WEBINAR #83 (43-48)
Abstract
|
Dissipation of glamour Initiative webinar 83. Reading was from “glamour: A World Problem” pages 43-48. Michael discussed how we need to discover where each of us stand in terms of glamour and illusion, and hence our next steps forward. By dissipating our own glamours, we help those following in our footsteps. Libra is very important to help us break free from clinging to unrealities we may attach to ideals, thereby adjusting our sense of proportion. Venus, its traditional ruler, brings in the light of the ray 5 mind that is used in the Technique of Light for the dissipation of glamour. Kama-manas, or desire-mind, is rampant in the world today, resulting in the glamours of lying and misrepresentation. This mass glamour of authority is giving rise to Nazism and other forms of totalitarianism as ideals, for which it is essential that we avoid. The greatest sources of glamour are self-pity, criticism, suspicion, and especially FEAR. Illusion can be like a wall-builder of separativeness, preventing us from seeing the reality of unity and oneness in the diversity of manifestation. We must guard against falling under the spell of the false teacher (Busiris in the Gemini myth in the Labors of Hercules) that would control our thoughts and emotions. We accomplish this through a blend of self-reliance and group work. Note that even the soul ray can be distorted by the personality. The meditation itself concerned lying and misrepresenting the truth. The term that Michael was searching for during this webinar to describe that imposition of the glamour of Authority is: TOTALITARIAN. The group used the Formula for the Dissipation of the glamour of Lying and Misrepresentation of the Truth. The webinar was led by Michael D. Robbins, with Olivia Hansen and Tuija Robbins. This meeting was held on August 24, 2018. |
Webinar Sáng Kiến Xua Tan Ảo cảm 83. Phần đọc trích từ “Ảo cảm: Một Vấn Đề Thế Giới”, các trang 43-48. Michael đã bàn về việc chúng ta cần khám phá mỗi người trong chúng ta đang đứng ở đâu xét theo ảo cảm và ảo tưởng, và do đó đâu là những bước tiến kế tiếp của mình. Bằng cách làm tiêu tan các ảo cảm của chính mình, chúng ta giúp những người đang theo dấu chân mình. Thiên Bình rất quan trọng trong việc giúp chúng ta thoát khỏi sự bám víu vào những điều không thực mà chúng ta có thể gắn với các lý tưởng, nhờ đó điều chỉnh ý thức về tỉ lệ của mình. Sao Kim, chủ tinh truyền thống của nó, đưa vào ánh sáng của trí tuệ cung 5, vốn được dùng trong Kỹ Thuật Ánh sáng để làm tiêu tan ảo cảm. Trí-cảm, hay trí tuệ dục vọng, đang lan tràn trong thế giới ngày nay, dẫn đến các ảo cảm về nói dối và xuyên tạc. Ảo cảm đại chúng về uy quyền này đang làm phát sinh chủ nghĩa Quốc xã và những hình thức toàn trị khác như các lý tưởng, điều mà chúng ta nhất thiết phải tránh. Những nguồn lớn nhất của ảo cảm là tự thương hại, phê phán, nghi ngờ, và đặc biệt là NỖI SỢ HÃI. Ảo tưởng có thể giống như một kẻ xây tường của sự chia rẽ, ngăn chúng ta thấy thực tại của sự hợp nhất và nhất như trong tính đa dạng của biểu hiện. Chúng ta phải đề phòng rơi vào bùa mê của huấn sư giả, Busiris trong huyền thoại Song Tử thuộc các kỳ công của Hercules, kẻ muốn kiểm soát tư tưởng và cảm xúc của chúng ta. Chúng ta thực hiện điều này qua sự phối hợp giữa tự lực và công tác nhóm. Hãy lưu ý rằng ngay cả cung linh hồn cũng có thể bị phàm ngã làm méo lệch. Bài tham thiền tự nó liên quan đến việc nói dối và xuyên tạc chân lý. Thuật ngữ mà Michael đang tìm trong webinar này để mô tả sự áp đặt ảo cảm của Uy quyền là: TOÀN TRỊ. Nhóm đã dùng Công thức Làm Tiêu Tan Ảo cảm về Nói dối và Xuyên tạc Chân lý. Webinar do Michael D. Robbins hướng dẫn, cùng với Olivia Hansen và Tuija Robbins. Buổi họp này được tổ chức vào ngày 24 tháng 8 năm 2018. |
Text
|
I have organised somewhat our ideas and outlined the plan under which we would approach this theme. [1a] I gave you certain basic concepts and a skeleton outline of the subject as a whole. (See the Table of Contents.) Today we will begin with our real discussion. As you know, it is not [Page 44] my intention to write a long and ponderous thesis on this subject. [1b] The books which will be compiled from the instructions offered to these groups of disciples, will not be heavy treatises as are those on Cosmic Fire and White Magic. They will constitute a series of relatively short volumes, and must therefore be packed with information, and not discursive in style. [1c] |
Tôi đã phần nào sắp xếp các ý tưởng của chúng ta và phác thảo kế hoạch mà theo đó chúng ta sẽ tiếp cận chủ đề này. [1a] Tôi đã trao cho các bạn một số khái niệm căn bản và một dàn ý khung về toàn bộ đề tài. (Xem Mục lục.) Hôm nay chúng ta sẽ bắt đầu cuộc thảo luận thật sự của mình. Như các bạn biết, tôi không có ý định viết một luận đề dài và nặng nề về đề tài này. [1b] Những sách sẽ được biên soạn từ các huấn thị trao cho những nhóm đệ tử này, sẽ không phải là những khảo luận nặng nề như Luận về Lửa Vũ Trụ và Luận về Chánh Thuật. Chúng sẽ tạo thành một loạt các tập sách tương đối ngắn, và do đó phải chứa đầy thông tin, chứ không lan man trong văn phong. [1c] |
|
Above everything else, my brothers, these instructions must be of a definitely practical value and must leave the student with the realisation that he understands better the subtle world of thought currents and of forces in which he dwells; and that he knows better the means he must employ and the technique he must follow if he is to clear his path from darkness and confusion and follow on to light and harmony. [1d] Our study must be comparative also, and the reader must bear in mind that he will not be able to distinguish the truth or isolate that aspect of the teaching which is for him of paramount importance unless he applies that which is helpful, and ascertains clearly whether he is the victim of illusion or of glamour. [1f] In the last analysis, he must know where he stands before he can take his next needed step forward. The disciple is the victim and, let us hope, the dissipator of both glamour and illusion, and hence the complexity of his problem and the subtlety of his difficulties. [1g] [How can the disciple see that of which he is the deluded victim He must bear in mind also (for his strengthening and cheer) that every bit of glamour dissipated and every illusion recognised and overcome “clears the way” for those who follow after, and makes easier the path of his fellow disciples. [1h] This is par excellence, the Great Service, and it is to this aspect of it that I call your attention. Hence my attempts in these instructions to clarify this issue. [1i] [Self-clarification has great group value…. |
Trên hết mọi điều, các huynh đệ của tôi, những huấn thị này phải có giá trị thực tiễn rõ rệt và phải để lại nơi đạo sinh sự nhận thức rằng y thấu hiểu hơn thế giới vi tế của các dòng tư tưởng và các mãnh lực trong đó y đang cư ngụ; và rằng y biết rõ hơn những phương tiện y phải sử dụng và kỹ thuật y phải noi theo nếu y muốn dọn sạch con đường của mình khỏi bóng tối và hỗn loạn, rồi tiến bước đến ánh sáng và hài hòa. [1d] Việc nghiên cứu của chúng ta cũng phải có tính so sánh, và độc giả phải ghi nhớ rằng y sẽ không thể phân biệt chân lý hoặc tách riêng phương diện giáo huấn có tầm quan trọng tối thượng đối với mình trừ khi y áp dụng điều hữu ích, và xác định rõ mình là nạn nhân của ảo tưởng hay của ảo cảm. [1f] Rốt cuộc, y phải biết mình đang đứng ở đâu trước khi có thể thực hiện bước tiến kế tiếp cần thiết. Đệ tử là nạn nhân và, chúng ta hãy hy vọng, là người làm tiêu tan cả ảo cảm lẫn ảo tưởng, và do đó vấn đề của y phức tạp, còn những khó khăn của y thì tinh vi. [1g] [Làm sao đệ tử có thể thấy điều mà y đang là nạn nhân bị mê hoặc của nó Y cũng phải ghi nhớ, để được củng cố và khích lệ, rằng mỗi chút ảo cảm được làm tiêu tan và mỗi ảo tưởng được nhận ra và vượt qua đều “dọn sạch con đường” cho những người đi sau, và làm cho con đường của các đệ tử đồng môn của y trở nên dễ dàng hơn. [1h] Đây chính là Đại Phụng Sự theo nghĩa xuất sắc nhất, và chính phương diện này của nó mà tôi kêu gọi các bạn chú ý. Vì thế có những nỗ lực của tôi trong các huấn thị này nhằm làm sáng tỏ vấn đề này. [1i] [Sự tự làm sáng tỏ có giá trị nhóm rất lớn…. |
|
One of the problems which confronts the aspirant is the problem of duly recognising glamour when it arises, and of being aware of the glamours which beset his path and the [Page 45] illusions which build a wall between him and the light. [1j] It is much that you have recognised that glamour and illusion exist. The majority of people are unaware of their presence. Many good people today see this not; they deify their glamours and regard their illusions as their prized and hard won possessions. [2a] |
Một trong những vấn đề đối diện với người chí nguyện là vấn đề nhận biết đúng lúc ảo cảm khi nó xuất hiện, và ý thức được các ảo cảm vây quanh con đường của y cũng như những [Trang 45] ảo tưởng xây nên một bức tường giữa y và ánh sáng. [1j] Việc các bạn đã nhận ra rằng ảo cảm và ảo tưởng có tồn tại là điều rất quan trọng. Đa số con người không ý thức được sự hiện diện của chúng. Nhiều người tốt ngày nay không thấy điều này; họ thần thánh hóa các ảo cảm của mình và xem các ảo tưởng của mình như những tài sản quý giá, khó khăn mới giành được. [2a] |
|
The very recognition, in its turn however, carries with it its own problems, so unable is the average disciple to free himself from the glamour-making faculties developed in the past, and so hard does he find it to preserve a due proportion [Libra so very important and a proper sense of values in regard to the truths of the mental plane. [2b] A hard won truth and a principle of reality can be grasped, and then around it the disciple can build the easily formed illusions of the mind which is just beginning to find itself. [2c] The glamours of an emotional nature can emerge and gather about the ideal, for that is as yet unclarified and is prone to attract to itself that which—emotionally and sensitively—it believes itself to be and have. [2d] |
Tuy nhiên, chính sự nhận biết ấy đến lượt nó cũng mang theo những vấn đề riêng, bởi đệ tử trung bình quá khó tự giải thoát khỏi các năng lực tạo ảo cảm đã phát triển trong quá khứ, và y thấy quá khó giữ được một tỉ lệ đúng mức [Thiên Bình rất quan trọng và một ý thức đúng đắn về các giá trị liên quan đến những chân lý của cõi trí. [2b] Một chân lý khó khăn mới đạt được và một nguyên lý của thực tại có thể được nắm bắt, rồi chung quanh nó đệ tử có thể xây dựng những ảo tưởng dễ hình thành của thể trí vừa mới bắt đầu tự tìm thấy mình. [2c] Các ảo cảm có bản chất cảm xúc có thể nổi lên và tụ lại quanh lý tưởng, vì lý tưởng ấy vẫn chưa được làm sáng tỏ và có khuynh hướng thu hút về phía mình điều mà, về mặt cảm xúc và nhạy cảm, nó tin chính mình là và có. [2d] |
|
Let us illustrate my point from two angles, both of which are entirely in the realm of discipleship, or encountered upon the Path of Probation. We will call them the “illusion of power” and the “glamour of authority.” This form of words will show you that one is to be encountered upon the astral plane and the other upon the mental. [2e] |
Hãy để tôi minh họa điểm này từ hai góc độ, cả hai đều hoàn toàn thuộc lĩnh vực địa vị đệ tử, hoặc được gặp trên Con Đường Dự Bị. Chúng ta sẽ gọi chúng là “ảo tưởng về quyền năng” và “ảo cảm về uy quyền”. Cách diễn đạt này sẽ cho các bạn thấy rằng một điều được gặp trên cõi cảm dục và điều kia trên cõi trí. [2e] |
|
The glamour of Authority is a mass glamour in most cases. It has its roots in mass psychology and is one of the indications that humanity is at the nursery stage as yet, wherein men are safeguarded from themselves by the imposition of some rule, some set of laws, some authoritative dictum, emanating from state control, from the rule of an oligarchy, or from the dictatorship of some individual. [2f] It reduces mankind, as far as one can judge, to set forms and standardises men’s activities, regimenting their lives [Page 46] and work. [2g] [Avoid…. Standardization…… It is imposed and ordered through catering to the fear complex, rampant in humanity at this time; and this fear is one of the most fruitful sources of glamour which we have. [2h] [Sources—self-pity, criticism, suspicion, FEAR We might perhaps and with reason regard it [i.e., fear as the seed of all glamour upon our planet. Fear has been the incentive to those conditions which have brought about the glamour of the astral plane, though not the illusions of the mental levels of consciousness. [2i] [Fear for glamour; Separativeness for Illusion… |
Ảo cảm về Uy quyền trong phần lớn các trường hợp là một ảo cảm đại chúng. Nó có gốc rễ trong tâm lý đại chúng và là một trong những dấu hiệu cho thấy nhân loại vẫn còn ở giai đoạn ấu thơ, trong đó con người được bảo vệ khỏi chính mình bằng sự áp đặt của một quy luật nào đó, một bộ luật nào đó, một mệnh lệnh uy quyền nào đó, phát xuất từ sự kiểm soát của nhà nước, từ sự cai trị của một nhóm đầu sỏ, hoặc từ sự độc tài của một cá nhân nào đó. [2f] Theo chừng mực có thể phán đoán, nó hạ nhân loại xuống các hình thức cố định và tiêu chuẩn hóa các hoạt động của con người, quân sự hóa đời sống [Trang 46] và công việc của họ. [2g] [Hãy tránh…. Sự tiêu chuẩn hóa…… Nó được áp đặt và ra lệnh bằng cách chiều theo phức cảm sợ hãi, đang lan tràn trong nhân loại vào lúc này; và nỗi sợ hãi này là một trong những nguồn sinh sôi mạnh nhất của ảo cảm mà chúng ta có. [2h] [Các nguồn—tự thương hại, phê phán, nghi ngờ, NỖI SỢ HÃI Có lẽ chúng ta có lý khi xem nó [tức là, nỗi sợ hãi như hạt giống của mọi ảo cảm trên hành tinh chúng ta. Nỗi sợ hãi đã là động lực thúc đẩy các tình trạng đã tạo nên ảo cảm của cõi cảm dục, tuy không phải là các ảo tưởng của những cấp độ tâm thức trí tuệ. [2i] [Nỗi sợ hãi đối với ảo cảm; Tính chia rẽ đối với Ảo tưởng… |
|
When the glamour of authority transfers itself into the spiritual consciousness of man, we have such a state of affairs as the period of the Inquisition in its worst forms, of Church authority, with the emphasis upon organisation, government and penalties, or the unquestioned rule of some teacher. [2j] In its highest forms we have the recognition of the right of the solar Angel, of the soul or ego, to rule. [3a] Between these two extremes, which express the infancy of the race and the freedom which comes when mankind achieves its majority and the freedom of the soul, lie all the many types and kinds of intermediate reactions. [3b] In illustration of our point, and thus emphasising the glamour aspect as it affects the disciple and the problem which he faces, what do we find? The disciple has freed himself somewhat from the imposed control of an orthodox teaching and from the rule of a teacher. [3c] He stands (as far as he can tell) free from such control. Knowing however his essential weakness and the lure of the personality, he is on guard against himself, and against the ancient rules of control and learns steadily to stand on his own feet, to come to his own decisions, to distinguish truth for himself. [3d] He learns to choose his way. But, like all persons who have not taken some of the higher initiations, he can (in due time) become enamoured of his freedom, and automatically then swing into the glamour of his ideal of freedom,—an ideal which he has created. He becomes the prisoner of freedom. [his own supposed freedom [3e] He rejects all rule except [Page 47] that which he calls the “rule of his own soul,” forgetting that his contact with his soul is still intermittent. He demands the right to stand alone. [3f] He revels in his new found freedom. He forgets that, having given up the authority of a teaching and of a teacher, he has to learn to accept the authority of the soul and of the group of souls with which he is affiliated through his karma, his ray type, his choice, and the inevitability of the effects of the at-one-ment. [3g] Having relinquished the guidance of another person upon the Path, and having his eyes partially opened, he now seeks to tread that Path to the goal, forgetting however that he treads the Path in unison with others, and that there are certain “Rules of the Road” which he must master, and which he must master in unison with others. [3h] He has exchanged the individual law for the group law, but does not yet know that group law as it should be known. [3i] He marches on as best he can alone, glorying in the freedom from authority which he has succeeded in achieving. He promises himself that he will brook no authority or guidance. [3j] |
Khi ảo cảm về uy quyền chuyển vào tâm thức tinh thần của con người, chúng ta có một tình trạng sự việc như thời kỳ Tòa án Dị giáo trong những hình thức tệ hại nhất của nó, như uy quyền của Giáo hội với sự nhấn mạnh vào tổ chức, quản trị và hình phạt, hoặc sự cai trị không ai chất vấn của một huấn sư nào đó. [2j] Trong những hình thức cao nhất của nó, chúng ta có sự nhận biết quyền cai quản của Thái dương Thiên Thần, của linh hồn hay chân ngã. [3a] Giữa hai cực đoan này, vốn biểu lộ thời thơ ấu của nhân loại và sự tự do xuất hiện khi nhân loại đạt đến tuổi trưởng thành cùng với sự tự do của linh hồn, có mọi loại và kiểu phản ứng trung gian rất đa dạng. [3b] Để minh họa điểm của chúng ta, và qua đó nhấn mạnh phương diện ảo cảm khi nó tác động đến đệ tử và vấn đề y đối diện, chúng ta thấy gì? Đệ tử đã phần nào tự giải thoát khỏi sự kiểm soát áp đặt của một giáo huấn chính thống và khỏi sự cai trị của một huấn sư. [3c] Theo chừng mực y có thể biết, y đứng tự do khỏi sự kiểm soát ấy. Tuy nhiên, vì biết sự yếu đuối căn bản của mình và sức quyến rũ của phàm ngã, y cảnh giác đối với chính mình, và đối với các quy luật kiểm soát xưa cũ, rồi dần dần học cách đứng trên đôi chân của mình, tự đi đến quyết định của mình, tự phân biệt chân lý cho chính mình. [3d] Y học cách chọn con đường của mình. Nhưng, như mọi người chưa trải qua một số lần điểm đạo cao hơn, đúng lúc y có thể trở nên say mê sự tự do của mình, và khi đó tự động rơi vào ảo cảm về lý tưởng tự do của y,—một lý tưởng do chính y tạo ra. Y trở thành tù nhân của tự do. [sự tự do giả định của chính y [3e] Y bác bỏ mọi quy luật ngoại trừ [Trang 47] điều mà y gọi là “quy luật của chính linh hồn mình,” quên rằng sự tiếp xúc của y với linh hồn vẫn còn gián đoạn. Y đòi quyền đứng một mình. [3f] Y hân hoan trong sự tự do mới tìm thấy. Y quên rằng, sau khi đã từ bỏ uy quyền của một giáo huấn và của một huấn sư, y phải học cách chấp nhận uy quyền của linh hồn và của nhóm linh hồn mà y được liên kết qua nghiệp quả, loại cung của y, sự chọn lựa của y, và tính tất yếu của các kết quả của sự hợp nhất. [3g] Sau khi đã từ bỏ sự hướng dẫn của một người khác trên Đường Đạo, và khi mắt y đã mở ra phần nào, giờ đây y tìm cách bước trên Đường Đạo ấy đến mục tiêu, tuy nhiên lại quên rằng y bước trên Đường Đạo trong sự đồng hành với những người khác, và rằng có những “Quy Luật của Đường Đạo” nhất định mà y phải thông thạo, và y phải thông thạo chúng trong sự hòa hợp với những người khác. [3h] Y đã đổi định luật cá nhân lấy định luật nhóm, nhưng vẫn chưa biết định luật nhóm ấy như nó phải được biết. [3i] Y tiến bước một mình hết sức có thể, hãnh diện trong sự tự do khỏi uy quyền mà y đã thành công đạt được. Y tự hứa rằng mình sẽ không dung thứ bất cứ uy quyền hay sự hướng dẫn nào. [3j] |
|
Those of us who are considering him and looking on at him from the clearer heights of attainment see him gradually becoming obscured by wisps of fog and by a glamour which is gradually growing up around him as he becomes a “prisoner of the fog of freedom” and revels in what he deems the fact of his independence. [4a] When his sight has cleared, and when his mental aspect is more developed and unfolded, he will know that the Law of the Group must, and will, impose itself upon him, and that the rule of the lower nature has only to be exchanged for the rule of the soul. [4b] This is group rule and works under the law of the group. He has struggled out of the mass of seekers of the Road on to the Road itself. [4c] He is, therefore, ahead of the masses but he is not alone, even if he thinks that he is. He will discover many others who are travelling the same way with [Page 48] him, and their numbers will steadily increase as he progresses. [4d] The rule of interplay, of travel, and of group recognition and work and service will impose themselves upon him until he finds that he is a member of the New Group of World Servers, working under the conditions which are the rules governing their activities. [4e] |
Những người trong chúng tôi đang xem xét y và quan sát y từ những tầm cao thành tựu sáng rõ hơn thấy y dần dần bị che mờ bởi những làn sương mỏng và bởi một ảo cảm đang dần lớn lên quanh y khi y trở thành một “tù nhân của làn sương tự do” và hân hoan trong điều y cho là sự kiện về tính độc lập của mình. [4a] Khi tầm nhìn của y đã sáng rõ, và khi phương diện trí tuệ của y phát triển và khai mở hơn, y sẽ biết rằng Định luật của Nhóm phải, và sẽ, tự áp đặt lên y, và rằng sự cai trị của bản chất thấp chỉ cần được đổi lấy sự cai trị của linh hồn. [4b] Đây là sự cai trị của nhóm và hoạt động dưới định luật của nhóm. Y đã vùng thoát khỏi khối đông những người tìm kiếm Đường Đạo để bước lên chính Đường Đạo. [4c] Do đó, y đi trước quần chúng nhưng y không đơn độc, dù y nghĩ rằng mình đơn độc. Y sẽ khám phá nhiều người khác đang đi cùng một con đường với [Trang 48] y, và số lượng của họ sẽ đều đặn tăng lên khi y tiến bộ. [4d] Quy luật của sự tương tác, của cuộc hành trình, và của sự nhận biết, công tác và phụng sự nhóm sẽ tự áp đặt lên y cho đến khi y thấy rằng mình là một thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, đang làm việc dưới những điều kiện vốn là các quy luật chi phối những hoạt động của họ. [4e] |
|
[END of WEBINAR #83, Academic Reading #23, 24Aug18, p.43-48 |
[KẾT THÚC WEBINAR #83, Bài đọc Học thuật #23, 24 tháng 8 năm 2018, tr.43-48 |
Commentary
Review
|
Good morning, everyone here from the temple of silence in Finland, and like to welcome you into our work on behalf of the clarification of the astral plane. And really, it’s more than that, because most of humanity lives in a condition of what we might call kama-manas, and it’s not pure mind at all. So, it’s feeling-toned thoughts, which is what Carl Jung called them, and we have a mixture together of thoughts and emotion. And that has to be somehow disentangled our our entire public discourse seems to be expressing that kind of combination. So, the pure kama and the pure manas are also desirable. |
Kính chào mọi người từ ngôi đền im lặng ở Phần Lan, và xin chào mừng các bạn bước vào công việc của chúng ta nhân danh việc làm sáng tỏ cõi cảm dục. Thật ra, điều đó còn hơn thế nữa, vì phần lớn nhân loại sống trong một tình trạng mà chúng ta có thể gọi là trí-cảm, và hoàn toàn không phải là trí tuệ thuần túy. Đó là những tư tưởng được nhuốm màu cảm xúc, như Carl Jung đã gọi, và chúng ta có một hỗn hợp gồm tư tưởng và cảm xúc. Điều đó phải được gỡ rối bằng cách nào đó; toàn bộ diễn ngôn công cộng của chúng ta dường như đang biểu lộ kiểu kết hợp ấy. Vì vậy, dục vọng thuần túy và manas thuần túy cũng là điều đáng mong muốn. |
|
… |
… |
|
I have organised somewhat our ideas and outlined the plan under which we would approach this theme. [1a] |
Tôi đã phần nào sắp xếp các ý tưởng của chúng ta và phác thảo kế hoạch mà theo đó chúng ta sẽ tiếp cận chủ đề này. [1a] |
|
Now take notes as you go along about subjects that may be of interest to you, because we’ll have our sort of exchange question and answer, your statements and so forth. |
Hãy ghi chú trong khi các bạn theo dõi về những đề tài có thể khiến các bạn quan tâm, vì chúng ta sẽ có phần trao đổi hỏi đáp, các phát biểu của các bạn, và vân vân. |
|
He says, I gave you certain basic concepts and a skeleton outline of the subject as a whole. Today we will begin with our real discussion. |
Ngài nói, Tôi đã trao cho các bạn một số khái niệm căn bản và một dàn ý khung về toàn bộ đề tài. Hôm nay chúng ta sẽ bắt đầu cuộc thảo luận thật sự của mình. |
|
Well, if all that before wasn’t real, I don’t know what it was, but okay, as he says, |
Nếu tất cả những gì trước đó không phải là thật, tôi không biết nó là gì, nhưng như Ngài nói, |
|
As you know, it is not [Page 44] my intention to write a long and ponderous thesis on this subject. [1b] |
Như các bạn biết, tôi không có ý định viết một luận đề dài và nặng nề về đề tài này. [1b] |
|
Ponderous, it has a negative meaning. Perhaps it means heavy, or that upon which you must ponder at great length, |
“Nặng nề” có nghĩa tiêu cực. Có lẽ nó có nghĩa là nặng, hoặc là điều mà các bạn phải suy ngẫm trong một thời gian rất dài, |
|
The books which will be compiled from the instructions offered to these groups of disciples, |
Những sách sẽ được biên soạn từ các huấn thị trao cho những nhóm đệ tử này, |
|
There were 1,2,3,4, eventually, and the fifth group was gradually being formed, it only received three members before he discontinued that particular experiment with the disciples and reformed a new Seed Group of 24, a very important Shamballic number. |
Có một, hai, ba, bốn nhóm, cuối cùng là như vậy, và nhóm thứ năm đang dần được hình thành; nhóm ấy chỉ nhận được ba thành viên trước khi Ngài chấm dứt thí nghiệm đặc biệt đó với các đệ tử và tái lập một Nhóm hạt giống mới gồm 24 người, một con số Shamballa rất quan trọng. |
|
The books which will be compiled from the instructions offered to these groups of disciples, will not be heavy treatises as are those on Cosmic Fire and White Magic. |
Những sách sẽ được biên soạn từ các huấn thị trao cho những nhóm đệ tử này, sẽ không phải là những khảo luận nặng nề như Luận về Lửa Vũ Trụ và Luận về Chánh Thuật. |
|
As you may know, whether through writing or speaking, I’ve completed a lot of programs on Cosmic Fire. So, basically work through that book. And now there’s progress on the White Magic book at presently I’m working through the rules for magic on the astral plane, and I’m in that huge rule number 10. So, I understand from Joe that you can go to Morya Federation esoteric education, and there you will find 31 programs that are pretty much rules for the astral plane. And just go to there, they’re not all of one hour length, most of them are one hour, and some of them are very long and some are short. So, if you really want to study your way through white magic, I offer that to you. And I think also on Makara website, there will be 50 programs that deal with the introduction to white magic, and also to the rules for magic on the mental plane. So, we’ve got 80 programs so far, and probably there’ll be double that amount by the time we finish. So, you’ll have a very extensive study if you wish of this, what he calls a ponderous thesis. And let me tell you, although White Magic isn’t relatively early books, written in the late 20s, and maybe very early 30s, it is a weighty book that requires tremendous concentration. |
Như các bạn có thể biết, qua viết hoặc nói, tôi đã hoàn tất nhiều chương trình về Luận về Lửa Vũ Trụ. Về cơ bản, tôi đã đi qua quyển sách đó. Hiện nay có sự tiến triển trong sách Luận về Chánh Thuật; hiện tại tôi đang đi qua các quy luật huyền thuật trên cõi cảm dục, và tôi đang ở quy luật khổng lồ số 10. Tôi hiểu từ Joe rằng các bạn có thể vào giáo dục huyền bí của Liên đoàn Morya, và ở đó các bạn sẽ tìm thấy 31 chương trình gần như là các quy luật dành cho cõi cảm dục. Các chương trình ấy không phải tất cả đều dài một giờ; phần lớn là một giờ, một số rất dài và một số ngắn. Nếu các bạn thật sự muốn nghiên cứu xuyên suốt Chánh Thuật, tôi xin đề nghị điều đó với các bạn. Tôi nghĩ trên trang Makara cũng sẽ có 50 chương trình đề cập đến phần dẫn nhập vào Chánh Thuật, và cả các quy luật huyền thuật trên cõi trí. Như vậy, đến nay chúng ta đã có 80 chương trình, và có lẽ sẽ gấp đôi con số đó khi chúng ta hoàn tất. Các bạn sẽ có một nghiên cứu rất rộng nếu muốn về điều mà Ngài gọi là một luận đề nặng nề. Tôi xin nói với các bạn rằng, dù Luận về Chánh Thuật là một trong những sách tương đối sớm, được viết vào cuối thập niên 20 và có lẽ đầu thập niên 30, đó là một quyển sách trọng yếu đòi hỏi sự tập trung vô cùng lớn. |
|
So, anyway, what he’s working with here, in the glamour book and the telepathy book so far, they will constitute a series of relatively short volumes. Not so with Esoteric Healing, that’s a very big volume of 700 pages and something, and but |
Điều Ngài đang làm ở đây, trong sách về ảo cảm và cho đến nay trong sách về viễn cảm, là chúng sẽ tạo thành một loạt các tập sách tương đối ngắn. Không phải như vậy với Trị Liệu Huyền Môn, đó là một quyển rất lớn hơn 700 trang, |
|
They will constitute a series of relatively short volumes, and must therefore be packed with information, and not discursive in style. [1c] |
Chúng sẽ tạo thành một loạt các tập sách tương đối ngắn, và do đó phải chứa đầy thông tin, chứ không lan man trong văn phong. [1c] |
|
So, he deems this book, this little book on glamour as packed with information and not sort of rambling. It’s very condensed. |
Ngài xem quyển sách nhỏ này về ảo cảm là chứa đầy thông tin và không lan man. Nó rất cô đọng. |
|
Above everything else, my brothers, these instructions must be of a definitely practical value and must leave the student with the realisation that he understands better the subtle world of thought currents and of forces in which he dwells; and that he knows better the means he must employ and the technique he must follow if he is to clear his path from darkness and confusion and follow on to light and harmony. [1d] |
Trên hết mọi điều, các huynh đệ của tôi, những huấn thị này phải có giá trị thực tiễn rõ rệt và phải để lại nơi đạo sinh sự nhận thức rằng y thấu hiểu hơn thế giới vi tế của các dòng tư tưởng và các mãnh lực trong đó y đang cư ngụ; và rằng y biết rõ hơn những phương tiện y phải sử dụng và kỹ thuật y phải noi theo nếu y muốn dọn sạch con đường của mình khỏi bóng tối và hỗn loạn, rồi tiến bước đến ánh sáng và hài hòa. [1d] |
|
I suppose he thinks we live in darkness and confusion, and indeed, in many ways we do. The old mantram which is well to memorize: Lead us from darkness to light, from the unreal to the real. Both of those relate to glamour. From death to immortality, from chaos to beauty, that’s number four, and number five, finally, from the individua, to the universal, and we are entering this age, Aquarian Age of universality, where for some people at least that kind of progress will be possible, but we do very well right now if we can go from darkness to light and from the unreal to the real. |
Tôi cho rằng Ngài nghĩ chúng ta sống trong bóng tối và hỗn loạn, và thật vậy, theo nhiều cách, chúng ta đang như thế. Mantram cổ xưa rất đáng ghi nhớ là: Hãy dẫn chúng con từ bóng tối đến ánh sáng, từ điều không thực đến điều thực. Cả hai điều đó đều liên hệ đến ảo cảm. Từ cái chết đến bất tử, từ hỗn mang đến vẻ đẹp, đó là điều thứ tư, và điều thứ năm, cuối cùng, từ cá nhân đến phổ quát; và chúng ta đang bước vào thời đại này, Kỷ Nguyên Bảo Bình của tính phổ quát, nơi ít nhất đối với một số người, loại tiến bộ ấy sẽ có thể xảy ra. Nhưng hiện nay chúng ta đã làm rất tốt nếu có thể đi từ bóng tối đến ánh sáng và từ điều không thực đến điều thực. |
|
Our study must be comparative also, and the reader must bear in mind that he will not be able to distinguish the truth or isolate that aspect of the teaching which is for him of paramount importance unless he applies that which is helpful, and ascertains clearly whether he is the victim of illusion or of glamour. [1f] |
Việc nghiên cứu của chúng ta cũng phải có tính so sánh, và độc giả phải ghi nhớ rằng y sẽ không thể phân biệt chân lý hoặc tách riêng phương diện giáo huấn có tầm quan trọng tối thượng đối với mình trừ khi y áp dụng điều hữu ích, và xác định rõ mình là nạn nhân của ảo tưởng hay của ảo cảm. [1f] |
|
Or perhaps in many cases of both. |
Hoặc có lẽ trong nhiều trường hợp là của cả hai. |
|
In the last analysis, he must know where he stands before he can take his next needed step forward. |
Rốt cuộc, y phải biết mình đang đứng ở đâu trước khi có thể thực hiện bước tiến kế tiếp cần thiết. |
|
Of course, and this is where people are not truthful with themselves. They, and all of us, do not really see exactly where we stand and what is the real next step forward, and not the imagined next step. You may remember that DK tells us, the two things most important for every aspirant or disciple to know, will be the constitution of the human being and the next step forward. Thinking about the constitution of the human being which so many do not understand, and as a result, they misconceive the future of the human being; and one’s own particular next step forward, not exaggerated, but the real thing. |
Dĩ nhiên, và đây là chỗ con người không trung thực với chính mình. Họ, và tất cả chúng ta, không thật sự thấy chính xác mình đang đứng ở đâu và đâu là bước tiến kế tiếp thật sự, chứ không phải bước kế tiếp do tưởng tượng. Các bạn có thể nhớ Chân sư DK nói với chúng ta rằng hai điều quan trọng nhất mà mọi người chí nguyện hay đệ tử cần biết là cấu tạo của con người và bước tiến kế tiếp. Hãy nghĩ về cấu tạo của con người, điều mà rất nhiều người không thấu hiểu, và kết quả là họ hiểu sai về tương lai của con người; và hãy nghĩ về bước tiến kế tiếp đặc thù của chính mình, không phóng đại, mà là điều thật. |
|
The disciple is the victim and, let us hope, the dissipator of both glamour and illusion, |
Đệ tử là nạn nhân và, chúng ta hãy hy vọng, là người làm tiêu tan cả ảo cảm lẫn ảo tưởng, |
|
Oftentimes with illusion the word is dispel, but you can use these words interchangeably to a degree, |
Đối với ảo tưởng, từ thường dùng là xua tan, nhưng các bạn có thể dùng những từ này thay thế nhau ở một mức độ nào đó, |
|
The disciple is the victim and, let us hope, the dissipator of both glamour and illusion, and hence the complexity of his problem and the subtlety of his difficulties. [1g] |
Đệ tử là nạn nhân và, chúng ta hãy hy vọng, là người làm tiêu tan cả ảo cảm lẫn ảo tưởng, và do đó vấn đề của y phức tạp, còn những khó khăn của y thì tinh vi. [1g] |
|
How can he see? We might say, |
Làm sao y có thể thấy? Chúng ta có thể nói, |
|
[How can the disciple see that of which he is the deluded victim |
[Làm sao đệ tử có thể thấy điều mà y đang là nạn nhân bị mê hoặc của nó |
|
But through our proper means of occult meditation, we are able to distance ourselves from our usual personality states to the degree that we can actually see what is going on in our system. That self sight is so utterly important, and there’re big mistakes are made. And of course, under the impressive glamour, observation can be mistaken unless we really free ourselves using the occult methods DK has given us to free ourselves from individual glamour, |
Nhưng qua các phương tiện đúng đắn của tham thiền huyền bí, chúng ta có thể tạo khoảng cách với các trạng thái phàm ngã thường lệ của mình đến mức thật sự có thể thấy điều gì đang diễn ra trong hệ thống của mình. Cái thấy về chính mình ấy hoàn toàn quan trọng, và có những sai lầm lớn được tạo ra. Dĩ nhiên, dưới ảo cảm gây ấn tượng, sự quan sát có thể bị nhầm lẫn trừ khi chúng ta thật sự tự giải thoát bằng các phương pháp huyền bí mà Chân sư DK đã trao cho chúng ta để tự giải thoát khỏi ảo cảm cá nhân, |
|
He must bear in mind also (for his strengthening and cheer) that every bit of glamour dissipated and every illusion recognised and overcome “clears the way” for those who follow after, and makes easier the path of his fellow disciples. [1h] |
Y cũng phải ghi nhớ, để được củng cố và khích lệ, rằng mỗi chút ảo cảm được làm tiêu tan và mỗi ảo tưởng được nhận ra và vượt qua đều “dọn sạch con đường” cho những người đi sau, và làm cho con đường của các đệ tử đồng môn của y trở nên dễ dàng hơn. [1h] |
|
So, look, it’s obvious when we straighten out matters that needed in our own system, we are helping others who follow along. So, this is not strictly individual work, but has its group implications. |
Rõ ràng, khi chúng ta làm cho những vấn đề cần chỉnh đốn trong hệ thống của chính mình trở nên ngay thẳng, chúng ta đang giúp những người khác đi theo sau. Đây không phải là công việc thuần túy cá nhân, mà có những hàm ý nhóm. |
|
This is par excellence, the Great Service, and it is to this aspect of it that I call your attention. Hence my attempts in these instructions to clarify this issue. [1i] |
Đây chính là Đại Phụng Sự theo nghĩa xuất sắc nhất, và chính phương diện này của nó mà tôi kêu gọi các bạn chú ý. Vì thế có những nỗ lực của tôi trong các huấn thị này nhằm làm sáng tỏ vấn đề này. [1i] |
|
Let’s just say, self clarification has great ventually group value. |
Sự tự làm sáng tỏ rốt cuộc có giá trị nhóm rất lớn. |
|
[Self-clarification has great group value…. |
[Sự tự làm sáng tỏ có giá trị nhóm rất lớn…. |
|
I don’t know if I can get as far as the Rules of the Road today. They’re so wonderful, but they’re coming up and we can govern our lives according to the Rules of the Road, which appear very simple but are hard to express then we’re really working in alliance with the Hierarchy. |
Tôi không biết hôm nay tôi có thể đi xa đến Các Quy Luật của Đường Đạo hay không. Chúng thật tuyệt vời, nhưng chúng đang đến gần, và chúng ta có thể cai quản đời sống của mình theo Các Quy Luật của Đường Đạo, vốn trông rất đơn giản nhưng khó biểu lộ; khi ấy chúng ta thật sự đang làm việc trong sự liên minh với Thánh đoàn. |
|
One of the problems which confronts the aspirant is the problem of duly recognising glamour when it arises, and of being aware of the glamours which beset his path and the [Page 45] illusions which build a wall between him and the light. [1j] |
Một trong những vấn đề đối diện với người chí nguyện là vấn đề nhận biết đúng lúc ảo cảm khi nó xuất hiện, và ý thức được các ảo cảm vây quanh con đường của y cũng như những ảo tưởng xây nên một bức tường giữa y và ánh sáng. [1j] |
|
It’s kind of interesting how he looks at illusion as a wall builder. It has a lot to do with mental forms, and walls of forms which prevent us from seeing the unity. So, when under the state of illusion, the great heresy of separateness is very pronounced. I mean, the Masters somehow, when they look around at this complex world, they see a unity, they see a Oneness, and the question for us is, do we see with any kind of continuity and consistency that unity and oneness |
Khá thú vị khi Ngài xem ảo tưởng như một kẻ xây tường. Nó liên hệ nhiều đến các hình tướng trí tuệ, và những bức tường của hình tướng ngăn chúng ta thấy sự hợp nhất. Vì vậy, khi ở trong trạng thái ảo tưởng, Đại Tà thuyết về tính chia rẽ biểu hiện rất rõ. Các Chân sư, bằng cách nào đó, khi nhìn quanh thế giới phức tạp này, Các Ngài thấy một sự hợp nhất, Các Ngài thấy một Tính Nhất Như, và câu hỏi dành cho chúng ta là: liệu chúng ta có thấy, với bất cứ mức độ liên tục và nhất quán nào, sự hợp nhất và nhất như ấy hay không? |
|
It is much that you have recognised that glamour and illusion exist. |
Việc các bạn đã nhận ra rằng ảo cảm và ảo tưởng có tồn tại là điều rất quan trọng. |
|
Even that, so many people are not aware of these factors, whatsoever. |
Ngay cả điều đó, rất nhiều người hoàn toàn không ý thức về các yếu tố này. |
|
The majority of people are unaware of their presence. |
Đa số con người không ý thức được sự hiện diện của chúng. |
|
And hence naturally they fall immediately victim to them. |
Và vì thế tự nhiên họ lập tức trở thành nạn nhân của chúng. |
|
Many good people today see this not; |
Nhiều người tốt ngày nay không thấy điều này; |
|
And here’s this is quite a statement |
Và đây là một phát biểu khá mạnh, |
|
they deify their glamours and regard their illusions as their prized and hard won possessions. [2a] |
họ thần thánh hóa các ảo cảm của mình và xem các ảo tưởng của mình như những tài sản quý giá, khó khăn mới giành được. [2a] |
|
People have pet illusory ideas that they hold on to for dear life. They have their ideals as well and their orientations which are false, and they cling to them and make a truer perspective of the world not possible for them at that time, so long as they hold to unrealities, as long as they hold to unrealities. |
Con người có những ý tưởng ảo tưởng yêu thích mà họ bám chặt như mạng sống. Họ cũng có các lý tưởng và định hướng sai lầm của mình, và họ bám vào chúng, khiến một viễn cảnh chân thật hơn về thế giới không thể có đối với họ vào lúc ấy, chừng nào họ còn bám vào những điều không thực. |
|
Okay, let’s continue a little bit. |
Chúng ta hãy tiếp tục thêm một chút. |
|
The very recognition, in its turn however, carries with it its own problems, so unable is the average disciple to free himself from the glamour-making faculties developed in the past, and so hard does he find it to preserve a due proportion and a proper sense of values in regard to the truths of the mental plane. [2b] |
Tuy nhiên, chính sự nhận biết ấy đến lượt nó cũng mang theo những vấn đề riêng, bởi đệ tử trung bình quá khó tự giải thoát khỏi các năng lực tạo ảo cảm đã phát triển trong quá khứ, và y thấy quá khó giữ được một tỉ lệ đúng mức và một ý thức đúng đắn về các giá trị liên quan đến những chân lý của cõi trí. [2b] |
|
Well, I always like to emphasize certain things and make things bigger and smaller and highlight and so forth. Now, you may notice here, these words do proportion, and I want to say that the sign Libra, when used properly, is very effective in helping rid ourselves of the distortions of glamour. Libra is so very important because it is the sign of a proper relationship and balance between factors, such that none of them are exaggerated with respect to each other, and none of them is minimized with respect to each other. So, Libra is one of those signs which can be so effective. And of course, the ruler Venus is a prominent ruler in the sign Libra, and Venus brings in that fifth ray focal point of light at the forehead, which we use in connection with our dissipating beam, that is part of our Technique of Light, |
Tôi luôn thích nhấn mạnh một số điều, làm cho một số điều lớn hơn và nhỏ hơn, làm nổi bật, và vân vân. Các bạn có thể nhận thấy ở đây những từ “tỉ lệ đúng mức”, và tôi muốn nói rằng dấu hiệu Thiên Bình, khi được dùng đúng, rất hữu hiệu trong việc giúp chúng ta loại bỏ những méo lệch của ảo cảm. Thiên Bình rất quan trọng vì đó là dấu hiệu của mối quan hệ đúng đắn và sự cân bằng giữa các yếu tố, sao cho không yếu tố nào bị phóng đại so với yếu tố khác, và không yếu tố nào bị giảm thiểu so với yếu tố khác. Vì vậy, Thiên Bình là một trong những dấu hiệu có thể rất hữu hiệu. Dĩ nhiên, chủ tinh Sao Kim là một chủ tinh nổi bật trong dấu hiệu Thiên Bình, và Sao Kim đưa vào điểm tập trung ánh sáng cung năm ở trán, điểm mà chúng ta dùng liên hệ với chùm tia làm tiêu tan, vốn là một phần của Kỹ Thuật Ánh sáng, |
|
A hard won truth and a principle of reality can be grasped, and then around it the disciple can build the easily formed illusions of the mind which is just beginning to find itself. [2c] |
Một chân lý khó khăn mới đạt được và một nguyên lý của thực tại có thể được nắm bắt, rồi chung quanh nó đệ tử có thể xây dựng những ảo tưởng dễ hình thành của thể trí vừa mới bắt đầu tự tìm thấy mình. [2c] |
|
So, just because we have an aspect of reality and aspect of truth does not guarantee that it will remain such because our tendency is to build illusory form, and also to look at that truth or that principle as if it were the whole thing rather than see it in proportion with all the others, proportional viewing of life, a true estimation of oneself and others, is what is needed, and then we can avoid this distortion and the etheric veil of distortion, which is so related to glamour. |
Chỉ vì chúng ta có một phương diện của thực tại và một phương diện của chân lý không bảo đảm rằng nó sẽ vẫn là như thế, vì khuynh hướng của chúng ta là xây dựng hình tướng ảo tưởng, và cũng nhìn chân lý hay nguyên lý ấy như thể nó là toàn bộ sự việc thay vì thấy nó trong tỉ lệ với tất cả những điều khác. Cái nhìn theo tỉ lệ về đời sống, một sự đánh giá chân thật về bản thân và người khác, là điều cần thiết; khi ấy chúng ta có thể tránh sự méo lệch này và bức màn dĩ thái của sự méo lệch, vốn liên hệ rất nhiều đến ảo cảm. |
|
The glamours of an emotional nature can emerge and gather about the ideal, for that is as yet unclarified and is prone to attract to itself that which—emotionally and sensitively—it believes itself to be and have. [2d] |
Các ảo cảm có bản chất cảm xúc có thể nổi lên và tụ lại quanh lý tưởng, vì lý tưởng ấy vẫn chưa được làm sáng tỏ và có khuynh hướng thu hút về phía mình điều mà, về mặt cảm xúc và nhạy cảm, nó tin chính mình là và có. [2d] |
|
That’s quite a sentence. Let me read that again please. |
Đó là một câu khá đặc biệt. Tôi xin đọc lại câu ấy. |
|
The glamours of an emotional nature can emerge and gather about the ideal, for that is as yet unclarified and is prone to attract to itself that which—emotionally and sensitively—it believes itself to be and have. |
Các ảo cảm có bản chất cảm xúc có thể nổi lên và tụ lại quanh lý tưởng, vì lý tưởng ấy vẫn chưa được làm sáng tỏ và có khuynh hướng thu hút về phía mình điều mà, về mặt cảm xúc và nhạy cảm, nó tin chính mình là và có. |
|
Now, I’ve mentioned this before, but in the second world war, Germany represented glamour, and there was a tremendous idealism and the following of the people carried away by this vision of being far better than they were, and being part of the master race. It was a great illusion and the emotions attached to it made it a glamour at the same time. And yet, it was avidly followed to the point of hysteria almost. Now, one thing to remember, look at the astrology of those who produce the most glamour and of the nations who have produced the most glamour, you will see in the case of Germany at that time, that Pisces was the ruler of the personality of that nation. And of course, the abundant and enthusiasm of the Aries soul. And you can see how the people who get carried away by this exalted feeling of being higher and better than everyone else. Of course, the people of every nation have to improve, and we are all potentially masters, and one day the whole human race will be a master race. But the separatism of it was inexcusable. And we probably are dealing with the fifth ray mind of the German nation, I believe. He doesn’t say this, but when you see how the Germans think, the fifth ray is very prominent there. |
Tôi đã đề cập điều này trước đây, nhưng trong Thế chiến thứ hai, nước Đức tượng trưng cho ảo cảm, và đã có một chủ nghĩa lý tưởng mãnh liệt cùng sự đi theo của quần chúng, bị cuốn đi bởi linh ảnh rằng họ cao hơn rất nhiều so với thực chất của mình, và là một phần của giống dân thượng đẳng. Đó là một ảo tưởng lớn, và những cảm xúc gắn liền với nó đồng thời biến nó thành một ảo cảm. Tuy vậy, nó lại được đi theo một cách cuồng nhiệt gần như đến mức cuồng loạn. Một điều cần nhớ là hãy nhìn vào chiêm tinh của những người tạo ra nhiều ảo cảm nhất, và của các quốc gia đã tạo ra nhiều ảo cảm nhất; trong trường hợp nước Đức thời ấy, các bạn sẽ thấy Song Ngư là chủ tinh của phàm ngã quốc gia đó. Và dĩ nhiên, có sự dồi dào cùng nhiệt tình của linh hồn Bạch Dương. Các bạn có thể thấy cách con người bị cuốn đi bởi cảm giác được tôn vinh rằng mình cao hơn và tốt hơn mọi người khác. Dĩ nhiên, người dân của mọi quốc gia đều phải cải thiện, và tất cả chúng ta đều có tiềm năng trở thành chân sư; một ngày kia toàn thể nhân loại sẽ là một giống dân chân sư. Nhưng tính chia rẽ trong điều đó là không thể biện minh. Và tôi tin rằng có lẽ chúng ta đang đề cập đến thể trí cung năm của quốc gia Đức. Ngài không nói điều này, nhưng khi các bạn thấy cách người Đức suy nghĩ, cung năm rất nổi bật ở đó. |
|
Let us illustrate my point from two angles, both of which are entirely in the realm of discipleship, or encountered upon the Path of Probation. |
Chúng ta hãy minh họa luận điểm của tôi từ hai góc độ, cả hai đều hoàn toàn thuộc phạm vi địa vị đệ tử, hoặc được gặp trên Con Đường Dự Bị. |
|
And that’s what we should be interested in. Because, you know, supposedly that is where we stand. |
Và đó là điều chúng ta nên quan tâm, bởi lẽ có lẽ đó là nơi chúng ta đang đứng. |
|
We will call them the “illusion of power” and the “glamour of authority.” This form of words will show you that one is to be encountered upon the astral plane and the other upon the mental. [2e] |
Chúng ta sẽ gọi chúng là “ảo tưởng về quyền lực” và “ảo cảm về thẩm quyền.” Cách diễn đạt này sẽ cho các bạn thấy rằng một điều được gặp trên cõi cảm dục và điều kia trên cõi trí. [2e] |
|
Now, the glamour of authority is even now sweeping through humanity, and we have the rising again of the Nazi movement. And we have many, many unthinking people who are looking for their Fuhrer, for their leader, and they want to give their responsibility for leading their own life over to a great leader. |
Ảo cảm về thẩm quyền ngay cả lúc này đang quét qua nhân loại, và chúng ta có sự trỗi dậy trở lại của phong trào Quốc xã. Có rất nhiều người không suy nghĩ đang tìm kiếm lãnh tụ của họ, người lãnh đạo của họ, và họ muốn trao trách nhiệm dẫn dắt đời mình cho một nhà lãnh đạo vĩ đại. |
|
The Glamour of Authority is a mass glamour in most cases. |
Ảo Cảm về Thẩm Quyền trong hầu hết các trường hợp là một ảo cảm quần chúng. |
|
And demagogues can prey upon it so easily. |
Và những kẻ mị dân có thể lợi dụng nó quá dễ dàng. |
|
It has its roots in mass psychology and is one of the indications that humanity is at the nursery stage as yet, wherein men are safeguarded from themselves by the imposition of some rule, |
Nó có gốc rễ trong tâm lý quần chúng và là một trong những dấu hiệu cho thấy nhân loại cho đến nay vẫn còn ở giai đoạn ấu thơ, trong đó con người được bảo vệ khỏi chính mình bằng việc áp đặt một quy luật nào đó, |
|
You’re thinking here of the 10 Commandments, Thou shalt not, shalt not, and so forth. |
Ở đây các bạn đang nghĩ đến Mười Điều Răn: ngươi chớ làm điều này, chớ làm điều kia, vân vân. |
|
The imposition of some rule, some set of laws, some authoritative dictum, emanating from state control, from the rule of an oligarchy, or from the dictatorship of some individual. [2f] |
Việc áp đặt một quy luật nào đó, một bộ luật nào đó, một sắc lệnh có thẩm quyền nào đó, xuất lộ từ sự kiểm soát của nhà nước, từ sự cai trị của một tập đoàn đầu sỏ, hoặc từ nền độc tài của một cá nhân nào đó. [2f] |
|
I’m sure, you see the danger, as you assess the kinds of leaders which are emerging at this time, not just in the United States, maybe that’s one of the worst examples, but in Turkey and the Philippines, in Hungary, and there are a number of these extremely authoritative individuals, power individuals, and there’s the willingness of the masses to give over their God given right to think and determine for themselves and simply follow. This is a part of the last ditch fight of materialism, which DK predicted would be coming along. And I have a feeling, I don’t know, but I think so that the next seven years will be very important in determining whether humanity will succumb to irrational factors or whether it will take up its responsibility to think more and more within the light. And so hence our responsibility as disciples is going to be very heavy. And I hope we’re ready for it. |
Tôi chắc các bạn thấy mối nguy khi đánh giá các loại lãnh đạo đang xuất hiện vào lúc này, không chỉ ở Hoa Kỳ, có lẽ đó là một trong những ví dụ tệ nhất, mà còn ở Thổ Nhĩ Kỳ, Philippines, Hungary; có một số cá nhân cực kỳ độc đoán, những cá nhân quyền lực, và có sự sẵn lòng của quần chúng trao đi quyền thiêng liêng mà Thượng đế ban cho họ để tự suy nghĩ và tự quyết định, rồi chỉ đơn giản đi theo. Đây là một phần của cuộc chiến tuyệt vọng cuối cùng của chủ nghĩa vật chất, điều mà Chân sư DK đã tiên đoán sẽ đến. Tôi có cảm giác rằng bảy năm tới sẽ rất quan trọng trong việc xác định liệu nhân loại sẽ khuất phục trước các yếu tố phi lý trí, hay sẽ nhận lấy trách nhiệm suy nghĩ ngày càng nhiều hơn trong ánh sáng. Vì vậy, trách nhiệm của chúng ta với tư cách đệ tử sẽ rất nặng nề. Và tôi hy vọng chúng ta đã sẵn sàng cho điều đó. |
|
Anyway, this glamour of authority, you can see, I mean, Italy was swept by Duchess, the leader, the German, Fuhrer, Germany was swept by it, |
Các bạn có thể thấy ảo cảm về thẩm quyền này; Ý đã bị cuốn đi bởi vị lãnh tụ của mình, Đức đã bị cuốn đi bởi lãnh tụ của mình, |
|
It reduces mankind, as far as one can judge, to set forms and standardises men’s activities, regimenting their lives [Page 46] and work. [2g] |
Nó hạ thấp nhân loại, trong chừng mực người ta có thể xét đoán, xuống những hình thức cố định và tiêu chuẩn hóa các hoạt động của con người, quân sự hóa đời sống [Page 46] và công việc của họ. [2g] |
|
Now, the one thing that DK really wanted to avoid and look at, Uncle Joe Stalin, it was the same thing there. What does he call it? No, the word is escaping me. I’m sorry. It has to do with standardizing everybody… And for some reason this word is escaping me. Maybe somebody has that word, Joe or Mike, just about had it. Anyway, it means the standardizing… I always use this word. But the idea is to make everybody the same, and it’s ridiculous that I can’t think of it. But anyway, maybe it will come back to me. He says that, when people are regimented and they are all forced to be the same without the expression of their true nature? What’s that called? Well, anyway, someone will think of it, and then we can put this as it belongs. But the uniformity is part of it, of course. But it’s a very powerful word, and I’m sure I’ll kick myself when I realize what it is. But it’s just almost came again. |
Một điều mà Chân sư DK thật sự muốn tránh; hãy nhìn Stalin, ở đó cũng là điều tương tự. Ngài gọi nó là gì? Từ ấy đang vuột khỏi trí tôi. Nó liên quan đến việc tiêu chuẩn hóa mọi người. Ý tưởng là làm cho mọi người đều giống nhau, và thật lố bịch là tôi không thể nghĩ ra từ ấy. Có lẽ nó sẽ trở lại với tôi. Ngài nói rằng khi con người bị quân sự hóa và tất cả bị buộc phải giống nhau mà không có sự biểu hiện bản chất chân thật của họ, thì điều đó gọi là gì? Dù sao, chắc ai đó sẽ nghĩ ra, rồi chúng ta có thể đặt nó vào đúng chỗ. Nhưng tính đồng dạng dĩ nhiên là một phần của điều đó. Đó là một từ rất mạnh, và tôi chắc tôi sẽ tự trách mình khi nhận ra nó là gì. |
|
It is imposed and ordered through catering to the fear complex, rampant in humanity at this time; |
Nó được áp đặt và ra lệnh bằng cách chiều theo phức cảm sợ hãi đang lan tràn trong nhân loại vào lúc này; |
|
Now, just got to say we’ve had an announcement recently coming out of the United States where the leading individual says if you impeach me, the stock market will crash, and you will all become very poor. Talk about catering to the fear complex. Of this, people can be ruled by their fears, and all demagogues know this to be the case. |
Gần đây chúng ta có một tuyên bố phát ra từ Hoa Kỳ, trong đó cá nhân lãnh đạo nói rằng nếu các bạn luận tội tôi, thị trường chứng khoán sẽ sụp đổ, và tất cả các bạn sẽ trở nên rất nghèo. Đó là chiều theo phức cảm sợ hãi. Con người có thể bị cai trị bởi nỗi sợ của họ, và mọi kẻ mị dân đều biết điều này là như vậy. |
|
It is imposed and ordered through catering to the fear complex, rampant in humanity at this time; and this fear is one of the most fruitful sources of glamour which we have. [2h] |
Nó được áp đặt và ra lệnh bằng cách chiều theo phức cảm sợ hãi đang lan tràn trong nhân loại vào lúc này; và nỗi sợ này là một trong những nguồn sinh sôi nhiều ảo cảm nhất mà chúng ta có. [2h] |
|
We have self pity, we have suspicion, we have criticism, and we have in general fear. So, let’s put those down as sources. |
Chúng ta có sự tự thương hại, sự nghi ngờ, sự chỉ trích, và nói chung là nỗi sợ. Hãy ghi những điều đó xuống như các nguồn. |
|
[Sources—self-pity, criticism, suspicion, FEAR |
[Các nguồn—tự thương hại, chỉ trích, nghi ngờ, SỢ HÃI |
|
We might perhaps and with reason regard it as the seed of all glamour upon our planet. |
Có lẽ chúng ta có thể, và có lý do, xem nó như hạt giống của mọi ảo cảm trên hành tinh chúng ta. |
|
Well, that’s a bold and powerful statement. That’s built into matter, that type of fear that recoil from the light, that recoil from a more expansive point of view, |
Đó là một phát biểu táo bạo và mạnh mẽ. Điều đó được xây vào vật chất, loại sợ hãi ấy co rút trước ánh sáng, co rút trước một quan điểm rộng mở hơn, |
|
Fear has been the incentive to those conditions which have brought about the glamour of the astral plane, though not the illusions of the mental levels of consciousness. [2i] |
Sợ hãi đã là động cơ thúc đẩy những điều kiện tạo ra ảo cảm của cõi cảm dục, tuy không phải là các ảo tưởng của những cấp độ tâm thức trí tuệ. [2i] |
|
I would say, fear for glamour, and separateness for illusion. Now, we can’t just encapsulated exactly that way, but it gives a hint. |
Có thể nói, sợ hãi đối với ảo cảm, và tính chia rẽ đối với ảo tưởng. Chúng ta không thể đóng khung chính xác như vậy, nhưng điều đó cho một gợi ý. |
|
When the glamour of authority transfers itself into the spiritual consciousness of man, we have such a state of affairs as the period of the Inquisition in its worst forms, of Church authority, with the emphasis upon organisation, government and penalties, or the unquestioned rule of some teacher. [2j] |
Khi ảo cảm về thẩm quyền chuyển chính nó vào tâm thức tinh thần của con người, chúng ta có một tình trạng như thời kỳ Tòa Án Dị Giáo trong những hình thức tồi tệ nhất của nó, của thẩm quyền Giáo hội, với sự nhấn mạnh vào tổ chức, chính quyền và hình phạt, hoặc sự cai trị không bị chất vấn của một huấn sư nào đó. [2j] |
|
Now, we’ve all experienced this authoritative come sort of approach, and we witnessed people rebelled against it, and we’ve witnessed people acquiesce. [This word (the word that MDR is trying to remember), I think it begins with an S, and is almost formulating there. And to tell you the truth, I’ve never forgotten that in my life, except at this very moment 😊. So I’m really hoping to be saved by on of you about. He says, it’s not that we’re fighting any particular nation, we’re fighting this kind of standardization, where all are being made exactly the same, and therefore the will of God cannot get through. I don’t know what this block is in my mind at the moment, but there it is. Okay]. |
Tất cả chúng ta đều đã trải nghiệm kiểu tiếp cận đầy thẩm quyền này, và chúng ta đã chứng kiến người ta nổi loạn chống lại nó, cũng như chứng kiến người ta thuận phục. [Từ này, từ mà MDR đang cố nhớ, tôi nghĩ bắt đầu bằng chữ S, và gần như đang hình thành ở đó. Thành thật mà nói, trong đời tôi chưa bao giờ quên nó, ngoại trừ đúng lúc này. Tôi thật sự hy vọng một trong các bạn sẽ cứu tôi. Ngài nói rằng không phải chúng ta đang chống lại bất kỳ quốc gia cụ thể nào, mà chúng ta đang chống lại loại tiêu chuẩn hóa này, nơi mọi người bị làm cho y hệt nhau, và vì vậy Ý Chí của Thượng Đế không thể xuyên qua. Tôi không biết khối chặn này trong trí tôi lúc này là gì, nhưng nó là như vậy.] |
|
So, I’ve witnessed some amazing things in relationships with people, obviously carried over from a previous incarnation. I’ve witnessed in New Zealand, it was not that New Zealand is necessarily the place, you can be anywhere, a couple of people who are obviously related in a previous life, and one always took the superior position in terms of spiritual knowledge, and was always putting down the other person. And you probably have have seen this assumed spiritual authority, this power complex, and the person more or less acquiesced, because that was the way their relationship had been built. Well, the young people of today, and even the young people of the time that DK was writing a lot of this stuff, do not acquiesce in the same way. I was just reading who are the three types of people that we have to deal with? We have the reactionaries that are looking to the security of the past, we have a few intellectual mystics, we’re probably increasingly members of the New Group of World Servers, and are looking for a much deeper type of consciousness. And then we have the mass of people, somewhere in between, some closer to the intellectual mystics, some closer to those who are just looking backwards and want to restore the good old days. So, where do we stand? Obviously, we hope to be part of that group of intellectual mystics, blending under Venus the mind and the heart. |
Tôi đã chứng kiến một số điều đáng kinh ngạc trong các mối quan hệ giữa con người, rõ ràng được mang qua từ một kiếp trước. Tôi đã chứng kiến ở New Zealand, không phải vì New Zealand nhất thiết là nơi ấy, các bạn có thể ở bất cứ đâu, một vài người rõ ràng có liên hệ với nhau trong một đời trước, và một người luôn giữ vị trí cao hơn về tri thức tinh thần, luôn hạ thấp người kia. Có lẽ các bạn đã thấy thẩm quyền tinh thần tự nhận này, phức cảm quyền lực này, và người kia ít nhiều thuận phục, bởi vì đó là cách mối quan hệ của họ đã được xây dựng. Những người trẻ ngày nay, và ngay cả những người trẻ vào thời Chân sư DK viết nhiều điều này, không thuận phục theo cùng một cách. Tôi vừa đọc về ba loại người mà chúng ta phải đề cập đến. Chúng ta có những người phản động tìm kiếm sự an toàn của quá khứ; chúng ta có một số ít nhà thần bí trí thức, có lẽ ngày càng là thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, và đang tìm kiếm một loại tâm thức sâu sắc hơn nhiều. Rồi chúng ta có khối quần chúng ở đâu đó giữa hai nhóm này, một số gần với các nhà thần bí trí thức hơn, một số gần với những người chỉ nhìn về phía sau và muốn khôi phục những ngày xưa tốt đẹp. Vậy chúng ta đứng ở đâu? Hiển nhiên, chúng ta hy vọng là một phần của nhóm các nhà thần bí trí thức ấy, dưới Sao Kim hòa trộn thể trí và trái tim. |
|
In its highest forms we have the recognition of the right of the solar Angel, of the soul or ego, to rule. [3a] |
Trong những hình thức cao nhất của nó, chúng ta có sự nhận biết quyền của Thái dương Thiên Thần, của linh hồn hay chân ngã, được cai quản. [3a] |
|
But that, of course, is based upon real knowledge of what this Solar Angel is. I’m sure, all of us would acquiesce if we felt a current of energy from what we deemed to be the the Solar Angel, we would acquiesce and say at least it is right to try to cooperate even if it becomes difficult. So, between a human being in a false Hierarchy, taking authority, and the true Hierarchy of angels and of graduate human beings, there’s a huge gulf. One has a built in authority based on merit, and the other has simply assumed power and is controlling others. |
Nhưng dĩ nhiên, điều đó dựa trên tri thức chân thật về Thái dương Thiên Thần này là gì. Tôi chắc rằng tất cả chúng ta sẽ thuận phục nếu cảm thấy một dòng năng lượng từ điều mà chúng ta xem là Thái dương Thiên Thần; chúng ta sẽ thuận phục và nói rằng ít nhất việc cố gắng hợp tác là đúng, ngay cả khi điều đó trở nên khó khăn. Vì vậy, giữa một con người trong một Thánh đoàn giả mạo nắm thẩm quyền, và Thánh đoàn chân thật của các thiên thần cùng những con người đã tốt nghiệp, có một vực sâu rất lớn. Một bên có thẩm quyền nội tại dựa trên công đức, còn bên kia chỉ đơn giản tự nhận quyền lực và kiểm soát người khác. |
|
Between these two extremes, which express the infancy of the race and the freedom which comes when mankind achieves its majority |
Giữa hai cực đoan này, vốn biểu lộ thời thơ ấu của nhân loại và sự tự do đến khi nhân loại đạt đến tuổi trưởng thành của mình |
|
its majority mean three fifths, its soul rulership. The real majority of initiations is the third initiation, and humanity is not there yet, but the majority, you sometimes say what it’s like 21 years old, you can vote, you can do all these things. And 35 is looked at as the point of maturity. |
Tuổi trưởng thành của nó nghĩa là ba phần năm, sự cai quản của linh hồn. Tuổi trưởng thành thật sự của các cuộc điểm đạo là lần điểm đạo thứ ba, và nhân loại chưa ở đó, nhưng về tuổi trưởng thành, đôi khi các bạn nói như khi hai mươi mốt tuổi, các bạn có thể bỏ phiếu, có thể làm tất cả những điều này. Và ba mươi lăm được xem là điểm chín muồi. |
|
Between these two extremes, which express the infancy of the race and the freedom which comes when mankind achieves its majority and the freedom of the soul, lie all the many types and kinds of intermediate reactions. [3b] |
Giữa hai cực đoan này, vốn biểu lộ thời thơ ấu của nhân loại và sự tự do đến khi nhân loại đạt đến tuổi trưởng thành của mình cùng sự tự do của linh hồn, có tất cả nhiều loại và dạng phản ứng trung gian. [3b] |
|
Now, where do we stand? Hopefully, increasingly, students of our nature we are recognizing the Solar Angel, acquiescing to the solar Angel, giving in to the soul of love which is our truer nature, whatever the ray may be, |
Chúng ta đứng ở đâu? Hy vọng rằng, ngày càng là đạo sinh về bản chất của mình, chúng ta đang nhận ra Thái dương Thiên Thần, thuận phục Thái dương Thiên Thần, nhường mình cho linh hồn bác ái vốn là bản chất chân thật hơn của chúng ta, bất kể cung nào, |
|
In illustration of our point, and thus emphasising the glamour aspect as it affects the disciple and the problem which he faces, what do we find? |
Để minh họa luận điểm của chúng ta, và do đó nhấn mạnh phương diện ảo cảm khi nó ảnh hưởng đến đệ tử và vấn đề mà y đối diện, chúng ta thấy gì? |
|
And this is about us, hopefully we are disciples of some degree, a disciple is one who will, DK has written endlessly about this, but is really developing a mental focus, and can now control the astral body from the mind which is illumined to a degree, and with a degree of consistency, not just now and then, and how he feels like doing, |
Điều này nói về chúng ta, hy vọng chúng ta là đệ tử ở một mức độ nào đó. Một đệ tử là người đang thật sự phát triển một tập trung trí tuệ, và hiện nay có thể kiểm soát thể cảm dục từ thể trí đã được soi sáng ở một mức độ nào đó, và với một mức độ nhất quán nào đó, chứ không chỉ thỉnh thoảng, tùy theo y có cảm thấy muốn làm hay không, |
|
The disciple has freed himself somewhat from the imposed control of an orthodox teaching and from the rule of a teacher. [3c] |
Đệ tử đã phần nào giải thoát mình khỏi sự kiểm soát áp đặt của một giáo huấn chính thống và khỏi sự cai trị của một huấn sư. [3c] |
|
Now, DK is very careful not to assume that kind of authority that says, Do what I say, do what I do, all that kind of thing. He doesn’t do that. He presents the case and lets us decide. But what do we find here? If you are familiar with the labors of Hercules, you will find Bucyrus, the false teacher controlling every aspect of the behavior and thought even of the disciple, and there’s a lot of Bucyrus teachers out there. They get that feeling of satisfaction when you acquiesce to what they say, whether what they say is valuable or not. It’s them, it’s their personality, and you have acquiesced. So, reread that stuff about Bucyrus in the labors of Hercules. It’s very interesting. Eventually, Hercules chains his teacher to the altar, and departs for wider understanding and knowledge. |
Chân sư DK rất cẩn trọng không tự nhận loại thẩm quyền nói rằng: Hãy làm điều tôi nói, hãy làm điều tôi làm, tất cả những thứ như vậy. Ngài không làm thế. Ngài trình bày trường hợp và để chúng ta quyết định. Nhưng chúng ta thấy gì ở đây? Nếu các bạn quen thuộc với các kỳ công của Hercules, các bạn sẽ thấy Bucyrus, vị huấn sư giả, kiểm soát mọi phương diện của hành vi và thậm chí tư tưởng của đệ tử; và ngoài kia có rất nhiều huấn sư Bucyrus. Họ có cảm giác thỏa mãn khi các bạn thuận phục điều họ nói, dù điều họ nói có giá trị hay không. Đó là họ, là phàm ngã của họ, và các bạn đã thuận phục. Vì vậy, hãy đọc lại phần về Bucyrus trong các kỳ công của Hercules. Điều đó rất thú vị. Cuối cùng, Hercules xiềng huấn sư của mình vào bàn thờ, rồi rời đi để tìm sự thấu hiểu và tri thức rộng lớn hơn. |
|
So, we have somewhat, have we not, freed ourselves from the control of this teaching, orthodox teaching, and from the rule, notice the word is rule, Do as I say, of the teacher, |
Chúng ta đã phần nào, phải không, giải thoát mình khỏi sự kiểm soát của giáo huấn này, giáo huấn chính thống này, và khỏi sự cai trị, hãy chú ý từ này là cai trị, hãy làm như tôi nói, của huấn sư, |
|
He stands (as far as he can tell) free from such control. |
Y đứng, trong chừng mực y có thể nhận biết, tự do khỏi sự kiểm soát như thế. |
|
A lot of people out of Blavatsky or DK or some teacher, they still have that tendency to submit themselves simply because the teacher said so, and not thinking about it. |
Nhiều người khi rời khỏi Blavatsky, Chân sư DK hay một huấn sư nào đó, vẫn còn khuynh hướng tự quy phục chỉ vì huấn sư đã nói như vậy, mà không suy nghĩ về điều đó. |
|
Knowing however his essential weakness and the lure of the personality, he is on guard against himself, |
Tuy nhiên, biết rõ sự yếu đuối thiết yếu của mình và sức quyến rũ của phàm ngã, y cảnh giác với chính mình, |
|
The inner mentor is always active to advise when he is trespassing into an area which may be dangerous. I’m sure we all have that experience inwardly when we are warned if we are getting near the boundary. |
Vị cố vấn bên trong luôn hoạt động để khuyên nhủ khi y đang xâm phạm vào một lĩnh vực có thể nguy hiểm. Tôi chắc tất cả chúng ta đều có kinh nghiệm nội tâm ấy, khi chúng ta được cảnh báo nếu đang đến gần ranh giới. |
|
he is on guard against himself, and against the ancient rules of control and learns steadily to stand on his own feet, to come to his own decisions, to distinguish truth for himself. [3d] |
y cảnh giác với chính mình, và với những quy luật kiểm soát xưa cũ, và đều đặn học cách đứng trên đôi chân của mình, đi đến các quyết định của chính mình, tự mình phân biệt chân lý. [3d] |
|
Okay, well, this has to do with the independence of the growing disciple. And yet not the individualism which says, Look, I’ll go my own way regardless of what the group does. We’re not talking about that. We’re talking about a blend of self reliance and group sensitivity at the same time. |
Điều này liên quan đến sự độc lập của đệ tử đang trưởng thành. Tuy nhiên, không phải chủ nghĩa cá nhân nói rằng: Hãy xem, tôi sẽ đi con đường riêng của mình bất kể nhóm làm gì. Chúng ta không nói về điều đó. Chúng ta đang nói về sự hòa trộn giữa tự lực và sự nhạy cảm với nhóm cùng một lúc. |
|
He learns to choose his way. But, like all persons who have not taken some of the higher initiations, |
Y học cách chọn con đường của mình. Nhưng, giống như tất cả những người chưa trải qua một số cuộc điểm đạo cao hơn, |
|
meaning the third and onward, |
nghĩa là lần thứ ba trở đi, |
|
he can (in due time) become enamoured of his freedom, |
y có thể, đến đúng lúc, say mê sự tự do của mình, |
|
Now, this is so interesting. There was a disciple, I don’t know what was… I know her name, but I’m trying to remember… Was it DAO, or something like that. This was a seventh ray disciple. She was an artist, she had a first ray rebellious personality and a seventh ray soul in DK’s group. The seventh ray souls, the third ray souls, the strictly sixth ray souls, they didn’t do so well. First ray and second ray souls did much better in most occult groups formed right now of first and second ray types on the soul level. But this person fell victim to the glamour of the independent soul. |
Điều này rất thú vị. Có một đệ tử, tôi không biết là gì, tôi biết tên bà, nhưng đang cố nhớ. Có phải là DAO, hay gì đó tương tự. Đây là một đệ tử cung bảy. Bà là một nghệ sĩ, có phàm ngã phản nghịch cung một và linh hồn cung bảy trong nhóm của Chân sư DK. Các linh hồn cung bảy, các linh hồn cung ba, các linh hồn thuần cung sáu, họ đã không tiến triển tốt lắm. Các linh hồn cung một và cung hai đã làm tốt hơn nhiều trong hầu hết các nhóm huyền bí hiện nay, được hình thành bởi các kiểu cung một và cung hai ở cấp độ linh hồn. Nhưng người này đã trở thành nạn nhân của ảo cảm về linh hồn độc lập. |
|
DAO, Helen Freeman, 8/31/1886, USA, Detachment, Analysis, Organization of Time & Service. |
DAO, Helen Freeman, 31/8/1886, Hoa Kỳ, Tách rời, Phân tích, Tổ chức Thời gian và Phụng sự. |
|
5. Certain other students regarded “occult obedience” as an infringement of their freewill, as did D.A.O. Quite a number of you simply suffered from inertia, and though pleased and excited over the material received from me, in the group or personal instructions, were too lazy to avail yourselves to the full of that which was given, and consistently failed to comply with my requests. |
5. Một số đạo sinh khác xem “sự vâng phục huyền bí” như một sự xâm phạm ý chí tự do của họ, cũng như D.A.O. Khá nhiều người trong các bạn chỉ đơn giản chịu sự trì trệ; và dù hài lòng cũng như phấn khích trước tài liệu nhận được từ tôi, trong các huấn thị nhóm hoặc cá nhân, các bạn quá lười biếng để tận dụng trọn vẹn điều đã được trao, và liên tục không tuân theo các yêu cầu của tôi. |
|
NOTE: This disciple decided for a while to travel alone upon the Way as far as affiliation with the Tibetan’s group of disciples was concerned. On the inner side, the group remains intact with all its members affiliated, actively or inactively. |
GHI CHÚ: Đệ tử này đã quyết định trong một thời gian đi một mình trên Đường Đạo, xét về sự liên kết với nhóm đệ tử của Chân sư Tây Tạng. Ở mặt bên trong, nhóm vẫn nguyên vẹn với tất cả thành viên liên kết, dù hoạt động hay không hoạt động. |
|
Now, there really is no such thing, DK pointed out, and she reached a certain point where she just didn’t want to listen to the instructions which were given for the group way of proceeding, and basically quit the group or was advised that it was best for her not to continue. I can’t quite remember, but I think she just didn’t go on. |
Thật ra không có điều như vậy, Chân sư DK đã chỉ ra. Bà đạt đến một điểm nào đó, nơi bà không còn muốn lắng nghe các huấn thị được đưa ra cho phương cách tiến hành của nhóm, và về cơ bản đã rời nhóm hoặc được khuyên rằng tốt nhất bà không nên tiếp tục. Tôi không nhớ chính xác, nhưng tôi nghĩ bà đã không tiếp tục. |
|
He learns to choose his way. But, like all persons who have not taken some of the higher initiations, |
Y học cách chọn con đường của mình. Nhưng, giống như tất cả những người chưa trải qua một số cuộc điểm đạo cao hơn, |
|
identificatory, if I can use such a big word, initiations. |
đồng hóa, nếu tôi có thể dùng một từ lớn như vậy, các cuộc điểm đạo. |
|
he can (in due time) become enamoured of his freedom, and automatically then swing into the glamour of his ideal of freedom,—an ideal which he has created. |
y có thể, đến đúng lúc, say mê sự tự do của mình, và rồi tự động rơi vào ảo cảm về lý tưởng tự do của mình,—một lý tưởng mà y đã tạo ra. |
|
In other words, nobody’s going to tell me anything, I decide everything for myself. And I’m an independent soul, as if there could ever be an independent soul. There may be individualistic, independent personalities, but the soul is automatically group conscious, |
Nói cách khác, không ai được nói với tôi bất cứ điều gì; tôi tự quyết định mọi thứ. Và tôi là một linh hồn độc lập, như thể từng có thể có một linh hồn độc lập. Có thể có các phàm ngã cá nhân chủ nghĩa, độc lập, nhưng linh hồn tự động có tâm thức nhóm, |
|
He becomes the prisoner of freedom. [3e] |
Y trở thành tù nhân của tự do. [3e] |
|
Isn’t that interesting? And we see this working out. And oftentimes, I must say, among first ray personalities, and maybe some first ray types in general, this appears. |
Điều đó chẳng thú vị sao? Và chúng ta thấy điều này đang diễn ra. Tôi phải nói rằng điều này thường xuất hiện nơi các phàm ngã cung một, và có lẽ nơi một số kiểu cung một nói chung. |
|
He rejects all rule except [Page 47] that which he calls the “rule of his own soul,” forgetting that his contact with his soul is still intermittent. |
Y bác bỏ mọi quy luật ngoại trừ [Page 47] điều mà y gọi là “quy luật của linh hồn mình,” quên rằng sự tiếp xúc của y với linh hồn vẫn còn gián đoạn. |
|
And so he’s still very personal in what he’s how he’s reacting. |
Vì vậy, y vẫn còn rất cá nhân trong cách y phản ứng. |
|
He demands the right to stand alone. [3f] |
Y đòi quyền được đứng một mình. [3f] |
|
You can recognize here first great glamour, can’t you. |
Các bạn có thể nhận ra ở đây một ảo cảm lớn của cung một, phải không. |
|
He revels in his new found freedom. He forgets that, having given up the authority of a teaching and of a teacher, he has to learn to accept the authority of the soul and of the group of souls with which he is affiliated through his karma, his ray type, his choice, and the inevitability of the effects of the at-one-ment. [3g] |
Y hân hoan trong sự tự do mới tìm thấy của mình. Y quên rằng, khi đã từ bỏ thẩm quyền của một giáo huấn và của một huấn sư, y phải học cách chấp nhận thẩm quyền của linh hồn và của nhóm các linh hồn mà y liên kết qua nghiệp quả của mình, kiểu cung của mình, sự chọn lựa của mình, và tính tất yếu của các hiệu quả của sự hợp nhất. [3g] |
|
In other words, from one trap he falls into another. And whenever there is this attitude, that I always stand alone, and that’s more important than my affiliation with my group, brothers and sisters, we are in the realm of glamour and certainly, of illusion. Well, this has to be studied, isn’t it. And sometimes it goes along, in very bad cases, with narcissism, thinking you’re the only one who can save the particular group that you’re associated with. I remember that after I sometimes think I had some kind of German incarnation here. But I remember that when everything was crashing down upon Germany at the end of the war, and everything was destruction, and the people were in famine and being destroyed, and so forth, Hitler said of the German people, they were not worthy of me. He said, they were not worthy of me. His megalomania had become so extreme that he wrote off his own nation, because they were not ready for such a great leader as he was. |
Nói cách khác, từ một cái bẫy y rơi vào một cái bẫy khác. Và bất cứ khi nào có thái độ rằng tôi luôn đứng một mình, và điều đó quan trọng hơn sự liên kết của tôi với nhóm của tôi, các huynh đệ và tỷ muội của tôi, thì chúng ta đang ở trong phạm vi của ảo cảm, và chắc chắn cả của ảo tưởng. Điều này cần được nghiên cứu. Đôi khi trong những trường hợp rất xấu, nó đi kèm với chủ nghĩa ái kỷ, nghĩ rằng các bạn là người duy nhất có thể cứu nhóm cụ thể mà các bạn liên kết. Tôi nhớ rằng, sau này đôi khi tôi nghĩ mình đã có một loại kiếp sống Đức nào đó ở đây. Nhưng tôi nhớ rằng khi mọi thứ đang sụp đổ trên nước Đức vào cuối chiến tranh, mọi thứ đều là hủy hoại, người dân đói kém và bị tiêu diệt, Hitler nói về dân tộc Đức rằng họ không xứng đáng với tôi. Ông nói: họ không xứng đáng với tôi. Chứng cuồng vĩ của ông đã trở nên cực đoan đến mức ông gạt bỏ chính quốc gia của mình, bởi vì họ không sẵn sàng cho một nhà lãnh đạo vĩ đại như ông. |
|
Having relinquished the guidance of another person upon the Path, and having his eyes partially opened, he now seeks to tread that Path to the goal, forgetting however that he treads the Path in unison with others, and that there are certain “Rules of the Road” which he must master, and which he must master in unison with others. [3h] |
Sau khi từ bỏ sự hướng dẫn của một người khác trên Đường Đạo, và đôi mắt đã phần nào mở ra, giờ đây y tìm cách bước đi trên Đường Đạo ấy đến mục tiêu, tuy nhiên quên rằng y bước trên Đường Đạo trong sự đồng hành với những người khác, và có một số “Các Quy Luật của Đường Đạo” mà y phải tinh thông, và y phải tinh thông chúng trong sự đồng hành với những người khác. [3h] |
|
We’re getting close now. So, he knows he travels not alone. In the rules of the road, “he knows he travels not alone” is constantly repeated, and which he must master in unison with others. |
Chúng ta đang đến gần rồi. Y biết mình không đi một mình. Trong các quy luật của Đường Đạo, “y biết mình không đi một mình” được lặp lại liên tục, và y phải tinh thông điều ấy trong sự đồng hành với những người khác. |
|
He has exchanged the individual law for the group law, but does not yet know that group law as it should be known. [3i] |
Y đã đổi luật cá nhân lấy luật nhóm, nhưng vẫn chưa biết luật nhóm như nó phải được biết. [3i] |
|
He marches on as best he can alone, glorying in the freedom from authority which he has succeeded in achieving. He promises himself that he will brook no authority or guidance. [3j] |
Y tiến bước một mình hết sức có thể, hãnh diện trong sự tự do khỏi thẩm quyền mà y đã thành công đạt được. Y tự hứa rằng sẽ không dung chịu bất kỳ thẩm quyền hay sự hướng dẫn nào. [3j] |
|
Gosh, it seems like one pitfall after another awaits us. Let’s see where these rules of the road are. I don’t know. No, it’s too far, we can’t get to them right now. But here they are the Six Rules of the Path and Rules of the Road, but we’re too far along or maybe not far enough along We cannot do that right right now. |
Dường như hết cạm bẫy này đến cạm bẫy khác đang chờ chúng ta. Hãy xem các quy luật của Đường Đạo ở đâu. Không, quá xa, chúng ta không thể đến đó ngay lúc này. Nhưng đây là Sáu Quy Luật của Đường Đạo và Các Quy Luật của Đường Đạo, song chúng ta đã đi quá xa hoặc có lẽ chưa đủ xa. Chúng ta không thể làm điều đó ngay bây giờ. |
|
So, he will brooke no authority or guidance. I’ve seen this over and over again, when you look at the glamour is induced by the personalities. And look, another thing too, you think all of our glamors are induced by our personality ray, but that’s not the case, the personality can grab on to the quality of the soul and use that soul quality for its own personal purposes, meaning that even the soul ray can be distorted, and that glamour is not simply the result of the misuse of the personality ray. |
Y sẽ không dung chịu bất kỳ thẩm quyền hay sự hướng dẫn nào. Tôi đã thấy điều này lặp đi lặp lại, khi các bạn nhìn vào ảo cảm do các phàm ngã gây ra. Và còn một điều nữa: các bạn nghĩ rằng tất cả ảo cảm của chúng ta đều do cung phàm ngã gây ra, nhưng không phải vậy; phàm ngã có thể nắm lấy phẩm tính của linh hồn và dùng phẩm tính linh hồn ấy cho các mục đích cá nhân của nó, nghĩa là ngay cả cung linh hồn cũng có thể bị bóp méo, và ảo cảm không chỉ đơn giản là kết quả của việc lạm dụng cung phàm ngã. |
|
Those of us who are considering him and looking on at him from the clearer heights of attainment see him gradually becoming obscured by wisps of fog and by a glamour which is gradually growing up around him as he becomes a “prisoner of the fog of freedom” and revels in what he deems the fact of his independence. |
Những người trong chúng ta đang xem xét y và quan sát y từ các đỉnh cao thành tựu sáng rõ hơn, thấy y dần dần bị che mờ bởi những làn sương mỏng và bởi một ảo cảm đang dần lớn lên quanh y khi y trở thành “tù nhân của màn sương tự do” và hân hoan trong điều y cho là sự thật về tính độc lập của mình. |
|
Just think of what DK is seeing that, and all these other masters, as people struggle their way into the light and fall into one trap after another. |
Hãy nghĩ xem Chân sư DK đang thấy điều đó, và tất cả các Chân sư khác, khi con người vật lộn đi vào ánh sáng và rơi vào hết cái bẫy này đến cái bẫy khác. |
|
he becomes a “prisoner of the fog of freedom” and revels in what he deems the fact of his independence. [4a] |
y trở thành “tù nhân của màn sương tự do” và hân hoan trong điều y cho là sự thật về tính độc lập của mình. [4a] |
|
When his sight has cleared, |
Khi thị lực của y đã sáng tỏ, |
|
Remember there was one very glamoured individual. He was a third ray soul in DK’s group, and He says, Well, you’re in a dark room, and there’s a little window, and it’s all fogged up, and it’s all dirty, clean your window, clean your window. And then DK on the next instruction would say, yes, you’ve cleaned your window somewhat, and you see outside a little better. And then the next instruction, he’d say, your window has fogged up again, and you can’t see through it. 😊 |
Hãy nhớ có một cá nhân rất bị ảo cảm. Ông là một linh hồn cung ba trong nhóm của Chân sư DK, và Ngài nói: Ông đang ở trong một căn phòng tối, có một cửa sổ nhỏ, và nó hoàn toàn bị phủ sương, đầy bụi bẩn; hãy lau cửa sổ của ông, lau cửa sổ của ông. Rồi trong huấn thị kế tiếp, Chân sư DK nói: vâng, ông đã lau cửa sổ của mình phần nào, và ông nhìn ra ngoài tốt hơn một chút. Rồi trong huấn thị kế tiếp, Ngài lại nói: cửa sổ của ông đã bị phủ sương trở lại, và ông không thể nhìn xuyên qua nó. |
|
When his sight has cleared, and when his mental aspect |
Khi thị lực của y đã sáng tỏ, và khi phương diện trí tuệ của y |
|
that fifth ray thing |
điều cung năm ấy |
|
is more developed and unfolded, he will know that the Law of the Group must, and will, impose itself upon him, |
phát triển và khai mở hơn, y sẽ biết rằng Định luật của Nhóm phải, và sẽ, tự áp đặt lên y, |
|
Now when you read the rules of the soul, they all have their basis in group life in Esoteric Psychology II, you will recognize that |
Khi các bạn đọc các quy luật của linh hồn, tất cả đều có nền tảng trong đời sống nhóm trong Tâm Lý Học Nội Môn II, các bạn sẽ nhận ra điều đó, |
|
When his sight has cleared, and when his mental aspect is more developed and unfolded, he will know that the Law of the Group must, and will, impose itself upon him, and that the rule of the lower nature has only to be exchanged for the rule of the soul. This is group rule and works under the law of the group. [4b] |
Khi thị lực của y đã sáng tỏ, và khi phương diện trí tuệ của y phát triển và khai mở hơn, y sẽ biết rằng Định luật của Nhóm phải, và sẽ, tự áp đặt lên y, và sự cai trị của bản chất thấp chỉ cần được đổi lấy sự cai trị của linh hồn. Đây là sự cai trị nhóm và hoạt động dưới định luật của nhóm. [4b] |
|
Now, how simple, but have we done it? Have we ended the ancient authority of the threefold personality? Have we exchanged the rule of the lower nature for the rule of the soul? And do we discern those moments when in fact, we have achieved that exchange? |
Điều này thật đơn giản, nhưng chúng ta đã làm được chưa? Chúng ta đã chấm dứt thẩm quyền xưa cũ của phàm ngã tam phân chưa? Chúng ta đã đổi sự cai trị của bản chất thấp lấy sự cai trị của linh hồn chưa? Và chúng ta có phân biện được những khoảnh khắc khi thật sự chúng ta đã đạt được sự đổi thay ấy không? |
|
This is a group rule and works under the law of the group. He has struggled out of the mass of seekers of the Road on to the Road itself. [4c] |
Đây là sự cai trị nhóm và hoạt động dưới định luật của nhóm. Y đã vùng thoát khỏi khối đông những người tìm kiếm Đường Đạo để bước lên chính Đường Đạo. [4c] |
|
Those who are looking for the road, the path, you know, the real path, which really begins, I suppose, at the first initiation |
Những người đang tìm kiếm con đường, Đường Đạo, con đường chân thật, có lẽ thật sự bắt đầu ở lần điểm đạo thứ nhất, |
|
and onto the road itself |
và bước lên chính Đường Đạo |
|
He is walking the road, but how is he behaving? That’s the question. |
Y đang bước đi trên Đường Đạo, nhưng y đang hành xử như thế nào? Đó là câu hỏi. |
|
He is, therefore, ahead of the masses but he is not alone, |
Do đó, y đi trước quần chúng nhưng y không đơn độc, |
|
even if he thinks that he is. He will discover many others who are travelling the same way with [Page 48] him, and their numbers will steadily increase as he progresses. The rule of interplay, of travel, and of group recognition and work and service will impose themselves upon him until he finds that he is a member of the New Group of World Servers, working under the conditions which are the rules governing their activities. |
ngay cả khi y nghĩ rằng mình đơn độc. Y sẽ khám phá ra nhiều người khác đang đi cùng con đường với [Page 48] y, và số lượng của họ sẽ đều đặn gia tăng khi y tiến bộ. Quy luật về tương tác, về hành trình, về sự nhận biết nhóm, cùng công việc và phụng sự nhóm, sẽ tự áp đặt lên y cho đến khi y thấy rằng mình là một thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, làm việc dưới các điều kiện vốn là các quy luật chi phối hoạt động của họ. |
|
He’s kind of preparing us for this constant mantram that he gives. He knows he travels not alone. The soul is group conscious. The second subplane whereon our causal body should be found has the siddhi or psychic power called response to group vibration. |
Ngài đang chuẩn bị cho chúng ta mantram thường xuyên mà Ngài đưa ra. Y biết mình không đi một mình. Linh hồn có tâm thức nhóm. Cõi phụ thứ hai, nơi thể nguyên nhân của chúng ta nên được tìm thấy, có siddhi hay năng lực thông linh gọi là đáp ứng với rung động nhóm. |
|
So, he’s not alone, and he’s on the road. |
Vì vậy, y không đơn độc, và y đang ở trên Đường Đạo. |
|
He is, therefore, ahead of the masses but he is not alone, even if he thinks that he is. He will discover many others who are travelling the same way with [Page 48] him, and their numbers will steadily increase as he progresses. [4d] |
Do đó, y đi trước quần chúng nhưng y không đơn độc, ngay cả khi y nghĩ rằng mình đơn độc. Y sẽ khám phá ra nhiều người khác đang đi cùng con đường với [Page 48] y, và số lượng của họ sẽ đều đặn gia tăng khi y tiến bộ. [4d] |
|
There’s a book by the German author and thinker and mystic and psychologist Herman Hesse, and he wrote all about the mystery schools in a book called Magister Ludi, which is all about the leader of a mystery school. But, what was I going to say? Yeah, the book is called The journey to the East, and it’s all about traveling towards the light of the sun and being joined by evermore of humanity, who is going in the same direction, and some of the very famous people are there. It’s a journey to the light. It is a very good goosebumps when I think about it, but I read it 50 years ago, it’s a very inspiring, very inspiring book. |
Có một cuốn sách của tác giả, nhà tư tưởng, nhà thần bí và nhà tâm lý học người Đức Herman Hesse. Ông viết về các trường huyền môn trong một cuốn sách gọi là Magister Ludi, nói về người lãnh đạo của một trường huyền môn. Cuốn sách tôi muốn nói là Hành Trình Về Phương Đông, nói về việc đi về phía ánh sáng của mặt trời và được ngày càng nhiều người trong nhân loại cùng đi theo hướng ấy, trong đó có một số người rất nổi tiếng. Đó là một hành trình đến ánh sáng. Khi nghĩ về nó tôi vẫn nổi da gà, dù tôi đã đọc cách đây năm mươi năm; đó là một cuốn sách rất truyền cảm hứng. |
|
So, he’s ahead of the masses, but not alone, he will discover many are traveling the same way. The rule of interplay of travel, and of group recognition and work and service would impose themselves upon him until he finds that he is a member of the new group of world servers working under the conditions, which are the rules governing their activities. [4e] |
Y đi trước quần chúng, nhưng không đơn độc; y sẽ khám phá ra nhiều người đang đi cùng con đường. Quy luật về tương tác, về hành trình, về sự nhận biết nhóm, cùng công việc và phụng sự nhóm, sẽ tự áp đặt lên y cho đến khi y thấy rằng mình là một thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, làm việc dưới các điều kiện vốn là các quy luật chi phối hoạt động của họ. [4e] |
Questions and Answers*
|
Now, I’m going to stop there right now because it’s given us a very beautiful goal, to be a member of the New Group of World Servers is not just “Oh, well, I’m helping people, so I’m a member”. Well, not every man and woman of goodwill is necessarily a member of the New Group of World Servers. As a matter of fact, I may have said this before, but look, it’s composed mostly of those who have achieved the second initiation and beyond. So, to be a true member of that group, you’re supposed to be on the outlook for those who are in the process of taking the first initiation, or maybe they are showing signs of taking the second initiation, and you are to identify who they are and help them along, that tells you that you have taken the second initiation. So, there is membership in the new group in a casual way, and then there’s that definite membership from those who have truly entered the stream at the second initiation. |
Tôi sẽ dừng ở đây lúc này vì điều này đã cho chúng ta một mục tiêu rất đẹp. Là thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian không chỉ là: “Ồ, tôi đang giúp người khác, vậy tôi là một thành viên.” Không phải mọi người nam và nữ thiện chí nhất thiết đều là thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Thật ra, có lẽ tôi đã nói điều này trước đây, nhưng đoàn ấy phần lớn gồm những người đã đạt lần điểm đạo thứ hai trở lên. Vì vậy, để là một thành viên chân thật của đoàn ấy, các bạn được giả định là phải tìm kiếm những người đang trong tiến trình trải qua lần điểm đạo thứ nhất, hoặc có lẽ họ đang cho thấy dấu hiệu trải qua lần điểm đạo thứ hai, và các bạn phải nhận diện họ là ai và giúp họ tiến bước; điều đó cho các bạn biết rằng các bạn đã trải qua lần điểm đạo thứ hai. Vì vậy, có tư cách thành viên trong Đoàn Người Mới theo một cách lỏng lẻo, và rồi có tư cách thành viên xác định của những người đã thật sự bước vào dòng ở lần điểm đạo thứ hai. |
|
… |
… |
|
Okay, friends, that was a long reading, but really important stuff because it tells us that the fine line we walk the path in balance. We take the Noble Middle Path, right now we’re taking the path of soul, we cannot yet submit ourselves to the entire path of spirit guided by the monad increasingly after the third initiation, nor can we fall back into individualism and self admiration and all kinds of personality focus. Take your eyes off your little personal self, He tells us, we can’t fall back there. We’re treading the Noble Middle Path of non distortion. |
Các bạn, đó là một phần đọc dài, nhưng thật sự quan trọng, vì nó cho chúng ta biết rằng chúng ta đang đi trên lằn ranh tinh tế của Đường Đạo trong thế quân bình. Chúng ta đi Con Đường Trung Đạo Cao Quý; hiện nay chúng ta đang đi con đường của linh hồn, chưa thể hoàn toàn phó mình cho trọn con đường của tinh thần, vốn ngày càng được chân thần hướng dẫn sau lần điểm đạo thứ ba; cũng không thể rơi trở lại vào chủ nghĩa cá nhân, sự tự ngưỡng mộ và mọi hình thức tập trung vào phàm ngã. Ngài bảo chúng ta: hãy rời mắt khỏi cái ngã cá nhân nhỏ bé của mình. Chúng ta không thể rơi trở lại đó. Chúng ta đang bước trên Con Đường Trung Đạo Cao Quý của sự không xuyên tạc. |
|
… |
… |
|
And we will next time we will take up the Rules of the Road. I hope so. And I’m just going to read the first one to give you an idea. And maybe you studied these. When I was once teaching in Denmark, and the wonderful man who was sponsoring all this, he says, “Why are you teaching us all this simple stuff, Rules of the Road, Everybody knows that”. He was an Aries type, and he had a first ray personality and he was quite gruff, wonderful guy. And as I said, “Well, this is really, we’ve got to do this”. And within a month or two or three, everybody had disobeyed just about every Rule of the Road. And so it was completely correct. |
Lần tới chúng ta sẽ bàn đến Các Quy Luật của Đường Đạo. Tôi hy vọng như vậy. Tôi sẽ chỉ đọc quy luật đầu tiên để các bạn có một ý niệm. Có lẽ các bạn đã học những điều này. Có lần tôi giảng dạy tại Đan Mạch, và người đàn ông tuyệt vời bảo trợ toàn bộ việc ấy nói: “Tại sao ông dạy chúng tôi toàn những điều đơn giản này, Các Quy Luật của Đường Đạo? Ai cũng biết điều đó.” Ông ấy thuộc kiểu Bạch Dương, có cung phàm ngã cung một, khá cộc cằn, nhưng là một người tuyệt vời. Tôi nói: “Chúng ta thật sự phải học điều này.” Và trong vòng một, hai hoặc ba tháng, hầu như mọi người đã vi phạm gần như từng Quy Luật của Đường Đạo. Vì thế, điều ấy hoàn toàn đúng. |
|
“The road is trodden in the full light of day, thrown upon the path by those who know and lead. Not can then be hidden. And at each turn, a man must face himself”. |
“Đường Đạo được bước đi trong ánh sáng trọn vẹn của ban ngày, được những Đấng hiểu biết và dẫn dắt soi chiếu trên Đường. Bấy giờ không điều gì có thể được che giấu. Và ở mỗi khúc quanh, con người phải đối diện với chính mình.” |
|
They’re wonderful. They’re just wonderful. And if we could live according to them, we would eliminate so much glamour, the very last thing that is said in them after all the rules are gone through, he knows he travels, not alone. |
Những quy luật ấy thật tuyệt vời. Thật sự tuyệt vời. Nếu chúng ta có thể sống theo chúng, chúng ta sẽ loại bỏ được rất nhiều ảo cảm. Điều cuối cùng được nói trong đó, sau khi tất cả các quy luật đã được trình bày, là: y biết mình không đi một mình. |
|
Alright, and then we’ll get on to the illusion of power and all the rest of it. |
Sau đó chúng ta sẽ đi vào ảo tưởng về quyền lực và tất cả những điều còn lại. |
|
So, now it’s your turn. I know I do this differently than Francis. He has a wonderful way of doing it. And I don’t know, I’m it’s just the Aries’ approach. I guess. It’s just different. |
Bây giờ đến lượt các bạn. Tôi biết tôi làm việc này khác với Francis. Ông ấy có một cách làm tuyệt vời. Có lẽ đây chỉ là cách tiếp cận của Bạch Dương. Nó chỉ khác mà thôi. |
|
… |
… |
|
And thank you [for your word] homogenizing. That’s interesting word. It means in a way to make all things the same, when you use it in milk, you break up all of the particles, and you have a much smoother type of liquid to drink. And I all oftentimes use the word homogenous, homogeneous, homogenizing. And what it means to me is to turn the multiple perceptions of distinctness in this world of maya into the perception that everything is the same. I call this by another name, I call it by the name infuseception, it is like perception, but it’s perception of that homogeneous, identical in every place thing that pervades all apparent differences. And that’s why I use the word homogenizing, homogeneous |
Cảm ơn [for your word] “đồng nhất hóa”. Đó là một từ thú vị. Theo một nghĩa nào đó, nó có nghĩa là làm cho mọi sự trở nên như nhau. Khi dùng nó với sữa, người ta phá vỡ tất cả các hạt, và có một loại chất lỏng mịn hơn nhiều để uống. Tôi thường dùng các từ đồng nhất, đồng thể, đồng nhất hóa. Đối với tôi, nó có nghĩa là chuyển nhiều nhận thức về sự dị biệt trong thế giới ảo lực này thành nhận thức rằng mọi sự đều như nhau. Tôi gọi điều này bằng một tên khác: tri giác thấm nhập. Nó giống như nhận thức, nhưng là nhận thức về cái đồng nhất, như nhau ở mọi nơi, thấm nhuần mọi khác biệt bề ngoài. Đó là lý do tôi dùng từ đồng nhất hóa, đồng nhất. |
|
Now, a Master who functions under the rule of Isolated Unity, has isolated in his consciousness the unity which pervades all things. So, he is a master of what I call infuseception, and that doesn’t mean that this Master cannot handle difference and relationship and all kinds of right interaction. But at the same time, he sees everywhere, the homogeneous Beingness, out of which all diversity has emerged. So that’s a state of consciousness that I’m always struggling to achieve in various ways. And if I ever get around to writing my new book, which is about Seeds of the Infinite, I hope to offer some methods of achieving that homogeneous consciousness, a consciousness which reveals unity in all diversity, and which reveals the one within the many. That actually is the many. So that’s my little take on the word. |
Một Chân sư hoạt động theo quy luật Hợp Nhất Cô Lập đã cô lập trong tâm thức của Ngài sự hợp nhất thấm nhuần vạn vật. Vì vậy, Ngài là bậc thầy của điều tôi gọi là tri giác thấm nhập; điều đó không có nghĩa là Chân sư này không thể xử lý sự khác biệt, mối tương quan và mọi hình thức tương tác đúng đắn. Nhưng đồng thời, Ngài thấy ở khắp nơi Tính Bản Thể đồng nhất, từ đó mọi đa dạng đã xuất hiện. Đó là một trạng thái tâm thức mà tôi luôn nỗ lực đạt tới bằng nhiều cách khác nhau. Nếu một ngày nào đó tôi viết được cuốn sách mới của mình, nói về Những Hạt Giống của Vô Hạn, tôi hy vọng sẽ đưa ra một số phương pháp để đạt được tâm thức đồng nhất ấy, một tâm thức mặc khải sự hợp nhất trong mọi đa dạng, và mặc khải Đấng Duy Nhất trong muôn nhiều, vốn thật sự chính là muôn nhiều. Đó là nhận định nhỏ của tôi về từ này. |
|
… |
… |
|
It’s a great word. Know, when this word comes up, maybe I’ve got to write you all or ask Joe and Michael, how we can reach you all, when the word appears, it’s going to be so. I’ve never forgotten that in my life. So, the fact that I’m forgetting it right now means that I have to pay special attention to it when again it surfaces. |
Đó là một từ tuyệt vời. Khi từ này xuất hiện, có lẽ tôi phải viết cho tất cả các bạn, hoặc hỏi Joe và Michael làm sao chúng tôi có thể liên lạc với tất cả các bạn. Khi từ ấy xuất hiện, nó sẽ đúng là như vậy. Tôi chưa bao giờ quên điều đó trong đời. Vì thế, việc tôi đang quên nó ngay lúc này có nghĩa là tôi phải đặc biệt chú ý đến nó khi nó lại nổi lên. |
|
He says this is the sin that Russia committed. It’s not communism, is this intent to standardize everybody in a kind of a gray area? It’s almost there. |
Ngài nói đây là tội lỗi mà Nga đã phạm phải. Đó không phải là chủ nghĩa cộng sản, mà là ý định tiêu chuẩn hóa mọi người trong một vùng xám nào đó. Gần như là như vậy. |
|
Anyway, I’m being tantalized by this, and when it comes up, I swear to myself, I’m not going to forget this thing again. |
Tôi đang bị điều này lôi cuốn, và khi nó xuất hiện, tôi tự thề rằng tôi sẽ không quên điều này lần nữa. |
|
About the ray of the soul at a new incarnation |
Về cung của linh hồn trong một lần lâm phàm mới |
|
It’s all very calculated based upon the perception of need. So, right in the beginning of letters on occult meditation. I don’t know if I can find the exact place but it’s fascinating because he deals exactly with your question. And basically, he says, the soul sounds the notes of the causal body, and according to the fullness or lack of fullness of the note, so particularly the personality ray of the next life is chosen… |
Tất cả đều được tính toán rất kỹ dựa trên nhận thức về nhu cầu. Ngay phần đầu của Các Thư về Tham Thiền Huyền Bí, tôi không biết có thể tìm đúng chỗ hay không, nhưng điều đó rất hấp dẫn vì Ngài đề cập chính xác câu hỏi của bạn. Về căn bản, Ngài nói rằng linh hồn xướng các âm điệu của thể nguyên nhân, và tùy theo mức độ đầy đủ hay thiếu đầy đủ của âm điệu ấy, đặc biệt cung phàm ngã của kiếp sống kế tiếp được chọn… |
|
But anyway, let me explain it. That the causal body has to be filled out. Yeah, and the condition of most of us, because we’re not standing immediately before the fourth initiation, is that it’s not filled out. Now, you’ve got this supervising Solar Angel which is blending with our own monadically projected consciousness. So two types of consciousness, or they’re in the same dynamic, and more and more as we go along, specific needs are determined to fill out the causal body. So, there’s a sounding of a note which occurs before incarnation and tells the Solar Angel, or whatever it is within us that’s building all this, what is the quality needed? What are the rays needed? Now look, it can be the same ray for a number of lives together on the personality or the mind. And look, even the soul ray may be changing in two cases. In the case of HSD, and ISGL, HSD, the soul ray was changing from the sixth ray to the second. So, a soul ray can change one time, maybe even twice, 6-4-2, like that. That is a complication. And the Solar Angel knows this stuff, and it can choose anything. Alice Bailey said, a disciple can have any ray on any vehicle, she basically said that. It’s probably a very rare thing, but look, even a fifth ray physical body was predicted by DK for a certain disciple. And in examples, he even had fifth ray astral bodies. So is it like the smorgasbord? Yeah, you can choose anything, but it’s all based on great forethought and the intelligence of the Solar Angel, in combination with your own vision, because now you have progressed to the point where you are alive and well within the causal body before incarnation. Does that clarify things a little bit? |
Tôi xin giải thích. Thể nguyên nhân phải được làm đầy. Tình trạng của phần lớn chúng ta, vì chúng ta chưa đứng ngay trước lần điểm đạo thứ tư, là nó chưa được làm đầy. Lúc này, các bạn có Thái dương Thiên Thần chủ quản, đang hòa trộn với tâm thức do chân thần phóng chiếu của chính chúng ta. Như vậy có hai loại tâm thức, hoặc cả hai cùng ở trong một động lực; và càng tiến tới, những nhu cầu cụ thể càng được xác định để làm đầy thể nguyên nhân. Vì thế, có một sự xướng lên của một âm điệu diễn ra trước khi lâm phàm, và âm điệu ấy cho Thái dương Thiên Thần, hoặc bất cứ yếu tố nào trong chúng ta đang xây dựng toàn bộ điều này, biết phẩm tính nào cần thiết, những cung nào cần thiết. Cùng một cung có thể kéo dài qua nhiều kiếp liên tiếp nơi phàm ngã hoặc thể trí. Ngay cả cung linh hồn cũng có thể thay đổi trong hai trường hợp. Trong trường hợp của HSD và ISGL, cung linh hồn của HSD đang chuyển từ cung sáu sang cung hai. Vì vậy, cung linh hồn có thể thay đổi một lần, thậm chí có lẽ hai lần, 6-4-2, như thế. Đó là một điều phức tạp. Thái dương Thiên Thần biết những điều này, và có thể chọn bất cứ điều gì. Alice Bailey nói rằng một đệ tử có thể có bất cứ cung nào trên bất cứ hiện thể nào; về căn bản, bà đã nói như vậy. Có lẽ đó là điều rất hiếm, nhưng ngay cả một thể xác cung năm cũng được Chân sư DK tiên đoán cho một đệ tử nào đó. Và trong các ví dụ, Ngài thậm chí còn có những thể cảm dục cung năm. Vậy có giống như một bàn tiệc tự chọn không? Đúng vậy, các bạn có thể chọn bất cứ điều gì, nhưng tất cả đều dựa trên sự dự liệu sâu xa và trí tuệ của Thái dương Thiên Thần, kết hợp với tầm nhìn của chính các bạn, vì lúc này các bạn đã tiến đến điểm mà trước khi lâm phàm, các bạn sống động và vững ổn bên trong thể nguyên nhân. Điều đó có làm sáng tỏ phần nào không? |
|
You clarify. Thank you. |
Bạn đã làm sáng tỏ. Cảm ơn. |
|
… |
… |
|
The master is working on Soul levels, and the master is really part of yourself, and is not an authoritative sort of dictator. The master is you inside out. It’s a great difference in identification. So, it’s not really a contradiction. The master in the heart is who is what we actually are. |
Chân sư đang hoạt động trên các cấp độ linh hồn, và Chân sư thật sự là một phần của chính bạn, chứ không phải một kiểu nhà độc tài đầy uy quyền. Chân sư là chính bạn từ trong ra ngoài. Đó là một sự khác biệt lớn trong sự đồng hóa. Vì thế, điều này thật sự không phải là một mâu thuẫn. Chân sư trong tim chính là bản thể thật sự của chúng ta. |
|
I remember once happened to me. We all have our spiritual experiences, but I saw a picture of the Hierarchy in my mind, and there they all were, at least the ones that were familiar with, and they were all the same being, I just realized, it’s just all the same being. They were distinct, They were different, but they were the same being, and I was that being too. So, it’s a different kind of approach, identificatory with the master than it is with a dictator or someone who doesn’t know you, someone who’s just laying down their own rules. |
Tôi nhớ có lần điều này đã xảy ra với tôi. Tất cả chúng ta đều có những trải nghiệm tinh thần của mình, nhưng tôi thấy một hình ảnh về Thánh đoàn trong trí tôi; tất cả các Ngài đều ở đó, ít nhất là những vị quen thuộc với tôi, và tất cả các Ngài đều là cùng một bản thể. Tôi chỉ chợt nhận ra: tất cả chỉ là cùng một bản thể. Các Ngài riêng biệt, khác nhau, nhưng là cùng một bản thể, và tôi cũng là bản thể ấy. Vì vậy, cách tiếp cận mang tính đồng hóa với Chân sư rất khác với cách tiếp cận đối với một nhà độc tài, hoặc một người không biết bạn, một người chỉ áp đặt các quy luật riêng của mình. |
|
… |
… |
|
Let’s just say any quality can be used, and there are no such things as contradictory qualities. There is only contradictory use of qualities, some used for the personality, and some may be used fot the soul. We are heading into an era when Leo is a big issue, it’s the most human of all signs, and he says heights of noted service can be found in Leo. So, the question is, do we have this personal use of the Leo energy “I am”? Do we have the soul use “I am that”, or do we have the monadic use “I Am that I Am”? Quality is neutral, but it can be used positively or negatively, according to our personality or soul orientation. So, let’s just say, whatever you bring to the group, whatever anyone brings to the group, if they have the group consciousness burgeoning in their mind, in their awareness, it can be used. And when we conform to what a Master says, we are doing so because we recognize intuitively the correctness of it. We’re not being dictated to. And that’s a big difference. Notice master DK, He’s never dictating. This is an approach of a second ray master. Maybe a first ray master will be different. But we’re working under a second ray master. |
Bất cứ phẩm tính nào cũng có thể được sử dụng, và không có cái gọi là những phẩm tính mâu thuẫn. Chỉ có cách sử dụng phẩm tính mang tính mâu thuẫn: một số được dùng cho phàm ngã, và một số có thể được dùng cho linh hồn. Chúng ta đang bước vào một kỷ nguyên trong đó Sư Tử là một vấn đề lớn; đó là dấu hiệu nhân loại nhất trong tất cả các dấu hiệu, và Ngài nói rằng những đỉnh cao của sự phụng sự nổi bật có thể được tìm thấy trong Sư Tử. Vậy câu hỏi là: chúng ta có cách sử dụng cá nhân năng lượng Sư Tử, “Tôi là”, hay không? Chúng ta có cách sử dụng của linh hồn, “Tôi là Cái Đó”, hay không? Hay chúng ta có cách sử dụng của chân thần, “Ta Là Cái Ta Là”, hay không? Phẩm tính là trung tính, nhưng nó có thể được sử dụng tích cực hoặc tiêu cực, tùy theo định hướng phàm ngã hay linh hồn của chúng ta. Vì thế, bất cứ điều gì các bạn mang đến cho nhóm, bất cứ điều gì một người mang đến cho nhóm, nếu tâm thức tập thể đang nảy nở trong trí tuệ và trong nhận thức của họ, thì điều đó có thể được sử dụng. Khi chúng ta tuân theo điều một Chân sư nói, chúng ta làm như vậy vì bằng trực giác chúng ta nhận ra tính đúng đắn của điều ấy. Chúng ta không bị áp đặt. Đó là một khác biệt lớn. Hãy lưu ý Chân sư DK: Ngài không bao giờ áp đặt. Đây là cách tiếp cận của một Chân sư cung hai. Có lẽ một Chân sư cung một sẽ khác. Nhưng chúng ta đang làm việc dưới một Chân sư cung hai. |