Glamour Webinar 141 (137–139)
Abstract
|
Dissipation of Glamour Initiative Webinar 141, reading no. 81. The reading was from Glamour: A World Problem, pages 137–139. |
Webinar Sáng Kiến Xua Tan Ảo cảm 141, bài đọc số 81. Bài đọc lấy từ Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới, các trang 137–139. |
|
Michael briefly reviewed the first group of persons who are subject to revelation through an awakening intuition. The second group includes those on the line of the prophets, who are able to briefly touch the intuition to learn the immediate future and who have the power to point out that future to the public. The third group includes the true priests—by spiritual calling and not by personal desire. The true priest loves deeply, has wisdom and an awakened intuition, and thereby receives revelation. |
Michael đã ôn lại ngắn gọn nhóm người thứ nhất chịu sự mặc khải qua trực giác được đánh thức. Nhóm thứ hai gồm những người trên tuyến của các nhà tiên tri, những người có thể chạm thoáng qua trực giác để biết tương lai gần và có quyền năng chỉ ra tương lai ấy cho công chúng. Nhóm thứ ba gồm các tư tế chân chính—do tiếng gọi tinh thần chứ không do ham muốn cá nhân. Tư tế chân chính yêu thương sâu xa, có minh triết và trực giác được đánh thức, và nhờ đó nhận được sự mặc khải. |
|
The fourth group includes the practical mystics or occultists. They have evoked the intuition through a disciplined life, ardent aspiration, and a trained intellect. They interpret and create temporary systems of knowledge. The New Group of World Servers is a partial example of this group. Ponder in which group we might find ourselves. |
Nhóm thứ tư gồm các nhà thần bí hay nhà huyền bí học thực tiễn. Họ đã gợi lên trực giác qua một đời sống kỷ luật, khát vọng nồng nhiệt và trí tuệ được rèn luyện. Họ diễn giải và tạo ra những hệ thống tri thức tạm thời. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian là một ví dụ phần nào của nhóm này. Hãy suy ngẫm xem chúng ta có thể thấy mình thuộc nhóm nào. |
|
The Formula for the Dissipation of Glamour meditation itself was on the glamour of selfish responsibility. This meeting was held on January 31, 2020. |
Chính bài tham thiền Công Thức Xua Tan Ảo cảm là về Ảo cảm của trách nhiệm ích kỷ. Buổi họp này được tổ chức vào ngày 31 tháng 1 năm 2020. |
Text
|
Beginning of Webinar 141, Reading 81 p. 137, 31 Jan 20 |
Bắt đầu Webinar 141, Bài đọc 81, trang 137, ngày 31 tháng 1 năm 2020 |
|
These are the four groups who are exchanging illusion for the intuition. This is the initial resolution of the pairs of opposites, for there is no such resolution without the aid of the intellect, because the intellect—through analysis, discrimination [Page 139] and right reasoning—indicates what should be done. |
Đây là bốn nhóm đang đổi ảo tưởng lấy trực giác. Đây là sự giải quyết ban đầu của các cặp đối cực, vì không có sự giải quyết nào như thế nếu không có sự trợ giúp của trí tuệ, bởi trí tuệ—qua phân tích, phân biện [Trang 139] và lý luận đúng—chỉ ra điều cần phải làm. |
|
[End of Webinar 141, Reading 81 |
[Kết thúc Webinar 141, Bài đọc 81 |
|
2.continuing….. Those who are on the line of the prophets. These touch the Plan at high intuitive moments and know what the immediate future holds. [1a] I do not refer here to the Hebrew prophets, so familiar to the West, but to all who see clearly what should be done to lead humanity out of darkness into light, beginning with the situation as it is and looking forward into a future of divine consummation. [1b] They have a clear picture in their minds of what is possible to accomplish, and the power to point it out to the people of their time. [1c] They necessarily range all the way from those who have a relatively clear vision of the cosmic picture and objectives to those who simply see the next step ahead for the race or the nation. [1d] Isaiah and Ezekiel are the only two of the Hebrew prophets who had true prophetic and cosmic vision. [1e] The others were small, but intelligent men who, from analysis and deduction, assessed the immediate future and indicated immediate possibilities. [1f] They had no direct revealing intuition. In the New Testament, John, the beloved disciple, was privileged to gain a cosmic picture and a true prophetic vision which he embodied in the Apocalypse, but he is the only one who so achieved and he achieved because he loved so deeply, so wisely and so inclusively. [1g] His intuition was evoked through the depth and intensity of his love—as it was in his Master, the Christ. [1h] |
2. tiếp tục….. Những người ở trên tuyến của các nhà tiên tri. Những người này chạm đến Thiên Cơ trong những khoảnh khắc trực giác cao và biết tương lai gần chứa đựng điều gì. [1a] Ở đây tôi không nói đến các nhà tiên tri Do Thái, quá quen thuộc với phương Tây, mà nói đến tất cả những ai thấy rõ điều cần phải làm để dẫn nhân loại ra khỏi bóng tối vào ánh sáng, khởi đầu từ tình trạng hiện có và hướng tới một tương lai thành tựu thiêng liêng. [1b] Họ có trong thể trí một bức tranh rõ ràng về điều có thể hoàn thành, và có quyền năng chỉ ra điều đó cho con người của thời đại họ. [1c] Tất yếu, họ trải dài từ những người có một tầm nhìn tương đối rõ ràng về bức tranh và mục tiêu vũ trụ, cho đến những người chỉ đơn giản thấy bước kế tiếp phía trước đối với nhân loại hay quốc gia. [1d] Isaiah và Ezekiel là hai nhà tiên tri Do Thái duy nhất có tầm nhìn tiên tri và vũ trụ chân chính. [1e] Những người khác là những người nhỏ bé nhưng thông minh, từ phân tích và suy luận mà đánh giá tương lai gần và chỉ ra các khả năng trước mắt. [1f] Họ không có trực giác mặc khải trực tiếp. Trong Tân Ước, John, người đệ tử được yêu quý, có đặc ân đạt được một bức tranh vũ trụ và một tầm nhìn tiên tri chân chính mà ông đã thể hiện trong Sách Khải Huyền; nhưng ông là người duy nhất đạt được như vậy, và ông đạt được vì ông yêu thương sâu xa, minh triết và bao gồm đến thế. [1g] Trực giác của ông được gợi lên nhờ chiều sâu và cường độ tình thương của ông—như đã xảy ra nơi Chân sư của ông, Đức Christ. [1h] |
|
3. Those who are the true priests. [through the agency of great love They are priests by spiritual calling and not by choice. [1i] It is the misunderstanding of the province and duties of a priest which has led all the Churches (in the East and in the West) to their disastrous [Page 138] authoritarian position. [1j] The love of God, and the true spiritual incentive which recognises God immanent in all nature and peculiarly expressing that divinity in man, is lacking in the bulk of the priesthood in all the world religions. [1k] Love is not the guide, the indicator and the interpreter. [1l] Hence the dogmatism of the theologian, his ridiculous and profound assurances of correct interpretation, and his oft-times cruelty, cloaked by his claim of right principles and good intentions. [1m] But the true priest exists and is found in all religions. He is the friend and the brother of all and, because he loves deeply, wisdom is his and (if he is of a mental type and training) his intuition is awakened and revelation is his reward. Ponder on this. The true priest is rare and is not found only in the so-called “holy orders”.[1n] |
3. Những người là các tư tế chân chính. [qua tác nhân của tình thương lớn lao Họ là tư tế do tiếng gọi tinh thần chứ không do chọn lựa. [1i] Chính sự hiểu lầm về phạm vi và bổn phận của một tư tế đã dẫn tất cả các Giáo hội (ở Đông phương cũng như Tây phương) đến lập trường độc đoán tai hại của họ [Trang 138]. [1j] Tình thương của Thượng đế, và động lực tinh thần chân chính nhận ra Thượng đế nội tại trong toàn thể thiên nhiên và đặc biệt biểu lộ thiên tính ấy trong con người, đang thiếu nơi phần lớn hàng tư tế trong mọi tôn giáo thế giới. [1k] Tình thương không phải là người hướng dẫn, dấu chỉ và nhà diễn giải. [1l] Do đó có tính giáo điều của nhà thần học, những xác quyết vừa lố bịch vừa sâu nặng của y về sự diễn giải đúng, và sự tàn nhẫn thường khi của y, được che đậy bằng lời tuyên bố về các nguyên tắc đúng và ý định tốt. [1m] Nhưng tư tế chân chính vẫn hiện hữu và có mặt trong mọi tôn giáo. Y là bạn và là huynh đệ của tất cả, và bởi vì y yêu thương sâu xa, minh triết thuộc về y; và nếu y thuộc loại trí tuệ và được rèn luyện trí tuệ, trực giác của y được đánh thức và sự mặc khải là phần thưởng của y. Hãy suy ngẫm điều này. Tư tế chân chính rất hiếm và không chỉ được tìm thấy trong những “chức thánh” được gọi như thế.[1n] |
|
4. Those who are the practical mystics or occultists. These, by virtue of a disciplined life, an ardent aspiration, and a trained intellect, have succeeded in evoking the intuition and are, therefore, personally in touch with the true source of divine wisdom. [1o] This, it is their function to interpret and to formulate into temporary systems of knowledge. [1p] There are many such, working patiently today in the world, unrecognised and unsought by the unthinking. Their need today is to “assemble themselves” in this hour of the world need and so let their voice be clearly heard. [1q] [The NGWS is a partial example of this…. These people are resolving the sense of duality into a known unity, [The Many and the One… and their preoccupation with reality and their deep love of humanity have released the intuition. [1r] [DK seems to be speaking of Himself When this release has taken place, no barriers are felt and true knowledge as a result of revealed wisdom is the gift which such people have, to give to their race and time. [1s] |
4. Những người là các nhà thần bí hay nhà huyền bí học thực tiễn. Những người này, nhờ một đời sống kỷ luật, một khát vọng nồng nhiệt và một trí tuệ được rèn luyện, đã thành công trong việc gợi lên trực giác và do đó, về phương diện cá nhân, tiếp xúc với nguồn chân thật của minh triết thiêng liêng. [1o] Chức năng của họ là diễn giải minh triết ấy và hình thành nó thành các hệ thống tri thức tạm thời. [1p] Ngày nay có nhiều người như thế đang kiên nhẫn làm việc trong thế giới, không được nhận biết và không được những người thiếu suy nghĩ tìm kiếm. Nhu cầu của họ ngày nay là “tập hợp chính mình” trong giờ phút nhu cầu của thế giới này, và nhờ đó để tiếng nói của họ được nghe rõ. [1q] [Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian là một ví dụ phần nào của điều này…. Những người này đang giải quyết ý thức về nhị nguyên thành một nhất tính được biết, [Cái Nhiều và Đấng Duy Nhất… và sự chuyên chú của họ vào thực tại cùng tình thương sâu xa của họ đối với nhân loại đã giải phóng trực giác. [1r] [Chân sư DK dường như đang nói về chính Ngài Khi sự giải phóng này đã diễn ra, không còn cảm thấy rào cản nào, và tri thức chân thật, như kết quả của minh triết được mặc khải, là món quà mà những người như thế có để trao cho nhân loại và thời đại của họ. [1s] |
Commentary
Review
|
I love some of these charts—they really show our destiny and give a hint as to what we may find on the other planets, although they’ll have their own Hierarchies with their own group of beings, perhaps human beings, and their own Directors. But the seven rays and the three above apply to the entire solar system as passionate glamour careens around the Halls of Deliberation. The United Kingdom will be up next at some point, but meanwhile, it’s the second ray aggregation of nations, and the United States is the second ray aggregation of states. |
Tôi yêu thích một số biểu đồ này—chúng thật sự cho thấy định mệnh của chúng ta và gợi ý về những gì chúng ta có thể tìm thấy trên các hành tinh khác, dù chúng sẽ có các Thánh đoàn riêng với nhóm sinh linh riêng của chúng, có lẽ là các nhân loại, và những Đấng Chỉ Đạo riêng. Nhưng bảy cung và ba cung ở trên áp dụng cho toàn bộ hệ mặt trời, trong khi ảo cảm đầy đam mê lao vút quanh các Phòng Nghị Sự. Vương quốc Anh sẽ đến lượt vào một lúc nào đó, nhưng trong khi ấy, đó là tập hợp các quốc gia cung hai, và Hoa Kỳ là tập hợp các tiểu bang cung hai. |
|
Important decisions are being made there today regarding whether partisanship, the narrow point of view, and the lack of consideration of the welfare of the whole will prevail, or whether some sense of decency and fairness will eke by somehow. It’s a very knife-blade kind of decision, and it’s amazing what people will do to win for their cause, even though the cause is very partial and lacking in completeness. |
Ngày nay, những quyết định quan trọng đang được đưa ra tại đó về việc liệu tính đảng phái, quan điểm hẹp hòi và sự thiếu quan tâm đến phúc lợi của toàn thể sẽ thắng thế, hay một ý thức nào đó về sự đúng đắn và công bằng sẽ bằng cách nào đó lách qua được. Đó là một quyết định như trên lưỡi dao, và thật đáng kinh ngạc khi người ta sẽ làm gì để chiến thắng cho chính nghĩa của mình, dù chính nghĩa ấy rất phiến diện và thiếu tính toàn vẹn. |
|
Of course, the human lower ego is the same way—it’s a bit like “my country right or wrong,” “my party right or wrong,” “my lower ego right or wrong.” We’ll be dealing with this issue of very narrow partisanship; adherence to it is a sixth ray thing, and refusal to see the wider picture and the general welfare. It comes down to human selfishness, which is based upon misidentification. If we all identified as souls and found ourselves related, we would not act the way we do. We’re very partial in our estimation of what we are, and quite blind really, and so we fight for something which from a higher perspective we would not endorse in the same way. |
Dĩ nhiên, phàm ngã của con người cũng như vậy—hơi giống “đất nước tôi, đúng hay sai”, “đảng của tôi, đúng hay sai”, “phàm ngã của tôi, đúng hay sai”. Chúng ta sẽ đề cập đến vấn đề tính đảng phái rất hẹp hòi này; sự bám chấp vào nó là một điều thuộc cung sáu, và là sự từ chối thấy bức tranh rộng lớn hơn cùng phúc lợi chung. Nó quy về tính ích kỷ của con người, vốn dựa trên sự đồng hóa sai lầm. Nếu tất cả chúng ta đồng hóa như các linh hồn và thấy mình có liên hệ với nhau, chúng ta sẽ không hành động như hiện nay. Chúng ta rất phiến diện trong sự đánh giá mình là gì, và thật sự khá mù quáng; vì vậy chúng ta chiến đấu cho một điều mà từ một viễn cảnh cao hơn, chúng ta sẽ không tán thành theo cùng cách ấy. |
|
… |
… |
|
Every day that we do these programs, we hope for a little more light on the truth and the ability to come closer to the revelation which Master DK says is always somehow present, even though we do not detect it. On Fridays there is either the glamour presentation in the morning or the evening, and generally a cosmic fire presentation of some kind, and we are making our way through that, discovering that all souls are identical with the Oversoul. |
Mỗi ngày khi chúng ta thực hiện các chương trình này, chúng ta hy vọng có thêm chút ánh sáng về chân lý và khả năng tiến gần hơn đến sự mặc khải mà Chân sư DK nói là luôn hiện diện bằng cách nào đó, dù chúng ta không nhận ra. Vào các ngày thứ Sáu, hoặc có buổi trình bày về ảo cảm vào buổi sáng hay buổi tối, và nói chung có một buổi trình bày nào đó về lửa vũ trụ; chúng ta đang đi qua điều đó, khám phá rằng mọi linh hồn đều đồng nhất với đại hồn. |
|
Ralph Waldo Emerson wrote a wonderful essay on the Oversoul. He was a clergyman in Boston, and they used to call him the Boston Brahmin because he seemed to be drawing upon the Eastern traditions as he explained how he saw the truth. I remember a long time ago, I was traveling on one of those elevated trains in Chicago, and I was reading the Oversoul when I was very impressed by what he was exclaiming and writing. Now we have to make it a reality for ourselves, which we will attempt to do. |
Ralph Waldo Emerson đã viết một tiểu luận tuyệt vời về đại hồn. Ông là một giáo sĩ ở Boston, và người ta thường gọi ông là Bà-la-môn Boston vì dường như ông rút từ các truyền thống Đông phương khi giải thích cách ông thấy chân lý. Tôi nhớ rất lâu trước đây, tôi đang đi trên một trong những chuyến tàu trên cao ở Chicago, và tôi đang đọc về đại hồn thì rất ấn tượng trước những điều ông thốt lên và viết ra. Bây giờ chúng ta phải biến điều đó thành một thực tại cho chính mình, và đó là điều chúng ta sẽ cố gắng thực hiện. |
|
1. Those on the line of the world saviours. These touch and sense the divine plan and are pledged to service and to work for the salvation of humanity. They are found expressing different and varying degrees of realisation, stretching all the way from the man who seeks to reveal divinity in his own life and to his immediate small circle (through the medium of the changes and effects wrought in his personal life) to those great Intuitives and world Saviours, such as the Christ. The former is motivated in all probability by some one intuitive crisis which entirely remade him and gave him a new sense of values; the latter can, at will, rise into the world of intuitive perception and [Page 137] values and there ascertain the will of God and a wide vision of the Plan. Such great Representatives of Deity have the freedom of the Holy City (Shamballa) and of the New Jerusalem (the Hierarchy). They are thus unique in their contacts and there have been relatively few of Them as yet. We’re talking about intuition; four types of people are subject to revelation through the awakening of the intuition. The first group are those on the line of the world saviors—they are saviors, teachers, and the divine psychologist. |
1. Những người ở trên tuyến của các vị cứu tinh thế giới. Những người này chạm đến và cảm nhận Thiên Cơ, hiến mình cho phụng sự và làm việc vì sự cứu độ nhân loại. Họ được thấy biểu lộ những cấp độ chứng ngộ khác nhau và biến đổi, trải dài từ người tìm cách mặc khải thiên tính trong chính đời sống mình và trong vòng nhỏ bé gần gũi của mình (qua trung gian của những thay đổi và hiệu quả được tạo ra trong đời sống cá nhân của y) cho đến những Nhà Trực Giác vĩ đại và các Đấng Cứu Tinh thế giới, như Đức Christ. Nhóm trước rất có thể được thúc đẩy bởi một khủng hoảng trực giác nào đó đã hoàn toàn tái tạo y và đem lại cho y một ý thức mới về các giá trị; nhóm sau có thể, theo ý muốn, vươn lên vào thế giới của tri giác trực giác và [Trang 137] các giá trị, và tại đó nhận biết Ý Chí của Thượng Đế cùng một tầm nhìn rộng lớn về Thiên Cơ. Những Đại Diện vĩ đại như thế của Thượng đế có quyền tự do ra vào Thánh Thành (Shamballa) và Tân Jerusalem (Thánh Đoàn). Như vậy, Các Ngài là độc nhất trong những tiếp xúc của mình, và cho đến nay số Các Ngài còn tương đối ít. Chúng ta đang nói về trực giác; bốn loại người chịu sự mặc khải qua sự thức tỉnh của trực giác. Nhóm đầu tiên là những người ở trên tuyến của các vị cứu tinh thế giới—họ là các vị cứu tinh, huấn sư và nhà tâm lý học thiêng liêng. |
|
These touch and sense the divine plan and are pledged to service and to work for the salvation of humanity. |
Những người này chạm đến và cảm nhận Thiên Cơ, hiến mình cho phụng sự và làm việc vì sự cứu độ nhân loại. |
|
Given the state of human ignorance, we certainly do manage as a race to get ourselves into a situation where something like salvation is needed. |
Với tình trạng vô minh của con người, chắc chắn chúng ta, với tư cách một nhân loại, quả có xoay xở để tự đưa mình vào một tình thế cần đến điều gì đó như sự cứu độ. |
|
They are found expressing different and varying degrees of realisation, stretching all the way from the man who seeks to reveal divinity in his own life and to his immediate small circle (through the medium of the changes and effects wrought in his personal life) |
Họ được thấy biểu lộ những cấp độ chứng ngộ khác nhau và biến đổi, trải dài từ người tìm cách mặc khải thiên tính trong chính đời sống mình và trong vòng nhỏ bé gần gũi của mình (qua trung gian của những thay đổi và hiệu quả được tạo ra trong đời sống cá nhân của y) |
|
Because every one of us, if we want to express these high energies, certainly have to change from our usual personality expression, stretching all the way from such a human being |
Bởi vì mỗi người chúng ta, nếu muốn biểu lộ những năng lượng cao này, chắc chắn phải thay đổi khỏi sự biểu lộ phàm ngã thông thường của mình, trải dài từ một con người như thế |
|
to those great Intuitives and world Saviours, such as the Christ. |
cho đến những Nhà Trực Giác vĩ đại và các Đấng Cứu Tinh thế giới, như Đức Christ. |
|
Master DK is pretty much on the wisdom line. He said he considered himself one of the humblest of the Friends of the Christ. Interestingly enough, this category of server—Friends of the Christ—are found on the wisdom line, not on the love line. There’s something there to be considered. |
Chân sư DK gần như thuộc tuyến minh triết. Ngài nói Ngài tự xem mình là một trong những Người Bạn khiêm nhường nhất của Đức Christ. Thật thú vị, loại người phụng sự này—Những Người Bạn của Đức Christ—được thấy trên tuyến minh triết, không phải trên tuyến tình thương. Có điều gì đó ở đây cần được suy xét. |
|
The former smaller group worker is motivated in all probability by some one intuitive crisis which entirely remade him and gave him a new sense of values. |
Nhóm trước người hoạt động nhóm nhỏ hơn rất có thể được thúc đẩy bởi một khủng hoảng trực giác nào đó đã hoàn toàn tái tạo y và đem lại cho y một ý thức mới về các giá trị. |
|
Often, you tell the quality of the human being by the sense of values which they express. What a human being wants tells you who he is. |
Thường khi, các bạn nhận biết phẩm tính của một con người qua ý thức về các giá trị mà họ biểu lộ. Điều một con người muốn cho các bạn biết y là ai. |
|
The latter greater Beings can, at will, rise into the world of intuitive perception and [Page 137] values and there ascertain the will of God and a wide vision of the Plan. |
Nhóm sau các Đấng vĩ đại hơn có thể, theo ý muốn, vươn lên vào thế giới của tri giác trực giác và [Trang 137] các giá trị, và tại đó nhận biết Ý Chí của Thượng Đế cùng một tầm nhìn rộng lớn về Thiên Cơ. |
|
I don’t think we find ourselves there yet, but as always, we’re on our way. |
Tôi không nghĩ chúng ta thấy mình đã ở đó, nhưng như mọi khi, chúng ta đang trên đường. |
|
Such great Representatives of Deity have the freedom of the Holy City (Shamballa) and of the New Jerusalem (the Hierarchy). They are thus unique in their contacts and there have been relatively few of Them as yet. |
Những Đại Diện vĩ đại như thế của Thượng đế có quyền tự do ra vào Thánh Thành (Shamballa) và Tân Jerusalem (Thánh Đoàn). Như vậy, Các Ngài là độc nhất trong những tiếp xúc của mình, và cho đến nay số Các Ngài còn tương đối ít. |
|
The Christ was one of them, and maybe the highest one that Earth humanity has produced so far. |
Đức Christ là một trong Các Ngài, và có lẽ là Đấng cao nhất mà nhân loại Trái Đất đã sản sinh cho đến nay. |
|
What’s another group that responds, subject to revelation through intuition? |
Nhóm nào khác đáp ứng, chịu sự mặc khải qua trực giác? |
|
Number two: 2. Those who are on the line of the prophets. |
Số hai: 2. Những người ở trên tuyến của các nhà tiên tri. |
|
We think of Isaiah, Jeremiah, Amos. Often, they didn’t have really happy things to say about the condition of things, and it was Amos, I think, who warned us that were we not careful, we would die in a polluted land. When you look at the condition of things now, you do see how it would happen. |
Chúng ta nghĩ đến Isaiah, Jeremiah, Amos. Thường khi, họ không có những điều thật sự vui vẻ để nói về tình trạng sự vật; và tôi nghĩ chính Amos đã cảnh báo chúng ta rằng nếu không cẩn trọng, chúng ta sẽ chết trong một vùng đất ô nhiễm. Khi các bạn nhìn vào tình trạng sự vật hiện nay, các bạn thấy điều đó có thể xảy ra như thế nào. |
|
These prophets touch the Plan at high intuitive moments and know what the immediate future holds. |
Những người này các nhà tiên tri chạm đến Thiên Cơ trong những khoảnh khắc trực giác cao và biết tương lai gần chứa đựng điều gì. |
|
, so he’s not referring to the Hebrew prophets here. |
Ngài không nói đến các nhà tiên tri Do Thái ở đây. |
|
He does not refer here to the Hebrew prophets, so familiar to the West, but to all who see clearly what should be done to lead humanity out of darkness into light, beginning with the situation as it is and looking forward into a future of divine consummation. |
Ở đây Ngài không nói đến các nhà tiên tri Do Thái, quá quen thuộc với phương Tây, mà nói đến tất cả những ai thấy rõ điều cần phải làm để dẫn nhân loại ra khỏi bóng tối vào ánh sáng, khởi đầu từ tình trạng hiện có và hướng tới một tương lai thành tựu thiêng liêng. |
|
He’s kind of changing the meaning of “prophet”—not only talking about those more exalted beings in our mind when we read the Old Testament. There is the prophet line; it doesn’t seem like they’re quite as astute as the great intuitives mentioned in the first section. |
Ngài phần nào đang thay đổi ý nghĩa của “nhà tiên tri”—không chỉ nói về những sinh linh cao cả hơn trong tâm trí chúng ta khi đọc Cựu Ước. Có tuyến tiên tri; dường như họ không sắc sảo bằng các Nhà Trực Giác vĩ đại được đề cập trong phần đầu. |
|
I wonder if someone like Doug Hammish was one of these, or Eleanor Roosevelt—she had Sagittarius on the ascendant and was a Libra, seeing ahead into the possibilities, and then, of course, he gives a range as usual. |
Tôi tự hỏi liệu một người như Doug Hammish có thuộc nhóm này không, hay Eleanor Roosevelt—bà có Nhân Mã ở dấu hiệu mọc và là Thiên Bình, nhìn về phía trước vào các khả năng; rồi dĩ nhiên, như thường lệ, Ngài đưa ra một dải phân cấp. |
|
Now, here he goes, |
Ở đây Ngài tiếp tục, |
|
Isaiah and Ezekiel |
Isaiah và Ezekiel |
|
Probably saw the wheel of the monad, really as the song goes—”a king saw the wheel, way in the middle of the air.” |
Có lẽ thật sự đã thấy bánh xe của chân thần, như bài hát nói—“một vị vua đã thấy bánh xe, rất xa giữa không trung.” |
|
They had no direct revealing intuition. In the New Testament, John the beloved disciple was privileged to gain a cosmic picture and a true prophetic vision which he embodied in the Apocalypse, but he is the only one who so achieved, and he achieved because he loved so deeply, so wisely, and so inclusively. |
Họ không có trực giác mặc khải trực tiếp. Trong Tân Ước, John, người đệ tử được yêu quý, có đặc ân đạt được một bức tranh vũ trụ và một tầm nhìn tiên tri chân chính mà ông đã thể hiện trong Sách Khải Huyền; nhưng ông là người duy nhất đạt được như vậy, và ông đạt được vì ông yêu thương sâu xa, minh triết và bao gồm đến thế. |
|
His intuition was evoked through the depth and intensity of his love. |
Trực giác của ông được gợi lên nhờ chiều sâu và cường độ tình thương của ông. |
|
John saw some things in the book of Revelation, which the Tibetan tells us was actually dictated by the one who became Master Hilarion. He saw some things which bear on our time, and again are not of the most pleasant nature. |
John đã thấy một số điều trong Sách Khải Huyền, mà Chân sư Tây Tạng nói với chúng ta là thật ra do Đấng về sau trở thành Chân sư Hilarion đọc cho ghi lại. Ông đã thấy một số điều liên quan đến thời đại chúng ta, và một lần nữa, chúng không thuộc loại dễ chịu nhất. |
|
—as it was in his Master, the Christ. |
—như đã xảy ra nơi Chân sư của ông, Đức Christ. |
|
Yeah, I didn’t see that, but it just seemed like, it must be the case. |
Tôi đã không thấy điều đó, nhưng dường như điều ấy hẳn phải là như vậy. |
|
These are the prophets. They are not as great and natural intuitives like the Christ, maybe the Buddha—we don’t know who else he would include. But some of them have the possibility of a cosmic vision, and others are more what can we say, analytical intelligence, and for that reason, ahead a little bit. |
Đây là các nhà tiên tri. Họ không vĩ đại và không phải là những Nhà Trực Giác tự nhiên như Đức Christ, có lẽ như Đức Phật—chúng ta không biết Ngài sẽ bao gồm những ai khác. Nhưng một số người trong họ có khả năng có tầm nhìn vũ trụ, còn những người khác thì, chúng ta có thể nói, thiên về trí thông minh phân tích hơn, và vì lý do đó, đi trước một chút. |
|
Here we have the true priests. That’s the next group. Remember, we’re talking about those who receive intuitive revelation, who are inclined to see intuitive revelation. |
Ở đây chúng ta có các tư tế chân chính. Đó là nhóm kế tiếp. Hãy nhớ rằng chúng ta đang nói về những người nhận sự mặc khải trực giác, những người có khuynh hướng thấy sự mặc khải trực giác. |
|
It’s built into them. |
Điều đó được xây sẵn trong họ. |
|
This is what he thinks of it. We know how the priest in the old days was always the intermediary between man and God, until Luther put that all aside and said that man confront God directly—the priest is not needed. |
Đây là điều Ngài nghĩ về nó. Chúng ta biết trong thời xưa, tư tế luôn là người trung gian giữa con người và Thượng đế, cho đến khi Luther gạt bỏ tất cả điều đó và nói rằng con người trực tiếp đối diện với Thượng đế—không cần tư tế. |
|
The love of God, and the true spiritual incentive which recognises God immanent in all nature and peculiarly expressing that divinity in man, is lacking in the bulk of the priesthood in all the world religions. |
Tình thương của Thượng đế, và động lực tinh thần chân chính nhận ra Thượng đế nội tại trong toàn thể thiên nhiên và đặc biệt biểu lộ thiên tính ấy trong con người, đang thiếu nơi phần lớn hàng tư tế trong mọi tôn giáo thế giới. |
|
That’s quite an indictment, isn’t it? Something so necessary—the recognition of God immanent, the love of God in all nature and in man—is lacking in the bulk of the priesthood in all the world religions. |
Đó là một lời cáo buộc khá nặng, phải không? Một điều thiết yếu đến thế—sự nhận ra Thượng đế nội tại, tình thương của Thượng đế trong toàn thể thiên nhiên và trong con người—lại đang thiếu nơi phần lớn hàng tư tế trong mọi tôn giáo thế giới. |
|
Love is not the guide, the indicator, and the interpreter. |
Tình thương không phải là người hướng dẫn, dấu chỉ và nhà diễn giải. |
|
Hence the dogmatism of the theologian, his ridiculous and profound assurances of correct interpretation, and his oft-times cruelty. |
Do đó có tính giáo điều của nhà thần học, những xác quyết vừa lố bịch vừa sâu nặng của y về sự diễn giải đúng, và sự tàn nhẫn thường khi của y. |
|
When you simply impose your own way upon another regardless what that other may really need, this is an example of what it proves. The true love of the priests for his parishioners is not developed as it should have been. |
Khi các bạn đơn giản áp đặt đường lối riêng của mình lên người khác, bất kể người kia thật sự có thể cần gì, đây là một ví dụ cho thấy điều đó chứng minh gì. Tình thương chân thật của các tư tế đối với giáo dân của y đã không được phát triển như đáng lẽ phải có. |
|
I remember things come back to me. I saw a movie a long time ago about the 30 Years War—it was a horrible thing in Europe, and the Catholics and the Protestants were fighting. There was unbelievable cruelty, and a priest, Catholic I believe, was going to burn somebody to purify them and threw them on the fire. This man, probably a Protestant, or was it a woman, met an excruciating death. But those who surrounded the blaze saw right through what was happening and how fallacious the whole process had become. He grabbed hold of the priest and threw him also into the fire as a gesture of fairness, and somehow seeing this dogmatic, almost hateful, very cruel attitude in the priest was an impressive moment for me in the 30 Years War. It was unbelievable in its cruelty because it was, of course, a religious war which would determine whether Catholicism would hold its preeminent place or whether Protestantism would rise into power. |
Tôi nhớ những điều trở lại với mình. Rất lâu trước đây, tôi đã xem một bộ phim về Chiến tranh Ba Mươi Năm—đó là một điều khủng khiếp ở châu Âu, và người Công giáo cùng người Tin Lành đang giao chiến. Có sự tàn bạo không thể tin nổi; và một tư tế, tôi tin là Công giáo, sắp thiêu sống một người để thanh tẩy người ấy và ném người ấy vào lửa. Người này, có lẽ là một người Tin Lành, hay có phải là một phụ nữ, đã chết trong đau đớn cùng cực. Nhưng những người đứng quanh ngọn lửa đã nhìn thấu điều đang xảy ra và thấy toàn bộ tiến trình đã trở nên sai lầm đến mức nào. Ông ta túm lấy vị tư tế và cũng ném y vào lửa như một cử chỉ công bằng; và bằng cách nào đó, việc thấy thái độ giáo điều, gần như thù hận, rất tàn nhẫn này nơi vị tư tế là một khoảnh khắc gây ấn tượng mạnh đối với tôi trong bối cảnh Chiến tranh Ba Mươi Năm. Nó không thể tin nổi trong sự tàn bạo của nó, bởi vì dĩ nhiên đó là một cuộc chiến tôn giáo sẽ quyết định liệu Công giáo có giữ vị trí ưu thắng của mình hay Tin Lành sẽ trỗi lên nắm quyền. |
|
But the true priest exists and is found in all religions. |
Nhưng tư tế chân chính vẫn hiện hữu và có mặt trong mọi tôn giáo. |
|
When we hear that word “priest,” we sometimes think it’s Catholic, but he’s saying something different. |
Khi nghe từ “tư tế”, đôi khi chúng ta nghĩ đó là Công giáo, nhưng Ngài đang nói một điều khác. |
|
He is the friend and the brother of all and, because he loves deeply, wisdom is his, and if he is of a mental type and training, his intuition is awakened and revelation is his reward. |
Y là bạn và là huynh đệ của tất cả, và bởi vì y yêu thương sâu xa, minh triết thuộc về y; và nếu y thuộc loại trí tuệ và được rèn luyện trí tuệ, trực giác của y được đánh thức và sự mặc khải là phần thưởng của y. |
|
Love is revealing wisdom. We know that on the buddhic plane, love-wisdom is found, and Buddhi essentially means wisdom, but it’s so deeply connected as well with love. |
Tình thương đang mặc khải minh triết. Chúng ta biết rằng trên cõi Bồ đề có Bác Ái – Minh Triết, và Bồ đề về cơ bản có nghĩa là minh triết, nhưng nó cũng được nối kết rất sâu xa với tình thương. |

|
They have a clear picture in their minds of what is possible to accomplish, and the power to point it out to the people of their time. [1c] |
Họ có trong thể trí một bức tranh rõ ràng về điều có thể hoàn thành, và có quyền năng chỉ ra điều đó cho con người của thời đại họ. [1c] |
|
They necessarily range all the way from those who have a relatively clear vision of the cosmic picture and objectives to those who simply see the next step ahead for the race or the nation. [1d] |
Tất yếu, họ trải dài từ những người có một tầm nhìn tương đối rõ ràng về bức tranh và mục tiêu vũ trụ, cho đến những người chỉ đơn giản thấy bước kế tiếp phía trước đối với nhân loại hay quốc gia. [1d] |
|
Isaiah and Ezekiel are the only two of the Hebrew prophets who had true prophetic and cosmic vision. [1e] The others were small, but intelligent men who, from analysis and deduction, assessed the immediate future and indicated immediate possibilities. [1f] |
Isaiah và Ezekiel là hai nhà tiên tri Do Thái duy nhất có tầm nhìn tiên tri và vũ trụ chân chính. [1e] Những người khác là những người nhỏ bé nhưng thông minh, từ phân tích và suy luận mà đánh giá tương lai gần và chỉ ra các khả năng trước mắt. [1f] |
|
They are priests via spiritual calling, and not by choice. [1i] |
Họ là tư tế qua tiếng gọi tinh thần, chứ không do chọn lựa. [1i] |
|
It is the misunderstanding of the province and duties of a priest which has led all the Churches (in the East and in the West) to their disastrous [Page 138] authoritarian position. [1j] |
Chính sự hiểu lầm về phạm vi và bổn phận của một tư tế đã dẫn tất cả các Giáo hội (ở Đông phương cũng như Tây phương) đến lập trường độc đoán tai hại của họ [Trang 138]. [1j] |
|
his oftentimes cruelty, cloaked by his claim of right principles and good intentions. [1m] |
sự tàn nhẫn thường khi của y, được che đậy bằng lời tuyên bố về các nguyên tắc đúng và ý định tốt. [1m] |
|
Ponder on this. The true priest is rare and is not found only in the so-called “holy orders”. [1n] |
Hãy suy ngẫm điều này. Tư tế chân chính rất hiếm và không chỉ được tìm thấy trong những “chức thánh” được gọi như thế. [1n] |
|
All this takes me back, and I remember even 50 years ago when I was still interested in occultism, or beginning my very serious interest in it. There were people going around in brown robes in the Holy Order of Man, something of that nature, and they were cruel and compulsive, leaving no room for any other point of view. They were definitely forceful and sought to impress you. Now, that reminds me of the War of 1812 where the Americans were impressed into the British service. The idea was that you’re really still Brits, you’re not really Americans, and therefore you owe your service on the high seas to the British Navy and not to anything we would call an American Navy. These people in their brown robes—accounting for all the differences among personalities—had a tendency to see that only in this way could any kind of spiritual development take place. |
Tất cả điều này đưa tôi trở lại, và tôi nhớ ngay cả năm mươi năm trước, khi tôi vẫn còn quan tâm đến huyền bí học, hay đang bắt đầu mối quan tâm rất nghiêm túc của mình đối với nó. Có những người đi khắp nơi trong áo choàng nâu thuộc Dòng Thánh của Con Người, hay điều gì đó tương tự, và họ tàn nhẫn, cưỡng bách, không chừa chỗ cho bất kỳ quan điểm nào khác. Họ chắc chắn rất mạnh bạo và tìm cách gây ấn tượng lên các bạn. Điều đó nhắc tôi nhớ đến Chiến tranh năm 1812, khi người Mỹ bị cưỡng ép vào phục vụ cho người Anh. Ý tưởng là các bạn thật ra vẫn là người Anh, không thật sự là người Mỹ, và do đó các bạn nợ sự phục vụ trên biển cả cho Hải quân Anh, chứ không phải cho bất cứ điều gì chúng ta gọi là Hải quân Mỹ. Những người trong áo choàng nâu ấy—dù tính đến mọi khác biệt giữa các phàm ngã—có khuynh hướng thấy rằng chỉ bằng cách này mới có thể diễn ra bất kỳ loại phát triển tinh thần nào. |
|
So far we have three types that undergo intuitive revelation. They are the true priests, and we might say this occurs through the agency of great love. The true priest is not necessarily known by some kind of religious name. And we have the prophets, those who are under the line of the prophets, and then up here we have the greatest of all intuitives: the Christ, the World Saviors. He’s telling us something about the kind of life we have to live if we’re going to have the true awakening of the intuition, and not just a kind of psychism in which we indulge and overestimate. Finally, he inserts the word practical. |
Cho đến nay chúng ta có ba loại người trải qua sự mặc khải trực giác. Họ là các tư tế chân chính, và chúng ta có thể nói điều này xảy ra qua tác nhân của tình thương lớn lao. Tư tế chân chính không nhất thiết được biết đến bằng một danh xưng tôn giáo nào đó. Và chúng ta có các nhà tiên tri, những người ở dưới tuyến của các nhà tiên tri; rồi ở đây phía trên, chúng ta có những Nhà Trực Giác vĩ đại nhất trong tất cả: Đức Christ, các Đấng Cứu Tinh Thế Giới. Ngài đang nói với chúng ta điều gì đó về loại đời sống chúng ta phải sống nếu muốn có sự thức tỉnh chân thật của trực giác, chứ không chỉ là một loại thông linh mà chúng ta đắm mình vào và đánh giá quá cao. Cuối cùng, Ngài đưa vào từ thực tiễn. |
|
4. Those who are the practical mystics or occultists. |
4. Những người là nhà thần bí hay nhà huyền bí học thực tiễn. |
|
I think he’s probably not talking about someone going off to some cave and isolating himself from all contact with the service of men and women. But what’s interesting is that Master Morya talks sometimes about the hermit in the cave and how his highly developed consciousness is really taking him out of the cave, even though his body might remain there. He mixes into the affairs of many ordinary people in the world, simply because he has that power to go forth and identify. |
Có lẽ Ông không nói về một người đi vào hang động nào đó và tự cô lập mình khỏi mọi tiếp xúc với việc phụng sự những người nam và nữ. Nhưng điều thú vị là Chân sư Morya đôi khi nói về ẩn sĩ trong hang động, và về việc tâm thức phát triển cao của y thật sự đưa y ra khỏi hang, dù thể xác của y có thể vẫn ở đó. Y hòa vào các công việc của nhiều người bình thường trong thế gian, đơn giản vì y có quyền năng đi ra và đồng hóa. |
|
The practical mystics or occultists are not those who are simply concerned with their own development. |
Các nhà thần bí hay nhà huyền bí học thực tiễn không phải là những người chỉ quan tâm đến sự phát triển của riêng mình. |
|
It seems to take all these qualities, doesn’t it: a disciplined life in the physical nature, ardent aspiration for the astral nature, and a trained intellect. And I suppose we can ask, how many of us are characterized by these characteristics? |
Dường như cần tất cả những phẩm tính này: một đời sống có kỷ luật trong bản chất hồng trần, khát vọng nồng nhiệt nơi bản chất cảm dục, và một trí tuệ đã được rèn luyện. Và chúng ta có thể tự hỏi: có bao nhiêu người trong chúng ta được đặc trưng bởi những đặc tính này? |
|
No one knows so well perhaps as the Tibetan about the temporary nature of knowledge. There are some people who say the last revelation has been given with this teaching. When that kind of thing is said, you know that there is very great illusion running through that teaching. |
Có lẽ không ai biết rõ bằng Chân sư Tây Tạng về bản chất tạm thời của tri thức. Có một số người nói rằng sự mặc khải cuối cùng đã được ban ra qua giáo huấn này. Khi điều như thế được nói ra, các bạn biết rằng có một ảo tưởng rất lớn đang vận hành xuyên qua giáo huấn ấy. |
|
Now, I want to emphasize that temporary nature. |
Tôi muốn nhấn mạnh bản chất tạm thời đó. |
|
There are many such working patiently today in the world, unrecognised and unsought by the unthinking. |
Ngày nay, có nhiều người như thế đang kiên nhẫn hoạt động trong thế gian, không được nhận biết và không được những người thiếu suy nghĩ tìm kiếm. |
|
Notice those three un-in a row; this is one of the ways Master DK teaches. The New Group of World Servers is a partial example of this, and the people who are seeking to populate and develop the new esoteric schools of meditation are assembling, and those who are building the bridging schools are assembling as well. So, let the voice be heard. |
Hãy lưu ý ba tiền tố phủ định liên tiếp; đây là một trong những cách Chân sư DK giảng dạy. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian là một ví dụ phần nào về điều này, và những người đang tìm cách quy tụ và phát triển các trường tham thiền nội môn mới đang tập hợp lại, cũng như những người đang xây dựng các trường bắt cầu cũng đang tập hợp. Vì vậy, hãy để tiếng nói được vang lên. |
|
These people are resolving the sense of duality into a known unity—the many and the one. |
Những người này đang hóa giải ý thức về nhị nguyên thành một hợp nhất đã được nhận biết—cái nhiều và cái một. |
|
Now, it’s almost like DK is speaking of himself. |
Dường như Chân sư DK gần như đang nói về chính Ngài. |
|
These are the four groups who are exchanging illusion for the intuition. Sounds like a pretty good trade, does it not? |
Đây là bốn nhóm người đang đổi ảo tưởng lấy trực giác. Nghe như một sự trao đổi khá tốt, phải không? |
|
This is the initial resolution of the pairs of opposites, for there is no such resolution without the aid of the intellect, because the intellect—through analysis, discrimination, and right reasoning—indicates what should be done. |
Đây là sự hóa giải ban đầu của các cặp đối cực, vì không có sự hóa giải nào như thế nếu không có sự trợ giúp của trí tuệ, bởi trí tuệ—qua phân tích, phân biện và lý luận đúng đắn—chỉ ra điều phải được thực hiện. |
|
We have reviewed intuitive revelation in four groups of people, of which we can take notes. |
Chúng ta đã ôn lại sự mặc khải trực giác nơi bốn nhóm người, và chúng ta có thể ghi chú về điều đó. |
|
We’re on page 139. |
Chúng ta đang ở trang 139. |
|
Friends. That will be all the reading for today. Now, where are you? Are you intuitive? Does intuitive revelation come to you? I think we can eliminate that line. We’re not on the line of the Christ—that is parallel, at least maybe on the line, but we have not attained it that way. And are we on the line of the prophets? There are the oracles of the modern day and they’re real, and some people may feel themselves to be on that line. Or do we find ourselves perhaps as a true priest, a true brother through kindness and love, revelation would come. And then the last possibility: the practical mystics or occultists? I would say many of whom are gathered around such teachers as Master DK. Certainly he is training occultists, and he’s helping mystics blend the Uranian line of that planet with the Neptunian line with which they are very familiar. |
Các bạn, phần đọc hôm nay sẽ dừng tại đây. Các bạn đang ở đâu? Các bạn có trực giác không? Sự mặc khải trực giác có đến với các bạn không? Tôi nghĩ chúng ta có thể loại bỏ tuyến đó. Chúng ta chưa ở trên tuyến của Đức Christ—tuyến ấy song hành, ít nhất có thể là ở trên tuyến đó, nhưng chúng ta chưa đạt được theo cách ấy. Và chúng ta có ở trên tuyến của các tiên tri không? Có những nhà tiên tri hiện đại, và họ là có thật; một số người có thể cảm thấy mình ở trên tuyến đó. Hay chúng ta có thấy mình có lẽ là một tư tế chân chính, một huynh đệ chân chính qua lòng nhân từ và tình thương, để sự mặc khải có thể đến? Rồi khả năng cuối cùng: các nhà thần bí hay nhà huyền bí học thực tiễn? Tôi muốn nói rằng nhiều người trong số họ tụ họp quanh các huấn sư như Chân sư DK. Chắc chắn Ngài đang đào luyện các nhà huyền bí học, và Ngài đang giúp các nhà thần bí hòa trộn tuyến Sao Thiên Vương của hành tinh ấy với tuyến Sao Hải Vương mà họ rất quen thuộc. |
|
Are there any other thoughts or questions about this—much of what we have been studying or should be studying? We’re about to begin a new section next time. This one’s about intuitive revelation. First of all, let’s pause for a minute and ask ourselves: “Am I subject to intuitive revelation?” Now obviously, the real intuition is of the Triad and beyond, and it’s going to continue to develop. Normally, unless we were a post-initiate of the fourth degree, our consciousness would not be sustained in a buddhic manner—not yet. We’re doing our best to develop the higher mind, the abstract mind, with occasional flashes of the Buddhi. But maybe that door is open to you, and maybe you see the line by which you would enter along one of these four groups, especially one of the three later ones. So, are there any questions? |
Có suy nghĩ hay câu hỏi nào khác về điều này—về phần lớn những gì chúng ta đã và nên đang học không? Lần sau chúng ta sắp bắt đầu một phần mới. Phần này nói về sự mặc khải trực giác. Trước hết, hãy dừng lại một phút và tự hỏi: “Tôi có chịu sự mặc khải trực giác không?” Hiển nhiên, trực giác thật sự thuộc về Tam nguyên tinh thần và xa hơn nữa, và nó sẽ tiếp tục phát triển. Thông thường, trừ khi chúng ta là điểm đạo đồ sau lần điểm đạo thứ tư, tâm thức của chúng ta chưa thể được duy trì theo cách Bồ đề—chưa phải lúc này. Chúng ta đang cố gắng hết sức để phát triển thượng trí, trí trừu tượng, với những lóe sáng thỉnh thoảng của Bồ đề. Nhưng có lẽ cánh cửa ấy đang mở ra cho các bạn, và có lẽ các bạn thấy tuyến mà qua đó mình sẽ bước vào theo một trong bốn nhóm này, đặc biệt là một trong ba nhóm sau. Vậy có câu hỏi nào không? |
|
Veronica |
Veronica |
|
MDR |
MDR |
|
He uses the words geometrically intuitive, and I suppose the various geometries are meant to reveal something about the constitution of man, how he is functioning, and the energies ambient in a certain situation. I think it is a legitimate way of proceeding, revealing in this square of personality and the Triangle of spirit and consciousness, and the five-pointed star of initiation, or the inverted star of retrogression, or the six-pointed star which places the higher and lower Triad together. Even he mentions the seven-pointed star. Perhaps there is an Asian nine-pointed star. I’ve seen the two squares used to create an eight-pointed star. And then there’s the Platonic Solids, each one of which has a whole lore surrounding it. That is one way of operating. Remember, the second ray God, the second ray Lord is called the Grand Geometrician. Sometimes it’s the love of geometry, or access via geometry, which reveals the second ray in one’s makeup and, even more, in a practical sense. I think the seventh ray can as well be revealed through geometrically intuitive means. Are there any other thoughts? |
Ngài dùng những từ trực giác theo hình học, và tôi cho rằng các hình học khác nhau nhằm mặc khải điều gì đó về cấu tạo của con người, cách y đang hoạt động, và các năng lượng bao quanh trong một tình huống nhất định. Tôi nghĩ đó là một cách tiến hành chính đáng, mặc khải trong hình vuông của phàm ngã, Tam giác của tinh thần và tâm thức, ngôi sao năm cánh của điểm đạo, hoặc ngôi sao đảo ngược của thoái hóa, hay ngôi sao sáu cánh đặt Tam nguyên cao và thấp lại với nhau. Ngài thậm chí còn đề cập đến ngôi sao bảy cánh. Có lẽ có một ngôi sao chín cánh Á Đông. Tôi đã thấy hai hình vuông được dùng để tạo thành một ngôi sao tám cánh. Rồi còn có các khối đa diện của Plato, mỗi khối đều có cả một kho truyền thống tri thức bao quanh. Đó là một cách vận hành. Hãy nhớ rằng Thượng đế cung hai, Đấng Chúa Tể Cung hai, được gọi là Nhà Hình Học Vĩ Đại. Đôi khi chính tình yêu đối với hình học, hay sự tiếp cận qua hình học, mặc khải cung hai trong cấu tạo của một người, và còn hơn thế nữa theo nghĩa thực tiễn. Tôi nghĩ cung bảy cũng có thể được mặc khải qua những phương tiện trực giác theo hình học. Có suy nghĩ nào khác không? |
|
This is my view—I think maybe that’ll be a little better. But just look at this one more time because I find it to be so reminding in a way. And I remind myself of this definition of intuition: |
Đây là quan điểm của tôi—có lẽ như vậy sẽ tốt hơn một chút. Nhưng hãy nhìn lại điều này thêm một lần nữa, vì tôi thấy nó nhắc nhở rất mạnh theo một cách nào đó. Và tôi tự nhắc mình về định nghĩa này của trực giác: |
|
Intuition is the synthetic understanding which is the prerogative of the soul and it only becomes possible when the soul, on its own level, is reaching in two directions: towards the Monad, and towards the integrated and, perhaps (even if only temporarily) coordinated and at-oned personality. It is the first indication of a deeply subjective unification which will find its consummation at the third initiation. Glamour: A World Problem 3 |
Trực giác là sự thấu hiểu tổng hợp vốn là đặc quyền của linh hồn, và nó chỉ trở nên khả hữu khi linh hồn, trên cấp độ riêng của nó, đang vươn theo hai hướng: hướng về chân thần, và hướng về phàm ngã tích hợp và, có lẽ, dù chỉ tạm thời, đã được phối hợp và hợp nhất. Đó là dấu hiệu đầu tiên của một sự hợp nhất nội tại sâu xa, sẽ đạt đến sự viên mãn của nó ở lần điểm đạo thứ ba. Ảo Cảm Một Vấn Đề Thế Giới 3 |
|
So, it certainly is beginning then, and by the fourth initiation, is quite perfected. And it gives us other qualities like Universal Love, Illumination, Understanding—all of these are part of the intuition. The cultivation of any of these qualities is going to bring us closer. Remember what it said about the true priests, who through love access this. Then the thinker, the occultist—the occultist is really found sometimes on the first ray. But it has to do with the Uranian mind, not the Neptunian mind, but the Uranian mind. So there’s a number of things to cultivate before we can hold steady in that realm. I must say, following the way the Masters do, we’re not going to have anything with just a flash. It seems to me at this point we won’t. But we’re grateful for the flash; it’s the real thing, the real thing, and it keeps us from being bewildered in the world of glamour. |
Vì vậy, chắc chắn khi ấy nó đang bắt đầu, và đến lần điểm đạo thứ tư thì đã khá hoàn thiện. Nó cũng đem lại cho chúng ta những phẩm tính khác như Tình thương Vũ trụ, sự soi sáng, sự thấu hiểu—tất cả những điều này đều là một phần của trực giác. Việc vun bồi bất kỳ phẩm tính nào trong số đó sẽ đưa chúng ta đến gần hơn. Hãy nhớ điều đã nói về các tư tế chân chính, những người tiếp cận điều này qua tình thương. Rồi đến nhà tư tưởng, nhà huyền bí học—nhà huyền bí học đôi khi thật sự được tìm thấy trên cung một. Nhưng điều này liên quan đến trí tuệ Sao Thiên Vương, không phải trí tuệ Sao Hải Vương, mà là trí tuệ Sao Thiên Vương. Vì vậy, có nhiều điều cần vun bồi trước khi chúng ta có thể đứng vững trong cõi ấy. Tôi phải nói rằng, theo cách các Chân sư làm, chúng ta sẽ không có được gì chỉ bằng một tia lóe sáng. Vào lúc này, tôi thấy dường như chúng ta sẽ không có. Nhưng chúng ta biết ơn tia lóe sáng ấy; nó là điều chân thật, điều chân thật, và nó giữ cho chúng ta khỏi bị hoang mang trong thế giới ảo cảm. |
|
Now, the next thing we’re going to undertake is the difference, the contrast between glamour and illumination—something of the intuition will not be discussed there. So, we persist; that’s all I can say. |
Điều kế tiếp chúng ta sẽ đảm nhận là sự khác biệt, sự tương phản giữa ảo cảm và sự soi sáng—một phần nào đó của trực giác sẽ không được bàn ở đó. Vì vậy, chúng ta kiên trì; đó là tất cả những gì tôi có thể nói. |
|
Rebecca would like you to expand on what you said about those being educated on the Uranian line and Neptunian line. What does this mean? |
Rebecca muốn anh khai triển điều anh đã nói về những người được giáo dục trên tuyến Sao Thiên Vương và tuyến Sao Hải Vương. Điều này có nghĩa là gì? |
|
There we go. I looked at this diagram. Tuija has a better diagram of this egg. Notice that nothing is said in terms of design about the Uranian or Neptunian planetary scheme, while in all the others there’s going to be some pretty distinctive geometry, which is somehow different in most cases. The question is, why is it different now? Sometimes it looks the same, but you have to carefully look at it, and you may see that there are subtle differences among a number of them. |
Đây rồi. Tôi đã nhìn vào sơ đồ này. Tuija có một sơ đồ tốt hơn về quả trứng này. Hãy lưu ý rằng không có gì được nói, về mặt thiết kế, liên quan đến hệ hành tinh Sao Thiên Vương hay Sao Hải Vương, trong khi ở tất cả những hệ khác sẽ có một hình học khá đặc thù nào đó, phần lớn trường hợp là khác nhau theo cách nào đó. Câu hỏi là: tại sao bây giờ nó lại khác? Đôi khi nó trông giống nhau, nhưng các bạn phải nhìn kỹ, và có thể thấy rằng có những khác biệt tinh tế giữa một số trong chúng. |
|
Now, Neptune is a second ray Monad. I’d go to page 420 or 421 of Esoteric Psychology, Volume One. Uranus is a first ray Monad, which means esoterically it is on the first ray. Uranus is also a highly mental planet; it’s very synthetic in various ways and seems even to capture something of the second ray. But its major use for humanity at this time is in the intuitive technical Uranian mind. It educates the occult mind of the student, whereas Neptune educates the occult arts of the student. Neptune is very sensuous and tells us much through the sense of touch, while Uranus is utterly sharp—a lightning flash reveals occult relations. We live in a pretty much Neptunian solar system, with 200 billion beings, most of them Devic. And I think, finally, in a strange way, under the control of Neptune, we’re learning the heart and we’re learning identification. In the next solar system Uranus will be the ultimate planetary ruler and is quite different in the kind of revelation it gives—it’s more of the mind than of the spirit, I would say. We’ll have to wait a while, but already some students of occultism are sharpening up what will eventually become the true and complete Uranian mind to be developed in the next solar system. We can already see what kind of development it will be, even though Neptune is the major development for this particular solar system. I hope that gives a little bit anyway. |
Sao Hải Vương là một chân thần cung hai. Tôi sẽ tìm đến trang 420 hoặc 421 của Tâm Lý Học Nội Môn, Quyển Một. Sao Thiên Vương là một chân thần cung một, nghĩa là một cách huyền bí nó ở trên cung một. Sao Thiên Vương cũng là một hành tinh trí tuệ cao; nó rất tổng hợp theo nhiều cách và dường như thậm chí nắm bắt được điều gì đó của cung hai. Nhưng công dụng chính của nó đối với nhân loại vào lúc này nằm trong trí tuệ Sao Thiên Vương trực giác và kỹ thuật. Nó giáo dục thể trí huyền bí của đạo sinh, trong khi Sao Hải Vương giáo dục các nghệ thuật huyền bí của đạo sinh. Sao Hải Vương rất giàu cảm giác và nói với chúng ta nhiều điều qua xúc giác, trong khi Sao Thiên Vương thì hoàn toàn sắc bén—một tia chớp mặc khải các quan hệ huyền bí. Chúng ta sống trong một hệ mặt trời phần lớn mang tính Sao Hải Vương, với 200 tỷ thực thể, đa số là thiên thần. Và tôi nghĩ, cuối cùng, theo một cách lạ lùng, dưới sự kiểm soát của Sao Hải Vương, chúng ta đang học về trái tim và đang học sự đồng hóa. Trong hệ mặt trời kế tiếp, Sao Thiên Vương sẽ là chủ tinh hành tinh tối hậu và rất khác về loại mặc khải mà nó ban cho—tôi muốn nói rằng nó thuộc về trí tuệ nhiều hơn là tinh thần. Chúng ta sẽ phải chờ một thời gian, nhưng đã có một số đạo sinh huyền bí học đang mài sắc điều cuối cùng sẽ trở thành trí tuệ Sao Thiên Vương chân chính và trọn vẹn, được phát triển trong hệ mặt trời kế tiếp. Chúng ta đã có thể thấy loại phát triển ấy sẽ như thế nào, dù Sao Hải Vương là sự phát triển chính yếu cho hệ mặt trời đặc thù này. Tôi hy vọng điều đó ít nhiều giúp ích. |
|
… |
… |
|
These, by virtue of a disciplined life, an ardent aspiration, and a trained intellect, have succeeded in evoking the intuition and are, therefore, personally in touch with the true source of divine wisdom. [1o] |
Những người này, nhờ một đời sống có kỷ luật, một khát vọng nồng nhiệt và một trí tuệ được rèn luyện, đã thành công trong việc gợi lên trực giác và do đó, về mặt cá nhân, đang tiếp xúc với nguồn chân thật của minh triết thiêng liêng. [1o] |
|
This, it is their function to interpret and to formulate into temporary systems of knowledge. [1p] |
Chức năng của họ là diễn giải điều này và định thức nó thành những hệ thống tri thức tạm thời. [1p] |
|
Their need today is to “assemble themselves” in this hour of the world need and so let their voice be clearly heard. [1q] |
Nhu cầu của họ ngày nay là “tự tập hợp lại” trong giờ phút thế gian cần đến này, và nhờ đó để tiếng nói của họ được nghe rõ ràng. [1q] |
|
and their preoccupation with reality and their deep love of humanity have released the intuition. [1r] |
và sự chuyên chú của họ vào thực tại cùng tình thương sâu xa của họ đối với nhân loại đã giải phóng trực giác. [1r] |
|
When this release has taken place, no barriers are felt and true knowledge as a result of revealed wisdom is the gift which such people have, to give to their race and time. [1s] |
Khi sự giải phóng này đã diễn ra, không còn cảm thấy rào cản nào, và tri thức chân thật, như kết quả của minh triết được mặc khải, là món quà mà những người như thế có để trao cho nhân loại và thời đại của họ. [1s] |

|
I want to say again, Rebecca, that Neptune is pretty much a 2-4-6 planet, involving astral plane, buddhic plane, monadic plane and cosmic astral plane. Uranus is pretty much a 1-3-5-7 planet involving the etheric level, the higher mind, the spiritual will and mind, or even the triadal mind, and this, the sea of fire on the logoic plane. And finally, it’s said to be kind of permanent atom. Not entirely so, but indicates a permanent atom of the cosmic mental plan, just the way Neptune represents a kind of permanent atom on the cosmic astral plane. So, the permanent atom of the cosmic mental plane is not exactly Uranus, but it’s akin to Uranus. He really doesn’t explain more. Then Regarding Neptune and the permanent atom of the cosmic astral plane, it’s the same, whereas, at our particular stage of development, Saturn is the permanent atom of the cosmic physical plane rather than just suggesting it, as in the case of Neptune and Uranus. So, I think, you’ll see a very strong mental component in Uranus, and among the inventors and the people who work with electricity and those who are always breaking down the old paradigm, you see a lot of Uranus. Uranus reveals the archetype. I think that’s an important statement. Uranus reveals the archetype, and from that archetype comes the whole sense of purpose with regard to our cosmic physical plane. |
Tôi muốn nói lại, Rebecca, rằng Sao Hải Vương phần lớn là một hành tinh 2-4-6, liên quan đến cõi cảm dục, cõi Bồ đề, cõi chân thần và cõi cảm dục vũ trụ. Sao Thiên Vương phần lớn là một hành tinh 1-3-5-7, liên quan đến cấp độ dĩ thái, thượng trí, ý chí và trí tuệ tinh thần, hoặc thậm chí trí tuệ của Tam nguyên, và điều này, biển lửa trên cõi thượng đế. Và cuối cùng, nó được nói là một loại nguyên tử trường tồn. Không hoàn toàn như vậy, nhưng nó chỉ ra một nguyên tử trường tồn của cõi trí vũ trụ, cũng như Sao Hải Vương biểu trưng một loại nguyên tử trường tồn trên cõi cảm dục vũ trụ. Vì vậy, nguyên tử trường tồn của cõi trí vũ trụ không hẳn là Sao Thiên Vương, nhưng tương cận với Sao Thiên Vương. Ngài thật sự không giải thích thêm. Còn về Sao Hải Vương và nguyên tử trường tồn của cõi cảm dục vũ trụ thì cũng giống như vậy; trong khi, ở giai đoạn phát triển đặc thù của chúng ta, Thổ Tinh là nguyên tử trường tồn của cõi hồng trần vũ trụ, chứ không chỉ gợi ý điều đó như trong trường hợp Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương. Vì vậy, tôi nghĩ các bạn sẽ thấy một thành phần trí tuệ rất mạnh trong Sao Thiên Vương; và nơi các nhà phát minh, những người làm việc với điện lực, và những người luôn phá vỡ mô hình cũ, các bạn thấy rất nhiều Sao Thiên Vương. Sao Thiên Vương mặc khải nguyên mẫu. Tôi nghĩ đó là một phát biểu quan trọng. Sao Thiên Vương mặc khải nguyên mẫu, và từ nguyên mẫu ấy phát sinh toàn bộ ý thức về mục đích liên quan đến cõi hồng trần vũ trụ của chúng ta. |
|
And Veronica writes, so Uranus, Neptune and Saturn are the Solar Logos’s antahkarana. |
Và Veronica viết rằng, như vậy Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương và Thổ Tinh là antahkarana của Thái dương Thượng đế. |
|
as the antahkarana in other systems is built between lower and higher centers. So, let’s just say that it seems at the moment, until DK clarifies the matter, which He has not yet really done that, the antahkarana on the cosmic physical plane, cosmic physical etheric leads to Saturn, that the antahkarana continuing and about which we know nothing really, on the cosmic astral plane leads to Neptune or something that Neptune suggests, and the antahkarana on the cosmic metal plane leads toward Uranus or something Uranus suggests. Now I’m going to try to find something… |
như antahkarana trong các hệ thống khác được xây dựng giữa các trung tâm thấp và cao. Vì vậy, có thể nói rằng vào lúc này, cho đến khi Chân sư DK làm sáng tỏ vấn đề, điều mà Ngài thật sự chưa làm, dường như antahkarana trên cõi hồng trần vũ trụ, dĩ thái hồng trần vũ trụ, dẫn đến Thổ Tinh; antahkarana tiếp tục, về nó chúng ta thật sự không biết gì, trên cõi cảm dục vũ trụ, dẫn đến Sao Hải Vương hoặc điều gì đó mà Sao Hải Vương gợi ý; và antahkarana trên cõi trí vũ trụ dẫn đến Sao Thiên Vương hoặc điều gì đó mà Sao Thiên Vương gợi ý. Tôi sẽ cố tìm một điều gì đó… |
|
Neptune, Uranus, and Saturn will, therefore, have absorbed the essence of manifestation and (in connection with the solar Logos) they correspond to the three permanent atoms in the causal body of a man. We say “correspond” for the analogy is not in detail. Uranus and Neptune are reflections of the logoic astral and mental permanent atoms. Saturn is in fact the correspondence to the logoic physical permanent atom. This is an occult mystery and must not be separated from its allied truth in the cosmic scheme. |
Do đó, Sao Hải Vương, Sao Thiên Vương và Thổ Tinh sẽ hấp thụ tinh chất của sự biểu hiện và, liên quan đến Thái dương Thượng đế, chúng tương ứng với ba nguyên tử trường tồn trong thể nguyên nhân của con người. Chúng ta nói “tương ứng” vì sự tương đồng không ở trong chi tiết. Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương là những phản chiếu của các nguyên tử trường tồn cảm dục và trí tuệ của thượng đế. Thổ Tinh thật sự là sự tương ứng với nguyên tử trường tồn hồng trần của thượng đế. Đây là một huyền nhiệm huyền bí và không được tách rời khỏi chân lý liên hệ của nó trong hệ hành tinh vũ trụ. |
|
And this is what he says here. |
Và đây là điều Ngài nói ở đây. |
|
Neptune, Uranus, and Saturn will, therefore, have absorbed the essence of manifestation and (in connection with the solar Logos) they correspond to the three permanent atoms in the causal body of a man. |
Do đó, Sao Hải Vương, Sao Thiên Vương và Thổ Tinh sẽ hấp thụ tinh chất của sự biểu hiện và, liên quan đến Thái dương Thượng đế, chúng tương ứng với ba nguyên tử trường tồn trong thể nguyên nhân của con người. |
|
Now, how that works? We go over here and nestled somewhere here, it says at the bottom of the causal body. Let’s see what at the bottom of the causal body and the Egoic Lotus. There are three permanent atoms, one of which is a mental unit. So, not a complete sevenfold permanent atom. If you combine it, that mental unit, with the manasic permanent atom, then you get the complete picture. |
Điều đó vận hành như thế nào? Chúng ta đi đến đây, và ở đâu đó tại đây, phía dưới thể nguyên nhân, nó nói như vậy. Hãy xem điều gì ở phía dưới thể nguyên nhân và Hoa Sen Chân Ngã. Có ba nguyên tử trường tồn, một trong số đó là đơn vị hạ trí. Vì vậy, không phải là một nguyên tử trường tồn thất phân trọn vẹn. Nếu các bạn kết hợp đơn vị hạ trí ấy với nguyên tử trường tồn manas, khi ấy các bạn có được bức tranh đầy đủ. |
|
Now that they correspond to the three permanent atoms in the causal body of man, probably in the Egoic Lotus, of the Solar Logos. |
Việc chúng tương ứng với ba nguyên tử trường tồn trong thể nguyên nhân của con người, có lẽ là trong Hoa Sen Chân Ngã của Thái dương Thượng đế. |
|
We say “correspond” for the analogy is not in detail. Uranus and Neptune are reflections of the logoic astral and mental permanent atoms. |
Chúng ta nói “tương ứng” vì sự tương đồng không ở trong chi tiết. Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương là những phản chiếu của các nguyên tử trường tồn cảm dục và trí tuệ của thượng đế. |
|
What might they be on those higher planes higher than the physical etheric. |
Chúng có thể là gì trên những cõi cao hơn cõi dĩ thái hồng trần ấy? |
|
Saturn is in fact the correspondence to the logoic physical permanent atom. |
Thổ Tinh thật sự là sự tương ứng với nguyên tử trường tồn hồng trần của thượng đế. |
|
Here we go. |
Đây rồi. |
|
This is an occult mystery and must not be separated from its allied truth in the cosmic scheme |
Đây là một huyền nhiệm huyền bí và không được tách rời khỏi chân lý liên hệ của nó trong hệ hành tinh vũ trụ |
|
I think I’ve been puzzling over this one for 20 years. But it’s page 406, and this is where you can find perhaps if you say that the antahkarana is built between permanent atoms as in a way it kind of seems to be, or this, it begins here between the mental unit and the manasic permanent atom, and then continues to the buddhic and the atmic and then into the monadic. For a minute, Veronica, I think they [Logos] all have to have their permanent atoms, even if they’re not discussed. We see that the antahkarana does involve contact with permanent atoms or members of the atomic triangle, astral permanent atom and physical etheric permanent atom. So, in a way, this whole thing about Neptune, Uranus and Saturn and the antahkarana is an important consideration, however DK is hiding a lot of things here. It’s difficult. What is the allied truth in the cosmic scheme as far as that goes? What is the cosmic scheme? Is it the entire solar system? What is it? So we have a lot to ponder right here on this page. |
Tôi nghĩ tôi đã suy ngẫm nan giải về điều này suốt 20 năm. Nhưng nó ở trang 406, và đây là nơi các bạn có thể tìm thấy, nếu các bạn nói rằng antahkarana được xây dựng giữa các nguyên tử trường tồn, như theo một cách nào đó dường như là vậy, hoặc điều này: nó bắt đầu ở đây giữa đơn vị hạ trí và nguyên tử trường tồn manas, rồi tiếp tục đến Bồ đề và atma, rồi đi vào chân thần. Veronica, tôi nghĩ trong chốc lát rằng tất cả các Thượng đế đều phải có các nguyên tử trường tồn của Các Ngài, dù chúng không được bàn đến. Chúng ta thấy rằng antahkarana thật sự liên quan đến sự tiếp xúc với các nguyên tử trường tồn hoặc các thành viên của tam giác nguyên tử, nguyên tử trường tồn cảm dục và nguyên tử trường tồn dĩ thái-hồng trần. Vì vậy, theo một cách nào đó, toàn bộ vấn đề Sao Hải Vương, Sao Thiên Vương và Thổ Tinh cùng antahkarana là một sự cân nhắc quan trọng, dù Chân sư DK đang che giấu rất nhiều điều ở đây. Điều đó khó. Chân lý liên hệ trong hệ hành tinh vũ trụ, xét về mặt đó, là gì? Hệ hành tinh vũ trụ là gì? Có phải toàn bộ hệ mặt trời không? Nó là gì? Vì vậy, ngay trên trang này chúng ta có rất nhiều điều để suy ngẫm. |
|
… There are certainly an astral Neptune and Uranus, and even a cosmic mental Neptune and Uranus. Now, what is their structure compared with the physical-etheric Uranus and Neptune? I think we have to discover that to get the answer to this question. |
… Chắc chắn có một Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương cảm dục, và thậm chí một Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương trí tuệ vũ trụ. Cấu trúc của chúng so với Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương hồng trần-dĩ thái là gì? Tôi nghĩ chúng ta phải khám phá điều đó để có câu trả lời cho câu hỏi này. |
|
… |
… |
|
Could you make clarification, and Veronica was wondering about the triangle that is under the soul, and she thought you called it the personal triangle? |
Anh có thể làm rõ không, và Veronica đang thắc mắc về tam giác nằm dưới linh hồn; bà nghĩ anh đã gọi nó là tam giác cá nhân? |
|
Atomic triangle. It consists of the physical permanent atom, the astral permanent atom and the mental unit. Now, he seems to be suggesting that cosmically there is such a thing with regard to the Egoic Lotus of the Solar Logos. Yeah, he calls them sometimes the three permanent atoms in the causal body, but if you put together the mental unit with four spirillae, and the monastic permanent atom with three spirillae—it’s still within the radiation of the causal body—you will get seven spirillae for the etheric-physical or etheric permanent atom, seven spirillae for the astral permanent atom, and finally at length because it has now been joined through the antahkarana, you will get seven spirillae for the manasic permanent atom. After that, it just seems like the number of spirillae for the buddhic and the atmic permanent atoms is only three. So, why did four drop away, and do they really drop away? Anyway, that seems to be the case. The manasic permanent atom of man is threefold usually, but when you blend it with the mental unit, you get the full seven. Now, how does that blending occur? And what does it yield? That we have to understand. Now I also want to tell you that he warned us about too intensive study of permanent atoms as they have to do with the material side of things, and they could take a man back into materiality, he says, rather than forward into the kind of study that should preoccupy us at this time. |
Tam giác nguyên tử. Nó gồm nguyên tử trường tồn hồng trần, nguyên tử trường tồn cảm dục và đơn vị hạ trí. Dường như Ngài đang gợi ý rằng về mặt vũ trụ có một điều như thế liên quan đến Hoa Sen Chân Ngã của Thái dương Thượng đế. Ngài đôi khi gọi chúng là ba nguyên tử trường tồn trong thể nguyên nhân, nhưng nếu các bạn đặt đơn vị hạ trí với bốn loa tuyến cùng với nguyên tử trường tồn manas với ba loa tuyến lại với nhau—nó vẫn nằm trong bức xạ của thể nguyên nhân—các bạn sẽ có bảy loa tuyến cho nguyên tử trường tồn dĩ thái-hồng trần hoặc dĩ thái, bảy loa tuyến cho nguyên tử trường tồn cảm dục, và cuối cùng, đến một lúc nào đó, vì nay nó đã được nối kết qua antahkarana, các bạn sẽ có bảy loa tuyến cho nguyên tử trường tồn manas. Sau đó, dường như số loa tuyến cho các nguyên tử trường tồn Bồ đề và atma chỉ là ba. Vậy tại sao bốn loa tuyến lại rơi mất, và chúng có thật sự rơi mất không? Dù sao, dường như đó là trường hợp. Nguyên tử trường tồn manas của con người thường là tam phân, nhưng khi các bạn hòa trộn nó với đơn vị hạ trí, các bạn có đủ bảy. Vậy sự hòa trộn đó xảy ra như thế nào? Và nó đem lại điều gì? Chúng ta phải thấu hiểu điều đó. Tôi cũng muốn nói với các bạn rằng Ngài đã cảnh báo chúng ta về việc nghiên cứu quá sâu các nguyên tử trường tồn, vì chúng liên quan đến khía cạnh vật chất của sự vật, và Ngài nói chúng có thể đưa con người trở lại vật chất tính, thay vì tiến lên loại nghiên cứu nên chiếm mối quan tâm của chúng ta vào lúc này. |
|
… |
… |
|
So there is the microcosmic atomic triangle associated with our causal body and Egoic Lotus. And there is a more cosmic antahkarana associated with our, I suppose, planet. I mean the causal body of the planet, it’s got to have one as well. And but when we’re using planets as chakras or centers [of the Solar Logos], then we’re talking about the atomic triangle of the Solar Logos. Now, there’s the analogy hold, and is there also a split between four and three? We don’t know. We might generalize and say yes, it seems there is a split. But is it only in the case of man that there has to be developed a bridging of the gap? And have the other and higher beings already reached that gap? look, we’ll know when our consciousness changes. |
Vì vậy, có tam giác nguyên tử tiểu thiên địa liên hệ với thể nguyên nhân và Hoa Sen Chân Ngã của chúng ta. Và có một antahkarana vũ trụ hơn liên hệ với, tôi cho là, hành tinh của chúng ta. Ý tôi là thể nguyên nhân của hành tinh, nó cũng phải có một cái như vậy. Nhưng khi chúng ta dùng các hành tinh như các luân xa hay trung tâm của Thái dương Thượng đế, thì chúng ta đang nói về tam giác nguyên tử của Thái dương Thượng đế. Sự tương đồng có đứng vững không, và cũng có sự phân chia giữa bốn và ba không? Chúng ta không biết. Chúng ta có thể khái quát hóa và nói có, dường như có một sự phân chia. Nhưng có phải chỉ trong trường hợp con người mới phải phát triển một sự bắt cầu qua khoảng cách ấy không? Và những thực thể khác, cao hơn, đã vượt qua khoảng cách đó rồi chăng? Chúng ta sẽ biết khi tâm thức của chúng ta thay đổi. |
|
And, it does lead to some pretty cosmic things, this consideration of glamour, and there is cosmic glamour too, and you probably know it. But the home of the true Black Lodge, in a cosmic sense, is the cosmic astral plane, and not the cosmic physical plane. And as a matter of fact, some have made their way onto the cosmic mental plane. So, the problem confronting this planet goes very deep, and maybe confronting the entire solar system because, who is to say, whether the solar system itself is free from glamours. We know a lot about our unfortunate little planet that is still suffering from difficulties of personality. But there are other planets too, and there are other non sacred planets in the sphere or oval of our solar system, and we just don’t know enough about it yet. But one day, we will. It depends on what specialized line of education we undertake. That’s a great decision. Meanwhile, we have plenty to work on. |
Và sự suy xét về ảo cảm này thật sự dẫn đến những điều khá vũ trụ; cũng có ảo cảm vũ trụ, và có lẽ các bạn biết điều đó. Nhưng nơi trú ngụ của Hắc đoàn chân thật, theo nghĩa vũ trụ, là cõi cảm dục vũ trụ, chứ không phải cõi hồng trần vũ trụ. Thật ra, một số đã tiến lên cõi trí vũ trụ. Vì vậy, vấn đề đối diện hành tinh này rất sâu xa, và có lẽ đối diện toàn bộ hệ mặt trời, vì ai có thể nói liệu chính hệ mặt trời có thoát khỏi các ảo cảm hay không. Chúng ta biết nhiều về hành tinh nhỏ bé đáng thương của mình, vẫn đang chịu khổ vì các khó khăn của phàm ngã. Nhưng cũng có những hành tinh khác, và có những hành tinh không thiêng liêng khác trong khối cầu hay hình bầu dục của hệ mặt trời chúng ta, và chúng ta vẫn chưa biết đủ về điều đó. Nhưng một ngày nào đó, chúng ta sẽ biết. Điều đó tùy thuộc vào tuyến giáo dục chuyên biệt mà chúng ta đảm nhận. Đó là một quyết định lớn. Trong khi đó, chúng ta có rất nhiều việc để làm. |