và “bên trong” đối tượng trở nên (đối với người tri nhận) có thâm nghĩa lớn hơn (và sự hiện diện lớn hơn) so với bản chất và hình tướng của chính đối tượng. |
|
L. Humanity is the result of all sub-human forms of expression and experience and of the activity of Superhuman Beings. (cf. RI, p. 78) |
L. Nhân loại là kết quả của mọi hình tướng biểu hiện và kinh nghiệm dưới nhân loại, cùng hoạt động của các Bản Thể Siêu nhân. (xem RI, tr. 78) |
|
Superhuman Beings: They LIVE. They are energy itself, and in Their totality They form the “bright centre lying far ahead.” |
Các Bản Thể Siêu nhân: Các Ngài SỐNG. Các Ngài là chính năng lượng, và trong tổng thể của Các Ngài, Các Ngài tạo thành “trung tâm sáng rỡ ở rất xa phía trước.” |
|
As a result of the interplay of these two, humanity eventually appears in time and space. Humanity is the result of all sub-human forms of expression and experience and of the activity of superhuman Beings. These superhuman [Page 79] Beings are the product of past evolutionary systems and are in Themselves the sum total of the great Divine Sacrifice as it focusses itself in our planetary life. Having passed through all previous phases of existence and perfected the consciousness aspect in Themselves through human experiences, They have transcended all that men can know and all states of consciousness with which he is or may be in the future familiar, and are now expressing a phase of divinity of which he can know naught. They LIVE. They are energy itself, and in Their totality They form the “bright centre lying far ahead.” |
Như kết quả của sự tương tác giữa hai điều này, nhân loại cuối cùng xuất hiện trong thời gian và không gian. Nhân loại là kết quả của mọi hình tướng biểu hiện và kinh nghiệm dưới nhân loại, cùng hoạt động của các Bản Thể Siêu nhân. Những Bản Thể siêu nhân [Trang 79] này là sản phẩm của các hệ thống tiến hoá trong quá khứ, và nơi chính Các Ngài là tổng thể của sự Hi Sinh Thiêng Liêng vĩ đại khi nó tập trung vào đời sống hành tinh của chúng ta. Sau khi đã đi qua mọi giai đoạn hiện hữu trước kia và hoàn thiện phương diện tâm thức nơi chính Các Ngài qua các kinh nghiệm nhân loại, Các Ngài đã vượt quá mọi điều con người có thể biết và mọi trạng thái tâm thức mà con người hiện quen thuộc hoặc có thể quen thuộc trong tương lai, và hiện đang biểu hiện một giai đoạn thiên tính mà con người không thể biết gì. Các Ngài SỐNG. Các Ngài là chính năng lượng, và trong tổng thể của Các Ngài, Các Ngài tạo thành “trung tâm sáng rỡ ở rất xa phía trước.” |
|
1. This paragraph is profound. A broad perspective is given on the composite nature of humanity—a kingdom which arises from the interplay of spirit and matter (or, more specifically—the superhuman and the subhuman lives). |
1. Đoạn này rất sâu sắc. Một viễn cảnh rộng lớn được đưa ra về bản chất tổng hợp của nhân loại—một giới nảy sinh từ sự tương tác giữa tinh thần và vật chất (hay, nói cụ thể hơn—giữa các sự sống siêu nhân và các sự sống dưới nhân loại). |
|
2. The reality of superhuman Beings is emphasized, and their sacrificial role. In their aggregate these superhuman Beings are to be considered “the great Divine Sacrifice”. We learn that the proper relationship of the greater to the lesser is always sacrificial. Of course, the lesser is, per force, related sacrificially to the greater. The great interplay of all beings in cosmos is, at least archetypally, sacrificial—mutually beneficial. |
2. Thực tại của các Bản Thể siêu nhân được nhấn mạnh, cũng như vai trò hi sinh của Các Ngài. Trong toàn bộ tập hợp của Các Ngài, các Bản Thể siêu nhân này phải được xem là “sự Hi Sinh Thiêng Liêng vĩ đại”. Chúng ta học rằng mối quan hệ đúng đắn của cái lớn hơn đối với cái nhỏ hơn luôn luôn là hi sinh. Dĩ nhiên, cái nhỏ hơn, do tất yếu, cũng liên hệ một cách hi sinh với cái lớn hơn. Sự tương tác vĩ đại của mọi thực thể trong vũ trụ, ít nhất về mặt nguyên mẫu, là hi sinh—mang lợi ích hỗ tương. |
|
3. An important idea is brought forward—that the Shamballic Lives are energy itself. They live unfettered and unencumbered—as least from the human perspective. Limitation is to be encountered at every stage of cosmic unfoldment, and the Shamballic lives are, indeed, limited, but totally free in relation to humanity’s evident limitations. |
3. Một ý tưởng quan trọng được nêu ra—rằng các Sự Sống Shamballa là chính năng lượng. Các Ngài sống không bị trói buộc và không bị vướng mắc—ít nhất theo viễn cảnh của con người. Giới hạn phải được gặp ở mọi giai đoạn của sự khai mở vũ trụ, và các sự sống Shamballa quả thật có giới hạn, nhưng hoàn toàn tự do so với những giới hạn hiển nhiên của nhân loại. |
|
4. The Tibetan emphasizes the historical development and present grandeur of the great superhuman Beings, and thereby offers us a vision towards which we may strive. |
4. Chân sư Tây Tạng nhấn mạnh sự phát triển lịch sử và vẻ huy hoàng hiện tại của các Bản Thể siêu nhân vĩ đại, và nhờ đó trao cho chúng ta một tầm nhìn để hướng tới. |
|
5. Of these Beings we know very little, except that They exist. Occasionally the Tibetan will mention Them—“the Seven Spirits before the Throne”, the “Lords of Liberation”, the “Buddhas of Activity”, the “Seven Kumaras”, the “Great Kumara”, etc., but to us, these are but names. We can but imagine Their true nature and functions. |
5. Về các Bản Thể này, chúng ta biết rất ít, ngoại trừ việc Các Ngài hiện hữu. Thỉnh thoảng Chân sư Tây Tạng sẽ nhắc đến Các Ngài—“Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai”, “các Đấng Giải Thoát”, “các Đức Phật Hoạt Động”, “Bảy Kumara”, “Đại Kumara”, v.v., nhưng đối với chúng ta, đó chỉ là những danh xưng. Chúng ta chỉ có thể hình dung bản chất và chức năng chân thật của Các Ngài. |
|
6. What is important is to realize that these great Lives are both real and influential in the life of humanity—and benevolently and sacrificially intended. Some further hint of the great Purpose which lies behind all phenomena may emerge in our consciousness, and an even greater love and respect for the wonder of the Grand Design. |
6. Điều quan trọng là nhận ra rằng các Sự Sống vĩ đại này vừa có thật vừa có ảnh hưởng trong đời sống nhân loại—và có ý hướng nhân từ và hi sinh. Một gợi ý xa hơn nào đó về Thiên Ý vĩ đại nằm sau mọi hiện tượng có thể xuất hiện trong tâm thức chúng ta, cùng với một tình thương và lòng tôn kính còn lớn hơn đối với sự kỳ diệu của Đại Thiết Kế. |
|
Rule III: Third Sentence |
Quy luật III: Câu thứ ba |
|
“Let it evoke response from the bright centre, lying far ahead.” (R&I 79) |
“Hãy để nó gợi lên sự đáp ứng từ trung tâm sáng rỡ, ở rất xa phía trước.” (R&I 79) |
|
The Sentence |
Câu văn |
|
A. Let it evoke response from the bright centre, lying far ahead. |
A. Hãy để nó gợi lên sự đáp ứng từ trung tâm sáng rỡ, ở rất xa phía trước. |
|
1. The “bright centre lying far ahead” is, of course, Shamballa. |
1. “Trung tâm sáng rỡ ở rất xa phía trước” dĩ nhiên là Shamballa. |
|
2. It is the “cry of invocation” (issuing forth from the deep center of the group’s clear cold light) which is evoking response from the “bright centre”. |
2. Chính “tiếng kêu khẩn cầu” (phát ra từ trung tâm sâu thẳm của ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo của nhóm) đang gợi lên sự đáp ứng từ “trung tâm sáng rỡ”. |
|
3. There is a quality of intensity in this “cry” which reaches those “distant ashrams where move the Chohans of the race of men”. The invoking group has reached a degree of selflessness and encompassing purposefulness where this is possible; Shamballa can respond. |
3. Trong “tiếng kêu” này có một phẩm tính cường độ vươn tới những “ashram xa xôi nơi các Chohan của nhân loại chuyển động”. Nhóm khẩn cầu đã đạt đến một mức độ vô kỷ và chủ đích bao trùm khiến điều này trở nên khả hữu; Shamballa có thể đáp ứng. |
|
4. The “cry” of such an invoking group is free from all taint of customary selfishness or ego. It is even free from a developed group-individualism—the result of an increasingly effective causal infusion (relatively high though this state may be). |
4. “Tiếng kêu” của một nhóm khẩn cầu như thế không còn mọi vết nhơ của sự ích kỷ thông thường hay cái tôi. Nó thậm chí còn thoát khỏi một chủ nghĩa cá nhân-nhóm đã phát triển—kết quả của một sự thấm nhuần từ thể nguyên nhân ngày càng hiệu quả (dù trạng thái này tương đối cao). |
|
5. The cry, rather, is fundamentally triadal in nature, and relates only to the Divine Plan and increasingly to the Divine Purpose (as much as the invoking group can sense that which the Masters, Themselves, are only coming to know). One must be a Chohan of the sixth degree before a relatively true and comprehensive understanding of Planetary Purpose becomes possible—for sixth degree initiates are “planetary Spirits”. |
5. Trái lại, tiếng kêu ấy về căn bản mang bản chất Tam nguyên tinh thần, và chỉ liên hệ đến Thiên Cơ, rồi ngày càng liên hệ đến Thiên Ý (trong mức độ nhóm khẩn cầu có thể cảm nhận điều mà chính các Chân sư mới chỉ đang bắt đầu biết). Người ta phải là một Chohan thuộc cấp sáu trước khi một sự thấu hiểu tương đối chân thật và toàn diện về Thiên Ý Hành Tinh trở nên khả hữu—vì các điểm đạo đồ cấp sáu là “các Chân Linh Hành Tinh”. |
|
6. The more selfless the cry, the brighter the cry, and the more it is in resonance with nature of the “bright centre”. |
6. Tiếng kêu càng vô kỷ thì tiếng kêu càng sáng rỡ, và càng cộng hưởng với bản chất của “trung tâm sáng rỡ”. |
|
7. Why should Shamballa be called the “bright centre”? Relatively speaking it is the most intensely vibrant center on our planet. Because Shamballa is ‘located’ (though it is ‘non-local’) on the cosmic physical plane, it is still “prakritic” in nature. Perhaps even the cosmic astral and cosmic mental planes can be considered prakritic (i.e., possessing their own types of matter/substance/energy). |
7. Vì sao Shamballa được gọi là “trung tâm sáng rỡ”? Nói một cách tương đối, đó là trung tâm rung động mãnh liệt nhất trên hành tinh chúng ta. Vì Shamballa “tọa lạc” (dù là “phi cục bộ”) trên cõi hồng trần vũ trụ, nó vẫn có bản chất thuộc vật chất nguyên sơ. Có lẽ ngay cả cõi cảm dục vũ trụ và cõi trí vũ trụ cũng có thể được xem là thuộc vật chất nguyên sơ (tức là, sở hữu các loại vật chất/chất liệu/năng lượng riêng của chúng). |
|
8. The matter/substance of the Shamballic dimension must be intensely rapid in its vibratory frequency. Rapidity of vibratory frequency is equivalent to brightness. Shamballa is, for Earth beings of our stature, so bright that it seems dark. This is a familiar idea. So intense is its light that our normal apparatus of registration is incapable of registering it. |
8. Vật chất/chất liệu của chiều kích Shamballa hẳn phải cực kỳ nhanh trong tần số rung động của nó. Tốc độ của tần số rung động tương đương với độ sáng. Đối với các sinh linh Trái Đất thuộc tầm vóc chúng ta, Shamballa sáng đến mức dường như tối. Đây là một ý tưởng quen thuộc. Ánh sáng của nó mãnh liệt đến mức bộ máy ghi nhận bình thường của chúng ta không thể ghi nhận được. |
|
9. However, for a group of the nature here discussed, Shamballic light is no longer entirely dark. The vibratory frequency of the group’s collective atoms of all kinds is sufficiently elevated that some degree of resonance with and registration of Shamballa’s brightness is possible. |
9. Tuy nhiên, đối với một nhóm thuộc bản chất đang được bàn ở đây, ánh sáng Shamballa không còn hoàn toàn tối nữa. Tần số rung động của các nguyên tử tập thể thuộc mọi loại của nhóm đã được nâng cao đủ để một mức độ cộng hưởng với và ghi nhận độ sáng của Shamballa trở nên khả hữu. |
|
10. Experiences of blinding light reported by advanced mystics and occultists are fundamentally Shamballic in nature. St. Paul’s experience of being blinded for three days was of this nature, and the Tibetan affirms that the “record” confirms the accuracy of the account. |
10. Những kinh nghiệm về ánh sáng chói lòa được các nhà thần bí và nhà huyền bí học tiến bộ thuật lại về căn bản có bản chất Shamballa. Kinh nghiệm bị mù trong ba ngày của Thánh Paul thuộc bản chất này, và Chân sư Tây Tạng xác nhận rằng “ký lục” chứng thực tính chính xác của tường thuật ấy. |
|
11. The light of the soul may be an experience of a certain intensity (compared with ordinary personality consciousness), but when the light of the monad begins makes its impact, the experience is of far greater magnitude and altogether brighter. The suddenness of some illuminative experiences are mini-Shamballa impacts on the microcosmic level. When they come, the “blotting out” of form is the result. (c.f. Rules V and IX) All is perceived as light and synthesis is realized. |
11. Ánh sáng của linh hồn có thể là một kinh nghiệm với cường độ nhất định (so với tâm thức phàm ngã thông thường), nhưng khi ánh sáng của chân thần bắt đầu tạo tác động, kinh nghiệm ấy có tầm vóc lớn hơn rất nhiều và hoàn toàn sáng rỡ hơn. Tính đột ngột của một số kinh nghiệm soi sáng là những tác động Shamballa nhỏ trên cấp độ tiểu thiên địa. Khi chúng đến, kết quả là hình tướng bị “xóa mờ”. (xem Quy luật V và IX) Tất cả được tri nhận như ánh sáng và sự tổng hợp được nhận ra. |
|
12. That Shamballa is a centre is important. Like any other centre, it is a point of both reception and transmission—a point of influential origin. Its ring-pass-not must be distinctive and well maintained, else it could not control its impact on unready forms (which it does—scrupulously). |
12. Việc Shamballa là một trung tâm là điều quan trọng. Giống như bất kỳ trung tâm nào khác, nó là một điểm vừa tiếp nhận vừa truyền phát—một điểm khởi nguyên có ảnh hưởng. Vòng-giới-hạn của nó phải đặc thù và được duy trì tốt, nếu không nó không thể kiểm soát tác động của mình lên các hình tướng chưa sẵn sàng (điều mà nó thực hiện—một cách hết sức cẩn trọng). |
|
13. Planetary centres of various kinds can be reached by “attunement” with their vibratory level. To what pitch must a group raise itself to touch that contained vibratory domain which we call Shamballa? The requisite ‘keying up’ is certainly beyond most contemporary individuals, but it greatly facilitated by the presence of a selfless group. |
13. Các trung tâm hành tinh thuộc nhiều loại khác nhau có thể được tiếp cận bằng sự “hòa điệu” với cấp độ rung động của chúng. Một nhóm phải nâng mình lên đến cao độ nào để chạm đến lãnh vực rung động được chứa đựng mà chúng ta gọi là Shamballa? Sự “gia tăng cường độ” cần thiết chắc chắn vượt quá hầu hết các cá nhân đương đại, nhưng được tạo điều kiện rất nhiều nhờ sự hiện diện của một nhóm vô kỷ. |
|
14. It is an interesting idea—a bright center lying far ahead. When describing spiritual states we often use expressions relating to vertical and horizontal dimensions—high/low, up/down, broad/narrow, distant/near. |
14. Đó là một ý tưởng thú vị—một trung tâm sáng rỡ nằm rất xa phía trước. Khi mô tả các trạng thái tinh thần, chúng ta thường dùng những cách diễn đạt liên quan đến các chiều dọc và ngang—cao/thấp, lên/xuống, rộng/hẹp, xa/gần. |
|
15. When we speak of a centre “far ahead” we are obviously not speaking of distance in any conventional sense. The distance is produced by vibratory differentiation. The Shamballic state is vibratorily ‘distant’ from our customary personality states and even from relatively high soul states. |
15. Khi nói về một trung tâm “rất xa phía trước”, rõ ràng chúng ta không nói về khoảng cách theo bất kỳ nghĩa thông thường nào. Khoảng cách được tạo ra bởi sự biến phân rung động. Trạng thái Shamballa “xa” về mặt rung động so với các trạng thái phàm ngã thường lệ của chúng ta, và thậm chí so với các trạng thái linh hồn tương đối cao. |
|
16. And it will be a time ‘distant’ from the present time before the vibratory frequency of Shamballa is achieved by most human beings who have learned about Shamballa and aspire to one day merge with it. So for most of us, the “bright centre” is indeed, “far ahead” in more than one way—both vibratorily and temporally. |
16. Và sẽ còn là một thời điểm “xa” so với hiện tại trước khi tần số rung động của Shamballa được phần lớn những con người đã học biết về Shamballa và khát vọng một ngày kia hòa nhập với nó đạt đến. Vì vậy, đối với hầu hết chúng ta, “trung tâm sáng rỡ” quả thật “rất xa phía trước” theo hơn một cách—cả về rung động lẫn về thời gian. |
|
17. The question may arise: “how far” ahead does the bright center lie? How far the present consciousness of the individual? How far from the present consciousness of the invoking group? |
17. Câu hỏi có thể nảy sinh: trung tâm sáng rỡ nằm “xa” phía trước đến mức nào? Xa đến mức nào so với tâm thức hiện tại của cá nhân? Xa đến mức nào so với tâm thức hiện tại của nhóm khẩn cầu? |
|
18. What is suggested is that entry into the bright center is not presently possible, but a touch is. |
18. Điều được gợi ý là việc đi vào trung tâm sáng rỡ hiện chưa khả hữu, nhưng một sự chạm đến thì có thể. |
|
19. Entry into Shamballa as a Master (upon the first ray) or as a Chohan (upon any ray) may be thousands of years ahead of those who now are learning about these possibilities. If we consider the lives of some of those who are now Chohans—Jesus two thousand years ago (as Jeshua and Joshua—more than a thousand years before that); or Master R as both Francis Bacon and Roger Bacon, or Master K.H. as Pythagoras some twenty-five hundred years ago, or the Christ/Maitreya as Krishna some five thousand years ago, we see that They were great individuals even then. Rapid progress is now possible, but these were exceptional individuals (so it would seem) and progressed rapidly. Can we, in a few thousand years (or less (under the prospect of evolutionary acceleration) be as They are now? |
19. Việc đi vào Shamballa với tư cách một Chân sư (trên cung một) hay một Chohan (trên bất kỳ cung nào) có thể còn cách hàng nghìn năm đối với những người hiện đang học biết về các khả năng này. Nếu chúng ta xét các đời sống của một số vị hiện nay là các Chohan—Đức Jesus hai nghìn năm trước (với tư cách Jeshua và Joshua—hơn một nghìn năm trước đó); hoặc Chân sư R. với tư cách cả Francis Bacon lẫn Roger Bacon, hoặc Chân sư K.H. với tư cách Pythagoras khoảng hai nghìn năm trăm năm trước, hoặc Đức Christ/Maitreya với tư cách Krishna khoảng năm nghìn năm trước, chúng ta thấy rằng Các Ngài là những cá nhân vĩ đại ngay cả khi ấy. Sự tiến bộ nhanh chóng hiện nay là khả hữu, nhưng đó là những cá nhân ngoại lệ (dường như là vậy) và đã tiến bộ nhanh chóng. Liệu trong vài nghìn năm (hoặc ít hơn, dưới viễn cảnh gia tốc thăng thượng tiến hoá), chúng ta có thể trở nên như Các Ngài hiện nay không? |
|
20. I would say that these were individuals gripped by Spiritual Will and, then, Divine Will. It is acquiescence to the will that made Their progress so distinctive. |
20. Đây là những cá nhân được Ý Chí Tinh Thần và rồi Ý Chí Thiêng Liêng nắm giữ. Chính sự thuận phục đối với ý chí đã làm cho sự tiến bộ của Các Ngài trở nên đặc biệt như vậy. |
|
21. The distance (from us) of the bright center depends upon our understanding application of the higher forms of will and the intensity of that application. |
21. Khoảng cách từ chúng ta đến trung tâm rực sáng tùy thuộc vào việc chúng ta thấu hiểu và áp dụng các hình thức cao hơn của ý chí, cũng như cường độ của sự áp dụng ấy. |
|
22. To understand and apply the higher will (in its several categories—sacrificial, spiritual and divine), the scope of our understanding must be great. The higher will does not demonstrate in and through those who are narrow in their point of view. Planetary, solar-systemic and cosmic studies may bring us closer to appreciating the nature of the higher will and to learning how to apply it. |
22. Để thấu hiểu và áp dụng ý chí cao hơn trong các loại hình khác nhau của nó — hy sinh, tinh thần và thiêng liêng — phạm vi thấu hiểu của chúng ta phải rộng lớn. Ý chí cao hơn không biểu lộ trong và qua những ai có quan điểm hẹp hòi. Việc nghiên cứu hành tinh, hệ mặt trời và vũ trụ có thể đưa chúng ta đến gần hơn với sự cảm nhận bản chất của ý chí cao hơn và học cách áp dụng nó. |
|
23. Occasionally, the great temporal and vibratory ‘distance’ from the monad and Shamballa may be overcome in a flash. Sudden illumination and enlightenment may flash into consciousness. The blow against the Great Illusion may occur instantaneously (though most likely, temporarily). Then the apparent distance from the bright center is overcome. A kind of esoteric “quantum leap” has occurred. |
23. Đôi khi, “khoảng cách” lớn lao về thời gian và rung động với chân thần và Shamballa có thể được vượt qua trong một chớp lóe. Sự soi sáng và giác ngộ bất ngờ có thể lóe vào tâm thức. Cú đánh vào Đại Ảo Tưởng có thể xảy ra tức thời, dù rất có thể chỉ tạm thời. Khi ấy khoảng cách biểu kiến với trung tâm rực sáng được vượt qua. Một kiểu “bước nhảy lượng tử” huyền bí đã xảy ra. |
|
24. Of course, Shamballa is not really ‘distant’ at all. It exists here and now, and pervades all things. The human monad is already ‘resident’ within Shamballa. But how ‘far’ is monadic awareness from personality consciousness? |
24. Dĩ nhiên, Shamballa thật ra không hề “xa” chút nào. Nó hiện hữu ở đây và bây giờ, và thấm nhuần mọi sự. Chân thần con người vốn đã “cư trú” trong Shamballa. Nhưng nhận thức chân thần “cách” tâm thức phàm ngã bao xa? |
|
25. As the disciple becomes responsive to the triadal and monadic levels consciousness brightens progressively and the distance from Shamballa is radically reduced. |
25. Khi đệ tử trở nên đáp ứng với các cấp độ Tam Nguyên Tinh Thần và chân thần, tâm thức dần dần sáng lên và khoảng cách với Shamballa được rút ngắn triệt để. |
|
26. When the advancing probationary initiate becomes an initiate of the third degree, the ‘distance’ from Shamballa has been radically shortened. There has been a real touch which has been consciously registered and understood. Such touches will become more and more frequent, until the day comes when Mercury and the Sun will be one, and the ‘distance’ over which the planet Mercury symbolically shuttles will be annihilated. |
26. Khi điểm đạo đồ dự bị đang tiến bước trở thành điểm đạo đồ cấp ba, “khoảng cách” với Shamballa đã được rút ngắn triệt để. Đã có một tiếp xúc thực sự, được ghi nhận và thấu hiểu một cách hữu thức. Những tiếp xúc như thế sẽ ngày càng thường xuyên hơn, cho đến ngày Sao Thủy và Mặt Trời sẽ là một, và “khoảng cách” mà hành tinh Sao Thủy đưa qua đưa lại một cách biểu tượng sẽ bị tiêu hủy. |
|
27. Let us attempt to live in such a manner that the registration of the Shamballa frequency becomes more frequent. Then will all impediments be burnt away, and entry into life become a realized fact. |
27. Chúng ta hãy cố gắng sống sao cho việc ghi nhận tần số Shamballa trở nên thường xuyên hơn. Khi ấy mọi chướng ngại sẽ bị thiêu rụi, và việc bước vào sự sống sẽ trở thành một sự kiện được chứng nghiệm. |
|
28. One ‘day’ we shall all work as from within the ‘brightness’, and all that is now dark to our consciousness will be illumined. Then we shall be representatives of the “Light of Life Itself” (one of the names of the Lord of the World, Sanat Kumara). Even knowing that such a Light exists is already a step in its direction. |
28. Một “ngày” nào đó, tất cả chúng ta sẽ làm việc như thể từ bên trong “sự rực sáng”, và mọi điều hiện nay còn tối tăm đối với tâm thức chúng ta sẽ được soi sáng. Khi ấy chúng ta sẽ là những đại diện của “Ánh Sáng của Chính Sự Sống” — một trong các danh xưng của Đức Chúa Tể Thế Giới, Đức Sanat Kumara. Ngay cả việc biết rằng một Ánh Sáng như thế hiện hữu cũng đã là một bước đi về phía nó. |
|
The Themes Included Under the Sentence 3 |
Các Chủ Đề Nằm Trong Câu 3 |
|
B. S.H.A.M.B.A.L.L.A. is numerically 1.8.1.4.2.1.3.3.1. This word equals the number 24 which in its turn equals 6. (cf. RI, p. 79) |
B. S.H.A.M.B.A.L.L.A. về mặt số học là 1.8.1.4.2.1.3.3.1. Từ này bằng con số 24, đến lượt nó bằng 6. (x. RI, tr. 79) |
|
Nine is the number of initiation. (cf. RI, p. 79) |
Chín là con số của điểm đạo. (x. RI, tr. 79) |
|
The goal of all the initiatory process is to admit mankind into realization of and identification with the will or purpose of Deity. (cf. RI, p. 79) |
Mục tiêu của toàn bộ tiến trình điểm đạo là đưa nhân loại vào sự nhận thức và đồng hóa với ý chí hay mục đích của Thượng đế. (x. RI, tr. 79) |
|
The numerological significance of the number 666 (esoteric numerology). (cf. RI, p. 79-80) |
Ý nghĩa số học của con số 666 trong số học huyền bí. (x. RI, tr. 79-80) |
|
3. Let it evoke response from the bright centre, lying far ahead. |
3. Hãy để nó gợi lên đáp ứng từ trung tâm rực sáng, nằm xa phía trước. |
|
To this centre we give the name Shamballa, the component letters of which are numerically: S.H.A.M.B.A.L.L.A. or 1.8.1.4.2.1.3.3.1. This word equals the number 24 which in its turn equals 6. I would call your attention to the fact that the word has in it nine letters, and—as you know—nine is the number of initiation. The goal of all the initiatory process is to admit mankind into realisation of and identification with the will or purpose of Deity. The number 6 is the number of form or of manifestation, which is the agent or medium through which this realisation comes and by which the consciousness is unfolded so that it can become the foundation of the higher process which is instituted at the third initiation. That initiation is closely related to the third major centre, Shamballa; it is the third, from the angle of man’s perception and understanding, but the first from the angle of Deity Itself. Again, 6 being the number of the sixth ray, it is therefore the number of idealism and of that driving force which makes mankind move forward upon the path and in response to the vision and press upward towards the light. It is in reality devotion to an unseen goal, ever on ahead, and an unswerving recognition of the objective. Like all other divine qualities, it has its material counterpart, and that is why 666 is regarded as the number of the Beast or of materialism, the number of the [Page 80] dominance of the three worlds prior to the process of reorientation and the expression of developed idealism and purpose. The third aspect expresses itself through pure materialism, and hence the three sixes. In an ancient book on numbers the initiate is defined as “the one who has experienced and expressed 666 and found it naught; who has dropped the 6 and become the 66, and thus has found himself upon the WAY; later, again, he drops the 6 and becomes the perfected 6—form, the instrument and expression of spirit.” |
Chúng ta gọi trung tâm này là Shamballa, các mẫu tự cấu thành của nó có giá trị số học là: S.H.A.M.B.A.L.L.A. hay 1.8.1.4.2.1.3.3.1. Từ này bằng con số 24, đến lượt nó bằng 6. Tôi muốn các bạn chú ý đến sự kiện rằng từ này có chín mẫu tự, và — như các bạn biết — chín là con số của điểm đạo. Mục tiêu của toàn bộ tiến trình điểm đạo là đưa nhân loại vào sự nhận thức và đồng hóa với ý chí hay mục đích của Thượng đế. Con số 6 là con số của hình tướng hay biểu hiện, vốn là tác nhân hay trung gian qua đó sự nhận thức này đến, và nhờ đó tâm thức được khai mở để có thể trở thành nền tảng của tiến trình cao hơn được thiết lập ở lần điểm đạo thứ ba. Lần điểm đạo ấy liên hệ mật thiết với trung tâm chính thứ ba, Shamballa; nó là trung tâm thứ ba xét theo góc độ nhận thức và thấu hiểu của con người, nhưng là trung tâm thứ nhất xét theo góc độ của chính Thượng đế. Một lần nữa, vì 6 là con số của cung sáu, nên nó là con số của chủ nghĩa lý tưởng và của mãnh lực thúc đẩy khiến nhân loại tiến tới trên đường đạo, đáp ứng với tầm nhìn và vươn lên hướng về ánh sáng. Thực ra, đó là sự sùng kính đối với một mục tiêu vô hình, luôn ở phía trước, và là sự công nhận không lay chuyển đối với mục tiêu ấy. Như mọi phẩm tính thiêng liêng khác, nó có đối phần vật chất của nó, và đó là lý do 666 được xem là con số của Con Thú hay của chủ nghĩa duy vật, con số của [Page 80] sự thống trị của ba cõi thấp trước tiến trình tái định hướng và sự biểu lộ của chủ nghĩa lý tưởng đã phát triển cùng mục đích. Phương diện thứ ba tự biểu lộ qua chủ nghĩa duy vật thuần túy, và do đó có ba số sáu. Trong một quyển sách cổ về các con số, điểm đạo đồ được định nghĩa là “người đã kinh nghiệm và biểu lộ 666, rồi thấy nó là hư vô; người đã bỏ số 6 và trở thành 66, nhờ đó thấy mình ở trên CON ĐƯỜNG; về sau, một lần nữa, y bỏ số 6 và trở thành số 6 hoàn thiện — hình tướng, khí cụ và biểu hiện của tinh thần.” |
|
1. In this paragraph we begin one of the Tibetan’s most explicit uses of numerology. He tries to show an essentially esoteric approach to this great subject in contradistinction to the usual more mundane approaches. It is for us to discern just what He means by “esoteric numerology”. Probably, the true esoteric numerology has little to do with shedding light on the affairs of the personality, per se. |
1. Trong đoạn này, chúng ta bắt đầu một trong những cách sử dụng số học rõ ràng nhất của Chân sư Tây Tạng. Ngài cố gắng trình bày một lối tiếp cận cốt yếu mang tính huyền bí đối với chủ đề lớn lao này, đối lập với những lối tiếp cận thông thường và trần tục hơn. Việc của chúng ta là phân biện chính xác điều Ngài muốn nói qua “số học huyền bí”. Có lẽ số học huyền bí đích thực ít liên quan đến việc soi sáng các sự vụ của phàm ngã xét riêng. |
|
2. He begins with an analysis of the word, “Shamballa” (spelled in this particular way, although there are other accepted ways of spelling the word). |
2. Ngài bắt đầu bằng một phân tích về từ “Shamballa”, được viết theo cách đặc thù này, dù cũng có những cách viết khác được chấp nhận. |
|
3. The alphabet used is the English alphabet, even though the term, “Shamballa” does not originate from the English language. |
3. Bảng chữ cái được dùng là bảng chữ cái tiếng Anh, dù thuật ngữ “Shamballa” không bắt nguồn từ tiếng Anh. |
|
4. When considering the usefulness of numerology, it can always be asked, “Why one alphabet rather than another?” “Why one language rather than another?” Surely there are Russian numerologists using the Cyrillic Alphabet, just as there are numerologists who use Hebrew or Sanskrit. Words which mean the same thing in languages with different alphabets would have entirely different number values; would such number values indicate entirely different meanings or different aspects of the same general meaning? Or is numerology to be used principally to stimulate the intuition of the interpreter, for surely different numerological values of the same word (“God”, for instance) can be made to shed light on different aspects of its entire meaning. In such a case, different numbers for the same word would be like different angles of vision. |
4. Khi xét đến tính hữu dụng của số học, người ta luôn có thể hỏi: “Tại sao dùng bảng chữ cái này thay vì bảng chữ cái khác?” “Tại sao dùng ngôn ngữ này thay vì ngôn ngữ khác?” Chắc chắn có các nhà số học người Nga dùng bảng chữ cái Kirin, cũng như có những nhà số học dùng tiếng Hê-bơ-rơ hoặc tiếng Phạn. Những từ có cùng nghĩa trong các ngôn ngữ dùng các bảng chữ cái khác nhau sẽ có những giá trị số hoàn toàn khác nhau; liệu các giá trị số ấy có chỉ ra những ý nghĩa hoàn toàn khác nhau hay các phương diện khác nhau của cùng một ý nghĩa tổng quát? Hay số học chủ yếu được dùng để kích thích trực giác của người diễn giải, vì chắc chắn những giá trị số học khác nhau của cùng một từ — chẳng hạn “God” — có thể được khiến soi sáng các phương diện khác nhau của toàn bộ ý nghĩa của nó. Trong trường hợp như thế, những con số khác nhau cho cùng một từ sẽ giống như những góc nhìn khác nhau. |
|
5. Probably every word, no matter what its reduced alpha number can be understood as representing each of the numbers 1 through 9. For instance the reduced alpha number of the English word “God” derives as following: 7 + 15 + 4 = 26 = 8. The number 26 is the alpha number and 8 is the reduced alpha number. If we had summed 7 + 6 + 4 (reducing the 15 immediately to a 6 before summing) we would have a 17 which also reduces to an 8. |
5. Có lẽ mọi từ, bất kể con số mẫu tự rút gọn của nó là gì, đều có thể được thấu hiểu như đại diện cho mỗi con số từ 1 đến 9. Chẳng hạn, con số mẫu tự rút gọn của từ tiếng Anh “God” được suy ra như sau: 7 + 15 + 4 = 26 = 8. Con số 26 là số mẫu tự, còn 8 là số mẫu tự rút gọn. Nếu chúng ta cộng 7 + 6 + 4, tức là rút gọn ngay 15 thành 6 trước khi cộng, thì chúng ta sẽ có 17, con số này cũng rút gọn thành 8. |
|
6. Numbers with the same reduced alpha number may have alpha numbers with discernibly different meanings: for instance, what are the subtle differences between the meanings of 17, 26, 35, 44, 53, 62, 71 and, 80? As an alpha number each is different, yet each would have a reduced alpha number of 8; but as well as being essentially 8’s, they are also distinct entities. The truly esoteric numerologist would be able to discern the fine shades of difference. Note that two of the numbers listed here (17 and 71) are prime numbers, divisible only by the number 1 and themselves. One of the numbers (35) is divisible by both 7 and 5, and is an archetypal number representing the midway point of the archetypal human lifespan of three score and ten, and is a “Brahmic number” relating to the consummation of development in the last solar system, as well as to the sustained age of a Master of the Wisdom Whose achievement or Mastership represents mastery over the energies o the first solar system. One of the numbers (44) has the same two digits and is considered a “master number”. Thus, an analysis could proceed, revealing the individual potentialities of each of these numbers (as alpha numbers) but also relating them to the number 8—relating to Christ-consciousness and to the Spiritual Hierarchy. They all have the 8 in common. Why? |
6. Các con số có cùng số mẫu tự rút gọn có thể có những số mẫu tự với ý nghĩa khác nhau có thể phân biện được: chẳng hạn, đâu là những khác biệt tinh tế giữa ý nghĩa của 17, 26, 35, 44, 53, 62, 71 và 80? Với tư cách là số mẫu tự, mỗi số đều khác nhau, nhưng mỗi số cũng có số mẫu tự rút gọn là 8; tuy cốt yếu là những số 8, chúng cũng là những thực thể riêng biệt. Nhà số học huyền bí đích thực sẽ có thể phân biện những sắc thái khác biệt tinh vi. Hãy lưu ý rằng hai trong số các con số được liệt kê ở đây, 17 và 71, là các số nguyên tố, chỉ chia hết cho số 1 và chính chúng. Một trong các con số, 35, chia hết cho cả 7 lẫn 5, và là một con số nguyên mẫu đại diện cho điểm ở giữa của tuổi thọ nhân loại nguyên mẫu là ba lần hai mươi cộng mười; nó là một “con số Brahma” liên hệ với sự viên thành phát triển trong hệ mặt trời trước, cũng như với tuổi đời được duy trì của một Chân sư Minh triết mà thành tựu hay địa vị Chân sư của Ngài biểu trưng cho sự làm chủ các năng lượng của hệ mặt trời thứ nhất. Một trong các con số, 44, có hai chữ số giống nhau và được xem là một “con số Chân sư”. Như vậy, một phân tích có thể tiếp diễn, mặc khải các tiềm năng cá biệt của mỗi con số này với tư cách là số mẫu tự, đồng thời liên hệ chúng với con số 8 — liên hệ với tâm thức Đức Christ và với Thánh Đoàn Tinh Thần. Tất cả chúng đều có chung số 8. Tại sao? |
|
7. The Tibetan makes much of the number values of the various letters in the word “Shamballa” (and this we will examine with Him). Can the same be said in relation to the English word, “God” (a word, indubitably, of no small importance). The alpha number of “God” is 26—the number of letters in the English alphabet—so there seems to be some significance. One may intuit from this that there is a numerological key to divinity (i.e., to “God” the Creator) which the equivalence of numbers and letters can reveal. The numbers 2 and 6 are also related to each other because the sixth ray is a more concrete manifestation of the second. These two rays are also (at this historical period) the two rays most specifically related to the field of religion, in which field the term “God” is the center of profound attention. Perhaps it is significant that the number 26 is twice the ill-fated number 13 which has been related to misfortune and evil. Speculations of this nature can be turned upon any number, and the number 26 does in fact seem to have some relation to the term “God” as that term has often been used. |
7. Chân sư Tây Tạng nhấn mạnh nhiều đến các giá trị số của những mẫu tự khác nhau trong từ “Shamballa”, và chúng ta sẽ khảo sát điều này cùng Ngài. Có thể nói điều tương tự đối với từ tiếng Anh “God” hay không, một từ chắc chắn có tầm quan trọng không nhỏ? Số mẫu tự của “God” là 26 — số lượng mẫu tự trong bảng chữ cái tiếng Anh — nên dường như có một ý nghĩa nào đó. Từ điều này, người ta có thể trực nhận rằng có một chìa khóa số học dẫn đến thiên tính, tức là đến “God” với tư cách Đấng Sáng Tạo, mà sự tương ứng giữa số và mẫu tự có thể mặc khải. Các con số 2 và 6 cũng liên hệ với nhau, vì cung sáu là một biểu hiện cụ thể hơn của cung hai. Hai cung này cũng là, trong giai đoạn lịch sử hiện nay, hai cung liên hệ đặc biệt nhất với lĩnh vực tôn giáo, trong đó thuật ngữ “God” là trung tâm của sự chú tâm sâu sắc. Có lẽ đáng kể là con số 26 gấp đôi con số bất hạnh 13, vốn từng được liên hệ với tai họa và điều ác. Những suy đoán thuộc loại này có thể được áp dụng cho bất kỳ con số nào, và con số 26 thật sự dường như có liên hệ nào đó với thuật ngữ “God” như thuật ngữ ấy thường được dùng. |
|
8. Is it significant that the numbers 7, 6 and 4 represent the three letters of word, “G O D”? Perhaps, or perhaps not. Certainly a case could be made by the resourceful, numerologically trained mind: something about the “G” representing the “Highest and the Lowest” of the seventh ray; something about the “O” representing the rounded, inclusive second aspect of divinity, and, no doubt, the sphericity of this letter is important in relation to that Being Who is all-containing; also the 4 represented by the “D” could be related to the square of the matter, and to the state of ‘D-privation’ which matter represents, for one of the meanings of “D” or “De” (in English) is to “take away” or ‘de-prive’. Conventionally considered, matter acts as if it were deprived of spirit; they appear to be opposites (although, we know from occultism, that they are two aspects of one and the same “Life”. |
8. Có đáng kể chăng khi các con số 7, 6 và 4 đại diện cho ba mẫu tự của từ “G O D”? Có lẽ có, hoặc có lẽ không. Chắc chắn một thể trí giàu khả năng và được huấn luyện về số học có thể lập luận: điều gì đó về chữ “G” đại diện cho “Cao Nhất và Thấp Nhất” của cung bảy; điều gì đó về chữ “O” đại diện cho phương diện thứ hai tròn đầy và bao gồm của thiên tính, và chắc chắn tính hình cầu của mẫu tự này quan trọng trong liên hệ với Đấng bao hàm tất cả; cũng vậy, số 4 được chữ “D” đại diện có thể liên hệ với hình vuông của vật chất, và với trạng thái “bị tước đoạt” mà vật chất biểu trưng, vì một trong những nghĩa của “D” hay “De” trong tiếng Anh là “lấy đi” hay “tước-đoạt”. Xét theo cách thông thường, vật chất hành xử như thể nó bị tước mất tinh thần; chúng dường như là những đối cực, dù từ huyền bí học chúng ta biết rằng chúng là hai phương diện của cùng một “Sự Sống”. |
|
9. What I am saying is that much resourcefulness can be brought to bear to justify the relationship between the 7, 6, 4 and the meaning of the letters G, O, D, as they contribute to the meaning of the word “God”. However, given any other three letters or any other three numbers, a convincing case could also be made. In fact, since “God” represents a Being of maximal inclusiveness, all the nine fundamental numbers should be considered, if that inclusivity is to be honored. |
9. Có thể vận dụng rất nhiều sự khéo léo để biện minh cho mối liên hệ giữa 7, 6, 4 và ý nghĩa của các mẫu tự G, O, D, khi chúng góp phần tạo nên ý nghĩa của từ “God”. Tuy nhiên, với bất kỳ ba mẫu tự nào khác hay bất kỳ ba con số nào khác, người ta cũng có thể lập nên một luận cứ thuyết phục. Thật ra, vì “God” đại diện cho một Đấng có tính bao gồm tối đa, nên cần xem xét tất cả chín con số căn bản, nếu muốn tôn trọng tính bao gồm ấy. |
|
10. There is a definite and worthwhile place for a study of what we might call ‘comparative numerology’, which would compare the numerological meanings and interpretations of words sharing a given meaning but derived from languages with alphabets containing different numbers of letters, and also different types of letters, and thus summing to different number values. |
10. Có một vị trí rõ ràng và đáng giá cho việc nghiên cứu điều mà chúng ta có thể gọi là “số học so sánh”, vốn sẽ so sánh các ý nghĩa và diễn giải số học của những từ có chung một ý nghĩa nhưng phát sinh từ các ngôn ngữ có bảng chữ cái chứa số lượng mẫu tự khác nhau, cũng như các loại mẫu tự khác nhau, và do đó cộng lại thành những giá trị số khác nhau. |
|
11. While Sanskrit and Hebrew have often been considered “divine” languages, or languages “of God” or “of the Gods”, I do not see any immediate reason why English should be considered so. Further, the spellings of the same word are often changing as a given language evolves, and due to such a change, the numerological sum and thus, the meaning of the word is, consequently, changed. A numerologist working in the language we recognize as “Old English” might come to much different conclusions that the modern numerologist working with modern English. |
11. Dù tiếng Phạn và tiếng Hê-bơ-rơ thường được xem là những ngôn ngữ “thiêng liêng”, hay ngôn ngữ “của Thượng đế” hoặc “của các Thượng đế”, tôi không thấy có lý do hiển nhiên nào để tiếng Anh cũng được xem như vậy. Hơn nữa, cách viết của cùng một từ thường thay đổi khi một ngôn ngữ tiến hóa, và do một thay đổi như thế, tổng số học, và do đó ý nghĩa của từ, cũng theo đó thay đổi. Một nhà số học làm việc với ngôn ngữ mà chúng ta gọi là “tiếng Anh cổ” có thể đi đến những kết luận rất khác với nhà số học hiện đại làm việc với tiếng Anh hiện đại. |
|
12. So, on entering this fascinating field of numerology, one must recognize the many unanswered questions concerning its validity and the scope of its applicability. For instance should the conclusions of a Sanskrit numerologist be applied to all cultures? Are our English numerological derivations relevant to all cultures? And, there are surely many more questions than have been here raised. |
12. Khi bước vào lĩnh vực số học hấp dẫn này, người ta phải nhận ra nhiều câu hỏi chưa được trả lời liên quan đến tính xác thực và phạm vi áp dụng của nó. Chẳng hạn, liệu các kết luận của một nhà số học tiếng Phạn có nên áp dụng cho mọi nền văn hóa không? Các suy diễn số học bằng tiếng Anh của chúng ta có liên quan đến mọi nền văn hóa không? Và chắc chắn còn nhiều câu hỏi hơn những câu hỏi đã được nêu ra ở đây. |
|
13. Given all this relativity, it is surprising that the Tibetan seems to sweep all such reservations aside. He is hardly tentative, and instead enters fully into numerological analysis using English as the basic language as well as the conventional letter-number assignments familiar to all who have even casually studied numerology. Can we follow Him with confidence? I would say, “yes”. Because He is a Master of the Wisdom; because of the undeniably proven depth and breadth of His thought; because He is clearly a “Master-mind”—one must conclude that there is something of real value and meaning in this numerological study, even if, for the moment, only English is used as the basis of derivations. A degree of confidence is inspired, and one feels ‘safe’ to enter this field as the Tibetan has done, in order to see what can be learned. |
13. Trước tất cả tính tương đối này, thật đáng ngạc nhiên khi Chân sư Tây Tạng dường như gạt mọi dè dặt ấy sang một bên. Ngài hầu như không do dự, mà bước trọn vẹn vào phân tích số học, dùng tiếng Anh làm ngôn ngữ căn bản cũng như các quy ước gán số cho mẫu tự quen thuộc với tất cả những ai từng học số học dù chỉ sơ qua. Chúng ta có thể theo Ngài với lòng tin tưởng chăng? Tôi cho là có. Vì Ngài là một Chân sư Minh triết; vì chiều sâu và bề rộng tư tưởng của Ngài đã được chứng minh không thể phủ nhận; vì Ngài rõ ràng là một “thể trí Chân sư” — người ta phải kết luận rằng có điều gì đó thật sự có giá trị và ý nghĩa trong công trình nghiên cứu số học này, ngay cả nếu trong lúc này chỉ dùng tiếng Anh làm nền tảng cho các suy diễn. Một mức độ tin tưởng được khơi dậy, và người ta cảm thấy “an toàn” khi bước vào lĩnh vực này như Chân sư Tây Tạng đã làm, để xem có thể học được điều gì. |
|
14. To the serious student of occultism, there can be little doubt that “God geometrizes” and that there is a Mathematical/Arithmetic “Key” to the Secret Doctrine. Whether the whole of this key can be revealed through any one modern language (or through modern language at all) is, perhaps, doubtful, but at least something of value can be learned by relating numbers and letters on a one-to-one basis. |
14. Đối với đạo sinh huyền bí học nghiêm túc, hầu như không thể nghi ngờ rằng “Thượng đế hình học hóa” và rằng có một “Chìa Khóa” Toán Học/Số Học đối với Giáo Lý Bí Nhiệm. Liệu toàn bộ chìa khóa này có thể được mặc khải qua bất kỳ một ngôn ngữ hiện đại nào, hay qua ngôn ngữ hiện đại nói chung hay không, có lẽ vẫn đáng nghi ngờ; nhưng ít nhất, có thể học được điều gì đó có giá trị bằng cách liên hệ các con số và mẫu tự trên căn bản một-đối-một. |
|
15. The Tibetan has written so expansively concerning Shamballa, that one wonders why He chooses (specifically at this point) to enter into a numerological analysis of the term. He tells us simply that the “bright Centre” is Shamballa, and forthwith launches into numerology. |
15. Chân sư Tây Tạng đã viết rất rộng về Shamballa, đến nỗi người ta tự hỏi tại sao Ngài lại chọn, đặc biệt tại điểm này, bước vào một phân tích số học về thuật ngữ ấy. Ngài chỉ nói với chúng ta rằng “Trung Tâm rực sáng” là Shamballa, rồi lập tức đi vào số học. |
|
16. The brightness of Shamballa is proverbial. In fact, at various points in the Teaching, we are told that Shamballa is so bright that it is dark—or at least seems dark to the ‘eye’ incapable of registering its brightness. The mysteries of white and black, of black and white, are related to Shamballa—the mysteries of affirmation and negation, the mysteries of life and death. |
16. Sự rực sáng của Shamballa đã thành quen thuộc. Thật vậy, ở nhiều điểm khác nhau trong Giáo Huấn, chúng ta được cho biết rằng Shamballa rực sáng đến mức nó tối — hay ít nhất dường như tối đối với “con mắt” không thể ghi nhận sự rực sáng của nó. Các bí nhiệm của trắng và đen, của đen và trắng, đều liên hệ với Shamballa — các bí nhiệm của khẳng định và phủ định, các bí nhiệm của sự sống và sự chết. |
|
17. In terms of the evolutionary process, however, it is well to conceive of Shamballa as the bright, or even brightest of accessible centres—the home of “unfettered enlightenment” and related to the Taurean “Light of Life”. As all of human evolution is oriented towards the maximal possible increase of light, to conceive of Shamballa as the “bright centre lying far ahead” offers a great incentive to the evolving soul-personality. |
17. Tuy nhiên, xét theo tiến trình tiến hoá, nên hình dung Shamballa như trung tâm rực sáng, hay thậm chí rực sáng nhất trong các trung tâm có thể tiếp cận — quê nhà của “sự giác ngộ không bị trói buộc” và liên hệ với “Ánh Sáng của Sự Sống” thuộc Kim Ngưu. Vì toàn bộ sự tiến hoá của nhân loại hướng về sự gia tăng ánh sáng tối đa có thể, nên việc hình dung Shamballa như “trung tâm rực sáng nằm xa phía trước” đem lại một động lực lớn lao cho linh hồn-phàm ngã đang tiến hoá. |
|
18. With regard to the numerology of the term “Shamballa”, each letter of the word is assigned a number which must be less than the number 10. In the cases of those letters whose alpha number is more than 9 (S. M. L. L.), the reduced alpha number is given. The results are as follows: S.H.A.M.B.A.L.L.A = 1.8.1.4.2.1.3.3.1. |
18. Về số học của thuật ngữ “Shamballa”, mỗi mẫu tự của từ này được gán một con số phải nhỏ hơn 10. Trong trường hợp những mẫu tự có số mẫu tự lớn hơn 9, tức S. M. L. L., số mẫu tự rút gọn được dùng. Kết quả như sau: S.H.A.M.B.A.L.L.A = 1.8.1.4.2.1.3.3.1. |
|
19. The Tibetan does not enter immediately into an analysis of each of these constituent numbers or of their relation to each other. Rather He looks at the numerical value of the word in its entirety, noting that it sums to 24. The actual alpha number of the word, “Shamballa” is 19 + 8 + 1 + 13 + 2 + 1 + 12 + 12 + 1 = 69, and this is surely significant. The 6 represents the circle of spirit descending into matter and the 9 represents the completion which results as the circle of spirit rises out of matter regaining its freedom at the end of the cycle. The entirety of the involutionary/evolutionary process is represented in these two numbers. In a way, Shamballa is (as far as the questing monad is concerned) the Alpha and the Omega, the beginning and the end, the descent and the reascent. The number 69, represented vertically, symbolizes the entire process. If the number 69 is represented horizontally, the resulting figure relates directly to the sign Cancer; the symbol then becomes more lunar and supine, and is related to the material sphere. |
19. Chân sư Tây Tạng không đi ngay vào việc phân tích từng con số cấu thành này hay mối liên hệ của chúng với nhau. Thay vào đó, Ngài nhìn vào giá trị số của toàn bộ từ, lưu ý rằng tổng của nó là 24. Số mẫu tự thực sự của từ “Shamballa” là 19 + 8 + 1 + 13 + 2 + 1 + 12 + 12 + 1 = 69, và điều này chắc chắn có ý nghĩa. Số 6 đại diện cho vòng tròn của tinh thần hạ xuống vật chất, còn số 9 đại diện cho sự hoàn tất phát sinh khi vòng tròn của tinh thần vươn lên khỏi vật chất, giành lại tự do của nó vào cuối chu kỳ. Toàn bộ tiến trình giáng hạ tiến hoá/thăng thượng tiến hoá được biểu trưng trong hai con số này. Theo một nghĩa nào đó, đối với chân thần đang tìm kiếm, Shamballa là Alpha và Omega, là khởi đầu và kết thúc, là sự hạ xuống và sự tái thăng. Con số 69, khi biểu thị theo chiều dọc, tượng trưng cho toàn bộ tiến trình. Nếu con số 69 được biểu thị theo chiều ngang, hình thể kết quả liên hệ trực tiếp với dấu hiệu Cự Giải; khi ấy biểu tượng trở nên có tính âm tính và nằm ngang hơn, và liên hệ với khối cầu vật chất. |
|
20. We note that 69 sums to 15 which, like 24, sums to 6. The 15 is a number related to Kumaric life as well as to the Father and the Son (respectively the first and fifth dot in the tenfold Tetraktys). |
20. Chúng ta lưu ý rằng 69 cộng lại thành 15, và cũng như 24, cộng lại thành 6. Số 15 là một con số liên hệ với sự sống Kumara cũng như với Cha và Con, lần lượt là chấm thứ nhất và thứ năm trong Tứ nguyên tam giác thập phân. |
|
21. The 24 is a number of completeness, indicating a complete round of a cycle of two 12’s—a bright 12 and a dark 12. Thus the archetypal 24 hour cycle of day and night (at the equator where day is always equal to night) is described. |
21. Số 24 là một con số của sự trọn vẹn, chỉ một vòng trọn vẹn của một chu kỳ gồm hai số 12 — một số 12 sáng và một số 12 tối. Như vậy, chu kỳ nguyên mẫu 24 giờ của ngày và đêm, tại xích đạo nơi ngày luôn bằng đêm, được mô tả. |
|
22. As 24 reduces to 6, the 24 and the 6 must be related. There are four 6’s in 24. The four elements are suggested as well as the four “Gates to Shamballa”. Each element is a type of matter-force, and 6 is considered one of the numbers of form. From one perspective, the 6 can be understood as a very material number. |
22. Vì 24 rút gọn thành 6, nên 24 và 6 phải liên hệ với nhau. Có bốn số 6 trong 24. Điều này gợi đến bốn nguyên tố cũng như bốn “Cổng vào Shamballa”. Mỗi nguyên tố là một loại vật chất-mãnh lực, và 6 được xem là một trong các con số của hình tướng. Từ một góc nhìn, 6 có thể được thấu hiểu như một con số rất vật chất. |
|
23. From another perspective the 6 can be related to the monadic plane (the sixth counting from below upwards). The human monad (centering itself, for the time being, on the monadic plane) is a ‘resident’ of Shamballa (the reduced alpha number of which is 6). As well, the monad is a “Lord of ceaseless and persevering devotion”. As 6 is the number of devotion, the monad (in relation to its quality of devotion) is reasonably related to the 6. Shamballa, also, is a ‘centre of salvation’, and its Lord, Sanat Kumara, demonstrates the 6 through His amazingly patient devotion to the salvation of even “the last weary pilgrim”. |
23. Từ một góc nhìn khác, 6 có thể liên hệ với cõi chân thần, cõi thứ sáu nếu đếm từ dưới lên. Chân thần con người, hiện thời tự đặt trung tâm trên cõi chân thần, là một “cư dân” của Shamballa, mà số mẫu tự rút gọn của nó là 6. Đồng thời, chân thần là một “Chúa Tể của sự sùng kính không ngừng và bền bỉ”. Vì 6 là con số của sự sùng kính, nên chân thần, trong liên hệ với phẩm tính sùng kính của nó, có thể được liên hệ hợp lý với 6. Shamballa cũng là một “trung tâm cứu rỗi”, và Chúa Tể của nó, Đức Sanat Kumara, biểu lộ số 6 qua sự sùng kính kiên nhẫn kỳ diệu của Ngài đối với việc cứu rỗi ngay cả “người hành hương mệt mỏi cuối cùng”. |
|
24. The monad as it descends on its aeonial quest is a 6; the monad as it returns to its high place after completing the quest is a 9. |
24. Chân thần khi hạ xuống trong cuộc tìm kiếm kéo dài qua các đại kiếp là một số 6; chân thần khi trở về vị trí cao của nó sau khi hoàn tất cuộc tìm kiếm là một số 9. |
|
25. The Tibetan notes that the word “Shamballa” has nine letters. In the Tibetan’s occultism, the number 9 is the number of initiation, and in the completed program of initiations possible in relation to this planet, there are nine initiations. |
25. Chân sư Tây Tạng lưu ý rằng từ “Shamballa” có chín mẫu tự. Trong huyền bí học của Chân sư Tây Tạng, con số 9 là con số của điểm đạo, và trong chương trình điểm đạo hoàn tất có thể có liên quan đến hành tinh này, có chín cuộc điểm đạo. |
|
26. The other familiar spelling of Shamballa published in the English language is “Shambhala”—the title of a book by Nicholas Roerich. Interestingly, although the spelling is different from the one used by Master D.K., it, too, has nine letters. A numerological analysis of the alternative word form, “Shambhala”, however, yields quite different results. The alpha number is 65 and its sum is 11 or 2 (if one takes the liberty of summing the 11). |
26. Cách viết quen thuộc khác của Shamballa được xuất bản bằng tiếng Anh là “Shambhala” — nhan đề một quyển sách của Nicholas Roerich. Điều thú vị là, dù cách viết này khác với cách Chân sư DK dùng, nó cũng có chín mẫu tự. Tuy nhiên, phân tích số học của dạng từ thay thế “Shambhala” đem lại những kết quả khá khác. Số mẫu tự là 65, và tổng của nó là 11 hay 2, nếu người ta tự cho phép cộng tiếp số 11. |
|
27. Initiation has for its goal the relating of humanity to the will or purpose of Deity. That will or purpose, of course, has its planetary Source in Shamballa. Thus, the ninefold initiatory program has Shamballa (or some equivalent state on other planets) as its goal. |
27. Điểm đạo có mục tiêu là liên hệ nhân loại với ý chí hay mục đích của Thượng đế. Dĩ nhiên, ý chí hay mục đích ấy có Nguồn hành tinh của nó ở Shamballa. Như vậy, chương trình điểm đạo chín phân có Shamballa, hay một trạng thái tương đương nào đó trên các hành tinh khác, làm mục tiêu của nó. |
|
28. Realization of and identification with the will and purpose of Deity (which is the goal of the ninefold initiatory process) works out through the form (represented by the number 6). Thus, the Tibetan relates the 9 and the 6, making the 6 the necessary instrument of the 9. |
28. Sự nhận thức và đồng hóa với ý chí và mục đích của Thượng đế, vốn là mục tiêu của tiến trình điểm đạo chín phân, được thực hiện qua hình tướng, do con số 6 đại diện. Như vậy, Chân sư Tây Tạng liên hệ 9 và 6, biến 6 thành khí cụ tất yếu của 9. |
|
29. Something of illuminative value is given here in relation to the third initiation. We are told that a “higher process” is instituted at that initiation. In fact, at the third initiation, Shamballa is distinctly (if initially) recognized, for the monad makes its first consciously registered impact on the energy system of the third degree initiate. |
29. Ở đây có một điều có giá trị soi sáng liên quan đến lần điểm đạo thứ ba. Chúng ta được cho biết rằng một “tiến trình cao hơn” được thiết lập ở lần điểm đạo ấy. Thật vậy, ở lần điểm đạo thứ ba, Shamballa được nhận ra một cách rõ ràng, dù ban đầu, vì chân thần tạo tác động đầu tiên được ghi nhận một cách hữu thức lên hệ thống năng lượng của điểm đạo đồ cấp ba. |
|
30. A little more numerology is given relating the third initiation to Shamballa, by considering Shamballa as the third center (from the perspective of man’s recognition). Indeed, man contacts humanity first, Hierarchy second, and Shamballa third. From the point of view of Deity (working from ‘above’ to ‘below’), Shamballa is, of course, the first centre. |
30. Một ít thần số học nữa được nêu ra, liên hệ cuộc điểm đạo thứ ba với Shamballa, bằng cách xem Shamballa như trung tâm thứ ba xét từ quan điểm nhận biết của con người. Quả thật, con người tiếp xúc với nhân loại trước hết, với Thánh đoàn thứ hai, và với Shamballa thứ ba. Theo quan điểm của Thượng đế, hoạt động từ “trên” xuống “dưới”, dĩ nhiên Shamballa là trung tâm thứ nhất. |
|
31. From this perspective, and expanding the analogy, the first initiation could be related to humanity, and the second to Hierarchy. |
31. Từ viễn cảnh này, và khi mở rộng phép tương đồng, cuộc điểm đạo thứ nhất có thể được liên hệ với nhân loại, và cuộc điểm đạo thứ hai với Thánh đoàn. |
|
32. The Tibetan then relates numerology to rayology. Apparently, any of the numbers 1 through 7 can be related to corresponding rays—the number 1 to the first ray, 2 to the second ray, and so forth. |
32. Chân sư Tây Tạng sau đó liên hệ thần số học với cung học. Hiển nhiên, bất cứ con số nào từ 1 đến 7 cũng có thể được liên hệ với các cung tương ứng: số 1 với cung một, số 2 với cung hai, và cứ thế tiếp tục. |
|
33. D.K. first offers us an elevated meaning of the sixth ray: 1) “that driving force which makes mankind move forward upon the path and in response to the vision and press upward towards the light.”; 2) “devotion to an unseen goal, ever on ahead, and an unswerving recognition of the objective.” For humanity, that goal is Shamballa, ‘located’ (as far as the human monad is concerned) on the sixth subplane of the cosmic physical plane—what we call the monadic plane. |
33. Chân sư DK trước hết đưa ra cho chúng ta một ý nghĩa cao siêu của cung sáu: 1) “mãnh lực thúc đẩy khiến nhân loại tiến bước trên con đường và, để đáp ứng với tầm nhìn, vươn lên hướng về ánh sáng”; 2) “sự sùng tín đối với một mục tiêu vô hình, luôn ở phía trước, và sự nhận biết không lay chuyển về mục tiêu ấy.” Đối với nhân loại, mục tiêu đó là Shamballa, “tọa lạc”, xét theo chân thần nhân loại, trên cõi phụ thứ sáu của cõi hồng trần vũ trụ, tức điều chúng ta gọi là cõi chân thần. |
|
34. He then offers us a lower or more material interpretation of the number 6. Since 6 represents the form or manifestation, we can easily understand why 666 represents the “Beast” or materialism—the total power of the unredeemed, threefold lunar nature. |
34. Sau đó, Ngài đưa ra cho chúng ta một cách diễn giải thấp hơn hoặc có tính vật chất hơn về số 6. Vì số 6 biểu thị hình tướng hay sự biểu hiện, chúng ta có thể dễ dàng thấu hiểu vì sao 666 biểu thị “Con Thú” hay chủ nghĩa vật chất: toàn bộ quyền năng của bản chất nguyệt tinh tam phân chưa được cứu chuộc. |
|
35. We have already seen how the 6 and 9 can be arranged to suggest the supine, lunar force. Here are some thoughts which show the 6 and even the 9 relating to lower and more material forces. |
35. Chúng ta đã thấy cách số 6 và số 9 có thể được sắp xếp để gợi ý mãnh lực nguyệt tinh nằm ngửa. Sau đây là vài tư tưởng cho thấy số 6, và thậm chí số 9, liên hệ với các mãnh lực thấp hơn và vật chất hơn. |
|
Mars is closely related to the number 6. |
Sao Hỏa liên hệ mật thiết với số 6. |
|
“Mars was called the six-faced planet. (SD II. 399.) |
“Sao Hỏa được gọi là hành tinh sáu mặt. (GLBN II. 399.) |
|
Further Mars is closely associated with the sixth ray—probably its personality ray, since it is a non-sacred planet, and the rays the Tibetan gives for non-sacred planets are probably their personality rays. |
Hơn nữa, Sao Hỏa liên kết mật thiết với cung sáu, có lẽ là cung phàm ngã của nó, vì đó là một hành tinh không thiêng liêng, và các cung mà Chân sư Tây Tạng đưa ra cho những hành tinh không thiêng liêng có lẽ là các cung phàm ngã của chúng. |
|
The solar plexus center, associated with the sixth or astral plane, is ruled by sixth ray Mars and also associated with the watery Moon. |
Trung tâm tùng thái dương, liên kết với cõi thứ sáu hay cõi cảm dục, do Sao Hỏa cung sáu cai quản và cũng liên kết với Mặt Trăng thuộc tính nước. |
|
The Creative Hierarchy called the “Lunar Lords”, is the sixth of the manifested Creative Hierarchies, and is ruled by sixth ray Mars, and by Sagittarius (the zodiacal sign which presently distributes the sixth ray in the most potent form). |
Huyền Giai Sáng Tạo được gọi là “các Nguyệt Tinh Quân” là Huyền Giai Sáng Tạo thứ sáu trong số các Huyền Giai Sáng Tạo biểu hiện, và do Sao Hỏa cung sáu cai quản, cũng như do Nhân Mã, dấu hiệu hoàng đạo hiện nay phân phối cung sáu dưới hình thức mạnh mẽ nhất. |
|
Taken, together, the Lunar Lords (when unredeemed) are, indeed, the “Beast”, representing the retrogressiveness of the Moon and the rebellious aggressiveness of Mars. |
Xét chung, các Nguyệt Tinh Quân, khi chưa được cứu chuộc, quả thật là “Con Thú”, tượng trưng cho tính thoái hóa của Mặt Trăng và tính hiếu chiến phản nghịch của Sao Hỏa. |
|
Given all these meaningful associations, we can understand why the number 6 (especially when tripled as 666—and thus related to the third or matter aspect) should be symbolically indicative of the “Beast”. |
Với tất cả những liên hệ đầy ý nghĩa này, chúng ta có thể hiểu vì sao số 6, nhất là khi được nhân ba thành 666—và do đó liên hệ với phương diện thứ ba hay phương diện vật chất, lại có thể biểu thị một cách tượng trưng cho “Con Thú”. |
|
36. The 3 and the 6 are closely related, the latter being the double of the former. (Such relations exist also between the 1 and the 2, and also between the 2 and the 4.) |
36. Số 3 và số 6 liên hệ mật thiết với nhau, số sau là gấp đôi số trước. Những liên hệ như vậy cũng tồn tại giữa số 1 và số 2, cũng như giữa số 2 và số 4. |
|
37. Positively the 3 and 6 are related through the sixth initiation of Decision, which initiation is ruled by the third ray of Creative Intelligence. |
37. Theo nghĩa tích cực, số 3 và số 6 liên hệ với nhau qua cuộc điểm đạo thứ sáu của Quyết Định, cuộc điểm đạo này do cung ba của Trí Tuệ Sáng Tạo cai quản. |
|
38. Negatively, the number 3 represents materiality and material intelligence, while the 6 represents descent into form. Their combination represents intense activity in matter (3) under the impulsion of desire (6). |
38. Theo nghĩa tiêu cực, số 3 biểu thị tính vật chất và trí tuệ vật chất, trong khi số 6 biểu thị sự giáng nhập vào hình tướng. Sự kết hợp của chúng biểu thị hoạt động mãnh liệt trong vật chất, số 3, dưới xung lực của dục vọng, số 6. |
|
39. Interestingly, together they equal a 9 (in this case, a lower 9), which can be seen as counterpoising itself to the higher 9 of the completed initiation process. The number 9 is the reduced alpha number of the lower 18 subplanes. |
39. Điều thú vị là khi cộng lại, chúng bằng 9, trong trường hợp này là một số 9 thấp, có thể được xem như tự đối trọng với số 9 cao của tiến trình điểm đạo đã hoàn tất. Số 9 là con số gốc rút gọn của 18 cõi phụ thấp. |
|
40. In the ancient book on numbers the following description is full of illuminating suggestion: |
40. Trong quyển sách cổ về các con số, đoạn mô tả sau đây chứa đầy những gợi ý soi sáng: |
|
“the one who has experienced and expressed 666 and found it naught; who has dropped the 6 and become the 66, and thus has found himself upon the WAY; later, again, he drops the 6 and becomes the perfected 6—form, the instrument and expression of spirit.” |
“người đã trải nghiệm và biểu lộ 666, rồi thấy nó là hư không; người đã bỏ số 6 và trở thành 66, và như thế thấy mình ở trên ĐƯỜNG ĐẠO; về sau, một lần nữa, y bỏ số 6 và trở thành số 6 hoàn thiện: hình tướng, khí cụ và biểu hiện của tinh thần.” |
|
The initiate has exhausted lower desire, finding the 666 as naught—i.e., as worthless. He is no longer captivated by the tendencies of any of the lower three vehicles (each of which is a kind of 6). The 666 sums to 18 which represents the lower 18 subplanes or fires. (“Let the group see that all the eighteen fires die down”—Rule IV) |
Điểm đạo đồ đã tận cùng hóa dục vọng thấp, thấy 666 là hư không, tức là vô giá trị. Y không còn bị mê hoặc bởi các khuynh hướng của bất cứ vận cụ nào trong ba vận cụ thấp, mỗi vận cụ đều là một loại số 6. 666 cộng lại thành 18, biểu thị 18 cõi phụ hay 18 ngọn lửa thấp. “Hãy để nhóm thấy rằng toàn bộ mười tám ngọn lửa lắng xuống” — Quy luật IV. |
|
When he drops a 6 from the 666, it is not that he simply; drops a focus on the physical elemental and focusses on the astral plane. Rather, as the 66, he becomes the soul or, at least, comes under the guidance of the soul. The 66 sums to 12, which is a number easily related to the “heart and soul”, for the heart center has 12 petals and the Egoic Lotus, also, has 12 petals. The 12 sums to 3 which is the number of the “Triangle”, and souls are called the “Triangles”. |
Khi y bỏ một số 6 khỏi 666, không phải y chỉ đơn giản bỏ sự tập trung vào tinh linh thể xác và tập trung vào cõi cảm dục. Đúng hơn, với tư cách là 66, y trở thành linh hồn, hoặc ít nhất đi vào dưới sự hướng dẫn của linh hồn. 66 cộng lại thành 12, một con số dễ liên hệ với “trái tim và linh hồn”, vì trung tâm tim có 12 cánh hoa và Hoa Sen Chân Ngã cũng có 12 cánh hoa. 12 cộng lại thành 3, là con số của “Tam Giác”, và các linh hồn được gọi là “các Tam Giác”. |
|
When yet another 6 is dropped, the initiate becomes the perfected 6. He is the monad in expression. The monad is resident upon the sixth plane and works through vehicles found on five ‘lower’ planes (atmic, buddhic, manasic, astral and etheric-physical). Summing the planes, we find that the monad-in-(full) expression can be considered the “perfected 6”. In this way, man becomes the six-pointed star. |
Khi một số 6 nữa được bỏ đi, điểm đạo đồ trở thành số 6 hoàn thiện. Y là chân thần trong sự biểu hiện. Chân thần cư ngụ trên cõi thứ sáu và hoạt động qua các vận cụ có trên năm cõi “thấp” hơn: atma, Bồ đề, manas, cảm dục và dĩ thái-hồng trần. Khi cộng các cõi lại, chúng ta thấy rằng chân thần trong sự biểu hiện trọn vẹn có thể được xem là “số 6 hoàn thiện”. Theo cách này, con người trở thành ngôi sao sáu cánh. |
|
Sometime the six-pointed star is considered a symbol lower than the five-pointed star, but in this higher case, the five-pointed star can be seen as the symbol of the soul and the six-pointed star as the symbol of the monad in expression. Together the 6 and 5 form the 11, the number representing the initiate and by extension Spiritual Hierarchy of Masters, and also representing the sign Aquarius (the eleventh sign), which, of all signs, is the one most associated with the Hierarchy (essentially an Aquarian Brotherhood). |
Đôi khi ngôi sao sáu cánh được xem là một biểu tượng thấp hơn ngôi sao năm cánh, nhưng trong trường hợp cao hơn này, ngôi sao năm cánh có thể được xem là biểu tượng của linh hồn, còn ngôi sao sáu cánh là biểu tượng của chân thần trong sự biểu hiện. Cùng nhau, số 6 và số 5 tạo thành 11, con số biểu thị điểm đạo đồ và, theo nghĩa mở rộng, Huyền Giai Tinh Thần gồm các Chân sư, đồng thời cũng biểu thị dấu hiệu Bảo Bình, dấu hiệu thứ mười một, là dấu hiệu liên hệ nhiều nhất với Thánh đoàn, về bản chất là một Huynh đệ đoàn Bảo Bình. |
|
C. The numerological significance of the number 24 (esoteric numerology). (cf. RI, p. 80 |
C. Ý nghĩa thần số học của số 24, thần số học nội môn. (x. RI, tr. 80 |
|
The number 24 is of deep interest, expressing as it does the double 12—the greater and the lesser zodiac. Just as the number 6 expresses space, so the number 24 expresses time, and is the key to the great cycle of manifestation. It is the clue to all cyclic appearance or incarnation. Its two figures define the method of evolution; 2 equals the quality of love-wisdom, working under the Law of Attraction and drawing man from one point of attainment to another; whilst 4 indicates the technique of conflict and the achieving of harmony through that conflict; 4 is also the number of the human hierarchy, and 2 is the number of the spiritual hierarchy. Technically speaking, until the third initiation, the initiate is “occupied with the relationship of the 2 and the 4; these, when placed side by side, connote relation; and when placed the one above the other, the initiate passes from the 4 into the 2.” Needless to say, there is much more to say anent these figures, but the above will suffice to show the satisfactory nature of esoteric numerology—not numerology as understood today. |
Số 24 có sự quan tâm sâu xa, vì nó biểu lộ số 12 kép: hoàng đạo lớn và hoàng đạo nhỏ. Cũng như số 6 biểu lộ không gian, số 24 biểu lộ thời gian, và là chìa khóa của đại chu kỳ biểu hiện. Nó là manh mối của mọi sắc tướng hay sự lâm phàm theo chu kỳ. Hai chữ số của nó xác định phương pháp tiến hoá; 2 bằng phẩm tính Bác Ái – Minh Triết, hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn và kéo con người từ một điểm thành tựu này sang một điểm thành tựu khác; trong khi 4 chỉ ra kỹ thuật xung đột và việc đạt được hài hòa thông qua xung đột ấy; 4 cũng là con số của huyền giai nhân loại, và 2 là con số của Huyền Giai Tinh Thần. Nói theo kỹ thuật, cho đến lần điểm đạo thứ ba, điểm đạo đồ “bận tâm với mối liên hệ giữa 2 và 4; khi đặt cạnh nhau, chúng hàm ý mối liên hệ; và khi đặt số này ở trên số kia, điểm đạo đồ chuyển từ 4 vào 2.” Không cần phải nói, còn nhiều điều hơn nữa để nói về các con số này, nhưng những điều trên đủ để cho thấy bản chất thỏa đáng của thần số học nội môn, chứ không phải thần số học như người ta hiểu ngày nay. |
|
1. The very first sentence is replete with occult significance. The Tibetan suggests that 24 is a deeply interesting number. The double 12 can have a number of meanings. The two heart centers—the twelvefold heart center between the shoulder blades and the twelvefold heart center within the crown chakra—are a kind of higher and lower 12. The relationship of these two must be consummated in the life of the initiate. To relate them is rather like relating Hierarchy (heart) to Shamballa (head). In a way, Shamballa is both a heart and a head, representing as it does the first ray (in relation to the planet) and the second ray (because of its direct relation to our second ray Solar Logos). |
1. Ngay câu đầu tiên đã đầy ý nghĩa huyền bí. Chân sư Tây Tạng gợi ý rằng 24 là một con số hết sức đáng quan tâm. Số 12 kép có thể có nhiều ý nghĩa. Hai trung tâm tim: trung tâm tim mười hai cánh giữa hai xương bả vai và trung tâm tim mười hai cánh trong luân xa đỉnh đầu, là một loại 12 cao và 12 thấp. Mối liên hệ giữa hai trung tâm này phải được hoàn tất trong đời sống của điểm đạo đồ. Liên hệ chúng phần nào giống như liên hệ Thánh đoàn, trái tim, với Shamballa, đầu. Theo một cách nào đó, Shamballa vừa là trái tim vừa là đầu, vì nó biểu thị cung một, trong liên hệ với hành tinh, và cung hai, do liên hệ trực tiếp của nó với Thái dương Thượng đế cung hai của chúng ta. |
|
2. Some theorists (see the work of Stephen Pugh) relate the number 24 directly to our Solar Logos, citing the second ray soul and personality of that Logos and hypothesizing a fourth ray monad for that great Being. |
2. Một số nhà lý thuyết, xem công trình của Stephen Pugh, liên hệ trực tiếp số 24 với Thái dương Thượng đế của chúng ta, viện dẫn linh hồn và phàm ngã cung hai của Thượng đế ấy, đồng thời giả định một chân thần cung bốn cho Thực Thể vĩ đại đó. |
|
3. The Solar Logos (whatever His monadic ray may be—and, of course, the fourth is a reasonable possibility) is not yet strongly expressing as a monad, and will not until His next solar system). Rather, He is expressing as soul and personality. Thus the number 2 is of utmost importance to Him. Of Him, it can be justly said, “God is Love”. |
3. Thái dương Thượng đế, bất kể cung chân thần của Ngài là gì, và dĩ nhiên cung bốn là một khả năng hợp lý, hiện chưa biểu lộ mạnh mẽ như một chân thần, và sẽ chưa như vậy cho đến hệ mặt trời kế tiếp của Ngài. Đúng hơn, Ngài đang biểu lộ như linh hồn và phàm ngã. Do đó, số 2 có tầm quan trọng tối thượng đối với Ngài. Về Ngài, có thể nói một cách chính đáng rằng: “Thượng đế là Tình thương”. |
|
4. The Solar Logos/Sun is, then, a 2, and Mercury is a 4. The 24 suggests the familiar occult phrase “Mercury and the Sun are one”, and tells us something about the completed antahkarana—which (for practical and relatively immediate purposes) ends in Shamballa with the monad as its higher terminus. |
4. Vậy Thái dương Thượng đế/Mặt Trời là số 2, và Sao Thủy là số 4. Số 24 gợi lên cụm từ huyền bí quen thuộc “Sao Thủy và Mặt Trời là một”, và cho chúng ta biết điều gì đó về antahkarana đã hoàn tất, vốn, theo các mục đích thực tiễn và tương đối gần trước mắt, kết thúc ở Shamballa với chân thần là điểm tận cùng cao hơn của nó. |
|
5. From another perspective, the monad is a 2 and humanity (the fourth Creative Hierarchy) a 4. The number 24 tells us something about the completion of human destiny, when the human race (4) rejoins its monad (2). We must remember that the monad is found upon the 2nd plane as well as upon the 6th (depending upon the point from which we begin to count). Interestingly, when humanity has completed its evolution, its soul and personality ray will be 2 and 4 respectively, rather than 4 and 5 as are now the case. |
5. Từ một viễn cảnh khác, chân thần là số 2 và nhân loại, Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, là số 4. Số 24 cho chúng ta biết điều gì đó về sự hoàn tất vận mệnh nhân loại, khi nhân loại, số 4, tái hợp với chân thần của mình, số 2. Chúng ta phải nhớ rằng chân thần được tìm thấy trên cõi thứ hai cũng như trên cõi thứ sáu, tùy vào điểm mà từ đó chúng ta bắt đầu đếm. Điều thú vị là khi nhân loại hoàn tất tiến hoá của mình, cung linh hồn và cung phàm ngã của nó sẽ lần lượt là 2 và 4, thay vì 4 và 5 như hiện nay. |
|
6. What are the “greater and lesser zodiac”? In the Teaching there are some contrasting answers. One answer suggests the duality of the twelvefold zodiac of constellations and the twelvefold zodiac of “signs” (representing those constellations). From another perspective, the greater zodiac consists of the constellations/signs, and the lesser of the twelve houses or mansions of the horoscope. Yet another important perspective suggests that the Platonic Year (with its approximately 25,000 year retrogressive, clockwise sweep through the twelve constellations) represents the greater zodiac, while the planet’s yearly sweep through the twelve signs is the lesser zodiac. |
6. “Hoàng đạo lớn và hoàng đạo nhỏ” là gì? Trong Giáo huấn có một số câu trả lời tương phản. Một câu trả lời gợi ý tính nhị nguyên của hoàng đạo mười hai chòm sao và hoàng đạo mười hai “dấu hiệu”, tức đại diện cho các chòm sao ấy. Từ một viễn cảnh khác, hoàng đạo lớn gồm các chòm sao/dấu hiệu, còn hoàng đạo nhỏ gồm mười hai nhà hay dinh trong lá số chiêm tinh. Một viễn cảnh quan trọng khác nữa gợi ý rằng Năm Plato, với vòng quét nghịch chiều, theo chiều kim đồng hồ, kéo dài khoảng 25.000 năm qua mười hai chòm sao, biểu thị hoàng đạo lớn, trong khi vòng quét hằng năm của hành tinh qua mười hai dấu hiệu là hoàng đạo nhỏ. |
|
7. There are really a number of convincing pairs of 12’s. There are, for instance, all manner of ‘higher hearts’ and ‘lower hearts’, and many are the twelvefold lotuses arranged hierarchically with respect to each other. Think for a moment of the twelvefold heart center between the shoulder blades, surmounted by the twelvefold heart within the head, surmounted by the twelvefold Egoic Lotus, surmounted by a monad which may be twelvefold, surmounted by a twelvefold Lotus of the Planetary Logos, surmounted by the twelvefold Lotus of the Solar Logos, and so forth. We can begin to see why the Tibetan considers the number 24 one of “deep interest. |
7. Thật ra có nhiều cặp số 12 rất thuyết phục. Chẳng hạn, có đủ loại “trái tim cao” và “trái tim thấp”, và có nhiều hoa sen mười hai cánh được sắp xếp theo trật tự huyền giai đối với nhau. Hãy suy nghĩ trong chốc lát về trung tâm tim mười hai cánh giữa hai xương bả vai, được vượt lên bởi trái tim mười hai cánh trong đầu, được vượt lên bởi Hoa Sen Chân Ngã mười hai cánh, được vượt lên bởi một chân thần có thể là mười hai cánh, được vượt lên bởi Hoa Sen mười hai cánh của Hành Tinh Thượng đế, được vượt lên bởi Hoa Sen mười hai cánh của Thái dương Thượng đế, và cứ thế tiếp tục. Chúng ta có thể bắt đầu thấy vì sao Chân sư Tây Tạng xem số 24 là một con số “có sự quan tâm sâu xa”. |
|
8. The Tibetan continues to elaborate His approach to esoteric numerology. He tells us that 6 “expresses space” and 24 “expresses time” being the “key to the great cycle of manifestation” and the “clue to all cyclic appearance and incarnation”. Well might we ponder on these statements—for a long time. |
8. Chân sư Tây Tạng tiếp tục triển khai cách tiếp cận của Ngài đối với thần số học nội môn. Ngài cho chúng ta biết rằng số 6 “biểu lộ không gian” và số 24 “biểu lộ thời gian”, là “chìa khóa của đại chu kỳ biểu hiện” và là “manh mối của mọi sắc tướng và sự lâm phàm theo chu kỳ”. Chúng ta rất nên suy ngẫm về những phát biểu này trong một thời gian dài. |
|
9. The 6 is certainly related to the “cube of space” and defines the six directions: up, down, left, right, before, behind. Time-space (as we know them) would not exist, had not the monad (the 1) occultly added itself to the 5 (the five planes ‘beneath’ it) and produced the creature which demonstrates its life upon six planes—the human being. From another perspective, the monad is the 1 surrounded by the 6; in this configuration the monad would express through the threefold triad/soul and the threefold personality. |
9. Số 6 chắc chắn liên hệ với “khối lập phương của không gian” và xác định sáu hướng: trên, dưới, trái, phải, trước, sau. Không-thời gian, như chúng ta biết, sẽ không tồn tại nếu chân thần, số 1, không huyền bí thêm chính nó vào số 5, năm cõi “bên dưới” nó, và tạo ra sinh thể biểu lộ sự sống của mình trên sáu cõi: con người. Từ một viễn cảnh khác, chân thần là số 1 được bao quanh bởi số 6; trong cấu hình này, chân thần sẽ biểu lộ qua Tam nguyên tinh thần/linh hồn tam phân và phàm ngã tam phân. |
|
10. It is important to realize that space can be considered a “perception” or internal psychological phenomenon, and may not exist in itself, or “out there”. The number 6 is a number of sentiency, connecting the Self and not-Self, and making sentient registration possible. If space is a perception based upon sentiency, then any faculty which promotes sentient registration promotes the appearance of “space”. |
10. Điều quan trọng là nhận ra rằng không gian có thể được xem là một “tri giác” hay hiện tượng tâm lý nội tại, và có thể không tồn tại tự nó, hay “ở ngoài kia”. Số 6 là con số của năng lực cảm tri, nối kết Ngã và phi-ngã, và khiến sự ghi nhận cảm tri trở nên khả hữu. Nếu không gian là một tri giác dựa trên năng lực cảm tri, thì bất cứ năng lực nào thúc đẩy sự ghi nhận cảm tri cũng thúc đẩy sự xuất hiện của “không gian”. |
|
11. Form and space are inseparable. When the perception of form exists so does the perception of space. The number 6 is the number of both form and space—or so we are told. |
11. Hình tướng và không gian không thể tách rời. Khi tri giác về hình tướng hiện hữu, tri giác về không gian cũng hiện hữu. Số 6 là con số của cả hình tướng lẫn không gian, hoặc chúng ta được dạy như vậy. |
|
12. In English the word “six” is related to “sex” (simply through vowel substitution). But, it is also meaningfully related, as the sixth member of the six-pointed star represents the sexual organs which (when activated) produce generation and form. From this perspective, the six-pointed star includes sexuality and the five-pointed (associated with Sanat Kumara and initiation) represents celibacy, for the sixth member has been removed. One has only to think of the battles between Narada and the Ancestral/Lunar Deities (as presented in The Secret Doctrine). Sanat Kumara was on the side of celibacy; He was a representative of five-pointed Venus rather than the Moon, with its insistence on generation and on the tending of the ancestral fires (leading to the generation and perpetuation of the lower form). |
12. Trong tiếng Anh, từ “six” liên hệ với “sex”, đơn giản qua sự thay đổi nguyên âm. Nhưng nó cũng liên hệ đầy ý nghĩa, vì thành phần thứ sáu của ngôi sao sáu cánh biểu thị các cơ quan sinh dục, vốn khi được kích hoạt sẽ tạo ra sinh sản và hình tướng. Từ viễn cảnh này, ngôi sao sáu cánh bao gồm tính dục, còn ngôi sao năm cánh, liên kết với Đức Sanat Kumara và điểm đạo, biểu thị sự độc thân, vì thành phần thứ sáu đã được loại bỏ. Chỉ cần nghĩ đến các cuộc chiến giữa Narada và các Thần linh Tổ tiên/Nguyệt tinh, như được trình bày trong Giáo Lý Bí Nhiệm. Đức Sanat Kumara đứng về phía sự độc thân; Ngài là đại diện của Sao Kim năm cánh hơn là Mặt Trăng, với sự nhấn mạnh của nó vào sinh sản và vào việc chăm nom các ngọn lửa tổ tiên, dẫn đến sự sinh thành và duy trì hình tướng thấp. |
|
13. Form, generation, manifestation, sex, space—all these are related. In English the F, O and X all represent the 6, and each can be related to one of the three major aspects of divinity: F to the third ray and specifically generation; the all-inclusive O to the second ray and the obliterative X to the first ray. Is there any meaning in the fact that, taken together, they spell the word “FOX”? To what ray is the fox related? |
13. Hình tướng, sinh sản, biểu hiện, tính dục, không gian: tất cả những điều này đều liên hệ với nhau. Trong tiếng Anh, các chữ F, O và X đều biểu thị số 6, và mỗi chữ có thể được liên hệ với một trong ba phương diện chính của thiên tính: F với cung ba và đặc biệt là sinh sản; O bao gồm tất cả với cung hai; và X xóa bỏ với cung một. Có ý nghĩa nào trong sự kiện rằng khi ghép lại, chúng tạo thành từ “FOX”, tức “cáo”, chăng? Con cáo liên hệ với cung nào? |
|
14. The concept of Time is perhaps more difficult to understand than the concept of Space. The number 24 is related to time. As a conventional symbol of this relationship, we see that humanity has chosen to divide the day and night into 24 segments. This cannot, however, be an arbitrary choice. There are 60 minutes in an hour and 24 hours. There are thus 1440 minutes in a day—a number which immediately invites close analysis, for the related number, 144,000 is a consummating number—the “number of the saved” (for which the average fundamentalistic Christian has an interesting misinterpretation). The number 144 can also be derived from 12 times 12 times 10. The following numerological reference pertains: |
14. Khái niệm Thời Gian có lẽ khó thấu hiểu hơn khái niệm Không Gian. Số 24 liên hệ với thời gian. Như một biểu tượng quy ước của mối liên hệ này, chúng ta thấy nhân loại đã chọn chia ngày và đêm thành 24 phần. Tuy nhiên, điều này không thể là một lựa chọn tùy tiện. Có 60 phút trong một giờ và 24 giờ. Như vậy có 1440 phút trong một ngày, một con số lập tức mời gọi phân tích kỹ lưỡng, vì con số liên hệ, 144.000, là một con số viên mãn: “con số của những người được cứu”, điều mà người Ki-tô giáo bảo căn trung bình có một cách diễn giải sai lệch thú vị. Số 144 cũng có thể được suy ra từ 12 nhân 12 nhân 10. Tham chiếu thần số học sau đây có liên quan: |
|
“Symbolically also, if the sum total of the forty-eight petals of the five centres is added to the ninety-six petals of the centre between the eyebrows, the number one hundred and forty-four appears. This number signifies the completed work of the twelve creative Hierarchies, twelve times twelve, and thus the bringing together of the subjective soul and the [Page 200] objective body in perfect union and at-one-ment. This is the consummation. To these figures, one hundred and forty-four add that of the number one thousand (the number of the petals in the lotus of the head centre) and you have the number of the saved in the Book of Revelations, the one hundred and forty-four thousand who can stand before God, for the three ciphers which are found indicate the personality. When man has completed within himself the great work, when the number one hundred and forty-four thousand is seen as symbolising his point of attainment, then he can stand before God—standing now not only before the Angel of the Presence, but before the very Presence Itself.” (TWM 199-200) |
“Về mặt biểu tượng cũng vậy, nếu tổng số bốn mươi tám cánh hoa của năm trung tâm được cộng với chín mươi sáu cánh hoa của trung tâm giữa hai lông mày, thì xuất hiện con số một trăm bốn mươi bốn. Con số này biểu thị công việc đã hoàn tất của mười hai Huyền Giai Sáng Tạo, mười hai nhân mười hai, và do đó là sự quy tụ linh hồn chủ quan và thể khách quan trong sự hợp nhất hoàn hảo và sự hiệp nhất. Đây là sự viên mãn. Với các con số này, một trăm bốn mươi bốn, hãy cộng thêm con số một nghìn, số cánh hoa trong hoa sen của trung tâm đầu, và các bạn có con số của những người được cứu trong Sách Khải Huyền, một trăm bốn mươi bốn nghìn người có thể đứng trước Thượng đế, vì ba số không được tìm thấy biểu thị phàm ngã. Khi con người đã hoàn tất trong chính mình công trình vĩ đại, khi con số một trăm bốn mươi bốn nghìn được thấy là biểu tượng cho điểm thành tựu của y, bấy giờ y có thể đứng trước Thượng đế, lúc này không chỉ đứng trước Thiên Thần của Hiện Diện, mà trước chính Đấng Hiện Diện.” (TWM 199-200) |
|
The two 12’s when multiplied and producing 144, symbolize the completion of the cycle of development. (The 144 summed equals 9, and thus “completion”.) The 12 is also a symbol of completion zodiacally, for the 12th sign is Pisces, the last sign. The soul is a 12 and the “saving” monad, too, can be considered a 12. When soul/triad and monad are related, they are a 24, and the cycle of development is concluded. The 12 of the monad added to the 12 of the triad/soul are a 24. The 12 of the monad multiplied by the 12 of the soul is 144. When three ciphers are added (for each of the personality vehicles), the consummating number of completion—144,000—is derived. |
Hai số 12, khi được nhân lên và tạo ra 144, tượng trưng cho sự hoàn tất của chu kỳ phát triển. 144 cộng lại bằng 9, và do đó là “sự hoàn tất”. Số 12 cũng là biểu tượng của sự hoàn tất theo hoàng đạo, vì dấu hiệu thứ mười hai là Song Ngư, dấu hiệu cuối cùng. Linh hồn là một số 12, và chân thần “cứu rỗi” cũng có thể được xem là một số 12. Khi linh hồn/Tam nguyên tinh thần và chân thần được liên hệ, chúng là 24, và chu kỳ phát triển kết thúc. Số 12 của chân thần cộng với số 12 của Tam nguyên tinh thần/linh hồn là 24. Số 12 của chân thần nhân với số 12 của linh hồn là 144. Khi ba số không được thêm vào, mỗi số cho một trong các vận cụ phàm ngã, con số viên mãn của sự hoàn tất, 144.000, được suy ra. |
|
15. Relating 24 to Time in a still deeper way (though not yet discerning the fundamental reason why there should be such a relation), we note that the number of seconds in the archetypal day of 12 hours is 43200 (12 hours times 60 minutes time 60 seconds). The 432 alerts us immediately to deeper implications. The three lower rows of the Tetraktys are the 4, 3 and 2, summing to 9, with the single dot above, representing 10 and thus, again, the 1. The highest dot of the Tetraktys remains untouched by the repeating cycles of 9. It can be seen as symbolizing the Unmanifested Logos. |
15. Khi liên hệ 24 với Thời Gian theo một cách còn sâu hơn, dù vẫn chưa phân biện được lý do nền tảng vì sao phải có một mối liên hệ như vậy, chúng ta ghi nhận rằng số giây trong ngày nguyên mẫu 12 giờ là 43.200, tức 12 giờ nhân 60 phút nhân 60 giây. Con số 432 lập tức cảnh báo chúng ta về những hàm ý sâu xa hơn. Ba hàng thấp của Tứ linh số là 4, 3 và 2, cộng lại thành 9, với một điểm đơn ở trên, biểu thị 10 và do đó, một lần nữa, là 1. Điểm cao nhất của Tứ linh số vẫn không bị chạm đến bởi các chu kỳ lặp lại của số 9. Nó có thể được xem là biểu tượng của Thượng đế Không Biểu Hiện. |
|
16. In the 4, 3 and 2 are to be found the major musical ratios which define the structure not only of music but of cosmos (that very ‘musical’ Creation). For instance: a) 2/3 and 3/2 represent the interval of the 5th, the dominant; b) 3/4 and 4/3 represent the 4th, the subtonic; c) 2/4 and 4/2 are really in a ratio of 1/2and 2/1 and represent the octave. These three intervals: the octave, fifth and fourth are foundational. |
16. Trong các số 4, 3 và 2 có thể tìm thấy những tỷ lệ âm nhạc chính yếu xác định cấu trúc không chỉ của âm nhạc mà còn của vũ trụ, tức Cuộc Sáng Tạo rất “âm nhạc” ấy. Chẳng hạn: a) 2/3 và 3/2 biểu thị quãng năm, âm át; b) 3/4 và 4/3 biểu thị quãng bốn, âm dưới chủ; c) 2/4 và 4/2 thật ra ở tỷ lệ 1/2 và 2/1, biểu thị quãng tám. Ba quãng này: quãng tám, quãng năm và quãng bốn, là nền tảng. |
|
17. Therefore, if the 432 is important in relation to Time, and important also in relation to music, then music and Time are related.:Since the time/duration of any of the four Yugas compared to each other (taken two at a time) yield the ratios 1/2 (Kali to Dwapara), 2/3 (Dwapara to Treta), 1 /3 (musically, resolving as a 3/2—Kali to Treta), 2/4 (Dwapara to Krita), 3 /4 (Treta to Krita), and 1/4 (representing two octaves—Kali to Krita), then each of the pairs of compared Yugas can be related to one the fundamental musical intervals (for this is no ratio above which is not a basic interval (describing either an octave, a fifth or a fourth). As a result, evolutionary progress through the Yugas could be likened to a chord progression. From the Kali Yuga to the Dwapara Yuga would be the interval of an octave; from Dwapara to Treta would be the interval of the fifth; from Treta to Krita would be the interval of the fourth. If we move sequentially and progressively from Yuga to Yuga (by musical interval) we will cover exactly two octaves: (The fundamental tone, followed by an octave, followed by a fifth, followed by a fourth—with the fourth taking us to a vibratory position two octaves above the fundamental tone). |
17. Do đó, nếu 432 quan trọng trong liên hệ với Thời Gian, và cũng quan trọng trong liên hệ với âm nhạc, thì âm nhạc và Thời Gian có liên hệ với nhau. Vì thời gian/thời lượng của bất cứ kỷ nguyên nào trong bốn kỷ nguyên khi so sánh với nhau, từng cặp một, tạo ra các tỷ lệ 1/2, từ Mạt kỳ đến Đồng kỳ; 2/3, từ Đồng kỳ đến Bạc kỳ; 1/3, về mặt âm nhạc được giải quyết thành 3/2, từ Mạt kỳ đến Bạc kỳ; 2/4, từ Đồng kỳ đến Hoàng kim kỳ; 3/4, từ Bạc kỳ đến Hoàng kim kỳ; và 1/4, biểu thị hai quãng tám, từ Mạt kỳ đến Hoàng kim kỳ, thì mỗi cặp kỷ nguyên được so sánh đều có thể được liên hệ với một trong những quãng âm nhạc nền tảng, vì trong đây không có tỷ lệ nào không phải là một quãng cơ bản, mô tả hoặc một quãng tám, một quãng năm, hoặc một quãng bốn. Kết quả là, tiến bộ thăng thượng tiến hoá qua các kỷ nguyên có thể được ví như một tiến trình hợp âm. Từ Mạt kỳ đến Đồng kỳ sẽ là quãng tám; từ Đồng kỳ đến Bạc kỳ sẽ là quãng năm; từ Bạc kỳ đến Hoàng kim kỳ sẽ là quãng bốn. Nếu chúng ta di chuyển tuần tự và tiến bộ từ kỷ nguyên này sang kỷ nguyên khác, theo quãng âm nhạc, chúng ta sẽ bao phủ đúng hai quãng tám: chủ âm, tiếp theo là một quãng tám, tiếp theo là một quãng năm, tiếp theo là một quãng bốn, với quãng bốn đưa chúng ta đến một vị trí rung động cao hơn chủ âm hai quãng tám. |
|
18. When looking at the mortal years included in any of the four Yugas on page 39 of A Treatise on Cosmic Fire, we note that the duration of the shortest Yuga, the Kali Yuga is 432,000. If we multiply the figure 43,200 (the number of seconds in an archetypal day of 12 hours) by 10, we derive the number of years in the Kali Yuga. |
18. Khi xem xét số năm nhân gian được bao gồm trong bất cứ kỷ nguyên nào trong bốn kỷ nguyên ở trang 39 của Luận về Lửa Vũ Trụ, chúng ta ghi nhận rằng thời lượng của kỷ nguyên ngắn nhất, Mạt kỳ, là 432.000 năm. Nếu nhân con số 43.200, số giây trong một ngày nguyên mẫu 12 giờ, với 10, chúng ta suy ra số năm trong Mạt kỳ. |
|
19. If we double 43,200 we get 86,400 (the number of seconds in a complete day and night of 24 hours). But 86,400 multiplied by 10 is the number of mortal years in the Dwapara Yuga. The other two Yugas of 1,296,000 and 1,728,000 mortal years, are derived by continuing to add 432,000 to the number of mortal years in the Yuga numerically preceding them. (The order in which the Yugas elapse however, is apparently: Krita, Treta, Dwapara, Kali. The Kali Yuga (the duration of which is a multiple of all other Yugas) is, nevertheless, the last to occur in the sequence.) |
19. Nếu chúng ta nhân đôi 43.200, chúng ta được 86.400 (số giây trong một ngày đêm trọn vẹn 24 giờ). Nhưng 86.400 nhân với 10 là số năm phàm trần trong Kỷ nguyên Dwapara. Hai Kỷ nguyên còn lại, gồm 1.296.000 và 1.728.000 năm phàm trần, được suy ra bằng cách tiếp tục cộng 432.000 vào số năm phàm trần trong Kỷ nguyên đứng trước chúng về mặt số học. (Tuy nhiên, trật tự các Kỷ nguyên diễn ra dường như là: Krita, Treta, Dwapara, Kali. Dẫu vậy, Kỷ nguyên Kali (có thời lượng là bội số của mọi Kỷ nguyên khác) lại là Kỷ nguyên cuối cùng xuất hiện trong chuỗi.) |
|
20. When the mortal years of all four Yugas are summed, we arrive at another figure in which the 432 is prominent—namely, 4,320,000 mortal years, the number of years in a Maha Yuga. The reduced alpha number of each of the four Yugas is 9, as is the reduced alpha number of the Maha Yuga. The serpent swallows its own tail. |
20. Khi cộng số năm phàm trần của cả bốn Kỷ nguyên, chúng ta đi đến một con số khác trong đó 432 nổi bật—tức là 4.320.000 năm phàm trần, số năm trong một Đại Kỷ nguyên. Số chữ cái rút gọn của mỗi trong bốn Kỷ nguyên là 9, cũng như số chữ cái rút gọn của Đại Kỷ nguyên là 9. Con rắn nuốt chính đuôi của nó. |
|
21. All these time-figures are fundamentally related to the 12 and the 24. Although the precise key and its esoteric rationale may be difficult to discern, we can see how the anciently given numbers which pertain to the time periods of fundamental solar-systemic cycles are related to the 12 and the 24. |
21. Tất cả những con số thời gian này về căn bản đều liên hệ với 12 và 24. Dù chìa khóa chính xác và cơ sở huyền bí của nó có thể khó phân biện, chúng ta vẫn có thể thấy các con số được trao truyền từ cổ xưa, liên quan đến những chu kỳ căn bản của hệ mặt trời, liên hệ với 12 và 24 như thế nào. |
|
22. The number 14 is as important as the 12. The same reference cited from A Treatise on Cosmic Fire (pp. 39-40) proceeds to combine the 12 and 14, by deriving a time period representing the reign of 14 Manus. The number of the Maha Yuga (related to the 432, which is related to the 12 and hence to the 24) is multiplied by 71 and then by 994 (into which 14 divides 71 times) 14 to determine this reign. |
22. Con số 14 cũng quan trọng như 12. Đoạn tham chiếu vừa được trích từ Luận về Lửa Vũ Trụ (tr. 39-40) tiếp tục kết hợp 12 và 14, bằng cách suy ra một chu kỳ thời gian biểu thị triều đại của 14 Đức Manu. Con số của Đại Kỷ nguyên (liên hệ với 432, vốn liên hệ với 12 và do đó với 24) được nhân với 71 rồi nhân với 994 (mà 14 chia hết 71 lần) 14 để xác định triều đại này. |
|
23. In numerology the 7, 9, 10, 12 and 14 all represent certain types of completion, and a way must be found to compare these numbers to each other meaningfully. |
23. Trong số học, 7, 9, 10, 12 và 14 đều biểu thị một vài kiểu hoàn tất nhất định, và cần tìm ra một phương cách để so sánh những con số này với nhau một cách có ý nghĩa. |
|
24. Probably the intelligences on other planets would represent these vast cycles differently. The “mortal year” of each planet varies with its period around the Sun. It is extremely geocentric to consider the Earth year a sufficient measure for the lives on all planets of our solar system. Yet, for us, on this planet, it will suffice. We want to know the durations of great universal cycles relative to cycles with which we are familiar—the most familiar, observable (and non-arbitrary cycles) being the day and the year. |
24. Có lẽ các trí tuệ trên những hành tinh khác sẽ biểu thị các chu kỳ bao la này theo cách khác. “Năm phàm trần” của mỗi hành tinh thay đổi tùy theo chu kỳ của nó quanh Mặt Trời. Xem năm của Trái Đất là một thước đo đủ cho các sự sống trên mọi hành tinh trong hệ mặt trời của chúng ta là một cách nhìn cực kỳ địa tâm. Tuy nhiên, đối với chúng ta, trên hành tinh này, điều đó là đủ. Chúng ta muốn biết thời lượng của các chu kỳ vũ trụ lớn trong tương quan với những chu kỳ mà chúng ta quen thuộc—những chu kỳ quen thuộc nhất, có thể quan sát được (và không tùy tiện) là ngày và năm. |
|
25. The Tibetan then enters a discussion concerning the relation of the 2 and the 4 to the method of human evolution. The 2 represents the technique of love which “draws” the evolving life forward and onward; the 4 represents the technique of conflict leading to eventual harmony. Both are necessary for the human evolutionary process to succeed. |
25. Chân sư Tây Tạng sau đó đi vào một cuộc bàn luận về mối liên hệ của 2 và 4 với phương pháp tiến hoá của con người. Số 2 biểu thị kỹ thuật của tình thương, kỹ thuật “lôi kéo” sự sống đang tiến hoá tiến lên và đi tới; số 4 biểu thị kỹ thuật của xung đột dẫn đến hài hòa sau cùng. Cả hai đều cần thiết để tiến trình thăng thượng tiến hoá của nhân loại thành công. |
|
26. From an astrological perspective, the 2 represents the soul ray of Jupiter and the benevolence of the generously bestowing Spiritual Hierarchy; the 4 represents the soul ray of Mercury (ruler of humanity) and the process of “harmony through conflict” evident in the Fourth Creative Hierarchy (in which human beings find their place). |
26. Từ góc nhìn chiêm tinh học, số 2 biểu thị cung linh hồn của Sao Mộc và lòng nhân từ của Huyền Giai Tinh Thần vốn ban phát một cách quảng đại; số 4 biểu thị cung linh hồn của Sao Thủy (chủ tinh của nhân loại) và tiến trình “hài hòa qua xung đột” hiển hiện trong Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư (trong đó con người tìm thấy vị trí của mình). |
|
27. From another perspective, the 2 and the 4 are the ray numbers associated with the Mutable Cross, with Gemini and Virgo begin esoterically ruled by Mercury, distributing the fourth ray, and Sagittarius and Pisces being ruled by Jupiter, distributing the second ray. Upon that Cross, the majority of human evolution proceeds under these two rays—one of conflict resulting in harmony, and the other of fulfilment. Only during the latter phases of evolution is there a transfer to the Fixed Cross, making a greater variety of rays readily available to the disciple/initiate. |
27. Từ một góc nhìn khác, 2 và 4 là những con số cung liên hệ với Thập Giá Biến đổi, với Song Tử và Xử Nữ được Sao Thủy cai quản một cách huyền bí, phân phối cung bốn, còn Nhân Mã và Song Ngư được Sao Mộc cai quản, phân phối cung hai. Trên Thập Giá ấy, phần lớn tiến hoá của nhân loại diễn ra dưới hai cung này—một cung của xung đột đưa đến hài hòa, và cung kia của sự viên mãn. Chỉ trong những giai đoạn sau của tiến hoá mới có sự chuyển dịch sang Thập Giá Cố Định, khiến một sự đa dạng lớn hơn của các cung trở nên sẵn có cho đệ tử/điểm đạo đồ. |
|
28. The Tibetan tells us that “until the third initiation, the initiate is occupied with the relation of the 2 and the 4…”. This is understandable. The fourth kingdom of nature, the human, operating mostly upon the fourth ray is seeking to become soul-infused, which is largely accomplished by the third initiation at which time the soul is in a dominating position. The soul, of course, resonates to the number 2, as the soul expresses principally the second ray and is the second of three periodical vehicles. During and after the third initiation, the number 1 will come into some degree of prominence, for the monad (representing the first aspect of divinity—no matter what may be its actual ray) comes into increasing prominence at that time. |
28. Chân sư Tây Tạng cho chúng ta biết rằng “cho đến lần điểm đạo thứ ba, điểm đạo đồ bận tâm với mối liên hệ của 2 và 4…”. Điều này có thể thấu hiểu được. Giới thứ tư của thiên nhiên, tức nhân loại, hoạt động phần lớn trên cung bốn, đang tìm cách trở thành phàm ngã được linh hồn thấm nhuần, điều này phần lớn được hoàn thành vào lần điểm đạo thứ ba, khi linh hồn ở vị thế chi phối. Dĩ nhiên, linh hồn cộng hưởng với con số 2, vì linh hồn chủ yếu biểu lộ cung hai và là vận cụ tuần hoàn thứ hai trong ba vận cụ. Trong và sau lần điểm đạo thứ ba, con số 1 sẽ bắt đầu nổi bật ở một mức độ nào đó, vì chân thần (đại diện cho phương diện thứ nhất của thiên tính—bất kể cung thực sự của nó là gì) lúc ấy ngày càng trở nên nổi bật. |
|
29. Of the 2 and the 4 Master D.K. say, “these, when placed side by side, connote relation; and when placed the one above the other, the initiate passes from the 4 into the 2.” In saying this, He introduces us to yet another aspect of esoteric numerology—a method we might call ‘numerical positioning’. It is not merely which numbers are related, but how they are arranged in space—side-by-side, above, below, etc. |
29. Về 2 và 4, Chân sư DK nói: “những con số này, khi được đặt cạnh nhau, hàm ý mối liên hệ; và khi đặt số này ở trên số kia, điểm đạo đồ đi từ 4 vào 2.” Khi nói như vậy, Ngài giới thiệu với chúng ta một phương diện khác nữa của số học nội môn—một phương pháp mà chúng ta có thể gọi là “định vị số học”. Vấn đề không chỉ là những con số nào liên hệ với nhau, mà còn là chúng được sắp xếp như thế nào trong không gian—cạnh nhau, ở trên, ở dưới, v.v. |
|
30. Were the 4 to be placed above the 2, is would represent the dominance of the principle of conflict over the principle of love. In a way, it would be Mars placed above Venus. (However, we might have to consider such an arrangement as related to the number 42 rather than 24.) It would surely be possible to find a way to relate pairs of numbers as follows: for instance, 12 could be related to 21; 25 to 52; 34 to 43, etc. |
30. Nếu số 4 được đặt trên số 2, nó sẽ biểu thị sự thống trị của nguyên khí xung đột đối với nguyên khí tình thương. Theo một cách nào đó, đó sẽ là Sao Hỏa được đặt trên Sao Kim. (Tuy nhiên, có lẽ chúng ta phải xem cách sắp xếp như vậy là liên hệ với con số 42 hơn là 24.) Chắc chắn có thể tìm ra một cách để liên hệ các cặp số như sau: chẳng hạn, 12 có thể liên hệ với 21; 25 với 52; 34 với 43, v.v. |
|
31. The 2 positioned above the 4 represents consummation. The 4 is drawn into the 2, the personality into the soul. From the Mars/Venus perspective, Mars would be drawn into Venus, the peace radiated by the soul would prevail. |
31. Số 2 được đặt trên số 4 biểu thị sự viên thành. Số 4 được thu hút vào số 2, phàm ngã vào linh hồn. Từ góc nhìn Sao Hỏa/Sao Kim, Sao Hỏa sẽ được thu hút vào Sao Kim, và sự bình an do linh hồn tỏa chiếu sẽ thắng thế. |
|
32. Side-by-side, the 2 and 4 as 24 would represent the relation of the soul and personality, with neither dominant. |
32. Khi đặt cạnh nhau, 2 và 4 dưới dạng 24 sẽ biểu thị mối liên hệ giữa linh hồn và phàm ngã, không bên nào chi phối. |
|
33. If we consider the ‘circle of inclusivity’ as a second ray symbol and the “cross of matter” as indicative (in some measure) of the fourth ray, three symbols involving the circle and cross can be related to the three positions suggested for the numbers 2 and 4: 1) the cross above the circle (symbolizing Mars); 2) the cross within the circle (symbolizing Earth); 3) and the cross below the circle (symbolizing Venus). |
33. Nếu chúng ta xem “vòng tròn của tính bao gồm” như một biểu tượng cung hai và “thập giá của vật chất” như chỉ dấu (ở một mức độ nào đó) của cung bốn, thì ba biểu tượng liên quan đến vòng tròn và thập giá có thể được liên hệ với ba vị trí được gợi ý cho các con số 2 và 4: 1) thập giá ở trên vòng tròn (biểu tượng cho Sao Hỏa); 2) thập giá bên trong vòng tròn (biểu tượng cho Trái Đất); 3) và thập giá ở dưới vòng tròn (biểu tượng cho Sao Kim). |
|
34. My impression is that the Tibetan (without overly elaborating the matter) has given us certain fundamental hints from that ancient book of numbers, and left it to us to enlarge upon the subject. Would this not be a good project or thesis to be presented in occult universities of the future? |
34. Ấn tượng của tôi là Chân sư Tây Tạng (không khai triển vấn đề quá mức) đã trao cho chúng ta một số gợi ý căn bản từ quyển sách cổ xưa ấy về các con số, và để chúng ta tự mở rộng chủ đề. Chẳng phải đây sẽ là một đề án hay luận đề tốt để trình bày trong các đại học huyền bí của tương lai sao? |
|
D. The numerological significance of the figures 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 (esoteric numerology). (cf. RI. p. 80-81) |
D. Ý nghĩa số học của các số 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 (số học nội môn). (xem RI, tr. 80-81) |
|
I would have you note that the sounds which compose the word “Shamballa” are predominantly along the line of will or power or of first ray energy. Of the nine letters, six are on the first ray line of force. 1.1.1.3.3.1.—spirit and matter, will and intelligence. Two of them are along the second line of force, 4 and 2. The number 8 inaugurates ever a new cycle, following after the number 7, which is that of a relative perfection. It is the number of the Christ-consciousness; just as 7 is the number of man, 8 is the [Page 81] number of the Hierarchy, and 9 is the number of initiation or of Shamballa. Forget not that, from the angle of the Hierarchy, the third initiation is regarded as the first major initiation. |
Tôi muốn các bạn lưu ý rằng những âm thanh cấu thành từ “Shamballa” chủ yếu đi theo tuyến ý chí hay quyền năng, hoặc năng lượng cung một. Trong chín chữ cái, sáu chữ cái nằm trên tuyến mãnh lực cung một. 1.1.1.3.3.1.—tinh thần và vật chất, ý chí và trí tuệ. Hai chữ cái trong số đó đi theo tuyến mãnh lực thứ hai, 4 và 2. Con số 8 luôn luôn khai mở một chu kỳ mới, theo sau con số 7, vốn là con số của một sự hoàn thiện tương đối. Đó là con số của tâm thức Đức Christ; cũng như 7 là con số của con người, 8 là [Page 81] con số của Thánh Đoàn, và 9 là con số của điểm đạo hay của Shamballa. Đừng quên rằng, từ góc nhìn của Thánh Đoàn, lần điểm đạo thứ ba được xem là lần điểm đạo chính yếu thứ nhất. |
|
1. D.K. now undertakes an analysis of the individual letters in the word, “Shamballa”. Note that he calls the letters “sounds”, thereby giving an equivalence to sounds and numbers. |
1. Chân sư DK giờ đây tiến hành phân tích từng chữ cái trong từ “Shamballa”. Hãy lưu ý rằng Ngài gọi các chữ cái là “âm thanh”, qua đó trao cho âm thanh và con số một sự tương đương. |
|
2. Division into odd and even numbers is related to a division between hard line rays and soft line rays. The rays 1, 3, 5, 7 are on the hard line, and the numbers 1, 3, 5, 7, 9 are “along the line of will or power or of first ray energy”. The “soft-line” rays are 2, 4, 6, and the numbers 2, 4, 6, 8 are considered to be “along the second line of force”. |
2. Sự phân chia thành số lẻ và số chẵn liên hệ với sự phân chia giữa các cung tuyến cứng và các cung tuyến mềm. Các cung 1, 3, 5, 7 thuộc tuyến cứng, và các số 1, 3, 5, 7, 9 “đi theo tuyến ý chí hay quyền năng, hoặc năng lượng cung một”. Các cung “tuyến mềm” là 2, 4, 6, và các số 2, 4, 6, 8 được xem là “đi theo tuyến mãnh lực thứ hai”. |
|
3. While the number 8 and 9 cannot be placed among the seven rays, they can be related to will or love lines of energy. In the word, “Shamballa”, the 8 is, however, in a category of its own, because all other letters have a reduced alpha number which can be represented as one of the seven rays—i.e., all the other letters have a number less than or equal to 7 (though, in fact, there are no 7’s, 6’s or 5’s). |
3. Dù các số 8 và 9 không thể được đặt trong bảy cung, chúng vẫn có thể được liên hệ với các tuyến năng lượng ý chí hoặc tình thương. Tuy nhiên, trong từ “Shamballa”, số 8 thuộc một phạm trù riêng, vì tất cả các chữ cái khác đều có một số chữ cái rút gọn có thể được biểu thị như một trong bảy cung—tức là, mọi chữ cái khác đều có một con số nhỏ hơn hoặc bằng 7 (mặc dù trên thực tế không có số 7, số 6 hay số 5 nào). |
|
4. We have been speaking much of the 2 and the 4. Notice that these two numbers are included within the word, “Shamballa”, which also sums to 24. |
4. Chúng ta đã nói nhiều về 2 và 4. Hãy lưu ý rằng hai con số này được bao hàm trong từ “Shamballa”, từ này cũng cộng lại thành 24. |
|
5. We note that 6 letters/sounds are on the first ray line of force: 1.1.1.3.3.1. no doubt some significance could be made of this. The four 1’s seem important, as the systemic planes which comprise Shamballa are the higher four (buddhic, atmic, monadic and logoic), and there are four “gates to Shamballa”. Are these “gates” the four cosmic ethers? |
5. Chúng ta lưu ý rằng 6 chữ cái/âm thanh nằm trên tuyến mãnh lực cung một: 1.1.1.3.3.1. Hẳn có thể rút ra một ý nghĩa nào đó từ điều này. Bốn số 1 dường như quan trọng, vì các cõi hệ thống bao gồm Shamballa là bốn cõi cao hơn (Bồ đề, atma, chân thần và thượng đế), và có bốn “cổng vào Shamballa”. Phải chăng những “cổng” này là bốn dĩ thái vũ trụ? |
|
6. Other than the number 8 (the number of the Christ-consciousness and of the Hierarchy), there are no numbers greater than 4. There are four 1’s, one 2, two 3’s and one 4. Again, this is interesting considering Shamballa’s ‘location’ on the four etheric planes of the cosmic physical plane. |
6. Ngoài con số 8 (con số của tâm thức Đức Christ và của Thánh Đoàn), không có con số nào lớn hơn 4. Có bốn số 1, một số 2, hai số 3 và một số 4. Một lần nữa, điều này thú vị khi xét đến “vị trí” của Shamballa trên bốn cõi dĩ thái của cõi hồng trần vũ trụ. |
|
7. Some very interesting numerological information follows. This information is not complete, as elsewhere in His books, D.K. gives other and contrasting number assignments. Eleven, for instance, is considered the number of the initiate. Not only is 7 the number of man, but so is 5 (TWM 199) and also 9 (EA 264). We can see how the number 5 represents the man of the first solar system (the Brahmic system, the number of which was 5); how 7 represents the man of this (second) solar system (the number of which is 7) and how 9 (though applicable to man because it is from one perspective, the number of his Creative Hierarchy) will also be applicable to the man of the next and third solar system (the number of which will be 9). |
7. Một số thông tin số học rất thú vị tiếp theo sau. Thông tin này không đầy đủ, vì ở những nơi khác trong các sách của Ngài, Chân sư DK đưa ra những sự gán số khác và có tính tương phản. Chẳng hạn, 11 được xem là con số của điểm đạo đồ. Không chỉ 7 là con số của con người, mà 5 cũng vậy (TWM 199) và 9 cũng vậy (EA 264). Chúng ta có thể thấy con số 5 biểu thị con người của hệ mặt trời thứ nhất (hệ Brahma, có con số là 5) như thế nào; 7 biểu thị con người của hệ mặt trời (thứ hai) này (có con số là 7) như thế nào; và 9 (dù áp dụng cho con người vì, từ một góc nhìn, đó là con số của Huyền Giai Sáng Tạo của y) cũng sẽ áp dụng cho con người của hệ mặt trời kế tiếp và thứ ba (có con số sẽ là 9) như thế nào. |
|
8. Seven is the number of relative perfection and 10 is the actual number of perfection. For every 7 there is a 10. There are, for instance, seven Sephiroth beneath the crowning Trinity of three (Kether, Chochma and Binah). |
8. Bảy là con số của sự hoàn thiện tương đối, và 10 là con số thực sự của sự hoàn thiện. Với mỗi 7 đều có một 10. Chẳng hạn, có bảy biểu lộ thiêng liêng bên dưới Tam Vị đăng quang gồm ba (Vương Miện, Minh Triết và Thông Hiểu). |
|
9. Eight is the number of both the Christ-consciousness and of the Hierarchy. Implied in this number is a circulation between related dualities—a flow between two circles (which can represent spirit and matter). The 8 represents also the possible of harmoniously relating the pairs of opposites. There are many important energy flows in the body which follow the conformation of the figure 8. The configuration of petals in chakras, and the two petals of the ajna center are such flows. The flow of the antahkarana may also be in the form of related figure 8’s. |
9. Tám là con số của cả tâm thức Đức Christ lẫn Thánh Đoàn. Hàm ẩn trong con số này là một sự lưu chuyển giữa các nhị nguyên liên hệ—một dòng chảy giữa hai vòng tròn (có thể biểu thị tinh thần và vật chất). Số 8 cũng biểu thị khả năng liên hệ hài hòa các cặp đối cực. Có nhiều dòng năng lượng quan trọng trong thể đi theo hình thái của số 8. Cấu hình các cánh hoa trong các luân xa, và hai cánh hoa của trung tâm ajna, là những dòng chảy như vậy. Dòng chảy của antahkarana cũng có thể ở dạng những số 8 liên hệ với nhau. |
|
10. We also note that 9 is considered the/a number of Shamballa. We have seen already that both 24 and 6 are considered numbers related to Shamballa. Because Shamballa (or an equivalent level) represents the major planetary goal (eventually) for all forms of life on Earth, and since the 9th initiation is the initiation of completion, it is fitting that one of the Shamballic numbers be 9. |
10. Chúng ta cũng lưu ý rằng 9 được xem là con số, hoặc một con số, của Shamballa. Chúng ta đã thấy rằng cả 24 và 6 đều được xem là những con số liên hệ với Shamballa. Vì Shamballa (hoặc một cấp độ tương đương) biểu thị mục tiêu hành tinh chính yếu (cuối cùng) cho mọi hình tướng sự sống trên Trái Đất, và vì lần điểm đạo thứ chín là điểm đạo của sự hoàn tất, nên thật thích hợp khi một trong những con số Shamballa là 9. |
|
11. Perhaps much can be intuited by adding certain numbers together. If we add the 9 of Shamballa to the 8 of Hierarchy to the 7 of present humanity, we arrive at 24 (again the number of Shamballa). All is Shamballa. There is a Trinity here, but it is a “Three-in-One”. |
11. Có lẽ có thể trực giác được nhiều điều bằng cách cộng một số con số lại với nhau. Nếu chúng ta cộng 9 của Shamballa với 8 của Thánh Đoàn và 7 của nhân loại hiện tại, chúng ta đi đến 24 (một lần nữa là con số của Shamballa). Tất cả là Shamballa. Ở đây có một Ba Ngôi, nhưng đó là “Ba-trong-Một”. |
|
12. Another line of approach would use division and multiplication: for instance, in the 24 of Shamballa, there are 12 dyads, 8 triplicities, 6 quadruplicities, four hexagons or 6’s, and three octagons or 8’s, and 2 dodecagons or 12’s. These must be structurally significant. |
12. Một đường tiếp cận khác sẽ dùng phép chia và phép nhân: chẳng hạn, trong số 24 của Shamballa, có 12 cặp đôi, 8 bộ ba, 6 bộ bốn, bốn lục giác hay các số 6, ba bát giác hay các số 8, và 2 thập nhị giác hay các số 12. Những điều này hẳn có ý nghĩa về mặt cấu trúc. |
|
13. If the number 8 “ever inaugurates a new cycle”, we can think of this inauguration within the context of the 12 of the zodiacal round. Within the 12 are a 7 and a 5. After the completion of the 7 with Libra, then Scorpio, the 8th sign, may inaugurate an activity (in 5 stages) which leads to the final consummation of Pisces, the 12th sign. While the 7 will often be seen as higher or more developed than the 5, zodiacally, the 7 represent a process leading to a decision for emancipation, achieved through the instrumentality of the last 5 signs, and impulsed from Scorpio. |
13. Nếu con số 8 “luôn luôn khai mở một chu kỳ mới”, chúng ta có thể nghĩ về sự khai mở này trong bối cảnh 12 của vòng hoàng đạo. Trong 12 có 7 và 5. Sau sự hoàn tất của 7 với Thiên Bình, thì Hổ Cáp, dấu hiệu thứ tám, có thể khai mở một hoạt động (trong 5 giai đoạn) dẫn đến sự viên thành cuối cùng của Song Ngư, dấu hiệu thứ mười hai. Dù 7 thường được xem là cao hơn hay phát triển hơn 5, xét theo hoàng đạo, 7 biểu thị một tiến trình dẫn đến quyết định giải thoát, đạt được qua phương tiện của 5 dấu hiệu cuối cùng, và được thúc đẩy từ Hổ Cáp. |
|
14. From another perspective, Mars is a well-known inaugurator. The first series of 7 was inaugurated by Mars in relation to Aries (which Mars rules); the last series of 5 is inaugurated by Mars in relation to Scorpio (which it rules). |
14. Từ một góc nhìn khác, Sao Hỏa là một tác nhân khai mở nổi tiếng. Chuỗi đầu tiên gồm 7 được Sao Hỏa khai mở trong liên hệ với Bạch Dương (mà Sao Hỏa cai quản); chuỗi cuối cùng gồm 5 được Sao Hỏa khai mở trong liên hệ với Hổ Cáp (mà nó cai quản). |
|
15. The Tibetan is just lifting the veil slightly on a profound subject which may be one of the major keys to the great Science of Relations. I have always thought of numerology as the most fundamental science—more fundamental than astrology or rayology. The Great Numbers are, it would seem, the Archetypal Universal Entities, and all things derive from Them and their combined relationships. |
15. Chân sư Tây Tạng chỉ đang vén nhẹ bức màn trên một chủ đề sâu xa, có thể là một trong những chìa khóa chính yếu của Khoa Học vĩ đại về các Mối Liên Hệ. Tôi luôn nghĩ về số học như khoa học căn bản nhất—căn bản hơn cả chiêm tinh học hay cung học. Dường như các Con Số Vĩ Đại là các Thực Thể Vũ Trụ Nguyên Mẫu, và mọi sự đều phát sinh từ Các Ngài cùng những mối liên hệ phối hợp của Các Ngài. |
|
E. Number gives the clue to the form and purpose of the life which the form veils. (cf. RI, p. 81) |
E. Con số trao chìa khóa cho hình tướng và mục đích của sự sống mà hình tướng che phủ. (xem RI, tr. 81) |
|
At the third major initiation, the third planetary initiation (which is in fact the first solar initiation), the liberated disciple for the first time—alone and unaided—invokes the highest spiritual centre on our planet, Shamballa. (cf. RI, p. 81) |
Ở lần điểm đạo chính yếu thứ ba, lần điểm đạo hành tinh thứ ba (thực ra là lần điểm đạo thái dương thứ nhất), lần đầu tiên người đệ tử đã giải thoát—một mình và không trợ giúp—khẩn cầu trung tâm tinh thần cao nhất trên hành tinh chúng ta, Shamballa. (xem RI, tr. 81) |
|
These preliminary remarks are intended to convey much esoteric information to those who realise that number gives the clue to the form and purpose of the life which the form veils. At the third major initiation, the third planetary initiation (which is in fact the first solar initiation), the liberated disciple for the first time—alone and unaided—invokes the highest spiritual centre on our planet, Shamballa. This he does because, for the first time, consciously and with understanding, he registers the life aspect (which has brought his soul into action through the medium of form) and vibrates to the Monad. That registration enables him to contact “the bright centre, lying far ahead,” to blend his individual will with the divine will, and to cooperate with the purpose aspect of manifestation. He has learnt to function through form; he has become aware, as a soul, of the divine form in its many aspects and differentiations; he now starts off upon the way of the higher unfoldment, of which the first step is contact with Shamballa, involving the fusion of his self-will and his spiritual will with the Will of God. |
Những nhận xét sơ bộ này nhằm truyền đạt nhiều thông tin huyền bí cho những ai nhận ra rằng con số trao chìa khóa cho hình tướng và mục đích của sự sống mà hình tướng che phủ. Ở lần điểm đạo chính yếu thứ ba, lần điểm đạo hành tinh thứ ba (thực ra là lần điểm đạo thái dương thứ nhất), lần đầu tiên người đệ tử đã giải thoát—một mình và không trợ giúp—khẩn cầu trung tâm tinh thần cao nhất trên hành tinh chúng ta, Shamballa. Y làm điều này vì, lần đầu tiên, một cách có ý thức và với sự thấu hiểu, y ghi nhận phương diện sự sống (phương diện đã đưa linh hồn của y vào hoạt động qua trung gian của hình tướng) và rung động với Chân thần. Sự ghi nhận ấy cho phép y tiếp xúc với “trung tâm rực sáng, nằm xa phía trước”, hòa trộn ý chí cá nhân của y với Ý Chí thiêng liêng, và hợp tác với phương diện mục đích của sự biểu hiện. Y đã học cách hoạt động qua hình tướng; với tư cách một linh hồn, y đã trở nên nhận biết hình tướng thiêng liêng trong nhiều phương diện và biến phân của nó; giờ đây y bắt đầu bước lên con đường của sự khai mở cao siêu hơn, mà bước đầu tiên là tiếp xúc với Shamballa, bao hàm sự dung hợp ý chí bản ngã và ý chí tinh thần của y với Ý Chí của Thượng Đế. |
|
1. We learn that “number gives the clue to the form and the purpose of the live within the form veils”. If the higher three points of a five-pointed star can be called “Sat”, “Chit” and “Ananda”—Being, Consciousness, Bliss, then the lower two points (upon which the star stands) can be called “Nama” and “Rupa”—Name and Form. Name and Number are equivalent and give the key to the form. |
1. Chúng ta học được rằng “con số trao chìa khóa cho hình tướng và mục đích của sự sống mà hình tướng che phủ”. Nếu ba điểm cao hơn của một ngôi sao năm cánh có thể được gọi là “Hữu Thể”, “Tâm thức” và “Chí phúc”, thì hai điểm thấp hơn (trên đó ngôi sao đứng vững) có thể được gọi là “Danh” và “Sắc”—Tên gọi và Hình tướng. Tên gọi và Con số là tương đương và trao chìa khóa cho hình tướng. |
|
2. But number also discloses essential purpose. Purpose is numerical. The greatest secret of any E/entity is contained in its number. The Universal Trinity are the Numbers One, Two and Three. Their Number is Their essential Identity. |
2. Nhưng con số cũng mặc khải mục đích thiết yếu. Mục đích là số học. Bí mật lớn nhất của bất cứ Thực Thể/thực thể nào cũng được chứa đựng trong con số của nó. Tam Vị Vũ Trụ là các Con Số Một, Hai và Ba. Con Số của Các Ngài là Bản Sắc thiết yếu của Các Ngài. |
|
3. As aggregated human beings, our numbers, here ‘below’ are much more complex because they are so far removed from the Original Integers. We have begun to speak of our identity in terms of numbers when we study the seven rays. Each of our vehicles has its number. But this type of numbering is simply the “tip of the iceberg”. The numerosity of our identity is complex in the extreme. Every part of our nature can be numbered—atoms, molecules, cells, organs, body parts and their correspondences in our subtle vehicles. The resultant number (comprised of many groups of numbers) sums to our quality. In the world of occultism, quantity is quality. We will have to leave the exact numbers to the Lords of Karma Who are consummate Mathematicians. Our task is simply to grasp the principle and some of the simpler relationships. |
3. Với tư cách những con người hợp thành, các con số của chúng ta, ở “bên dưới” này, phức tạp hơn nhiều vì chúng quá xa các Số Nguyên Thủy. Chúng ta đã bắt đầu nói về bản sắc của mình theo ngôn ngữ các con số khi nghiên cứu bảy cung. Mỗi vận cụ của chúng ta đều có con số của nó. Nhưng kiểu đánh số này chỉ là “phần nổi của tảng băng”. Tính số lượng của bản sắc chúng ta phức tạp đến cực độ. Mọi phần trong bản chất chúng ta đều có thể được đánh số—nguyên tử, phân tử, tế bào, cơ quan, các bộ phận của thể và những tương ứng của chúng trong các vận cụ vi tế của chúng ta. Con số kết quả (được cấu thành từ nhiều nhóm số) tổng hợp thành phẩm tính của chúng ta. Trong thế giới huyền bí học, lượng là phẩm. Chúng ta sẽ phải để các con số chính xác cho các Đấng Nghiệp Quả, Các Ngài là những Nhà Toán Học viên mãn. Nhiệm vụ của chúng ta chỉ là nắm bắt nguyên lý và một số mối liên hệ đơn giản hơn. |
|
4. In the following section, D.K. calls the third initiation “the third major initiation”. Sometimes He does this. At other times He calls the third initiation “the first major initiation”. There are two kinds of minor initiations (initiations concerning the elements and, also, the normally discussed initiations which we recognize by name). Sometimes the first and second initiations (“initiations of the threshold”) are called minor initiations, or it is inferred that they are not “major”. In this paragraph, these first two planetary initiations (the “Birth” and the “Baptism”) are called “major” |
4. Trong đoạn sau, Chân sư DK gọi lần điểm đạo thứ ba là “lần điểm đạo chính yếu thứ ba”. Đôi khi Ngài làm như vậy. Những lúc khác, Ngài gọi lần điểm đạo thứ ba là “lần điểm đạo chính yếu thứ nhất”. Có hai loại điểm đạo phụ (các điểm đạo liên quan đến các nguyên tố, và cả những điểm đạo thường được bàn đến mà chúng ta nhận biết bằng tên gọi). Đôi khi lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai (“các điểm đạo của ngưỡng cửa”) được gọi là các điểm đạo phụ, hoặc được hàm ý là không “chính yếu”. Trong đoạn này, hai lần điểm đạo hành tinh đầu tiên này (“Giáng Sinh” và “Rửa Tội”) được gọi là “chính yếu”. |
|
5. We learn that the third degree initiate is capable of invoking Shamballa for the first time. By invoking the monad, the third degree initiate is also invoking Shamballa. Touching the monad one touches Shamballa. |
5. Chúng ta học được rằng điểm đạo đồ cấp ba lần đầu tiên có khả năng khẩn cầu Shamballa. Bằng cách khẩn cầu chân thần, điểm đạo đồ cấp ba cũng đang khẩn cầu Shamballa. Chạm đến chân thần là chạm đến Shamballa. |
|
6. What is the relationship of the initiate of the third degree with the monad and Shamballa at the critical moment of that initiation? We learn that he/she can register the life aspect “consciously and with understanding”. Hitherto, he/she may have been influenced by the life aspect, but conscious registration may have lacked. Even if there had been conscious registration, most probably understanding lacked. Now both (consciousness and understanding) are present in relation to the life-aspect, monad, Shamballa. We can understand that such a moment would be momentous. |
6. Mối liên hệ của điểm đạo đồ cấp ba với chân thần và Shamballa vào khoảnh khắc then chốt của lần điểm đạo ấy là gì? Chúng ta học được rằng y có thể ghi nhận phương diện sự sống “một cách có ý thức và với sự thấu hiểu”. Trước đó, y có thể đã chịu ảnh hưởng của phương diện sự sống, nhưng sự ghi nhận có ý thức có thể còn thiếu. Ngay cả nếu đã có sự ghi nhận có ý thức, rất có thể sự thấu hiểu vẫn còn thiếu. Giờ đây cả hai (tâm thức và sự thấu hiểu) đều hiện diện trong liên hệ với phương diện sự sống, chân thần, Shamballa. Chúng ta có thể thấu hiểu rằng một khoảnh khắc như vậy sẽ hệ trọng đến mức nào. |
|
7. At the third degree, the initiate “vibrates to the monad”. Perhaps there have been those moments in our lives when we have suspected that we have vibrated to the monad. Perhaps, such great spiritual festivals as the Wesak Festival, subjectively shared with a vast international community of seekers, servers and initiates on inner and outer planes, have been the occasion of such moments. |
7. Ở cấp ba, điểm đạo đồ “rung động với chân thần”. Có lẽ trong đời sống của mình, chúng ta đã có những khoảnh khắc khi chúng ta ngờ rằng mình đã rung động với chân thần. Có lẽ những đại lễ hội tinh thần như Lễ Wesak, được chia sẻ một cách chủ quan với một cộng đồng quốc tế rộng lớn gồm những người tìm đạo, người phụng sự và điểm đạo đồ trên các cõi bên trong và bên ngoài, đã là dịp cho những khoảnh khắc như vậy. |
|
8. We learn that unless we are approaching the third degree we are not really capable of evoking Shamballa. Or if we do manage a kind of evocation, our consciousness or understanding may be insufficient to register any possible impact. We can, however, think in terms of Shamballa, learn about it, envision it, and in group formation aspire towards it. And, of course, we can invoke it, remaining open to the possibility of a registered impact or evocation. We must remember that even at the second degree, the aspect of will is making its present felt, and so the monad is becoming active in relation to the personality. Such an impact is, however, probably not recognized or understood for what it is. |
8. Chúng ta học được rằng nếu chưa tiến gần đến cấp ba, chúng ta không thật sự có khả năng gợi lên Shamballa. Hoặc nếu chúng ta thực hiện được một kiểu gợi lên nào đó, tâm thức hay sự thấu hiểu của chúng ta có thể không đủ để ghi nhận bất cứ tác động nào có thể có. Tuy nhiên, chúng ta có thể suy nghĩ về Shamballa, học hỏi về Shamballa, hình dung Shamballa, và trong đội hình nhóm khát vọng hướng về Shamballa. Và dĩ nhiên, chúng ta có thể khẩn cầu Shamballa, vẫn mở ra với khả năng có một tác động hay sự gợi lên được ghi nhận. Chúng ta phải nhớ rằng ngay cả ở cấp hai, phương diện ý chí cũng đang làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận, và vì vậy chân thần đang trở nên hoạt động trong liên hệ với phàm ngã. Tuy nhiên, tác động như vậy có lẽ không được nhận ra hay thấu hiểu đúng với bản chất của nó. |
|
9. The Tibetan is marking the third initiation as the beginning of the “Way of Higher Evolution”. The very first step upon that Higher Way is contact with Shamballa. This contact must represent a great launching, propelling force. |
9. Chân sư Tây Tạng đang đánh dấu lần điểm đạo thứ ba như sự khởi đầu của “Con đường Tiến Hóa Cao Siêu”. Bước đầu tiên trên Con Đường Cao Siêu ấy là tiếp xúc với Shamballa. Sự tiếp xúc này hẳn biểu thị một lực phóng lớn lao, thúc đẩy tiến tới. |
|
10. What sort of merging occurs with this first consciously understood contact? It is a merging of the self-will with the spiritual-will with the Will of God—though, obviously, a very preliminary merging where the Will of God is concerned. |
10. Loại hợp nhất nào xảy ra với sự tiếp xúc đầu tiên được thấu hiểu một cách hữu thức này? Đó là sự hợp nhất của ý chí bản ngã với ý chí tinh thần với Ý Chí của Thượng Đế—dĩ nhiên, là một sự hợp nhất rất sơ khởi xét theo Ý Chí của Thượng Đế. |
|
11. At this point (the third degree), the initiate is truly touching the monadic plane. This means that a touch of buddhi and atma must also have been his. The true origin or spiritual will is the atmic plane. The Divine Will or the Will of God emanates from the monadic plane (at the least). I think we can see how lofty are the contacts required at the third degree, and how easy it is to overestimate one’s readiness for those contacts. |
11. Ở điểm này, lần điểm đạo thứ ba, điểm đạo đồ thật sự chạm đến cõi chân thần. Điều này có nghĩa là y hẳn cũng đã có một chạm đến Bồ đề và atma. Nguồn gốc đích thực, hay ý chí tinh thần, là cõi atma. Ý Chí thiêng liêng hay Ý Chí của Thượng Đế phát xuất từ cõi chân thần, ít nhất là như vậy. Chúng ta có thể thấy những tiếp xúc cần có ở lần điểm đạo thứ ba cao siêu đến mức nào, và việc đánh giá quá cao sự sẵn sàng của mình đối với những tiếp xúc ấy dễ dàng đến đâu. |
|
12. Until the time of the third degree, the probationary initiate has concentrated upon serving the Divine Plan—a task sufficiently difficult to call for all he/she has to give. At the third degree it becomes possible “to cooperate with the Purpose aspect of manifestation”.. |
12. Cho đến thời điểm của lần điểm đạo thứ ba, điểm đạo đồ dự bị đã tập trung vào việc phụng sự Thiên Cơ thiêng liêng—một nhiệm vụ đủ khó để đòi hỏi tất cả những gì y có thể hiến dâng. Ở lần điểm đạo thứ ba, việc “hợp tác với phương diện Thiên Ý của sự biểu hiện” trở nên khả dĩ. |
|
13. How many of us have differentiated between registering and working with Plan and registering and working with Purpose? The latter is surely far beyond us, for the most part. But perhaps some registration of Purpose is possible, IF we can see comprehensively and into the distant future. Only the intuition will reveal some glimmer of the destined Pattern to be achieved by our Planetary or Solar Logos. An understanding of Divine Purpose requires the ability to hold many levels of the divine manifestation in consciousness simultaneously—beings great and small, levels high and low. If a sufficiently comprehensive and clear image is sustained for some length of time, perhaps the notion of why and whither will suddenly dawn. Perhaps a glimmer of a combined human, planetary and solar destiny will impress the consciousness. |
13. Có bao nhiêu người trong chúng ta đã phân biệt giữa việc ghi nhận và hoạt động với Thiên Cơ, với việc ghi nhận và hoạt động với Thiên Ý? Phần sau chắc chắn, phần lớn, còn vượt xa chúng ta. Nhưng có lẽ một sự ghi nhận nào đó về Thiên Ý là khả dĩ, nếu chúng ta có thể nhìn một cách bao quát và hướng vào tương lai xa. Chỉ trực giác mới mặc khải một tia sáng le lói nào đó của mô hình định mệnh mà Hành Tinh Thượng đế hay Thái dương Thượng đế của chúng ta phải thành tựu. Việc thấu hiểu Thiên Ý đòi hỏi khả năng giữ đồng thời nhiều cấp độ của sự biểu hiện thiêng liêng trong tâm thức—các hữu thể lớn và nhỏ, các cấp độ cao và thấp. Nếu một hình ảnh đủ bao quát và rõ ràng được duy trì trong một khoảng thời gian, có lẽ ý niệm về lý do và hướng đi sẽ bất chợt ló dạng. Có lẽ một tia sáng le lói về định mệnh kết hợp của nhân loại, hành tinh và thái dương sẽ in dấu lên tâm thức. |
|
14. The whole inquiry could be facilitated by such as simple question as “What is the Purpose of it all”? No facile answer should be allowed, however. First answers may well be ready-made and superficial. One would have to stay with the question, enduringly, while holding the breadth and detail of the big picture. Then—who knows?…. |
14. Toàn bộ cuộc khảo cứu có thể được hỗ trợ bởi một câu hỏi đơn giản như: “Mục đích của tất cả điều này là gì?” Tuy nhiên, không nên chấp nhận một câu trả lời dễ dãi. Những câu trả lời đầu tiên rất có thể là những đáp án có sẵn và hời hợt. Người ta phải ở lại với câu hỏi ấy một cách bền bỉ, trong khi vẫn giữ được bề rộng và chi tiết của bức tranh lớn. Rồi thì—ai biết được? |
|
F. At the third initiation he stands before the One Initiator, the Lord of the World, and “sees His star shine forth” and hears the sound which—to quote the Old Commentary: |
F. Ở lần điểm đạo thứ ba, y đứng trước Đấng Điểm Đạo Duy Nhất, Đức Chúa Tể Thế Giới, và “thấy ngôi sao của Ngài chiếu rạng” cũng như nghe âm thanh mà—trích Cổ Luận: |
|
“…pours forth from that central point of power where substance and the outer life have met together, where spirit utters loud the cry which drew the form to meet the highest need; where energy comes forth and blends with force and (in the blending) music had its start within the sphere of blending and of being thus created. |
“…tuôn trào từ điểm quyền năng trung tâm ấy, nơi chất liệu và sự sống bên ngoài đã gặp nhau, nơi tinh thần cất tiếng kêu lớn đã lôi kéo hình tướng đến đáp ứng nhu cầu cao nhất; nơi năng lượng xuất lộ và hòa lẫn với mãnh lực, và trong sự hòa lẫn ấy, âm nhạc đã khởi đầu trong khối cầu của sự hòa lẫn và của bản thể được tạo ra như thế. |
|
“…pours forth from that central point of power where substance and the outer life have met together, where spirit utters loud the cry which drew the form to meet the highest need; where energy comes forth and blends with force and (in the blending) music had its start within the sphere of blending and of being thus created. |
“…tuôn trào từ điểm quyền năng trung tâm ấy, nơi chất liệu và sự sống bên ngoài đã gặp nhau, nơi tinh thần cất tiếng kêu lớn đã lôi kéo hình tướng đến đáp ứng nhu cầu cao nhất; nơi năng lượng xuất lộ và hòa lẫn với mãnh lực, và trong sự hòa lẫn ấy, âm nhạc đã khởi đầu trong khối cầu của sự hòa lẫn và của bản thể được tạo ra như thế. |
|
“Man only hears the distant sound and knows it not for what it is. The disciple hears the sound and sees its form. The one who stands for the third time upon the mountain top hears a clear note and [Page 82] knows it as his own, as ours, as yours, and yet the note which none have sounded forth.” |
“Con người chỉ nghe âm thanh xa xăm và không biết nó là gì. Đệ tử nghe âm thanh và thấy hình tướng của nó. Người đứng lần thứ ba trên đỉnh núi nghe một âm điệu rõ ràng và [Trang 82] nhận biết nó là của chính mình, là của chúng ta, là của các bạn, nhưng vẫn là âm điệu mà không ai từng xướng lên.” |
|
At the third initiation he stands before the One Initiator, the Lord of the World, and “sees His star shine forth” and hears the sound which—to quote the Old Commentary: |
Ở lần điểm đạo thứ ba, y đứng trước Đấng Điểm Đạo Duy Nhất, Đức Chúa Tể Thế Giới, và “thấy ngôi sao của Ngài chiếu rạng” cũng như nghe âm thanh mà—trích Cổ Luận: |
|
“…pours forth from that central point of power where substance and the outer life have met together, where spirit utters loud the cry which drew the form to meet the highest need; where energy comes forth and blends with force and (in the blending) music had its start within the sphere of blending and of being thus created. |
“…tuôn trào từ điểm quyền năng trung tâm ấy, nơi chất liệu và sự sống bên ngoài đã gặp nhau, nơi tinh thần cất tiếng kêu lớn đã lôi kéo hình tướng đến đáp ứng nhu cầu cao nhất; nơi năng lượng xuất lộ và hòa lẫn với mãnh lực, và trong sự hòa lẫn ấy, âm nhạc đã khởi đầu trong khối cầu của sự hòa lẫn và của bản thể được tạo ra như thế. |
|
“Man only hears the distant sound and knows it not for what it is. The disciple hears the sound and sees its form. The one who stands for the third time upon the mountain top hears a clear note and [Page 82] knows it as his own, as ours, as yours, and yet the note which none have sounded forth.” |
“Con người chỉ nghe âm thanh xa xăm và không biết nó là gì. Đệ tử nghe âm thanh và thấy hình tướng của nó. Người đứng lần thứ ba trên đỉnh núi nghe một âm điệu rõ ràng và [Trang 82] nhận biết nó là của chính mình, là của chúng ta, là của các bạn, nhưng vẫn là âm điệu mà không ai từng xướng lên.” |
|
1. The paragraph above presents a beautiful section from the Old Commentary. |
1. Đoạn văn trên trình bày một phần tuyệt đẹp từ Cổ Luận. |
|
2. In the next Commentary, we will be speaking of group demand, Shamballic response and “one great Sound”. The sound here described seems to relate to the “one great Sound” |
2. Trong phần Bình giảng kế tiếp, chúng ta sẽ nói về sự đòi hỏi của nhóm, đáp ứng của Shamballa và “một Âm Thanh vĩ đại”. Âm thanh được mô tả ở đây dường như liên hệ đến “một Âm Thanh vĩ đại” ấy. |
|
3. Substance is not matter, per se. Substance, ‘sub-stands’, and is the subjective life of matter-form. In a way, Shamballa is a ‘fundamental Substance’ of all life expressed upon the lower five planes. |
3. Chất liệu không phải là vật chất, xét chính nó. Chất liệu “đứng bên dưới”, và là sự sống chủ quan của hình tướng-vật chất. Theo một cách nào đó, Shamballa là một “Chất liệu nền tảng” của mọi sự sống được biểu lộ trên năm cõi thấp. |
|
4. The sound mentioned in the section of the Old Commentary under discussion can be thought of as emanating from the highest plane—perhaps from the logoic plane whereon Sanat Kumara holds His principle focus in relation to the cosmic physical plane. It is magnified and ‘monadically individualized’ on the monadic plane—a plane much related to the “O”, even as the first plane is related to the “A”. |
4. Âm thanh được nhắc đến trong phần Cổ Luận đang bàn có thể được xem như phát xuất từ cõi cao nhất—có lẽ từ cõi thượng đế, nơi Đức Sanat Kumara giữ tiêu điểm nguyên khí chính yếu của Ngài trong liên hệ với cõi hồng trần vũ trụ. Nó được phóng đại và “biệt ngã hóa theo chân thần” trên cõi chân thần—một cõi liên hệ nhiều đến âm “Ô”, cũng như cõi thứ nhất liên hệ đến âm “A”. |
|
5. We are here discussing the initial monadic impulse which created the vehicles of expression to be used by the monad during its long pilgrimage. The original impulse is expressed as a loud cry which summoned form to meet the highest need. We gather that the loud cry was irresistible. |
5. Ở đây chúng ta đang bàn về xung lực chân thần ban đầu đã tạo nên các vận cụ biểu hiện mà chân thần sẽ sử dụng trong cuộc hành hương dài lâu của nó. Xung lực nguyên thủy được biểu lộ như một tiếng kêu lớn triệu gọi hình tướng đến đáp ứng nhu cầu cao nhất. Chúng ta hiểu rằng tiếng kêu lớn ấy là không thể cưỡng lại. |
|
6. From another perspective, we may be speaking of the meeting place between spirit, soul and matter-form—namely the “mountain top of initiation”. Such a point has to be at least another ‘point of augmentation’ for the sound pouring forth from the logoic and monadic planes. |
6. Từ một góc nhìn khác, chúng ta có thể đang nói đến nơi gặp gỡ giữa tinh thần, linh hồn và hình tướng-vật chất—tức là “đỉnh núi điểm đạo”. Một điểm như thế ít nhất phải là một “điểm gia tăng” khác cho âm thanh tuôn trào từ các cõi thượng đế và chân thần. |
|
7. We learn that this monadic/Shamballic impulse was responsible for the birth of music. For music to exist a related duality is required. Energy and force in relation to each other create an interval between two notes. Harmony becomes possible with this relationship. Music is related mostly to the second ray—the ray of “Pure Reason” and of ratio—ratio being the basis of the musical interval (for instance 2/1, 3/2, 4/3, etc.). |
7. Chúng ta học được rằng xung lực chân thần/Shamballa này chịu trách nhiệm cho sự ra đời của âm nhạc. Để âm nhạc hiện hữu, cần có một nhị nguyên có liên hệ. Năng lượng và mãnh lực trong liên hệ với nhau tạo ra một quãng giữa hai âm điệu. Hòa âm trở nên khả dĩ nhờ mối liên hệ này. Âm nhạc liên hệ chủ yếu với cung hai—cung của “Lý Trí Thuần Túy” và của tỉ lệ—tỉ lệ là nền tảng của quãng âm nhạc, chẳng hạn như hai/một, ba/hai, bốn/ba, v.v. |
|
8. Notice that music requires a “blending” which is a harmonizing of two qualities or notes. The soul is the principle of relationship—an energy which unifies the two (and the resultant many derived from the two) into one. |
8. Hãy lưu ý rằng âm nhạc đòi hỏi một “sự hòa lẫn”, tức là sự điều hòa hai phẩm tính hay hai âm điệu. Linh hồn là nguyên khí của mối liên hệ—một năng lượng hợp nhất cả hai, và nhiều điều phát sinh từ hai ấy, thành một. |
|
9. The sound here discussed is really a Shamballic Sound. For average man it is “distant”. We remember that the “bright centre” lies far ahead—even for relatively advanced disciples. |
9. Âm thanh được bàn ở đây thật sự là một Âm Thanh Shamballa. Đối với con người trung bình, nó “xa xăm”. Chúng ta nhớ rằng “trung tâm rực sáng” nằm rất xa phía trước—ngay cả đối với các đệ tử tương đối tiến bộ. |
|
10. The disciple (in contradistinction from the average man) hears the sound and sees its form. What is the form of the sound? May it not be the causal body/Egoic Lotus—that which has been created in response to the inaugural sound? As the disciple follows the “Voice” and the “Word”, he/she discovers the soul which was called into existence by the sound of the monad. |
10. Đệ tử, khác với con người trung bình, nghe âm thanh và thấy hình tướng của nó. Hình tướng của âm thanh là gì? Chẳng lẽ đó không phải là thể nguyên nhân/Hoa Sen Chân Ngã—điều đã được tạo ra để đáp ứng với âm thanh khai mở? Khi đệ tử theo “Tiếng Nói” và “Linh từ”, y khám phá linh hồn đã được tiếng xướng của chân thần gọi vào hiện hữu. |
|
11. For the initiate of the third degree however, the Sound becomes a “clear note” which all share. The experience is completely impersonal. It is the note/sound which is supportive of all being on this planet. But the sound did not emanate from any being; rather it, as it were, possess each being and yet originates from none. Perhaps, not even Sanat Kumara has originated the sound. Certainly, there are many Sounds which He did not originate. Indeed, by analogy there must be a Universal Sound which came forth from the highest Universal Logos and which no lesser E/entity originates. All that any lesser E/entity can do is register it, ‘be sounded by it’, harmoniously add one’s own sound to it, and pass it along. |
11. Tuy nhiên, đối với điểm đạo đồ lần điểm đạo thứ ba, Âm Thanh trở thành một “âm điệu rõ ràng” mà tất cả đều chia sẻ. Kinh nghiệm ấy hoàn toàn phi cá nhân. Đó là âm điệu/âm thanh nâng đỡ mọi bản thể trên hành tinh này. Nhưng âm thanh ấy không phát xuất từ bất kỳ hữu thể nào; đúng hơn, có thể nói, nó chiếm hữu mỗi hữu thể mà vẫn không bắt nguồn từ ai. Có lẽ ngay cả Đức Sanat Kumara cũng không khởi phát âm thanh ấy. Chắc chắn có nhiều Âm Thanh mà Ngài không khởi phát. Thật vậy, theo định luật tương đồng, hẳn phải có một Âm Thanh Vũ Trụ phát ra từ Thượng đế Vũ Trụ cao nhất, mà không một Thực Thể/thực thể thấp hơn nào khởi phát. Tất cả những gì bất kỳ Thực Thể/thực thể thấp hơn nào có thể làm là ghi nhận nó, “được xướng bởi nó”, hòa hợp thêm âm thanh riêng của mình vào đó, và truyền nó đi. |
|
12. The internal processes discussed in this Rule relate to the invocative and sonic events occurring at the time of the third initiation. D.K. has related the Rule to the third initiation of the individual. It can surely be related to the third initiation of the group as a whole. As well, it foreshadows forward, progressive movements which follow upon the third degree—both for the individual and the group. |
12. Các tiến trình nội tại được bàn trong Quy luật này liên hệ đến những biến cố khẩn cầu và âm thanh xảy ra vào thời điểm của lần điểm đạo thứ ba. Chân sư D.K. đã liên hệ Quy luật này với lần điểm đạo thứ ba của cá nhân. Chắc chắn nó cũng có thể được liên hệ với lần điểm đạo thứ ba của toàn thể nhóm. Đồng thời, nó báo trước những chuyển động tiến tới, thăng tiến, diễn ra sau lần điểm đạo thứ ba—cho cả cá nhân lẫn nhóm. |
|
13. To “move outward from the desert, leave the seas behind and know that God is Fire”, will surely take the individual and the group to the atmic plane, and even the monadic plane. This forward movement, though it begins at the third degree, will end in Mastership—and even in Chohanship. |
13. Việc “đi ra khỏi sa mạc, bỏ lại các biển phía sau và biết rằng Thượng đế là Lửa” chắc chắn sẽ đưa cá nhân và nhóm đến cõi atma, và thậm chí đến cõi chân thần. Chuyển động tiến tới này, dù bắt đầu ở lần điểm đạo thứ ba, sẽ kết thúc trong quả vị Chân sư—và thậm chí trong quả vị Chohan. |
|
14. Thus, certain of the Rules, though focussed principally upon a certain stage in the initiatory process, include movements towards stages beyond their main focus. |
14. Do đó, một số Quy luật, tuy chủ yếu tập trung vào một giai đoạn nhất định trong tiến trình điểm đạo, vẫn bao gồm những chuyển động hướng đến các giai đoạn vượt ngoài trọng tâm chính của chúng. |
|
It must be clear that the Tibetan has discussed many very occult factors in this Rule. Some of the numerological keys have been given—more for pondering than for complete understanding at this time. One begins to appreciate just how much of deep interest is contained within the substance of the Mysteries of Initiation. There are a number of “Keys”. Not all keys can be turned with equal facility by each student, but at least some knowledge of each is advisable. In these paragraphs we have been introduced primarily to the numerological key, and have been offered many hints which we are encouraged to develop. The Mysteries of Initiation are, indeed, mysteries. One can begin to understand what extraordinary preparation is needed to fathom them. Master D.K. is helping us begin. |
Cần phải rõ rằng Chân sư Tây Tạng đã bàn đến nhiều yếu tố rất huyền bí trong Quy luật này. Một số chìa khóa số học đã được trao—để suy ngẫm hơn là để thấu hiểu trọn vẹn vào lúc này. Người ta bắt đầu cảm nhận được có biết bao điều vô cùng sâu sắc và đáng quan tâm được chứa đựng trong chất liệu của các Bí nhiệm Điểm đạo. Có một số “Chìa khóa”. Không phải đạo sinh nào cũng có thể xoay mọi chìa khóa với mức độ dễ dàng như nhau, nhưng ít nhất một tri thức nào đó về mỗi chìa khóa là điều nên có. Trong các đoạn này, chúng ta chủ yếu đã được giới thiệu với chìa khóa số học, và đã được trao nhiều gợi ý mà chúng ta được khuyến khích phát triển. Các Bí nhiệm Điểm đạo quả thật là những bí nhiệm. Người ta có thể bắt đầu thấu hiểu sự chuẩn bị phi thường nào là cần thiết để thấu triệt chúng. Chân sư D.K. đang giúp chúng ta khởi đầu. |
|
Rule III: Fourth Sentence |
Quy luật III: Câu thứ tư |
|
“When the demand and the response are lost in one great Sound, move outward from the desert, leave the seas behind and know that God is Fire.” (R&I 82) |
“Khi sự đòi hỏi và đáp ứng tan mất trong một Âm Thanh vĩ đại, hãy đi ra khỏi sa mạc, bỏ lại các biển phía sau và biết rằng Thượng đế là Lửa.” (Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương, 82) |
|
The Sentence |
Câu văn |
|
A. When the demand and the response are lost in one great Sound… |
A. Khi sự đòi hỏi và đáp ứng tan mất trong một Âm Thanh vĩ đại… |
|
1. Let us focus on the word “demand”. There seems to be a big difference between a “cry” (as in the “cry of invocation”) and a “demand”. |
1. Chúng ta hãy tập trung vào từ “đòi hỏi”. Dường như có một khác biệt lớn giữa một “tiếng kêu”, như trong “tiếng kêu khẩn cầu”, và một “sự đòi hỏi”. |
|
2. In Rule II we encountered the “three great demands” which the initiate added to his/her application. It was his/her right to do so because he/she was functioning in response to the higher will of the spiritual triad. The demands are made by a human units who know themselves to be at-one with the Divine Plan, and therefore have the right to demand because the Divine Plan must be fulfilled. |
2. Trong Quy luật II, chúng ta đã gặp “ba đòi hỏi lớn” mà điểm đạo đồ thêm vào lời thỉnh cầu của mình. Y có quyền làm như vậy vì y đang hoạt động để đáp ứng với ý chí cao siêu của Tam Nguyên Tinh Thần. Những đòi hỏi này được đưa ra bởi các đơn vị nhân loại biết mình hợp nhất với Thiên Cơ thiêng liêng, và do đó có quyền đòi hỏi vì Thiên Cơ thiêng liêng phải được hoàn thành. |
|
3. We seem to have two dynamics operative: applications and cries, on the one hand, and demands on the other. And it seem that there is a subtle transformation by means of which that which starts as an application or cry subtly becomes a demand. We realize that a request or entreaty can be answered by a “yes” or a “no”. One who demands will not accept a “no”. |
3. Dường như có hai động lực đang vận hành: một mặt là những lời thỉnh cầu và những tiếng kêu, mặt khác là những đòi hỏi. Và dường như có một sự chuyển đổi vi tế nhờ đó điều khởi đầu như một lời thỉnh cầu hay tiếng kêu dần dần trở thành một sự đòi hỏi. Chúng ta nhận ra rằng một lời yêu cầu hay khẩn nài có thể được đáp lại bằng “có” hoặc “không”. Người đòi hỏi sẽ không chấp nhận câu trả lời “không”. |
|
4. The individual initiate or the initiate group can demand because its sense of identification has changed. What begins as a “cry of invocation” (from a lower level of identification) subtle merges into a demand as the individual or group realizes who he/she or it really is. Demands are made from within the spiritual will. Invocations, appeals, entreaties, cries, etc., are in general made from a lower ‘position’ on the scale of will. |
4. Điểm đạo đồ cá nhân hay nhóm điểm đạo đồ có thể đòi hỏi vì ý thức đồng hóa của họ đã thay đổi. Điều bắt đầu như một “tiếng kêu khẩn cầu”, từ một cấp độ đồng hóa thấp hơn, dần dần hòa nhập vào một sự đòi hỏi khi cá nhân hay nhóm nhận ra mình thật sự là ai. Những đòi hỏi được đưa ra từ bên trong ý chí tinh thần. Nói chung, các lời khẩn cầu, kêu gọi, van nài, tiếng kêu, v.v., được đưa ra từ một “vị trí” thấp hơn trên thang ý chí. |
|
5. Perhaps as the “cry” is ringing or sounding forth, it brings the realization of an authentic participation in the spiritual will of the Entity to Whom the appeal has been directed. When the necessity of the fulfillment of the will of that greater Entity is slowly realized, the invoking agent becomes emboldened, and begins to insist upon fulfillment—in short, to demand. |
5. Có lẽ khi “tiếng kêu” đang vang lên hay được xướng ra, nó đem lại sự nhận biết về một sự tham dự đích thực vào ý chí tinh thần của Thực Thể mà lời kêu gọi đã hướng đến. Khi sự tất yếu của việc hoàn thành ý chí của Thực Thể lớn lao ấy dần được nhận ra, tác nhân khẩn cầu trở nên mạnh dạn hơn và bắt đầu kiên quyết đòi sự hoàn thành—nói ngắn gọn, bắt đầu đòi hỏi. |
|
6. Perhaps, individually, we should review when we have last asserted a demand and under what circumstances. Who was asserting? Was it the personality? Was it the normal personal consciousness identified with the soul presence? Was it a soul-infused personality consciousness increasingly identified with the Planetary Identity? Or, perhaps, we never demand or have demanded at all? |
6. Có lẽ, trên phương diện cá nhân, chúng ta nên xem lại lần gần nhất mình đã khẳng định một đòi hỏi là khi nào và trong hoàn cảnh nào. Ai đã khẳng định? Có phải là phàm ngã không? Có phải là tâm thức cá nhân bình thường được đồng hóa với sự hiện diện của linh hồn không? Có phải là tâm thức phàm ngã được linh hồn thấm nhuần, ngày càng đồng hóa với Bản Sắc Hành Tinh không? Hoặc có lẽ chúng ta chưa bao giờ đòi hỏi, hay đã từng đòi hỏi gì chăng? |
|
7. The “response” comes from the “bright Centre lying far ahead”. This is, necessarily, a very high response, as even a response from the Ashram with which the group is affiliated would be a high response. Still higher (but less high than a Shamballic response) would be a response from the greater Ray-Ashram in which the group is included. A still higher response (short of a response from Shamballa) would be a response from the Hierarchy as a whole—all these would certainly be high responses though not from Shamballa. But when it is the Divine Will which is being invoked, Shamballa must, necessarily, be to some extent involved. Perhaps the stage of the invoking group is such that there is not yet a full relationship between it and its parent Ashram, or its more inclusive Ray-Ashram, or with the Hierarchy as a whole, yet, nevertheless, Shamballa is invoked. There is an analogy here to the individual disciple who may not yet have fulfilled the program of love, who may not yet be a completely soul-infused fourth degree initiate, but who, nevertheless, invokes the monad before this program of love is fulfilled. |
7. “Đáp ứng” đến từ “Trung Tâm rực sáng nằm xa phía trước”. Tất yếu, đây là một đáp ứng rất cao, vì ngay cả một đáp ứng từ ashram mà nhóm liên kết cũng đã là một đáp ứng cao. Còn cao hơn nữa, nhưng vẫn thấp hơn một đáp ứng Shamballa, là một đáp ứng từ Ashram Cung lớn hơn trong đó nhóm được bao gồm. Một đáp ứng còn cao hơn nữa, nhưng vẫn chưa phải đáp ứng từ Shamballa, sẽ là đáp ứng từ toàn thể Thánh Đoàn—tất cả những điều này chắc chắn đều là những đáp ứng cao, dù không phải từ Shamballa. Nhưng khi chính Ý Chí thiêng liêng đang được khẩn cầu, Shamballa tất yếu phải được liên hệ đến một mức độ nào đó. Có lẽ giai đoạn của nhóm khẩn cầu là như vậy: chưa có mối liên hệ đầy đủ giữa nhóm ấy và ashram mẹ của nó, hoặc Ashram Cung bao gồm hơn của nó, hoặc với toàn thể Thánh Đoàn; tuy nhiên, Shamballa vẫn được khẩn cầu. Ở đây có một tương đồng với cá nhân đệ tử, người có thể chưa hoàn thành chương trình bác ái, có thể chưa là một điểm đạo đồ lần thứ tư hoàn toàn được linh hồn thấm nhuần, nhưng tuy vậy vẫn khẩn cầu chân thần trước khi chương trình bác ái ấy được hoàn thành. |
|
8. We remember that we are presently involved in a significant forcing process due to circumstances which we cannot fully understand. By means of this process, the program of love and the program of will are being fulfilled simultaneously, though complete fulfillment of the program of love will necessarily. precede that of will. |
8. Chúng ta nhớ rằng hiện nay chúng ta đang tham dự vào một tiến trình thúc ép quan trọng do những hoàn cảnh mà chúng ta không thể thấu hiểu trọn vẹn. Nhờ tiến trình này, chương trình bác ái và chương trình ý chí đang được hoàn thành đồng thời, dù sự hoàn thành trọn vẹn chương trình bác ái tất yếu sẽ đi trước chương trình ý chí. |
|
9. However, just as the invoked monad does not respond with all of its power, so the “bright Centre”, also does not respond with all its power to the invoking group. A “great Sound” may be produced and Shamballa may indeed respond to the invoking group, but the Shamballic response must necessarily be a measured one, otherwise the group would certainly be destroyed, just as would the individual initiate, should the monad release the entirety of its potency. A personality could not even stand the complete infusion of the soul-entirety; how, then, the entirety of the monad? |
9. Tuy nhiên, cũng như chân thần được khẩn cầu không đáp ứng bằng toàn bộ quyền năng của nó, “Trung Tâm rực sáng” cũng không đáp ứng với nhóm khẩn cầu bằng toàn bộ quyền năng của mình. Một “Âm Thanh vĩ đại” có thể được tạo ra và Shamballa quả thật có thể đáp ứng nhóm khẩn cầu, nhưng đáp ứng Shamballa tất yếu phải có chừng mực; nếu không, nhóm chắc chắn sẽ bị hủy diệt, cũng như cá nhân điểm đạo đồ sẽ bị hủy diệt nếu chân thần phóng thích toàn bộ quyền năng của nó. Một phàm ngã thậm chí không thể chịu nổi sự thấm nhuần trọn vẹn của toàn thể linh hồn; vậy thì làm sao chịu được toàn thể chân thần? |
|
10. Occultism frequently speaks of notes and sounds, and one wonders whether these sonic events are actually ‘heard’ in anything resembling a normal manner. Every event, such as a “cry of invocation” is certainly a sustained vibration, and, logically, every vibration can be ‘heard’, provided the instrument of registration is sufficiently sensitive. |
10. Huyền bí học thường nói đến các âm điệu và âm thanh, và người ta tự hỏi liệu những biến cố âm thanh này có thật sự được “nghe” theo một cách nào đó tương tự như cách nghe bình thường hay không. Mọi biến cố, chẳng hạn như một “tiếng kêu khẩn cầu”, chắc chắn là một rung động được duy trì, và về mặt hợp lý, mọi rung động đều có thể được “nghe”, miễn là công cụ ghi nhận đủ nhạy cảm. |
|
11. Probably at the stage of sensitivity characteristic of the average student of these Rules, the vibratory events known as the “cry”, the “demand”, the “response” and the “one great Sound” will be experienced as a quality of energy rather than as a specific Sound. |
11. Có lẽ ở giai đoạn nhạy cảm đặc trưng của đạo sinh trung bình nghiên cứu các Quy luật này, những biến cố rung động được biết như “tiếng kêu”, “sự đòi hỏi”, “đáp ứng” và “một Âm Thanh vĩ đại” sẽ được trải nghiệm như một phẩm tính của năng lượng hơn là như một Âm Thanh cụ thể. |
|
12. Probably each of the three personality vehicles and the causal body as well experiences a kind of registration of these vibratory events. It is possible to discriminate the ‘qualitative feel’ of these different vibratory events without necessarily experiencing the registration of an internal sonic phenomenon. |
12. Có lẽ mỗi trong ba vận cụ phàm ngã và cả thể nguyên nhân cũng trải nghiệm một loại ghi nhận đối với những biến cố rung động này. Có thể phân biện “cảm giác phẩm tính” của các biến cố rung động khác nhau này mà không nhất thiết phải trải nghiệm sự ghi nhận của một hiện tượng âm thanh nội tại. |
|
13. Probably the ‘qualitative feel’ is the first registered discrimination. Registration of color and sound phenomena may come later. At first they may be accurate or not. Probably only a Master can be sure that He is accurately ‘hearing’ and ‘seeing’ sonic, coloristic and light demonstrations which accompany such high vibratory events as the sonic interplay between Shamballa and an invoking group. |
13. Có lẽ “cảm giác phẩm tính” là sự phân biện đầu tiên được ghi nhận. Sự ghi nhận các hiện tượng màu sắc và âm thanh có thể đến về sau. Lúc đầu, chúng có thể chính xác hoặc không. Có lẽ chỉ một Chân sư mới có thể chắc chắn rằng Ngài đang “nghe” và “thấy” chính xác những biểu hiện âm thanh, màu sắc và ánh sáng đi kèm các biến cố rung động cao như sự giao thoa âm thanh giữa Shamballa và một nhóm khẩn cầu. |
|
14. It is noteworthy that the demand and the response are “lost” in the “one great Sound”. At first the “cry of Invocation” may be qualitatively discernible. Perhaps the Shamballic response (prior to the blending of the two) is also qualitatively discernible. Anyone or any group which has ‘touched’ the Shamballic vibration for even a moment knows that it is something altogether extraordinary, and can be differentiated (by our subtle inner organs) as that which is distinct from the usual types of even high registrations. |
14. Điều đáng chú ý là sự đòi hỏi và đáp ứng “tan mất” trong “một Âm Thanh vĩ đại”. Lúc đầu, “tiếng kêu Khẩn Cầu” có thể được phân biện về mặt phẩm tính. Có lẽ đáp ứng Shamballa, trước khi hai điều hòa lẫn, cũng có thể được phân biện về mặt phẩm tính. Bất cứ ai hay bất cứ nhóm nào đã “chạm” vào rung động Shamballa dù chỉ trong khoảnh khắc đều biết rằng đó là một điều hoàn toàn phi thường, và có thể được phân biệt, bằng các cơ quan nội tại vi tế của chúng ta, như điều khác hẳn với các loại ghi nhận thông thường, dù là những ghi nhận cao. |
|
15. But, according to the Rule, the two—the “demand” and the “response” are “lost” in “one great Sound”. So a third vibratory event supervenes—the “one great Sound”—and both the demand and the response are no longer distinguished, so overwhelming is the “one great Sound”. |
15. Nhưng, theo Quy luật, hai điều—“sự đòi hỏi” và “đáp ứng”—đều “tan mất” trong “một Âm Thanh vĩ đại”. Như vậy, một biến cố rung động thứ ba xuất hiện—“một Âm Thanh vĩ đại”—và cả sự đòi hỏi lẫn đáp ứng không còn được phân biệt nữa, bởi “một Âm Thanh vĩ đại” quá choáng ngợp. |
|
16. Probably, this process cannot be successfully discussed, but, rather, must be experienced. Maybe musicians who are singing antiphonally—i.e., singing or playing a theme which is answered by another part of the orchestra or choir—can find an illuminative analogy. In most antiphonal works, the interplay, the “back and forth”, the asserted theme and the response to that theme, eventually give way to a section in the music when both groups of voices play or sing simultaneously. Then, the two parts are no longer the object of attention, but, rather, that which they produce when blended. The two parts, then, are lost in the combined effect of their blending. |
16. Có lẽ tiến trình này không thể được bàn luận thành công, mà đúng hơn, phải được trải nghiệm. Có thể các nhạc sĩ hát đối đáp—tức là hát hay chơi một chủ đề được một phần khác của dàn nhạc hay hợp xướng đáp lại—có thể tìm thấy một tương đồng soi sáng. Trong hầu hết các tác phẩm đối đáp, sự tương tác, sự “qua lại”, chủ đề được khẳng định và đáp ứng đối với chủ đề ấy, cuối cùng nhường chỗ cho một đoạn trong âm nhạc khi cả hai nhóm giọng cùng chơi hay hát đồng thời. Khi ấy, hai phần không còn là đối tượng của sự chú ý nữa; đúng hơn, điều được chú ý là cái mà chúng tạo ra khi hòa lẫn. Khi đó, hai phần tan mất trong hiệu quả kết hợp của sự hòa lẫn của chúng. |
|
17. As interesting as invocation and response (theme and counter-theme) may be, a fullness involving both is far more glorious, unitive and satisfying. |
17. Dù sự khẩn cầu và đáp ứng, tức chủ đề và phản-chủ đề, có thú vị đến đâu, một sự viên mãn bao gồm cả hai vẫn huy hoàng hơn, hợp nhất hơn và thỏa mãn hơn nhiều. |
|
18. When the invoking agency and the agency evoked fuse and blend in a mutual process, there then comes a great fulfillment. Psychologically, for the group, it might be the realization that, essentially, the invoking group and Shamballa are one and fundamentally indistinguishable. This would be a very high point of group identification. |
18. Khi tác nhân khẩn cầu và tác nhân được gợi lên dung hợp và hòa lẫn trong một tiến trình tương hỗ, khi đó xuất hiện một sự hoàn thành lớn lao. Về mặt tâm lý, đối với nhóm, đó có thể là sự nhận biết rằng, về bản chất, nhóm khẩn cầu và Shamballa là một và về căn bản không thể phân biệt. Đây sẽ là một điểm rất cao của sự đồng hóa nhóm. |
|
19. This “one great Sound” would be experienced as ‘Shamballic infusion (which, though necessarily partial, would probably be the highest type of experience of which the group was capable). |
19. “Một Âm Thanh vĩ đại” này sẽ được trải nghiệm như “sự thấm nhuần Shamballa”, điều tuy tất yếu chỉ là một phần, nhưng có lẽ là loại kinh nghiệm cao nhất mà nhóm có thể đạt tới. |
|
20. In a way, is would be the presence of the monad making itself felt, or, at the very least, atma as the agent of the monad. |
20. Theo một cách nào đó, đó sẽ là sự hiện diện của chân thần khiến chính nó được cảm nhận, hoặc ít nhất là atma với tư cách tác nhân của chân thần. |
|
21. Probably, from time to time, we have all had what, for us, have been “peak experiences”. For some, such experiences may have involved the energy of love. For other, perhaps something of the meaning of synthesis and homogeneous oneness may have emerged. |
21. Có lẽ, thỉnh thoảng, tất cả chúng ta đều đã có những điều mà đối với mình là “kinh nghiệm đỉnh cao”. Đối với một số người, những kinh nghiệm như thế có thể liên quan đến năng lượng bác ái. Đối với những người khác, có lẽ một điều gì đó về ý nghĩa của tổng hợp và tính hợp nhất đồng chất đã hiển lộ. |
|
22. It seems necessary that the “response” of Shamballa must bring a kind of irresistible fusion which transports the group into a state, minimally, of atmic realization verging on monadic awareness. We can gather, therefore, something of the elevated ‘reach’ of Rule III. |
22. Dường như điều tất yếu là “đáp ứng” của Shamballa phải đem lại một loại dung hợp không thể cưỡng lại, đưa nhóm vào một trạng thái, tối thiểu, của nhận biết atma gần kề với ý thức chân thần. Do đó, chúng ta có thể phần nào hiểu được “tầm vươn” cao siêu của Quy luật III. |
|
23. The “one great Sound” must convey an experience of synthesis and, on the ‘wings’ of that sound, a kind of forward movement, not previously possible, becomes so. |
23. “Một Âm Thanh vĩ đại” hẳn phải truyền đạt một kinh nghiệm về tổng hợp, và trên “đôi cánh” của âm thanh ấy, một loại chuyển động tiến tới, trước đây chưa từng khả dĩ, nay trở nên khả dĩ. |
|
24. For it is only when the “demand and the response are lost in one great Sound”, that the group’s possibility for moving forward comes. This would mean that the “one great Sound” must be established and experienced before the group elevation occurs. |
24. Vì chỉ khi “đòi hỏi và đáp ứng tan hòa trong một Âm Thanh vĩ đại”, thì khả năng tiến bước của nhóm mới xuất hiện. Điều này có nghĩa là “một Âm Thanh vĩ đại” phải được thiết lập và kinh nghiệm trước khi sự nâng cao của nhóm xảy ra. |
|
25. As a qualified group (supposing that, at some point, we were qualified), we can do nothing about the Shamballic “response”. Our job would be to establish the right kind of invocation, which is tantamount to saying that our job is to ensure the group quality, integrity, elevated polarization and the adherence to group purpose. The “cry of invocation” would necessarily arise therefrom. The Shamballic “response”, therefore, is really out of our hands, though law necessarily prevails. When the invocation is correct, then, according to law, response must come. |
25. Với tư cách một nhóm đủ tư cách (giả sử rằng, vào một thời điểm nào đó, chúng ta đã đủ tư cách), chúng ta không thể làm gì đối với “đáp ứng” từ Shamballa. Công việc của chúng ta là thiết lập loại khẩn cầu đúng đắn, điều này tương đương với việc nói rằng công việc của chúng ta là bảo đảm phẩm tính nhóm, sự toàn vẹn, sự phân cực cao siêu và sự tuân thủ mục đích nhóm. “Tiếng kêu khẩn cầu” tất yếu sẽ phát sinh từ đó. Do đó, “đáp ứng” từ Shamballa thật sự nằm ngoài tầm tay chúng ta, dù định luật tất yếu vẫn chi phối. Khi sự khẩn cầu đúng đắn, thì theo định luật, đáp ứng phải đến. |
|
26. Our approach, therefore, would be to ensure the establishment of the correct invocation, and, then, be attentive to the possibility of the Shamballic response followed by the emergence of the “one great Sound”. |
26. Do đó, cách tiếp cận của chúng ta là bảo đảm việc thiết lập sự khẩn cầu đúng đắn, rồi sau đó chú tâm đến khả năng xuất hiện đáp ứng từ Shamballa, tiếp theo là sự hiển lộ của “một Âm Thanh vĩ đại”. |
|
27. What kind of inner listening would characterize this attentiveness? Perhaps a king of listening which involved both the heart center and head center. |
27. Loại lắng nghe bên trong nào sẽ đặc trưng cho sự chú tâm này? Có lẽ đó là một loại lắng nghe bao gồm cả trung tâm tim và trung tâm đầu. |
|
28. The coming of the Shamballic response, however, would not be the group’s main concern. Because the “cry of invocation” arises as a result of group service, it would be the specific concern of the group to ensure that the quality and intensity of the group’s service were sufficient to ensure a successful invocation. |
28. Tuy nhiên, sự xuất hiện của đáp ứng từ Shamballa không phải là mối quan tâm chính của nhóm. Vì “tiếng kêu khẩn cầu” phát sinh như kết quả của phụng sự nhóm, nên mối quan tâm chuyên biệt của nhóm là bảo đảm rằng phẩm tính và cường độ phụng sự của nhóm đủ để bảo đảm một sự khẩn cầu thành công. |
|
29. During the execution of group service, there would also be required a different kind of ‘upward’ attentiveness—namely to the thoughts of the Ashram, the Hierarchy, and even, perhaps, of Shamballa, in relation to the nature of the Divine Plan and Purpose. There can be no sufficiently invocative group service unless that service is closely aligned with the intent of the higher Sources. |
29. Trong khi thực hiện phụng sự nhóm, cũng cần có một loại chú tâm “hướng thượng” khác—nghĩa là chú tâm đến các tư tưởng của ashram, Thánh đoàn, và thậm chí có lẽ của Shamballa, liên quan đến bản chất của Thiên Cơ và Thiên Ý. Không thể có phụng sự nhóm đủ sức khẩn cầu nếu phụng sự ấy không chỉnh hợp chặt chẽ với ý định của các Nguồn cao siêu. |
|
30. One day, during the constant ‘listening’ to the Plan and Purpose-based injunctions from ‘above’, registration of the “response” from Shamballa might come. |
30. Một ngày nào đó, trong sự “lắng nghe” thường hằng các huấn lệnh dựa trên Thiên Cơ và Thiên Ý từ “bên trên”, sự ghi nhận “đáp ứng” từ Shamballa có thể đến. |
|
31. When it does come, it will come as a group empowerment, readying the group for forward movement and elevation. |
31. Khi điều ấy đến, nó sẽ đến như một sự trao quyền cho nhóm, chuẩn bị nhóm cho sự tiến bước và nâng cao. |
|
B. … move outward from the desert, |
B. … đi ra khỏi sa mạc, |
|
1. Both the “desert” and the “seas” are conditions of insufficiency—at least, relatively so and with respect to the fulness of spirit. |
1. Cả “sa mạc” và “các biển” đều là những tình trạng thiếu thốn—ít nhất là tương đối như vậy, và xét theo sự viên mãn của tinh thần. |
|
2. The first desert is the physical plane which, we are told, must be made to “blossom like the rose”. We are all well-aware of the limitations of the physical plane. |
2. Sa mạc thứ nhất là cõi hồng trần, cõi mà chúng ta được bảo rằng phải làm cho “nở hoa như hoa hồng”. Tất cả chúng ta đều biết rõ những giới hạn của cõi hồng trần. |
|
3. From another perspective we might see the second desert as the mental plane as a whole, and in the case of this Rule, the abstract mental plane, even though skillful functioning upon that high plane is still a goal for many. |
3. Từ một góc nhìn khác, chúng ta có thể xem sa mạc thứ hai là toàn bộ cõi trí, và trong trường hợp Quy luật này, là cõi trí trừu tượng, dù việc hoạt động khéo léo trên cõi cao ấy vẫn còn là mục tiêu đối với nhiều người. |
|
4. The abstract mental plane is a plane whereon the deeper relationships between concrete things are set forth. It is plane associated with sacred geometry, and with the intelligent ordering of the objects in the lower three worlds. This plane is concerned with things “in general” rather than things “in particular”. It provides the geometric and, in general, mathematical patterns into which things “in particular” are fitted. |
4. Cõi trí trừu tượng là cõi nơi các mối liên hệ sâu xa hơn giữa những sự vật cụ thể được trình bày. Đó là cõi liên hệ với hình học thiêng liêng, và với sự sắp đặt thông tuệ các đối tượng trong ba cõi thấp. Cõi này liên quan đến các sự vật “nói chung” hơn là các sự vật “cụ thể”. Nó cung cấp các mô hình hình học và, nói chung, toán học, để các sự vật “cụ thể” được đặt vào trong đó. |
|
5. There is a still higher interpretation of the “desert” which the Tibetan presents, and which will be developed below. |
5. Còn có một cách diễn giải cao hơn nữa về “sa mạc” mà Chân sư Tây Tạng trình bày, và sẽ được khai triển dưới đây. |
|
C. … leave the seas behind |
C. … bỏ lại các biển phía sau |
|
1. The first sea is the astral plane which must be rendered calm and reflective of the higher light. Furthermore, it must be crossed, signifying that the disciple is no longer subject to astral phenomena. |
1. Biển thứ nhất là cõi cảm dục, cõi phải được làm cho tĩnh lặng và phản chiếu ánh sáng cao siêu. Hơn nữa, nó phải được vượt qua, biểu thị rằng đệ tử không còn chịu lệ thuộc vào các hiện tượng cảm dục. |
|
2. The second sea can be considered the buddhic plane (the plane of intuition), certainly a goal for mentally polarized humanity, but, from a very lofty perspective, considered a limitation. |
2. Biển thứ hai có thể được xem là cõi Bồ đề (cõi của trực giác), chắc chắn là một mục tiêu đối với nhân loại phân cực trí tuệ, nhưng từ một góc nhìn rất cao siêu, nó được xem là một giới hạn. |
|
3. The buddhic plane is an ‘ocean of harmony’, in relation to which the essential harmony of all things with each other is revealed. |
3. Cõi Bồ đề là một “đại dương hài hòa”, liên quan đến đó sự hài hòa cốt yếu của mọi sự vật với nhau được mặc khải. |
|
4. While the buddhic plane is a plane of realized love, unity and harmony, it is not yet a plane of synthesis. |
4. Dù cõi Bồ đề là cõi của tình thương, hợp nhất và hài hòa đã được chứng nghiệm, nó vẫn chưa phải là cõi của tổng hợp. |
|
5. To leave the buddhic ‘seas’ behind, (even though, for the majority, they have not been reached), would mean to move beyond the world of harmonized color and quality into a world of foundational light, from which all color and quality are derived. Beyond the buddhic plane are worlds characterized still less by differentiation. |
5. Bỏ lại các “biển” Bồ đề phía sau, (dù đối với đa số, họ vẫn chưa đạt đến chúng), có nghĩa là vượt ra ngoài thế giới của màu sắc và phẩm tính đã được hài hòa để đi vào một thế giới của ánh sáng nền tảng, từ đó mọi màu sắc và phẩm tính được dẫn xuất. Vượt ngoài cõi Bồ đề là những thế giới còn ít được đặc trưng bởi sự biến phân hơn nữa. |
|
6. There is a still higher interpretation of “seas” which the Tibetan presents, and which will be developed below. |
6. Còn có một cách diễn giải cao hơn nữa về “các biển” mà Chân sư Tây Tạng trình bày, và sẽ được khai triển dưới đây. |
|
D. … and know that God is Fire… |
D. … và biết rằng Thượng đế là Lửa… |
|
1. The first fire is the fire of the mental plane; this fire is the fire of discrimination creating distinctly differentiated perceptions. |
1. Lửa thứ nhất là lửa của cõi trí; lửa này là lửa của phân biện, tạo nên những nhận thức được phân biệt rõ rệt. |
|
2. The second fire can be seen as the fire of the atmic plane (to which the mental plane is a correspondence). |
2. Lửa thứ hai có thể được xem là lửa của cõi atma (mà cõi trí là một tương ứng). |
|
3. Upon this plane all barriers creating distinct perceptions are burned away, and all things are perceived as fire. |
3. Trên cõi này, mọi rào cản tạo nên những nhận thức riêng biệt đều bị thiêu rụi, và mọi sự vật được nhận thức như lửa. |
|
4. Upon this plane the Will of “God” (the planetary Logos) is somewhat understood. On the atmic plane there can be registered distinct principles and laws (held in existence by the fiery Will of God), but not so much distinct objects and creations deriving from these principles and laws. |
4. Trên cõi này, Ý Chí của “Thượng đế” (Hành Tinh Thượng đế) phần nào được thấu hiểu. Trên cõi atma, người ta có thể ghi nhận các nguyên khí và định luật rõ rệt (được Ý Chí rực lửa của Thượng Đế duy trì trong hiện hữu), nhưng không nhiều các đối tượng và sáng tạo riêng biệt phát sinh từ những nguyên khí và định luật này. |
|
5. This fiery world of atma represents a simplification with respect to the world of buddhi. The atmic world is not a world of color and quality (whether harmonized or not). It is a world of law, principle and fiery will, from which all things are derived and (on the buddhic plane) held in harmonious relation. |
5. Thế giới rực lửa của atma này tượng trưng cho một sự giản hóa so với thế giới của Bồ đề. Thế giới atma không phải là một thế giới của màu sắc và phẩm tính (dù đã hài hòa hay chưa). Đó là một thế giới của định luật, nguyên khí và ý chí rực lửa, từ đó mọi sự vật được dẫn xuất và (trên cõi Bồ đề) được giữ trong mối liên hệ hài hòa. |
|
6. From this plane, the fiery Purpose of God can be somewhat apprehended, and the way in which the Divine Plan is intended to manifest that Purpose—for the atmic plane is a plane of intelligent planning as well. It is primarily a world of first principle and first formulas (formulas which generate the Divine Plan). |
6. Từ cõi này, Thiên Ý rực lửa của Thượng đế có thể phần nào được lĩnh hội, cũng như cách thức Thiên Cơ được dự định để biểu hiện Thiên Ý ấy—vì cõi atma cũng là một cõi của sự hoạch định thông tuệ. Chủ yếu, đó là một thế giới của nguyên khí đầu tiên và các công thức đầu tiên (những công thức phát sinh Thiên Cơ). |
|
7. The atmic plane is, as well, a world of fiery sustainment. Lower planes (buddhic and manasic) are held in manifestation by its fiery (i.e., living) principles and laws. |
7. Cõi atma cũng là một thế giới của sự duy trì rực lửa. Các cõi thấp hơn (Bồ đề và manas) được giữ trong biểu hiện nhờ các nguyên khí và định luật rực lửa (tức là sống động) của nó. |
|
8. The monadic world is a synthesis of all three triadic worlds, fusing and blending them into an undifferentiable synthesis. |
8. Thế giới chân thần là một tổng hợp của cả ba thế giới thuộc Tam nguyên tinh thần, dung hợp và hòa trộn chúng thành một tổng hợp không thể phân biệt. |
|
9. There is a still higher interpretation of “fire” which the Tibetan presents, and which will be developed below. |
9. Còn có một cách diễn giải cao hơn nữa về “lửa” mà Chân sư Tây Tạng trình bày, và sẽ được khai triển dưới đây. |
|
The Themes Included Under the Sentence 4 |
Các chủ đề được bao gồm trong Câu 4 |
|
E. The most elementary and obvious meaning of this forth sentence of Rule Three for Disciples and Initiates is: When the initiate hears the Sound, he leaves behind the desert life of physical incarnation, the emotional life of the astral plane, seething and unstable as the sea, and functions on the plane of mind, of which the symbol is fire. (cf. RI, p. 82) |
E. Ý nghĩa sơ đẳng và hiển nhiên nhất của câu thứ tư này trong Quy luật Ba dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ là: Khi điểm đạo đồ nghe Âm Thanh, y bỏ lại phía sau đời sống sa mạc của sự nhập thể hồng trần, đời sống cảm xúc của cõi cảm dục, sôi sục và bất ổn như biển, và hoạt động trên cõi trí, mà biểu tượng của nó là lửa. (xem RI, tr. 82) |
|
The broader and deeper meaning of this forth sentence of Rule Three for Disciples and Initiates is: |
Ý nghĩa rộng hơn và sâu hơn của câu thứ tư này trong Quy luật Ba dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ là: |
|
(a) The words “outward from the desert” have application for the entire life of the incarnated Monad in the three worlds of human endeavour and enterprise. |
(a) Những lời “đi ra khỏi sa mạc” áp dụng cho toàn bộ đời sống của Chân thần nhập thể trong ba cõi của nỗ lực và hoạt động nhân loại. |
|
(b) The words “Leaving the sea behind” have reference to the withdrawal of the initiate from all sensuous experience; the initiate leaves consciousness itself behind. (cf. RI, 82) |
(b) Những lời “Bỏ lại biển phía sau” liên quan đến sự rút lui của điểm đạo đồ khỏi mọi kinh nghiệm giác quan; điểm đạo đồ bỏ lại chính tâm thức phía sau. (xem RI, 82) |
|
Fire is the sumtotal of that which destroys form, produces complete purity in that which is not itself, generates the warmth which lies behind all growth, and is vitality itself. (cf. RI, p. 82) |
Lửa là tổng thể của cái phá hủy hình tướng, tạo nên sự tinh khiết hoàn toàn nơi cái không phải chính nó, phát sinh hơi ấm nằm sau mọi sự tăng trưởng, và chính là sinh lực. (xem RI, tr. 82) |
|
4. When the demand and the response are lost in one great Sound, move outward from the desert, leave the seas behind and know that God is Fire. |
4. Khi đòi hỏi và đáp ứng tan hòa trong một Âm Thanh vĩ đại, hãy đi ra khỏi sa mạc, bỏ lại các biển phía sau và biết rằng Thượng đế là Lửa. |
|
This means more than its obvious significance. Superficially it can mean that when the initiate hears the Sound, he leaves behind the desert life of physical incarnation, the emotional life of the astral plane, seething and unstable as the sea, and functions on the plane of mind, of which the symbol is fire. That is the most elementary and obvious meaning, and as this section of A Treatise on the Seven Rays is written for those with initiate understanding, the obvious interpretation will not prove satisfactory. |
Điều này hàm ý nhiều hơn ý nghĩa hiển nhiên của nó. Bề ngoài, nó có thể có nghĩa là khi điểm đạo đồ nghe Âm Thanh, y bỏ lại phía sau đời sống sa mạc của sự nhập thể hồng trần, đời sống cảm xúc của cõi cảm dục, sôi sục và bất ổn như biển, và hoạt động trên cõi trí, mà biểu tượng của nó là lửa. Đó là ý nghĩa sơ đẳng và hiển nhiên nhất, và vì phần này của Luận về Bảy Cung được viết cho những người có sự thấu hiểu của điểm đạo đồ, nên cách diễn giải hiển nhiên sẽ không tỏ ra thỏa đáng. |
|
The meaning must be broader and deeper. The words “outward from the desert” have application for the entire life of the incarnated Monad in the three worlds of human endeavour and enterprise. “Leaving the sea behind” has reference to the withdrawal of the initiate from all sensuous experience because, as I have pointed out, the state of consciousness or awareness is superseded when the higher initiations are taken and their place is filled by a state of being for which we have no word but the unsatisfactory one of identification. This state of being is something very different to consciousness as you understand it. The phrase therefore means (if such a misleading form of words can be justifiably used) that the initiate leaves consciousness itself behind and the five worlds of life expression are transcended; at the third initiation the initiate grasps what is meant when the One in Whom we live and move and have our being (note that expression) is referred to as Fire. I elaborated this theme in A Treatise on Cosmic Fire—a book which evades understanding by all except those with initiate consciousness. Fire is the sumtotal of that which destroys form, produces complete purity in that which is not itself, generates the warmth which lies behind all growth, and is vitality itself. |
Ý nghĩa phải rộng hơn và sâu hơn. Những lời “đi ra khỏi sa mạc” áp dụng cho toàn bộ đời sống của Chân thần nhập thể trong ba cõi của nỗ lực và hoạt động nhân loại. “Bỏ lại biển phía sau” liên quan đến sự rút lui của điểm đạo đồ khỏi mọi kinh nghiệm giác quan, vì như Tôi đã chỉ ra, trạng thái tâm thức hay nhận biết bị vượt qua khi các cuộc điểm đạo cao hơn được nhận, và vị trí của nó được thay thế bằng một trạng thái hiện hữu mà chúng ta không có từ nào khác ngoài từ chưa thỏa đáng là đồng hoá. Trạng thái hiện hữu này rất khác với tâm thức như các bạn hiểu. Do đó, cụm từ này có nghĩa là (nếu có thể dùng chính đáng một hình thức ngôn từ dễ gây hiểu lầm như vậy) điểm đạo đồ bỏ lại chính tâm thức phía sau, và năm thế giới biểu hiện sự sống được vượt qua; ở lần điểm đạo thứ ba, điểm đạo đồ nắm bắt điều được hàm ý khi Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu (hãy lưu ý cách diễn đạt ấy) được gọi là Lửa. Tôi đã khai triển chủ đề này trong Luận về Lửa Vũ Trụ—một quyển sách tránh né sự thấu hiểu của tất cả mọi người, ngoại trừ những ai có tâm thức điểm đạo đồ. Lửa là tổng thể của cái phá hủy hình tướng, tạo nên sự tinh khiết hoàn toàn nơi cái không phải chính nó, phát sinh hơi ấm nằm sau mọi sự tăng trưởng, và chính là sinh lực. |
|
1. The Tibetan points to the necessity of understanding the sentence under consideration from the perspective of initiate understanding. Therefore, it cannot be interpreted from the perspective of the three lower worlds of evolution (though the understanding of such an interpretation must exist). In other words, as a preliminary consideration, it must be understood why the physical plane can be seen as a “desert”, the astral plane a “seas” and the mental plane as the “fire”. |
1. Chân sư Tây Tạng chỉ ra sự cần thiết phải thấu hiểu câu đang được xem xét từ góc nhìn của sự thấu hiểu điểm đạo đồ. Do đó, không thể diễn giải nó từ góc nhìn của ba cõi thấp trong tiến hoá (dù sự thấu hiểu về một cách diễn giải như thế phải tồn tại). Nói cách khác, như một xem xét sơ khởi, cần phải hiểu vì sao cõi hồng trần có thể được xem là một “sa mạc”, cõi cảm dục là “các biển” và cõi trí là “lửa”. |
|
2. The individual involved in the process of soul culture will transcend the desert, sea and fire (considering the lowest interpretation of these terms)e as he/she repolarizes consciousness within the causal body or Egoic Lotus. |
2. Cá nhân tham dự vào tiến trình văn hóa linh hồn sẽ vượt qua sa mạc, biển và lửa (xét theo cách diễn giải thấp nhất của các thuật ngữ này) khi y tái phân cực tâm thức trong thể nguyên nhân hay Hoa Sen Chân Ngã. |
|
3. For the initiate, these three lunar levels will function automatically and in response to soul motivations and patterns. No longer will these spheres of lunar expression trap or preoccupy the consciousness. |
3. Đối với điểm đạo đồ, ba cấp độ thái âm này sẽ hoạt động tự động và đáp ứng với các động cơ cùng mô hình của linh hồn. Những khối cầu biểu hiện thái âm này sẽ không còn giam giữ hay chiếm giữ tâm thức nữa. |
|
4. If the lower personality is a correspondence to the spiritual triad (considered that triad as the personality of the monad), then the concepts of the desert, the sea and the fire will also be applicable to the three levels of that higher triad—the term “desert” to the higher mental plane, the “sea” to the buddhic plane and the “fire” to the atmic level. |
4. Nếu phàm ngã thấp là một tương ứng với Tam nguyên tinh thần (xem tam nguyên ấy như phàm ngã của chân thần), thì các khái niệm sa mạc, biển và lửa cũng sẽ áp dụng cho ba cấp độ của tam nguyên cao siêu ấy—thuật ngữ “sa mạc” cho cõi thượng trí, “biển” cho cõi Bồ đề và “lửa” cho cấp độ atma. |
|
5. Of course there are other, and still higher interpretations. |
5. Dĩ nhiên còn có những cách diễn giải khác, và còn cao hơn nữa. |
|
6. With respect to the meaning of the desert, the Tibetan broadens the consideration, naming the entire normal “three worlds” of evolution as the “desert”. Certainly, like a desert, these three worlds have to be sustained (shall we say, ‘watered’) from ‘above’. The lower lunar vehicles/forms would never cohere without the form-building and form-sustaining potencies of the Solar Angel/Egoic Lotus. The lower three worlds are dependent upon the higher worlds, and the aspects of man which are related to the lower three worlds (namely the etheric-physical, astral and lower mental bodies) are derived from or emanated from the soul (of which they are an expression). |
6. Liên quan đến ý nghĩa của sa mạc, Chân sư Tây Tạng mở rộng sự xem xét, gọi toàn bộ “ba cõi” tiến hoá thông thường là “sa mạc”. Chắc chắn, giống như một sa mạc, ba cõi này phải được duy trì, được “tưới nước” từ “bên trên”. Các vận cụ/hình tướng thái âm thấp sẽ không bao giờ cố kết nếu không có các quyền năng xây dựng hình tướng và duy trì hình tướng của Thái dương Thiên Thần/Hoa Sen Chân Ngã. Ba cõi thấp lệ thuộc vào các thế giới cao hơn, và các phương diện của con người liên hệ với ba cõi thấp (nghĩa là các thể dĩ thái-hồng trần, cảm dục và hạ trí) được dẫn xuất từ, hay xuất lộ từ, linh hồn (mà chúng là một biểu hiện). |
|
7. Without soul nourishment, these three worlds limit greatly limit consciousness. These worlds are ruled by Saturn (in His role of ‘god of limitation’), and of course by the Moon (“Mother of the Form”), and by Mars (from one perspective, ‘god of friction and inharmony’). |
7. Không có sự nuôi dưỡng của linh hồn, ba cõi này giới hạn tâm thức rất lớn. Các thế giới này chịu sự cai quản của Sao Thổ (trong vai trò “thần của giới hạn” của Ngài), và dĩ nhiên của Mặt Trăng (“Mẹ của Hình Tướng”), cũng như của Sao Hỏa (theo một góc nhìn, “thần của ma sát và bất hòa”). |
|
8. At the third initiation (the minimum requirement for a true understanding of a Rule such as this), the lower three worlds are left behind (certainly in terms of preoccupation—though service within these worlds remains as an objective). Thus, on hearing the “one great Sound”, we leave the “desert” of form life, of “lunar” life behind and are no longer limited by the energies characteristic of the third aspect of divinity (energies which originated within the previous and very material solar system—so we are told). |
8. Ở lần điểm đạo thứ ba (yêu cầu tối thiểu để thấu hiểu thật sự một Quy luật như thế này), ba cõi thấp được bỏ lại phía sau (chắc chắn là xét theo sự bận tâm—dù phụng sự trong các thế giới này vẫn còn là một mục tiêu). Vì vậy, khi nghe “một Âm Thanh vĩ đại”, chúng ta bỏ lại phía sau “sa mạc” của đời sống hình tướng, của đời sống “thái âm”, và không còn bị giới hạn bởi các năng lượng đặc trưng cho phương diện thứ ba của thiên tính (những năng lượng bắt nguồn từ hệ mặt trời trước, rất vật chất—người ta cho chúng ta biết như vậy). |
|
9. “Leaving the sea behind” is a withdrawal from the usual kind of sensitivity or consciousness. We are leaving normal sentiency—the feeling response within the “Self” as it ‘touches’ the “not-Self”. “Sensuous life” is based upon dualism—i.e., upon the relation between that which is sensitive and that to which it is sensitive. ‘This’ responds to ‘that’, but ‘this’ does not know itself as ‘that’—a later and more sophisticated development. |
9. “Bỏ lại biển phía sau” là sự rút lui khỏi loại nhạy cảm hay tâm thức thông thường. Chúng ta đang bỏ lại tính cảm nhận—đáp ứng cảm giác trong “Ngã” khi nó “chạm” vào “phi-ngã”. “Đời sống giác quan” dựa trên tính nhị nguyên—tức là dựa trên mối quan hệ giữa cái nhạy cảm và cái mà nó nhạy cảm với. “Cái này” đáp ứng với “cái kia”, nhưng “cái này” không biết chính nó như là “cái kia”—một phát triển muộn hơn và tinh vi hơn. |
|
10. The sensuous life is usually associated with the planet Neptune (Who could be called the ‘god of sensitivity’). There comes a time, the Tibetan tells us, when the “waters break” and “there shall be no more sea”. This refers to the overcoming of the usual astral sensitivity, which is reactive and personal. |
10. Đời sống giác quan thường được liên kết với hành tinh Sao Hải Vương (Đấng có thể được gọi là “thần của sự nhạy cảm”). Chân sư Tây Tạng cho chúng ta biết rằng sẽ đến một thời điểm khi “nước vỡ ra” và “sẽ không còn biển nữa”. Điều này nói đến việc vượt thắng sự nhạy cảm cảm dục thông thường, vốn phản ứng và mang tính cá nhân. |
|
11. Neptune, however, also has higher functions, and is closely related both to the intuition and to the faculty of identification. |
11. Tuy nhiên, Sao Hải Vương cũng có những chức năng cao hơn, và liên hệ mật thiết cả với trực giác lẫn năng lực đồng hoá. |
|
12. Neptune is related to the astral, buddhic and monadic planes. Just as the astral plane is a condition of relative limitation, so the same could be said of the buddhic plane (but for us, in our present state, buddhic function will be seen as a goal rather than a limitation, and this for a long time to come). Yet there will come a time when everything ‘beneath’ the plane of the monad will be seen to limit the full being of the monad. Then sensuous life (even in its relatively higher octaves) will disappear, and we will be left with that inconceivably synthetic state which is characteristic of full monadic awareness. |
12. Sao Hải Vương liên hệ với các cõi cảm dục, Bồ đề và chân thần. Cũng như cõi cảm dục là một tình trạng giới hạn tương đối, điều tương tự cũng có thể nói về cõi Bồ đề (nhưng đối với chúng ta, trong trạng thái hiện nay, chức năng Bồ đề sẽ được xem là một mục tiêu hơn là một giới hạn, và như vậy trong một thời gian dài sắp tới). Tuy nhiên, sẽ đến lúc mọi thứ “bên dưới” cõi của chân thần sẽ được thấy là giới hạn sự hiện hữu trọn vẹn của chân thần. Khi ấy đời sống giác quan (ngay cả trong các quãng tám tương đối cao hơn của nó) sẽ biến mất, và chúng ta sẽ còn lại với trạng thái tổng hợp không thể quan niệm được, đặc trưng cho nhận biết chân thần trọn vẹn. |
|
13. For our present consideration, “leaving the seas behind” should mean the capacity to transcend “consciousness” (in its usual meaning). As I have said elsewhere, however, consciousness is such a cosmic principle, that, in a way, it can never be transcended as long as a cosmos exists. |
13. Đối với sự xem xét hiện nay của chúng ta, “bỏ lại các biển phía sau” nên có nghĩa là khả năng vượt qua “tâm thức” (theo nghĩa thông thường của nó). Tuy nhiên, như tôi đã nói ở nơi khác, tâm thức là một nguyên khí vũ trụ đến mức, theo một cách nào đó, nó không bao giờ có thể bị vượt qua chừng nào một vũ trụ còn tồn tại. |
|
14. If the injunctions in the sentence under consideration were to be completely fulfilled, we would see the initiate leaving the three worlds of normal evolution behind (namely, the “desert”) and, further, leaving behind even the five worlds of superhuman evolution—including the atmic plane. Somehow, in ways which would be difficult for us to understand, all these five worlds could be understood as relating to the “sensuous experience” of the monad as, on its “pilgrimage”, it ventures into the worlds of the “not-Self”. |
14. Nếu các huấn lệnh trong câu đang được xem xét được hoàn thành trọn vẹn, chúng ta sẽ thấy điểm đạo đồ bỏ lại phía sau ba cõi tiến hoá thông thường (nghĩa là “sa mạc”) và xa hơn nữa, bỏ lại phía sau ngay cả năm thế giới của tiến hoá siêu nhân—bao gồm cả cõi atma. Bằng cách nào đó, theo những cách thức khó cho chúng ta thấu hiểu, tất cả năm thế giới này có thể được hiểu là liên hệ với “kinh nghiệm giác quan” của chân thần khi, trên “cuộc hành hương” của mình, nó dấn thân vào các thế giới của “phi-ngã”. |
|
15. The Tibetan (without elaborating the matter) contrasts “identification” with “consciousness” (as that term is usually conceived). Identification, from one perspective, is, indeed, operative on the lower planes, but it is identification with rather than identification as. When we identify with the “not-Self” we limit our consciousness and our being. But when we learn to identify as, we, as it were, transform the object into the subject; we transform (through a deep act of perception) the apparent not-Self into the Self. |
15. Chân sư Tây Tạng (không khai triển vấn đề) đối chiếu “đồng hoá” với “tâm thức” (như thuật ngữ ấy thường được quan niệm). Xét từ một góc nhìn, đồng hoá quả thật hoạt động trên các cõi thấp, nhưng đó là đồng hoá với hơn là đồng hoá như là. Khi chúng ta đồng hoá với “phi-ngã”, chúng ta giới hạn tâm thức và sự hiện hữu của mình. Nhưng khi chúng ta học cách đồng hoá như là, chúng ta, có thể nói như vậy, chuyển đổi đối tượng thành chủ thể; chúng ta chuyển đổi (qua một hành động nhận thức sâu xa) cái phi-ngã bề ngoài thành Ngã. |
|
16. Most if not all of us are in the process of developing consciousness. We are attempting to become more sensitive and to broaden the range of that sensitivity. But the Tibetan is also calling our attention to the necessity to practice identification (or, what we might call, ‘merging in spirit’). When we are successful, we shall find that we have transcended the phenomena characteristic of even the triadal realms; thus, we cannot possibly have full success until we are at least Masters of the Wisdom. We can, however, think in these terms and begin the process. |
16. Hầu hết, nếu không phải tất cả chúng ta, đang ở trong tiến trình phát triển tâm thức. Chúng ta đang cố gắng trở nên nhạy cảm hơn và mở rộng phạm vi của sự nhạy cảm ấy. Nhưng Chân sư Tây Tạng cũng đang kêu gọi chúng ta chú ý đến sự cần thiết phải thực hành đồng hoá (hay điều chúng ta có thể gọi là “hòa nhập trong tinh thần”). Khi thành công, chúng ta sẽ thấy rằng mình đã vượt qua các hiện tượng đặc trưng ngay cả cho các cõi thuộc Tam nguyên tinh thần; vì thế, chúng ta không thể nào thành công trọn vẹn cho đến khi ít nhất chúng ta là các Chân sư Minh Triết. Tuy nhiên, chúng ta có thể suy nghĩ theo những thuật ngữ này và bắt đầu tiến trình. |
|
17. Perhaps the point to extract is that true identification pertains to the world of the monad, and not to the worlds of the personality or spiritual triad (though those worlds can eventually be seen and understood in terms of identification). |
17. Có lẽ điểm cần rút ra là đồng hoá đích thực thuộc về thế giới của chân thần, chứ không thuộc về các thế giới của phàm ngã hay Tam nguyên tinh thần (dù những thế giới ấy cuối cùng có thể được thấy và thấu hiểu theo nghĩa đồng hoá). |
|
18. The Tibetan offers the following amazing thought: |
18. Chân sư Tây Tạng đưa ra tư tưởng kỳ diệu sau đây: |
|
“at the third initiation the initiate grasps what is meant when the One in Whom we live and move and have our being (note that expression) is referred to as Fire. |
“ở lần điểm đạo thứ ba, điểm đạo đồ nắm bắt điều được hàm ý khi Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu (hãy lưu ý cách diễn đạt ấy) được gọi là Lửa. |
|
There are many ways to define God, and one of the best is as “fire”. |
Có nhiều cách để định nghĩa Thượng đế, và một trong những cách tốt nhất là “lửa”. |
|
19. An important definition of fire (and hence, of God) is then given: |
19. Một định nghĩa quan trọng về lửa (và do đó, về Thượng đế) được đưa ra như sau: |
|
“ Fire is the sumtotal of that which destroys form, produces complete purity in that which is not itself, generates the warmth which lies behind all growth, and is vitality itself. |
“ Lửa là tổng thể của cái phá hủy hình tướng, tạo nên sự tinh khiết hoàn toàn nơi cái không phải chính nó, phát sinh hơi ấm nằm sau mọi sự tăng trưởng, và chính là sinh lực. |
|
We might say that fire is that which so acts upon things apparently other than itself, that it renders those things into itself. When subjected to fire, all things become fire. When subjected to God, all things become God. Of course, they already are God, but (if they are self-conscious units) they come consciously to know that they are God. |
Chúng ta có thể nói rằng lửa là cái tác động lên những sự vật dường như khác với chính nó đến mức nó khiến những sự vật ấy trở thành chính nó. Khi chịu tác động của lửa, mọi sự vật trở thành lửa. Khi chịu tác động của Thượng đế, mọi sự vật trở thành Thượng đế. Dĩ nhiên, chúng vốn đã là Thượng đế, nhưng (nếu chúng là những đơn vị có ngã thức) chúng đi đến chỗ biết một cách có ý thức rằng chúng là Thượng đế. |
|
20. Probably we think of God (or more locally) the God of our planet in many ways, but it would repay us to think of this God as fire. This fire, when burning in us, destroys the illusion that there is anything else other than God. When this fire burns, things will still be understood ‘in themselves’, but, in a still deeper way, will no longer be seen as independent from or ‘other than’ God. We can well realize how much pain and unhappiness has resulted down the ages from the perception that God is other than His “Creation”. Pantheism, correctly understood, is an enlightened perspective. |
20. Có lẽ chúng ta nghĩ về Thượng đế (hay gần hơn, về Thượng đế của hành tinh chúng ta) theo nhiều cách, nhưng sẽ rất hữu ích nếu chúng ta nghĩ về Thượng đế này như lửa. Lửa này, khi cháy trong chúng ta, phá hủy ảo tưởng rằng có bất cứ điều gì khác ngoài Thượng đế. Khi lửa này cháy, các sự vật vẫn sẽ được thấu hiểu “trong chính chúng”, nhưng theo một cách còn sâu xa hơn, chúng sẽ không còn được thấy là độc lập với hay “khác với” Thượng đế. Chúng ta có thể nhận ra rõ biết bao đau khổ và bất hạnh đã phát sinh qua các thời đại từ nhận thức rằng Thượng đế là khác với “Tạo vật” của Ngài. Thuyết phiếm thần, nếu được hiểu đúng, là một quan điểm giác ngộ. |
|
21. When fire at length produces “complete purity” in that which (apparently) is not itself, that purity reveals that that which has been purified is, in fact, essentially fire. The whole reason for purification is so that we can realize ourselves as God, Life, Reality, Essence—whatever you choose to call the Fundamental Being. |
21. Khi lửa cuối cùng tạo nên “sự tinh khiết hoàn toàn” nơi cái (dường như) không phải chính nó, sự tinh khiết ấy mặc khải rằng cái đã được thanh luyện thật ra là, trong thực tế, lửa về bản chất. Toàn bộ lý do của sự thanh luyện là để chúng ta có thể nhận ra chính mình như là Thượng đế, Sự Sống, Thực Tại, Tinh Túy—bất cứ danh xưng nào các bạn chọn để gọi Bản Thể Nền Tảng. |
|
22. Fire, therefore, promotes identification—in the high meaning of that term discussed in the text. When fire has done its work, all impediments to identification are burned away. Thus, interestingly, fire destroys consciousness, as it removes the perception that there is a subject and an object. |
22. Do đó, lửa thúc đẩy sự đồng hoá với—theo ý nghĩa cao của thuật ngữ này đã được bàn trong bản văn. Khi lửa đã hoàn tất công việc của nó, mọi trở ngại đối với sự đồng hoá đều bị thiêu rụi. Vì thế, thật thú vị, lửa hủy diệt tâm thức, vì nó loại bỏ tri giác rằng có một chủ thể và một đối tượng. |
|
23. Each of us should consider how fire works within us, and which may be the fires with which we work and which work upon us. A realization of oneness, wholeness, synthesis, depends upon the progressive action of fire. |
23. Mỗi chúng ta nên suy xét cách lửa hoạt động bên trong mình, và đâu là những lửa mà chúng ta làm việc với chúng, cũng như những lửa tác động lên chúng ta. Sự nhận biết về tính nhất như, tính toàn vẹn và tổng hợp tùy thuộc vào tác động tiệm tiến của lửa. |
|
24. Just as God is life, so is fire. Fire is Life. |
24. Cũng như Thượng đế là sự sống, lửa cũng vậy. Lửa là Sự Sống. |
|
F. This initiate realization is all brought about by the sudden appreciation or apprehension of sound, by the awakening of the inner ear to the significance of the Voice, just as the disciple in the earlier stage awakened to the significance of vision. That is why, at the third initiation, the initiate sees the star and hears the sound. At the first two initiations, he sees the light and hears the Word. (cf. RI, p. 83) |
F. Toàn bộ nhận thức điểm đạo đồ này được tạo nên bởi sự tri nhận hay lĩnh hội đột ngột về âm thanh, bởi sự thức tỉnh của nội nhĩ trước thâm nghĩa của Tiếng Nói, cũng như đệ tử ở giai đoạn trước đã thức tỉnh trước thâm nghĩa của linh ảnh. Đó là lý do, ở lần điểm đạo thứ ba, điểm đạo đồ thấy ngôi sao và nghe âm thanh. Ở hai lần điểm đạo đầu, y thấy ánh sáng và nghe Linh từ. (xem RI, tr. 83) |
|
[Page 83] |
|
|
This initiate realisation is all brought about by the sudden appreciation or apprehension of sound, by the awakening of the inner ear to the significance of the Voice, just as the disciple in the earlier stage awakened to the significance of vision. That is why, at the third initiation, the initiate sees the star and hears the sound. At the first two initiations, he sees the light and hears the Word; but this is something different and is the higher correspondence to the earlier experience. It will be obvious that I can say no more upon this subject. |
Toàn bộ nhận thức điểm đạo đồ này được tạo nên bởi sự tri nhận hay lĩnh hội đột ngột về âm thanh, bởi sự thức tỉnh của nội nhĩ trước thâm nghĩa của Tiếng Nói, cũng như đệ tử ở giai đoạn trước đã thức tỉnh trước thâm nghĩa của linh ảnh. Đó là lý do, ở lần điểm đạo thứ ba, điểm đạo đồ thấy ngôi sao và nghe âm thanh. Ở hai lần điểm đạo đầu, y thấy ánh sáng và nghe Linh từ; nhưng đây là một điều khác, và là tương ứng cao hơn của kinh nghiệm trước đó. Hiển nhiên Tôi không thể nói thêm về chủ đề này. |
|
1. The Tibetan speaks of “initiate realization”. The word realization should be pondered. Some have suggested, meaningfully and associatively, that it means to ‘see with real-eyes’. True realization is a high state, an atmic state, focussing on the fifth plane of the atmic plane (counting downward from above). We must remember that the ability to polarize upon the atmic plane is the prerogative of the Master. It may be that the Initiation of Revelation (the fifth) is related to the faculty of realization; at least one can reasonably say that atmic realization is precursor of the full revelation which comes at the fifth degree. |
1. Chân sư Tây Tạng nói về “nhận thức điểm đạo đồ”. Nên suy ngẫm về từ nhận thức. Một số người đã gợi ý, một cách có ý nghĩa và liên tưởng, rằng nó hàm nghĩa “thấy bằng đôi mắt chân thực”. Nhận thức chân thực là một trạng thái cao, một trạng thái atma, tập trung trên cõi phụ thứ năm của cõi atma, tính xuống từ trên. Chúng ta phải nhớ rằng khả năng phân cực trên cõi atma là đặc quyền của Chân sư. Có thể Cuộc Điểm Đạo Mặc Khải, tức lần thứ năm, liên hệ với năng lực nhận thức; ít nhất, có thể nói một cách hợp lý rằng nhận thức atma là tiền thân của sự mặc khải trọn vẹn đến ở cấp độ thứ năm. |
|
2. The Tibetan contrasts certain registrations at the third initiation with those of the first two degrees. The registration of the “Word” and the “light” pertain to the first two degrees, just as the “Sound” and the “star” pertain to the third. The third degree represents an intensification of experience when compared to the experiences in first two degrees. When, during the first two initiations, the “Voice” speaks the “Word”, and when the “vision” reveals the “light”—guidance of a higher kind is offered to the human soul. In such guidance, the second aspect of divinity is active. The consciousness of the candidate is broadened; he knows more clearly which way he should go and what he must do. He is not yet, however, in a condition of completed fusion with the soul. |
2. Chân sư Tây Tạng đối chiếu một số ghi nhận ở lần điểm đạo thứ ba với những ghi nhận của hai cấp độ đầu. Sự ghi nhận “Linh từ” và “ánh sáng” thuộc về hai cấp độ đầu, cũng như “Âm Thanh” và “ngôi sao” thuộc về cấp độ thứ ba. Cấp độ thứ ba biểu thị một sự gia tăng cường độ của kinh nghiệm khi so với các kinh nghiệm trong hai cấp độ đầu. Khi, trong hai lần điểm đạo đầu, “Tiếng Nói” xướng “Linh từ”, và khi “linh ảnh” mặc khải “ánh sáng”—sự hướng dẫn thuộc một loại cao hơn được trao cho linh hồn con người. Trong sự hướng dẫn như thế, phương diện thứ hai của thiên tính hoạt động. Tâm thức của ứng viên được mở rộng; y biết rõ hơn mình nên đi đường nào và phải làm gì. Tuy nhiên, y vẫn chưa ở trong trạng thái dung hợp hoàn tất với linh hồn. |
|
3. At the third degree however, the registration of the “Sound” and the seeing of the “star” bring him/her into a new relation with life, and synthesis begins to be something of a reality. The first aspect of divinity becomes pronounced. |
3. Tuy nhiên, ở cấp độ thứ ba, sự ghi nhận “Âm Thanh” và việc thấy “ngôi sao” đưa vị ấy vào một mối liên hệ mới với sự sống, và tổng hợp bắt đầu trở thành một điều gì đó có tính thực tại. Phương diện thứ nhất của thiên tính trở nên nổi bật. |
|
4. Why can the Tibetan say no more upon the subject? Clearly, we have to experience these things for ourselves as we become increasingly intimate with the Solar Angel and with the higher aspects of our own nature. |
4. Tại sao Chân sư Tây Tạng không thể nói thêm về chủ đề này? Rõ ràng, chúng ta phải tự mình trải nghiệm những điều này khi ngày càng trở nên thân mật hơn với Thái dương Thiên Thần và với các phương diện cao hơn trong bản chất của chính mình. |
|
5. We might begin to question ourselves: Do we hear a “Voice”? Is a “Word” sounding? What “vision” is presented to us? Are we following it? What “light” do we see? |
5. Chúng ta có thể bắt đầu tự hỏi: Chúng ta có nghe một “Tiếng Nói” không? Có một “Linh từ” đang vang lên không? “Linh ảnh” nào đang được trình hiện cho chúng ta? Chúng ta có đang đi theo nó không? Chúng ta thấy “ánh sáng” nào? |
|
6. Or is a great and inclusive “Sound” reverberating? Is a “star” looming on the horizon of our consciousness? Or have we truly seen the “star shine forth”? |
6. Hay một “Âm Thanh” vĩ đại và bao gồm đang vang vọng? Có một “ngôi sao” đang hiện lên nơi chân trời tâm thức của chúng ta không? Hay chúng ta đã thật sự thấy “ngôi sao tỏa sáng”? |
|
7. The whole process is progressive and ever-more inclusive. The “Word” is surely included within the “Sound”. The “light” condenses into the “five-pointed star”. |
7. Toàn bộ tiến trình là tiệm tiến và ngày càng bao gồm hơn. Chắc chắn “Linh từ” được bao hàm trong “Âm Thanh”. “Ánh sáng” ngưng tụ thành “ngôi sao năm cánh”. |
|
G. Why is it essential that some knowledge begin to reach the public anent the highest spiritual centre, Shamballa? (cf. RI, p. 83) |
G. Tại sao điều thiết yếu là một số tri thức phải bắt đầu đến với công chúng về trung tâm tinh thần cao nhất, Shamballa? (xem RI, tr. 83) |
|
Only the Father, the planetary Logos, the Lord of the World, enunciates the final affirmative sound. (cf. RI, p. 83) |
Chỉ có Cha, Hành Tinh Thượng đế, Đức Chúa Tể Thế Giới, mới tuyên phát âm thanh xác nhận tối hậu. (xem RI, tr. 83) |
|
The Gospel story gives us the five Initiations of the Master Jesus, beginning with the first and ending with the fifth. (cf. RI, p. 83) |
Câu chuyện Phúc Âm trao cho chúng ta năm Cuộc Điểm Đạo của Chân sư Jesus, bắt đầu với lần thứ nhất và kết thúc với lần thứ năm. (xem RI, tr. 83) |
|
The Gospel story also gives the initiations of the overshadowing Christ, starting from the second and ending with the seventh. (cf. RI, p. 83-84) |
Câu chuyện Phúc Âm cũng trao cho chúng ta các cuộc điểm đạo của Đức Christ phủ bóng, bắt đầu từ lần thứ hai và kết thúc với lần thứ bảy. (xem RI, tr. 83-84) |
|
It is essential, however, that some knowledge begin to reach the public anent the highest spiritual centre to which (as the Gospel story intimates) Christ Himself was attentive. Frequently we read in the New Testament that “the Father spoke to Him,” that “He heard a voice,” and that the seal of affirmation (as it is occultly called) was given to Him. Only the Father, the planetary Logos, the Lord of the World, enunciates the final affirmative sound. This has no reference—when it occurs—to the earlier initiations, but only to the final ones. There are five obvious crises of initiation which concern the Master Jesus as step by step He took or re-enacted the five initiations. But lying behind this obvious and practical teaching, lies an undercurrent or thread of higher revelation. This is concerned with the realisations of the overshadowing Christ as He registered the Voice which is heard at the third, fifth, sixth and seventh initiations. The Gospel story gives us the five Initiations of the Master Jesus, beginning with the first and ending with the fifth. But it also gives the initiations of the Christ, starting from the second and ending with the seventh. The latter is left incomplete, and the Voice is not recorded, because at the Resurrection and Ascension we are not told of the hearing of the affirmative sound. That will be heard when the Christ completes His work at the time of the Second Coming. Then the great seventh initiation, which is a dual one (love-wisdom in full manifestation motivated by power and will), will be consummated, and the Buddha and the Christ will together pass before the Lord of the [Page 84] World, together see the glory of the Lord, and together pass to higher service of a nature and calibre unknown to us. |
Tuy nhiên, điều thiết yếu là một số tri thức phải bắt đầu đến với công chúng về trung tâm tinh thần cao nhất mà, như câu chuyện Phúc Âm ám chỉ, chính Đức Christ đã chú tâm đến. Trong Tân Ước, chúng ta thường đọc rằng “Cha đã nói với Ngài”, rằng “Ngài đã nghe một tiếng nói”, và rằng dấu ấn xác nhận, như cách gọi huyền bí, đã được trao cho Ngài. Chỉ có Cha, Hành Tinh Thượng đế, Đức Chúa Tể Thế Giới, mới tuyên phát âm thanh xác nhận tối hậu. Khi điều này xảy ra, nó không liên hệ đến các cuộc điểm đạo trước, mà chỉ liên hệ đến các cuộc điểm đạo sau cùng. Có năm khủng hoảng điểm đạo hiển nhiên liên quan đến Chân sư Jesus, khi từng bước Ngài đã nhận hoặc tái diễn năm cuộc điểm đạo. Nhưng ẩn sau giáo huấn hiển nhiên và thực tiễn này là một dòng ngầm hay sợi dây mặc khải cao hơn. Điều này liên quan đến các nhận thức của Đức Christ phủ bóng khi Ngài ghi nhận Tiếng Nói được nghe ở các lần điểm đạo thứ ba, thứ năm, thứ sáu và thứ bảy. Câu chuyện Phúc Âm trao cho chúng ta năm Cuộc Điểm Đạo của Chân sư Jesus, bắt đầu với lần thứ nhất và kết thúc với lần thứ năm. Nhưng nó cũng trao cho chúng ta các cuộc điểm đạo của Đức Christ, bắt đầu từ lần thứ hai và kết thúc với lần thứ bảy. Cuộc điểm đạo sau cùng còn để dở, và Tiếng Nói không được ghi lại, bởi vì ở Sự Phục Sinh và Thăng Thiên, chúng ta không được kể về việc nghe âm thanh xác nhận. Âm thanh ấy sẽ được nghe khi Đức Christ hoàn tất công việc của Ngài vào thời kỳ Tái Lâm. Khi ấy, cuộc điểm đạo thứ bảy vĩ đại, vốn là một cuộc điểm đạo kép, Bác Ái – Minh Triết trong biểu hiện trọn vẹn được thúc đẩy bởi quyền năng và ý chí, sẽ được viên thành; và Đức Phật cùng Đức Christ sẽ cùng nhau đi qua trước Đức Chúa Tể của [Page 84] Thế Giới, cùng nhau thấy vinh quang của Đức Chúa, và cùng nhau chuyển sang sự phụng sự cao hơn thuộc một bản chất và tầm vóc mà chúng ta chưa biết. |
|
1. The Tibetan tells us that the public must begin to have some knowledge of Shamballa? Why? Perhaps a deeper sense of plan and purpose are now required so that we (humanity) may really know where we are going and how to get there. |
1. Chân sư Tây Tạng nói với chúng ta rằng công chúng phải bắt đầu có một số tri thức về Shamballa. Tại sao? Có lẽ giờ đây cần một ý thức sâu hơn về Thiên Cơ và Thiên Ý để chúng ta, nhân loại, có thể thật sự biết mình đang đi đâu và làm thế nào để đến đó. |
|
2. Shamballa is now ‘moving’ in relation to humanity—no doubt for reasons of its own having to do with great cycles of which humanity knows virtually nothing. Humanity must become an intelligent participator in this process, learning something of the relatively unused faculty of will which, according to planetary timing, is now ripe for development. |
2. Shamballa hiện đang “chuyển động” trong tương quan với nhân loại, chắc chắn vì những lý do riêng của nó liên quan đến các chu kỳ vĩ đại mà nhân loại hầu như không biết gì. Nhân loại phải trở thành một người tham dự thông minh trong tiến trình này, học biết phần nào về năng lực tương đối chưa được sử dụng là ý chí, năng lực mà theo thời điểm hành tinh, nay đã chín muồi để phát triển. |
|
3. Human intelligence has released great potencies into human control—atomic energy, for instance. Unless the higher will is governing the life of humanity (to some reasonable extent) these released potencies present a very real threat to human welfare and even survival. It is the spiritual will which must regulate their use. |
3. Trí tuệ con người đã giải phóng những tiềm năng lớn lao vào sự kiểm soát của con người, chẳng hạn năng lượng nguyên tử. Trừ khi ý chí cao hơn đang cai quản đời sống nhân loại, ở một mức độ hợp lý nào đó, những tiềm năng được giải phóng này tạo nên một mối đe dọa rất thực đối với phúc lợi và thậm chí sự sống còn của nhân loại. Chính ý chí tinh thần phải điều hòa việc sử dụng chúng. |
|
4. It is apparent that humanity is participating in a “forcing process” the Source of which is not, principally, itself. Planetary impulses from much higher Sources are impelling and compelling humanity to unfold more rapidly that may be comfortable. If one is riding on the back of a tiger, certain means of control are indispensable. |
4. Rõ ràng nhân loại đang tham dự vào một “tiến trình thúc ép” mà Nguồn cội của nó, về căn bản, không phải là chính nhân loại. Những xung lực hành tinh từ các Nguồn cao hơn rất nhiều đang thúc đẩy và buộc nhân loại khai mở nhanh hơn mức có thể là dễ chịu. Nếu một người đang cưỡi trên lưng cọp, một số phương tiện kiểm soát là không thể thiếu. |
|
5. Since Shamballa is almost forcing its way into human consciousness, humanity must awaken intelligently to the nature of this newly appearing energy. |
5. Vì Shamballa gần như đang cưỡng bách tiến vào tâm thức nhân loại, nhân loại phải thức tỉnh một cách thông minh trước bản chất của năng lượng mới đang xuất hiện này. |
|
6. Note in this passage that the Tibetan makes the Planetary Logos and the Lord of the World somewhat equivalent. Although They can be distinguished, and often are, They work in such complete alignment that for practical purposes they may be undifferentiable. |
6. Hãy lưu ý trong đoạn này rằng Chân sư Tây Tạng xem Hành Tinh Thượng đế và Đức Chúa Tể Thế Giới phần nào tương đương. Dù Các Ngài có thể được phân biệt, và thường được phân biệt, Các Ngài làm việc trong sự chỉnh hợp hoàn toàn đến mức, xét về mục đích thực tiễn, có thể không thể phân biệt được. |
|
7. The remainder of this paragraph is of very great importance. The work of the Master Jesus and of the Christ are contrasted. The initiations which concerned Them, respectively, are discussed. |
7. Phần còn lại của đoạn này có tầm quan trọng rất lớn. Công việc của Chân sư Jesus và của Đức Christ được đối chiếu. Các cuộc điểm đạo liên quan đến Các Ngài, theo từng vị, được bàn đến. |
|
8. We come to understand that the “Voice” appears at certain points in the initiation process in order to confirm and affirm the initiate’s progress. Perhaps, in lesser ways, we have had experiences of inner confirmation and affirmation. An inner “voice” emerges and informs that a desired internal process has been accomplished. We learn where we actually stand and need not be told from without. |
8. Chúng ta đi đến thấu hiểu rằng “Tiếng Nói” xuất hiện tại một số điểm trong tiến trình điểm đạo nhằm xác nhận và khẳng định sự tiến bộ của điểm đạo đồ. Có lẽ, theo những cách nhỏ hơn, chúng ta đã có các kinh nghiệm về sự xác nhận và khẳng định bên trong. Một “tiếng nói” bên trong xuất hiện và cho biết rằng một tiến trình nội tại mong muốn đã được hoàn thành. Chúng ta biết mình thật sự đứng ở đâu và không cần được nói cho biết từ bên ngoài. |
|
9. D.K. speaks of the five “obvious” crises of initiation in the life of Master Jesus. This suggests that there were important crises which were not obvious. |
9. Chân sư DK nói về năm khủng hoảng điểm đạo “hiển nhiên” trong đời sống của Chân sư Jesus. Điều này gợi ý rằng đã có những khủng hoảng quan trọng không hiển nhiên. |
|
10. In relation to the information given here, we must contrast the idea (also presented by the Tibetan elsewhere) that the Master Jesus took the fifth initiation as Apollonius of Tyana, and so, in His life in Palestine, had not really completed the fifth degree. The “Resurrection” through which the Master Jesus passed, however, seems here to be considered a precursor of the fifth degree, even though the true Resurrection does not occur until the seventh initiation. |
10. Liên quan đến thông tin được đưa ra ở đây, chúng ta phải đối chiếu ý tưởng, cũng do Chân sư Tây Tạng trình bày ở nơi khác, rằng Chân sư Jesus đã nhận lần điểm đạo thứ năm với tư cách Apollonius xứ Tyana, và vì thế, trong đời sống của Ngài ở Palestine, Ngài chưa thật sự hoàn tất cấp độ thứ năm. Tuy nhiên, “Sự Phục Sinh” mà Chân sư Jesus đã trải qua dường như ở đây được xem là tiền thân của cấp độ thứ năm, dù Sự Phục Sinh chân thực không xảy ra cho đến lần điểm đạo thứ bảy. |
|
11. Two “thread(s) of revelation” are present in the Biblical narrative—one concerning the Master Jesus (the silver thread) and one concerning the Christ (the thread of gold). |
11. Có hai “sợi dây mặc khải” hiện diện trong trình thuật Kinh Thánh, một liên quan đến Chân sư Jesus, sợi dây bạc, và một liên quan đến Đức Christ, sợi dây vàng. |
|
12. It is important to note that during the cooperative process between the Christ and the Master Jesus, the Christ, too, was experiencing initiatory “realizations”. There was occurring a dual initiatory process, the Christ’s realizations being, of course, higher than those of the initiate, Jesus. |
12. Điều quan trọng cần lưu ý là trong tiến trình hợp tác giữa Đức Christ và Chân sư Jesus, chính Đức Christ cũng đang trải nghiệm các “nhận thức” điểm đạo. Đã diễn ra một tiến trình điểm đạo kép, trong đó các nhận thức của Đức Christ, dĩ nhiên, cao hơn các nhận thức của điểm đạo đồ Jesus. |
|
13. For both of these Master, some of the initiations experienced (or, should we say, ‘dramatized’) were re-enactments. The Master Jesus had already passed through the first two initiations in former incarnations, and the Christ was already a Master of the Wisdom, and head of the Spiritual Hierarchy at the time of the Palestine overshadowing. It would seem that as Krishna, some three thousand years earlier, He had experienced the fourth degree. Since the time of the Buddha (probably following the Buddha’s incarnation as Prince Siddhartha), He (the Christ) had assumed the role of Head of the Hierarchy. |
13. Đối với cả hai Chân sư này, một số trong các cuộc điểm đạo đã được trải nghiệm, hay chúng ta nên nói là “được kịch hóa”, là các sự tái diễn. Chân sư Jesus đã đi qua hai cuộc điểm đạo đầu trong các kiếp trước, và Đức Christ đã là một Chân sư Minh Triết, đồng thời là vị đứng đầu Thánh Đoàn Tinh Thần vào thời kỳ phủ bóng tại Palestine. Có vẻ như với tư cách Krishna, khoảng ba ngàn năm trước, Ngài đã trải nghiệm cấp độ thứ tư. Từ thời Đức Phật, có lẽ sau kiếp lâm phàm của Đức Phật trong tư cách Thái tử Siddhartha, Ngài, tức Đức Christ, đã đảm nhận vai trò Đứng Đầu Thánh Đoàn. |
|
14. But, then, the Christ is said to re-take the first initiation with every new initiate (such is His deep identification with all human beings), so in a sense it may be accurate to say, as the Tibetan here says, that the initiations of the Christ are given, “starting from the second and ending with the seventh”. Of these, only the sixth and seventh were ‘new’, as well, perhaps, as some later aspects of the fifth. If the Christ ‘took’ earlier initiations during the Palestine experience, it would seem reasonable to think that He ‘took’ them only through acts of identification. |
14. Nhưng rồi, người ta nói Đức Christ nhận lại lần điểm đạo thứ nhất cùng với mỗi điểm đạo đồ mới, vì đó là sự đồng hoá sâu xa của Ngài với tất cả con người; cho nên, theo một nghĩa nào đó, có thể đúng khi nói, như Chân sư Tây Tạng nói ở đây, rằng các cuộc điểm đạo của Đức Christ được trao, “bắt đầu từ lần thứ hai và kết thúc với lần thứ bảy”. Trong số này, chỉ lần thứ sáu và thứ bảy là “mới”, và có lẽ cũng như một số phương diện sau của lần thứ năm. Nếu Đức Christ “nhận” các cuộc điểm đạo trước trong kinh nghiệm Palestine, thì dường như hợp lý khi nghĩ rằng Ngài “nhận” chúng chỉ qua các hành vi đồng hoá. |
|
15. Perhaps there is a student in the group who would be interested in collecting the “Words” as they were pronounced at the third, fifth and sixth initiations. The Tibetan tells us that no “Voice” spoke in relation to the Christ’s seventh initiation because that initiation is not yet complete. It will be completed during the Aquarian Age during the Christ’s “Second Coming”. |
15. Có lẽ trong nhóm có một đạo sinh quan tâm đến việc thu thập các “Linh từ” như chúng đã được tuyên đọc ở các lần điểm đạo thứ ba, thứ năm và thứ sáu. Chân sư Tây Tạng cho chúng ta biết rằng không có “Tiếng Nói” nào vang lên liên quan đến lần điểm đạo thứ bảy của Đức Christ, bởi vì cuộc điểm đạo ấy vẫn chưa hoàn tất. Nó sẽ được hoàn tất trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, trong “Cuộc Tái Lâm” của Đức Christ. |
|
16. When one thinks of the cooperation between the initiate, Jesus, and the Christ, it becomes clear that at many times it was the Christ Who was expressing through the body of Jesus. At other times, it appears to have been Jesus, Himself. The Bible story must be interpreted from this perspective, and, as the Tibetan suggests, the gold and silver threads disentangled. It may be that some of the more violent demonstrations were enacted by Jesus (throwing the money changers out of the Temple, cursing the fig tree, etc.) who was surely working upon the sixth ray and probably upon the first as well. |
16. Khi nghĩ về sự hợp tác giữa điểm đạo đồ Jesus và Đức Christ, điều trở nên rõ ràng là trong nhiều lúc chính Đức Christ đã biểu hiện qua thể của Jesus. Vào những lúc khác, dường như đó là chính Jesus. Câu chuyện Kinh Thánh phải được diễn giải từ viễn tượng này, và như Chân sư Tây Tạng gợi ý, các sợi dây vàng và bạc phải được gỡ tách. Có thể một số biểu hiện dữ dội hơn đã do Jesus thực hiện, như đuổi những người đổi tiền ra khỏi Đền Thờ, nguyền rủa cây vả, v.v.; Ngài chắc chắn đang làm việc trên cung sáu và có lẽ cũng trên cung một. |
|
17. There is some confusion concerning the meaning of “Resurrection” and “Ascension”. The Resurrection in the Bible story precedes the Ascension. The true Ascension is the sixth degree; the true Resurrection, the seventh. |
17. Có một số nhầm lẫn liên quan đến ý nghĩa của “Phục Sinh” và “Thăng Thiên”. Sự Phục Sinh trong câu chuyện Kinh Thánh đi trước Sự Thăng Thiên. Sự Thăng Thiên chân thực là cấp độ thứ sáu; Sự Phục Sinh chân thực là cấp độ thứ bảy. |
|
18. The paragraph suggests that an affirmative Voice is missing only in relation to the seventh initiation, but enigmatically goes on to say that “at the Resurrection and Ascension we are not told of the hearing of the affirmative sound”. Yet the Resurrection and Ascension (as here discussed) relate to the aftermath of the fourth degree and to the sixth degree, respectively. Some additional clarification is needed. |
18. Đoạn văn gợi ý rằng một Tiếng Nói xác nhận chỉ thiếu liên quan đến lần điểm đạo thứ bảy, nhưng rồi một cách bí ẩn lại nói rằng “ở Sự Phục Sinh và Thăng Thiên, chúng ta không được kể về việc nghe âm thanh xác nhận”. Tuy nhiên, Sự Phục Sinh và Thăng Thiên, như được bàn ở đây, lần lượt liên hệ đến hậu quả của cấp độ thứ tư và cấp độ thứ sáu. Cần có thêm sự minh giải. |
|
19. What is most important to realize is that the Christ’s work is not yet complete. He has not yet completed the lengthy process known as the seventh initiation, but will do so “at the time of His Second Coming”—presumably, not at the beginning of the Second Coming, but only after His proposed work has been done during the Aquarian Age. (There is, however, some ambiguity concerning the meaning of “at the time of His Second Coming”.) From what is said here, the true “Second Coming” seems a consummation following the Christ’s anticipated work during the Aquarian Age. It is only then that the Christ the Buddha “will together pass before the Lord of the World, together see the glory of the Lord, and together pass to higher service of a nature and calibre unknown to us.” |
19. Điều quan trọng nhất cần nhận thức là công việc của Đức Christ vẫn chưa hoàn tất. Ngài chưa hoàn tất tiến trình dài lâu được biết đến như lần điểm đạo thứ bảy, nhưng sẽ làm như vậy “vào thời kỳ Tái Lâm của Ngài”, có lẽ không phải lúc khởi đầu Cuộc Tái Lâm, mà chỉ sau khi công việc đã được dự kiến của Ngài hoàn thành trong Kỷ Nguyên Bảo Bình. Tuy nhiên, có một số mơ hồ liên quan đến ý nghĩa của “vào thời kỳ Tái Lâm của Ngài”. Từ những gì được nói ở đây, “Cuộc Tái Lâm” chân thực dường như là một sự viên thành theo sau công việc được mong đợi của Đức Christ trong Kỷ Nguyên Bảo Bình. Chỉ khi ấy Đức Christ và Đức Phật mới “cùng nhau đi qua trước Đức Chúa Tể Thế Giới, cùng nhau thấy vinh quang của Đức Chúa, và cùng nhau chuyển sang sự phụng sự cao hơn thuộc một bản chất và tầm vóc mà chúng ta chưa biết.” |
|
20. These words suggest the completion of the seventh initiation by both the Buddha and the Christ at some point during the Aquarian Age—probably near its ending. These words also suggest that new modes of service (not concerned with the redemption of humanity) will occupy the Christ and the Buddha from that point forward. |
20. Những lời này gợi ý sự hoàn tất lần điểm đạo thứ bảy bởi cả Đức Phật và Đức Christ vào một thời điểm nào đó trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, có lẽ gần cuối kỷ nguyên ấy. Những lời này cũng gợi ý rằng từ thời điểm đó trở đi, các phương thức phụng sự mới, không liên quan đến sự cứu chuộc nhân loại, sẽ chiếm lĩnh Đức Christ và Đức Phật. |
|
21. Perhaps, even after the Aquarian Age, both the Buddha and the Christ will continue to serve together. That is one possibility suggested by the words “together pass to higher service”; or They could pass together to distinctive modes of higher service. Their ‘passing’ would be together, but Their destinations would be different. Indeed, Their ultimate destinations are said to be different, for the Christ will, eventually, make His way to Sirius—a destination which was to have also been the Buddha’s destiny, but which is no longer so. |
21. Có lẽ, ngay cả sau Kỷ Nguyên Bảo Bình, cả Đức Phật và Đức Christ sẽ tiếp tục phụng sự cùng nhau. Đó là một khả năng được gợi ý bởi những lời “cùng nhau chuyển sang sự phụng sự cao hơn”; hoặc Các Ngài có thể cùng nhau chuyển sang các phương thức phụng sự cao hơn riêng biệt. Sự “chuyển sang” của Các Ngài sẽ diễn ra cùng nhau, nhưng đích đến của Các Ngài sẽ khác nhau. Thật vậy, các đích đến tối hậu của Các Ngài được nói là khác nhau, vì cuối cùng Đức Christ sẽ tiến đến Sirius, một đích đến vốn cũng đã từng là vận mệnh của Đức Phật, nhưng nay không còn như vậy. |
|
22. In any case, Christ must and will finish His task in relation to humanity, and that will surely take time. It is reasonable to think that only then, will He, with the Buddha, pass before the Lord of the World. The implication is that the Buddha, too, will retain His connection to humanity and to this globe during the period of the redemptive work of the Christ. The Buddha is already a ‘resident’ of Shamballa, and this probably will not change. Yet, just as He has for centuries retained a relationship to humanity (long evidenced through His yearly ‘appearance’ at the Wesak Festival in Tibet), it is likely that during the Aquarian Age some sort of supportive connection with humanity will continue, though who can describe its nature? In any case, the Buddha’s support of and cooperation with the Christ amounts to a support of humanity. |
22. Dù thế nào, Đức Christ phải và sẽ hoàn tất nhiệm vụ của Ngài liên quan đến nhân loại, và điều đó chắc chắn sẽ cần thời gian. Hợp lý khi nghĩ rằng chỉ khi ấy, Ngài mới cùng Đức Phật đi qua trước Đức Chúa Tể Thế Giới. Hàm ý là Đức Phật cũng sẽ duy trì sự liên hệ của Ngài với nhân loại và với bầu hành tinh này trong thời kỳ công việc cứu chuộc của Đức Christ. Đức Phật đã là một “cư dân” của Shamballa, và điều này có lẽ sẽ không thay đổi. Tuy nhiên, cũng như Ngài đã duy trì mối liên hệ với nhân loại qua nhiều thế kỷ, điều đã được chứng tỏ lâu dài qua “sự xuất hiện” hằng năm của Ngài tại Lễ Wesak ở Tây Tạng, có khả năng rằng trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, một loại liên hệ hỗ trợ nào đó với nhân loại sẽ tiếp tục, dù ai có thể mô tả bản chất của nó? Dù thế nào, sự hỗ trợ và hợp tác của Đức Phật với Đức Christ cũng đồng nghĩa với sự hỗ trợ nhân loại. |
|
23. The seventh initiation is a dual, solar initiation—a Love-Wisdom initiation. The Christ and the Buddha symbolize Love and Wisdom respectively. The Buddha (with the Spirit of Peace and the Avatar of Synthesis) is destined to be part of a supportive Triangle surrounding the Christ during His work on behalf of humanity and the planet. This Triangle is, in fact, already in effect. Will that particular supportive Triangle continue its function throughout the Aquarian Age? Will the Christ, Himself, continue His work for humanity during the entire Aquarian Age? These questions cannot be definitively answered by a mere human being, but there is much to suggest that the Christ’s work will endure throughout that Age, and so, perhaps, the Triangle will be sustained for as long. |
23. Lần điểm đạo thứ bảy là một cuộc điểm đạo kép, thuộc thái dương, một cuộc điểm đạo Bác Ái – Minh Triết. Đức Christ và Đức Phật lần lượt tượng trưng cho Bác Ái và Minh Triết. Đức Phật, cùng với Đấng Tinh thần Hòa Bình và Đấng Hoá Thân của Tổng Hợp, được định sẵn là một phần của Tam Giác hỗ trợ bao quanh Đức Christ trong công việc của Ngài nhân danh nhân loại và hành tinh. Trên thực tế, Tam Giác này đã đang có hiệu lực. Liệu Tam Giác hỗ trợ đặc thù ấy có tiếp tục chức năng của nó suốt Kỷ Nguyên Bảo Bình không? Liệu chính Đức Christ có tiếp tục công việc của Ngài cho nhân loại trong suốt toàn bộ Kỷ Nguyên Bảo Bình không? Những câu hỏi này không thể được một con người đơn thuần trả lời dứt khoát, nhưng có nhiều điều gợi ý rằng công việc của Đức Christ sẽ kéo dài suốt Kỷ Nguyên ấy, và vì thế, có lẽ Tam Giác sẽ được duy trì trong cùng khoảng thời gian đó. |
|
24. Surely, by the end of the Aquarian Age, both Love and Wisdom must be in far greater evidence through humanity than is presently the case. The final decanate of Aquarius is the Venus decanate, and Venus is a planet of Love-Wisdom and of brotherhood. This final decanate comes into power some 1500 years from now. The Christ (so closely associated with Venus) will probably “be with us” in an obvious and noticeable way (for those who have eyes to see) for a much longer time than was the case during His brief appearance in Palestine some two thousand years ago. |
24. Chắc chắn, vào cuối Kỷ Nguyên Bảo Bình, cả Bác Ái lẫn Minh Triết phải được biểu lộ lớn lao hơn nhiều qua nhân loại so với hiện nay. Thập độ cuối cùng của Bảo Bình là thập độ Sao Kim, và Sao Kim là một hành tinh của Bác Ái – Minh Triết và của tình huynh đệ. Thập độ cuối cùng này sẽ đi vào quyền lực khoảng 1500 năm nữa. Đức Christ, Đấng gắn bó rất mật thiết với Sao Kim, có lẽ sẽ “ở cùng chúng ta” theo một cách hiển nhiên và dễ nhận thấy, đối với những ai có mắt để thấy, trong một thời gian dài hơn rất nhiều so với lần xuất hiện ngắn ngủi của Ngài ở Palestine khoảng hai ngàn năm trước. |
|
H. Three great energies are focussed in the Shamballa, the sea of fire, called |
H. Ba năng lượng vĩ đại được tập trung trong Shamballa, biển lửa, được gọi là |
|
(a) “The Energy of Purification” |
(a) “Năng Lượng Thanh Lọc” |
|
(b) “The Energy of Destruction” |
(b) “Năng Lượng Hủy Diệt” |
|
(c) “The Energy of Organisation” (cf. RI, p. 84-86) |
(c) “Năng Lượng Tổ Chức” (xem RI, tr. 84-86) |
|
In this connection it is wise to remember that three great energies are focussed in Shamballa, the seat of fire: |
Trong liên hệ này, cần nhớ rằng ba năng lượng vĩ đại được tập trung trong Shamballa, nơi ngự của lửa: |
|
1. The Energy of Purification: This is the power, innate in the manifested universe, which gradually and steadily adapts the substance aspect to the spiritual by a process which we call purification, where humanity is concerned. It involves the elimination of all that hinders the nature of divinity from full expression, and this again from inherent or latent capacity. This necessitates the leaving behind, stage after stage, cycle after cycle, life after life, and plane after plane, of every tendency in the form nature which veils or hides the glory of God. It is essentially the energy which substitutes good for evil. Human thinking has debased this concept so that purification is related mainly to physical phenomena and physical plane life and to a selfish idealism which is largely based on the thought of the sanitary care of substance. An enforced celibacy and a rigid vegetarianism are familiar instances of this, and these physical disciplines have been put in the place of emotional loveliness, mental clarity, intuitional illumination, and the thoughts of the aspirant become focussed downwards into matter and not outwards and upwards into light. |
1. Năng Lượng Thanh Lọc: Đây là quyền năng vốn có trong vũ trụ biểu hiện, quyền năng dần dần và đều đặn thích ứng phương diện chất liệu với phương diện tinh thần bằng một tiến trình mà, khi liên quan đến nhân loại, chúng ta gọi là sự thanh lọc. Nó bao hàm việc loại bỏ tất cả những gì ngăn cản bản chất của thiên tính biểu hiện trọn vẹn, và điều này lại xuất phát từ năng lực cố hữu hay tiềm ẩn. Điều này đòi hỏi phải bỏ lại phía sau, giai đoạn này qua giai đoạn khác, chu kỳ này qua chu kỳ khác, kiếp sống này qua kiếp sống khác, và cõi này qua cõi khác, mọi khuynh hướng trong bản chất hình tướng vốn che phủ hay ẩn giấu vinh quang của Thượng đế. Về bản chất, đó là năng lượng thay thế điều ác bằng điều thiện. Tư tưởng con người đã làm suy thoái khái niệm này đến mức sự thanh lọc chủ yếu được liên hệ với các hiện tượng hồng trần và đời sống cõi hồng trần, cùng với một chủ nghĩa lý tưởng ích kỷ phần lớn dựa trên tư tưởng chăm sóc vệ sinh cho chất liệu. Sự độc thân cưỡng ép và chế độ ăn chay nghiêm ngặt là những ví dụ quen thuộc về điều này, và các kỷ luật hồng trần ấy đã được đặt vào vị trí của vẻ đẹp cảm xúc, sự trong sáng trí tuệ, sự soi sáng trực giác; và các tư tưởng của người chí nguyện trở nên tập trung hướng xuống vật chất, chứ không hướng ra ngoài và hướng lên ánh sáng. |
|
1. Here begins a description of the three major energies focussed in Shamballa—purification, destruction and organization. |
1. Ở đây bắt đầu phần mô tả ba năng lượng chính được tập trung trong Shamballa—thanh lọc, hủy diệt và tổ chức. |
|
2. The first of the energies mentioned is purification and it concerns the second ray more than the first or third, although, since they are Shamballic energies, all three of these energies are expressions of the first ray. One hint concerning the importance of the second ray in relation to purification are the words, “gradually and steadily”. The term “adapts” also suggests some use of the third ray. |
2. Năng lượng đầu tiên được nêu là thanh lọc và nó liên quan đến cung hai nhiều hơn cung một hay cung ba, mặc dù, vì chúng là các năng lượng Shamballa, cả ba năng lượng này đều là các biểu hiện của cung một. Một gợi ý về tầm quan trọng của cung hai liên quan đến sự thanh lọc là các từ “dần dần và đều đặn”. Thuật ngữ “thích ứng” cũng gợi ý một sự vận dụng nào đó của cung ba. |
|
3. Compared to destruction, purification is a gradual process of refinement. It is essentially a cleansing, regenerative, restorative process. |
3. So với sự hủy diệt, sự thanh lọc là một tiến trình tinh luyện tiệm tiến. Về bản chất, đó là một tiến trình tẩy sạch, tái sinh và phục hồi. |
|
4. Purification is a gradual process of detachment from the malfunctions and incomplete expressions of the various vehicles of expression. It involves the restoration of all vehicles to their true and uncorrupted functionality. Distortions, blockages, unwholesome energy flows—all these are eliminated and optimal functioning restored during the purification process. |
4. Sự thanh lọc là một tiến trình tách rời dần dần khỏi các hoạt động sai lệch và các biểu hiện chưa hoàn chỉnh của những vận cụ biểu hiện khác nhau. Nó bao hàm sự phục hồi tất cả các vận cụ trở về chức năng chân thực và không bị hư hoại của chúng. Những biến dạng, tắc nghẽn, các dòng năng lượng không lành mạnh—tất cả những điều này bị loại bỏ, và chức năng tối ưu được phục hồi trong tiến trình thanh lọc. |
|
5. In a way, purification is a return to archetype through the agency of fire. |
5. Theo một cách nào đó, sự thanh lọc là sự trở về nguyên mẫu thông qua tác nhân là lửa. |
|
6. Ages of wrong usage have corrupted the functioning of the various vehicles. The gradual application of fire removes these dysfunctional patterns. |
6. Nhiều thời đại sử dụng sai lầm đã làm hư hoại hoạt động của các vận cụ khác nhau. Sự áp dụng dần dần của lửa loại bỏ các mô hình sai chức năng này. |
|
7. Purification is an age-long process, but there are moments of greater intensity in the process. The second initiation (“Baptism by Fire”) is just such a moment. |
7. Sự thanh luyện là một tiến trình kéo dài qua nhiều thời đại, nhưng trong tiến trình ấy có những khoảnh khắc có cường độ lớn hơn. Lần điểm đạo thứ hai “Lễ Rửa Tội bằng Lửa” chính là một khoảnh khắc như vậy. |
|
8. D.K. tells us that purification is “essentially the energy which substitutes good for evil”. It is the superimposition of higher (archetypal) patterns upon lower patterns. The possibility of successful superimposition is prepared first through water and then fire. After water and fire have done their work, the higher pattern may descend without encountering the usual impediments—dirty, discordant vibrations. |
8. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng sự thanh luyện “về bản chất là năng lượng thay thế điều ác bằng điều thiện”. Đó là sự chồng đặt các mô hình cao hơn, có tính nguyên mẫu, lên các mô hình thấp hơn. Khả năng chồng đặt thành công được chuẩn bị trước hết bằng nước, rồi đến lửa. Sau khi nước và lửa đã hoàn tất công việc của chúng, mô hình cao hơn có thể giáng xuống mà không gặp những trở ngại thông thường: các rung động ô trược, bất hòa. |
|
9. Purification is the means by which higher fires take the place of lower fires. By means of purification “heaven” establishes itself on “earth”. |
9. Sự thanh luyện là phương tiện nhờ đó các lửa cao hơn thay thế các lửa thấp hơn. Nhờ sự thanh luyện, “thiên đường” tự thiết lập trên “trần gian”. |
|
10. From another perspective, purification is a kind of ‘vibratory reconditioning’. In a purified system, the various parts are in harmonious and resonant relation to each other. The persistent application of fire ensures this concord. |
10. Từ một góc nhìn khác, sự thanh luyện là một loại “tái điều chỉnh rung động”. Trong một hệ thống đã được thanh luyện, các phần khác nhau ở trong mối liên hệ hài hòa và cộng hưởng với nhau. Việc áp dụng lửa một cách bền bỉ bảo đảm sự hòa hợp này. |
|
11. The Tibetan points to the current distortions of the concept of “purification”; in short, it has been materialized, applied almost entirely to the physical plane. We can see that He does not support an “enforced celibacy” and a “rigid vegetarianism”. The terms “enforced” and “rigid”, suggest the problem—coercion rather than wise adaptability. Celibacy and vegetarianism may be correct practices for certain people at certain times and in certain circumstances, but not for all, at all times and in all circumstances. |
11. Chân sư Tây Tạng chỉ ra những lệch lạc hiện nay trong quan niệm về “sự thanh luyện”; nói ngắn gọn, nó đã bị vật chất hóa, và hầu như hoàn toàn được áp dụng cho cõi hồng trần. Chúng ta có thể thấy rằng Ngài không ủng hộ “độc thân cưỡng ép” và “ăn chay cứng nhắc”. Các từ “cưỡng ép” và “cứng nhắc” gợi lên vấn đề: sự ép buộc thay vì khả năng thích ứng minh triết. Độc thân và ăn chay có thể là những thực hành đúng đắn đối với một số người, vào một số thời điểm và trong một số hoàn cảnh nhất định, nhưng không phải cho tất cả mọi người, vào mọi thời điểm và trong mọi hoàn cảnh. |
|
12. A higher form of purification would focus on the heart and mind (the astral and mental vehicles) and would produce “emotional loveliness, mental clarity, intuitional illumination”. Working with the physical vehicle is always the line of least resistance for humanity at its present stage of evolution. Deeper foci are required, however. When purification is applied to the subtler aspects of man, the results will inevitably work out on the physical plane. The reverse is not necessarily the case. |
12. Một hình thức thanh luyện cao hơn sẽ tập trung vào tâm và trí, tức các hiện thể cảm dục và thể trí, và sẽ tạo ra “vẻ đẹp cảm xúc, sự trong sáng trí tuệ, sự soi sáng trực giác”. Làm việc với hiện thể hồng trần luôn là con đường ít trở ngại nhất đối với nhân loại ở giai đoạn tiến hoá hiện nay. Tuy nhiên, cần có những tiêu điểm sâu hơn. Khi sự thanh luyện được áp dụng cho các phương diện tinh tế hơn của con người, các kết quả chắc chắn sẽ biểu hiện trên cõi hồng trần. Điều ngược lại thì không nhất thiết đúng. |
|
13. Preoccupation with the condition of the physical vehicle is ever a limitation. D.K., therefore, seeks for us to ‘re-conceive’ the true meaning of purification |
13. Việc quá bận tâm đến tình trạng của hiện thể hồng trần luôn là một giới hạn. Vì vậy, Chân sư DK tìm cách giúp chúng ta “quan niệm lại” ý nghĩa đích thực của sự thanh luyện. |
|
I. There are no excised point relation to this paragraph. |
I. Không có điểm nào bị lược bỏ liên quan đến đoạn này. |
|
2. The Energy of Destruction: This is a destruction which removes the forms which are imprisoning the inner spiritual life, and hiding the inner soul light. This energy is therefore one of the major aspects of the purificatory nature of the divine Life, and that is the reason why I have put purification ahead of destruction. It is the destroying aspect of life itself, just as there is a destructive agency in matter itself. |
2. Năng Lượng Hủy Diệt: Đây là sự hủy diệt loại bỏ những hình tướng đang giam hãm sự sống tinh thần bên trong và che giấu ánh sáng linh hồn bên trong. Vì vậy, năng lượng này là một trong những phương diện chính yếu của bản chất thanh luyện nơi Sự sống thiêng liêng, và đó là lý do tại sao Tôi đã đặt sự thanh luyện trước sự hủy diệt. Đó là phương diện hủy diệt của chính sự sống, cũng như có một tác nhân hủy diệt trong chính vật chất. |
|
1. Destruction is more drastic than purification and relates quite specifically to the first ray. |
1. Sự hủy diệt mạnh mẽ hơn sự thanh luyện và liên hệ rất đặc thù với cung một. |
|
2. Sometimes, the impedimentary forms are so corrupt that there is no use seeking to purify them; they must simply be removed. |
2. Đôi khi, các hình tướng gây trở ngại đã hư hoại đến mức không ích gì khi tìm cách thanh luyện chúng; chúng đơn giản phải bị loại bỏ. |
|
3. Interestingly, destruction is seen as “one of the major aspects of the purificatory nature of divine Life”. |
3. Điều thú vị là sự hủy diệt được xem là “một trong những phương diện chính yếu của bản chất thanh luyện nơi Sự sống thiêng liêng”. |
|
4. Both purification and destruction can work through fire, but purification still retains the form worked upon; destruction breaks the links between the different factors, which, once related, are recognized as form. |
4. Cả sự thanh luyện lẫn sự hủy diệt đều có thể hoạt động qua lửa, nhưng sự thanh luyện vẫn giữ lại hình tướng đang được tác động; sự hủy diệt phá vỡ các mối liên kết giữa những yếu tố khác nhau, vốn khi được liên hệ với nhau thì được nhận ra là hình tướng. |
|
5. There is some destructiveness in the overall process of purification; foreign elements which have nothing to do with the archetypal integrity of the form are removed—their relationship with the structure of the form is broken. |
5. Trong toàn bộ tiến trình thanh luyện có một mức độ hủy diệt nào đó; các yếu tố ngoại lai không liên quan gì đến tính toàn vẹn nguyên mẫu của hình tướng sẽ bị loại bỏ, tức mối liên hệ của chúng với cấu trúc của hình tướng bị phá vỡ. |
|
6. Destruction, therefore, is sometimes applied to entire forms, and sometimes only to parts of a form which do not serve the archetypal integrity of the form. When destruction is focussed on certain undesirable parts rather than on the entirety of the form, we may call that destruction an act of purification. For instance, if a surgeon removes a cancerous tumor from an organ, he is destroying the tumor and purifying the organ. |
6. Vì vậy, sự hủy diệt đôi khi được áp dụng cho toàn bộ hình tướng, và đôi khi chỉ cho các phần của một hình tướng vốn không phụng sự tính toàn vẹn nguyên mẫu của hình tướng ấy. Khi sự hủy diệt tập trung vào một số phần không đáng mong muốn thay vì vào toàn thể hình tướng, chúng ta có thể gọi sự hủy diệt ấy là một hành vi thanh luyện. Chẳng hạn, nếu một bác sĩ phẫu thuật loại bỏ một khối u ung thư khỏi một cơ quan, y đang hủy diệt khối u và thanh luyện cơ quan ấy. |
|
7. In the general process of evolution, it is rare that destruction is applied in a wholesale manner. There are many little destructions which must occur within the context of the purification process, while the form, as a whole, remains intact. |
7. Trong tiến trình tiến hoá tổng quát, hiếm khi sự hủy diệt được áp dụng một cách toàn diện. Có nhiều sự hủy diệt nhỏ phải diễn ra bên trong bối cảnh của tiến trình thanh luyện, trong khi hình tướng, xét như một toàn thể, vẫn còn nguyên vẹn. |
|
8. D.K. calls our attention to two modes of destruction: “the destroying aspect of life itself” and the “destructive agency in matter itself”. While the latter of these two can be depended upon to act, whether we will or no, it is the first of these processes which He would like us to understand and be able to apply when needed. |
8. Chân sư DK hướng sự chú ý của chúng ta đến hai phương thức hủy diệt: “phương diện hủy diệt của chính sự sống” và “tác nhân hủy diệt trong chính vật chất”. Trong khi yếu tố thứ hai chắc chắn sẽ hoạt động, dù chúng ta muốn hay không, thì chính tiến trình thứ nhất là điều Ngài muốn chúng ta thấu hiểu và có thể áp dụng khi cần. |
|
9. Life destroys to liberate itself. Matter simply contains the seeds of its own destruction; it is corruptible and non-enduring, whether that matter is associated with the vehicles of “good” or “bad” individuals or groups. In matter, itself, the secret of harmony is missing, and, hence, friction gradually produces an inevitable destruction. |
9. Sự sống hủy diệt để tự giải thoát. Vật chất đơn giản chứa đựng các mầm mống hủy diệt của chính nó; nó có thể hư hoại và không bền vững, dù vật chất ấy liên kết với các hiện thể của những cá nhân hay nhóm “tốt” hoặc “xấu”. Trong chính vật chất, bí mật của sự hài hòa bị thiếu vắng, và do đó, ma sát dần dần tạo ra một sự hủy diệt không thể tránh khỏi. |
|
J. There are no excised points in relation to these two paragraphs. |
J. Không có điểm nào bị lược bỏ liên quan đến hai đoạn này. |
|
Two things must be borne in mind in connection with the destroyer aspect of Deity and with those responsible for its appearance: |
Cần ghi nhớ hai điều liên quan đến phương diện hủy diệt của Thượng đế và đến những Đấng chịu trách nhiệm cho sự xuất hiện của nó: |
|
a. The destructive activity is set in motion through the will of Those Who constitute the Council at Shamballa and Who are instrumental in bringing the forms in all the subhuman kingdoms into line with the [Page 85] evolving purpose. Under cyclic law, this destructive energy comes into play and destroys the forms of life which prevent divine expression. |
a. Hoạt động hủy diệt được khởi động qua ý chí của Những Đấng hợp thành Hội Đồng tại Shamballa và là khí cụ trong việc đưa các hình tướng trong tất cả các giới dưới nhân loại vào sự phù hợp với [Trang 85] thiên ý đang tiến hoá. Theo định luật chu kỳ, năng lượng hủy diệt này đi vào hoạt động và hủy diệt các hình tướng sự sống ngăn cản sự biểu hiện thiêng liêng. |
|
b. It is also brought into activity through the determinations of humanity itself which—under the Law of Karma—makes man the master of his own destiny, leading him to initiate those causes which are responsible for the cyclic events and consequences in human affairs. |
b. Nó cũng được đưa vào hoạt động qua những quyết định của chính nhân loại; dưới Định luật Nghiệp Quả, điều này khiến con người trở thành chủ nhân của vận mệnh mình, dẫn y đến việc khởi phát những nguyên nhân chịu trách nhiệm cho các biến cố và hệ quả có tính chu kỳ trong các sự vụ của nhân loại. |
|
1. Since, under the impression of ignorance, matter is configured in formal arrangements which thwart the expression of plan and purpose, such forms must be periodically destroyed. |
1. Vì dưới ấn tượng của vô minh, vật chất được cấu hình thành những sắp đặt hình tướng cản trở sự biểu hiện của Thiên Cơ và Thiên Ý, nên các hình tướng như vậy phải được hủy diệt theo chu kỳ. |
|
2. During ages of ignorance, the members of the subhuman kingdoms have built inappropriately into forms. The destructive impulses emanating from Shamballa periodically liberate these kingdoms offering an opportunity for rebuilding along more beneficent lines. The greater structures into which these subhuman kingdoms can be incorporated will, then, be of a nature and pattern more conformative to Divine Will. |
2. Trong các thời đại vô minh, các thành viên của những giới dưới nhân loại đã được xây dựng không thích hợp vào trong các hình tướng. Các xung lực hủy diệt xuất phát từ Shamballa theo chu kỳ giải thoát những giới này, đem lại cơ hội tái xây dựng theo những đường lối lợi lạc hơn. Khi ấy, các cấu trúc lớn hơn mà những giới dưới nhân loại này có thể được đưa vào sẽ có bản chất và mô hình phù hợp hơn với Ý Chí thiêng liêng. |
|
3. Cyclically, the destroying agencies enter and do their work. First ray cycles, and the cycles of such destroyers as Pluto and Vulcan initiate the necessary destruction. |
3. Theo chu kỳ, các tác nhân hủy diệt đi vào và thực hiện công việc của chúng. Các chu kỳ cung một, và các chu kỳ của những tác nhân hủy diệt như Sao Diêm Vương và Vulcan, khởi phát sự hủy diệt cần thiết. |
|
4. These destructive cycles are active in the lives of individuals and groups. It is well to be aware of them and to cooperate intelligently with their beneficent work. So often there is resistance rather than cooperation—so great is the attachment to the ‘bad, old forms’. |
4. Các chu kỳ hủy diệt này hoạt động trong đời sống của các cá nhân và các nhóm. Tốt hơn là nhận biết chúng và hợp tác một cách thông minh với công việc lợi lạc của chúng. Rất thường có sự kháng cự thay vì hợp tác, vì sự bám chấp vào “những hình tướng cũ kỹ, xấu xa” quá lớn. |
|
5. Destruction also arises from man’s mismanagement of his creative powers. Under ignorance and wrong motive, he builds inharmonious forms which cannot long endure. He must then suffer the dissolution of his own creations which inevitably disintegrate under karmic law. No destructive impulse from Shamballa is needed to expedite their removal. Their term is set by the faulty nature of their design. |
5. Sự hủy diệt cũng phát sinh từ việc con người quản lý sai lạc các quyền năng sáng tạo của mình. Dưới vô minh và động cơ sai trái, y xây dựng những hình tướng bất hòa vốn không thể tồn tại lâu dài. Khi ấy, y phải chịu sự tan rã của chính những sáng tạo của mình, vốn tất yếu phân rã dưới định luật nghiệp quả. Không cần xung lực hủy diệt nào từ Shamballa để đẩy nhanh việc loại bỏ chúng. Thời hạn của chúng được ấn định bởi bản chất sai sót trong thiết kế của chúng. |
|
6. Sometimes Shamballic intervention is required when man’s mismanagement of his creativity becomes excessively obstructive. Such an intervention occurred in Atlantean days, bringing the destruction of that powerful civilization. Some interventions of a significant but less destructive kind may even now be in preparation, for rapid progress must now be made by humanity and the planet, and obstruction cannot be allowed. Violent earth changes, disruptive climatic changes and virulent epidemics are examples of Shamballic interventions as they might occur. |
6. Đôi khi cần có sự can thiệp của Shamballa khi việc con người quản lý sai lạc năng lực sáng tạo của mình trở nên quá mức cản trở. Một sự can thiệp như vậy đã xảy ra vào thời Atlantis, đưa đến sự hủy diệt nền văn minh hùng mạnh ấy. Một số can thiệp thuộc loại đáng kể nhưng ít hủy diệt hơn thậm chí có thể đang được chuẩn bị hiện nay, vì nhân loại và hành tinh lúc này phải tiến bộ nhanh chóng, và sự cản trở không thể được phép tồn tại. Những biến đổi dữ dội của địa cầu, những biến đổi khí hậu gây rối loạn và các dịch bệnh ác liệt là những ví dụ về các can thiệp của Shamballa khi chúng có thể xảy ra. |
|
7. The risks of Shamballic intervention are so great, however, that, for the most part, Shamballa would rather leave humanity to make its own corrections. The Tibetan tells us that during the First World War a Shamballic intervention was a distinct possibility, but, fortunately, was avoided. Humanity was able to solve its own problem. |
7. Tuy nhiên, những rủi ro của sự can thiệp Shamballa lớn đến mức, phần lớn thời gian, Shamballa muốn để nhân loại tự thực hiện các điều chỉnh của mình hơn. Chân sư Tây Tạng cho chúng ta biết rằng trong Thế Chiến thứ nhất, một sự can thiệp của Shamballa là một khả năng rõ rệt, nhưng may mắn thay, đã tránh được. Nhân loại đã có thể tự giải quyết vấn đề của mình. |
|
8. In the Second World War, a kind of unspecified Shamballic intervention by the Lords of Liberation did occur, but it was, apparently, a response to humanity’s sufficient (if inchoate) invocation of the Good. There is a difference between an invoked intervention and one that simply occurs because Shamballa sees the necessity for it. |
8. Trong Thế Chiến thứ hai, một dạng can thiệp không được xác định rõ của Shamballa bởi các Đấng Giải Thoát đã thật sự xảy ra, nhưng dường như đó là một đáp ứng đối với sự khẩn cầu đủ mức, dù còn chưa định hình, của nhân loại hướng đến Điều Thiện. Có sự khác biệt giữa một sự can thiệp được khẩn cầu và một sự can thiệp đơn giản xảy ra vì Shamballa thấy nó cần thiết. |
|
K. There is naturally a close connection between the first Ray of Will or Power, the energies concentrated at Shamballa and the Law of Karma, particularly in its planetary potency and in relation to advanced humanity. (cf. RI, p. 85) |
K. Tự nhiên có một mối liên hệ mật thiết giữa Cung một của Ý Chí hay Quyền Năng, các năng lượng tập trung tại Shamballa và Định luật Nghiệp Quả, đặc biệt trong quyền năng hành tinh của nó và trong tương quan với nhân loại tiến bộ. (xem RI, tr. 85) |
|
Two factors have, subjectively and spiritually, precipitated the present world crisis (World War I+II and the present danger for a third World War, predicted by D.K. in “The Externalisation of Hierarchy”, p. 442-443, 545): The growth and development of the human family and the inflow of the Shamballa force at this particular time, both as a result of Karmic law and the planned decision of the Great Council. (cf. RI, p. 85) |
Hai yếu tố, về mặt chủ quan và tinh thần, đã làm ngưng tụ cuộc khủng hoảng thế giới hiện nay, gồm Thế Chiến thứ nhất, thứ hai và nguy cơ hiện nay về một Thế Chiến thứ ba, được Chân sư DK tiên đoán trong “Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn”, tr. 442-443, 545: Sự tăng trưởng và phát triển của gia đình nhân loại và luồng đổ vào của mãnh lực Shamballa vào thời điểm đặc biệt này, cả hai đều là kết quả của định luật nghiệp quả và quyết định đã được hoạch định của Đại Hội Đồng. (xem RI, tr. 85) |
|
There is naturally a close connection between the first Ray of Will or Power, the energies concentrated at Shamballa and the Law of Karma, particularly in its planetary potency and in relation to advanced humanity. It will be apparent, therefore, that the more rapidly the individual aspirant approaches the third initiation, the more rapidly and directly will the individual’s karma be worked out. Monadic relation, as it becomes established, lets loose the destructive aspect of the basic energy, and all hindrances are destroyed with expedition. This is true also of humanity as a whole. Two factors have, subjectively and spiritually, precipitated this world crisis: The growth and development of the human family and (as you have been told) the inflow of the Shamballa force at this particular time, both as a result of Karmic law and the planned decision of the Great Council. |
Tự nhiên có một mối liên hệ mật thiết giữa Cung một của Ý Chí hay Quyền Năng, các năng lượng tập trung tại Shamballa và Định luật Nghiệp Quả, đặc biệt trong quyền năng hành tinh của nó và trong tương quan với nhân loại tiến bộ. Vì vậy, sẽ hiển nhiên rằng người chí nguyện cá nhân càng nhanh chóng tiến gần đến lần điểm đạo thứ ba, thì nghiệp quả của cá nhân ấy càng được giải quyết nhanh chóng và trực tiếp. Khi mối liên hệ chân thần được thiết lập, nó phóng thích phương diện hủy diệt của năng lượng căn bản, và mọi chướng ngại đều bị hủy diệt một cách mau lẹ. Điều này cũng đúng đối với nhân loại như một toàn thể. Hai yếu tố, về mặt chủ quan và tinh thần, đã làm ngưng tụ cuộc khủng hoảng thế giới này: sự tăng trưởng và phát triển của gia đình nhân loại và, như các bạn đã được cho biết, luồng đổ vào của mãnh lực Shamballa vào thời điểm đặc biệt này, cả hai đều là kết quả của định luật nghiệp quả và quyết định đã được hoạch định của Đại Hội Đồng. |
|
1. A little thought on the matter will reveal close relationships between the first ray and the Law of Karma. The Karmic Lords—unbending in Their justice—are strongly upon the first ray, though their mathematically astute minds are powerfully influenced by the fifth and third rays, and their motives by the beneficent second ray and the harmonizing fourth ray. |
1. Chỉ cần suy nghĩ một chút về vấn đề này sẽ làm hiển lộ những mối liên hệ mật thiết giữa cung một và Định luật Nghiệp Quả. Các Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả, không lay chuyển trong công lý của Các Ngài, ở rất mạnh trên cung một, dù những thể trí sắc bén về toán học của Các Ngài chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của cung năm và cung ba, còn các động cơ của Các Ngài chịu ảnh hưởng của cung hai lợi lạc và cung bốn điều hòa. |
|
2. “God” has a “Fixed Design” which must be manifested. Only so much deviation from the outlines of this design is tolerated before that deviation is corrected. To build out of conformity with the Pattern of the Fixed Design is to build against God’s Will. The Lords of Karma are the upholders of God’s Will and the guarantors of the achievement of the Fixed Design. |
2. “Thượng đế” có một “Thiết Kế Cố Định” vốn phải được biểu hiện. Chỉ một mức độ lệch hướng nhất định khỏi các đường nét của thiết kế này được dung thứ trước khi sự lệch hướng ấy được chỉnh sửa. Xây dựng không phù hợp với Mô Hình của Thiết Kế Cố Định là xây dựng chống lại Ý Chí của Thượng Đế. Các Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả là những Đấng bảo trì Ý Chí của Thượng Đế và là những Đấng bảo đảm sự thành tựu của Thiết Kế Cố Định. |
|
3. At length, Divine Purpose tolerates no impediment. Divine Purpose is the “Good”, and the Lords of Karma work for the “Good of All”. Their methods are so often first ray methods as they “draw the line”, ensuring that no unit of life is allowed to break the law without learning the lessons needed to ensure that it will not so readily break the law again. |
3. Cuối cùng, Thiên Ý không dung thứ bất cứ chướng ngại nào. Thiên Ý là “Điều Thiện”, và các Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả làm việc vì “Điều Thiện của Tất Cả”. Phương pháp của Các Ngài rất thường là phương pháp cung một, khi Các Ngài “vạch ranh giới”, bảo đảm rằng không một đơn vị sự sống nào được phép vi phạm định luật mà không học các bài học cần thiết để bảo đảm rằng nó sẽ không dễ dàng vi phạm định luật lần nữa. |
|
4. As the higher levels of human evolution are reached, there is a general speeding up. Spirit is swift and as one approaches the realm of spirit, inconsistencies between personal structure and archetypal structure are swiftly adjusted (much to the distress of the “applying” personality). |
4. Khi đạt đến các cấp độ cao hơn của tiến hoá nhân loại, có một sự tăng tốc tổng quát. Tinh thần thì nhanh chóng, và khi một người tiến gần đến cõi giới của tinh thần, những bất nhất giữa cấu trúc cá nhân và cấu trúc nguyên mẫu được điều chỉnh mau lẹ, điều này gây nhiều khổ sở cho phàm ngã đang thỉnh cầu. |
|
5. The basic energy of the monad has several aspects of which destruction is one. Destruction is the third aspect of monadic energy; synthesis and the will-to-be can be seen as the other two. |
5. Năng lượng căn bản của chân thần có nhiều phương diện, trong đó hủy diệt là một. Hủy diệt là phương diện thứ ba của năng lượng chân thần; tổng hợp và ý chí-hiện tồn có thể được xem là hai phương diện còn lại. |
|
6. The Tibetan assures us that as we approach the third initiation, hindrances will be destroyed “with expedition”. For this we must prepare, and with this process we must be ready to cooperate. |
6. Chân sư Tây Tạng bảo đảm với chúng ta rằng khi chúng ta tiến gần đến lần điểm đạo thứ ba, các chướng ngại sẽ bị hủy diệt “một cách mau lẹ”. Chúng ta phải chuẩn bị cho điều này và sẵn sàng hợp tác với tiến trình này. |
|
7. The process of evolution is somewhat conical and is characterized by a rapidly, tightening spiral. The beginning phases are slow; the middle phases faster; and the final phases extremely rapid. We see such distinctions in rates when we compare the durations of the lengthy Path of Evolution, the shorter Path of Probation/Discipleship, and the final and rapidly traversed Path of Initiation. |
7. Tiến trình tiến hoá có phần giống hình nón và được đặc trưng bởi một vòng xoắn siết chặt nhanh chóng. Các giai đoạn đầu thì chậm; các giai đoạn giữa nhanh hơn; và các giai đoạn cuối cực kỳ nhanh. Chúng ta thấy những khác biệt như vậy về tốc độ khi so sánh thời lượng của Con Đường Tiến Hoá dài lâu, Con Đường Dự Bị và Địa vị đệ tử ngắn hơn, và Con Đường Điểm Đạo cuối cùng được vượt qua rất nhanh. |
|
8. Thus, as we measure up to higher opportunity, as we qualify ourselves for spiritual usefulness, we, in a sense, ‘invite the fires of destruction’ into our individual lives. Therefore, crisis and ensuing destruction must not necessary be seen as “bad”; they may, in fact, be indications that things are going well (spiritually), and that, spirit, at last, can make itself effective in our normal, individual lives. |
8. Do đó, khi chúng ta đáp ứng xứng đáng với cơ hội cao hơn, khi chúng ta làm cho mình đủ phẩm chất để hữu dụng về mặt tinh thần, theo một nghĩa nào đó, chúng ta “mời các lửa hủy diệt” vào đời sống cá nhân của mình. Vì vậy, khủng hoảng và sự hủy diệt tiếp theo không nhất thiết phải được xem là “xấu”; thật ra, chúng có thể là dấu hiệu cho thấy mọi việc đang diễn ra tốt đẹp về mặt tinh thần, và cuối cùng tinh thần có thể làm cho chính nó trở nên hữu hiệu trong đời sống cá nhân bình thường của chúng ta. |
|
9. It would seem that the bliss of spirit is prepared through the experience of momentary agony. The first ray in us (patient over the aeons) grows, it would seem, suddenly ‘impatient’ to manifest in ‘us’ the “Life more Abundantly”. The personality/soul form then suffers momentarily; the spirit rejoices at its opportunity to be free. |
9. Dường như chí phúc của tinh thần được chuẩn bị qua kinh nghiệm thống khổ nhất thời. Cung một trong chúng ta, vốn kiên nhẫn qua các đại kiếp, dường như đột nhiên trở nên “nôn nóng” muốn biểu hiện trong “chúng ta” “Sự Sống Dồi Dào hơn”. Khi ấy, hình tướng phàm ngã và linh hồn chịu đau khổ trong chốc lát; tinh thần hoan hỉ trước cơ hội được tự do. |
|
L. There are no excised points in relation to this paragraph. |
L. Không có điểm nào bị lược bỏ liên quan đến đoạn này. |
|
3. The Energy of Organisation: This is the energy which set in motion the activity of the great Ray Lives and started the motivation and impulse of that which produced manifestation. Thus were the seven ray qualities brought into expression. The relation of spirit and matter produced this ordered process which again, cyclically and under law, creates the manifested world as a field for soul development and as an area wherein divine purpose is wrought out through the medium of the plan. Again I call your attention to the distinction existing between purpose and plan. This is the aspect, emanating from Shamballa, and inherent also in form (as are the other two), which eventually relates the human will, through the right use of the mind, to the organised planning of his separate and individual life in the [Page 86] three worlds, and which eventually relates and reorients that will to the Will of God. |
3. Năng Lượng Tổ Chức: Đây là năng lượng đã khởi động hoạt động của các Sự Sống Cung vĩ đại và khởi phát động cơ cùng xung lực của điều đã tạo ra sự biểu hiện. Nhờ đó, bảy phẩm tính cung được đưa vào biểu hiện. Mối liên hệ giữa tinh thần và vật chất đã tạo ra tiến trình có trật tự này, tiến trình một lần nữa, theo chu kỳ và dưới định luật, tạo nên thế giới biểu hiện như một lĩnh vực cho sự phát triển linh hồn và như một khu vực trong đó Thiên Ý được thực hiện qua phương tiện của Thiên Cơ. Một lần nữa, Tôi kêu gọi các bạn chú ý đến sự phân biệt hiện hữu giữa Thiên Ý và Thiên Cơ. Đây là phương diện xuất phát từ Shamballa, và cũng vốn có trong hình tướng, như hai phương diện kia, cuối cùng liên hệ ý chí con người, qua việc sử dụng đúng đắn thể trí, với việc hoạch định có tổ chức đời sống riêng biệt và cá nhân của y trong [Trang 86] ba cõi thấp, và cuối cùng liên hệ cũng như tái định hướng ý chí ấy với Ý Chí của Thượng Đế. |
|
1. The Energy of Organization (working out so often as re-organization) is more related to the third ray than to the first or second. |
1. Năng Lượng Tổ Chức, vốn rất thường biểu hiện thành sự tái tổ chức, liên hệ với cung ba nhiều hơn là với cung một hay cung hai. |
|
2. Ultimately, the appearance of the human kingdom was impulsed by Shamballa. All of human manifestation and progress through a variety of forms was organized according to the cyclic appearances of the seven rays. We must remember that, from one significant perspective, the Ray Lords are Shamballa Beings. |
2. Rốt cuộc, sự xuất hiện của giới nhân loại đã được Shamballa thúc đẩy. Toàn bộ sự biểu hiện và tiến bộ của nhân loại qua nhiều loại hình tướng đã được tổ chức theo các lần xuất hiện có chu kỳ của bảy cung. Chúng ta phải nhớ rằng, từ một góc nhìn quan trọng, các Đấng Chúa Tể Cung là những Đấng Shamballa. |
|
3. As far as our planet is concerned, Shamballa is the source of cyclic law. God’s Will (as God’s Law) works out through the cyclic expression of certain fundamental energies—all according to Plan. |
3. Đối với hành tinh của chúng ta, Shamballa là nguồn của định luật chu kỳ. Ý Chí của Thượng Đế, như Định luật của Thượng Đế, được thực hiện qua sự biểu hiện theo chu kỳ của một số năng lượng căn bản, tất cả đều theo Thiên Cơ. |
|
4. If one wants to understand what the Divine Plan is, one must study the ray cycles and the astrological cycles. On the third subplane of the atmic plane, this type of knowledge is more fully (if not completely) revealed. |
4. Nếu muốn thấu hiểu Thiên Cơ là gì, người ta phải nghiên cứu các chu kỳ cung và các chu kỳ chiêm tinh. Trên cõi phụ thứ ba của cõi atma, loại tri thức này được mặc khải đầy đủ hơn, nếu chưa phải là hoàn toàn. |
|
5. In order to manifest His Purpose, our Planetary God employs great intelligence, manifesting that intelligence through orderly cycles involving the expression and withdrawal of certain ray, astrological and other energies. Shamballa controls the beginning and end of these cycles and, thus, their duration. |
5. Để biểu hiện Thiên Ý của Ngài, Thượng đế Hành Tinh của chúng ta vận dụng trí tuệ vĩ đại, biểu hiện trí tuệ ấy qua các chu kỳ có trật tự liên quan đến sự biểu hiện và thu hồi của một số năng lượng cung, chiêm tinh và những năng lượng khác. Shamballa kiểm soát điểm khởi đầu và điểm kết thúc của các chu kỳ này, và do đó, kiểm soát thời lượng của chúng. |
|
6. In summation, D.K. tells us of the Energy of Organization: |
6. Tóm lại, Chân sư DK cho chúng ta biết về Năng Lượng Tổ Chức: |
|
“This is the aspect, emanating from Shamballa, and inherent also in form (as are the other two), which eventually relates the human will, through the right use of the mind, to the organised planning of his separate and individual life in the three worlds, and which eventually relates and reorients that will to the Will of God.” |
“Đây là phương diện xuất phát từ Shamballa, và cũng vốn có trong hình tướng, như hai phương diện kia, cuối cùng liên hệ ý chí con người, qua việc sử dụng đúng đắn thể trí, với việc hoạch định có tổ chức đời sống riêng biệt và cá nhân của y trong ba cõi thấp, và cuối cùng liên hệ cũng như tái định hướng ý chí ấy với Ý Chí của Thượng Đế.” |
|
The little human life must be related to the larger life; the little human will to its larger correspondence; the little human intelligence to the great, coordinating Intelligence. The higher and lower aspects of human nature, and of planetary manifestation in general, must be intelligently related, and this is the function of the Energy of Organization. |
Đời sống nhỏ bé của con người phải được liên hệ với sự sống lớn lao hơn; ý chí nhỏ bé của con người với đối ứng lớn lao hơn của nó; trí tuệ nhỏ bé của con người với Trí Tuệ lớn lao, có tính điều phối. Các phương diện cao và thấp của bản chất con người, cũng như của sự biểu hiện hành tinh nói chung, phải được liên hệ một cách thông minh, và đây là chức năng của Năng Lượng Tổ Chức. |
|
7. It is Shamballa that controls all planetary arrangements and evolutionary patterns through the Energy of Organization. |
7. Chính Shamballa kiểm soát mọi sắp đặt hành tinh và các mô hình thăng thượng tiến hoá thông qua Năng Lượng Tổ Chức. |
|
M. The three great energies, which are focussed in the Shamballa, are symbolized in the life of Christ: |
M. Ba năng lượng vĩ đại, vốn được tập trung trong Shamballa, được tượng trưng trong đời sống của Đức Christ: |
|
(a) The purificatory aspect of the monadic force is indicated at the Baptism episode. |
(a) Phương diện thanh luyện của mãnh lực chân thần được chỉ ra trong sự kiện Lễ Rửa Tội. |
|
(b) The destroyer aspect can be seen expressing itself at the time of the Crucifixion, when it rent the veil of the Temple from the top to the bottom. |
(b) Phương diện hủy diệt có thể được thấy biểu hiện vào thời điểm Cuộc Đóng Đinh, khi nó xé màn Đền Thờ từ trên xuống dưới. |
|
(c) The episode which indicates the energy of organisation and the relation of the spiritual will of the Christ to the purpose and the will of the Father appears when He said, in the Garden of Gethsemane, “Not my will but Thine be done.” (cf. RI, p. 86) |
(c) Sự kiện chỉ ra năng lượng tổ chức và mối liên hệ của ý chí tinh thần của Đức Christ với thiên ý và ý chí của Đức Cha xuất hiện khi Ngài nói trong Vườn Gethsemane: “Không theo ý con, mà theo ý Cha.” (xem RI, tr. 86) |
|
These three energies are faintly symbolised for us in the life of Christ when overshadowing the Master Jesus, two thousand years ago. |
Ba năng lượng này được tượng trưng một cách mờ nhạt cho chúng ta trong đời sống của Đức Christ khi Ngài phủ bóng Chân sư Jesus hai ngàn năm trước. |
|
The purificatory aspect of the monadic force is indicated at the Baptism episode; secondly, the destroyer aspect can be seen expressing itself at the time of the Crucifixion, when it rent the veil of the Temple from the top to the bottom. The episode which indicates the energy of organisation and the relation of the spiritual will of the Christ to the purpose and the will of the Father appears when He said, in the Garden of Gethsemane, “Not my will but Thine be done.” This final episode is closely related to the consciously expressed will of the Christ Child when He realised in the Temple that He must be about His Father’s business and that His will was to do the will and fulfill the purpose of the Father, the Monad and the One of Whom the Monad is the expression. |
Phương diện thanh luyện của mãnh lực chân thần được chỉ ra trong sự kiện Lễ Rửa Tội; thứ hai, phương diện hủy diệt có thể được thấy biểu hiện vào thời điểm Cuộc Đóng Đinh, khi nó xé màn Đền Thờ từ trên xuống dưới. Sự kiện chỉ ra năng lượng tổ chức và mối liên hệ của ý chí tinh thần của Đức Christ với thiên ý và ý chí của Đức Cha xuất hiện khi Ngài nói trong Vườn Gethsemane: “Không theo ý con, mà theo ý Cha.” Sự kiện cuối cùng này liên hệ mật thiết với ý chí được biểu lộ một cách hữu thức của Hài Nhi Christ khi Ngài nhận ra trong Đền Thờ rằng Ngài phải lo công việc của Cha Ngài, và ý chí của Ngài là thực hiện ý chí cũng như hoàn thành thiên ý của Đức Cha, của Chân Thần và của Đấng mà Chân Thần là sự biểu hiện. |
|
1. On a few occasions, the Tibetan applies the energies He is discussing to the life of the Christ. He does this with all the zodiacal energies and, in this paragraph, with the three energies characteristic of Shamballa—purification, destruction and organization. Surely, this could be done with the energies of the chakras, for it is said that the Christ had the perfectly balanced endocrine system, and, also, with the energy of the seven rays. The Christ is such a synthetic being, and, relatively, so inclusive and perfectly balanced. |
1. Trong một vài trường hợp, Chân sư Tây Tạng áp dụng các năng lượng mà Ngài đang bàn đến vào đời sống của Đức Christ. Ngài làm điều này với tất cả các năng lượng hoàng đạo, và trong đoạn này, với ba năng lượng đặc trưng của Shamballa: thanh luyện, hủy diệt và tổ chức. Chắc chắn điều này cũng có thể được thực hiện với các năng lượng của các luân xa, vì người ta nói rằng Đức Christ có hệ nội tiết cân bằng hoàn hảo, và cũng với năng lượng của bảy cung. Đức Christ là một hữu thể tổng hợp như vậy, và tương đối mà nói, bao gồm đến thế và cân bằng hoàn hảo đến thế. |
|
2. In the time of the last historical appearance of the Christ, the Baptism was enacted through water, but the Christ promised baptism by the Holy Spirit and through flame. This promised development is now occurring in relation to the second initiation. The modern initiate of the second degree must pass through the fire, however much the Church has preserved the symbolism of baptism by water. Baptism by water is not abrogated, however; rather, it is retained and superseded. The astral plane (the focus of the second degree) is a plane of both fire and water—sixth ray Neptune and the Moon representing water, and sixth ray Mars, fire. |
2. Vào thời điểm lần xuất hiện lịch sử cuối cùng của Đức Christ, Lễ Rửa Tội được thực hiện qua nước, nhưng Đức Christ đã hứa về lễ rửa tội bằng Chúa Thánh Thần và qua ngọn lửa. Sự phát triển được hứa hẹn này hiện đang diễn ra liên quan đến lần điểm đạo thứ hai. Điểm đạo đồ hiện đại của bậc hai phải đi qua lửa, dù Giáo Hội đã duy trì biểu tượng rửa tội bằng nước đến mức nào. Tuy nhiên, phép rửa bằng nước không bị hủy bỏ; đúng hơn, nó được giữ lại và được vượt lên. Cõi cảm dục, tiêu điểm của bậc hai, là một cõi của cả lửa lẫn nước: Sao Hải Vương cung sáu và Mặt Trăng đại diện cho nước, còn Sao Hỏa cung sáu đại diện cho lửa. |
|
3. We see that the second aspect of the Shamballa Energy—the purificatory aspect—is associated with the second initiation. The first aspect—that of destruction—naturally enough is associated with the fourth initiation (in which the causal body and in many cases, the personality, is destroyed). The third aspect of the Shamballa Energy—the Energy of Organization—is interestingly associated with the sixth initiation. These two numbers, three and six are easily related, and indeed, the sixth initiation is ruled by the third ray. |
3. Chúng ta thấy rằng phương diện thứ hai của Năng Lượng Shamballa, tức phương diện thanh luyện, liên kết với lần điểm đạo thứ hai. Phương diện thứ nhất, tức phương diện hủy diệt, một cách tự nhiên liên kết với lần điểm đạo thứ tư, trong đó thể nguyên nhân và trong nhiều trường hợp, phàm ngã, bị hủy diệt. Phương diện thứ ba của Năng Lượng Shamballa, tức Năng Lượng Tổ Chức, thú vị thay, liên kết với lần điểm đạo thứ sáu. Hai con số này, ba và sáu, dễ dàng liên hệ với nhau, và thật vậy, lần điểm đạo thứ sáu được cai quản bởi cung ba. |
|
4. The third ray is related to the seventh—the seventh being a more concrete manifestation of the energy of intelligence, even as it is a more concrete manifestation of the first ray and energy of will. Under the seventh ray, the “Highest and the Lowest meet”; in this case, the Will of the Father and the will of the individual are related. The many threads of life are related to the third ray, and through the seventh ray of organization proceeds the power of linking and relating. The first real strand linking the human will to the Divine Will was, we are told, established by the Christ in the Garden of Gethsemene. |
4. Cung ba liên hệ với cung bảy; cung bảy là một biểu hiện cụ thể hơn của năng lượng trí tuệ, cũng như nó là một biểu hiện cụ thể hơn của cung một và năng lượng ý chí. Dưới cung bảy, “Cao Nhất và Thấp Nhất gặp nhau”; trong trường hợp này, Ý Chí của Đức Cha và ý chí của cá nhân được liên hệ. Nhiều sợi dây sự sống liên hệ với cung ba, và thông qua cung bảy của tổ chức, quyền năng nối kết và liên hệ tiến hành. Chúng ta được cho biết rằng sợi dây thực sự đầu tiên nối ý chí con người với Ý Chí thiêng liêng đã được Đức Christ thiết lập trong Vườn Gethsemane. |
|
5. The first episode of real importance in the life of the child Jesus is recorded as having occurred in the Temple when He was twelve years old. There, He was found teaching the elders. Twelve is a number of zodiacal completion, and is a number associated with the sign Pisces—the sign of salvation, of which the monad or spirit is the representative. Was it Jesus Who said this?—“wist ye not that I must be about my Father’s business?” Or was it the Christ? And yet the Christ is said to have associated Himself (at least in terms of the initiatory exemplifications) for the first time at the Baptism when Jesus was thirty years old. It is, however, impossible for us presently to know when and to what extent the Great Teacher, Lord Maitreya, began His influence upon Jesus. Perhaps there was a long period of training, but a kind of “taking over” of the body of Jesus only at the Baptism. Perhaps it was then, for the first time, that the initiate Jesus “stood aside” for the entrance of the Christ—both of Them cooperating in an advanced form of conscious mediumship—a Tulku phenomenon. |
5. Biến cố đầu tiên có tầm quan trọng thật sự trong đời sống của hài nhi Đức Jesus được ghi nhận là đã xảy ra trong Đền Thờ khi Ngài mười hai tuổi. Tại đó, người ta thấy Ngài đang giảng dạy cho các trưởng lão. Mười hai là con số của sự hoàn tất hoàng đạo, và là con số gắn với cung Song Ngư—cung của sự cứu rỗi, mà chân thần hay tinh thần là đại diện. Có phải Đức Jesus đã nói điều này không?—“Các ngươi há chẳng biết rằng Ta phải lo công việc của Cha Ta sao?” Hay đó là Đức Christ? Thế nhưng người ta nói rằng Đức Christ đã liên kết chính Ngài với Đức Jesus lần đầu tiên tại Lễ Rửa Tội khi Đức Jesus ba mươi tuổi, ít nhất xét theo các minh họa điểm đạo. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta không thể biết được khi nào và đến mức độ nào Đại Huấn Sư, Đức Maitreya, đã bắt đầu ảnh hưởng của Ngài trên Đức Jesus. Có lẽ đã có một thời kỳ huấn luyện lâu dài, nhưng chỉ có một dạng “tiếp quản” thể của Đức Jesus tại Lễ Rửa Tội. Có lẽ chính lúc ấy, lần đầu tiên, điểm đạo đồ Jesus “đứng sang một bên” để Đức Christ bước vào—cả hai Ngài cùng hợp tác trong một hình thức đồng tử có ý thức cao cấp—một hiện tượng hóa thân đặc biệt. |
|
6. In any case, Jesus’ first recorded public statement speaks of the Father and the Father’s business; as well, the internally climactic episode in the Garden of Gethsemene relates Christ (presumably within the body of Jesus) to the monad in a new and dynamic manner. The beginning episode of Jesus in the Temple shows an orientation towards the Will of the Father (“my Father’s business”); the episode in the Garden shows full and willing subjugation to that Divine Will. The link with Divine Will was made and utilized, and—speaking of the Energy of Organization—humanity’s relation to the Father and the Father’s Home was, thereby, forever changed—re-organized. An entirely new dispensation had begun which is only now, two thousand years later, working into the possibility of fruition. |
6. Dù sao đi nữa, phát biểu công khai đầu tiên được ghi lại của Đức Jesus nói về Cha và công việc của Cha; đồng thời, biến cố cao trào nội tại trong Vườn Gethsemane liên hệ Đức Christ, có lẽ ở trong thể của Đức Jesus, với chân thần theo một cách mới mẻ và năng động. Biến cố khởi đầu của Đức Jesus trong Đền Thờ cho thấy một sự định hướng về Ý Chí của Cha, “công việc của Cha Ta”; biến cố trong Vườn cho thấy sự quy phục trọn vẹn và tự nguyện trước Ý Chí thiêng liêng ấy. Mối liên kết với Ý Chí thiêng liêng đã được thiết lập và vận dụng, và—nói về Năng Lượng Tổ Chức—mối quan hệ của nhân loại với Cha và Nhà của Cha nhờ đó đã vĩnh viễn thay đổi—được tái tổ chức. Một thể chế hoàn toàn mới đã bắt đầu, mà chỉ đến nay, sau hai ngàn năm, mới đang tiến vào khả năng thành tựu. |
|
7. There is an important statement at the close of this paragraph. We learn that there is “One of Whom the Monad is an expression”. All of us, as monads, are an expression of that One—i.e., of the Father. |
7. Có một phát biểu quan trọng ở cuối đoạn này. Chúng ta biết rằng có “Đấng mà Chân thần là một biểu hiện”. Tất cả chúng ta, với tư cách là các chân thần, đều là một biểu hiện của Đấng ấy—tức là của Cha. |
|
N. There will be an interim between the darkness of the war with the evil history of the past, and the appearance of a living civilisation and culture based on the spiritual values and intelligently developing the divine purpose. The stage is now being set for this. (cf. RI, p. 87) |
N. Sẽ có một khoảng chuyển tiếp giữa bóng tối của chiến tranh cùng lịch sử tà ác của quá khứ, và sự xuất hiện của một nền văn minh và văn hóa sống động dựa trên các giá trị tinh thần và phát triển Thiên Ý một cách sáng suốt. Sân khấu hiện đang được dàn dựng cho điều này. (xem RI, tr. 87) |
|
It is these three energies which have precipitated the world crisis, and it is helpful for us to recognise the factual nature of the Shamballa forces as they play upon our planetary life and work out human destiny. The great energy of purification is regenerating humanity, and of this the widespread fires which have been such an outstanding characteristic of this war (1914-1945) are the outward and visible sign. Much evil is being burnt out through the revelation of the appalling character of that evil, and through this, unity is being produced. Mankind has looked upon evil in every land and known it to be wrought by men. Men have seen, and that sight will never be forgotten, and the horror thus engendered will aid in stiffening the will of humanity to betterment. The energy of destruction has its side of beauty when the spiritual values are grasped. That which has so grossly imprisoned the human spirit is disappearing; the rocky grave of humanity is breaking open and releasing men to a life of resurrection. Forget not that in the interim between the tomb experience and the appearance in living [Page 87] form to His disciples, the Master Jesus went down into hell (figuratively speaking), carrying release for those to be found there. There will be an interim between the darkness of the war with the evil history of the past, and the appearance of a living civilisation and culture based on the spiritual values and intelligently developing the divine purpose. The stage is now being set for this. |
Chính ba năng lượng này đã làm ngưng tụ cuộc khủng hoảng thế giới, và sẽ hữu ích cho chúng ta khi nhận ra bản chất thực sự của các mãnh lực Shamballa khi chúng tác động lên sự sống hành tinh của chúng ta và thực hiện thiên mệnh nhân loại. Năng lượng thanh lọc vĩ đại đang tái sinh nhân loại, và những đám cháy lan rộng vốn là đặc điểm nổi bật của cuộc chiến này (1914-1945) là dấu hiệu bên ngoài và hữu hình của điều đó. Nhiều điều tà ác đang bị thiêu rụi qua sự mặc khải về tính chất kinh hoàng của tà ác ấy, và nhờ điều này, sự hợp nhất đang được tạo ra. Nhân loại đã nhìn thấy tà ác ở mọi vùng đất và biết rằng nó do con người gây nên. Con người đã thấy, và cảnh tượng ấy sẽ không bao giờ bị quên lãng; nỗi kinh hoàng được khơi dậy như thế sẽ giúp làm cứng rắn ý chí hướng đến cải thiện của nhân loại. Năng lượng hủy diệt có phương diện đẹp đẽ của nó khi các giá trị tinh thần được nắm bắt. Điều đã giam hãm tinh thần con người một cách quá nặng nề đang biến mất; ngôi mộ đá của nhân loại đang mở tung và giải phóng con người vào một đời sống phục sinh. Đừng quên rằng trong khoảng chuyển tiếp giữa kinh nghiệm trong mộ và sự hiện ra trong hình tướng sống động [Page 87] trước các đệ tử của Ngài, Chân sư Jesus đã đi xuống địa ngục, nói theo nghĩa biểu tượng, mang sự giải thoát đến cho những ai được tìm thấy ở đó. Sẽ có một khoảng chuyển tiếp giữa bóng tối của chiến tranh cùng lịch sử tà ác của quá khứ, và sự xuất hiện của một nền văn minh và văn hóa sống động dựa trên các giá trị tinh thần và phát triển Thiên Ý một cách sáng suốt. Sân khấu hiện đang được dàn dựng cho điều này. |
|
1. In this paragraph the Tibetan applies the energies of purification, destruction and organization to an understanding of the precipitation and enactment of the World War (1914-1945). This war was a war of fire; not only the burning of military machinery, and the bodies of millions of victims, but of great cities—consumed in fire storms, climaxing with the fiery destruction of Hiroshima and Nagasaki. Purification and destruction worked hand in hand. |
1. Trong đoạn này, Chân sư Tây Tạng áp dụng các năng lượng thanh lọc, hủy diệt và tổ chức vào việc thấu hiểu sự ngưng tụ và diễn tiến của Thế Chiến (1914-1945). Cuộc chiến này là một cuộc chiến của lửa; không chỉ là sự thiêu đốt máy móc quân sự và thân xác của hàng triệu nạn nhân, mà còn là các thành phố lớn—bị nuốt chửng trong những cơn bão lửa, lên đến cao điểm với sự hủy diệt bằng lửa tại Hiroshima và Nagasaki. Thanh lọc và hủy diệt đã vận hành song hành. |
|
2. We are told that evil was burnt out through the revelation of the appalling character of evil. Apparently the horror of that realization was needed to stiffen the will-to-betterment in humanity. |
2. Chúng ta được cho biết rằng tà ác đã bị thiêu rụi qua sự mặc khải về tính chất kinh hoàng của tà ác. Rõ ràng nỗi kinh hoàng của nhận thức ấy là cần thiết để làm cứng rắn Ý Chí-hướng Cải Thiện trong nhân loại. |
|
3. It is hard to appreciate the “beauty” of such horror unless one is thinking in terms of the strengthening of spiritual values. Certainly this strengthening has occurred. Built into the consciousness of humanity is the conviction, “never again”. This conviction may yet save humanity from involvement in a Third World War which could mean the destruction of the human race. |
3. Thật khó cảm nhận được “vẻ đẹp” của nỗi kinh hoàng như thế, trừ khi người ta suy nghĩ theo hướng tăng cường các giá trị tinh thần. Chắc chắn sự tăng cường này đã xảy ra. Trong tâm thức nhân loại đã được xây dựng niềm xác tín: “không bao giờ nữa”. Niềm xác tín này vẫn có thể cứu nhân loại khỏi việc dấn vào một Thế Chiến thứ ba, điều có thể đồng nghĩa với sự hủy diệt của nhân loại. |
|
4. In the development of the soul (so oft asleep to the real issues and spiritual values) horror and terror have their place. |
4. Trong sự phát triển của linh hồn, vốn quá thường ngủ mê trước các vấn đề thực sự và các giá trị tinh thần, kinh hoàng và khiếp sợ có vị trí của chúng. |
|
The “sharp shears of sorrow must separate the real from the unreal; the lash of pain must awaken the sleepy soul to exquisite life; the wrenching away of the roots of life from the soil of selfish desire must be undergone, and then the man stands free.” (R&I 499) |
“Lưỡi kéo sắc bén của sầu khổ phải tách điều chân thật khỏi điều không thật; roi đau đớn phải đánh thức linh hồn đang ngủ mê vào đời sống tinh tế; sự giằng bật các rễ của sự sống khỏi mảnh đất của dục vọng ích kỷ phải được trải qua, và rồi con người đứng tự do.” (R&I 499) |
|
It would seem that humanity has been so lulled to sleep concerning its real spiritual nature that, sometimes, only the most drastic experiences can awaken it. We can see the value of this awakening in retrospect, but it is a rare soul who chooses willingly and joyfully to pass through the horror which brings awakening. |
Dường như nhân loại đã bị ru ngủ quá sâu về bản chất tinh thần thực sự của mình đến nỗi đôi khi chỉ những kinh nghiệm nghiêm khắc nhất mới có thể đánh thức họ. Nhìn lại, chúng ta có thể thấy giá trị của sự thức tỉnh này, nhưng hiếm có linh hồn nào tự nguyện và hoan hỉ chọn đi qua nỗi kinh hoàng đem lại sự thức tỉnh. |
|
5. When we read of the breaking open of the rocky cave which has imprisoned humanity, we find the influence of the undiscovered planet, Vulcan—a planet which works both constructively and destructively with matter. Humanity is preparing for the first initiation, and Vulcan, descending to the depths of matter, is part of this preparation. Vulcanian and Plutonic experiences of the most drastic nature precede the first initiation. |
5. Khi đọc về việc hang đá đã giam hãm nhân loại bị mở tung, chúng ta thấy ảnh hưởng của hành tinh chưa được khám phá, Vulcan—một hành tinh làm việc với vật chất theo cả hai cách kiến tạo và hủy diệt. Nhân loại đang chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ nhất, và Vulcan, đi xuống các chiều sâu của vật chất, là một phần của sự chuẩn bị này. Những kinh nghiệm thuộc Vulcan và Pluto có tính chất nghiêm khắc nhất đi trước lần điểm đạo thứ nhất. |
|
6. Historically, we now stand at a point between the darkness and horror of the past, and the beginning of the new civilization. Analogously, we are passing through a period which could be called the “harrowing of hell”. During this time, those who are “fallen” but who yet may be redeemed must be reached, and oriented towards the new possibilities. |
6. Về mặt lịch sử, hiện nay chúng ta đứng tại một điểm giữa bóng tối và nỗi kinh hoàng của quá khứ, và sự khởi đầu của nền văn minh mới. Theo tương đồng, chúng ta đang đi qua một thời kỳ có thể được gọi là “sự xuống địa ngục để giải thoát”. Trong thời gian này, những ai đã “sa ngã” nhưng vẫn có thể được cứu chuộc phải được tiếp cận và định hướng về những khả năng mới. |
|
7. So, our present historical period is a period of transition. How long will it last? Certainly, at least until the first part of the 22nd century, when the Aquarian Age is said by the Tibetan to begin. |
7. Vì vậy, thời kỳ lịch sử hiện tại của chúng ta là một thời kỳ chuyển tiếp. Nó sẽ kéo dài bao lâu? Chắc chắn ít nhất đến phần đầu của thế kỷ hai mươi hai, khi Chân sư Tây Tạng nói rằng Kỷ nguyên Bảo Bình sẽ bắt đầu. |
|
8. This is the period of possible “delay” which the Tibetan said could occur. During this time the sixth ray souls will, for the most part, pass out of physical incarnation, and with them the energy which principally inhibits the impending and beneficent influence of the seventh ray. During this transition time, as well, those upon the second ray must have completed their work of spiritual education and spiritual “propaganda”, so that the majority of humanity may more clearly see the fundamentals of the Divine Plan, and realize, to some extent, their greater possibilities. We are currently “rebuilding the shrine of man’s living”. |
8. Đây là thời kỳ “trì hoãn” khả hữu mà Chân sư Tây Tạng đã nói có thể xảy ra. Trong thời gian này, phần lớn các linh hồn cung sáu sẽ rời khỏi sự lâm phàm hồng trần, và cùng với họ là năng lượng chủ yếu ngăn cản ảnh hưởng sắp đến và lợi ích của cung bảy. Cũng trong thời kỳ chuyển tiếp này, những người thuộc cung hai phải hoàn tất công việc giáo dục tinh thần và “tuyên truyền” tinh thần của họ, để đa số nhân loại có thể thấy rõ hơn các nền tảng của Thiên Cơ, và phần nào nhận ra các khả năng lớn lao hơn của họ. Hiện nay chúng ta đang “tái xây dựng điện thờ của đời sống con người”. |
|
“The remainder of this century must be dedicated to rebuilding the shrine of man’s living, to reconstructing the form of humanity’s life, to reconstituting the new civilisation upon the foundations of the old, and to the reorganising of the structures of world thought, world politics, plus the redistribution of the world’s resources in conformity to divine purpose. Then and only then will it be possible to carry the revelation further.” (DON 106) |
“Phần còn lại của thế kỷ này phải được hiến dâng cho việc tái xây dựng điện thờ của đời sống con người, tái kiến tạo hình tướng của đời sống nhân loại, tái lập nền văn minh mới trên các nền tảng của nền văn minh cũ, và tái tổ chức các cấu trúc của tư tưởng thế giới, chính trị thế giới, cộng với việc tái phân phối các tài nguyên của thế giới phù hợp với Thiên Ý. Khi ấy và chỉ khi ấy mới có thể đưa sự mặc khải tiến xa hơn.” (DON 106) |
|
It would seem that the process must carry on into the 21st century, for it is far from completed, and there are new threats based on group selfishness. |
Dường như tiến trình này phải tiếp tục sang thế kỷ hai mươi mốt, vì nó còn lâu mới hoàn tất, và có những mối đe dọa mới dựa trên tính ích kỷ tập thể. |
|
9. We anticipate the coming of |
9. Chúng ta mong đợi sự xuất hiện của |
|
“a living civilisation and culture based on the spiritual values and intelligently developing the divine purpose.” |
“một nền văn minh và văn hóa sống động dựa trên các giá trị tinh thần và phát triển Thiên Ý một cách sáng suốt.” |
|
Shamballa will be involved, and principally through the Energy of Organization. Purification and destruction precede organization. The New Age will, increasingly, be organized along Shamballic lines, and according to the Divine Will. This will not be immediate, but the trend can already be seen in globalization, internationalism and the developing of synthetic and holistic approaches. |
Shamballa sẽ tham dự, và chủ yếu qua Năng Lượng Tổ Chức. Thanh lọc và hủy diệt đi trước tổ chức. Kỷ Nguyên Mới sẽ ngày càng được tổ chức theo các đường lối Shamballa và theo Ý Chí thiêng liêng. Điều này sẽ không diễn ra ngay lập tức, nhưng khuynh hướng ấy đã có thể được thấy trong toàn cầu hóa, chủ nghĩa quốc tế và sự phát triển của các cách tiếp cận tổng hợp và toàn thể. |
|
10. From a service perspective, the true members of the New Group of World Servers are busy “harrowing hell” in full cooperation with the Christ and the Hierarchy. Do we find ourselves doing this, each in our own way? |
10. Từ viễn cảnh phụng sự, các thành viên chân chính của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đang bận rộn “xuống địa ngục để giải thoát” trong sự hợp tác trọn vẹn với Đức Christ và Thánh Đoàn. Chúng ta có thấy mình đang làm điều này, mỗi người theo cách riêng của mình không? |
|
O. The Crucifixion and the tomb experience lead eventually to resurrection and to life. (cf. RI, p. 87) |
O. Cuộc Đóng Đinh và kinh nghiệm trong mộ cuối cùng dẫn đến phục sinh và đến sự sống. (xem RI, tr. 87) |
|
The Crucifixion and the tomb experience lead eventually to resurrection and to life. The destruction is appalling, but it is only the destruction of the form side of manifestation in this particular cycle, and (a point which I would beg you not to forget) it is the destruction of much planetary evil, focussed for aeons in humanity as a whole and brought to the surface and precipitated into violent activity by a group of evil men whose destiny it was. This destiny was the result of their own deliberate choice, and of prolonged cycles of purely material selfishness. |
Cuộc Đóng Đinh và kinh nghiệm trong mộ cuối cùng dẫn đến phục sinh và đến sự sống. Sự hủy diệt thật kinh hoàng, nhưng đó chỉ là sự hủy diệt của phương diện hình tướng của biểu hiện trong chu kỳ đặc biệt này, và, một điểm Tôi tha thiết xin các bạn đừng quên, đó là sự hủy diệt của nhiều tà ác hành tinh, vốn đã tập trung qua nhiều đại kiếp nơi toàn thể nhân loại và được đưa lên bề mặt, ngưng tụ vào hoạt động bạo liệt bởi một nhóm người tà ác mà đó là định mệnh của họ. Định mệnh này là kết quả của sự chọn lựa có chủ ý của chính họ, và của những chu kỳ kéo dài của tính ích kỷ thuần vật chất. |
|
1. Here we see how evil is transformed into good—a skill at which Sanat Kumara is a supreme cosmic Adept. |
1. Ở đây chúng ta thấy cách tà ác được chuyển đổi thành thiện—một kỹ năng mà Đức Sanat Kumara là một Chân sư vũ trụ tối thượng. |
|
2. Humanity has been passing through a kind of “Crucifixion”—not the true fourth initiation, but the kind of crucifixion necessary before it possible to enter the Kingdom of the Soul at the first initiation. |
2. Nhân loại đã và đang đi qua một loại “Đóng Đinh”—không phải lần điểm đạo thứ tư đích thực, mà là loại đóng đinh cần thiết trước khi có thể bước vào Thiên Giới của Linh Hồn tại lần điểm đạo thứ nhất. |
|
3. Ever the Tibetan emphasizes that the World War destroyed human forms but not human beings. Those who seek life in terms of spiritual and subtle values will know this to be true. Others will discover it in time. |
3. Chân sư Tây Tạng luôn nhấn mạnh rằng Thế Chiến đã hủy diệt các hình tướng con người chứ không hủy diệt các con người. Những ai tìm kiếm sự sống theo các giá trị tinh thần và tinh vi sẽ biết điều này là đúng. Những người khác sẽ khám phá ra điều đó theo thời gian. |
|
4. Apparently much planetary evil has, for years, been focussed through humanity. Note that the Tibetan speaks of planetary evil and not cosmic evil, though from time to time cosmic evil, too, has made its unwelcome entry into the thought and conduct of certain groups within the human race. Cosmic evil was, however, involved in this process of the World War by means of which humanity ridded itself of planetary evil. It took a greater evil to draw a lesser evil to the surface. |
4. Rõ ràng nhiều tà ác hành tinh đã, trong nhiều năm, được tập trung qua nhân loại. Hãy lưu ý rằng Chân sư Tây Tạng nói về tà ác hành tinh chứ không phải tà ác vũ trụ, dù thỉnh thoảng tà ác vũ trụ cũng đã xâm nhập một cách không được hoan nghênh vào tư tưởng và hành vi của một số nhóm trong nhân loại. Tuy nhiên, tà ác vũ trụ đã tham dự vào tiến trình của Thế Chiến này, nhờ đó nhân loại tự giải thoát mình khỏi tà ác hành tinh. Cần có một tà ác lớn hơn để kéo một tà ác nhỏ hơn lên bề mặt. |
|
5. Astrologically, we cannot help but notice the influence of the planet Pluto, associated with evil of all kinds, whether planetary or cosmic. The evil with which Pluto is associated almost overcame humanity; but Pluto is a “Healer” as well, and the dreadful process of war will, at length, be seen to have been a great healing for the human family. It will only appear so to those who have developed the necessary degree of impersonality. Of course, the first ray (the ray of Pluto and Vulcan) promotes impersonality. |
5. Về mặt chiêm tinh, chúng ta không thể không nhận thấy ảnh hưởng của hành tinh Sao Diêm Vương, gắn với tà ác thuộc mọi loại, dù là hành tinh hay vũ trụ. Tà ác gắn với Sao Diêm Vương hầu như đã thắng nhân loại; nhưng Sao Diêm Vương cũng là một “Đấng Chữa Lành”, và tiến trình chiến tranh đáng sợ rốt cuộc sẽ được thấy là một sự chữa lành vĩ đại cho gia đình nhân loại. Nó chỉ hiện ra như vậy đối với những ai đã phát triển mức độ vô ngã cần thiết. Dĩ nhiên, cung một, cung của Sao Diêm Vương và Vulcan, thúc đẩy tính vô ngã. |
|
6. This planetary evil had been focussed in humanity “for aeons”. How many years? Hundreds of thousands? Perhaps some millions? A dread and long-lasting disease. How necessary, then, the uprooting and purgation of this evil! How necessary (from an historical perspective) the destruction and purification which humanity has recently and painfully experienced. |
6. Tà ác hành tinh này đã được tập trung trong nhân loại “qua nhiều đại kiếp”. Bao nhiêu năm? Hàng trăm ngàn? Có lẽ vài triệu? Một căn bệnh đáng sợ và kéo dài. Vậy thì việc nhổ tận gốc và thanh tẩy tà ác này cần thiết biết bao! Sự hủy diệt và thanh lọc mà nhân loại gần đây đã trải nghiệm một cách đau đớn cần thiết biết bao, xét từ viễn cảnh lịch sử. |
|
“Perfection calls imperfection to the surface. Good drives evil always from the form of man in time and space.” |
“Sự hoàn thiện gọi sự bất toàn lên bề mặt. Điều thiện luôn đẩy điều ác ra khỏi hình tướng của con người trong thời gian và không gian.” |
|
The “good” of Shamballa must be close indeed given the appalling horror of the World War. When the last great 250,000 year cycle of our Sun around the Pleiades was completed some 2000 years ago—the approximate time when the Christ appeared in Palestine—it signaled a new relation of Shamballa to humanity—the emergence of the Will-to-Good in such a powerful way that it could not be resisted. From that time forth, evil was made apparent to humanity in ways it never had been. We can say that the last twenty centuries have been evil in the extreme, but perhaps it is rather that our awareness of evil has grown immeasurably. We are recognizing its appalling nature because the planet is, as it were, “throwing it off” in a manner never before possible. Of course, there are many confrontations with evil lying ahead (the “Judgment Day”, for instance, in the fifth round), but Christ, the Hierarchy and the Will of Shamballa are bringing an hitherto unparalleled release to humanity. We must, however, pay the painful price of recognition and direct confrontation with the forces of evil. |
“Điều thiện” của Shamballa hẳn phải rất gần, xét theo nỗi kinh hoàng khủng khiếp của Thế Chiến. Khi chu kỳ lớn cuối cùng kéo dài 250.000 năm của Mặt Trời chúng ta quanh Pleiades hoàn tất cách đây khoảng 2000 năm—xấp xỉ thời điểm Đức Christ xuất hiện tại Palestine—điều đó báo hiệu một mối quan hệ mới giữa Shamballa và nhân loại: sự xuất hiện của Ý Chí-hướng Thiện theo một cách mạnh mẽ đến nỗi không thể cưỡng lại. Từ thời điểm ấy trở đi, tà ác đã trở nên hiển nhiên đối với nhân loại theo những cách chưa từng có trước đó. Chúng ta có thể nói rằng hai mươi thế kỷ vừa qua là cực kỳ tà ác, nhưng có lẽ đúng hơn là nhận thức của chúng ta về tà ác đã tăng trưởng vô lượng. Chúng ta đang nhận ra bản chất kinh hoàng của nó bởi vì hành tinh, có thể nói như vậy, đang “tống khứ nó ra” theo một cách chưa từng khả hữu trước đây. Dĩ nhiên, còn nhiều cuộc đối đầu với tà ác nằm phía trước, chẳng hạn “Ngày Phán Xét” trong cuộc tuần hoàn thứ năm, nhưng Đức Christ, Thánh Đoàn và Ý Chí của Shamballa đang đem lại cho nhân loại một sự giải thoát chưa từng có. Tuy nhiên, chúng ta phải trả cái giá đau đớn của sự nhận biết và đối đầu trực tiếp với các mãnh lực tà ác. |
|
P. I would ask all aspirants and disciples to ponder upon the destructive purpose of God—a purpose which is motivated by love, guided by a balanced judgment as to form, and which cherishes and fosters the life and its resultant spiritual values. (cf. RI, p. 87) |
P. Tôi xin tất cả những người chí nguyện và các đệ tử suy ngẫm về mục đích hủy diệt của Thượng đế—một mục đích được thúc đẩy bởi tình thương, được hướng dẫn bởi phán đoán quân bình về hình tướng, và nâng niu, nuôi dưỡng sự sống cùng các giá trị tinh thần phát sinh từ đó. (xem RI, tr. 87) |
|
I would ask all aspirants and disciples to ponder upon the destructive purpose of God—a purpose which is motivated by love, guided by a balanced judgment as to form, and which cherishes and fosters the life and its resultant spiritual values. |
Tôi xin tất cả những người chí nguyện và các đệ tử suy ngẫm về mục đích hủy diệt của Thượng đế—một mục đích được thúc đẩy bởi tình thương, được hướng dẫn bởi phán đoán quân bình về hình tướng, và nâng niu, nuôi dưỡng sự sống cùng các giá trị tinh thần phát sinh từ đó. |
|
1. D.K. is here inviting us to share in the perspective characteristic of the Hierarchy. |
1. Ở đây Chân sư DK đang mời chúng ta chia sẻ viễn cảnh đặc trưng của Thánh Đoàn. |
|
2. He emphasizes the love behind the destruction, and “balanced judgment as to form”—clearly a ‘dis-illusioned’, de-glamored and unbiased perspective. |
2. Ngài nhấn mạnh tình thương đằng sau sự hủy diệt, và “phán đoán quân bình về hình tướng”—rõ ràng là một viễn cảnh đã thoát khỏi ảo tưởng, thoát khỏi ảo cảm và không thiên lệch. |
|
3. He is inviting us to a deeper appreciation of spiritual values. He is speaking in the language of the first ray whose task it is to preserve values. |
3. Ngài đang mời chúng ta đến với sự trân trọng sâu xa hơn đối với các giá trị tinh thần. Ngài đang nói bằng ngôn ngữ của cung một, cung có nhiệm vụ gìn giữ các giá trị. |
|
“The preservation of values is the task of the initiate of the first ray;…” (R&I 507) |
“Việc gìn giữ các giá trị là nhiệm vụ của điểm đạo đồ cung một;…” (R&I 507) |
|
No doubt when we are Masters of the Wisdom we will see and understand as He does. For now, we can set ourselves to overcome the usual biases which exist within the psyches of those inhabiting an essentially second ray planet in an essentially second ray solar system (for the soul ray of both our Planetary and Solar Logois is the second). Because our sight is limited, our understanding is compromised. Through persistent study and meditation and the will-to-apply in service all we learn, the scope of our sight inevitably increases, and with it the quality and impersonality of our judgment. |
Không nghi ngờ gì, khi chúng ta là các Chân sư Minh Triết, chúng ta sẽ thấy và thấu hiểu như Ngài. Hiện giờ, chúng ta có thể tự đặt mình vào việc vượt qua những thiên kiến thông thường tồn tại trong tâm lý của những người đang cư ngụ trên một hành tinh về cơ bản thuộc cung hai, trong một hệ mặt trời về cơ bản thuộc cung hai, vì cung linh hồn của cả Hành Tinh và Thái dương Thượng đế của chúng ta là cung hai. Vì tầm nhìn của chúng ta còn giới hạn, sự thấu hiểu của chúng ta bị suy giảm. Qua việc học hỏi và tham thiền bền bỉ, cùng Ý Chí-áp dụng trong phụng sự tất cả những gì chúng ta học được, phạm vi tầm nhìn của chúng ta tất yếu gia tăng, và cùng với nó là phẩm tính cùng tính vô ngã của phán đoán chúng ta. |
|
Q. There is an inherent destructive energy in matter itself and an energy of very great potency; it is with this energy that the Axis Powers have been working. The destructive energy, emanating from “the bright centre,” Shamballa, is something very different. (cf. RI, p. 87) |
Q. Có một năng lượng hủy diệt cố hữu trong chính vật chất và là một năng lượng có uy lực rất lớn; chính với năng lượng này mà các Cường quốc Phe Trục đã làm việc. Năng lượng hủy diệt, xuất phát từ “trung tâm sáng rực”, Shamballa, là một điều rất khác. (xem RI, tr. 87) |
|
A human being destroys his own form again and again through the evil which he does and by the material focus of his desires; the following of a life of vice will breed disease, as is well known. (cf. RI, p. 87) |
Một con người cứ nhiều lần hủy hoại hình tướng của chính mình qua điều ác mà y làm và bởi sự tập trung vật chất của các dục vọng nơi y; việc theo đuổi một đời sống trụy lạc sẽ sinh ra bệnh tật, như ai cũng biết. (xem RI, tr. 87) |
|
There is an inherent destructive energy in matter itself and an energy of very great potency; it is with this energy that the Axis Powers are working. The destructive energy, emanating from “the bright centre,” Shamballa, is something very different, and I would ask you to remember this. The destroying power of spirit is not the same as that of matter. A human being destroys his own form again and again through the evil which he does and by the material focus of his desires; the following of a life of vice will breed disease, as is well known. |
Có một năng lượng hủy diệt cố hữu trong chính vật chất và là một năng lượng có uy lực rất lớn; chính với năng lượng này mà các Cường quốc Phe Trục đang làm việc. Năng lượng hủy diệt, xuất phát từ “trung tâm sáng rực”, Shamballa, là một điều rất khác, và Tôi xin các bạn nhớ điều này. Quyền năng hủy diệt của tinh thần không giống với quyền năng của vật chất. Một con người cứ nhiều lần hủy hoại hình tướng của chính mình qua điều ác mà y làm và bởi sự tập trung vật chất của các dục vọng nơi y; việc theo đuổi một đời sống trụy lạc sẽ sinh ra bệnh tật, như ai cũng biết. |
|
1 Disease is related to inharmony and chaos—symbolically, to the Moon. Black magic and disease are both related to the Moon. The seeds of destruction are found within the lunar nature—our habitual self. |
1 Bệnh tật liên hệ với sự bất hòa và hỗn loạn—về mặt biểu tượng, với Mặt Trăng. Hắc thuật và bệnh tật đều liên hệ với Mặt Trăng. Các hạt giống của sự hủy diệt được tìm thấy trong bản chất nguyệt tinh—cái tôi theo thói quen của chúng ta. |
|
2 The Axis Powers were working with the energy of the past—the energies related to the Moon, the lunar nature, and the matter of the first solar system. Their movement (masked as a bold move into the future) was, in fact, a great retrogression. |
2 Các Cường quốc Phe Trục đã làm việc với năng lượng của quá khứ—các năng lượng liên hệ với Mặt Trăng, bản chất nguyệt tinh và vật chất của hệ mặt trời thứ nhất. Phong trào của họ, dù được che đậy như một bước đi táo bạo vào tương lai, thực ra là một sự thoái bộ lớn. |
|
3 The Tibetan is making the issues very clear. There are values emanating from the spirit and those which emerge from matter. The former are essentially good as the latter are essentially evil (though matter and form have their proper and sanctified plane in the scheme of things). |
3 Chân sư Tây Tạng đang làm cho các vấn đề trở nên rất rõ ràng. Có những giá trị xuất phát từ tinh thần và những giá trị nảy sinh từ vật chất. Những giá trị trước về bản chất là thiện, cũng như những giá trị sau về bản chất là ác, dù vật chất và hình tướng có cõi thích đáng và được thánh hóa của chúng trong hệ hành tinh của vạn sự. |
|
4 All of us are involved in some form of destruction or another. Our form is destructible and corruptible, and we are, in one way or another, engaged in the process of destroying it—however unconsciously to ourselves. D.K. is asking us to choose the form of destruction in which we engage—no longer to be victims of an ignorant, unconscious destruction based on material desires and values, but to choose the liberating destruction of the spiritual will which destroys form only if it impedes the expression of spirit. That same form can be maintained in perpetuity by the same will, if the purposes of spirit are further by that retention. Master R. is one Who knows the secrets of such retention. |
4 Tất cả chúng ta đều tham dự vào một hình thức hủy diệt nào đó. Hình tướng của chúng ta có thể bị hủy hoại và hư hoại, và bằng cách này hay cách khác, chúng ta đang tham gia vào tiến trình hủy hoại nó—dù chính chúng ta không ý thức được. Chân sư DK đang yêu cầu chúng ta chọn hình thức hủy diệt mà chúng ta tham dự—không còn là nạn nhân của một sự hủy diệt vô minh, vô thức, dựa trên các dục vọng và giá trị vật chất, mà chọn sự hủy diệt giải phóng của Ý Chí tinh thần, vốn chỉ hủy diệt hình tướng nếu nó cản trở sự biểu hiện của tinh thần. Cùng hình tướng ấy có thể được duy trì vĩnh viễn bởi chính Ý Chí ấy, nếu các mục đích của tinh thần được thúc đẩy thêm nhờ sự duy trì đó. Chân sư R. là Đấng biết các bí mật của sự duy trì như thế. |
|
5 Right now, many of us overvalue the form and cling to it. This overvaluation is a form of material desire and undermines the health and integrity of the very form we would preserve. |
5 Ngay hiện nay, nhiều người trong chúng ta đánh giá hình tướng quá cao và bám víu vào nó. Sự đánh giá quá cao này là một hình thức của dục vọng vật chất và làm suy yếu sức khỏe cùng tính toàn vẹn của chính hình tướng mà chúng ta muốn bảo tồn. |
|
6 To the true initiate, form is instrumental. The instrument is retained as long as it is useful, but not as an end in itself. |
6 Đối với điểm đạo đồ chân chính, hình tướng là khí cụ. Khí cụ được giữ lại chừng nào nó còn hữu ích, nhưng không phải như một mục đích tự thân. |
|
7 So, let us examine the factor of destruction in our lives and see from whence it emanates. Inharmony, ignorance and vice destroy; but, so also, may the Will-to-Good, if the form cannot withstand its pressure. |
7 Vì vậy, chúng ta hãy khảo sát yếu tố hủy diệt trong đời sống mình và xem nó phát xuất từ đâu. Sự bất hòa, vô minh và trụy lạc hủy diệt; nhưng Ý Chí-hướng Thiện cũng có thể hủy diệt, nếu hình tướng không thể chịu được áp lực của nó. |
|
8 In all matters concerning destruction or preservation, the sign Libra (a major sign of ‘healing through harmony’) is of critical importance. Destruction ensues when balance is lost. Sometimes, the spiritual goal is seen as so all-important (as it was in the life of H.P.B) that preserving the balance was considered secondary. But sometimes, the term of valuable service may be lengthened if balance is preserved; thus more of the Will-to-Good would be enacted than if the form was unwisely and prematurely destroyed through excessive pressure. |
8 Trong mọi vấn đề liên quan đến hủy diệt hay bảo tồn, dấu hiệu Thiên Bình, một dấu hiệu lớn của “chữa lành qua hòa điệu”, có tầm quan trọng then chốt. Hủy diệt xảy ra khi sự quân bình bị mất. Đôi khi, mục tiêu tinh thần được thấy là tối quan trọng đến mức, như trong đời sống của H.P.B., việc giữ gìn quân bình được xem là thứ yếu. Nhưng đôi khi, thời hạn phụng sự có giá trị có thể được kéo dài nếu quân bình được giữ gìn; như vậy, nhiều hơn nữa Ý Chí-hướng Thiện sẽ được thực thi so với khi hình tướng bị hủy diệt một cách thiếu minh triết và quá sớm do áp lực quá mức. |
|
9 It is for each to evaluate his/her own circumstances. Destruction there will be, but can it and will it be of the higher more noble kind? And will wisdom administer its application? |
9 Mỗi người phải tự đánh giá hoàn cảnh của mình. Sự hủy diệt sẽ có, nhưng liệu nó có thể và sẽ là loại cao cả hơn, cao quý hơn không? Và minh triết có điều hành sự áp dụng của nó không? |
|
R. A disciple can destroy his form nature through selfless service and devotion to a cause. (cf. RI, p. 87) |
R. Một đệ tử có thể hủy diệt bản chất hình tướng của mình qua phụng sự vị tha và sự tận hiến cho một chính nghĩa. (xem RI, tr. 87) |
|
The disciple can also destroy his form nature through selfless service and devotion to a cause. In both cases the form is destroyed, but the motivating impulse is different and the energy of destruction comes from different sources. The death of a Master Jesus or of a Father Damien, and [Page 88] the death of a Hitler or of a murderer, are not the result of the same essential energies. |
Đệ tử cũng có thể hủy diệt bản chất hình tướng của mình qua phụng sự vị tha và sự tận hiến cho một chính nghĩa. Trong cả hai trường hợp, hình tướng đều bị hủy diệt, nhưng xung lực thúc đẩy thì khác nhau và năng lượng hủy diệt đến từ các nguồn khác nhau. Cái chết của một Chân sư Jesus hay của Cha Damien, và [Page 88] cái chết của một Hitler hay của một kẻ sát nhân, không phải là kết quả của cùng những năng lượng thiết yếu. |
|
1 Here the Tibetan develops this very theme—the two types of destruction, that inspired by the drive of soul and spirit, and that occurring through the inherent energies of matter/form. |
1 Ở đây Chân sư Tây Tạng triển khai chính chủ đề này—hai loại hủy diệt: loại được truyền cảm hứng bởi động lực của linh hồn và tinh thần, và loại xảy ra qua các năng lượng cố hữu của vật chất/hình tướng. |
|
2 Those who have studied the life of Hitler witnessed his progressive degeneration as the tide of the War turned. |
2 Những ai đã nghiên cứu đời sống của Hitler đã chứng kiến sự suy thoái dần dần của y khi cục diện Chiến Tranh xoay chuyển. |
|
3 Jesus and Father Damien destroyed their form through a burning commitment to the will and love of God. They would not allow the form to be comforted. They mounted upon their “slain self”. For them, the ideal burned so brightly that the condition of the form was seen as naught. They counted all as loss, except that the high ideal be achieved. |
3 Đức Jesus và Cha Damien đã hủy diệt hình tướng của các Ngài qua một sự cam kết cháy bỏng đối với Ý Chí và tình thương của Thượng đế. Các Ngài không cho phép hình tướng được an nhàn. Các Ngài đã bước lên “cái tôi bị giết chết” của mình. Đối với các Ngài, lý tưởng bừng cháy rực rỡ đến mức tình trạng của hình tướng được xem như hư vô. Các Ngài kể mọi sự là mất mát, ngoại trừ việc lý tưởng cao cả được thành tựu. |
|
4 Hitler too had an intense idealism, but it was hateful and horrific. He was probably a first ray soul with a sixth ray personality. His demanded of his followers “utter fanaticism” unto death. But there was no energy of love to hold his vehicles in coherence. In a way, he died of an inherent inharmony between his life motives and the Will of God. His life was held together by the compression of an odious ideal. When that ideal was destroyed, he too, fell apart. The degeneration was complete by the time he took his own life. |
4 Hitler cũng có một chủ nghĩa lý tưởng mãnh liệt, nhưng nó đầy thù hận và khủng khiếp. Y có lẽ là một linh hồn cung một với phàm ngã cung sáu. Y đòi hỏi nơi những người đi theo mình “sự cuồng tín tuyệt đối” cho đến chết. Nhưng không có năng lượng tình thương nào để giữ các vận cụ của y trong sự cố kết. Theo một nghĩa nào đó, y chết vì một sự bất hòa cố hữu giữa các động cơ đời sống của y và Ý Chí của Thượng đế. Đời sống của y được giữ lại với nhau bởi sức nén của một lý tưởng ghê tởm. Khi lý tưởng ấy bị hủy diệt, chính y cũng tan rã. Sự suy thoái đã hoàn tất vào lúc y tự kết liễu đời mình. |
|
S. When the world crisis (World War I+II and the present danger for a third World War, predicted by D.K. in “The Externalisation of Hierarchy”, p. 442-443, 545) will be faded into the past “it will be apparent to the understanding aspirant that much evil has been destroyed in all fields of human activity—in the field of theological religion, in the field of politics, and in the field of selfish economic competition. It will be for humanity then to precipitate and stabilise the appearing good, and this they will learn to do through the utilisation of the third Shamballa energy—the energy of organisation.” (cf. RI, p. 88) |
S. Khi cuộc khủng hoảng thế giới, gồm Thế Chiến thứ nhất và thứ hai cùng nguy cơ hiện tại về một Thế Chiến thứ ba, được Chân sư DK tiên đoán trong “Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn”, tr. 442-443, 545, sẽ phai mờ vào quá khứ “điều đó sẽ trở nên rõ ràng đối với người chí nguyện có thấu hiểu rằng nhiều tà ác đã bị hủy diệt trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người—trong lĩnh vực tôn giáo thần học, trong lĩnh vực chính trị, và trong lĩnh vực cạnh tranh kinh tế ích kỷ. Khi ấy, nhân loại sẽ phải làm ngưng tụ và ổn định điều thiện đang xuất hiện, và họ sẽ học làm điều này qua việc vận dụng năng lượng Shamballa thứ ba—năng lượng tổ chức.” (xem RI, tr. 88) |
|
Men of goodwill everywhere, under the guidance of the New Group of World Servers, will organise themselves into battalions of life, and their first major task must be the development of right human relations, through the education of the masses. (cf. RI, p. 88) |
Những người thiện chí ở khắp nơi, dưới sự hướng dẫn của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, sẽ tự tổ chức thành những đạo quân của sự sống, và nhiệm vụ lớn đầu tiên của họ phải là phát triển các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người, thông qua việc giáo dục quần chúng. (xem RI, tr. 88) |
|
The development of an enlightened public opinion is—speaking esoterically—right response to the sound which conveys the will of God to the ears of the attentive. (cf. RI, p. 88) |
Sự phát triển một công luận được soi sáng, nói một cách huyền bí, là đáp ứng đúng đắn với âm thanh truyền tải Ý Chí của Thượng Đế đến tai những người biết chăm chú lắng nghe. (xem RI, tr. 88) |
|
When the din of battle and the smoke and fire of bombing and the cruel effects on human bodies have faded into the past, it will be apparent to the understanding aspirant that much evil has been destroyed in all fields of human activity—in the field of theological religion, in the field of politics, and in the field of selfish economic competition. It will be for humanity then to precipitate and stabilise the appearing good, and this they will learn to do through the utilisation of the third Shamballa energy—the energy of organisation. The new world will be built upon the ruins of the old. The new structure will rise. Men of goodwill everywhere, under the guidance of the New Group of World Servers, will organise themselves into battalions of life, and their first major task must be the development of right human relations, through the education of the masses. This means the paralleling development of an enlightened public opinion, which is (speaking esoterically) right response to the sound which conveys the will of God to the ears of the attentive. Then humanity will indeed move outward from the desert, leave the seas behind, and know that God is Fire. |
Khi tiếng ầm vang của chiến trận, khói và lửa của bom đạn, cùng những tác động tàn khốc trên thể xác con người đã lùi vào quá khứ, đối với người chí nguyện có sự thấu hiểu, điều ấy sẽ trở nên hiển nhiên rằng nhiều điều tà ác đã bị hủy diệt trong mọi lĩnh vực hoạt động của nhân loại, trong lĩnh vực tôn giáo thần học, trong lĩnh vực chính trị, và trong lĩnh vực cạnh tranh kinh tế ích kỷ. Bấy giờ, nhân loại sẽ phải làm cho điều thiện đang xuất hiện được ngưng tụ và ổn định; và họ sẽ học cách làm điều này thông qua việc sử dụng năng lượng thứ ba của Shamballa, năng lượng của sự tổ chức. Thế giới mới sẽ được xây dựng trên những tàn tích của thế giới cũ. Cấu trúc mới sẽ vươn lên. Những người thiện chí ở khắp nơi, dưới sự hướng dẫn của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, sẽ tổ chức chính mình thành những đạo quân của sự sống, và nhiệm vụ lớn đầu tiên của họ phải là phát triển các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người, thông qua việc giáo dục quần chúng. Điều này hàm ý sự phát triển song hành của một công luận được soi sáng, vốn là, nói một cách huyền bí, đáp ứng đúng đắn với âm thanh truyền tải Ý Chí của Thượng Đế đến tai những người biết chăm chú lắng nghe. Bấy giờ, nhân loại quả thật sẽ đi ra khỏi sa mạc, bỏ lại các biển cả phía sau, và biết rằng Thượng đế là Lửa. |
|
1 The Tibetan is viewing the result of the Great War through the clearing smoke. Again, He specifies that the cruel effects have been “on human bodies”, though elsewhere He warns of psychological trauma, as well, when speaking of the dangers of a war too prolonged. |
1 Chân sư Tây Tạng đang nhìn kết quả của Đại Chiến qua làn khói đang tan. Một lần nữa, Ngài xác định rằng các tác động tàn khốc đã xảy ra “trên thể xác con người”, dù ở nơi khác Ngài cũng cảnh báo về chấn thương tâm lý khi nói đến những nguy cơ của một cuộc chiến kéo dài quá lâu. |
|
2 There are wonderful mantrams and definitions in this paragraph: |
2 Trong đoạn này có những mantram và định nghĩa tuyệt vời: |
|
a. ‘Stabilize the appearing good’. |
a. “Ổn định điều thiện đang xuất hiện”. |
|
b. “The new world will be built upon the ruins of the old”. |
b. “Thế giới mới sẽ được xây dựng trên những tàn tích của thế giới cũ”. |
|
c. “Organise [yourselves] into battalions of life” |
c. “Tổ chức chính mình thành những đạo quân của sự sống” |
|
d. “Enlightened public opinion …is…right response to the sound which conveys the will of God to the ears of the attentive.” |
d. “Công luận được soi sáng là đáp ứng đúng đắn với âm thanh truyền tải Ý Chí của Thượng Đế đến tai những người biết chăm chú lắng nghe.” |
|
It is all so clear and so practical; no inflation, no unwise euphoria. Just the common sense of one who knows life deeply and wants to see good come out of evil rapidly, wisely, sanely. |
Tất cả đều thật rõ ràng và thực tiễn; không phóng đại, không hưng phấn thiếu khôn ngoan. Chỉ là lẽ thường của một người thấu hiểu sâu sắc sự sống và muốn thấy điều thiện nhanh chóng, khôn ngoan và lành mạnh phát sinh từ điều ác. |
|
3. Education is seen as indispensable. Without it, there can be no “right human relations”. |
3. Giáo dục được xem là điều không thể thiếu. Không có nó, sẽ không thể có “các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người”. |
|
4. Through right education will come the development of right public opinion—a mighty force for good. The occult nature of public opinion is given; it is “right response to the sound which conveys the will of God to the ears of the attentive”. How interesting to relate the Will of God to public opinion! Let us think of the effect upon global civilization when a global public opinion reflects (at least to some extent) the Will of God! |
4. Thông qua giáo dục đúng đắn sẽ xuất hiện sự phát triển của công luận đúng đắn, một mãnh lực hùng mạnh hướng thiện. Bản chất huyền bí của công luận đã được nêu ra; đó là “đáp ứng đúng đắn với âm thanh truyền tải Ý Chí của Thượng Đế đến tai những người biết chăm chú lắng nghe”. Thật thú vị biết bao khi liên hệ Ý Chí của Thượng Đế với công luận! Chúng ta hãy nghĩ đến tác động đối với nền văn minh toàn cầu khi một công luận toàn cầu phản ánh, ít nhất ở một mức độ nào đó, Ý Chí của Thượng Đế! |
|
5. The New Group of World Servers must guide the men and women of goodwill in the general regeneration and reconstruction. |
5. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian phải hướng dẫn những người nam và nữ thiện chí trong công cuộc tái sinh và tái thiết chung. |
|
6. In these pages, D.K. has told a story of a necessary Shamballic destruction, and of the good which can be built from it. The invitation to us is clear—no less urgent now than it was almost sixty years ago. |
6. Trong các trang này, Chân sư DK đã kể câu chuyện về một sự hủy diệt thuộc Shamballa cần thiết, và về điều thiện có thể được xây dựng từ đó. Lời mời gọi dành cho chúng ta thật rõ ràng, và hiện nay cũng khẩn thiết không kém gì gần sáu mươi năm trước. |
|
7. We are told that there must not be a Third World War because “Shamballa would be involved, and this has never been the case” (EXH 552) It would seem that it is the constructive side of the Shamballa Energy which is now needed, and not, immediately, its characteristic destructive potency. This particular Shamballa Impact (of the year 2000) would be (and now has been) less destructive than others. There is hope for the Shamballic Energy of Organization to play its necessary re-organizational role. In this we are all attempting to help, and every one of us is needed, as is every group motivated by love, good will and the spiritual will. |
7. Chúng ta được cho biết rằng không được có một Cuộc Chiến Tranh Thế Giới Thứ Ba, bởi vì “Shamballa sẽ bị liên lụy, và điều này chưa từng xảy ra” (EXH 552) Dường như chính mặt kiến tạo của Năng lượng Shamballa là điều hiện nay cần thiết, chứ không phải, ngay lúc này, uy lực hủy diệt đặc trưng của nó. Tác Động Shamballa đặc biệt này, của năm 2000, sẽ là, và nay đã là, ít hủy diệt hơn các tác động khác. Có hy vọng rằng Năng lượng Tổ chức của Shamballa sẽ đóng vai trò tái-tổ chức cần thiết của nó. Trong việc này, tất cả chúng ta đều đang cố gắng trợ giúp, và mỗi người chúng ta đều cần thiết, cũng như mọi nhóm được thúc đẩy bởi bác ái, thiện chí và ý chí tinh thần. |
|
8. The very esoteric sentence which enjoins the group to |
8. Câu rất huyền bí truyền dạy nhóm hãy |
|
“move outward from the desert, leave the seas behind, and know that God is Fire”, |
“đi ra khỏi sa mạc, bỏ lại các biển cả phía sau, và biết rằng Thượng đế là Lửa”, |
|
is placed within the range of human possibility—not, perhaps, in the same way as it would apply to a group of third and fourth degree initiates, but in a way immediately relevant to humanity. Personality preoccupation would end and the life of the soul could begin. This would be more than sufficient, and is a practical and achievable ideal towards which we all can work, and should. |
được đặt trong phạm vi khả hữu của nhân loại, có lẽ không theo cùng một cách như khi áp dụng cho một nhóm các điểm đạo đồ cấp ba và cấp bốn, nhưng theo một cách liên quan trực tiếp đến nhân loại. Sự bận tâm của phàm ngã sẽ chấm dứt và đời sống của linh hồn có thể bắt đầu. Điều này đã hơn cả đủ, và là một lý tưởng thực tiễn, có thể đạt được, mà tất cả chúng ta đều có thể hướng đến trong công việc của mình, và nên làm như vậy. |
|
Rule III: Synthesis/Summary of all Sentences in both Rule for Applicants and Rule for Disciples and Initiates |
Quy luật III: Tổng hợp/Tóm lược tất cả các câu trong cả Quy luật dành cho Ứng viên và Quy luật dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ |
|
“Triple the call must be and long it takes to sound it forth. Let the disciple sound the call across the desert, over all the seas and through the fires which separate him from the veiled and hidden door. (R&I 20) |
“Tiếng gọi phải là tam phân, và cần thời gian dài để xướng nó ra. Hãy để đệ tử xướng lên tiếng gọi băng qua sa mạc, vượt trên mọi biển cả và xuyên qua các ngọn lửa đang phân cách y với cánh cửa bị che phủ và ẩn giấu. (R&I 20) |
|
Dual the moving forward. The Door is left behind. That is a happening of the past. Let the cry of invocation [Page 68] issue forth from the deep centre of the group’s clear cold light. Let it evoke response from the bright centre, lying far ahead. When the demand and the response are lost in one great SOUND, move outward from the desert, leave the seas behind, and know that God is Fire. (R&I 20) |
Sự tiến bước là nhị phân. Cánh Cửa đã bị bỏ lại phía sau. Đó là một sự kiện thuộc về quá khứ. Hãy để tiếng kêu khẩn cầu phát ra từ trung tâm sâu thẳm của ánh sáng trong trẻo và lạnh lẽo của nhóm. Hãy để nó gợi lên đáp ứng từ trung tâm rực sáng đang nằm xa phía trước. Khi sự đòi hỏi và sự đáp ứng tan hòa trong một ÂM THANH vĩ đại, hãy đi ra khỏi sa mạc, bỏ lại các biển cả phía sau, và biết rằng Thượng đế là Lửa. (R&I 20) |
|
The Sentences for Both Rules |
Các câu dành cho cả hai Quy luật |
|
A. Triple the call must be and long it takes to sound it forth. |
A. Tiếng gọi phải là tam phân, và cần thời gian dài để xướng nó ra. |
|
1. Let us be alert to the note which each vehicle is sounding, ensuring that the note is actually a “call”, an application, and not simply a sound which cannot possibly open any door to higher life. |
1. Chúng ta hãy cảnh giác với âm điệu mà mỗi vận cụ đang xướng lên, bảo đảm rằng âm điệu ấy thực sự là một “tiếng gọi”, một sự thỉnh nguyện, chứ không chỉ đơn giản là một âm thanh không thể nào mở ra bất kỳ cánh cửa nào dẫn đến sự sống cao hơn. |
|
2. We will know from a certain inner standard whether the note sounded by and through our vehicles is harmonious with what we might call the ‘standard of application’. |
2. Từ một chuẩn mực nội tâm nào đó, chúng ta sẽ biết liệu âm điệu được xướng lên bởi và thông qua các vận cụ của chúng ta có hài hòa với điều mà ta có thể gọi là “chuẩn mực của sự thỉnh nguyện” hay không. |
|
3. When the note is not harmonious, let us learn the means of tuning it. This will be a subtle act, necessary for all applicants. Heedless, continuous sounding of un-tuned notes is an offence to the beauty of the higher worlds and results in a friction which eventually debilitates the sounder. |
3. Khi âm điệu không hài hòa, chúng ta hãy học phương tiện để chỉnh âm nó. Đây sẽ là một hành động tinh tế, cần thiết cho tất cả các ứng viên. Việc xướng lên liên tục, bất cẩn những âm điệu chưa được chỉnh là một sự xúc phạm đối với vẻ đẹp của các cõi giới cao hơn và dẫn đến một ma sát cuối cùng làm suy yếu người xướng âm. |
|
4. When all vehicular notes are sounding satisfactorily, let us attune them to each other and to the soul. The ‘harmony of release’ will be the result. Energy flows rightly and joyously when there is harmony. To be sensitive to this type of harmony is to practice for a forthcoming buddhic realization—but the buddhic plane is the “plane of harmony:”. |
4. Khi tất cả các âm điệu của vận cụ đều vang lên thỏa đáng, chúng ta hãy điều hợp chúng với nhau và với linh hồn. Kết quả sẽ là “sự hài hòa của giải thoát”. Năng lượng tuôn chảy đúng đắn và hoan hỉ khi có hài hòa. Nhạy cảm với loại hài hòa này là thực hành cho một nhận thức Bồ đề sắp đến, bởi cõi Bồ đề là “cõi của hài hòa”. |
|
5. While being vigilant, let us also be patient. This patience will be based upon the ability to sense the quality of the future, which quality exists, to some degree, in the present. The fullness of the higher life may not yet be ours, but there will be flashes of realization occurring at increasingly frequent intervals. These flashes are a substantial promises that the higher worlds will be attained, and they sustain us as we, perforce, endure a lower quality of circumstance. |
5. Trong khi cảnh giác, chúng ta cũng hãy kiên nhẫn. Sự kiên nhẫn này sẽ đặt nền trên khả năng cảm nhận phẩm tính của tương lai, phẩm tính ấy, ở một mức độ nào đó, đang hiện hữu trong hiện tại. Sự viên mãn của đời sống cao hơn có thể chưa đã thuộc về chúng ta, nhưng sẽ có những lóe sáng nhận thức xảy ra với những khoảng cách ngày càng thường xuyên hơn. Những lóe sáng này là những lời hứa đáng kể rằng các cõi giới cao hơn sẽ được đạt đến, và chúng nâng đỡ chúng ta khi chúng ta, do tất yếu, phải chịu đựng một hoàn cảnh có phẩm tính thấp hơn. |
|
6. Our ultimate release into greater light, love and life will lie in the quality of our sounding. The right quality will “open the door”. Our temporary fulfillment lies in the realized quality of the moment, which may not measure up to the standard of the higher worlds, but which is, nonetheless, to be appreciated. The Greater Good is on its way. The path to the Greater Good lies through the performance (and appreciation) of the attainable lesser good. Thus it will ever be until “the Day Be With Us”. |
6. Sự giải thoát sau cùng của chúng ta vào ánh sáng, bác ái và sự sống lớn lao hơn sẽ nằm trong phẩm tính của việc xướng âm của chúng ta. Phẩm tính đúng đắn sẽ “mở cánh cửa”. Sự viên mãn tạm thời của chúng ta nằm trong phẩm tính được nhận thức của khoảnh khắc hiện tại, vốn có thể chưa đạt đến chuẩn mực của các cõi giới cao hơn, nhưng dù vậy vẫn đáng được trân trọng. Điều Thiện Lớn Lao hơn đang trên đường đến. Con đường dẫn đến Điều Thiện Lớn Lao hơn nằm qua việc thực hiện và trân trọng điều thiện nhỏ hơn có thể đạt được. Điều ấy sẽ luôn như vậy cho đến khi “Ngày Ấy Ở Cùng Chúng Ta”. |
|
7. We cannot be perfect. No being can. Even the greatest of all cosmic Beings is as nothing compared to the INFINITE SELF. |
7. Chúng ta không thể hoàn hảo. Không một thực thể nào có thể. Ngay cả các Thực Thể vũ trụ vĩ đại nhất cũng chẳng là gì khi so với ĐẠI NGÃ VÔ HẠN. |
|
8. Forever, we are “on our way”, and even when the Crown of Cosmic Evolution is achieve—even then, we are “on our way” to the Unattainable SELF. No attainment in cosmos ever “measures up” to the SELF, but the standard improves continuously. |
8. Mãi mãi, chúng ta đang “trên đường”, và ngay cả khi Vương miện của Tiến hoá Vũ trụ đã được đạt đến, thì ngay cả lúc ấy, chúng ta vẫn đang “trên đường” đến ĐẠI NGÃ BẤT KHẢ ĐẠT. Không một thành tựu nào trong vũ trụ từng “đạt đến” ĐẠI NGÃ, nhưng chuẩn mực thì không ngừng nâng cao. |
|
9. In addition to that ‘sounding’ which represents our vehicular condition, let us vigilantly ensure that our words and thoughts are also engaged in the sounding of the call. Every thought is an invocation. Every word is an invocation. What are we invoking? Every creation must have its attractive effect—and its repelling effect a well. |
9. Ngoài việc “xướng âm” biểu thị tình trạng của các vận cụ chúng ta, chúng ta hãy cảnh giác bảo đảm rằng lời nói và tư tưởng của mình cũng tham gia vào việc xướng lên tiếng gọi. Mỗi tư tưởng là một sự khẩn cầu. Mỗi lời nói là một sự khẩn cầu. Chúng ta đang khẩn cầu điều gì? Mọi sáng tạo đều phải có hiệu ứng thu hút của nó, và cả hiệu ứng đẩy lùi của nó nữa. |
|
B. Let the disciple sound the call across the desert, over all the seas and through the fires which separate him from the veiled and hidden door. |
B. Hãy để đệ tử xướng lên tiếng gọi băng qua sa mạc, vượt trên mọi biển cả và xuyên qua các ngọn lửa đang phân cách y với cánh cửa bị che phủ và ẩn giấu. |
|
1. We are not dismayed by the condition of the physical plane. We are not overwhelmed. We sound the call nonetheless. We are the call, nonetheless. |
1. Chúng ta không nản lòng trước tình trạng của cõi hồng trần. Chúng ta không bị áp đảo. Dù vậy, chúng ta vẫn xướng lên tiếng gọi. Dù vậy, chúng ta chính là tiếng gọi. |
|
2. We are not dismayed by the condition of the astral plane. We are not overwhelmed. We sound the call nonetheless. We are the call, nonetheless. |
2. Chúng ta không nản lòng trước tình trạng của cõi cảm dục. Chúng ta không bị áp đảo. Dù vậy, chúng ta vẫn xướng lên tiếng gọi. Dù vậy, chúng ta chính là tiếng gọi. |
|
3. We are not dismayed by the condition of the mental plane. We are not overwhelmed. We sound the call nonetheless. We are the call, nonetheless. |
3. Chúng ta không nản lòng trước tình trạng của cõi trí. Chúng ta không bị áp đảo. Dù vậy, chúng ta vẫn xướng lên tiếng gọi. Dù vậy, chúng ta chính là tiếng gọi. |
|
4. We are positive to conditions. Conditions are of the elements. Our essential nature is superior to these elements. We use the elements rightly and are not used by them. (Of course, I cite the ideal. Many human beings, we well realize, are used by the elements.) |
4. Chúng ta giữ thế chủ động trước các điều kiện. Các điều kiện thuộc về các nguyên tố. Bản chất cốt yếu của chúng ta cao hơn các nguyên tố này. Chúng ta sử dụng các nguyên tố một cách đúng đắn và không bị chúng sử dụng. Dĩ nhiên, tôi đang nêu lên lý tưởng. Chúng ta đều hiểu rõ rằng nhiều con người bị chi phối bởi các nguyên tố. |
|
5. We realize that there is an apparent separation between our present condition and the state to be achieved, but we are not deterred. |
5. Chúng ta nhận ra rằng có một sự phân cách bề ngoài giữa tình trạng hiện tại của mình và trạng thái cần đạt đến, nhưng chúng ta không bị ngăn trở. |
|
6. Patiently we sound the triple note as a chord, attuning it to the patterned beauty which we are in soul. Later we attune our chorded notes to still higher energy-patterns within our energy system. We ascend through attunement and re-attunement. |
6. Một cách kiên nhẫn, chúng ta xướng lên âm điệu tam phân như một hợp âm, điều hợp nó với vẻ đẹp theo mô hình mà chúng ta là trong linh hồn. Về sau, chúng ta điều hợp các âm điệu đã thành hợp âm của mình với những mô hình năng lượng còn cao hơn trong hệ thống năng lượng của chúng ta. Chúng ta thăng lên qua sự điều hợp và tái điều hợp. |
|
7. Looking through and beyond that which around us appears to be, we concentrate upon the negation of the veil. The veil is an apparency which will yield to the right frequency of any of the seven ray qualities. |
7. Nhìn xuyên qua và vượt quá điều quanh ta dường như hiện hữu, chúng ta tập trung vào việc phủ định bức màn. Bức màn là một vẻ có thực bề ngoài, sẽ nhường bước trước tần số đúng đắn của bất kỳ phẩm tính nào trong bảy cung. |
|
8. Just as the causal body can be destroyed in seven manners (cf. Letters on Occult Meditation p.15 et. seq.), so can the apparently separating veil. |
8. Cũng như thể nguyên nhân có thể bị hủy diệt theo bảy cách (xem Thư về Tham Thiền Huyền Bí, tr. 15 và các trang tiếp theo), bức màn dường như phân cách ấy cũng vậy. |
|
9. That which we long to see and be is forever present. It is ‘here’, not elsewhere. |
9. Điều mà chúng ta khao khát thấy và là thì mãi mãi hiện diện. Nó ở “đây”, chứ không ở nơi khác. |
|
10. It will yield to power rightly used. |
10. Nó sẽ nhường bước trước quyền năng được sử dụng đúng đắn. |
|
11. It will yield to love rightly expressed. |
11. Nó sẽ nhường bước trước bác ái được biểu lộ đúng đắn. |
|
12. It will yield to intelligence rightly mobilized |
12. Nó sẽ nhường bước trước trí tuệ được huy động đúng đắn. |
|
13. It will yield to harmony rightly vibrating. |
13. Nó sẽ nhường bước trước hài hòa rung động đúng đắn. |
|
14. It will yield to mind rightly focused. |
14. Nó sẽ nhường bước trước thể trí được tập trung đúng đắn. |
|
15. It will yield to idealism rightly motivated. |
15. Nó sẽ nhường bước trước chủ nghĩa lý tưởng được thúc đẩy đúng đắn. |
|
16. It will yield to magical process rightly enacted. |
16. Nó sẽ nhường bước trước tiến trình huyền thuật được thực hiện đúng đắn. |
|
17. Our task is to negate the various veils by whatever means are appropriate to us. One of the first steps towards successful achievement is to realize that there is a veil. |
17. Nhiệm vụ của chúng ta là phủ định các bức màn khác nhau bằng bất cứ phương tiện nào thích hợp với chúng ta. Một trong những bước đầu tiên hướng tới thành tựu thành công là nhận ra rằng có một bức màn. |
|
18. So often the veil is invisible. We do not realize that our consciousness is veiled. But one or two flashes of realization disclose the existence of that which had not been suspected. From that time forward, divine discontent will do its work. Thenceforth, we shall always know of the existence of a veil—if not on one level, then on another. |
18. Rất thường khi, bức màn là vô hình. Chúng ta không nhận ra rằng tâm thức của mình bị che phủ. Nhưng một hoặc hai lóe sáng nhận thức sẽ bộc lộ sự hiện hữu của điều trước đó chưa từng được nghi ngờ. Từ lúc ấy trở đi, sự bất mãn thiêng liêng sẽ làm công việc của nó. Từ đó về sau, chúng ta sẽ luôn biết đến sự hiện hữu của một bức màn, nếu không ở cấp độ này thì ở cấp độ khác. |
|
19. The task indicated in this Rule for Applicants is the right use of sound—both internal and external, with the emphasis being placed on internal sound of which external sound is an effect. |
19. Nhiệm vụ được chỉ ra trong Quy luật dành cho Ứng viên này là việc sử dụng âm thanh một cách đúng đắn, cả bên trong lẫn bên ngoài, với trọng tâm được đặt vào âm thanh bên trong mà âm thanh bên ngoài là một hiệu ứng. |
|
20. To sound aright, one must know why the desert is a desert. How does one cross the desert? |
20. Để xướng âm đúng đắn, người ta phải biết vì sao sa mạc là sa mạc. Người ta băng qua sa mạc bằng cách nào? |
|
21. To sound aright one must know why the seas are seas? How does one traverse the seas? |
21. Để xướng âm đúng đắn, người ta phải biết vì sao các biển cả là các biển cả. Người ta vượt qua các biển cả bằng cách nào? |
|
22. To sound aright one must know why the fires of mind are fires? How does one penetrate these fires? |
22. Để xướng âm đúng đắn, người ta phải biết vì sao các ngọn lửa của trí tuệ là các ngọn lửa. Người ta xuyên qua các ngọn lửa này bằng cách nào? |
|
23. First the sounding, then the crossing of the elemental condition or penetrating of that condition. |
23. Trước hết là sự xướng âm, rồi đến việc băng qua tình trạng nguyên tố hoặc xuyên thấu tình trạng ấy. |
|
24. First the call sounds across the desert; then we cross the desert having made it bloom. |
24. Trước hết, tiếng gọi vang lên băng qua sa mạc; rồi chúng ta băng qua sa mạc sau khi đã làm nó nở hoa. |
|
25. The call sounds over all the seas, before one crosses those seas—and cross one must. |
25. Tiếng gọi vang lên vượt trên mọi biển cả trước khi người ta băng qua các biển ấy, và người ta buộc phải băng qua. |
|
26. First the call sounds through the fires, before the disciple, himself/herself, penetrates through those fires. |
26. Trước hết, tiếng gọi vang lên xuyên qua các ngọn lửa, trước khi chính đệ tử tự mình xuyên qua các ngọn lửa ấy. |
|
27. Let us imagine that the technological powers of modern civilization were no longer ours—that we had to rely more upon ourselves and upon what we, ourselves, had built. One passes through the “door” on the basis of what one is—not because of the supports which civilization offers us. |
27. Chúng ta hãy hình dung rằng các quyền năng công nghệ của nền văn minh hiện đại không còn thuộc về chúng ta nữa, rằng chúng ta phải dựa nhiều hơn vào chính mình và vào những gì chính chúng ta đã xây dựng. Người ta đi qua “cánh cửa” trên nền tảng của điều người ta là—chứ không phải nhờ những nâng đỡ mà nền văn minh đem lại cho chúng ta. |
|
28. To cross the desert one needs water and food, persistent, enduring strength, protection from the blazing sun and the sudden cold of night, the wisdom to travel by night guided by the stars, a keen sense of timing, vision in the face of monotony, the keenness to sense the approach of sandstorms and the ability to survive them—and much more. What do you need to cross your desert? |
28. Để băng qua sa mạc, người ta cần nước và lương thực, sức mạnh bền bỉ và kiên trì, sự che chở khỏi mặt trời thiêu đốt và cái lạnh đột ngột của đêm, minh triết để đi trong đêm dưới sự dẫn đường của các vì sao, một ý thức nhạy bén về thời điểm, tầm nhìn trước sự đơn điệu, sự tinh nhạy để cảm nhận cơn bão cát đang đến gần và khả năng sống sót qua nó, cùng nhiều điều khác nữa. Các bạn cần gì để băng qua sa mạc của mình? |
|
29. To cross over the seas, one needs a well-provisioned seaworthy ship (shall we call it the well-built ‘ship of ego’, a knowledge of the stars to guide one, a compass for those darkened times when the stars are hidden by clouds, the capacity to ride the waves and not become ill or incapacitated, a knowledge of the winds and the ability to use (even though they be contrary) them to propel one’s ship forward, the power to sense the approach of storms and the ability to survive them without capsizing or being engulfed in heavy seas—and much more. What do you need to cross over “all the seas” within you energy system and environment? |
29. Để vượt qua các biển cả, người ta cần một con tàu đi biển vững chắc và được trang bị đầy đủ, ta có thể gọi nó là “con tàu chân ngã” được đóng vững chắc, cần tri thức về các vì sao để dẫn đường, một la bàn cho những thời khắc tối tăm khi các vì sao bị mây che khuất, khả năng cưỡi sóng mà không trở nên mệt mỏi hay bất lực, tri thức về các luồng gió và khả năng sử dụng chúng, ngay cả khi chúng ngược chiều, để đẩy con tàu của mình tiến tới, quyền năng cảm nhận bão tố đang đến gần và khả năng sống sót qua chúng mà không bị lật úp hay bị biển động dữ dội nuốt chửng, cùng nhiều điều khác nữa. Các bạn cần gì để vượt qua “mọi biển cả” trong hệ thống năng lượng và môi trường của mình? |
|
30. To pass through the fires one must have protection from the raging flames. Must one wear this protection, or be protected by what one is? Surely, in some manner, we must become “fire proof”—especially to fire by friction. As it is possible to fight fire with fire, we may find that it is the presence of solar fire which serves as the best protection from “fire by friction”. (Those who have discovered how love heals irritation know this to be true.) |
30. Để đi xuyên qua các ngọn lửa, người ta phải có sự bảo vệ khỏi những ngọn lửa dữ dội. Người ta phải mặc sự bảo vệ này, hay được bảo vệ bởi điều người ta là? Chắc chắn, theo một cách nào đó, chúng ta phải trở nên “chống lửa”, đặc biệt đối với Lửa ma sát. Vì có thể dùng lửa để chống lửa, chúng ta có thể nhận ra rằng chính sự hiện diện của Lửa Thái dương phục vụ như sự bảo vệ tốt nhất khỏi “Lửa ma sát”. Những ai đã khám phá ra cách bác ái chữa lành sự bực bội đều biết điều này là đúng. |
|
Surely, as well, we will need faith and courage. Animals, even the great and powerful ones, are “afraid of fire”; this is how they are held at bay by those who train and master them. The animal part of our nature will be afraid of fire. It knows nothing of solar fire. Thus, to penetrate the fires of separation, we must to some extent already be possessed of the ‘fires of unity’, solar fire, through which we gain a fierily-cohesive immunity to that which would divide all things and keep them separate and uncooperative. He passes through who realizes the beauties of union, of yoga. He passes through who seeks to unite the world in love and will—not to sever all its parts through the power of mind. Solar fire is the best immunity to the lesser flames. Love, therefore, is the best immunity to the lesser flames. Love will give us the courageous heart, strong enough to penetrate the ‘wall of flame’. |
Chắc chắn, chúng ta cũng sẽ cần đức tin và lòng can đảm. Loài vật, ngay cả những con lớn lao và mạnh mẽ, đều “sợ lửa”; chính nhờ vậy mà những người huấn luyện và chế ngự chúng giữ chúng ở xa. Phần thú tính trong bản chất chúng ta sẽ sợ lửa. Nó không biết gì về Lửa Thái dương. Do đó, để xuyên qua các ngọn lửa của sự phân cách, ở một mức độ nào đó chúng ta phải đã có sẵn “những ngọn lửa của hợp nhất”, tức Lửa Thái dương, nhờ đó chúng ta đạt được một khả năng miễn nhiễm cố kết bằng lửa trước điều muốn chia cắt mọi sự và giữ chúng tách biệt, không hợp tác. Người vượt qua là người nhận ra vẻ đẹp của sự hợp nhất, của hợp nhất nội tâm. Người vượt qua là người tìm cách hợp nhất thế giới trong bác ái và ý chí, chứ không chia lìa mọi phần của nó bằng quyền năng của thể trí. Lửa Thái dương là sự miễn nhiễm tốt nhất trước những ngọn lửa thấp hơn. Vì vậy, bác ái là sự miễn nhiễm tốt nhất trước những ngọn lửa thấp hơn. Bác ái sẽ ban cho chúng ta trái tim can đảm, đủ mạnh để xuyên qua “bức tường lửa”. |
|
There are those whose strength of soul can calm the desert-storm, can force the waters to subside, can regulate the raging flames. |
Có những người mà sức mạnh linh hồn có thể làm dịu cơn bão sa mạc, có thể buộc nước rút xuống, có thể điều hòa những ngọn lửa dữ dội. |
|
C. Dual the moving forward. The Door is left behind. That is a happening of the past. |
C. Sự tiến bước là nhị phân. Cánh Cửa đã bị bỏ lại phía sau. Đó là một sự kiện thuộc về quá khứ. |
|
1. We are personality and we are soul. Both move together. Each has its laws which must be obeyed. At last however, though each needs the other, the lesser is subjugated to the greater. |
1. Chúng ta là phàm ngã và chúng ta là linh hồn. Cả hai cùng tiến bước. Mỗi bên có những định luật riêng cần được tuân theo. Tuy nhiên, sau cùng, dù mỗi bên cần bên kia, cái thấp hơn phải quy phục cái lớn hơn. |
|
2. We move as two. We are, temporarily, a duality. Each “brother” is respectful of the other. Balance is required. Gemini (the “Brothers”) require Libra and they are closely interrelated. (c.f. Esoteric Astrology p. 332-333). We do not sever soul from personality. We, as soul, wisely use the personality as an instrument. |
2. Chúng ta tiến bước như hai. Tạm thời, chúng ta là một nhị nguyên. Mỗi “huynh đệ” đều tôn trọng người kia. Cần có sự quân bình. Song Tử, tức “các Huynh đệ”, cần Thiên Bình và hai dấu hiệu này liên hệ mật thiết với nhau. (xem Chiêm Tinh Học Nội Môn tr. 332-333). Chúng ta không cắt lìa linh hồn khỏi phàm ngã. Với tư cách là linh hồn, chúng ta sử dụng phàm ngã một cách khôn ngoan như một khí cụ. |
|
3. Thus we grow in intelligence (personality). Thus we grow in consciousness (soul). |
3. Như vậy, chúng ta trưởng thành trong trí tuệ, tức phàm ngã. Như vậy, chúng ta trưởng thành trong tâm thức, tức linh hồn. |
|
4. Always a door is left behind. One does not linger at the portal. One passes through and beyond. The passing is a moment in time. Appreciation follows the passing (summation of the tribulation undergone) and then—forward movement. |
4. Luôn luôn có một cánh cửa bị bỏ lại phía sau. Người ta không nấn ná nơi ngưỡng cửa. Người ta đi xuyên qua và vượt beyond. Sự đi qua chỉ là một khoảnh khắc trong thời gian. Sự cảm nhận theo sau việc đi qua ấy, như sự tổng kết nỗi gian nan đã trải qua, rồi sau đó là chuyển động tiến tới. |
|
5. Having passed the portal, one may cast a backward glance, to see how the door appears (positioned behind and not before), but one does not fix one’s backward gaze upon the door for a time inordinately long. Progress would cease. |
5. Sau khi đã đi qua ngưỡng cửa, người ta có thể liếc nhìn lại để thấy cánh cửa hiện ra thế nào, được đặt ở phía sau chứ không phải phía trước, nhưng người ta không cố định cái nhìn ngoái lại của mình vào cánh cửa ấy trong một thời gian quá dài. Sự tiến bộ sẽ ngừng lại. |
|
6. The “Door” is indeed left behind. It is the future which preoccupies the newly Self-realized initiate or initiate group. |
6. “Cánh Cửa” quả thật đã bị bỏ lại phía sau. Chính tương lai mới chiếm trọn sự quan tâm của điểm đạo đồ, hay nhóm điểm đạo đồ, vừa chứng ngộ Chân Ngã. |
|
7. In our lives, what is the balance between the past and the future? Is our orientation healthy and progressive? Which doors are left behind—not only the doors of initiation? What is the value of knowing their nature? Once they are understood, do we need to remind ourselves constantly of these doors? |
7. Trong đời sống chúng ta, sự cân bằng giữa quá khứ và tương lai là gì? Định hướng của chúng ta có lành mạnh và mang tính tiến bộ không? Những cánh cửa nào đã bị bỏ lại phía sau, không chỉ những cánh cửa điểm đạo? Việc biết bản chất của chúng có giá trị gì? Một khi đã thấu hiểu chúng, chúng ta có cần liên tục nhắc mình về những cánh cửa ấy không? |
|
8. The past is past. It is useful to remember it—to learn the lessons of history, and then—to move on, fully engaged with that which presents on the way to the new. |
8. Quá khứ là quá khứ. Nhớ đến nó là điều hữu ích, để học những bài học của lịch sử, rồi sau đó tiếp tục tiến bước, hoàn toàn dấn thân vào điều đang hiện ra trên con đường đi tới cái mới. |
|
9. How to successfully release the old? Perhaps—to be convinced that “the best is yet to be”. How to be convinced of this? See clearly the progress of the soul (or consciousness) which has resulted from passing through even the most difficult events. A life evaluation is due—what have we gained (of understanding) through adversity? Not the addictive, ruminative pain of the past, but the virtually boundless possibilities. Comparison shows the past as slight before promised expansion. |
9. Làm thế nào để buông bỏ cái cũ một cách thành công? Có lẽ là bằng cách tin chắc rằng “điều tốt đẹp nhất vẫn còn ở phía trước”. Làm thế nào để tin chắc điều này? Hãy thấy rõ sự tiến bộ của linh hồn, hay tâm thức, vốn đã phát sinh từ việc đi xuyên qua ngay cả những biến cố khó khăn nhất. Cần có một cuộc lượng giá đời sống: chúng ta đã đạt được gì, về mặt thấu hiểu, qua nghịch cảnh? Không phải nỗi đau gây nghiện và nghiền ngẫm của quá khứ, mà là những khả năng hầu như vô biên. Sự so sánh cho thấy quá khứ thật nhỏ bé trước sự mở rộng đã được hứa hẹn. |
|
D. Let the cry of invocation issue forth from the deep centre of the group’s clear cold light. |
D. Hãy để tiếng kêu khẩn cầu phát ra từ trung tâm sâu thẳm của ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo của nhóm. |
|
1. Deeply related to each other in soul, we are calling for the future. |
1. Liên hệ sâu xa với nhau trong linh hồn, chúng ta đang kêu gọi tương lai. |
|
2. We are on spiritually intimate terms with the members of our group. Relating has proceeded from deep to deep. All superficiality is past. |
2. Chúng ta có mối quan hệ thân mật về tinh thần với các thành viên trong nhóm mình. Sự liên hệ đã diễn ra từ chiều sâu này đến chiều sâu khác. Mọi sự hời hợt đã qua. |
|
3. The group has gone through many phases; it is physically coordinated, astrally serene, mentally focussed and lucid. It functions as one, pervaded by love and wisdom. It has found the “clear cold light” and seeks to polarize itself therein. |
3. Nhóm đã trải qua nhiều giai đoạn; nhóm được phối hợp về hồng trần, tĩnh lặng về cảm dục, tập trung và sáng suốt về trí tuệ. Nhóm hoạt động như một thể duy nhất, được thấm nhuần bởi bác ái và minh triết. Nhóm đã tìm thấy “ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo” và tìm cách phân cực chính mình trong đó. |
|
4. The clear cold light reveals the Beautiful—the quality of the buddhic plane. Perhaps it also reveals the Good—the quality of the atmic plane, and of planes beyond. |
4. Ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo mặc khải Cái Đẹp, phẩm tính của cõi Bồ đề. Có lẽ nó cũng mặc khải Cái Thiện, phẩm tính của cõi atma và của các cõi vượt xa hơn. |
|
5. The “Door” which has now been passed means but little to the group. Its “Eye” is fixed areas of greater livingness within the Divine Whole. |
5. “Cánh Cửa” nay đã được vượt qua không còn mấy ý nghĩa đối với nhóm. “Con Mắt” của nhóm hướng cố định vào những vùng có tính sống động lớn lao hơn bên trong Toàn Thể Thiêng Liêng. |
|
6. To reach these new areas of livingness, an invocation must go forth—not from one but from all. Each within the group is an agent of invocation, but the approach to life is successfully accomplished only by the group. Only those live who know that the fragmentary unit is a figment of limited perception. |
6. Để đạt tới những vùng mới của tính sống động này, một sự khẩn cầu phải phát ra, không phải từ một người mà từ tất cả. Mỗi người trong nhóm là một tác nhân của sự khẩn cầu, nhưng sự tiếp cận với sự sống chỉ được hoàn thành thành công bởi nhóm. Chỉ những ai sống mới biết rằng đơn vị phân mảnh chỉ là một ảo ảnh của tri giác giới hạn. |
|
7. The group concentrates its consciousness within the clear cold light (holding all lower faculties in its control). |
7. Nhóm tập trung tâm thức của mình trong ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo, đồng thời giữ mọi quan năng thấp trong sự kiểm soát của mình. |
|
8. The group, by its own Self-generated intensity, calls for that which lies still farther ahead. |
8. Bằng cường độ tự phát sinh từ Chân Ngã của chính mình, nhóm kêu gọi điều còn nằm xa hơn ở phía trước. |
|
9. At a certain point, the disciple will realize that progress is achieved through the group. Empowerment comes through the group. The group is the passage from the many to the One. |
9. Đến một điểm nào đó, đệ tử sẽ nhận ra rằng sự tiến bộ đạt được thông qua nhóm. Sự tăng cường quyền năng đến thông qua nhóm. Nhóm là lối đi từ cái nhiều đến Đấng Duy Nhất. |
|
10. This realized, he/she will work as if the group (what, really, does that mean?), summoning future higher possibilities through the agency of the group. The Law of Group Progress comes into increasingly full expression. |
10. Khi nhận ra điều này, đệ tử sẽ hoạt động như thể là nhóm điều đó thật sự có nghĩa là gì?, triệu thỉnh những khả năng cao hơn trong tương lai thông qua trung gian của nhóm. Định luật Tiến Bộ Nhóm đi vào sự biểu hiện ngày càng đầy đủ hơn. |
|
11. The individual disciple is asking nothing for himself/herself. As he/she invokes, it is the group which is invoking, and the group is invoking on behalf of humanity and according to the Plan. The psychology is entirely different to that which stimulated personal appeal for personal welfare. The invoking disciple within the invoking group has the group at heart. The invoking group has humanity at heart. What does it mean to have something “at heart”? |
11. Đệ tử cá nhân không cầu xin điều gì cho bản thân mình. Khi đệ tử khẩn cầu, chính nhóm đang khẩn cầu, và nhóm đang khẩn cầu thay mặt nhân loại và theo Thiên Cơ. Tâm lý ấy hoàn toàn khác với tâm lý đã kích thích lời cầu xin cá nhân cho phúc lợi cá nhân. Đệ tử khẩn cầu trong nhóm khẩn cầu đặt nhóm trong tâm mình. Nhóm khẩn cầu đặt nhân loại trong tâm mình. “Đặt một điều gì đó trong tâm” có nghĩa là gì? |
|
E. Let it evoke response from the bright centre, lying far ahead. |
E. Hãy để nó gợi lên đáp ứng từ trung tâm rực sáng, nằm xa phía trước. |
|
1. The enterprise is a great one. The Energy to be contacted emanates from the most powerful Center on our planet. |
1. Công cuộc này là một công cuộc lớn lao. Năng lượng cần được tiếp xúc phát xuất từ Trung Tâm quyền năng nhất trên hành tinh chúng ta. |
|
2. The group is attempting no mean feat. A most significant empowerment is sought. |
2. Nhóm không đang cố gắng thực hiện một kỳ công tầm thường. Một sự tăng cường quyền năng hết sức quan trọng đang được tìm cầu. |
|
3. The group is here capable of accomplishing what the individual disciple cannot. |
3. Ở đây, nhóm có khả năng hoàn thành điều mà đệ tử cá nhân không thể. |
|
4. On the ever-ascending Path, the many fuse into the One. Thus, the pressure towards group realization, group fusion, group action becomes—for those on the ‘Path of Positivity’—irresistible. |
4. Trên Con Đường luôn thăng thượng, cái nhiều dung hợp vào Đấng Duy Nhất. Do đó, áp lực hướng tới sự chứng ngộ nhóm, sự dung hợp nhóm, hành động nhóm trở nên không thể cưỡng lại đối với những ai đang ở trên “Con Đường Tích Cực”. |
|
5. The psycho-spiritual ‘distance’ between the individual disciple and the “bright center” is lessened by the united power of the group. |
5. “Khoảng cách” tâm lý-tinh thần giữa đệ tử cá nhân và “trung tâm rực sáng” được giảm bớt nhờ quyền năng hợp nhất của nhóm. |
|
6. On our planet, the quest for light dominates the evolutionary process. There are so many kinds of light (of ‘vibratory heightening’), and each of us can list what, for us, have been our most important “entries into the light”. Faith and confidence in the process can be gained by this assessment. |
6. Trên hành tinh chúng ta, cuộc truy cầu ánh sáng chi phối tiến trình tiến hoá. Có rất nhiều loại ánh sáng, hay sự nâng cao rung động, và mỗi chúng ta có thể liệt kê những gì, đối với mình, đã là những “lần đi vào ánh sáng” quan trọng nhất. Đức tin và sự tin cậy vào tiến trình có thể đạt được nhờ sự đánh giá này. |
|
F. When the demand and the response are lost in one great SOUND, move outward from the desert, leave the seas behind and know that God is Fire. |
F. Khi lời thỉnh cầu và sự đáp ứng hòa mất trong một ÂM THANH vĩ đại, hãy đi ra khỏi sa mạc, bỏ lại các biển phía sau và biết rằng Thượng đế là Lửa. |
|
1. Our call is to the “vivid, flaming, drenching life” characteristic of the higher worlds, and to a much greater extent, of Shamballa. The members of the Fifth Creative Hierarchy (the Solar Angels) are participants in the ‘Solar Council’ (far greater than the Council at Shamballa). Thus these angels of fiery love are able to distribute “vivid, flaming, drenching life”. |
1. Lời kêu gọi của chúng ta hướng tới “sự sống mãnh liệt, rực cháy, thấm đẫm” vốn đặc trưng cho các cõi cao, và ở mức độ lớn hơn nhiều, cho Shamballa. Các thành viên của Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm, tức các Thái dương Thiên Thần, là những người tham dự vào “Hội Đồng Thái Dương”, lớn lao hơn rất nhiều so với Hội Đồng tại Shamballa. Vì vậy, các thiên thần của bác ái rực lửa này có thể phân phối “sự sống mãnh liệt, rực cháy, thấm đẫm”. |
|
2. Those who invoke aright are functioning according to law. When the invocation is right, Shamballa must respond. |
2. Những ai khẩn cầu đúng đắn đang hoạt động theo định luật. Khi sự khẩn cầu đúng đắn, Shamballa phải đáp ứng. |
|
3. The great Rules of individual and group initiatic living are not about chance or probability. They concern states of realization and empowerment which come as a certainty when the Rules are fulfilled. |
3. Các Quy luật vĩ đại của đời sống điểm đạo cá nhân và nhóm không liên quan đến ngẫu nhiên hay xác suất. Chúng liên quan đến những trạng thái chứng ngộ và tăng cường quyền năng vốn đến như một điều chắc chắn khi các Quy luật được hoàn thành. |
|
4. We are repeatedly told about the powerful occult effects of sound—the great building and destroying energy. |
4. Chúng ta nhiều lần được cho biết về những hiệu quả huyền bí mạnh mẽ của âm thanh, năng lượng kiến tạo và hủy diệt vĩ đại. |
|
5. Let us think of the meaning of sound in our lives. |
5. Chúng ta hãy suy ngẫm về ý nghĩa của âm thanh trong đời sống mình. |
|
6. Perhaps certain words have been spoken and they have made a great difference to us. |
6. Có lẽ một số lời nào đó đã được nói ra và chúng đã tạo nên một khác biệt lớn lao đối với chúng ta. |
|
7. Perhaps this difference has come as a result of the meaning of the words. But, perhaps, the energy itself embodied in the sound of the words has been the great transformative factor. |
7. Có lẽ sự khác biệt này đã đến do ý nghĩa của những lời ấy. Nhưng cũng có lẽ, chính năng lượng được thể hiện trong âm thanh của những lời ấy mới là yếu tố chuyển đổi lớn lao. |
|
8. Think of certain magnificent sounds which we may have experienced through the great music of the world. Such sounds have often been thrilling, have they not? They have transported us into states of high realization, perhaps of ecstasy, have they not? |
8. Hãy nghĩ đến một số âm thanh huy hoàng mà chúng ta có thể đã trải nghiệm qua nền âm nhạc vĩ đại của thế giới. Những âm thanh như thế thường đã làm rung động sâu xa, có phải vậy không? Chúng đã đưa chúng ta vào những trạng thái chứng ngộ cao, có lẽ cả trạng thái ngây ngất, có phải vậy không? |
|
9. If sounds created or composed by human beings can have such an extraordinary effect on our consciousness and our energy system, we can only imagine what the great Sound emanating from Shamballa could convey. |
9. Nếu những âm thanh do con người tạo ra hay sáng tác có thể gây tác động phi thường như vậy lên tâm thức và hệ thống năng lượng của chúng ta, thì chúng ta chỉ có thể hình dung Âm Thanh vĩ đại phát xuất từ Shamballa có thể truyền đạt điều gì. |
|
10. Let us speak of transport—of being lifted out of the lower worlds altogether, through the agency of sound. |
10. Chúng ta hãy nói về sự nâng chuyển—việc được nâng hẳn ra khỏi các cõi thấp nhờ trung gian của âm thanh. |
|
11. The angels sing (we are told and perhaps have heard); heavenly music is a great internal reality. To listen to this music is to be transported to the vibratory level from which the music originates. |
11. Các thiên thần ca hát như chúng ta được bảo và có lẽ đã nghe; âm nhạc thiên thượng là một thực tại nội tại vĩ đại. Lắng nghe âm nhạc này là được nâng chuyển đến cấp độ rung động mà từ đó âm nhạc phát sinh. |
|
12. Hierarchy has its music—of this we can be assured, either through inference or direct experience. And Hierarchy is music. |
12. Thánh đoàn có âm nhạc của mình, điều này chúng ta có thể chắc chắn, hoặc qua suy luận, hoặc qua kinh nghiệm trực tiếp. Và Thánh đoàn là âm nhạc. |
|
13. Shamballa, too, has its Music—of which the Tibetan speaks when telling of the “Daily Ritual of Sanat Kumara”. |
13. Shamballa cũng có Âm Nhạc của mình, điều mà Chân sư Tây Tạng nói đến khi Ngài kể về “Nghi Lễ Hằng Ngày của Đức Sanat Kumara”. |
|
14. The group invocation of which this Rule speaks, is a great act of power, love and harmony. The response will be tremendous—so tremendous that it empowers the group to “move outward from the desert, leave the seas behind, and know that God is fire”. |
14. Sự khẩn cầu nhóm mà Quy luật này nói đến là một hành vi vĩ đại của quyền năng, bác ái và hòa điệu. Sự đáp ứng sẽ mãnh liệt phi thường, mãnh liệt đến mức nó tăng cường quyền năng cho nhóm để “đi ra khỏi sa mạc, bỏ lại các biển phía sau và biết rằng Thượng đế là lửa”. |
|
15. The slightest contemplation of these words reveals what extraordinary realizations are involved—and sound is the medium of these realization. |
15. Chỉ cần chiêm ngưỡng đôi chút những lời này cũng mặc khải những chứng ngộ phi thường nào có liên quan, và âm thanh là phương tiện của những chứng ngộ này. |
|
16. Perhaps a new attitude towards the group sound is required, a new sensitivity to the deeper notes which are sounding through our united process. |
16. Có lẽ cần có một thái độ mới đối với âm thanh nhóm, một sự nhạy cảm mới với những âm điệu sâu hơn đang vang lên qua tiến trình hợp nhất của chúng ta. |
|
17. The achievements here proposed are, indeed, possible, but many are the sensitisations required of us before they become realities in our group consciousness. |
17. Những thành tựu được đề xuất ở đây quả thật là có thể, nhưng chúng ta cần nhiều sự nhạy cảm hóa trước khi chúng trở thành những thực tại trong tâm thức nhóm của chúng ta. |
|
18. As we study these Rules we become aware of the kinds of elevation offered (according the Fifth Law of the Soul—the Law of Elevation)—offered not for our sake, but to fit us for far fuller cooperation with the Hierarchy of Light and Love (and Power). |
18. Khi nghiên cứu các Quy luật này, chúng ta nhận thức được những loại nâng cao được ban cho, theo Định luật thứ năm của Linh hồn, Định luật Nâng Cao, được ban không phải vì lợi ích của chúng ta, mà để làm cho chúng ta thích hợp với sự hợp tác đầy đủ hơn rất nhiều với Thánh đoàn của Ánh sáng và Bác ái, và Quyền năng. |
|
19. Presently the members of this group (the 28 Rules Group) are spread far and wide—geographically. Internally, they are blending and fusing, and their focus within ‘inner space’ is coalescing. |
19. Hiện nay, các thành viên của nhóm này, Nhóm Hai Mươi Tám Quy Luật, đang phân tán rộng khắp về mặt địa lý. Về nội tâm, họ đang hòa trộn và dung hợp, và điểm tập trung của họ trong “không gian nội tại” đang kết tụ. |
|
20. Growth is slow. It requires great patience. These Rules are difficult and require the esoteric sense for real understanding. |
20. Sự tăng trưởng diễn ra chậm. Nó đòi hỏi sự kiên nhẫn lớn lao. Các Quy luật này khó và đòi hỏi ý thức huyền bí để có sự thấu hiểu thật sự. |
|
21. Everything about our progress will be subtle, and the appeal of these Rules cannot, as yet, be for all—even those who are spiritually well-intended. |
21. Mọi điều liên quan đến sự tiến bộ của chúng ta sẽ rất tinh tế, và sức hấp dẫn của các Quy luật này hiện vẫn chưa thể dành cho tất cả, ngay cả những người có thiện chí tinh thần. |
|
22. The great note of persistence, sounding along with and ‘beneath’ the Group Note or Chord, will, at length, render that harmonizing Chord effective in its invocative power. |
22. Âm điệu vĩ đại của sự kiên trì, vang lên cùng với và “bên dưới” Âm điệu hay Hợp âm của Nhóm, cuối cùng sẽ khiến Hợp âm hòa điệu ấy trở nên hiệu quả trong quyền năng khẩn cầu của nó. |
|
23. “We still persist” is an adapted first ray mantram so needed by those who are attempting to do what we are attempting to do. |
23. “Chúng ta vẫn kiên trì” là một mantram cung một được phỏng chỉnh, rất cần thiết cho những ai đang cố gắng làm điều chúng ta đang cố gắng làm. |
|
24. The Sound is calling to us. We are sounding whether we will or no. Let our sound become an aspect of the Great Sound. Let us resound within the Sound. Let our sounding be harmoniously included within the Great Sounding. |
24. Âm Thanh đang kêu gọi chúng ta. Chúng ta đang xướng âm, dù muốn hay không. Hãy để âm thanh của chúng ta trở thành một phương diện của Âm Thanh Vĩ Đại. Hãy để chúng ta vang vọng trong Âm Thanh. Hãy để sự xướng âm của chúng ta được bao gồm một cách hòa điệu trong Sự Xướng Âm Vĩ Đại. |