|
Webinar 182, p. 195-197* |
Webinar 182, tr. 195-197* |
||||||||
|
Abstract |
Tóm tắt |
||||||||
|
Dissipation of Glamour Initiative Webinar 182, reading no. 119. The reading was from Glamour: A World Problem, pages 195–197. On a higher turn of the spiral, the intuition is the expression of the threefold Spiritual Triad. Of this higher experience, the active life of the three worlds is a distorted expression but constitutes also the training ground in which capacity to live the initiate life of intuitional perception and to serve the Plan is slowly developed. |
Webinar Sáng Kiến Xua Tan Ảo cảm 182, bài đọc số 119. Bài đọc trích từ Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới, các trang 195–197. Trên một vòng xoắn cao hơn, trực giác là biểu hiện của Tam Nguyên Tinh Thần tam phân. Đối với kinh nghiệm cao siêu này, đời sống hoạt động của ba cõi giới là một biểu hiện méo lệch, nhưng cũng tạo thành trường huấn luyện, nơi năng lực sống đời sống điểm đạo đồ của tri nhận trực giác và phụng sự Thiên Cơ được phát triển dần dần. |
||||||||
|
The rules for the Technique of Light have been adequately laid down in the Raja Yoga system of Patanjali, of which the five stages of Concentration (Leo), Meditation (Virgo), Contemplation (Libra), Illumination (Scorpio), and Inspiration (Sagittarius) are illustrative (Esoteric Astrology, pages 228–229). These, in their turn, must be paralleled by a following of the Five Rules (Nijama) and the Five Commandments (Yama). I would ask you to study these (see Light of the Soul, Book II, pages 184–190). |
Các quy luật cho Kỹ Thuật Ánh sáng đã được trình bày đầy đủ trong hệ thống Raja Yoga của Patanjali, mà năm giai đoạn Tập trung (Sư Tử), Tham thiền (Xử Nữ), Chiêm ngưỡng (Thiên Bình), Soi sáng (Hổ Cáp), và Cảm hứng (Nhân Mã) là những minh họa (Chiêm Tinh Học Nội Môn, các trang 228–229). Đến lượt mình, những điều này phải đi song song với việc tuân theo Năm Quy Luật (Nijama) và Năm Điều Răn (Yama). Tôi đề nghị các bạn nghiên cứu những điều này (xem Ánh Sáng của Linh Hồn, Quyển II, các trang 184–190). |
||||||||
|
These rules and commandments produce the psychic sensitivity of which hierarchical contact, illumination, service and discipline are descriptive. What concerns us is how this light is recognized, appropriated and used in order to dispel glamour. |
Các quy luật và điều răn này tạo ra sự nhạy cảm thông linh, được mô tả qua tiếp xúc với Thánh đoàn, sự soi sáng, phụng sự và kỷ luật. Điều liên quan đến chúng ta là ánh sáng này được nhận biết, chiếm hữu và sử dụng như thế nào để làm tiêu tan ảo cảm. |
||||||||
|
The esotericist knows that in every atom of his body is to be found a point of light; he knows the nature of the soul is light. For eons, he walks by the light within his vehicles (the light within the atomic substance of his body), guided by the light of matter. Later he discovers the light of the soul and still later learns to fuse and blend soul light and material light, so he can shine forth as a Light bearer with the purified light of matter and the light of the soul blended and focused. |
Nhà bí truyền học biết rằng trong mỗi nguyên tử của thể mình đều có một điểm sáng; y biết bản chất của linh hồn là ánh sáng. Qua nhiều đại kiếp, y bước đi nhờ ánh sáng trong các hiện thể của mình, tức ánh sáng trong chất liệu nguyên tử của thể y, được dẫn dắt bởi ánh sáng của vật chất. Về sau, y khám phá ánh sáng của linh hồn, và sau nữa học cách dung hợp và hòa quyện ánh sáng linh hồn với ánh sáng vật chất, để y có thể tỏa sáng như một người mang Ánh sáng, với ánh sáng vật chất đã được thanh luyện và ánh sáng của linh hồn được hòa quyện và tập trung. |
||||||||
|
The meditation itself was on the glamor of suspicion. This meeting was held on August 13, 2021. |
Chính bài tham thiền là về ảo cảm của sự nghi ngờ. Buổi họp này được tổ chức vào ngày 13 tháng 8 năm 2021. |
||||||||
|
Text |
Văn bản |
||||||||
|
On a higher turn of the spiral, the intuition is the expression of the threefold Spiritual Triad, placing it in relation to the higher levels of divine expression; [1a] it is a result of the life of the Monad—an energy which carries revelation of divine purpose. It is in the world of this divine revelation that the disciple learns eventually to work and in which the initiate consciously functions. [1b] Of this higher experience, the active life of the three worlds is a distorted expression but constitutes also the training ground in which capacity to live the initiate life of intuitional perception and to serve the Plan is slowly developed. [1c] These distinctions (in time and space, because all distinctions are part of the great illusion, though necessary and inevitable when the mind controls) must be carefully considered. [1d] Disciples will reach a point in their development where they will know whether they are reacting to the light of the soul or to the intuitional perception of the Triad. [1e] They will then come to the point where they will realise that intuitive perception—as they call it—is only the reaction of the illumined personality to the identification tendency of the Triad. [1f] But these concepts are beyond the grasp of the average man because fusion and identification are by no means the same. [1g] |
Trên một vòng xoắn cao hơn, trực giác là biểu hiện của Tam Nguyên Tinh Thần tam phân, đặt nó trong liên hệ với các cấp độ cao hơn của biểu hiện thiêng liêng; [1a] nó là kết quả của sự sống Chân Thần—một năng lượng mang theo sự mặc khải về Thiên Ý. Chính trong thế giới của sự mặc khải thiêng liêng này mà cuối cùng người đệ tử học cách hoạt động, và trong đó điểm đạo đồ vận hành một cách hữu thức. [1b] Đối với kinh nghiệm cao siêu này, đời sống hoạt động của ba cõi giới là một biểu hiện méo lệch, nhưng cũng tạo thành trường huấn luyện, nơi năng lực sống đời sống điểm đạo đồ của tri nhận trực giác và phụng sự Thiên Cơ được phát triển dần dần. [1c] Những phân biệt này, trong thời gian và không gian, vì mọi phân biệt đều là một phần của đại ảo tưởng, dù cần thiết và không thể tránh khỏi khi thể trí kiểm soát, phải được xem xét cẩn thận. [1d] Các đệ tử sẽ đạt đến một điểm trong sự phát triển của mình, nơi họ biết liệu họ đang đáp ứng với ánh sáng của linh hồn hay với tri nhận trực giác của Tam nguyên tinh thần. [1e] Khi ấy họ sẽ đi đến điểm nhận ra rằng tri nhận trực giác, như họ gọi, chỉ là phản ứng của phàm ngã được soi sáng đối với khuynh hướng đồng hóa của Tam nguyên tinh thần. [1f] Nhưng các khái niệm này vượt ngoài tầm nắm bắt của người bình thường vì sự dung hợp và sự đồng hóa tuyệt nhiên không phải là một. [1g] |
||||||||
|
The rules for the Technique of Light have been adequately laid down in the Raja Yoga system of Patanjali, of which the five stages of Concentration, Meditation, Contemplation, Illumination, and Inspiration are illustrative; these, in their turn, must be parallelled by a following of the Five Rules and the Five Commandments. I would ask you to study these. [1h] They, in their turn, produce the many results in psychic sensitivity, of which hierarchical contact, illumination, service and discipline are descriptive and, finally, the [Page 196] stage of “isolated unity,” which is the paradoxical term used by Patanjali to describe the inner life of the initiate. [1i] |
Các quy luật cho Kỹ Thuật Ánh sáng đã được trình bày đầy đủ trong hệ thống Raja Yoga của Patanjali, mà năm giai đoạn Tập trung, Tham thiền, Chiêm ngưỡng, Soi sáng và Cảm hứng là những minh họa; đến lượt mình, những điều này phải đi song song với việc tuân theo Năm Quy Luật và Năm Điều Răn. Tôi đề nghị các bạn nghiên cứu những điều này. [1h] Đến lượt mình, chúng tạo ra nhiều kết quả trong sự nhạy cảm thông linh, được mô tả qua tiếp xúc với Thánh đoàn, sự soi sáng, phụng sự và kỷ luật, và sau cùng là giai đoạn [Page 196] “Hợp Nhất Cô Lập”, thuật ngữ nghịch lý mà Patanjali dùng để mô tả đời sống bên trong của điểm đạo đồ. [1i] |
||||||||
|
Most of what I have said above is well known to all aspirants whether they study the Raja Yoga teaching of India or the life of practical mysticism as laid down by such mystics as Meister Eckhart and the more mentally polarised modern esotericist. [1j] These latter went beyond the mystical vision by arriving at fusion. I need not enlarge on this. It is the higher stage of at-one-ment to which all true mystics bear witness. [1k] |
Phần lớn những điều Tôi đã nói ở trên đều quen thuộc với mọi người chí nguyện, dù họ nghiên cứu giáo huấn Raja Yoga của Ấn Độ hay đời sống thần bí học thực tiễn như được trình bày bởi các nhà thần bí như Meister Eckhart và nhà bí truyền học hiện đại phân cực trí tuệ hơn. [1j] Những người sau này đã vượt ra ngoài linh ảnh thần bí bằng cách đạt đến sự dung hợp. Tôi không cần mở rộng về điều này. Đó là giai đoạn cao hơn của sự hợp nhất mà mọi nhà thần bí chân chính đều làm chứng. [1k] |
||||||||
|
What does concern us here is how this light is recognised, appropriated and used in order to dispel glamour and render a deeply esoteric service to the world. [1l] It might be said that the inner light is like a searchlight, swinging out into the world of glamour and of human struggle from what one Master has called “the pedestal of the soul and the spiritual tower or beacon.” [2a] These terms convey the idea of altitude and of distance which are so characteristic of the mystical approach. [2b] Power to use this light as a dissipating agent only comes when these symbols are dropped and the server begins to regard himself as the light and as the irradiating centre. [2c] Herein lies the reason for some of the technicalities of the occult science. [2d] The esotericist knows that in every atom of his body is to be found a point of light. He knows that the nature of the soul is light. [2e] For aeons, he walks by means of the light engendered within his vehicles, by the light within the atomic substance of his body and is, therefore, guided by the light of matter. [2f] Later, he discovers the light of the soul. Later still, he learns to fuse and blend soul light and material light. [2g] Then he shines forth as a Light bearer, the purified light of matter and the light of the soul being blended and focussed. [2h] The use of this focussed light as it dispels individual glamour teaches the disciples the early stages of the technique which will dispel [Page 197] group glamour and eventually world glamour, and this is the next point with which we will deal. [2i] |
Điều thật sự liên quan đến chúng ta ở đây là ánh sáng này được nhận biết, chiếm hữu và sử dụng như thế nào để xua tan ảo cảm và thực hiện một sự phụng sự sâu xa mang tính huyền bí cho thế giới. [1l] Có thể nói rằng ánh sáng bên trong giống như một đèn pha, chiếu ra vào thế giới ảo cảm và cuộc đấu tranh của nhân loại từ nơi mà một Chân sư đã gọi là “bệ đỡ của linh hồn và tháp tinh thần hay ngọn hải đăng.” [2a] Những thuật ngữ này truyền đạt ý tưởng về độ cao và khoảng cách, vốn rất đặc trưng cho phương pháp tiếp cận thần bí. [2b] Quyền năng sử dụng ánh sáng này như một tác nhân làm tiêu tan chỉ đến khi các biểu tượng ấy được buông bỏ và người phụng sự bắt đầu xem chính mình là ánh sáng và là trung tâm chiếu tỏa. [2c] Chính trong điều này có lý do cho một số chi tiết kỹ thuật của khoa học huyền bí. [2d] Nhà bí truyền học biết rằng trong mỗi nguyên tử của thể mình đều có một điểm sáng. Y biết rằng bản chất của linh hồn là ánh sáng. [2e] Qua nhiều đại kiếp, y bước đi nhờ ánh sáng được sinh ra trong các hiện thể của mình, nhờ ánh sáng trong chất liệu nguyên tử của thể y, và do đó được dẫn dắt bởi ánh sáng của vật chất. [2f] Về sau, y khám phá ánh sáng của linh hồn. Sau nữa, y học cách dung hợp và hòa quyện ánh sáng linh hồn với ánh sáng vật chất. [2g] Khi ấy y tỏa sáng như một người mang Ánh sáng, với ánh sáng vật chất đã được thanh luyện và ánh sáng của linh hồn được hòa quyện và tập trung. [2h] Việc sử dụng ánh sáng tập trung này, khi nó xua tan ảo cảm cá nhân, dạy cho các đệ tử những giai đoạn đầu của kỹ thuật sẽ xua tan [Page 197] ảo cảm nhóm và cuối cùng là ảo cảm thế giới; và đây là điểm kế tiếp mà chúng ta sẽ bàn đến. [2i] |
||||||||
|
purposes of development. |
các mục đích phát triển. |
||||||||
|
Evening Presentation, 182 Reading 119. Page 195-197, 13Aug21, 5:00pmGMT |
Trình bày buổi tối, 182 Bài đọc 119. Trang 195-197, 13 tháng 8 năm 2021, 5:00 chiều GMT |
||||||||
|
Commentary |
Bình giảng |
||||||||
|
Hi everybody and welcome to our continuing work with glamour. I do want to say that this is Friday the 13th of ill-repute because Jacques De Molay and the Templars suffered an ignominious fate long ago. It was a bad day. |
Xin chào tất cả các bạn, và chào mừng các bạn đến với công việc tiếp tục của chúng ta về ảo cảm. Tôi muốn nói rằng hôm nay là thứ Sáu ngày 13, một ngày mang tiếng xấu, vì Jacques De Molay và các Hiệp sĩ Dòng Đền đã chịu một số phận nhục nhã từ rất lâu trước đây. Đó là một ngày tồi tệ. |
||||||||
|
[Table 1] |
||||||||
|
For the seventh ray, it seems that the church could not abide either the seventh ray or the scientific fifth ray. The church at the time wanted it all their own way. But at the same time, today is the 34th anniversary of the founding of the University of the Seven Rays in Jersey City. I think it was 4:28 in the afternoon. And we came up with a very interesting chart, which we’ve been using for these many years. |
Đối với cung bảy, dường như giáo hội không thể dung thứ cho cung bảy cũng như cung năm khoa học. Giáo hội vào thời ấy muốn mọi sự phải theo cách của riêng mình. Nhưng đồng thời, hôm nay là kỷ niệm lần thứ 34 ngày thành lập Đại học Bảy Cung tại Jersey City. Tôi nghĩ đó là lúc 4 giờ 28 phút chiều. Và chúng tôi đã lập được một lá số rất thú vị, mà chúng tôi đã sử dụng trong suốt nhiều năm qua. |
||||||||
|
It’s a day of, in my mind anyway, some celebration of our ongoing work all these years. Two years earlier than that the Seven Ray Institute was established, founded one morning at five o’clock in the morning with Maryann Castellino, Dot Maverick, Rick Good, and myself. We put in the application and then on September 9, we received word that all of that had been accepted. |
Trong tâm trí tôi, đây là một ngày có phần đáng mừng đối với công việc liên tục của chúng ta qua ngần ấy năm. Hai năm trước đó, Viện Bảy Cung được thiết lập, được thành lập vào một buổi sáng lúc năm giờ, cùng với Maryann Castellino, Dot Maverick, Rick Good và tôi. Chúng tôi nộp đơn, rồi đến ngày 9 tháng 9, chúng tôi nhận được tin rằng tất cả đã được chấp thuận. |
||||||||
|
So we were off and running in this attempt to bring the Ageless Wisdom closer to all of us, and to make it a real fact in our lives. |
Vậy là chúng tôi bắt đầu hành trình trong nỗ lực đưa Minh Triết Ngàn Đời đến gần hơn với tất cả chúng ta, và biến nó thành một sự kiện thật sự trong đời sống của chúng ta. |
||||||||
|
… |
… |
||||||||
|
Welcome all of you to our continuing work with Glamour: A World Problem. As you may know, I’ve been trying to provide you with verbal commentary on the DINA books, and today I was able to complete program number 26. We’re more than halfway through, I hope, the beginning of Discipleship in the New Age Volume One, Section One, and we’ve begun Part number six—fascinating stuff. I have written a little bit, very little, about the nature of what is discussed in that program. I was able to go on for a while. It’s almost three hours long, so it was just a question of when you can listen in on these things. |
Chào mừng tất cả các bạn đến với công việc tiếp tục của chúng ta với Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới. Như các bạn có thể biết, tôi đã cố gắng cung cấp cho các bạn phần bình giảng bằng lời về các sách Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, và hôm nay tôi đã hoàn tất được chương trình số 26. Tôi hy vọng chúng ta đã đi hơn nửa chặng đường của phần đầu Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Tập Một, Phần Một, và chúng ta đã bắt đầu Phần số sáu—những nội dung rất hấp dẫn. Tôi đã viết một ít, rất ít, về bản chất của điều được bàn trong chương trình đó. Tôi đã có thể tiếp tục trong một thời gian. Chương trình dài gần ba giờ, nên vấn đề chỉ là khi nào các bạn có thể lắng nghe những điều này. |
||||||||
|
Today we’re with program 182 in the glamour work, and reading 119. We’re on page 195. I think we’re just about two thirds of the way through the glamour book, and I may have read what’s coming up a little bit here, but I will reread it. We’re talking about intuition and the Spiritual Triad. We’re talking about the light of knowledge, light of intuition, and the means of knowledge: five senses, the psychic sensitivity of the astral plane, and the mental focus or even polarization which brings intellectual perception. He says, |
Hôm nay chúng ta đang ở chương trình 182 trong công việc về ảo cảm, và bài đọc 119. Chúng ta ở trang 195. Tôi nghĩ chúng ta đã đi được khoảng hai phần ba quyển sách về ảo cảm, và có lẽ tôi đã đọc phần sắp tới một chút ở đây, nhưng tôi sẽ đọc lại. Chúng ta đang nói về trực giác và Tam Nguyên Tinh Thần. Chúng ta đang nói về ánh sáng của tri thức, ánh sáng của trực giác, và các phương tiện của tri thức: năm giác quan, sự nhạy cảm thông linh của cõi cảm dục, và tập trung trí tuệ hoặc thậm chí là sự phân cực đem lại tri nhận trí thức. Ngài nói, |
||||||||
|
On a higher turn of the spiral. |
Trên một vòng xoắn cao hơn. |
||||||||
|
These are words to us to a certain extent, we talk about things, but do we experience these states? That’s what we have to ask ourselves. |
Ở một mức độ nào đó, đây là những từ ngữ đối với chúng ta; chúng ta nói về các sự việc, nhưng chúng ta có trải nghiệm những trạng thái này không? Đó là điều chúng ta phải tự hỏi. |
||||||||
|
On a higher return of the spiral, the intuition is the expression of the threefold Spiritual Triad. |
Trên một vòng trở lại cao hơn của đường xoắn ốc, trực giác là biểu hiện của Tam Nguyên Tinh Thần tam phân. |
||||||||
|
May I say it’s also bringing in the light, but a much more universal light, which is expressing also love. It’s an expression of the threefold Spiritual Triad. We can’t really reach it entirely; at least the permanent atoms of those two higher aspects of the Spiritual Triad, Atma and Buddhi, are out of reach for us, and even they are not really within the reach of a Master. They are Chohanic in their elevation. |
Tôi có thể nói rằng nó cũng đưa ánh sáng vào, nhưng là một ánh sáng phổ quát hơn nhiều, đồng thời cũng biểu hiện tình thương. Nó là một biểu hiện của Tam Nguyên Tinh Thần tam phân. Chúng ta thật sự chưa thể đạt đến nó một cách trọn vẹn; ít nhất các nguyên tử trường tồn của hai phương diện cao hơn ấy của Tam Nguyên Tinh Thần, Atma và Bồ đề, vẫn ngoài tầm với của chúng ta, và ngay cả đối với một Chân sư, chúng cũng chưa thật sự nằm trong tầm với. Chúng thuộc cấp độ Chohan trong sự cao cả của chúng. |
||||||||
|
About the intuition here, he says: |
Về trực giác ở đây, Ngài nói: |
||||||||
|
placing it in relation to the higher levels of divine expression; [1a] |
đặt nó trong liên hệ với các cấp độ cao hơn của biểu hiện thiêng liêng; [1a] |
||||||||
|
About which, may I say, we say much but have to learn how to experience. Of the intuition, he says, look, it is the result of the life of the Monad. There is a connection there between plane number six, the astral plane, number four, whereon the first phases of the intuition are found, and plane number two, counting from above, where the first instance of the Monad is found. There are other areas for this Monadic, liberated Monad and its influence. |
Về điều ấy, tôi có thể nói rằng chúng ta nói rất nhiều nhưng phải học cách trải nghiệm. Về trực giác, Ngài nói: hãy nhìn xem, nó là kết quả của sự sống Chân Thần. Có một mối liên hệ ở đó giữa cõi số sáu, cõi cảm dục, cõi số bốn, nơi những giai đoạn đầu của trực giác được tìm thấy, và cõi số hai, tính từ trên xuống, nơi lần xuất hiện đầu tiên của Chân Thần được tìm thấy. Còn có những lĩnh vực khác cho Chân Thần chân thần này, Chân Thần đã được giải thoát, và ảnh hưởng của nó. |
||||||||
|
So, it is a result of the life of the Monad—an energy which carries revelation of divine purpose. |
Vì vậy, nó là kết quả của sự sống Chân Thần—một năng lượng mang theo sự mặc khải về Thiên Ý. |
||||||||
|
The intuition, in some measure, is not just a psychic hunch. It is carrying revelation of divine purpose, because it is connected to the monad. |
Trực giác, trong một mức độ nào đó, không chỉ là một linh cảm thông linh. Nó mang theo sự mặc khải về Thiên Ý, vì nó liên hệ với chân thần. |
||||||||
|
It is in the world of this divine revelation |
Chính trong thế giới của sự mặc khải thiêng liêng này |
||||||||
|
May I add, sometimes it is called the world of the transcendental mind, the transcendental function of Mercury. |
Tôi xin thêm rằng đôi khi nó được gọi là thế giới của trí tuệ siêu việt, chức năng siêu việt của Sao Thủy. |
||||||||
|
It is in the world of this divine revelation that the disciple learns eventually to work and in which the initiate consciously functions. [1b] |
Chính trong thế giới của sự mặc khải thiêng liêng này mà cuối cùng người đệ tử học cách hoạt động, và trong đó điểm đạo đồ vận hành một cách hữu thức. [1b] |
||||||||
|
The members of the hierarchy ever since about 1925 have been relocated, many of them, in terms of their point of tension, and find that their ashrams are within the Spiritual Triad, and not so much as formerly located on the higher mental plane, though there are still expressions of those Ashrams on the higher mental plane. When we are initiates we work on the Triadal levels—and every true disciple is being prepared for initiation if they will only fulfill certain requirements. |
Các thành viên của Thánh đoàn, kể từ khoảng năm 1925, nhiều vị đã được tái định vị xét theo điểm tập trung nhất tâm của Các Ngài, và nhận thấy rằng các ashram của Các Ngài ở trong Tam Nguyên Tinh Thần, chứ không còn nằm nhiều như trước trên Cõi thượng trí, dù vẫn còn những biểu hiện của các ashram ấy trên Cõi thượng trí. Khi chúng ta là điểm đạo đồ, chúng ta hoạt động trên các cấp độ của Tam nguyên tinh thần—và mọi đệ tử chân chính đều đang được chuẩn bị cho điểm đạo, nếu họ chỉ cần hoàn thành một số yêu cầu nhất định. |
||||||||
|
I’ve gone over that information just recently, in today’s Discipleship in the New Age Volume One program. I’m reading every word DK said, every word, and trying oftentimes to read between the lines, because he’s a Master of the English language these days, especially with the help of Alice Bailey, who, in a way, brought him up to date and away from “maketh, breakth, and taketh” that way at the time he had learned English. So, going on. |
Tôi vừa mới ôn lại thông tin đó gần đây, trong chương trình hôm nay về Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Tập Một. Tôi đang đọc từng lời Chân sư DK đã nói, từng lời một, và thường cố gắng đọc giữa các dòng, vì Ngài là một Chân sư của tiếng Anh ngày nay, đặc biệt với sự trợ giúp của Bà Alice Bailey, người, theo một nghĩa nào đó, đã đưa Ngài bắt kịp thời đại và rời xa kiểu ngôn ngữ cổ xưa mà Ngài đã dùng khi học tiếng Anh. Tiếp tục. |
||||||||
|
Of this higher experience, the active life of the three worlds is a distorted expression but constitutes also the training ground in which capacity to live the initiate life of intuitional perception and to serve the Plan is slowly developed. [1c] |
Đối với kinh nghiệm cao siêu này, đời sống hoạt động của ba cõi giới là một biểu hiện méo lệch, nhưng cũng tạo thành trường huấn luyện, nơi năng lực sống đời sống điểm đạo đồ của tri nhận trực giác và phụng sự Thiên Cơ được phát triển dần dần. [1c] |
||||||||
|
So, it’s not for nothing that we find ourselves largely focused in the three lower worlds, and capacities that we need for spiritual esoteric advancement are being built up, however long it does seem to take, and it sometimes seems to take a long time. But there’s an acceleration now of possibility, is there not? Opportunity is with us through Saturn, the ruler of the first decanate of Aquarius, Saturn in relation to the sign Aquarius taken in the normal counterclockwise order—Saturn first, Mercury next, Venus next. It’s all interwoven and thereby in saying that and using the word woven, I related to the third ray. Now, in the studies that I’ve just been looking at DK comments on the fact that disciples are saying, what is all this really necessary? Do I have to know these energies? Do I have to know the soul state of my fellow ashramic member or applicant? And well, you can read it, basically, he says yeah, yes, you do. Yes, you do. [1d] |
Vì vậy, việc chúng ta thấy mình phần lớn tập trung trong ba cõi thấp không phải là vô ích, và những năng lực chúng ta cần cho sự tiến bộ tinh thần huyền bí đang được xây dựng, dù điều ấy dường như mất bao lâu, và đôi khi có vẻ mất rất nhiều thời gian. Nhưng hiện nay có một sự gia tốc của khả năng, phải vậy không? Cơ hội đang ở với chúng ta qua Thổ Tinh, chủ tinh của thập độ thứ nhất của Bảo Bình; Thổ Tinh trong liên hệ với dấu hiệu Bảo Bình, xét theo thứ tự bình thường ngược chiều kim đồng hồ—Thổ Tinh trước, Sao Thủy kế tiếp, Sao Kim kế tiếp. Tất cả đều đan dệt với nhau, và do đó khi nói điều ấy và dùng từ đan dệt, tôi đã liên hệ đến cung ba. Trong các nghiên cứu mà tôi vừa xem qua, Chân sư DK bình luận về việc các đệ tử đang nói: tất cả những điều này thật sự có cần thiết không? Tôi có phải biết các năng lượng này không? Tôi có phải biết trạng thái linh hồn của thành viên ashram đồng môn hay người xin gia nhập không? Và về cơ bản, các bạn có thể đọc thấy rằng Ngài nói: có, đúng vậy, các bạn phải biết. Đúng vậy, các bạn phải biết. [1d] |
||||||||
|
So, Disciples will reach a point in their development where they will know whether they are reacting to the light of the soul or to the intuitional perception of the Triad. [1e] |
Vậy, Các đệ tử sẽ đạt đến một điểm trong sự phát triển của mình, nơi họ biết liệu họ đang đáp ứng với ánh sáng của linh hồn hay với tri nhận trực giác của Tam nguyên tinh thần. [1e] |
||||||||
|
That is the transcendental mind, of Pure Reason. Right now, these may be words to us. Is it the Revealing Light or is it this great sense of universality and love as the beginning part of this book tells us, which the intuition confers? |
Đó là trí tuệ siêu việt, của Lý Trí Thuần Túy. Hiện giờ, những điều này có thể chỉ là từ ngữ đối với chúng ta. Đó là Ánh sáng Mặc khải, hay là ý thức lớn lao về tính phổ quát và tình thương mà phần đầu của quyển sách này nói với chúng ta, điều mà trực giác ban cho? |
||||||||
|
Probably, real intuition in our life in the way DK defines it, is pretty rare actually, but we are pushing at the gates, and during the sixth root race, where Buddhi will be so important, and where Brazil, South America will be so important, the intuition will be developed. |
Có lẽ trực giác thật sự trong đời sống của chúng ta, theo cách Chân sư DK định nghĩa, thực ra khá hiếm; nhưng chúng ta đang thúc vào các cánh cổng, và trong giống dân gốc thứ sáu, nơi Bồ đề sẽ rất quan trọng, và nơi Brazil, Nam Mỹ sẽ rất quan trọng, trực giác sẽ được phát triển. |
||||||||
|
Right now, what is developing for us in the next 2000 years is not so much the fruit of the sixth root race as the fruit of the sixth sub-aspect of the fifth root race, which is the development of the abstract mind. |
Hiện nay, điều đang phát triển cho chúng ta trong 2000 năm tới không hẳn là quả của giống dân gốc thứ sáu, mà là quả của phương diện phụ thứ sáu của giống dân gốc thứ năm, tức sự phát triển của trí trừu tượng. |
||||||||
|
They will then come to the point where they will realise that intuitive perception—as they call it—is only the reaction of the illumined personality to the identification tendency of the Triad. [1f] |
Khi ấy họ sẽ đi đến điểm nhận ra rằng tri nhận trực giác, như họ gọi, chỉ là phản ứng của phàm ngã được soi sáng đối với khuynh hướng đồng hóa của Tam nguyên tinh thần. [1f] |
||||||||
|
Where is it that this identification, of which the Christ for us is the master of all the Masters, is a tendency of the initiatic consciousness as it exists within the Spiritual Triad? |
Sự đồng hóa này, mà đối với chúng ta Đức Christ là bậc Chân sư của mọi Chân sư, là một khuynh hướng của tâm thức điểm đạo khi nó hiện hữu trong Tam Nguyên Tinh Thần, vậy nó ở đâu? |
||||||||
|
I’ve been working at some of these possible techniques which involve the eye and the heart, to help us induce the sense of identification by oscillating between them. I’m not there yet, according to my will, but I’m getting there. It’s very different to the perception of the eye and the perception or infuseception of the heart. |
Tôi đã làm việc với một số kỹ thuật khả hữu liên quan đến con mắt và trái tim, nhằm giúp chúng ta khơi dậy ý thức đồng hóa bằng cách dao động giữa chúng. Theo ý chí của tôi, tôi vẫn chưa đạt tới đó, nhưng tôi đang tiến gần. Nó rất khác với tri nhận của con mắt và tri nhận, hay sự tri nhận thấm nhập, của trái tim. |
||||||||
|
Identification is a tendency of the triad. |
Đồng hóa là một khuynh hướng của Tam nguyên tinh thần. |
||||||||
|
We can begin working on that, even after the second initiation. The second initiation is high. One of the disciples gathered around the Tibetan thought he was passing through the fourth degree, but Djwhal Khul says you might pass through the second, and therefore we rate you highly. That’s the moment when you enter the stream, as he tells us in the Secret of the Golden Flower, translated by Blavatsky, and the ashramic current sweeps you along, in addition to the propulsion that you generate with your own efforts. |
Chúng ta có thể bắt đầu làm việc với điều đó, ngay cả sau lần điểm đạo thứ hai. Lần điểm đạo thứ hai là cao. Một trong các đệ tử tụ họp quanh Chân sư Tây Tạng nghĩ rằng mình đang vượt qua cấp bốn, nhưng Chân sư Djwhal Khul nói rằng ông có thể vượt qua cấp hai, và do đó chúng tôi đánh giá ông cao. Đó là khoảnh khắc khi các bạn đi vào dòng chảy, như Ngài nói với chúng ta trong Bí Mật của Hoa Vàng, do Blavatsky dịch, và dòng ashram cuốn các bạn đi, ngoài lực thúc đẩy mà các bạn tạo ra bằng nỗ lực của chính mình. |
||||||||
|
Identification—there’s a lot of that in our study program Identify as Being, but says the Tibetan— |
Đồng hóa—có rất nhiều điều về nó trong chương trình nghiên cứu của chúng ta, Đồng Hóa như Hữu Thể, nhưng Chân sư Tây Tạng nói— |
||||||||
|
But these concepts are beyond the grasp of the average man because |
Nhưng các khái niệm này vượt ngoài tầm nắm bắt của người bình thường vì |
||||||||
|
And this is important, |
Và điều này quan trọng, |
||||||||
|
fusion and identification are by no means the same. [1g] |
sự dung hợp và sự đồng hóa tuyệt nhiên không phải là một. [1g] |
||||||||
|
With fusion, the many parts still maintain their autonomy within the psyche. They are related by you, the fusion formulas that he goes through—Isolated Unity, Inclusive Reason, Presented Attributes, all founded in Esoteric Psychology, each one of the aspects has its own integrity, however, it may be fused together and made to cohere and harmonized with others. |
Với sự dung hợp, nhiều phần vẫn duy trì tính tự chủ của chúng trong tâm thức. Chúng được các bạn liên kết lại; các công thức dung hợp mà Ngài trình bày—Hợp Nhất Cô Lập, lý trí bao gồm, Các Thuộc Tính được Trình Hiện, tất cả đều đặt nền trong Tâm Lý Học Nội Môn; mỗi phương diện đều có tính toàn vẹn riêng, tuy nhiên, nó có thể được dung hợp lại, khiến cố kết và hài hòa với những phương diện khác. |
||||||||
|
Identification is another matter, and it is a contemplative becoming of that which is perceived. Think of it: identification, a contemplative becoming of that which is perceived. We might say in another way, it is the infusception of that which is usually simply a perception. |
Sự đồng hóa là một vấn đề khác, và đó là sự trở thành, trong chiêm ngưỡng, chính điều được tri nhận. Hãy nghĩ về điều đó: sự đồng hóa, sự trở thành, trong chiêm ngưỡng, chính điều được tri nhận. Nói theo cách khác, đó là sự tri nhận thấm nhập điều vốn thường chỉ đơn giản là một tri nhận. |
||||||||
|
We will develop the ability if we persist. We have to persist, and if one day we catch ourselves not persisting, we will wake up and tell ourselves that we must persist. As they say in the Arcane School, we must “keep on keeping on”. It is not to everyone’s taste to “keep on keeping on”. The usual approach of the aspirants, and even the initial disciple, is a bit more sporadic. |
Chúng ta sẽ phát triển khả năng này nếu chúng ta kiên trì. Chúng ta phải kiên trì, và nếu một ngày nào đó chúng ta thấy mình không kiên trì, chúng ta sẽ tỉnh thức và tự nhủ rằng mình phải kiên trì. Như người ta nói trong Trường Arcane, chúng ta phải “tiếp tục bền bỉ”. Việc “tiếp tục bền bỉ” không hợp khẩu vị của mọi người. Cách tiếp cận thông thường của những người chí nguyện, và ngay cả của đệ tử sơ khởi, có phần rời rạc hơn. |
||||||||
|
But as we read in discipleship, it is the one thing that we must hold in our mind: the objective as the Hierarchy sees it. Now, it’s a bit hard, isn’t it, at our stage to transfer ourselves into hierarchical perception or interception. Through the building—imaginative building—of the antahkarana, that inner organ as it is called, our perception, our consciousness will subtly change. |
Nhưng như chúng ta đọc trong địa vị đệ tử, đó là một điều mà chúng ta phải giữ trong thể trí: mục tiêu như Thánh đoàn nhìn thấy nó. Ở giai đoạn của chúng ta, chuyển mình vào tri nhận hay sự tiếp nhận của Thánh đoàn là điều hơi khó, phải không? Qua việc xây dựng—xây dựng bằng sự tưởng tượng—antahkarana, cơ quan bên trong như nó được gọi, tri nhận của chúng ta, tâm thức của chúng ta sẽ thay đổi một cách tinh tế. |
||||||||
|
These changes which we are looking for are not usually so dramatic. They slowly change. They offer change slowly and in a subtle manner. |
Những thay đổi mà chúng ta tìm kiếm thường không quá ngoạn mục. Chúng thay đổi chậm rãi. Chúng đem lại sự thay đổi chậm rãi và theo một cách tinh tế. |
||||||||
|
DK goes on here to say, and I guess it’s now the Technique of Light particularly, which is what we use in our glamour work, so to speak. He says, |
Chân sư DK tiếp tục nói ở đây, và tôi đoán lúc này chính là Kỹ Thuật Ánh sáng, điều chúng ta dùng trong công việc về ảo cảm của mình, có thể nói như vậy. Ngài nói, |
||||||||
|
The rules for the Technique of Light have been adequately laid down in the Raja Yoga system of Patanjali, |
Các quy luật cho Kỹ Thuật Ánh sáng đã được trình bày đầy đủ trong hệ thống Raja Yoga của Patanjali, |
||||||||
|
There’s a master from 10,000 years ago, maybe. As it is, we know that the name of a Great One is often taken by many of his followers, indicating some kind of lineage, some kind of line of connection. |
Có lẽ đó là một chân sư từ 10.000 năm trước. Như chúng ta biết, tên của một Đấng Cao Cả thường được nhiều môn đồ của Ngài nhận lấy, cho thấy một loại truyền thừa nào đó, một dòng liên hệ nào đó. |
||||||||
|
We work with the Technique of Light, and with the imagination as we pursue a system which still none of us can master, the Raja Yoga system. What about that Agni Yoga system? That Yoga of Synthesis which is waiting for us. We’re just beginners, but the beginner does not become the accomplished disciple without persistent attention. |
Chúng ta làm việc với Kỹ Thuật Ánh sáng, và với Sự tưởng tượng, khi theo đuổi một hệ thống mà vẫn chưa ai trong chúng ta có thể làm chủ, hệ thống Raja Yoga. Còn hệ thống Agni Yoga thì sao? Yoga của Tổng Hợp ấy đang chờ chúng ta. Chúng ta chỉ là những người sơ cơ, nhưng người sơ cơ không trở thành đệ tử thành tựu nếu không có sự chú tâm bền bỉ. |
||||||||
|
We’re talking about the Raja Yoga system of Patanjali. |
Chúng ta đang nói về hệ thống Raja Yoga của Patanjali. |
||||||||
|
of which the five stages of Concentration, Meditation, Contemplation, Illumination, and Inspiration are illustrative; |
mà năm giai đoạn Tập trung, Tham thiền, Chiêm ngưỡng, Soi sáng và Cảm hứng là những minh họa; |
||||||||
|
Concentration Leo, Meditation Virgo, Contemplation Libra, Illumination Scorpio, Inspiration Sagittarius, and Initiation Capricorn, and it even goes on from there. But these five are illustrative. |
Tập trung là Sư Tử, Tham thiền là Xử Nữ, Chiêm ngưỡng là Thiên Bình, Soi sáng là Hổ Cáp, Cảm hứng là Nhân Mã, và Điểm đạo là Ma Kết, và thậm chí còn tiếp tục từ đó. Nhưng năm điều này là những minh họa. |
||||||||
|
these, in their turn, must be parallelled by a following of the Five Rules and the Five Commandments. |
đến lượt mình, những điều này phải đi song song với việc tuân theo Năm Quy Luật và Năm Điều Răn. |
||||||||
|
Those are laid out right at the beginning of the book, and we go back into Light of the Soul and we could find them. There are things we have to do and there are things from which we have to abstain if we don’t want to thwart our esoteric progress and the progress of our groups. |
Những điều đó được trình bày ngay ở phần đầu của sách, và chúng ta có thể quay lại Ánh Sáng của Linh Hồn để tìm chúng. Có những điều chúng ta phải làm, và có những điều chúng ta phải kiêng tránh nếu chúng ta không muốn cản trở tiến bộ huyền bí của mình và tiến bộ của các nhóm mình. |
||||||||
|
I won’t get into them right now, but you can go there and look up the five rules and the five commandments. That’s especially easy to do if you have the Alice Bailey CD ROM, applying it to Light of the Soul. |
Tôi sẽ không đi vào chúng lúc này, nhưng các bạn có thể đến đó và tra cứu năm quy luật cùng năm điều răn. Điều ấy đặc biệt dễ thực hiện nếu các bạn có đĩa CD ROM Alice Bailey, áp dụng nó cho Ánh Sáng của Linh Hồn. |
||||||||
|
DK goes on, |
Chân sư DK tiếp tục, |
||||||||
|
I would ask you to study these. [1h] |
Tôi đề nghị các bạn nghiên cứu những điều này. [1h] |
||||||||
|
Probably many of us have studied them over the years, but have we been successful in applying them in their subtlety? When we’re told to abstain from theft, it doesn’t mean that like a burglar, we’re breaking into someone’s house and taking things. It has to do with mental theft, with psychological theft, with coveting what another person has interiorly. |
Có lẽ nhiều người trong chúng ta đã nghiên cứu chúng qua nhiều năm, nhưng chúng ta đã thành công trong việc áp dụng chúng trong sự tinh tế của chúng chưa? Khi chúng ta được bảo phải kiêng tránh trộm cắp, điều đó không có nghĩa là như một tên trộm, chúng ta đột nhập vào nhà ai đó và lấy đồ. Nó liên quan đến sự trộm cắp trí tuệ, sự trộm cắp tâm lý, sự thèm muốn điều người khác có ở bên trong. |
||||||||
|
I remember Ralph Waldo Emerson in one of his essays, I can’t say which one, but he said that all imitation grasping after what another has is complete foolishness. You’ll never get anything that way. It all has to be worked out from within, and we will work it out. |
Tôi nhớ Ralph Waldo Emerson trong một bài luận của ông, tôi không thể nói là bài nào, nhưng ông nói rằng mọi sự bắt chước, mọi sự vươn chụp điều người khác có, đều là hoàn toàn điên rồ. Các bạn sẽ không bao giờ đạt được gì theo cách đó. Tất cả phải được khai triển từ bên trong, và chúng ta sẽ khai triển nó. |
||||||||
|
I would ask you to study these. They, in their turn, produce the many results in psychic sensitivity, |
Tôi đề nghị các bạn nghiên cứu những điều này. Đến lượt mình, chúng tạo ra nhiều kết quả trong sự nhạy cảm thông linh, |
||||||||
|
When dealing with the word psychic, we have to remember it’s not just astral. The soul is the psyche, after all. When Master Morya constantly speaks of the effectiveness of psychic energy—at least that’s the way it’s translated from the Russian—He’s not talking just about astral energy. He’s talking about soul energy. We have to be quite precise in our use of words and our alertness to their connotations. |
Khi xử lý từ thông linh, chúng ta phải nhớ rằng nó không chỉ là cảm dục. Rốt cuộc, linh hồn là psyche. Khi Chân sư Morya thường xuyên nói về hiệu quả của năng lượng thông linh—ít nhất đó là cách nó được dịch từ tiếng Nga—Ngài không chỉ nói về năng lượng cảm dục. Ngài nói về năng lượng linh hồn. Chúng ta phải rất chính xác trong cách dùng từ và trong sự tỉnh táo trước các hàm ý của chúng. |
||||||||
|
If we really follow the five rules and five commandments, many psychic results, or results in psychic sensitivity will arise, and we recognize these. I’m recognizing right now, from the DINA books, how important is the factor of sensitivity which is not the same as being a thin-skinned, self-centered person. |
Nếu chúng ta thật sự tuân theo năm quy luật và năm điều răn, nhiều kết quả thông linh, hay các kết quả trong sự nhạy cảm thông linh, sẽ phát sinh, và chúng ta nhận ra những điều này. Ngay lúc này, từ các sách Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, tôi đang nhận ra yếu tố nhạy cảm quan trọng đến mức nào, và điều đó không giống với việc là một người da mỏng, tập trung vào bản thân. |
||||||||
|
So, many results in psychic sensitivity of which hierarchical contact, illumination, service and discipline are descriptive, and, finally, the [Page 196] stage of “isolated unity,” |
Vậy, nhiều kết quả trong sự nhạy cảm thông linh, được mô tả qua tiếp xúc với Thánh đoàn, sự soi sáng, phụng sự và kỷ luật, và sau cùng là giai đoạn [Page 196] “Hợp Nhất Cô Lập”, |
||||||||
|
Beginning around the third initiation and definitely established by the fifth. |
Bắt đầu khoảng lần điểm đạo thứ ba và chắc chắn được thiết lập ở lần điểm đạo thứ năm. |
||||||||
|
“isolated unity,” which is the paradoxical term used by Patanjali to describe the inner life of the initiate. [1i] |
“Hợp Nhất Cô Lập”, thuật ngữ nghịch lý mà Patanjali dùng để mô tả đời sống bên trong của điểm đạo đồ. [1i] |
||||||||
|
One could write a whole essay on Isolated Unity. The main idea is that in the midst of the many, we isolate or become aware of the One which is the unity factor. You can almost begin to feel what that would be like. Usually our attention is so distracted by the items of manyness. |
Người ta có thể viết cả một bài luận về Hợp Nhất Cô Lập. Ý chính là giữa muôn vàn sự vật, chúng ta cô lập hoặc trở nên nhận biết Đấng Duy Nhất, vốn là yếu tố hợp nhất. Các bạn gần như có thể bắt đầu cảm thấy điều ấy sẽ như thế nào. Thường thì sự chú ý của chúng ta bị phân tán quá nhiều bởi các mục của tính đa tạp. |
||||||||
|
I was saying today to myself, Ralph Waldo Emerson’s arresting comment about our superficial values. He said things are in the saddle and ride mankind. That is not isolated unity. No matter what we experience of multiplicity, the unity is always perceived. That is the perception of unity; the One subtle is always perceived. |
Hôm nay tôi tự nhủ về nhận xét gây chú ý của Ralph Waldo Emerson đối với các giá trị hời hợt của chúng ta. Ông nói rằng sự vật ngồi trên yên và cưỡi nhân loại. Đó không phải là Hợp Nhất Cô Lập. Dù chúng ta trải nghiệm gì về tính đa phức, sự hợp nhất vẫn luôn được tri nhận. Đó là tri nhận về sự hợp nhất; Đấng Duy Nhất tinh tế luôn luôn được tri nhận. |
||||||||
|
I am interested in this and I am interested in that, and yes, you may be too, but do not violate the Unity. Do not violate the One, and that also takes time. |
Tôi quan tâm đến điều này và tôi quan tâm đến điều kia, và vâng, các bạn cũng có thể như vậy, nhưng đừng vi phạm Sự Hợp Nhất. Đừng vi phạm Đấng Duy Nhất, và điều đó cũng cần thời gian. |
||||||||
|
DK goes on to say, |
Chân sư DK tiếp tục nói, |
||||||||
|
Most of what I have said above is well known to all aspirants whether they study the Raja Yoga teaching of India or the life of practical mysticism as laid down by such mystics as Meister Eckhart and the more mentally polarised modern esotericist. [1j] |
Phần lớn những điều Tôi đã nói ở trên đều quen thuộc với mọi người chí nguyện, dù họ nghiên cứu giáo huấn Raja Yoga của Ấn Độ hay đời sống thần bí học thực tiễn như được trình bày bởi các nhà thần bí như Meister Eckhart và nhà bí truyền học hiện đại phân cực trí tuệ hơn. [1j] |
||||||||
|
Back when I was in 2021, I was a bookmobile chaser. We lived out in the country and the library was quite a number of miles away, and the bookmobile would come pretty near the house. I always went there, and I found the section on mystics, and I read a lot of them—St. John of the Cross, Jan von Reisbrook, Teresa of Avalon, and Meister Eckhart. DK lists him among the more mentally polarized mystics, and he’s saying Meister Eckhart had a very practical outer life. His path was the mental path. I’m not sure I ever understood, but it did whet my appetite. |
Hồi năm 2021, tôi là người săn xe thư viện lưu động. Chúng tôi sống ở vùng nông thôn, thư viện cách khá nhiều dặm, còn xe thư viện lưu động thì đến khá gần nhà. Tôi luôn đến đó, và tôi tìm thấy mục sách về các nhà thần bí; tôi đọc rất nhiều tác giả trong số họ—Thánh Gioan Thánh Giá, Jan von Reisbrook, Thánh Teresa thành Avila, và Meister Eckhart. Chân sư DK liệt kê ông vào hàng các nhà thần bí phân cực trí tuệ hơn, và Ngài nói rằng Meister Eckhart có một đời sống bên ngoài rất thực tiễn. Con đường của ông là con đường trí tuệ. Tôi không chắc mình đã từng thấu hiểu, nhưng điều đó đã khơi dậy lòng ham muốn tìm hiểu của tôi. |
||||||||
|
I remember a funny thing coming to me years later. A relative of mine was talking to me about what I wanted to do in life, and I was young in the body—maybe 17, 18, or 19—and I said I’d like to be a mystic. That was the stage I was going through. She said, “I think that’s the most useless thing I ever heard! What do you expect?” She was a Virgo, and quite a concrete Virgo with that. They’re extremely intelligent. That’s how I thought in those days, and I’m very grateful to Master DK for helping me transform mysticism into occultism or esotericism, and also to my first teacher, Andrew MacGyver, who did the same—maybe on the lower turn of the spiral, but he was the real thing. |
Tôi nhớ một chuyện buồn cười xảy đến với tôi nhiều năm sau. Một người thân của tôi nói chuyện với tôi về điều tôi muốn làm trong đời, và lúc ấy tôi còn trẻ về thể xác—có lẽ 17, 18, hay 19 tuổi—và tôi nói rằng tôi muốn trở thành một nhà thần bí. Đó là giai đoạn tôi đang trải qua. Bà ấy nói: “Tôi nghĩ đó là điều vô dụng nhất mà tôi từng nghe! Anh mong đợi điều gì?” Bà ấy là người Xử Nữ, và lại là một Xử Nữ khá cụ thể. Họ cực kỳ thông minh. Đó là cách tôi suy nghĩ trong những ngày ấy, và tôi rất biết ơn Chân sư DK vì đã giúp tôi chuyển đổi Thần bí học thành huyền bí học hay huyền bí học nội môn, và cũng biết ơn vị huấn sư đầu tiên của tôi, Andrew MacGyver, người cũng đã làm điều tương tự—có lẽ ở vòng thấp hơn của vòng xoắn ốc, nhưng ông là người chân thực. |
||||||||
|
The mystical vision is Neptune, and we have to have it before we can be responsible, feeling, sentient, heart alive mystics. We have to blend both, and you’ve seen the diagrams where Neptune and Uranus are sitting up there above all those Saturnian planets. Both of them are necessary. |
Linh ảnh thần bí là Hải Vương Tinh, và chúng ta phải có nó trước khi có thể trở thành những nhà thần bí có trách nhiệm, biết cảm nhận, có tri giác, và sống động nơi trái tim. Chúng ta phải hòa trộn cả hai, và các bạn đã thấy những sơ đồ trong đó Hải Vương Tinh và Thiên Vương Tinh ở phía trên tất cả những hành tinh mang tính Thổ Tinh kia. Cả hai đều cần thiết. |
||||||||
|
Eckhart apparently is the more mentally polarized esotericist which we should be becoming. Of them, DK says, |
Eckhart dường như là nhà bí truyền học phân cực trí tuệ hơn, là điều chúng ta nên đang trở thành. Về họ, Chân sư DK nói, |
||||||||
|
These latter went beyond the mystical vision by arriving at fusion. |
Những người sau này đã vượt quá linh ảnh thần bí bằng cách đạt đến sự dung hợp. |
||||||||
|
Not just something off there that they’re yearning to have, but they could actually begin to fuse the different aspects of their nature. He deals with it in Esoteric Psychology II for all of us—the Integration formulas, then the advanced Fusion formulas. |
Không chỉ là một điều gì ở xa kia mà họ khao khát có được, mà họ thực sự có thể bắt đầu dung hợp các phương diện khác nhau trong bản chất của mình. Ngài đề cập đến điều này trong Tâm Lý Học Nội Môn II cho tất cả chúng ta—các công thức Tích Hợp, rồi các công thức Dung Hợp cao cấp. |
||||||||
|
I need not enlarge on this. It is the higher stage of at-one-ment to which all true mystics bear witness. [1k] |
Tôi không cần nói rộng thêm về điều này. Đó là giai đoạn cao hơn của sự hiệp nhất mà mọi nhà thần bí chân chính đều làm chứng. [1k] |
||||||||
|
From Alice Bailey’s book From Intellect to Intuition, we get quite a few quotes from an expert mystic Evelyn Underhill. Sometimes I read what she has said and I’m not sure I understand. But she was obviously deeply into the mystical experience. |
Từ sách Từ Trí Tuệ đến Trực Giác của Alice Bailey, chúng ta nhận được khá nhiều trích dẫn từ một chuyên gia thần bí, Evelyn Underhill. Đôi khi tôi đọc điều bà đã nói mà không chắc mình thấu hiểu. Nhưng rõ ràng bà đã đi rất sâu vào kinh nghiệm thần bí. |
||||||||
|
For us who study with Master DK, mysticism lies behind us, and we can recapture it and utilize it, but always in relation to the developing esotericism or spiritual occultism. He goes on to say, |
Đối với chúng ta, những người học với Chân sư DK, Thần bí học nằm phía sau chúng ta; chúng ta có thể nắm bắt lại và sử dụng nó, nhưng luôn trong liên hệ với huyền bí học nội môn hay huyền bí học tinh thần đang phát triển. Ngài tiếp tục nói, |
||||||||
|
What does concern us here is how this light is recognised, appropriated and used in order to dispel glamour and render a deeply esoteric service to the world. [1l] |
Điều liên quan đến chúng ta ở đây là cách ánh sáng này được nhận biết, chiếm hữu và sử dụng nhằm xua tan ảo cảm và thực hiện một sự phụng sự sâu xa về mặt huyền bí cho thế gian. [1l] |
||||||||
|
No wonder those who use these techniques are laying themselves open to attack by the counter force. Deeply esoteric service, nothing superficial here in this Technique of Light. If we could just learn how to wield the beam in a group sense and also in an individual’s sense when we’re working on our own individual glamours—which we’ll be lucky to detect—that would be transformative. |
Không lạ gì những người sử dụng các kỹ thuật này tự mở mình ra trước sự tấn công của mãnh lực đối kháng. Sự phụng sự sâu xa về mặt huyền bí, không có gì hời hợt ở đây trong Kỹ Thuật Ánh sáng này. Nếu chúng ta có thể học cách vận dụng tia sáng theo ý nghĩa nhóm, và cũng theo ý nghĩa cá nhân khi làm việc với các ảo cảm cá nhân của chính mình—những ảo cảm mà nếu phát hiện được thì đã là may mắn—điều đó sẽ có tính chuyển đổi. |
||||||||
|
Maybe you ask someone who lives with you what your glamours might be, and you might get a clearer evaluation than trying to find them yourself. It’s just like, as sometimes I joke, I said I like some person who knows me really well to take the personal identity profile, the PIP test, for me and answer the questions as if they were reviewing me, to see what they say. When I have done that, I’ve always come up as the fanatic. It certainly tells me that in my past, I’ve known a lot of the sixth ray tendency that maybe is still with us. |
Có lẽ các bạn hỏi một người sống cùng mình xem các ảo cảm của mình có thể là gì, và các bạn có thể nhận được một đánh giá rõ ràng hơn là cố tự tìm chúng. Như đôi khi tôi nói đùa, tôi nói rằng tôi muốn một người nào đó biết tôi rất rõ làm bài trắc nghiệm hồ sơ bản sắc cá nhân thay cho tôi và trả lời các câu hỏi như thể họ đang đánh giá tôi, để xem họ nói gì. Khi tôi làm như vậy, tôi luôn hiện ra như một kẻ cuồng tín. Điều đó chắc chắn cho tôi biết rằng trong quá khứ, tôi đã biết rất nhiều khuynh hướng cung sáu, có lẽ vẫn còn ở với chúng ta. |
||||||||
|
There were transfers from the sixth ray to the second or the sixth ray to the third. These are common, expected transferences. Does somebody else really know you better than you know yourself? Not necessarily, but they might point out things that you are only too happy to overlook. |
Đã có những sự chuyển dịch từ cung sáu sang cung hai, hoặc từ cung sáu sang cung ba. Đây là những chuyển dịch phổ biến, có thể dự kiến. Người khác có thật sự biết các bạn rõ hơn các bạn biết chính mình không? Không nhất thiết, nhưng họ có thể chỉ ra những điều mà các bạn quá sẵn lòng bỏ qua. |
||||||||
|
We’ve got a deeply esoteric service to the world. |
Chúng ta có một sự phụng sự sâu xa về mặt huyền bí cho thế gian. |
||||||||
|
It might be said that the inner light is like a searchlight, swinging out into the world of glamour and of human struggle |
Có thể nói rằng ánh sáng bên trong giống như một đèn pha, quét ra vào thế giới ảo cảm và cuộc đấu tranh của nhân loại |
||||||||
|
That tells us how the Fourth Ray Lord is related to the whole glamour issue. |
Điều đó cho chúng ta biết Đấng Chúa Tể Cung bốn liên hệ như thế nào với toàn bộ vấn đề ảo cảm. |
||||||||
|
swinging out into the world of glamour and of human struggle from what one Master has called “the pedestal of the soul and the spiritual tower or beacon.” [2a] |
quét ra vào thế giới ảo cảm và cuộc đấu tranh của nhân loại từ điều mà một Chân sư đã gọi là “bệ của linh hồn và ngọn tháp hay hải đăng tinh thần.” [2a] |
||||||||
|
Interesting how DK has worked the idea of the tower into some advice he has given, at least to one disciple, and maybe more. |
Thật thú vị khi Chân sư DK đã đưa ý tưởng về ngọn tháp vào một số lời khuyên Ngài đã ban, ít nhất cho một đệ tử, và có lẽ còn nhiều hơn. |
||||||||
|
The pedestal of the soul and the spiritual tower or beacon. |
Bệ của linh hồn và ngọn tháp hay hải đăng tinh thần. |
||||||||
|
From that, the beam—the search light—swings out into this habitual world or the world of habitual glamour. |
Từ đó, tia sáng—đèn pha—quét ra vào thế giới quen thuộc này, hay thế giới của ảo cảm theo thói quen. |
||||||||
|
These terms convey the idea of altitude and of distance which are so characteristic of the mystical approach. [2b] |
Những thuật ngữ này truyền đạt ý tưởng về độ cao và khoảng cách, vốn rất đặc trưng cho lối tiếp cận thần bí. [2b] |
||||||||
|
He tells us something very interesting about the head when it comes to mysticism. For the mystic, there is a real strong emphasis right above the head; with the occultist, that emphasis sinks down into the middle of the etheric brain, and there in that spot, which is neither dry nor wet, it’s rule eight of magic, he finds the place whereon his feet are set. |
Ngài cho chúng ta biết một điều rất thú vị về đầu khi nói đến Thần bí học. Đối với nhà thần bí, có một điểm nhấn thật sự mạnh ngay phía trên đầu; với nhà huyền bí học, điểm nhấn ấy chìm xuống giữa bộ não dĩ thái, và tại nơi ấy, không khô cũng không ướt, đó là quy luật tám của huyền thuật, y tìm thấy nơi đặt chân mình. |
||||||||
|
We’re interested in combining our occultism with the mysticism which was the first tendency of the past. |
Chúng ta quan tâm đến việc kết hợp huyền bí học của mình với Thần bí học, vốn là khuynh hướng đầu tiên của quá khứ. |
||||||||
|
altitude and distance which are so characteristic of the mystical approach. Power to use this light as a dissipating agent only comes when these symbols are dropped and the server begins to regard himself as the light [2c] |
độ cao và khoảng cách, vốn rất đặc trưng cho lối tiếp cận thần bí. Quyền năng sử dụng ánh sáng này như một tác nhân làm tiêu tan chỉ đến khi những biểu tượng này được buông bỏ và người phụng sự bắt đầu xem mình là ánh sáng [2c] |
||||||||
|
Pausing here. I am the Light of the world. I am the Love of the world, and we can begin to broaden our identification. About Light, Christ said it, Hermes said it, but what state of self perception is necessary to realize oneself as light? |
Dừng lại ở đây. Tôi là Ánh sáng của thế gian. Tôi là Tình thương của thế gian, và chúng ta có thể bắt đầu mở rộng sự đồng hóa của mình. Về Ánh sáng, Đức Christ đã nói điều đó, Hermes đã nói điều đó, nhưng trạng thái tự nhận thức nào là cần thiết để nhận ra chính mình là ánh sáng? |
||||||||
|
We drop the symbols. They have indicated the way and we begin to regard ourselves as light. |
Chúng ta buông bỏ các biểu tượng. Chúng đã chỉ đường, và chúng ta bắt đầu xem mình là ánh sáng. |
||||||||
|
and as the irradiating centre. |
và là trung tâm chiếu xạ. |
||||||||
|
Within our inner self, we have these capacities we can use. |
Trong bản ngã bên trong của mình, chúng ta có những năng lực này mà mình có thể sử dụng. |
||||||||
|
Herein lies the reason for some of the technicalities of the occult science. [2d] |
Chính trong điều này có lý do cho một số điểm kỹ thuật của khoa học huyền bí. [2d] |
||||||||
|
The esotericist knows |
Nhà bí truyền học biết |
||||||||
|
Think about Cancer and Leo here. Think about dark light and expressed light. |
Hãy nghĩ đến Cự Giải và Sư Tử ở đây. Hãy nghĩ đến ánh sáng tối và ánh sáng biểu lộ. |
||||||||
|
The esotericist knows that in every atom of his body is to be found a point of light. He knows that the nature of the soul is light. [2e] |
Nhà bí truyền học biết rằng trong mỗi nguyên tử của thể y đều có thể tìm thấy một điểm ánh sáng. Y biết rằng bản chất của linh hồn là ánh sáng. [2e] |
||||||||
|
That’s an important one, and it reminds us that the kind of light that comes, for instance, through Leo is called the Light of the soul. |
Đó là một điều quan trọng, và nó nhắc chúng ta rằng loại ánh sáng đến, chẳng hạn, qua Sư Tử được gọi là Ánh sáng của linh hồn. |
||||||||
|
For aeons, he walks by means of the light engendered within his vehicles, |
Trong nhiều thiên niên kỷ, y bước đi nhờ ánh sáng được sinh ra trong các hiện thể của mình, |
||||||||
|
Light is the great guide, just the way faith is. The more occult reading of “Faith is the substance of things hoped for, and the evidence of things not seen” is that “Light is the substance of things hoped for, and the evidence of things not seen”. |
Ánh sáng là vị dẫn đường vĩ đại, cũng như đức tin vậy. Cách đọc huyền bí hơn của câu “Đức tin là chất liệu của những điều được hy vọng, và là bằng chứng của những điều không thấy” là “Ánh sáng là chất liệu của những điều được hy vọng, và là bằng chứng của những điều không thấy”. |
||||||||
|
So, For aeons, he walks by means of the light engendered within his vehicles, by the light within the atomic substance of his body and is, therefore, guided by the light of matter. [2f] |
Trong nhiều thiên niên kỷ, y bước đi nhờ ánh sáng được sinh ra trong các hiện thể của mình, nhờ ánh sáng trong chất liệu nguyên tử của thể y, và do đó, được dẫn dắt bởi ánh sáng của vật chất. [2f] |
||||||||
|
Later, he discovers the light of the soul. Later still, he learns to fuse and blend soul light and material light. [2g] |
Về sau, y khám phá ánh sáng của linh hồn. Muộn hơn nữa, y học cách dung hợp và hòa trộn ánh sáng linh hồn với ánh sáng vật chất. [2g] |
||||||||
|
It’s all a big experiment with light. Humanity is to become a great station of light, and even our Planetary Logos, from the planetary perspective, is to become a great station of light. Right now, for a great percentage of humanity, things are pretty dark, and human beings don’t know it. |
Tất cả là một cuộc thí nghiệm lớn với ánh sáng. Nhân loại phải trở thành một trạm ánh sáng vĩ đại, và ngay cả Hành Tinh Thượng đế của chúng ta, xét từ viễn cảnh hành tinh, cũng phải trở thành một trạm ánh sáng vĩ đại. Ngay lúc này, đối với một tỷ lệ lớn nhân loại, mọi sự khá tối tăm, và con người không biết điều đó. |
||||||||
|
He shines forth as a light bearer. We often use the term glibly—”Oh, yes, I’m a light bearer, I’m a light worker,” etc. But we may not have really arrived at the point where we blend, infuse soul light and material light. Let’s be careful about the claims we make. |
Y tỏa sáng như một người mang ánh sáng. Chúng ta thường dùng thuật ngữ ấy một cách dễ dãi—“Ồ, vâng, tôi là người mang ánh sáng, tôi là người hoạt động với ánh sáng,” v.v. Nhưng có thể chúng ta chưa thật sự đạt đến điểm mà chúng ta hòa trộn, thấm nhuần ánh sáng linh hồn và ánh sáng vật chất. Hãy cẩn trọng về những tuyên bố của mình. |
||||||||
|
Then he shines forth as a Light bearer, the purified light of matter and the light of the soul being blended and focussed. [2h] |
Khi ấy y tỏa sáng như một Người mang Ánh sáng, ánh sáng đã được thanh luyện của vật chất và ánh sáng của linh hồn được hòa trộn và tập trung. [2h] |
||||||||
|
We see therefore how important it is to purify the light of matter, and how the very first initiation sees to that. And in the ancient days of Lemurian, there were attempts to do that, because that was the initiation offered them. |
Do đó, chúng ta thấy việc thanh luyện ánh sáng của vật chất quan trọng đến mức nào, và lần điểm đạo thứ nhất bảo đảm điều đó ra sao. Trong những ngày xưa của Lemuria, đã có những nỗ lực làm điều đó, vì đó là cuộc điểm đạo được trao cho họ. |
||||||||
|
And then we’ve got a blended and focused light, and |
Rồi chúng ta có một ánh sáng được hòa trộn và tập trung, và |
||||||||
|
The use of this focussed light as it dispels |
Việc sử dụng ánh sáng tập trung này khi nó xua tan |
||||||||
|
usually a term related to illusion. |
thường là một thuật ngữ liên quan đến ảo tưởng. |
||||||||
|
The use of this focussed light as it dispels individual glamour teaches the disciples the early stages of the technique which will dispel [Page 197] group glamour |
Việc sử dụng ánh sáng tập trung này khi nó xua tan ảo cảm cá nhân dạy cho các đệ tử những giai đoạn đầu của kỹ thuật sẽ xua tan [Page 197] ảo cảm nhóm |
||||||||
|
Usually the term is dissipate, but he’s not being ultra exact at all times. He is acquainted then with the early stages of the technique which will dispel group glamour. |
Thông thường thuật ngữ là làm tiêu tan, nhưng Ngài không phải lúc nào cũng cực kỳ chính xác. Khi ấy y quen thuộc với những giai đoạn đầu của kỹ thuật sẽ xua tan ảo cảm nhóm. |
||||||||
|
and eventually world glamour, |
và cuối cùng là ảo cảm thế giới, |
||||||||
|
And remember, it is a profoundly esoteric method. |
Và hãy nhớ, đó là một phương pháp sâu xa về mặt huyền bí. |
||||||||
|
and this is the next point with which we will deal. [2i] |
và đây là điểm kế tiếp mà chúng ta sẽ bàn đến. [2i] |
||||||||
|
When it comes to a whole new subject, I’m not going to barge into it. I think we have plenty to absorb right here without starting a new subject, and when I’m doing the Discipleship in the New Age books in the conversational manner, I take up the same attitude if I come to an entirely new section. I don’t worry about how much time it has taken, whether too much or too little. I just stopped there because for purposes of a simulation, it’s probably a better thing to do. |
Khi đến một chủ đề hoàn toàn mới, tôi sẽ không xông vào. Tôi nghĩ chúng ta có nhiều điều để hấp thụ ngay tại đây mà không cần bắt đầu một chủ đề mới, và khi tôi giảng các sách Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới theo lối đàm thoại, tôi cũng giữ cùng thái độ nếu gặp một phần hoàn toàn mới. Tôi không bận tâm việc đã mất bao nhiêu thời gian, quá nhiều hay quá ít. Tôi chỉ dừng ở đó, vì đối với mục đích mô phỏng, có lẽ làm như vậy tốt hơn. |
||||||||
|
Hello, thank you. First, Michael, would like to say congratulations on the 34th anniversary of the founding of the University of the Seven Rays and to express my deep gratitude for the profound work that you have all done, and that I have been lucky enough to be the recipient of. But I think that my question is a practical one, and I think it is related to glamour. What are your thoughts about what one could say to change the mind, or to encourage someone, like my son, who refuses to get the COVID vaccine? And what do you think is at the root of this refusal? |
Xin chào, cảm ơn Thầy. Trước hết, thưa Michael, tôi muốn chúc mừng kỷ niệm 34 năm thành lập Đại học Bảy Cung và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của tôi đối với công việc thâm sâu mà tất cả các Thầy đã thực hiện, và tôi đã đủ may mắn để được tiếp nhận. Nhưng tôi nghĩ câu hỏi của tôi là một câu hỏi thực tiễn, và tôi nghĩ nó liên quan đến ảo cảm. Thầy nghĩ sao về điều người ta có thể nói để thay đổi thể trí, hay để khuyến khích một người, như con trai tôi, người từ chối tiêm vắc-xin COVID? Và Thầy nghĩ điều gì nằm ở gốc rễ của sự từ chối này? |
||||||||
|
It’s a really tough one, especially when we’re dealing with family members. I think fear lies at the root of it all. If such people who are intelligent could be shown the numbers—which, of course, those involved in conspiracy theories deny, but they are pretty well irrefutable—if they start to pile up, if it could be seen that the unvaccinated states, let’s say in the US, are having huge surges, and that the people who come to the hospital, young people now among them increasingly, may get very sick. And the people who are dying in the hospital are 99% not vaccinated. That’s just a common sense approach. The numbers tell us that. |
Đó là một vấn đề thật sự khó, nhất là khi chúng ta đang xử lý với các thành viên trong gia đình. Tôi nghĩ nỗi sợ nằm ở gốc rễ của tất cả. Nếu những người như vậy, vốn thông minh, có thể được cho thấy các con số—dĩ nhiên những người tham gia vào các thuyết âm mưu phủ nhận chúng, nhưng chúng khá khó bác bỏ—nếu các con số ấy bắt đầu chồng chất, nếu có thể thấy rằng các bang chưa tiêm chủng, chẳng hạn ở Hoa Kỳ, đang có những đợt tăng vọt lớn, và những người đến bệnh viện, giờ đây ngày càng có nhiều người trẻ trong số đó, có thể bị bệnh rất nặng. Và những người đang chết trong bệnh viện thì 99% là chưa tiêm chủng. Đó chỉ là một cách tiếp cận theo lương tri. Các con số nói với chúng ta điều đó. |
||||||||
|
I use the image of a friend here who’s begging us not to get her second shot and all that. It’s obviously fear. And I call it whistling past the graveyard at midnight, if you know what I mean—the graveyard is filled with unexpected phenomena. But there you are, and you kind of chase those thoughts away with your happiness antidote. The numbers themselves speak for this. |
Tôi dùng hình ảnh của một người bạn ở đây đang nài nỉ chúng ta đừng tiêm mũi thứ hai của bà ấy và mọi thứ tương tự. Rõ ràng đó là nỗi sợ. Và tôi gọi nó là huýt sáo khi đi ngang nghĩa địa lúc nửa đêm, nếu các bạn hiểu ý tôi—nghĩa địa đầy những hiện tượng bất ngờ. Nhưng các bạn ở đó, và phần nào xua những tư tưởng ấy đi bằng liều thuốc giải hạnh phúc của mình. Chính các con số nói lên điều này. |
||||||||
|
Now, it’s inconceivable to me that thousands of medical workers, researchers, epidemiologists, respected doctors have gathered together to fool everybody and simply make a few companies rich, in which they wouldn’t benefit anyway. We’re going to deal, of course, again with a glamour of suspicion. And there’s a fear that one may be left debilitated in some way by taking a vaccine, and some even think it’s a hoax, the whole thing. But the chances of suffering from COVID are much, much worse. |
Tôi không thể quan niệm được rằng hàng nghìn nhân viên y tế, nhà nghiên cứu, nhà dịch tễ học, các bác sĩ được kính trọng đã cùng tụ họp để lừa mọi người và chỉ làm cho vài công ty giàu lên, trong khi dù sao họ cũng chẳng được lợi gì. Dĩ nhiên, chúng ta lại sẽ xử lý với một ảo cảm của sự nghi ngờ. Và có nỗi sợ rằng người ta có thể bị suy yếu theo một cách nào đó khi tiêm vắc-xin, và một số người thậm chí nghĩ rằng toàn bộ sự việc là một trò lừa bịp. Nhưng khả năng chịu khổ vì COVID còn tệ hơn rất, rất nhiều. |
||||||||
|
There are certain objective scales. Just take a look at Florida, Texas, Arkansas, Missouri—maybe the worst right now, maybe Florida. Look what’s going on there. These people are going to the hospitals, the beds are running out. They’re dying, and they’re not vaccinated. |
Có những thang đo khách quan nhất định. Hãy nhìn Florida, Texas, Arkansas, Missouri—có lẽ tệ nhất hiện nay, có lẽ là Florida. Hãy xem điều gì đang diễn ra ở đó. Những người này đang đến bệnh viện, giường bệnh đang cạn dần. Họ đang chết, và họ chưa tiêm chủng. |
||||||||
|
You mentioned the fear, as you think the fear is at the root of this. The people who refuse—I know, for me, what it evokes is fear. You know, fear that my son may die if he gets this. But so you think it’s spirit-based? |
Thầy đã đề cập đến nỗi sợ, vì Thầy nghĩ nỗi sợ ở gốc rễ của điều này. Những người từ chối—tôi biết, đối với tôi, điều nó gợi lên là nỗi sợ. Nỗi sợ rằng con trai tôi có thể chết nếu nó mắc bệnh này. Nhưng Thầy nghĩ điều đó dựa trên tinh thần sao? |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
The greatest of all glamours is the glamour of fear. Of course, when you start throwing suspicion in with it, and they’re out to get you, it gets to be paranoia. Basically, you overlook the obvious. The result can be deadly for many people—overlooking the obvious. |
Ảo cảm lớn nhất trong mọi ảo cảm là ảo cảm của nỗi sợ. Dĩ nhiên, khi các bạn bắt đầu ném sự nghi ngờ vào cùng với nó, và họ đang muốn hại các bạn, thì nó trở thành chứng hoang tưởng. Về căn bản, các bạn bỏ qua điều hiển nhiên. Kết quả có thể gây chết người cho nhiều người—bỏ qua điều hiển nhiên. |
||||||||
|
An intelligent person, I’m sure your son is, can maybe look at the numbers which are being recorded by the health concerns. What’s the big one in Georgia? What’s that called? |
Một người thông minh, tôi chắc con trai bạn là như vậy, có thể nhìn vào các con số đang được các cơ quan y tế ghi nhận. Cơ quan lớn ở Georgia là gì? Nó được gọi là gì? |
||||||||
|
Center for Disease Control? CDC? |
Trung tâm Kiểm soát Dịch bệnh? CDC? |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
These people are not lying to us. They’re doing their best. And if suspicion tells us they are lying, then what’s lurking inside the suspicious person? Yes, every once in a while, at a very low rate, a person here and a person there has an adverse reaction. But it’s just a minimal percentage. Of course, it’s bad for the person for whom it happens. But the vaccinated people are not dying. That’s the point. And the others are. That’s how I’d approach it. |
Những người này không nói dối chúng ta. Họ đang làm hết sức mình. Và nếu sự nghi ngờ nói với chúng ta rằng họ đang nói dối, thì điều gì đang ẩn nấp bên trong người hay nghi ngờ? Vâng, thỉnh thoảng, với tỷ lệ rất thấp, người này hay người kia có phản ứng bất lợi. Nhưng đó chỉ là một tỷ lệ tối thiểu. Dĩ nhiên, điều đó xấu cho người gặp phải. Nhưng những người đã tiêm chủng không đang chết. Đó là điểm chính. Còn những người kia thì có. Đó là cách tôi sẽ tiếp cận. |
||||||||
|
Nothing has worked so far. I just don’t know what to do. What I’m having to deal with is my own fear. If you’re stuck… |
Cho đến nay không có gì hiệu quả. Tôi thật sự không biết phải làm gì. Điều tôi phải xử lý là nỗi sợ của chính mình. Nếu Thầy bị kẹt… |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
That’s a legitimate fear. When a person denies danger, it’s a real thing. Where does he live? |
Đó là một nỗi sợ chính đáng. Khi một người phủ nhận nguy hiểm, đó là một điều thật. Anh ấy sống ở đâu? |
||||||||
|
He lives here in Portland. |
Nó sống ở đây, tại Portland. |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
It’s not in one of those under-vaccinated states. But he’s really got to be willing to discuss it thoroughly and do the research. Unless, of course, he is taken in by the conspiracists. |
Không phải ở một trong những bang tiêm chủng thấp ấy. Nhưng anh ấy thật sự phải sẵn lòng thảo luận thấu đáo và nghiên cứu. Trừ khi, dĩ nhiên, anh ấy đã bị những người theo thuyết âm mưu lôi cuốn. |
||||||||
|
That’s the problem. He’s done lots of research there. We cannot say what works, but we’re not alone here. This is a global and national problem, and it really is. I’ve never seen anything like it. |
Đó là vấn đề. Nó đã nghiên cứu rất nhiều ở đó. Chúng ta không thể nói điều gì có hiệu quả, nhưng chúng ta không đơn độc ở đây. Đây là một vấn đề toàn cầu và quốc gia, thật sự là như vậy. Tôi chưa từng thấy điều gì giống thế. |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
This is the epidemic that was often promised and never delivered, but is now being delivered by the powers that be to help humanity get on the right track. It’s so sad when intelligent people just ignore the obvious. In my family, they have taken it. So far, no adverse effects, and the overwhelming majority have taken the second shot. Some have even managed a third, with no effects. Even just mathematically, the odds are way against having any adverse effects. The proof of protection is there—in terms of the unvaccinated crowd crowding the hospitals and dying. |
Đây là dịch bệnh đã thường được hứa hẹn mà chưa bao giờ xảy ra, nhưng nay đang được các quyền lực hiện hành đưa đến để giúp nhân loại đi đúng hướng. Thật buồn khi những người thông minh lại cứ phớt lờ điều hiển nhiên. Trong gia đình tôi, họ đã tiêm. Cho đến nay, không có tác dụng bất lợi, và đại đa số đã tiêm mũi thứ hai. Một số thậm chí đã có mũi thứ ba, không có tác dụng gì. Ngay cả chỉ về mặt toán học, xác suất gặp bất kỳ tác dụng bất lợi nào cũng rất thấp. Bằng chứng về sự bảo vệ có đó—xét theo đám đông chưa tiêm chủng đang làm chật các bệnh viện và đang chết. |
||||||||
|
Sometimes a parent is at a disadvantage in talking to a child. Sometimes it comes better from someone else, but what can you do? I know if my kids were doing that, I would be on their case night and day. |
Đôi khi cha mẹ ở thế bất lợi khi nói chuyện với con. Đôi khi điều đó đến tốt hơn từ một người khác, nhưng các bạn có thể làm gì? Tôi biết nếu con tôi làm như vậy, tôi sẽ theo sát chúng ngày đêm. |
||||||||
|
Thanks for your thoughts, but it’s so frustrating. Also, when healthcare workers, doctors and nurses aren’t doing it, and now have to be mandated—that’s a whole other thing there. |
Cảm ơn Thầy vì những suy nghĩ ấy, nhưng thật quá bực bội. Ngoài ra, khi nhân viên y tế, bác sĩ và y tá không làm điều đó, và giờ phải bị bắt buộc—đó lại là một chuyện hoàn toàn khác. |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
It is whistling past the graveyard. Why should we have to go through such a thing? These people are saying, therefore, the next step is that it doesn’t really exist. It’s all a big lie. |
Đó là huýt sáo khi đi ngang nghĩa địa. Tại sao chúng ta phải trải qua một điều như vậy? Những người này đang nói rằng, do đó, bước tiếp theo là nó thật sự không tồn tại. Tất cả chỉ là một lời nói dối lớn. |
||||||||
|
But then we have to look at the potentials for paranoia and suspicion in ourselves, if people are willing to do the introspection. We find a lot of stuff in ourselves lurking at the bottom of the aura, waiting to be expiated. |
Nhưng khi ấy chúng ta phải nhìn vào các tiềm năng của hoang tưởng và nghi ngờ trong chính mình, nếu người ta sẵn lòng tự xét mình. Chúng ta tìm thấy nhiều thứ trong chính mình, ẩn nấp ở đáy hào quang, chờ được tẩy trừ. |
||||||||
|
But then again, you have to ask: is he at all interested in esoteric things, Karen? |
Nhưng rồi một lần nữa, bạn phải hỏi: anh ấy có chút quan tâm nào đến các điều huyền bí không, Karen? |
||||||||
|
Oh, no, no. |
Ồ, không, không. |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
That’s the thing, of course, isn’t it? All I can do is wish you the best in this effort. You’re not alone. |
Dĩ nhiên đó là vấn đề, phải không? Tất cả những gì tôi có thể làm là chúc bạn điều tốt đẹp nhất trong nỗ lực này. Bạn không đơn độc. |
||||||||
|
I know that for sure. And thank you for your thoughts. Do you think that this glamour that we’re working on is a good one? Yeah. |
Tôi chắc chắn biết điều đó. Và cảm ơn Thầy vì những suy nghĩ ấy. Thầy có nghĩ rằng ảo cảm mà chúng ta đang làm việc là một ảo cảm tốt không? Vâng. |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
It’s useful. Good luck with it. If you’re on the Second Ray, you will keep at it and add it. |
Nó hữu ích. Chúc bạn may mắn với điều đó. Nếu bạn thuộc cung hai, bạn sẽ tiếp tục kiên trì và thêm vào đó. |
||||||||
|
It’s called Navy navy. |
Nó được gọi là mè nheo. |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
That’s good. We can get a degree in naggy, so I would just persist and try to find your own backups as it were. The numbers are not lying, and thousands upon thousands upon thousands of dedicated, trained medical workers are not lying. |
Tốt đấy. Chúng ta có thể lấy bằng về sự mè nheo, nên tôi sẽ cứ kiên trì và cố tìm những sự hỗ trợ của riêng bạn, có thể nói như vậy. Các con số không nói dối, và hàng nghìn trên hàng nghìn trên hàng nghìn nhân viên y tế tận tụy, được đào tạo, không nói dối. |
||||||||
|
Of course, we’re medical people, so that’s not helping either. |
Dĩ nhiên, chúng tôi là người trong ngành y, nên điều đó cũng không giúp gì. |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
Michael: Hi, to everybody. Can I just say a few words about what Karen was questioning and putting forward, and what many of us have been facing during these months? When we do not know answers, we know something and we can try to see through it. I have come to the understanding that it certainly is related to these great changes on Earth that create changes in humanity. It is related to the energies that are pouring through and what the button was saying about Sanat Kumara releasing the new type of energy, which is moving us towards right human relations. |
Michael: Xin chào mọi người. Tôi có thể nói vài lời về điều Karen đã hỏi và nêu ra, và điều nhiều người trong chúng ta đã đối diện trong những tháng này không? Khi chúng ta không biết câu trả lời, chúng ta vẫn biết một điều gì đó và có thể cố nhìn xuyên qua nó. Tôi đã đi đến sự thấu hiểu rằng điều này chắc chắn liên quan đến những thay đổi lớn lao trên Trái Đất, những thay đổi tạo ra biến đổi trong nhân loại. Nó liên quan đến các năng lượng đang tuôn qua và điều mà nút bấm đã nói về việc Đức Sanat Kumara phóng thích loại năng lượng mới, đang đưa chúng ta hướng tới các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người. |
||||||||
|
Because Pluto is now in Capricorn, and it indicates the devil and points out for us that we cannot escape at the moment all of that which is already written to the destiny of humanity. These last years, when Pluto is preparing us to 25, as the button has been saying, there has not been yet on this Earth Chain this kind of moment. This is it, and that’s why let us try to look through and not react in any way. One more time ever, however close a friend or family member, whatever they are choosing, they are somehow choosing because humanity has to choose now. |
Vì Diêm Vương Tinh hiện đang ở Ma Kết, và nó chỉ ra ma quỷ, đồng thời chỉ cho chúng ta thấy rằng lúc này chúng ta không thể thoát khỏi tất cả những gì đã được ghi vào định mệnh của nhân loại. Những năm cuối này, khi Diêm Vương Tinh đang chuẩn bị chúng ta đến năm 25, như nút bấm đã nói, trên Dãy Địa Cầu này chưa từng có loại khoảnh khắc như vậy. Chính là đây, và đó là lý do chúng ta hãy cố nhìn xuyên qua và không phản ứng theo bất cứ cách nào. Một lần nữa, dù là bạn thân hay thành viên gia đình gần gũi đến đâu, bất cứ điều gì họ chọn, theo một cách nào đó họ đang chọn vì nhân loại hiện nay phải chọn. |
||||||||
|
Through that, something is seen. We can see that there are forces which are trying to shut us down because if you listen to what these different parties are telling, every one of the parties says the same thing: that the other one is not seeing the truth. That is so interesting to listen to. In that dilemma, I have been trying to find my way, and my way is just trying not to react, just letting everyone do what they choose. |
Qua đó, một điều gì đó được thấy. Chúng ta có thể thấy rằng có những mãnh lực đang cố đóng chúng ta lại, vì nếu các bạn lắng nghe điều các phe phái khác nhau đang nói, mỗi phe đều nói cùng một điều: rằng phe kia không thấy chân lý. Điều đó thật thú vị để lắng nghe. Trong tình trạng tiến thoái lưỡng nan ấy, tôi đã cố tìm con đường của mình, và con đường của tôi chỉ là cố không phản ứng, chỉ để mọi người làm điều họ chọn. |
||||||||
|
I did myself see what I can understand in this and just calmly tried to discuss, but to force anybody—it will not work. That is absolutely one sees that. Because the whole humanity is reacting, this is not the question of some bacteria or some virus. This is absolutely some very fundamental thing that Sanat Kumara wants to see: how humanity is choosing at the moment. I think it is the question of that. Do we learn to cooperate? Do we actually learn on this planet to together find solutions? Or is it going to just again go in that direction that humanity will be divided? |
Chính tôi đã nhìn xem điều mình có thể thấu hiểu trong việc này và chỉ bình tĩnh cố thảo luận, nhưng ép buộc bất cứ ai—điều đó sẽ không hiệu quả. Người ta tuyệt đối thấy điều đó. Vì toàn thể nhân loại đang phản ứng, đây không phải là vấn đề của một số vi khuẩn hay một loại vi-rút nào đó. Đây tuyệt đối là một điều rất nền tảng mà Đức Sanat Kumara muốn thấy: nhân loại đang chọn như thế nào vào lúc này. Tôi nghĩ đó là vấn đề ấy. Chúng ta có học hợp tác không? Chúng ta có thật sự học trên hành tinh này để cùng nhau tìm giải pháp không? Hay nó lại chỉ đi theo hướng nhân loại sẽ bị chia rẽ? |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
Yes, thank you. It’s very, very hard. You can’t really force anyone, but you can appeal to reason. And you can hope that your reasons are persuasive. There are attacks. I want to just say, maybe filling out what you said here, that the larger form is on the attack. |
Vâng, cảm ơn. Điều đó rất, rất khó. Các bạn thật sự không thể ép buộc ai, nhưng các bạn có thể kêu gọi lý trí. Và các bạn có thể hy vọng rằng lý lẽ của mình có sức thuyết phục. Có những cuộc tấn công. Tôi chỉ muốn nói, có lẽ bổ sung cho điều bạn đã nói ở đây, rằng hình tướng lớn hơn đang bị tấn công. |
||||||||
|
This force is much greater than some local thing. The whole of humanity is now in question. Astrology helps us to understand that because Pluto in Capricorn indicates the devil. |
Mãnh lực này lớn hơn nhiều so với một điều cục bộ nào đó. Toàn thể nhân loại hiện đang bị đặt thành vấn đề. Chiêm tinh học giúp chúng ta thấu hiểu điều đó, vì Diêm Vương Tinh trong Ma Kết chỉ ra ma quỷ. |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
The devil is really the unregenerate personality. That is what we’re confronted with. People don’t yet know about the other way of looking at the world, which is the deeply intuitive esoteric way. |
Ma quỷ thật ra là phàm ngã chưa được tái sinh. Đó là điều chúng ta đang đối diện. Con người chưa biết về cách nhìn khác đối với thế giới, là cách huyền bí sâu xa và trực giác sâu xa. |
||||||||
|
Education enters into this. Politics, health issues, psychology — the whole of humanity is under attack, and certain millions and even billions of people are stuck in the old illusions and glamours. We are seeing the danger of those states of mind right now. |
Giáo dục đi vào điều này. Chính trị, các vấn đề sức khỏe, tâm lý học—toàn thể nhân loại đang bị tấn công, và hàng triệu, thậm chí hàng tỷ người đang mắc kẹt trong các ảo tưởng và ảo cảm cũ. Chúng ta đang thấy sự nguy hiểm của các trạng thái trí tuệ ấy ngay lúc này. |
||||||||
|
Hopefully, if we persist, what he said about this was a profoundly esoteric method — deeply esoteric service to the world, the kind of thing that we’re attempting to do and attempting to do better and better. We must maintain deeply esoteric service to the world for the next number of years, because we know that the attack will not abate; it will get worse. So we’re put on our guard and we work accordingly. |
Hy vọng rằng nếu chúng ta kiên trì, điều Ngài đã nói về việc đây là một phương pháp sâu xa về mặt huyền bí—sự phụng sự sâu xa về mặt huyền bí cho thế gian, loại điều chúng ta đang cố làm và cố làm ngày càng tốt hơn. Chúng ta phải duy trì sự phụng sự sâu xa về mặt huyền bí cho thế gian trong vài năm tới, vì chúng ta biết rằng cuộc tấn công sẽ không giảm bớt; nó sẽ trở nên tệ hơn. Vì vậy chúng ta được đặt trong tình trạng cảnh giác và làm việc tương ứng. |
||||||||
|
Thank you for your thoughts on these matters. If only we could all speak reasonably to each other, as I’ve seen you attempt to do. |
Cảm ơn các bạn vì những suy nghĩ về các vấn đề này. Giá như tất cả chúng ta có thể nói chuyện hợp lý với nhau, như tôi đã thấy bạn cố gắng làm. |
||||||||
|
So let’s go on. Was it Bo who was fielding these questions? |
Chúng ta tiếp tục. Có phải Bo đang điều phối các câu hỏi này không? |
||||||||
|
Yes. Hold on, just one second. I think you’ve mixed your pages up here. Today is webinar 182, reading 119. You’ve got reading 198. |
Vâng. Xin chờ một giây. Tôi nghĩ Thầy đã lẫn các trang ở đây. Hôm nay là webinar 182, bài đọc 119. Thầy đang có bài đọc 198. |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
That’s a mistake. |
Đó là một sai lầm. |
||||||||
|
It’s reading one night. Now, we’ll get back to the chat. Thank you, Veronica. |
Đó là bài đọc một trăm mười chín. Bây giờ chúng ta sẽ quay lại phần trò chuyện. Cảm ơn, Veronica. |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
A bunch of readings, didn’t we? |
Chúng ta có cả một loạt bài đọc, phải không? |
||||||||
|
Can we dispel glamours using the Technique of Light for individual people other than ourselves, or must it be used for humanity as a whole and not directed at individual people? |
Chúng ta có thể xua tan ảo cảm bằng Kỹ Thuật Ánh sáng cho từng người khác ngoài chính mình không, hay nó phải được sử dụng cho toàn thể nhân loại và không hướng vào từng cá nhân? |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
It’s something we work on ourselves. But if we have permission from someone, perhaps we can participate in helping them to dissipate their own individual glamour. What I would recommend at this stage is to persist with working on ourselves, and then working on larger and larger wholes—the group, the nation, and humanity as a whole. |
Đó là điều chúng ta làm việc trên chính mình. Nhưng nếu chúng ta có sự cho phép của một người nào đó, có lẽ chúng ta có thể tham gia giúp họ làm tiêu tan ảo cảm cá nhân của chính họ. Điều tôi khuyến nghị ở giai đoạn này là hãy kiên trì làm việc trên chính mình, rồi làm việc trên những toàn thể ngày càng lớn hơn—nhóm, quốc gia, và toàn thể nhân loại. |
||||||||
|
It’s a little dangerous, perhaps, to interfere in someone else’s glamour dissipation. If they ask, we can discuss with them what they perceive to be a glamour within themselves. Maybe we can help clarify their minds on these matters, if they are willing. But at the present time, I think it’s better to say it’s up to them to proceed with the dissipation. Our role is to help clarify the psychological situation. That’s how I would approach it at this time. |
Có lẽ hơi nguy hiểm khi can thiệp vào sự làm tiêu tan ảo cảm của người khác. Nếu họ hỏi, chúng ta có thể thảo luận với họ điều họ nhận thấy là một ảo cảm trong chính họ. Có lẽ chúng ta có thể giúp làm sáng tỏ thể trí của họ về những vấn đề này, nếu họ sẵn lòng. Nhưng vào lúc hiện tại, tôi nghĩ tốt hơn là nói rằng tùy họ tiến hành sự làm tiêu tan. Vai trò của chúng ta là giúp làm sáng tỏ tình huống tâm lý. Đó là cách tôi sẽ tiếp cận điều này vào lúc này. |
||||||||
|
When we don’t know what is exactly the best way to do, let us always think what the Hierarchy is doing. Because if the Hierarchy and the Planetary God is accepting things that are going on in humanity, then we have to accept there are many things that we can see that are wrong. Our role here is to keep the channel open so that these karmic agents, which know and who have the order from the higher ones, can function. If we keep the door open, this is really our job to do—to keep our servers so calm that through us those who can work and know the real way that is going to be can function. |
Khi chúng ta không biết chính xác cách tốt nhất để làm, hãy luôn nghĩ xem Thánh Đoàn đang làm gì. Vì nếu Thánh Đoàn và Thượng đế Hành Tinh đang chấp nhận những điều đang diễn ra trong nhân loại, thì chúng ta phải chấp nhận rằng có nhiều điều chúng ta có thể thấy là sai. Vai trò của chúng ta ở đây là giữ cho kênh mở để những tác nhân nghiệp quả này, những vị biết và có mệnh lệnh từ các Đấng cao hơn, có thể hoạt động. Nếu chúng ta giữ cửa mở, đây thật sự là công việc của chúng ta—giữ cho những người phụng sự của mình bình tĩnh đến mức qua chúng ta, những vị có thể làm việc và biết con đường thật sự sẽ diễn ra có thể hoạt động. |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
What danger do we run? The glamour of interference. It’s a big glamour, the glamour of not minding our own business, the glamour of budding in on the affairs of another. Now look, always educationally: if we are asked or if the occasion arises, we can discuss why a person feels that this is a problem for them, and we can offer our opinion and so forth. But I would never in an unsolicited manner try to do this. You can fall victim to this glamour of interference. |
Chúng ta gặp nguy cơ gì? Ảo cảm của sự can thiệp. Đó là một ảo cảm lớn, ảo cảm của việc không lo việc của mình, ảo cảm của việc xen vào công việc của người khác. Hãy nhìn xem, luôn theo cách giáo dục: nếu chúng ta được hỏi hoặc nếu dịp đến, chúng ta có thể thảo luận tại sao một người cảm thấy điều này là một vấn đề đối với họ, và chúng ta có thể đưa ra ý kiến của mình, v.v. Nhưng tôi sẽ không bao giờ cố làm điều này theo cách không được yêu cầu. Các bạn có thể trở thành nạn nhân của ảo cảm can thiệp này. |
||||||||
|
I told you the story when I was tired in a doctor’s waiting room and closed my eyes, and the next thing I knew some very officious young lady was poking me, accusing me of meditating. That, for me, was that great moment of realizing what this glamour of interference was. It’s a big one. |
Tôi đã kể các bạn nghe câu chuyện khi tôi mệt mỏi trong phòng chờ của bác sĩ, nhắm mắt lại, và điều tiếp theo tôi biết là một cô gái trẻ rất quan liêu đang chọc vào tôi, buộc tội tôi đang tham thiền. Đối với tôi, đó là khoảnh khắc lớn lao khi nhận ra ảo cảm của sự can thiệp là gì. Nó là một ảo cảm lớn. |
||||||||
|
All of these matters are handled delicately and with respect. |
Tất cả những vấn đề này cần được xử lý một cách tế nhị và tôn trọng. |
||||||||
|
Vivianne says the evangelical churches are saying that Jesus saves, and they should not get vaccinated, according to a news report yesterday on BBC. |
Vivianne nói rằng các nhà thờ Tin Lành đang nói Đức Jesus cứu rỗi, và người ta không nên tiêm vắc-xin, theo một bản tin hôm qua trên BBC. |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
Jesus also thinks, as well as saves. This love of the great Savior, that will do everything for you, suggests you don’t have to take any initiative yourself. But the old saying goes: God helps those who help themselves. If it’s a foolish position, denying the good that has been generated within humanity through its own intelligence, this is my opinion. |
Đức Jesus cũng suy nghĩ, cũng như cứu rỗi. Tình thương dành cho Đấng Cứu Thế vĩ đại, Đấng sẽ làm mọi sự cho các bạn, gợi ý rằng các bạn không cần tự mình có bất kỳ sáng kiến nào. Nhưng câu nói xưa là: Thượng đế giúp những ai tự giúp mình. Nếu đó là một lập trường ngu xuẩn, phủ nhận điều tốt đẹp đã được tạo ra trong nhân loại nhờ trí tuệ của chính nó, thì đây là ý kiến của tôi. |
||||||||
|
When some of these people really begin to get COVID, like everybody else, they’re going to lie. They’re dying in bed and saying, “I wish I had taken the vaccination.” |
Khi một số người này thật sự bắt đầu mắc COVID, như mọi người khác, họ sẽ nằm xuống. Họ hấp hối trên giường và nói: “Ước gì tôi đã tiêm vắc-xin.” |
||||||||
|
Yeah, and also Michael, poor Jesus is having Alzheimer because in other charities, he has been told to take the vaccination, so he does not remember every— |
Vâng, và Michael, Đức Jesus tội nghiệp đang bị Alzheimer, vì trong các tổ chức từ thiện khác, Ngài đã được bảo là hãy tiêm vắc-xin, nên Ngài không nhớ mọi— |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
A jealous split personality, right? We’re poor, man, but okay. Really, to expect that a master, a Chohan, even one who has such a view of the world, would deny what human intelligence has produced to help defend against a condition which is assailing so many—that’s just foolishness. That’s my opinion. There are others who just say, “Jesus will save me. I don’t have to do anything.” |
Một phàm ngã phân đôi đầy ghen tuông, phải không? Chúng ta thật đáng thương, nhưng thôi được. Thật sự, mong đợi rằng một chân sư, một Chohan, thậm chí một Đấng có cái nhìn như thế về thế giới, lại phủ nhận điều trí tuệ con người đã tạo ra để giúp bảo vệ chống lại một tình trạng đang tấn công quá nhiều người—đó chỉ là sự ngu xuẩn. Đó là ý kiến của tôi. Có những người khác chỉ nói: “Đức Jesus sẽ cứu tôi. Tôi không phải làm gì cả.” |
||||||||
|
I’m going to read three of them here pretty close together, because they all have the same thing. Danna says wise words, Miss Tuija. Then Tia says, “I agree. To my meditation and deliberation on this issue brought me to the same conclusion.” And then Karen says thank you to you. I appreciate your thoughts and words. |
Tôi sẽ đọc ba lời ở đây khá gần nhau, vì tất cả đều nói cùng một điều. Danna nói những lời minh triết, cô Tuija. Rồi Tia nói: “Tôi đồng ý. Việc tham thiền và cân nhắc của tôi về vấn đề này cũng đưa tôi đến cùng kết luận.” Và Karen nói lời cảm ơn đến bạn. Tôi trân trọng những suy nghĩ và lời nói của bạn. |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
And so do I. |
Tôi cũng vậy. |
||||||||
|
Thank you. |
Cảm ơn. |
||||||||
|
A comment, please. |
Xin một lời bình. |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
Donna said udana Yes, it is. |
Donna nói về sinh khí hướng thượng. Vâng, đúng vậy. |
||||||||
|
One of the underlying things that we seem to be forgetting is that the entire universe is founded on frequency and vibration. As a result of that, everything manifests. No matter which side you’re on, if you’re living in fear, you’re going to attract what you fear. If you live on a level of purity, or indifference or vision, then you recognize that viruses and bacteria only exist at a specific frequency and vibration. |
Một trong những điều nền tảng mà dường như chúng ta đang quên là toàn bộ vũ trụ được đặt nền trên tần số và rung động. Do đó, mọi sự biểu hiện. Dù các bạn đứng về phía nào, nếu các bạn sống trong sợ hãi, các bạn sẽ thu hút điều các bạn sợ. Nếu các bạn sống trên một cấp độ thanh khiết, hay điềm nhiên hoặc tầm nhìn, thì các bạn nhận ra rằng vi-rút và vi khuẩn chỉ tồn tại ở một tần số và rung động nhất định. |
||||||||
|
If that’s where you choose to live, that’s what you’re going to attract. Now, that doesn’t mean not to do this or not to do that. For me, before the vaccines were out, I was actively working on people with COVID and picking absolutely nothing up, because of what I do all the time on a daily basis. If that was all I personally had to depend on was a vaccine and a mask, I would be scared to death. |
Nếu đó là nơi các bạn chọn sống, thì đó là điều các bạn sẽ thu hút. Điều đó không có nghĩa là không làm điều này hay không làm điều kia. Đối với tôi, trước khi vắc-xin xuất hiện, tôi đã tích cực làm việc với những người mắc COVID và hoàn toàn không nhiễm gì cả, bởi vì điều tôi làm hằng ngày. Nếu tất cả những gì cá nhân tôi phải nương vào chỉ là vắc-xin và khẩu trang, tôi sẽ sợ chết khiếp. |
||||||||
|
Because of the meditations — because I have 25 years ago, I had this energy and I could feel it. I was like, this is interesting, and it’s all around me. And I thought, “Hmm, I think I’ll let it in.” About two days later, I was probably the sickest I’ve been in 25 years. It’s like, I don’t do that anymore. I don’t let that stuff in. |
Nhờ các bài tham thiền—vì cách đây hai mươi lăm năm, tôi có năng lượng này và tôi có thể cảm nhận nó. Tôi thấy điều này thú vị, và nó ở khắp quanh tôi. Tôi nghĩ: “Tôi nghĩ mình sẽ để nó đi vào.” Khoảng hai ngày sau, có lẽ tôi bệnh nặng nhất trong hai mươi lăm năm. Tôi không còn làm như vậy nữa. Tôi không để những thứ đó đi vào. |
||||||||
|
But it’s better to integrate and use everything at our disposal that we feel good about, because you can’t run on fear. Fear isn’t helpful. |
Nhưng tốt hơn là tích hợp và sử dụng mọi thứ trong tầm tay mà chúng ta cảm thấy ổn, bởi vì các bạn không thể vận hành trên sợ hãi. Sợ hãi không hữu ích. |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
Yes, exactly. I’ve seen some astonishing videos of one of the early Rife microscopes in action. This microscope, zeroed in on live cancer cells, which, when a certain frequency was applied to them, exploded. |
Đúng, chính xác. Tôi đã xem một số video đáng kinh ngạc về một trong những kính hiển vi Rife thời kỳ đầu đang hoạt động. Kính hiển vi này tập trung vào các tế bào ung thư sống, và khi một tần số nhất định được áp dụng cho chúng, chúng nổ tung. |
||||||||
|
And today’s Rife machines have frequencies for COVID. Just an FYI. |
Và các máy Rife ngày nay có các tần số dành cho COVID. Chỉ xin thông tin vậy thôi. |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
That’s interesting. Of course, some of this has to be experimented with. But maybe they have, maybe they have—the point is vibrational medicine is coming. It’s going to come from dedicated research workers who are in the new paradigm, and as usual, by some of the unthinking or many of the unthinking, it will be at first rejected before it proves itself. We cannot overlook the value of what the human being in its research capacity has actually done. It tells us everything that works. It just makes common sense. No master would say, “We’re going to save you; don’t use everything that works.” It’s crazy. Thank you, Donna. |
Điều đó thú vị. Dĩ nhiên, một số điều này phải được thử nghiệm. Nhưng có lẽ họ đã làm rồi—điểm cốt yếu là y học rung động đang đến. Nó sẽ đến từ những người nghiên cứu tận tụy trong mô hình mới, và như thường lệ, ban đầu nó sẽ bị một số người thiếu suy nghĩ, hoặc nhiều người thiếu suy nghĩ, bác bỏ trước khi tự chứng minh được giá trị. Chúng ta không thể bỏ qua giá trị của những gì con người trong năng lực nghiên cứu của mình đã thật sự làm được. Nó cho chúng ta biết mọi điều có hiệu quả. Điều đó chỉ là lẽ thường. Không chân sư nào sẽ nói: “Chúng tôi sẽ cứu các bạn; đừng dùng mọi điều có hiệu quả.” Điều đó thật điên rồ. Cảm ơn, Donna. |
||||||||
|
Hi, Heidi says, “I have the same problem with my son.” So I guess she’s talking to Karen here. “We came to the point that each of us accepts the decision addition of the other, which doesn’t really take my fear away. He could suffer from COVID or even die.” And then she also says thank you to you. |
Heidi nói: “Tôi có cùng vấn đề với con trai tôi.” Tôi đoán bà đang nói với Karen ở đây. “Chúng tôi đã đi đến chỗ mỗi người chúng tôi chấp nhận quyết định của người kia, nhưng điều đó thật sự không lấy đi nỗi sợ của tôi. Nó có thể chịu khổ vì COVID hoặc thậm chí chết.” Và bà cũng nói lời cảm ơn đến bạn. |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
The apparent position he is in is tough. He deals with this quite a bit in Esoteric Psychology, where he basically says that we as parents have to let go. If all persuasion means nothing and comes to no good end, then realistically, there is a point where you do have to leave it. |
Vị trí có vẻ như bà đang ở trong đó thật khó khăn. Chân sư bàn khá nhiều về điều này trong Tâm Lý Học Nội Môn, nơi Ngài về cơ bản nói rằng chúng ta, với tư cách cha mẹ, phải buông bỏ. Nếu mọi sự thuyết phục đều không có ý nghĩa gì và không dẫn đến kết quả tốt đẹp, thì trên thực tế có một điểm mà các bạn phải để nó như vậy. |
||||||||
|
Of course, it’s easily said, and I’m not sure that I would be one that could easily leave such a thing. I’m very persistent and so forth. But there can be diminishing returns if one continues to force it. |
Dĩ nhiên, nói thì dễ, và tôi không chắc mình là người có thể dễ dàng buông một điều như thế. Tôi rất kiên trì, vân vân. Nhưng có thể có lợi ích giảm dần nếu một người cứ tiếp tục ép buộc. |
||||||||
|
It’s such a crying shame when a person who thought the whole thing was a hoax gets it, and it’s too late. Perhaps all of this is also meant to induce a greater state of trust in our own capacities, our own medical workers, and not suspect everyone. |
Thật là một điều vô cùng đáng tiếc khi một người từng nghĩ toàn bộ chuyện này là trò lừa bịp lại mắc bệnh, và đã quá muộn. Có lẽ tất cả điều này cũng nhằm tạo ra một trạng thái tin cậy lớn hơn vào các năng lực của chính chúng ta, vào các nhân viên y tế của chính chúng ta, và không nghi ngờ mọi người. |
||||||||
|
Suspicion is the number one cause of glamour on the first ray, then self-pity and criticism. Thanks for your thought there, hiker. |
Sự nghi ngờ là nguyên nhân số một của ảo cảm trên cung một, rồi đến tự thương hại và chỉ trích. Cảm ơn suy nghĩ của bạn, hiker. |
||||||||
|
Tia says we must learn to work together even when our beliefs in the outer fundamentally differ. To paraphrase Benjamin Franklin, we must all hang together or we shall all hang separately. She also wanted to comment further. Let me unmute her. Tia? |
Tia nói chúng ta phải học cách làm việc cùng nhau ngay cả khi các niềm tin bên ngoài của chúng ta khác nhau một cách căn bản. Diễn ý Benjamin Franklin, tất cả chúng ta phải treo cùng nhau, nếu không tất cả chúng ta sẽ bị treo riêng rẽ. Bà cũng muốn bình luận thêm. Để tôi mở tiếng cho bà. Tia? |
||||||||
|
Yes, thank you, Bill. I just wanted to say it’s really interesting because I’ve been thinking a lot about this whole issue here in the United States, where people are really gathering in camps with fundamentally different views and politicizing the issue greatly. |
Vâng, cảm ơn, Bill. Tôi chỉ muốn nói rằng điều này thật sự thú vị, vì tôi đã suy nghĩ rất nhiều về toàn bộ vấn đề này ở Hoa Kỳ, nơi người ta thật sự tụ tập thành các phe với những quan điểm khác biệt căn bản và chính trị hóa vấn đề một cách rất mạnh. |
||||||||
|
It’s interesting to me how we’re faced with a lot of people I know here in America who are either unaware of the interior life or don’t value it. I know this kind of dovetails on the entire talk today. But if people were meditating or had followed guidance, or were even sensitive to the notion of guidance—I’ve talked to a lot of people and asked, “Do you even turn off the television and whatever the newspapers are saying? What does the voice say to you? What is your feeling about it?” |
Điều thú vị đối với tôi là chúng ta đang đối diện với rất nhiều người tôi biết ở Mỹ, những người hoặc không nhận thức về đời sống nội tâm, hoặc không coi trọng nó. Tôi biết điều này phần nào nối liền với toàn bộ buổi nói chuyện hôm nay. Nhưng nếu người ta tham thiền, hoặc đã đi theo sự hướng dẫn, hoặc thậm chí nhạy cảm với ý niệm về sự hướng dẫn—tôi đã nói chuyện với rất nhiều người và hỏi: “Bạn có bao giờ tắt ti-vi và bỏ qua bất cứ điều gì báo chí đang nói không? Tiếng nói ấy nói gì với bạn? Cảm nhận của bạn về điều đó là gì?” |
||||||||
|
When the issue of the vaccine came up for me and my family, I went within and I found my answer. I’m unmoved on that. I think that if people could try to talk to people and use this as an opportunity to talk to people about the interior life, it may be an opportunity for evolution and to see what good can come out of this. |
Khi vấn đề vắc-xin xuất hiện đối với tôi và gia đình tôi, tôi đi vào bên trong và tìm thấy câu trả lời của mình. Tôi không lay chuyển về điều đó. Tôi nghĩ rằng nếu người ta có thể cố gắng nói chuyện với người khác và dùng điều này như một cơ hội để nói với họ về đời sống nội tâm, thì đây có thể là một cơ hội cho tiến hoá và để thấy điều tốt nào có thể phát sinh từ chuyện này. |
||||||||
|
This virus is a flashpoint for so many negative things. But we could also use it as a flashpoint for something positive and something unifying. |
Vi-rút này là một điểm bùng phát cho rất nhiều điều tiêu cực. Nhưng chúng ta cũng có thể dùng nó như một điểm bùng phát cho điều gì đó tích cực và điều gì đó hợp nhất. |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
I agree that good can come out of this. It’s meant to get us all talking to each other in a reasonable way. It’s meant to bring us together, but one wonders how much suffering is required before people wake up to that possibility that you are enunciating here. We will see. |
Tôi đồng ý rằng điều tốt có thể phát sinh từ chuyện này. Nó nhằm khiến tất cả chúng ta nói chuyện với nhau một cách hợp lý. Nó nhằm đưa chúng ta lại gần nhau, nhưng người ta tự hỏi cần bao nhiêu đau khổ trước khi người ta thức tỉnh trước khả năng mà bà đang trình bày ở đây. Chúng ta sẽ thấy. |
||||||||
|
Right now, we have to see that’s where our educative tendencies as members of the New Group of World Servers, come in. We are educators to animate maybe we can open the door to something a little higher, that we call inner guidance and maybe there are some people who can actually take that step instead of just fearfully retreating to the old illusions and glamour. So that’s another one of our responsibilities. And something that I think we’re fairly well suited to execute and bring forward. Thank you. |
Ngay lúc này, chúng ta phải thấy rằng đó là nơi các khuynh hướng giáo dục của chúng ta, với tư cách thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, bước vào. Chúng ta là những nhà giáo dục để tiếp sinh; có lẽ chúng ta có thể mở cánh cửa đến một điều gì đó cao hơn một chút, điều chúng ta gọi là sự hướng dẫn bên trong, và có lẽ có một số người thật sự có thể bước bước đó thay vì chỉ sợ hãi rút lui về những ảo tưởng và ảo cảm cũ. Đó là một trách nhiệm khác của chúng ta. Và là điều mà tôi nghĩ chúng ta khá thích hợp để thực hiện và đưa ra. Cảm ơn. |
||||||||
|
Michael has something to say. Go ahead, Michael. |
Michael có điều muốn nói. Xin mời, Michael. |
||||||||
|
I’ll read what I wrote. I believe one of the greatest clamors, as a subset of fear, is a fear of death. From what I’ve experienced and witnessed during this time, this fear of death has caused some incredible divisions and splits that only support the darker forces’ push for absolute control in the form world right now. |
Tôi sẽ đọc điều tôi đã viết. Tôi tin một trong những ảo cảm lớn nhất, như một phần phụ của sợ hãi, là nỗi sợ chết. Từ những gì tôi đã trải nghiệm và chứng kiến trong thời gian này, nỗi sợ chết này đã gây ra những chia rẽ và phân ly đáng kinh ngạc, chỉ hỗ trợ cho sự thúc đẩy của các mãnh lực tối tăm nhằm kiểm soát tuyệt đối trong thế giới hình tướng hiện nay. |
||||||||
|
With a constant diet of fear porn we all see on the news all day long—buyers for the virus, political wars, economic wars—how can one trust a venue that feeds a steady stream of fear to the public on an almost 24-hour basis? I think the more concerning issue to me is how this is going to shape the social climate and create multiple multi-tier societies which will leave most of the control of the form world in the hands of those who already have most of it. |
Với chế độ nuôi dưỡng liên tục bằng nội dung kích động sợ hãi mà tất cả chúng ta thấy trên tin tức suốt ngày—sợ vi-rút, chiến tranh chính trị, chiến tranh kinh tế—làm sao người ta có thể tin một phương tiện liên tục nuôi công chúng bằng một dòng sợ hãi gần như hai mươi bốn giờ mỗi ngày? Tôi nghĩ vấn đề khiến tôi quan ngại hơn là điều này sẽ định hình khí hậu xã hội như thế nào và tạo ra nhiều xã hội nhiều tầng, để lại phần lớn quyền kiểm soát thế giới hình tướng trong tay những người vốn đã nắm giữ phần lớn quyền đó. |
||||||||
|
I’ve experienced some very extreme shifts in people who were logical. And now after four years of Trump’s fear and almost two years of virus fear, they have chosen to deem the other as the enemy. And as long as we burn out that enemy, we will solve the problem. |
Tôi đã chứng kiến một số thay đổi rất cực đoan nơi những người từng hợp lý. Và giờ đây, sau bốn năm sợ hãi về Trump và gần hai năm sợ hãi về vi-rút, họ đã chọn xem người khác là kẻ thù. Và miễn là chúng ta thiêu rụi kẻ thù đó, chúng ta sẽ giải quyết được vấn đề. |
||||||||
|
I think we know the problem humanity is facing is much broader than primal dualistic approaches. Divide and rule is a long-standing and tried-and-true method of controlling populations. |
Tôi nghĩ chúng ta biết vấn đề nhân loại đang đối diện rộng lớn hơn nhiều so với các lối tiếp cận nhị nguyên nguyên sơ. Chia để trị là một phương pháp lâu đời và đã được thử nghiệm, được chứng minh trong việc kiểm soát các quần chúng. |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
Thank you, Michael. These are wise words. Our problems are great, because our possibilities are great. There was a time 21 million years ago when a huge transition took place, and what we call humanity was born. |
Cảm ơn, Michael. Đây là những lời minh triết. Các vấn đề của chúng ta lớn lao, vì các khả năng của chúng ta lớn lao. Đã có một thời, cách đây hai mươi mốt triệu năm, khi một chuyển tiếp khổng lồ diễn ra, và điều chúng ta gọi là nhân loại được sinh ra. |
||||||||
|
Now the kingdom of Souls has an open door. The new possibility is that a new kingdom can absorb millions of human beings and they will be members of the fifth Kingdom rather than only of the fourth. Whenever big possibilities occur, the larger forces of darkness get to work, and all the crises appear. |
Bây giờ giới của các Linh hồn có một cánh cửa mở. Khả năng mới là một giới mới có thể hấp thụ hàng triệu con người và họ sẽ là thành viên của giới thứ năm thay vì chỉ của giới thứ tư. Bất cứ khi nào những khả năng lớn xuất hiện, các mãnh lực bóng tối lớn hơn bắt tay vào hành động, và mọi khủng hoảng xuất hiện. |
||||||||
|
This is a very big issue that we face. The COVID is one aspect of that, bringing us into the condition where humanity can be actually initiated. Thanks for your thoughts. |
Đây là một vấn đề rất lớn mà chúng ta đối diện. COVID là một phương diện của điều đó, đưa chúng ta vào tình trạng trong đó nhân loại thật sự có thể được điểm đạo. Cảm ơn những suy nghĩ của bạn. |
||||||||
|
And then we have—sorry, I have to laugh. Nisa says the old saying: trust in Allah and tie up your camel. |
Và rồi chúng ta có—xin lỗi, tôi phải cười. Nisa nhắc câu nói xưa: hãy tin cậy Thượng đế và buộc lạc đà của bạn lại. |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
Keep your tablet camel tethered. It was through the eye of a needle. Camel can’t get through the eye of a needle, but make sure no one rides away on your candle. It’s like God helps those who help themselves. Of course, you can turn that around to mean if I grab everything that I want, God will help me, but we know what it really means. |
Hãy giữ lạc đà của bạn được buộc dây. Chuyện ấy liên quan đến lỗ kim. Lạc đà không thể đi qua lỗ kim, nhưng hãy chắc rằng không ai cưỡi lạc đà của bạn đi mất. Điều này giống như Thượng đế giúp những ai tự giúp mình. Dĩ nhiên, các bạn có thể đảo ngược điều đó thành nghĩa rằng nếu tôi vơ lấy mọi thứ tôi muốn, Thượng đế sẽ giúp tôi, nhưng chúng ta biết nó thật sự có nghĩa gì. |
||||||||
|
Then the Buddha’s final sermon—self reliance was his great theme. Djwhal Khul says, “Look your adult men and women.” Don’t pretend that everything has to be done for you. Do what you can do. We are there, of course, to assist you. That assistance will be showing up in the next number of years in a more tangible way. I do believe he said it. |
Rồi bài thuyết pháp cuối cùng của Đức Phật—tự lực là chủ đề lớn của Ngài. Chân sư Djwhal Khul nói: “Hãy nhìn, các bạn là những người nam và nữ trưởng thành.” Đừng giả vờ rằng mọi sự phải được làm thay cho các bạn. Hãy làm điều các bạn có thể làm. Dĩ nhiên, chúng tôi ở đó để hỗ trợ các bạn. Sự hỗ trợ ấy sẽ xuất hiện trong vài năm tới theo một cách hữu hình hơn. Tôi thật sự tin rằng Ngài đã nói điều đó. |
||||||||
|
There are a couple of thank yous to Michael—looks like one to you and one to the other Michael, so at least based on the spelling of the name. That’s all that I see. |
Có vài lời cảm ơn gửi đến Michael—có vẻ một lời gửi đến Thầy và một lời gửi đến Michael kia, ít nhất dựa trên cách đánh vần tên. Đó là tất cả những gì tôi thấy. |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
We need to get into our meditation and address this clamor of suspicion. Because of fear, the fear factor is the great clamor within all the many glamours listed—the heads of the Hydra: sex, money, comfort, fear, hatred, and ambition. Fear is the greatest of all the glamours. It inhibits every possible learning situation and every possible application. Then there is pride, separateness, and cruelty. Humanity, from its magnetic gatherings, is a separate kingdom, and we have much to overcome together. |
Chúng ta cần đi vào phần tham thiền và đề cập đến ảo cảm của sự nghi ngờ này. Vì sợ hãi, yếu tố sợ hãi là ảo cảm lớn trong tất cả nhiều ảo cảm được liệt kê—những đầu của Hydra: tình dục, tiền bạc, tiện nghi, sợ hãi, thù hận và tham vọng. Sợ hãi là lớn nhất trong tất cả các ảo cảm. Nó ức chế mọi tình huống học hỏi có thể có và mọi sự áp dụng có thể có. Rồi có kiêu hãnh, sự chia rẽ và tàn nhẫn. Nhân loại, từ các tụ hội từ tính của mình, là một giới riêng biệt, và chúng ta có nhiều điều phải cùng nhau vượt qua. |
||||||||
|
If fear is rampant—fear of death—Djwhal Khul deals with that quite a bit, as Michael was pointing out. He says that fear is going to disappear, that fear of death. But it’s obviously very active in presidential decisions. It just depends on how people think they’re going to die—maybe at the hands of some nefarious force that they can identify as the elite, or as the liberals, or as the non-believers in any of these possibilities. The reactionaries seem to think that walking backward into old, apparently safer positions is the answer, but they’re not safe at all. |
Nếu sợ hãi lan tràn—nỗi sợ chết—Chân sư Djwhal Khul bàn khá nhiều về điều đó, như Michael đã chỉ ra. Ngài nói rằng sợ hãi sẽ biến mất, nỗi sợ chết ấy. Nhưng rõ ràng nó rất năng động trong các quyết định mang tính tổng thống. Điều đó chỉ tùy thuộc vào cách người ta nghĩ họ sẽ chết—có lẽ dưới tay một mãnh lực ác độc nào đó mà họ có thể nhận diện là giới tinh hoa, hoặc là những người tự do, hoặc là những người không tin vào bất cứ khả năng nào trong số này. Những người phản động dường như nghĩ rằng đi lùi vào các lập trường cũ, có vẻ an toàn hơn, là câu trả lời, nhưng chúng hoàn toàn không an toàn. |
||||||||
|
There was a nice video shown of an Indian American Indian chief, and he was named by a beautiful name—I forget it, but something like “good fellow” or “good brother.” He talks about walking backwards. You can walk forward or walk backwards. When he finished his exposition, he said, “I have spoken.” We’ve got a lot of our society walking backwards into old positions, but through selfishness, they’re leading to the deaths of thousands of people who didn’t have to die. We have to say that also about the attitude of the previous administration—thousands of people dead who didn’t need to die if only there was honesty and straightforwardness and less selfishness. |
Có một video hay được chiếu về một tù trưởng người Mỹ bản địa, và ông được đặt một cái tên đẹp—tôi quên rồi, nhưng đại loại như “người bạn tốt” hay “người huynh đệ tốt.” Ông nói về việc đi lùi. Các bạn có thể đi tới hoặc đi lùi. Khi kết thúc phần trình bày, ông nói: “Tôi đã nói xong.” Chúng ta có rất nhiều người trong xã hội đang đi lùi vào các lập trường cũ, nhưng qua sự ích kỷ, họ đang dẫn đến cái chết của hàng ngàn người vốn không cần phải chết. Chúng ta cũng phải nói điều đó về thái độ của chính quyền trước đây—hàng ngàn người chết, những người không cần phải chết nếu chỉ có sự trung thực, thẳng thắn và ít ích kỷ hơn. |
||||||||
|
Our glamour for today is suspicion, one of the three primary glamours along with self-pity and criticism. The number of glamours is Legion, really, and probably unique to every person. I look deep within myself. I don’t find in thousands and thousands of medical workers and trained physicians the suspicion that they’re out to get me and everybody else so that the elite can have control, or so that the true American will be defeated, or so that all those other people carrying the disease are let in. I don’t find that at all in myself, and I marvel that people are so taken by it. |
Ảo cảm của chúng ta hôm nay là sự nghi ngờ, một trong ba ảo cảm chính cùng với tự thương hại và chỉ trích. Số lượng ảo cảm thật sự là Legion, và có lẽ độc nhất đối với từng người. Tôi nhìn sâu vào trong chính mình. Tôi không tìm thấy trong hàng ngàn hàng ngàn nhân viên y tế và bác sĩ được đào tạo sự nghi ngờ rằng họ đang tìm cách hại tôi và mọi người khác để giới tinh hoa có thể kiểm soát, hoặc để người Mỹ chân chính bị đánh bại, hoặc để tất cả những người khác mang bệnh được cho vào. Tôi hoàn toàn không tìm thấy điều đó trong mình, và tôi kinh ngạc rằng người ta lại bị nó cuốn hút đến vậy. |
||||||||
|
What is it in the bottom of their own aura, as I like to describe it, that is stirring, welling up? It sounds like Pluto, really, as part of the preparation for the reappearance on an individual basis. Unfortunately, so many are suffering in every range—politically, in terms of the church, economically, and in terms of their health—who would not need to suffer in this way if there could be a cleansing. The Christ can’t come, can’t appear, doesn’t dare appear unless there is this cleansing. |
Điều gì ở đáy hào quang của chính họ, như tôi thích mô tả, đang khuấy động, đang dâng lên? Thật sự nghe như Sao Diêm Vương, như một phần của sự chuẩn bị cho sự tái lâm trên bình diện cá nhân. Đáng tiếc là rất nhiều người đang đau khổ trong mọi phạm vi—chính trị, về mặt giáo hội, kinh tế, và về sức khỏe của họ—những người sẽ không cần phải đau khổ theo cách này nếu có thể có một sự thanh lọc. Đức Christ không thể đến, không thể xuất hiện, không dám xuất hiện trừ khi có sự thanh lọc này. |
||||||||
|
We’re not going to have every group member name himself right now—it’s usually maybe four groups of nine. But we will think about those who have gathered together now. In this silence, we quite simply feel of ourselves coming together as one consciousness and even as one being. We know we’re doing this very deep esoteric protective work as Djwhal Khul advised. Protectors also need protection. We’re not dealing with something that is sliding under the radar of the forces of opposition. |
Chúng ta sẽ không để từng thành viên nhóm tự nêu tên ngay bây giờ—thường có lẽ là bốn nhóm chín người. Nhưng chúng ta sẽ nghĩ về những người đã tụ họp với nhau lúc này. Trong sự im lặng này, chúng ta rất đơn giản cảm nhận chính mình đang đến với nhau như một tâm thức duy nhất và thậm chí như một hữu thể duy nhất. Chúng ta biết mình đang làm công việc bảo vệ huyền bí rất sâu xa này như Chân sư Djwhal Khul đã khuyên. Những người bảo vệ cũng cần được bảo vệ. Chúng ta không đang xử lý một điều gì đó lẩn dưới tầm radar của các mãnh lực đối lập. |
||||||||
|
We use the long arm cross from left to right, and we use the mantram here given, increasing light as we go: “As a soul, I work in light and darkness cannot touch me. I take my stand within the light. I work and from that point I never move.” Also, a large protective cross appears not only before everyone but that cross of light, a big one for the whole group. He calls it the Cross of Divinity. |
Chúng ta dùng thập giá tay dài từ trái sang phải, và chúng ta dùng mantram được đưa ra ở đây, gia tăng ánh sáng khi tiến hành: “Với tư cách một linh hồn, tôi làm việc trong ánh sáng và bóng tối không thể chạm đến tôi. Tôi đứng vững trong ánh sáng. Tôi làm việc và từ điểm đó tôi không bao giờ chuyển dời.” Đồng thời, một thập giá bảo vệ lớn xuất hiện không chỉ trước mọi người mà còn là thập giá ánh sáng ấy, một thập giá lớn cho toàn nhóm. Ngài gọi nó là Thật Giá Thiên Tính. |
||||||||
|
Now we prepare our beam. We focus the dual light of matter and of mind on the mental plane, and we also meditate on soul contact and recognize soul light. Then we fuse upon the mental plane the two lesser lights of matter and of normal, lower mind—normal thought process—with the light of the soul. So that when we think, we are supported by the vitality of matter and the light of the soul. |
Bây giờ chúng ta chuẩn bị chùm tia của mình. Chúng ta tập trung ánh sáng kép của vật chất và của trí tuệ trên cõi trí, và chúng ta cũng tham thiền về sự tiếp xúc linh hồn và nhận ra ánh sáng linh hồn. Rồi trên cõi trí, chúng ta dung hợp hai ánh sáng thấp hơn của vật chất và của hạ trí bình thường—tiến trình tư tưởng bình thường—với ánh sáng của linh hồn. Như vậy, khi chúng ta suy nghĩ, chúng ta được nâng đỡ bởi sinh lực của vật chất và ánh sáng của linh hồn. |
||||||||
|
Then we will say together, having blended the three of us: “The light is one and in that light shall we see light. This is the light that turns the darkness into day.” |
Rồi chúng ta sẽ cùng nói, sau khi đã hòa trộn ba ánh sáng của mình: “Ánh sáng là một, và trong ánh sáng đó chúng ta sẽ thấy ánh sáng. Đây là ánh sáng biến bóng tối thành ban ngày.” |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
We try to remember that glamour is often thought from the Buddhic plane and is ruled by Scorpio. The light of day is the Scorpionic light. Now the formula as we say together: Radiance are we and power we stand forever with our hands stretched out linking the heavens and the earth. The inner world of meaning and the subtle world of glamour, the world of meaning, the world of the soul and the subtle world of glamour. We reach into the light and bring it down to meet the needs. We reach into the silent place and bring forth the gift of understanding. |
Chúng ta cố nhớ rằng ảo cảm thường được xem là tư tưởng từ cõi Bồ đề và chịu sự cai quản của Hổ Cáp. Ánh sáng ban ngày là ánh sáng Hổ Cáp. Bây giờ công thức khi chúng ta cùng nói: Chúng ta là sự rạng rỡ và chúng ta đứng trong quyền năng mãi mãi, với đôi tay vươn ra nối liền trời và đất. Thế giới bên trong của ý nghĩa và thế giới vi tế của ảo cảm, Thế giới của ý nghĩa, thế giới của linh hồn và thế giới vi tế của ảo cảm. Chúng ta vươn vào ánh sáng và đưa nó xuống để đáp ứng các nhu cầu. Chúng ta vươn vào nơi im lặng và mang ra món quà của sự thấu hiểu. |
||||||||
|
Thus swift for light we work and turn the darkness into day. Our searchlight is thrown out onto the astral plane—the group searchlight and the group weapon for dissipating the miasms of glamour. We wish to strengthen our beam through the Spiritual Will and visualize that happening. We use the mantram to confirm this strengthening of our triple lighted beam with power upon its beam for light, focused and strong. |
Như thế, nhanh chóng cho ánh sáng, chúng ta làm việc và biến bóng tối thành ban ngày. Đèn pha của chúng ta được phóng ra trên cõi cảm dục—đèn pha nhóm và vũ khí nhóm để làm tiêu tan các khí độc của ảo cảm. Chúng ta muốn tăng cường chùm tia của mình bằng Ý Chí Tinh Thần và hình dung điều đó đang xảy ra. Chúng ta dùng mantram để xác nhận sự tăng cường này của chùm tia tam phân được chiếu sáng của chúng ta với quyền năng trên chùm tia của nó cho ánh sáng, tập trung và mạnh mẽ. |
||||||||
|
The goal for tonight is the dissipation of glamour, specifically the dissipation of the glamour of suspicion which lurks in the aura of those who do not trust. Master Morya talks about the mind of trust. The glamour to be dealt with has the light thrown upon this glamour of suspicion, which is really a kind of projection upon others of what is found within oneself. As DK advises, suspicion which has ruined so many well-intended gestures and initiatives—if everybody is lying to you, then be careful of the lie within yourself. |
Mục tiêu tối nay là làm tiêu tan ảo cảm, cụ thể là làm tiêu tan ảo cảm của sự nghi ngờ vốn ẩn núp trong hào quang của những người không tin cậy. Chân sư Morya nói về trí của sự tin cậy. Ảo cảm cần được xử lý được chiếu ánh sáng lên, ảo cảm của sự nghi ngờ này thật ra là một loại phóng chiếu lên người khác điều được tìm thấy trong chính mình. Như Chân sư DK khuyên, sự nghi ngờ đã làm hỏng biết bao cử chỉ và sáng kiến thiện chí—nếu mọi người đều nói dối các bạn, thì hãy cẩn thận với sự dối trá trong chính mình. |
||||||||
|
We use the words of power: The power of our United Light prevents the appearance of the glamour of suspicion. The power of our United Light negates the quality of the glamour of suspicion from affecting humanity. The power of our United Light destroys the life behind this glamour. |
Chúng ta dùng các Quyền năng từ: Quyền năng của Ánh sáng Hợp nhất của chúng ta ngăn chặn sự xuất hiện của ảo cảm của sự nghi ngờ. Quyền năng của Ánh sáng Hợp nhất của chúng ta phủ định phẩm tính của ảo cảm của sự nghi ngờ khỏi việc ảnh hưởng đến nhân loại. Quyền năng của Ánh sáng Hợp nhất của chúng ta phá hủy sự sống đứng sau ảo cảm này. |
||||||||
|
Now we are visualizing our beam penetrating into this glamour, however we want to visualize it, and producing its weakening and its dissipation. For five minutes we will attend to it interiorly with the group, and yet each in his own way. |
Bây giờ chúng ta đang hình dung chùm tia của mình xuyên vào ảo cảm này, theo bất cứ cách nào chúng ta muốn hình dung, và tạo ra sự suy yếu cũng như sự tiêu tan của nó. Trong năm phút, chúng ta sẽ chú tâm đến nó bên trong cùng với nhóm, nhưng mỗi người theo cách riêng của mình. |
||||||||
|
From the Yoga Sutras: when thoughts contrary to yoga appear, substitute appropriate thoughts for the incorrect thoughts, the contrary thoughts. One day there will be—and may it be sooner than later—a great trust welling up within humanity, and he deserves trust. In those days, as Morya says, when human beings will vibe with each other to do good. |
Từ Kinh Yoga: khi những tư tưởng trái với yoga xuất hiện, hãy thay thế các tư tưởng sai lầm, các tư tưởng đối nghịch ấy, bằng những tư tưởng thích hợp. Một ngày kia sẽ có—và mong rằng sớm hơn là muộn—một sự tin cậy lớn dâng lên trong nhân loại, và nhân loại xứng đáng với sự tin cậy. Trong những ngày ấy, như Morya nói, khi con người sẽ rung cảm cùng nhau để làm điều thiện. |
||||||||
|
Let us withdraw our beam, which has weakened this suspicion, this distrust, this sense that everyone is lying to you. We withdraw our beam. We redistribute the lights in their appropriate place and we sound the OM three times, realizing that glamour in the large sense has been weakened along with illusion and maya. We have learned how to draw our sustenance from the mind of trust. |
Chúng ta hãy rút chùm tia của mình lại, chùm tia đã làm suy yếu sự nghi ngờ này, sự thiếu tin cậy này, cảm giác rằng mọi người đều đang nói dối các bạn. Chúng ta rút chùm tia của mình lại. Chúng ta phân phối lại các ánh sáng vào vị trí thích hợp của chúng và xướng linh từ OM ba lần, nhận ra rằng ảo cảm theo nghĩa rộng đã bị suy yếu cùng với ảo tưởng và ảo lực. Chúng ta đã học cách rút dưỡng chất của mình từ trí của sự tin cậy. |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
Thank you friends for being here to meditate together. If these programs occur at a time that you just can’t make them, they are available on Makara and also on our YouTube station channel Moriah Federation esoteric education. |
Cảm ơn các bạn đã có mặt ở đây để cùng tham thiền. Nếu các chương trình này diễn ra vào thời điểm các bạn không thể tham dự, chúng có sẵn trên Makara và cũng trên kênh YouTube giáo dục huyền bí của Liên đoàn Moriah. |
||||||||
|
I don’t think we have anything coming up tomorrow, but on Sunday we do. On Sunday there is the Assumption of Mary meditation. We know what Mary means symbolically as the acquiescent disciple, but also as the Earth itself. We always have that in August, August 15. |
Tôi không nghĩ ngày mai chúng ta có chương trình gì, nhưng Chủ nhật thì có. Vào Chủ nhật có buổi tham thiền Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Chúng ta biết Mary có nghĩa gì về mặt biểu tượng, như người đệ tử thuận phục, nhưng cũng như chính Trái Đất. Chúng ta luôn có buổi đó vào tháng Tám, ngày 15 tháng Tám. |
||||||||
|
Then Francis will be offering one of his webinars, Hear the Secret Doctrine. There is also on the weekly schedule time for you to rest and prepare for us. |
Rồi Francis sẽ trình bày một trong các webinar của ông, Hãy Nghe Giáo Lý Bí Nhiệm. Trong lịch hằng tuần cũng có thời gian để các bạn nghỉ ngơi và chuẩn bị cho chúng ta. |
||||||||
|
Friends, there’s plenty to assimilate and apply, and it is a question of whether we do it or do not do it. Think about your sense of values—what you value the most and why, what is the essential? Are you engaged in the doing of that which is essential? |
Các bạn thân mến, có rất nhiều điều để đồng hóa và áp dụng, và vấn đề là chúng ta có làm hay không làm. Hãy nghĩ về ý thức giá trị của các bạn—điều các bạn coi trọng nhất và tại sao, điều gì là thiết yếu? Các bạn có đang tham gia vào việc làm điều thiết yếu đó không? |
||||||||
|
All of us on the communications team wish you lots of love and many blessings and continued persistence in this work over the next several years. The counterforce will probably get worse before it gets better. That’s not a nice thing to think about, but they are desperate and will obsess everyone they can, driving them in the wrong direction—the direction which leads to no spiritual benefit or improvement for humanity. We have to be ready for that. |
Tất cả chúng tôi trong nhóm truyền thông gửi đến các bạn thật nhiều tình thương, nhiều phúc lành và sự kiên trì tiếp tục trong công việc này trong vài năm tới. Mãnh lực đối kháng có lẽ sẽ tệ hơn trước khi tốt hơn. Đó không phải là điều dễ chịu để nghĩ tới, nhưng họ tuyệt vọng và sẽ ám ảnh mọi người họ có thể, đẩy họ theo hướng sai lầm—hướng không dẫn đến lợi ích tinh thần hay sự cải thiện nào cho nhân loại. Chúng ta phải sẵn sàng cho điều đó. |
||||||||
|
Michael, thank you for your help on all these Zoom matters. It really helps to have someone who knows the program inside out. We wish you the best. |
Michael, cảm ơn Thầy vì sự giúp đỡ trong tất cả các vấn đề Zoom này. Thật hữu ích khi có người biết chương trình từ trong ra ngoài. Chúng tôi chúc Thầy mọi điều tốt đẹp nhất. |
||||||||
|
We will sign off at this point. Happy Friday the 13th. But remember, the 34th anniversary of the founding of the University of the seven rays is also on August the 13th. I don’t think it was Friday—I think it was a Thursday. I’ll have to look it up, but that would have been maybe a little more auspicious. |
Chúng ta sẽ kết thúc tại điểm này. Chúc mừng thứ Sáu ngày 13. Nhưng hãy nhớ, kỷ niệm 34 năm thành lập Đại học Bảy Cung cũng vào ngày 13 tháng Tám. Tôi không nghĩ đó là thứ Sáu—tôi nghĩ đó là thứ Năm. Tôi sẽ phải tra lại, nhưng như vậy có lẽ tốt lành hơn một chút. |
||||||||
|
Bye for now. |
Tạm biệt. |
||||||||
|
Webinar 183, p. 197– |
Webinar 183, tr. 197– |
||||||||
|
Abstract |
Tóm tắt |
||||||||
|
Dissipation of Glamour Initiative Webinar 183, reading no. 120. The reading was from Glamour: A World Problem, pages 197–198. DK continues his discussion on the light of the soul as it dissipates glamour in the three worlds and how it concerns the astral plane, and a service to be rendered that is vital and timely (ridding the world of the individual and the world glamour which holds humanity in thrall). |
Webinar Sáng Kiến Xua Tan Ảo cảm 183, bài đọc số 120. Bài đọc trích từ Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới, các trang 197–198. Chân sư DK tiếp tục phần bàn luận của Ngài về ánh sáng của linh hồn khi nó làm tiêu tan ảo cảm trong ba cõi thấp và cách điều đó liên quan đến cõi cảm dục, cũng như một sự phụng sự cần được thực hiện, vốn thiết yếu và đúng thời điểm: giải thoát thế giới của cá nhân và ảo cảm thế giới đang giam giữ nhân loại trong sự nô lệ. |
||||||||
|
The new era which will open up before mankind after war will be distinguished by its mental polarization and freedom from glamour; then illusion will for a time control until the intuition is more fully developed. The second characteristic of the new era will be the scientific approach to the entire problem of glamour which will then be scientifically dissipated by the use of the illumined minds of groups, working in unison for just that purpose. |
Kỷ nguyên mới sẽ mở ra trước nhân loại sau chiến tranh sẽ được phân biệt bởi sự phân cực trí tuệ và sự tự do khỏi ảo cảm; khi ấy ảo tưởng sẽ kiểm soát trong một thời gian cho đến khi trực giác được phát triển đầy đủ hơn. Đặc điểm thứ hai của kỷ nguyên mới sẽ là cách tiếp cận khoa học đối với toàn bộ vấn đề ảo cảm, khi ấy ảo cảm sẽ được làm tiêu tan một cách khoa học bằng việc sử dụng các thể trí được soi sáng của các nhóm, làm việc hợp nhất vì chính mục đích đó. |
||||||||
|
Groups will eventually be formed of those who are working at the dissipation of glamour in their individual lives and who are also capable of the special objective of ridding the astral plane of its significant glamours for humanity. They will work unitedly on some major phase of world glamour by the power of their individual illumined minds; unitedly they will turn the searchlight of the mind upon the mists and fogs of Earth. |
Cuối cùng, các nhóm sẽ được thành lập gồm những người đang làm việc để làm tiêu tan ảo cảm trong đời sống cá nhân của họ và cũng có khả năng theo đuổi mục tiêu đặc biệt là giải thoát cõi cảm dục khỏi những ảo cảm quan trọng của nó đối với nhân loại. Họ sẽ cùng nhau làm việc trên một giai đoạn lớn nào đó của ảo cảm thế giới bằng quyền năng của các thể trí cá nhân được soi sáng của họ; cùng nhau, họ sẽ hướng đèn pha của thể trí vào những màn sương và mù của Trái Đất. |
||||||||
|
The meditation itself was on the glamour of hatred. This meeting was held on August 27, 2021. |
Chính bài tham thiền là về ảo cảm của thù hận. Buổi họp này được tổ chức vào ngày 27 tháng Tám, 2021. |
||||||||
|
Text |
Văn bản |
||||||||
|
The theme with which we are dealing—the light of the soul as it dissipates glamour in the three worlds—is the most practical and useful and needed subject for study to be found today: [1a] it concerns the astral plane, and the service to be rendered is vital and timely. [1b] The ridding of the world of the individual and the world of humanity as a whole of the all-enveloping glamour which holds humanity in thrall is an essential requirement for the race. [1c] The new era which will open up before mankind at the close of the war will be distinguished by its mental polarisation and consequent freedom from glamour; [1d] then illusion will for a time control until the intuition is more fully developed. This illusion will produce vastly different results to those which follow when men live and work in the midst of glamour. [1e] The second characteristic of the new era will be the scientific approach to the entire problem of glamour which will then be recognised for what it is and will be scientifically dissipated by the use of the illumined minds of groups, working in unison for just that purpose [1f] |
Chủ đề mà chúng ta đang đề cập—ánh sáng của linh hồn khi nó làm tiêu tan ảo cảm trong ba cõi thấp—là đề tài thực tiễn, hữu ích và cần thiết nhất cho việc nghiên cứu hiện nay: [1a] nó liên quan đến cõi cảm dục, và sự phụng sự cần được thực hiện là thiết yếu và đúng thời điểm. [1b] Việc giải thoát thế giới của cá nhân và thế giới của toàn thể nhân loại khỏi ảo cảm bao trùm tất cả, vốn giam giữ nhân loại trong sự nô lệ, là một yêu cầu thiết yếu đối với nhân loại. [1c] Kỷ nguyên mới sẽ mở ra trước nhân loại vào cuối chiến tranh sẽ được phân biệt bởi sự phân cực trí tuệ và do đó là sự tự do khỏi ảo cảm; [1d] khi ấy ảo tưởng sẽ kiểm soát trong một thời gian cho đến khi trực giác được phát triển đầy đủ hơn. Ảo tưởng này sẽ tạo ra những kết quả vô cùng khác với những kết quả phát sinh khi con người sống và làm việc giữa ảo cảm. [1e] Đặc điểm thứ hai của kỷ nguyên mới sẽ là cách tiếp cận khoa học đối với toàn bộ vấn đề ảo cảm, khi ấy nó sẽ được nhận ra đúng như bản chất của nó và sẽ được làm tiêu tan một cách khoa học bằng việc sử dụng các thể trí được soi sáng của các nhóm, làm việc hợp nhất vì chính mục đích đó [1f] |
||||||||
|
The proposition, therefore, which I am laying before you (who are the aspirants and the disciples of the world) is the posibility of a definite world service. [1g] Groups will eventually be formed of those who are working at the dissipation of glamour in their individual lives and who are doing so not so much in order to achieve their own liberation but with the special objective of ridding the astral plane of its significant glamours. [1h] They will work unitedly on some major phase of world glamour by the power of their individual illumined minds; unitedly they will turn “the searchlight of the mind, reflecting the light of the sun but at the same time radiating its own inner light upon the mists and fogs of Earth, for in these mists and fogs all men stumble. [1i] [Page 198] Within the lighted sphere of the focussed radiant light, reality will issue forth triumphant.” [1j] |
Do đó, mệnh đề mà Tôi đặt trước các bạn, là những người chí nguyện và các đệ tử của thế giới, là khả năng về một sự phụng sự thế giới rõ rệt. [1g] Cuối cùng, các nhóm sẽ được thành lập gồm những người đang làm việc để làm tiêu tan ảo cảm trong đời sống cá nhân của họ, và họ làm như vậy không quá nhằm đạt được sự giải thoát riêng của mình, mà với mục tiêu đặc biệt là giải thoát cõi cảm dục khỏi các ảo cảm quan trọng của nó. [1h] Họ sẽ cùng nhau làm việc trên một giai đoạn lớn nào đó của ảo cảm thế giới bằng quyền năng của các thể trí cá nhân được soi sáng của họ; cùng nhau, họ sẽ hướng “đèn pha của thể trí, phản chiếu ánh sáng của mặt trời nhưng đồng thời tỏa chiếu ánh sáng bên trong của chính nó lên những màn sương và mù của Trái Đất, vì trong những màn sương và mù này mọi người đều vấp ngã. [1i] [Trang 198] Trong khối cầu được chiếu sáng của ánh sáng rạng rỡ được tập trung, thực tại sẽ xuất hiện khải hoàn.” [1j] |
||||||||
|
End of GWP Program 183, Reading 120 pages 197—198 |
Kết thúc Chương trình Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới 183, Bài đọc 120, các trang 197—198 |
||||||||
|
Commentary |
Bình giảng |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
Hi, everybody, welcome to our continuing work with Glamour: A World Problem, and boy, are we in the thick of it now tonight, or at least night here in Europe. We will be working again with this virulent type of glamour. Master DK calls it the great glamour of hatred, and we have seen dreadful examples of that recently in that flashpoint in Kabul, the capital city of Afghanistan, and surrounding the airport. I read that now, what was it—the number keeps going up. In addition to the 13 or so US servicemen, and maybe service women too, I don’t know, that have been killed, something like 170 Afghans who were trying to be evacuated have been killed too. It was a huge number. |
Chào tất cả các bạn, chào mừng các bạn trở lại với công việc tiếp tục của chúng ta về Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới; tối nay chúng ta đang ở ngay giữa vấn đề, hay ít nhất là buổi tối ở đây, tại châu Âu. Chúng ta sẽ lại làm việc với loại ảo cảm độc hại này. Chân sư DK gọi đó là đại ảo cảm của lòng thù hận, và gần đây chúng ta đã thấy những ví dụ khủng khiếp về điều đó tại điểm nóng ở Kabul, thủ đô Afghanistan, và khu vực quanh sân bay. Tôi đọc thấy con số hiện nay cứ tiếp tục tăng. Ngoài khoảng 13 quân nhân Hoa Kỳ, và có lẽ cả nữ quân nhân nữa, tôi không rõ, đã thiệt mạng, còn có khoảng 170 người Afghanistan đang cố gắng được di tản cũng đã thiệt mạng. Đó là một con số rất lớn. |
||||||||
|
It seems appropriate to meditate on the vicious state of mind which is often caused by a very concrete and literal interpretation of religion, and religion of a violent kind. It seems right to work on that. Tuija and I have a meditation—kind of a vigil—which we’ll be doing nightly now as the crisis ramps up. That will be done at 7:30 GMT tonight. It will be a broadcast and not a Zoom cast, and it will try to surround the situation with more positive energies, hoping that the esoteric approach will contribute to some lessening of the impending—it seems almost inevitable—bloodshed that looks indicative at the present moment. |
Có vẻ thích hợp khi tham thiền về trạng thái thể trí độc ác, thường do sự diễn giải tôn giáo một cách rất cụ thể và sát nghĩa gây ra, và đó là thứ tôn giáo mang tính bạo lực. Làm việc về điều ấy là đúng đắn. Tuija và tôi có một bài tham thiền—gần như một buổi canh thức—mà từ nay chúng tôi sẽ thực hiện hằng đêm khi cuộc khủng hoảng leo thang. Buổi đó sẽ diễn ra lúc 7 giờ 30 tối theo giờ GMT. Đó sẽ là một buổi phát sóng, không phải buổi Zoom, và sẽ cố gắng bao quanh tình huống bằng những năng lượng tích cực hơn, với hy vọng rằng cách tiếp cận huyền bí sẽ góp phần làm giảm bớt cuộc đổ máu đang đến gần—dường như gần như không thể tránh khỏi—mà hiện nay có nhiều dấu hiệu cho thấy. |
||||||||
|
We also have to hope that decisions made by the White House and by the American Army are the right ones. I wonder how we can say the right ones, because the dilemma is terrible. But there are many people who have been evacuated from that apparently no-win situation as maybe possible, and that includes the loyal Afghans of course, who were trying to build a new society independent of the kind of vicious fundamentalism that exists and has existed in the outer realms for quite a while. |
Chúng ta cũng phải hy vọng rằng các quyết định do Nhà Trắng và Quân đội Hoa Kỳ đưa ra là những quyết định đúng đắn. Tôi tự hỏi làm sao chúng ta có thể nói là đúng đắn, bởi vì tình trạng tiến thoái lưỡng nan thật khủng khiếp. Nhưng nhiều người đã được di tản khỏi tình huống dường như không thể thắng ấy, trong chừng mực có thể, và dĩ nhiên điều đó bao gồm những người Afghanistan trung thành, những người đã cố gắng xây dựng một xã hội mới, độc lập với thứ chủ nghĩa cực đoan độc ác đang tồn tại và đã tồn tại trong các lĩnh vực bên ngoài từ khá lâu. |
||||||||
|
We just have to do our best to support. That’s all I can say, and I won’t say much more about that. We will do our best tonight to meditate as usual on the great glamour of hatred, and then get into the vigil meditation we’ve been planning with promptings from many people who’d like to see that. We had long been anticipating that we might do that, and then it looks like it’s something that people really want to get into. |
Chúng ta chỉ phải làm hết sức mình để hỗ trợ. Tôi chỉ có thể nói vậy, và sẽ không nói thêm nhiều về điều đó. Tối nay, chúng ta sẽ cố gắng hết sức để tham thiền như thường lệ về đại ảo cảm của lòng thù hận, rồi bước vào bài tham thiền canh thức mà chúng ta đã lên kế hoạch, với sự thúc đẩy từ nhiều người muốn thấy điều ấy được thực hiện. Từ lâu chúng ta đã dự liệu rằng có thể mình sẽ làm điều đó, và rồi có vẻ như đó là điều mọi người thật sự muốn tham dự. |
||||||||
|
Now, our work. Let’s make sure I’m actually being heard. |
Công việc của chúng ta. Hãy chắc rằng tôi thật sự đang được nghe thấy. |
||||||||
|
Let’s read a little ongoingly in the book as we do, and it will help us develop the techniques we need to confront this great world problem glamour, of which those afflicted are so unaware. That’s the problem, of course—people are subject to wrong desire that leads nowhere, and which is distorted, and they don’t know it. Millions and millions don’t know it. |
Chúng ta hãy tiếp tục đọc một chút trong sách như thường lệ, và điều đó sẽ giúp chúng ta phát triển các kỹ thuật cần thiết để đối diện với ảo cảm vĩ đại này, vấn đề thế giới này, mà những người bị nó chi phối lại hoàn toàn không nhận biết. Dĩ nhiên đó chính là vấn đề—con người chịu sự chi phối của dục vọng sai lầm, không dẫn đến đâu, bị méo mó, và họ không biết điều đó. Hàng triệu triệu người không biết điều đó. |
||||||||
|
It’s even hard for disciples to understand when they are afflicted by glamorous tendencies. It oftentimes takes someone else to point it out. Often when the Master pointed out the glamours involved, the disciples were very surprised, either denying that it might be the case, or falling into depression, both of which were glamorous reactions in their own right. |
Ngay cả các đệ tử cũng khó thấu hiểu khi họ bị những khuynh hướng ảo cảm chi phối. Thường cần có người khác chỉ ra điều đó. Khi Chân sư chỉ ra những ảo cảm liên quan, các đệ tử thường rất ngạc nhiên, hoặc phủ nhận rằng có thể như vậy, hoặc rơi vào trầm cảm; cả hai đều là những phản ứng mang tính ảo cảm theo đúng nghĩa của chúng. |
||||||||
|
So, although our attention now is on a world crisis situation, maybe we can learn a little bit of something from going on with the reading. Here we are, apparently on page 197. Djwhal Khul says, |
Dù hiện nay sự chú ý của chúng ta đặt vào một tình huống khủng hoảng thế giới, có lẽ chúng ta vẫn có thể học được đôi điều khi tiếp tục đọc. Chúng ta đang ở, dường như, trang 197. Chân sư Djwhal Khul nói, |
||||||||
|
The theme with which we are dealing—the light of the soul as it dissipates glamour in the three worlds |
Chủ đề mà chúng ta đang bàn đến—ánh sáng của linh hồn khi nó làm tiêu tan ảo cảm trong ba cõi thấp |
||||||||
|
Remember too that there is a light of the intuition which is also pulled into what he calls the dispelling of glamour. This light of the soul, as it dissipates glamour in the three worlds… |
Cũng hãy nhớ rằng có một ánh sáng của trực giác, cũng được kéo vào điều mà Ngài gọi là sự xua tan ảo cảm. Ánh sáng này của linh hồn, khi nó làm tiêu tan ảo cảm trong ba cõi thấp… |
||||||||
|
—is the most practical and useful and needed subject for study to be found today: [1a] |
—là đề tài thực tiễn, hữu ích và cần thiết nhất cho việc nghiên cứu hiện nay: [1a] |
||||||||
|
That may be why we’re using this technique of light for the dissipation of glamour. DK goes on and says, |
Đó có thể là lý do chúng ta đang dùng Kỹ Thuật Ánh sáng này để làm tiêu tan ảo cảm. Chân sư DK tiếp tục nói, |
||||||||
|
it concerns the astral plane, and the service to be rendered is vital and timely. [1b] |
nó liên quan đến cõi cảm dục, và sự phụng sự cần thực hiện là thiết yếu và đúng lúc. [1b] |
||||||||
|
Service is largely directed towards the astral plane as we focused our disciplinary beam on the astral plane. Djwhal Khul goes on to say, |
Sự phụng sự phần lớn hướng về cõi cảm dục khi chúng ta tập trung tia kỷ luật của mình lên cõi cảm dục. Chân sư Djwhal Khul tiếp tục nói, |
||||||||
|
The ridding of the world of the individual and the world of humanity as a whole of the all-enveloping glamour which holds humanity in thrall |
Việc giải thoát thế giới của cá nhân và thế giới của toàn thể nhân loại khỏi ảo cảm bao trùm tất cả, vốn giam giữ nhân loại trong vòng nô lệ, |
||||||||
|
Let’s remember that word thrall means prison. |
Hãy nhớ rằng từ thrall có nghĩa là nhà tù. |
||||||||
|
the all-enveloping glamour which holds humanity in thrall is an essential requirement for the race. [1c] |
ảo cảm bao trùm tất cả, vốn giam giữ nhân loại trong vòng nô lệ, là một yêu cầu thiết yếu đối với nhân loại. [1c] |
||||||||
|
The new era which will open up before mankind at the close of the war |
Kỷ nguyên mới sẽ mở ra trước nhân loại vào lúc chiến tranh kết thúc |
||||||||
|
This was still written apparently as the war was raging. |
Điều này dường như vẫn được viết khi chiến tranh đang diễn ra dữ dội. |
||||||||
|
The new era which will open up before mankind at the close of the war will be distinguished by its mental polarisation and consequent freedom from glamour; [1d] |
Kỷ nguyên mới sẽ mở ra trước nhân loại vào lúc chiến tranh kết thúc sẽ được phân biệt bởi sự phân cực trí tuệ và sự tự do hệ quả khỏi ảo cảm; [1d] |
||||||||
|
Mental polarization has to be contrasted with mental focus. Mental polarization is a more advanced stage, which comes from defeating three major tendencies which the Christ named the world, the flesh, and the devil. Following the baptism, he went into the desert, and there he fasted, and there he encountered these three temptations, and there he set, for all humanity, an example of how to achieve mental polarization and a path which would lead to the Transfiguration. |
Sự phân cực trí tuệ phải được đối chiếu với tập trung trí tuệ. Sự phân cực trí tuệ là một giai đoạn tiến xa hơn, phát sinh từ việc chiến thắng ba khuynh hướng chính mà Đức Christ đã gọi là thế gian, xác thịt và ma quỷ. Sau lễ rửa tội, Ngài đi vào sa mạc, tại đó Ngài nhịn ăn, tại đó Ngài gặp ba cám dỗ này, và tại đó Ngài nêu cho toàn thể nhân loại một tấm gương về cách đạt được sự phân cực trí tuệ và một con đường dẫn đến Biến hình. |
||||||||
|
There will be this consequent freedom from glamour, and then, says The Tibetan… |
Sẽ có sự tự do hệ quả này khỏi ảo cảm, và rồi Chân sư Tây Tạng nói… |
||||||||
|
then illusion will for a time control until the intuition is more fully developed. |
khi ấy ảo tưởng sẽ kiểm soát trong một thời gian, cho đến khi trực giác được phát triển đầy đủ hơn. |
||||||||
|
This illusion will produce vastly different results to those which follow when men live and work in the midst of glamour. |
Ảo tưởng này sẽ tạo ra những kết quả khác hẳn với những kết quả xảy ra khi con người sống và làm việc giữa ảo cảm. |
||||||||
|
When we work with the Technique of the Presence, we are working on the relationship between intuition and the dispelling of illusion. But he has also said that there is a way in which the dispelling of world glamour is related as well to the intuition found upon the Buddhic plane. DK goes on and says, |
Khi chúng ta làm việc với Kỹ Thuật của Hiện Diện, chúng ta đang làm việc trên mối quan hệ giữa trực giác và sự xua tan ảo tưởng. Nhưng Ngài cũng đã nói rằng có một cách trong đó việc xua tan ảo cảm thế giới cũng liên hệ với trực giác được tìm thấy trên cõi Bồ đề. Chân sư DK tiếp tục nói, |
||||||||
|
then illusion will for a time control until the intuition is more fully developed. |
khi ấy ảo tưởng sẽ kiểm soát trong một thời gian, cho đến khi trực giác được phát triển đầy đủ hơn. |
||||||||
|
This means that we will be interpreting what we receive in a fairly inaccurate manner because of the limitations of our mind. Later, this illusion will be dispelled, and more and more people will have to become mentally focused before dealing with illusion, which is a problem of the same magnitude as dealing with glamour. He goes on to say: |
Điều này có nghĩa là chúng ta sẽ diễn giải những gì mình tiếp nhận theo một cách khá thiếu chính xác vì những giới hạn của thể trí. Về sau, ảo tưởng này sẽ được xua tan, và ngày càng nhiều người phải trở nên tập trung trí tuệ trước khi xử lý ảo tưởng, vốn là một vấn đề có tầm mức ngang với việc xử lý ảo cảm. Ngài tiếp tục nói: |
||||||||
|
This illusion will produce vastly different results to those which follow when men live and work in the midst of glamour [1e] |
Ảo tưởng này sẽ tạo ra những kết quả khác hẳn với những kết quả xảy ra khi con người sống và làm việc giữa ảo cảm [1e] |
||||||||
|
We have to realize that there are problems involved both with mental focus and with emotional focus. Either one of them can be problematic, but the most problematic at this time is the condition of glamour. If some of you have seen video footage from the attempted takeover of the American Capitol in January 6, 2021, you really saw glamour at work. The people there were absolutely swept by this condition. |
Chúng ta phải nhận ra rằng có những vấn đề liên quan cả đến tập trung trí tuệ lẫn tập trung cảm xúc. Cả hai đều có thể gây vấn đề, nhưng điều gây vấn đề nhiều nhất vào lúc này là tình trạng ảo cảm. Nếu một số các bạn đã xem những đoạn phim về nỗ lực chiếm Điện Capitol Hoa Kỳ ngày 6 tháng 1 năm 2021, các bạn thật sự đã thấy ảo cảm đang hoạt động. Những người ở đó hoàn toàn bị cuốn đi bởi tình trạng này. |
||||||||
|
Of course, some of them, I suppose, were in the state of illusion as well, but maybe they were the less violent type. Because glamour is connected with Mars and with the astral plane, it can lead to violent reactions, and that’s the very thing that now we have to look forward to. |
Dĩ nhiên, tôi cho rằng một số người trong họ cũng ở trong trạng thái ảo tưởng, nhưng có lẽ họ thuộc loại ít bạo lực hơn. Bởi vì ảo cảm liên kết với Sao Hỏa và với cõi cảm dục, nó có thể dẫn đến những phản ứng bạo lực, và đó chính là điều hiện nay chúng ta phải nhìn thẳng. |
||||||||
|
It’s happening right now in a different way in Afghanistan, and it can happen anywhere within the United States. People thoughtlessly feel that something is being taken away from them, and they turn into glamorous responses. |
Điều đó đang xảy ra ngay lúc này theo một cách khác tại Afghanistan, và nó có thể xảy ra ở bất cứ đâu trong Hoa Kỳ. Con người thiếu suy nghĩ mà cảm thấy rằng có điều gì đó đang bị lấy khỏi họ, và họ chuyển thành những đáp ứng đầy ảo cảm. |
||||||||
|
Now, Djwhal Khul goes on to say, |
Chân sư Djwhal Khul tiếp tục nói, |
||||||||
|
The second characteristic of the new era will be the scientific approach to the entire problem of glamour which will then be recognised for what it is |
Đặc điểm thứ hai của kỷ nguyên mới sẽ là cách tiếp cận khoa học đối với toàn bộ vấn đề ảo cảm, khi ấy sẽ được nhận ra đúng như bản chất của nó |
||||||||
|
Because people will be more mentally focused, the scientific approach will be more widely recognized. Glamour under the scientific approach will be… |
Bởi vì con người sẽ tập trung trí tuệ nhiều hơn, cách tiếp cận khoa học sẽ được nhận biết rộng rãi hơn. Ảo cảm, dưới cách tiếp cận khoa học, sẽ… |
||||||||
|
will be the scientific approach to the entire problem of glamour which will then be recognised for what it is and will be scientifically dissipated by the use of the illumined minds of groups, |
sẽ là cách tiếp cận khoa học đối với toàn bộ vấn đề ảo cảm, khi ấy sẽ được nhận ra đúng như bản chất của nó và sẽ được làm tiêu tan một cách khoa học bằng việc sử dụng các thể trí được soi sáng của các nhóm, |
||||||||
|
That’s a little bit of what we’re attempting right now, but it’s only in a partial measure. |
Đó là phần nào điều chúng ta đang cố gắng thực hiện ngay bây giờ, nhưng chỉ ở mức độ một phần. |
||||||||
|
it will be dissipated by the use of the illumined mind of groups working in unison for just this purpose [1f] |
nó sẽ được làm tiêu tan bằng việc sử dụng thể trí được soi sáng của các nhóm cùng làm việc trong sự hợp nhất cho đúng mục đích này [1f] |
||||||||
|
Sometimes, when we read some of the fifth ray Old Commentary sections, we get the idea of how this attack against glamour must be orchestrated. The time is coming. |
Đôi khi, khi chúng ta đọc một số đoạn Cổ Luận thuộc cung năm, chúng ta có được ý niệm về cách cuộc tấn công chống lại ảo cảm này phải được phối hợp. Thời điểm ấy đang đến. |
||||||||
|
Mental polarization or mental focus and scientific approach—these two factors are needed now to set to the side, to dissipate this terrible problem of glamour. The Tibetan has said somewhere that both he and Alice Bailey have a horror of glamour. And he says, “Well, she may have succumbed to it more recently than I… It was a longer time ago that I succumb to it.” But still, their orientation is firm: the glamour must be dissipated, it must be attacked, rendered weak, devitalised. All those things that can come from the right use of the beam which is produced by the mental logic, the vital support of etheric matter, and also the light of the soul. And that’s when we work. That’s how we do work. |
Sự phân cực trí tuệ hoặc tập trung trí tuệ, và cách tiếp cận khoa học—hai yếu tố này hiện nay cần thiết để gạt sang một bên, để làm tiêu tan vấn đề khủng khiếp của ảo cảm. Chân sư Tây Tạng đã nói ở đâu đó rằng cả Ngài lẫn Alice Bailey đều kinh sợ ảo cảm. Và Ngài nói: “Bà ấy có thể đã khuất phục trước nó gần đây hơn Tôi… Còn Tôi thì đã khuất phục trước nó từ lâu hơn.” Nhưng định hướng của các Ngài vẫn vững chắc: ảo cảm phải được làm tiêu tan, phải bị tấn công, bị làm suy yếu, bị rút sinh lực. Tất cả những điều ấy có thể đến từ việc sử dụng đúng đắn tia sáng được tạo ra bởi luận lý trí tuệ, sự nâng đỡ sinh lực của vật chất dĩ thái, và cả ánh sáng của linh hồn. Và đó là lúc chúng ta làm việc. Đó là cách chúng ta thật sự làm việc. |
||||||||
|
Now, we may also be working with the Technique of the Presence as we go along. And we will probably work with it. |
Chúng ta cũng có thể làm việc với Kỹ Thuật của Hiện Diện khi tiếp tục. Và có lẽ chúng ta sẽ làm việc với nó. |
||||||||
|
The proposition, therefore, which I am laying before you (who are the aspirants and the disciples of the world) |
Vì vậy, mệnh đề mà Tôi đặt trước các bạn, những người chí nguyện và các đệ tử của thế giới, |
||||||||
|
And certainly, not only the aspirants and disciples, but those that he has gathered around himself. |
Và chắc chắn không chỉ những người chí nguyện và các đệ tử, mà còn những người Ngài đã quy tụ quanh Ngài. |
||||||||
|
The proposition, therefore, which I am laying before you (who are the aspirants and the disciples of the world) is the posibility of a definite world service. [1g] |
Vì vậy, mệnh đề mà Tôi đặt trước các bạn, những người chí nguyện và các đệ tử của thế giới, là khả năng về một sự phụng sự thế giới rõ rệt. [1g] |
||||||||
|
There’s something much more going on here—something that is possibly of real value. DK seems to be proposing something of real value, and we need to keep this in mind. Otherwise, we may think it’s simply a nice meditation and that we’re doing our part, but that misses the deeper significance of what’s being offered. |
Có điều gì đó lớn hơn nhiều đang diễn ra ở đây—một điều có thể thật sự có giá trị. Chân sư DK dường như đang đề xuất một điều thật sự có giá trị, và chúng ta cần ghi nhớ điều này. Nếu không, chúng ta có thể nghĩ rằng đó chỉ đơn giản là một bài tham thiền tốt đẹp và rằng chúng ta đang làm phần việc của mình, nhưng như vậy là bỏ lỡ thâm nghĩa sâu xa hơn của điều đang được trao. |
||||||||
|
DK goes on to say |
Chân sư DK tiếp tục nói |
||||||||
|
Groups will eventually be formed of those who are working at the dissipation of glamour in their individual lives |
Cuối cùng, các nhóm sẽ được hình thành gồm những người đang làm việc để làm tiêu tan ảo cảm trong đời sống cá nhân của họ |
||||||||
|
When we use the Technique of Light, we can all use it in an individual way as well. If we were quite convinced as to what particular glamour we may be suffering from—let me say that the glamour of fear is perhaps the fourth or fifth out of nine of the heads of the Hydra. It is a kind of seed of many types of glamour. |
Khi dùng Kỹ Thuật Ánh sáng, tất cả chúng ta cũng có thể dùng nó theo cách cá nhân. Nếu chúng ta khá xác tín về ảo cảm đặc thù nào mà mình có thể đang chịu đựng—ảo cảm của sợ hãi có lẽ là đầu thứ tư hoặc thứ năm trong chín đầu của Hydra. Nó là một loại hạt giống của nhiều loại ảo cảm. |
||||||||
|
Again, with the Tibetan, |
Trở lại với Chân sư Tây Tạng, |
||||||||
|
Groups will eventually be formed of those who are working at the dissipation of glamour in their individual lives and who are doing so not so much in order to achieve their own liberation but with the special objective of ridding the astral plane of its significant glamours. [1h] |
Cuối cùng, các nhóm sẽ được hình thành gồm những người đang làm việc để làm tiêu tan ảo cảm trong đời sống cá nhân của họ, và họ làm như vậy không phải chủ yếu để đạt được sự giải thoát riêng của mình, mà với mục tiêu đặc biệt là giải thoát cõi cảm dục khỏi những ảo cảm quan trọng của nó. [1h] |
||||||||
|
That’s pretty interesting. You might think you’re working to rid yourself of disturbing and plan-thwarting glamours, but in fact, by doing that, we are helping the entire astral plane. |
Điều đó khá thú vị. Các bạn có thể nghĩ rằng mình đang làm việc để giải thoát bản thân khỏi những ảo cảm gây xáo trộn và cản trở Thiên Cơ, nhưng thật ra, bằng cách làm điều đó, chúng ta đang giúp toàn thể cõi cảm dục. |
||||||||
|
The Trained Observers, of course, are the seed group particularly focused on this type of dissipation of glamour. They observe with accuracy where the glamours are, and then they apply themselves, using the light of the soul and our beam—our dissipatory beam—to help loosen the hold of glamour upon the consciousness of humanity. DK goes on: |
Các Nhà Quan Sát Lão Luyện, dĩ nhiên, là nhóm hạt giống đặc biệt tập trung vào loại làm tiêu tan ảo cảm này. Họ quan sát chính xác nơi các ảo cảm hiện diện, rồi họ áp dụng chính mình, dùng ánh sáng của linh hồn và tia của chúng ta—tia làm tiêu tan của chúng ta—để giúp nới lỏng sự nắm giữ của ảo cảm trên tâm thức nhân loại. Chân sư DK tiếp tục: |
||||||||
|
They will work unitedly on some major phase of world glamour by the power of their individual illumined minds; |
Họ sẽ cùng nhau làm việc trên một giai đoạn chính nào đó của ảo cảm thế giới bằng quyền năng của các thể trí cá nhân được soi sáng của họ; |
||||||||
|
The members of such groups have to achieve some requisite degree of illumination, otherwise they can’t really work on a major phase of world glamour. DK goes on to say, |
Các thành viên của những nhóm như vậy phải đạt được một mức độ soi sáng cần thiết nào đó, nếu không họ không thể thật sự làm việc trên một giai đoạn chính của ảo cảm thế giới. Chân sư DK tiếp tục nói, |
||||||||
|
unitedly they will turn “the searchlight of the mind, reflecting the light of the sun |
trong sự hợp nhất, họ sẽ hướng “đèn pha của thể trí, phản chiếu ánh sáng của mặt trời |
||||||||
|
Notice that term which can indicate the soul and the higher Triadal energies. |
Hãy chú ý thuật ngữ này, vốn có thể chỉ linh hồn và những năng lượng Tam nguyên tinh thần cao hơn. |
||||||||
|
reflecting the light of the sun but at the same time radiating its own inner light upon the mists and fogs of Earth, for in these mists and fogs all men stumble. [1i] |
phản chiếu ánh sáng của mặt trời, nhưng đồng thời phóng tỏa ánh sáng bên trong của chính nó lên những màn sương và lớp mù của Trái Đất, vì trong những màn sương và lớp mù này mọi người đều vấp ngã. [1i] |
||||||||
|
That’s quite an assessment of how pervasive the glamour is, and I don’t think that we would be wise to think that we are discounted from this reaction, this stumbling as he calls it. He has talked about the astral plane and some people think it’s just a beautiful place, but Djwhal Khul has talked about how gray and opaque it is, and how the mist, the fogs, the clouds, the miasmas are the real appearance of this particular plane. At least that’s how it appears to a master. |
Đó là một đánh giá khá rõ về mức độ lan rộng của ảo cảm, và tôi không nghĩ sẽ là khôn ngoan nếu chúng ta cho rằng mình được miễn khỏi phản ứng này, sự vấp ngã này như Ngài gọi. Ngài đã nói về cõi cảm dục, và một số người nghĩ rằng đó chỉ là một nơi đẹp đẽ, nhưng Chân sư Djwhal Khul đã nói về việc nó xám xịt và mờ đục ra sao, và rằng sương, mù, mây, các khí độc mới là vẻ ngoài thực sự của cõi đặc thù này. Ít nhất đó là cách nó hiện ra đối với một Chân sư. |
||||||||
|
In a more structured approach, different groups will have specific tasks within the world’s glamour. We might not be doing this in the way that Djwhal Khul might assign to a group focusing only on some major phase of world glamour; we kind of move around a bit and try to understand how certain glamours are bewildering humanity. But in the future, a more scientific approach will likely assign different groups to specific tasks within the world’s glamour. He also says, |
Trong một cách tiếp cận có cấu trúc hơn, các nhóm khác nhau sẽ có những nhiệm vụ cụ thể trong ảo cảm của thế giới. Có lẽ chúng ta chưa làm điều này theo cách mà Chân sư Djwhal Khul có thể giao cho một nhóm chỉ tập trung vào một giai đoạn chính nào đó của ảo cảm thế giới; chúng ta có phần di chuyển qua lại và cố gắng thấu hiểu cách những ảo cảm nhất định làm nhân loại hoang mang. Nhưng trong tương lai, một cách tiếp cận khoa học hơn có lẽ sẽ giao cho các nhóm khác nhau những nhiệm vụ cụ thể trong ảo cảm của thế giới. Ngài cũng nói, |
||||||||
|
Within the lighted sphere of the focussed radiant light, reality will issue forth triumphant.” [1j] |
Trong khối cầu được soi sáng của ánh sáng rực rỡ được tập trung, thực tại sẽ xuất hiện trong chiến thắng.” [1j] |
||||||||
|
We’re not there yet, but we are approaching it. In the Aquarian Age, we will be more and more successful. |
Chúng ta chưa đến đó, nhưng đang tiến gần đến. Trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, chúng ta sẽ ngày càng thành công hơn. |
||||||||
|
That’s all I’m going to do for right now, since we do have this Vigil coming up. It’s not a long meditation that Tuija will lead, but we have to be ready for it. It’s a broadcast and it’s not something that we’re going to have a chance to really discuss among ourselves. It’s not a Zoom cast. It is simply a broadcast. |
Tạm thời tôi sẽ chỉ làm đến đây, vì chúng ta sắp có buổi Canh thức này. Đó không phải là một bài tham thiền dài mà Tuija sẽ hướng dẫn, nhưng chúng ta phải sẵn sàng cho nó. Đó là một buổi phát sóng, không phải điều mà chúng ta sẽ có cơ hội thật sự thảo luận với nhau. Nó không phải là buổi Zoom. Nó đơn giản là một buổi phát sóng. |
||||||||
|
… |
… |
||||||||
|
There’s a little bit, perhaps, about these specialized groups. They are for the future, but they will work at ridding the astral plane of some major phase of world glamour. They will be especially assigned. We’re not there yet, but the seed group will give us some possibilities to enter that particular kind of phase, and it is a definite World Service. |
Có lẽ có đôi chút về các nhóm chuyên biệt này. Chúng thuộc về tương lai, nhưng họ sẽ làm việc để giải thoát cõi cảm dục khỏi một giai đoạn chính nào đó của ảo cảm thế giới. Họ sẽ được giao nhiệm vụ đặc biệt. Chúng ta chưa đến đó, nhưng nhóm hạt giống sẽ cho chúng ta một số khả năng để bước vào loại giai đoạn đặc thù ấy, và đó là một sự Phụng Sự Thế Gian rõ rệt. |
||||||||
|
Even when we try to rid ourselves of our own glamours, we are helping, in the larger sense, rid the astral plane of the glamours which engulf humanity. If you turn to A Treatise on White Magic, page 473, there are 15 councils, they’re really important. It’s number three, |
Ngay cả khi chúng ta cố gắng giải thoát bản thân khỏi những ảo cảm của chính mình, theo nghĩa rộng hơn, chúng ta đang giúp giải thoát cõi cảm dục khỏi những ảo cảm đang nhấn chìm nhân loại. Nếu các bạn mở Luận về Chánh Thuật, trang 473, có 15 lời khuyên, chúng thật sự quan trọng. Đây là số ba, |
||||||||
|
3. Control the body of emotion for the waves that rise upon the stormy seas of life engulf the swimmer, shut out the sun and render all plans futile. |
3. Hãy kiểm soát thể cảm xúc, vì những làn sóng nổi lên trên biển đời giông bão nhấn chìm người bơi, che khuất mặt trời và làm cho mọi kế hoạch trở nên vô hiệu. |
||||||||
|
Control the body of emotion for the waves that rise upon the stormy seas of life engulf the swimmer |
Hãy kiểm soát thể cảm xúc, vì những làn sóng nổi lên trên biển đời giông bão nhấn chìm người bơi |
||||||||
|
engulf the swimmer, shut out the sun and render all plans futile. |
nhấn chìm người bơi, che khuất mặt trời và làm cho mọi kế hoạch trở nên vô hiệu. |
||||||||
|
The thing we have to do is make sure that the swimmer is not overcome. We are the swimmer, of course, and we must make sure that the sun is not shut out by those waves, and make sure that we’re really helping with the Divine Plan in whatever little way we can do that. |
Điều chúng ta phải làm là bảo đảm rằng người bơi không bị khuất phục. Dĩ nhiên chúng ta là người bơi, và chúng ta phải bảo đảm rằng mặt trời không bị những làn sóng ấy che khuất, và bảo đảm rằng chúng ta thật sự đang giúp cho Thiên Cơ theo bất cứ cách nhỏ bé nào mình có thể. |
||||||||
|
Friends, if you want some really wise advice which eventually will make the reader and the doer able to pass the tests of adeptship—which is Masterhood really—then turn to this particular page in A Treatise on White Magic, and DK tells us that some of these directions, these 15 councils (I call them that: 15 pieces of advice), are given to us, as DK says, |
Các bạn thân mến, nếu các bạn muốn một lời khuyên thật sự minh triết, rốt cuộc sẽ làm cho người đọc và người thực hành có thể vượt qua các thử thách của địa vị chân sư—thật ra là Chân sư tính—thì hãy mở trang đặc thù này trong Luận về Chánh Thuật, và Chân sư DK cho chúng ta biết rằng một số chỉ dẫn này, 15 lời khuyên này, tôi gọi chúng như vậy: 15 lời khuyên, được trao cho chúng ta, như Chân sư DK nói, |
||||||||
|
Some are couched in terms symbolic, others are necessarily blinds, still others express the truth just as it is. |
Một số được diễn đạt bằng ngôn từ biểu tượng, một số khác tất yếu là những màn che, còn những điều khác nữa diễn tả chân lý đúng như nó là. |
||||||||
|
This would be the moment before our meditation, if there’s any thought you would like to express. |
Đây sẽ là khoảnh khắc trước bài tham thiền của chúng ta, nếu có bất kỳ tư tưởng nào các bạn muốn bày tỏ. |
||||||||
|
We have a couple of comments here and I’m gonna read two of them together because I believe they’re related, and then let you talk and then we can go on. |
Chúng ta có vài bình luận ở đây, và tôi sẽ đọc hai bình luận cùng nhau vì tôi tin rằng chúng có liên hệ với nhau, rồi để Thầy nói, sau đó chúng ta có thể tiếp tục. |
||||||||
|
The first one from Kim. It seems to me the current vaccination situation and the lockdowns are symptomatic of glamour and illusion. The polarization is extreme of those who believe the vaccination is the Savior for humanity, despite the scientific evidence, this is not the case. And those who believe there are other solutions. So which side is in the glamour and illusion? |
Bình luận đầu tiên từ Kim. Đối với tôi, tình hình tiêm chủng hiện nay và các lệnh phong tỏa là triệu chứng của ảo cảm và ảo tưởng. Sự phân cực là cực đoan giữa những người tin rằng tiêm chủng là Đấng Cứu Thế cho nhân loại, bất chấp bằng chứng khoa học cho thấy không phải như vậy, và những người tin rằng có những giải pháp khác. Vậy bên nào đang ở trong ảo cảm và ảo tưởng? |
||||||||
|
And then Diana said perhaps it would be necessary to see what is behind these beliefs, the fear and the manas buddhi. |
Rồi Diana nói rằng có lẽ cần phải thấy điều gì nằm sau những niềm tin này, nỗi sợ hãi và manas Bồ đề. |
||||||||
|
People have to make a determination, but there are different motivations and different stages of development that human beings are passing through at the moment. You can get even a medical person to say almost anything, but for me, the numbers talk. In the United States, the unvaccinated states have hospitals that are overwhelmed, young people are dying, and the numbers are speaking of horrific things occurring because vaccinations are not used. |
Con người phải tự đưa ra một xác định, nhưng có những động cơ khác nhau và những giai đoạn phát triển khác nhau mà con người đang đi qua vào lúc này. Các bạn có thể khiến ngay cả một người trong ngành y nói hầu như bất cứ điều gì, nhưng đối với tôi, các con số lên tiếng. Tại Hoa Kỳ, các bang chưa tiêm chủng có bệnh viện quá tải, người trẻ đang tử vong, và các con số đang nói về những điều kinh hoàng xảy ra vì không sử dụng tiêm chủng. |
||||||||
|
Admittedly, there may be other and better possibilities, but right now, chickenpox, smallpox, measles, diphtheria, and many diseases which no longer afflict humanity as once they did—being the cause of huge numbers of dying people—are attributed to vaccinations. The numbers look like they are speaking in favor of giving them the credit they deserve. |
Phải thừa nhận rằng có thể có những khả năng khác và tốt hơn, nhưng hiện nay, bệnh thủy đậu, đậu mùa, sởi, bạch hầu, và nhiều bệnh đã không còn gây đau khổ cho nhân loại như trước kia—từng là nguyên nhân khiến số lượng người chết khổng lồ—được cho là đã được chế ngự nhờ tiêm chủng. Các con số dường như đang nói theo hướng dành cho chúng sự ghi nhận xứng đáng. |
||||||||
|
There will be people who simply say this is a magnetic type of way to control people and things are going to stick to your skin because there’s all kinds of stuff out there. I’m just looking at the numbers, and I’m assuming that tens, even hundreds of thousands of honest health care workers are not in there just to waste their time and delude humanity. That is my opinion. Let other people think how they wish. |
Sẽ có những người đơn giản nói rằng đây là một loại phương thức từ tính để kiểm soát con người, và các vật sẽ dính vào da các bạn vì ngoài kia có đủ thứ. Tôi chỉ đang nhìn vào các con số, và tôi giả định rằng hàng chục, thậm chí hàng trăm nghìn nhân viên y tế lương thiện không ở đó chỉ để lãng phí thời gian của họ và lừa dối nhân loại. Đó là quan điểm của tôi. Hãy để người khác nghĩ theo cách họ muốn. |
||||||||
|
However, at the same time, the possibility of spreading the disease by not using masks and by being in indoor spaces when contaminated is a danger to many others. It’s not just a question of personal freedom; it’s a question of consideration of others rather than what I consider to be adolescent rebellion against what works. Let people choose what they will do under the circumstances. That’s all I can say about this. |
Tuy nhiên, đồng thời, khả năng lây lan bệnh do không dùng khẩu trang và do ở trong không gian trong nhà khi có nhiễm bẩn là một nguy hiểm đối với nhiều người khác. Đây không chỉ là vấn đề tự do cá nhân; đó là vấn đề quan tâm đến người khác, thay vì điều mà tôi xem là sự nổi loạn vị thành niên chống lại những gì có hiệu quả. Hãy để con người chọn điều họ sẽ làm trong hoàn cảnh ấy. Tôi chỉ có thể nói vậy về điều này. |
||||||||
|
… [about Olivia’s video] |
… [về video của Olivia] |
||||||||
|
There are always going to be people in even the most stressed circumstances who are affected by the energy of love, and they’re not going to want to kill each other. But there are some pretty ancient fixations that are based upon very rigid interpretations of very old medieval thought forms, and those have to be overcome. |
Sẽ luôn có những người, ngay cả trong những hoàn cảnh căng thẳng nhất, chịu ảnh hưởng của năng lượng tình thương, và họ sẽ không muốn giết hại lẫn nhau. Nhưng có một số cố chấp khá cổ xưa dựa trên những diễn giải rất cứng nhắc về các hình tư tưởng trung cổ rất cũ, và những điều đó phải được vượt qua. |
||||||||
|
When I think of 170 people, mostly those who have helped the American cause in Afghanistan, being wiped out by two suicide bombers, or now is it three, and I think of the servicemen and women sacrificing their lives to help bring the nation builders out of that dreadful situation, it’s appalling. We need something very powerful, very deep to correct the situation. |
Khi tôi nghĩ đến 170 người, phần lớn là những người đã giúp cho sự nghiệp của Hoa Kỳ tại Afghanistan, bị xóa sổ bởi hai kẻ đánh bom tự sát, hay bây giờ là ba, và khi tôi nghĩ đến các quân nhân nam nữ hy sinh mạng sống của mình để giúp đưa những người xây dựng quốc gia ra khỏi tình huống khủng khiếp ấy, điều đó thật kinh hoàng. Chúng ta cần một điều gì đó rất mạnh mẽ, rất sâu xa để chỉnh sửa tình huống này. |
||||||||
|
Frankly, I don’t know if any of us know what will happen in the next few days, which are insufficient for the evacuation of Americans and American friends, and also probably insufficient for the evacuation of any Western powers, though I think Germany has an extension of some kind. We have a situation which is extremely volatile and can lead to war of some kind or other. I do believe all things should turn to the positive. |
Thành thật mà nói, tôi không biết liệu có ai trong chúng ta biết điều gì sẽ xảy ra trong vài ngày tới, vốn không đủ để di tản người Mỹ và bạn hữu của người Mỹ, và có lẽ cũng không đủ để di tản bất kỳ lực lượng phương Tây nào, dù tôi nghĩ Đức có một sự gia hạn nào đó. Chúng ta có một tình huống cực kỳ dễ bùng nổ và có thể dẫn đến chiến tranh dưới hình thức này hay hình thức khác. Tôi thật sự tin rằng mọi sự nên chuyển sang hướng tích cực. |
||||||||
|
… |
… |
||||||||
|
Yes, we have a couple of comments here that go together. So, I would like to read them both out. |
Vâng, chúng ta có vài bình luận ở đây đi cùng nhau. Vì vậy, tôi muốn đọc cả hai. |
||||||||
|
Kim says, Sorry, Michael, I’ve heard very different numbers than what you just quoted, and that’s the problem, that there’s two sides to the story. And she can show you two completely different statistics. |
Kim nói: Xin lỗi, Michael, tôi đã nghe những con số rất khác với những gì Thầy vừa trích dẫn, và đó là vấn đề, rằng câu chuyện có hai phía. Và bà ấy có thể cho Thầy xem hai thống kê hoàn toàn khác nhau. |
||||||||
|
But then Michael, says, I think something broader to give thought to is, that is wrenching my heart these days is forcing people to do something and shutting off conversations in both directions, leads us to a potential timeline that we already had during World War Two, when we almost had the withdraw. A short term security with the removal of freedoms is leading to a paper pleased future, which historically has not worked out very well for the many, but it definitely benefited the fear. |
Nhưng rồi Michael nói: Tôi nghĩ một điều rộng hơn để suy ngẫm là, điều đang xé lòng tôi những ngày này là việc ép buộc con người làm điều gì đó và chặn đứng các cuộc đối thoại theo cả hai hướng, dẫn chúng ta đến một dòng thời gian tiềm tàng mà chúng ta đã từng có trong Thế Chiến thứ hai, khi chúng ta gần như đã có sự rút lui. Một sự an toàn ngắn hạn kèm theo việc loại bỏ các quyền tự do đang dẫn đến một tương lai làm hài lòng trên giấy, điều mà về mặt lịch sử đã không đem lại kết quả tốt đẹp cho số đông, nhưng chắc chắn đã làm lợi cho nỗi sợ hãi. |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
The great discrimination at the moment is between freedom and license. I remember when I was a student in university, we were given a task with our examination to discriminate between freedom and license. Obviously, the latter is a rebellious attitude, which doesn’t have much consideration of others, and the first can legitimately invoke the Lords of Liberation for another type of intervention. |
Sự phân biện lớn lao vào lúc này là giữa tự do và buông thả. Tôi nhớ khi còn là sinh viên đại học, trong kỳ thi chúng tôi được giao nhiệm vụ phân biện giữa tự do và buông thả. Rõ ràng, điều sau là một thái độ nổi loạn, không mấy quan tâm đến người khác, còn điều đầu có thể kêu gọi một cách chính đáng các Đấng Giải Thoát cho một loại can thiệp khác. |
||||||||
|
Suspicion is a major cause of glamour and it appears on the first ray—suspicion, self pity and criticism. Out of fear, great suspicions have arisen, and they are endangering, in my view, the lives of hundreds, of thousands of people who need not have died otherwise. Time will tell on these matters, and finally, the numbers will speak. |
Nghi ngờ là một nguyên nhân chính của ảo cảm, và nó xuất hiện trên cung một—nghi ngờ, tự thương hại và chỉ trích. Từ nỗi sợ hãi, những nghi ngờ lớn lao đã phát sinh, và theo quan điểm của tôi, chúng đang gây nguy hiểm cho mạng sống của hàng trăm, hàng nghìn người lẽ ra không cần phải chết. Thời gian sẽ trả lời về những vấn đề này, và cuối cùng, các con số sẽ lên tiếng. |
||||||||
|
I frankly believe in the integrity of health care workers and researchers who risked their lives to find some parallel methods to what has saved us from measles, smallpox, whooping cough—all those diseases which have been arrested in their malignancy by the method of vaccination. |
Thành thật mà nói, tôi tin vào sự liêm chính của các nhân viên y tế và các nhà nghiên cứu, những người đã liều mạng để tìm ra một số phương pháp tương đồng với điều đã cứu chúng ta khỏi bệnh sởi, đậu mùa, ho gà—tất cả những bệnh đã bị chặn lại trong tính ác hại của chúng bằng phương pháp tiêm chủng. |
||||||||
|
Some of us, as esotericists, are pretty pure minded. We don’t want anything to be put in our body that belongs to the animal kingdom or anything like that. But frankly, let time show what is accurate in this regard. |
Một số chúng ta, với tư cách là các nhà bí truyền học, có tâm trí khá thanh sạch. Chúng ta không muốn bất cứ thứ gì thuộc giới động vật hay những thứ tương tự được đưa vào thể xác mình. Nhưng thành thật mà nói, hãy để thời gian cho thấy điều gì là chính xác trong vấn đề này. |
||||||||
|
Meanwhile, try not to endanger others by what I call a teenage rebellious attitude of millions in the human family who have not reached the point of maturity. That’s not going to be a pleasant thought for many, but Tuija and I just had our second shot, and we’re both alive. |
Trong khi đó, hãy cố gắng đừng gây nguy hiểm cho người khác bằng điều mà tôi gọi là thái độ nổi loạn tuổi thiếu niên của hàng triệu người trong gia đình nhân loại chưa đạt đến điểm trưởng thành. Điều đó sẽ không phải là một tư tưởng dễ chịu đối với nhiều người, nhưng Tuija và tôi vừa tiêm mũi thứ hai, và cả hai chúng tôi vẫn còn sống. |
||||||||
|
Tuija has a friend, deeply engulfed in the conspiracy theories, and she was just about down on her hands and knees begging Tuija not to take the second shot. Many of us have taken the second shot, and maybe we were a little tired the next day, but we recovered. |
Tuija có một người bạn bị nhấn chìm sâu trong các thuyết âm mưu, và bà ấy gần như quỳ xuống van xin Tuija đừng tiêm mũi thứ hai. Nhiều người trong chúng ta đã tiêm mũi thứ hai, và có lẽ hôm sau hơi mệt một chút, nhưng chúng ta đã hồi phục. |
||||||||
|
People are swept by certain conspiratorial experts—that’s all I’m going to call them at the moment. I know personally some of them, and they do dissuade others from taking the vaccination. They, thus, in my view, endanger the lives of these people. |
Con người bị cuốn đi bởi một số chuyên gia âm mưu nào đó—hiện giờ tôi chỉ gọi họ như vậy. Cá nhân tôi biết một số người trong họ, và họ quả thật khuyên người khác đừng tiêm chủng. Do đó, theo quan điểm của tôi, họ gây nguy hiểm cho mạng sống của những người này. |
||||||||
|
Time will tell, and consideration of others will be a keynote in this whole process. |
Thời gian sẽ trả lời, và sự quan tâm đến người khác sẽ là một chủ âm trong toàn bộ tiến trình này. |
||||||||
|
Webinar 184, p. 198 |
Hội thảo trực tuyến 184, tr. 198 |
||||||||
|
Abstract |
Tóm lược |
||||||||
|
Glamour: A World Problem webinar 184, reading no. 121. The reading was from Glamour: A World Problem, pages 198–199. DK talks about an ancient prayer and its importance in dissipating the three aspects of glamour (suspicion, self-pity, and criticism). The prayer is “Lead us, O Lord, from darkness to light; from the unreal to the real; from death to immortality.” |
Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới hội thảo trực tuyến 184, bài đọc số 121. Bài đọc trích từ Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới, các trang 198–199. Chân sư DK nói về một lời cầu nguyện cổ xưa và tầm quan trọng của nó trong việc làm tiêu tan ba phương diện của ảo cảm: nghi ngờ, tự thương hại và chỉ trích. Lời cầu nguyện là: “Xin dẫn chúng con, ôi Chúa Tể, từ bóng tối đến ánh sáng; từ điều không thật đến điều thật; từ cái chết đến sự bất tử.” |
||||||||
|
The first sentence refers to the mind as it becomes illumined by the light of the intuition. It is brought about by means of the Technique of the Presence, which eventually produces the Transfiguration of the personality into a centre of radiant light upon the mental plane. |
Câu đầu tiên nói đến thể trí khi nó được soi sáng bởi ánh sáng của trực giác. Điều này được đem lại nhờ Kỹ Thuật của Hiện Diện, rốt cuộc tạo ra sự Biến hình của phàm ngã thành một trung tâm ánh sáng rực rỡ trên cõi trí. |
||||||||
|
The second sentence relates to the astral plane and its all-encompassing glamours, which embody the unreal and present them to the prisoners of the astral plane, leading them to mistake them for Reality. This imprisonment by glamour can be ended by the activity of the Technique of Light, used in group formation for the dissipation of glamour and for the emergence in the consciousness of men of a clear conception and recognition of the nature of Reality. |
Câu thứ hai liên quan đến cõi cảm dục và các ảo cảm bao trùm tất cả của nó, vốn hiện thân cho điều không thật và trình bày chúng cho những tù nhân của cõi cảm dục, khiến họ lầm tưởng chúng là Thực Tại. Sự giam hãm bởi ảo cảm này có thể chấm dứt nhờ hoạt động của Kỹ Thuật Ánh sáng, được sử dụng trong đội hình nhóm để làm tiêu tan ảo cảm và để trong tâm thức con người xuất hiện một quan niệm rõ ràng cùng sự nhận biết bản chất của Thực Tại. |
||||||||
|
This dissipation can be carried forward by disciples in all parts of the planet, aided by the world aspirants. It will, however, be primarily the work of those whose ray focus makes astral living the line of least resistance—primarily those with a ray 6 personality or astral vehicle, aided by aspirants and disciples upon the second and fourth rays. The work is instituted by the group formation of the ray six types, and when they have adopted the Technique of Light in service of the race, their work will be completed by second ray disciples. |
Sự làm tiêu tan này có thể được các đệ tử ở mọi phần của hành tinh tiến hành, với sự trợ giúp của những người chí nguyện thế giới. Tuy nhiên, đó chủ yếu sẽ là công việc của những ai có tiêu điểm cung khiến đời sống cảm dục trở thành con đường ít trở ngại nhất—chủ yếu là những người có phàm ngã hoặc vận cụ cảm dục thuộc cung sáu, với sự trợ giúp của những người chí nguyện và đệ tử thuộc cung hai và cung bốn. Công việc này được khởi lập bởi sự hình thành nhóm của các mẫu người cung sáu, và khi họ đã áp dụng Kỹ Thuật Ánh sáng trong phụng sự nhân loại, công việc của họ sẽ được các đệ tử cung hai hoàn tất. |
||||||||
|
DK specifies that the work of dissipating glamour is carried forward by those who come into manifestation along the lines of energy embodied by the second, fourth and sixth rays. He points out that frequently disciples will undertake tasks for which they are not particularly fitted and whose rays do not aid them in accomplishment, which can then prevent that accomplishment. |
Chân sư DK xác định rằng công việc làm tiêu tan ảo cảm được thực hiện bởi những ai đi vào biểu hiện theo các tuyến năng lượng do cung hai, cung bốn và cung sáu thể hiện. Ngài chỉ ra rằng các đệ tử thường đảm nhận những nhiệm vụ mà họ không thật sự thích hợp, và các cung của họ không hỗ trợ họ hoàn thành nhiệm vụ ấy, điều này khi đó có thể ngăn trở sự hoàn thành. |
||||||||
|
The meditation itself was on the ancient glamour of hatred, based on the great heresy of separateness. This meeting was held on September 10, 2021. |
Bài tham thiền này bàn về ảo cảm cổ xưa của hận thù, dựa trên Đại Tà thuyết về sự chia rẽ. Buổi họp này được tổ chức vào ngày 10 tháng 9 năm 2021. |
||||||||
|
Text |
Văn bản |
||||||||
|
It is interesting to note that the most ancient prayer in the world refers to the three aspects of glamour, [1a] and it is for these that the three techniques must be used to make release and progress possible. As you know, this prayer runs as follows (Brihadaranyaki Upanishad I, 3, 28): |
Thật thú vị khi lưu ý rằng lời cầu nguyện cổ xưa nhất trên thế giới đề cập đến ba phương diện của ảo cảm, [1a] và chính vì những phương diện này mà ba kỹ thuật phải được sử dụng để làm cho sự giải thoát và tiến bộ trở nên khả hữu. Như các bạn biết, lời cầu nguyện ấy như sau: |
||||||||
|
“Lead us, O Lord, from darkness to light; from the unreal to the real; from death to immortality.” [1b] |
“Lạy Chúa, xin dẫn chúng con từ bóng tối đến ánh sáng; từ điều không thật đến điều thật; từ sự chết đến sự bất tử.” [1b] |
||||||||
|
“Lead us from darkness to light” refers to the mind as it becomes eventually illumined by the light of the intuition; this illumination is brought about by the means of the Technique of the Presence from Whom the light shines. [1c] This is the mediating factor producing the Transfiguration of the personality, and a centre of radiant light upon the mental plane. [1d] This statement is true whether one is speaking of an individual or of that focal point of light which is formed by the mental unity and the clear thinking of advanced humanity. [1e] These, through the power of their unified minds, will succeed in ridding the world of some aspects of the Great Illusion. [1f] |
“Xin dẫn chúng con từ bóng tối đến ánh sáng” liên hệ đến thể trí khi cuối cùng nó được soi sáng bởi ánh sáng của trực giác; sự soi sáng này được tạo nên bằng Kỹ Thuật của Hiện Diện, từ Ngài ánh sáng chiếu rạng. [1c] Đây là yếu tố trung gian tạo ra sự Biến hình của phàm ngã, và một trung tâm ánh sáng rạng rỡ trên cõi trí. [1d] Phát biểu này đúng dù người ta đang nói về một cá nhân hay về tiêu điểm ánh sáng được tạo thành bởi sự hợp nhất trí tuệ và tư duy sáng rõ của nhân loại tiến bộ. [1e] Những người này, nhờ quyền năng của các thể trí đã hợp nhất, sẽ thành công trong việc giải thoát thế giới khỏi một số phương diện của Đại Ảo Tưởng. [1f] |
||||||||
|
“Lead us from the unreal to the Real” has specific relation to the astral plane and its all-encompassing glamours. [1g] These glamours embody the unreal and present them to the prisoners of the astral plane, leading them to mistake them for the Reality. [1h] This imprisonment by glamour can be ended by the activity of the Technique of Light, utilised by those who work—in group formation—for the dissipation of glamour and for the emergence in the consciousness of men of a clear conception and recognition of the nature of Reality. [1i] |
“Xin dẫn chúng con từ điều không thật đến Điều Thật” có liên hệ đặc biệt với cõi cảm dục và các ảo cảm bao trùm tất cả của nó. [1g] Những ảo cảm này thể hiện điều không thật và trình bày chúng cho các tù nhân của cõi cảm dục, khiến họ lầm tưởng chúng là Thực Tại. [1h] Sự giam cầm bởi ảo cảm này có thể chấm dứt nhờ hoạt động của Kỹ Thuật Ánh sáng, được sử dụng bởi những người hoạt động—trong sự hình thành nhóm—để làm tiêu tan ảo cảm và để làm xuất hiện trong tâm thức con người một quan niệm sáng rõ và sự nhận biết về bản chất của Thực Tại. [1i] |
||||||||
|
This particular work of dissipation is our immediate theme. It is of vital importance that those who recognise [Page 199] the open door to the future through which all men must pass should begin to carry forward this work. [1j] Only thus can humanity be helped to leave behind the errors, the glamours and the failures of the past. [1k] It is this technique which brings freedom from glamour and which can transform human living, and so bring in the new civilisation and culture. [1l] This dissipation can be carried forward by disciples in all parts of the planet, aided by the world aspirants; it will, however, be primarily the work of those whose ray focus makes astral living the line of least resistance and who have learnt or are learning to dominate it by the power of thought and mental light. [1m] These are the sixth ray people in the first instance, aided by aspirants and disciples upon the second and fourth rays. [1n] |
Công việc làm tiêu tan đặc biệt này là chủ đề trước mắt của chúng ta. Điều có tầm quan trọng thiết yếu là những ai nhận ra [Trang 199] cánh cửa mở vào tương lai, qua đó mọi người đều phải đi qua, nên bắt đầu tiến hành công việc này. [1j] Chỉ bằng cách ấy, nhân loại mới có thể được giúp rời bỏ những sai lầm, những ảo cảm và những thất bại của quá khứ. [1k] Chính kỹ thuật này đem lại sự tự do khỏi ảo cảm và có thể chuyển đổi đời sống con người, nhờ đó đem đến nền văn minh và văn hóa mới. [1l] Sự làm tiêu tan này có thể được các đệ tử ở mọi phần của hành tinh tiến hành, với sự trợ giúp của những người chí nguyện thế giới; tuy nhiên, đó chủ yếu sẽ là công việc của những ai có tiêu điểm cung khiến đời sống cảm dục trở thành con đường ít trở ngại nhất, và những người đã học hoặc đang học cách chế ngự nó bằng quyền năng của tư tưởng và ánh sáng trí tuệ. [1m] Trước hết, đó là những người cung sáu, với sự trợ giúp của những người chí nguyện và đệ tử thuộc cung hai và cung bốn. [1n] |
||||||||
|
End of GWP Program 184, Reading 121 pages 198—199 |
Kết thúc Chương trình Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới 184, Bài đọc 121, trang 198—199 |
||||||||
|
Commentary |
Bình giảng |
||||||||
|
Hi, everybody, and welcome to our continuing work with Glamour: A World Problem. I’m glad to see you all here, and I want to pay my respects to our team here. |
Xin chào tất cả các bạn, và chào mừng các bạn đến với công việc tiếp tục của chúng ta với Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới. Tôi rất vui khi thấy tất cả các bạn có mặt ở đây, và tôi muốn bày tỏ sự trân trọng đối với đội ngũ của chúng ta. |
||||||||
|
… |
… |
||||||||
|
Thank you for attending. Tuija and I have been so busy trying to keep abreast of the crisis situation in Afghanistan, which is so much against the people who were involved for 20 years of nation building, and they hoped for much better, but the barbarism has taken over, temporarily anyway, and it’s very dangerous for them. We’ve been trying to add our support for their well-being and for their relocation to other countries where they can be accepted more as human beings, instead of “this is a man, this is a woman”—it’s just horrible the treatment of women and girls. We’ll offer it not every night pretty soon, but a couple of times a week, and hope for the best. |
Cảm ơn các bạn đã tham dự. Tuija và tôi đã rất bận rộn để theo sát tình hình khủng hoảng ở Afghanistan, một tình trạng rất bất lợi cho những người đã tham gia suốt 20 năm vào công cuộc xây dựng quốc gia, và họ từng hy vọng vào điều tốt đẹp hơn nhiều, nhưng sự man rợ đã tạm thời thắng thế, và điều đó rất nguy hiểm cho họ. Chúng tôi đã cố gắng góp phần hỗ trợ cho sự an lành của họ và cho việc tái định cư của họ tại những quốc gia khác, nơi họ có thể được đón nhận như những con người hơn, thay vì “đây là đàn ông, đây là đàn bà”—cách đối xử với phụ nữ và trẻ em gái thật khủng khiếp. Chẳng bao lâu nữa, chúng tôi sẽ không thực hiện việc này hằng đêm, nhưng sẽ làm vài lần mỗi tuần, và hy vọng điều tốt đẹp nhất. |
||||||||
|
We have problems all over the world, and the great glamour of hatred is what we’ve been working on above all else. DK tries to stem the tide of this glamour of hatred and separateness, the one Great Heresy, as he calls it. If you want to show your screen, you’re perfectly welcome to do that, as we have our reading and then we have our meditation. |
Chúng ta có những vấn đề ở khắp thế giới, và đại ảo cảm của hận thù là điều chúng ta đã làm việc với hơn tất cả. Chân sư DK cố gắng ngăn làn sóng của ảo cảm hận thù và chia rẽ này, tức Đại Tà thuyết duy nhất, như Ngài gọi. Nếu các bạn muốn bật màn hình của mình, các bạn hoàn toàn có thể làm như vậy, vì chúng ta có phần đọc và sau đó là phần tham thiền. |
||||||||
|
This is our program number 184, and we’ve been at it a long time. Olivia, Tuija, and I got this thing going quite a while ago, and it’s very necessary. This is reading 121, and we’re on page 198. I just need to remind everybody that tomorrow, the 11th, is the 20th anniversary of the attack on the World Trade Center. There’s still a lot that’s murky there, but it stands as a great example, said one of those who know, of Jihad—that kind of religious war coming to America. |
Đây là chương trình số 184 của chúng ta, và chúng ta đã làm việc này trong một thời gian dài. Olivia, Tuija và tôi đã khởi động việc này từ khá lâu trước đây, và nó rất cần thiết. Đây là bài đọc 121, và chúng ta đang ở trang 198. Tôi chỉ cần nhắc mọi người rằng ngày mai, ngày 11, là kỷ niệm 20 năm cuộc tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới. Vẫn còn nhiều điều mờ mịt ở đó, nhưng theo lời một người hiểu biết, nó đứng như một ví dụ lớn về thánh chiến—loại chiến tranh tôn giáo ấy đến với nước Mỹ. |
||||||||
|
America is not the only target, and in general, the Western democracies are the target because they allow a degree of hierarchical freedom, which the ancient ideas—or at least medieval ideas—of a certain group inspired by a literal interpretation of Mohammed’s words do not allow. They can no longer interpret this in a way that’s anything but literal. That is a great affront to the modern mentality that tries to respond to the Love-Wisdom Energy of the Hierarchy. The Love-Wisdom has nothing to do with what they are attempting. |
Nước Mỹ không phải là mục tiêu duy nhất; nói chung, các nền dân chủ phương Tây là mục tiêu vì họ cho phép một mức độ tự do có trật tự, điều mà những ý tưởng cổ xưa—hoặc ít nhất là trung cổ—của một nhóm nhất định, được truyền cảm hứng bởi cách diễn giải từng chữ lời của Mohammed, không cho phép. Họ không còn có thể diễn giải điều này theo cách nào khác ngoài nghĩa đen. Đó là một sự xúc phạm lớn đối với tâm thức hiện đại đang cố gắng đáp ứng với Năng lượng Bác Ái – Minh Triết của Thánh Đoàn. Bác Ái – Minh Triết không liên quan gì đến điều họ đang cố thực hiện. |
||||||||
|
This group of militants who use barbarous methods to enforce an entirely masculine domination of society is dead wrong, certainly in my view, and it’s anti-hierarchical. The great glamour of hatred is involved in their methods. A colleague in Australia said recently that the cat is out of the bag—the people have witnessed over a 20-year period what democracy can be, even though there was a lot of corruption as we know, and they are not going to be settled or dominated by this barbarous masculine attitude, which is filled with hatred for the balancing group, the women and the girls, and anything that has to do with real health and real education. |
Nhóm chiến binh này, những người dùng các phương pháp man rợ để áp đặt sự thống trị hoàn toàn nam tính lên xã hội, chắc chắn là hoàn toàn sai lầm theo quan điểm của tôi, và điều đó chống lại Thánh Đoàn. Đại ảo cảm của hận thù có mặt trong các phương pháp của họ. Một đồng nghiệp ở Úc gần đây nói rằng con mèo đã ra khỏi túi—người dân đã chứng kiến trong suốt 20 năm dân chủ có thể là gì, dù như chúng ta biết đã có nhiều tham nhũng; và họ sẽ không chịu an phận hay bị thống trị bởi thái độ nam tính man rợ này, vốn đầy hận thù đối với nhóm cân bằng là phụ nữ và trẻ em gái, cũng như đối với bất cứ điều gì liên quan đến sức khỏe thật sự và giáo dục thật sự. |
||||||||
|
I saw a picture the other day, and it’s Sharia all over again. In some kind of class, there’s a curtain between the men on one side and the women on the other side. That kind of separateness cannot be allowed to abide. We attempt in our way, when we get together every couple of weeks at least, and when you do your own glamour meditations about your own glamour, to do something of value that will end this separatistic tendency. |
Hôm nọ tôi thấy một bức ảnh, và đó lại là luật Hồi giáo hà khắc một lần nữa. Trong một lớp học nào đó, có một tấm màn ngăn giữa nam giới ở một bên và nữ giới ở bên kia. Kiểu chia rẽ như vậy không thể được phép tồn tại. Theo cách của chúng ta, khi chúng ta tụ họp ít nhất vài tuần một lần, và khi các bạn tự thực hiện các bài tham thiền về ảo cảm của chính mình, chúng ta cố gắng làm một điều có giá trị để chấm dứt khuynh hướng chia rẽ này. |
||||||||
|
We’ll be getting together again on September 24, and we can only wonder what September 11 will bring, because it’s important for people of a certain persuasion to commemorate their victory, as they call it. There can be a lot of violence tomorrow. Let’s work against that. Let’s work for the Love and Harmony instead of hatred and violence. |
Chúng ta sẽ lại tụ họp vào ngày 24 tháng 9, và chúng ta chỉ có thể tự hỏi ngày 11 tháng 9 sẽ mang lại điều gì, bởi đối với những người thuộc một khuynh hướng nhất định, việc kỷ niệm chiến thắng của họ, như họ gọi, là điều quan trọng. Ngày mai có thể có nhiều bạo lực. Chúng ta hãy làm việc để chống lại điều đó. Chúng ta hãy làm việc cho Tình thương và Hài hòa thay vì hận thù và bạo lực. |
||||||||
|
The day will come when we really know how to deal with glamour. It is somewhat for the future, and we are a kind of seed group effort along those lines. The seed can be powerful and can germinate and can offer new and effective methods within the New Group of World Servers. That’s what we’re striving to do. |
Ngày sẽ đến khi chúng ta thật sự biết cách xử lý ảo cảm. Điều đó phần nào thuộc về tương lai, và chúng ta là một loại nỗ lực nhóm hạt giống theo hướng ấy. Hạt giống có thể mạnh mẽ, có thể nảy mầm và có thể đem lại những phương pháp mới, hữu hiệu trong Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Đó là điều chúng ta đang cố gắng thực hiện. |
||||||||
|
Let’s continue our reading a little bit, and then we’ll go into our meditation on the glamour of hatred—the ancient glamour of hatred, based on the great heresy of separateness, the greatest mistake that the human thinking mind can generate. We might call it the greatest illusion: hatred, an astral condition based upon the illusion of separateness. |
Chúng ta đọc tiếp một chút, rồi sẽ đi vào bài tham thiền về ảo cảm hận thù—ảo cảm cổ xưa của hận thù, dựa trên Đại Tà thuyết về sự chia rẽ, sai lầm lớn nhất mà thể trí suy tư của con người có thể tạo ra. Chúng ta có thể gọi đó là ảo tưởng lớn nhất: hận thù, một tình trạng cảm dục dựa trên ảo tưởng về sự chia rẽ. |
||||||||
|
What does DK say here? What does he say over the fogs and mists of earth, because in these mists, in these fogs, all men stumble. We cannot see where we’re going. |
Chân sư DK nói gì ở đây? Ngài nói gì về những làn sương mù và hơi nước của Trái Đất, bởi trong những làn sương ấy, trong những màn mù ấy, mọi người đều vấp ngã. Chúng ta không thể thấy mình đang đi đâu. |
||||||||
|
It is interesting to note that the most ancient prayer in the world refers to the three aspects of glamour, and it is for these that the three techniques must be used to make release and progress possible. [1a] |
Thật thú vị khi lưu ý rằng lời cầu nguyện cổ xưa nhất trên thế giới đề cập đến ba phương diện của ảo cảm, và chính vì những phương diện này mà ba kỹ thuật phải được sử dụng để làm cho sự giải thoát và tiến bộ trở nên khả hữu. [1a] |
||||||||
|
He’s talking about Illusion, Glamour and Maya, specializing them as far as the three roots that are glamour-inducing: suspicion, self-pity, and criticism. Every would-be disciple should evaluate himself or herself on the basis of those three inducers of glamour—suspicion, self-pity, criticism. |
Ngài đang nói về Ảo tưởng, Ảo cảm và Ảo lực, chuyên biệt hóa chúng theo ba gốc rễ gây ra ảo cảm: nghi ngờ, tự thương hại và phê phán. Mọi đệ tử tương lai nên tự đánh giá mình dựa trên ba tác nhân gây ảo cảm ấy—nghi ngờ, tự thương hại, phê phán. |
||||||||
|
This ancient prayer is from the Brihadaranyaki Upanishad. The technicalities are there. It’s one of those that we use and have used all the time, perhaps not realizing the ancientness of it. If he says it’s the oldest prayer in the world, it’s got to date back to even Lemurian times, and who knows where else in the solar system it has been used. |
Lời cầu nguyện cổ xưa này đến từ Brihadaranyaki Upanishad. Các chi tiết kỹ thuật nằm ở đó. Đây là một trong những lời cầu nguyện chúng ta sử dụng và đã luôn sử dụng, có lẽ không nhận ra tính cổ xưa của nó. Nếu Ngài nói đó là lời cầu nguyện cổ nhất trên thế giới, thì nó phải có từ tận thời Lemuria, và ai biết nó còn được sử dụng ở đâu khác trong hệ mặt trời. |
||||||||
|
What you can see is that the sanction prayer is simply a reminder to all of us. |
Điều các bạn có thể thấy là lời cầu nguyện thánh hóa chỉ đơn giản là một lời nhắc nhở cho tất cả chúng ta. |
||||||||
|
“Lead us, O Lord, from darkness to light; from the unreal to the real; from death to immortality.” [1b] |
“Lạy Chúa, xin dẫn chúng con từ bóng tối đến ánh sáng; từ điều không thật đến điều thật; từ sự chết đến sự bất tử.” [1b] |
||||||||
|
And in a way, we see there the first three initiations, the greater light in general of the first initiation, which is a probationary initiation, the reality which has to replace the unreality for the second initiation when we really start to overcome glamour, and finally, entering into the third degree which begins to have the influence of the deathless Monad, the heart and soul of the monad, the very center of the monad is immortal. It is Pure Being itself, and we begin to experience that immortality at the third degree. |
Theo một cách nào đó, ở đó chúng ta thấy ba lần điểm đạo đầu tiên: ánh sáng lớn hơn nói chung của lần điểm đạo thứ nhất, vốn là một điểm đạo dự bị; thực tại phải thay thế điều không thật ở lần điểm đạo thứ hai, khi chúng ta thật sự bắt đầu vượt qua ảo cảm; và cuối cùng là bước vào cấp độ thứ ba, khi ảnh hưởng của chân thần bất tử bắt đầu có mặt. Trái tim và linh hồn của chân thần, chính trung tâm của chân thần, là bất tử. Nó chính là Hiện Hữu Thuần Khiết, và chúng ta bắt đầu kinh nghiệm sự bất tử ấy ở cấp độ thứ ba. |
||||||||
|
Is it not looking like a very simple prayer, but if you stop to think about where we stand, and how vulnerable we are to all of these problems, we see that it’s probably as relevant today as it was when it was created. By whom? Oh, Lord. The Lord, I guess must be the inner God, whether we want to call it soul, Triad, or Monad. |
Nó trông có vẻ như một lời cầu nguyện rất đơn giản, nhưng nếu các bạn dừng lại để suy nghĩ về vị trí của chúng ta và sự dễ tổn thương của chúng ta trước tất cả những vấn đề này, chúng ta thấy rằng có lẽ nó vẫn phù hợp ngày nay như khi nó được tạo ra. Do ai tạo ra? Lạy Chúa. Chúa, tôi đoán, hẳn là Thượng đế bên trong, dù chúng ta muốn gọi đó là linh hồn, Tam nguyên tinh thần hay chân thần. |
||||||||
|
Now, he’s going to take up each of them in order. Let’s see what he says. |
Bây giờ, Ngài sẽ lần lượt bàn đến từng điều. Hãy xem Ngài nói gì. |
||||||||
|
“Lead us from darkness to light” refers to the mind |
“Xin dẫn chúng con từ bóng tối đến ánh sáng” liên hệ đến thể trí |
||||||||
|
Immediately the third aspect of divinity refers to the mind. |
Ngay lập tức phương diện thứ ba của thiên tính liên hệ đến thể trí. |
||||||||
|
as it becomes eventually illumined by the light of the intuition; |
khi cuối cùng nó được soi sáng bởi ánh sáng của trực giác; |
||||||||
|
We might say, first by the light of the soul, and then later by the light of the buddhic plane, which has conferred some of its intuitive power into what we normally call the Egoic Lotus or the causal body or the soul. But from the buddhic plane comes this light. |
Chúng ta có thể nói, trước hết bởi ánh sáng của linh hồn, và sau đó bởi ánh sáng của cõi Bồ đề, vốn đã truyền một phần quyền năng trực giác của nó vào điều chúng ta thường gọi là Hoa Sen Chân Ngã, hay thể nguyên nhân, hay linh hồn. Nhưng ánh sáng này đến từ cõi Bồ đề. |
||||||||
|
this illumination is brought about by the means of the Technique of the Presence from Whom |
sự soi sáng này được tạo nên bằng Kỹ Thuật của Hiện Diện, từ Ngài |
||||||||
|
the light shines. [1c] |
ánh sáng chiếu rạng. [1c] |
||||||||
|
This is a very high source, and it is the place where the human monads, called the Initiates, actually take up residence and their work. It is a plane ruled by Scorpio, and the hierarchical ruler is Mercury, a planet of great light, probably with a fifth ray, third ray Monad. I always give two rays for the Monad because one of the rays has to do with the Monad on the monadic plane, and the other, still higher, has to do with the liberated Monad. |
Đây là một nguồn rất cao, và đó là nơi các chân thần nhân loại, được gọi là các điểm đạo đồ, thật sự cư ngụ và thực hiện công việc của mình. Đó là một cõi do Hổ Cáp cai quản, và chủ tinh của Thánh Đoàn là Sao Thủy, một hành tinh của ánh sáng lớn, có lẽ với một chân thần cung năm, cung ba. Tôi luôn nêu hai cung cho chân thần, bởi một cung liên hệ đến chân thần trên cõi chân thần, còn cung kia, cao hơn nữa, liên hệ đến chân thần đã giải thoát. |
||||||||
|
The Technique of Presence, which has to do with the higher factors within us, and helps to dispel illusion, is not so much the focus upon the glamour activity, but it can be brought into relation with the sphere of glamour and guided by the soul. |
Kỹ Thuật của Hiện Diện, vốn liên quan đến các yếu tố cao hơn bên trong chúng ta và giúp xua tan ảo tưởng, không quá tập trung vào hoạt động của ảo cảm, nhưng nó có thể được đưa vào liên hệ với lĩnh vực ảo cảm và được linh hồn hướng dẫn. |
||||||||
|
When we practice this Technique of the Presence, we have to ask ourselves: what does the Presence mean to us? When we think of the Presence, of what are we thinking? Ultimately, I would say, we have to think of pure Being, and of what we really are. We are that Presence. And at some point, we have to awaken to that fact. |
Khi chúng ta thực hành Kỹ Thuật của Hiện Diện này, chúng ta phải tự hỏi: Hiện Diện có nghĩa gì đối với chúng ta? Khi nghĩ về Hiện Diện, chúng ta đang nghĩ về điều gì? Rốt cuộc, tôi cho rằng chúng ta phải nghĩ về Hiện Hữu thuần khiết, và về điều chúng ta thật sự là. Chúng ta là Hiện Diện ấy. Và đến một lúc nào đó, chúng ta phải thức tỉnh trước sự thật ấy. |
||||||||
|
This is interesting because it’s connected with Transfiguration in an important way. |
Điều này thú vị vì nó liên kết với sự Biến hình theo một cách quan trọng. |
||||||||
|
This is the mediating factor producing the Transfiguration of the personality, and a centre of radiant light upon the mental plane. |
Đây là yếu tố trung gian tạo ra sự Biến hình của phàm ngã, và một trung tâm ánh sáng rạng rỡ trên cõi trí. |
||||||||
|
We’re all headed for Transfiguration. It may not be immediate—almost certainly for any of us, it’s not immediate. What is more likely is to be solidly established in the second initiation, which some of DK’s students were experiencing for that particular life. Others would experience it for lives on ahead, but this transfiguration of the personality goes along with the third initiation. |
Tất cả chúng ta đều đang hướng đến sự Biến hình. Nó có thể không đến ngay—gần như chắc chắn đối với bất kỳ ai trong chúng ta, nó không đến ngay. Điều có nhiều khả năng hơn là được thiết lập vững chắc trong lần điểm đạo thứ hai, điều mà một số môn sinh của Chân sư DK đã kinh nghiệm trong đời sống cụ thể ấy. Những người khác sẽ kinh nghiệm điều đó trong những đời sau, nhưng sự biến hình của phàm ngã này đi cùng với lần điểm đạo thứ ba. |
||||||||
|
and a centre of radiant light upon the mental plane. [1d] |
và một trung tâm ánh sáng rạng rỡ trên cõi trí. [1d] |
||||||||
|
Caused by the higher points of tension, which have now begun to empower the Triad, the soul and to make their way into the personality. |
Điều này do các điểm tập trung nhất tâm cao hơn gây nên, hiện đã bắt đầu tiếp quyền năng cho Tam nguyên tinh thần, cho linh hồn, và bắt đầu mở đường đi vào phàm ngã. |
||||||||
|
What does he say here? |
Ngài nói gì ở đây? |
||||||||
|
This statement is true whether one is speaking of an individual or of that focal point of light which is formed by the mental unity and the clear thinking of advanced humanity. [1e] |
Phát biểu này đúng dù người ta đang nói về một cá nhân hay về tiêu điểm ánh sáng được tạo thành bởi sự hợp nhất trí tuệ và tư duy sáng rõ của nhân loại tiến bộ. [1e] |
||||||||
|
More and more in the Aryan root race, people are acquiring the mental focus. They may not yet be mentally polarized because that is a state which comes after the second initiation, and after passing the temptations in the desert, albeit on a much lower level than the Christ was able to demonstrate before humanity when he stopped the devil, the rebellious personality in its tracks, with statements like “Man does not live by bread alone, but by the very word that comes out of the mouth of God”, and “get thee behind me, Satan”, and “thou shalt not tempt the Lord, thy God”. |
Ngày càng nhiều người trong giống dân gốc Arya đang đạt được tập trung trí tuệ. Họ có thể chưa phân cực trí tuệ, bởi đó là một trạng thái đến sau lần điểm đạo thứ hai, và sau khi vượt qua những cám dỗ trong sa mạc, dù ở một cấp độ thấp hơn nhiều so với điều Đức Christ đã có thể chứng minh trước nhân loại khi Ngài chặn đứng ma quỷ, tức phàm ngã phản nghịch, bằng những lời như: “Người ta sống không chỉ nhờ bánh, mà còn nhờ chính linh từ phát ra từ miệng Thượng đế”, “Hỡi Satan, hãy lui ra sau ta”, và “Ngươi chớ thử thách Chúa là Thượng đế của ngươi”. |
||||||||
|
Djwhal Khul remarks about the Christ’s mastery demonstrated for all of humanity as he confronted the personality elemental after 40 days of fasting. That is probably literal, and we can also think of it as somewhat symbolic. Djwhal Khul goes on and says, |
Djwhal Khul nhận xét về sự làm chủ của Đức Christ được chứng minh cho toàn thể nhân loại khi Ngài đối diện với hành khí phàm ngã sau 40 ngày nhịn ăn. Điều đó có lẽ là theo nghĩa đen, và chúng ta cũng có thể nghĩ về nó như phần nào mang tính biểu tượng. Djwhal Khul tiếp tục và nói: |
||||||||
|
These, through the power of their unified minds, will succeed |
Những người này, nhờ quyền năng của các thể trí đã hợp nhất, sẽ thành công |
||||||||
|
will succeed in ridding the world of some aspects of the Great Illusion. [1f] |
sẽ thành công trong việc giải thoát thế giới khỏi một số phương diện của Đại Ảo Tưởng. [1f] |
||||||||
|
Thinking humanity is already a step in the right direction. We have an awful lot of people that are simply emotionally polarized. You saw that on January 6 with the attempted insurrection—the attempted overthrow of democratic and due process of law. I don’t think very many people realize how serious it was. Now it is the 18th or the 19th, and there’s some kind of rally intended to defend those who were the attackers. |
Nhân loại biết suy nghĩ đã là một bước đi đúng hướng. Chúng ta có rất nhiều người chỉ đơn giản là phân cực cảm xúc. Các bạn đã thấy điều đó vào ngày 6 tháng 1 với nỗ lực nổi loạn—nỗ lực lật đổ nền dân chủ và trình tự pháp luật đúng đắn. Tôi không nghĩ có nhiều người nhận ra sự việc ấy nghiêm trọng đến mức nào. Bây giờ là ngày 18 hoặc 19, và có một cuộc tụ họp nào đó nhằm bảo vệ những người từng là kẻ tấn công. |
||||||||
|
These forces are certainly not quelled by any means, and the battle will go on, certainly until the Great Conclave of 2025. We still have almost a century before the official beginning of the Aquarian Age, considered astronomically, as the year 2117. |
Những mãnh lực này chắc chắn chưa hề bị dập tắt, và cuộc chiến sẽ tiếp diễn, chắc chắn ít nhất cho đến Đại Mật Nghị năm 2025. Chúng ta vẫn còn gần một thế kỷ trước khi Kỷ Nguyên Bảo Bình chính thức bắt đầu, xét theo thiên văn học, vào năm 2117. |
||||||||
|
More light—”I am the Light of the World,” says the Christ, says Hermes Trismegistus—and we have to learn how to identify as Light. Then comes this one that has more to do with glamour and with the Astral Plane. |
Thêm ánh sáng—“Ta là Ánh sáng của Thế Gian,” Đức Christ nói, Hermes Trismegistus nói—và chúng ta phải học cách đồng hóa với Ánh sáng. Rồi đến điều này, liên quan nhiều hơn đến ảo cảm và cõi cảm dục. |
||||||||
|
“Lead us from the unreal to the Real” has specific relation to the astral plane and its all-encompassing glamours. [1g] |
“Xin dẫn chúng con từ điều không thật đến Điều Thật” có liên hệ đặc biệt với cõi cảm dục và các ảo cảm bao trùm tất cả của nó. [1g] |
||||||||
|
Every place we go on the astral plane, we are subject to glamour. Even the very higher subplanes of the astral plane, though in a better condition than the lower ones, are also subject to certain of the higher glamours. When do we finally be rid of glamour? There is cosmic glamour, there is systemic glamour, there is planetary glamour. Whatever restricts access to the next phase of reality has to be considered as glamours. |
Bất cứ nơi nào chúng ta đi trên cõi cảm dục, chúng ta đều chịu ảo cảm. Ngay cả những cõi phụ rất cao của cõi cảm dục, dù ở trong tình trạng tốt hơn các cõi phụ thấp, cũng vẫn chịu một số ảo cảm cao hơn. Khi nào cuối cùng chúng ta thoát khỏi ảo cảm? Có ảo cảm vũ trụ, có ảo cảm hệ thống, có ảo cảm hành tinh. Bất cứ điều gì hạn chế sự tiếp cận với giai đoạn kế tiếp của thực tại đều phải được xem là ảo cảm. |
||||||||
|
This has some philosophy in it. What is the unreal? What is the real? And how are we led to the real, away from our confinement in glamour? DK goes on to say, |
Điều này có một phần triết học trong đó. Điều không thật là gì? Điều thật là gì? Và làm sao chúng ta được dẫn đến điều thật, thoát khỏi sự giam hãm trong ảo cảm? Chân sư DK tiếp tục nói: |
||||||||
|
These glamours embody the unreal and present them to the prisoners of the astral plane, leading them to mistake them for the Reality [1h] |
Những ảo cảm này thể hiện điều không thật và trình bày chúng cho các tù nhân của cõi cảm dục, khiến họ lầm tưởng chúng là Thực Tại [1h] |
||||||||
|
We have only to see what’s going on in the United States, for instance, as a harshly divided country to see who are the prisoners of the astral plane. The attackers, the insurrectionists, the refusers, the conspiratorial thinkers filled with suspicion, refusing to think of others when it comes to this pandemic and the possibility of vaccination which greatly lowers hospitalization and death rates. All of these people, simply because they were incarnated later in the game, are prisoners of the astral plane, and they do think that they are dealing with reality in their conspiracy theories, which sometimes are so outlandish, your jaw has to drop to think that other people are really thinking in that way and acting upon it, with their desires in the fields of glamour. |
Chúng ta chỉ cần nhìn vào những gì đang diễn ra tại Hoa Kỳ, chẳng hạn, như một quốc gia bị chia rẽ gay gắt, để thấy ai là tù nhân của cõi cảm dục. Những kẻ tấn công, những người nổi loạn, những người phủ nhận, những người suy nghĩ theo âm mưu đầy nghi ngờ, từ chối nghĩ đến người khác khi nói đến đại dịch này và khả năng tiêm chủng vốn làm giảm rất nhiều tỷ lệ nhập viện và tử vong. Tất cả những người này, chỉ vì họ nhập thể muộn hơn trong cuộc chơi, là tù nhân của cõi cảm dục, và họ thật sự nghĩ rằng họ đang xử lý thực tại trong các thuyết âm mưu của họ, đôi khi kỳ quái đến mức người ta phải sững sờ khi nghĩ rằng những người khác thật sự đang suy nghĩ theo cách đó và hành động theo nó, với những ham muốn của họ trong các lĩnh vực ảo cảm. |
||||||||
|
DK goes on. |
Chân sư DK tiếp tục. |
||||||||
|
This imprisonment by glamour can be ended by the activity of the Technique of Light, |
Sự giam cầm bởi ảo cảm này có thể chấm dứt nhờ hoạt động của Kỹ Thuật Ánh sáng, |
||||||||
|
Which is what we usually use in the meditation that we use. |
Đó là điều chúng ta thường sử dụng trong bài tham thiền của mình. |
||||||||
|
The imprisonment by glamour |
Sự giam cầm bởi ảo cảm |
||||||||
|
I wonder if we can for a moment ponder on what this imprisonment by glamour really feels like, because I want to say that so many of our glamours, and the glamours that are sweeping through many millions, are self-justifying glamours. This is how I’ve always been. This is the right way. There is proof to how I feel about these things. I saw some of the pictures, the photos of the attackers on January 6, and the body language itself was filled with possession by glamour. I saw a man, he held his hands like this, and he was moving towards attacking a capital police officer. I wondered what possessed him. It was imprisonment by glamour. |
Tôi tự hỏi liệu trong chốc lát chúng ta có thể suy ngẫm xem sự giam cầm bởi ảo cảm này thật sự có cảm giác ra sao, bởi tôi muốn nói rằng rất nhiều ảo cảm của chúng ta, và những ảo cảm đang cuốn qua hàng triệu người, là những ảo cảm tự biện minh. Tôi vốn luôn như thế. Đây là cách đúng. Có bằng chứng cho cảm nhận của tôi về những điều này. Tôi đã thấy một số hình ảnh, những bức ảnh của những kẻ tấn công ngày 6 tháng 1, và chính ngôn ngữ cơ thể của họ đã đầy sự chiếm hữu bởi ảo cảm. Tôi thấy một người đàn ông, ông ta giữ hai tay như thế này và tiến về phía một sĩ quan cảnh sát quốc hội để tấn công. Tôi tự hỏi điều gì đã chiếm hữu ông ta. Đó là sự giam cầm bởi ảo cảm. |
||||||||
|
If we work properly with the Technique of Light, and we do some of that work, it will become more intense as the Aquarian Age moves on. |
Nếu chúng ta làm việc đúng đắn với Kỹ Thuật Ánh sáng, và chúng ta thực hiện một phần công việc ấy, nó sẽ trở nên mãnh liệt hơn khi Kỷ Nguyên Bảo Bình tiến tới. |
||||||||
|
This imprisonment by glamour can be ended by the activity of the Technique of Light, utilised by those who work—in group formation—for the dissipation of glamour and for the emergence in the consciousness of men of a clear conception and recognition of the nature of Reality. [1i] |
Sự giam cầm bởi ảo cảm này có thể chấm dứt nhờ hoạt động của Kỹ Thuật Ánh sáng, được sử dụng bởi những người hoạt động—trong sự hình thành nhóm—để làm tiêu tan ảo cảm và để làm xuất hiện trong tâm thức con người một quan niệm sáng rõ và sự nhận biết về bản chất của Thực Tại. [1i] |
||||||||
|
That means we quasi-esoteric workers—I can never say that we’re entirely esoteric workers, which is not there yet—have our work cut out for us along approved esoteric lines, helping people understand what is the difference between their imprisonment in glamour and a recognition of reality. |
Điều đó có nghĩa là chúng ta, những người hoạt động bán huyền bí—tôi không bao giờ có thể nói rằng chúng ta hoàn toàn là những người hoạt động huyền bí, điều ấy chưa có—đã có phần việc của mình được định rõ theo những đường lối huyền bí được chấp thuận, giúp con người hiểu sự khác biệt giữa sự giam cầm của họ trong ảo cảm và sự nhận biết thực tại. |
||||||||
|
Lead us from the unreal to the real. |
Xin dẫn chúng con từ điều không thật đến điều thật. |
||||||||
|
Remember how ancient this prayer is. He calls it the oldest prayer in the world. Sometimes he calls the Gayatri the same, but they are both of ancient origin. |
Hãy nhớ lời cầu nguyện này cổ xưa đến mức nào. Ngài gọi nó là lời cầu nguyện cổ nhất trên thế giới. Đôi khi Ngài cũng gọi Gayatri như vậy, nhưng cả hai đều có nguồn gốc cổ xưa. |
||||||||
|
This particular work of dissipation is our immediate theme. |
Công việc làm tiêu tan đặc biệt này là chủ đề trước mắt của chúng ta. |
||||||||
|
And it should interest us because it’s our immediate method. |
Và nó nên khiến chúng ta quan tâm, vì đó là phương pháp trước mắt của chúng ta. |
||||||||
|
It is of vital importance that those who recognise [Page 199] the open door to the future through which all men must pass should begin to carry forward this work [1j] |
Điều có tầm quan trọng thiết yếu là những ai nhận ra [Trang 199] cánh cửa mở vào tương lai, qua đó mọi người đều phải đi qua, nên bắt đầu tiến hành công việc này [1j] |
||||||||
|
Only thus can humanity be helped to leave behind the errors, the glamours and the failures of the past. [1k] |
Chỉ bằng cách ấy, nhân loại mới có thể được giúp rời bỏ những sai lầm, những ảo cảm và những thất bại của quá khứ. [1k] |
||||||||
|
It’s of immediate relevance to us. Our proficiency in executing this technique and of spreading it wisely among those who can handle it is really esoterically important. DK goes on to say, |
Điều này có liên hệ trực tiếp với chúng ta. Sự thành thạo của chúng ta trong việc thực hiện kỹ thuật này và trong việc truyền bá nó một cách khôn ngoan cho những người có thể xử lý nó thật sự quan trọng một cách huyền bí. Chân sư DK tiếp tục nói: |
||||||||
|
It is this technique which brings freedom from glamour and which can transform human living, and so bring in the new civilisation and culture. [1l] |
Chính kỹ thuật này đem lại sự tự do khỏi ảo cảm và có thể chuyển đổi đời sống con người, nhờ đó đem đến nền văn minh và văn hóa mới. [1l] |
||||||||
|
Think of that—how powerful this Technique of Light can be, which has to do with that aspect of glamour which is most urgently oppressive. Can we deal with the pressure of the time, because the pressure of the time demands the use of this technique? The promise is very great: a new civilization and a new culture. But it’s being held back by those who are prisoners of glamour. Sometimes we read about the prisoners of the planet, and those can be elemental lives. But in so many ways, unthinking, desirous humanity is a great prisoner, excluded from the understanding of reality. |
Hãy nghĩ về điều đó—Kỹ Thuật Ánh sáng này có thể mạnh mẽ đến mức nào, vốn liên quan đến phương diện ảo cảm đang áp bức cấp bách nhất. Chúng ta có thể xử lý áp lực của thời đại không, bởi áp lực của thời đại đòi hỏi việc sử dụng kỹ thuật này? Lời hứa hẹn là rất lớn: một nền văn minh mới và một nền văn hóa mới. Nhưng điều đó đang bị kìm hãm bởi những người là tù nhân của ảo cảm. Đôi khi chúng ta đọc về các tù nhân của hành tinh, và họ có thể là những sự sống hành khí. Nhưng theo rất nhiều cách, nhân loại thiếu suy nghĩ, đầy dục vọng, là một tù nhân lớn, bị loại khỏi sự thấu hiểu thực tại. |
||||||||
|
Now, I’ll be limited as to what I can do here today. There’s lots to be done, lots to be read anyway. He stays with the dissipation of glamour for quite a while and does not exactly get into the dispersion of Maya according to the Technique of Indifference. The real trouble is when we are under the spell of a glamour or more, we don’t recognize it. |
Hôm nay tôi sẽ bị giới hạn về những gì có thể làm ở đây. Dù sao vẫn còn nhiều việc phải làm, nhiều điều phải đọc. Ngài ở lại với việc làm tiêu tan ảo cảm trong một thời gian khá lâu và chưa thật sự đi vào việc phân tán Ảo lực theo Kỹ Thuật Điềm Nhiên. Vấn đề thật sự là khi chúng ta ở dưới bùa mê của một hay nhiều ảo cảm, chúng ta không nhận ra điều đó. |
||||||||
|
That’s why it was so valuable for those students of DK to receive from Him personal, well-considered instruction. It was important because he could pinpoint, he could isolate, he could name and rename and give new names to exactly the glamours which were confining his chelas. That day will come for all of us, because as he says here, we’re all going to go forward, and we will all leave behind the errors, the glamours, the failures of the past—as far as failure goes, as far as sin goes. |
Đó là lý do tại sao việc các môn sinh của Chân sư DK nhận được từ Ngài sự chỉ dẫn cá nhân được cân nhắc kỹ lưỡng lại có giá trị đến vậy. Điều đó quan trọng vì Ngài có thể chỉ đúng, cô lập, gọi tên và gọi lại bằng những tên mới chính xác những ảo cảm đang giam hãm các đệ tử của Ngài. Ngày ấy sẽ đến với tất cả chúng ta, bởi như Ngài nói ở đây, tất cả chúng ta sẽ tiến tới, và tất cả chúng ta sẽ bỏ lại phía sau những sai lầm, những ảo cảm, những thất bại của quá khứ—xét về thất bại, xét về tội lỗi. |
||||||||
|
He says, “All have sinned, all have failed.” And on top of it, for the poor aspirants, the glamour of the fear of failure is one of the main restrictions upon the aspirants. How many of us fear failure? Certainly I know I do. There’s so much to be done correctly, and I think, “What if I don’t do it correctly? What if I fall back?” Those kinds of things. What if, given all this opportunity, I can’t respond properly and fail? So it can itself be quite an inhibition. |
Ngài nói: “Tất cả đều đã phạm tội, tất cả đều đã thất bại.” Và thêm vào đó, đối với những người chí nguyện đáng thương, ảo cảm về nỗi sợ thất bại là một trong những giới hạn chính đối với người chí nguyện. Bao nhiêu người trong chúng ta sợ thất bại? Chắc chắn tôi biết mình có. Có quá nhiều điều cần được làm đúng, và tôi nghĩ: “Nếu tôi không làm đúng thì sao? Nếu tôi thụt lùi thì sao?” Những điều kiểu như vậy. Nếu, với tất cả cơ hội này, tôi không thể đáp ứng đúng đắn và thất bại thì sao? Vì vậy, tự nó cũng có thể trở thành một sự ức chế khá lớn. |
||||||||
|
Alright, a little more, |
Thêm một chút nữa, |
||||||||
|
This dissipation. |
Sự làm tiêu tan này. |
||||||||
|
Remember dispelling is the word we use for illusion, dissipation for glamour, and devitalization or dispersion for Maya. |
Hãy nhớ rằng xua tan là từ chúng ta dùng cho ảo tưởng, làm tiêu tan cho ảo cảm, và khử sinh lực hoặc phân tán cho Ảo lực. |
||||||||
|
This dissipation can be carried forward by disciples in all parts of the planet, aided by the world aspirants; |
Sự làm tiêu tan này có thể được các đệ tử ở mọi phần của hành tinh tiến hành, với sự trợ giúp của những người chí nguyện thế giới; |
||||||||
|
They [world aspirants] are not quite so steady, not quite so rooted in what are the best methods and what they must do. They are more inconsistent. |
Họ, tức những người chí nguyện thế giới, chưa thật vững vàng, chưa thật bám rễ vào những phương pháp tốt nhất và vào điều họ phải làm. Họ thiếu nhất quán hơn. |
||||||||
|
Disciples can do this, world aspirants can aid. |
Các đệ tử có thể làm việc này, những người chí nguyện thế giới có thể trợ giúp. |
||||||||
|
it will, however, be primarily the work of those whose ray focus makes astral living the line of least resistance and who have learnt or are learning to dominate it by the power of thought and mental light. [1m] |
tuy nhiên, đó chủ yếu sẽ là công việc của những ai có tiêu điểm cung khiến đời sống cảm dục trở thành con đường ít trở ngại nhất, và những người đã học hoặc đang học cách chế ngự nó bằng quyền năng của tư tưởng và ánh sáng trí tuệ. [1m] |
||||||||
|
I want to emphasize how important the sixth ray is in this work. As a matter of fact, everybody who was involved in the glamour group was equipped with a sixth ray, even the first ray soul who had a fifth ray personality and a fifth ray mind and a seventh ray physical body. It was that sixth ray astral body which equipped him to be able to work with the glamour group, the Observers of Reality. Obviously, if you think about it, this would have been the group itself that really had to be careful about being vulnerable to glamour. They were very close to it, and when you work there, you can understand the need for the protective formulas. |
Tôi muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của cung sáu trong công việc này. Thật ra, mọi người tham gia nhóm ảo cảm đều được trang bị cung sáu, ngay cả linh hồn cung một, người có phàm ngã cung năm, thể trí cung năm và thể xác cung bảy. Chính thể cảm dục cung sáu ấy đã trang bị cho ông khả năng làm việc với nhóm ảo cảm, Các Nhà Quan Sát Thực Tại. Rõ ràng, nếu các bạn suy nghĩ về điều đó, thì chính nhóm này thật sự phải hết sức cẩn trọng trước nguy cơ dễ bị ảo cảm chi phối. Họ ở rất gần nó, và khi các bạn làm việc ở đó, các bạn có thể thấu hiểu nhu cầu cần đến các công thức bảo vệ. |
||||||||
|
These were dominated by the power of thought and mental light. |
Những người này chịu sự chi phối của quyền năng tư tưởng và ánh sáng trí tuệ. |
||||||||
|
This particular man was a DLR. He was an entomologist, a real scientist in this life, studying insects of all things, but he played the violin and had, in his higher rays, much more of the mystical and non-scientific ray. It was obviously something that had to be done in that particular life, but he was the great steadying force in that group, and we can understand that it would have been needed. |
Người đặc biệt này là DLR. Ông là một nhà côn trùng học, một nhà khoa học thật sự trong kiếp sống này, nghiên cứu côn trùng trong muôn loài, nhưng ông chơi vĩ cầm và, trong các cung cao hơn của mình, lại có nhiều hơn tính chất thần bí và phi khoa học. Rõ ràng đó là điều phải được thực hiện trong kiếp sống đặc biệt ấy, nhưng ông là mãnh lực ổn định lớn lao trong nhóm đó, và chúng ta có thể thấu hiểu rằng điều ấy là cần thiết. |
||||||||
|
These are the sixth ray people in the first instance, aided by aspirants and disciples upon the second and fourth rays [1n] |
Trước hết, đây là những người cung sáu, được trợ giúp bởi những người chí nguyện và đệ tử thuộc cung hai và cung bốn [1n] |
||||||||
|
The sixth ray types have a vulnerability to glamour, and people who think more broadly are in a position to help them. |
Những người thuộc cung sáu có khuynh hướng dễ bị ảo cảm chi phối, và những người suy nghĩ rộng hơn có khả năng giúp họ. |
||||||||
|
I do believe we should stop the reading now. But just to say a little bit, he says that |
Tôi tin rằng chúng ta nên dừng phần đọc tại đây. Nhưng chỉ nói thêm một chút, Ngài nói rằng |
||||||||
|
In time and space, this task will be first of all instituted and controlled in group formation only by aspirants whose soul or personality rays are the sixth or by those whose astral bodies are conditioned by the sixth ray. |
Trong thời gian và không gian, nhiệm vụ này trước hết sẽ chỉ được thiết lập và kiểm soát trong đội hình nhóm bởi những người chí nguyện có cung linh hồn hoặc cung phàm ngã là cung sáu, hoặc bởi những người có thể cảm dục chịu tác động của cung sáu. |
||||||||
|
And then there will be help coming to them. |
Rồi sẽ có sự trợ giúp đến với họ. |
||||||||
|
The glamour of having no glamours is sometimes present in people who feel they are quite far advanced and have a mental focus, and not in need of dealing with glamour so much. That in itself is unreality. We still have that, and not only do we have them, but if we start looking at this in a planetary, solar, and cosmic sense, these Greater Entities, relative to their position on the cosmic scale of evolution, they have glamours too. |
Ảo cảm về việc không có ảo cảm đôi khi hiện diện nơi những người cảm thấy mình đã tiến khá xa, có tập trung trí tuệ, và không cần phải đề cập nhiều đến ảo cảm. Chính điều đó là sự phi thực tại. Chúng ta vẫn có điều ấy, và không những chúng ta có chúng, mà nếu chúng ta bắt đầu nhìn vấn đề này theo nghĩa hành tinh, thái dương và vũ trụ, thì các Thực Thể Vĩ Đại này, xét tương đối theo vị trí của Các Ngài trên thang tiến hoá vũ trụ, cũng có các ảo cảm. |
||||||||
|
The cosmic astral plane may be the seat of a great love energy, but it is also the seed of certain inimical forces, which are glamorous in the cosmic sense. The whole thing is about learning what Reality is, and going step by step to clear away the obstructions to a greater registration of Reality. |
Cõi cảm dục vũ trụ có thể là nơi trú ngụ của một năng lượng bác ái lớn lao, nhưng nó cũng là mầm của một số mãnh lực thù nghịch, vốn mang tính ảo cảm theo nghĩa vũ trụ. Toàn bộ vấn đề là học biết Thực Tại là gì, và từng bước dọn sạch những chướng ngại đối với sự ghi nhận Thực Tại ngày càng lớn hơn. |
||||||||
|
We don’t know what Reality is. The next step in reality, we may have words for it, but when we experience it, then we’ll say, “Uh huh, well, so that’s what he meant.” We will climb into a greater perspective of the soul, of the triad, and finally of the Monad, and finally, of the liberated Monad itself in the sea of fire. |
Chúng ta không biết Thực Tại là gì. Bước kế tiếp trong thực tại, chúng ta có thể có lời để diễn tả, nhưng khi kinh nghiệm nó, lúc đó chúng ta sẽ nói: “À, vậy đó là điều Ngài muốn nói.” Chúng ta sẽ vươn lên một viễn cảnh lớn hơn của linh hồn, của Tam nguyên tinh thần, và cuối cùng của chân thần, rồi cuối cùng của chính chân thần đã giải thoát trong biển lửa. |
||||||||
|
Such a huge destiny lies before us. DK calls it Monadic destiny. That will strip away the many obstructions to greater and greater Light, Love and Power. All that remains waiting for us, but we have to begin somewhere, and we are beginning studying what this particular seed group, the Observers of Reality, had to study when they worked with DK and when he externalizes. |
Một thiên mệnh mênh mông như thế đang ở trước chúng ta. Chân sư DK gọi đó là thiên mệnh chân thần. Điều đó sẽ tước bỏ nhiều chướng ngại đối với Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng ngày càng lớn hơn. Tất cả điều ấy vẫn đang chờ chúng ta, nhưng chúng ta phải bắt đầu từ đâu đó, và chúng ta đang bắt đầu bằng việc nghiên cứu điều mà nhóm hạt giống đặc biệt này, Các Nhà Quan Sát Thực Tại, đã phải nghiên cứu khi họ làm việc với Chân sư DK và khi Ngài ngoại hiện. |
||||||||
|
He’ll be one of the externalizing Masters, and we may have the opportunity to work with him directly and in person, which he says will allow much greater and faster progress, because the teacher will be there to guide and to guard. |
Ngài sẽ là một trong các Chân sư ngoại hiện, và chúng ta có thể có cơ hội làm việc trực tiếp và đích thân với Ngài, điều mà Ngài nói sẽ cho phép sự tiến bộ lớn hơn và nhanh hơn nhiều, bởi vì huấn sư sẽ hiện diện để hướng dẫn và bảo vệ. |
||||||||
|
Are there any things you would want to question, or say, or write, or whatever, before we get into our meditation? |
Có điều gì các bạn muốn hỏi, nói, viết, hay bất cứ điều gì, trước khi chúng ta bước vào phần tham thiền không? |
||||||||
|
… |
… |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
Can we talk about the Line of Least Resistance, half of the time I feel it is the road that must be taken, and the other half to be avoided. Also, he seems not to lead any probability to work with dissipation, if you do not have the sixth ray. |
Chúng ta có thể nói về con đường ít trở ngại nhất không; một nửa thời gian tôi cảm thấy đó là con đường phải đi, và nửa còn lại là con đường phải tránh. Ngoài ra, dường như Ngài không để lại khả năng nào cho việc làm việc với sự làm tiêu tan, nếu người ta không có cung sáu. |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
I would say about the Sixth Ray Lord that it seems to tune you in to that particular area that has to be addressed. That’s a question of resonance, and I cannot say unequivocally that no one who does not have the Sixth Ray Lord can work in the field, but it seems to be a resonant factor. The next time we talk, I think he’s going to talk about why it is so necessary to be equipped with the Sixth Ray Lord. |
Về Đấng Chúa Tể Cung sáu, tôi sẽ nói rằng dường như Ngài điều chỉnh các bạn vào đúng lĩnh vực đặc biệt cần được xử lý. Đó là vấn đề cộng hưởng, và tôi không thể nói một cách dứt khoát rằng không ai không có Đấng Chúa Tể Cung sáu lại có thể làm việc trong lĩnh vực này, nhưng dường như đó là một yếu tố cộng hưởng. Lần tới khi chúng ta nói chuyện, tôi nghĩ Ngài sẽ nói về lý do tại sao việc được trang bị bởi Đấng Chúa Tể Cung sáu lại cần thiết đến thế. |
||||||||
|
Many of us really have it, and if we don’t have it as a present ray, we might have a very strong what I call ‘legacy ray’ from an earlier incarnation, probably one that is quite recent, even the previous one. If our specialty is working as an Observer of Reality in every seed group doing specialized work, then it is probable that the Sixth Ray Lord would be very helpful in that. |
Nhiều người trong chúng ta thật sự có điều đó, và nếu chúng ta không có nó như một cung hiện tại, chúng ta có thể có một “cung di sản” rất mạnh từ một kiếp trước, có lẽ là một kiếp khá gần đây, thậm chí là kiếp ngay trước đó. Nếu chuyên môn của chúng ta là làm việc như một Nhà Quan Sát Thực Tại trong mọi nhóm hạt giống đang thực hiện công việc chuyên biệt, thì có khả năng Đấng Chúa Tể Cung sáu sẽ rất hữu ích trong việc ấy. |
||||||||
|
The Disciple DLR, the entomologist Charles Hill, had so much of the hardline rays — so many of them, the First Ray Lord and Fifth Ray Lord, and also the Seventh Ray Lord — but that Sixth Ray Lord thing attuned him. Further, when you read his application, he seems a much softer character on the higher levels along the Second Ray Lord line than you might suspect with such a profession as the study of insects. That’s a case where some kind of karma or some kind of balancing had to take place. |
Đệ tử DLR, nhà côn trùng học Charles Hill, có rất nhiều các cung đường lối cứng — rất nhiều, Đấng Chúa Tể Cung một và Đấng Chúa Tể Cung năm, cũng như Đấng Chúa Tể Cung bảy — nhưng yếu tố Đấng Chúa Tể Cung sáu ấy đã điều chỉnh ông. Hơn nữa, khi các bạn đọc đơn xin gia nhập của ông, ông có vẻ là một tính cách mềm mại hơn nhiều ở các cấp độ cao, theo tuyến Đấng Chúa Tể Cung hai, so với điều các bạn có thể nghi ngờ nơi một nghề nghiệp như nghiên cứu côn trùng. Đó là trường hợp trong đó một loại nghiệp quả nào đó hoặc một sự cân bằng nào đó phải diễn ra. |
||||||||
|
The Line of Least Resistance, sometimes it is pejorative, like the tendencies of the Third Ray Lord to ‘cut corners’ and not really be square, to eliminate things that should be retained because they are expedient. But I think you’re correct that there are other times when we don’t want to be barking up the wrong tree. We want to do those things in terms of the seed group work which really are suited to our ray capacities and also our astrological capacities, and in that regard, the Line of Least Resistance can take on a positive meaning, involving resonance and attunement. You just have to make the judgment as to which one of those he may be talking about. |
Con đường ít trở ngại nhất đôi khi có nghĩa tiêu cực, như các khuynh hướng của Đấng Chúa Tể Cung ba muốn “đi đường tắt” và không thật sự ngay thẳng, loại bỏ những điều lẽ ra nên được giữ lại vì chúng thuận tiện. Nhưng tôi nghĩ các bạn nói đúng rằng có những lúc khác chúng ta không muốn phí sức sai chỗ. Chúng ta muốn làm những điều, trong công việc nhóm hạt giống, thật sự phù hợp với các năng lực cung của mình và cả các năng lực chiêm tinh của mình; và về phương diện đó, con đường ít trở ngại nhất có thể mang ý nghĩa tích cực, liên quan đến cộng hưởng và sự điều hợp. Các bạn chỉ cần phán đoán xem Ngài có thể đang nói đến nghĩa nào trong hai nghĩa ấy. |
||||||||
|
I can give you an example from my own life. My parents always wanted me to be a doctor, a physical doctor. I went to school for a while doing that with chemistry and organic chemistry and physics and all the rest. That was not the line of least resistance. Nor could anything of moment be established, because of my own ray combination and astrological combination. It would have been utterly futile, although I do number among a lot of my best friends psychiatrists, and that’s the kind of thing I was interested in. |
Tôi có thể cho các bạn một ví dụ từ đời sống của chính tôi. Cha mẹ tôi luôn muốn tôi trở thành bác sĩ, một bác sĩ hồng trần. Tôi đã đi học một thời gian theo hướng đó, với hoá học, hoá hữu cơ, vật lý và mọi thứ khác. Đó không phải là con đường ít trở ngại nhất. Cũng không thể thiết lập được điều gì quan trọng, do sự phối hợp cung và phối hợp chiêm tinh của chính tôi. Điều đó sẽ hoàn toàn vô ích, mặc dù trong số những người bạn thân nhất của tôi có nhiều bác sĩ tâm thần, và đó là loại điều tôi quan tâm. |
||||||||
|
But there were other ways to get there. I followed music, and literature, and drama, and those things which were attuned to my rays, and I was able to make progress, because I followed the resonance. We have to make a judgment about whether the line of least resistance means cutting corners and not doing what you’re supposed to do, because you’re too lazy or oriented towards expediency, that you won’t take the time to really do what you should do. |
Nhưng có những cách khác để đi đến đó. Tôi đã đi theo âm nhạc, văn chương, kịch nghệ, và những điều phù hợp với các cung của tôi, và tôi đã có thể tiến bộ, bởi vì tôi đi theo sự cộng hưởng. Chúng ta phải phán đoán xem con đường ít trở ngại nhất có nghĩa là đi đường tắt và không làm điều mình phải làm, vì mình quá lười biếng hoặc hướng về sự tiện lợi đến mức không chịu dành thời gian để thật sự làm điều mình nên làm hay không. |
||||||||
|
There’s that type of line of least resistance where you basically fall back — you’re interested in the personality and you’re not yet solidly anchored in the soul — and so you fall back into what is easier, what takes less effort, or least effort. You just have to make the judgment yourself as to what he is talking about, because both seem to be true. |
Có loại con đường ít trở ngại nhất trong đó về căn bản các bạn lùi lại — các bạn quan tâm đến phàm ngã và chưa được neo vững chắc trong linh hồn — vì vậy các bạn rơi trở lại vào điều dễ hơn, điều đòi hỏi ít nỗ lực hơn, hoặc ít nỗ lực nhất. Các bạn chỉ cần tự mình phán đoán xem Ngài đang nói về điều gì, vì cả hai dường như đều đúng. |
||||||||
|
And then Mary says, In earlier days of my life used to be so devotional ray six, and I felt so much blessed in its fervor. Then disillusionment led me towards science in the fifth ray, and pragmaticism, the third ray. It’s been difficult for me to reignite that faith without skepticism, especially when facing the glamour in spiritual seekers, aspirants and disciples, how to keep my heart in mind. |
Rồi Mary nói: Trong những ngày đầu đời, tôi từng rất sùng tín theo cung sáu, và tôi cảm thấy được ban phúc rất nhiều trong nhiệt thành của nó. Rồi sự vỡ mộng dẫn tôi đến khoa học trong cung năm, và chủ nghĩa thực dụng, cung ba. Đối với tôi, thật khó để thắp lại đức tin ấy mà không có hoài nghi, nhất là khi đối diện với ảo cảm nơi những người tìm kiếm tinh thần, những người chí nguyện và đệ tử; làm sao để giữ trái tim tôi trong trí tuệ. |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
That’s a big question. If you think about the Solar Angel, it’s very much a center of heart and mind, or call it the Angel of the Presence as much of the Solar Angel as can really be contained within our causal body. The Tibetan might recommend studying the position of Venus in your chart as representing the union of heart and mind. This is not uncommon. I saw it when I was teaching opera. I had a friend who was an organic chemist. What might that require? Suddenly he turned into a religious devotee. What happened? Oftentimes, there are different ways for this to occur. |
Đó là một câu hỏi lớn. Nếu các bạn nghĩ về Thái dương Thiên Thần, thì đó rất nhiều là một trung tâm của trái tim và trí tuệ, hoặc hãy gọi là Thiên Thần của Hiện Diện, tức phần của Thái dương Thiên Thần có thể thật sự được chứa đựng trong thể nguyên nhân của chúng ta. Chân sư Tây Tạng có thể khuyên nên nghiên cứu vị trí của Sao Kim trong lá số của các bạn như đại diện cho sự hợp nhất của trái tim và trí tuệ. Điều này không hiếm. Tôi đã thấy điều đó khi dạy opera. Tôi có một người bạn là nhà hoá hữu cơ. Điều ấy có thể đòi hỏi gì? Đột nhiên ông trở thành một tín đồ tôn giáo sùng tín. Chuyện gì đã xảy ra? Thường có nhiều cách khác nhau để điều này xảy ra. |
||||||||
|
A legacy ray from the past can be pushing you in a certain direction. Suddenly, a ray that is part of your present equipment and is quite different from the legacy ray begins to take over. Or if it’s not a legacy ray, it can be your own ray, that inclines you in a certain direction like the sixth ray. But a still higher, more soul-related ray begins to come into power and competes with the lower ray. |
Một cung di sản từ quá khứ có thể đang thúc đẩy các bạn theo một hướng nhất định. Đột nhiên, một cung vốn là một phần trang bị hiện tại của các bạn và rất khác với cung di sản bắt đầu nắm quyền. Hoặc nếu đó không phải là cung di sản, thì có thể là cung riêng của các bạn, nghiêng các bạn về một hướng nhất định như cung sáu. Nhưng một cung còn cao hơn, liên hệ nhiều hơn với linh hồn, bắt đầu đi vào quyền lực và cạnh tranh với cung thấp hơn. |
||||||||
|
Venus shows that there can be both love and mind united. DK tells disciples to study the position of Venus, its house position, its sign position, and generally its effect in the horoscope—the way to unite the heart and mind, because they must be united. This will begin to dawn upon one. One can be skeptical, but if one really follows DK carefully, beyond skepticism is a higher type of science which is known to the Solar Angel or Angel of the Presence. If one begins to slide into that higher form of science, then mysticism, devotionalism, love—all that becomes far more acceptable. |
Sao Kim cho thấy rằng cả tình thương và trí tuệ có thể được hợp nhất. Chân sư DK bảo các đệ tử nghiên cứu vị trí của Sao Kim, vị trí nhà của nó, vị trí dấu hiệu của nó, và nói chung là ảnh hưởng của nó trong lá số chiêm tinh — con đường để hợp nhất trái tim và trí tuệ, bởi vì chúng phải được hợp nhất. Điều này sẽ bắt đầu hé sáng trong một người. Người ta có thể hoài nghi, nhưng nếu người ta thật sự theo Chân sư DK một cách cẩn thận, thì vượt khỏi hoài nghi là một loại khoa học cao hơn mà Thái dương Thiên Thần hay Thiên Thần của Hiện Diện biết đến. Nếu người ta bắt đầu trượt vào hình thức khoa học cao hơn ấy, thì Thần bí học, chủ nghĩa sùng tín, tình thương — tất cả những điều đó trở nên dễ chấp nhận hơn nhiều. |
||||||||
|
I remember back when I was teaching in a state university. I had a friend who was a Scorpio guy, a wonderful man, totally scientific. Then wham, the change came, because something higher in his nature struck and reduced the effect of his skepticism. I was taking some courses in counseling psychology, and the fellow teaching them was totally in the concrete mind. I talked to my friend about it, and he said, “Yes, it’s a phase, and later you’ll be able to come back to include the heart.” Never give up on that. |
Tôi nhớ hồi tôi dạy ở một đại học tiểu bang. Tôi có một người bạn thuộc Hổ Cáp, một người tuyệt vời, hoàn toàn khoa học. Rồi đùng một cái, sự thay đổi đến, bởi vì điều gì đó cao hơn trong bản chất của ông tác động và làm giảm ảnh hưởng của sự hoài nghi của ông. Tôi đang học vài khoá về tâm lý học tư vấn, và người giảng dạy hoàn toàn ở trong trí cụ thể. Tôi nói với bạn tôi về điều đó, và ông nói: “Đúng, đó là một giai đoạn, và sau này anh sẽ có thể trở lại để bao gồm trái tim.” Đừng bao giờ từ bỏ điều đó. |
||||||||
|
Skepticism relates to a lower phase of mind. The higher phase of mind will definitely have room for both love and mind. That’s the way I would approach it. I would do quite an earnest study on the higher meaning of Venus in general, and what it could mean in my astrological chart. I would also make very sure that I knew what my rays were, and could justify that. All of this is based on actually knowing your ray chart, and also the rays that come through your various astrological factors. |
Sự hoài nghi liên quan đến một giai đoạn thấp hơn của trí tuệ. Giai đoạn cao hơn của trí tuệ chắc chắn sẽ có chỗ cho cả tình thương lẫn trí tuệ. Đó là cách tôi sẽ tiếp cận vấn đề. Tôi sẽ thực hiện một nghiên cứu khá nghiêm túc về ý nghĩa cao hơn của Sao Kim nói chung, và nó có thể có nghĩa gì trong lá số chiêm tinh của tôi. Tôi cũng sẽ bảo đảm rất chắc chắn rằng tôi biết các cung của mình là gì, và có thể biện minh cho điều đó. Tất cả điều này dựa trên việc thật sự biết biểu đồ cung của các bạn, và cả các cung đi qua những yếu tố chiêm tinh khác nhau của các bạn. |
||||||||
|
There’s no problem eventually once we’re overcome by the small skepticism. That small skepticism means we are transcending the limitations of the illusory lower mind. |
Cuối cùng sẽ không còn vấn đề gì một khi chúng ta vượt qua sự hoài nghi nhỏ bé. Sự hoài nghi nhỏ bé ấy có nghĩa là chúng ta đang siêu vượt các giới hạn của hạ trí ảo tưởng. |
||||||||
|
Oh, it looks like there’s something here about this is a political statement. And is it from Olivia? I’m not sure. |
Có vẻ như ở đây có điều gì đó nói rằng đây là một phát biểu chính trị. Và có phải từ Olivia không? Tôi không chắc. |
||||||||
|
The politics is rife with glamour right now, just the way religion is. These two areas are very dangerous in terms of selfishness taking over. I know how politically active Olivia is, and how helpful she is in that field. Somehow, in both of those cases, we have the third ray, the sixth ray, and also the first ray, and we have to learn how to use them in the right way—that is not separative. |
Chính trị hiện nay đầy dẫy ảo cảm, cũng như tôn giáo vậy. Hai lĩnh vực này rất nguy hiểm xét theo phương diện tính ích kỷ nắm quyền. Tôi biết Olivia hoạt động chính trị tích cực đến mức nào, và bà hữu ích ra sao trong lĩnh vực ấy. Bằng cách nào đó, trong cả hai trường hợp đó, chúng ta có cung ba, cung sáu, và cả cung một, và chúng ta phải học cách sử dụng chúng theo cách đúng đắn — tức là không chia rẽ. |
||||||||
|
Friends, thank you for your comments, and we’ll have our meditation now. For reasons that are largely related to equipment and other things we can’t overcome at the moment, I’ll have to be the one that will give this vigil for tonight. Last night, we talked quite a bit—my night anyway—about women and girls, and the themes are what they are. We know what the themes are. |
Các bạn thân mến, cảm ơn các bạn về những nhận xét, và bây giờ chúng ta sẽ có phần tham thiền. Vì những lý do phần lớn liên quan đến thiết bị và những điều khác mà lúc này chúng ta không thể khắc phục, tôi sẽ phải là người thực hiện buổi canh thức tối nay. Đêm qua, theo giờ của tôi, chúng ta đã nói khá nhiều về phụ nữ và các bé gái, và các chủ đề là như chúng vốn là. Chúng ta biết các chủ đề là gì. |
||||||||
|
Will the hatred, incorporated in many evil masculinity, overcome the opportunity that should be offered to at least half of world’s humanity—namely, the opposite sex, or whatever is the opposite to the women, to the girls who are having their opportunities seized and taken from them by a brutal force? I believe this force cannot and will not last, because at some point it’s going to overstep its bounds and call for some reaction that will replace its hatred with inclusiveness. |
Liệu lòng hận thù, được thể hiện trong nhiều dạng nam tính độc ác, có vượt thắng cơ hội lẽ ra phải được trao cho ít nhất một nửa nhân loại thế giới — tức là giới tính đối lập, hay bất cứ điều gì là đối lập với phụ nữ, với các bé gái đang bị một mãnh lực tàn bạo chiếm đoạt và tước đi cơ hội của mình hay không? Tôi tin rằng mãnh lực này không thể và sẽ không kéo dài, bởi vì đến một lúc nào đó nó sẽ vượt quá giới hạn của nó và kêu gọi một phản ứng nào đó thay thế lòng hận thù của nó bằng tính bao gồm. |
||||||||
|
Every Master or every high Initiate is responsible for what he’s done, and there have been great Initiates who have misstepped along certain lines. They have to come back and correct the karma they have laid in their wake. I believe Jesus was one, Morya another, and certainly Mohammed another. |
Mỗi Chân sư hoặc mỗi điểm đạo đồ cao cấp đều chịu trách nhiệm về những gì Ngài đã làm, và đã có những điểm đạo đồ vĩ đại bước sai theo một số đường hướng nhất định. Các Ngài phải trở lại và điều chỉnh nghiệp quả mà Các Ngài đã để lại phía sau. Tôi tin Đức Jesus là một vị, Chân sư Morya là một vị khác, và chắc chắn Mohammed là một vị khác. |
||||||||
|
Webinar 185, p. 199-201 |
Webinar 185, tr. 199-201 |
||||||||
|
Next Meeting 24th of September—Instead, 8 Oct 21. |
Buổi gặp kế tiếp ngày 24 tháng 9 — thay vào đó, ngày 8 tháng 10 năm 2021. |
||||||||
|
Abstract |
Tóm tắt |
||||||||
|
Dissipation of Glamour Initiative webinar 185, reading no. 122. The reading was from Glamour: A World Problem, pages 199–201. A review of last session reminds us that the work of dissipating glamour is carried forward by those who come into manifestation along the lines of energy embodied by the second, fourth and sixth rays. |
Webinar Sáng Kiến Xua Tan Ảo cảm số 185, bài đọc số 122. Bài đọc trích từ Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới, các trang 199–201. Phần ôn lại buổi trước nhắc chúng ta rằng công việc làm tiêu tan ảo cảm được tiến hành bởi những người đi vào biểu hiện theo các tuyến năng lượng được hiện thân bởi cung hai, cung bốn và cung sáu. |
||||||||
|
Michael reviewed the rays of DK’s disciples and found that the majority of them had a ray 2 Soul, a ray 6 Personality, a ray 4 Mental body, a ray 6 Astral body, and a ray 7 Physical body (although no disciple actually had that particular line up for their ray formula). Our own ray formula helps us keep focused on what aptitudes we should have, and also indicate the glamors that we may face through our particular ray makeup. |
Michael đã ôn lại các cung của những đệ tử của Chân sư DK và thấy rằng đa số họ có linh hồn cung hai, phàm ngã cung sáu, thể trí cung bốn, thể cảm dục cung sáu, và thể xác cung bảy, mặc dù thực ra không có đệ tử nào có đúng cách sắp xếp đặc biệt ấy trong công thức cung của mình. Công thức cung của chính chúng ta giúp chúng ta giữ sự tập trung vào những năng khiếu mà mình nên có, và cũng chỉ ra các ảo cảm mà chúng ta có thể đối diện qua cấu trúc cung đặc thù của mình. |
||||||||
|
DK pointed out that disciples frequently undertake tasks that they are not well suited for and whose rays may prevent them from accomplishing the task. This relates to man’s consciousness and the glamor the man has created for himself. He only becomes aware of the reality once he has destroyed those forms which he has created. |
Chân sư DK chỉ ra rằng các đệ tử thường đảm nhận những nhiệm vụ mà họ không thật sự thích hợp, và các cung của họ có thể ngăn họ hoàn thành nhiệm vụ ấy. Điều này liên quan đến tâm thức của con người và ảo cảm mà con người đã tự tạo cho mình. Y chỉ trở nên nhận biết thực tại khi y đã phá huỷ những hình tướng mà y đã tạo ra. |
||||||||
|
These forms fall into 2 categories. Those ancient forms are the result of human activity, human thinking, and human error; these are the forms the individual aspirant has to dissipate before he can take the second initiation. The second category is those forms that are being constantly created and ceaselessly produced in response to the aspirational nature of humanity for personal or spiritual achievement. |
Những hình tướng này rơi vào hai loại. Những hình tướng cổ xưa là kết quả của hoạt động con người, tư duy con người và sai lầm con người; đây là những hình tướng mà cá nhân người chí nguyện phải làm tiêu tan trước khi y có thể trải qua lần điểm đạo thứ hai. Loại thứ hai là những hình tướng đang liên tục được tạo ra và không ngừng được sản sinh để đáp ứng bản chất khát vọng của nhân loại hướng đến thành tựu cá nhân hoặc thành tựu tinh thần. |
||||||||
|
Like the first category, these are temporary and illusory and must not be permitted to hide the Real. They provide (in times of crisis) the great testing for all aspirants and disciples, evoking the subtlest kind of discrimination; but once that testing has been triumphantly passed, then the disciple can focus on the immediate need of world glamour. |
Giống như loại thứ nhất, những hình tướng này là tạm thời và ảo tưởng, và không được phép che khuất Thực Tại. Chúng đem lại, trong những thời kỳ khủng hoảng, cuộc thử thách lớn lao cho mọi người chí nguyện và đệ tử, gợi lên loại phân biện tinh tế nhất; nhưng một khi cuộc thử thách ấy đã được vượt qua một cách vẻ vang, thì đệ tử có thể tập trung vào nhu cầu trước mắt của ảo cảm thế giới. |
||||||||
|
The meditation itself was on the ancient glamor of hatred and racial pride based on the great heresy of separateness. This meeting was held on October 7, 2021. |
Chính bài tham thiền là về ảo cảm cổ xưa của lòng hận thù và niềm kiêu hãnh chủng tộc dựa trên Đại Tà thuyết về sự chia rẽ. Buổi gặp này được tổ chức vào ngày 7 tháng 10 năm 2021. |
||||||||
|
Text |
Văn bản |
||||||||
|
In time and space, this task will be first of all instituted and controlled in group formation only by aspirants whose soul or personality rays are the sixth or by those whose astral bodies are conditioned by the sixth ray. [1a] When they have grasped the nature of the work to be done and “fanatically adopted the technique of light in the service of the race,” their work will be completed by second ray disciples, working from the Ashrams of those Masters Who take disciples. [1b] The work done by these two groups will be finally revealed (and at a much later date) by those aspirants and disciples who will swing into astral activity when the fourth ray again begins to manifest. [1c] (This is happening now and at the year 2025) Therefore, the work of dissipating glamour is carried forward by those who come out into manifestation along the lines of energy which embody the second, fourth and sixth rays. [1d] I emphasise this as disciples frequently undertake tasks for which they are not particularly fitted and whose rays do not aid them in accomplishment and sometimes prevent that accomplishment. [1e] [Page 200] |
Trong thời gian và không gian, nhiệm vụ này trước hết sẽ chỉ được thiết lập và kiểm soát trong đội hình nhóm bởi những người chí nguyện có cung linh hồn hoặc cung phàm ngã là cung sáu, hoặc bởi những người có thể cảm dục chịu tác động của cung sáu. [1a] Khi họ đã nắm bắt bản chất của công việc phải làm và “tiếp nhận Kỹ Thuật Ánh sáng một cách cuồng tín trong việc phụng sự nhân loại,” công việc của họ sẽ được hoàn tất bởi các đệ tử cung hai, làm việc từ các ashram của những Chân sư nhận đệ tử. [1b] Công việc do hai nhóm này thực hiện cuối cùng sẽ được mặc khải, và vào một thời điểm muộn hơn nhiều, bởi những người chí nguyện và đệ tử sẽ chuyển vào hoạt động cảm dục khi cung bốn lại bắt đầu biểu hiện. [1c] Điều này đang xảy ra hiện nay và vào năm 2025 Vì vậy, công việc làm tiêu tan ảo cảm được tiến hành bởi những người đi ra biểu hiện theo các tuyến năng lượng hiện thân cho cung hai, cung bốn và cung sáu. [1d] Tôi nhấn mạnh điều này vì các đệ tử thường đảm nhận những nhiệm vụ mà họ không đặc biệt thích hợp, và các cung của họ không hỗ trợ họ trong việc hoàn thành, đôi khi còn ngăn cản sự hoàn thành ấy. [1e] [Trang 200] |
||||||||
|
The whole subject is related to consciousness, to the second aspect, and concerns the forms through which mankind becomes progressively aware. [1f] Glamour is caused by the recognition of that which man has himself created and, as has occultly been said, “Man only becomes aware of reality when he has destroyed that which he has himself created.” [1g] These forms fall into two major groups: |
Toàn bộ đề tài liên quan đến tâm thức, đến phương diện thứ hai, và liên quan đến các hình tướng qua đó nhân loại dần dần trở nên nhận biết. [1f] Ảo cảm do sự nhận biết điều mà con người đã tự tạo ra gây nên, và như đã được nói một cách huyền bí, “Con người chỉ trở nên nhận biết thực tại khi y đã phá huỷ điều mà y đã tự tạo ra.” [1g] Những hình tướng này rơi vào hai nhóm chính: |
||||||||
|
1. Those forms which are of very ancient origin and which are the result of human activity, human thinking and of human error. [1h] They embrace all the forms which the desire nature of man has created down the ages and are the nebulous substance of glamour—nebulous from the physical angle but dense from the angle of the astral plane. [1i] They are that which provides the incentive behind all striving and activity upon the outer plane as man attempts to satisfy desire. [1j] From these forms the individual aspirant has ever to rid himself, emerging after so doing through that gate which we call the second initiation into a wider consciousness. [1k] |
1. Những hình tướng có nguồn gốc rất cổ xưa và là kết quả của hoạt động con người, tư duy con người và sai lầm con người. [1h] Chúng bao gồm tất cả những hình tướng mà bản chất dục vọng của con người đã tạo ra qua các thời đại, và là chất liệu mờ sương của ảo cảm — mờ sương xét từ góc độ hồng trần, nhưng đậm đặc xét từ góc độ cõi cảm dục. [1i] Chúng là điều cung cấp động cơ phía sau mọi nỗ lực và hoạt động trên cõi bên ngoài khi con người cố gắng thoả mãn dục vọng. [1j] Cá nhân người chí nguyện phải luôn tự giải thoát khỏi những hình tướng này, và sau khi làm như vậy, y đi qua cánh cửa mà chúng ta gọi là lần điểm đạo thứ hai để bước vào một tâm thức rộng lớn hơn. [1k] |
||||||||
|
2. Those forms which are being constantly created and ceaselessly produced in response to the aspirational nature of humanity and which provide the enticements which lead the man along towards high personal achievement in the first instance and spiritual achievement later. [1l] They have in them the indications of the new and the possible. These likewise (strange as it may seem) constitute a glamour, for they are temporary and illusory and must not be permitted to hide the Real. [2a] That Reality will precipitate itself at the right moment once the higher light pours in. [2b] They are indicative of the Real and are often mistaken for the Real; they are in conflict with the old thoughts and desires of the past and must eventually give place to the factual presence of the [Page 201] Real. [2c] They provide (in times of crisis) the great testing for all aspirants and disciples, evoking the subtlest kind of discrimination; but once that testing has been triumphantly passed, then can the task of dissipating both these types of glamour be given to the disciple and aspirant, with the emphasis upon the immediate need or any particular and current world glamour. [2d] |
2. Những hình tướng đang liên tục được tạo ra và không ngừng được sản sinh để đáp ứng bản chất khát vọng của nhân loại, và cung cấp những sức quyến dụ dẫn con người trước hết đến thành tựu cá nhân cao, và về sau đến thành tựu tinh thần. [1l] Trong chúng có những dấu hiệu của điều mới mẻ và điều khả hữu. Những hình tướng này cũng vậy, lạ thay, cấu thành một ảo cảm, vì chúng là tạm thời và ảo tưởng, và không được phép che khuất Thực Tại. [2a] Thực Tại ấy sẽ tự ngưng tụ vào đúng thời điểm một khi ánh sáng cao hơn tuôn vào. [2b] Chúng biểu thị Thực Tại và thường bị nhầm lẫn với Thực Tại; chúng xung đột với những tư tưởng và dục vọng cũ của quá khứ, và cuối cùng phải nhường chỗ cho sự hiện diện thực chứng của [Trang 201] Thực Tại. [2c] Chúng đem lại, trong những thời kỳ khủng hoảng, cuộc thử thách lớn lao cho mọi người chí nguyện và đệ tử, gợi lên loại phân biện tinh tế nhất; nhưng một khi cuộc thử thách ấy đã được vượt qua một cách vẻ vang, thì nhiệm vụ làm tiêu tan cả hai loại ảo cảm này có thể được giao cho đệ tử và người chí nguyện, với trọng tâm đặt vào nhu cầu trước mắt hoặc bất kỳ ảo cảm thế giới đặc thù và hiện hành nào. [2d] |
||||||||
|
End of GWP Program 185, Reading 122 pages |
Kết thúc Chương trình GWP 185, Bài đọc 122, các trang |
||||||||
|
Commentary |
Bình giảng |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
The Tibetan has material—he is so very rich. It’s such an understatement when he says “I have given you more than you can ever absorb.” He might as well hit the big Japanese gong when he says that. That’s absolutely the truth. But we can attempt to absorb and to apply, and during the approximately four years that we have before the Great Conclave, actually now a little less, we are in a position to absorb a great deal, if we will. |
Chân sư Tây Tạng có tư liệu — Ngài vô cùng phong phú. Thật là nói giảm nói tránh khi Ngài nói: “Tôi đã trao cho các bạn nhiều hơn mức các bạn có thể hấp thu.” Khi nói điều đó, Ngài gần như có thể đánh một chiếc cồng Nhật lớn. Điều ấy hoàn toàn đúng. Nhưng chúng ta có thể cố gắng hấp thu và áp dụng, và trong khoảng bốn năm còn lại trước Đại Mật Nghị, thật ra hiện nay ít hơn một chút, chúng ta có khả năng hấp thu rất nhiều, nếu chúng ta muốn. |
||||||||
|
Looking back here, my colleagues tell me that this material can be seen, so I’m trusting. I just want to give the idea of where we’ve been. Dissipation is what we’re working on, and it is the open door to the future—a much clearer future wherein the Sun, symbolically speaking, shines, and we are not veiled, cloaked, mired by glamour. Only thus can humanity be helped to leave behind the errors, the glamours, and the failures of the past. |
Nhìn lại ở đây, các đồng sự của tôi nói rằng tài liệu này có thể được nhìn thấy, nên tôi tin như vậy. Tôi chỉ muốn đưa ra ý tưởng về nơi chúng ta đã đi qua. Sự làm tiêu tan là điều chúng ta đang làm việc với, và nó là cánh cửa mở vào tương lai — một tương lai sáng tỏ hơn nhiều, trong đó Mặt Trời, nói theo biểu tượng, chiếu sáng, và chúng ta không bị che phủ, bị khoác màn, bị sa lầy bởi ảo cảm. Chỉ bằng cách ấy nhân loại mới có thể được giúp để bỏ lại phía sau những sai lầm, những ảo cảm và những thất bại của quá khứ. |
||||||||
|
Certainly, if we really study what is plaguing humanity at the present time, there are many plagues. One of them is a big psycho-spiritual plague, and it has to do with the ignorance produced by glamour, and where applicable, the state of illusion. |
Chắc chắn, nếu chúng ta thật sự nghiên cứu điều đang hành hạ nhân loại hiện nay, thì có nhiều tai hoạ. Một trong số đó là một tai hoạ tâm lý-tinh thần lớn, và nó liên quan đến sự vô minh do ảo cảm tạo ra, và trong trường hợp thích hợp, là trạng thái ảo tưởng. |
||||||||
|
DK tells us it is this technique which brings freedom from glamour and which can transform human living. How important that is. He says, bring in the new civilization and the new culture. When we work with these techniques, we are transforming human living and assisting in bringing in the New Civilization and Culture of the Aquarian Civilization and Culture, which is due to begin astronomically in the year 2117, when Venus again crosses by transit, from our perspective anyway, the face of the Sun. |
Chân sư DK nói với chúng ta rằng chính kỹ thuật này đem lại tự do khỏi ảo cảm và có thể chuyển đổi đời sống con người. Điều đó quan trọng biết bao. Ngài nói, hãy đưa vào nền văn minh mới và nền văn hoá mới. Khi chúng ta làm việc với các kỹ thuật này, chúng ta đang chuyển đổi đời sống con người và hỗ trợ việc đưa vào Nền Văn Minh và Văn Hoá Mới của Nền Văn Minh và Văn Hoá Bảo Bình, vốn theo thiên văn học sẽ bắt đầu vào năm 2117, khi Sao Kim một lần nữa, theo góc nhìn của chúng ta, quá cảnh đi qua mặt Mặt Trời. |
||||||||
|
Probably people like ourselves who are intent on helping will have another incarnation during that span, which is about 100 years from now. And we want to know how to make the best of it. |
Có lẽ những người như chúng ta, những người chuyên tâm giúp đỡ, sẽ có một kiếp lâm phàm khác trong khoảng thời gian đó, tức khoảng 100 năm nữa. Và chúng ta muốn biết cách tận dụng tốt nhất điều ấy. |
||||||||
|
This dissipation can be carried forward by disciples in all parts of the planet. |
Sự làm tiêu tan này có thể được các đệ tử ở mọi phần của hành tinh tiến hành. |
||||||||
|
Hopefully that’s what we are becoming, a true disciple. Then going on, he says, |
Hy vọng đó là điều chúng ta đang trở thành, một đệ tử chân chính. Rồi tiếp tục, Ngài nói, |
||||||||
|
aided by world aspirants, |
được trợ giúp bởi những người chí nguyện thế giới, |
||||||||
|
The world aspirants now, what does he mean there? He means a stage a little more spasmodic in its service than the true disciple, but when he uses the word world, especially world disciple, we may be speaking of an initiate of the third degree. |
Những người chí nguyện thế giới hiện nay, Ngài muốn nói gì ở đó? Ngài muốn nói một giai đoạn phụng sự còn có phần thất thường hơn so với đệ tử chân chính, nhưng khi Ngài dùng từ thế giới, đặc biệt là đệ tử thế giới, chúng ta có thể đang nói đến một điểm đạo đồ bậc ba. |
||||||||
|
it will, however, be primarily the work of those whose ray focus makes astral living the line of least resistance and who have learnt or are learning to dominate it by the power of thought and mental light. |
tuy nhiên, trước hết đó sẽ là công việc của những người mà sự tập trung cung của họ khiến đời sống cảm dục trở thành con đường ít trở ngại nhất, và những người đã học hoặc đang học cách chế ngự nó bằng quyền năng tư tưởng và ánh sáng trí tuệ. |
||||||||
|
Having the sixth ray, as all of those participants in the glamour seed group had, makes them gravitate towards the emotional body and equips them to help solve the very difficulties to which they are prone. |
Việc có cung sáu, như tất cả những người tham gia trong nhóm hạt giống ảo cảm đều có, khiến họ bị hút về thể cảm xúc và trang bị cho họ để giúp giải quyết chính những khó khăn mà họ dễ mắc phải. |
||||||||
|
When we have a difficulty and we learn to overcome it, we have to help others who have had that same type of difficulty, but have not yet solved it. Their ray focus… |
Khi chúng ta có một khó khăn và học cách vượt qua nó, chúng ta phải giúp những người khác từng có cùng loại khó khăn ấy, nhưng chưa giải quyết được. Sự tập trung cung của họ… |
||||||||
|
makes astral living the line of least resistance and who have learnt or are learning to dominate it by the power of thought and mental light. |
khiến đời sống cảm dục trở thành con đường ít trở ngại nhất, và những người đã học hoặc đang học cách chế ngự nó bằng quyền năng tư tưởng và ánh sáng trí tuệ. |
||||||||
|
One thing I’m sure you will agree with: when you study Master DK, you are being introduced to a highly intellectual, light-filled disciple of Master KH and of the Christ. It is inevitable that the light within our mind, as reflecting the light of the soul, will increase if you have been with it for quite a long time. I’m sure you have recognized this to be the case. |
Có một điều tôi chắc các bạn sẽ đồng ý: khi các bạn nghiên cứu Chân sư DK, các bạn đang được giới thiệu với một đệ tử của Chân sư KH và của Đức Christ, có trí tuệ rất cao và tràn đầy ánh sáng. Điều không thể tránh khỏi là ánh sáng trong thể trí của chúng ta, phản chiếu ánh sáng của linh hồn, sẽ tăng lên nếu các bạn đã ở với nó trong một thời gian khá dài. Tôi chắc các bạn đã nhận ra điều này là như vậy. |
||||||||
|
And who are these people? |
Và những người này là ai? |
||||||||
|
These are the sixth ray people in the first instance, aided by aspirants and disciples upon the second and fourth rays. |
Trước hết, đây là những người cung sáu, được trợ giúp bởi những người chí nguyện và đệ tử thuộc cung hai và cung bốn. |
||||||||
|
The sixth ray inclines one to be wildly affected by glamour, but later, under the influence of the second and fourth ray, the sixth ray can become an asset in this fight against this cloud, this darkening, this miasma, this prison of inappropriate emotional reaction. It may be that many of you, myself, and others may gravitate towards a number of the seed groups, and maybe a different seed group is your main focus. It could be, but it certainly doesn’t hurt to learn how to attack the glamour which is the major problem for the majority of human beings, and as DK calls it, Glamour: A World Problem, and it is a serious problem. |
Cung sáu khiến người ta có khuynh hướng bị ảo cảm tác động dữ dội, nhưng về sau, dưới ảnh hưởng của cung hai và cung bốn, cung sáu có thể trở thành một tài sản trong cuộc chiến chống lại đám mây này, sự làm tối này, bầu khí độc này, nhà tù của phản ứng cảm xúc không thích đáng này. Có thể nhiều người trong các bạn, chính tôi và những người khác, có thể bị hút về một số nhóm hạt giống, và có lẽ một nhóm hạt giống khác là trọng tâm chính của các bạn. Có thể như vậy, nhưng chắc chắn không hại gì khi học cách tấn công ảo cảm, vốn là vấn đề lớn nhất đối với đa số nhân loại, và như Chân sư DK gọi nó, Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới, và đó là một vấn đề nghiêm trọng. |
||||||||
|
It is so serious that DK said, both AB and I regard glamour with “horror”, and he then uses this word, horror, because it is so obstructive of the truth that comes from the great light of the soul and beyond. |
Nó nghiêm trọng đến mức Chân sư DK nói rằng cả Bà AB và Tôi đều nhìn ảo cảm với “nỗi kinh hoàng”, và rồi Ngài dùng từ này, kinh hoàng, bởi vì nó ngăn trở chân lý đến từ ánh sáng vĩ đại của linh hồn và xa hơn nữa. |
||||||||
|
That takes us to our present reading. |
Điều đó đưa chúng ta đến bài đọc hiện tại. |
||||||||
|
In time and space, this task will be first of all instituted and controlled in group formation only by aspirants whose soul or personality rays are the sixth or by those whose astral bodies are conditioned by the sixth ray. [1a] |
Trong thời gian và không gian, nhiệm vụ này trước hết sẽ chỉ được thiết lập và kiểm soát trong đội hình nhóm bởi những người chí nguyện có cung linh hồn hoặc cung phàm ngã là cung sáu, hoặc bởi những người có thể cảm dục chịu tác động của cung sáu. [1a] |
||||||||
|
He really emphasizes the necessity of the sixth ray in this kind of work, and I once did a kind of analysis of the disciples who at one time or another worked with DK, maybe 50 of them, and I discovered, as you would think would be the case, that the majority of astral bodies were on the sixth ray. There were also a lot of personalities on the sixth ray. The interesting ray chart which emerged in my mind as an average was the second ray soul, the sixth ray personality, the fourth ray mind, the sixth ray emotional body, and the seventh ray—believe it or not—etheric physical body. |
Ngài thật sự nhấn mạnh sự cần thiết của cung sáu trong loại công việc này, và có lần tôi đã thực hiện một kiểu phân tích các đệ tử từng làm việc với Chân sư DK vào lúc này hay lúc khác, có lẽ khoảng 50 người, và tôi phát hiện, như các bạn hẳn nghĩ là như vậy, rằng đa số thể cảm dục thuộc cung sáu. Cũng có rất nhiều phàm ngã thuộc cung sáu. Biểu đồ cung thú vị hiện lên trong trí tôi như một mức trung bình là linh hồn cung hai, phàm ngã cung sáu, thể trí cung bốn, thể cảm xúc cung sáu, và thể xác dĩ thái cung bảy — tin hay không tuỳ các bạn. |
||||||||
|
Even though when tallying the ray charts of those students, there was not one who had exactly that combination. That would have been the average combination of the average disciple in DK’s group, but there was not one who had it that way. |
Ngay cả khi cộng lại các biểu đồ cung của những đạo sinh ấy, không có một ai có đúng sự kết hợp đó. Đó sẽ là sự kết hợp trung bình của đệ tử trung bình trong nhóm của Chân sư DK, nhưng không có ai có nó theo đúng cách ấy. |
||||||||
|
Don’t forget your ray charts. Remember your ray charts, because everything you do in life, in your incarnation, will be conditioned by that ray chart. You can stand back and observe yourself—for good or for ill—working according to the expression of the rays in your ray chart. |
Đừng quên các biểu đồ cung của các bạn. Hãy nhớ các biểu đồ cung của mình, bởi vì mọi điều các bạn làm trong đời sống, trong kiếp lâm phàm của mình, đều sẽ chịu sự tác động của biểu đồ cung ấy. Các bạn có thể lùi lại và quan sát chính mình—dù tốt hay xấu—đang hoạt động theo sự biểu lộ của các cung trong biểu đồ cung của mình. |
||||||||
|
Sometimes you will be swept—that’s the word he uses—swept by a ray which was prominent in a previous life, most likely the life immediately previous. It’s not going anywhere unless it’s being repeated, but you can be swept by that energy. As you’re studying your glamours and trying to be rid of them, keep your focus on the rays that may be producing those glamours. |
Đôi khi các bạn sẽ bị cuốn đi—đó là từ Ngài dùng—bị cuốn đi bởi một cung đã nổi bật trong một kiếp trước, rất có thể là kiếp ngay trước đó. Nó sẽ không đi đâu cả, trừ phi nó đang được lặp lại, nhưng các bạn có thể bị năng lượng ấy cuốn đi. Khi các bạn nghiên cứu các ảo cảm của mình và cố gắng thoát khỏi chúng, hãy giữ sự tập trung vào các cung có thể đang tạo ra những ảo cảm ấy. |
||||||||
|
It’s a task, and it’s inaugurated, initiated, instituted, and controlled by those with a prominent sixth ray. DK goes on and says, |
Đó là một nhiệm vụ, và nó được khai mở, khởi xướng, thiết lập và kiểm soát bởi những người có cung sáu nổi bật. Chân sư DK tiếp tục nói, |
||||||||
|
When they have grasped the nature of the work to be done and “fanatically adopted the technique of light in the service of the race,” |
Khi họ đã nắm bắt bản chất của công việc cần làm và “một cách cuồng nhiệt chấp nhận Kỹ Thuật Ánh sáng trong sự phụng sự nhân loại,” |
||||||||
|
Now, may I say, you will notice here that the word fanatically is descriptive. It’s not an indication of DK criticizing these people. It’s simply an indication that they will do this in their methods of using this. It’s the technique that we use when we do the glamour meditation, but they do it with very strong intensity. |
các bạn sẽ nhận thấy ở đây rằng từ cuồng nhiệt mang tính mô tả. Nó không cho thấy Chân sư DK đang phê phán những người này. Nó chỉ đơn giản cho thấy rằng họ sẽ làm điều này trong các phương pháp sử dụng kỹ thuật ấy. Đó là kỹ thuật chúng ta dùng khi thực hiện bài tham thiền về ảo cảm, nhưng họ thực hiện với cường độ rất mạnh. |
||||||||
|
So, when they’ve done this, |
Khi họ đã làm điều này, |
||||||||
|
their work will be completed by second ray disciples, working from the Ashrams of those Masters Who take disciples. [1b] |
công việc của họ sẽ được hoàn tất bởi các đệ tử cung hai, hoạt động từ các Ashram của những Chân sư nhận đệ tử. [1b] |
||||||||
|
That’s very interesting. The great synthetic ray is the second ray. In a way, we would say it is responsible for rounding things out, which have been initiated by disciples in other rays. If you study the book Letters on Occult Meditation, you will see how the Indigo ray absorbs all the others and brings them into a state of harmonious blended relationship. |
Điều đó rất thú vị. Cung tổng hợp vĩ đại là cung hai. Theo một cách nào đó, chúng ta có thể nói cung này chịu trách nhiệm làm cho trọn vẹn những gì đã được khởi xướng bởi các đệ tử thuộc những cung khác. Nếu các bạn nghiên cứu quyển Thư về Tham Thiền Huyền Bí, các bạn sẽ thấy cung Chàm hấp thu tất cả những cung khác và đưa chúng vào một trạng thái quan hệ hòa hợp, pha trộn. |
||||||||
|
In our soul, many of us are on the second ray, but we may have come off the sixth ray, not so far back in our incarnational history. And certainly we have a lot of experience with it, as we consider the Age of Pisces through which we have been passing. Our experience with the sixth ray is quite strong, even though ultimately, many of those in DK’s work will naturally have the second ray as their soul ray. |
Trong linh hồn, nhiều người trong chúng ta thuộc cung hai, nhưng có thể chúng ta vừa rời khỏi cung sáu không lâu lắm trong lịch sử lâm phàm của mình. Và chắc chắn chúng ta có nhiều kinh nghiệm với cung ấy, khi xét đến Thời đại Song Ngư mà chúng ta đã đi qua. Kinh nghiệm của chúng ta với cung sáu khá mạnh, cho dù sau cùng, nhiều người trong công việc của Chân sư DK sẽ tự nhiên có cung hai làm cung linh hồn. |
||||||||
|
The work done by these two groups will be finally revealed (and at a much later date) by those aspirants and disciples who will swing into astral activity when the fourth ray again begins to manifest. [1c] |
Công việc do hai nhóm này thực hiện cuối cùng sẽ được mặc khải, và vào một thời điểm muộn hơn nhiều, bởi những người chí nguyện và đệ tử sẽ bước vào hoạt động cảm dục khi cung bốn lại bắt đầu biểu hiện. [1c] |
||||||||
|
Maybe we’ll use the fourth ray color here. There are a number of them, but that is the color yellow, it’s Mercurian color. Just check out Esoteric Psychology, Volume One around page 424–421, and you’ll see the different kinds of colors associated exoterically or esoterically with the seven rays. |
Có lẽ chúng ta sẽ dùng màu của cung bốn ở đây. Có một số màu, nhưng đó là màu vàng, màu thuộc Sao Thủy. Hãy xem Tâm Lý Học Nội Môn, Quyển Một, khoảng các trang 424–421, và các bạn sẽ thấy những loại màu khác nhau được liên kết một cách ngoại môn hoặc nội môn với bảy cung. |
||||||||
|
What he’s talking about is happening right now, and at the year 2025. There was actually an influence of the fourth ray, believe it or not, in the year 1924, just before the Great Conclave of the 20th century in 1925, and the Ashrams were getting ready to be transported, many of them, onto the Buddhic plane. It makes sense that there would be an infusion of ray four energy just before that happened. |
Điều Ngài đang nói đến đang xảy ra ngay lúc này, và vào năm 2025. Thật ra đã có một ảnh hưởng của cung bốn, tin hay không tùy các bạn, vào năm 1924, ngay trước Đại Mật Nghị của thế kỷ hai mươi vào năm 1925, và các Ashram đang chuẩn bị được chuyển, nhiều Ashram trong số đó, lên cõi Bồ đề. Điều hợp lý là sẽ có một sự truyền vào năng lượng cung bốn ngay trước khi điều ấy xảy ra. |
||||||||
|
The New Group of World Servers is particularly associated with the fourth ray, and the United Nations with its Scorpio sun sign is particularly associated with the fourth ray. There have been other times too when DK said the fourth ray is coming into power very soon. The fourth ray could somehow harmonize the past with the future in the present. We would like the harmony—it’s the higher part of the fourth ray—and that era of peace that is promised when Satan, symbolically the personality, will be bound for 1000 years, is coming. |
Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đặc biệt liên hệ với cung bốn, và Liên Hợp Quốc, với dấu hiệu Mặt Trời Hổ Cáp của mình, đặc biệt liên hệ với cung bốn. Cũng đã có những thời điểm khác khi Chân sư DK nói rằng cung bốn sắp đi vào quyền lực rất sớm. Cung bốn có thể bằng cách nào đó làm hài hòa quá khứ với tương lai trong hiện tại. Chúng ta mong muốn sự hài hòa—đó là phần cao hơn của cung bốn—và kỷ nguyên hòa bình đã được hứa hẹn, khi Satan, biểu tượng của phàm ngã, sẽ bị trói buộc trong một ngàn năm, đang đến. |
||||||||
|
The Christ Himself has had particular relation with a group in which the fourth ray is very prominent. When he’s finished with his task and with the Buddha moves on to heights undreamed by us, then Pythagoras, master KH, will take over, and chances are there will be a stronger emphasis upon the fifth ray. Right now the Christ is concluding his relationship with those in whom the fourth ray has been prominent. |
Chính Đức Christ đã có mối liên hệ đặc biệt với một nhóm trong đó cung bốn rất nổi bật. Khi Ngài hoàn tất nhiệm vụ của mình và cùng với Đức Phật tiến lên những tầm cao mà chúng ta chưa từng mơ tưởng, thì Pythagoras, Chân sư KH, sẽ tiếp nhận, và rất có thể sẽ có một sự nhấn mạnh mạnh hơn vào cung năm. Hiện nay Đức Christ đang kết thúc mối liên hệ của Ngài với những người nơi họ cung bốn đã từng nổi bật. |
||||||||
|
It’s more the end of a long period of instruction—it is the climax of that period of instruction. But all of us have to learn how to use that fourth ray in a positive manner, and that’s not the warlike manner. It’s the harmonious manner, even though harmony is usually preceded by a kind of stirring or awakening conflict. The conflict can wake you up and then you have to solve the issue in harmony. |
Đó đúng hơn là sự kết thúc của một thời kỳ huấn luyện dài—đó là đỉnh điểm của thời kỳ huấn luyện ấy. Nhưng tất cả chúng ta phải học cách sử dụng cung bốn ấy theo cách tích cực, và đó không phải là cách hiếu chiến. Đó là cách hài hòa, dù sự hài hòa thường được đi trước bởi một loại xung đột khuấy động hoặc thức tỉnh. Xung đột có thể đánh thức các bạn, rồi các bạn phải giải quyết vấn đề trong sự hài hòa. |
||||||||
|
The beginning of the fourth ray work is here, we can feel it coming, and the year 2025 becomes very important. There are groups preparing for that. We are preparing for that, the 2025 initiative group is preparing for that with Alexandria, Ilchukin, Katya, Kate, Kaufman and their co-workers. We have our eyes on the year 2025, but we can’t just relax about it. We have to work at it and prepare properly. |
Khởi đầu của công việc cung bốn đang ở đây, chúng ta có thể cảm thấy nó đang đến, và năm 2025 trở nên rất quan trọng. Có những nhóm đang chuẩn bị cho điều đó. Chúng ta đang chuẩn bị cho điều đó; nhóm sáng kiến 2025 đang chuẩn bị cho điều đó cùng với Alexandria, Ilchukin, Katya, Kate, Kaufman và các cộng sự của họ. Chúng ta đang hướng mắt về năm 2025, nhưng chúng ta không thể chỉ thư giãn về điều đó. Chúng ta phải làm việc và chuẩn bị cho đúng. |
||||||||
|
Therefore, the work of dissipating glamour is carried forward by those who come out into manifestation along the lines of energy which embody the second, fourth and sixth rays. [1d] |
Do đó, công việc làm tiêu tan ảo cảm được tiếp tục bởi những người xuất hiện trong biểu hiện theo các đường năng lượng thể hiện cung hai, cung bốn và cung sáu. [1d] |
||||||||
|
They were particularly the group that benefited from the moving of the ashrams onto the Buddhic plane. How two, four and six are numbers which correlate with these soft line rays—they are the only soft line rays actually: two, four and six—and they have a new place. What that really means, if you think of it, friends, is that when you think of yourself working in connection with the Ashram, the Buddhic plane becomes very important to you. Through the building of the antahkarana, you are positioning yourself for the newer type of work which will dispel illusion and banish glamour. |
Họ đặc biệt là nhóm đã hưởng lợi từ việc các Ashram được chuyển lên cõi Bồ đề. Hai, bốn và sáu là những con số tương ứng với các cung tuyến mềm này—thật ra chúng là những cung tuyến mềm duy nhất: hai, bốn và sáu—và chúng có một vị trí mới. Điều đó thật sự có nghĩa là, nếu các bạn suy nghĩ về nó, các bạn thân mến, khi các bạn nghĩ về chính mình đang làm việc liên hệ với Ashram, cõi Bồ đề trở nên rất quan trọng đối với các bạn. Thông qua việc xây dựng antahkarana, các bạn đang đặt mình vào vị trí cho loại công việc mới hơn, công việc sẽ xua tan ảo tưởng và xua đuổi ảo cảm. |
||||||||
|
The Tibetan goes on. [You’ll notice that I pause every once in a while for a little bit of a simulation of what we have read, because you could read something over and just go on and on and on, but it’s important to take it in and let it really impress you, if that is possible, and surely, for us and what we are striving for, it is possible]. DK says, |
Chân sư Tây Tạng tiếp tục. Các bạn sẽ nhận thấy thỉnh thoảng tôi dừng lại một chút để mô phỏng việc chúng ta đã đọc, bởi vì các bạn có thể đọc lướt qua một điều gì đó rồi cứ tiếp tục mãi, nhưng điều quan trọng là tiếp nhận nó và để nó thật sự gây ấn tượng nơi các bạn, nếu điều đó có thể, và chắc chắn, đối với chúng ta và điều chúng ta đang phấn đấu, điều đó là có thể. Chân sư DK nói, |
||||||||
|
I emphasise this as disciples frequently undertake tasks for which they are not particularly fitted and whose rays do not aid them in accomplishment and sometimes prevent that accomplishment. [1e] |
Tôi nhấn mạnh điều này vì các đệ tử thường đảm nhận những nhiệm vụ mà họ không đặc biệt thích hợp, và các cung của họ không hỗ trợ họ trong việc hoàn thành, đôi khi còn ngăn cản sự hoàn thành ấy. [1e] |
||||||||
|
There was an example of a man whose initials were L.T.S.K. I’m forgetting right now what they stood for, but it was all very appropriate. He was beset by glamour that arose because he was attempting a task for which he was ill-fitted. He was interested, but not really fitted to work there in a productive way. |
Có một ví dụ về một người có các chữ viết tắt là L.T.S.K. Hiện giờ tôi quên mất chúng tượng trưng cho điều gì, nhưng tất cả đều rất thích hợp. Ông bị vây hãm bởi ảo cảm nảy sinh vì ông đang cố gắng đảm nhận một nhiệm vụ mà ông không phù hợp. Ông quan tâm, nhưng thật sự không thích hợp để làm việc ở đó một cách hữu hiệu. |
||||||||
|
What was that task? He fancied himself something of a scientist, or a conveyor of the kind of scientific knowledge which was emerging during that part of the 20th century. Djwhal Khul said, “Look, you do have a Fifth Ray mind but you are not equipped to really enter this field and make any kind of contribution.” |
Nhiệm vụ đó là gì? Ông tự cho mình phần nào là một nhà khoa học, hoặc là người truyền đạt loại tri thức khoa học đang xuất hiện trong giai đoạn ấy của thế kỷ hai mươi. Chân sư Djwhal Khul nói: “Hãy nhìn xem, ông có một thể trí cung Năm, nhưng ông không được trang bị để thật sự bước vào lĩnh vực này và tạo ra bất kỳ đóng góp nào.” |
||||||||
|
His real contribution was made along the line of finance, financing the Tibetan books and making sure they were distributed. But his false passion was all of the really interesting scientific things that were emerging. While he was certainly allowed to discover more and more about that Fifth Ray approach in terms of his service and his self conception, he was barking up the wrong tree. Again, Djwhal Khul says, |
Đóng góp thật sự của ông được thực hiện theo tuyến tài chính, tài trợ cho các sách của Chân sư Tây Tạng và bảo đảm chúng được phân phối. Nhưng đam mê sai lầm của ông là tất cả những điều khoa học thật sự thú vị đang xuất hiện. Dù chắc chắn ông được phép khám phá ngày càng nhiều hơn về lối tiếp cận cung Năm ấy trong phạm vi sự phụng sự và quan niệm về chính mình, ông đã đi sai hướng. Một lần nữa, Chân sư Djwhal Khul nói, |
||||||||
|
I emphasise this as disciples frequently |
Tôi nhấn mạnh điều này vì các đệ tử thường |
||||||||
|
undertake tasks for which they are not particularly fitted |
đảm nhận những nhiệm vụ mà họ không đặc biệt thích hợp |
||||||||
|
There might be something that gives them a little bit of an entree into the field, but not particularly in a way that would really help those who are the true servers in that field. Usually, such an impulse comes from the personality or from within the personality; it’s not particularly a soul impulse. They don’t succeed, and that’s a lesson to all of us. In fact, we may be prevented—true accomplishment may be prevented. |
Có thể có điều gì đó cho họ một chút lối vào lĩnh vực ấy, nhưng không đặc biệt theo cách thật sự giúp ích cho những người là các phụng sự viên chân chính trong lĩnh vực đó. Thường thì một xung động như vậy đến từ phàm ngã hoặc từ bên trong phàm ngã; nó không đặc biệt là một xung động của linh hồn. Họ không thành công, và đó là một bài học cho tất cả chúng ta. Thật ra, chúng ta có thể bị ngăn cản—sự hoàn thành chân chính có thể bị ngăn cản. |
||||||||
|
Now he goes on and says: |
Ngài tiếp tục nói: |
||||||||
|
The whole subject is related to consciousness, to the second aspect, and concerns the forms through which mankind becomes progressively aware. [1f] |
Toàn bộ chủ đề này liên hệ đến tâm thức, đến phương diện thứ hai, và liên quan đến các hình tướng qua đó nhân loại dần dần trở nên nhận biết. [1f] |
||||||||
|
There are some people who look at consciousness as the epiphenomena of the brain. In other words, they believe that true consciousness emerges from what is really the material expression of consciousness—that it emerges from the material brain. This is a really big mistake, caused, I suppose, by the glamour of personality and the glamour of egotism. |
Có một số người xem tâm thức như hiện tượng phụ của bộ não. Nói cách khác, họ tin rằng tâm thức chân thật xuất hiện từ cái thật ra là biểu hiện vật chất của tâm thức—rằng nó xuất hiện từ bộ não vật chất. Đây là một sai lầm thật sự lớn, có lẽ do ảo cảm của phàm ngã và ảo cảm của chủ nghĩa vị ngã gây ra. |
||||||||
|
Glamour is caused by the recognition of that which man has himself created and, as has occultly been said, “Man only becomes aware of reality when he has destroyed that which he has himself created.” [1g] |
Ảo cảm được gây ra bởi sự nhận biết điều mà chính con người đã tạo ra, và như đã được nói một cách huyền bí: “Con người chỉ trở nên nhận biết thực tại khi y đã phá hủy điều mà chính y đã tạo ra.” [1g] |
||||||||
|
What’s being said here is that in the beginning, many of our creations, many of our becomings, you might say, are simply obstructive to the truth. Yes, we thought it up, we felt it, we took it for real, but it’s not really real, even though we created it or became it in a deeper sense. |
Điều đang được nói ở đây là lúc ban đầu, nhiều sáng tạo của chúng ta, nhiều sự trở thành của chúng ta, có thể nói như vậy, chỉ đơn giản là những chướng ngại đối với chân lý. Vâng, chúng ta đã nghĩ ra nó, chúng ta đã cảm nhận nó, chúng ta đã xem nó là thật, nhưng nó không thật sự là thật, dù chúng ta đã tạo ra nó hoặc đã trở thành nó theo một nghĩa sâu xa hơn. |
||||||||
|
This whole relationship between consciousness and materiality is such an important relationship when it comes to understanding the nature of glamour. |
Toàn bộ mối quan hệ giữa tâm thức và tính vật chất là một mối quan hệ vô cùng quan trọng khi cần thấu hiểu bản chất của ảo cảm. |
||||||||
|
Man only becomes aware of reality |
Con người chỉ trở nên nhận biết thực tại |
||||||||
|
May I say, isn’t that what we want? |
Chẳng phải đó là điều chúng ta muốn hay sao? |
||||||||
|
Man only becomes aware of reality when he has destroyed that which he has himself created |
Con người chỉ trở nên nhận biết thực tại khi y đã phá hủy điều mà chính y đã tạo ra |
||||||||
|
It doesn’t speak too highly, does it, of our first attempts at creation. |
Điều này không nói tốt lắm về những nỗ lực sáng tạo đầu tiên của chúng ta, phải không? |
||||||||
|
These forms fall into two major groups: |
Các hình tướng này rơi vào hai nhóm chính: |
||||||||
|
Maybe we have time to take a look at those. That’s a long paragraph, but maybe we can look at that before we get into our meditation. |
Có lẽ chúng ta có thời gian để xem xét những nhóm ấy. Đó là một đoạn dài, nhưng có lẽ chúng ta có thể xem xét nó trước khi bước vào phần tham thiền. |
||||||||
|
Now, what has man created himself which is basically a contributing to his confinement in glamour. Point one: |
Vậy, con người đã tự tạo ra điều gì mà về cơ bản góp phần vào sự giam hãm của y trong ảo cảm? Điểm một: |
||||||||
|
1. Those forms which are of very ancient origin and which are the result of human activity, human thinking and of human error. [1h] |
1. Những hình tướng có nguồn gốc rất cổ xưa và là kết quả của hoạt động con người, tư duy con người và sai lầm con người. [1h] |
||||||||
|
When he speaks of the word human, he is confining himself to personality creativity. |
Khi Ngài nói đến từ con người, Ngài đang giới hạn mình vào tính sáng tạo của phàm ngã. |
||||||||
|
They embrace all the forms which the desire nature of man has created down the ages and are the nebulous substance of glamour |
Chúng bao gồm tất cả những hình tướng mà bản chất dục vọng của con người đã tạo ra qua các thời đại, và là chất liệu mơ hồ của ảo cảm |
||||||||
|
Bear this in mind: glamour is subtle, but not truly subjective. There is a difference between what is subtle and what is truly subjective and of the soul. |
Hãy ghi nhớ điều này: ảo cảm thì tinh tế, nhưng không thật sự chủ quan. Có một sự khác biệt giữa cái tinh tế và cái thật sự chủ quan, thuộc về linh hồn. |
||||||||
|
—nebulous from the physical angle but dense from the angle of the astral plane. [1i] |
—mơ hồ từ góc độ hồng trần nhưng đậm đặc từ góc độ cõi cảm dục. [1i] |
||||||||
|
They are subtle, obstructive, and much more dense than the astral plane would be if it was affected properly by the buddhic plane and by the sun, symbolically speaking, but perhaps even more than symbolically speaking. |
Chúng tinh tế, gây cản trở, và đậm đặc hơn nhiều so với cõi cảm dục nếu cõi ấy được tác động đúng đắn bởi cõi Bồ đề và bởi mặt trời, nói theo biểu tượng, nhưng có lẽ còn hơn cả nói theo biểu tượng. |
||||||||
|
They are that which provides the incentive behind all striving and activity upon the outer plane as man attempts to satisfy desire. [1j] |
Chúng là cái cung cấp động cơ phía sau mọi nỗ lực và hoạt động trên cõi bên ngoài khi con người cố gắng thỏa mãn dục vọng. [1j] |
||||||||
|
I’ll put one of those desire colors and they’re so common. Everybody is desiring for things, for occurrences, for circumstances, for conditions upon the outer plane. Maybe you want a nicer car or a better house, or God knows what. It’s all outer and you want it, and that wanting, that aspiration for that which passes away blocks you from the true apprehension of truth. |
Tôi sẽ dùng một trong những màu của dục vọng ấy, và chúng rất phổ biến. Mọi người đều đang ham muốn các sự vật, các biến cố, các hoàn cảnh, các điều kiện trên cõi bên ngoài. Có lẽ các bạn muốn một chiếc xe đẹp hơn hoặc một ngôi nhà tốt hơn, hay Thượng đế biết là điều gì. Tất cả đều ở bên ngoài và các bạn muốn nó, và sự muốn ấy, khát vọng đối với cái sẽ qua đi ấy, ngăn các bạn khỏi sự lĩnh hội chân thật về chân lý. |
||||||||
|
Now, we have to ask how much we really love the truth, and hopefully that is an increasing measure. |
Chúng ta phải tự hỏi mình thật sự yêu chân lý đến mức nào, và hy vọng rằng mức độ ấy đang gia tăng. |
||||||||
|
From these forms the individual aspirant has ever to rid himself, emerging after so doing through that gate which we call the second initiation into a wider consciousness. [1k] |
Khỏi các hình tướng này, người chí nguyện cá nhân luôn phải tự giải thoát, và sau khi làm như vậy, y đi qua cánh cửa mà chúng ta gọi là lần điểm đạo thứ hai để bước vào một tâm thức rộng lớn hơn. [1k] |
||||||||
|
This is somehow really important because all true members of the New Group of World Servers have achieved the second initiation. If we speak of the New Group of World Servers in a casual way, we can avoid the requirements of the second initiation. But DK tells those members, true members, to be on the lookout for those who are passing through the birth of the Christ in the heart, and not only that, to be on the lookout for those who are passing through the baptism maybe by fire, the second initiation. |
Điều này bằng cách nào đó thật sự quan trọng, bởi vì tất cả các thành viên chân chính của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đều đã đạt đến lần điểm đạo thứ hai. Nếu chúng ta nói về Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian một cách tùy tiện, chúng ta có thể tránh các yêu cầu của lần điểm đạo thứ hai. Nhưng Chân sư DK bảo các thành viên ấy, các thành viên chân chính, hãy chú ý đến những người đang đi qua sự giáng sinh của Đức Christ trong tim, và không chỉ thế, hãy chú ý đến những người đang đi qua phép rửa có lẽ bằng lửa, tức lần điểm đạo thứ hai. |
||||||||
|
Of what type of desires are we ridding ourselves? If you watch television, probably in any country—I’m not much of a TV watcher, but sometimes I see things—people want a lot of things, and the commercial interests found on TV want to sell them. There’s a lot about food on the TV, a lot. And always, many more. Chefs are appearing with their methods and their final projects. There’s exercise equipment, so your body can look better. There’s just all kinds of things unnecessary to the true occultist. |
Chúng ta đang tự giải thoát khỏi những loại dục vọng nào? Nếu các bạn xem truyền hình, có lẽ ở bất kỳ quốc gia nào—tôi không phải là người xem truyền hình nhiều, nhưng đôi khi tôi thấy vài điều—người ta muốn rất nhiều thứ, và các lợi ích thương mại trên truyền hình muốn bán những thứ ấy cho họ. Có rất nhiều chương trình về thức ăn trên truyền hình, rất nhiều. Và luôn luôn còn nhiều hơn nữa. Các đầu bếp xuất hiện với các phương pháp và sản phẩm cuối cùng của họ. Có thiết bị tập luyện để thể xác của các bạn trông đẹp hơn. Có đủ mọi loại sự vật không cần thiết đối với nhà huyền bí học chân chính. |
||||||||
|
How long will this go on? I suspect it will be reduced during the Aquarian Age, but it will go on for a while. What are they selling now? Of what type is that which the commercials insist you must have? So many things, but of course, we’re not all as happy as a king. That’s generally speaking—kings are not so happy as that old story about the sword of Damocles tells us. |
Điều này sẽ kéo dài bao lâu? Tôi nghi rằng nó sẽ giảm bớt trong Thời đại Bảo Bình, nhưng nó sẽ còn tiếp diễn một thời gian. Hiện nay họ đang bán gì? Các quảng cáo khăng khăng rằng các bạn phải có loại gì? Rất nhiều thứ, nhưng dĩ nhiên không phải tất cả chúng ta đều hạnh phúc như một vị vua. Nói chung là như vậy—các vị vua không hạnh phúc đến thế, như câu chuyện xưa về thanh gươm của Damocles cho chúng ta biết. |
||||||||
|
This is what man has created, number one, and I’m just going to emphasize that, and there’s even more in the second paragraph. |
Đây là điều con người đã tạo ra, điểm thứ nhất, và tôi chỉ muốn nhấn mạnh điều đó, và còn có nhiều hơn nữa trong đoạn thứ hai. |
||||||||
|
2. Those forms which are being constantly created and ceaselessly produced in response to the aspirational nature of humanity and which provide the enticements which lead the man along towards high personal achievement in the first instance and spiritual achievement later. [1l] |
2. Những hình tướng đang liên tục được tạo ra và không ngừng được sản sinh để đáp ứng bản chất khát vọng của nhân loại, và cung cấp những sự quyến dụ dẫn con người tiến tới thành tựu cá nhân cao trong giai đoạn đầu, và thành tựu tinh thần về sau. [1l] |
||||||||
|
It’s an improvement, isn’t it, over the normal run-of-the-mill desire. The aspirational nature is at work. |
Đó là một sự cải thiện so với dục vọng bình thường, tầm thường, phải không? Bản chất khát vọng đang hoạt động. |
||||||||
|
They have in them the indications of the new and the possible. These likewise |
Chúng chứa trong mình những dấu hiệu của cái mới và cái có thể. Tương tự, những điều này |
||||||||
|
Here is the strangeness of what he’s trying to point out because it sounds pretty good so far, doesn’t it? |
Đây là sự kỳ lạ trong điều Ngài đang cố chỉ ra, bởi vì cho đến đây nghe có vẻ khá tốt, phải không? |
||||||||
|
These likewise (strange as it may seem) constitute a glamour, for they are temporary and illusory and must not be permitted to hide the Real. [2a] |
Tương tự, những điều này, dù có vẻ lạ, cũng cấu thành một ảo cảm, vì chúng chỉ tạm thời và ảo tưởng, và không được phép che khuất Cái Thật. [2a] |
||||||||
|
It hides the real. A lot of people are perfectly happy to live shielded from the real; they even feel relieved and no longer so challenged when they can hide from the real. If we’re doing that, do we know we are doing it? Probably not, we don’t really know. |
Nó che khuất cái thật. Rất nhiều người hoàn toàn hài lòng khi sống được che chắn khỏi cái thật; họ thậm chí cảm thấy nhẹ nhõm và không còn bị thách thức nhiều nữa khi có thể trốn khỏi cái thật. Nếu chúng ta đang làm điều đó, liệu chúng ta có biết mình đang làm không? Có lẽ là không, chúng ta thật sự không biết. |
||||||||
|
These high aspirations must not be permitted to hide the real. Think about that. In this attempt to determine what is real, much expenditure of illumined thought is necessary. I spent a week with a friend from Berlin who helped me in many ways of a technical nature, but his idea and mine about what was real were totally divergent. It was his ray configuration on the third and fifth ray that gave him his impression of the real. It was my ray configuration very much on the second and fourth ray which gave me a similar evaluation, but very different from his. So we’re oftentimes found in mesh, in that which hides the real. |
Những khát vọng cao này không được phép che khuất cái thật. Hãy suy nghĩ về điều đó. Trong nỗ lực xác định điều gì là thật này, cần có nhiều sự tiêu hao tư tưởng được soi sáng. Tôi đã dành một tuần với một người bạn từ Berlin, người đã giúp tôi về nhiều mặt kỹ thuật, nhưng ý tưởng của ông và của tôi về điều gì là thật thì hoàn toàn khác nhau. Cấu hình cung của ông trên cung ba và cung năm đã đem lại cho ông ấn tượng của ông về cái thật. Cấu hình cung của tôi, rất nhiều trên cung hai và cung bốn, cũng đem lại cho tôi một sự đánh giá tương tự, nhưng rất khác với ông. Vì vậy, chúng ta thường bị mắc trong lưới, trong điều che khuất cái thật. |
||||||||
|
That Reality will precipitate itself at the right moment once the higher light pours in. [2b] |
Thực Tại ấy sẽ tự ngưng tụ vào đúng thời điểm khi ánh sáng cao hơn tuôn vào. [2b] |
||||||||
|
When that happens, that precipitation is a great expression of the Divine Plan. That reality will descend on earth, and we have a big responsibility to make sure it really does. |
Khi điều đó xảy ra, sự ngưng tụ ấy là một biểu hiện vĩ đại của Thiên Cơ. Thực tại ấy sẽ giáng xuống Trái Đất, và chúng ta có một trách nhiệm lớn lao để bảo đảm rằng điều đó thật sự xảy ra. |
||||||||
|
They are indicative of the Real |
Chúng là dấu hiệu chỉ về Cái Thật |
||||||||
|
These high aspirations, these high visions of attainment—notice the word enticement. It’s not entirely a word free from sin, as it were. It’s the finger of enticement, as it’s often called, and you are lured into what you think is quite wonderful, only to discover that it has blocked your way to a true apprehension of the real. |
Những khát vọng cao này, những linh ảnh cao về thành tựu này—hãy chú ý từ quyến dụ. Có thể nói, đó không hoàn toàn là một từ không có tội. Đó là ngón tay quyến dụ, như người ta thường gọi, và các bạn bị lôi cuốn vào điều mà mình nghĩ là khá tuyệt vời, chỉ để khám phá rằng nó đã chặn đường các bạn đến một sự lĩnh hội chân thật về cái thật. |
||||||||
|
That reality will precipitate itself at the right moment once the higher light pours in |
Thực tại ấy sẽ tự ngưng tụ vào đúng thời điểm khi ánh sáng cao hơn tuôn vào |
||||||||
|
They are indicative of the Real |
Chúng là dấu hiệu chỉ về Cái Thật |
||||||||
|
They point to it sometimes, but they’re not the real thing. |
Đôi khi chúng chỉ về nó, nhưng chúng không phải chính điều thật. |
||||||||
|
They are indicative of the Real and are often mistaken for the Real; they are in conflict with the old thoughts and desires of the past and must eventually give place to the factual presence of the [Page 201] Real. [2c] |
Chúng là dấu hiệu chỉ về Cái Thật và thường bị lầm tưởng là Cái Thật; chúng xung đột với những tư tưởng và dục vọng cũ của quá khứ và cuối cùng phải nhường chỗ cho sự hiện diện thực tế của [Trang 201] Cái Thật. [2c] |
||||||||
|
In other words, we can talk a lot about these things, but is that energy of the real factually present? That is the big question. I would say, in the case of so many of us, we have the theory and not the factual presence of that for which the theory stands. |
Nói cách khác, chúng ta có thể nói rất nhiều về những điều này, nhưng liệu năng lượng của sự thật ấy có hiện diện một cách thực tế không? Đó là câu hỏi lớn. Tôi muốn nói rằng, trong trường hợp của rất nhiều người trong chúng ta, chúng ta có lý thuyết chứ không có sự hiện diện thực tế của điều mà lý thuyết ấy đại diện. |
||||||||
|
I remember in the Arcane School, may I have mentioned it before, we reached the point of study where it was saying to us: you’ve got a lot of theory, now turn it into facts. That’s a different game. |
Tôi nhớ ở Trường Arcane, có lẽ tôi đã nhắc đến điều này trước đây, chúng ta đã đạt đến điểm học tập nơi điều ấy nói với chúng ta rằng: các bạn có rất nhiều lý thuyết, bây giờ hãy biến nó thành sự kiện. Đó là một cuộc chơi khác. |
||||||||
|
They |
Chúng |
||||||||
|
These upreachings, you might say. |
Những vươn lên ấy, có thể nói như vậy. |
||||||||
|
They provide (in times of crisis) the great testing for all aspirants and disciples, evoking the subtlest kind of discrimination; |
Chúng cung cấp, trong các thời kỳ khủng hoảng, cuộc khảo nghiệm lớn lao cho mọi người chí nguyện và đệ tử, gợi lên loại phân biện tinh tế nhất; |
||||||||
|
To discriminate between the subtle and the subjective is already a big leap. To discriminate between high aspirations for achievement and the true presence of the energies of those achievements is also a great step. |
Phân biện giữa cái tinh tế và cái chủ quan đã là một bước nhảy lớn. Phân biện giữa những khát vọng cao hướng đến thành tựu và sự hiện diện chân thật của các năng lượng thuộc những thành tựu ấy cũng là một bước lớn. |
||||||||
|
but once that testing has been triumphantly passed, |
nhưng một khi cuộc khảo nghiệm ấy đã được vượt qua một cách thắng lợi, |
||||||||
|
Is there a hint here? My Scorpio, friends, humanity is that kingdom monadically which is ruled by Scorpio, or at least the monads are gathered on the Buddhic plane under Scorpio. |
Có một gợi ý ở đây chăng? Các bạn Hổ Cáp của tôi, nhân loại là giới mà về mặt chân thần được cai quản bởi Hổ Cáp, hoặc ít nhất các chân thần được tập hợp trên cõi Bồ đề dưới Hổ Cáp. |
||||||||
|
but once that testing has been triumphantly passed, then can the task of dissipating both these types of glamour be given to the disciple and aspirant, |
nhưng một khi cuộc khảo nghiệm ấy đã được vượt qua một cách thắng lợi, thì nhiệm vụ làm tiêu tan cả hai loại ảo cảm này có thể được giao cho đệ tử và người chí nguyện, |
||||||||
|
Even as they have been given to us, we’re not fully achieved yet, but we have been awarded the proper meditation. DK goes on |
Ngay cả như chúng đã được giao cho chúng ta; chúng ta chưa hoàn toàn thành tựu, nhưng chúng ta đã được trao bài tham thiền thích hợp. Chân sư DK tiếp tục, |
||||||||
|
with the emphasis upon the immediate need or any particular and current world glamour. [2d] |
với sự nhấn mạnh vào nhu cầu tức thời hoặc bất kỳ ảo cảm thế giới đặc thù và hiện hành nào. [2d] |
||||||||
|
That should be it for this evening here in Finland. |
Đến đây là đủ cho tối nay tại Phần Lan. |
||||||||
|
… |
… |
||||||||
|
That’s about an hour’s worth of study of important material. If we want to understand glamour and its context, we have to admit that we are still subject to glamour. I don’t know how we could think that we are not. Even the rich young man of the third degree had his own high glamours, or perhaps we could begin to call them illusions. |
Đó là khoảng một giờ nghiên cứu tài liệu quan trọng. Nếu chúng ta muốn thấu hiểu ảo cảm và bối cảnh của nó, chúng ta phải thừa nhận rằng mình vẫn còn chịu ảo cảm. Tôi không biết làm sao chúng ta có thể nghĩ rằng mình không như vậy. Ngay cả người thanh niên giàu có ở cấp độ thứ ba cũng có những ảo cảm cao của riêng mình, hoặc có lẽ chúng ta có thể bắt đầu gọi chúng là các ảo tưởng. |
||||||||
|
We who are striving eventually towards the third degree will not yet be relieved. But when the tongues of fire descend from Heaven at the fiery second initiation, taken in group form—like the Masonic FC is called—DK gives it so I can repeat it, the Fellow Craft or the Craft of the Brotherhood—then we can take that initiation, which is no longer simply the baptism by water, but by fire as well. |
Chúng ta, những người đang phấn đấu cuối cùng hướng tới cấp độ thứ ba, vẫn chưa được giải thoát. Nhưng khi các lưỡi lửa từ Thiên giới giáng xuống trong lần điểm đạo thứ hai bằng lửa, được nhận theo hình thức nhóm—như trong Hội Tam Điểm gọi là bậc Thợ Bạn—Chân sư DK nêu điều đó nên tôi có thể lặp lại, Thợ Bạn hay Công Trình của Huynh Đệ Đoàn—khi ấy chúng ta có thể nhận cuộc điểm đạo ấy, vốn không còn đơn thuần là phép rửa bằng nước, mà còn bằng lửa nữa. |
||||||||
|
If you want to have a little fun with this, if any of you are opera lovers, as I was forced to be in my life, you might want to look at Mozart’s Magic Flute, a wonderful opera, and the hero Tamino. |
Nếu các bạn muốn vui một chút với điều này, nếu có ai trong các bạn yêu opera, như tôi đã bị buộc phải yêu trong đời mình, các bạn có thể muốn xem Cây Sáo Thần của Mozart, một vở opera tuyệt vời, và người anh hùng Tamino. |
||||||||
|
[Table 2] |
||||||||
|
The word soul is in there. He is tested with, I suppose, his partner, Pamina by the Brotherhood. He has to undergo, while playing The Magic Flute, the instrument of the Christ, the flute, Krishna and the flu. He’s tested in the test of water, and then he’s tested in the test of fire. |
Từ linh hồn có ở trong đó. Y được khảo nghiệm, tôi cho là cùng với người bạn đời của mình, Pamina, bởi Huynh Đệ Đoàn. Y phải trải qua, trong khi chơi Cây Sáo Thần, nhạc cụ của Đức Christ, cây sáo, Krishna và cây sáo. Y được khảo nghiệm trong thử thách nước, rồi được khảo nghiệm trong thử thách lửa. |
||||||||
|
The test of fire is developing, and even 2000 years ago, the disciples assembled in the upper room were tested by the tongues of flame. They were then able to speak to anyone about the mysteries. Some people imitate that, and they go into a hysterical state called glossophobia. They imagine that somehow they are doing the same as the disciples of old did under the impression of the Holy Spirit. But we have to take all that with a grain of salt. There’s so much about glossophobia which is still quite nonsensical, even though the idea is well established and profound. |
Thử thách lửa đang phát triển, và ngay cả cách đây hai ngàn năm, các đệ tử tụ họp trong phòng trên cao đã được khảo nghiệm bởi các lưỡi lửa. Sau đó họ có thể nói với bất kỳ ai về các huyền nhiệm. Một số người bắt chước điều đó, và họ rơi vào một trạng thái cuồng loạn gọi là chứng nói tiếng lạ. Họ tưởng tượng rằng bằng cách nào đó họ đang làm điều giống như các đệ tử xưa đã làm dưới ấn tượng của Chúa Thánh Thần. Nhưng chúng ta phải tiếp nhận tất cả điều đó với sự dè dặt. Có rất nhiều điều về chứng nói tiếng lạ vẫn còn khá phi lý, dù ý tưởng này đã được thiết lập vững chắc và sâu sắc. |
||||||||
|
… |
… |
||||||||
|
Hatred is deeply connected to racial pride. The unspoken subtext of so much of what the selfish group is doing at this time is: we don’t want those Middle Easterners, we don’t want those black people, we don’t want those people who are colored in some way, people of color, so to speak. We are white Americans, and we want to stay that way. America for Americans—basically, America for white men. Not only white, but male. |
Lòng hận thù liên hệ sâu xa với niềm kiêu hãnh chủng tộc. Ẩn ý không nói ra trong rất nhiều điều mà nhóm ích kỷ đang làm vào lúc này là: chúng tôi không muốn những người Trung Đông đó, chúng tôi không muốn những người da đen đó, chúng tôi không muốn những người có màu da nào đó, những người da màu, có thể nói như vậy. Chúng tôi là người Mỹ da trắng, và chúng tôi muốn duy trì như thế. Nước Mỹ cho người Mỹ—về căn bản, nước Mỹ cho đàn ông da trắng. Không chỉ da trắng, mà còn là nam giới. |
||||||||
|
That’s not what the Tibetan predicts. He predicts a great melting pot for the sixth root race, and he predicts that all of humanity will settle during the sixth root race, which by the way is going to last some 10 million years. He predicts a uniform golden color of the skin. It’s very Buddhic in that way, and it will be hard to misuse the fifth ray type of discrimination which is now being used. Though the words are hidden except from obvious racist groups, that’s the idea: we don’t want those people, you people. And inevitably, race gets into us. |
Đó không phải là điều Chân sư Tây Tạng tiên đoán. Ngài tiên đoán một nồi nấu chảy vĩ đại cho giống dân gốc thứ sáu, và Ngài tiên đoán rằng toàn thể nhân loại sẽ an cư trong giống dân gốc thứ sáu, mà nhân tiện, sẽ kéo dài khoảng mười triệu năm. Ngài tiên đoán một màu da vàng đồng nhất. Theo cách đó, điều này rất Bồ đề, và sẽ khó lạm dụng loại phân biện cung năm hiện đang được sử dụng. Dù các lời nói được che giấu, ngoại trừ trong các nhóm phân biệt chủng tộc rõ ràng, ý tưởng vẫn là: chúng tôi không muốn những người đó, các người đó. Và không tránh khỏi, chủng tộc len vào chúng ta. |
||||||||
|
We lead again by recognizing this as the glamour of separativeness—the one great heresy. If you think about this, you’ll see how much race and color are involved, though oftentimes it is religion that is involved instead. We want only Christians; we don’t want Muslims. That’s a big one in Hungary and a big one in the United States at the present time. But even the Christians are not given the benefit of the doubt if they are of a different color. |
Chúng ta lại dẫn đầu bằng cách nhận ra điều này là ảo cảm của sự chia rẽ—Đại Tà thuyết duy nhất. Nếu các bạn suy nghĩ về điều này, các bạn sẽ thấy chủng tộc và màu da liên quan nhiều đến mức nào, dù thường thì tôn giáo mới là điều liên quan. Chúng tôi chỉ muốn người Kitô giáo; chúng tôi không muốn người Hồi giáo. Đó là một vấn đề lớn ở Hungary và là một vấn đề lớn ở Hoa Kỳ hiện nay. Nhưng ngay cả người Kitô giáo cũng không được hưởng lợi ích của sự nghi ngờ nếu họ thuộc một màu da khác. |
||||||||
|
It’s very much an abuse of the ray which produces cleavage. What ray is that? It is the fifth ray in its abusive nature. |
Đó rất nhiều là sự lạm dụng cung tạo ra sự chia rẽ. Đó là cung nào? Đó là cung năm trong bản chất bị lạm dụng của nó. |
||||||||
|
Webinar 186, p. 201 |
Webinar 186, trang 201 |
||||||||
|
Next Meeting 29th of October— |
Buổi họp kế tiếp ngày 29 tháng Mười— |
||||||||
|
Abstract |
Tóm lược |
||||||||
|
Dissipation of Glamour Initiative Webinar 186 (there was no reading today). The meditation was on the ancient glamour of hatred and racial pride based on the great heresy of separateness. This meeting was held on October 29, 2021. |
Webinar Sáng Kiến Xua Tan Ảo cảm 186, hôm nay không có phần đọc. Bài tham thiền bàn về ảo cảm cổ xưa của lòng hận thù và niềm kiêu hãnh chủng tộc dựa trên Đại Tà thuyết về sự chia rẽ. Buổi họp này được tổ chức vào ngày 29 tháng Mười, 2021. |
||||||||
|
Commentary |
Bình giảng |
||||||||
|
Hello friends, everybody is telling me I sound like Halloween because I have a little vocal cord issue at the moment. Tuija is going to do this meditation. |
Xin chào các bạn, mọi người đang nói với tôi rằng giọng tôi nghe giống Halloween vì lúc này tôi có một chút vấn đề về dây thanh. Tuija sẽ thực hiện bài tham thiền này. |
||||||||
|
We will not have the usual reading. I’ll wait till I recover on that. But we probably have room for some comments or questions. |
Chúng ta sẽ không có phần đọc thường lệ. Tôi sẽ đợi cho đến khi hồi phục. Nhưng có lẽ chúng ta vẫn có chỗ cho một vài nhận xét hoặc câu hỏi. |
||||||||
|
I’m sorry that I find myself in this condition. But we’ll do our best under the circumstances. The glamour will be about hatred and racial pride and separateness—mainly hatred, but it’s related to the pride of race, separateness. |
Tôi xin lỗi vì mình đang ở trong tình trạng này. Nhưng chúng ta sẽ làm hết sức trong hoàn cảnh hiện tại. Ảo cảm sẽ liên quan đến hận thù, kiêu hãnh chủng tộc và sự chia rẽ—chủ yếu là hận thù, nhưng nó liên hệ với niềm kiêu hãnh chủng tộc và sự chia rẽ. |
||||||||
|
I’ll stand by and let Tuija continue. Hello, dear friends. Let us manage together. But still I want to, Michael, define what you said, that you said three things are our work today. I have to remember exactly how did you say? I said, hatred, but it’s based on racial pride and separateness. |
Tôi sẽ đứng sang một bên và để Tuija tiếp tục. Xin chào các bạn thân mến. Chúng ta hãy cùng nhau điều hành. Nhưng Michael, tôi vẫn muốn xác định điều Thầy đã nói, rằng Thầy nói hôm nay công việc của chúng ta có ba điều. Tôi phải nhớ chính xác Thầy đã nói thế nào? Tôi đã nói là hận thù, nhưng nó dựa trên niềm kiêu hãnh chủng tộc và sự chia rẽ. |
||||||||
|
As is the case in the United States right now, it can spread very rapidly and is a real danger to democracy and to the work of the Angel of the Presence and the work of the master. This is what we find as the enemy—enemy of democracy, enemy of love. |
Như trường hợp ở Hoa Kỳ ngay lúc này, nó có thể lan rất nhanh và là một nguy cơ thật sự đối với dân chủ, đối với công việc của Thiên Thần của Hiện Diện và công việc của Chân sư. Đây là điều chúng ta nhận ra như kẻ thù—kẻ thù của dân chủ, kẻ thù của tình thương. |
||||||||
|
The love of power is substituting for real love. That’s a very dangerous situation. Dear, you can go ahead. I’ll turn my mute on. |
Tình yêu quyền lực đang thay thế cho tình thương chân thật. Đó là một tình trạng rất nguy hiểm. Bạn thân mến, bạn có thể tiếp tục. Tôi sẽ bật chế độ tắt tiếng. |
||||||||
|
Let us have a few deep breaths and send to ourselves. Today we will start by naming the group members who are now present. And then we have three minutes of silence. |
Chúng ta hãy hít thở sâu vài lần và gửi đến chính mình. Hôm nay chúng ta sẽ bắt đầu bằng cách nêu tên các thành viên nhóm hiện đang có mặt. Sau đó chúng ta sẽ có ba phút im lặng. |
||||||||
|
We are Michael Crow, V.L. and Michael Robbins, Anna Veronica, Anna, Annette, Annette, Carl, Catherine, Diana, Eva, Francois, Georgina, Heike, Karen, Catherine, Leslie, Maria, Marina, Mayre, Nienke, Odile, Olivia, Tia, Vivienne, Yvonne, Zenaid and Jan. And three minutes of silence. |
Chúng ta là Michael Crow, V.L. và Michael Robbins, Anna Veronica, Anna, Annette, Annette, Carl, Catherine, Diana, Eva, Francois, Georgina, Heike, Karen, Catherine, Leslie, Maria, Marina, Mayre, Nienke, Odile, Olivia, Tia, Vivienne, Yvonne, Zenaid và Jan. Và ba phút im lặng. |
||||||||
|
The protective formula. When we are uttering these words, each group member makes the sign of the cross of divinity. Forehead. As a soul, I work in light and darkness cannot touch me. Left eye. I take my stand within the light. Right eye. I work and from that point, I never move. |
Công thức bảo vệ. Khi chúng ta thốt ra những lời này, mỗi thành viên trong nhóm làm dấu Thập Giá Thiên Tính. Trán. Với tư cách là một linh hồn, tôi hoạt động trong ánh sáng và bóng tối không thể chạm đến tôi. Mắt trái. Tôi đứng vững trong ánh sáng. Mắt phải. Tôi hoạt động và từ điểm đó, tôi không bao giờ lay chuyển. |
||||||||
|
We can imagine the group as the cross of divinity, shining forth in front of every member. |
Chúng ta có thể hình dung nhóm như Thập Giá Thiên Tính, tỏa sáng trước mỗi thành viên. |
||||||||
|
The three preparatory stages. Let us now focus the dual light of matter of etheric, physical and mind of mental. The light in the Chitta. The dual light of matter and the mind. |
Ba giai đoạn chuẩn bị. Bây giờ chúng ta hãy tập trung ánh sáng kép của vật chất thuộc dĩ thái, hồng trần và trí của cõi trí. Ánh sáng trong Chitta. Ánh sáng kép của vật chất và thể trí. |
||||||||
|
Now meditate on soul contact. Visualize, recognize the soul light and see it sending, see the scent of the light upon the mental plane. |
Hãy tham thiền về sự tiếp xúc với linh hồn. Hình dung, nhận biết ánh sáng linh hồn và thấy nó gửi, thấy hương thơm của ánh sáng trên cõi trí. |
||||||||
|
And the third, see now the fusion of these two lesser lights with the soul light. The light of reason in the mental body. The dual light of matter and the mind with the soul light. |
Và thứ ba, bây giờ hãy thấy sự dung hợp của hai ánh sáng thấp này với ánh sáng linh hồn. Ánh sáng của lý trí trong thể trí. Ánh sáng kép của vật chất và thể trí với ánh sáng linh hồn. |
||||||||
|
Let us say the affirmation together. The light is one and in that light shall we see light. This is the light that turns the darkness into day. |
Chúng ta hãy cùng nhau đọc lời khẳng định. Ánh sáng là một, và trong ánh sáng ấy chúng ta sẽ thấy ánh sáng. Đây là ánh sáng biến bóng tối thành ban ngày. |
||||||||
|
The formula. Visualize now the great search light. Fusion of these two lesser lights with soul light, which we have now created. |
Công thức. Bây giờ hãy hình dung ngọn đèn pha lớn. Sự dung hợp của hai ánh sáng thấp này với ánh sáng linh hồn mà chúng ta vừa tạo nên. |
||||||||
|
Turn its light upon the astral plane. Let us say together. Radiance are we and power. |
Hãy hướng ánh sáng của nó lên cõi cảm dục. Chúng ta hãy cùng nói. Chúng ta là ánh rạng rỡ và quyền năng. |
||||||||
|
We stand forever with our hands stretched out, linking the heavens and the earth. The inner world of meaning and the subtle world of glamour. We reach into the light and bring it down to meet the need. |
Chúng ta đứng mãi mãi với đôi tay vươn rộng, nối kết các cõi trời và Trái Đất. Thế giới bên trong của ý nghĩa và thế giới vi tế của ảo cảm. Chúng ta vươn vào ánh sáng và đưa ánh sáng xuống để đáp ứng nhu cầu. |
||||||||
|
We reach into the silent place and bring from thence the gift of understanding. Thus with the light we work and turn the darkness into day. Now we use the weapon of light. |
Chúng ta vươn vào nơi tĩnh lặng và từ đó đem về món quà của sự thấu hiểu. Như vậy, với ánh sáng, chúng ta hoạt động và biến bóng tối thành ban ngày. Bây giờ chúng ta sử dụng vũ khí của ánh sáng. |
||||||||
|
And pause a moment, invoking spiritual will by using the Andhaka Rana. Sense the living interplay between the Sacrifice petal, synthesis petals to atmic plane of a spiritual will, reaching the Monad. In your consciousness be aware of your highest aspect of your being. |
Và hãy dừng lại một khoảnh khắc, khẩn cầu Ý Chí tinh thần bằng cách sử dụng antahkarana. Cảm nhận sự tương tác sống động giữa cánh hoa hi sinh, các cánh hoa tổng hợp, với cõi atma của Ý Chí tinh thần, vươn đến chân thần. Trong tâm thức của các bạn, hãy ý thức phương diện cao nhất của bản thể mình. |
||||||||
|
Using the beam we have generated and we are aware we are using this the weapon of light. Having very strong power. Vertical alignment. |
Sử dụng chùm sáng mà chúng ta đã tạo ra, và chúng ta ý thức rằng mình đang sử dụng vũ khí ánh sáng này, vốn có quyền năng rất mạnh. Sự chỉnh hợp theo chiều dọc. |
||||||||
|
And we say with power upon its beam, the light is focused on the goal. The glamour to be dissipated today is hatred, which is growing from racial pride and separateness. Later on we just use the word hatred. |
Và chúng ta nói với quyền năng trên chùm sáng ấy: ánh sáng được tập trung vào mục tiêu. Ảo cảm cần được làm tiêu tan hôm nay là lòng thù hận, đang lớn lên từ niềm kiêu hãnh chủng tộc và sự chia rẽ. Về sau, chúng ta chỉ dùng từ thù hận. |
||||||||
|
We throw the light upon the glamour of hatred. While we are saying, affirming the power of our united light prevents the appearance of the glamour of hatred. The power of our united light negates the quality of the glamour from affecting humanity. |
Chúng ta chiếu ánh sáng lên ảo cảm thù hận. Trong khi chúng ta nói, khẳng định rằng quyền năng của ánh sáng hợp nhất của chúng ta ngăn chặn sự xuất hiện của ảo cảm thù hận. Quyền năng của ánh sáng hợp nhất của chúng ta vô hiệu hóa phẩm tính của ảo cảm, không để nó tác động đến nhân loại. |
||||||||
|
The power of our united light destroys the light behind the glamour. The glamour of hatred. Visualize the group standing within the will, together. |
Quyền năng của ánh sáng hợp nhất của chúng ta phá hủy ánh sáng phía sau ảo cảm. Ảo cảm thù hận. Hãy hình dung nhóm cùng đứng trong Ý Chí. |
||||||||
|
The protective cross of divinity shining forth through the group. Visualize the light, the searchlight of dual light with the soul light, penetrating into the glamour of hatred. This vast overshadowing vampire, through which the black lord works, leads millions into hatred, separation and against the law of love. |
Thập Giá Thiên Tính bảo vệ đang tỏa sáng qua nhóm. Hãy hình dung ánh sáng, ngọn đèn pha của ánh sáng kép cùng với ánh sáng linh hồn, xuyên vào ảo cảm thù hận. Con ma cà rồng bao trùm rộng lớn này, qua đó vị chúa tể hắc ám hoạt động, dẫn hàng triệu người vào thù hận, chia rẽ và đi ngược lại định luật bác ái. |
||||||||
|
We are now going to have five minutes of silence. The silence producing the weakening and dissipation of the glamour of hatred. Let us see the glamour of hatred growing from racial pride and separateness has weakened. |
Bây giờ chúng ta sẽ có năm phút im lặng. Sự im lặng tạo ra sự suy yếu và làm tiêu tan ảo cảm thù hận. Chúng ta hãy thấy ảo cảm thù hận, lớn lên từ niềm kiêu hãnh chủng tộc và sự chia rẽ, đã suy yếu. |
||||||||
|
And has dissipated. We realize the intensity of purpose has deepened. With the work we’ll see him proceeding. |
Và đã tiêu tan. Chúng ta nhận ra rằng cường độ của mục đích đã sâu sắc hơn. Khi công việc tiếp diễn, chúng ta sẽ thấy nó tiến hành. |
||||||||
|
Let us now turn away our attention from the astral plane. Refocus back upon the mental plane. The searchlight of the Soul is shut off. |
Bây giờ chúng ta hãy chuyển sự chú ý ra khỏi cõi cảm dục. Tập trung trở lại trên cõi trí. Đèn pha của Linh hồn được tắt đi. |
||||||||
|
And also the group searchlight. And we close together by sounding the OM. And we visualize the work had been done mentally, emotionally, physically. |
Và cả đèn pha của nhóm cũng vậy. Và chúng ta cùng kết thúc bằng cách xướng linh từ OM. Và chúng ta hình dung công việc đã được thực hiện về mặt trí tuệ, cảm xúc, hồng trần. |
||||||||
|
All has been successful. Thank you. Now, are there any questions or statements that you would like to make? I think we will resume later with our reading. |
Tất cả đã thành công. Cảm ơn các bạn. Các bạn có câu hỏi hay phát biểu nào muốn nêu không? Tôi nghĩ chúng ta sẽ tiếp tục phần đọc sau. |
||||||||
|
But under the circumstances, that’s not possible at the moment. Are there any points? There are a number of thank yous and get better, Michael. Yes, yes. |
Nhưng trong hoàn cảnh hiện nay, điều đó chưa thể thực hiện ngay lúc này. Có điểm nào không? Có một số lời cảm ơn và chúc Michael mau khỏe. Vâng. |
||||||||
|
Thank you. Thank you. I know I sound like Halloween. |
Cảm ơn các bạn. Tôi biết giọng tôi nghe giống lễ Halloween. |
||||||||
|
But any points you would like to make? Because this is such a great problem. To try to exclude people. Try to make sure that they cannot participate and have their lives improve. |
Nhưng có điểm nào các bạn muốn nêu không? Bởi vì đây là một vấn đề rất lớn. Cố gắng loại trừ người khác. Cố bảo đảm rằng họ không thể tham gia và không thể cải thiện đời sống của mình. |
||||||||
|
We are told by certain parties, send these people back to where they belong. They don’t belong in America and other places. Send them back. It’s a terrible attitude when you think that this country and many other countries were built on the idea of a melting pot, immigration of many types, all enriching the whole. If you start to eliminate people, there’s going to be an impoverished result. |
Một số nhóm nói với chúng ta rằng: hãy gửi những người này trở về nơi họ thuộc về. Họ không thuộc về nước Mỹ hay những nơi khác. Hãy gửi họ trở về. Đó là một thái độ khủng khiếp, khi các bạn nghĩ rằng quốc gia này và nhiều quốc gia khác đã được xây dựng trên ý tưởng về một nồi nấu chảy, về sự nhập cư thuộc nhiều loại, tất cả đều làm phong phú cho toàn thể. Nếu các bạn bắt đầu loại bỏ con người, kết quả sẽ là sự nghèo nàn. |
||||||||
|
And we have to have an open heart. An open heart. Not an exclusive, separative attitude, wherever it comes from. |
Và chúng ta phải có một trái tim rộng mở. Một trái tim rộng mở. Không phải một thái độ loại trừ, chia rẽ, dù nó đến từ đâu. |
||||||||
|
And it comes mostly from addiction to the personality. And ignoring the Solar Angel. Ignoring the Soul. |
Và nó chủ yếu đến từ sự nghiện ngập phàm ngã. Và phớt lờ Thái dương Thiên Thần. Phớt lờ Linh hồn. |
||||||||
|
Ignoring the Angel of the Presence. Not even knowing, really, that they exist. We have a lot of work to do to help people understand the real story of the many groups and how each group can contribute. |
Phớt lờ Thiên Thần của Hiện Diện. Thậm chí thật sự không biết rằng các Đấng ấy hiện hữu. Chúng ta có rất nhiều việc phải làm để giúp mọi người thấu hiểu câu chuyện chân thật của nhiều nhóm, và cách mỗi nhóm có thể đóng góp. |
||||||||
|
This is part of our esoteric work. Inclusiveness. Harmony. |
Đây là một phần công việc huyền bí của chúng ta. Tính bao gồm. Sự hài hòa. |
||||||||
|
An open heart. Acceptance. It’s difficult when there are foes, foes who oppose you, as is the case right now. |
Một trái tim rộng mở. Sự chấp nhận. Điều này khó khăn khi có những kẻ thù, những kẻ chống đối các bạn, như trường hợp hiện nay. |
||||||||
|
Anything you want to say at this point? Or write, or whatever. Hold on a second here, we’ve got a couple. Yvonne says we’re a nation of immigrants. |
Các bạn có muốn nói gì vào lúc này không? Hoặc viết, hay bất cứ điều gì. Chờ một chút, chúng ta có vài ý kiến. Yvonne nói rằng chúng ta là một quốc gia của những người nhập cư. |
||||||||
|
That is so true. But some of the immigrants who have come, especially the white immigrants, feel they are especially entitled. And the people of color are somehow, in their eyes, worthless. |
Điều đó rất đúng. Nhưng một số người nhập cư đã đến, đặc biệt là những người nhập cư da trắng, cảm thấy họ đặc biệt có quyền. Và trong mắt họ, những người da màu bằng cách nào đó là vô giá trị. |
||||||||
|
That is a horrible situation. And has to be overcome. And we have to work on it. |
Đó là một tình trạng khủng khiếp. Và nó phải được vượt qua. Và chúng ta phải làm việc với điều đó. |
||||||||
|
America, or the United States, says the Tibetan, is the center of the old Atlantean continent. Atlantis was very big with many, many parts, and the United States occupies the very center. We have people from that ancient culture still with us. |
Nước Mỹ, hay Hoa Kỳ, Chân sư Tây Tạng nói, là trung tâm của lục địa Atlantis cổ xưa. Atlantis rất lớn, có rất nhiều phần, và Hoa Kỳ chiếm giữ đúng trung tâm. Chúng ta vẫn còn những người từ nền văn hóa cổ xưa đó ở cùng chúng ta. |
||||||||
|
Their rights have been trampled upon. They were considered savages, and people could do anything they wanted to them. This horrible attitude of the proud white man has to end. |
Quyền của họ đã bị chà đạp. Họ bị xem là man rợ, và người ta có thể làm bất cứ điều gì họ muốn đối với họ. Thái độ khủng khiếp này của người da trắng kiêu hãnh phải chấm dứt. |
||||||||
|
America is a great melting pot, says the Tibetan. We have this going on to a degree in England, and also in the Soviet Federation, or the new Russia. All over the world, there is the need for inclusiveness, harmony, love, tolerance. These will be themes in the new Aquarian age, and we are now bridging towards that age. |
Nước Mỹ là một nồi nấu chảy lớn, Chân sư Tây Tạng nói. Chúng ta có điều này đang diễn ra ở một mức độ nào đó tại Anh, và cả trong Liên bang Xô viết, hay nước Nga mới. Trên khắp thế giới, có nhu cầu về tính bao gồm, sự hài hòa, bác ái, khoan dung. Đây sẽ là những chủ đề trong kỷ nguyên Bảo Bình mới, và hiện nay chúng ta đang bắt cầu hướng đến kỷ nguyên ấy. |
||||||||
|
Yes, Ivan, exactly. There’s a couple of announcements in there for the climate change conference, and the links for the first of those starting tomorrow. Diana says Venezuela was a host country for migrants because it was the most progressive country in South America, in an inclusive democracy with opportunities for all. |
Vâng, Ivan, chính xác. Có vài thông báo trong đó về hội nghị biến đổi khí hậu, và các liên kết cho phần đầu tiên bắt đầu vào ngày mai. Diana nói rằng Venezuela từng là một quốc gia tiếp nhận người di cư vì đó là quốc gia tiến bộ nhất ở Nam Mỹ, trong một nền dân chủ bao gồm với cơ hội cho tất cả mọi người. |
||||||||
|
Today, political greed fosters separatism based on a false patriotic pride that only enriches its permanence in power. Today, there are millions of Venezuelans migrating to survive, comparable to countries at war. This is very well said, and something we have to bear in mind. |
Ngày nay, lòng tham chính trị nuôi dưỡng chủ nghĩa chia rẽ dựa trên niềm kiêu hãnh yêu nước giả tạo, chỉ làm giàu cho sự tồn tại lâu dài của nó trong quyền lực. Ngày nay, có hàng triệu người Venezuela di cư để sống còn, có thể so sánh với các quốc gia đang có chiến tranh. Điều này được nói rất hay, và là điều chúng ta phải ghi nhớ. |
||||||||
|
Countries with much promise can change, apparently for the worse, for a certain period of time. Let us hope for the best for the South American countries. In the sixth Root race, not long ahead, they will be so important, with maybe Brazil as a particular leader or center. But all of them will be part of that sphere. |
Những quốc gia có nhiều hứa hẹn có thể thay đổi, dường như theo hướng tệ hơn, trong một giai đoạn nào đó. Chúng ta hãy hy vọng điều tốt đẹp nhất cho các quốc gia Nam Mỹ. Trong giống dân gốc thứ sáu, không còn xa phía trước, họ sẽ rất quan trọng, có lẽ Brazil là một lãnh đạo hay trung tâm đặc biệt. Nhưng tất cả họ sẽ là một phần của khối cầu ấy. |
||||||||
|
Was there something you wanted to say? Heike says most of humanity has been migrating during known and unknown history. It would be important that all remember that. Every nation or group has been in any situation before, rich or poor, powerful or suppressed. |
Có điều gì các bạn muốn nói không? Heike nói rằng phần lớn nhân loại đã di cư trong lịch sử được biết và chưa được biết. Điều quan trọng là tất cả đều nhớ điều đó. Mọi quốc gia hay nhóm đều từng ở trong bất cứ hoàn cảnh nào trước đây, giàu hay nghèo, quyền lực hay bị áp bức. |
||||||||
|
The planet Uranus particularly rules migratory behavior and is the major planet for the age of Aquarius, not just exoterically but also part of the Hierarchical Moon. There will be appreciable movement continuing along with many Earth changes that the Tibetan predicts. |
Hành tinh Sao Thiên Vương đặc biệt cai quản hành vi di cư và là hành tinh chính yếu cho kỷ nguyên Bảo Bình, không chỉ theo nghĩa ngoại môn mà còn là một phần của Mặt Trăng thuộc Thánh Đoàn. Sẽ tiếp tục có sự di chuyển đáng kể cùng với nhiều biến đổi của Trái Đất mà Chân sư Tây Tạng tiên đoán. |
||||||||
|
Again, Uranus involved with those Earth changes which compel migration often. Just imagine certain parts of the world becoming unlivable. And the people have to go somewhere. |
Một lần nữa, Sao Thiên Vương liên hệ với những biến đổi của Trái Đất vốn thường buộc người ta phải di cư. Hãy hình dung một số phần của thế giới trở nên không thể sống được. Và con người phải đi đến nơi nào đó. |
||||||||
|
And who will accept them? How will they be accepted? It’s one big family. Humanity is. And that has to be realized. |
Và ai sẽ chấp nhận họ? Họ sẽ được chấp nhận như thế nào? Đó là một đại gia đình. Nhân loại là như vậy. Và điều đó phải được nhận ra. |
||||||||
|
We face a period of even greater migration ahead. And we must adapt through love, harmony, inclusiveness. Things which right now are being fought against by those who love power more than they love love. |
Chúng ta đang đối diện với một thời kỳ di cư còn lớn hơn nữa phía trước. Và chúng ta phải thích nghi qua bác ái, hài hòa, tính bao gồm. Những điều mà ngay lúc này đang bị chống lại bởi những người yêu quyền lực hơn yêu bác ái. |
||||||||
|
Thank you, Ike. Hey, Michael, can I share something? Of course. I just wanted to say that I’m thinking that maybe this situation could get refocused to class rather than race. |
Cảm ơn, Heike. Này Michael, tôi có thể chia sẻ điều gì đó không? Tất nhiên. Tôi chỉ muốn nói rằng tôi đang nghĩ có lẽ tình huống này có thể được tái tập trung vào giai cấp hơn là chủng tộc. |
||||||||
|
This new thinking that all white people are oppressors is a disturbing trend to me. And I think that on a practical level when it comes to immigrants, I imagine that most people in the upper class would not want those immigrants in their neighborhoods. And I think there’s a much smaller percentage of the population. |
Lối suy nghĩ mới rằng tất cả người da trắng đều là kẻ áp bức là một khuynh hướng khiến tôi lo ngại. Và tôi nghĩ ở mức độ thực tế, khi nói đến người nhập cư, tôi tưởng tượng rằng hầu hết những người thuộc tầng lớp thượng lưu sẽ không muốn những người nhập cư đó ở trong khu phố của họ. Và tôi nghĩ đó là một tỷ lệ nhỏ hơn nhiều trong dân số. |
||||||||
|
It just happens that it’s a class thing that even recognizes race, especially in my age range, as an issue. We’ve been mingling online with all manner of people for a lengthy period of time. |
Chỉ là điều này tình cờ trở thành vấn đề giai cấp, vốn thậm chí còn nhìn nhận chủng tộc như một vấn đề, đặc biệt trong nhóm tuổi của tôi. Chúng tôi đã giao tiếp trực tuyến với đủ loại người trong một thời gian dài. |
||||||||
|
It just happens that the controlling elite, and I guess the dominant projection in the media, is this racial war. But I think that most people are generally loving and tolerant. And if they’re not driven to feel pressure or attack, that they will care and protect and open themselves to different people. |
Chỉ là giới tinh hoa kiểm soát, và tôi đoán sự phóng chiếu thống trị trên truyền thông, biến điều này thành một cuộc chiến chủng tộc. Nhưng tôi nghĩ rằng phần lớn mọi người nói chung đều yêu thương và khoan dung. Và nếu họ không bị thúc ép phải cảm thấy áp lực hay bị tấn công, họ sẽ quan tâm, bảo vệ và mở lòng với những người khác biệt. |
||||||||
|
Thank you. It is an optimistic point of view. I’m so sorry about this voice. |
Cảm ơn. Đó là một quan điểm lạc quan. Tôi rất xin lỗi về giọng nói này. |
||||||||
|
The class system was inherited from India. And it made its way to the United Kingdom and then to America as well. We have vestiges of the four classes that are not understood, but people abide by them. |
Hệ thống giai cấp được thừa hưởng từ Ấn Độ. Và nó đã đi đến Vương quốc Anh rồi sau đó cũng đến Mỹ. Chúng ta có những tàn dư của bốn giai cấp không được thấu hiểu, nhưng người ta vẫn tuân theo chúng. |
||||||||
|
Right now, there are millions of people who have been swept by false information and by fear and by the machinations of the Black Lodge. I was just reading in Telepathy and the Etheric Vehicle what Black Magic really is and how it is compelling others to do your will, regardless of what is best for them. These people do exist. |
Ngay lúc này, có hàng triệu người đã bị cuốn đi bởi thông tin sai lệch, bởi nỗi sợ và bởi những âm mưu của Hắc đoàn. Tôi vừa đọc trong Viễn Cảm và Hiện Thể Dĩ Thái về Hắc thuật thật sự là gì, và nó cưỡng ép người khác làm theo ý chí của mình như thế nào, bất kể điều gì là tốt nhất cho họ. Những người này có tồn tại. |
||||||||
|
They exist on both ends. Any selfishness will lead to the left-hand path. And we must ameliorate the condition that millions find themselves in at this time. |
Họ tồn tại ở cả hai cực. Bất cứ sự ích kỷ nào cũng sẽ dẫn đến tả đạo. Và chúng ta phải cải thiện tình trạng mà hàng triệu người đang thấy mình ở trong đó vào thời điểm này. |
||||||||
|
Not just in America, but in many European countries. And, I suppose, in China as well, where the people of Islamic persuasion are persecuted, considered to be an underclass. Humanity is one family. |
Không chỉ ở Mỹ, mà trong nhiều quốc gia châu Âu. Và, tôi cho rằng, cả ở Trung Quốc nữa, nơi những người theo khuynh hướng Hồi giáo bị bức hại, bị xem là một tầng lớp thấp kém. Nhân loại là một gia đình. |
||||||||
|
How shall we get that across in our own realizations? And to the people who can absorb that idea, how shall we get that across? That is our esoteric task. We need your perspective. And the perspective of the younger people. |
Làm thế nào chúng ta truyền đạt điều đó trong những nhận thức của chính mình? Và với những người có thể tiếp nhận ý tưởng ấy, làm thế nào chúng ta truyền đạt điều đó? Đó là nhiệm vụ huyền bí của chúng ta. Chúng ta cần quan điểm của bạn. Và quan điểm của những người trẻ hơn. |
||||||||
|
We need that. Because things are changing rapidly. |
Chúng ta cần điều đó. Bởi vì mọi sự đang thay đổi nhanh chóng. |
||||||||
|
We have several more comments. Tia says, Hatred and racism are effective tools to maintain slavery and subservience. They close and bind the hearts of those who perpetuate these glamours and enable dehumanization and other atrocities to occur. |
Chúng ta có thêm vài bình luận. Tia nói: thù hận và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc là những công cụ hữu hiệu để duy trì nô lệ và sự phục tùng. Chúng đóng kín và trói buộc trái tim của những người duy trì các ảo cảm này, và cho phép sự phi nhân hóa cùng những tội ác khác xảy ra. |
||||||||
|
At their very core, you will find the Black Lodge and its preoccupation with form and unrelenting desire to subjugate and enslave humanity. |
Ở tận cốt lõi của chúng, các bạn sẽ tìm thấy Hắc đoàn và sự bận tâm của nó với hình tướng, cùng dục vọng không ngừng nhằm khuất phục và nô dịch nhân loại. |
||||||||
|
It’s well said. One word stuck out for me especially: dehumanization. |
Điều này được nói rất hay. Một từ đặc biệt nổi bật với tôi: phi nhân hóa. |
||||||||
|
Dehumanization is what allowed otherwise decent people to treat others as if they were not human, but something very other. Treat them as other than human. |
Phi nhân hóa là điều đã cho phép những người vốn nếu không như vậy thì khá đứng đắn đối xử với người khác như thể họ không phải là con người, mà là một điều gì đó rất khác. Đối xử với họ như thứ gì khác hơn con người. |
||||||||
|
That has to end. Your statement is well taken. The age of Aquarius, with the great lord of liberty in Shambhala, cannot be an age of slavery, whether outward servitude or economic slavery, which also exists with the terrible life-reducing results. |
Điều đó phải chấm dứt. Phát biểu của bạn rất xác đáng. Kỷ nguyên Bảo Bình, với vị Chúa Tể vĩ đại của tự do tại Shamballa, không thể là một kỷ nguyên của nô lệ, dù là nô dịch bên ngoài hay nô lệ kinh tế, vốn cũng tồn tại với những kết quả khủng khiếp làm suy giảm đời sống. |
||||||||
|
Our responsibility is considerable. Thank you, Tia. Karen says, the book Caste: The Origins of Our Discontents by Isabel Wilkerson addresses racism in the caste system. |
Trách nhiệm của chúng ta là đáng kể. Cảm ơn, Tia. Karen nói rằng cuốn sách Đẳng cấp: Nguồn gốc những bất mãn của chúng ta của Isabel Wilkerson đề cập đến chủ nghĩa phân biệt chủng tộc trong hệ thống đẳng cấp. |
||||||||
|
It is very good. We need to know the sources. |
Nó rất hay. Chúng ta cần biết các nguồn gốc. |
||||||||
|
What does it mean in the old language that all men are created equal? The word created is there. It has to do with the Monad. That’s where the equality really exists—in the Monad. |
Trong ngôn ngữ xưa, câu mọi người nam đều được tạo ra bình đẳng có nghĩa là gì? Từ được tạo ra có ở đó. Nó liên hệ đến chân thần. Đó là nơi sự bình đẳng thật sự hiện hữu—trong chân thần. |
||||||||
|
Not all people are of the same degree of experience. This is why the Christ’s teaching on reincarnation, which will be emphasized at this time, is so amazingly important so we can understand the differences in experience between people. People in their normal expression are not equal. |
Không phải mọi người đều có cùng mức độ kinh nghiệm. Đây là lý do vì sao giáo huấn của Đức Christ về luân hồi, vốn sẽ được nhấn mạnh vào thời điểm này, lại quan trọng đến kinh ngạc như vậy, để chúng ta có thể thấu hiểu những khác biệt về kinh nghiệm giữa con người. Con người trong biểu hiện bình thường của họ không bình đẳng. |
||||||||
|
They have different experiences, longer or shorter, but as Monads, they are utterly equal. That’s really the esoteric way of looking at that great statement from the American documents: All men are created equal and endowed by their creator. |
Họ có những kinh nghiệm khác nhau, dài hơn hay ngắn hơn, nhưng với tư cách là các chân thần, họ hoàn toàn bình đẳng. Đó thật sự là cách huyền bí để nhìn vào phát biểu vĩ đại ấy từ các văn kiện của Mỹ: mọi người nam đều được tạo ra bình đẳng và được Đấng Tạo Hóa của họ ban cho. |
||||||||
|
In there is the right to life, liberty, and the pursuit of happiness. That was very foresightful, but esoterically it doesn’t mean what it appears to mean exoterically. |
Trong đó có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Điều đó rất có tầm nhìn xa, nhưng theo nghĩa huyền bí, nó không có nghĩa như vẻ ngoài ngoại môn của nó. |
||||||||
|
Thank you. Michael Crow actually put that in the chat so they could read the whole quote from the Declaration of Independence. Yvonne says, we need bumper stickers: Humanity is one family. Olivia says, love to all in oneness. And healing energies to you, dear Michael. |
Cảm ơn. Michael Crow thật ra đã đưa điều đó vào phần trò chuyện để họ có thể đọc toàn bộ trích dẫn từ Tuyên ngôn Độc lập. Yvonne nói rằng chúng ta cần những nhãn dán xe: Nhân loại là một gia đình. Olivia nói: tình thương đến tất cả trong nhất tính. Và các năng lượng chữa lành đến với Thầy, Michael thân mến. |
||||||||
|
Thank you. Be careful what you gargle with. |
Cảm ơn. Hãy cẩn thận với thứ các bạn dùng để súc miệng. |
||||||||
|
Michael, the interesting thing is we’re dealing with somebody who wrote the Declaration of Independence or co-authored it being persecuted for having slaves, and they removed his statue in New York. So it’s unclear where we stand or where people in general stand. If you have a bad history but you develop an amazing, illuminated document, do you need to be erased because you were white and you were participating in some darker stuff at the time, or is the document something we should remember and the statue is a connection to that? |
Michael, điều thú vị là chúng ta đang bàn đến một người đã viết Tuyên ngôn Độc lập, hay đồng tác giả của nó, bị chỉ trích vì sở hữu nô lệ, và người ta đã dỡ tượng của ông ấy ở New York. Vì vậy không rõ chúng ta đứng ở đâu, hay nói chung mọi người đứng ở đâu. Nếu bạn có một lịch sử xấu nhưng bạn tạo ra một văn kiện tuyệt vời, được soi sáng, thì bạn có cần bị xóa bỏ vì bạn là người da trắng và bạn đã tham gia vào một số điều tối tăm hơn vào thời đó không, hay văn kiện ấy là điều chúng ta nên nhớ, và bức tượng là một mối liên hệ với điều đó? |
||||||||
|
Sally Hemings was like his wife, really. Who’s to judge that relationship? There are many particularities and extenuating circumstances. The Declaration of Independence is an important document esoterically, and the fact that the writer had the foibles of that age—he did have those foibles—but it doesn’t mean we throw out the baby with the bathwater. |
Sally Hemings thật sự giống như vợ của ông ấy. Ai có thể phán xét mối quan hệ đó? Có nhiều chi tiết riêng biệt và hoàn cảnh giảm nhẹ. Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện quan trọng theo nghĩa huyền bí, và việc người viết có những yếu điểm của thời đại đó—ông ấy thật sự có những yếu điểm ấy—không có nghĩa là chúng ta vứt bỏ đứa trẻ cùng với nước tắm. |
||||||||
|
How much poorer we would be without the Declaration of Independence spiritually. It’s a tricky and difficult call. |
Chúng ta sẽ nghèo nàn hơn biết bao về mặt tinh thần nếu không có Tuyên ngôn Độc lập. Đó là một sự phán đoán khó khăn và tế nhị. |
||||||||
|
Pierre has her hand up. I just wanted to say to keep in mind that the pendulum, when we’re trying to get a balance or a center, often swings dramatically in the other direction. A lot of what you’re seeing in behaviors of people is really a result of frustration that has been repressed for a long time. |
Pierre giơ tay. Tôi chỉ muốn nói rằng hãy ghi nhớ rằng con lắc, khi chúng ta cố gắng đạt tới sự cân bằng hay trung tâm, thường vung rất mạnh sang hướng ngược lại. Rất nhiều điều các bạn đang thấy trong hành vi của con người thật ra là kết quả của sự thất vọng đã bị đè nén trong một thời gian dài. |
||||||||
|
One of the most difficult things to understand about racism is that the person who is the victim is often not only in this day and age necessarily dehumanized but they’re seen as invisible. Just as any child or anyone who is invisible does increasingly dramatic activities to try to get people to see you, there’s a great deal of compassion that has to be sent out and love to people to help us all get back to center. |
Một trong những điều khó thấu hiểu nhất về chủ nghĩa phân biệt chủng tộc là người nạn nhân thường không chỉ bị phi nhân hóa trong thời đại này, mà họ còn bị xem như vô hình. Cũng như bất kỳ đứa trẻ nào hay bất kỳ ai vô hình sẽ thực hiện những hoạt động ngày càng kịch tính hơn để cố khiến người khác nhìn thấy mình, có rất nhiều lòng từ bi cần được gửi ra và tình thương dành cho mọi người để giúp tất cả chúng ta trở lại trung tâm. |
||||||||
|
In the next couple of years as we move into the age, we’re going to be seeing the pendulum swinging wildly in every direction. One of the things that we have to do is hold to that voice to help people continue to walk together—whether it’s the vaccine and the no vaccine, or racism, or socioeconomic classes and divisions. Things are going to come up because what was invisible has to be made visible to be addressed and healed, and it won’t always be in the most compassionate or the most beautifully expressed way. |
Trong vài năm tới, khi chúng ta tiến vào kỷ nguyên ấy, chúng ta sẽ thấy con lắc vung dữ dội theo mọi hướng. Một trong những điều chúng ta phải làm là giữ vững tiếng nói đó để giúp mọi người tiếp tục bước đi cùng nhau—dù đó là vắc xin và không vắc xin, hay chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, hay các giai tầng và phân chia kinh tế xã hội. Mọi sự sẽ trồi lên, bởi điều vốn vô hình phải được làm cho hữu hình để được giải quyết và chữa lành, và không phải lúc nào nó cũng diễn ra theo cách từ bi nhất hay được diễn đạt đẹp đẽ nhất. |
||||||||
|
We’ve got to get a little tougher with that to understand that the silent screen is now getting volume, and people are going to keep increasing the volume until they feel that they’ve been heard. |
Chúng ta phải trở nên cứng cỏi hơn một chút với điều đó để thấu hiểu rằng màn ảnh câm giờ đây đang có âm lượng, và mọi người sẽ tiếp tục tăng âm lượng cho đến khi họ cảm thấy mình đã được lắng nghe. |
||||||||
|
That’s very well said about invisibility and the emergence of what has long been invisible. It’s coming to the surface now. We still have about a hundred years before the Aquarian age technically begins. The next hundred years will be crucial in the relationships between humanity and Hierarchy. |
Điều đó được nói rất hay về tính vô hình và sự xuất hiện của điều đã vô hình từ lâu. Nó đang trồi lên bề mặt. Chúng ta vẫn còn khoảng một trăm năm trước khi kỷ nguyên Bảo Bình chính thức bắt đầu. Một trăm năm tới sẽ mang tính quyết định trong các mối quan hệ giữa nhân loại và Thánh Đoàn. |
||||||||
|
Hierarchy too has been invisible. It’s going to be visible now, and that’s going to make a big difference. It will be consulted because things may become very difficult, and that kind of counsel will be needed by all humanity. |
Thánh Đoàn cũng đã từng vô hình. Bây giờ Thánh Đoàn sẽ trở nên hữu hình, và điều đó sẽ tạo nên một khác biệt lớn. Thánh Đoàn sẽ được tham vấn, bởi mọi sự có thể trở nên rất khó khăn, và loại cố vấn ấy sẽ cần thiết cho toàn thể nhân loại. |
||||||||
|
If this is all I see completed, we’ll do our best to get this up on Makara and on YouTube. If you wish to review it, you can. The way the books are slowly going up—my apologies for my condition, but I’m doing what I can. It’s probably the result of attempting to do too much. |
Nếu đây là tất cả những gì tôi thấy đã hoàn tất, chúng tôi sẽ cố gắng hết sức để đưa phần này lên Makara và YouTube. Nếu các bạn muốn xem lại, các bạn có thể. Cách các sách đang từ từ được đưa lên—tôi xin lỗi về tình trạng của mình, nhưng tôi đang làm những gì có thể. Có lẽ đó là kết quả của việc cố gắng làm quá nhiều. |
||||||||
|
Tuija and I and everybody—Olivia and the communications team—wish you so much clarity and love and understanding and effectiveness as you tread the esoteric way. Your helpfulness, Beale and Joe and Michael and Michael Stacy and all that are here with us constantly. We all wish you great love and the improvement of your spiritual life. |
Tuija và tôi, cùng mọi người—Olivia và nhóm truyền thông—chúc các bạn thật nhiều sự sáng tỏ, tình thương, thấu hiểu và hiệu quả khi các bạn bước trên con đường huyền bí. Sự hữu ích của các bạn, Beale và Joe và Michael và Michael Stacy cùng tất cả những người luôn hiện diện với chúng tôi. Tất cả chúng tôi chúc các bạn tình thương lớn lao và sự cải thiện đời sống tinh thần của các bạn. |
||||||||
|
As we listen closely to the Master whose degree of expertise in all these matters is quite astonishing, let us hearken carefully to what he has to say. Thank you everybody. |
Khi chúng ta lắng nghe chăm chú Chân sư, Đấng có mức độ tinh thông trong tất cả những vấn đề này thật đáng kinh ngạc, chúng ta hãy chú tâm lắng nghe điều Ngài phải nói. Cảm ơn tất cả các bạn. |
||||||||
|
Michael, is it possible to stay on a little bit so that we can get certain things straightened out? We would say goodbye to everybody else at this time. |
Michael, có thể ở lại thêm một chút để chúng ta làm rõ một số việc không? Lúc này chúng ta sẽ nói lời tạm biệt với tất cả những người khác. |
||||||||
|
I’ll get to you and we can try to work on those few technical things which have been problematic. I’m trying to figure out how not to cancel the whole program. |
Tôi sẽ đến với bạn và chúng ta có thể cố gắng xử lý vài vấn đề kỹ thuật đã gây khó khăn. Tôi đang cố tìm cách để không hủy toàn bộ chương trình. |
||||||||
|
We’ll stop the recording now. Lots of fun. |
Bây giờ chúng ta sẽ dừng ghi hình. Rất vui. |
||||||||
|
Webinar 187 |
Webinar 187 |
||||||||
|
Abstract |
Tóm tắt |
||||||||
|
Dissipation of Glamour Initiative webinar 187, reading no. 123. The reading was from Glamour: A World Problem, pages 201–203. Michael began with a review from his last reading that temporary and illusory glamors must not be permitted to hide the Real, and reality will precipitate itself at the right moment once the higher light pours in. |
Webinar Sáng Kiến Xua Tan Ảo cảm 187, bài đọc số 123. Bài đọc trích từ Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới, các trang 201–203. Michael bắt đầu bằng phần ôn lại từ bài đọc trước của ông rằng các ảo cảm tạm thời và ảo tưởng không được phép che khuất Cái Thực, và thực tại sẽ tự ngưng tụ vào đúng thời điểm một khi ánh sáng cao siêu tuôn vào. |
||||||||
|
Groups working consciously at the service of dissipating glamor will have the following characteristics: they will be composed of sixth ray aspirants and disciples, aided by second ray spiritual workers; they will be formed of those learning to dissipate their own individual glamors, are focused on the mental plane with some measure of mental illumination who are mastering the Technique of Light; they are aware of the nature of the glamors which they are attempting to dissipate and can use the illumined mind as a searchlight. |
Các nhóm hoạt động một cách có ý thức trong sự phụng sự làm tiêu tan ảo cảm sẽ có những đặc tính sau: họ sẽ gồm những người chí nguyện và đệ tử cung sáu, được những người hoạt động tinh thần cung hai trợ giúp; họ sẽ được hình thành từ những người đang học cách làm tiêu tan các ảo cảm cá nhân của chính mình, tập trung trên cõi trí với một mức độ soi sáng trí tuệ nào đó và đang làm chủ Kỹ Thuật Ánh sáng; họ ý thức về bản chất của các ảo cảm mà họ đang cố gắng làm tiêu tan và có thể dùng thể trí được soi sáng như một ngọn đèn pha. |
||||||||
|
They include those who are developing the following powers: the power to recognize the glamor and discriminate between the many types of glamor; the power to appropriate the light, absorbing it into themselves and then consciously and scientifically project it into the world of glamor; and the power to use the light by a conscious use of the will, carrying energy upon the beam of projected light with a persistent and steady focus. |
Họ bao gồm những người đang phát triển các quyền năng sau: quyền năng nhận ra ảo cảm và phân biện giữa nhiều loại ảo cảm; quyền năng chiếm hữu ánh sáng, hấp thụ nó vào chính mình rồi phóng chiếu nó một cách có ý thức và khoa học vào thế giới ảo cảm; và quyền năng sử dụng ánh sáng bằng cách sử dụng ý chí một cách có ý thức, mang năng lượng trên chùm ánh sáng được phóng chiếu với một sự tập trung bền bỉ và vững vàng. |
||||||||
|
This beam, thus projected, has a twofold use. It works exclusively and dynamically, much as a strong wind blows away or dissipates a dense fog or as the rays of the sun dry up and absorb the mist. It acts also as a beam so the divine intention can enter—the new ideas and desired ideals can come in on the beam. |
Chùm sáng này, khi được phóng chiếu như vậy, có công dụng nhị phân. Nó hoạt động theo cách tống xuất và năng động, rất giống như một cơn gió mạnh thổi tan hoặc làm tiêu tan một làn sương mù dày đặc, hay như các tia mặt trời làm khô và hấp thụ màn sương. Nó cũng hoạt động như một chùm sáng để ý định thiêng liêng có thể đi vào—những ý tưởng mới và các lý tưởng được mong muốn có thể đi vào trên chùm sáng. |
||||||||
|
The meditation was on the glamor of selfish desire. This meeting was held on November 12, 2021. |
Bài tham thiền là về ảo cảm của dục vọng ích kỷ. Buổi họp này được tổ chức vào ngày 12 tháng 11 năm 2021. |
||||||||
|
Text |
Văn bản |
||||||||
|
It will be apparent to you, therefore, that groups working consciously at the service of dissipating glamour will have the following characteristics: [1a] |
Các bạn sẽ thấy rõ, do đó, rằng những nhóm hoạt động một cách có ý thức trong sự phụng sự làm tiêu tan ảo cảm sẽ có những đặc tính sau: [1a] |
||||||||
|
1. They will be composed of sixth ray aspirants and disciples, aided by second ray spiritual workers. [1b] |
1. Họ sẽ gồm những người chí nguyện và đệ tử cung sáu, được những người hoạt động tinh thần cung hai trợ giúp. [1b] |
||||||||
|
2. They will be formed of those who: |
2. Họ sẽ được hình thành từ những người: |
||||||||
|
a. Are learning or have learnt to dissipate their own individual glamours and can bring understanding to the task. [1c] |
a. Đang học, hoặc đã học, cách làm tiêu tan các ảo cảm cá nhân của chính mình và có thể đem sự thấu hiểu vào nhiệm vụ ấy. [1c] |
||||||||
|
b. Are focussed upon the mental plane and have, therefore, some measure of mental illumination. They are mastering the Technique of Light. [1d] |
b. Được tập trung trên cõi trí và vì thế có một mức độ soi sáng trí tuệ nào đó. Họ đang làm chủ Kỹ Thuật Ánh sáng. [1d] |
||||||||
|
c. Are aware of the nature of the glamours which they are attempting to dissipate and can use the illumined mind as a searchlight. [1e] |
c. Ý thức về bản chất của các ảo cảm mà họ đang cố gắng làm tiêu tan và có thể dùng thể trí được soi sáng như một ngọn đèn pha. [1e] |
||||||||
|
3. They will count among their numbers those who (occultly speaking) have the following powers in process of rapid development: [1f] |
3. Trong số họ sẽ có những người, nói theo huyền bí học, có các quyền năng sau đang trong tiến trình phát triển nhanh chóng: [1f] |
||||||||
|
a. The power not only to recognise glamour for what it is, but to discriminate between the various and many types of glamour. [1g] |
a. Quyền năng không chỉ nhận ra ảo cảm đúng như bản chất của nó, mà còn phân biện giữa nhiều loại ảo cảm khác nhau. [1g] |
||||||||
|
b. The power to appropriate the light, absorbing it into themselves and then consciously and scientifically project it into the world of glamour. The [Page 202] Masters, the higher initiates and the world disciples do this alone, if need be, and require not the protection of the group or the aid of the light of the group members. [1h] |
b. Quyền năng chiếm hữu ánh sáng, hấp thụ nó vào chính mình rồi phóng chiếu nó một cách có ý thức và khoa học vào thế giới ảo cảm. Các Chân sư, các điểm đạo đồ cao hơn và các đệ tử thế gian làm điều này một mình, nếu cần, và không cần sự bảo vệ của nhóm hay sự trợ giúp của ánh sáng từ các thành viên trong nhóm. [1h] |
||||||||
|
c. The power to use the light not only through absorption and projection but also by a conscious use of the will, carrying energy upon the beam of projected light. To this they add a persistent and steady focus. [1i] This beam, thus projected, has a twofold use: It works expulsively and dynamically, much as a strong wind blows away or dissipates a dense fog or as the rays of the sun dry up and absorb the mist. [1j] It acts also as a beam along which that which is new and a part of the divine intention can enter. [1k] The new ideas and the desired ideals can come in “on the beam,” just as the beam directs and brings in the airplanes to a desired landing place. [1l] |
c. Quyền năng sử dụng ánh sáng không chỉ qua sự hấp thụ và phóng chiếu, mà còn bằng cách sử dụng ý chí một cách có ý thức, mang năng lượng trên chùm ánh sáng được phóng chiếu. Với điều này họ thêm vào một sự tập trung bền bỉ và vững vàng. [1i] Chùm sáng này, khi được phóng chiếu như vậy, có công dụng nhị phân: nó hoạt động theo cách tống xuất và năng động, rất giống như một cơn gió mạnh thổi tan hoặc làm tiêu tan một làn sương mù dày đặc, hay như các tia mặt trời làm khô và hấp thụ màn sương. [1j] Nó cũng hoạt động như một chùm sáng, dọc theo đó điều mới mẻ và là một phần của ý định thiêng liêng có thể đi vào. [1k] Những ý tưởng mới và các lý tưởng được mong muốn có thể đi vào “trên chùm sáng”, cũng như chùm sáng hướng dẫn và đưa máy bay đến nơi hạ cánh mong muốn. [1l] |
||||||||
|
Commentary |
Bình giảng |
||||||||
|
That Reality will precipitate itself at the right moment once the higher light pours in. They are indicative of the Real and are often mistaken for the Real; they are in conflict with the old thoughts and desires of the past and must eventually give place to the factual presence of the [Page 201] Real. They provide (in times of crisis) the great testing for all aspirants and disciples, evoking the subtlest kind of discrimination; but once that testing has been triumphantly passed, then can the task of dissipating both these types of glamour be given to the disciple and aspirant, with the emphasis upon the immediate need or any particular and current world glamour. |
Thực tại ấy sẽ tự ngưng tụ vào đúng thời điểm một khi ánh sáng cao siêu tuôn vào. Chúng biểu thị Cái Thực và thường bị lầm là Cái Thực; chúng xung đột với những tư tưởng và dục vọng cũ của quá khứ, và cuối cùng phải nhường chỗ cho sự hiện diện thực tế của Cái Thực. Trong những thời kỳ khủng hoảng, chúng cung cấp cuộc thử thách lớn cho tất cả người chí nguyện và đệ tử, gợi lên loại phân biện tinh tế nhất; nhưng một khi cuộc thử thách ấy đã được vượt qua một cách vẻ vang, thì nhiệm vụ làm tiêu tan cả hai loại ảo cảm này có thể được trao cho đệ tử và người chí nguyện, với trọng tâm đặt vào nhu cầu tức thời hoặc bất kỳ ảo cảm thế giới đặc thù và hiện hành nào. |
||||||||
|
I shall read a tiny bit of this segue. It’s about reality, precipitating itself at the right moment, once the higher light pours in, and we all want that higher light. That is the light minimally of the soul, of the triad, of Monad, and eventually, when we are ourselves masters and ascended masters, like the Christ and the Buddha, then we’ll be dealing with either higher sources. |
Tôi sẽ đọc một chút rất ngắn về phần chuyển tiếp này. Nó nói về thực tại, tự ngưng tụ vào đúng thời điểm một khi ánh sáng cao siêu tuôn vào, và tất cả chúng ta đều muốn ánh sáng cao siêu ấy. Đó tối thiểu là ánh sáng của linh hồn, của Tam nguyên tinh thần, của chân thần, và cuối cùng, khi chính chúng ta là các Chân sư và các Chân sư thăng thiên, như Đức Christ và Đức Phật, thì chúng ta sẽ bàn đến những nguồn còn cao hơn nữa. |
||||||||
|
The light pours in, and these experiences which are not permitted to hide the real. They are indicative of the real and are often mistaken for the real. There is the glamorous, illusory conditions are often mistaken for the real, and DK says they are in conflict—the higher light is in conflict with these old thoughts and old desires. As a matter of fact, today we’re going to be meditating upon the glamour of selfish desire, which is such an obstacle in the present day relationship between the Dweller of humanity and its Angel of the Presence. |
Ánh sáng tuôn vào, và những kinh nghiệm này không được phép che khuất cái thực. Chúng biểu thị cái thực và thường bị lầm là cái thực. Những tình trạng ảo cảm, ảo tưởng thường bị lầm là cái thực, và Chân sư DK nói chúng đang xung đột—ánh sáng cao siêu đang xung đột với những tư tưởng cũ và dục vọng cũ này. Thật ra, hôm nay chúng ta sẽ tham thiền về ảo cảm của dục vọng ích kỷ, vốn là một chướng ngại lớn trong mối quan hệ hiện nay giữa Kẻ Chận Ngõ của nhân loại và Thiên Thần của Hiện Diện của nhân loại. |
||||||||
|
These higher impressions are the real, and they are in conflict with the thoughts and desires of the past, and must eventually give place to the factual Presence of the real. Now, that’s quite a word. It’s a philosophical word, and there’s so many different ways of defining what is real. Real sometimes means the thing is in itself, or the actual and the true—real is maybe much higher, but sometimes we just have to let all that go and just talk about what is real as far as our knowledge of the etheric-physical plane and the different energies that the ethers carry. |
Những ấn tượng cao siêu này là cái thực, và chúng xung đột với các tư tưởng và dục vọng của quá khứ, và cuối cùng phải nhường chỗ cho Hiện Diện thực tế của cái thực. Đó là một từ rất đáng chú ý. Đó là một từ triết học, và có rất nhiều cách khác nhau để định nghĩa điều gì là thực. Thực đôi khi có nghĩa là sự vật trong chính nó, hoặc cái hiện thực và chân thật—thực có lẽ cao hơn nhiều, nhưng đôi khi chúng ta chỉ cần buông tất cả điều đó xuống và nói về điều gì là thực trong phạm vi hiểu biết của chúng ta về cõi dĩ thái-hồng trần và các năng lượng khác nhau mà các dĩ thái mang theo. |
||||||||
|
He says they provide, in times of crisis, the great testing for all aspirants and disciples, evoking the subtlest kind of discrimination. The higher we go, the more subtle must be the discrimination, the discernment, which cannot be achieved easily, simply within the personality. But once that testing has been triumphantly passed—think of Scorpio, think of the Buddhic plane, think of where the human monads are gathered as the creative hierarchy of initiates. That’s what they’re called. They’re either the fourth or the ninth creative hierarchy. That’s the triumph. And once the testing as to discrimination has been passed, then the task of dissipating both these types of glamours is given to the aspirant, to the disciple and aspirant with the emphasis upon immediate need of any particular current world clamor. |
Ngài nói rằng, trong những thời kỳ khủng hoảng, chúng cung cấp cuộc thử thách lớn cho tất cả người chí nguyện và đệ tử, gợi lên loại phân biện tinh tế nhất. Chúng ta càng lên cao, sự phân biện, phân biện tinh thần càng phải tinh tế hơn, điều không thể đạt được dễ dàng chỉ đơn giản trong phàm ngã. Nhưng một khi cuộc thử thách ấy đã được vượt qua một cách vẻ vang—hãy nghĩ đến Hổ Cáp, hãy nghĩ đến cõi Bồ đề, hãy nghĩ đến nơi các chân thần nhân loại được quy tụ như Huyền Giai Sáng Tạo của các điểm đạo đồ. Đó là tên gọi của họ. Họ hoặc là Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư hoặc thứ chín. Đó là chiến thắng. Và một khi cuộc thử thách về phân biện đã được vượt qua, thì nhiệm vụ làm tiêu tan cả hai loại ảo cảm này được trao cho người chí nguyện, cho đệ tử và người chí nguyện, với trọng tâm đặt vào nhu cầu tức thời của bất kỳ ảo cảm thế giới hiện hành đặc thù nào. |
||||||||
|
At different times, different types of glamours are prominent, and we must be sensitive and discerning as to which of the glamours really is interfering with human progress. Right now, there is a lot of selfish desire, the lust for power, against which DK warns in the Telepathy book. And by the way, I’ve sent out to a lot of people and so has BL even more, the first 21 or so programs of Telepathy and the Etheric Vehicle. It is a wonderful book, and not easy to understand—I don’t find it easy—but at least many of you will be able to access it. And if you have time, you can get into it. When it talks about or we talk about the Tibetan’s writings, they are so voluminous that the question arises always: for what do we really have time? That’s the question. We have to make that time. |
Vào những thời điểm khác nhau, những loại ảo cảm khác nhau trở nên nổi bật, và chúng ta phải nhạy bén, có phân biện tinh thần về loại ảo cảm nào thật sự đang cản trở tiến bộ của nhân loại. Hiện nay có rất nhiều ham muốn ích kỷ, lòng thèm khát quyền lực, điều mà Chân sư DK đã cảnh báo trong sách Viễn Cảm. Nhân tiện, tôi đã gửi cho nhiều người, và BL còn gửi nhiều hơn nữa, khoảng hai mươi mốt chương trình đầu tiên của Viễn Cảm và Hiện Thể Dĩ Thái. Đó là một cuốn sách tuyệt vời, và không dễ thấu hiểu — tôi không thấy nó dễ — nhưng ít nhất nhiều người trong các bạn sẽ có thể tiếp cận nó. Nếu có thời gian, các bạn có thể đi vào nghiên cứu. Khi sách nói đến, hoặc khi chúng ta nói đến, các tác phẩm của Chân sư Tây Tạng, chúng quá đồ sộ đến nỗi câu hỏi luôn luôn nảy sinh: chúng ta thật sự có thời gian cho điều gì? Đó là câu hỏi. Chúng ta phải tạo ra thời gian ấy. |
||||||||
|
Now we go on with further reading, starting on page 201, and I’ll try to, as usual, discriminate between the Tibetan’s words and what I may add, so everything, hopefully, will be clear. This is the Tibetan speaking. |
Chúng ta tiếp tục đọc thêm, bắt đầu từ trang 201, và như thường lệ, tôi sẽ cố gắng phân biện giữa lời của Chân sư Tây Tạng và điều tôi có thể thêm vào, để hy vọng mọi sự sẽ rõ ràng. Đây là Chân sư Tây Tạng đang nói. |
||||||||
|
It will be apparent to you, therefore, that groups working consciously at the service of dissipating grammar, will have the following characteristics. [1a] |
Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ rằng những nhóm hoạt động một cách có ý thức trong việc phụng sự làm tiêu tan ảo cảm sẽ có các đặc điểm sau đây. [1a] |
||||||||
|
The Tibetan was trying to create in the second group of Trained Observers, which had an activation of the same centers as the religious group: the head center, the heart center, and the solar plexus. It’s around page 40 of Discipleship in the New Age where we see the three centers that are activated in this group of Trained Observers. He never got very far with this because of the precipitation of the second part of the Great War, that precipitation being called World War Two. He had to discontinue the groups of nine and reorganized everything. But since the whole project is a 275 year project, we can pretty well imagine that it will take almost until the year 2200 for this project really to be launched. |
Chân sư Tây Tạng đã cố gắng tạo ra trong nhóm thứ hai của Các Nhà Quan Sát Lão Luyện một sự kích hoạt các trung tâm giống như nhóm tôn giáo: trung tâm đầu, trung tâm tim và tùng thái dương. Vào khoảng trang 40 của Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, chúng ta thấy ba trung tâm được kích hoạt trong nhóm Các Nhà Quan Sát Lão Luyện này. Ngài chưa đi được xa với công việc này vì sự ngưng tụ của phần thứ hai của Đại Chiến, sự ngưng tụ ấy được gọi là Thế Chiến thứ Hai. Ngài đã phải ngưng các nhóm chín người và tổ chức lại mọi sự. Nhưng vì toàn bộ dự án là một dự án kéo dài 275 năm, chúng ta có thể khá dễ hình dung rằng phải gần đến năm 2200 thì dự án này mới thật sự được khởi động. |
||||||||
|
Let’s take a look here and see what they might be, because perhaps some of us are interested in particularly working with his group. We want to go to approximately page 40, and maybe right under it, we will see the head, the heart and the solar plexus centers. How could I forget that, since the sixth ray is very important in the dissipation of glamour, and of course, for the religious group, the same. DK says an interesting thing: he says they are necessarily the same as those of group two. |
Chúng ta hãy xem ở đây chúng có thể là gì, vì có lẽ một số chúng ta đặc biệt quan tâm đến việc hoạt động với nhóm của Ngài. Chúng ta muốn đến khoảng trang 40, và có thể ngay bên dưới đó, chúng ta sẽ thấy các trung tâm đầu, tim và tùng thái dương. Làm sao tôi có thể quên điều đó, vì cung sáu rất quan trọng trong việc làm tiêu tan ảo cảm, và dĩ nhiên, đối với nhóm tôn giáo cũng vậy. Chân sư DK nói một điều thú vị: Ngài nói chúng tất yếu giống với những trung tâm của nhóm hai. |
||||||||
|
It would be up to us to try to discern from page 41 of Discipleship in the New Age, Volume One. It’s a very rich section which tells about the new seed groups, and as you know, David Hopper is doing a whole series every month on the seed groups, so do your best to pick up those programs when they do occur. Now, going back to where I thought I was. |
Chúng ta cần cố gắng phân biện từ trang 41 của Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, Quyển Một. Đó là một phần rất phong phú nói về các nhóm hạt giống mới, và như các bạn biết, David Hopper đang thực hiện cả một loạt chương trình hằng tháng về các nhóm hạt giống, nên hãy cố gắng hết sức để theo dõi những chương trình ấy khi chúng diễn ra. Trở lại chỗ tôi nghĩ mình đang ở. |
||||||||
|
It will be apparent to you, therefore, that groups working consciously at the service of dissipating glamour will have the following characteristics: |
Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ rằng những nhóm hoạt động một cách có ý thức trong việc phụng sự làm tiêu tan ảo cảm sẽ có các đặc điểm sau đây: |
||||||||
|
Let’s evaluate whether this is the kind of group that we would be participating in. I would say all of us have to take an interest in all the groups, but as far as which seed group might be ours, that is a different matter. |
Chúng ta hãy đánh giá xem đây có phải là loại nhóm mà chúng ta sẽ tham gia hay không. Tôi muốn nói rằng tất cả chúng ta đều phải quan tâm đến mọi nhóm, nhưng nhóm hạt giống nào có thể là của chúng ta thì lại là một vấn đề khác. |
||||||||
|
1. They will be composed of sixth ray aspirants and disciples, aided by second ray spiritual workers. [1b] |
1. Chúng sẽ gồm những người chí nguyện và đệ tử cung sáu, được trợ giúp bởi những người hoạt động tinh thần cung hai. [1b] |
||||||||
|
What we seem to understand from this is that the spiritual workers are on a higher turn of the spiral than the aspirants and disciples on the sixth ray. Those who are wielding the second ray have a deeper and greater understanding than those who are the confirmed idealists, except perhaps in special circumstances where you do have some very high idealists. |
Điều dường như chúng ta thấu hiểu từ đây là những người hoạt động tinh thần ở trên một vòng xoắn cao hơn so với những người chí nguyện và đệ tử thuộc cung sáu. Những người vận dụng cung hai có sự thấu hiểu sâu xa và rộng lớn hơn những người là các nhà lý tưởng đã xác lập, trừ có lẽ trong những hoàn cảnh đặc biệt khi thật sự có một số nhà lý tưởng rất cao. |
||||||||
|
Those involved in the dissipation of glamour will have the following characteristics. They will be composed of sixth ray aspirants and disciples, aided by secondary spiritual workers |
Những người tham dự vào việc làm tiêu tan ảo cảm sẽ có các đặc điểm sau đây. Họ sẽ gồm những người chí nguyện và đệ tử cung sáu, được trợ giúp bởi những người hoạt động tinh thần cung hai |
||||||||
|
Do you know of any sign of the zodiac which particularly features the second and the sixth ray? I know you do, and that would be Pisces, especially—maybe there are some others. I’d have to review that in my mind, but Pisces for sure brings in the second and the sixth rays. Now, what other characteristics? |
Các bạn có biết dấu hiệu hoàng đạo nào đặc biệt biểu lộ cung hai và cung sáu không? Tôi biết các bạn biết, và đó sẽ là Song Ngư, đặc biệt là vậy — có thể còn một số dấu hiệu khác. Tôi sẽ phải ôn lại điều đó trong trí, nhưng chắc chắn Song Ngư mang vào các cung hai và sáu. Còn những đặc điểm nào khác? |
||||||||
|
2. They will be formed of those who: |
2. Chúng sẽ được hình thành từ những người: |
||||||||
|
And this is a multiple multi part statement. |
Và đây là một mệnh đề gồm nhiều phần. |
||||||||
|
They will be formed of those who: |
Chúng sẽ được hình thành từ những người: |
||||||||
|
a. Are learning or have learnt to dissipate their own individual glamours and can bring understanding to the task. [1c] |
a. Đang học hoặc đã học cách làm tiêu tan các ảo cảm cá nhân của chính mình và có thể đem sự thấu hiểu vào công việc ấy. [1c] |
||||||||
|
There we find the second ray strong, and that’s one qualification. |
Ở đó chúng ta thấy cung hai mạnh mẽ, và đó là một phẩm chất cần có. |
||||||||
|
b. Are focussed upon the mental plane and have, therefore, some measure of mental illumination. They are mastering the Technique of Light. [1d] |
b. Tập trung trên cõi trí và do đó có một mức độ soi sáng trí tuệ nào đó. Họ đang làm chủ Kỹ Thuật Ánh sáng. [1d] |
||||||||
|
That is the techniques that we largely use in our glamour meditations to contribute to the dissipation of individual and also world glamour. |
Đó là các kỹ thuật mà chúng ta phần lớn sử dụng trong các bài tham thiền về ảo cảm của mình để góp phần vào việc làm tiêu tan ảo cảm cá nhân cũng như ảo cảm thế giới. |
||||||||
|
Focus on the mental plane. |
Tập trung trên cõi trí. |
||||||||
|
In the sequence of meditations beginning from Leo, giving us concentration, and going all the way to Pisces which gives us identification, we find interestingly that Scorpio rules mental illumination. Of course, you can be mentally illuminated with any of the signs being prominent, but it has a lot to do with working in the last three petals of the outer Egoic Lotus, the nine outer petals of Lotus. I would recommend if you have time, that you pay attention to my book, which is a video book called The Egoic Lotus; there’s a lot in there that may be of value to you. |
Trong chuỗi các bài tham thiền bắt đầu từ Sư Tử, đem lại cho chúng ta sự tập trung, và đi suốt đến Song Ngư, đem lại cho chúng ta sự đồng hóa với, thật thú vị khi thấy rằng Hổ Cáp cai quản sự soi sáng trí tuệ. Dĩ nhiên, các bạn có thể được soi sáng trí tuệ với bất kỳ dấu hiệu nào nổi bật, nhưng điều này có liên hệ nhiều đến việc hoạt động trong ba cánh hoa cuối của Hoa Sen Chân Ngã bên ngoài, chín cánh hoa bên ngoài của Hoa sen. Nếu có thời gian, tôi khuyên các bạn nên chú ý đến cuốn sách của tôi, một cuốn sách video có tên Hoa Sen Chân Ngã; trong đó có nhiều điều có thể có giá trị cho các bạn. |
||||||||
|
They are focused upon the mental plane, and they have some measure of illumination if they’re going to be really working properly, wisely, effectively as dissipators of glamour. You know the words, don’t you? Disperse maya, you dissipate glamour, you dispel illusion. DK is not always exacting in the use of those words. He sometimes talks about the illusions of the astral plane, and he does not confine them only to the mental vehicle. When he is operating loosely, we find these words are interchangeable. |
Họ tập trung trên cõi trí, và họ có một mức độ soi sáng nào đó nếu họ thật sự muốn hoạt động đúng đắn, minh triết và hiệu quả như những người làm tiêu tan ảo cảm. Các bạn biết những từ ấy, phải không? Xua tan ảo lực, làm tiêu tan ảo cảm, xua trừ ảo tưởng. Chân sư DK không phải lúc nào cũng thật chính xác trong việc dùng các từ ấy. Đôi khi Ngài nói về những ảo tưởng của cõi cảm dục, và Ngài không giới hạn chúng chỉ trong hiện thể trí tuệ. Khi Ngài sử dụng một cách rộng, chúng ta thấy các từ này có thể thay thế cho nhau. |
||||||||
|
The important thing is to be rid of these confinements, these misleading states, which prevent us from receiving energy flows from ever higher points of tension. If we’re solidly in the grips of some kind of glamour or illusion, how will the truth get through? There’s more than one thing, but one of the things about the study of esotericism is that the true student wants the truth of things and is not satisfied with vaguer feelings, and the sort of “I have a feeling” kind of unconscious telepathy. The science of impression rather must work, and the science of the supreme science of contact must be somewhat understood. |
Điều quan trọng là thoát khỏi những giới hạn ấy, những trạng thái gây lầm lạc ấy, vốn ngăn cản chúng ta tiếp nhận các dòng năng lượng từ những điểm tập trung nhất tâm ngày càng cao hơn. Nếu chúng ta bị nắm chặt trong một loại ảo cảm hay ảo tưởng nào đó, thì chân lý sẽ xuyên qua bằng cách nào? Có hơn một điều, nhưng một trong những điều về việc nghiên cứu huyền bí học là đạo sinh chân chính muốn chân lý của sự vật và không thỏa mãn với những cảm xúc mơ hồ hơn, cũng như kiểu viễn cảm vô thức thuộc loại “tôi có cảm giác”. Thay vào đó, khoa học về ấn tượng phải hoạt động, và khoa học của khoa học tối thượng về tiếp xúc phải được thấu hiểu phần nào. |
||||||||
|
Who else will be fulfilling these characteristics, the service of dissipating glamour? A lot of people will say, “What kind of service is that?” But we know from our spiritual occultism that this hidden factor, hidden from most, is a great retardant to contact with ever higher levels of reality. |
Ai khác sẽ đáp ứng các đặc điểm này, việc phụng sự làm tiêu tan ảo cảm? Nhiều người sẽ nói: “Đó là loại phụng sự gì?” Nhưng từ huyền bí học tinh thần của mình, chúng ta biết rằng yếu tố ẩn giấu này, ẩn đối với đa số, là một tác nhân trì hoãn lớn đối với sự tiếp xúc với các cấp độ thực tại ngày càng cao hơn. |
||||||||
|
Sixth ray aspirants, second ray spiritual workers—these are subtle distinctions because a worker is not necessarily an aspirant or vice versa. A spiritual worker has, strictly speaking, gone beyond the state of aspiration, and some disciples could work harder than they do. That’s why one of the final things that DK said to his group was an awakening thing. He said, “Work, my brothers.” And then he also said, “I’ve finished my responsibility, and now over to you. I’m handing the responsibility to you.” So there’s no escape from the idea of work. |
Những người chí nguyện cung sáu, những người hoạt động tinh thần cung hai — đây là những phân biệt tinh tế, vì một người hoạt động không nhất thiết là một người chí nguyện, hoặc ngược lại. Nói nghiêm túc, một người hoạt động tinh thần đã vượt qua trạng thái khát vọng, và một số đệ tử có thể làm việc chăm chỉ hơn mức họ đang làm. Đó là lý do một trong những điều cuối cùng mà Chân sư DK nói với nhóm của Ngài là một điều đánh thức. Ngài nói: “Hãy làm việc, Các huynh đệ của Tôi.” Rồi Ngài cũng nói: “Tôi đã hoàn tất trách nhiệm của mình, và giờ đến lượt các bạn. Tôi trao trách nhiệm cho các bạn.” Vì vậy không có cách nào tránh khỏi ý tưởng về công việc. |
||||||||
|
And then point c. |
Và rồi đến điểm c. |
||||||||
|
c. Are aware of the nature of the glamours which they are attempting to dissipate and can use the illumined mind as a searchlight. [1e] |
c. Ý thức được bản chất của các ảo cảm mà họ đang cố gắng làm tiêu tan và có thể dùng thể trí được soi sáng như một ngọn đèn pha. [1e] |
||||||||
|
Perhaps glamours are not so frequently found, because they have a way of deceiving us. They have a way of masquerading. They have a way of hiding as “Well, that’s just how I am”. Many people thereby mask a real glamour problem. A study of how various glamours work to block or mislead us from the truth, or mislead us into non-truth, is necessary. |
Có lẽ các ảo cảm không thường xuyên được nhận ra, vì chúng có cách đánh lừa chúng ta. Chúng có cách ngụy trang. Chúng có cách ẩn mình dưới dạng “đó chỉ là con người tôi thôi”. Bằng cách đó, nhiều người che giấu một vấn đề ảo cảm thật sự. Cần nghiên cứu cách các ảo cảm khác nhau hoạt động để chặn đứng hoặc khiến chúng ta lạc khỏi chân lý, hoặc dẫn chúng ta vào điều không phải chân lý. |
||||||||
|
This awareness of the nature of the glamours—that’s number one in this section c. The illumined mind can be used, as we are attempting to use it, as a search light. That search light is good for at least a couple of things. It’s useful for detecting a glamour when it may be present, and it’s also useful for dissipating the glamours which are detected. It’s a bit like the spiral horn of the unicorn, only it is made of light. It’s the mark, when used properly, of the initiate. |
Sự ý thức về bản chất của các ảo cảm — đó là điểm thứ nhất trong phần c này. Thể trí được soi sáng có thể được dùng, như chúng ta đang cố gắng dùng, như một ngọn đèn pha. Ngọn đèn pha ấy hữu ích ít nhất cho vài điều. Nó hữu ích để phát hiện một ảo cảm khi nó có thể hiện diện, và nó cũng hữu ích để làm tiêu tan các ảo cảm đã được phát hiện. Nó hơi giống chiếc sừng xoắn ốc của kỳ lân, chỉ khác là nó được làm bằng ánh sáng. Khi được sử dụng đúng đắn, đó là dấu hiệu của điểm đạo đồ. |
||||||||
|
We must remember what we’re doing. Of course, I’m speaking to myself when I say that. But it’s of value to remember. |
Chúng ta phải nhớ mình đang làm gì. Dĩ nhiên, khi nói điều đó, tôi đang nói với chính mình. Nhưng việc nhớ lại là điều có giá trị. |
||||||||
|
Those who are working at the dissipating of glamour have these characteristics. They’re on the sixth ray, they’re on the second ray, they recognize their own glamours, and can bring understanding to the task. Understanding is a great second ray quality. They are focused on the mental plane and can bring mental illumination to the work. They have studied the glamours, and they use the illumined mind in a dual manner to discover and to dissipate both. What else? |
Những người hoạt động trong việc làm tiêu tan ảo cảm có các đặc điểm này. Họ thuộc cung sáu, họ thuộc cung hai, họ nhận ra các ảo cảm của chính mình và có thể đem sự thấu hiểu vào công việc. Sự thấu hiểu là một phẩm tính lớn của cung hai. Họ tập trung trên cõi trí và có thể đem sự soi sáng trí tuệ vào công việc. Họ đã nghiên cứu các ảo cảm, và họ dùng thể trí được soi sáng theo một cách kép để khám phá và làm tiêu tan cả hai. Còn gì nữa? |
||||||||
|
3. They will count among their numbers those who (occultly speaking) have the following powers in process of rapid development: [1f] |
3. Trong số họ sẽ có những người, nói theo huyền bí học, có các quyền năng sau đây đang trong tiến trình phát triển nhanh chóng: [1f] |
||||||||
|
They’re working in groups and their associates are these kinds of individuals, and we’ll see what kind of individuals they are. |
Họ hoạt động trong các nhóm, và các cộng sự của họ là những cá nhân thuộc loại này, và chúng ta sẽ thấy họ là loại cá nhân nào. |
||||||||
|
a. The power not only to recognise glamour for what it is, but to discriminate between the various and many types of glamour. [1g] |
a. Quyền năng không chỉ nhận ra ảo cảm đúng như bản chất của nó, mà còn phân biện giữa nhiều loại ảo cảm khác nhau. [1g] |
||||||||
|
DK was doing this all the time, and he was naming special glamours that maybe were not listed in the book in relation to certain people. He would say it’s difficult to put one’s finger on the glamour to which you are subject, maybe I will call it this. So he had a very discerning understanding of the distinction between various types of glamour. |
Chân sư DK luôn luôn làm điều này, và Ngài gọi tên những ảo cảm đặc biệt có lẽ không được liệt kê trong sách liên quan đến một số người nhất định. Ngài có thể nói rằng khó đặt ngón tay đúng vào ảo cảm mà các bạn đang chịu ảnh hưởng, có lẽ Tôi sẽ gọi nó là thế này. Vì vậy Ngài có một sự thấu hiểu rất phân biện về sự khác biệt giữa các loại ảo cảm khác nhau. |
||||||||
|
That’s another thing they will have. |
Đó là một điều khác mà họ sẽ có. |
||||||||
|
b. The power to appropriate the light, absorbing it into themselves and then consciously and scientifically project it into the world of glamour. |
b. Quyền năng chiếm hữu ánh sáng, hấp thụ nó vào chính mình rồi phóng chiếu nó một cách có ý thức và khoa học vào thế giới ảo cảm. |
||||||||
|
Where does that light come from? There’s the light of matter, there is the light of the logical mind, and there is the light of the soul, all of which are made to form a kind of triple beam which is projected into the world of glamour. The power to appropriate the light and scientifically project it into the world of glamour is what DK is giving us—a scientific method of glamour dissipation. He goes on and says, |
Ánh sáng đó đến từ đâu? Có ánh sáng của vật chất, có ánh sáng của thể trí luận lý, và có ánh sáng của linh hồn, tất cả được làm cho tạo thành một loại tia sáng tam phân được phóng chiếu vào thế giới ảo cảm. Quyền năng chiếm hữu ánh sáng và phóng chiếu nó một cách khoa học vào thế giới ảo cảm là điều Chân sư DK đang trao cho chúng ta — một phương pháp khoa học để làm tiêu tan ảo cảm. Ngài tiếp tục và nói, |
||||||||
|
The [Page 202] Masters, the higher initiates and the world disciples do this alone, if need be, and require not the protection of the group or the aid of the light of the group members. [1h] |
Các Chân sư, các điểm đạo đồ cao cấp hơn và các đệ tử thế giới làm điều này một mình, nếu cần, và không cần sự bảo vệ của nhóm hay sự trợ giúp của ánh sáng từ các thành viên trong nhóm. [1h] |
||||||||
|
That’s actually quite interesting—when you are a high enough initiate or an advancing disciple, you can appropriate the light and project it scientifically into the world of glamour. |
Điều đó thật ra khá thú vị — khi các bạn là một điểm đạo đồ đủ cao hoặc một đệ tử đang tiến bước, các bạn có thể chiếm hữu ánh sáng và phóng chiếu nó một cách khoa học vào thế giới ảo cảm. |
||||||||
|
Maybe a little more, because I don’t want to run over today because we have still the next too, the last Vigil for the United Nations work Conference in Glasgow. |
Có lẽ thêm một chút nữa, vì hôm nay tôi không muốn vượt quá thời gian, bởi chúng ta vẫn còn buổi canh thức kế tiếp, buổi canh thức cuối cùng cho Hội nghị công tác Liên Hiệp Quốc tại Glasgow. |
||||||||
|
the masters and higher initiates can do this alone, if need be, |
các Chân sư và các điểm đạo đồ cao cấp hơn có thể làm điều này một mình, nếu cần, |
||||||||
|
and require not the protection of the group or the aid of the light of the group members. |
và không cần sự bảo vệ của nhóm hay sự trợ giúp của ánh sáng từ các thành viên trong nhóm. |
||||||||
|
Think about it: when you’re projecting into the world of glamour, the fellow group members that are working with you are a kind of protection against what might otherwise happen. It is so possible to be overwhelmed by glamour and not know it. |
Hãy nghĩ về điều đó: khi các bạn phóng chiếu vào thế giới ảo cảm, các đệ tử đồng môn trong nhóm đang hoạt động cùng các bạn là một loại bảo vệ chống lại điều có thể xảy ra. Rất dễ bị ảo cảm áp đảo mà không biết. |
||||||||
|
They’re also numbering among their group those who have the following powers: they can discriminate, they can appropriate and use the light, and also, |
Trong nhóm của họ cũng có những người có các quyền năng sau: họ có thể phân biện, họ có thể chiếm hữu và sử dụng ánh sáng, và còn nữa, |
||||||||
|
c. The power to use the light not only through absorption and projection but also by a conscious use of the will, |
c. Quyền năng sử dụng ánh sáng không chỉ qua sự hấp thụ và phóng chiếu mà còn bằng việc sử dụng ý chí một cách có ý thức, |
||||||||
|
That part is in the glamour meditation where we strengthen our beam through the application of the spiritual will. |
Phần đó có trong bài tham thiền về ảo cảm, nơi chúng ta tăng cường tia sáng của mình qua việc áp dụng ý chí tinh thần. |
||||||||
|
a conscious use of the will, carrying energy upon the beam of projected light. |
một sự sử dụng ý chí có ý thức, mang năng lượng trên tia sáng được phóng chiếu. |
||||||||
|
Point that out. |
Hãy chỉ rõ điều đó. |
||||||||
|
To this they add a persistent and steady focus. [1i] |
Vào đó, họ thêm một sự tập trung bền bỉ và vững vàng. [1i] |
||||||||
|
Not everybody can do that. There’s a lot of vacillation that occurs. But the more trained we become, the more we can be persistent and steady in our focus. |
Không phải ai cũng có thể làm điều đó. Có nhiều sự dao động xảy ra. Nhưng chúng ta càng được huấn luyện, chúng ta càng có thể bền bỉ và vững vàng trong sự tập trung của mình. |
||||||||
|
This beam, thus projected, has a twofold use: It works expulsively and dynamically, much as a strong wind blows away or dissipates a dense fog or as the rays of the sun dry up and absorb the mist. [1j] |
Tia sáng ấy, được phóng chiếu như vậy, có một công dụng nhị phân: Nó hoạt động theo cách xua đuổi và năng động, giống như một cơn gió mạnh thổi bay hoặc làm tiêu tan một màn sương mù dày đặc, hoặc như các tia mặt trời làm khô và hấp thụ màn sương. [1j] |
||||||||
|
This is how the beam we project can be thought of as working, and I hinted at this earlier. |
Đây là cách có thể nghĩ về hoạt động của tia sáng mà chúng ta phóng chiếu, và tôi đã gợi ý điều này trước đó. |
||||||||
|
It acts also as a beam along which that which is new and a part of the divine intention can enter. [1k] |
Nó cũng hoạt động như một tia sáng dọc theo đó điều mới mẻ và là một phần của thiên ý có thể đi vào. [1k] |
||||||||
|
The new ideas and the desired ideals can come in “on the beam,” just as the beam directs and brings in the airplanes to a desired landing place. [1l] |
Các ý tưởng mới và các lý tưởng được mong muốn có thể đi vào “trên tia sáng”, cũng như tia sáng định hướng và đưa máy bay đến nơi hạ cánh mong muốn. [1l] |
||||||||
|
Of course, that was a long time ago that this was being written, but nevertheless the anticipation was there. |
Dĩ nhiên, điều này được viết từ rất lâu rồi, nhưng tuy vậy sự tiên liệu đã có ở đó. |
||||||||
|
Djwhal Khul looks at the beam in a twofold manner, and I’ll emphasize this part of it. |
Djwhal Khul nhìn tia sáng theo một cách nhị phân, và tôi sẽ nhấn mạnh phần này của nó. |
||||||||
|
the new ideas and the desired ideals come in on the beam |
các ý tưởng mới và các lý tưởng được mong muốn đi vào trên tia sáng |
||||||||
|
Think about that for a moment. It blows away, it banishes the old, and it brings in the new. The light of the soul working through the ajna center in combination with two aspects of lower light, the light of matter and the light of the logical mind. |
Hãy nghĩ về điều đó trong giây lát. Nó thổi bay, nó xua trừ cái cũ, và nó đem cái mới vào. Ánh sáng của linh hồn hoạt động qua trung tâm ajna kết hợp với hai phương diện của ánh sáng thấp hơn, ánh sáng của vật chất và ánh sáng của thể trí luận lý. |
||||||||
|
A new section is coming up. We’ve been through this section somewhat, but now we are reading the entire book in a careful manner, and it’s not the best idea to start that right at the moment. |
Một phần mới sắp đến. Chúng ta đã đi qua phần này phần nào, nhưng giờ đây chúng ta đang đọc toàn bộ cuốn sách một cách cẩn thận, và bắt đầu ngay lúc này không phải là ý hay nhất. |
||||||||
|
In terms of pages, we didn’t go so far, but I’ll use this as strengthening. Here is the beam thus projected, and it has maybe a little different purpose here. Before, I talked about destruction, and DK talks about that—the wind blows and the glamours are dissipated. I also talked about the discovery of the glamours, but He’s adding a third factor, one which we should pay attention to: the bringing in of the new. Because after all, within the astral body, there have to be new and better conditions, pretty well engineered by the light of day, the Buddhic plane, and the sign Scorpio among others. |
Về số trang, chúng ta chưa đi xa lắm, nhưng tôi sẽ dùng điều này như một sự củng cố. Đây là tia sáng được phóng chiếu như vậy, và ở đây có lẽ nó có một mục đích hơi khác. Trước đây, tôi đã nói về sự phá hủy, và Chân sư DK có nói về điều đó — gió thổi và các ảo cảm được làm tiêu tan. Tôi cũng đã nói về việc khám phá các ảo cảm, nhưng Ngài đang thêm vào một yếu tố thứ ba, một yếu tố mà chúng ta nên chú ý: việc đưa cái mới vào. Bởi sau cùng, trong thể cảm dục phải có những điều kiện mới và tốt hơn, được kiến tạo khá nhiều bởi ánh sáng ban ngày, cõi Bồ đề, và dấu hiệu Hổ Cáp cùng nhiều yếu tố khác. |
||||||||
|
There are three factors involved here—Discovery, Dissipation, and the Addition of the new and better—and they have to be kept together. |
Có ba yếu tố liên quan ở đây — Khám Phá, Làm Tiêu Tan, và Thêm Vào điều mới và tốt hơn — và chúng phải được giữ cùng nhau. |
||||||||
|
… |
… |
||||||||
|
That tells us a bit about the workers, the groups, who needs to work with a group and why, and those who can handle it themselves because of their spiritual status. Of course, it doesn’t say that they will not work in groups. He was careful about that. He says if it proves necessary, but I’m quite arrested by the idea that new ideas and desired ideals come in on the beam reinforced by the will. And they are guided in, and we have, as a result, a new and better condition in the formerly beglamoured and illusory states in which we were living. |
Điều đó cho chúng ta biết phần nào về những người hoạt động, các nhóm, ai cần làm việc với một nhóm và tại sao, cũng như những người có thể tự xử lý vì địa vị tinh thần của họ. Dĩ nhiên, điều đó không nói rằng họ sẽ không làm việc trong các nhóm. Ngài đã cẩn trọng về điều đó. Ngài nói nếu điều đó tỏ ra cần thiết, nhưng tôi khá bị thu hút bởi ý tưởng rằng các ý tưởng mới và các lý tưởng được mong muốn đi vào trên tia sáng được ý chí tăng cường. Và chúng được dẫn vào, và kết quả là chúng ta có một điều kiện mới và tốt hơn trong những trạng thái trước kia bị ảo cảm và ảo tưởng, nơi chúng ta đã sống. |
||||||||
|
I’m not immediately going to get into the meditation. It won’t be a long meditation, because we have to make sure that we can honor the Climate Conference which affects all of us, whatever country we may find ourselves from. But that will be over in two days, and our schedule will loosen up a bit, but I’m not exactly sure what Tuija has in mind for that after the climate change conference. |
Tôi sẽ không đi ngay vào bài tham thiền. Đó sẽ không phải là một bài tham thiền dài, vì chúng ta phải bảo đảm rằng mình có thể tôn trọng Hội nghị Khí hậu, vốn ảnh hưởng đến tất cả chúng ta, dù chúng ta đến từ quốc gia nào. Nhưng hội nghị đó sẽ kết thúc trong hai ngày nữa, và lịch trình của chúng ta sẽ thoáng hơn một chút, nhưng tôi không hoàn toàn chắc Tuija dự định điều gì sau hội nghị về biến đổi khí hậu. |
||||||||
|
Is there anyone who would like to, on the basis of this reading, say anything? |
Có ai muốn, dựa trên phần đọc này, nói điều gì không? |
||||||||
|
Yonne |
Yonne |
||||||||
|
Okay, Michael, I love that part. I hadn’t heard that before where the beam, besides dissipating glamour, brings in new ideas and new ideals. I think that is so fantastic. That’s really great that you emphasize that, because I really never heard it before. |
Michael, tôi rất thích phần đó. Trước đây tôi chưa từng nghe điều ấy, rằng tia sáng, ngoài việc làm tiêu tan ảo cảm, còn đem vào các ý tưởng mới và các lý tưởng mới. Tôi nghĩ điều đó thật tuyệt vời. Thật hay khi Thầy nhấn mạnh điều đó, vì tôi thật sự chưa từng nghe trước đây. |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
I emphasized it because I had not given it proper attention. It’s something like how we read things, and we read over something, and then we realize we didn’t really get it. It is really important to treat each area of the personality, and especially the astral plane when dealing with glamour with a new approach, a better approach. After all, ideals of a good kind do exist, and expansive idealism does exist. We need not the cramped financial, religious, political idealism which misleads everybody. |
Tôi nhấn mạnh điều đó vì tôi đã chưa dành cho nó sự chú ý thích đáng. Nó giống như cách chúng ta đọc một điều gì đó, rồi đọc lướt qua một điều, và sau đó nhận ra mình thật sự chưa nắm được. Điều thật sự quan trọng là xử lý từng lĩnh vực của phàm ngã, và đặc biệt là cõi cảm dục khi đề cập đến ảo cảm, bằng một cách tiếp cận mới, một cách tiếp cận tốt hơn. Sau cùng, những lý tưởng thuộc loại tốt vẫn có tồn tại, và chủ nghĩa lý tưởng mở rộng cũng có tồn tại. Chúng ta không cần loại chủ nghĩa lý tưởng tài chính, tôn giáo, chính trị chật hẹp vốn dẫn mọi người lầm lạc. |
||||||||
|
This is important for all of us to realize. On the beam can come these better ways of working within each area. We don’t have to have the illusions and misinterpretations of the lower mind. We don’t have to have the misleading confinements of the astral plane. New and better can occur and must occur. We can’t leave things the way they are right now. It’s too dangerous for the welfare of humanity, and even for the existence of humanity. |
Điều này quan trọng để tất cả chúng ta nhận ra. Trên tia sáng có thể đến những cách làm việc tốt hơn này trong từng lĩnh vực. Chúng ta không cần có những ảo tưởng và diễn giải sai lầm của hạ trí. Chúng ta không cần có những giới hạn gây lầm lạc của cõi cảm dục. Điều mới và tốt hơn có thể xảy ra và phải xảy ra. Chúng ta không thể để mọi sự như hiện nay. Điều đó quá nguy hiểm cho phúc lợi của nhân loại, và thậm chí cho sự tồn tại của nhân loại. |
||||||||
|
That’s a whole other story. I mentioned it often about starting all over again—the world will be destroyed entirely and starts all over again. That would be a dreadful thing, but DK says it is a possibility which can be envisioned. That’s what he says. So we have to be very careful these days how we proceed. Thank you for your thought. |
Đó là cả một câu chuyện khác. Tôi thường nhắc đến việc bắt đầu lại từ đầu — thế giới sẽ bị hủy diệt hoàn toàn và bắt đầu lại từ đầu. Điều đó sẽ là một điều khủng khiếp, nhưng Chân sư DK nói đó là một khả thể có thể được hình dung. Đó là điều Ngài nói. Vì vậy, trong những ngày này, chúng ta phải rất cẩn trọng về cách mình tiến hành. Cảm ơn bạn vì ý tưởng ấy. |
||||||||
|
Veronica |
Veronica |
||||||||
|
Veronica says we have talked about this before, but I am still having problems with the words Destroying the life behind a glamour. It seems to have a life, but life is sacred to me. Can it be that we are not actually destroying, but we’re taking it apart to form something new? Nothing gets really lost. I am lost in the translation. |
Veronica nói rằng chúng ta đã nói về điều này trước đây, nhưng tôi vẫn gặp khó khăn với các từ Hủy diệt sự sống phía sau một ảo cảm. Nó dường như có một sự sống, nhưng sự sống là thiêng liêng đối với tôi. Có thể nào chúng ta thật ra không hủy diệt, mà đang tháo rời nó để tạo thành điều gì đó mới không? Không có gì thật sự mất đi. Tôi bị lạc trong bản dịch. |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
I would say you substitute the word vitality for life. That’s more what it means. It’s not about the life aspect. It’s about the vitality which makes the sustainment of the glamour possible. And when there’s no energy to sustain the glamour, it begins to fall apart and give way to something new. |
Tôi muốn nói rằng bạn hãy thay từ sự sống bằng sinh lực. Đó gần hơn với điều nó hàm ý. Vấn đề không phải là phương diện sự sống. Vấn đề là sinh lực làm cho việc duy trì ảo cảm trở nên khả dĩ. Và khi không còn năng lượng để duy trì ảo cảm, nó bắt đầu tan rã và nhường chỗ cho điều gì đó mới. |
||||||||
|
For myself, I always translate that as sustaining vitality, which is taken away from the wrong forms, which it has been supporting. I hope that helps just a little bit, because with the word life, we can get into all kinds of different meanings. Some of them very high, of course, some of them monadic and beyond. |
Về phần mình, tôi luôn dịch điều đó là sinh lực duy trì, vốn bị rút khỏi những hình tướng sai lầm mà nó đã hỗ trợ. Tôi hy vọng điều đó giúp được đôi chút, vì với từ sự sống, chúng ta có thể đi vào đủ loại ý nghĩa khác nhau. Dĩ nhiên, một số ý nghĩa rất cao, một số thuộc chân thần và vượt hơn nữa. |
||||||||
|
I just think of it as what supports the glamour and makes it sustainable. And then when that life, or what I just called it, vitality, is taken away, the glamour just falls down. It crumbles. It cannot exist. |
Tôi chỉ nghĩ về nó như điều hỗ trợ ảo cảm và làm cho ảo cảm có thể được duy trì. Và rồi khi sự sống ấy, hay điều tôi vừa gọi là sinh lực, bị rút đi, ảo cảm sụp xuống. Nó tan rã. Nó không thể tồn tại. |
||||||||
|
Webinar 188 |
Webinar 188 |
||||||||
|
Abstract |
Tóm tắt |
||||||||
|
Dissipation of Glamour Initiative webinar 188, reading no. 124. The reading was from Glamour: A World Problem, pages 202–204. Michael began with a review from his last reading about the power to use the light by a conscious use of the will, carrying energy upon the beam of projected light with a persistent and steady focus. This beam, thus projected, works exclusively and dynamically, much as a strong wind blows away or dissipates a dense fog; it acts also as a beam so the divine intention can enter (the new ideas and desired ideals can come in on the beam). |
Webinar Sáng Kiến Xua Tan Ảo cảm 188, bài đọc số 124. Bài đọc lấy từ Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới, các trang 202–204. Michael bắt đầu bằng việc ôn lại từ bài đọc trước của ông về quyền năng sử dụng ánh sáng bằng việc sử dụng ý chí một cách có ý thức, mang năng lượng trên tia sáng được phóng chiếu với một sự tập trung bền bỉ và vững vàng. Tia sáng này, được phóng chiếu như vậy, hoạt động theo cách xua đuổi và năng động, giống như một cơn gió mạnh thổi bay hoặc làm tiêu tan một màn sương mù dày đặc; nó cũng hoạt động như một tia sáng để thiên ý có thể đi vào, các ý tưởng mới và các lý tưởng được mong muốn có thể đi vào trên tia sáng. |
||||||||
|
Then he began discussing the new reading on the Dissipation of Individual Glamor and the mode that individual aspirants can succeed in dissipating the glamors which have for ages conditioned his life in the three worlds. He has been dominated by desire for four-fifths of his incarnated experience. He has begun to transmute his desire into aspiration and to seek realization; then he becomes aware of the appalling nature of the glamors he has been dealing with. |
Sau đó, ông bắt đầu bàn về bài đọc mới về việc Làm Tiêu Tan Ảo Cảm Cá Nhân và phương thức mà những người chí nguyện cá nhân có thể thành công trong việc làm tiêu tan các ảo cảm vốn đã tác động lên đời sống của y trong ba cõi thấp suốt nhiều thời đại. Y đã bị ham muốn chi phối trong bốn phần năm kinh nghiệm nhập thể của mình. Y đã bắt đầu chuyển hoá ham muốn của mình thành khát vọng và tìm kiếm sự thực chứng; rồi y trở nên ý thức về bản chất khủng khiếp của các ảo cảm mà y đã xử lý. |
||||||||
|
Glamour arose when man recognized and registered desire as an incentive; it is the mind which reveals the existence of desire. The instinctual effort to satisfy desire innate in the lower nature gave place to planned efforts to meet desire, and this involved the directive use of the mind. Later, as evolution proceeded and desire shifted from one planned satisfaction to another, it began to take on a less physical aspect and men sought pleasure in emotional experience. |
Ảo cảm nảy sinh khi con người nhận ra và ghi nhận ham muốn như một động cơ thúc đẩy; chính thể trí mặc khải sự tồn tại của ham muốn. Nỗ lực bản năng nhằm thỏa mãn ham muốn vốn có trong bản chất thấp nhường chỗ cho các nỗ lực có kế hoạch nhằm đáp ứng ham muốn, và điều này bao hàm việc sử dụng thể trí theo hướng chỉ đạo. Về sau, khi tiến hoá tiếp diễn và ham muốn chuyển từ sự thỏa mãn có kế hoạch này sang sự thỏa mãn có kế hoạch khác, nó bắt đầu khoác lấy một phương diện ít hồng trần hơn, và con người tìm kiếm khoái cảm trong kinh nghiệm cảm xúc. |
||||||||
|
This led to the establishment of the drama as its first artistic expression; by means of this, man has supplemented individual emotional and dramatic living with a vicarious submergence in it. From earliest Atlantean times the foundation was laid for the unfoldment of the sense of mystical duality through the various stages of recognition of the real in man himself, until finally we arrive at the proposition which faces the disciple and the Dweller on the Threshold confronts the Angel of the Presence and the last and major conflict is fought out. |
Điều này dẫn đến việc thiết lập kịch nghệ như biểu hiện nghệ thuật đầu tiên của nó; bằng phương tiện này, con người đã bổ sung cho đời sống cảm xúc và kịch tính cá nhân bằng một sự chìm đắm gián tiếp trong đó. Từ những thời kỳ Atlantis sớm nhất, nền tảng đã được đặt cho sự khai mở ý thức về nhị nguyên thần bí qua các giai đoạn khác nhau của việc nhận ra điều thực trong chính con người, cho đến cuối cùng chúng ta đi đến mệnh đề đối diện với người đệ tử, và Kẻ Chận Ngõ đối diện Thiên Thần của Hiện Diện, và cuộc xung đột cuối cùng, lớn lao nhất được tiến hành. |
||||||||
|
This dualistic consciousness culminates at the time of the third initiation in the final fight between the pairs of opposites and the triumphant victory of the Angel—the embodiment of the Forces of Good in the individual, in the group and in humanity. Then dualism and the desire for that which is material and not oneself (as identified with the Whole) dies out. Unity and the “life more abundantly” is achieved. |
Tâm thức nhị nguyên này đạt đến cực điểm vào thời điểm lần điểm đạo thứ ba trong cuộc chiến cuối cùng giữa các cặp đối lập và chiến thắng khải hoàn của Thiên Thần — hiện thân của các Mãnh Lực Thiện trong cá nhân, trong nhóm và trong nhân loại. Khi ấy thuyết nhị nguyên và ham muốn đối với điều thuộc vật chất và không phải là bản thân mình, xét như đã đồng hóa với Toàn Thể, tàn lụi. Sự hợp nhất và “sự sống dồi dào hơn” đạt được. |
||||||||
|
The meditation was on the glamor of personality. This meeting was held on December 3rd, 2021. |
Bài tham thiền nói về ảo cảm của phàm ngã. Cuộc họp này được tổ chức vào ngày 3 tháng 12 năm 2021. |
||||||||
|
Text |
Văn bản |
||||||||
|
a. The Dissipation of Individual Glamour |
a. Việc Làm Tiêu Tan Ảo Cảm Cá Nhân |
||||||||
|
Let us first of all consider the mode by which the individual aspirant can succeed in dissipating the glamours which have for ages conditioned his life in the three worlds. [1a] He has been dominated by desire for four-fifths of his incarnated experience. [1b] He has begun to transmute his desire into aspiration and to seek—with all the devotion, emotion and longing of which he is capable—for realisation. [1c] It is then that he becomes aware of the appalling nature of the glamours in which he automatically and normally walks. [1d] Glamour arose when man recognised and registered desire as an incentive, thus demonstrating his humanity and his distinction from the animal, because it is the mind which reveals the existence of desire. [1e] The instinctual effort to satisfy desire—innate and inherent in the lower nature—gave [Page 203] place to planned efforts to meet desire, involving the directive use of the mind. [1f] Thus the line of demarcation between the animal and the human has become increasingly apparent and the first and basic expression of pure selfishness appeared aeons ago. [1g] Later, as evolution proceeded and desire shifted from one planned satisfaction to another, it began to take on a less physical aspect and men sought pleasure in emotional experience and in its dramatisation: [1h] this led to the establishment of the drama as its first artistic expression; by means of this, down the ages, man has supplemented individual emotional and dramatic living with a vicarious submergence in it, thus exteriorising himself and supplementing his personal dramas, desires, and objectives with those which were developed by means of the creative imagination, thus laying the foundation for the recognition—intelligent and real—of the part in relation to the whole. [1i] Thus from earliest Atlantean times the foundation was laid for the unfoldment of the sense of mystical duality through the various stages of an anthropomorphic recognition of deity to the recognition of the real in man himself, until finally we arrive at the proposition which faces the disciple. [1j] Then the Dweller on the Threshold confronts the Angel of the Presence and the last and major conflict is fought out. [1k] |
Trước hết, chúng ta hãy xét phương thức nhờ đó người chí nguyện cá nhân có thể thành công trong việc làm tiêu tan các ảo cảm vốn đã tác động lên đời sống của y trong ba cõi thấp qua nhiều thời đại. [1a] Y đã bị dục vọng chi phối trong bốn phần năm kinh nghiệm nhập thể của mình. [1b] Y đã bắt đầu chuyển hoá dục vọng của mình thành khát vọng và tìm kiếm—với tất cả lòng sùng tín, cảm xúc và niềm mong mỏi mà y có thể có—sự chứng ngộ. [1c] Chính khi ấy y trở nên ý thức về bản chất kinh khiếp của các ảo cảm mà y tự động và bình thường bước đi trong đó. [1d] Ảo cảm phát sinh khi con người nhận ra và ghi nhận dục vọng như một động cơ thúc đẩy, qua đó biểu lộ nhân tính của mình và sự khác biệt của mình với loài vật, bởi chính thể trí mặc khải sự hiện hữu của dục vọng. [1e] Nỗ lực theo bản năng nhằm thỏa mãn dục vọng—vốn bẩm sinh và cố hữu trong bản chất thấp—đã nhường [Trang 203] chỗ cho những nỗ lực có kế hoạch nhằm đáp ứng dục vọng, bao hàm việc sử dụng thể trí theo hướng chỉ đạo. [1f] Như vậy, ranh giới phân định giữa loài vật và con người ngày càng trở nên rõ rệt, và biểu hiện đầu tiên, căn bản của tính ích kỷ thuần túy đã xuất hiện từ vô số thời đại trước. [1g] Về sau, khi tiến hoá tiếp diễn và dục vọng chuyển từ một sự thỏa mãn có kế hoạch này sang một sự thỏa mãn có kế hoạch khác, nó bắt đầu khoác lấy một phương diện ít hồng trần hơn, và con người tìm kiếm khoái lạc trong kinh nghiệm cảm xúc và trong sự kịch tính hóa kinh nghiệm ấy: [1h] điều này dẫn đến việc thiết lập kịch nghệ như biểu hiện nghệ thuật đầu tiên của nó; nhờ phương tiện này, qua các thời đại, con người đã bổ sung cho đời sống cảm xúc và kịch tính cá nhân bằng sự chìm đắm gián tiếp vào đó, nhờ vậy ngoại hiện chính mình và bổ sung cho những vở kịch, dục vọng và mục tiêu cá nhân của mình bằng những điều được phát triển nhờ Sự tưởng tượng sáng tạo, qua đó đặt nền móng cho sự nhận thức—thông minh và chân thực—về phần trong tương quan với toàn thể. [1i] Như vậy, từ những thời kỳ Atlantis sớm nhất, nền móng đã được đặt cho sự khai mở ý thức về nhị nguyên thần bí, xuyên qua các giai đoạn khác nhau của sự nhận thức Thượng đế theo hình người, cho đến sự nhận thức cái chân thực nơi chính con người, cho đến cuối cùng chúng ta đi đến mệnh đề đang đối diện với người đệ tử. [1j] Khi ấy Kẻ Chận Ngõ đối diện Thiên Thần của Hiện Diện, và cuộc xung đột cuối cùng, trọng đại, được tiến hành đến cùng. [1k] |
||||||||
|
This dualistic consciousness culminates at the time of the third initiation in the final fight between the pairs of opposites and the triumphant victory of the Angel—the embodiment of the Forces of Good in the individual, in the group and in humanity. [1l] Then dualism and the desire for that which is material and not oneself (as identified with the Whole) dies out. Unity and the “life more abundantly” is achieved. [1m] |
Tâm thức nhị nguyên này đạt đến đỉnh điểm vào lúc lần điểm đạo thứ ba, trong trận chiến cuối cùng giữa các cặp đối cực và chiến thắng khải hoàn của Thiên Thần—hiện thân của các Mãnh Lực Thiện nơi cá nhân, nơi nhóm và nơi nhân loại. [1l] Khi ấy, nhị nguyên và dục vọng đối với những gì thuộc vật chất và không phải là chính mình, xét như đã đồng hoá với Toàn Thể, sẽ tàn lụi. Sự hợp nhất và “sự sống dồi dào hơn” được thành tựu. [1m] |
||||||||
|
Commentary |
Bình giảng |
||||||||
|
Friends, good evening here from Finland in the Temple of Silence, which is not always so very silent during the making of programs. We’ve just been discussing and getting ready for you program number 39 for Telepathy and the Etheric Vehicle. Pretty soon you’ll either be getting the uploaded version that BL and Joe and Harold put in two different places—either Makara or YouTube—and then Michael will send out this other version to some of the people who have requested it. It’s slightly different and has some words on the side, not all of which are correct, of course. |
Các bạn, xin chào buổi tối từ Phần Lan, trong Đền Thờ Im Lặng, nơi không phải lúc nào cũng thật im lặng trong khi thực hiện các chương trình. Chúng tôi vừa thảo luận và chuẩn bị cho các bạn chương trình số 39 về Viễn Cảm và Hiện Thể Dĩ Thái. Chẳng bao lâu nữa các bạn sẽ nhận được bản đã tải lên mà BL, Joe và Harold đặt ở hai nơi khác nhau—hoặc Makara hoặc YouTube—rồi Michael sẽ gửi phiên bản khác này cho một số người đã yêu cầu. Nó hơi khác một chút và có vài chữ ở bên cạnh, dĩ nhiên không phải tất cả đều đúng. |
||||||||
|
Our glamour for today is the glamour of personality. It’s not just the first ray glamour, though a lot of first ray people seem to fall victim to it. It involves getting involved with the opponents of the Angel of the Presence, the opponents of the Solar Angel, and falling into the constraints, the strictures, the restraints of the personality life, when compared to what soul life might be like. In the telepathy book, DK deals a lot with that kind of contrast, so it’s probably very interesting. |
Ảo cảm hôm nay của chúng ta là ảo cảm của phàm ngã. Đó không chỉ là ảo cảm cung một, mặc dù nhiều người cung một dường như trở thành nạn nhân của nó. Nó liên quan đến việc dính mắc với các đối thủ của Thiên Thần của Hiện Diện, các đối thủ của Thái dương Thiên Thần, và rơi vào những giới hạn, những sự bó buộc, những kiềm chế của đời sống phàm ngã, khi so với đời sống linh hồn có thể là gì. Trong quyển sách về viễn cảm, Chân sư DK bàn nhiều về loại tương phản ấy, nên có lẽ điều này rất thú vị. |
||||||||
|
… |
… |
||||||||
|
And let’s see if there’s any kind of segue that is needed. Everything is good. |
Hãy xem có cần một sự chuyển tiếp nào không. Mọi việc đều ổn. |
||||||||
|
c. The power to use the light not only through absorption and projection but also by a conscious use of the will, carrying energy upon the beam of projected light. To this they add a persistent and steady focus. This beam, thus projected, has a twofold use: It works expulsively and dynamically, much as a strong wind blows away or dissipates a dense fog or as the rays of the sun dry up and absorb the mist. It acts also as a beam along which that which is new and a part of the divine intention can enter. The new ideas and the desired ideals can come in “on the beam,” just as the beam directs and brings in the airplanes to a desired landing place. |
c. Quyền năng sử dụng ánh sáng không chỉ qua sự hấp thu và phóng chiếu mà còn bằng việc sử dụng ý chí một cách có ý thức, mang năng lượng trên tia sáng đã được phóng chiếu. Thêm vào đó, họ có một sự tập trung bền bỉ và ổn định. Tia sáng được phóng chiếu như vậy có công dụng nhị phân: Nó hành động theo cách xua đẩy và năng động, giống như một cơn gió mạnh thổi tan hoặc làm tiêu tan một màn sương mù đậm đặc, hoặc như các tia mặt trời làm khô và hấp thu sương mù. Nó cũng hoạt động như một tia sáng mà dọc theo đó, những gì mới mẻ và là một phần của ý định thiêng liêng có thể đi vào. Các ý tưởng mới và những lý tưởng được mong muốn có thể đi vào “trên tia sáng”, cũng như tia sáng dẫn hướng và đưa máy bay đến nơi hạ cánh mong muốn. |
||||||||
|
He’s talking about a beam through the conscious use of the will. It’s carrying energy upon the beam of projected light, and to this they add a persistent and steady focus, and this beam is projected. Then it has a twofold use: it expels dynamically much as the strong wind blows away or dissipates a dense fog, or as the rays of the sun dry up and absorb the mist. |
Ngài đang nói về một tia sáng thông qua việc sử dụng ý chí một cách có ý thức. Nó mang năng lượng trên tia sáng đã được phóng chiếu, và vào đó họ thêm một sự tập trung bền bỉ và ổn định; rồi tia sáng này được phóng chiếu. Khi ấy nó có công dụng nhị phân: nó xua đẩy một cách năng động, giống như cơn gió mạnh thổi tan hoặc làm tiêu tan một màn sương mù đậm đặc, hoặc như các tia mặt trời làm khô và hấp thu sương mù. |
||||||||
|
We’re talking about methods of deglamorization. It also acts as a beam along which that which is new and a part of the divine intention can enter. The new ideas, the true ideas, of course, are coming from the Buddhic plane and beyond, but the new ideas and the desired ideals, which may I add, are not selfish, come in on the beam just as the beam directs and brings in the airplanes to a desired landing place. |
Chúng ta đang nói về các phương pháp giải trừ ảo cảm. Nó cũng hoạt động như một tia sáng mà dọc theo đó, những gì mới mẻ và là một phần của ý định thiêng liêng có thể đi vào. Các ý tưởng mới, những ý tưởng chân thực, dĩ nhiên đến từ cõi Bồ đề và xa hơn nữa; nhưng các ý tưởng mới và những lý tưởng được mong muốn—tôi xin nói thêm, không ích kỷ—đi vào trên tia sáng, cũng như tia sáng dẫn hướng và đưa máy bay đến nơi hạ cánh mong muốn. |
||||||||
|
Think about how long ago this was written. The next section on which we will concentrate today will be maybe a little easier of a simulation when compared to the Seeds of the Identity as Being program. That has its own problems in terms of language, and what’s really trying to be said there. But now we’re right back into solid DK esotericism, instead of deviating into a foreign land of identification, we might say to us, identification is still a foreign land. I’m talking about the kind of identification that is a reflection of what the Christ as the great experts in the art of identification can accomplish. |
Hãy nghĩ xem đoạn này đã được viết từ lâu đến mức nào. Phần kế tiếp mà hôm nay chúng ta sẽ tập trung vào có lẽ sẽ dễ mô phỏng hơn một chút so với chương trình Những Hạt Giống của Bản Sắc như Bản Thể. Chương trình ấy có những vấn đề riêng về ngôn ngữ và về điều thực sự muốn nói ở đó. Nhưng giờ đây chúng ta trở lại với huyền bí học vững chắc của Chân sư DK, thay vì đi lệch vào một vùng đất xa lạ của sự đồng hoá; đối với chúng ta, có thể nói, sự đồng hoá vẫn còn là một vùng đất xa lạ. Tôi đang nói về loại đồng hoá vốn là phản ánh của điều mà Đức Christ, như bậc đại tinh thông trong nghệ thuật đồng hoá, có thể thành tựu. |
||||||||
|
Let’s go on with the Tibetan here. The Tibetan speaks, and I’ll read a few things that he is saying in this new section, which looks like it is taking off on the subject of the dissipation of individual glamour. If we don’t manage some kind of attainment that way, I wonder how we can be of much use when we approach world glamour. We can’t. It’s as simple as that. We have to be able to handle, or at least recognize some of our individual glamours, and let’s not fall victim to the glamour of having no glamour. |
Chúng ta tiếp tục với Chân sư Tây Tạng ở đây. Chân sư Tây Tạng nói, và tôi sẽ đọc vài điều Ngài đang nói trong phần mới này, dường như bắt đầu bàn về đề tài làm tiêu tan ảo cảm cá nhân. Nếu chúng ta không đạt được một thành tựu nào đó theo hướng ấy, tôi tự hỏi chúng ta có thể hữu ích được bao nhiêu khi tiếp cận ảo cảm thế giới. Chúng ta không thể. Đơn giản là như vậy. Chúng ta phải có khả năng xử lý, hoặc ít nhất nhận ra, một số ảo cảm cá nhân của mình; và đừng rơi làm nạn nhân của ảo cảm rằng mình không có ảo cảm. |
||||||||
|
Glamour goes on for quite a while and they are ever more subtle, difficult to recognize, difficult to deal with, even if the eventual mental focus, or sometimes called mental polarization, begins to obliterate our usual preoccupation with the astral plane. I was just reading that DK says that the majority of aspirants really are subject to the glamours of the astral plane, and they have to have an increasing mental soul-inspired focus in order to help obliterate the trap. There are such glamours present. |
Ảo cảm còn tiếp diễn khá lâu và chúng ngày càng tinh vi hơn, khó nhận ra hơn, khó xử lý hơn, ngay cả khi sự tập trung trí tuệ cuối cùng, hay đôi khi được gọi là sự phân cực trí tuệ, bắt đầu xóa bỏ mối bận tâm thường lệ của chúng ta đối với cõi cảm dục. Tôi vừa đọc thấy Chân sư DK nói rằng đa số người chí nguyện thật sự chịu sự chi phối của các ảo cảm thuộc cõi cảm dục, và họ phải có một sự tập trung trí tuệ ngày càng tăng, được linh hồn cảm hứng, để giúp xóa bỏ cái bẫy ấy. Có những ảo cảm như thế hiện diện. |
||||||||
|
I don’t think there was one of the students that were attracted to DK and which he had chosen as part of his project that didn’t have glamours. All of them did. I think even Alice Bailey, even Roberto Assagioli, who were definitely initiate disciples, disciples of the third degree definitely and working towards other self-sacrificial possibilities, namely working towards the ability to take the fourth initiation. That’s pretty high. Some people who were so anxious to take it, really were nowhere near being able to do that. But they thought they were. |
Tôi không nghĩ có một đạo sinh nào được thu hút đến với Chân sư DK và được Ngài chọn làm một phần trong công trình của Ngài mà lại không có ảo cảm. Tất cả đều có. Tôi nghĩ ngay cả Bà Alice Bailey, ngay cả Ông Roberto Assagioli, những người chắc chắn là các đệ tử điểm đạo, chắc chắn là các đệ tử bậc ba và đang làm việc hướng tới những khả năng tự hi sinh khác, tức là hướng tới khả năng nhận lần điểm đạo thứ tư. Điều đó khá cao. Một số người quá nôn nóng muốn nhận nó thật ra còn rất xa mới có thể làm được điều ấy. Nhưng họ tưởng mình có thể. |
||||||||
|
What DK has said, that the beginner—no, they weren’t really beginners entirely—but the beginner is always more consciously conceited than the more experienced disciple. In other words, we don’t have humility, we don’t have that adjusted sense of right proportion. We simply think we have done more than we have. And so, one has to be really watchful about that so as not to be swept away by the glamour of personality, thinking that the personality is ever so much more accomplished and compliant and aligned than it really is. |
Điều Chân sư DK đã nói là người mới bắt đầu—không, họ thật ra không hoàn toàn là người mới bắt đầu—nhưng người mới bắt đầu luôn tự phụ một cách có ý thức hơn người đệ tử giàu kinh nghiệm hơn. Nói cách khác, chúng ta không có sự khiêm nhường, chúng ta không có Ý thức về tỉ lệ đúng đắn đã được điều chỉnh. Chúng ta chỉ đơn giản nghĩ rằng mình đã làm được nhiều hơn thực tế. Vì vậy, người ta phải thật sự cảnh giác về điều đó để không bị cuốn đi bởi ảo cảm của phàm ngã, khi nghĩ rằng phàm ngã đã thành tựu, tuân phục và chỉnh hợp hơn rất nhiều so với thực tế. |
||||||||
|
That’s going to take some close self-observation, if you can stand it, if I can stand it. |
Điều đó sẽ đòi hỏi sự tự quan sát rất sát sao, nếu các bạn chịu nổi, và nếu tôi chịu nổi. |
||||||||
|
Going on with the Tibetan. |
Tiếp tục với Chân sư Tây Tạng. |
||||||||
|
Let us first of all consider the mode by which the individual aspirant can succeed in dissipating the glamours which have for ages conditioned his life in the three worlds [1a] |
Trước hết, chúng ta hãy xét phương thức nhờ đó người chí nguyện cá nhân có thể thành công trong việc làm tiêu tan các ảo cảm vốn đã tác động lên đời sống của y trong ba cõi thấp qua nhiều thời đại [1a] |
||||||||
|
Why? Because if emotional polarization is the likelihood throughout the Atlantean period, and if we’ve all been here during the Atlantean period, that’s true of the great majority of us, certainly maybe a few have come in from other places more recently, some of the scientific types and so forth. Then, we know what he’s talking about. |
Tại sao? Bởi nếu sự phân cực cảm xúc là khả năng thường có trong suốt thời kỳ Atlantis, và nếu tất cả chúng ta đều đã ở đây trong thời kỳ Atlantis—điều ấy đúng với đại đa số chúng ta, dĩ nhiên có lẽ một số ít đã đến từ những nơi khác gần đây hơn, một số kiểu người khoa học và vân vân—thì chúng ta biết Ngài đang nói về điều gì. |
||||||||
|
We have had our life conditioned by glamour for millions of years, as we labored in the Hall of Ignorance, where the higher of the pairs of opposites was not really known, and the lower of the pairs of opposites was that which commanded our attention. |
Đời sống của chúng ta đã chịu ảo cảm tác động trong hàng triệu năm, khi chúng ta lao nhọc trong Phòng Vô Minh, nơi cực cao hơn của các cặp đối cực thật sự chưa được biết đến, còn cực thấp hơn của các cặp đối cực là điều điều khiển sự chú ý của chúng ta. |
||||||||
|
the individual aspirant can succeed in dissipating the glamours which have for ages conditioned his life in the three worlds. He has been dominated |
người chí nguyện cá nhân có thể thành công trong việc làm tiêu tan các ảo cảm vốn đã tác động lên đời sống của y trong ba cõi thấp qua nhiều thời đại. Y đã bị chi phối |
||||||||
|
Oh my goodness, this is a good proportion, whoa. |
Trời ơi, đây là một tỉ lệ đáng kể. |
||||||||
|
He has been dominated by desire for four-fifths of his incarnated experience.[1b] |
Y đã bị dục vọng chi phối trong bốn phần năm kinh nghiệm nhập thể của mình.[1b] |
||||||||
|
Incarnated experience began 21 million years ago, and four fifths of that—roughly 84 divided by five, which is about 17 million years—has been dominated by glamour. Just pause to think about why it should be so difficult, even for us who believe what we are taught here, to be rid of these glamours, which are often hiding away from our internal realization. That’s a big statement: he has been dominated by desire for four fifths of his incarnated experience. |
Kinh nghiệm nhập thể bắt đầu cách đây 21 triệu năm, và bốn phần năm của con số đó—xấp xỉ 84 chia cho 5, tức khoảng 17 triệu năm—đã bị ảo cảm chi phối. Hãy dừng lại để nghĩ xem tại sao, ngay cả đối với chúng ta, những người tin vào điều được dạy ở đây, việc thoát khỏi các ảo cảm này lại khó đến thế, nhất là khi chúng thường ẩn khỏi sự nhận biết bên trong của chúng ta. Đó là một phát biểu lớn: y đã bị dục vọng chi phối trong bốn phần năm kinh nghiệm nhập thể của mình. |
||||||||
|
When you think that those early petals in the Hall of Ignorance take so long to open, you can understand that a lot of this domination has occurred within the Hall of Ignorance. Just the very first petal alone is going to take millions of years to open, and the same with the second petal. I don’t have the figures obviously, but it’s a long time, and then less and less time. |
Khi các bạn nghĩ rằng những cánh hoa đầu tiên trong Phòng Vô Minh mất quá lâu để mở ra, các bạn có thể hiểu rằng phần lớn sự chi phối này đã xảy ra trong Phòng Vô Minh. Chỉ riêng cánh hoa đầu tiên đã cần hàng triệu năm để mở ra, và cánh hoa thứ hai cũng vậy. Rõ ràng tôi không có các con số, nhưng đó là một thời gian dài, rồi sau đó thời gian ngày càng ít hơn. |
||||||||
|
The experience in the emotional petals, which is the second circle of petals, is not short. You have to travel from an egotistical, as we would say in our modern psychology, an egotistical, personal, individual point of view, all the way to being an initiate of the first degree, and that takes time. There are three or four big experiences along the way. At first, you’re just an egotist. Then you crash and burn. And then you begin saying, “What’s this possible higher life that I might live as one who aspires?” Finally your aspiration turns into the attainment of opening the fifth petal, which signals that you have taken the first initiation. That’s maybe four steps there. Anyway, it’s not quick. |
Kinh nghiệm trong các cánh hoa cảm xúc, tức vòng cánh hoa thứ hai, không ngắn. Các bạn phải đi từ một quan điểm ích kỷ, như chúng ta nói trong tâm lý học hiện đại, một quan điểm ích kỷ, cá nhân, riêng biệt, cho đến khi trở thành một điểm đạo đồ của lần điểm đạo thứ nhất, và điều đó cần thời gian. Có ba hoặc bốn kinh nghiệm lớn trên đường đi. Lúc đầu, các bạn chỉ là một kẻ vị kỷ. Rồi các bạn sụp đổ và cháy rụi. Sau đó các bạn bắt đầu nói: “Đời sống cao hơn khả hữu này là gì mà tôi có thể sống như một người chí nguyện?” Cuối cùng, khát vọng của các bạn chuyển thành thành tựu mở cánh hoa thứ năm, điều báo hiệu rằng các bạn đã nhận lần điểm đạo thứ nhất. Có lẽ có bốn bước ở đó. Dù sao, nó không nhanh. |
||||||||
|
The quickest in the nine petals are the three fire sacrifice petals. And I suppose, in a way, the synthesis petals burst open at a certain point in our experience, but I’m arrested by this idea of dominated by desire for four fifths of his incarnated experience. Or maybe he’s also including physical desire and not just astral desire, because the first petal is filled with physicality, and well, in a way, the second petal is as well. They are all earth sign petals. |
Nhanh nhất trong chín cánh hoa là ba cánh hoa hi sinh bằng lửa. Và tôi cho rằng, theo một cách nào đó, các cánh hoa tổng hợp bùng mở tại một điểm nào đó trong kinh nghiệm của chúng ta; nhưng tôi bị giữ lại bởi ý tưởng này: bị dục vọng chi phối trong bốn phần năm kinh nghiệm nhập thể của y. Hoặc có lẽ Ngài cũng bao gồm dục vọng hồng trần chứ không chỉ dục vọng cảm dục, bởi cánh hoa đầu tiên đầy tính hồng trần, và theo một cách nào đó, cánh hoa thứ hai cũng vậy. Tất cả đều là các cánh hoa thuộc dấu hiệu hành thổ. |
||||||||
|
He |
Y |
||||||||
|
Our aspirant here, we’re talking about ourselves. |
Người chí nguyện của chúng ta ở đây; chúng ta đang nói về chính mình. |
||||||||
|
He has begun to transmute his desire into aspiration |
Y đã bắt đầu chuyển hoá dục vọng của mình thành khát vọng |
||||||||
|
I’d like to suggest a sentence by The Tibetan which I’ll get more or less correct: the highest type of aspirational idealism is found in Taurus. Does that surprise us? The highest form of aspirational idealism is found in Taurus, and thus connected with the second petal or the emotional petal, in the Hall of Ignorance. But at that point, it will not yet be the highest form of aspirational idealism. |
Tôi muốn gợi ý một câu của Chân sư Tây Tạng mà tôi sẽ trích gần đúng: loại chủ nghĩa lý tưởng khát vọng cao nhất được tìm thấy trong Kim Ngưu. Điều đó có làm chúng ta ngạc nhiên không? Hình thức cao nhất của chủ nghĩa lý tưởng khát vọng được tìm thấy trong Kim Ngưu, và như vậy được nối với cánh hoa thứ hai hay cánh hoa cảm xúc trong Phòng Vô Minh. Nhưng vào thời điểm ấy, nó chưa phải là hình thức cao nhất của chủ nghĩa lý tưởng khát vọng. |
||||||||
|
We will have to somehow wait until a more advanced stage brings Taurus forward again. But as far as we are concerned, either as aspirants or disciples, we have begun to transmute desire into aspiration. |
Bằng cách nào đó, chúng ta sẽ phải chờ cho đến khi một giai đoạn tiến xa hơn đưa Kim Ngưu trở lại. Nhưng xét về phía chúng ta, hoặc như những người chí nguyện hoặc như các đệ tử, chúng ta đã bắt đầu chuyển hoá dục vọng thành khát vọng. |
||||||||
|
and to seek—with all the devotion, emotion and longing of which he is capable—for realisation [1c] |
và tìm kiếm—với tất cả lòng sùng tín, cảm xúc và niềm mong mỏi mà y có thể có—sự chứng ngộ [1c] |
||||||||
|
You can understand why the sixth ray is becoming very important. I’m going to add a color which I often think is connected with the sixth ray, along with the rose color, and sometimes the furious red of Mars. |
Các bạn có thể hiểu vì sao cung sáu đang trở nên rất quan trọng. Tôi sẽ thêm một màu mà tôi thường nghĩ là liên quan đến cung sáu, cùng với màu hồng nhạt, và đôi khi là màu đỏ dữ dội của Sao Hỏa. |
||||||||
|
Nobody here has not transmuted desire, to a certain extent, into aspiration. What are we aspiring after? It’s not easy to read The Tibetan. And yet, many of us, year after year, ponder over what he has said, and are accepting him as our teacher, even though ultimately we might belong to KH, Morya, or some other master. The Tibetan does have the great training ashram. |
Không ai ở đây lại chưa chuyển hoá dục vọng, đến một mức nào đó, thành khát vọng. Chúng ta đang khát vọng điều gì? Đọc Chân sư Tây Tạng không dễ. Tuy vậy, nhiều người trong chúng ta, năm này qua năm khác, suy ngẫm về những gì Ngài đã nói, và chấp nhận Ngài như huấn sư của mình, dù rốt cuộc chúng ta có thể thuộc về Chân sư KH, Chân sư Morya, hay một Chân sư nào khác. Chân sư Tây Tạng thật sự có ashram huấn luyện lớn. |
||||||||
|
So, He has begun to transmute his desire into aspiration and to seek— |
Y đã bắt đầu chuyển hoá dục vọng của mình thành khát vọng và tìm kiếm— |
||||||||
|
This is so fervent, isn’t it? |
Điều này thật nhiệt thành, phải không? |
||||||||
|
with all the devotion, emotion and longing of which he is capable—for realisation. |
với tất cả lòng sùng tín, cảm xúc và niềm mong mỏi mà y có thể có—sự chứng ngộ. |
||||||||
|
That term realisation can be used in a general way, or if we look at the particular siddhis or powers of which a man is capable, then on the fifth subplane, fifth from the top, of the Atmic plane, comes in this siddhi called Realization. It’s of the same ilk, but even beyond divine vision of the astral plane. If you want to know where to get this, and probably many of you do know, turn to about page 188 in A Treatise on Cosmic Fire, and you’ll see the senses and their higher correspondences. |
Thuật ngữ chứng ngộ có thể được dùng theo nghĩa tổng quát, hoặc nếu chúng ta nhìn vào những quyền năng đặc biệt mà con người có thể đạt được, thì ở cõi phụ thứ năm, tính từ trên xuống, của cõi atma, xuất hiện quyền năng được gọi là Chứng Ngộ. Nó cùng loại, nhưng còn vượt quá cả tầm nhìn thiêng liêng của cõi cảm dục. Nếu các bạn muốn biết lấy điều này ở đâu, và có lẽ nhiều người trong các bạn biết, hãy mở khoảng trang 188 trong Luận về Lửa Vũ Trụ, và các bạn sẽ thấy các giác quan cùng những tương ứng cao hơn của chúng. |
||||||||
|
We have to begin apparently with desire, and desire is all about putting the world which has been fragmented in our perception back together, if the desire is of the right kind. As Morya says, desire is a great cosmic principle; we have to use the right kinds of desire. We have to co-measure our desire; whenever you hear the word co-measure, think of a right proportion, think of humility. The Tibetan goes on and says, |
Dường như chúng ta phải bắt đầu bằng dục vọng, và dục vọng hoàn toàn liên quan đến việc tái hợp thế giới vốn đã bị phân mảnh trong tri nhận của chúng ta, nếu dục vọng thuộc loại đúng đắn. Như Chân sư Morya nói, dục vọng là một nguyên khí vũ trụ vĩ đại; chúng ta phải dùng những loại dục vọng đúng đắn. Chúng ta phải đo lường tương xứng dục vọng của mình; bất cứ khi nào các bạn nghe từ đo lường tương xứng, hãy nghĩ đến tỉ lệ đúng đắn, hãy nghĩ đến sự khiêm nhường. Chân sư Tây Tạng tiếp tục và nói, |
||||||||
|
It is then that he becomes aware of the appalling nature of the glamours in which he automatically and normally walks [1d] |
Chính khi ấy y trở nên ý thức về bản chất kinh khiếp của các ảo cảm mà y tự động và bình thường bước đi trong đó [1d] |
||||||||
|
The Tibetan is not one who overstates things. He says what he says, and he means what he says. I’ll use rose color to indicate that it is very emotional. A lot of meditations involving the sixth ray are given by the Tibetan through the use of the color rose, and how this is almost amusing. |
Chân sư Tây Tạng không phải là người nói quá. Ngài nói điều Ngài nói, và Ngài hàm ý đúng điều Ngài nói. Tôi sẽ dùng màu hồng nhạt để cho thấy rằng điều này rất cảm xúc. Nhiều bài tham thiền liên quan đến cung sáu được Chân sư Tây Tạng ban ra qua việc dùng màu hồng nhạt, và điều này gần như thú vị. |
||||||||
|
appalling nature of the glamours in which he automatically and normally walks, |
bản chất kinh khiếp của các ảo cảm mà y tự động và bình thường bước đi trong đó, |
||||||||
|
He doesn’t even think about it. He’s just in it. The Tibetan said that both he and Alice Bailey were horrified by glamour, though it may have been a long time since he personally succumbed to glamour, and more recently Alice Bailey has. Both of us were horrified by glamour. |
Y thậm chí không nghĩ về nó. Y chỉ ở trong đó. Chân sư Tây Tạng nói rằng cả Ngài và Bà Alice Bailey đều kinh hoàng trước ảo cảm, mặc dù có thể đã rất lâu rồi Ngài không còn tự mình sa vào ảo cảm, còn Bà Alice Bailey thì gần đây hơn. Cả hai chúng tôi đều kinh hoàng trước ảo cảm. |
||||||||
|
Now, pause for a moment and consider why it would be that astute people in the esoteric field, appraising what glamour is, should be horrified by it. There’s a good reason for them to assess glamour as horrific. If you want to get stuck in the swamp, follow the swamp light. There’s something called will-o’-the-wisp, sometimes called the light of error. You follow what you think is going somewhere, and the next moment you realize that you are in quicksand, and maybe you just can’t get out. That’s what happens with glamour. It seems so appealing. |
Hãy dừng lại một chút và suy xét vì sao những người tinh tường trong lĩnh vực huyền bí, khi thẩm định ảo cảm là gì, lại phải kinh hoàng trước nó. Có lý do chính đáng để họ đánh giá ảo cảm là kinh khiếp. Nếu các bạn muốn bị mắc kẹt trong đầm lầy, hãy đi theo ánh sáng đầm lầy. Có một thứ gọi là ma trơi, đôi khi gọi là ánh sáng của sai lầm. Các bạn đi theo điều mình tưởng đang dẫn đến đâu đó, và khoảnh khắc sau các bạn nhận ra mình đang ở trong cát lún, và có lẽ không thể thoát ra. Đó là điều xảy ra với ảo cảm. Nó có vẻ thật hấp dẫn. |
||||||||
|
I’m reminded of this channeling business that was going on during World War One. Some of the German elite, high military people were attending sessions in which a woman—I don’t remember her name, but she was given a lot of credit—was channeling the superstar Aldebaran. Any sense of proportion would show the complete impossibility of there being any accuracy in that, and yet that channeling was part of what guided German response during the First World War. |
Tôi nhớ đến chuyện thông linh đã diễn ra trong Thế chiến thứ nhất. Một số thành phần tinh hoa của Đức, những người quân sự cấp cao, đã tham dự các buổi trong đó một phụ nữ—tôi không nhớ tên bà, nhưng bà được rất nhiều người tin tưởng—đang truyền thông điệp từ siêu sao Aldebaran. Bất kỳ Ý thức về tỉ lệ nào cũng sẽ cho thấy điều ấy hoàn toàn không thể chính xác, thế mà việc truyền thông điệp ấy lại là một phần của điều đã hướng dẫn phản ứng của Đức trong Thế chiến thứ nhất. |
||||||||
|
[Table 3] |
||||||||
|
It can lead to very bad places, and lead us astray, and delude us until we are lost. Now let’s go on a bit more because as we go along, he just says things which tie many more obscure statements together. And then of course, he offers still more obscure statements. |
Nó có thể dẫn đến những nơi rất tệ hại, dẫn chúng ta lạc đường, và mê hoặc chúng ta cho đến khi chúng ta mất lối. Hãy tiếp tục thêm một chút, bởi khi đi tiếp, Ngài chỉ nói những điều kết nối nhiều phát biểu tối nghĩa hơn lại với nhau. Và rồi dĩ nhiên, Ngài lại đưa ra thêm những phát biểu còn tối nghĩa hơn nữa. |
||||||||
|
Glamour arose |
Ảo cảm phát sinh |
||||||||
|
And I want to say not so much in the first petal, |
Và tôi muốn nói là không nhiều trong cánh hoa thứ nhất, |
||||||||
|
Glamour arose when man recognised and registered desire as an incentive, |
Ảo cảm phát sinh khi con người nhận ra và ghi nhận dục vọng như một động cơ thúc đẩy, |
||||||||
|
It sounds very Taurean, doesn’t it? That word incentive is always used in connection with Taurus. |
Nghe rất Kim Ngưu, phải không? Từ động cơ thúc đẩy ấy luôn được dùng liên quan đến Kim Ngưu. |
||||||||
|
thus demonstrating his humanity and his distinction from the animal, because it is the mind which reveals the existence of desire. [1e] |
qua đó biểu lộ nhân tính của mình và sự khác biệt của mình với loài vật, bởi chính thể trí mặc khải sự hiện hữu của dục vọng. [1e] |
||||||||
|
The instinctual effort to satisfy desire—innate and inherent in the lower nature—gave [Page 203] place to planned efforts to meet desire, involving the directive use of the mind. [1f] |
Nỗ lực theo bản năng nhằm thỏa mãn dục vọng—vốn bẩm sinh và cố hữu trong bản chất thấp—đã nhường [Trang 203] chỗ cho những nỗ lực có kế hoạch nhằm đáp ứng dục vọng, bao hàm việc sử dụng thể trí theo hướng chỉ đạo. [1f] |
||||||||
|
We might suggest that it’s not the best use of the mind, but the mind becomes involved in helping with the fulfillment of such desires, as The Tibetan says. |
Chúng ta có thể gợi ý rằng đó không phải là cách sử dụng thể trí tốt nhất, nhưng thể trí trở nên tham dự vào việc giúp hoàn thành những dục vọng như thế, như Chân sư Tây Tạng nói. |
||||||||
|
Thus the line of demarcation between the animal and the human has become increasingly apparent and the first and basic expression of pure selfishness appeared aeons ago. [1g] |
Như vậy, ranh giới phân định giữa loài vật và con người ngày càng trở nên rõ rệt, và biểu hiện đầu tiên, căn bản của tính ích kỷ thuần túy đã xuất hiện từ vô số thời đại trước. [1g] |
||||||||
|
And I guess we would have to say, somehow in the petals of ignorance, it didn’t end there, but it began there. |
Và tôi đoán chúng ta phải nói rằng, bằng cách nào đó, trong các cánh hoa vô minh, nó không kết thúc ở đó, nhưng nó bắt đầu ở đó. |
||||||||
|
Just to make this a little bolder. |
Chỉ để làm điều này rõ hơn một chút. |
||||||||
|
Glamour arose when man recognized and registered desire as an incentive. |
Ảo cảm phát sinh khi con người nhận ra và ghi nhận dục vọng như một động cơ thúc đẩy. |
||||||||
|
Usually in the beginning, what we might call desire was tied to the physical appetites, but later it found its independence from the physical appetites and people desired what is beautiful, let us say, beautiful to them. They began to desire contact with some transcendent Being; desire detached itself from the strictly physical appetites, those appetites were very keen in the opening of the first petal. |
Thông thường lúc ban đầu, điều chúng ta có thể gọi là dục vọng gắn liền với các thèm muốn hồng trần, nhưng về sau nó tìm thấy sự độc lập khỏi các thèm muốn hồng trần, và con người khao khát điều đẹp đẽ, có thể nói là đẹp đối với họ. Họ bắt đầu khao khát tiếp xúc với một Hữu Thể siêu việt nào đó; dục vọng tách khỏi các thèm muốn thuần túy hồng trần, mà những thèm muốn ấy rất mạnh trong sự khai mở của cánh hoa thứ nhất. |
||||||||
|
So, in doing this, he demonstrated his humanity and his distinction from the animal. |
khi làm điều này, y biểu lộ nhân tính của mình và sự khác biệt của mình với loài vật. |
||||||||
|
I have friends who say we’re just animals and there’s no human kingdom per se, just animals—some more stupid and some brighter like human beings, but just animals. Obviously, individuals who believe that have not been trained in esotericism and wouldn’t really accept it anyway. But this is interesting. |
Tôi có những người bạn nói rằng chúng ta chỉ là loài vật và không có giới nhân loại đúng nghĩa, chỉ có loài vật—một số ngu hơn và một số sáng trí hơn như con người, nhưng vẫn chỉ là loài vật. Rõ ràng, những cá nhân tin như vậy chưa được huấn luyện trong huyền bí học và dù sao cũng sẽ không thật sự chấp nhận nó. Nhưng điều này thật thú vị. |
||||||||
|
The mind reveals the existence of desire |
Thể trí mặc khải sự hiện hữu của dục vọng |
||||||||
|
Otherwise, what you have? You don’t have sight, you just have response to desire. You hardly know what it is. It’s just your way of living. You just have to have what you desire, and you don’t see it, you don’t evaluate it. You don’t compare it in terms of the ladder of evolution, high and low. |
Nếu không, các bạn có gì? Các bạn không có sự thấy; các bạn chỉ có đáp ứng với dục vọng. Các bạn hầu như không biết nó là gì. Nó chỉ là cách sống của các bạn. Các bạn chỉ phải có điều mình khao khát, và các bạn không thấy nó, không đánh giá nó. Các bạn không so sánh nó theo nấc thang tiến hoá, cao và thấp. |
||||||||
|
Although we began with instinctual effort to satisfy desire, such as we found very much in the Hall of Ignorance, along the first circle of petals, radiant energy substance gathered and looking perhaps something like a petal. |
Mặc dù chúng ta bắt đầu bằng nỗ lực theo bản năng nhằm thỏa mãn dục vọng, như chúng ta thấy rất nhiều trong Phòng Vô Minh, dọc theo vòng cánh hoa thứ nhất, chất liệu năng lượng rạng rỡ được gom lại và có lẽ trông giống như một cánh hoa. |
||||||||
|
The instinctual effort to satisfy desire—innate and inherent in the lower nature—gave [Page 203] place to planned efforts to meet desire, involving the directive use of the mind |
Nỗ lực theo bản năng nhằm thỏa mãn dục vọng—vốn bẩm sinh và cố hữu trong bản chất thấp—đã nhường [Trang 203] chỗ cho những nỗ lực có kế hoạch nhằm đáp ứng dục vọng, bao hàm việc sử dụng thể trí theo hướng chỉ đạo |
||||||||
|
Now, as I say, it’s not necessarily the best use of the mind to make it the servant of desire, but it’s natural. We all pass through that—a higher vehicle becoming for a while the slave to a lower vehicle. Maybe we can think back on times in our life when we planned and calculated, not to have light, not to have illumination, but to make sure that our desires could be carried out. |
Như tôi nói, không nhất thiết đó là cách sử dụng thể trí tốt nhất khi biến nó thành đầy tớ của dục vọng, nhưng đó là điều tự nhiên. Tất cả chúng ta đều đi qua điều ấy—một hiện thể cao hơn trong một thời gian trở thành nô lệ cho một hiện thể thấp hơn. Có lẽ chúng ta có thể nhớ lại những lúc trong đời mình khi chúng ta lập kế hoạch và tính toán, không phải để có ánh sáng, không phải để có soi sáng, mà để bảo đảm rằng dục vọng của mình có thể được thực hiện. |
||||||||
|
A man is distinguished from the animal because he recognizes his desires through the use of the mind. What else happens? The pure selfishness, the basic expression of selfishness appeared aeons ago. So, number one, the line of demarcation becomes increasingly apparent between man and animal, and the first basic expression of pure selfishness also appears. |
Con người khác với loài vật vì y nhận ra các dục vọng của mình thông qua việc sử dụng thể trí. Còn điều gì xảy ra nữa? Tính ích kỷ thuần túy, biểu hiện căn bản của tính ích kỷ, đã xuất hiện từ vô số thời đại trước. Vì vậy, thứ nhất, ranh giới phân định giữa con người và loài vật ngày càng trở nên rõ rệt; và biểu hiện căn bản đầu tiên của tính ích kỷ thuần túy cũng xuất hiện. |
||||||||
|
Now, maybe we don’t have too much anymore of that pure selfishness. It’s tainted by certain altruistic impulses, even among some of the worst people. They may be basically selfish, but maybe they love their children, or the wolf may hunt down others in a merciless manner, but he loves his own cubs and group, and so forth. Pure selfishness is hard to find. But there are some cases where people are just all wrapped up in themselves, and you are surprised. |
Có lẽ ngày nay chúng ta không còn quá nhiều thứ tính ích kỷ thuần túy ấy nữa. Nó bị pha lẫn bởi một số xung lực vị tha, ngay cả nơi một số người tệ nhất. Họ có thể căn bản là ích kỷ, nhưng có lẽ họ yêu con cái của mình; hoặc con sói có thể săn đuổi kẻ khác một cách tàn nhẫn, nhưng nó yêu đàn con và bầy của mình, vân vân. Tính ích kỷ thuần túy khó tìm thấy. Nhưng có một số trường hợp người ta hoàn toàn quấn chặt trong chính mình, và các bạn phải ngạc nhiên. |
||||||||
|
Think about Abraham Lincoln. Maybe some of you have been to the Lincoln Memorial and think about the second inaugural address given basically as the Civil War was winding down, and the loving thoughts expressed there, such that it’s an inspiration to all who visit that almost sacred place. And then think of others these days, who are doing everything they can just to grab power for themselves. They seem very small compared to the breadth of soul of a Lincoln. |
Hãy nghĩ về Abraham Lincoln. Có lẽ một số các bạn đã đến Đài Tưởng Niệm Lincoln và nghĩ về bài diễn văn nhậm chức lần thứ hai, được đọc về căn bản khi Nội chiến đang lắng xuống, và về những tư tưởng đầy tình thương được diễn đạt ở đó, đến mức nó trở thành nguồn cảm hứng cho tất cả những ai thăm viếng nơi gần như thiêng liêng ấy. Rồi hãy nghĩ đến những người khác ngày nay, những người đang làm mọi điều có thể chỉ để vơ lấy quyền lực cho bản thân. Họ dường như rất nhỏ bé so với bề rộng linh hồn của một Lincoln. |
||||||||
|
Later, as evolution proceeded and desire shifted from one planned satisfaction to another, |
Về sau, khi tiến hoá tiếp diễn và dục vọng chuyển từ một sự thỏa mãn có kế hoạch này sang một sự thỏa mãn có kế hoạch khác, |
||||||||
|
Remember that the third ray of intelligence is also the ray of planning. When you add third ray to sixth ray, you can make desire more effective. |
Hãy nhớ rằng cung ba của trí thông minh cũng là cung của việc lập kế hoạch. Khi các bạn thêm cung ba vào cung sáu, các bạn có thể làm cho dục vọng hiệu quả hơn. |
||||||||
|
it began to take on a less physical aspect |
nó bắt đầu khoác lấy một phương diện ít hồng trần hơn |
||||||||
|
and men sought pleasure in emotional experience and in its dramatisation: |
và con người tìm kiếm khoái lạc trong kinh nghiệm cảm xúc và trong sự kịch tính hóa kinh nghiệm ấy: |
||||||||
|
That’s what I’ve been trying to drive at here. It became less wedded to the body per se. |
Đó là điều tôi đã cố gắng nhắm tới ở đây. Nó trở nên ít gắn chặt với thể xác đúng nghĩa hơn. |
||||||||
|
it began to take on a less physical aspect and men sought pleasure in emotional experience and in its dramatisation: [1h] |
nó bắt đầu khoác lấy một phương diện ít hồng trần hơn, và con người tìm kiếm khoái lạc trong kinh nghiệm cảm xúc và trong sự kịch tính hóa kinh nghiệm ấy: [1h] |
||||||||
|
Now, it takes us even back to the days of Hercules, who was a great first ray soul, but at the same time a dramatist who wrote stories that were enacted in order to demonstrate the progress of the soul to those who were not thinking verbally, but they could relate to the dramatization that he put forward. And of course, the Greek tragedies as well, and the comedies. The Greek chorus, and the rhythmic, hypnotic intonations of the Greek chorus reach people in a different way than just the verbal outreach. |
Điều này thậm chí đưa chúng ta trở lại thời Hercules, người là một linh hồn cung một vĩ đại, nhưng đồng thời là một nhà soạn kịch, đã viết những câu chuyện được diễn lại nhằm biểu thị sự tiến bộ của linh hồn cho những người không suy nghĩ bằng ngôn từ, nhưng họ có thể liên hệ với sự kịch tính hóa mà ông đưa ra. Và dĩ nhiên, cả các bi kịch Hy Lạp nữa, cũng như các hài kịch. Dàn đồng ca Hy Lạp, và những ngữ điệu nhịp nhàng, thôi miên của dàn đồng ca Hy Lạp chạm đến con người theo một cách khác với chỉ sự tiếp cận bằng lời nói. |
||||||||
|
The detachment of desire from the strictly physical aspect, emotional experience, and its dramatization. We see a lot of that today. The people that are in the field of acting, and many of them in the arts, are involved in this kind of thing. They have very strong emotions. DK says the artist has a strong astral body, and then finding a way to externalize it. And then DK goes on to say, |
Sự tách rời của dục vọng khỏi phương diện thuần túy hồng trần, kinh nghiệm cảm xúc và sự kịch tính hóa nó. Ngày nay chúng ta thấy rất nhiều điều đó. Những người trong lĩnh vực diễn xuất, và nhiều người trong nghệ thuật, đều dính líu đến loại việc này. Họ có những cảm xúc rất mạnh. Chân sư DK nói người nghệ sĩ có một thể cảm dục mạnh, rồi tìm một cách để ngoại hiện nó. Và rồi Chân sư DK tiếp tục nói, |
||||||||
|
this led to the establishment of the drama as its first artistic expression; by means of this, down the ages, man has supplemented individual emotional and dramatic living with a vicarious submergence in it, thus exteriorising himself and supplementing his personal dramas, desires, and objectives with those which were developed by means of the creative imagination, thus laying the foundation for the recognition—intelligent and real—of the part in relation to the whole. [1i] |
điều này dẫn đến việc thiết lập kịch nghệ như biểu hiện nghệ thuật đầu tiên của nó; nhờ phương tiện này, qua các thời đại, con người đã bổ sung cho đời sống cảm xúc và kịch tính cá nhân bằng sự chìm đắm gián tiếp vào đó, nhờ vậy ngoại hiện chính mình và bổ sung cho những vở kịch, dục vọng và mục tiêu cá nhân của mình bằng những điều được phát triển nhờ Sự tưởng tượng sáng tạo, qua đó đặt nền móng cho sự nhận thức—thông minh và chân thực—về phần trong tương quan với toàn thể. [1i] |
||||||||
|
The drama is the first artistic expression. When you look at masonry, there is much dramatization going on, because certain types in masonry learn best by witnessing the Masonic dramas. We might say that the focus began to take on a less physical aspect. |
Kịch nghệ là biểu hiện nghệ thuật đầu tiên. Khi các bạn nhìn vào Hội Tam Điểm, có rất nhiều sự kịch tính hóa đang diễn ra, bởi một số kiểu người trong Hội Tam Điểm học tốt nhất bằng cách chứng kiến các kịch nghi Tam Điểm. Chúng ta có thể nói rằng sự tập trung bắt đầu khoác lấy một phương diện ít hồng trần hơn. |
||||||||
|
We expect that the focus will change as we evolve, and we’ll move up the ladder of refinement within the personality establishment of the drama as the first artistic expression. The Labours of Hercules are all part of that. And then, somehow in doing this… |
Chúng ta kỳ vọng rằng sự tập trung sẽ thay đổi khi chúng ta tiến hoá, và chúng ta sẽ đi lên nấc thang tinh luyện trong cấu trúc phàm ngã qua việc thiết lập kịch nghệ như biểu hiện nghệ thuật đầu tiên. Các kỳ công của Hercules đều là một phần của điều đó. Và rồi, bằng cách nào đó, khi làm điều này… |
||||||||
|
man has supplemented individual emotional and dramatic living with a vicarious submergence in it, |
con người đã bổ sung cho đời sống cảm xúc và kịch tính cá nhân bằng sự chìm đắm gián tiếp vào đó, |
||||||||
|
You go to a great play, and what’s happening is not yours, but you are caught up through a kind of identification with the dramatic situation which the actors are presenting. |
Các bạn đi xem một vở kịch lớn, và điều đang xảy ra không phải là của các bạn, nhưng các bạn bị cuốn vào qua một dạng đồng hoá với tình huống kịch tính mà các diễn viên đang trình bày. |
||||||||
|
the man is exteriorising himself and supplementing his personal dramas, desires and objectives, with those which are developed by means of the creative imagination. |
con người đang ngoại hiện chính mình và bổ sung cho những vở kịch, dục vọng và mục tiêu cá nhân của mình bằng những điều được phát triển nhờ Sự tưởng tượng sáng tạo. |
||||||||
|
And this is an interesting one. |
Và đây là một điều thú vị. |
||||||||
|
thus laying the foundation for the recognition—intelligent and real—of the part in relation to the whole. |
như vậy đặt nền tảng cho sự nhận biết—thông minh và chân thực—về phần trong tương quan với toàn thể. |
||||||||
|
It’s a very expansive paragraph. |
Đây là một đoạn văn rất mở rộng. |
||||||||
|
and supplementation through creative imagination. |
và sự bổ sung thông qua Sự tưởng tượng sáng tạo. |
||||||||
|
Sometimes you might say that a play or the situation in it was more real to you than life itself. I remember many things about getting caught up in dramas. I was once on an aeroplane, so caught by the film that was going on that when people were standing up oblivious to it and in my way, I said so to them. I was not at all pleased with their rudeness. In fact, it was I perhaps who could not be detached and was being rude accordingly. |
Đôi khi các bạn có thể nói rằng một vở kịch, hay tình huống trong đó, đối với các bạn còn thực hơn chính đời sống. Tôi nhớ nhiều điều về việc bị cuốn vào các vở kịch. Có lần tôi ở trên máy bay, bị cuốn hút đến mức bởi bộ phim đang chiếu, đến nỗi khi người ta đứng lên mà không để ý đến nó và chắn trước mặt tôi, tôi đã nói điều đó với họ. Tôi hoàn toàn không hài lòng với sự khiếm nhã của họ. Thật ra, có lẽ chính tôi mới là người không thể tách rời và vì thế đã khiếm nhã. |
||||||||
|
I’ve seen quite a number of plays of that kind, and maybe operas, and so forth. My whole first part of my life was spent in music and opera. I just remember really being caught up in what was being represented. |
Tôi đã xem khá nhiều vở kịch loại đó, và có lẽ cả các vở opera, v.v. Toàn bộ phần đầu đời tôi đã trải qua trong âm nhạc và opera. Tôi chỉ nhớ mình thật sự bị cuốn vào những gì đang được trình hiện. |
||||||||
|
But this is the metaphysical part, laying the foundation for the recognition of the part in relation to the whole. Maybe we wouldn’t expect that of a drama. Maybe if we thought about it, we would expect it. |
Nhưng đây là phần siêu hình: đặt nền tảng cho sự nhận biết phần trong tương quan với toàn thể. Có lẽ chúng ta sẽ không trông đợi điều đó ở một vở kịch. Có lẽ nếu suy nghĩ về nó, chúng ta sẽ trông đợi điều đó. |
||||||||
|
Shakespeare had said, “Man struts and frets his hour upon the stage, and then is seen no more.” It’s from Macbeth. It’s at the death of Lady Macbeth that Macbeth gives that evaluation about the poor player, man, here today and gone tomorrow, struggling, fretting a brief time. |
Shakespeare đã nói: “Con người nghênh ngang và bồn chồn trong giờ khắc của mình trên sân khấu, rồi không còn được thấy nữa.” Câu ấy từ Macbeth. Đó là lúc Lady Macbeth qua đời, khi Macbeth đưa ra nhận định ấy về người diễn viên tội nghiệp, con người—hôm nay ở đây, ngày mai đã mất—vật lộn, bồn chồn trong một thời gian ngắn ngủi. |
||||||||
|
[Table 4] |
||||||||
|
That’s how some people do see things. When we’re caught up in the drama of life without the esoteric understanding, that is often how we see things. But this business of the parts in relation to the whole, our tiny little part—there’s a quote that comes to mind. Alexander Pope, the English poet, wrote about this idea: “Act well thy part; there all the honor lies.” |
Đó là cách một số người nhìn sự vật. Khi chúng ta bị cuốn vào vở kịch của đời sống mà không có sự thấu hiểu huyền bí học, đó thường là cách chúng ta nhìn sự vật. Nhưng vấn đề về các phần trong tương quan với toàn thể, phần nhỏ bé tí hon của chúng ta—có một câu trích dẫn hiện lên trong trí tôi. Alexander Pope, nhà thơ Anh, đã viết về ý tưởng này: “Hãy diễn trọn phần của mình; nơi đó có tất cả danh dự.” |
||||||||
|
[Table 5] |
||||||||
|
Think about that in relation to your assistance with the Divine Plan. The Tibetan says, |
Hãy suy ngẫm điều đó trong tương quan với sự trợ giúp của các bạn đối với Thiên Cơ. Chân sư Tây Tạng nói, |
||||||||
|
Thus from earliest Atlantean times |
Như vậy, từ những thời kỳ Atlantis sớm nhất |
||||||||
|
Where we’re going to go back 12 million years ago at least, |
Ở đây chúng ta sẽ quay ngược lại ít nhất mười hai triệu năm trước, |
||||||||
|
the foundation was laid for the unfoldment of the sense of mystical duality through the various stages of an anthropomorphic recognition of deity |
nền tảng đã được đặt cho sự khai mở ý thức về Nhị nguyên thần bí qua các giai đoạn khác nhau của sự nhận biết Thượng đế theo hình người |
||||||||
|
In other words, God is a person, the old man with a white beard etc. But that anthropomorphism is more deeply rooted. It means taking on the form of man, right, morphic is form, and anthrop is man. |
Nói cách khác, Thượng đế là một con người, ông lão với bộ râu trắng, v.v. Nhưng sự nhân hình hóa đó có gốc rễ sâu xa hơn. Nó có nghĩa là khoác lấy hình tướng của con người; yếu tố về hình dạng là hình tướng, và yếu tố về con người là con người. |
||||||||
|
the foundation was laid for the unfoldment of the sense of mystical duality through the various stages of an anthropomorphic recognition of deity to the recognition of the real in man himself, until finally we arrive at the proposition which faces the disciple. [1j] |
nền tảng đã được đặt cho sự khai mở ý thức về Nhị nguyên thần bí qua các giai đoạn khác nhau của sự nhận biết Thượng đế theo hình người, đến sự nhận biết thực tại nơi chính con người, cho đến cuối cùng chúng ta đi đến mệnh đề đối diện với người đệ tử. [1j] |
||||||||
|
Then the Dweller on the Threshold confronts the Angel of the Presence and the last and major conflict is fought out. [1k] |
Khi ấy Kẻ Chận Ngõ đối diện với Thiên Thần của Hiện Diện, và cuộc xung đột cuối cùng, trọng đại, được tiến hành đến tận cùng. [1k] |
||||||||
|
But in early Atlantean times, mystical duality emerged through anthropomorphic recognition of Deity, which is not what Deity is at all. That evaluation sufficed for the period. And then came the big battle in which, I’m sure, many of us in different ways—and maybe not entirely completely, but sufficiently—find ourselves absorbed. |
Nhưng vào những thời kỳ Atlantis sơ khai, Nhị nguyên thần bí đã xuất hiện thông qua sự nhận biết Thượng đế theo hình người, điều hoàn toàn không phải là bản chất của Thượng đế. Sự đánh giá ấy đã đủ cho thời kỳ đó. Rồi đến cuộc chiến lớn, trong đó, tôi chắc chắn, nhiều người trong chúng ta theo những cách khác nhau—và có lẽ không hoàn toàn trọn vẹn, nhưng đủ mức—thấy mình bị cuốn vào. |
||||||||
|
This dualistic consciousness culminates at the time of the third initiation in the final fight between the pairs of opposites and the triumphant victory |
Tâm thức nhị nguyên này đạt đến đỉnh điểm vào lúc lần điểm đạo thứ ba, trong trận chiến cuối cùng giữa các cặp đối cực và chiến thắng khải hoàn |
||||||||
|
the triumphant victory of the Angel—the embodiment of the Forces of Good in the individual, in the group and in humanity [1l] |
chiến thắng khải hoàn của Thiên Thần—hiện thân của các Mãnh Lực Thiện trong cá nhân, trong nhóm và trong nhân loại [1l] |
||||||||
|
Then dualism and the desire for that which is material and not oneself (as identified with the Whole) dies out. Unity and the “life more abundantly” is achieved. [1m] |
Khi ấy thuyết nhị nguyên và ham muốn đối với cái gì thuộc vật chất và không phải là chính mình (khi được đồng hóa với Toàn Thể) sẽ tàn lụi. Sự hợp nhất và “sự sống dồi dào hơn” được thành tựu. [1m] |
||||||||
|
Certainly begins to be achieved. He gives us the whole story, and however long it may take in the final fight between the pairs of opposites and the triumphant victory of the Angel. |
Chắc chắn là bắt đầu được thành tựu. Ngài cho chúng ta toàn bộ câu chuyện, và dù phải mất bao lâu trong trận chiến cuối cùng giữa các cặp đối cực và chiến thắng khải hoàn của Thiên Thần. |
||||||||
|
We go from a dualistic consciousness to the type of consciousness characterized by the three letters, MON—Monad, monk, mono—meaning one. And who is the Angel, the good wherever it shows up, and even if it’s in its projection as the Angel of the Presence. |
Chúng ta đi từ một tâm thức nhị nguyên đến loại tâm thức được đặc trưng bởi ba chữ M, O, N—chân thần, tu sĩ, đơn nhất—có nghĩa là một. Và Thiên Thần là ai? Là điều thiện ở bất cứ nơi nào nó xuất hiện, ngay cả khi nó ở trong sự phóng chiếu của chính nó như Thiên Thần của Hiện Diện. |
||||||||
|
Then dualism and the desire for that which is material and not oneself (as identified with the Whole) dies out. Unity and the “life more abundantly” is achieved |
Khi ấy thuyết nhị nguyên và ham muốn đối với cái gì thuộc vật chất và không phải là chính mình (khi được đồng hóa với Toàn Thể) sẽ tàn lụi. Sự hợp nhất và “sự sống dồi dào hơn” được thành tựu |
||||||||
|
Whether these two beings—because the real life more abundantly is an Aquarian factor and has to do with Shamballic—I’m not going to go any further, you will be happy to know. |
Liệu hai thực thể này—vì sự sống dồi dào hơn đích thực là một yếu tố Bảo Bình và có liên quan đến Shamballa—tôi sẽ không đi xa hơn nữa, các bạn sẽ vui khi biết điều đó. |
||||||||
|
… |
… |
||||||||
|
Yes. Leslie asked you a question a little earlier on. She wanted to know if was the channeling in Hitler’s circle done by Maria Orsic. |
Leslie đã hỏi Thầy một câu hỏi trước đó một chút. Bà muốn biết việc truyền kênh trong nhóm của Hitler có phải do Maria Orsic thực hiện không. |
||||||||
|
The channeling I was talking about was a World War One channeling, and I can’t remember the name of the channel. You may have looked it up. I’m not remembering the name of the channel. I just know that she was much sought after, and apparently convinced the top brass that she was channeling the great star Aldebaran. If you think about it, I would have to look that up, but maybe you have looked it up. |
Sự truyền kênh mà tôi nói đến là một sự truyền kênh thời Chiến tranh Thế giới thứ nhất, và tôi không nhớ tên người truyền kênh. Có thể các bạn đã tra cứu. Tôi không nhớ tên người truyền kênh ấy. Tôi chỉ biết rằng bà được nhiều người tìm đến, và rõ ràng đã thuyết phục giới chỉ huy cao cấp rằng bà đang truyền kênh đại sao Aldebaran. Nếu suy nghĩ về điều đó, tôi sẽ phải tra cứu lại, nhưng có lẽ các bạn đã tra rồi. |
||||||||
|
She also asked if it was the Bril. |
Bà cũng hỏi liệu đó có phải là Bril không. |
||||||||
|
People in the high ranks of the military were glamorously misled by a claimant of preposterous things. We’re lucky if we channel our own soul instead of our subconscious mind. A lot of people who are not involved in the intelligent pursuit of occultism are in worse shape. |
Những người ở cấp cao trong quân đội đã bị dẫn lạc một cách đầy ảo cảm bởi một kẻ tuyên bố những điều phi lý. Chúng ta đã may mắn nếu truyền kênh được chính linh hồn mình thay vì tiềm thức của mình. Nhiều người không dấn thân vào việc theo đuổi huyền bí học một cách thông minh còn ở trong tình trạng tệ hơn. |
||||||||
|
It’s quite natural for them to believe, “Oh, she’s channeling Aldebaran, but someone else is channeling Beetlejuice.” These are huge entities—we’re talking about among the royal stars, at least Aldebaran. Common sense of a fairly well-trained esoteric student would warn away from that stuff. But it became an exciting thing, and it became as if truth. Who knows what damage it did on the battlefield and in the conduct of the war. It certainly contributed to a sense of exaltation among some of the leading military people. |
Đối với họ, việc tin rằng “Ồ, bà ấy đang truyền kênh Aldebaran, còn người khác đang truyền kênh Betelgeuse” là điều khá tự nhiên. Đây là những thực thể khổng lồ—ít nhất với Aldebaran, chúng ta đang nói đến một trong các sao hoàng gia. Lương tri của một đạo sinh huyền bí học được rèn luyện khá tốt sẽ cảnh báo họ tránh xa những chuyện đó. Nhưng nó đã trở thành một điều kích thích, và trở nên như thể là chân lý. Ai biết được nó đã gây thiệt hại gì trên chiến trường và trong việc điều hành chiến tranh. Chắc chắn nó đã góp phần tạo nên một cảm giác phấn khích nơi một số nhân vật quân sự lãnh đạo. |
||||||||
|
You may be correct, but I would have to go searching, which I’ll just leave to you and to others. I have no time right now. I just know the general layout of the event. |
Các bạn có thể đúng, nhưng tôi sẽ phải đi tìm, và tôi xin để việc đó cho các bạn và những người khác. Hiện giờ tôi không có thời gian. Tôi chỉ biết bố cục chung của sự kiện. |
||||||||
|
Okay. Okay. And then Erin says, Could you say a little more about the period of recognizing our own glamours and being horrified, maybe tell us where that falls on the path of initiation? |
Erin nói: Thầy có thể nói thêm một chút về giai đoạn nhận ra các ảo cảm của chính mình và kinh hãi trước chúng, có lẽ cho chúng con biết giai đoạn đó nằm ở đâu trên Con Đường Điểm Đạo không? |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
It was true of Alice Bailey and the Tibetan. He said, “It may have been a long time since I succumbed to any glamour, and a shorter time since AAB did, but we’re both horrified.” So when could that be? It’s not going to be before there is a mental focus, even mental polarization with the mind held steady in the light. |
Điều đó đúng với Alice Bailey và Chân sư Tây Tạng. Ngài nói: “Có thể đã rất lâu rồi kể từ khi Tôi khuất phục trước bất kỳ ảo cảm nào, và thời gian ngắn hơn kể từ khi AAB làm như vậy, nhưng cả hai chúng tôi đều kinh hãi.” Vậy điều đó có thể xảy ra khi nào? Nó sẽ không xảy ra trước khi có sự tập trung trí tuệ, thậm chí là sự phân cực trí tuệ với thể trí được giữ vững trong ánh sáng. |
||||||||
|
You have to be at least a disciple of some standing, not necessarily a third degree initiate, but a probationary disciple of some standing, in order to really begin to recognize your glamours. You have to have that mental polarization, where the mind aided by the love of the soul is taking over the usual emotional response. A person who is the victim of emotional glamours but does not have that mental disciplic focus, centering around the second initiation, maybe when the antahkarana is being built and so forth, is just not going to be able to say, “Ah, yes, now I see. I was deluded. I didn’t see it before. Yes, it looks like I had been the victim of X, Y or Z.” |
Các bạn phải ít nhất là một đệ tử có trình độ nào đó, không nhất thiết là một điểm đạo đồ bậc ba, nhưng là một đệ tử dự bị có trình độ nào đó, để thật sự bắt đầu nhận ra các ảo cảm của mình. Các bạn phải có sự phân cực trí tuệ ấy, nơi thể trí, được trợ giúp bởi tình thương của linh hồn, đang tiếp quản đáp ứng cảm xúc thông thường. Một người là nạn nhân của các ảo cảm cảm xúc nhưng không có sự tập trung trí tuệ mang tính đệ tử đó, xoay quanh lần điểm đạo thứ hai, có lẽ khi antahkarana đang được xây dựng, v.v., sẽ không thể nói: “À, vâng, giờ tôi thấy rồi. Tôi đã bị mê hoặc. Trước đây tôi không thấy. Vâng, có vẻ như tôi đã là nạn nhân của điều này, điều kia hay điều nọ.” |
||||||||
|
In my opinion, it would help to be an accepted disciple, it would help to be under the Masters supervision, it would help to be a kind of individual who had a mental outlook on life—but not just a cold, hard, brittle, dry mental outlook, but one that is characteristic of the soul-infused mind, which is characteristic of the initiate, pending the initiate of the second degree. |
Theo ý tôi, sẽ hữu ích nếu là một đệ tử được chấp nhận; sẽ hữu ích nếu ở dưới sự giám sát của các Chân sư; sẽ hữu ích nếu là loại cá nhân có một quan điểm trí tuệ về đời sống—nhưng không chỉ là một quan điểm trí tuệ lạnh lẽo, cứng rắn, giòn khô, mà là quan điểm đặc trưng của thể trí được linh hồn thấm nhuần, vốn là đặc trưng của điểm đạo đồ, trong khi chờ trở thành điểm đạo đồ bậc hai. |
||||||||
|
I would say around the period of the second degree, and remember how important Mercury is at that second degree when you can really begin building the antahkarana in the manner that DK suggested. That very mental planet involved with the abstract mind, but also with pure reason. Mercury gets into the act and certainly helps. I would say there’s not one of us here, if we are persistent, who cannot recognize some of the glamours to which we are prone, especially as people we live with, or around us, are only too ready to remind us about things that we don’t see in ourselves. |
Tôi muốn nói là vào khoảng thời kỳ của bậc hai, và hãy nhớ Sao Thủy quan trọng như thế nào ở bậc hai ấy, khi các bạn thật sự có thể bắt đầu xây dựng antahkarana theo cách Chân sư DK đã gợi ý. Hành tinh rất trí tuệ đó liên quan đến trí trừu tượng, nhưng cũng liên quan đến lý trí thuần túy. Sao Thủy tham gia vào công việc và chắc chắn giúp ích. Tôi muốn nói rằng không một ai trong chúng ta ở đây, nếu chúng ta kiên trì, lại không thể nhận ra một số ảo cảm mà mình dễ mắc phải, đặc biệt khi những người sống cùng chúng ta, hoặc ở quanh chúng ta, luôn quá sẵn sàng nhắc chúng ta về những điều chúng ta không thấy nơi chính mình. |
||||||||
|
Sometimes I say, we have a PIP test, personal identity profile, and why don’t you have someone who knows you well take the PIP for you, as it were, their impressions of you. Maybe you’ll see something that you didn’t see as vividly. I had a person do this, who knew me quite well, and I came out to be quite a fanatic, which I had not—at least in their eyes—judged myself to be quite so much along that line. But that’s how they saw me, and maybe I found that helpful. I think it’s amusing too when their taking of the PIP corresponds with your taking of the PIP, then we may be nearer to truth in both cases, that they have a sharp eye and you have been truthful about yourself. |
Đôi khi tôi nói, chúng ta có một bài kiểm tra PIP, hồ sơ bản sắc cá nhân; vậy tại sao các bạn không nhờ một người biết rõ các bạn làm bài PIP thay cho các bạn, có thể nói như vậy, tức là những ấn tượng của họ về các bạn. Có lẽ các bạn sẽ thấy điều gì đó mà mình chưa thấy một cách sống động như vậy. Tôi đã nhờ một người biết khá rõ về tôi làm điều này, và kết quả cho thấy tôi khá cuồng tín, điều mà tôi—ít nhất trong mắt họ—đã không tự đánh giá mình nghiêng nhiều theo hướng đó đến thế. Nhưng đó là cách họ nhìn tôi, và có lẽ tôi thấy điều đó hữu ích. Tôi cũng nghĩ thật thú vị khi việc họ làm PIP tương ứng với việc các bạn làm PIP, khi ấy chúng ta có thể gần với chân lý hơn trong cả hai trường hợp: họ có con mắt sắc bén và các bạn đã trung thực về chính mình. |
||||||||
|
Anyway, you can begin now. |
Các bạn có thể bắt đầu ngay bây giờ. |
||||||||
|
Mary says, Dear Michael, I’m reflecting on the discernment between lower desire of glamour, Scorpio, to the aspiration to the light in Sagittarius as the Phoenix, without attachment or aversion, but in beingness, living, embracing compassionately, and being able to be in awe with art and beauty in service to humanity, not to the attachment of the personality. |
Mary nói: Michael thân mến, con đang suy ngẫm về sự phân biện tinh thần giữa dục vọng thấp của ảo cảm, Hổ Cáp, với khát vọng hướng về ánh sáng trong Nhân Mã như Phượng hoàng, không dính mắc hay chán ghét, mà trong bản thể, sống, ôm ấp bằng lòng từ bi, và có thể kinh ngạc trước nghệ thuật và vẻ đẹp trong phụng sự nhân loại, chứ không phải trong sự dính mắc của phàm ngã. |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
There are higher arts definitely. It’s not to say that when we encounter art, we have some low thing. As a matter of fact, DK is promising for us a new renaissance under the monadic aspect of the fourth ray, which is coming in around the year 2025. Even though there are ways of escaping through what we normally call art, or television drama, or whatever—if you’ve ever had the fortune or misfortune of looking at some of the soap operas—they’re not exactly the highest in terms of art, and they’re very personal. But as Master Morya says, in one transport of art (I’m not going to say it right), the idea is that art transports you rapidly into a realm which transcends the cerebral sinuosity of the brain. |
Chắc chắn có những nghệ thuật cao hơn. Không phải cứ khi chúng ta gặp nghệ thuật là chúng ta gặp điều gì thấp kém. Thật ra, Chân sư DK hứa với chúng ta một thời phục hưng mới dưới phương diện chân thần của cung bốn, đang đi vào khoảng năm 2025. Dù có những cách trốn thoát qua điều chúng ta thường gọi là nghệ thuật, hay kịch truyền hình, hay bất cứ điều gì—nếu các bạn từng có may mắn hay bất hạnh xem một vài vở kịch truyền hình dài tập—chúng không hẳn là cao nhất về phương diện nghệ thuật, và chúng rất cá nhân. Nhưng như Chân sư Morya nói, trong một trạng thái được nghệ thuật nâng bổng, ý tưởng là nghệ thuật nhanh chóng đưa các bạn vào một cõi vượt quá sự ngoằn ngoèo thuộc não bộ của bộ não. |
||||||||
|
There are ways of really respecting the way art has of sensitizing the individual. Frequently, DK uses the word art rather than science. Once the knowledge of science has been learned, it can be applied intuitively, artistically. There are these higher forms. |
Có những cách để thật sự tôn trọng khả năng của nghệ thuật trong việc làm cho cá nhân trở nên nhạy cảm. Chân sư DK thường dùng từ nghệ thuật thay vì khoa học. Một khi tri thức của khoa học đã được học, nó có thể được áp dụng một cách trực giác, một cách nghệ thuật. Có những hình thức cao hơn như vậy. |
||||||||
|
We can become the Phoenix as we pass the burning grounds, because there’s an incineration of old obstacles on the burning grounds, at least before the first three initiations. Because of that, we can fly much freer. |
Chúng ta có thể trở thành Phượng hoàng khi đi qua các vùng đất cháy, vì có sự thiêu hủy các chướng ngại cũ trên các vùng đất cháy, ít nhất là trước ba lần điểm đạo đầu. Nhờ đó, chúng ta có thể bay tự do hơn nhiều. |
||||||||
|
Is there a higher type of Phoenix? I think there is. I think that what happens is you pass the ascension initiation at the sixth degree, as the Christ did, when he, so to speak, disappeared into a cloud, which is all that his disciples could imagine had happened. When has a seventh degree Chohan to sit at the right hand of the Father symbolically speaking? A Phoenix light arising into his higher position on the cosmic physical plane is possible, and he holds very close to that very high position on the cosmic physical plane, being a member of the council at Shambala. |
Có một loại Phượng hoàng cao hơn không? Tôi nghĩ là có. Tôi nghĩ điều xảy ra là các bạn vượt qua lần điểm đạo thăng thiên ở bậc sáu, như Đức Christ đã làm, khi Ngài, có thể nói, biến mất vào một đám mây, đó là tất cả những gì các đệ tử của Ngài có thể hình dung đã xảy ra. Khi nào một Chohan bậc bảy ngồi bên hữu của Cha, nói theo biểu tượng? Một ánh sáng Phượng hoàng vươn lên vị trí cao hơn của mình trên cõi hồng trần vũ trụ là điều có thể, và Ngài giữ rất gần vị trí rất cao ấy trên cõi hồng trần vũ trụ, với tư cách là một thành viên của hội đồng tại Shamballa. |
||||||||
|
You can interpret arts, sciences, ascension, elevation—you can interpret all these things from a lower perspective or a higher perspective. Try to be clear about which one we’re using. |
Các bạn có thể diễn giải nghệ thuật, khoa học, thăng thiên, nâng cao—các bạn có thể diễn giải tất cả những điều này từ một viễn cảnh thấp hơn hoặc một viễn cảnh cao hơn. Hãy cố gắng rõ ràng về viễn cảnh nào chúng ta đang dùng. |
||||||||
|
I hadn’t really finished reading it. She went on to say, could you highlight the discernment here. But I think you actually did that, so I’m pretty sure that covers what she was asking. And then Yvonne put in there to everyone that page 120 of the glamour book is where the glamours are for all the different rays. |
Con thật ra chưa đọc xong. Bà nói tiếp rằng, Thầy có thể làm nổi bật sự phân biện tinh thần ở đây không. Nhưng con nghĩ Thầy thật sự đã làm điều đó, nên con khá chắc điều này bao quát điều bà đang hỏi. Và rồi Yvonne đưa vào cho mọi người biết rằng trang 120 của sách về ảo cảm là nơi liệt kê các ảo cảm cho tất cả các cung khác nhau. |
||||||||
|
That all starts here. Obviously, he hasn’t mentioned all. He came up with many unique glamours for the students to whom he was informing about their glamours, but at least it was a very good start. You may be able to do this quite on your own, but when you have the help of truly honest associates, then perhaps what they say can be additionally helpful in pointing out your own individual glamours. |
Tất cả bắt đầu ở đây. Rõ ràng Ngài chưa đề cập đến tất cả. Ngài đã nêu ra nhiều ảo cảm độc đáo cho các đạo sinh mà Ngài đang thông báo về các ảo cảm của họ, nhưng ít nhất đó là một khởi đầu rất tốt. Các bạn có thể tự mình làm điều này khá tốt, nhưng khi có sự trợ giúp của những cộng sự thật sự trung thực, thì có lẽ điều họ nói có thể thêm phần hữu ích trong việc chỉ ra các ảo cảm cá nhân của chính các bạn. |
||||||||
|
We have to assume that we still have them even though they might be quite high in a certain sense. We might say, why did the rich young man of the third degree go sadly away, having fulfilled so very much, yet he went sadly away when the Christ said to him, “Take all you have, give it to the poor, or sell it and take the proceeds and give them to the poor, and then follow me.” And that was at a high point. What shall we call it? Glamour and illusion. |
Chúng ta phải giả định rằng mình vẫn còn chúng, dù theo một nghĩa nào đó chúng có thể khá cao. Chúng ta có thể nói, tại sao chàng thanh niên giàu có ở bậc ba lại buồn bã bỏ đi, sau khi đã hoàn tất rất nhiều, nhưng y vẫn buồn bã bỏ đi khi Đức Christ nói với y: “Hãy lấy tất cả những gì ngươi có, cho người nghèo, hoặc bán đi rồi lấy tiền đó cho người nghèo, rồi hãy theo ta.” Và điều đó xảy ra ở một điểm cao. Chúng ta gọi đó là gì? Ảo cảm và ảo tưởng. |
||||||||
|
He had the glamour of the sufficient adequacy of the Egoic Lotus, and we all know what happens to the Egoic Lotus—that it does not remain sufficient forever. Now, it may be a number of lives ahead before we really experience that, but it does not serve forever. There are other and higher states that have to take its place. |
Y có ảo cảm về sự đầy đủ tự mãn của Hoa Sen Chân Ngã, và tất cả chúng ta đều biết điều gì xảy ra với Hoa Sen Chân Ngã—rằng nó không mãi mãi còn đầy đủ. Có thể còn một số kiếp sống nữa trước khi chúng ta thật sự trải nghiệm điều đó, nhưng nó không phụng sự mãi mãi. Có những trạng thái khác, cao hơn, phải thay thế nó. |
||||||||
|
Yvonne goes on to ask where are they located in your book Tapestry of the Gods? |
Yvonne tiếp tục hỏi chúng nằm ở đâu trong sách Tấm Thảm của các Thượng đế của Thầy? |
||||||||
|
Maybe someone knows. I’m not sure that I dealt particularly and in a condensed manner with glamour. Maybe I did. It’s been a long time since I wrote that book. |
Có lẽ ai đó biết. Tôi không chắc mình đã bàn riêng và một cách cô đọng về ảo cảm. Có lẽ tôi đã làm. Đã lâu rồi kể từ khi tôi viết cuốn sách đó. |
||||||||
|
Michael, this is not a criticism, but there is nothing in Tapestry that’s in a condensed manner. |
Michael, đây không phải là lời phê bình, nhưng trong Tấm Thảm không có điều gì được trình bày một cách cô đọng cả. |
||||||||
|
I’m sure I mentioned foibles for many combinations. I just don’t know if I’ve put them together in glamour lists. Maybe somehow, somewhere in the book. |
Tôi chắc chắn đã đề cập đến các nhược điểm đối với nhiều tổ hợp. Tôi chỉ không biết liệu mình có gom chúng lại thành các danh sách ảo cảm hay không. Có lẽ bằng cách nào đó, ở đâu đó trong sách. |
||||||||
|
Martine says the glamour of continuous frustration, in the constant failure to achieve the fullest expression of your spiritual aims and goals. She says DINA II, page 601, to a disciple. |
Martine nói về ảo cảm của sự thất vọng liên tục, trong sự không ngừng thất bại trong việc đạt đến sự biểu lộ đầy đủ nhất các mục tiêu và mục đích tinh thần của mình. Bà nói Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới II, trang 601, gửi một đệ tử. |
||||||||
|
Upon the second glamour I need not enlarge. We might call it the “glamour of continuous frustration.” In your case and in the constant failure to achieve the fullest expression of your spiritual aims and goals, because of small and unimportant [Page 601] personality qualities (most of them tied up with your racial inheritance and your environing circumstances), you are constantly aware of lack of achievement and of failure to do what your soul has made quite adequately clear to you is possible. Here I cannot help you. The issue lies in your own hands. Do you realise, my brother, that a week’s perfected discipline would carry you further than a year’s aspiration, accompanied as it is (in your case) by a constant sense of failure? Go forward therefore, my beloved brother, and rest not content until liberation is yours. To RSU. DINAII 600-601 |
Về ảo cảm thứ hai, Tôi không cần nói rộng. Chúng ta có thể gọi nó là “ảo cảm của sự thất vọng liên tục.” Trong trường hợp của huynh và trong sự không ngừng thất bại trong việc đạt đến sự biểu lộ đầy đủ nhất các mục tiêu và mục đích tinh thần của huynh, do những phẩm tính phàm ngã nhỏ bé và không quan trọng [Trang 601] (phần lớn gắn liền với di sản chủng tộc và hoàn cảnh bao quanh của huynh), huynh thường xuyên ý thức về sự thiếu thành tựu và về việc không làm được điều mà linh hồn huynh đã làm cho huynh thấy khá rõ là có thể. Ở đây Tôi không thể giúp huynh. Vấn đề nằm trong tay chính huynh. Huynh có nhận ra không, huynh đệ của tôi, rằng một tuần kỷ luật hoàn hảo sẽ đưa huynh tiến xa hơn một năm khát vọng, vốn đi kèm (trong trường hợp của huynh) với một cảm thức thất bại thường xuyên? Vì vậy hãy tiến tới, huynh đệ yêu dấu của Tôi, và đừng tự bằng lòng cho đến khi sự giải thoát là của huynh. Gửi RSU. Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới II, 600–601 |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
There was one disciple who was constantly frustrated by circumstance. He got involved in such petty little things that it rather overwhelmed him. And then of course, there’s the fear of failure in carrying out one’s mission. The idea that one has a special destiny can be a Ray One glamour, but it does sound likely for a man who was really quite a high probationary initiate. I would say he was pushing through the second degree. This was my estimation of him, and he was thwarted again and again by his surroundings. |
Có một đệ tử thường xuyên thất vọng vì hoàn cảnh. Ông dính vào những chuyện nhỏ nhặt đến mức chúng gần như áp đảo ông. Và dĩ nhiên, còn có nỗi sợ thất bại trong việc thực hiện sứ mệnh của mình. Ý tưởng rằng một người có một định mệnh đặc biệt có thể là một ảo cảm cung một, nhưng điều đó nghe có vẻ có khả năng đối với một người thật sự là một điểm đạo đồ dự bị khá cao. Tôi muốn nói ông đang vượt qua bậc hai. Đó là đánh giá của tôi về ông, và ông liên tục bị môi trường chung quanh cản trở. |
||||||||
|
I’m sure you know it’s not uncommon. Many of us say, “Oh, if only I had the time to do this, that, or the other, but I’m so involved in what I have to do karmically or dynamically, or in some other way. I just have to do these things. They’re not really what I want to do, but I have to do them. And if only I didn’t, then I could really fulfill myself.” But sometimes, that is actually an untruth. |
Tôi chắc các bạn biết điều này không hiếm. Nhiều người trong chúng ta nói: “Ồ, giá mà tôi có thời gian để làm việc này, việc kia, hay việc khác, nhưng tôi quá dính vào những gì tôi phải làm theo nghiệp quả, hay theo động lực, hoặc theo một cách nào khác. Tôi chỉ phải làm những điều này. Chúng thật sự không phải là điều tôi muốn làm, nhưng tôi phải làm. Và giá mà tôi không phải làm, thì tôi thật sự có thể hoàn thành chính mình.” Nhưng đôi khi, điều đó thật ra là một điều không thật. |
||||||||
|
If we look at the Gemini labor of Hercules, poor Hercules was always being stopped every time he thought he was getting near the Golden Apples of the Hesperides. He found he had something else to do, whether it was going to be to free Prometheus, or to help Atlas, or to fight Antaeus. He had difficult chores that he says, “This is leading me away from the golden apples,” when in fact, it was precisely because of his sacrifice, leading him to the golden apples. |
Nếu chúng ta nhìn vào kỳ công Song Tử của Hercules, Hercules tội nghiệp luôn bị chặn lại mỗi khi ông nghĩ mình đang đến gần các Quả Táo Vàng của Hesperides. Ông thấy mình có việc khác phải làm, dù là đi giải thoát Prometheus, hay giúp Atlas, hay chiến đấu với Antaeus. Ông có những công việc khó khăn mà ông nói: “Điều này đang dẫn tôi xa khỏi các quả táo vàng,” trong khi thật ra, chính nhờ sự hi sinh của ông mà ông được dẫn đến các quả táo vàng. |
||||||||
|
Sometimes, when we think that we’re being stopped from what our real destiny is, we’re actually being led to it by working on the karma and the duty—both Saturn things—that stand between us and the selflessness it requires to receive the Golden Apples of wisdom. That’s sometimes a hard lesson to learn. You get really frustrated, and think, “I don’t want to do this. Why do I have to do this, and not that? And yet, I have to do this?” Well, that might have to do with the sense of responsibility. |
Đôi khi, khi chúng ta nghĩ mình đang bị chặn lại khỏi định mệnh thật sự của mình, thì thật ra chúng ta đang được dẫn đến nó bằng cách xử lý nghiệp quả và bổn phận—cả hai đều là những điều thuộc Thổ Tinh—đang đứng giữa chúng ta và tính vị tha cần thiết để tiếp nhận các Quả Táo Vàng của minh triết. Đôi khi đó là một bài học khó học. Các bạn thật sự thất vọng và nghĩ: “Tôi không muốn làm việc này. Tại sao tôi phải làm việc này, mà không phải việc kia? Vậy mà tôi vẫn phải làm việc này?” Điều đó có thể liên quan đến ý thức trách nhiệm. |
||||||||
|
Djwhal Khul says the very first indication that the soul is really taking control is to fulfill responsibility even though it’s annoying at times. |
Chân sư Djwhal Khul nói dấu hiệu đầu tiên cho thấy linh hồn thật sự đang nắm quyền là hoàn thành trách nhiệm, dù đôi khi điều đó gây khó chịu. |
||||||||
|
BL: |
BL: |
||||||||
|
You mentioned it [glamour] a number of times. I mean, you literally list the glamour of this or the glamour of that. I found 36 occurrences in Volume One and 20 occurrences in Volume Two. |
Thầy đã nhắc đến nó [ảo cảm] nhiều lần. Ý con là, Thầy thật sự liệt kê ảo cảm này hay ảo cảm kia. Con tìm thấy ba mươi sáu lần xuất hiện trong Tập Một và hai mươi lần xuất hiện trong Tập Hai. |
||||||||
|
Now, let me see. It was RSU was the disciple in DINA II, page 601. Somebody looked that up for us. Thank you. |
Để tôi xem. Đó là RSU, đệ tử trong Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới II, trang 601. Có người đã tra cứu điều đó cho chúng ta. Cảm ơn. |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
That’s another important disciple. What did it say of her? That she was Alice Bailey’s right hand person. She was the main editor of the books, and she probably had many trivial things to do, and she dreamt of liberation. Finally, a liberation came to her as she was transferred back into her own true ashram, which was that of Master Kuthumi. This means certainly that she was in the area or beyond the second degree. |
Đó là một đệ tử quan trọng khác. Người ta nói gì về bà? Rằng bà là cánh tay phải của Alice Bailey. Bà là biên tập viên chính của các sách, và có lẽ bà có nhiều việc vụn vặt phải làm, và bà mơ về sự giải thoát. Cuối cùng, một sự giải thoát đã đến với bà khi bà được chuyển trở lại ashram chân thật của chính mình, tức ashram của Chân sư Kuthumi. Điều này chắc chắn có nghĩa là bà ở trong khu vực của bậc hai hoặc vượt quá bậc hai. |
||||||||
|
The status of a disciple is pretty much between that disciple and the master, but there are indications, and she was a high achieving disciple who had her own issues, difficult issues, because it was all about for her Judaism. She was born in the Jewish group, but DK assured her that for many lives, she had been not in the Jewish group, and this was just a temporary landing. But she identified so strongly with it that she made some big mistakes in terms of the overall teaching, and became hypersensitive on matters in relation to which she could have had more detachment. |
Địa vị của một đệ tử phần lớn là chuyện giữa đệ tử đó và Chân sư, nhưng có những dấu hiệu; và bà là một đệ tử thành tựu cao, người có những vấn đề riêng của mình, những vấn đề khó khăn, vì đối với bà tất cả đều xoay quanh Do Thái giáo. Bà sinh ra trong nhóm Do Thái, nhưng Chân sư DK bảo đảm với bà rằng trong nhiều kiếp sống, bà đã không ở trong nhóm Do Thái, và đây chỉ là một nơi đáp tạm thời. Nhưng bà đồng hóa quá mạnh với nó đến mức bà đã phạm một số sai lầm lớn liên quan đến giáo huấn tổng quát, và trở nên quá nhạy cảm về những vấn đề mà đối với chúng bà lẽ ra có thể có nhiều sự tách rời hơn. |
||||||||
|
Alice Bailey could have taught her that, and probably tried to do so. But there was a stubborn streak within her, and later she realized her errors, but for quite a while she was under that spell. She was a high disciples, and also one of the ones in the telepathic seed group, which had very abstruse instruction. The more I go through that book, the more I realize the Tibetan is really searching for words to convey something that is not at all easy for him to convey with words. |
Alice Bailey có thể đã dạy bà điều đó, và có lẽ đã cố làm như vậy. Nhưng có một nét bướng bỉnh bên trong bà, và về sau bà đã nhận ra các sai lầm của mình; tuy nhiên trong một thời gian khá lâu, bà ở dưới bùa mê đó. Bà là một đệ tử cao cấp, và cũng là một trong những người thuộc nhóm hạt giống viễn cảm, vốn có giáo huấn rất sâu kín. Càng đi sâu vào cuốn sách đó, tôi càng nhận ra Chân sư Tây Tạng thật sự đang tìm kiếm từ ngữ để truyền đạt điều gì đó mà đối với Ngài hoàn toàn không dễ truyền đạt bằng lời. |
||||||||
|
RSU or DLR—they were both high disciples. The story of RSU is a very interesting story. What do the letters stand for? The first one is Restraint. R is restraint. Strength, Understanding. |
RSU hay DLR—cả hai đều là các đệ tử cao cấp. Câu chuyện của RSU là một câu chuyện rất thú vị. Các chữ cái đó tượng trưng cho điều gì? Chữ đầu tiên là Kiềm chế. R là kiềm chế. Sức mạnh, Thấu hiểu. |
||||||||
|
I don’t know which one was italicized. I’d have to go hunting. But part of her difficulty was that she was impulsive and needed to hold back in places where she was prone to act in ways that were maybe not meshing with a group. Just like Alice Bailey, Skill in Action, I think was the one. Alice Bailey was D.S.R—Detachment, Rest, and Skill In Action. |
Tôi không biết chữ nào được in nghiêng. Tôi sẽ phải đi tìm. Nhưng một phần khó khăn của bà là bà bốc đồng và cần biết dừng lại ở những nơi bà dễ hành động theo những cách có lẽ không hòa hợp với một nhóm. Cũng như Alice Bailey, Khéo léo trong Hành động, tôi nghĩ đó là chữ ấy. Alice Bailey là D.S.R—Tách rời, Nghỉ ngơi, và Khéo léo trong Hành động. |
||||||||
|
Michael |
Michael |
||||||||
|
That’s an italicized one. You wouldn’t know it could think she had a good Gemini sense of humor. The story goes about her. |
Đó là chữ được in nghiêng. Các bạn sẽ không biết điều đó; người ta có thể nghĩ bà có óc hài hước Song Tử tốt. Câu chuyện kể về bà. |
||||||||
|
… |
… |
||||||||
|
She says, “Look, don’t go out and save the world until you fulfill Bethlehem.” From Bethlehem to Calvary is a wonderful book for Christians who are on the brink of a possible transition. Alice Bailey, from her Christian background, was able to write in a way that could be understood. |
Bà nói: “Hãy nhìn đây, đừng đi ra ngoài để cứu thế giới cho đến khi các bạn hoàn thành Bethlehem.” Từ Bethlehem đến Calvary là một cuốn sách tuyệt vời cho các tín hữu Cơ Đốc đang ở ngưỡng của một chuyển tiếp có thể xảy ra. Alice Bailey, từ nền tảng Cơ Đốc của mình, đã có thể viết theo cách có thể được thấu hiểu. |
||||||||
|
If you have friends who are there, and they have been very much committed to the Christian way but are looking for something deeper, Bethlehem to Calvary is the book for them, or at least one of the books. |
Nếu các bạn có những người bạn đang ở đó, và họ đã rất gắn bó với con đường Cơ Đốc nhưng đang tìm kiếm điều gì đó sâu hơn, thì Từ Bethlehem đến Calvary là cuốn sách dành cho họ, hoặc ít nhất là một trong những cuốn sách dành cho họ. |
||||||||
|
Webinar 189 |
Webinar 189 |
||||||||
|
Abstract |
Tóm tắt |
||||||||
|
Dissipation of Glamour Initiative webinar 189, reading no. 125. The reading was from Glamour: A World Problem, pages 203–205. |
Webinar Sáng Kiến Xua Tan Ảo cảm 189, bài đọc số 125. Bài đọc trích từ Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới, các trang 203–205. |
||||||||
|
At the time of the 3rd initiation the final battle between the pairs of opposites and the triumphant Angel occurs. The process followed by the disciple who is consciously working at the dissipation of glamour in his life can be divided into four stages: |
Vào lúc lần điểm đạo thứ ba, trận chiến cuối cùng giữa các cặp đối cực và Thiên Thần chiến thắng khải hoàn diễn ra. Tiến trình mà người đệ tử, người đang hữu thức làm việc để làm tiêu tan ảo cảm trong đời sống mình, đi theo có thể được chia thành bốn giai đoạn: |
||||||||
|
1) The stage of recognition of the glamours which hide the Real (dependent in any one life by the ray of the personality). 2) The stage of focusing the disciple’s consciousness upon the mental plane and the gathering of the light (so illumination is clear, the work to be done is plainly seen, and the searchlight of the mind is directed upon the glamour to be dissipated). 3) The stage of direction (pouring light under intelligent direction into the dark places of the astral plane to dissipate the glamour and see the Real). 4) The stage of identification with the Real as it is contacted after the dissipation of the glamour. |
1) Giai đoạn nhận biết các ảo cảm che giấu Thực Tại (trong bất cứ một kiếp sống nào, điều này tùy thuộc vào cung phàm ngã). 2) Giai đoạn tập trung tâm thức của đệ tử trên cõi trí và gom ánh sáng lại (để sự soi sáng rõ ràng, công việc cần làm được thấy rõ, và ánh đèn pha của thể trí được hướng vào ảo cảm cần được làm tiêu tan). 3) Giai đoạn định hướng (tuôn ánh sáng dưới sự hướng dẫn thông minh vào những nơi tối tăm của cõi cảm dục để làm tiêu tan ảo cảm và thấy Thực Tại). 4) Giai đoạn đồng hóa với Thực Tại khi nó được tiếp xúc sau khi ảo cảm đã tiêu tan. |
||||||||
|
This process of recognition, focusing, dissipation and consequent revelation goes on continually from the time a disciple treads the Path of Accepted Discipleship until the third initiation. The clue to success in this process is connected with meditation and the holding of the mind steady in the light. Only through steadiness can the beam of light be formed, intensified, focused and projected and then—at the right moment—withdrawn. |
Tiến trình nhận biết, tập trung, làm tiêu tan và sự mặc khải tiếp theo này diễn ra liên tục từ lúc một đệ tử bước trên Con Đường Địa Vị Đệ Tử Được Chấp Nhận cho đến lần điểm đạo thứ ba. Chìa khóa thành công trong tiến trình này liên quan đến tham thiền và việc giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng. Chỉ nhờ sự vững vàng mà chùm ánh sáng có thể được hình thành, tăng cường, tập trung và phóng chiếu, rồi—vào đúng thời điểm—được rút lại. |
||||||||
|
The meditation was on the glamour of personality. The original meeting was cancelled, but Michael did a private make-up session on December 17th, 2021. |
Bài tham thiền là về ảo cảm của phàm ngã. Buổi họp ban đầu đã bị hủy, nhưng Michael đã thực hiện một buổi bù riêng vào ngày 17 tháng 12 năm 2021. |
||||||||
|
Text |
Văn bản |
||||||||
|
The process followed by the disciple who is consciously working at the dissipation of glamour in his life can be [Page 204] divided into four stages to which the following definitions can be given: [1a] |
Tiến trình mà người đệ tử, người đang hữu thức làm việc để làm tiêu tan ảo cảm trong đời sống mình, đi theo có thể được [Trang 204] chia thành bốn giai đoạn, có thể đưa ra các định nghĩa sau đây: [1a] |
||||||||
|
1. The stage of recognition of the glamour or glamours which hide the Real. These glamours are dependent in any particular life crisis upon the ray of the personality. [1b] |
1. Giai đoạn nhận biết ảo cảm hay các ảo cảm che giấu Thực Tại. Các ảo cảm này, trong bất cứ cuộc khủng hoảng đặc thù nào của đời sống, tùy thuộc vào cung phàm ngã. [1b] |
||||||||
|
2. The stage of focussing the disciple’s consciousness upon the mental plane and the gathering of the light to that point of focus so that the illumination is clear, the work to be done is plainly seen, and the searchlight of the mind is directed upon the glamour which it is intended should be dissipated. [1c] |
2. Giai đoạn tập trung tâm thức của đệ tử trên cõi trí và gom ánh sáng đến điểm tập trung ấy, để sự soi sáng rõ ràng, công việc cần làm được thấy rõ, và ánh đèn pha của thể trí được hướng vào ảo cảm mà người ta dự định làm tiêu tan. [1c] |
||||||||
|
3. The stage of direction. This involves the steady pouring of the light (under intelligent direction) into the dark places of the astral plane, remembering that the light will enable the disciple to do two things: [1d] |
3. Giai đoạn định hướng. Điều này bao hàm việc tuôn ánh sáng một cách vững vàng (dưới sự hướng dẫn thông minh) vào những nơi tối tăm của cõi cảm dục, đồng thời nhớ rằng ánh sáng sẽ giúp đệ tử làm hai điều: [1d] |
||||||||
|
a. Dissipate the glamour—a satisfying experience. [1e] |
a. Làm tiêu tan ảo cảm—một kinh nghiệm thỏa đáng. [1e] |
||||||||
|
b. See the Real—a terrifying experience, brother of mine. [1f] |
b. Thấy Cái Thực—một kinh nghiệm đáng kinh sợ, huynh đệ của tôi. [1f] |
||||||||
|
4. The stage of identification with the Real as it is contacted after the dissipation of the glamour. In the added light which is now available, there will be a further recognition of still subtler glamours which in their turn must be dissipated. [1g] |
4. Giai đoạn đồng hoá với Cái Thực khi nó được tiếp xúc sau khi ảo cảm đã tiêu tan. Trong ánh sáng gia tăng hiện đang sẵn có, sẽ có thêm sự nhận biết những ảo cảm còn tinh vi hơn nữa, và đến lượt chúng cũng phải được làm tiêu tan. [1g] |
||||||||
|
{Recognition, Mental Focusing, Direction and Identification |
{Nhận biết, Tập trung trí tuệ, Định hướng và Đồng hoá |
||||||||
|
This process of recognition, focussing, dissipation/Direction and consequent revelation goes on continually from the time a disciple treads the Path of Accepted Discipleship until the third initiation. [1h] |
Tiến trình nhận biết, tập trung, làm tiêu tan/Định hướng và sự mặc khải theo sau diễn ra liên tục từ khi một đệ tử bước trên Con Đường Đệ Tử Được Chấp Nhận cho đến lần điểm đạo thứ ba. [1h] |
||||||||
|
The clue to all success in this process is, therefore, connected with meditation and the holding of the mind steady in the light. [1i] Only through steadiness can the beam of light be formed, intensified, focussed and projected and then—[Page 205] at the right moment—withdrawn. [1j] |
Do đó, chìa khóa của mọi thành công trong tiến trình này liên hệ với tham thiền và việc giữ cho thể trí vững vàng trong ánh sáng. [1i] Chỉ nhờ sự vững vàng mà chùm ánh sáng mới có thể được tạo thành, tăng cường, tập trung và phóng chiếu, rồi—[Page 205] vào đúng khoảnh khắc—được thu hồi. [1j] |
||||||||
|
End of Webinar 189 |
Kết thúc Webinar 189 |
||||||||
|
Commentary |
Bình giảng |
||||||||
|
Hi, friends, this is a little bit of a makeup program. I was not feeling very well for the actually scheduled program and don’t think I could have pulled that off. But now it’s about an hour later, maybe a little more, and I think I can do a solo program and get it to you to make up for my absence. |
Các bạn thân mến, đây là một chương trình bù ngắn. Tôi đã không được khỏe lắm vào thời điểm chương trình thật sự được lên lịch, và không nghĩ mình có thể thực hiện được. Nhưng bây giờ đã khoảng một giờ sau, có lẽ hơn một chút, và tôi nghĩ mình có thể làm một chương trình một mình rồi gửi đến các bạn để bù cho sự vắng mặt của tôi. |
||||||||
|
We’re on program 189, reading 125, page 204. Here on the 17th of December—somehow I thought it was occurring on the 18th. But there’s not much that senility and Alzheimer’s leaves untouched. I’ll go on and hopefully we’ll be able to find something of value for you. |
Chúng ta đang ở chương trình 189, bài đọc 125, trang 204. Hôm nay là ngày 17 tháng Mười Hai—không hiểu sao tôi lại tưởng nó diễn ra vào ngày 18. Nhưng chẳng có mấy điều mà sự lão suy và chứng sa sút trí tuệ để yên không chạm tới. Tôi sẽ tiếp tục, và hy vọng chúng ta có thể tìm được điều gì đó có giá trị cho các bạn. |
||||||||
|
Thus from earliest Atlantean times the foundation was laid for the unfoldment of the sense of mystical duality through the various stages of an anthropomorphic recognition of deity to the recognition of the real in man himself, until finally we arrive at the proposition which faces the disciple. Then the Dweller on the Threshold confronts the Angel of the Presence and the last and major conflict is fought out. |
Như vậy, từ những thời kỳ Atlantis sớm nhất, nền tảng đã được đặt cho sự khai mở ý thức về nhị nguyên thần bí, qua các giai đoạn khác nhau của việc nhận biết Thượng đế theo hình người, cho đến sự nhận biết cái thực trong chính con người, cho đến khi cuối cùng chúng ta đi đến mệnh đề đang đối diện với người đệ tử. Khi ấy Kẻ Chận Ngõ đối diện với Thiên Thần của Hiện Diện, và cuộc xung đột cuối cùng và trọng yếu được tiến hành đến cùng. |
||||||||
|
This dualistic consciousness culminates at the time of the third initiation in the final fight between the pairs of opposites and the triumphant victory of the Angel—the embodiment of the Forces of Good in the individual, in the group and in humanity. Then dualism and the desire for that which is material and not oneself (as identified with the Whole) dies out. Unity and the “life more abundantly” is achieved. |
Tâm thức nhị nguyên này đạt đến đỉnh điểm vào thời điểm lần điểm đạo thứ ba, trong trận chiến cuối cùng giữa các cặp đối lập và chiến thắng khải hoàn của Thiên Thần—hiện thân của các Mãnh Lực Thiện trong cá nhân, trong nhóm và trong nhân loại. Khi ấy, nhị nguyên và dục vọng đối với điều thuộc vật chất và không phải là chính mình, khi đã đồng hoá với Toàn Thể, tàn lụi. Sự hợp nhất và “sự sống dồi dào hơn” được thành tựu. |
||||||||
|
We’ve been talking about in the previous section what was going on in Atlantean times. I really can’t go through all that, but Djwhal Khul tells us that through the use of creative imagination, we are laying the foundation for the recognition, intelligent and real, of the part in relation to the whole. Normally, we don’t have those. |
Trong phần trước, chúng ta đã nói về những gì diễn ra vào thời Atlantis. Tôi thật sự không thể đi lại toàn bộ điều đó, nhưng Chân sư DK cho chúng ta biết rằng, qua việc sử dụng Sự tưởng tượng sáng tạo, chúng ta đang đặt nền tảng cho sự nhận biết thông minh và chân thực về phần trong tương quan với toàn thể. Thông thường, chúng ta không có những điều ấy. |
||||||||
|
From earliest Atlantean times, the foundation was laid for the unfoldment of the sense of mystical duality through the various stages of an anthropomorphic recognition of deity, to the recognition of the real man himself, until finally we arrive at the proposition which faces the disciple. |
Từ những thời kỳ Atlantis sớm nhất, nền tảng đã được đặt cho sự khai mở ý thức về nhị nguyên thần bí, qua các giai đoạn khác nhau của việc nhận biết Thượng đế theo hình người, cho đến sự nhận biết con người thực bên trong chính mình, cho đến khi cuối cùng chúng ta đi đến mệnh đề đang đối diện với người đệ tử. |
||||||||
|
I want to emphasize a couple of little things in there. Early Atlantis was at least 12 million years ago. Instead of simply God as some kind of great man, the real man was recognized internally, until we arrive at the proposition which faces the disciple. |
Tôi muốn nhấn mạnh vài điểm nhỏ trong đó. Atlantis thời kỳ đầu ít nhất đã có từ 12 triệu năm trước. Thay vì chỉ là Thượng đế như một loại con người vĩ đại nào đó, con người thực được nhận biết ở bên trong, cho đến khi chúng ta đi đến mệnh đề đang đối diện với người đệ tử. |
||||||||
|
That proposition has to do with the Dweller on the Threshold as it confronts the Angel of the Presence, and the last and major conflict is fought out, even as it is being fought out today. |
Mệnh đề ấy liên quan đến Kẻ Chận Ngõ khi nó đối diện với Thiên Thần của Hiện Diện, và cuộc xung đột cuối cùng, trọng yếu được tiến hành đến cùng, cũng như nó đang được tiến hành hôm nay. |
||||||||
|
This dualistic consciousness culminates at the time of the third initiation in the final fight between the pairs of opposites and the triumphant victory of the Angel—the embodiment of the Forces of Good in the individual, in the group and in humanity. Then dualism and the desire for that which is material and not oneself (as identified with the Whole) dies out. Unity and the “life more abundantly” is achieved |
Tâm thức nhị nguyên này đạt đến đỉnh điểm vào thời điểm lần điểm đạo thứ ba, trong trận chiến cuối cùng giữa các cặp đối lập và chiến thắng khải hoàn của Thiên Thần—hiện thân của các Mãnh Lực Thiện trong cá nhân, trong nhóm và trong nhân loại. Khi ấy, nhị nguyên và dục vọng đối với điều thuộc vật chất và không phải là chính mình, khi đã đồng hoá với Toàn Thể, tàn lụi. Sự hợp nhất và “sự sống dồi dào hơn” được thành tựu |
||||||||
|
That is a very Aquarian achievement. As much as Aquarius is the sign of universality, the kind of universality that we will be experiencing during the Aquarian Age, and probably more towards the end of the age than at any time in the middle decanate—the last decanate and the last approximately 720 years under Venus and Libra will give us the unity, the brotherhood we crave. The Aquarian life more abundantly will be seen to be achieved. |
Đó là một thành tựu rất thuộc Bảo Bình. Bảo Bình là dấu hiệu của tính phổ quát, loại tính phổ quát mà chúng ta sẽ kinh nghiệm trong Kỷ Nguyên Bảo Bình, và có lẽ nhiều hơn về cuối kỷ nguyên ấy hơn là bất cứ thời điểm nào trong thập độ giữa—thập độ cuối cùng và khoảng 720 năm cuối dưới Sao Kim và Thiên Bình sẽ đem lại cho chúng ta sự hợp nhất, tình huynh đệ mà chúng ta khao khát. Khi ấy, sự sống dồi dào hơn của Bảo Bình sẽ được thấy là đã thành tựu. |
||||||||
|
That’s a little catching up that we can have done. |
Đó là phần theo kịp ngắn mà chúng ta có thể thực hiện. |
||||||||
|
Now let’s go on with the reading. I can’t really welcome you because I’m just talking on my own now, feeling a little bad. An upset stomach prevented me from really being able to go ahead with the glamour program as I had hoped. But I think that would have been maybe far worse. I find myself sitting here at the computer. I know sitting is the new ‘smoking’ as they say, but that’s the condition in which I find myself too, or at least my personal self. |
Chúng ta tiếp tục bài đọc. Tôi thật sự không thể chào đón các bạn vì bây giờ tôi chỉ đang nói một mình, và vẫn cảm thấy hơi khó chịu. Một cơn đau bụng đã khiến tôi không thật sự có thể tiến hành chương trình về ảo cảm như tôi đã hy vọng. Nhưng tôi nghĩ nếu cố làm thì có lẽ còn tệ hơn nhiều. Tôi thấy mình đang ngồi đây trước máy tính. Tôi biết người ta nói ngồi lâu là “hút thuốc” kiểu mới, nhưng đó cũng là tình trạng mà tôi đang ở trong đó, hoặc ít nhất là bản ngã cá nhân của tôi đang ở trong đó. |
||||||||
|
Going on, I wonder about this glamour of personality. I think we can visit it again. There is going to be a personality rebellion against the direction offered by the Angel of the Presence. That’s just stages we pass through, and somewhere here we’ll see there are five stages in the relationship between the personality and the Angel of the Presence. Maybe that’s quite a few, and maybe we did not expect that there would be so many. |
Tiếp tục, tôi tự hỏi về ảo cảm của phàm ngã. Tôi nghĩ chúng ta có thể trở lại với nó. Sẽ có một sự nổi loạn của phàm ngã chống lại hướng dẫn do Thiên Thần của Hiện Diện đưa ra. Đó chỉ là những giai đoạn chúng ta đi qua, và đâu đó ở đây chúng ta sẽ thấy có năm giai đoạn trong mối quan hệ giữa phàm ngã và Thiên Thần của Hiện Diện. Có lẽ như vậy là khá nhiều, và có lẽ chúng ta đã không ngờ rằng lại có nhiều đến thế. |
||||||||
|
I’m not hesitant to use this glamour of personality. It is so frequently associated with the first ray, but there are all kinds of personality resistances according to the ray, and we have to learn how they work when the time comes. |
Tôi không ngần ngại dùng cụm từ ảo cảm của phàm ngã này. Nó rất thường liên hệ với cung một, nhưng có đủ loại kháng cự của phàm ngã tùy theo cung, và chúng ta phải học cách chúng vận hành khi thời điểm đến. |
||||||||
|
Now, the next. |
Tiếp theo. |
||||||||
|
The process followed by the disciple who is consciously working at the dissipation of glamour in his life can be [Page 204] divided into four stages to which the following definitions can be given: [1a] |
Tiến trình mà người đệ tử đang hữu thức làm việc để làm tiêu tan ảo cảm trong đời sống mình noi theo có thể được [Page 204] chia thành bốn giai đoạn mà những định nghĩa sau đây có thể được đưa ra: [1a] |
||||||||
|
Four stages—let’s see what Djwhal Khul has in mind. Number one, |
Bốn giai đoạn—hãy xem Chân sư DK có điều gì trong trí. Thứ nhất, |
||||||||
|
1. The stage of recognition of the glamour or glamours which hide the Real. These glamours are dependent in any particular life crisis upon the ray of the personality. [1b] |
1. Giai đoạn nhận biết ảo cảm hoặc các ảo cảm che khuất Cái Thực. Những ảo cảm này tùy thuộc trong bất cứ cơn khủng hoảng đặc thù nào của đời sống vào cung của phàm ngã. [1b] |
||||||||
|
That’s what I was trying to say. This whole idea of that which hides the real is one of the apt definitions of glamour. It corners the Real and adopts some substitutes which people find convincing and to which they acquiesce, and for a long time, there they are. |
Đó là điều tôi đang cố nói. Toàn bộ ý tưởng về điều che khuất cái thực là một trong những định nghĩa rất thích đáng về ảo cảm. Nó bao vây Cái Thực và chọn lấy một số vật thay thế mà người ta thấy có sức thuyết phục và họ thuận theo; rồi trong một thời gian dài, họ ở đó. |
||||||||
|
The state of those that hide the real—the glamour or glamours—is dependent on, in any particular life crisis, the ray of personality. How the glamour will be handled will be dependent upon the ray of the personality. |
Tình trạng của những điều che khuất cái thực—ảo cảm hoặc các ảo cảm—trong bất cứ cơn khủng hoảng đặc thù nào của đời sống, tùy thuộc vào cung phàm ngã. Cách xử lý ảo cảm sẽ tùy thuộc vào cung của phàm ngã. |
||||||||
|
In our Seven Ray Institute, while seminars—I guess is what we could call them—we went through various little dramas itself, a fourth ray technique to see whether we could find out the mode by which the personality rebellion occurred. It can be defiant on the first ray, or it can be self-pitying on the second ray, or it can be extremely active and busy on the third ray, so that there’s no real depth, just a sense of being captured by your surroundings. It can be filled with conflict on the fourth ray, and it can be unwarrantedly skeptical on the fifth ray, and it can be fanatical on the sixth ray, and then rigid, if I can call it that way, on the seventh ray. |
Trong Viện Bảy Cung của chúng ta, qua các hội thảo chuyên đề—tôi nghĩ đó là cách chúng ta có thể gọi—chúng ta đã đi qua nhiều vở kịch nhỏ, tự nó là một kỹ thuật cung bốn, để xem liệu chúng ta có thể tìm ra phương thức mà sự nổi loạn của phàm ngã diễn ra hay không. Nó có thể thách thức trên cung một, hoặc có thể tự thương hại trên cung hai, hoặc có thể cực kỳ hoạt động và bận rộn trên cung ba, đến mức không có chiều sâu thật sự, chỉ có cảm giác bị hoàn cảnh chung quanh bắt giữ. Nó có thể đầy xung đột trên cung bốn, và có thể hoài nghi một cách vô căn cứ trên cung năm, có thể cuồng tín trên cung sáu, rồi cứng nhắc, nếu tôi có thể gọi như vậy, trên cung bảy. |
||||||||
|
Maybe there are more important things than making sure that all the picture frames in the house are straightened exactly. DK once talked about the seventh ray and the nurse upon the seventh ray having the tendency to grind all in the iron mill of routine. I’m sure there are ways that we have hidden ourselves from the reality of the soul, of the Angel of the Presence, and various personality preoccupations have assisted us to hide away and to be unavailable for the downflow of the truth which is deflected by old ray habits. |
Có lẽ có những điều quan trọng hơn việc bảo đảm rằng mọi khung tranh trong nhà đều được chỉnh cho thật thẳng. Chân sư DK từng nói về cung bảy và người y tá trên cung bảy có khuynh hướng nghiền tất cả trong cối sắt của lề thói thường quy. Tôi chắc rằng có những cách chúng ta đã tự che giấu mình khỏi thực tại của linh hồn, của Thiên Thần của Hiện Diện, và nhiều mối bận tâm khác nhau của phàm ngã đã trợ giúp chúng ta ẩn đi, khiến chúng ta không sẵn sàng tiếp nhận dòng chảy xuống của chân lý, vốn bị lệch hướng bởi các thói quen cũ theo cung. |
||||||||
|
The four stages for the dissipation of glamours relates often to the individual solution, but this is not to say that groups and communities and even nations are not subject to one or other of these four stages. |
Bốn giai đoạn để làm tiêu tan các ảo cảm thường liên quan đến giải pháp cá nhân, nhưng điều này không có nghĩa là các nhóm, cộng đồng và ngay cả các quốc gia không chịu sự chi phối của một hay một giai đoạn khác trong bốn giai đoạn này. |
||||||||
|
2. The stage of focussing the disciple’s consciousness upon the mental plane |
2. Giai đoạn tập trung tâm thức của người đệ tử trên cõi trí |
||||||||
|
There’s a lot here that relates to the telepathic work. |
Ở đây có nhiều điều liên hệ với công việc viễn cảm. |
||||||||
|
and the gathering of the light to that point of focus |
và gom ánh sáng về điểm tập trung ấy |
||||||||
|
to that point of focus so that the illumination is clear, |
về điểm tập trung ấy để sự soi sáng được rõ ràng, |
||||||||
|
May I suggest the Will-to-illumine is part of Leo, as is the Will-to-rule. |
Tôi xin gợi ý rằng Ý Chí-soi sáng là một phần của Sư Tử, cũng như Ý Chí-cai quản. |
||||||||
|
so that the illumination is clear, the work to be done is plainly seen, and the searchlight of the mind |
để sự soi sáng được rõ ràng, công việc phải làm được thấy rõ, và đèn pha của thể trí |
||||||||
|
That search light certainly sounds in one respect Sagittarian. |
Đèn pha ấy, ở một phương diện, chắc chắn nghe rất thuộc Nhân Mã. |
||||||||
|
the searchlight of the mind is directed upon the glamour which it is intended should be dissipated. [1c] |
đèn pha của thể trí được hướng vào ảo cảm mà người ta dự định phải làm tiêu tan. [1c] |
||||||||
|
The stage of focusing the disciple’s consciousness upon the mental plane and the gathering of the light to a point is quite different from the inchoate, mass consciousness of Cancer, so that illumination is clear, the work to be done is plainly seen, and the searchlight of the mind is directed upon the glamour which it is tended to be understood and hence increasingly dissipated. |
Giai đoạn tập trung tâm thức của người đệ tử trên cõi trí và gom ánh sáng về một điểm thì hoàn toàn khác với tâm thức quần chúng còn sơ khai của Cự Giải, để sự soi sáng được rõ ràng, công việc phải làm được thấy rõ, và đèn pha của thể trí được hướng vào ảo cảm, để ảo cảm ấy có khuynh hướng được thấu hiểu và do đó ngày càng tiêu tan. |
||||||||
|
Illumination clear, work to be done plainly seen, and the searchlight of the mind directed upon the glamour according to ray, and that’s why the taking of instruments like the PIP, the personal identity profile—there’s more than the personal in there—is a very important act, and the close study of the rays is very important. |
Sự soi sáng rõ ràng, công việc phải làm được thấy rõ, và đèn pha của thể trí được hướng vào ảo cảm tùy theo cung; đó là lý do tại sao việc sử dụng những công cụ như bài trắc nghiệm hồ sơ căn tính cá nhân—trong đó có nhiều điều vượt quá phần cá nhân—là một hành động rất quan trọng, và việc nghiên cứu kỹ các cung cũng rất quan trọng. |
||||||||
|
This is the focusing of the disciple’s consciousness upon the mental plane. There are all kinds of intelligent people, but you wonder, with their mental focus, whether they are really focused mentally. They appear to be so. |
Đây là sự tập trung tâm thức của người đệ tử trên cõi trí. Có đủ loại người thông minh, nhưng với sự tập trung trí tuệ của họ, các bạn tự hỏi liệu họ có thật sự được tập trung một cách trí tuệ hay không. Họ có vẻ như vậy. |
||||||||
|
We have so far the stage of recognizing the glamours which hide the real. I’m thinking I mentioned that before—in World War One, some of the high military command were enamored of a certain woman who claimed to be channeling the great star, Aldebaran. They knew so little about the whole process that they accepted at face value what she claimed. That was a significant glamour and who knows how these military leaders were directed. |
Cho đến đây, chúng ta có giai đoạn nhận biết các ảo cảm che khuất cái thực. Tôi nghĩ tôi đã nhắc đến điều đó trước đây—trong Thế Chiến thứ nhất, một số nhân vật trong bộ chỉ huy quân sự cấp cao bị mê hoặc bởi một phụ nữ nào đó tự nhận là đang truyền dẫn một ngôi sao lớn. Họ biết quá ít về toàn bộ tiến trình đến nỗi chấp nhận theo bề mặt những gì bà ấy tuyên bố. Đó là một ảo cảm đáng kể, và ai biết được các nhà lãnh đạo quân sự này đã được định hướng như thế nào. |
||||||||
|
Then the second stage: the mental plane focus, and then stage of direction. I’m using mostly yellow here for bolding. |
Rồi giai đoạn thứ hai: sự tập trung trên cõi trí, và sau đó là giai đoạn định hướng. Tôi chủ yếu dùng màu vàng ở đây để tô đậm. |
||||||||
|
This particular stage—if we are consciously working on the dissipation of glamour in our lives—means that four stages will be passed through, maybe more in some ways. |
Giai đoạn đặc thù này—nếu chúng ta đang hữu thức làm việc để làm tiêu tan ảo cảm trong đời sống mình—có nghĩa là bốn giai đoạn sẽ được đi qua, có lẽ theo một số cách còn nhiều hơn. |
||||||||
|
3. The stage of direction. This involves the steady pouring of the light (under intelligent direction) |
3. Giai đoạn định hướng. Điều này bao hàm việc liên tục tuôn đổ ánh sáng, dưới sự định hướng thông minh, |
||||||||
|
that of a Master or Angel of the Presence, |
của một Chân sư hoặc Thiên Thần của Hiện Diện, |
||||||||
|
into the dark places of the astral plane, remembering that the light will enable the disciple to do two things: [1d] |
vào những nơi tối tăm của cõi cảm dục, nhớ rằng ánh sáng sẽ giúp người đệ tử làm hai điều: [1d] |
||||||||
|
And what are these two things that the light will allow the disciple to do? Number one, or point a |
Và hai điều mà ánh sáng sẽ cho phép người đệ tử làm là gì? Thứ nhất, hay điểm a, |
||||||||
|
a. Dissipate the glamour—a satisfying experience. [1e] |
a. Làm tiêu tan ảo cảm—một kinh nghiệm đem lại thỏa mãn. [1e] |
||||||||
|
b. See the Real—a terrifying experience, brother of mine. [1f] |
b. Thấy Cái Thực—một kinh nghiệm đáng kinh sợ, huynh đệ của tôi. [1f] |
||||||||
|
He adds the brother of mine, and as a kind of note of comfort. The light will enable the disciple to do two things: to dissipate the glamour, and to experience relief because one realizes how one has been trapped, and then perhaps no longer is. But then seeing the real is another type of experience, a terrifying experience, brother of mine. |
Ngài thêm “huynh đệ của tôi”, như một nốt an ủi. Ánh sáng sẽ giúp người đệ tử làm hai điều: làm tiêu tan ảo cảm, và kinh nghiệm sự nhẹ nhõm vì người ta nhận ra mình đã bị mắc kẹt như thế nào, rồi có lẽ không còn bị mắc kẹt nữa. Nhưng sau đó, thấy cái thực lại là một loại kinh nghiệm khác, một kinh nghiệm đáng kinh sợ, huynh đệ của tôi. |
||||||||
|
Why would it be terrifying to see the real? Don’t we all want to see the real? Or do we gain comfort from the enclave of glamour in which we have found ourselves contained? There is a kind of buffering effect in glamour; we are protected from the harshness of reality. |
Tại sao thấy cái thực lại đáng kinh sợ? Chẳng phải tất cả chúng ta đều muốn thấy cái thực sao? Hay chúng ta tìm được sự dễ chịu trong vùng ảo cảm mà chúng ta thấy mình bị chứa trong đó? Có một tác dụng đệm trong ảo cảm; chúng ta được bảo vệ khỏi sự khắc nghiệt của thực tại. |
||||||||
|
Have there been moments of reality which you have found terrifying? Maybe when Scorpio is awakened and the factor of memory of many unpleasant things is also awakened. There comes often a great regret and a kind of realization in terror that one has actually done certain things which are so much against the expression of the Plan involved. Where it’s easy to hide away in the glamorous world, when dissipating it, one feels quite free to pursue greater things, but also the vision of the real dawns upon us. |
Đã có những khoảnh khắc thực tại nào mà các bạn thấy đáng kinh sợ chưa? Có lẽ khi Hổ Cáp được đánh thức và yếu tố ký ức về nhiều điều khó chịu cũng được đánh thức. Thường xuất hiện một nỗi ân hận lớn và một loại nhận thức trong kinh sợ rằng người ta thật sự đã làm một số điều đi ngược rất nhiều với sự biểu lộ của Thiên Cơ liên quan. Trong thế giới ảo cảm, người ta dễ ẩn đi; khi làm nó tiêu tan, người ta cảm thấy khá tự do để theo đuổi những điều lớn lao hơn, nhưng đồng thời tầm nhìn về cái thực cũng ló rạng nơi chúng ta. |
||||||||
|
Point number four is one of the four stages followed by the disciple who is consciously working on the dissipation of glamour. What would that be? |
Điểm thứ tư là một trong bốn giai đoạn mà người đệ tử đang hữu thức làm việc để làm tiêu tan ảo cảm noi theo. Điều đó sẽ là gì? |
||||||||
|
4. The stage of identification with the Real as it is contacted after the dissipation of the glamour. [1g] |
4. Giai đoạn đồng hoá với Cái Thực khi nó được tiếp xúc sau khi ảo cảm đã tiêu tan. [1g] |
||||||||
|
That is a climactic moment. It’s not just that we recoil in terror after being shocked by what lies ahead, and what is true and what is real compared with what we have espoused, how we have hidden over the years. This is showing a sign of courage now, the stage of identification with the Real as it is contacted after the dissipation of glamour. I often like to use the phrase, the stage of identification as the real, and that opens a whole other question about what we are. |
Đó là một khoảnh khắc cao trào. Không phải chỉ là chúng ta co rúm lại trong kinh sợ sau khi bị chấn động bởi điều nằm phía trước, bởi điều chân thật và điều thực so với những gì chúng ta đã tán thành, và bởi cách chúng ta đã ẩn mình qua nhiều năm. Giờ đây điều này cho thấy một dấu hiệu của lòng can đảm, giai đoạn đồng hoá với Cái Thực khi nó được tiếp xúc sau khi ảo cảm đã tiêu tan. Tôi thường thích dùng cụm từ giai đoạn đồng hoá như là cái thực, và điều đó mở ra cả một câu hỏi khác về việc chúng ta là gì. |
||||||||
|
In the added light which is now available, there will be a further recognition of still subtler glamours which in their turn must be dissipated. |
Trong ánh sáng gia tăng hiện đang sẵn có, sẽ có thêm sự nhận biết những ảo cảm còn tinh vi hơn nữa, và đến lượt chúng cũng phải được làm tiêu tan. |
||||||||
|
One is reminded of the rich young man of the third degree who responded to the Christ’s invitation negatively. He went sadly away when the Christ suggested that he take all he owned—it’s the causal body, isn’t it?—sell it, take the proceeds, and give the proceeds to the poor, and then follow the Christ. Is that an illusion or is that a glamour? |
Người ta nhớ đến chàng thanh niên giàu có ở bậc ba, người đã đáp lại lời mời của Đức Christ theo hướng tiêu cực. Anh buồn rầu bỏ đi khi Đức Christ gợi ý rằng anh hãy lấy tất cả những gì mình sở hữu—đó là thể nguyên nhân, phải không?—bán đi, lấy số thu được, trao số thu được cho người nghèo, rồi theo Đức Christ. Đó là một ảo tưởng hay một ảo cảm? |
||||||||
|
This is the stage of identification with the real. So far, we have recognized the glamours. We have focused on the mental plane so that clarity can come, illumination arising, and the work being understood, and the mind can be directed like that Sagittarian searchlight upon the glamour. Then there’s the stage of direction as he pours the incoming light into the dark places of the astral plane. |
Đây là giai đoạn đồng hoá với cái thực. Cho đến đây, chúng ta đã nhận biết các ảo cảm. Chúng ta đã tập trung trên cõi trí để sự rõ ràng có thể đến, sự soi sáng phát sinh, công việc được thấu hiểu, và thể trí có thể được hướng như đèn pha Nhân Mã ấy vào ảo cảm. Rồi có giai đoạn định hướng khi y tuôn đổ ánh sáng đang đến vào những nơi tối tăm của cõi cảm dục. |
||||||||
|
A lot of that has been done even today with advances in modern psychology. The good psychologist is not letting his client get away with remaining in a glamorous position. Then identification—recognition, focusing, direction, and identification. |
Nhiều điều trong đó đã được thực hiện ngay cả ngày nay với những tiến bộ của tâm lý học hiện đại. Nhà tâm lý học giỏi không để cho thân chủ của mình thoát khỏi bằng cách cứ ở lại trong một vị thế ảo cảm. Rồi đến đồng hoá—nhận biết, tập trung, định hướng và đồng hoá. |
||||||||
|
Recognition, Mental Focusing, Direction and Identification. These are four stages through which the man, the woman, the human being, undertaking the management of glamour in their own lives will perforce pass. |
Nhận biết, Tập trung trí tuệ, Định hướng và Đồng hoá. Đây là bốn giai đoạn mà người nam, người nữ, con người đang đảm nhận việc quản lý ảo cảm trong đời sống riêng của mình tất yếu sẽ đi qua. |
||||||||
|
DK actually repeats this, or at least I didn’t see it. He says it in a different way. |
Chân sư DK thật ra lặp lại điều này, hoặc ít nhất tôi đã không thấy. Ngài nói theo một cách khác. |
||||||||
|
This process of recognition, focussing, dissipation |
Tiến trình nhận biết, tập trung, làm tiêu tan |
||||||||
|
Which is direction, so I’ll put that in, direction/dissipation. |
Tức là định hướng, nên tôi sẽ thêm vào đó, định hướng/làm tiêu tan. |
||||||||
|
and consequent revelation goes on continually from the time a disciple treads the Path of Accepted Discipleship until the third initiation. [1h] |
và sự mặc khải theo sau diễn ra liên tục từ khi một đệ tử bước trên Con Đường Đệ Tử Được Chấp Nhận cho đến lần điểm đạo thứ ba. [1h] |
||||||||
|
Now, are we in the midst of such a sequence? Can we tell or are we trapped in some competitive circle which will keep us far away from reality? And I’ll call this Identification/Revelation, so revelation in the added light. Think about this sequence. When I say think about it, I’m saying, as “The Tibetan” often says, ponder on this. |
Chúng ta có đang ở giữa một chuỗi như vậy không? Chúng ta có thể biết không, hay chúng ta đang bị mắc kẹt trong một vòng cạnh tranh nào đó sẽ giữ chúng ta rất xa thực tại? Và tôi sẽ gọi đây là Đồng hoá/Mặc khải, tức là sự mặc khải trong ánh sáng gia tăng. Hãy suy ngẫm về chuỗi này. Khi tôi nói hãy suy ngẫm về nó, tôi muốn nói, như Chân sư Tây Tạng thường nói, hãy nghiền ngẫm điều này. |
||||||||
|
Now, here’s perhaps a little more—it turns out to be a lot more. This question of the light of matter, the light of the vital etheric vehicle, the light of instinct, the light of intellect, the light of the soul, the light of the intuition—these need to be taken up next time, and we need to really dwell upon them. But I wanted to bridge a little to “The Tibetan” sentence, the next sentence. We will find him saying. |
Có lẽ đây là thêm một chút nữa—nhưng hóa ra là nhiều hơn rất nhiều. Vấn đề ánh sáng của vật chất, ánh sáng của thể dĩ thái sinh lực, ánh sáng của bản năng, ánh sáng của trí tuệ, ánh sáng của linh hồn, ánh sáng của trực giác—những điều này cần được bàn đến lần tới, và chúng ta thật sự cần lưu lại với chúng. Nhưng tôi muốn bắc cầu một chút đến câu của Chân sư Tây Tạng, câu kế tiếp. Chúng ta sẽ thấy Ngài nói. |
||||||||
|
The clue to all success in this process is, therefore, connected with meditation and the holding of the mind steady in the light. [1i] |
Do đó, chìa khóa của mọi thành công trong tiến trình này liên hệ với tham thiền và việc giữ cho thể trí vững vàng trong ánh sáng. [1i] |
||||||||
|
Only through steadiness can the beam of light be formed, intensified, focussed and projected and then—[Page 205] at the right moment—withdrawn [1j]. |
Chỉ nhờ sự vững vàng mà chùm ánh sáng mới có thể được tạo thành, tăng cường, tập trung và phóng chiếu, rồi—[Page 205] vào đúng khoảnh khắc—được thu hồi [1j]. |
||||||||
|
He’s not going to enter into the whole subject of meditation because he’s already done so much in that direction. That’s going to be our next work. |
Ngài sẽ không đi vào toàn bộ chủ đề tham thiền, vì Ngài đã làm rất nhiều theo hướng đó rồi. Đó sẽ là công việc kế tiếp của chúng ta. |
||||||||
|
… |
… |
||||||||
|
Alice Bailey was very much afraid that people would study and study and study but never learned really to meditate. It seemed to be the reason that she wrote the book From Intellect to Intuition, as it tends to demonstrate the methods of meditation in a way that are easily absorbed, even the higher types of meditation such as contemplation. |
Bà Alice Bailey rất lo rằng người ta sẽ học, học nữa, học mãi nhưng không bao giờ thật sự học tham thiền. Dường như đó là lý do bà viết quyển Từ Trí Tuệ đến Trực Giác, vì quyển ấy có khuynh hướng trình bày các phương pháp tham thiền theo một cách dễ tiếp thu, ngay cả những loại tham thiền cao hơn như chiêm ngưỡng. |
||||||||
|
What did she say? Something like, “I have to write these books just to prove that I actually have a brain,” meaning that The Tibetan was working through her, but that was his work, and Alice, she wanted to also be able to stand up and say, “Look, I can think as well.” I think she certainly proved that. |
Bà đã nói gì? Đại loại như, “Tôi phải viết những quyển sách này chỉ để chứng minh rằng tôi thật sự có một bộ não,” hàm ý rằng Chân sư Tây Tạng đang làm việc qua bà, nhưng đó là công việc của Ngài, còn Alice cũng muốn có thể đứng lên và nói, “Hãy xem, tôi cũng có thể suy nghĩ.” Tôi nghĩ chắc chắn bà đã chứng minh được điều đó. |
||||||||
|
The farther I go with all this, the more I realize what a tremendous work he actually did. |
Càng đi xa với tất cả những điều này, tôi càng nhận ra công việc mà Ngài thật sự đã làm thật lớn lao biết bao. |