Quy Luật Điểm đạo 6 dành cho đệ tử (RI)

📘 Sách: Bình Giảng 14 Quy Luật Điểm đạo Dành Cho Đệ tử – RI – Tác giả: Michael D. Robbins

Click số trang trong ngoặc [ ] để đi đến bình giảng

RULE VI (126-132)

QUY LUẬT SÁU (126-132)

(1) Let the group know that life is one and naught can ever take or touch that life. (2) Let the group know the vivid, flaming, drenching life that floods the fourth when the fifth is known. (3) The fifth feeds on the fourth. Let then the group—merged in the fifth—be nourished by the sixth and seventh, and realize that all the lesser rules are rules in time and space and cannot hold the group. It onward moves in life.———————

(1) Hãy để nhóm biết rằng sự sống là mộtkhông gì có thể từng lấy đi hay chạm đến sự sống ấy. (2) Hãy để nhóm biết sự sống sống động, rực cháy, thấm đẫm, vốn tuôn ngập giới thứ tư khi giới thứ năm được biết đến. (3) Giới thứ năm nuôi dưỡng bằng giới thứ tư. Vậy hãy để nhóm—được hòa nhập vào giới thứ năm—được nuôi dưỡng bởi giới thứ sáu và thứ bảy, và nhận ra rằng mọi quy luật thấp hơn đều là những quy luật trong thời gian và không gian và không thể ràng buộc nhóm. Nhóm tiến tới trong sự sống.——————

I find it extremely difficult to express the significance of this Rule in such a way that it will convey meaning to you, and this for two reasons: First, the idea of the One Life is so prevalent, and so customary and trite an unrealized truth, that it registers on ears with very little effect. Secondly, the whole story of life—which is purpose, divine will, and absolute determination—and the eternal planning of the Lord of the World is so hard of comprehension that we have as yet no words in the language of any nation which can express it.

Tôi thấy vô cùng khó diễn đạt thâm nghĩa của Quy luật này theo cách có thể truyền đạt ý nghĩa đến các bạn, và điều này vì hai lý do: Trước hết, ý tưởng về Sự Sống Duy Nhất quá phổ biến, quá quen thuộc và quá sáo mòn như một chân lý chưa được chứng nghiệm, đến nỗi nó ghi nhận vào tai với rất ít tác động. Thứ hai, toàn bộ câu chuyện về sự sống—vốn là mục đích, Ý Chí thiêng liêng và quyết tâm tuyệt đối—cùng sự hoạch định vĩnh cửu của Đức Chúa Tể Thế Giới, khó thấu hiểu đến mức cho đến nay chúng ta vẫn chưa có ngôn từ nào trong ngôn ngữ của bất cứ quốc gia nào có thể diễn đạt được điều đó.

What I am now writing is a series of instructions for disciples in process of training for initiation. I did not say in training for the higher initiations, for these are given in a different manner and the teaching is imparted in the inner Ashram. Therefore, as you have not taken the third initiation, monadic comprehension lies far beyond you; and only this highest state of understanding suffices for the clear perception of the fundamental divine intent lying behind all world phenomena, all evolutionary development, all unfoldment within the capacity of the four kingdoms in nature, and all preparatory extensions and expansions of consciousness.

Điều Tôi đang viết hiện nay là một loạt huấn thị dành cho các đệ tử đang trong tiến trình huấn luyện để được điểm đạo. Tôi đã không nói là huấn luyện cho các cuộc điểm đạo cao hơn, vì những cuộc điểm đạo ấy được ban theo một cách khác và giáo huấn được truyền đạt trong ashram bên trong. Do đó, vì các bạn chưa trải qua lần điểm đạo thứ ba, sự thấu hiểu chân thần còn vượt rất xa các bạn; và chỉ trạng thái thấu hiểu cao nhất này mới đủ cho sự nhận biết rõ ràng về ý định thiêng liêng căn bản nằm sau mọi hiện tượng thế gian, mọi sự phát triển thăng thượng tiến hoá, mọi sự khai mở trong khả năng của bốn giới trong thiên nhiên, và mọi sự vươn rộng cùng mở rộng tâm thức có tính chuẩn bị.

All I can therefore do is to touch upon the inner [Page 125] significance of the obvious and seek to express certain ideas which will strain your mental perception, evoke your intuition and institute that process of recognition and registration which leads eventually to the initiate-consciousness.

Do đó, tất cả những gì Tôi có thể làm là đề cập đến thâm nghĩa bên trong [Trang 125] của điều hiển nhiên và tìm cách diễn đạt một số ý tưởng sẽ kéo căng tri nhận trí tuệ của các bạn, gợi lên trực giác của các bạn và thiết lập tiến trình nhận ra và ghi nhận vốn cuối cùng dẫn đến tâm thức điểm đạo đồ.

This sixth Rule is the polar opposite of the rule as it was given to applicants. There, if you will refer to my exegesis upon that rule in Initiation, Human and Solar, you will find that the objective of that rule was physical purification with the emphasis upon the need for a vegetarian diet at a certain stage of the preparatory process. The reasons for such a discipline were two in number: purification and the necessity for the applicant (at that stage) to refrain from sharing in the benefits incident to the so-called “taking of life.” But, can one take life? I think not. Life Is. Naught in heaven or on earth can touch or affect it. This is a point oft forgotten. The rule as given to applicants consequently concerns their ability to accept and adhere to a self-imposed discipline. Through the means of that discipline, the control of the physical and astral natures are demonstrated by the applicant to himself, and the effect of the discipline is to reveal to him certain inevitable and basic weaknesses, such as control of the animal nature, the powerful imposition of desire, a sense of superiority, of pride and separativeness. His ability to sustain the discipline and his appreciation of himself for so doing, plus a sense of superiority to those who are not so disciplined, are all indicative of essential weaknesses. His fanaticism, latent or expressed, emerges in his consciousness with clarity, and—when he is sincere—he is conscious of having brought about a measure of physical purity; but at the same time, he is left with the awareness that he perhaps may be starting with the outer and the obvious when he should be beginning with the inner and with that which is not so easily contacted or expressed. This is a great and most important lesson.

Quy luật thứ sáu này là đối cực của quy luật như đã được trao cho các ứng viên. Ở đó, nếu các bạn tham khảo phần diễn giải của Tôi về quy luật ấy trong Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương, các bạn sẽ thấy rằng mục tiêu của quy luật ấy là sự thanh lọc hồng trần, với nhấn mạnh đặt trên nhu cầu về một chế độ ăn chay ở một giai đoạn nhất định của tiến trình chuẩn bị. Có hai lý do cho một kỷ luật như thế: sự thanh lọc và nhu cầu để ứng viên, ở giai đoạn ấy, tránh dự phần vào những lợi ích phát sinh từ cái gọi là “lấy đi sự sống.” Nhưng, người ta có thể lấy đi sự sống chăng? Tôi nghĩ là không. Sự sống Hiện Tồn. Không gì trên trời hay dưới đất có thể chạm đến hay ảnh hưởng đến nó. Đây là một điểm thường bị quên lãng. Vì vậy, quy luật như được trao cho các ứng viên liên quan đến khả năng của họ trong việc chấp nhận và tuân giữ một kỷ luật tự áp đặt. Thông qua phương tiện của kỷ luật ấy, việc kiểm soát các bản chất hồng trần và cảm dục được ứng viên chứng minh cho chính mình, và hiệu quả của kỷ luật là mặc khải cho y một số yếu điểm căn bản và không thể tránh khỏi, như việc kiểm soát bản chất thú tính, sự áp đặt mạnh mẽ của dục vọng, cảm thức về tính ưu việt, kiêu hãnh và phân ly. Khả năng duy trì kỷ luật của y và sự tự đánh giá cao bản thân vì làm được điều đó, cộng thêm cảm thức ưu việt so với những người không có kỷ luật như thế, tất cả đều chỉ dấu cho những yếu điểm cốt yếu. Chủ nghĩa cuồng tín của y, tiềm ẩn hay biểu lộ, hiện ra rõ ràng trong tâm thức y, và—khi y chân thành—y ý thức rằng mình đã đạt được một mức độ thanh khiết hồng trần; nhưng đồng thời, y còn lại với nhận biết rằng có lẽ y đang bắt đầu từ điều bên ngoài và hiển nhiên, trong khi lẽ ra y phải bắt đầu từ điều bên trong và từ những gì không dễ tiếp xúc hay diễn đạt như thế. Đây là một bài học lớn lao và tối quan trọng.

It is also an interesting illustration of the technique of the Masters, whereby They permit a fallacy to remain uncorrected (because it is originated by the disciple himself [Page 126] and must be dissipated by him also) and the use of language which conveys a wrong impression. By so doing, the user of the language discovers eventually his erroneous approach to truth. Life cannot be taken in the spiritual sense. This error or mistake in the approach of truth enables men and women upon the Probationary Path to demonstrate the earnestness and sincerity of their aspiration by the discipline of substituting the produce “of the second,” and to refrain from sustaining life on the produce “of the third.” By sacrificing the life of the second kingdom in nature (to use the applicant’s own misstatements) and by nourishing the physical body thereby, the probationary disciple does succeed in ending the grip or potency of the physical nature, and that is always helpful. He as yet does not know that he is adhering to lesser “rules in time and space,” and that once he has demonstrated to himself that he can hold them and obey them, he is then freed from them and needs them no more. The disciple and the candidate for initiation knows that life is one, whether it takes form in the second kingdom or in the third or the fourth; he knows that the life in him is one with the life in the first kingdom, the mineral; he learns too that life is impregnable; that it cannot be taken or destroyed but “passes on” from form to form, from experience to experience, until the perfect will of God is expressed through life.

Đây cũng là một minh họa thú vị về kỹ thuật của các Chân sư, qua đó Các Ngài cho phép một điều sai lạc còn lại mà không được sửa chữa, vì nó do chính đệ tử tạo ra [Trang 126] và cũng phải do chính y làm tiêu tan, cũng như về việc dùng ngôn ngữ truyền đạt một ấn tượng sai lầm. Bằng cách ấy, cuối cùng người sử dụng ngôn ngữ phát hiện ra cách tiếp cận chân lý sai lầm của mình. Không thể lấy đi sự sống theo nghĩa tinh thần. Sai lầm hay nhầm lẫn này trong cách tiếp cận chân lý cho phép những người nam và nữ trên Con Đường Dự Bị chứng minh sự tha thiết và chân thành trong khát vọng của họ bằng kỷ luật thay thế bằng sản phẩm “của giới thứ hai,” và tránh duy trì sự sống bằng sản phẩm “của giới thứ ba.” Bằng cách hy sinh sự sống của giới thứ hai trong thiên nhiên, dùng chính những phát biểu sai lạc của ứng viên, và nhờ đó nuôi dưỡng thể xác, đệ tử dự bị quả thật thành công trong việc chấm dứt sự kìm giữ hay quyền lực của bản chất hồng trần, và điều đó luôn luôn hữu ích. Y cho đến nay vẫn chưa biết rằng mình đang tuân giữ những “quy luật trong thời gian và không gian” thấp hơn, và một khi y đã chứng minh cho chính mình rằng y có thể giữ chúng và tuân theo chúng, bấy giờ y được giải thoát khỏi chúng và không còn cần chúng nữa. Đệ tử và ứng viên cho điểm đạo biết rằng sự sống là một, dù nó mang hình tướng trong giới thứ hai, giới thứ ba hay giới thứ tư; y biết rằng sự sống trong y là một với sự sống trong giới thứ nhất, giới kim thạch; y cũng học biết rằng sự sống là bất khả xâm phạm; rằng nó không thể bị lấy đi hay bị hủy diệt mà “chuyển tiếp” từ hình tướng này sang hình tướng khác, từ kinh nghiệm này sang kinh nghiệm khác, cho đến khi Ý Chí hoàn hảo của Thượng Đế được biểu lộ qua sự sống.

The true disciple does not need vegetarianism or any of the physical disciplines, for the reason that none of the fleshly appetites have any control over him. His problem lies elsewhere, and it is a waste of his time and energy to keep his eye focused on “doing the right things physically,” because he does them automatically and his spiritual habits offset all the lower physical tendencies; automatically these developed habits enable him to surmount the appeal of those desires which work out in the fulfilment of lower desire. No one is accepted into the circle of the Ashram (which is the technical name given to the status of those who are on the eve of initiation or who are being prepared for initiation) whose physical appetites are in any danger [Page 127] of controlling him. This is a statement of fact. This applies particularly and specifically to those preparing for the first initiation. Those preparing for the second initiation have to demonstrate their freedom from the slavery of ideas, from a fanatical reaction to any truth or spiritual leader, and from the control of their aspiration which—through the intensity of its application—would sacrifice time, people and life itself to the call of the Initiator—or rather, to be correct, to what they believe to be His call.

Đệ tử chân chính không cần ăn chay hay bất cứ kỷ luật hồng trần nào, vì không một ham muốn xác thịt nào còn kiểm soát được y. Vấn đề của y nằm ở nơi khác, và thật lãng phí thời gian cũng như năng lượng của y khi cứ giữ ánh mắt tập trung vào việc “làm những điều đúng đắn về mặt hồng trần,” bởi y làm những điều ấy một cách tự động, và các thói quen tinh thần của y hóa giải mọi khuynh hướng hồng trần thấp; một cách tự động, những thói quen đã phát triển này giúp y vượt qua sức lôi cuốn của những dục vọng vốn biểu hiện trong sự thỏa mãn dục vọng thấp. Không ai được chấp nhận vào vòng của ashram, tên gọi kỹ thuật dành cho địa vị của những người đang ở ngưỡng điểm đạo hoặc đang được chuẩn bị cho điểm đạo, nếu các ham muốn hồng trần của y còn có bất cứ nguy cơ nào [Trang 127] kiểm soát y. Đây là một phát biểu về sự thật. Điều này áp dụng đặc biệt và cụ thể cho những người đang chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ nhất. Những người đang chuẩn bị cho lần điểm đạo thứ hai phải chứng minh sự tự do của mình khỏi ách nô lệ của các ý tưởng, khỏi phản ứng cuồng tín trước bất cứ chân lý hay vị lãnh đạo tinh thần nào, và khỏi sự kiểm soát của khát vọng nơi họ vốn—do cường độ áp dụng của nó—sẵn sàng hy sinh thời gian, con người và chính sự sống cho tiếng gọi của Đấng Điểm đạo—hay đúng hơn, nói cho chính xác, cho điều mà họ tin là tiếng gọi của Ngài.

I would point out that the third initiation is approached from a level tableland[1] of experience and of consciousness, and not from the heights of aspiration, or from fanatical sacrifice, or from the standpoint of a devotion which handicaps the service of the devotee and of the Master he seeks to serve. He knows, as a candidate for initiation, that:

Tôi muốn chỉ ra rằng lần điểm đạo thứ ba được tiếp cận từ một bình nguyên bằng phẳng của kinh nghiệm và tâm thức, và không phải từ những đỉnh cao của khát vọng, hay từ sự hy sinh cuồng tín, hay từ lập trường của một sự sùng tín vốn làm cản trở việc phụng sự của người sùng tín và của Chân sư mà y tìm cách phụng sự. Là một ứng viên cho điểm đạo, y biết rằng:

1. Life is one and naught can ever take or touch that life. ()

1. Sự sống là một và không gì có thể từng lấy đi hay chạm đến sự sống ấy. ()

His sense of proportion as to form becomes adjusted. He is forward-looking towards the soul, and not backward-looking towards the form nature. Some very sincere devotees and promising applicants are so preoccupied with form and its disciplining that they have no real time to give to soul expansion. They are so interested in their reactions to their self-imposed discipline or to their capacity to conform or their failure to accept the discipline, that the spiritual truths—seeking entrance into their hearts—fail to make such an entrance. Temperance in all things, the wise use of all sustaining forms and self-forgetfulness are the hallmark of the disciple, but not of the beginner. Many disciples today who should be functioning in the Hall of Wisdom are still fanatically working in the Hall of Knowledge and are still so earnest over the physical disciplines that the disciplines of the soul are ignored. I would ask you to reflect on this. Applicants have to learn the significance of the words of Rule VI for disciples, “the lesser rules are rules in time and space and cannot hold the group.”

Ý thức về tỉ lệ của y đối với hình tướng trở nên được điều chỉnh. Y hướng nhìn về phía trước, về phía linh hồn, chứ không ngoái nhìn về bản chất hình tướng. Một số người sùng tín rất chân thành và những ứng viên đầy hứa hẹn quá bận tâm đến hình tướng và việc rèn luyện nó đến nỗi họ không có thời gian thực sự để dành cho sự mở rộng của linh hồn. Họ quá quan tâm đến các phản ứng của mình đối với kỷ luật tự áp đặt, hoặc đến khả năng tuân theo, hoặc đến sự thất bại trong việc chấp nhận kỷ luật, đến nỗi các chân lý tinh thần—đang tìm lối vào trong tâm họ—không thể đi vào được. Sự tiết độ trong mọi sự, việc sử dụng khôn ngoan mọi hình tướng duy trì, và sự quên mình là dấu hiệu đặc trưng của đệ tử, nhưng không phải của người sơ cơ. Nhiều đệ tử ngày nay, vốn đáng lẽ phải hoạt động trong Phòng Minh triết vẫn còn đang làm việc một cách cuồng tín trong Phòng Hiểu Biết và vẫn còn quá sốt sắng đối với các kỷ luật thể xác đến nỗi các kỷ luật của linh hồn bị bỏ quên. Tôi muốn các bạn suy ngẫm về điều này. Các ứng viên phải học thâm nghĩa của những lời trong Quy luật VI dành cho các đệ tử, “các quy luật nhỏ là những quy luật trong thời gian và không gian và không thể ràng buộc nhóm.”

I wonder if you can grasp the type of consciousness which distinguishes the Hierarchy, even if you are only able [Page 128] to do so imaginatively and theoretically. They “onward move in life.” They work in the realm of life energy; the form seems to Them something which They have definitely left behind, and the consciousness of appeal or rejection of the form nature and hold is to Them only a memory of a distant battle ground where the victory then won has been forgotten and the gains of victory are so far behind that they lie well below the threshold of consciousness. Broadly and generally speaking, workers in the ranks of the Hierarchy (I did not say “with the Hierarchy”) are divided into two main groups: those who are working with the unfoldment of the initiate consciousness in the disciples of the world, and those of a more advanced degree who are working with the life aspect and its expression in the lives of the world initiates. Working disciples (who are working in cooperation with the Hierarchy) are also working in two major divisions: Those who are dealing with applicants and are seeking to see the imposition of the physical disciplines, and with the importation of certain minor values so that beginners may grasp the point that they have reached. There are those also who are working to substitute understanding and service for physical discipline and the earlier, inevitable, selfish ends.

Tôi tự hỏi liệu các bạn có thể nắm bắt được loại tâm thức vốn phân biệt Thánh Đoàn hay không, cho dù các bạn chỉ có thể [Trang 128] làm điều đó bằng sự tưởng tượng và trên phương diện lý thuyết. Các Ngài “tiến bước trong sự sống.” Các Ngài làm việc trong lĩnh vực năng lượng sự sống; hình tướng đối với Các Ngài dường như là điều mà Các Ngài đã dứt khoát bỏ lại phía sau, và tâm thức về sự lôi cuốn hay khước từ của bản chất hình tướng cùng sức ràng buộc của nó, đối với Các Ngài, chỉ là ký ức về một chiến trường xa xưa, nơi chiến thắng khi ấy đã bị quên lãng, và những thành quả của chiến thắng đã ở quá xa phía sau đến nỗi chúng nằm hẳn dưới ngưỡng tâm thức. Nói một cách rộng rãi và tổng quát, những người hoạt động trong hàng ngũ Thánh Đoàn (Tôi không nói “với Thánh Đoàn”) được chia thành hai nhóm chính: những người đang làm việc với sự khai mở tâm thức điểm đạo đồ nơi các đệ tử của thế giới, và những vị ở cấp độ tiến xa hơn, đang làm việc với phương diện sự sống và sự biểu lộ của nó trong đời sống của các điểm đạo đồ thế giới. Các đệ tử đang hoạt động (những người đang làm việc trong sự hợp tác với Thánh Đoàn) cũng hoạt động trong hai phân bộ lớn: Những người đang đề cập đến các ứng viên và đang tìm cách thấy được việc áp đặt các kỷ luật thể xác, cũng như việc đưa vào một số giá trị nhỏ để những người sơ cơ có thể nắm được điểm mà họ đã đạt tới. Cũng có những người đang làm việc để thay thế kỷ luật thể xác và các mục tiêu ích kỷ ban đầu, không thể tránh khỏi, bằng sự thấu hiểu và phụng sự.

Let me repeat: the physical disciplines are of value in the beginning stage and impart a sense of proportion and an awareness of defects and of limitations. These have their place in time and space, and that is all. Once the world of the soul is entered, the disciple uses all forms wisely, with understanding of their purpose and with freedom from excess; he is not preoccupied with them or fundamentally interested in them. His eyes are off himself and are fixed on the world of true values. He has no sense of self-interest, because a group awareness is rapidly superseding his individual consciousness.

Để Tôi nhắc lại: các kỷ luật thể xác có giá trị trong giai đoạn khởi đầu và truyền đạt một ý thức về tỉ lệ cùng sự nhận biết về các khuyết điểm và giới hạn. Chúng có vị trí của mình trong thời gian và không gian, và chỉ có thế. Một khi đã bước vào thế giới của linh hồn, đệ tử sử dụng mọi hình tướng một cách khôn ngoan, với sự thấu hiểu mục đích của chúng và với sự tự do khỏi thái quá; y không bận tâm đến chúng hay quan tâm căn bản đến chúng. Mắt y rời khỏi chính mình và được cố định vào thế giới của các giá trị chân thật. Y không có cảm thức về tư lợi, bởi vì một ý thức nhóm đang nhanh chóng thay thế tâm thức cá nhân của y.

The words:

Những lời:

2. Let the group know the vivid, flaming, drenching life that floods the fourth when the fifth is known ()

2. Hãy để nhóm nhận biết sự sống sống động, bừng cháy, thấm đẫm, vốn tràn ngập giới thứ tư khi giới thứ năm được nhận biết ()

are of prime importance to those who would and can profit [Page 129] by what I am seeking to convey, as I interpret—as far as may be—these Rules. The knowing of the fifth kingdom in nature through the medium of the consciousness of the fourth and the sacrifice of the fourth kingdom to the fifth, of the human being to the soul and of humanity to the kingdom of God, is the parallel (on a higher turn of the spiral) of the sacrifice of the third kingdom, the animal kingdom, to the fourth, the human kingdom. Thus it proceeds down the scale—sacrifice always of the lower to the higher.

có tầm quan trọng hàng đầu đối với những ai muốn và có thể hưởng lợi [Trang 129] từ điều Tôi đang tìm cách truyền đạt, khi Tôi diễn giải—trong mức có thể—những Quy luật này. Việc nhận biết giới thứ năm trong thiên nhiên qua trung gian tâm thức của giới thứ tư, và sự hi sinh của giới thứ tư cho giới thứ năm, của con người cho linh hồn và của nhân loại cho Thiên Giới, là sự tương ứng (trên một vòng cao hơn của đường xoắn ốc) với sự hi sinh của giới thứ ba, giới động vật, cho giới thứ tư, giới nhân loại. Như vậy, tiến trình tiếp diễn xuống thang bậc—luôn luôn là sự hi sinh của cái thấp cho cái cao.

It therefore behooves[2] the individual disciple to decide whether he is an applicant, and consequently to be controlled by the “rules in time and space,” or a candidate for initiation who knows that life is one and that the form is of no material significance, except as a field of experience for the soul.

Do đó, điều cần thiết đối với người đệ tử cá nhân là quyết định xem y là một ứng viên, và do đó phải bị chi phối bởi “các quy luật trong thời gian và không gian,” hay là một ứng viên cho điểm đạo, người biết rằng sự sống là một và hình tướng không có ý nghĩa thực chất nào, ngoại trừ như một trường kinh nghiệm cho linh hồn.

We now come to the most important part of this particular rule; it conveys the key to the immediate goal for those who have attained a certain measure of understanding. The words of importance are:

Bây giờ chúng ta đi đến phần quan trọng nhất của quy luật đặc thù này; nó truyền đạt chìa khóa cho mục tiêu trước mắt dành cho những ai đã đạt được một mức độ thấu hiểu nào đó. Những lời quan trọng là:

3. Let then the group—merged in the fifth—be nourished by the sixth and seventh. ()

3. Bấy giờ hãy để nhóm—được hòa nhập trong giới thứ năm—được nuôi dưỡng bởi giới thứ sáu và thứ bảy. ()

In other words: “Then let the group—which is identified with the soul—find its sustenance and vitality by the inflow of the intuition and of the spiritual will, emanating from the Spiritual Triad.” There are, of course, other meanings, but this is the most practical for disciples. A larger but similar concept lies in the realization that the human family, the fourth kingdom in nature, is absorbed by the fifth or by the and (when this is the case) can become increasingly en rapport with the sixth and seventh kingdoms. To these kingdoms no names have as yet been given, because the possibility of their existence is only now just beginning faintly to penetrate into the consciousness of the disciple and the initiate. The sixth kingdom is that of the “over-shadowing Triads”—that aggregation of liberated Lives of which the higher initiates in the [Page 130] Hierarchy are a part; They are to that spiritual group what the New Group of World Servers is to Humanity. I know not how else to express this truth to you.

Nói cách khác: “Bấy giờ hãy để nhóm—vốn đồng hóa với linh hồn—tìm thấy sự nuôi dưỡng và sinh lực của mình nhờ dòng tuôn vào của trực giác và của ý chí tinh thần, phát xuất từ Tam Nguyên Tinh Thần.” Dĩ nhiên, còn có những ý nghĩa khác, nhưng đây là ý nghĩa thực tiễn nhất đối với các đệ tử. Một quan niệm rộng lớn hơn nhưng tương tự nằm trong sự nhận ra rằng gia đình nhân loại, giới thứ tư trong thiên nhiên, được hấp thu bởi giới thứ năm hoặc bởi Thiên Giới và (khi điều này xảy ra) có thể ngày càng đi vào tương giao với các giới thứ sáu và thứ bảy. Cho đến nay, các giới này vẫn chưa được đặt tên, bởi vì khả năng hiện hữu của chúng chỉ mới bắt đầu thấm nhập một cách mờ nhạt vào tâm thức của đệ tử và điểm đạo đồ. Giới thứ sáu là giới của “các Tam nguyên phủ bóng”—tập hợp những Sự Sống đã giải thoát mà các điểm đạo đồ cao cấp hơn trong [Trang 130] Thánh Đoàn là một phần; Các Ngài đối với nhóm tinh thần ấy cũng như Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đối với Nhân loại. Tôi không biết diễn đạt chân lý này cho các bạn bằng cách nào khác.

The seventh kingdom in nature is that of the Lives Who participate in full capacity of understanding with the group of Beings Who are the nucleus of the Council at Shamballa. Around the Lord of the World this group pivots; Their consciousness and state of being is only dimly understood by the most advanced Members of the Hierarchy, and the relation of these Lives to the Lord of the World is similar, and yet fundamentally different, to the relation of the Members of the Hierarchy to the three Great Lords—the Christ, the Manu and the Mahachohan. Through these three Lords pours the energy which streams from Shamballa, transmitting the purpose and motivating the plan of Sanat Kumara—His Life Plan. What you call “the Plan” is the response of the Hierarchy to the inflowing purposeful will of the Lord of the World. Through Sanat Kumara, the Ancient of Days (as He is called in the Bible), flows the unknown energy of which the three divine Aspects are the expression. He is the Custodian of the will of the Great White Lodge on Sirius, and the burden of this “cosmic intention” is shared by the Buddhas of Activity and those Members of the Great Council Who are of so elevated a consciousness and vibration that only once a year (through Their emissary, the Buddha) is it safe for Them to contact the Hierarchy.

Giới thứ bảy trong thiên nhiên là giới của các Sự Sống tham dự với trọn khả năng thấu hiểu cùng nhóm các Đấng vốn là hạt nhân của Hội Đồng tại Shamballa. Nhóm này xoay quanh Đức Chúa Tể Thế Giới; tâm thức và trạng thái hiện tồn của Các Ngài chỉ được các Thành viên tiến cao nhất của Thánh Đoàn thấu hiểu một cách mờ nhạt, và mối liên hệ của các Sự Sống này với Đức Chúa Tể Thế Giới vừa tương tự, lại vừa khác biệt căn bản, với mối liên hệ của các Thành viên Thánh Đoàn đối với ba Đấng Chúa Tể Cao Cả—Đức Christ, Đức Manu và Đức Mahachohan. Qua ba Đấng Chúa Tể này tuôn đổ năng lượng phát lưu từ Shamballa, truyền dẫn thiên ý và thúc đẩy Thiên Cơ của Đức Sanat Kumara—Thiên Cơ Sự Sống của Ngài. Điều các bạn gọi là “Thiên Cơ” là sự đáp ứng của Thánh Đoàn đối với ý chí có chủ đích đang tuôn vào của Đức Chúa Tể Thế Giới. Qua Đức Sanat Kumara, Đấng Thái Cổ (như Ngài được gọi trong Kinh Thánh), tuôn chảy năng lượng chưa được biết đến mà ba Phương diện thiêng liêng là sự biểu lộ của nó. Ngài là Đấng Giữ Gìn ý chí của Thánh đoàn trên Sirius, và gánh nặng của “ý định vũ trụ” này được chia sẻ bởi các Đức Phật Hoạt Động và những Thành viên của Đại Hội Đồng, Các Ngài có tâm thức và rung động cao cả đến mức chỉ mỗi năm một lần (thông qua sứ giả của Các Ngài là Đức Phật) Các Ngài mới có thể tiếp xúc an toàn với Thánh Đoàn.

I am seeking only to point to a wider horizon than that usually registered by disciples and I use these broad analogies to expand your point of view. By so doing I can convey to the enlightened person a sense of synthesis, of purposeful planning and of planetary integrity. This great spiritual structure of Being, of Life and of Direction is something that the disciples and initiates of the world need—at this time—in their effort to stand steady under the pressure of world events, and in their determination to cooperate unwaveringly with the moves and plans made by the world Directors, that “Society of illumined and organized [Page 131] Minds” which is known under the name of the Hierarchy. It is illumination and consequent organization which is needed profoundly at this time.

Tôi chỉ đang tìm cách chỉ ra một chân trời rộng lớn hơn chân trời mà các đệ tử thường ghi nhận, và Tôi dùng những tương đồng rộng lớn này để mở rộng quan điểm của các bạn. Bằng cách làm như vậy, Tôi có thể truyền đạt cho người được soi sáng một cảm thức về tổng hợp, về hoạch định có chủ đích và về sự toàn vẹn hành tinh. Cấu trúc tinh thần vĩ đại này của Bản Thể, của Sự Sống và của Sự Chỉ Đạo là điều mà các đệ tử và điểm đạo đồ của thế giới cần—vào lúc này—trong nỗ lực đứng vững dưới áp lực của các biến cố thế giới, và trong quyết tâm hợp tác không lay chuyển với những chuyển động và kế hoạch do các Đấng Chỉ Đạo thế giới thực hiện, “Hội những Trí Tuệ được soi sáng và có tổ chức” [Trang 131] được biết đến dưới danh xưng Thánh Đoàn. Chính sự soi sáng và tổ chức phát sinh từ đó là điều đang được cần đến sâu xa vào lúc này.

You will see, therefore, the significance of the teaching now being given out anent the building of the antahkarana. It is only through this bridge, this thread, that the disciple can mount on to that stage of the ladder of evolution which will lead him out of the three worlds, which will bring the personality into rapport with the Spiritual Triad, and which will finally lead the Members of the Hierarchy (when Their term of service is completed) on to the Path of the Higher Evolution. The antahkarana is built by aspirants and disciples and initiates of the seven ray types, and is therefore a sevenfold woven thread; it constitutes the first stage of the Path of the Higher Evolution. It is to that Path what experience in the mineral kingdom of the Life of God is to that same Life when it reaches the fourth or human kingdom. You can see, therefore, how significant is the coming Science of Comparison; not yet has this science of comparative analysis been turned into a definitely recognized line of approach to truth. The Law of Analogy is the key which unlocks the understanding.

Vì vậy, các bạn sẽ thấy, ý nghĩa của giáo huấn hiện đang được truyền ra liên quan đến việc xây dựng antahkarana. Chỉ nhờ cây cầu này, sợi dây này, mà đệ tử có thể leo lên nấc thang tiến hoá vốn sẽ dẫn y ra khỏi ba cõi thấp, sẽ đưa phàm ngã vào tương giao với Tam Nguyên Tinh Thần, và cuối cùng sẽ dẫn các Thành viên của Thánh Đoàn (khi nhiệm kỳ phụng sự của Các Ngài hoàn tất) bước lên Con Đường Tiến Hóa Cao Siêu. Antahkarana được xây dựng bởi những người chí nguyện, các đệ tử và các điểm đạo đồ thuộc bảy kiểu cung, và do đó là một sợi dây được đan dệt thất phân; nó cấu thành giai đoạn đầu tiên của Con Đường Tiến Hóa Cao Siêu. Nó đối với Con Đường ấy cũng như kinh nghiệm trong giới kim thạch của Sự sống của Thượng đế đối với chính Sự sống ấy khi nó đạt tới giới thứ tư hay giới nhân loại. Do đó, các bạn có thể thấy Khoa Học So Sánh sắp đến có ý nghĩa biết bao; khoa học phân tích so sánh này vẫn chưa được chuyển thành một đường lối tiếp cận chân lý được công nhận rõ ràng. Định luật tương đồng là chìa khóa mở ra sự thấu hiểu.

Something of the quality and the revelatory power of the intuition is known by all disciples; it constitutes at times (from its very rarity) a major “spiritual excitement.” It produces effects and stimulation; it indicates future receptivity to dimly sensed truths and is allied—if you could but realize it—with the entire phenomena of prevision. A registration of some aspect of intuitional understanding is an event of major importance in the life of the disciple who is beginning to tread the Path to the Hierarchy. It provides testimony, which he can recognize, of the existence of knowledges, wisdom and significances of which the intelligentsia of humanity are not yet aware; it guarantees to him the unfolding possibility of his own higher nature, a realization of his divine connections and the possibility of his ultimate highest spiritual attainment; it steadily supersedes soul knowledge, and the energy pouring in to his [Page 132] consciousness from the Spiritual Triad—particularly the energy of the sixth and seventh spheres of activity—is the specific and particular energy which finally brings about the destruction of the causal body, the annihilation of the Temple of Solomon, and the liberation of the Life.

Một phần phẩm tính và quyền năng mặc khải của trực giác đều được mọi đệ tử biết đến; đôi khi, chính vì sự hiếm hoi của nó, nó tạo thành một “sự kích động tinh thần” lớn lao. Nó tạo ra các hiệu quả và sự kích thích; nó chỉ ra khả năng tiếp nhận trong tương lai đối với những chân lý được cảm nhận còn mơ hồ, và nếu các bạn có thể nhận ra, nó liên hệ với toàn bộ hiện tượng tiên kiến. Việc ghi nhận một phương diện nào đó của sự thấu hiểu bằng trực giác là một biến cố có tầm quan trọng lớn trong đời sống của người đệ tử đang bắt đầu bước trên Đường Đạo dẫn đến Thánh Đoàn. Nó cung cấp chứng cứ mà y có thể nhận ra về sự hiện hữu của các tri thức, minh triết và những thâm nghĩa mà giới trí thức của nhân loại vẫn chưa ý thức được; nó bảo đảm cho y khả năng khai mở của bản chất cao siêu nơi chính y, sự nhận biết về các liên hệ thiêng liêng của y và khả năng thành tựu tinh thần tối hậu cao nhất của y; nó đều đặn thay thế tri thức của linh hồn, và năng lượng tuôn đổ vào [Trang 132] tâm thức của y từ Tam Nguyên Tinh Thần — đặc biệt là năng lượng của các khối cầu hoạt động thứ sáu và thứ bảy — chính là năng lượng đặc thù và riêng biệt cuối cùng đem lại sự phá hủy thể nguyên nhân, sự tiêu diệt Đền thờ Sa-lô-môn, và sự giải thoát của Sự Sống.

Then that which in time and space has been termed the soul can “onward move in life.” Evolution as we now understand it ceases; yet evolutionary unfoldment proceeds along new lines which are based upon the past but which produce very different results to those sensed even by the advanced disciple in his highest moments. A new life-expression appears which moves onward freed from all form yet subject still to limitations “within the circle of influence of the greater Life,” but not limited by life within the many forms which progress, surrounded by that circle, that divine ring-pass-not. There is still the broad confining sweep of the purpose and the life-intent of the planetary Logos, but within that periphery and sphere of activity the Triads move with perfect freedom. Their onward push towards the higher states of Being is carried out in conformity with the life urge of the One in Whom they live and move and have their being. You will note, therefore, that these words in reality cover or deal with life processes and not with form building or the experience in forms, as usually understood.

Bấy giờ, cái mà trong thời gian và không gian đã được gọi là linh hồn có thể “tiến tới trong sự sống.” Tiến hoá như chúng ta hiện nay thấu hiểu sẽ chấm dứt; tuy nhiên, sự khai mở thăng thượng tiến hoá vẫn tiếp diễn theo những đường lối mới, vốn đặt nền trên quá khứ nhưng tạo ra những kết quả rất khác với những gì ngay cả người đệ tử tiến bộ cũng cảm nhận được trong những khoảnh khắc cao nhất của y. Một biểu hiện sự sống mới xuất hiện, tiến tới, được giải thoát khỏi mọi hình tướng, tuy vẫn còn chịu các giới hạn “trong vòng ảnh hưởng của Sự Sống lớn lao hơn,” nhưng không còn bị giới hạn bởi sự sống trong vô số hình tướng đang tiến bộ, được bao quanh bởi vòng tròn ấy, bởi vòng-giới-hạn thiêng liêng ấy. Vẫn còn đó vòng quét rộng lớn mang tính giới hạn của Thiên Ý và ý định sự sống của Hành Tinh Thượng đế, nhưng trong chu vi và khối cầu hoạt động ấy, các Tam Nguyên vận hành với tự do hoàn toàn. Sức đẩy tiến tới của các Ngài hướng về những trạng thái cao hơn của Bản Thể được thực hiện phù hợp với xung lực sự sống của Đấng mà trong Ngài các Ngài sống, vận động và hiện tồn. Do đó, các bạn sẽ lưu ý rằng, trong thực tế, những lời này bao hàm hoặc đề cập đến các tiến trình sự sống chứ không phải việc xây dựng hình tướng hay kinh nghiệm trong các hình tướng, như thường được hiểu.

A consideration of these at present inaccessible truths may serve to inspire your minds, evoke your intuition and give you vision and increased spiritual perception.

Việc suy xét những chân lý hiện còn chưa thể tiếp cận này có thể giúp truyền cảm hứng cho thể trí các bạn, gợi lên trực giác của các bạn, và đem lại cho các bạn tầm nhìn cùng tri giác tinh thần gia tăng.



[1] vùng cao nguyên; bình nguyên

[2] phải có nhiệm vụ

Leave a Comment

Scroll to Top